Nguyệt vị đáo thành trai,
Tiên đáo vạn hoa xuyên cốc.
Bất thị thành trai vô nguyệt,
Cách nhất lâm tu trúc.
Như kim tài thị thập tam dạ,
Nguyệt sắc dĩ như ngọc.
Vị thị thu quang kỳ tuyệt,
Khán thập ngũ thập lục.
好事近
月未到誠齋,
先到萬花川穀。
不是誠齋無月,
隔一林修竹。
如今才是十三夜,
月色已如玉。
未是秋光奇絕,
看十五十六。
Hảo sự cận
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Ánh trăng ghé lại trai phòng.
Thăm Hoa Xuyên cốc, lặng lòng liêu trai.
Ánh trăng còn đó nào phai ?.
Ẩn sau bụi trúc, mé ngoài song lan.
Ánh trăng tựa ngọc quan san.
Mười ba mười bốn, căng tràn mười năm.
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Dương Vạn Lý 楊萬里 (1127-1206) tự Đình Tú 廷秀, hiệu Thành Trai 誠齋, người Cát Thuỷ 吉水, Cát Châu 吉州 (nay thuộc Giang Tây, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Thiệu Hưng thứ 24 (1154) đời Tống Cao Tông. Ông từng nhậm các chức Thái thường bác sĩ, Thượng thư Tả tư lang trung kiêm hầu thái tử đọc sách. Chủ trương chống Kim, chính trực, ăn nói thẳng thắn. Đời Ninh Tông, vì gian tướng chuyên quyền, bỏ quan về nhà, cuối cùng phẫn uất mà chết. Thơ tề danh cùng Vưu Mậu 尤袤, Phạm Thành Đại 范成大, Lục Du 陸遊, xưng Nam Tống tứ gia. Cấu tứ mới lạ, lời thơ lưu loát rõ ràng, từ phong cách mới mẻ, hoạt bát tự nhiên, với thơ giống nhau. Trước tác được Thành Trai tập 誠齋集.
Nguồn: Thi Viện



