Thursday, January 8, 2026

THẦN NGHỆ SIÊU SƯ VIỆN ĐỘC TIỀN KINH - LIỄU TÔN NGUYÊN


Thần nghệ Siêu Sư viện 
độc thiền kinh

Cấp tỉnh thấu hàn xỉ,
Thanh tâm phất trần phục.
Nhàn trì bối diệp thư,
Bộ xuất đông trai độc.
Chân nguyên liễu vô thủ,
Vọng tích thế sở trục.
Di ngôn ký khả minh,
Thiện tính hà do thục?
Đạo nhân đình vũ tĩnh,
Đài sắc liên thâm trúc.
Nhật xuất vụ lộ dư,
Thanh tùng như cao mộc.
Đạm nhiên ly ngôn thuyết,
Ngộ duyệt tâm tự túc.


晨詣超師院讀禪經

汲井漱寒齒
清心拂塵服
閒持貝葉書
步出東齋讀
真源了無取
妄蹟世所逐
遺言冀可冥
繕性何由熟
道人庭宇靜
苔色連深竹
日出霧露餘
青松如膏沐
淡然離言說
悟悅心自足


Sáng sớm đọc sách thiền 
ở viện Siêu Sư
(Dịch thơ: Anh Nguyên)

Nước nơi giếng, súc buốt răng,
Giữ lòng trong sạch, rũ phăng áo trẩn.
Sách kinh lá bối, mở lần,
Ra nơi phòng sách, đọc dần dần thôi.
Nguồn chân chẳng giữ, người đời,
Chỉ theo mê hoặc ở nơi cõi trần.
Lời xưa để lại thâm trầm,
Nếu không rèn luyện thiện tâm kể gì?
Sân nhà đạo sĩ vắng đi,
Mầu rêu lẫn với xanh rì mầu tre.
Sương còn, mặt nhật đỏ hoe,
Hàng thông xanh biếc như khoe thoa dầu.
Lặng im chẳng nói một câu,
Nơi lòng tự biết phép mầu, đủ vui...


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Liễu Tông Nguyên 柳宗元 (773-819) tự Tử Hậu 子厚, người Hà Đông, lúc đầu làm Lam Điền uý, sau tham gia vào phe của Vương Thúc Văn. Văn bị gièm, ông bị đổi làm Vĩnh Châu tư mã, rồi Thứ sử Liễu Châu. Quan điểm chính trị của Liễu Tông Nguyên tiến bộ, chủ trương văn chương phải có tính hiện thực. Tác phẩm có Liễu Châu thi tập.

Nguồn: Thi Viện



HỌC THUYẾT MONROE TRONG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VÀ PHIÊN BẢN DONALD TRUMP

Hôm 04/12/2025, Nhà Trắng công bố Chiến Lược An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ NSS phiên bản mới. Tài liệu 33 trang này được xem là một bản cập nhật từ « học thuyết Monroe » và « rất bài bản theo truyền thống đối ngoại của Hoa Kỳ ». Học thuyết Monroe là gì ? Hơn 200 năm qua, đã có những thay đổi nào về tầm nhìn chiến lược của Washington từ James Monroe, vị tổng thống thứ 5 của nước Mỹ, đến Donald Trump ngày nay ?


America for the Americans

Với ảnh hưởng của ngoại trưởng John Quincy Adams, tổng thống Hoa Kỳ James Monroe (nhiệm kỳ 1817-1825) trong thông điệp thường niên trước Quốc Hội hôm 02/12/1823 đã trình bày tầm nhìn chiến lược quốc gia - được biết đến sau này dưới tên gọi Học Thuyết Monroe. « America for the Americans » là cột sống của bài diễn văn đó.

Để hiểu thêm những nét chính về chính sách đối ngoại của một nước Mỹ còn « non trẻ » khi đó : Một năm trước phát biểu của tổng thống Monroe, Hoa Kỳ đã công nhận các nước cộng hòa mới vừa giành được độc lập ở châu Mỹ Latinh, chấm dứt chính sách thuộc địa của châu Âu trên toàn châu Mỹ. Thuyết Monroe trước hết « trực tiếp » đòi các nước châu Âu có truyền thống thực dân ngừng can thiệp vào các vấn đề của toàn bộ châu Mỹ, trải dài từ Alaska đến tận mũi cực nam của Nam Mỹ Tierra del Fuego.

Học thuyết Monroe có thể được tóm gọn trong một câu nói để đời : « Châu Âu thuộc về người châu Âu, Tân Thế Giới là của người Châu Mỹ ». Cũng từ thời điểm đó, Washington khẳng định mọi can thiệp nào từ bên ngoài vào châu Mỹ « sẽ bị coi là mối đe dọa đối với an ninh và hòa bình » của châu lục này, tức là của Hoa Kỳ.

Đổi lại, ở thời điểm 1823, tổng thống James Monroe cũng hứa sẽ không can thiệp vào các vấn đề của châu Âu. Nhưng cũng từ khi khai sinh thuyết Monroe, Hoa Kỳ đã tự cho mình vai trò và trách nhiệm « bảo vệ các quốc gia mới được hình thành ở châu Mỹ Latinh » trước những « hiểm họa xuất phát từ bên ngoài », tức là châu Âu. Washington muốn tách châu lục này khỏi ảnh hưởng cua những cường quốc châu Âu như Anh Quốc, Tây Ban Nha, Pháp …

Một học thuyết hoàn toàn có lợi cho Hoa Kỳ

Theo tạp chí về địa chính trị, Le Grand Continent : Qua việc đặt toàn châu Mỹ dưới sự « bảo vệ » của mình, Hoa Kỳ đã khẳng định ảnh hưởng đối với các quốc gia ngay sát cạnh vừa giành được độc lập. Nhưng « dưới vỏ bọc » của lòng tốt và thiện chí muốn chứng tỏ tình liên đới với « tất cả những người dân ở châu Mỹ », học thuyết đối ngoại mang tên tổng thống Monroe trước hết để lộ những tính toán « ích kỷ » của Washington.

Hoa Kỳ bảo đảm an ninh cho các quốc gia sát cạnh trước hết là bảo vệ chính minh. Hơn nữa đây là cách dễ nhất để nước Mỹ từ đầu thế kỷ 19 khẳng định vai trò bá chủ với toàn khu vực. Thuyết Monroe cấm châu Âu can thiệp vào các quốc gia ở toàn châu Mỹ, nhưng riêng Hoa Kỳ thì vì lý do an ninh vẫn được quyền can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác tại châu lục này.


Những thay đổi trong học thuyết Monroe cùng với thời gian

Căn cứ vào thuyết Monroe này mà Washington đã can thiệp tại những quốc gia như Cuba, Panama, Haiti, Nicaragua.. và biến khu vực này thành « sân sau » của Hoa Kỳ.

Ngay cả chính sách kinh tế của Mỹ cũng mang đậm dấu ấn của học thuyết Monroe : Vào thập niên 1990, tổng thống Bush (cha) đã nhân danh học thuyết này đề xuất thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do châu Mỹ. Tuy nhiên, học thuyết cũng đã bị thách thức bởi nhiều yếu tố. Bối cảnh địa chính trị toàn cầu đã thay đổi, các khu vực lợi ích cũng biến chuyển, khiến châu Âu không còn chú ý nhiều đến châu Mỹ như trước. Dưới thời tổng thống Obama, Hoa Kỳ đã xoay trục sang châu Á.

Cũng Le Grand Continent bình luận : Sự « mập mờ » trong cách định nghĩa thế nào là « can thiệp, không can thiệp » của thuyết Monroe đã mở đường cho Theodore Roosevelt, tổng thống thứ 26 trong lịch sử Hoa Kỳ (nhiệm kỳ 1901-1909), điều chỉnh và bổ sung một điều khoản mang tên ông vào học thuyết này. Hệ luận Roosevelt năm 1904 khẳng định Mỹ có quyền can thiệp « khắp mọi nơi trên thế giới ».

Le Grand Continent kết luận : Có thể nói học thuyết Monroe đã đạt được mục tiêu ban đầu, đó là thành công trong việc ngăn chặn châu Âu quay lại can thiệp vào châu Mỹ và đặc biệt, đây là công cụ cho phép Mỹ diễn giải theo thời gian để « biện minh cho mọi hình thức can thiệp, phục vụ lợi ích của Hoa Kỳ ».

Một sự tiếp nối được cập nhật từ học thuyết Monroe

Vậy so với văn bản đầu tiên, chiến lược an ninh quốc gia NSS được tổng thống Donald Trump bổ sung lần này có gì mới ?

Chuyên gia về địa chính trị Léonie Allard trong bài viết trên tạp chí Le Grand Continent đánh giá : Tựa như James Monroe hơn 200 năm trước đây, rồi thuyết Monroe được bổ sung với hệ luận Roosevelt, tổng thống Donald Trump cũng chĩa mũi dùi vào châu Âu, cũng tập trung củng cố ảnh hưởng của Hoa Kỳ với sân sau là Châu Mỹ Latinh.

Nhưng có hai « điểm mới » trong chiến lược mang dấu ấn của ông Trump, đó là dưới ảnh hưởng của thuyết MAGA (Make America Great Again), Nhà Trắng quan niệm :

Thứ nhất, Mỹ không có trách nhiệm bảo vệ thế giới. Nếu một siêu cường (như Nga) không trực tiếp đe dọa đến lợi ích của Hoa Kỳ, thì Washington không có lý do gì để xem đấy là một « mối đe dọa » nhắm vào an ninh của nước Mỹ. Nói cách khác, Hoa Kỳ không bận tâm khi an ninh của châu Âu bị Nga đe dọa.

Cựu đại sứ Pháp tại Washington, Gérard Araud gần đây đã nhắc lại : Chính học thuyết Monroe đã khiến nước Mỹ ở thập niên 1930 để yên cho Đức Quốc Xã phát triển rồi xâm chiếm các quốc gia chung quanh. Giữa hai cuộc Đại Chiến 1914-1918 và 1939-1945, Mỹ đã từng áp dụng chính sách bảo hộ mậu dịch với những hàng rào thuế quan ở mức chưa từng thấy.

Hoa Kỳ những năm tháng đó đã từng chẳng hề quan tâm đến an ninh của thế giới, mà chỉ tập trung khắc phục hậu quả do khủng hoảng tài chính 1929 gây ra… Trump giờ đây cũng vậy.

Điểm thứ hai: Monroe trước kia gạt châu Âu ra ngoài châu Mỹ, Donald Trump giờ đây không quan tâm đến châu Âu vì châu lục này không còn chia sẽ những giá trị về « một nền văn minh » tương tự như của Hoa Kỳ. Mối đe dọa lớn nhất đối với an ninh của châu Âu không phải là Nga trong nhãn quan của chủ nhân Nhà Trắng, mà là « các làn sóng nhập cư » sắp nhận chìm các nền văn minh tại châu lục này.


Đòi châu Âu chia sẻ những giá trị chung với nước Mỹ của Trump

Về câu hỏi Donald Trump sẽ có duy trì liên minh quân sự NATO hay không, câu trả lời theo tác giả có lẽ là có, với điều kiện các thành viên châu Âu trong NATO phải đồng lòng với những giá trị của Hoa Kỳ đang được chính quyền Trump chỉnh đốn lại.

Sau cùng, nhà địa chính trị Léonie Allard đánh giá : căn cứ vào chiến lược an ninh quốc gia mới thì mọi « đòi hỏi tự chủ » từ bất kỳ một đối tác nào của Washington cũng đều « trái ngược với đường lối đối ngoại của Mỹ đã hiện hành từ sau Thế Chiến Thứ Hai ».

Do vậy theo chyên gia này, chiến lược NSS 2025 của chính quyền Trump chỉ là một sự tiếp nối và được cập nhật từ học thuyết Monroe, luôn đặt lợi ích của Hoa Kỳ lên trên hết. Chẳng qua là tổng thống Mỹ thứ 47 chỉ diễn giải hơi khác một chút câu nói để đời của người tiền nhiệm James Monroe : America for the Americans, nhưng lần này là một châu Mỹ chỉ thuộc về người dân Hoa Kỳ.

Thanh Hà
Theo: RFI Tiếng Việt (11/12/2025)
Link tham khảo:




Wednesday, January 7, 2026

GIẢI MÃ TRANH VẼ "NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH" TRÊN VÁCH HANG ĐỘNG THỜI TIỀN SỬ

Nhiều bức tranh vẽ trên các hang động từ hàng ngàn năm trước được cho là cách thức người tiền sử mô tả về sự xuất hiện của người ngoài hành tinh. Tuy nhiên, các nhà khoa học lại không cho là như vậy.


Vì sao người tiền sử vẽ tranh trên các vách hang?

Người tiền sử vẽ tranh trên các vách hang, nơi họ sinh sống và trú ngụ cách đây hàng ngàn năm, vì nhiều lý do khác nhau.

Nhiều nhà khảo cổ học cho rằng những bức tranh vẽ này mang ý nghĩa tín ngưỡng hoặc được sử dụng cho các nghi lễ. Đôi khi, các bức tranh vẽ cũng là một cách để ghi lại các sự kiện quan trọng của người tiền sử như một chuyến đi săn thành công hoặc để mô tả hiện tượng tự nhiên mà con người lần đầu bắt gặp.

Vẽ tranh lên vách hang là cách người tiền sử mô tả về cuộc sống, quá trình săn bắt hoặc truyền đạt thông tin… (Ảnh: Pinterest).

Các nhà khoa học cũng cho rằng các bức tranh vẽ được sử dụng để truyền đạt thông tin, hướng dẫn thế hệ trẻ về các kỹ thuật săn bắn hoặc các loài động vật nguy hiểm, cần tránh xa.

Các nhà khoa học cũng không loại trừ khả năng các hình vẽ trên vách hang động là cách để người tiền sử đánh dấu lãnh thổ hoặc xác định chủ quyền với hang động mà họ đang trú ngụ. Hoặc đôi khi, các bức tranh vẽ chỉ đơn giản là cách để người tiền sử thể hiện óc sáng tạo và khả năng nghệ thuật của họ.

Người tiền sử thường dùng than từ gỗ cháy để vẽ tranh, bởi lẽ đây là chất liệu dễ sử dụng và hầu như luôn có sẵn. Đôi khi, họ sử dụng các loại đất sét, đá đỏ, máu, mỡ động vật… để thực hiện các bức tranh trên vách hang.

Vì sao các bức tranh vẽ trên vách hang động có thể tồn tại suốt cả ngàn năm

Một vấn đề khiến không ít người thắc mắc đó là vì sao các bức tranh vẽ trên vách hang động lại có thể tồn tại suốt một thời gian dài, lên đến hàng ngàn năm như vậy.

Các nhà khoa học cho biết có nhiều yếu tố giúp các bức tranh vẽ này có thể tồn tại lâu. Đầu tiên đó là hầu hết các bức tranh của người tiền sử còn tồn tại đều nằm sâu trong hang động, nơi tránh xa các điều kiện thời tiết như mưa, gió, ánh nắng mặt trời…

Những tranh vẽ được khắc trên vách đá tại Di tích Quốc gia Canyon, bang Arizona, Mỹ (Ảnh: Getty).

Chất liệu dùng để vẽ tranh cũng giúp các bức tranh này tồn tại lâu. Theo đó, người tiền sử dùng các chất màu tự nhiên như than củi, đất sét hay đá chứa oxit sắt… để vẽ, giúp các bức tranh tồn tại được lâu. Ngoài cách vẽ thông thường, một số bức tranh còn được khắc vào đá, giúp chúng tồn tại được lâu hơn.

Phát hiện nhiều tranh vẽ "người ngoài hành tinh" cách đây hàng ngàn năm trên khắp thế giới

Bên cạnh những bức tranh vẽ mô tả về cuộc sống hàng ngày, quá trình săn bắt, hái lượm… nhiều bức tranh vẽ của người tiền sử đã gây ra không ít tranh cãi khi có nội dung giống như mô tả về người ngoài hành tinh.

Hình ảnh tranh vẽ giống người ngoài hành tinh được tìm thấy tại Ấn Độ. Những bức tranh này được cho là vẽ từ cách đây 10.000 năm (Ảnh: TOI).

Vào năm 2018, các nhà khảo cổ học tại Ấn Độ đã tìm thấy bên trong các hang đá tại bang Chhattisgarh và bang Madhya Pradesh những bức tranh vẽ của người tiền sử. Các bức tranh này mô tả về những sinh vật có đầu to và thân hình kỳ lạ, giống với hình ảnh về người ngoài hành tinh xuất hiện trong các bộ phim khoa học viễn tưởng.

Các nhà khảo cổ học tin rằng những bức tranh này được vẽ từ cách đây hơn 10.000 năm.

Cũng trong năm 2018, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều hình vẽ trên vách các hang động bên trong Khu bảo tồn Động vật hoang dã Swaga Swaga tại miền trung Tanzania. Trong số những bức tranh vẽ này, các nhà khảo cổ học đã ấn tượng với tranh vẽ về 3 nhân vật bí ẩn sở hữu những chiếc đầu to quá khổ.

Những hình vẽ giống người ngoài hành tinh trên hang động tại Tanzania được cho là mô tả nghi thức truyền thống của tổ tiên người Sandawe (Ảnh: Đại học Cambridge).

Nhà khảo cổ học Maciej Grzelczyk đến từ Đại học Cambridge, Anh, cho rằng những bức tranh vẽ này có thể giúp giới khoa học tìm hiểu về tổ tiên của người Sandawe, một nhóm người dân tộc bản địa sống tại khu vực Đông Nam Phi.

Một trong những thách thức lớn nhất của các nhà khoa học đó là "xác định danh tính" của 3 nhân vật bí ẩn này. Khi quan sát kỹ các bức tranh vẽ, họ nhận ra những cái đầu to lớn của các nhân vật khá giống với đầu trâu.

Grzelczyk cho biết sừng trâu đóng một vai trò quan trọng trong các nghi lễ của người Sandawe, do đó bức tranh vẽ về những nhân vật giống với người ngoài hành tinh này được cho là mô tả về những người đội mũ sừng trâu để thực hiện các nghi lễ tín ngưỡng.

Ý nghĩa về các bức tranh vẽ giống người ngoài hành tinh trên vách hang đá của người tiền sử

Những bức tranh vẽ giống người ngoài hành tinh trên các vách hang đá của người tiền sử đã gây ra nhiều tranh cãi và suy đoán từ giới khảo cổ.

Không ít ý kiến cho rằng những bức tranh vẽ này được người tiền sử mô tả về sự kiện người ngoài hành tinh đã từng ghé thăm Trái Đất và giao tiếp với họ. Tuy nhiên, đây chỉ là giả thuyết trong văn hóa đại chúng, khi các bức tranh vẽ của người tiền sử được chia sẻ lên mạng xã hội. Trong khi đó, cộng đồng khoa học chính thống và giới khảo cổ không ủng hộ giả thuyết này vì thiếu bằng chứng cụ thể.


Giả thuyết được giới khoa học chấp nhận nhiều nhất đó là những bức tranh vẽ này mô tả về những nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo… trong đó người thực hiện nghi lễ sẽ mặc những bộ trang phục và đội những chiếc mũ đặc biệt, khiến kiểu dáng của họ trở nên khác thường.

Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng những bức tranh vẽ này có thể là cách mô tả của người tiền sử về các vị thần, linh hồn hoặc những thực thể siêu nhiên mà họ tôn thờ, chứ không nhất thiết là sinh vật ngoài hành tinh.

Ngoài ra, không loại trừ khả năng một số bức tranh vẽ do người hiện đại vẽ thêm lên các vách hang đá nhằm cố tình tạo ra sự hiểu lầm cho các nhà nghiên cứu.

Nhìn chung, các nhà khoa học cho biết nghiên cứu kỹ về các bức tranh vẽ trên vách hang động có thể giúp họ hiểu rõ hơn về cuộc sống, văn hóa và tín ngưỡng của người tiền sử. Họ tin rằng các bức tranh vẽ của người tiền sử đều có ý nghĩa về mặt văn hóa, tâm linh hoặc biểu tượng, chứ không liên quan đến người ngoài hành tinh.

T. Thủy / Theo: DNews

THẾ GIỚI CÓ ÔNG VUA XE ĐIỆN MỚI, KHÔNG PHẢI TESLA MÀ LÀ CÁI TÊN TỪNG BỊ ELON MUSK COI THƯỜNG

Năm 2011, CEO Tesla Elon Musk từng công khai coi thường BYD, cho rằng nhà sản xuất xe điện Trung Quốc này không đủ tầm để trở thành đối thủ. Thế nhưng sau gần 14 năm, cục diện đã hoàn toàn đảo chiều: BYD chính thức vượt Tesla để trở thành hãng bán xe điện lớn nhất thế giới.


Theo số liệu năm 2025 vừa được hai công ty công bố, BYD đã bán ra 2,26 triệu xe điện, tăng gần 28% so với năm trước. Trong khi đó, Tesla chỉ giao được 1,6 triệu xe, giảm 8,6% – mức sụt giảm hằng năm lớn nhất trong lịch sử hãng và là năm thứ hai liên tiếp doanh số đi xuống.

Đáng chú ý, BYD đạt được vị trí số một dù chưa bán xe điện tại thị trường Mỹ, trong khi Trung Quốc lại là thị trường lớn thứ hai của Tesla.

Doanh số Tesla lao dốc

Trong quý IV/2025, Tesla chỉ bán được khoảng 418.000 xe, giảm 15,6% so với cùng kỳ năm trước và thấp hơn nhiều so với mức kỷ lục toàn cầu của quý III. Nguyên nhân chính là làn sóng mua xe sớm của người tiêu dùng Mỹ trước khi khoản tín dụng thuế 7.500 USD cho xe điện hết hạn vào ngày 1/10.

Tesla không công bố doanh số theo từng thị trường, nhưng theo báo cáo tài chính, thị trường Mỹ đóng góp gần một nửa doanh thu của hãng. Các hãng xe khác cũng được dự báo sẽ ghi nhận doanh số xe điện yếu tại Mỹ trong ba tháng cuối năm 2025.


Sau giai đoạn tăng trưởng bùng nổ, từng có thời điểm lượng xe giao của Tesla tăng gần 50% mỗi năm, công ty bắt đầu chững lại từ năm 2024 với mức giảm nhẹ 1%. Sang năm 2025, đà giảm trở nên rõ rệt hơn khi Tesla đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ BYD và các hãng ô tô truyền thống, cùng với phản ứng tiêu cực của người tiêu dùng trước các hoạt động chính trị gây tranh cãi của Elon Musk tại Mỹ và châu Âu.

Đầu năm nay, khi Musk giữ vai trò lãnh đạo Bộ Hiệu quả Chính phủ trong chính quyền Trump, nhiều cuộc biểu tình đã nổ ra trước các showroom Tesla tại Mỹ và châu Âu, thậm chí xuất hiện các vụ phá hoại xe và cơ sở của hãng.

Để đối phó với việc mất ưu đãi thuế, Tesla tung ra các phiên bản giá rẻ hơn của Model 3 và Model Y, thấp hơn khoảng 5.000 USD so với bản cao cấp. Tuy nhiên, các phiên bản này có tầm hoạt động ngắn hơn và bị cắt giảm một số tính năng, khiến sức hấp dẫn không hoàn toàn bù đắp được sự suy giảm nhu cầu.

BYD lớn mạnh nhưng không dễ thở

Ở chiều ngược lại, BYD giành được ngôi vị dẫn đầu toàn cầu trong bối cảnh thị trường nội địa Trung Quốc cạnh tranh khốc liệt và chiến tranh giá kéo dài. Áp lực này buộc hãng xe có trụ sở tại Thâm Quyến phải đẩy mạnh mở rộng ra thị trường quốc tế, dù chiến lược giá thấp khiến BYD bị giám sát chặt chẽ và đối mặt với các rào cản thuế quan tại một số quốc gia.


Tổng doanh số của BYD, bao gồm cả xe điện và xe hybrid, đạt hơn 4,6 triệu xe trong năm qua, nhưng tốc độ tăng trưởng đã chậm lại, thấp nhất trong vòng 5 năm. Lợi nhuận của công ty cũng sụt giảm trong quý II và quý III/2025.

Dù thị trường ô tô Trung Quốc đã bớt “đông đúc” hơn, mức độ cạnh tranh vẫn rất cao với khoảng 150 thương hiệu và hơn 50 nhà sản xuất xe điện. Các đối thủ như Geely, Leapmotor hay Xiaomi – hãng chỉ mới ra mắt xe điện đầu tiên năm 2024 – đang dần bào mòn thị phần của BYD.

Từ mức đỉnh 35% năm 2023, thị phần BYD giảm còn 29% trong 11 tháng đầu năm 2025. Trong khi doanh số BYD giảm hơn 5% so với cùng kỳ năm trước, Geely lại tăng trưởng gần 90%.

Phát biểu tại cuộc họp nhà đầu tư tháng 12, Chủ tịch kiêm CEO Vương Truyền Phúc thừa nhận lợi thế công nghệ của BYD đang bị thu hẹp và sự khác biệt hóa sản phẩm chưa đủ mạnh, nhưng khẳng định công ty sẽ sớm tung ra các công nghệ mới.

Bất chấp doanh số suy yếu, cổ phiếu Tesla vẫn tăng 18,6% trong năm 2025. Giới đầu tư dường như đang đặt niềm tin vào các kế hoạch dài hạn của Elon Musk, bao gồm đội xe robotaxi và “đội quân” robot hình người mà ông tuyên bố sẽ sớm triển khai.


Tuy nhiên, thực tế cho thấy dịch vụ robotaxi của Tesla hiện mới chỉ hoạt động hạn chế tại hai khu vực là Austin (Texas) và San Francisco, còn rất xa so với lời hứa phục vụ một nửa dân số Mỹ vào cuối năm.

Cuộc đua xe điện toàn cầu vì thế đang bước sang giai đoạn mới: Tesla không còn độc chiếm vị thế tiên phong, trong khi BYD đã vươn lên dẫn đầu nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức ngày càng lớn.

Nguồn: CNN
Hồng Duy / Theo: Nhịp sống Thị trường
Link tham khảo:




GIỤC GIÃ - XUÂN DIỆU


Giục giả - Xuân Diệu

Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,
Em, em ơi, tình non đã già rồi;
Con chim hồng, trái tim nhỏ của tôi,
Mau với chứ! thời gian không đứng đợi.

Tình thổi gió, màu yêu lên phấp phới;
Nhưng đôi ngày, tình mới đã thành xưa.
Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ,
Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết!

Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt;
Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài;
Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai;
Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn.

Vừa xịch gối chăn, mộng vàng tan biến;
Dung nhan xê động, sắc đẹp tan tành.
Vàng son đương lộng lẫy buổi chiều xanh,
Quay mặt lại: cả lầu chiều đã vỡ.

Vì chút mây đi, theo làn vút gió.
Biết thế nào mà chậm rãi, em ơi?
Sơm nay sương xê xích cả chân trời,
Giục hồng nhạn thiên di về cõi bắc.

Ai nói trước lòng anh không phản trắc;
Mà lòng em, sao lại chắc trơ trơ?
- Hái một mùa hoa lá thuở măng tơ,
Đốt muôn nến sánh mặt trời chói lói;

Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối,
Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm.
Em vui đi, răng nở ánh trăng rằm,
Anh hút nhụy của mỗi giờ tình tự.

Mau với chứ! Vội vàng lên với chứ!
Em, em ơi! Tình non sắp già rồi...

Xuân Diệu

"Mau với chứ, vội vàng lên với chứ,
Em, em ơi, tình non đã già rồi."
Xuân Diệu từng thổ lộ rằng hai câu này sáng tác theo giai thoại văn chương Pháp, có lần Alfred de Musset nói với George Sand: “Dépêche-toi, George, mon amour est vieux” (George, mau lên em, tình ta đã già rồi). (Thụy Khuê)


Nguồn: Thi Viện



NGƯỜI KHÔN IM LẶNG, NGƯỜI NGỐC HÙNG BIỆN

Trong “Kinh Dịch” có câu: “Người hiền lành ít lời, kẻ bất an nhiều lời”, một người càng bốc đồng, họ càng thích tranh giành lời nói với người khác. Còn một người trưởng thành, họ sẽ biết im lặng đúng lúc và luôn trầm lặng.

Người trầm tĩnh sẽ lập nên đại sự (nguồn: Songdep)

Người xưa đã dạy: “Nước sâu thì chảy chậm, người khôn thì nói ít”, vì vậy học nói chỉ mất 2 năm nhưng học cách im lặng thì phải mất cả đời.

1. Một người càng bất tài, họ càng muốn hơn người khác trong lời nói

Có một câu hỏi trên diễn đàn rằng: “Bạn từng thấy hành vi nào có trí tuệ cảm xúc thấp nhất?”

Một người đã trả lời: “Luôn luôn hơn người khác trong lời nói.”

Một cuốn tiểu thuyết ngắn “Hùng biện” do Vương Mông viết trong những ngày đầu kể lại cảnh một bệnh nhân mắc chứng “Hùng biện” đến gặp bác sĩ.

Bác sĩ đã lịch sự mời bệnh nhân ngồi, nhưng anh ấy không vui và hỏi lại rằng: “Tại sao anh muốn tôi ngồi? Anh có thể tước quyền đứng của tôi không?”

Bác sĩ bị câu trả lời của anh làm cho không nói nên lời, vội vàng chuyển đề tài: “Hôm nay thời tiết rất đẹp!”

Bệnh nhân nhấn mạnh: “Bạn chỉ có thể nói rằng thời tiết ở đây không tệ, và thời tiết ở Nam Cực và Bắc Cực cũng không tốt hơn nhiều.”

Bác sĩ chịu không nổi nữa, trực tiếp hỏi: “Anh sao vậy?”

Thay vào đó, bệnh nhân tiếp tục trả lời: “Bạn chỉ có thể nói cơ quan nào trong cơ thể tôi bị bệnh, bạn không thể nói tôi là người như thế nào”.

Cảnh tượng có vẻ vô lý này không phải là hiếm xung quanh chúng ta.

Như Lí Tiếu đã nói, trên thế giới này thực sự có một nhóm người tin chắc rằng “trái đất phẳng”, nếu bạn chỉ vào quả địa cầu và nói với họ “trái đất hình tròn”, họ sẽ nói đó là giả và nhân tạo.

Họ sẽ cố tình chỉ trích, thậm chí nếu họ sai thì họ vẫn phải cắn răng chịu đựng và nói trắng thay đen. Nếu bạn muốn tranh luận với họ, họ thậm chí sẽ không ngừng huyên thuyên cho đến khi họ chiến thắng trong lời nói và khiến bạn phải nhận thua.

Cuối cùng, bạn không những không thuyết phục được đối phương mà còn làm tổn thương chính mình vì điều đó.

Doanh nhân Carnegie đã nói trong “Điểm yếu của bản chất con người”: “Trên thế giới này, chỉ có một cách duy nhất để thắng một cuộc tranh cãi, đó là tránh nó.”

Không có người chiến thắng thực sự trong cuộc tranh luận vô nghĩa, và việc cạnh tranh bằng ngôn ngữ là biểu hiện của trí tuệ cảm xúc thấp. Kỷ luật tự giác lớn nhất đối với người trưởng thành là kiềm chế mong muốn thu phục người khác bằng lời nói.

Có thể kiểm soát tốt mong muốn thu phục người khác bằng lời nói là bạn đã đạt được rất nhiều thứ (nguồn: phunutoday)

2. Khi có thể im lặng thì đừng tranh luận

Có một câu chuyện thế này: Có một bậc thầy cờ vua nổi tiếng khắp nơi về tài năng của mình, một lần có người đến thăm ông với một hộp cờ vua và hỏi rằng: “Ông là bậc thầy về cờ vua, ông có thể cho biết trong ô cờ có bao nhiêu quân không?”

Bậc thầy cờ vua mỉm cười: “Có 181 quân đen và 180 quân trắng, tổng cộng 361 quân.”

Người đàn ông vặn lại: “Không đúng, chỉ có 360 quân thôi.” Sau đó, anh ta lấy một quân cờ giấu trong tay. Các học trò đứng xung quang thấy vậy bèn xông lên nói lí lẽ, không bên nào chịu bên nào, tiếng cãi cọ càng lúc càng lớn.

Một lúc sau, người thầy cờ vua chủ động nhận lỗi: “Quả thực là ta không có năng lực.”

Sau khi nghe điều này, người đàn ông hài lòng rời đi. Người học trò thấy kỳ lạ bèn hỏi: “Rõ ràng là người đó đến để gây chuyện, sao thầy lại nhận lỗi vậy thầy?”

Sư phụ cười nói: “Đã biết hắn vô cớ tới đây gây sự, ngươi vì sao còn tiếp tục dây dưa với hắn? Nếu không vừa lòng hắn, có nói lí lẽ ba ngày ba đêm hắn cũng sẽ không rời đi.”, làm vậy sẽ chỉ lãng phí thời gian của mình mà thôi.

Côn trùng mùa hè không thể nói lên bất cứ điều gì, bởi vậy việc tranh luận với những người không cùng tầng thứ chỉ là một sự lãng phí thời gian.

Mỗi người có một mức độ nhận thức khác nhau, nếu bạn tranh luận ở các mức độ khác nhau thì sẽ giống như chơi đàn cho một con bò, nếu bạn nói quá nhiều sự thật, họ sẽ không thể tiếp nhận nổi.

Có một câu nói đặc biệt hay: “Một trong những dấu hiệu của sự trưởng thành là ngừng tranh cãi với người khác và dần dần hiểu rằng không phải ai cũng ở cùng một con thuyền”.

Tranh luận với người không cùng tầng thứ sẽ chỉ làm lãng phí thời gian (nguồn: aboluowang

3. Người càng tài năng lại càng biết im lặng

Trong Mặc Tử có ghi, học sinh của Mặc Tử là Cầm hỏi Mặc Tử: “Nói nhiều có ích lợi không?”

Mặc Tử trả lời: “Con cóc, con ếch cả ngày lẫn đêm đều kêu không ngừng. Kêu đến khô mồm, mỏi lưỡi nhưng không có ai để tâm đến tiếng kêu của nó cả. Sáng sớm, nhìn thấy con gà trống đỏ gáy đúng giờ vào lúc bình minh, trời đất đều chấn động, mọi người đều thức dậy. Nói nhiều thì có ích lợi gì chứ? Chỉ lời nói được nói ra trong tình huống hợp thời cơ thì mới có ích lợi thôi”.

Mặc Tử muốn nói với chúng ta, lời không cần nói nhiều, người biết nói chuyện luôn nói những lời thích hợp vào thời điểm thích hợp.

Nhiều khi, sự im lặng thường mạnh hơn tiếng ồn. Trong “Những điều đó trong triều đại nhà Minh”, nhà văn Minh Nguyệt đã đề cập đến một câu hỏi: “Làm thế nào để đánh giá liệu một đội quân có đủ mạnh hay không?”

Ông cho rằng để đánh giá một quân đội có mạnh hay không, không chỉ dựa vào sức mạnh cứng như hệ thống trang thiết bị và người chỉ huy, mà quan trọng hơn là quân đội đó có phẩm chất nhất định hay không.

Phẩm chất này chính là im lặng. Đội quân mạnh nhất thường là đội quân thầm lặng.

Nhóm chiến binh này đến từ các quốc tịch khác nhau, họ có khuôn mặt khác nhau và họ nói các ngôn ngữ khác nhau. Nhưng khi chiến đấu, họ sẽ lặng lẽ đứng cạnh nhau, lắng nghe cùng một giọng nói, nhìn về cùng một hướng và hoàn toàn im lặng.

Giống như một đám mây đen đè xuống thành phố, họ không nói một lời, nhưng khí thế sắp bộc phát tràn ngập khắp bốn phía. Khi hành quân và chiến đấu, nếu người lính hăng hái hô khẩu hiệu để thể hiện bản lĩnh, thì khi thực chiến, khí thế của họ sẽ tụt dốc, cái được nhiều hơn cái mất. Làm người cũng như dẫn binh, tự tin và mạnh mẽ trong lòng không bao giờ cần phải bon chen với thế giới bên ngoài.

Những người thực sự mạnh mẽ không bao giờ nói quá nhiều vào những ngày bình thường, ngược lại họ đều biết cách tích lũy sức mạnh trong im lặng.

Trong “Châm ngôn Liên Bích” viết: “Tu thân dựa vào tấm lòng trong sáng, ứng xử với thiên hạ dựa vào lời nói cẩn thận.” Thay vì tốn thời gian tranh cãi với người khác, tốt hơn hết là bạn nên im lặng và bình tĩnh làm việc của mình.

Chỉ bằng cách tích lũy sức mạnh trong im lặng và giữ thái độ khiêm tốn, chúng ta mới có thể tích lũy sức mạnh.

Người càng có tài năng càng trầm tĩnh (nguồn: duyminhstore)

Hoàng Đình kiên từng viết: “Thà im lặng còn hơn ngàn lời nói”, nước sâu thì yên lặng, người tĩnh thì vững vàng. Một người càng có kinh nghiệm và kiến ​​thức, họ sẽ hiểu sức mạnh của sự im lặng. Im lặng không phải là hèn nhát, mà là nhìn thấu mà không nói. Trong cuộc sống, chỉ có học cách im lặng, chúng ta mới có thể giữ được sự tĩnh lặng trong tâm hồn để đi trọn kiếp nhân sinh này.

Thùy Dung biên tập
Nguồn: aboluowang (Vương Hòa)

Tuesday, January 6, 2026

KHI MỘT BỨC ẢNH GOOGLE MAPS PHƠI BÀY TỘI ÁC GIỮA LÀNG QUÊ TÂY BAN NHA

Có những tội ác tưởng chừng đã bị chôn vùi cùng đất đá và thời gian, nhưng cuối cùng vẫn lộ diện dưới ánh sáng của trời đất.

Khám phá bí ẩn: Khi một bức ảnh Google Maps phơi bày tội ác giữa làng quê Tây Ban Nha

Một bức ảnh tưởng như vô tri trên Google Map đã trở thành cánh cửa mở ra sự thật, nhắc con người nhớ rằng: “Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt.”

Giữa những con đường làng yên ả, nơi chỉ có vài chục cư dân sinh sống, một bức ảnh Street View tưởng chừng vô hại lại khiến người xem không khỏi rùng mình.

Trên nền cảnh thanh bình ấy, một người đàn ông cúi sát cốp chiếc ô tô màu đỏ cũ kỹ, lặng lẽ nhét vào đó một túi nhựa trắng cỡ lớn. Hình dạng chiếc túi nặng nề, méo mó, hoàn toàn lạc lõng giữa khung cảnh thôn quê tĩnh lặng. Cảm giác bất an len lỏi bởi có những điều, chỉ cần nhìn kỹ hơn một chút, ta sẽ thấy nó không hề bình thường.

Câu chuyện bắt đầu từ tháng 11 năm 2023. Jorge Luis Pérez, khoảng 33 tuổi, rời Cuba sang Tây Ban Nha để tìm người phụ nữ mà anh quen biết và từng kết hôn. Nhưng chuyến đi ấy nhanh chóng trở thành dấu chấm hỏi lớn khi anh đột ngột mất liên lạc.

Gia đình ở quê nhà nhận được những tin nhắn ngắn ngủi, lạnh lùng, được gửi từ chính điện thoại của anh. Anh nói mình đã quen người phụ nữ khác, sẽ rời đi và cắt đứt liên hệ, yêu cầu gia đình đừng tìm kiếm nữa.

Những dòng chữ ấy không giống Pérez chút nào. Quá xa lạ, quá dứt khoát. Linh cảm có điều chẳng lành, gia đình lập tức báo cảnh sát Tây Ban Nha. Nhưng khi chưa có chứng cứ rõ ràng, vụ việc chỉ được ghi nhận như một trường hợp mất tích và dần chìm vào im lặng.

Thời gian trôi qua, cho đến cuối năm 2024, trong lúc di dời một nghĩa trang nhỏ tại tỉnh Soria, miền Bắc Tây Ban Nha, công nhân bất ngờ phát hiện những phần thi thể không còn nguyên vẹn bị chôn vùi dưới đất. Những thông tin ban đầu về độ tuổi, giới tính, thời điểm lại trùng khớp một cách đáng sợ với hồ sơ của Pérez.


Cuộc điều tra lập tức được mở lại.

Lần theo dấu vết, cảnh sát tập trung rà soát những khu vực nạn nhân từng có khả năng xuất hiện. Và rồi, giữa hàng loạt dữ liệu, họ phát hiện một chi tiết không ai ngờ tới. Các bức ảnh Street View trên Google Maps chụp tại làng Tajueco, một ngôi làng hẻo lánh.

Trong những bức ảnh ấy, hình ảnh người đàn ông bên chiếc xe đỏ xuất hiện rõ ràng. Ở góc khác, vẫn là người đó, đang đẩy một chiếc xe cút kít chở vật nặng gần khu đồi, chỉ cách nơi phát hiện thi thể không xa. Những mảnh ghép rời rạc bắt đầu khớp lại, lặng lẽ nhưng chính xác đến lạnh người.


Danh tính người đàn ông nhanh chóng được xác định: chủ một quán bar địa phương. Điều khiến mọi thứ trở nên nghiệt ngã hơn là việc anh ta đang sống cùng chính người phụ nữ mà Pérez tìm đến. Một mối quan hệ tay ba đầy mâu thuẫn và đã vượt qua ranh giới của lý trí.

Kết cục, người đàn ông ra tay sát hại Pérez rồi phân xác để che giấu tội ác, trong khi người phụ nữ đóng vai trò hỗ trợ. Cả hai bị bắt giữ vào tháng 11 năm 2024 và đã thừa nhận toàn bộ hành vi sau quá trình thẩm vấn.


Không có hành vi nào thật sự là “không ai biết”. Dù chỉ là một cuộc cãi vã trong tình cảm, một phút nóng giận vì lòng tham hay sự ích kỷ bộc phát, tất cả đều để lại dấu vết. Người đàn ông trong bức ảnh và người phụ nữ liên quan, cuối cùng cũng không thể trốn tránh sự thật, buộc phải đối diện và thừa nhận những gì mình đã gây ra.

Công nghệ có thể vô tình, nhưng nhân quả thì chưa bao giờ ngủ quên. Một hành vi sai trái, cho dù diễn ra ở nơi hẻo lánh nhất, sớm muộn cũng sẽ lộ diện dưới một hình thức nào đó. Vì vậy, hãy học cách dừng lại trước khi cơn nóng giận và ghen tuông che mờ lý trí; hãy lắng nghe trực giác khi những điều bất thường bắt đầu xuất hiện; và hãy biết trân trọng sinh mệnh, tình nghĩa, cùng ranh giới đạo đức làm nên phẩm giá con người.

Người xưa từng dạy: “Muốn người không biết, trừ phi mình đừng làm.”
Trong đạo lý Á Đông, nhân – quả không phải là lời hăm dọa, mà là quy luật âm thầm vận hành suốt một đời người. Một niệm ác vừa khởi, có thể che mắt người đời, nhưng không thể qua mắt trời; có thể giấu được trong chốc lát, nhưng không thể giấu mãi với thời gian.

Bức ảnh ấy đến nay vẫn còn tồn tại, dù các chi tiết nhạy cảm đã được làm mờ để bảo vệ quyền riêng tư. Thế nhưng, điều không thể làm mờ chính là bài học mà nó để lại: Hãy sống ngay thẳng, giữ tâm thiện lương, bởi mỗi hành động của con người đều đang được ghi lại không chỉ bởi công nghệ, mà còn bởi lương tâm và luật trời.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay
Link tham khảo:



MẠN ĐÀM: NHÂN DUYÊN LÀ SỰ TÌNH CỜ, KHÔNG THỂ CƯỠNG CẦU

Trong lòng thành phố, nơi từng mét vuông đều được đo bằng giá trị thị trường, có một con hẻm nhỏ, nơi thời gian dường như chậm hơn đôi chút. Người ta vẫn vội, nhưng vội ngoài kia. Còn ở đây, cuộc sống bước chậm như tiếng dép lê của một bà cụ già sống một mình trong căn nhà nhỏ đã bạc màu vôi.


Bà tên là Hoa . Tám mươi tuổi, sống qua cả chiến tranh lẫn hòa bình, từng có con có cháu, giờ chỉ còn lại một cái bóng. Mỗi ngày của bà đều giống ngày hôm trước: sáng quét sân, trưa cơm đạm, chiều ngồi bên hiên nhà, tối ngủ sớm.

Bà không nói nhiều, không mong ai hỏi han, không cần ai thương hại. Dáng người nhỏ, lưng còng, nhưng ánh mắt sáng, không lẫn lộn, không lạc lõng.

Một trưa nắng, trong lúc bà chuẩn bị ăn cơm, một con mèo hoang bất ngờ xuất hiện. Mèo tam thể, bộ lông rối xù, xơ xác, đôi mắt xanh hoang dại và cảnh giác. Nó đứng xa xa, đánh hơi, nửa muốn đến, nửa sợ hãi.

Bà không gọi, không đuổi. Chỉ lặng lẽ gạt nửa phần cơm trong chén mình vào chiếc đĩa sành cũ, rồi đặt xuống sát mép hiên. Con mèo lùi lại một bước, rồi vì đói mà tiến lên. Nó ăn, vội vàng, tham lam, như thể đã quen bị đói.

Bà lặng lẽ ăn phần còn lại, chậm rãi, không để ý. Cũng chẳng vuốt ve, cũng không gọi tên. Chỉ thỉnh thoảng nhìn nó, một cái nhìn không thương hại, mà như thấu hiểu.


Từ hôm đó, con mèo thành khách quen. Mỗi trưa, nó lại đến. Bà cũng không bao giờ quên gạt nửa phần cơm cho nó. Bà đặt tên nó là Mướp. Không có dây buộc cổ, không có lồng, không có ràng buộc. Mướp đến rồi đi theo ý nó. Nhưng mỗi ngày, đúng giờ, nó lại về. Còn bà, vẫn ngồi bên hiên, chờ.

Không ai nói với ai điều gì. Nhưng kể từ khi có Mướp, buổi trưa của bà bớt vắng. Chiều xuống, con mèo thường cuộn tròn dưới chân bà, mắt lim dim, lòng an ổn.

Tôi sống đối diện, chứng kiến câu chuyện ấy suốt nhiều tháng. Một bà cụ già và một con mèo hoang, chia nhau chén cơm nguội giữa lòng phố thị. Cảnh ấy lặp đi lặp lại, giản dị đến độ người ta dễ lướt qua. Nhưng nếu dừng lại đủ lâu, sẽ thấy trong đó là cả một bài học.

Về hạnh phúc

Người ta thường nghĩ hạnh phúc là có được, là giữ lấy. Nhưng bà Hoa chẳng sở hữu gì ngoài một mái nhà nhỏ. Mướp không phải thú cưng, không bị ràng buộc. Nó tự do, và chính trong sự tự do ấy, mối liên hệ giữa họ mới đẹp đến vậy.

Bà không chờ đợi ơn nghĩa. Bà chỉ cho, một cách tự nhiên. Cho không phải để được, mà vì thấy đói thì chia. Hạnh phúc, hóa ra, nằm trong sự cho đi không điều kiện, trong ánh mắt yên bình khi nhìn một sinh vật khác no bụng vì mình.

Về sự hiện diện

Trong một thời đại mà người ta nói chuyện qua màn hình, gửi yêu thương bằng biểu tượng, thì bà Hoa và Mướp chẳng cần nói gì. Họ chỉ cần có mặt bên nhau. Không ai lấp đầy khoảng trống bằng lời. Chỉ bằng sự im lặng mà không cô đơn.

Chỉ bằng việc “ở đó”, đúng giờ, mỗi ngày. Hóa ra, điều khiến người ta không gục ngã không phải là những lời lớn lao, mà là biết vẫn có một ánh mắt chờ mình trở về.


Về nhân duyên

Giữa hàng triệu con người, hàng ngàn ngõ phố, tại sao một bà cụ già và một con mèo hoang lại gặp nhau? Không ai sắp đặt. Nhưng khi họ gặp, cả hai đều có thêm một lý do để sống.

Có lẽ, trong đời, mỗi cuộc gặp gỡ, dù là người, hay một con vật, đều mang theo một sứ mệnh. Có duyên thì gặp, có lòng thì giữ, có thương thì ở lại. Nhân duyên, đôi khi, không ồn ào, chỉ lặng lẽ đến rồi âm thầm gieo hạt trong tim ta.

Bà Hoa vẫn sống như thế. Vẫn ngồi bên hiên nhà, vẫn chia cơm, vẫn không cần ai biết đến. Nhưng từ nơi ấy, tôi đã học được một điều:

An yên không nằm ở sự đông đủ bên ngoài, mà nằm ở lòng mình có đủ chỗ để sẻ chia.

Và hạnh phúc, đôi khi, chỉ là một chén cơm nguội, nhưng được trao đi bằng cả tấm lòng.


Nguyên Tác An Hậu
Theo: vandieuhay

TẦN TRUNG CẢM THU KÝ VIỄN THƯỢNG NHÂN - MẠNH HẠO NHIÊN


Tần Trung cảm thu 
ký Viễn thượng nhân

Nhất khâu thường dục ngoạ,
Tam kính khổ vô tư.
Bắc thổ phi ngô nguyện,
Đông Lâm hoài ngã sư.
Hoàng kim nhiên quế tận,
Tráng chí trục niên suy.
Nhật tịch lương phong chí,
Văn thiền đãn ích bi.

Tần Trung: là khu vực nước Tần thời Xuân Thu, còn gọi là Quan Trung, về sau là kinh đô Trường An nhà Đường, nay thuộc tỉnh Thiểm Tây.


秦中感秋
寄遠上人

一丘常欲臥
三徑苦無資
北土非吾願
東林懷我師
黃金然桂盡
壯志逐年衰
日夕涼風至
聞蟬但益悲


Trong đất Tần cảm mùa thu, 
gửi thượng nhân họ Viễn
(Dịch thơ: Anh Nguyên)

Muốn nằm ở một gò thôi,
Chỉ ba đường nhỏ, của thời có chi!
Ta mong đất bắc làm gì,
Rừng đông, ta vẫn nhớ ghi ơn thầy.
Hết vàng, củi quế nơi đây,
Chí mòn, năm tháng chất đầy trên vai.
Đêm về, gió mát thổi dài,
Nghe ve rên rỉ, lòng ai thêm buồn...


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 (689-740) tên Hạo, tự Hạo Nhiên, hiệu Mạnh sơn nhân 孟山人, người Tương Dương (nay là huyện Tương Dương tỉnh Hồ Bắc), cùng thời với Trần Tử Ngang.

Ông từng làm quan, nhưng ông không thích hợp với đám quý tộc lạm quyền, nên rất thích nơi nhàn cư. Ông lui về ở ẩn, tìm lấy đời sống tao nhã ở Long Môn quê nhà và trong cuộc du ngoạn ở những nơi xa, khắp vùng đất. Ông đi nhiều, thấy nhiều, mạnh thơ đầy ắp những khí chất hồn hậu của thiên nhiên núi sông diễm lệ, hợp với tâm hồn trong sáng của mình.

Ông để lại 260 bài thơ. Có thể gọi thơ ông là thơ sơn thuỷ được. Thơ năm chữ của ông luật lệ nghiêm cách, phóng khoáng, hùng tráng, rất nổi tiếng. Bài Lâm Động Đình được nhiều người truyền tụng.

Nguồn: Thi Viện



CUỘC TRANH GIÀNH QUYỀN LỰC GIỮA "ĐỒNG ĐÔ LA DẦU MỎ" VÀ CUỘC TẤN CÔNG CỦA MỸ VÀO VENEZUELA

Trong khi Washington viện dẫn các cáo buộc khủng bố ma túy và lo ngại về an ninh, nhiều câu hỏi đang được đặt ra về việc liệu trữ lượng dầu mỏ khổng lồ của Venezuela và những nỗ lực giao dịch dầu mỏ ngoài hệ thống đô la Mỹ có đóng vai trò nào hay không.

Venezuela đã bán dầu bằng nhân dân tệ và tiền điện tử, bỏ qua đồng đô la Mỹ. (Ảnh: Reuters)

Việc quân đội Mỹ bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro vào ngày 3 tháng 1 năm 2026 đã làm dấy lên cuộc tranh luận toàn cầu về vai trò của trữ lượng dầu mỏ trong cuộc tấn công của Washington vào quốc gia Mỹ Latinh này.

Trong khi Washington viện dẫn các cáo buộc khủng bố ma túy và lo ngại về an ninh, nhiều câu hỏi đang được đặt ra về việc liệu trữ lượng dầu mỏ khổng lồ của Venezuela và những nỗ lực giao dịch dầu mỏ ngoài hệ thống đô la Mỹ có đóng vai trò nào trong cuộc can thiệp quân sự lớn nhất của Mỹ vào Mỹ Latinh trong nhiều thập kỷ qua hay không.

Venezuela không chỉ là một quốc gia sản xuất dầu mỏ thông thường. Nước này sở hữu trữ lượng dầu mỏ đã được chứng minh lớn nhất thế giới, ước tính khoảng 303 tỷ thùng, theo dữ liệu năng lượng toàn cầu. Con số này lớn hơn gấp năm lần trữ lượng dầu mỏ của Mỹ.

Trong những năm gần đây, Venezuela cũng đã cố gắng bán dầu bằng các loại tiền tệ khác ngoài đô la Mỹ, bao gồm cả nhân dân tệ của Trung Quốc và các hệ thống thanh toán kỹ thuật số.

Sự kết hợp giữa nguồn dầu mỏ khổng lồ và việc giảm bớt sự phụ thuộc vào đồng đô la có thể đã đưa Venezuela trở thành trung tâm của một cuộc tranh luận kinh tế và chiến lược lớn hơn nhiều.

PETRODOLLAR LÀ GÌ?

Hãy tưởng tượng nếu toàn thế giới phải sử dụng phiếu mua hàng của một công ty duy nhất để mua mặt hàng quan trọng nhất trên Trái đất. Về cơ bản, đó chính là bản chất của hệ thống petrodollar trong 50 năm qua.

Petrodollar là thuật ngữ chỉ số đô la Mỹ mà các quốc gia kiếm được từ việc bán dầu. Từ những năm 1970, hầu hết dầu mỏ được giao dịch trên toàn cầu đều được định giá bằng đô la, bất kể nó được sản xuất hoặc tiêu thụ ở đâu.

Điều này có nghĩa là các quốc gia nhập khẩu dầu mỏ phải có được đô la trước khi có thể mua nguồn cung năng lượng. Vì dầu mỏ là yếu tố thiết yếu cho giao thông vận tải, sản xuất điện và công nghiệp, nhu cầu về đô la vẫn không đổi trên toàn thế giới.

Các nước xuất khẩu dầu mỏ nhận được đô la từ việc bán dầu thô. Số đô la này thường được đầu tư trở lại vào nền kinh tế Mỹ, chủ yếu thông qua trái phiếu chính phủ Mỹ và thị trường tài chính.

Chu kỳ này duy trì nhu cầu cao đối với cả đồng đô la và trái phiếu chính phủ Mỹ.

Qua thời gian, hệ thống này đã giúp đồng đô la duy trì vị thế là đồng tiền thống trị thế giới và cho phép Mỹ vay tiền dễ dàng hơn hầu hết các quốc gia khác.


VENEZUELA ĐÃ THÁCH THỨC HỆ THỐNG NHƯ THẾ NÀO?

Đối mặt với nhiều năm trừng phạt, Venezuela bắt đầu thử nghiệm việc bán dầu ngoài hệ thống đô la. Nước này chấp nhận thanh toán bằng nhân dân tệ, euro và tài sản kỹ thuật số, cho phép họ bỏ qua các kênh ngân hàng truyền thống do Mỹ kiểm soát.

Trung Quốc, quốc gia mua phần lớn dầu mỏ của Venezuela, đã ủng hộ sự chuyển đổi này thông qua các thỏa thuận tiền tệ trực tiếp và các khoản đầu tư dài hạn vào các mỏ dầu của Venezuela. Bất chấp lệnh trừng phạt, Venezuela vẫn tiếp tục sản xuất gần 900.000 thùng dầu mỗi ngày.

Điều này cho thấy một nhà sản xuất dầu lớn có thể hoạt động mà không cần hoàn toàn phụ thuộc vào đồng đô la, làm dấy lên lo ngại ở Washington rằng các quốc gia khác cũng có thể đi theo con đường tương tự.

TẠI SAO ĐỒNG ĐÔ LA DẦU MỎ LẠI QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI HOA KỲ

Hệ thống petrodollar mang lại cho Mỹ một số lợi thế. Nó giúp giữ chi phí vay ở mức thấp, hỗ trợ chi tiêu chính phủ lớn và củng cố ảnh hưởng tài chính của quốc gia này trên toàn thế giới.

Vì hoạt động thương mại dầu mỏ phụ thuộc rất nhiều vào đồng đô la, Mỹ cũng có thể sử dụng các công cụ tài chính như trừng phạt và đóng băng tài sản một cách hiệu quả hơn. Những biện pháp này sẽ trở nên kém hiệu quả hơn nếu các quốc gia tìm ra cách giao dịch dầu mỏ mà không cần sử dụng đô la.

Đây là lý do tại sao những thách thức đối với hệ thống dầu mỏ dựa trên đồng đô la thường được xem là mối đe dọa chiến lược hơn là chỉ đơn thuần là các quyết định thương mại.

Năm 2024, xuất hiện các báo cáo cho rằng Ả Rập Xê Út đã chấm dứt hệ thống petrodollar . Mặc dù không có thỏa thuận chính thức nào hết hạn, Ả Rập Xê Út đã bắt đầu thăm dò việc bán dầu hạn chế bằng các loại tiền tệ khác và tăng cường quan hệ với Trung Quốc.

Tuy nhiên, giá dầu vẫn chủ yếu được tính bằng đô la Mỹ. Các nhà phân tích mô tả sự thay đổi này là một sự dịch chuyển dần dần chứ không phải là một sự đột ngột, nhưng nó báo hiệu sự quan tâm ngày càng tăng của các nhà sản xuất lớn trong việc giảm sự phụ thuộc vào đồng đô la Mỹ.

CÁC CAN THIỆP TRONG QUÁ KHỨ VÀ CÁC QUỐC GIA GIÀU DẦU MỎ

Venezuela không phải là quốc gia giàu dầu mỏ đầu tiên mà sự can thiệp quân sự hoặc chính trị của Mỹ dẫn đến tranh luận về lợi ích năng lượng và tiền tệ.

Tại Iraq, cuộc xâm lược năm 2003 được chính thức biện minh trên cơ sở an ninh, nhưng việc kiểm soát dầu mỏ đã trở thành vấn đề trọng tâm trong những năm sau đó.

Tại Libya, sự can thiệp của NATO năm 2011 đã dẫn đến tình trạng bất ổn kéo dài tại một quốc gia giàu dầu mỏ. Tại Cuba, hàng thập kỷ trừng phạt gắn liền với việc kiểm soát chiến lược rộng lớn hơn trong khu vực, bất chấp sản lượng dầu mỏ hạn chế của nước này.

Các trường hợp này thường được giới phê bình viện dẫn như những ví dụ về sự giao thoa giữa nguồn năng lượng và các quyết định chính sách đối ngoại.

Đồng đô la vẫn là đồng tiền quan trọng nhất thế giới, và dầu mỏ vẫn chủ yếu được giao dịch bằng đô la. Tuy nhiên, ngày càng nhiều quốc gia đang thử nghiệm các giải pháp thay thế thông qua giao dịch bằng tiền tệ địa phương, thanh toán kỹ thuật số và quan hệ đối tác khu vực.

Vụ việc Venezuela cho thấy dầu mỏ, tiền bạc và sức mạnh quân sự vẫn gắn bó chặt chẽ với nhau. Mặc dù hệ thống petrodollar không sụp đổ, nhưng sự thống trị của nó đang bị đặt dấu hỏi một cách công khai hơn, tạo tiền đề cho những thay đổi dần dần trong cách thức giao dịch năng lượng toàn cầu.

Theo: indiatoday.in (05/01/2026)
Dịch: Google Translate
Link tiếng Anh:

(Click để xem trực tiếp trên YouYube)


HỆ THỐNG PETRODOLLAR LÀ GÌ?

“Petrodollars” đã thể hiện tầm nhìn xa của các nhà tinh hoa chính trị-kinh tế nước Mỹ. Chính hệ thống Petrodollars đã biến đồng dollars trở thành một đồng tiền chung của quốc tế mà không ai có thể cưỡng lại khiến cho nước Mỹ ngồi chắc trên ngai vàng bá chủ thế giới hiện đại.


Sự phát triển của loài người đã trải qua nhiều thời kỳ đồ đá, đồ đồng….và bây giờ là thời dầu mỏ. Khác với vàng, dầu mỏ dùng để sản xuất, tiêu thụ, hoạt động mà thiếu nó loài người trở về thời kỳ trung cổ… Do vậy, dầu mỏ và thành phần của nó hầu như có mặt trong toàn bộ đời sống, hoạt động của loài người hiện đại…

Hiện nay thế giới tiêu thụ hơn 100 triệu thùng dầu trong một ngày, một số lượng khổng lồ được hút lên từ lòng đất…vì thế ai làm chủ được nguồn cung dầu mỏ là làm chủ được nền kinh tế toàn cầu…

Người Mỹ đã nhận ra điều này và sau khi kết thúc trò chơi “dollars cho vàng”, họ đã thực hiện một kế hoạch mới là “dollars cho dầu” hay Petrodollars.

Có thể nói “Petrodollars” đã thể hiện tầm nhìn xa của các nhà tinh hoa chính trị-kinh tế nước Mỹ. Chính hệ thống Petrodollars đã biến đồng dollars trở thành một đồng tiền chung của quốc tế mà không ai có thể cưỡng lại khiến cho nước Mỹ ngồi chắc trên ngai vàng bá chủ thế giới hiện đại.

Vậy Petrodollars là gì?

Trả lời ngắn gọn, cốt lõi nhất cho câu hỏi này là, tất cả dầu khai thác được đều phải dùng dollars để mua. Chấm hết.

Arabia Saudi là quốc gia có trữ lượng và số lượng khai thác dầu mỏ lớn nhất thế giới được Mỹ nhắm tới và một thỏa thuận Mỹ-Arabia Saudi ra đời, theo đó:

Mỹ sẽ bảo vệ quân sự cho các mỏ dầu của Arabia Saudi. Mỹ cũng đồng ý cung cấp vũ khí cho Saudi, và có lẽ quan trọng nhất là đảm bảo bảo vệ ngai vàng hoàng tộc nhà Saudi khỏi bị Israel xâm lược, lật đổ (thời đó Israel được coi như một quốc gia “sát thủ”, hùng mạnh trong cuộc chiến Trung Đông).

Đổi lại, Arabia Saudi phải đáp ứng 2 điều khoản:

1. Nhà Saudi phải từ chối tất cả các loại tiền tệ khác để thanh toán cho việc mua dầu mỏ ngoại trừ đồng dollars.

2. Arabia Saudi sẽ mở cửa cho đầu tư tiền dư thừa thu được từ bán dầu của họ vào chứng khoán nợ của Hoa Kỳ.

Có thể coi đây là một cú “trúng thầu” của Mỹ tại Arabia Saudi mà không chỉ thế, Mỹ còn “trúng thầu” toàn bộ các nước Ả Rập tại Trung Đông. Bởi vì đến năm 1975, toàn bộ OPEC cũng đều thực hiện 2 điều khoản này để đổi lấy “hợp đồng bên B” của Mỹ.

Như vậy, với bộ óc thông minh thiên tài của giới tinh hoa chính trị Mỹ, đặc biệt là Nixon và Kissinger, họ đã thành công khi tiếp tục duy trì nhu cầu toàn cầu của đồng dollars sau thất bại của Bretton Woods. Không chỉ thế, nó còn được tăng mạnh khi hệ thống Petrodollars đã hoạt động khi nhu cầu về năng lượng dầu mỏ ngày càng tăng trên thế giới.


Lợi ích “khổng lồ” của Petrodllars

Lợi ích đầu tiên, phải đề cập đến là Hệ thống Petrodollars đã “khuyến khích” xuất khẩu giá rẻ sang Mỹ, người tiêu dùng Mỹ được hưởng lợi lớn từ các quốc gia trên thế giới (thế mới gọi là bá chủ)…

Cả thế giới này quốc gia nào cũng cần dầu, mua dầu, vậy làm sao có đồng dollars để mua?

Cách dễ nhất để có được tiền dollars Mỹ là thông qua các thị trường ngoại hối. Tuy nhiên, đây không phải là một giải pháp lâu dài hữu hiệu vì nó rất tốn kém. Do đó, nhiều quốc gia đã lựa chọn phát triển chiến lược xuất khẩu sang thị trường Mỹ để có dollars mua dầu…

Chẳng hạn, Nhật Bản có rất ít tài nguyên thiên nhiên nên phải nhập khẩu một số lượng lớn hàng hóa, bao gồm dầu mỏ. Muốn có nhiều tiền dollars Mỹ để mua dầu thì tất cả các hàng hóa phải xuất sang Mỹ để thanh toán tiền dollrs.

Trung Quốc trước đây, khi Nga chưa nổi đình nổi đám như hiện nay, cũng vậy thôi đều coi Mỹ là thị trường lớn, sống còn, là “công trường thế giới” (chủ yếu của Mỹ) mà không có nó thì không chỉ thất nghiệp mà không có tiền dollars để mua dầu…

Rốt cuộc hàng hóa, dịch vụ giá rẻ (vì bị ép giá) và tiên tiến nhất, tốt nhất, là tinh hoa của nhân loại (cho xuất khẩu) ùn ùn đổ về Mỹ, người tiêu dùng Mỹ được lợi quá lớn.

Điều thú vị nhất là, nếu như trước đây trong thời kỳ Bretton Woods, Mỹ phải buộc cung cấp tiền thật (vàng) để đổi lấy dòng tiền giấy giả (tờ dollas) thì giờ đây ngược lại, các quốc gia buộc phải đem vàng, hàng hóa (tiền thật) để đổi lấy (tờ giấy lộn) dollars. Hay hơn nữa là cái “tờ giấy lộn màu xanh” này lại do Mỹ in ra…

Và tiếp theo, đây là lợi ích chính, cốt lõi của hệ thống Petrodollars:

Hệ thống Petrodollars, về bản chất, Mỹ nhận được khoản vay kép từ mỗi giao dịch dầu mỏ trên toàn cầu từ 2 điều khoản trên, cụ thể:

– Bất kỳ quốc gia nào đều phải mua dầu mỏ bằng tiền dollars của Mỹ.

– Lợi nhuận vượt trội của các quốc gia sản xuất dầu sau đó được đưa vào các chứng khoán nợ của chính phủ Mỹ được tổ chức tại các ngân hàng phương Tây.


Petrodollars đã đem đến cho nước Mỹ 3 cái lợi lớn trong thấy:

1. Làm tăng nhu cầu toàn cầu của đồng dollars của Mỹ.

Rõ ràng khi nhu cầu về dầu của thế giới tăng mạnh thì nhu cầu cần dollars để mua nó càng tăng. Đến đây FED sẵn lòng để in ra dollars để cung cấp, để cho vay…nếu bạn cần và theo ý muốn của FED. Giấy phép in tiền của FED được cấp trở lại sau khi Mỹ “đóng cửa sổ vàng”.

Và thực tế, “ấn phẩm” của Cục dự trữ Liên bang (FED) thực sự đã cho các nhà tài phiệt chính trị tại Washington chi tiêu nhiều hơn, tạo ra trạng thái phúc lợi và chiến tranh…mà như Cố vấn hàng đầu của Kremli ông Sergey Glazyev đã tuyên bố ở phần đầu bài viết…

2. Làm tăng nhu cầu toàn cầu với chứng khoán nợ Mỹ.

Một trong những khía cạnh nổi bật nhất của hệ thống petrodollar là yêu cầu các quốc gia sản xuất dầu lợi nhuận dầu dư thừa của họ và đặt chúng vào chứng khoán nợ Mỹ ở các ngân hàng phương Tây.

Đây là sách lược gọi là ” tái chế petrodollar ” bởi Henry Kissinger đã đặt ra. Thông qua việc sử dụng độc quyền dollars cho các giao dịch dầu, và sau đó gửi lợi nhuận quá mức của họ vào chứng khoán nợ Mỹ, hệ thống petrodollar là một “giấc mơ trở thành sự thật” cho một chính phủ chi tiêu như Hoa Kỳ.

Chi tiêu thỏa mái, đến nay nợ quốc gia của Mỹ đã có một con số khổng lồ là 19.160 tỷ USD, đã khiến đôi ba lần chính phủ đứng trước nguy cơ đóng cửa nhưng chỉ cần một vài “thao tác” của FED là chính phủ Mỹ hoạt động trở lại như đã thấy…

3. Tất nhiên, Mỹ có thể dùng tiền Mỹ, thứ giấy mà chỉ duy nhất Mỹ in ra được, để mua dầu.

Tất cả các quốc gia phải mua dầu bằng dollars kể cả Mỹ, nhưng với Mỹ có sự khác biệt là Mỹ thanh toán 100% lượng dầu nhập khẩu bằng chính ngay “tờ giấy” mà mình in ra. Thử hỏi trên thế giới này có quốc gia nào, ngoài Mỹ, có thể in tiền để mua dầu và sau đó các quốc gia sản xuất dầu lại giữ nợ cho tiền in đó?

Để có thể quản lý kế hoạch in tiền tệ rộng lớn và toàn cầu, Mỹ và các đồng minh ở Tây Âu đã thành lập vào năm 1973 cái gọi là Hiệp hội Toàn cầu Hệ thống Thông tin Tài chính liên ngân hàng (SWIFT) – hệ thống nhắn tin kết nối với mọi ngân hàng trên thế giới và chuyển hàng tỷ đô la mỗi ngày.

Hệ thống nhắn tin SWIFT là yếu tố sống còn đối với sức khoẻ của toàn bộ nền kinh tế toàn cầu và được Mỹ đã sử dụng như một “vũ khí chiến tranh” khi Obama đã ra lện ngắt kết nối cho Iran khiến Iran rơi vào hỗn loạn về kinh tế…

Như vậy có thể nói, hệ thống Petrodollars là một công cụ để Mỹ bá chủ thế giới có hiệu lực. Có nó là có tất cả và “1% người Mỹ tại phố Wall” sẽ làm tất cả để không ai có thể động đến hệ thống Petrodolallrs này, sẵn sàng dùng sức mạnh quân đội để ra tay.

Tất cả những thứ trên đều hoạt động trơn chu cho đến khi nước Nga của Putin xuất hiện. Nga sẵn sàng bán dầu mỏ, khí đốt để đổi lấy đồng tiền khác ngoài USD và thông qua đó phá đi vị thế độc quyền của đồng đôla dầu mỏ. Một số nước khác như Iran cũng theo gương và loại bỏ USD khỏi giao dịch dầu mỏ của họ.

Không chỉ có vậy, Nga cùng Trung Quốc còn tích cực xây dựng một hệ thống tài chính độc lập với hệ thống tài chính Mỹ. Thông qua đó, họ cho thế giới một lựa chọn thoát khỏi đồng USD. Đột nhiên, Mỹ không còn có thể in ra nguồn tiền vô tận để phung phí vào các cuộc chiến tranh và duy trì vị thế bá chủ thế giới của họ nữa.

Đó là lý do tại sao đồng dollar dầu mỏ là thứ tạo nên sức mạnh, đồng thời cũng là gót chân Asin của Đế chế Hoa Kỳ. Như một con nghiện vật vã khi bị cắt thuốc, các thế lực ngầm đang cai trị Mỹ sẽ làm mọi cách để đảo ngược tình thế, như chúng ta đã thấy tại Libya, Ukraina, Syria, v.v… Tuy nhiên sự sụp đổ của Đế chế Hoa Kỳ là điều tất yếu, và nó đang đến rất gần.

Theo: Lê Ngọc Thống / VI.SOTT.NET
Link tham khảo:



Monday, January 5, 2026

TẶNG KHUYẾT HẠ BÙI XÁ NHÂN - TIỀN KHỞI


Tặng khuyết hạ Bùi xá nhân

Nhị nguyệt hoàng ly phi Thượng Lâm,
Xuân thành Tử Cấm hiểu âm âm.
Trường Lạc chung thanh hoa ngoại tận,
Long Trì liễu sắc vũ trung thâm.
Dương hoà bất tán cùng đồ hận,
Tiêu hán trường hoài bổng nhật tâm.
Hiến phú thập niên do vị ngộ,
Tu tương bạch phát đối hoa trâm.


贈闕下裴舍人

二月黃鸝飛上林
春城紫禁曉陰陰
長樂鐘聲花外盡
龍池柳色雨中深
陽和不散窮途恨
霄漢長懷捧日心
獻賦十年猶未遇
羞將白髮對華簪


Tặng xá nhân họ Bùi 
nơi cửa khuyết
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Vườn uyển, ríu rít hoàng oanh. 
Sớm xuân họa Tử Cấm Thành nhạt phai. 
Tiêng chuông Trường Lạc ai hoài. 
Long Trì mưa đổ, liễu đài hoa rơi. 
Nỗi buồn nắng ấm khôn nguôi. 
Ngân Hà một dải, bầy tôi trung thành. 
Mười năm tấu biểu chẳng đành. 
Thẹn rằng đầu bạc, trâm anh chẳng cùng!


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tiền Khởi 錢起 (710-782) tự là Trọng Văn 仲文, người đất Ngô Hưng (nay thuộc Hồ Châu, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc). Năm Thiên Bảo thứ 10 đời Ðường Huyền Tông (751) thi đậu tiến sĩ, được bổ làm Hiệu thư lang, đi sứ đất Thục, rồi về thăng làm Khảo công lang. Giữa thời Ðại Lịch, đời Ðường Ðại Tông, làm chức Hàn Lâm học sĩ. Nổi tiếng ngang với Lang Sĩ Nguyên, người đương thời có câu: “Tiền hữu Thẩm Tống, Hậu hữu Tiền Lang” (trước có Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn, sau có Tiền Khởi, Lang Sĩ Nguyên). Tiền Khởi là một trong 10 tài tử đời Ðại Lịch.

Giai thoại kể rằng: một đêm, Tiền Khởi ngụ tại quán khách, nghe có tiếng ngâm câu thơ: “Khúc chung nhân bất kiến, Giang thượng sổ phong thanh” (Khúc hết, người không thấy, Trên sông mấy núi xanh). Mấy lần mở cửa ra xem, không trông thấy ai cả. Hôm đi thi, làm bài thơ có đầu đề là Tương linh cổ sắt (Thần sông Tương gẩy đàn sắt), ông không làm nổi câu kết, liền đem ngay các câu trên đặt vào. Quan chủ khảo Lý Vĩ rất tán thưởng cho là có thần giúp, bèn lấy ông đậu cao.

Nguồn: Thi Viện