Thảo hợp ly cung chuyển tịch huy,
Cô vân phiêu bạc phục hà y?
Sơn hà phong cảnh nguyên vô dị,
Thành quách nhân dân bán dĩ phi.
Mãn địa lô hoa hoà ngã lão,
Cựu gia yến tử bạng thuỳ phi?
Tòng kim biệt khước Giang Nam lộ,
Hoá tác đề quyên đới huyết quy.
Bài này tuyển từ Văn Sơn tiên sinh toàn tập quyển 14, bản Gia Tĩnh đời Minh. Thơ làm vào tháng 3 năm Tường Hưng thứ 2 (1279), trên đường ông bị giải vào triều Nguyên ở Yên Kinh. Đường qua Kim Lăng, với nỗi buồn đau tột cùng, non sông như cũ, còn nhân sự thì đã thay đổi đến mức tối tăm trời đất, sao khỏi ruột đau như thắt, nước mắt hết chảy theo ra là máu và tác giả đã khẳng định mình đem thân chết vì việc nước.
金陵驛其一
草合離宮轉夕暉
孤雲飄泊復何依
山河風景元無異
城郭人民半已非
滿地蘆花和我老
舊家燕子傍誰飛
從今別卻江南路
化作啼鵑帶血歸
Trạm Kim Lăng kỳ 1
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Nắng chiều cỏ rợp Ly Cung.
Áng mây phiêu bạt, lạnh lùng chốn nao .
Dân tình, thành quách ra sao?
Núi sông phong cảnh lẽ nào như xưa .
Hoa lau bạc trắng tóc thừa.
Nhà ai cánh én cũng vừa ghé qua .
Giang Nam cách biệt xa nhà.
Tử quy lạc giọng, máu hòa chốn đâu!
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Văn Thiên Tường 文天祥 (1236-1282) vốn tên là Vân Tôn 雲孫, tự Tống Thuỵ 宋瑞, Lý Thiện 履善, hiệu Văn Sơn 文山. Thiên Tường là tên bạn đặt cho lúc ông 20 tuổi đến Giang Tây thi cống sĩ. Nguyên quán ở Thành Đô, sau đổi qua Lư Lăng.
Ông sống vào thời đất nước ông bị Mông Cổ xâm lấn. Năm 1271, Hốt Tất Liệt cử binh đánh Nam Tống. Hai thành Tương Dương và Phàn Thành bị vây chặt, thủ đô Lâm An bị uy hiếp. Ông mộ binh được vạn người, kéo về bảo vệ Lâm An. Khi quân Mông Cổ đến đánh Lâm An, quan quân triều đình bỏ chạy, ông đảm nhận chức sứ giả đến trại quân Nguyên đàm phán. Không ngờ ông bị bắt, nhưng sau trốn được chạy về nam mộ binh đánh tiếp cùng với Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu. Nhưng sau cùng lực lượng không đối chọi nổi, ông bị bắt đem về Đại Đô (Bắc Kinh). Hốt Tất Liệt đã chiêu hàng nhưng ông quyết không đầu hàng, cuối cùng bị xử trảm tại đây năm 47 tuổi.
Nguồn: Thi Viện



