Monday, October 31, 2016

KHI TRIẾT GIA BỊ GẢ BÁN

Sự thật bao giờ cũng là sư thật dù tôi biết nhưng không post lên thì cũng có người khác post. Không biết ai đã nói qua: cái miệng của những người làm chính trị còn tệ hơn cái "trôn" của một con điếm và đầu óc suy nghĩ của họ là những âm mưu trầm trọng như những thằng bất lương cướp của người hay trộm cắp.
Hồi còn trẻ, tôi biết về "giải Nobel" thế giới, mấy năm nay biết thêm về giải của Thiệu Dật Phu ở Hong Kong (邵逸夫獎), na ná như Nobel ở phương Đông, tiếng Anh gọi là "The Shaw Prize" mà người nhận giải cũng được danh dự như giải Nobel. Tới hôm nay mới biết  ở Trung Quốc có giải "Hòa bình Khổng Tử" (孔子和平獎), tôi không "update" nên không biết nó ra đời từ lúc nào nhưng đọc bài sau sẽ thấy đau lòng cho ngài Khổng Tử.



GIẢI HÒA BÌNH KHỔNG TỬ: KHI TRIẾT GIA BỊ GẢ BÁN.
Trong cuộc đời của mình, Khổng Tử không có nhiều chuyện yêu đương, lấy vợ vào năm 19 tuổi với thiếu nữ Nguyên Quan Thị. Thế nhưng vào thế kỷ 21, dưới bàn tay của Bắc Kinh và giới tư bản thân chính quyền, Khổng Tử đáng thương trở thành người bị ép phải se duyên với nhiều nhà độc tài trên thế giới.



Khổng Tử, thánh nhân tư tưởng của các đời chế độ phong kiến nhà Hán. Ông mất năm 479 trCN, để lại một di sản bền vững về bổn phận tận trung cho giai cấp cầm quyền, bất luận chế độ đó có mục nát hay tàn bạo đi nữa. Có lẽ vì vậy, chính quyền Bắc Kinh luôn muốn xiển dương quan điểm này, hủ bại hoá toàn bộ các thế hệ trẻ lớn lên trên đất nước Trung Quốc, rằng cách mạng, dân chủ hay thay đổi đều là xấu xa hoặc cần phải bị tuyệt diệt.
Năm 2010, khi Nobel Hoà bình trao cho ông Lưu Hiểu Ba, một nhà tranh đấu cho nhân quyền và tự do, Trung Quốc đã tức giận và tuyên bố rằng giải thưởng này không công chính và “đã tạo ra 1,3 tỉ người bất đồng”. Ngay sau đó, hậu thuẫn cho giới doanh gia thân chính quyền, Bắc Kinh đã cho hình thành giải thưởng Hoà bình Khổng Tử – còn được ví von là Nobel Hoà bình Khổng Tử, nhằm đối chọi lại với giải Nobel Hoà bình hàng năm.(Chính phủ TQ phủ nhận mình có liên hệ đến giải này)


Đây cũng là giải thưởng có nhiều tai tiếng nhất, kể từ khi ra đời đến nay. Người nhận giải thưởng Hoà bình Khổng Tử đầu tiên là ông Liên Chiến, cựu phó Tổng thống Đài Loan, đã từ chối sang Bắc Kinh nhận giải, hơn nữa, ông còn nói rằng chẳng biết gì đến giải thưởng gọi là “Hoà bình Khổng Tử” này.
Nhưng từ sau mùa giải đầu tiên mang tính “rửa mặt” này, giải thưởng lập tức phát huy vai trò công cụ chính trị của mình. Năm 2011, Khổng Tử kết duyên với nhà độc tài đầy mưu lược Vladimir Vladimirovich Putin. Năm 2014, giải thưởng này trao cho Fidel Castro, với lý do là hơn 70 năm tham quyền cố vị ở Cuba, ông ta đã yêu hoà bình, không sử dụng vũ lực với Hoa Kỳ.
Lịch sử ngắn ngủi của giải Hoà bình Khổng Tử có một điều đáng ghi nhớ: đa phần người nhận giải đều im lặng và không đến nhận giải. Ngoài cựu phó Tổng thống Đài Loan Liên Chiến chối bỏ, còn có cựu Tổng thư ký Liên hiệp quốc Kofi Annan, Chủ tịch Fidel Castro, Tổng thống Putin cũng không đến nhận giải.
Nhưng giải thưởng Hoà bình Khổng Tử năm 2015 mới thật sự là một cuộc tranh cãi dữ dội, khi Bắc Kinh dắt tay nhà triết học vĩ đại của mình gả bán cho gã độc tài lừng danh ở châu Phi, Tổng thống Robert Mugabe. Ngay khi giải thưởng này được công bố bởi trung tâm Nghiên cứu hoà bình quốc tế của Trung Quốc (viết tắt là CIPRC), khắp nơi đã xôn xao về sự kiện này, đa phần là mỉa mai và nhạo báng.


Lionel Jensen, một giáo sư về ngôn ngữ và văn hoá tại đại học Notre Dame (Úc) nói trên tờ The Christian Science Monitor rằng việc “trao giải thưởng cho Mugabe, tức là tự làm nhục và hết sức coi thường di sản văn hoá của Trung Quốc”.
Là một học giả nghiên cứu về Khổng Tử như ông Lionel Jensen, ông Daniel Bell, nhà tư tưởng hàng đầu về giá trị của Trung Quốc và châu Á tại đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh, nói rằng: “Khổng Tử xác định điều tối thượng mà chính phủ cần đảm bảo điều kiện cho các phúc lợi vật chất của người dân, sau đó giáo dục cho họ”. Giáo sư Bell, tác giả của nhiều nghiên cứu về Trung Hoa, cho biết thêm rằng: “So với triết lý Khổng Tử, Mugabe đã làm điều ngược lại”.
Tờ Huffington Post tường thuật lại bình luận của giới trí thức qua Twitter, và tổng kết rằng, hầu hết cùng quan điểm với nhau rằng nếu cứ theo tiền lệ này, khả năng chiến thắng của năm tới là Kim Jong-un của Bắc Triều Tiên. Các ý kiến khác còn vui đùa thêm rằng buổi lễ có thể sẽ diễn ra tại The Hague, Hà Lan, toà án Quốc tế.


Bắc Kinh ngợi ca Tổng thống Mugabe là đã “giữ được ổn định khu vực và phát triển kinh tế”. Có thể đó là lý do Bắc Kinh trao giải cho ông ta, nhưng Robert Mugabe thì được thế giới biết đến nhiều nhất bởi vi phạm của ông về nhân quyền, bao gồm cả các vụ thảm sát hơn 20.000 người dân ở các tỉnh Matebeleland và Midlands trong năm 1980 để giữ gìn chế độ. Sức mạnh cai trị của Mugabe ở Zimbabwe là ám sát, đàn áp, tra tấn và dùng nhân viên an ninh mặc đủ loại thường phục để trấn áp mọi ý kiến bất đồng.
Zimbabwe là quốc gia lừng danh về sản xuất kim cương, nhưng mỗi viên kim cương xuất đi từ quốc gia này, đều thấm máu của người lao động hay nước mắt của người dân nghèo phải mang vác món nợ công bởi sự hoang phí của giai cấp cầm quyền.
Năm 2005, bộ phim The Interpreter do diễn viên Nicole Kidman và Sean Penn thủ vai, nói về một nhân vật hư cấu có tên là Edmond Zwanie. Câu chuyện rất giống cuộc đời của ông Mugabe, từ một giáo viên ăn nói nhỏ nhẹ đi làm cách mạng, đã hoá thành bạo chúa. Sau khi coi bộ phim này, ông Mugabe đã hành động y hệt như Chủ tịch Kim Jong-un, tức là tuyên bố bộ phim do “CIA tài trợ” nhằm âm mưu lật đổ ông. Phim The Interpreter ở Zimbabwe hay The Interview ở Bắc Hàn cũng bị cấm lưu hành như nhau, và bị gọi tên là “âm mưu chống lại chính quyền của nhân dân”.


Nhưng vì sao Trung Quốc lại háo hức trao tặng giải thưởng mà họ cho là cao quý nhất cho nhà độc tài Mugabe, bất chấp dư luận? Bắc Kinh không bao giờ làm gì mà không có lợi cho mình. Mối giao hảo của Zimbabwe và Trung Quốc ngày càng đậm sâu hơn, kể từ chuyến thăm cấp nhà nước kéo dài năm ngày của Mugabe vào năm 2014. Các báo cáo tài chính được Forbes tiết lộ, cho biết đầu tư của Trung Quốc tại Zimbabwe đã vượt lên hơn 600 triệu USD, nhiều hơn bất kỳ quốc gia châu Phi khác. Và mối giao hảo này được gắn kết rõ hơn thông qua ít nhất hai công ty Trung Quốc, là Anjin Investment và Tế Nam để khai thác, điều hành mỏ kim cương Marange cực kỳ quý báu của Zimbabwe.
Trong cuộc chơi chính trị, kinh tế, văn hoá… của các quốc gia lớn, Trung Quốc cũng muốn góp mặt mình vào đường đua của các nước phát triển, kể từ khi kinh tế của họ phất lên. Giải Hoà bình Khổng Tử là một ví dụ. Khi gã nhà giàu mới nổi nghĩ rằng mình có tất cả, đôi khi họ cũng cần có chút thời gian để thảng thốt nhận ra rằng thịnh vượng không đồng nghĩa là có được cả văn hoá. Minh chứng cụ thể nhất, là khi họ sẵn sàng gả bán văn hoá của dân tộc mình để đổi lấy chút leng keng tạm bợ của đồng tiền.
Tuấn Khanh
(Sưu tầm trên mạng)
Link tham khảo:

CÓ BA QUẢ TÁO

“Có ba quả táo đã làm thay đổi thế giới này: một quả cám dỗ Eva, một quả rơi trúng đầu Newton, một quả bị Steve Jobs cắn dở.” – Khuyết danh


Câu nói trên đã đưa ra một sự tóm lược về lịch sử phát triển của con người. Con người nhờ khả năng tư duy, trí tuệ mà từ thuở sơ khai vất vả tồn tại trong tự nhiên, đã đi đến chỗ rảnh rang theo đuổi nghiên cứu khoa học vì đam mê. Rồi những khám phá tưởng chừng không có nhiều ứng dụng được lại mang lại những điều kỳ diệu, công nghệ tân tiến, – nền văn minh vật chất chúng ta đang có ngày nay..
Trái táo Thiện Ác…
Ngược dòng lịch sử vài ngàn năm trước đây, đến với câu chuyện trái táo của Adam và Eva trong kinh thánh. Thuở sơ khai lập địa Chúa Trời tạo ra hai người Adam và Eva. Adam và Eva sống hạnh phúc, vô lo vô nghĩ trên khu vườn thiên đàng. Họ có thể ăn hoa trái của tất cả cây cối, ngoại trừ một cây táo mà họ bị chúa ngăn cấm – cây táo Thiện Ác. Rồi một ngày, bị dụ dỗ bởi một con rắn, Eva nếm mùi trái cấm Thiện Ác rồi đưa cho Adam ăn cùng. Sau khi nếm mùi trái cấm Thiện Ác, hai người lập tức nhận được một món quà của trái cấm, đó là lý trí, óc phân biện, suy luận – họ biết phân minh Thiện Ác, biết xấu hổ về sự trần truồng của mình. Nhưng ngay sau đó, Chúa Trời xuất hiện người nổi giận và đầy hai vợ chồng Adam và Eva xuống hạ giới, nơi mà sau đó họ và con cháu họ chịu không ít đau khổ…


Người viết nên câu chuyện này như muốn nói rằng: Lý trí, khả năng tư duy là nguồn gốc của mọi đau khổ, muộn phiền của con người. Nhờ khả năng tư duy mà con người sinh ra phân biệt so sánh, phân biệt – nguồn gốc của ưa ghét, ưa thiện, ghét ác, ưa đẹp, ghét xấu; so sánh giữa ta với người, cho rằng mình phải, người quấy, mình thiện, người ác; ghen tỵ với cái tốt, cái hay của người… Tất cả đều do khả năng phân minh, đánh giá sự vật bên ngoài mang lại, làm cho con người không hạnh phúc với bản thân mình…
Nhưng cũng nhờ óc suy luận, phán đoán mà con người bắt đầu biết quan sát, nhận xét về môi trường xung quanh mình, tìm được những gì cần cho sự tồn tại của mình. Trái táo của Adam và Eva tượng trưng cho nguồn gốc của lý trí, khả năng tư duy – khởi nguồn của sự phát triển với tốc độ ngày càng chóng mặt của loài người trong vài ngàn năm qua…
…và Newton
Tiếp tục cuộc hành trình thời gian, vượt qua nhiều thế kỷ kể từ thời mông muội của Adam va Eva tới thế kỷ 17, tại nước Anh… Đến với Isaac Newton và trái táo thứ hai…


Giai thoại kể rằng, một trái táo rơi trúng đầu Isaac Newton trong lúc ông đang ngồi nghỉ ngơi suy nghĩ dưới gốc cây. Nhờ đó mà ông có luận ra định vật vạn vật hấp dẫn. Định luật này ngay lúc bấy giờ có thể chưa có nhiều ứng dụng, nhưng nó đã đặt nền móng cho sự phát triển của khoa học hiện đại sau này. Trái táo của Newton tượng trưng cho một giai đoạn quan trọng trong lịch sử phát triển của loài người. Đó là một giai đoạn mà con người đã tự tồn tại được trong thiên nhiên một cách sung túc đầy đủ, và còn có thời gian cho những nghiên cứu, tìm tòi… tùy theo sở thích để thoả mãn trí tò mò…
Apple
Tiếp tục cuộc hành trình tới trái táo cuối cùng. Tới thời đại của chúng ta – thế kỷ 20-21, với Apple của Steve Jobs. Trái táo của Steve Jobs như một biểu tượng của cuộc cách mạng công nghệ thông tin của con người ở thế kỷ 20-21. Giờ đây, chỉ ba thế kỷ sau trái táo của Newton, con người đã không chỉ nghiên cứu khoa họ cho vui. Giờ đây con người còn biết định hướng, vận dụng sự hiểu biết về tự nhiên và khoa học phát minh ra những công cụ mang lại sự tiện nghi cũng như đột phá cho sự phát triển của nhân loại. Trái táo Apple của Steve Jobs là ví dụ nổi bật cho bước tiến này.


Những Macintosh, Ipod, Iphone, Ipad… là những đỉnh cao của trí tuệ con người. Với khả năng tư duy suy luận, cùng với niềm đam mê khám phá, con người không chỉ tồn tại được trong tự nhiên, thấu hiểu một phần các quy luật của nó, mà còn có thể sử dụng nó để sáng tạo và mang lại những điều kì diệu, những điều mà tưởng chừng là không thể ở thời đại trái táo của Eva…
Hạnh phúc..?
Nhưng… ngẫm lại đã mấy ai trong chúng ta dám khẳng định mình hạnh phúc được như Adam và Eva hồi còn ở Vườn Địa Đàng? Chúng ta theo đuổi tiến bộ công nghệ khoa học, tạo dựng, tích trữ của cái hàng ngàn năm vừa qua là vì cái gì? Phải chăng là cũng không ngoài cái mục đích là được sung sướng, được Hạnh Phúc? Nền văn minh vật chất phát triển với tốc độ chóng mặt của chúng ta dường như không làm chúng ta hạnh phúc mấy, và dường như còn làm loài người chúng ta ngày càng điên đảo dục vọng, tranh đấu lẫn nhau…Phải chăng đó là cực hình chúng ta phải chịu như con lừa trong cậu chuyện một bậc hiền giả kia đã kể:


Có người đánh xe lừa khôn khéo kia, cho lừa mang bó cỏ tươi trước mồm để gạt nó bước tới… Bước mãi mà bó cỏ vẫn kề bên miệng không được liếm láp cọng nào.. Nhưng kết quả thì rất hay: xe lừa vẫn đi mãi theo ý muốn của người đánh xe, mà không tốn một cọng rơm nào cả! (Cái Lẽ Sống Của Ta, Nguyễn Duy Cần)
Kim Giang
(Sưu tầm trên mạng)

DÙNG BÁNH MÌ LÀM VŨ KHÍ GIÀNH ĐỘC LẬP: CÂU CHUYỆN THÚ VỊ CỦA NƯỚC CỘNG HÒA CONCH

Năm 1982, Thị trưởng thành phố Key West, Mỹ là ông Dennis Wardlow đã tuyên bố độc lập và thành lập nước Cộng hòa Conch. Key West thực chất là một hòn đảo nằm ở phía nam của thành phố Florida, có diện tích 19.2km2 với dân số khoảng 20.000 người. Đây là nơi du lịch nổi tiếng và là nơi nghỉ dưỡng của những người giàu có.

Phong cảnh ở Key West vô cùng xinh đẹp. Nơi hẹp nhất ở đây chính là con đường đi từ đảo tới thành phố Florida. Hai bên đường là biển với cảnh đẹp tuyệt vời. Đoạn đường này là xa lộ số 1 của nước Mỹ, được xưng là con đường bằng cầu đẹp nhất.
Hòn đảo này là điểm đến của rất nhiều người nổi tiếng và các doanh nhân. Nổi bật là nhà văn Mỹ Hemingway, hiện tại ở đây vẫn còn nơi ở của ông.


Vì sao hòn đảo này lại tuyên bố độc lập?

Vào năm 1982, lực lượng biên phòng Mỹ dựng lên các rào chắn và trạm kiểm soát trên con đường số 1 để bắt đầu kiểm tra tất cả những chuyến xe từ đảo về thành phố Florida để có thể điều tra thuốc phiện và những người nhập cư bất hợp pháp. Key West là điểm cực nam của nước Mỹ và chỉ cách Cuba khoảng hơn 100km vì vậy, rất nhiều du khách đã lên bờ ở đây rồi tiến vào nước Mỹ bằng con đường này để thực hiện “giấc mơ Mỹ” của mình.

Key West (Ảnh: internet)
Để ngăn chặn điều này, lực lượng biên phòng Mỹ đã đặt trạm kiểm soát ở đây để kiểm tra người nhập cư trái phép và buôn bán thuốc phiện. Vì chỉ có một con đường để nối liền đảo này và thành phố Florida, nên trạm kiểm soát này đã trở thành một chiếc nút chai gây ách tắc giao thông nghiêm trọng. Thời điểm kẹt xe dài nhất lên đến 15km. Đoạn đường được xưng là “con đường đẹp nhất” và “đường cầu đẹp nhất” này bình thường không được đỗ xe để du khách chụp ảnh cũng đã tắc đường nghiêm trọng rồi, giờ đây lại thêm trạm kiểm soát thì quả là điều khiến không chỉ du khách mà cả dân đảo đều vô cùng “chán ghét”.
Lúc bấy giờ, Thị trưởng thành phố Key West là ông Dennis Wardlow đã báo cáo lên Tòa án Liên bang ở Miami thuộc Florida, Mỹ yêu cầu rằng các “chướng ngại vật” cần phải được dỡ bỏ. Đương nhiên, tòa án đã bác bỏ yêu cầu này của ông và cho rằng chính phủ liên bang có quyền vì lợi ích quốc gia mà thiết lập các “chướng ngại vật” kia và có quyền kiểm tra người trên đường vào Florida.


Ông Dennis Wardlow vô cùng tức giận, cho rằng chính phủ không coi họ là những người Mỹ. Vì vậy, Thị trưởng Dennis Wardlow đã tuyên bố đảo Key West là một quốc gia độc lập mang tên nước cộng hòa Conch vào ngày 23 tháng 4 năm 1982.

Chính phủ Mỹ cũng cảm thấy kỳ lạ không hiểu sao hòn đảo này tự nhiên lại tuyên bố độc lập. Vì vậy họ đã phái FBI đến tìm hiểu điều tra. Các nhân viên FBI chỉ thấy rằng, Thị trưởng Dennis Wardlow đã được công bố là thủ tướng của nước Cộng hòa Conch và nước này cũng tuyên bố chiến tranh chống Mỹ ngay lúc bấy giờ. Để tượng trưng cho cuộc chiến này, vị Thị trưởng đã cầm một chiếc bánh mì Cuba đánh một cái lên đầu một người đàn ông mặc quân phục hải quân Mỹ. Sau đó ngay lập tức ông tuyên bố toàn bộ cuộc chiến tranh chống Mỹ giành độc lập kết thúc. Vị Thị trưởng giữ vững được khoảnh khắc này trong 60 giây, khi FBI đã ra lệnh cho hải quân tiến vào. Đoàn xe của Thị trưởng xông đến căn cứ hải quân Mỹ và thản nhiên giơ cờ trắng tuyên bố đầu hàng.
Thị trưởng Dennis Wardlow rất “hào phóng” thừa nhận rằng đất nước mình đã bị quân đội Mỹ đánh bại, là quốc gia bại trận. Nhưng vì để xây dựng lại sau chiến tranh cùng với tổn thất to lớn về kinh tế nên Thị trưởng đã đề nghị chính phủ Mỹ cấp cho đất nước họ một tỷ USD để kiến tạo lại đất nước.
Tin tức này vừa được đưa ra đã khiến toàn nước Mỹ “sợ” ngây người!
Mặc dù yêu cầu này cuối cùng không được đáp ứng nhưng những “chướng ngại vật” kia đã lặng lẽ được dỡ bỏ. Mặc dù mục đích đã đạt được rồi, nhưng quốc gia Conch vẫn tiếp tục “chơi đùa” đến mức không dừng lại được…


Cuộc chiến bằng những chiếc bánh mì…

Năm 1995, lục quân Mỹ tuyên bố sẽ diễn tập tại đảo Key West. Khi những tin tức này được truyền đến Key West, ông Thị trưởng Dennis Wardlow cảm thấy tình thế quá nghiêm trọng, cho rằng đây là cuộc xâm lược chủ quyền một cách ngang nhiên. Ngay lập tức, ông kháng nghị lên chính phủ Mỹ rằng đây là một hành vi bạo ngược, đồng thời ông cũng viết thư thương lượng đến Tổng tham mưu trưởng liên quân Mỹ và Ngoại trưởng Christopher. Sau đó ông cũng thông báo cho các đơn vị canh phòng đảo và hiệu triệu người dân đảo đứng lên bảo vệ đất nước.
Sau khi kế hoạch tác chiến được lập ra, cộng hòa Conch đã gửi thư thách đấu tới quân đội Mỹ, Nhà trắng, Lầu năm góc, Bộ ngoại giao và đương nhiên, quân đội Mỹ đã đến!
Khi một tiểu đoàn của quân đội Mỹ tiến đến ốc đảo thì bị chặn bởi một lực lượng “hùng mạnh”… Không ngờ, ốc đảo cho 200 người dân cầm bánh mì sẵn sàng chiến đấu khiến cho thiếu tá dẫn đầu tiểu đoàn không thể không xuống xe chào người dân.

Hemingway House
Người đứng đầu quân hải đảo lớn tiếng hỏi: “Liệu quân đội Mỹ có phải cần được đồng ý để vào đảo?”
Quân Mỹ lớn tiếng trả lời: “Đúng vậy, xin cho phép vào đảo!”
Lập tức 200 người dân đảo vỗ tay vang dội. Đội quân của nước cộng hòa Conch đã toàn thắng…

Chiếm trụ cầu bỏ hoang…
Nhưng sự kiện này vẫn chưa phải là kết thúc. Cộng hòa Conch càng lúc càng “to gan lớn mật”, bắt đầu khuấy động thổ địa của nước Mỹ. Năm 2006, họ lại liên tục cho nhập cư trái phép người nước ngoài vào Mỹ. Thời điểm đó, đội canh gác của nước Mỹ bắt được 15 thuyền viên người Cu Ba. Địa điểm bắt được rất nhỏ bé, đó là một trụ cầu bị bỏ hoang thuộc Florida tên là Seven Mile. Nước Mỹ có một chính sách gọi là “chân ướt”, tức là nếu như người nhập cư khi bị bắt mà “chân khô” thì họ có thể được xin tị nạn. Còn nếu như không đặt chân lên lục địa nước Mỹ thì cũng không có cách nào được phép vào. Đội canh gác cho rằng trụ cầu bỏ hoang này không thuộc về lục địa nên đã thả 15 người này về nước.

Cầu Seven Mile

Ngay khi tin tức về vụ thả người này được truyền ra thì Cộng hòa Conch cho rằng: “Nước Mỹ đã nói rằng trụ cầu này không phải là lục địa, là vô chủ, nước Mỹ ghét bỏ nó nhưng chúng ta không chê!” Thế là, Cộng hòa Conch chiếm lĩnh luôn trụ cầu này đồng thời cắm cờ của nước mình lên đó.
Hòn đảo này có thể làm những việc như vậy là bởi vì mọi người đều biết và cho rằng đây chỉ là trò đùa, không ai coi nó là một quốc gia độc lập cả. Tuy nhiên, qua sự kiện tuyên bố độc lập, hòn đảo này lại trở nên nổi tiếng hơn rất nhiều. Họ còn có cả Ngày Độc lập và còn được Hiệp hội du lịch Mỹ cấp phát hỗ trợ.
Ngoài việc lăng xê du lịch, sự kiện này còn thể hiện thái độ sống và truyền thống của người dân nơi đây. Ở nước Cộng hòa Conch có một câu nói: “Chúng tôi thực hành sự hài hước để giảm bớt sự căng thẳng trên thế giới”.

Ở nước Cộng hòa Conch có một câu nói: "Chúng tôi thực hành sự hài hước để giảm bớt sự căng thẳng trên thế giới".

Quả thực, câu chuyện về đất nước tự tuyên bố độc lập Conch này giống như một câu chuyện hài hước nhưng đã thực sự xảy ra. Dựa vào sự kiện giành độc lập mà những “chướng ngại vật” trên đường nối liền đảo vào Florida được dỡ bỏ, khiến cho ngành du lịch phát triển hơn, nhiều người đến đảo du lịch hơn, đời sống của người dân cũng được nâng lên rất nhiều.

Theo NTDTV

Mai Trà biên dịch






HỮU DUYÊN NHÂN


Muốn nói cho người ta nghe theo mình mà thiếu duyên lành thì quả thật vô cùng khó khăn, chính Đức Phật có đầy đủ phước đức, biện tài vô ngại, dùng vô số phương tiện nhiệm mầu hóa độ chúng sanh, có người vừa nghe qua, liền giác ngộ hoan hỷ tín thọ phụng hành, nhưng cũng có người không muốn nghe, còn chống đối lại, điển hình như Đề Bà Đạt Đa...
Cho nên, kinh Phật có câu: "Phật hóa hữu duyên nhơn" nghĩa là Đức Phật chỉ háo độ được những chúng sanh có duyên với Ngài, còn không có duyên thì không độ được. Chẳng hạn, như trường hợp vợ của ông trưởng giả Cấp Cô Độc, Phật và chư Thánh Tăng không độ được, nhưng Tôn giả La Hầu La lại độ được bà quy y Tam bảo, thọ trì Ngũ giới. Chư Tăng thấy thế lấy làm lạ hỏi Phật nguyên do tại sao?


Phật nói: "Sở dĩ La Hầu La độ được vợ ông Cấp Cô Độc là vì trong nhiều kiếp trước La Hầu La đã từng làm con của bà".
Truyện trên cho chúng ta thấy, gặp trường hợp mình nói lẽ phải mà người ta không nghe, chứng tỏ rằng ta không có duyên với họ thì chớ có tranh cãi làm chi cho sanh phiền muộn.


Hơn nữa, các pháp nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậy, chúng chỉ là trò huyễn hóa, vô thường giả tạm, cho dù đúng sai, tốt xấu, được mất, hơn thua, chung qui rồi cũng trở về cát bụi. Chúng ta chớ có cưỡng cầu, đấu tranh làm chi để rồi tạo thêm nghiệp chướng.
HT. Thích Giác Thiện
(Sưu tầm trên mạng)

BHUTAN, CÕI NIẾT BÀN TĨNH MẶC

Hôm nay tôi post bài này như một lời giới thiệu vì tôi chưa đến được đất nước này. Tôi lần đầu tiên biết đến Bhutan vì rất tám trên những tin tức về nghệ sĩ tài danh, Bhutan đến với tôi vào ngày 21/07/2008, ngày đám cưới của Lương Triều Vĩ và Lưu Gia Linh. Sau đó rồi quên, đến mấy tháng trước xem Youtube qua bài phát biểu của ngài Thủ tướng Bhutan, tôi mới lần nữa thật sự biết về Bhutan " Đất nước hạnh phúc nhất thế giới". Nhưng một điều khác cho mọi đất nước khác trên thế giới, Bhutan không muốn và quảng cáo cho mọi dịch vụ du lịch đến với nước mình.

BHUTAN, CÕI NIẾT BÀN TĨNH MẶC
Ẩn mình bên dãy Himalaya hùng vĩ, Bhutan quyến rũ du khách bởi khung cảnh thiên nhiên hoang sơ và hệ thống tu viện độc đáo.
Bhutan là quốc gia nằm kín trong lục địa Nam Á giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Tuy không gian biệt lập với thế giới nhưng nơi đây vẫn vẹn nguyên nét đẹp thanh bình, yên ả của vùng đất vốn hội tụ những điều hạnh phúc nhất của miền hạ giới. Đúng như tên gọi “Vương quốc hạnh phúc”, khắp đất nước Bhutan luôn ngập tràn những gương mặt rạng rỡ với phong cách sống rất riêng: không phân biệt giàu nghèo, không nhà cửa hiện đại, không đường phố tấp nập, náo nhiệt mà thay vào đó là những bảng khẩu hiệu đem lại cảm giác thật gần gũi và thân thiện.



Phần lớn người dân Bhutan đều theo đạo Phật, đó là lý do khi đặt chân đến đây, vãn cảnh bất cứ nơi đâu bạn cũng nhìn thấy những lá cờ phướn của nhà Phật tung bay trong gió cùng hệ thống tu viện được xây dựng hết sức công phu, mang vẻ đẹp vừa huyền bí lại vừa uy nghiêm. Tất cả gần như đi theo lối kiến trúc “dzong” (pháo đài) có dáng dấp bên ngoài rất đồ sộ được bao bọc bởi lớp tường tháp kiên cố. Một lối kiến trúc đặc biệt không cần bất kỳ bản vẽ kĩ thuật nào, cũng không cần một loại đinh ốc nào để kết dính các chi tiết với nhau.



Nổi bật nhất phải kể đến là tu viện Taktsang nằm chênh vênh trên vách núi đá granit sừng sững. Đây được xem là thánh địa linh thiêng nhất của vương quốc Bhutan được các tín đồ Phật giáo và người dân đặc biệt tôn kính bởi Taktsang gắn liền với quá trình tọa thiền của ngài Liên Hoa Sinh – tổ sư Mật Tông Kim Cương thừa. Trên nền trời xanh thẳm, giữa những áng mây bồng bềnh, chiêm bái chốn linh thiêng này, tựa như bạn đang được đấng tối cao ban phước lành và may mắn.



Trên đường đến thủ đô Thimphu, xuyên theo hàng thông vun vút và những dòng suối tinh khiết chảy len lỏi qua những bờ đá, tu viện Tashichho Dzong nằm bên bờ sông Wang Chhu dần hiện ra trước mắt bạn như một bức tranh sống động. Đây là nơi làm việc của quốc vương Bhutan, cũng là nơi ngự giá của các vị lãnh đạo Phật giáo. Bên cạnh đó, không thể không nhắc đến pháo đài Punakha đẹp nhất của đất nước nằm giữa hai con sông thơ mộng Pho Chu và Mo Chu. Dù từng bị tàn phá do thảm họa thiên nhiên nhưng Punakha vẫn không làm mất đi nét đẹp kiến trúc tinh túy mà ngài Đại Lạt Ma đã dày công xây dựng.




Một lần đặt chân đến miền đất hạnh phúc Bhutan, hòa trong cảnh sắc thiên nhiên yên bình, thành kính đảnh lễ nơi cửa Phật thánh linh để tìm về chút tĩnh tâm, bình yên trong cõi lòng sau những bộn bề, lo toan thường nhật chắc chắn là một hành trình đáng nhớ của các Phật tử.
Trần Minh/ TST Tourist




Sunday, October 30, 2016

NHỮNG VẾT ĐINH



Nhẫn nhất thời phong bình lãng tĩnh
Thối nhất bộ hải khoát thiên không

忍一時風平浪靜
退一歩海闊天空

Dịch nghĩa:

Nhẫn một lúc gió yên sóng lặng
Lùi một bước biển rộng trời cao
Ai cũng biết vậy chớ làm được là điều không phải dễ. Bài học hôm nay sẽ cho các bạn một kinh nghiệm sống:

Một cậu bé nọ có tính rất xấu là rất hay nổi nóng. Một hôm, cha cậu bé đưa cho cậu một túi đinh rồi nói với cậu: “Mỗi khi con nổi nóng với ai đó thì hãy chạy ra sau nhà và đóng một cái đinh lên chiếc hàng rào gỗ”.

NHỮNG VẾT ĐINH

Ngày đầu tiên, cậu bé đã đóng tất cả 37 cái đinh lên hàng rào. Nhưng sau vài tuần, cậu bé đã tập kiềm chế dần cơn giận của mình và số lượng đinh cậu đóng lên hàng rào ngày một ít đi. Cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình dễ hơn là phải đi đóng một cây đinh lên hàng rào.


Đến một ngày, cậu bé đã không nổi giận một lần nào trong suốt cả ngày. Cậu đến thưa với cha và ông bảo:
- Tốt lắm, bây giờ nếu sau mỗi ngày mà con không hề giận với ai dù chỉ một lần, con hãy nhổ cây đinh ra khỏi hàng rào.
Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm cậu bé đã vui mừng hãnh diện tìm cha mình báo rằng đã không còn một cây đinh nào trên hàng rào nữa. Cha cậu liền đến bên hàng rào. Ở đó, ông nhỏ nhẹ nói với cậu:


- Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh còn để lại trên hàng rào. Hàng rào đã không giống như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều gì trong cơn giận dữ, những lời nói ấy cũng giống như những lỗ đinh này, chúng để lại những vết thương khó lành trong lòng người khác. Cho dù sau đó con có nói lời xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa, vết thương đó vẫn còn lại mãi. Con hãy luôn nhớ: vết thương tinh thần còn đau đớn hơn cả những vết thương thể xác. Những người xung quanh ta, bạn bè ta là những viên đá quý. Họ giúp con cười và giúp con mọi chuyện. Họ nghe con than thở khi con gặp khó khăn, cổ vũ con và luôn sẵn sàng mở trái tim mình ra cho con. Hãy nhớ lấy lời cha…
(Sưu tầm trên mạng)

VÔ TÂM

Vô tâm không phải là không có tâm. Vô tâm cũng không phải là vô cảm. Mackeno. Có một chữ tượng hình rất hay trong chữ Hán : 木 là mộc. 目 là mục. 心 là tâm.
Khi mộc ghép với mục thì thành tướng 相. Tướng vô tội. Không sanh sự. Nói khác đi, khi trần (mộc= cây) gặp căn (mục = mắt) thì chẳng có chuyện gì xảy ra!

“Sắc thanh hương…” đụng “nhãn nhĩ tỷ…” chả sao cả. Cận thấy kiểu cận, loạn thấy kiểu loạn, lão thấy kiểu lão.
Con người tội nghiệp. Nhãn thua loài cú. Nhĩ thua loài dơi, Tỷ thua loài chó… Con ong cái kiến cũng có căn có trần riêng của nó! Vậy mà con người cứ tưởng mình ngon nhất thế gian.
Làm được cái kính thiên văn đường kính rộng, nhìn lên bầu trời đã la hoảng khi thấy có hàng trăm ngàn tỷ thiên hà, trong khi xưa kia tưởng chỉ có mỗi một mặt trời vĩ đại của riêng ta thôi!
Nay mai có kính thiên văn đường kính rộng hơn nữa không biết chuyện gì sẽ xảy ra!
Trở lại chuyện Tâm. Căn với trần mới là tướng. Ghép thêm chữ tâm (心) vào thì mới thành tưởng 想.

Có tưởng là bắt đầu sinh sự. Tưởng vô vàn. Tưởng vô tận. Muốn thiên đàng có thiên đàng. Muốn điạ ngục có địa ngục.
Cho nên tu là tu Tâm. “Nhất thiết duy tâm tạo”. Tất cả là do tâm bày vẽ ra.
Phật từ thời Hoa Nghiêm đã nói rõ như thế. Hạnh phúc khổ đau từ đó. So sánh hơn thua, chém giết nhau từ đó.
Tiếng Việt ta còn hay hơn: Tướng và Tưởng, chỉ khác nhau có mỗi cái dấu sắc, dấu hỏi… Mà đã ngàn trùng cách xa!
Vô tâm thì vô sự. Vô sự thì bình an. Bình an vô sự. Người ta chúc nhau như vậy.
Người ta lại chúc nhau « Vạn sự như ý »! Ý dẫn các pháp. Muốn « vạn sự » được « như ý » đâu có khó gì.

Một đám du khách hỏi anh nông dân: Hôm nay thời tiết ở đây thế nào anh? Hôm nay có thứ thời tiết mà tôi thích! Làm sao anh biết là có thứ thời tiết mà anh thích ?
Phải học, thưa ông. Không phải lúc nào tôi cũng có cái tôi muốn nên tôi phải biết muốn cái tôi có.
“Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” (Trần Nhân Tông).
BS Đỗ Hồng Ngọc
Theo: phatgiaoaluoi

VÂNG, ÔNG GIÀ NOEL LÀ CÓ THẬT



Trong suốt nhiều thập niên qua, vào mỗi cuối năm dương lịch, các tờ báo ở Mỹ thường cho đăng lại một lá thư trả lời cho một cô bé 8 tuổi tên là Virginia, gởi cho tờ The New York Sun vào năm 1897. Trong thư cô bé hỏi: "Santa Claus có thật không?" Và lá thư trả lời ấy đã được rất nhiều người biết đến, mỗi năm thường được các tờ báo in lại với tựa đề, "Yes, Virginia, there is a Santa Claus."  

Lá thư trả lời của tờ The New York Sun viết cách nay đã hơn 100 năm, nhưng mỗi lần đọc lại tôi thấy vẫn còn mới tinh, sự thật ấy vẫn không hề thay đổi. Tôi nghĩ những lời chia sẻ ấy không phải chỉ nói về một ông Noel, mà có lẽ còn cho hết tất cả những điều kỳ diệu khác đang có mặt trong cuộc sống.

Xin được chia sẻ với các bạn, tất cả những Virginia ở mọi lứa tuổi.
--- oOo ---
Kính chào bác chủ bút —
Cháu được 8 tuổi.  Một vài đứa bạn nhỏ của cháu nói rằng Ông già Noel không có thật.  Ba cháu nói, “Nếu con đọc trên báo The Sun, tức là có thật.” Xin ông nói sự thật cho cháu biết, ông già Noel có thật hay không?
Virginia O’Hanlon 

Cháu Virginia mến, những đứa bạn nhỏ của cháu đã lầm rồi. Chúng đã bị ảnh hưởng bởi cái tánh nghi ngờ của một thời đại có quá nhiều hoài nghi ngày nay. Chúng không tin trừ khi nào chúng phải thấy. Chúng nghĩ rằng, những gì mà đầu óc nhỏ bé của chúng không hiểu được là không thể nào có thật. Nhưng cháu biết không Virginia, tất cả những trí óc, dầu của người lớn hay trẻ con, đều là rất nhỏ bé. Trong cái vũ trụ bao la, rộng lớn này, sự hiểu biết của con người chỉ là một con kiến bé tí ti, so với cái thế giới vô tận chung quanh mình, thì làm sao ta có đủ trí thông minh để tiếp nhận hết tất cả những sự thật được.
Vâng, Virginia, ông già Noel là có thật. Ông hiện hữu rõ rệt cũng như là tình thương và sự rộng lượng và sự chân thành đang có mặt. Và như cháu biết, những điều ấy rất đầy dẫy chung quanh và chúng mang lại cho cuộc sống của cháu những điều tốt đẹp và hạnh phúc nhất. Than ôi, nếu như thế giới này không có Ông già Noel thì cuộc sống này buồn thảm đến dường nào! Nó cũng sẽ rất là ảm đạm nếu như cuộc sống này không có những đứa trẻ như cháu vậy. Thế giới này sẽ không có những niềm tin của trẻ thơ, không thơ phú, không tình yêu với mộng mơ để làm cuộc sống này tươi đẹp hơn. Chúng ta không có gì để vui và thưởng thức nữa hết, ngoại trừ qua những gì mình thấy và nghe. Ngọn lửa trong sáng của tuổi thơ làm sáng đẹp cuộc đời này sẽ bị dập tắt ngấm.

Nếu như không tin vào Ông già Noel, thì thôi cháu cũng đừng tin vào những ông bụt, bà tiên nữa làm gì. Cháu có thể nói Ba cháu thuê người canh chừng xem Ông già Noel có trèo xuống những ống khói vào đêm Noel không, và cho dù nếu như cháu không thấy ai hết, nhưng việc ấy có chứng minh được điều gì chăng? Chưa ai thấy Ông già Noel bao giờ hết, nhưng cũng đâu có dấu hiệu gì chứng minh là không có Ông già Noel đâu!

Cháu biết không, những điều chân thật nhất trên cuộc đời này là những gì mà cả người lớn và trẻ con đều không thể thấy được. Cháu có bao giờ thấy những bà tiên chưa? Lẽ dĩ nhiên là không, nhưng đâu ai có thể chứng minh là các vị ấy không hiện hữu. Không ai có thể nhận thức hay tưởng tượng được những sự kỳ diệu có mặt trong thế giới này, chúng là những gì ta không thấy và cũng sẽ không thể nào thấy được.

Cháu có thể đập vở cái lục lạc đồ chơi trẻ con ra xem, và nhìn thấy được những gì bên trong đã tạo nên những âm thanh ấy. Nhưng có một tấm màn che phủ một thế giới vô hình mà cho dù một người khỏe nhất, hoặc là tất cả những người mạnh nhất trên thế giới này góp sức lại, cũng không thể nào vén mở lên được. Chỉ có niềm tin, thơ văn, tình thương, ước mơ... mới có thể vén mở được tấm màn ấy, và cho ta thấy được những điều kỳ diệu và nhiệm mầu đang nằm ở phía sau. Mà tất cả điều ấy là có thật hay không? Cháu biết không Virginia, trên tất cả thế giới này, không còn có gì là chân thật và chắc chắn hơn là điều ấy.
Ông già Noel, cám ơn trời đất, ông hiện hữu và vẫn sẽ còn có mặt mãi mãi. Một ngàn năm sau này, mà cháu biết không Virginia, 10 lần hơn thế nữa, 10,000 năm sau kể từ bây giờ, Ông già Noel vẫn còn có mặt và tiếp tục mang niềm vui đến cho những con tim của các trẻ thơ như cháu.
Nguyễn Duy Nhiên phỏng dịch

GÀ CHƯA GÁY SAO ĐÃ VỘI THỨC ?


Trong bối cảnh của cuộc sống “không căng thẳng không về” quả thật không dễ đêm nào đặt lưng cũng ngáy o o. Nhưng nếu tưởng chỉ vì quá xì-trết nên đêm biến thành ngày thì lầm! Nhiều bà đang là nạn nhân của một tình trạng nghịch lý khi muốn chợp mắt quên đời. Đó là nạn nhân tuy không khó ngủ, thậm chí nhiều khi dễ ngủ là khác, nhưng chưa quá canh hai bỗng thức giấc rồi trăn trở đến gần sáng. Éo le hơn nữa là khi sắp trở vào ngủ lại là lúc phải ngồi dậy vì nhiều việc đang chờ bà xử lý. Hậu quả là nạn nhân sáng nào cũng mệt mỏi cứ như kéo cày suốt đêm. Có giỏi chịu đựng cách mất ly nước sớm muộn cũng tràn vì giọt nước không đâu.
Thông thường, mất ngủ theo kiểu đang ngon ở bỗng gãy gánh giữa đường là hậu quả của một căn bệnh nào khác, như trầm uất, bệnh tim, bệnh thận. Nhưng trong nhiều trường họp mất ngủ, như vừa mô tả, lại không do bệnh nào hết mà chỉ là hậu quả rất bình thường, dù là với người bệnh thì bất thường, trong một giai đoạn muốn tránh cũng không được của phận má hồng. Đó là thời kỳ mãn kinh!

Tác động, nói đúng hơn, tác hại của tình trạng thiếu hụt nội tiết tố nữ tính khiến chiếc đồng hồ sinh học trong cơ thể bỗng chạy trật giờ. Não bộ khi đó ghi nhận đêm dài chỉ còn có mấy tiếng đồng hồ! Hậu quả là nạn nhân bị đánh thức lúc nửa đêm vì não diễn dịch trật lất là trời đã sáng dù gà chưa hề gáy. Đã vậy, không dễ dỗ lại giấc ngủ vì trung khu điều hành giấc ngủ rất ngoan cố!, hễ nói không là không!, dù là nói sai!. Không cần dông dài cũng hiểu chất lượng lao động, học tập, tư duy… lao đao đến thế nào vì gia chủ hết pin do mất ngủ!
Nạn nhân tất nhiên có thể dùng thuốc an thần để mua cho bằng được giấc ngủ tạm bợ. Nhưng nào có đơn giản như thế! Bên cạnh chuyện lệ thuộc thuốc nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian gần đây cho thấy người dùng thuốc ngủ quá thường là miếng mồi ngon  của nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, trầm uất, phân liệt cá tính, đau đầu kinh niên…

Chữa mất ngủ mà quên vai trò của nội tiết tố chẳng khác nào muốn chống kẹt xe mà không giải quyết cho xong cầu đường. Thay vì quá nhanh chân tìm thầy thuốc ngành thần kinh, nhiều nạn nhân của chứng mất ngủ nên gõ cửa nhà điều trị chuyên về nội tiết tố. Bằng chứng là, cũng theo kết quả nghiên cứu hẳn hoi, không dưới 60% thành viên của “câu lạc bộ mãn kinh” có thể tìm lại giấc ngủ yên bình sau khi được điều trị bằng cây thuốc chọn lọc theo phương án:
–    điều trị hội chứng mãn kinh thông qua hoạt chất thực vật có tác dụng tương tự nội tiết tố với hiệu quả không kém thuốc hóa chất tổng hợp lại thêm lợi điểm là ít phản ứng phụ.
–    cải thiện hàm lượng dưỡng khí nội bào thần kinh nhờ tác dụng của dược thảo được thầy thuốc Đông Y xếp vào nhóm “hoạt huyết”.

Chuyện gì cũng có lý do. Nhiều bà đang mất ngủ không hẳn do bệnh nào nghiêm trọng mà chỉ vì khúc quanh khó tránh trên đường đời. Chọn liệu pháp may rủi với thuốc ngủ hóa chất tổng hợp trong khi giải pháp vừa hiệu quả, vừa an toàn rất gần trong tầm tay?
Bác sĩ Lương Lễ Hoàng

A DI ĐÀ PHẬT

Tôi đọc bài này cũng lâu lâu rồi, muốn post lên cho các bạn tham khảo nhưng sợ không đủ tư cách vì trước hết tôi không phài là Phật tử, tôi chưa quy y, chưa thích ăn chay dù tôi rất tin Phật.



Hồi nhỏ theo bà nội tôi vào chùa lạy Phật, bà nội tôi dạy tôi niệm "Nam Mô A Di Đà Phật", tôi niệm theo và cho tới bây giờ tôi vẫn niệm. Lớn lên chút, thời trung học đệ nhất cấp tôi học ở trường Bồ Đề ở Cần Thơ, phải học thêm mấy giờ giáo lý về Phật giáo mỗi tuần. Tôi mới hiểi ra sự tích Phật Thích Ca không phải là Phật A Di Đà mà là Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Sau này qua Úc, vào chùa Việt thấy trong chánh điện thờ ở giữa là Phật Bổn Sư, bên trái của Phật là Quán Thế Âm Bồ Tát và bên phải là Địa Tạng Vương Bồ Tát, vào chùa Tàu theo đại thừa thì trong chánh điện thờ 3 vị Phật giống nhau về hình tướng nhưng khi tìm tòi trong kinh điển thì 3 vị Phật là: Phật Bổn Sư Thích Ca ngồi giữa, bên trái là Phật Dược Sư và bên phải là Phật A Di Đà. Khái niệm căn bản để phân biệt là nhìn vào bảo pháp mà các vị Phật cầm trong tay. Phật Bổn Sư cầm "bình bát", Phật A Di Đà cầm "bông sen" và Phật Dược Sư cầm "bảo tháp hay bình thuốc" vì hình tướng các vị Phật đều giống nhau.
Bài mà hôm nay tôi muốn post lên cho các bạn đọc để biết về một vị Phật mà thường như người theo đạo Phật đều niệm "Nam Mô A Di Đà Phật".

A DI ĐÀ PHẬT

A Di Đà Phật 阿弥陀佛, tiếng Phạn là Amita-buddha, Amita có nghĩa là “vô lượng” 无量, nhân đó cũng gọi là “Vô Lượng Phật” 无量佛, là vị quốc chủ của tịnh độ Tây phượng cực lạc. Trong Phật giáo đại thừa, A Di Đà Phật là chủ tôn của “Tây phương tam Thánh” 西方三圣 (1), Quán Thế Âm 观世音 và Đại Thế Chí 大势至 là hai vị Hiếp thị (2), giúp Phật giáo hoá chúng sinh, tiếp dẫn bi nguyện hữu tình đến tịnh độ cực lạc. Trong hệ thống Mật tông, trong “ngũ phương Phật” (3) mà Thái Dương Như Lai 太阳如来 thống lĩnh, A Di Đà Phật ở phương Tây, đại biểu cho trí huệ.


A Di Đà Phật có đến 13 danh hiệu, bao gồm:
Vô Lượng Thọ 无量寿
Vô Lượng Quang 无量光
Vô Biên Quang 无边光
Vô Ngại Quang 无碍光
Vô Đối Quang 无对光
Hoan Hỉ Quang 欢喜光
Bất Đoạn Quang 不断光
Nan Tư Quang 难思光
Vô Xưng Quang 无称光
Siêu Nhật Nguyệt Quang 超日月光
Trí Huệ Quang 智慧光
Diễm Vương Quang 焰王光
Thanh Tịnh Quang 清净光
Trong đó, Vô Lượng Thọ Phật và Vô Lượng Quang Phật là nổi tiếng nhất và cũng là trọng yếu nhất.
Trong Phật thuyết A Di Đà Phật kinh 佛说阿弥陀佛经 nói rằng:
Bỉ Phật quang minh vô lượng, chiếu thập phương quốc vô sở chướng ngại, thị cố danh vi A Di Đà … Bỉ Phật thọ mạng cập kì nhân dân vô lượng vô biên a tăng kì kiếp, cố danh A Di Đà.
彼佛光明无量, 照十方国无所障碍, 是故名为阿弥陀 ….. 彼佛寿命及其人民无量无边阿僧祇劫, 故名阿弥陀.
(Phật A Di Đà hào quang sáng rỡ vô lượng, chiếu tới thập phương quốc mà không bị ngăn trở, cho nên gọi Ngài là A Di Đà. ….. Thọ mạng của Phật cùng với thọ mạng của chư Phật chư Thánh trong nước của Ngài là vô lượng vô biên, dài đến cả vô số kiếp, cho nên gọi Ngài là A Di Đà.)
Trong Vô Lượng Thọ kinh 无量寿经 có nói đến lai lịch của A Di Đà Phật: Vào thời Thế Tự Tại Vương Như Lai 世自在王如来 có một vị Pháp Tạng Tì kheo phát hạ 48 đại nguyện, muốn thành tựu một quốc độ tận thiện tận mĩ, đồng thời dùng phương pháp tốt nhất để độ hoá chúng sinh. Về sau Pháp Tạng Tì kheo thành Phật, chính là A Di Đà Phật, sáng lập ra một quốc độ lí tưởng mà mọi người hướng tới, đó là thế giới cực lạc. Chỉ cần chân tâm cầu trí huệ Phật pháp, đồng thời nhất tâm niệm Thánh hiệu A Di Đà Phật, lúc lâm chung, A Di Đà Phật sẽ cùng Quán Thế Âm, Đại Thế Chí đến tiếp dẫn, vãng sinh vào thế giới cực lạc.
Tín ngưỡng A Di Đà Phật cực thịnh, có câu ngạn ngữ:
Gia gia A Di Đà, hộ hộ Quán Thế Âm
家家阿弥陀, 户户观世音
Không chỉ Trung Quốc mà Nhật Bản, Hàn Quốc cũng như vậy. Ấn Độ, Tây vực cũng từng thịnh hành. Do bởi pháp môn niệm Phật đơn giản, tiện lợi nên người tin theo rất đông. Thậm chí 4 chữ “A Di Đà Phật” trở thành lời chào trong tín đồ Phật giáo. Còn như mọi người niệm:
Nam mô A Di Đà Phật
南无阿弥陀佛
Ý nghĩa là “quy y A Di Đà Phật”.


Chú của người dịch
1- Tây phương tam Thánh 西方三圣: cũng gọi là “Di Đà Tam Tôn” 弥陀三尊, tức A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát.
2- Hiếp thị 胁侍: cũng gọi là “Hiếp sĩ” 胁士 (脅士)
Theo Phật học từ điển của Đoàn Trung Còn:
“Vị Hiếp sĩ. Lại gọi là Hiếp thị 脅侍. Hiệp trì 挾持, là vị Bồ tát đứng hầu ở hai bên cạnh sườn Phật. Sĩ 士 là Đại sĩ 大士, tiếng dịch chữ Bồ tát, Hiếp 脅 là cạnh sườn, vì các vị Bồ tát ấy thường theo hầu hai bên cạnh sườn Phật, tán trợ Phật giáo hoá chúng sanh, như Quan Âm, Thế Chí làm Hiếp sĩ đức Phật A Di Đà; Nhựt Quang, Nguyệt Quang làm Hiếp sĩ đức Phật Dược sư; Phổ Hiền, Văn Thù làm Hiếp sĩ đức Phật Thích Ca.
Mỗi đức Phật Trung tôn có hai vị Hiếp sĩ. Phật và hai vị Hiếp sĩ hiệp thành Tam Tôn vậy.”
(Phật học từ điển, quyển 2, trang 13. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1992.)
3- Ngũ phương Phật
Trong thế giới Mật tông, Đại Nhật Như Lai 大日如来 là Mật tông giáo chủ. Lấy Đại Nhật Như Lai làm trung tâm hình thành Ngũ phương Phật, tuyên giảng Phật pháp. Trong Ngũ phương Phật lấy Đại Nhật Như Lai (tức Tì Lư Già Na Phật 毗卢遮佛) làm trung tâm, chung quanh có Đông phương A Súc Phật 东方阿 (*) 佛; Tây phương Vô Lượng Quang Phật 西方无量光佛 (tức A Di Đà Phật阿弥陀佛); Nam phương Bảo Sinh Phật 南方宝生佛; Bắc phương Bất Không Thành Tựu Phật 北方不空成就佛. Mục đích đem 5 loại chấp trước của nhân loại là “tham, sân, si, mạn, nghi” chuyển biến thành 5 loại trí tuệ.
*- Trong nguyên tác, chữ “Súc” này gồm bộ “môn” 门 bên ngoài và chữ “chúng” 众 bên trong.
Phật học từ điển của Đoàn Trung Còn, ở mục A Súc (Phật) cũng ghi chữ “Súc” như thế.

Dịch giả: Huỳnh Chương Hưng
Nguyên tác Trung văn trong
QUAN ÂM TIỂU BÁCH KHOA

观音小百科

Tác giả: Nhan Tố Tuệ 颜素慧

Trường Sa – Nhạc Lộc thư xã, 2002
(Sưu tầm trên mạng)