Mộng hậu lâu đài cao toả,
Tửu tỉnh liêm mạc đê thuỳ.
Khứ niên xuân hận khước lai thì.
Lạc hoa nhân độc lập,
Vi vũ yến song phi.
Ký đắc Tiểu Tần sơ kiến,
Lưỡng trùng tâm tự la y.
Tỳ bà huyền thượng thuyết tương ti (tư).
Đương thì minh nguyệt tại,
Tằng chiếu thái vân quy.
臨江仙其一
夢後樓臺高鎖,
酒醒簾幕低垂。
去年春恨卻來時。
落花人獨立,
微雨燕雙飛。
記得小蘋初見,
兩重心字羅衣。
琵琶絃上說相思。
當時明月在,
曾照彩雲歸。
Lâm giang tiên kỳ 1
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Lầu son khóa chặt mộng lòng.
Uống say chợt tỉnh, bên song buông mành.
Hận răng xuân chợt qua nhanh.
Hoa rơi hoa rụng, phận đành đơn côi.
Mưa xuân cánh ém sánh đôi.
Nàng thơ vừa gặp bồi hồi lòng ai.
Tỳ bà tấu khúc ai hoài.
Tương tư hương áo, chưa phai chốn này.
Trên cao một mảnh trăng bày.
Ánh trăng sáng tỏ mây bay ngang trời.
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Án Kỷ Đạo 晏幾道 (1050-1119) tự Thúc Nguyên 叔原, hiệu Tiểu Sơn 小山, từ nhân đời Bắc Tống, người Lâm Xuyên, Phủ Châu (nay thuộc Giang Tây). Ông là con thứ 7 của Án Thù 晏殊, thuở hoa niên gia đình phong lưu, nhưng về sau hoàn cảnh sa sút, bởi vậy từ phẩm đa phần mô tả ái tình ly biệt, hoài vọng quá khứ, được đánh giá là người kế thừa phái Hoa gian của Nam Đường hậu chủ.
Án Thù lúc sinh thời làm tới chức Hình bộ thượng thư, Quan Văn điện đại học sĩ, lại là người đề bạt Phạm Trọng Yêm, Âu Dương Tu, nên có thể nói Án Kỷ Đạo là danh môn công tử, tính tình ông lại lãng mạn, nên giao thiệp với phong nguyệt chi nhân không ít. Về sau cha ông mất, gia cảnh suy tàn, bản thân ông làm quan thất chí nên hay bi hoài chuyện cũ.
Nguồn: Thi Viện