Thursday, July 28, 2016

LỊCH SỬ LÂU ĐỜI CỦA NGHỆ THUẬT HỘI HỌA TRUNG HOA

Có đôi lần tôi kể cho các bạn về kiến thức của tôi lúc còn trẻ ở VN cũng như "ếch ngồi đáy giếng". Hồi đó nhìn những bức tranh thủy mặc TQ, biết là đẹp nhưng không nghĩ là thật mà do các họa gia ngày xưa vẽ ra theo ý tưởng của mình. Sau này qua TQ đi vài nơi như Quế Lâm, Trương Gia Giới...mới thấy phong cảnh là như vậy và các họa gia đã quá xuất sắc ghi lại như chụp nhưng còn hơn chụp hình một chổ là nó có cái thần thế của bức tranh. Về VN lúc ra miền Bắc, phong cảnh cũng đẹp như vậy, đẹp lắm.



Hôm nay tôi sẽ post một bài nói về nghệ thuật hội họa TQ, chúng ta sẽ tìm hiểu đôi nét về nghệ thuật này, chúng ta sẽ không bình luận về nghệ thuật của nước nào cao hay thấp. Tranh cải về nghệ thuật là một cái "ngu" cố chấp.
Thưởng thức nghệ thuật (hội họa, văn chương, điện ảnh, âm nhạc,...) là cảm nhận của mỗi người. Tôi thích nhưng anh không thích và cái thích hay không thích này không nên bàn cải. Nhìn một bức họa, nghe một bản nhạc, đọc một quyển sách,..cảm nhận tức thì nhưng nếu mời các bạn đọc một bài nghiên cứu về hội họa, phương pháp sáng tác nhạc, phân tích văn học ,...có lẽ sẽ rất khô khan với một số người cho nên đọc bài post này nếu chán thì đừng đọc tiếp, tìm bài khác để đọc nha các bạn:

LỊCH SỬ LÂU ĐỜI CỦA NGHỆ THUẬT HỘI HỌA TRUNG HOA


Tranh Trung Quốc là sản phẩm của nghệ thuật hội họa truyền thống Trung Hoa. Nội dung và nghệ thuật sáng tác của các bức họa Trung Quốc phản ánh ý thức dân tộc và óc thẩm mỹ của người dân xứ này, thể hiện nhận thức của người xưa trên các phương diện tự nhiên, xã hội trong mối tương quan với chính trị, triết học và tôn giáo, đạo đức, văn nghệ, vv… Các bức họa Trung Quốc nhấn mạnh “Ngoại sư tạo hóa, trung đắc tâm nguyên” (外师造化,中得心源 Tạm dịch: Học trực tiếp từ tạo hóa, truyền hiểu biết trực tiếp vào tâm), hòa tan cái tôi của mình vào trong vạn vật, sáng tạo ra ý cảnh, yêu cầu “Ý tồn bút tiên, họa tận ý tại” (意存笔先,画尽意在 Tạm dịch: Trước khi cầm bút vẽ thì tâm ý phải tràn đầy, tác phẩm cuối cùng biểu hiện được hết toàn bộ tâm ý của tác giả), đạt tới khả năng “lấy hình tả thần”, “hình thần vẹn toàn”, cấu tứ sinh động.

Nghệ thuật tranh Trung Quốc có lịch sử đã lâu đời. Hơn 2000 năm trước vào thời kỳ Chiến Quốc đã xuất hiện những bức tranh vẽ trên lụa là gấm vóc, còn ở thời kỳ nguyên thủy trước đó nữa đã có những tranh vẽ trên nham thạch và gốm màu. Những tác phẩm hội họa cổ xưa này đã đặt định cơ sở cho phương pháp tạo hình chủ yếu của nền hội họa Trung Quốc về sau. Thời kỳ Lưỡng Hán và Ngụy Tấn Nam Bắc triều, xã hội từ chỗ ổn định thống nhất nhanh chóng biến thành chia rẽ loạn lạc. Văn hóa bên ngoài Trung Quốc được đưa vào vùng đất này, xảy ra quá trình cọ xát và dung hợp, khiến lúc ấy hội họa có nguồn gốc tôn giáo chiếm vị trí chủ lưu. Các tranh vẽ miêu tả quê hương, các nhân vật lịch sử, lấy đề tài tác phẩm văn học cũng chiếm một tỉ lệ nhất định. Tranh sơn thủy, tranh hoa điểu cũng bắt đầu xuất hiện ở thời kỳ này.
Thời kỳ Tùy – Đường, kinh tế, văn hóa xã hội hết sức thịnh vượng, hội họa cũng theo đó mà có được cục diện phồn vinh về mọi mặt. Tranh sơn thủy, tranh hoa điểu cũng phát triển hoàn thiện, các tranh về chủ đề tôn giáo đã đạt đến tột đỉnh, tranh vẽ nhân vật phần lớn là mô tả cuộc sống của giới quý tộc, còn xuất hiện những khuôn mẫu tạo hình nhân vật đặc thù của thời đại ấy. Đời sau các tranh vẽ văn nhân xuất hiện và phát triển, có phương pháp biểu hiện và ý tưởng sáng tác vô cùng phong phú.

Hội họa chia làm 3 khoa
Trong nghệ thuật hội họa Trung Quốc có câu nói “Hội họa phân làm 3 khoa”: nhân vật, sơn thủy, hoa điểu. Bề ngoài giống như là phân loại đề tài, nhưng thực chất là dùng nghệ thuật để biểu hiện một loại quan niệm và tư tưởng. Cái gọi là “Họa vi tam khoa”, tức là khái quát 3 phương diện vũ trụ cùng với nhân sinh: tranh vẽ nhân vật biểu hiện cho xã hội loài người, quan hệ giữa người với người. Tranh sơn thủy biểu hiện quan hệ giữa con người với tự nhiên, đưa con người cùng với tự nhiên hòa hợp thành một thể. Tranh hoa điểu biểu hiện các loại sinh mệnh trong tự nhiên vĩ đại, cùng chung sống hài hòa với con người. 3 nhóm ấy cấu thành nên chỉnh thể của vạn vật trong tự nhiên, bổ sung tương hỗ lẫn nhau.
Tranh nhân vật lấy hình tượng nhân vật làm chủ thể. Tranh nhân vật Trung Quốc có lịch sử đã lâu đời. Căn cứ theo các ghi chép, vào thời kỳ Thương Chu đã xuất hiện các bức bích họa. Thời Đông Tấn có Cố Khải Chi chuyên môn vẽ tranh nhân vật, là người đầu tiên đưa ra chủ trương “Lấy hình để tả thần”. Tranh nhân vật cố gắng truyền đạt lại cá tính của nhân vật một cách hoàn hảo, có cấu tứ sinh động, cả hình và thần đều vẹn toàn. Phương pháp truyền thần của ông là thường khuếch đại biểu hiện của tính cách nhân vật, ở trong hoàn cảnh, bầu không khí, tư thế và động thái. Các tranh vẽ nhân vật nổi tiếng nhất có quyển “Lạc thần phú đồ” của Cố Khải Chi thời Đông Tấn, bức “Văn uyển đồ” của Hàn Hoảng thời Đường, “Hàn hy tái dạ yến đồ” của Cố Hoành Trung thời Nam Đường, Ngũ Đại. Muốn vẽ tranh nhân vật được tốt, ngoài việc kế thừa truyền thống, còn phải nghiên cứu hình thể con người, tỉ lệ, và quy luật biến hóa của sự vận động thân thể, mới có thể mô tả hình và thần của nhân vật một cách chuẩn xác.


Tranh sơn thủy miêu tả cảnh sắc tự nhiên của núi sông là khoa mục nghệ thuật chủ yếu. Tranh sơn thủy thời Ngụy Tấn, Nam Bắc triều cũng dần dần phát triển, nhưng vẫn phụ thuộc vào tranh nhân vật, phần lớn dùng làm bối cảnh cho nhân vật. Thời Tùy Đường bắt đầu tách ra độc lập, như các thể loại: Thiết sắc sơn thủy của Triển Tử Kiền, Kim bích sơn thủy của Lý Tư Huấn, Thủy mặc sơn thủy của Vương Duy, Bát mặc sơn thủy của Vương Hiệp… Thời Ngũ Đại, Bắc Tống tranh sơn thủy đạt đến thời kỳ cực thịnh, các tác giả xuất hiện rất nhiều, như Kinh Hạo, Quan Đồng, Lý Thành, Đổng Nguyên, Cự Nhiên, Phạm Khoan, Hứa Đạo Ninh, Yến Văn Quý, Tống Địch, Vương Sân, Mễ Phất, Mễ Hữu Nhân với thể loại tranh Thủy mặc sơn thủy. Vương Hy Mạnh, Triệu Bá Câu, Triệu Bá Túc với Thanh lục sơn thủy. Hai trường phái Nam Bắc đua tranh phát huy, hình thành 2 phái hệ lớn, đạt tới đỉnh cao nghệ thuật. Từ thời Đường tới nay, mỗi thời kỳ đều có những danh họa chuyên vẽ tranh sơn thủy. Mặc dù họ có thân thế, trình độ tu dưỡng, học phái, phương pháp khác nhau, nhưng đều có thể dùng bút mực, sắc thái, kỹ xảo để mô tả chân thực, khiến cảnh tượng tự nhiên tươi đẹp được chuyển tài vào tranh vẽ, hùng vĩ tráng lệ, cấu tứ thanh nhã. Thời nhà Nguyên tranh sơn thủy có xu hướng vẽ chấm phá truyền thần, dùng hư tả thực, thiên về bút mực thần vận. Truyền thống chia tranh sơn thủy thành các loại hình: Thủy mặc, Thanh lục, Kim bích, Một cốt, Thiển giáng, và Đạm thải.
Trước thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, hoa điểu là đối tượng biểu hiện của nghệ thuật Trung Quốc, liên tục xuất hiện trên các đồ gốm sứ và đồ đồng dưới dạng hoa văn trang trí. Tranh hoa điểu phần lớn là vẽ chim thú, bởi vì chúng thường thường có liên hệ nhất định với thần thoại, thậm chí có khi là nhân vật thần thoại chính. Như con Thỏ ngọc giã thuốc cho Vương Mẫu, con Quạ vàng trong vầng Thái dương, con Thiềm thừ trong cung Trăng, cùng với đại biểu của bốn phương vị là Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước và Huyền Vũ. (Rồng xanh, Hổ trắng, Tước đỏ, Rùa đen). Người ta cho rằng tranh hoa điểu đã trở thành khoa mục độc lập dưới thời Đường, có được thành tựu khá cao. Ngày nay có thể thấy trong các tác phẩm “Chiếu dạ bạch” của Hàn Kiền, “Ngũ ngưu đồ” của Hàn Hoảng cho đến “Bán ngưu đồ” danh tiếng của Đới Tung, đều thể hiện rõ được rằng mảng đề tài này đã có trình độ nghệ thuật tương đối cao.


Tư tưởng “Thiên Nhân hợp nhất” (天人合一)
Tranh Trung Quốc coi trọng cấu tứ, đòi hỏi “Ý tại bút tiên” (意在笔先 Tạm dịch: Trước khi cầm bút vẽ thì tâm ý phải sẵn sàng) và tư duy hình tượng, chú trọng sự thống nhất các đối tượng chủ thể và khách thể hình tượng nghệ thuật. Trong tạo hình thì không hạn chế vào khuôn mẫu, mà coi trọng việc “nằm ở ranh giới kỳ diệu giữa ‘giống’ và ‘không giống’ “, “giống mà như không giống”. Tranh Trung Quốc lấy kỹ xảo bút mực đặc biệt làm phương pháp thể hiện hình trạng cho đến truyền đạt tâm tư tình cảm. Nó lấy các điểm, đường kẻ, bề mặt để mô tả hình thức, hình dáng diện mạo, khung sườn, phẩm chất, ánh sáng cho đến sắc thái của đối tượng. Chúng đồng thời cũng là một dạng tải thể, có giá trị thẩm mỹ độc lập. Tranh Trung Quốc trong các tác phẩm nhấn mạnh đến “thư họa đồng nguyên”, chú trọng đến nhân phẩm và sự tu dưỡng của bản thân người họa sỹ. Trong các tác phẩm cụ thể ưa chuộng sự kết hợp hữu cơ giữa Thi, Thư, Họa, Ấn, đồng thời thông qua hình tượng mà viết thơ văn lời bạt lên trên, biểu đạt nhận thức của họa sỹ đối với xã hội, nhân sinh và nghệ thuật. Điều đó không những có tác dụng làm sâu sắc hơn chủ đề của bức tranh, mà còn là bộ phận cấu thành hữu cơ của nó.
Tranh Trung Quốc trên các phương diện nhận thức quan sát, xây dựng hình tượng và thủ pháp biểu hiện đã cho thấy quan niệm triết học và thẩm mỹ truyền thống của người Trung Hoa. Trong việc nhận thức và quan sát sự vật khách quan, họ chọn dùng phương pháp lấy cái lớn để quan sát cái nhỏ, trong cái nhỏ nhìn thấy được cái lớn. Họ còn linh động trong việc quan sát và nhận thức sự vật khách quan, thậm chí có thể trực tiếp tham dự vào trong giữa sự vật ấy, chứ không phải là đứng bên ngoài quan sát, hay giới hạn tại những góc nhìn cố định nào đó. Nó thẩm thấu vào trong ý thức xã hội của mọi người, khiến hội họa có được giá trị nhận thức: “Ngàn năm tĩnh mịch, mở tranh ra thì có thể thấy rõ”. Còn khởi tác dụng giáo dục: “Ác dĩ giới thế, thiện dĩ kỳ hậu” (恶以诫世,善以示后 Tạm dịch: Ngăn cấm những chuyện ác, lưu truyền những chuyện thiện trong nhân thế). Cho dù là tranh sơn thủy, tranh hoa điểu hay thể loại nào đi nữa, các họa sỹ đều có thể mượn các đối tượng đó để thể hiện ý thức xã hội và sở thích thẩm mỹ, mượn cảnh để thể hiện tâm tình, lấy vật để thể hiện ý chí.


Tranh Trung Quốc chẳng những có lịch sử lâu đời mà còn phản chiếu nghệ thuật truyền thống Trung Quốc, thể hiện được tư tưởng “Thiên nhân hợp nhất” của văn hóa truyền thống Trung Hoa.
Tiêu Ngọc
(Sưu tầm trên mạng)

No comments: