Saturday, March 14, 2026

TẠI SAO NGƯỜI NGHÈO CÀNG THỜ PHẬT CÀNG NGHÈO?

Từ xưa đến nay có rất nhiều người đã cầu nguyện Thần Phật để được giàu có. Mặc dù vậy, người xưa vẫn có câu: “Người nghèo càng thờ Phật thì càng nghèo, người giàu càng thắp hương thì càng giàu”. Phải chăng Thần, Phật cũng có tâm phân biệt, khinh thường người nghèo và yêu người giàu?


Tại sao người nghèo càng thờ Phật càng nghèo?

Khi người ta nghèo đói, mong muốn lớn nhất chắc chắn là thoát khỏi hoàn cảnh nghèo khó càng sớm càng tốt. Có câu nói rằng: “Đói rét sinh ra trộm cắp”, ý chỉ rằng, trong tình trạng khó khăn, người ta có thể dễ dàng trở nên tuyệt vọng và sẵn lòng làm mọi cách để thoát khỏi tình thế đó; tương tự như cách mà người bệnh khi quá lo lắng thường tìm đến đủ các phương pháp chữa trị mà không cần xem xét cẩn thận, bao gồm cả việc lạy Phật để cầu tài, tìm kiếm sự may mắn. Mặc dù phương pháp này có vẻ không thực tế và mơ hồ, nhưng vẫn có vô số người sẵn lòng thử nghiệm, với hy vọng rằng điều đó có thể mang lại giải pháp để cứu vớt cho khó khăn của họ.

Chỉ là, khi một người đặt hy vọng vào sự bảo hộ của Thần Phật thường sẽ giảm bớt nỗ lực thực tế và chuyển sự tập trung vào sự sắp đặt của số phận hoặc vận may. Tâm lý của người nghèo thờ Phật thực chất là ảo tưởng, khi cầu Phật họ thường xin nhiều, ước nhiều, và toàn là vì lợi. Từ cầu cho gia đình bình an, cầu cho con cái cưới vợ sinh con, đến cầu mong được giàu có hơn… Và sau khi lễ Phật xong họ không có làm gì khác hơn, họ nghĩ rằng mình đã lễ Phật nhiều, rồi một ngày nào đó, Thần Phật sẽ bất ngờ cảm động trước lòng thành của mình, và Thần Phật sẽ phù hộ cho mình bỗng chốc trở nên giàu có.

Do đó, hầu hết đều thất bại và rơi vào cảnh nghèo đói hơn, cuối cùng sẽ tự an ủi rằng đó là số phận, thậm chí là đặt dấu hỏi về mức độ thành tâm của mình trong việc cầu nguyện và lạy Phật. Dưới tâm trạng như vậy, họ lại mang theo hy vọng lớn hơn, lại cầu nguyện và lạy Phật nhiều hơn, đó có lẽ là lý do vì sao “người nghèo càng thờ Phật càng nghèo”.

Tâm lý của người nghèo thờ Phật thực chất là ảo tưởng, khi cầu Phật họ thường xin nhiều, ước nhiều, và toàn là vì lợi (ảnh: Adobe Stock)

Vì sao người giàu càng thắp hương càng giàu?

Thắp hương và thờ Phật thực chất là một. Khi chúng ta nhìn vào tâm lý của người giàu, đầu tiên chắc chắn là họ cầu an lành, sau đó là cầu có thể giữ vững tài sản hiện tại. Nếu có nhiều tham vọng thì cũng muốn tiến xa hơn, nhưng dù là loại nào, mong muốn của họ đều rất thực tế, không giống như người nghèo luôn mong muốn làm giàu sau một đêm.

Hơn nữa, những người giàu tôn kính Thần Phật, cùng với việc họ hiểu biết sâu sắc về việc có được của cải khó như thế nào, nên hầu hết trong cách hành xử và ứng xử của họ thường sẽ tự kiềm chế hơn, họ cũng thường xuyên làm từ thiện để tích luỹ phúc đức cho mình. Do đó, so với ảo tưởng của người nghèo về việc giàu có qua một đêm, người giàu dễ dàng hơn trong việc thực hiện mong muốn bảo vệ sự an lành và thành công của mình.

Tuy nhiên, thực tế cũng cho chúng ta biết rằng của cải luôn luôn thay đổi, người nghèo nếu cố gắng việc chăm chỉ sẽ có thể đổi đời; còn người giàu có thể trở nên nghèo khó nếu phung phí. Thờ Phật và thắp hương chỉ là một nghi thức cầu an tâm. Tất cả các ước mơ trong cuộc sống, cuối cùng đều phải dựa vào nỗ lực của bản thân để đạt được.

Tâm tính quyết định vận mệnh, chỉ có thay đổi suy nghĩ mới có thể trở nên giàu có (ảnh: Pinterest)

Tâm tính quyết định vận mệnh, chỉ có thay đổi suy nghĩ mới có thể trở nên giàu có. Dù giàu hay nghèo, ai cũng có những niềm vui và nỗi buồn của mình, chúng ta nên tôn trọng niềm tin của người khác, không nên dùng những lời lẽ không hay làm tổn thương người khác thì sẽ tích được nhiều công đức hơn.

Bảo Châu biên dịch
Theo: vandieuhay

Friday, March 13, 2026

KINH NGHIỆM NGƯỜI XƯA: "NGŨ HOA ĐUA NỞ PHÚC LỘC KÉO TỚI", NGŨ HOA NÀY LÀ GÌ?

Theo kinh nghiệm của người xưa thì khi 5 cây cảnh này nở hoa là điềm may kéo tới, gia chủ làm ăn phát tài giàu sang. Trong quan niệm dân gian một số loại cây rất hiếm có hoa nên khi chúng nở hoa là báo điềm lành. Những cây phong thủy này trong nhà mà ra hoa thì gia đình gặp may mắn, vận trình tốt, tài vận phát đạt, giàu có.


Nếu trong nhà bạn có 5 cây này nở hoa thì chuẩn bị vui mừng:

Cây phát tài phát lộc

Phát tài phát lộc là dạng cành xanh lá thường bán để thắp hương. Nhưng khi cắm vào nước chúng sẽ ra rễ và thành cây xanh tốt nếu được thay nước thường xuyên. Thế nên trên ban thờ nhiều gia đình có bình phát tài phát lộc quanh năm.

Cây phát lộc nở hoa

Cây phát tài phát lộc hiếm khi ra hoa nên chúng báo hiệu may mắn.

Cây cảnh phát tài phát lộc thủy canh có lá xanh mướt, trông đặc biệt đẹp mắt và mang lại cảm giác sinh sôi cho không gian sống và phòng thờ. Người xưa cho rằng, khi cây cảnh này nở hoa sẽ giống như cổ tích và may mắn sẽ đến. Nhưng cây cảnh này lại không dễ nở hoa nên nhiều người băn khoăn không biết cây cảnh phát tài phát lộc có thực sự nở hoa hay không?

Tuy nhiên vì sao chúng ta ít thấy hoa cây phát tài phát lộc dù đặt chúng trên ban thờ lâu. Thực ra cây sẽ ra hoa nhưng trồng bằng đất thì ra hoa nhanh hơn. Nên trồng phát tài vào chậu có đất màu mỡ tơi xốp thêm một một lượng nhỏ phân bánh vừng đã hoai mục để bón cho cây. Cây chỉ cần ánh sáng tán xạ không nên để nắng trực tiếp, tưới nước một lần sau khi đất khô và bón phân bánh vừng đã hoai mục. Điều này làm cho cây cảnh phát tài phát lộc phát triển mạnh mẽ hơn và nở hoa đẹp sau hai năm chăm sóc. Bạn sẽ được thưởng thức những bông hoa phát tài phát lộc độc đáo.

Cây Thiên điểu

Bạn có thể gặp những bó hoa thiên điểu bán ở hàng hoa nhưng khi trồng cây này trong nhà lại rất lâu ra hoa.

Cây cảnh thiên điểu trong phong thủy có ý nghĩa tượng trưng cho sự kết hợp tốt đẹp trong một trăm năm, trường thọ và sức khỏe, sự giàu có và tốt lành. Mỗi bông hoa như hình một con chim xinh xắn. Thiên điểu thích một môi trường ấm áp. Phải mất từ 5 đến 7 năm để nở hoa ở những vùng ấm áp và 15 năm mới nở hoa khi trồng ở nơi có khí hậu lạnh. Bởi vậy khi trồng thiên điểu ra hoa thì người xưa cho rằng đó là lúc gặt hái thành tựu may mắn, phước được hồi báo sau nhiều điều tốt lành đã gieo xuống.

Thiên điểu nở hoa mang điềm may mắn giàu sang.

Khi trồng thiên điểu nên thay đất hàng năm và nên thay vào mùa xuân để thiên điều thuận lợi cho ra hoa phát triển. Đất trồng thiên điểu nên hơi chua. Khi cây con còn nhỏ có thể bón lót bằng phân bánh vừng đã hoai mục. Trước khi cây cảnh ra hoa có thể bón thêm phân kali, cây sẽ cho những bông hoa đẹp và tốt lành.

Dứa nến hồng tâm nở hoa chứng tỏ nhà đủ sáng đủ khí

Khi bạn đi mua cây cảnh này thì chúng lúc nào cũng rực đỏ rồi nhưng khi trồng thì lại rất khó nở hoa. Nguyên nhân cây khó ra hoa chủ yếu là do phương pháp bảo trì sai và môi trường trong nhà. Ví dụ, nếu để lâu ở nơi râm mát, dứa cảnh nến sẽ phát triển không tốt, không nở hoa.

Cây dứa nến

Muốn cây cảnh dứa cảnh nến nở hoa thì cần để nơi có ánh sáng tán xạ như gần cửa sổ, ban công. Sau khi đất khô thì tưới nước đẫm vì cây ưa môi trường ẩm ướt. Nhiệt độ vào mùa đông cần trên 10 độ C, nhiệt độ quá thấp sẽ không có lợi cho dứa nến sinh trưởng và ra hoa.

Khi thời tiết lạnh và thiếu sáng cây sẽ chuyển màu xanh nên không còn ngọn nến đỏ rực đó. Loài cây này tương đối khó chăm sóc tại nhà nên bạn cần chú ý để chúng có thể ra hoa.

Lan càng cua

Lan càng cua là cây cảnh họ xương rồng. Những bông hoa lan càng cua chi chít trên đầu cành như những nàng tiên bay lượn trồng vô cùng đẹp mắt. Lan càng cua ra hoa báo hiệu điềm may đang tới. Lan càng cua bản thân nó là loài cây dễ ra hoa. Ngay cả những cây con được cắt trong năm đó cũng sẽ nở hoa vào mùa đông. Tuy nhiên, lan càng cua do một số người yêu hoa trồng luôn không nở hoa, trông có vẻ hơi ủ rũ.

Lan càng cua ra hoa chứng tỏ không gian sống tốt lành.

Đó là vì lan càng cua nở hoa khi nhiệt độ trên 15 độ và không nên quá 25 độ. Ngoài ra, lan càng cua cần đặt ở nơi có nhiều ánh sáng mặt trời hơn, nếu trong nhà quá ít ánh sáng mặt trời không có lợi cho sự phát triển chứ đừng nói đến việc ra hoa.

Để làm cho lan càng cua nở hoa, bạn cần cung cấp cho cây cảnh 4 giờ ánh sáng trong ngày, sau đó đóng cửa trong một căn phòng tối nhỏ và sử dụng 0,1% kali dihydrogen phosphate với tần suất 7- 10 ngày/ lần. Như vậy, cây cảnh có thể phát triển và nở hoa sau 40 ngày.

Lan quân tử

Lan quân tử còn được mệnh danh là loài hoa của sự giàu có và danh giá nên khi cây nở hoa thì phú quý càng nhiều. Hoa lan quân tử rất đẹp từ hình dáng tới màu sắc. Nhưng trồng lan quân tử cần kiên trì, bạn muốn cây cảnh này nở hoa, bạn cần đợi lá phát triển đến hơn 10 lá. Để lan quân tử phát triển tốt thì cần thay chậu một đến hai năm một lần, tốt nhất là vào mùa xuân. Vào mùa hè, hãy để cây cảnh ở những nơi có ánh sáng tán xạ hoặc nơi sáng sủa, đồng thời thông gió tốt thì cây mới phát triển tốt.

Lan quân tử cần kiên trì đủ 10 lá thì mới mong cây ra hoa.

Bạn nên bón phân nhiều kali cho lan quân tử để thúc đẩy ra hoa. Bạn cũng cần cung cấp cho cây lan quân tử nhiều ánh nắng hơn, thuận lợi cho sự ra hoa của lan quân tử vào mùa đông.

Khi trong nhà bạn trồng những cây cảnh này mà chúng nở hoa chứng tỏ phong thủy tốt, vì chúng là những cây cảnh ưa gió, sáng. Mà ngôi nhà có sự thông gió, có nhiều ánh sáng là một ngôi nhà tốt về phong thủy. Con người cần sống trong ngôi nhà thoáng đãng đủ ánh sáng.

*Thông tin mang tính tham khảo chiêm nghiệm

Tuệ An / Theo: vandieuhay

THU GIANG TỐNG KHÁCH - BẠCH CƯ DỊ


Thu giang tống khách

Thu hồng thứ đệ quá,
Ai viên triêu tịch văn.
Thị nhật cô chu khách,
Thử địa diệc ly quần.
Mông mông nhuận y vũ,
Mạc mạc mạo phàm vân.
Bất tuý Tầm Dương tửu,
Yên ba sầu sát nhân.


秋江送客

秋鴻次第過
哀猿朝夕聞
是日孤舟客
此地亦離群
蒙蒙潤衣雨
漠漠冒帆雲
不醉潯陽酒
煙波愁殺人


Sông thu tiễn khách
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Chim hồng sải cánh thu qua. 
Vượn kêu tan tác, nghe ra sớm chiều. 
Con thuyền bến vắng cô liêu. 
Chia tay chốn ấy, lòng nhiều vấn vương. 
Mưa rơi ướt áo dặm trường. 
Mây dăng mang mác, cánh buồm nẻo xa. 
Tầm Dương rượu uống mình ta. 
Chẳng say, lòng lại được đà buồn hơn


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, 15 bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.

Năm Trinh Nguyên ông thi đậu tiến sĩ được bổ làm quan trong triều, giữ chức Tả thập di. Bởi mâu thuẫn với tể tướng Lý Lâm Phủ, ông chuyển sang làm Hộ tào tham quân ở Kinh Triệu rồi lại được triệu về kinh lo răn dạy thái tử. Năm Nguyên Hoà thứ 10 (Đường Hiến Tông), do hạch tội việc tể tướng Vũ Nguyên Hành bị hành thích và ngự sử Bùi Độ bị hành hung, đám quyền thần cho là ông vượt qua quyền hạn, đày làm Tư mã Giang Châu. Ông chủ trương đổi mới thơ ca. Cùng với Nguyên Chẩn, Trương Tịch, Vương Kiến, ông chủ trương thơ phải gắn bó với đời sống, phản ánh được hiện thực xã hội, chống lại thứ văn chương hình thức.

Nguồn: Thi Viện

NGHỆ THUẬT HÁT BỘI - KHÁM PHÁ NÉT ĐẸP SÂN KHẤU CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Khám phá Nghệ thuật Hát Bội - loại hình sân khấu cổ truyền đặc sắc, chứa đựng chiều sâu văn hóa và giá trị tinh thần bền bỉ.

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Giữa muôn vàn hình thức giải trí sôi động, Nghệ thuật Hát Bội (hay còn gọi là tuồng cổ) vẫn lặng lẽ hiện diện như một kho tàng cổ, nơi tiếng trống, lời ca và sắc màu sân khấu lưu giữ những giá trị tinh thần bền bỉ. Bắt nguồn từ sân khấu cung đình Việt Nam, Nghệ thuật Hát Bội từng là thú vui thưởng lãm mang tính quý tộc, xuất hiện trong các buổi diễn dành cho vua chúa. Theo thời gian, loại hình nghệ thuật này len lỏi ra khỏi tường thành, bén rễ vào đời sống dân gian, gắn liền với đình làng, miếu thờ và trở thành món ăn tinh thần trong mỗi mùa lễ hội.

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Nguồn gốc và lịch sử hình thành Nghệ thuật Hát Bội

Nghệ thuật Hát Bội xuất hiện từ thế kỷ XIII dưới triều nhà Trần, được xem là hình thức sân khấu phục vụ tầng lớp hoàng tộc. Đến thế kỷ XVII, danh nhân Đào Tấn đã góp công lớn khi đưa Hát Bội từ Đàng Ngoài vào Đàng Trong, đặt nền móng phát triển cho loại hình nghệ thuật này. Hát Bội phát triển mạnh mẽ và đạt đến giai đoạn phồn thịnh dưới triều Nguyễn, đặc biệt là thời vua Tự Đức.

Khác với vẻ kính cẩn nơi cung đình, khi đến với miền Nam, Nghệ thuật Hát Bội dần trở nên cởi mở và gần gũi hơn. Trong không gian đình làng, Hát Bội mang hơi thở của của đời sống và của tín ngưỡng, từ đó mà gắn bó lâu dài hơn với đời sống nhân dân.
 
Đặc điểm khác biệt của Nghệ thuật Hát Bội so với những loại hình nghệ thuật sân khấu khác

Điểm dễ nhận biết và phân biệt giữa Nghệ thuật Hát Bội so với các hình thức nghệ thuật sân khấu khác chính là cách xây dựng hình ảnh nhân vật ấn tượng. Diễn viên Hát Bội thường trang điểm đậm với màu sắc tươi sáng, tương phản mạnh để khắc họa rõ nét từng tính cách nhân vật. Chỉ cần thoáng nhìn, khán giả đã có thể đoán được nhân vật trung nghĩa hay gian thần, người quân tử hay kẻ mưu mô.

Phần nền da mặt màu đỏ đại diện cho người anh hùng trung liệt; màu đen là màu của sự chất phác, nóng nảy nhưng ngay thẳng; màu trắng mốc gợi lên hình ảnh kẻ nịnh thần, xảo trá; màu xám dành cho người già, còn màu xanh lại ám chỉ những thế lực ma mị, mưu mô. Hình dáng lông mày cũng là một cách để nhận biết các tuyến nhân vật trong Nghệ thuật Hát Bội: lông mày nét mềm là người hiền; màu trắng là thần tiên; nét lượn sóng thể hiện sự kiêu ngạo, lông mày dựng thẳng là người nóng nảy, còn những nét ngắn, vụn vặt thường thuộc về kẻ gian nịnh, tiểu nhân.

Nghệ sĩ Hát Bội trong tạo hình nhân vật, chuẩn bị cho vở diễn sân khấu truyền thống. Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Trong Nghệ thuật Hát Bội, người nghệ sĩ không đơn thuần là một diễn viên. Họ đồng thời là người hóa thân và là người kể chuyện thực thụ. Quá trình tự tay hoá trang, chuẩn bị trang phục, thần thái trong từng dáng đi, ánh mắt, điệu bộ,.. tất cả đòi hỏi một quá trình khổ luyện và hơn hết là một tình yêu vô điều kiện dành cho nghệ thuật dân tộc.

Vai trò của Nghệ thuật Hát Bội trong trong đời sống văn hóa xưa

Hát Bội không chỉ là biểu diễn, mà còn là sự phản chiếu của xã hội, của lý tưởng đạo đức mà người xưa gửi gắm. Mỗi vở diễn là một bài học sống, đề cao Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín, khắc họa những mặt sáng và tối của con người, truyền tải ước vọng sâu xa về công bằng, nhân nghĩa và chính trực.

Trong đời sống văn hóa dưới thời nhà Nguyễn, Hát Bội hiện diện ở hầu hết các lễ hội, cung đình, là một phần không thể thiếu của đời sống tinh thần nhân dân. Người dân tìm đến sân khấu Hát Bội không chỉ để giải trí, mà còn để soi chiếu tâm thức và khơi dậy lòng yêu nước, thương dân.

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Nỗ lực bảo tồn Nghệ thuật Hát Bội

Giữa những loại hình giải trí hiện đại liên tục phát triển, Nghệ thuật Hát Bội lặng lẽ đi qua những chuyển mình của thời cuộc. Không còn hiện diện dày đặc như thuở xưa, Hát Bội giờ đây đứng trước một câu hỏi lớn: Làm sao để tiếp tục “sống” trong lòng khán giả, đặc biệt là những thế hệ trẻ chưa từng lớn lên cùng tiếng trống nơi đình làng?

Dù hành trình đó không dễ dàng, nhưng tình yêu với loại hình nghệ thuật này chưa bao giờ tắt. Những nghệ sĩ Hát Bội kỳ cựu vẫn ngày đêm miệt mài nuôi giữ nghề, còn lớp nghệ sĩ trẻ đang dần tiếp bước, nỗ lực đem Nghệ thuật Hát Bội đến gần hơn với công chúng, để Hát Bội tiếp tục được lắng nghe và cảm nhận.

Các nghệ sĩ Hát Bội kỳ cựu vẫn miệt mài gìn giữ nghề qua từng vở diễn. Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Nghệ thuật Hát Bội ngày nay đang dần hòa nhịp trong dòng chảy thời đại

Giờ đây, nghệ thuật Hát Bội đang từng bước chuyển mình để hòa nhịp với thời đại. Không còn gói gọn trong khuôn khổ đình làng hay lễ hội truyền thống, Hát Bội đã và đang tìm thấy chỗ đứng mới, nơi những câu chuyện xưa được kể lại với tinh thần trẻ trung, sáng tạo và gần gũi hơn với công chúng.

Dù hình thức biểu diễn có thay đổi, tinh thần của Hát Bội vẫn vẹn nguyên: là niềm tự hào văn hóa, là chất liệu nghệ thuật quý giá của dân tộc. Những đổi mới ấy không chỉ giúp gìn giữ giá trị truyền thống, mà còn đưa Hát Bội đến gần hơn với thế hệ trẻ - là những người sẽ tiếp tục viết nên hành trình bảo tồn nghệ thuật dân tộc trong tương lai.

Sân khấu Hát Bội tại Đền Hùng - Bảo tàng Lịch sử TP.HCM. Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Kết

Hiện tại, Nhà hát Nghệ thuật Hát Bội TP.HCM đang có các suất biểu diễn Hát Bội vào sáng Chủ Nhật hằng tuần tại Đền Hùng - Bảo tàng Lịch sử TP.HCM và Lăng Đức Tả Quân Lê Văn Duyệt, các suất diễn này sẽ kéo dài từ nay đến hết năm 2025. Đây là cơ hội để công chúng, đặc biệt là giới trẻ có thể trực tiếp thưởng thức và cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp sống động của nghệ thuật Hát Bội giữa lòng thành phố hôm nay.

Bài: Vy Vy / Ảnh: Luan Nguyen
Theo: mlifeon.com



Thursday, March 12, 2026

CON NGƯỜI CÓ SỐ

Năm 1983, trong một dịp về thăm nhà ở California, tôi đang loay hoay sửa lại hệ thống tưới nước cho khu vườn trước nhà, áo quần mặt mày lem luốc như một anh lao công Mỹ chính hiệu; thì một người phụ nữ lạ mặt xuất hiện ngoài cổng, cao tiếng, “Ông Tổng; Ông Tổng”. Đã lâu lắm tôi mới nghe lại danh từ này.


Ngạc nhiên, tôi ra mở cửa mời khách vào nhà. Chị giải thích, “Con là nhân viên cắt thịt của nhà máy Dona Foods ở Biên Hòa ngày xưa. Chắc ông không nhớ?” Tôi lắc đầu. Nhà máy có hơn 3.000 nhân viên, ngoài các cán bộ trong ban quản lý, tôi thực sự không biết ai. Chị đưa ra tấm thẻ ID cũ của công ty, đã bạc màu, nhưng vẫn còn nhận rõ tên Dương Thị Gấm, với tấm hình đen trắng ngày xưa rất quê mùa, có cả tên và chức vụ của anh quản lý trong khu vực sản xuất.

Chị tiếp tục kể, “Sau khi chính quyền tiếp thu, con làm thêm bốn tháng rồi bị cho nghỉ vì nhà máy không đủ nguyên liệu để điều hành. Con lên thành phố làm ô sin cho một gia đình vừa ở ngoài Bắc vô. Sau một năm, ông chủ được thăng chức điều về Hà Nội. Vì con làm việc tốt, ông đem con đi luôn và con ở ngoài đó đến hai năm. Trong thời gian làm thuê, có ông nhân viên ngoại giao người Đức cạnh nhà. Ông ta lớn tuổi, nhưng ngỏ ý muốn cưới con và đem về Đức khi mãn nhiệm. Muốn giúp gia đình nên con đồng ý, dù con chỉ mới 22 tuổi trong khi ông ta đã hơn 60. “Tôi nhìn chị kỹ hơn. Năm 1975, chị mới 19, thì năm nay, có lẽ chị chỉ mới 27, nhưng xem chị già và phong trần nhiều. Chị thuộc loại đàn bà xấu, dưới trung bình, lại thêm đôi chân bị khập khễnh. Có lẽ những bệnh tật, bất hạnh và mặc cảm đã làm chị già trước tuổi?”

“Con theo chồng về Đức được ba năm thì phải bỏ trốn, rồi ly hôn, vì ông này mỗi lần say rượu là đánh đập con tàn nhẫn. Con phải vào nhà thương cả chục lần mỗi năm. Không có tiền bạc hay của cải, làm bồi bàn khổ cực, nên con nghe lời rủ rê của bạn bè chạy qua Mỹ tìm đường sống. Con đến Los Angeles được 6 tháng nay.” Đại khái, chị đang làm nhân viên thoa bóp (masseuse) cho một tiệm trên San Bernardino. Thu nhập cũng tạm đủ sống, nhưng có cơ hội, người chủ muốn sang tiệm, nên chị tìm cách mua lại.


“Con dành dụm được hơn 12 ngàn đô la, nhưng còn thiếu năm ngàn nữa. Nghe tin ông Tổng ở đây, con hy vọng ông giúp cho con số tiền này để con có cơ hội vươn lên”.

Tôi đính chính với chị, tôi đã hết là ông Tổng, hiện nay chỉ là một nhân viên xoàng của một ngân hàng nhỏ ở Wall Street, sống đời trung lưu bình dị như hàng triệu người Mỹ khác. Nhưng may cho chị là hôm ấy, gần ngày Giáng Sinh, tôi thấy rộng lượng và nhất là vừa nhận được tấm chi phiếu khá lớn của ngân hàng cho tiền thưởng cuối năm. Tôi cho chị mượn năm ngàn và thực sự, không nghĩ rằng mình sẽ thấy lại số tiền này, như nhiều trường hợp vẫn luôn xảy ra với bà con bạn bè.

Nhưng chỉ sáu tháng sau, chị lại tìm đến nhà trả lại số tiền năm ngàn và còn muốn đưa thêm ba ngàn tiền lãi. Tôi không có nhà, vợ tôi chỉ nhận lại năm ngàn không lấy lãi và chúng tôi đều đồng ý là số tiến năm ngàn khứ hồi này quả là chuyện thần thoại của Hollywood. Chị còn khoe với vợ tôi là đã mua thêm một tiệm massage khác.

Bẵng đi năm năm, tôi không gặp lại chị và cũng không liên lạc gì. Tình cờ, tôi và bạn bè vào một quán ăn khá sang trọng ở Bolsa (quận Cam) và người chủ tiệm đứng đón tiếp chúng tôi là chị Gấm ngày nào. Chị huyên thuyên câu chuyện, “Làm massage có tiền nhưng nhức đầu với nhân viên, khách hàng và cơ quan công lực, nên con bán hết năm tiệm và quay ra kinh doanh nhà hàng. Ngoài tiệm này, con còn hai tiệm nữa ở khu phố Tàu và khu đại học UCLA.” Chị cũng khác hẳn lúc xưa. Áo quần thời trang bảnh bao, ăn nói lịch thiệp hơn, cư xử đúng như một bà chủ, và chiếc xe Mercedes đời mới đậu ngay cạnh cửa nói lên sự “thành công” của chị.


Sau bữa ăn miễn phí, tôi cũng không liên lạc gì với chị, vì công việc làm ăn của tôi lúc này đem tôi đi khắp thế giới, không mấy khi về lại California. Cho đến năm 1997, khi tôi đi dự một hội thảo và triển lãm về ngành ngân hàng ở Chicago, chị lại xuất hiện. Tôi đang nghiêm túc ngồi trên bàn làm phối hợp viên (moderator), còn chị thì tươi cười chào tôi trong bộ âu phục của một nhân viên cao cấp (executive), với một thẻ bài đeo trên người có tên rất Mỹ là Christina Spencer. Trong bữa ăn chiều sau hội thảo, chị đưa tấm hình chồng chị và đứa con đã lên 3, rồi tiếp tục, “Trong khi kinh doanh, con đi học thêm vào buổi tối và cuối tuần, cuối cùng cũng lấy được mảnh bằng Cử nhân (Bachelor) về Tài chính (Finance). Sau đó con đi làm cho Wells Fargo (ngân hàng lớn ở California), gặp chồng con là Phó Giám Đốc R&D cho Xerox nên đời sống hai đứa cũng tốt đẹp. Chúng con đang sống ở Palo Alto (một khu giàu của Bắc California cạnh đại học Stanford)”. Một nhân công nghèo hèn, thất học với một nhan sắc kém cỏi, lại gặp nhiều gian truân, chị đã lên tới đỉnh sung túc của một xã hội có sự cạnh tranh khắc nghiệt giữa nhiều loại dân tứ xứ. Tôi nhìn lại chị thêm lần nữa, một biểu tượng đáng khâm phục cho ý chí cầu tiến và sự hy sinh vô bờ để đạt đến giấc mộng của mình.

Dĩ nhiên là chị không nói ra, nhưng tôi tin là trong cuộc hành trình 22 năm vừa qua của chị, đã không thiếu những tình huống hiểm nghèo, cay đắng và tuyệt vọng chị phải đối diện. Sức mạnh nội tại nào đã giúp chị vượt qua và bay cao mới thực sự là “cú đấm thép” mà cộng đồng chúng ta hay bàn luận.

Không thiếu những trường hợp như chị trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Rời quê hương với hai bàn tay trắng, thiếu sót mọi kiến thức, kinh nghiệm và quan hệ trên xứ người, những người Việt như chị đã vượt lên mọi rào cản, trở ngại để dành cho mình một chỗ đứng dưới ánh mặt trời (a place in the sun).

Tôi muốn nói với các doanh nhân trẻ và nhỏ của Việt Nam, trong hay ngoài nước, là nếu những con người như chị Gấm đã làm được, chúng ta cũng sẽ làm được.


Điều thú vị nhất là lần ăn tối ở Chicago với chị Gấm, tôi bốc được một lời khuyên trong chiếc bánh may mắn (gọi là fortune cookies mà các nhà hàng Tàu ở Mỹ thường mời khách free. Bánh kèm bên trong một lời bói toán hay một câu nói của doanh nhân). Tôi còn giữ tờ giấy này, “Thua cuộc chỉ là một tình trạng tạm thời. Bỏ cuộc biến nó thành một sự kiện thường trực”. (Being defeated is often a temporary condition. Giving up is what makes it permanent (Marlene vos Savant).

Chúng ta không tiên đoán về tương lai, chúng ta đang tạo dựng nó hàng ngày .

Alan Phan

NHỮNG THÓI QUEN KHIẾN BẠN TRỞ NÊN KHÓ GẦN

Có những việc bạn không chú ý, nhưng chính nó lại khiến bạn trở thành người khó gần, và dần dần không còn ai muốn chơi với bạn nữa.

Có những thói quen không tốt khiến bạn trở nên khó gần (ảnh minh họa Adobestock)

Bạn có bao giờ bước vào một căn phòng đầy người lạ, cảm thấy hưng phấn, nhưng sau một hồi lại thấy chỉ có bản thân đứng một mình ở đó, trong khi mọi người đang nói chuyện rôm rả xung quanh?

Bạn cũng không cô đơn đâu, có nhiều người cũng bị rơi vào tình huống giống như bạn. Có thể có nhiều nguyên nhân, nhưng dưới đây là một vài thói quen khiến bạn vô tình trở nên khó gần mà bạn không nhận ra:

1. Bạn hiếm khi cười

Một nụ cười ấm áp và chân thành là một trong những dấu hiệu rõ ràng nhất của một người dễ gần. Nếu bạn hiếm khi cười, thì sẽ tạo cho người khác cảm giác lạnh lùng hoặc không có hứng thú, điều này có thể khiến người khác không dám nói chuyện với bạn.

Có thể bạn sẽ thấy hơi gượng ép khi cười, nhưng một nụ cười xã giao cũng không hại gì, mà nó lại cho người khác thấy rằng bạn có thiện ý muốn nói chuyện. Nếu bạn là người cực kỳ ít cười, vậy có thể cũng nên học cười một chút.

Mặc dù không nhất thiết lúc nào nụ cười cũng phải ở trên môi, nhưng nỗ lực cười nhiều một chút, đặc biệt là vào những lúc bế tắc, một nụ cười có thể phá vỡ mọi chướng ngại và khiến người khác có ấn tượng tốt về bạn.

2. Than phiền quá nhiều

Không ai thích một người luôn phàn nàn, ở bên cạnh họ có thể khiến bạn mệt mỏi, cạn kiệt sức lực.

Khi bạn thường xuyên phàn nàn, cho dù đó là về công việc, cuộc sống cá nhân hay thậm chí là các sự kiện thế giới, bạn đang tạo ra bầu không khí tiêu cực khiến người khác không muốn tiếp cận bạn.

Không ai thích gần gũi với người suốt ngày phàn nàn (ảnh minh họa Adobestock)

Mặc dù nói ra những nỗi thất vọng của bản thân là điều tự nhiên, nhưng bạn cần hiểu rằng, tập trung vào những điều tồi tệ trong cuộc sống sẽ chỉ khiến bạn bất hạnh thêm mà thôi.

3. Bạn luôn giễu cợt người khác

Không phải ai cũng có khiếu hài hước giống bạn, một số người sẽ cảm thấy phát ốm với những trò đùa thô thiển, tục tĩu. Mặc dù sử dụng sự hài hước để chọc cười người khác có vẻ vô hại đối với bạn, nhưng trên thực tế nó có thể khiến người khác cảm thấy không thoải mái, thậm chí là tổn thương.

Chính vì vậy mà có người không dám tiếp cận bạn, vì sợ sẽ trở thành trò cười của bạn. Hài hước một cách phù hợp thì sẽ khiến mọi người thích thú, nhưng nếu làm quá lố, thì thành ra lại khiến mọi người xa lánh bạn.
 
4. Không giao tiếp bằng ánh mắt

Giao tiếp bằng mắt là một phần quan trọng của giao tiếp phi ngôn ngữ. Khi bạn tránh giao tiếp bằng mắt, điều đó có thể được coi là không hứng thú, hoặc là thiếu sự chân thành. Người khác vì vậy mà cũng e ngại khi nói chuyện với bạn.

Đôi khi đây cũng không phải là bạn cố ý, mà chỉ là thói quen. Vậy nên bạn có thể luyện tập giao tiếp bằng mắt trong những tình huống ít căng thẳng hơn, ví dụ như trò chuyện với bạn thân hoặc gia đình.

5. Ăn mặc quá tùy tiện

Quy định về trang phục có vẻ như là thành phần ít quan trọng nhất trong một tình huống xã hội, nhưng trong thực tế, đôi khi nó lại là yếu tố quyết định trong một cuộc trò chuyện.

Người ta vẫn nói “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, nhưng không thể phủ nhận một điều rằng cái người ta chú ý trước tiên vẫn là bề ngoài của bạn. Việc ăn mặc không phù hợp có thể khiến người khác đánh giá sai về bạn, từ đó mà không muốn tiếp xúc với bạn.

6. Bạn luôn sử dụng điện thoại di động

Khi mọi người đang nói chuyện vui vẻ thì bạn dán mắt vào chiếc điện thoại, mà thực ra bạn chỉ đang lướt mạng xã hội chứ không có công việc gì khẩn cấp cần phải xử lý ngay, điều này có thể khiến cho người khác cảm thấy họ ít được tôn trọng, vậy nên cũng ít mở lời với bạn.

(ảnh minh họa Adobestock)

Khi có người kể chuyện, dù bạn không có hứng thú với câu chuyện đó, thì cũng phải chú ý lắng nghe như một phép lịch sự; đừng làm việc riêng quá nhiều, người nói sẽ chú ý đến thái độ của mọi người xung quanh khi họ nói, một khi họ để ý thấy bạn không quan tâm đến lời họ nói, vậy thì họ cũng sẽ không có ý bắt chuyện với bạn thêm về sau.

7. Trả lời cụt lủn

Đối thoại là hai chiều, khi bạn không ngừng đưa ra những câu trả lời ngắn ngủn, người khác sẽ cảm thấy bạn không muốn nói chuyện, hoặc thấy bạn là người không cởi mở, nên cũng không nói chuyện với bạn nữa.

Khi được người khác hỏi thì nên cố gắng đưa ra câu trả lời càng chi tiết càng tốt; còn khi người khác vừa nói xong, nếu được thì bạn cũng nên đặt một vài câu hỏi nhỏ để tỏ ra rằng bạn có quan tâm đến câu chuyện của họ, như vậy mới làm cuộc nói chuyện thêm thú vị.

8. Bạn không tôn trọng không gian riêng của người khác

Biết cách tôn trọng không gian cá nhân là một khía cạnh quan trọng để trở nên dễ gần. Khi bạn xâm phạm không gian của ai đó, rất có thể họ sẽ cảm thấy không thoải mái và ngừng tham gia vào cuộc trò chuyện tiếp theo.

Có những điều thuộc về cá nhân mà bạn không bao giờ nên hỏi, trừ khi đối phương tự kể ra; một khi bạn hỏi trúng điều họ không muốn nói, họ sẽ vẫn trả lời bạn, nhưng cuộc nói chuyện tiếp theo có thể sẽ rất lâu nữa mới diễn ra, họ tìm cách xa lánh bạn mà bạn không nhận ra.

Bạn có vướng phải thói quen nào ở trên không? Nếu có thì tốt nhất nên sửa ngay, đừng để đến khi nhìn lại xung quanh không còn có ai muốn chơi với bạn nữa.

Chân Chân / Theo: Sohu

TÂY CUNG THU OÁN - VƯƠNG XƯƠNG LINH

Tây cung thu oán

Phù dung bất cập mỹ nhân trang,
Thuỷ điện phong lai châu thuý hương.
Khước hận hàm tình yểm thu phiến,
Không huyền minh nguyệt đãi quân vương.

Tây cung tức Trường Tín cung, do Hán Cao Tổ cho xây trong hoàng thành Trường An cho các cung nữ bị thất sủng cư trú. Cung này đến đời Đường vẫn còn xử dụng.


西宮秋怨

芙蓉不及美人妝
水殿風來珠翠香
卻恨含情掩秋扇
空懸明月待君王


Nỗi oán mùa thu ở Tây cung
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Sen hồng người đẹp điểm tô. 
Gió từ đâu tới, mặt hồ ngát hương. 
Quạt thu che mối hận trường. 
Đêm nay trăng sáng, quân vương chẳng vời.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương Xương Linh 王昌齡 (khoảng 698-756) tự Thiếu Bá 少伯, người đất Giang Ninh (tỉnh Giang Tô), đỗ tiến sĩ năm 727 đời Ðường Huyền Tông, được bổ làm chức hiệu thư lang. Sau vì sơ suất về hành vi, bị biếm ra làm chức uý tại Long Tiêu, ở phía Tây sông Tương. Khi trở về quê nhà, gặp lúc loạn lạc, bị Thứ sử Lư Khâu Hiển giết chết vì tư thù. Vương Xương Linh được người đương thời xưng là Thi thiên tử, có bạn thân là Vương Chi Hoán và Tân Tiệm.

Nguồn: Thi Viện

THANH - SẮC TRONG TUỒNG CỔ TRIỀU CHÂU

Khám phá tuồng cổ Triều Châu, một loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo của cộng đồng người Hoa.

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Trong đời sống văn hóa của cộng đồng người Hoa tại Việt Nam, có những loại hình nghệ thuật không chỉ để giải trí mà còn để gìn giữ ký ức và bản sắc. Và tuồng cổ Triều Châu chính là một trong số đó.
 
Những vở diễn được truyền qua nhiều thế hệ, gắn liền với tín ngưỡng và lễ hội, mang theo hơi thở của quá khứ nhưng vẫn đầy sức sống trong hiện tại.

Đôi nét về Tuồng Cổ Triều Châu

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Tuồng cổ Triều Châu (hay còn gọi là Triều kịch) là một loại hình ca kịch truyền thống của người gốc Triều Châu (người Tiều), có nguồn gốc từ Trung Quốc. Với lịch sử phát triển hơn 400 năm, loại hình này thường được biểu diễn tại các miếu, hội quán người Tiều vào các dịp lễ hội. Và vào năm 2006, tuồng cổ Triều Châu chính thức được Quốc Vụ viện Trung Quốc liệt vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.

Loại hình ca kịch truyền thống này được người Hoa gốc Triều Châu mang theo khi di cư đến Việt Nam, thường phổ biến ở khu vực Chợ Lớn (TP.HCM) và các vùng có đông người Hoa sinh sống.

Theo các nghiên cứu về văn hóa người Hoa tại Chợ Lớn, nghệ thuật này cùng với Việt kịch (Quảng kịch) là hai dòng ca kịch tiêu biểu, được xem là “món ăn tinh thần” không thể thiếu trong đời sống cộng đồng người Hoa ở Việt Nam.

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Điểm đặc biệt của tuồng cổ Triều Châu là sự kết hợp giữa nghệ thuật biểu diễn và tín ngưỡng. Các vở diễn thường gắn liền với lễ hội, nghi thức thờ cúng, nhằm thể hiện lòng tôn kính với tổ tiên và các bậc tiền nhân.

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Theo Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, việc duy trì các vở diễn trong dịp lễ hội như Tết Nguyên Tiêu chính là cách cộng đồng người Hoa gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của mình.

Sân khấu của sắc màu và thanh âm

Tuồng cổ Triều Châu không chỉ là một loại hình sân khấu truyền thống, mà còn là một tổng hòa nghệ thuật kết hợp âm nhạc, ca diễn, hóa trang, vũ đạo và tín ngưỡng. Chính sự đa dạng này đã tạo nên sức hút đặc biệt cho loại hình ca kịch này, giúp khán giả dù không hiểu ngôn ngữ của người Tiều, vẫn có thể cảm nhận được tinh thần và giá trị văn hóa mà vở diễn truyền tải.

Âm nhạc và ca diễn

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Tuồng cổ Triều Châu sử dụng làn điệu đặc trưng của người Triều Châu, với tiết tấu chậm rãi nhưng giàu tính bi tráng. Âm nhạc thường được thể hiện bằng nhạc cụ truyền thống như trống, chiêng, nhị, sáo… tạo nên bầu không khí vừa trang nghiêm vừa cuốn hút.

Theo nghiên cứu của Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam, âm nhạc trong tuồng cổ Triều Châu không chỉ đóng vai trò minh họa mà còn dẫn dắt cảm xúc, giúp khán giả hiểu được diễn biến tâm lý nhân vật ngay cả khi không nắm bắt được lời thoại.

Trang phục và hóa trang

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Đây là điểm nhấn nổi bật nhất của tuồng cổ Triều Châu. Các nhân vật xuất hiện với trang phục rực rỡ, cầu kỳ, mang màu sắc tượng trưng cho thân phận và tính cách. Lớp hóa trang trên khuôn mặt: từ những đường kẻ sắc nét đến màu sắc tương phản, giúp khán giả dễ dàng nhận diện nhân vật chính, phản diện, trung thần hay gian thần.

Giáo Sư Trần Văn Khê từng nhận xét rằng nghệ thuật hóa trang trong tuồng cổ Triều Châu là “ngôn ngữ thị giác” thay thế cho lời thoại, giúp khán giả không cùng ngôn ngữ vẫn có thể tiếp nhận câu chuyện.

Vũ đạo và động tác

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Các động tác trong tuồng cổ Triều Châu mang tính ước lệ, tượng trưng, không thiên về sự thật mà hướng đến sự biểu cảm. Trong các buổi diễn, chỉ một cái xoay người hay một bước chân nhấn mạnh của nhân vật cũng có thể gợi ra cả một trận chiến hay một cuộc đối thoại căng thẳng.

Chính sự ước lệ này tạo nên tính nghệ thuật cao cho tuồng cổ Triều Châu, giúp khán giả tập trung vào cảm xúc và thông điệp thay vì chi tiết thực tế.

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Có thể thấy, tuồng cổ Triều Châu là một loại hình nghệ thuật đa tầng giá trị: vừa là sân khấu biểu diễn, vừa là nghi lễ tín ngưỡng, vừa là ký ức văn hóa.

Chính sự hòa quyện này đã giúp tuồng cổ Triều Châu tồn tại và phát triển trong cộng đồng người Hoa tại Việt Nam, trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần và văn hóa của họ.

Một trải nghiệm đầy mới mẻ

Trong dịp Tết Nguyên Tiêu 2025 vừa qua , tôi đã có cơ hội tham dự một buổi biểu diễn tuồng cổ Triều Châu tại Hội Quán Nghĩa An, Quận 5. Dù không hiểu ngôn ngữ của các diễn viên người Tiều trên sân khấu, tôi vẫn bị cuốn hút ngay từ khoảnh khắc tiếng trống mở màn vang lên.
 
Các diễn viên xuất hiện trong trang phục lộng lẫy, lớp hóa trang cầu kỳ, từng đường nét trên khuôn mặt của mỗi nhân vật đều như chứa đựng câu chuyện của riêng mình.

Tôi không thể nắm bắt lời thoại, nhưng chính sự uy nghiêm trong phong thái, ánh mắt sắc sảo và động tác mang tính ước lệ đã khiến tôi cảm nhận được sức nặng của nhân vật và tình tiết.

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Phần lớn khán giả của buổi diễn là cộng đồng người Tiều, họ chăm chú theo dõi, thỉnh thoảng gật gù hoặc cười khẽ khi nhận ra những tình tiết hài hước trong vở diễn. Bên cạnh đó, cũng có nhiều người giống tôi, những khán giả mang theo sự tò mò, mong muốn khám phá một loại hình nghệ thuật xa lạ nhưng đầy sức hút.

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Tôi chợt nhận ra rằng: chính sự khác biệt về ngôn ngữ lại mở ra một trải nghiệm mới. Thay vì tập trung vào lời thoại, tôi để mình hòa vào âm nhạc, sắc màu và nhịp điệu của vở diễn.

Tiếng trống, tiếng nhạc cụ truyền thống, tiếng hát ngân vang bằng phương ngữ Triều Châu, tất cả tạo nên một không gian nghệ thuật sống động, nơi nghệ thuật không chỉ để xem, mà còn để cảm nhận bằng tất cả giác quan.

Ảnh: Luan Nguyen / mlifeon.com

Trải nghiệm tuồng cổ Triều Châu tại hội quán Nghĩa An dịp Nguyên Tiêu này đã để lại trong tôi một cảm giác vừa lạ lẫm vừa gần gũi: lạ vì ngôn ngữ và phong cách biểu diễn, nhưng gần gũi bởi sự chân thành, niềm tin và tình yêu văn hóa mà cộng đồng người Triều Châu gửi gắm qua từng vở diễn.

Kết

Tuồng cổ Triều Châu không chỉ là một loại hình nghệ thuật, mà còn là nhịp cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa cộng đồng người Hoa và những ai yêu thích khám phá văn hóa. Trải nghiệm tại Hội Quán Nghĩa An cho tôi thấy rằng: ngay cả khi không hiểu lời thoại, ta vẫn có thể cảm nhận được sức sống, sự trang nghiêm và vẻ đẹp của nghệ thuật truyền thống.

Giữ gìn tuồng cổ Triều Châu chính là giữ lại một phần ký ức văn hóa, để thế hệ mai sau vẫn còn được sống trong màu sắc và âm vang của di sản.

Bài: Giang Huynh /  Ảnh: Luan Nguyen
Theo: mlifeon.com



Wednesday, March 11, 2026

KỊCH NOH NHẬT BẢN: HUYỀN BÍ, U LINH VÀ TUYỆT MỸ TRONG MỖI CỬ ĐIỆU

Khám phá kịch Noh, di sản văn hóa phi vật thể của Nhật Bản, qua lăng kính lịch sử, nghệ thuật và tâm linh. Từ những nhà soạn kịch đến những diễn viên tài hoa, từ những chiếc mặt nạ u huyền đến những cử điệu điêu luyện, mỗi phần của Noh đều kể một câu chuyện về văn hóa và nghệ thuật Nhật Bản.


Lịch sử hình thành và phát triển của kịch Noh

Kịch Noh, hay Nogaku, là một trong những hình thức nghệ thuật truyền thống cổ xưa nhất của Nhật Bản, với lịch sử phát triển từ giữa thế kỷ 14. Noh bắt nguồn từ các nghi lễ tôn giáo của đạo Shinto và dần phát triển thành một thể loại nghệ thuật biểu diễn kịch thực thụ, hòa quyện giữa âm nhạc, vũ đạo và thơ ca. Noh được xem là sản phẩm của sự kết hợp giữa truyền thống dân gian và yếu tố tôn giáo, cùng với ảnh hưởng của các loại hình nghệ thuật khác như kịch Sarugaku.

Noh phát triển từ các hình thức kịch múa cổ xưa và từ nhiều loại hình kịch lễ hội tại các đền chùa nổi lên vào thế kỷ 12 hoặc 13. Ảnh: britannica.com

Kịch Noh đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ sự ưu ái của tầng lớp quý tộc và samurai cho đến sự bảo tồn và phát triển trong thời hiện đại. Dưới sự bảo trợ của các lãnh chúa phong kiến và sau đó là sự quan tâm của chính phủ, Noh không chỉ giữ vững mà còn phát triển, trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa Nhật Bản.

Ý nghĩa của Noh trong văn hóa Nhật Bản

Noh không chỉ đơn thuần là một loại hình biểu diễn nghệ thuật mà còn là biểu tượng của triết lý và quan niệm thẩm mỹ của người Nhật. Nó phản ánh quan niệm về cái đẹp, sự tĩnh lặng và sâu lắng trong tâm hồn, một phần của lối sống và tư duy Wa (hòa bình, hòa hợp). Với bối cảnh và nội dung chủ yếu xoay quanh thần thoại, lịch sử và truyền thuyết, Noh không chỉ mang đến giá trị giải trí mà còn giáo dục, làm sâu sắc thêm hiểu biết và lòng tôn kính của người Nhật đối với lịch sử và truyền thống của mình.

Các nhà sáng lập và di sản họ để lại

Kịch Noh được định hình và phát triển bởi hai cha con Kannami và Zeami. Kannami (1333 - 1384) là người đã đặt nền móng cho Noh, trong khi Zeami (1363 - 1443), con trai của ông, là người đã hoàn thiện và nâng cao Noh thành một hình thức nghệ thuật tinh tế và sâu sắc. Zeami không chỉ nổi tiếng với tài năng biểu diễn mà còn với những công trình lý luận nghệ thuật, trong đó ông phân tích và đề xuất các nguyên tắc, kỹ thuật diễn xuất, cũng như cách thức để đào tạo diễn viên Noh, làm sâu sắc thêm sự hiểu biết và yêu mến đối với loại hình nghệ thuật này.

Nakamura trong chiếc mặt nạ lấy cảm hứng từ Noh “Okina” 2022. Ảnh: nytimes.com

Di sản của họ không chỉ dừng lại ở những vở kịch đã viết mà còn ở phong cách, phương pháp biểu diễn và quan niệm nghệ thuật mà họ để lại, tiếp tục được nghiên cứu, bảo tồn và phát huy trong suốt nhiều thế kỷ sau này. Sự đóng góp của họ đã giúp Noh trở thành một phần quan trọng không chỉ trong lịch sử nghệ thuật Nhật Bản mà còn trong văn hóa thế giới.

Âm nhạc, vũ đạo và thơ ca trong Noh

Kịch Noh là sự hòa quyện tinh tế giữa âm nhạc, vũ đạo và thơ ca, tạo nên một trải nghiệm nghệ thuật độc đáo. Âm nhạc trong Noh, thường được biểu diễn bởi một nhóm nhạc nhỏ gồm các loại nhạc cụ truyền thống như taiko (trống), fue (sáo) và shamisen (loại đàn dây), không chỉ đóng vai trò là nền tảng cho các diễn viên mà còn là yếu tố dẫn dắt cảm xúc của vở kịch. Âm nhạc Noh thường chậm rãi, trầm lắng, phản ánh tâm trạng và tinh thần của nhân vật.

Vũ đạo trong Noh là sự biểu đạt của tâm hồn, mỗi động tác, dù nhỏ nhất, cũng chứa đựng ý nghĩa sâu sắc. Khác biệt với các hình thức múa rộng lớn và động tác mạnh mẽ, vũ đạo Noh đòi hỏi sự chính xác và kiềm chế. Các động tác được thiết kế để thể hiện sự tinh tế và biểu cảm nội tâm, phản ánh quan niệm thẩm mỹ Nhật Bản về sự giản dị, tinh tế và sâu lắng.

Nhà hát Kanze Noh: Múa sư tử trong "Shakkyo".

Thơ ca trong Noh, với ngôn ngữ giàu hình ảnh và ý nghĩa, thường được sử dụng để kể câu chuyện, miêu tả cảnh sắc và thể hiện tâm trạng của nhân vật. Lời thoại và thơ trong Noh thường mang tính biểu tượng và ước lệ, đòi hỏi sự tập trung và cảm nhận sâu sắc từ phía khán giả.

Tính ước lệ và thẩm mỹ cao của Noh

Kịch Noh nổi bật với tính ước lệ và thẩm mỹ cao. Các yếu tố như mặt nạ, trang phục, cử chỉ, và sân khấu được thiết kế một cách cực kỳ tinh tế và mang đầy ý nghĩa biểu tượng. Trong Noh, không gian sân khấu thường đơn giản, với một cây táo hay một tấm rèm, tạo nên một không gian mở cho trí tưởng tượng. Mỗi yếu tố, từ mặt nạ đến trang phục, đều được chăm chút kỹ lưỡng, phản ánh đặc tính của nhân vật và cốt truyện.

Nhà hát Noh Quốc gia ở Nhật Bản vào năm 2017.

Các nhóm nhân vật chính và ý nghĩa

Trong kịch Noh, các nhân vật thường được chia thành năm nhóm chính: vị thần, chiến binh, phụ nữ, nhân vật hỗn hợp và nhân vật siêu nhiên. Mỗi nhóm nhân vật này đều có vai trò và ý nghĩa riêng biệt trong việc truyền tải thông điệp và cảm xúc của vở kịch.
  • Vị Thần (Kami): Thường xuất hiện trong các vở kịch mang yếu tố tôn giáo và triết lý, biểu hiện sức mạnh và sự thiêng liêng.

  • Chiến Binh (Shura): Đại diện cho sự anh dũng và cả những nỗi đau của chiến tranh, thể hiện qua những câu chuyện về danh tướng và trận chiến.

  • Phụ Nữ (Onna): Nhân vật nữ thường biểu hiện cảm xúc phong phú, từ tình yêu cho đến sự mất mát và bi thương, phản ánh vẻ đẹp và sức mạnh tinh thần của người phụ nữ.

  • Nhân Vật Hỗn Hợp (Kyojo): Kết hợp nhiều đặc điểm của các nhóm nhân vật khác, thường xuất hiện trong các cảnh có tính chất biến hóa và thay đổi.

  • Nhân Vật Siêu Nhiên (Yurei): Thể hiện thế giới tâm linh và u huyền, mang đến những cảnh quan sâu sắc về cuộc sống và cái chết, thường kết hợp với yếu tố kỳ bí và tâm linh.

Kinue Oshima, biểu diễn với tư cách là nochishite (Màn hai, diễn viên chính) trong chùa ở Trung tâm Southbank, London. Tháng 12 năm 2009. Ảnh: Nhiếp ảnh của Clive Barda

Mỗi nhóm nhân vật trong Noh không chỉ là sự biểu hiện của kỹ thuật diễn xuất mà còn là cách thức truyền tải sâu sắc các giá trị văn hóa và triết lý của Nhật Bản.

Quá trình chế tác và ý nghĩa của mặt nạ Noh

Mặt nạ được trưng bày tại Nhà hát Kamakura Noh ở thị trấn Kamakura, Nhật Bản. Ảnh: AFP

Mặt nạ Noh, hay "Noh-men" trong tiếng Nhật, là một trong những yếu tố đặc trưng và quan trọng nhất của kịch Noh. Mỗi mặt nạ đều là tác phẩm nghệ thuật được làm thủ công một cách tỉ mỉ và công phu. Người chế tác, thường là nghệ nhân với bề dày kinh nghiệm và kiến thức sâu rộng về văn hóa Noh, sẽ sử dụng chất liệu chủ yếu là gỗ bách, một loại gỗ có độ bền và vẻ đẹp thẩm mỹ cao. Quá trình tạo ra một chiếc mặt nạ có thể mất hàng tháng trời, từ việc chọn gỗ, tạc dáng, mài giũa, cho đến việc sơn và thêm các chi tiết cuối cùng.

Mặt nạ kịch Noh Nhật Bản treo thành hàng trên tường mô tả nhiều biểu cảm khuôn mặt khác nhau thuộc bộ sưu tập của Nghệ sĩ ART AQUARIUM Hidetomo Kimura.

Mỗi chiếc mặt nạ Noh mang một ý nghĩa biểu tượng riêng, thường liên quan đến tính cách, cảm xúc và tình huống của nhân vật mà nó đại diện. Mặt nạ có thể biểu thị sự thanh cao, oan khốc, giận dữ, hoặc niềm vui. Khi đeo mặt nạ, diễn viên sẽ hoá thân hoàn toàn vào nhân vật, và sự biến đổi nhỏ về góc độ và ánh sáng có thể làm thay đổi biểu cảm của mặt nạ, tạo ra hiệu ứng nghệ thuật sâu sắc.

Trang phục và phụ kiện đi kèm

Trang phục trong kịch Noh cũng không kém phần quan trọng và phức tạp. Mỗi bộ trang phục được thiết kế để phản ánh địa vị, tính cách và tình huống của nhân vật. Ví dụ, trang phục của vị thần sẽ khác biệt rõ rệt so với trang phục của một chiến binh hay người phụ nữ. Chất liệu, màu sắc, và hoa văn đều được lựa chọn một cách cẩn thận, thường sử dụng các chất liệu cao cấp như lụa và vàng lá.

Áo choàng bằng nuihaku , một loại vải kết hợp thêu với lá vàng hoặc bạc. Một kỹ thuật xa hoa khác là karaori , một loại vải dệt có hoa văn nhiều màu gấm.

Ngoài trang phục, các phụ kiện như quạt, đao kiếm, và các đạo cụ khác cũng đóng vai trò quan trọng, giúp làm rõ nét thêm bối cảnh và tính cách nhân vật. Sự kết hợp giữa trang phục và phụ kiện không chỉ làm tăng thêm vẻ đẹp visuall mà còn giúp diễn viên truyền đạt câu chuyện một cách sinh động và chân thực.

Tác động của mặt nạ và trang phục đến cảm xúc và biểu diễn

Mặt nạ và trang phục trong kịch Noh không chỉ là trang trí mà còn tác động sâu sắc đến cảm xúc và biểu diễn của diễn viên cũng như cảm nhận của khán giả. Mặt nạ giúp diễn viên tập trung vào việc truyền đạt cảm xúc và tinh thần của nhân vật mà không bị lệ thuộc vào ngoại hình hoặc biểu cảm cá nhân. Điều này tạo nên một sự kết nối mạnh mẽ giữa diễn viên và nhân vật, đồng thời giúp khán giả tập trung vào bản chất của câu chuyện và ý nghĩa sâu xa của nghệ thuật Noh.

Mặt nạ giúp diễn viên tập trung vào việc truyền đạt cảm xúc và tinh thần của nhân vật.

Trang phục và phụ kiện cũng góp phần làm nổi bật không gian và bối cảnh của vở kịch, tạo ra một không gian nghệ thuật đặc biệt mà trong đó mọi thứ đều hòa quyện và tăng cường lẫn nhau. Sự kỳ công và tinh tế trong từng chi tiết của mặt nạ và trang phục không chỉ phản ánh nỗ lực và tài năng của những nghệ nhân, mà còn là sự tôn vinh tối đa đối với di sản văn hóa và nghệ thuật của Nhật Bản.

Phân tích cấu trúc một vở kịch Noh tiêu biểu

Một vở kịch Noh thường được chia thành năm phần chính: Shidai (mở đầu), Jo (phần chậm), Ha (phần nhanh hơn), Kyu (climax) và Kiri (kết thúc). Mỗi phần đóng vai trò riêng biệt trong việc kể câu chuyện và phát triển nhân vật.
  1. Shidai: Phần mở đầu thường bao gồm lời giới thiệu về bối cảnh và nhân vật, đặt ra tâm trạng cho toàn bộ vở kịch.

  2. Jo: Đây là phần diễn biến chậm, nhấn mạnh vào sự phát triển tâm lý và môi trường xung quanh của nhân vật.

  3. Ha: Phần này tăng tốc độ và sự kịch tính, thường có sự xuất hiện của các nhân vật phụ hoặc các tình tiết quan trọng.

  4. Kyu: Đây là phần climax, nơi diễn ra các sự kiện quan trọng nhất, thường đặc biệt sôi động và đầy cảm xúc.

  5. Kiri: Phần kết thúc, nơi mọi tình tiết được hợp nhất và đưa ra bài học hoặc thông điệp của vở kịch.

Các kỹ thuật biểu diễn và diễn xuất đặc sắc

Ảnh: Yoshiaki Kanda

Diễn xuất trong kịch Noh đòi hỏi sự kỹ lưỡng và chính xác tuyệt đối. Một số kỹ thuật đặc sắc bao gồm:
  • Kata: Các động tác và tư thế cố định, mỗi cái có ý nghĩa và mục đích riêng biệt.

  • Rhythm and Pacing: Sử dụng nhịp độ chậm rãi, kiềm chế để xây dựng tâm trạng và dẫn dắt cảm xúc.

  • Monomane: Kỹ thuật mô phỏng và biểu hiện, nơi diễn viên cố gắng mô phỏng cảm xúc và hành động của nhân vật một cách chính xác và tinh tế.

Sự chuyển tiếp từ thế giới hiện thực đến thế giới tâm linh trong kịch

Kịch Noh thường khám phá ranh giới mỏng manh giữa thế giới hiện thực và thế giới tâm linh. Điều này được thể hiện rõ qua việc sử dụng các nhân vật có thể là người sống hoặc là linh hồn từ thế giới bên kia. Sự chuyển tiếp giữa hai thế giới này không chỉ thông qua cốt truyện mà còn qua sự thay đổi về âm nhạc, trang phục, và đặc biệt là mặt nạ.

Trong nhiều vở kịch, nhân vật chính có thể bắt đầu là một con người bình thường và dần dần lộ ra bản chất hoặc thân phận thực sự của mình, thường là một vị thần hoặc linh hồn. Phần cuối của vở kịch thường đem lại cái nhìn sâu sắc về nhân sinh và tự nhiên, phản ánh quan niệm tâm linh phức tạp và sâu sắc của người Nhật.

Như vậy, cấu trúc và tổ chức của một vở kịch Noh không chỉ là sự sắp xếp các phần diễn mà còn là cách thức để khám phá và biểu hiện những ý nghĩa sâu sắc, từ hiện thực đến tâm linh, từ con người đến vũ trụ.

Sự ảnh hưởng của Noh đến các thế hệ diễn viên và khán giả hiện đại

Noh mang lại một trải nghiệm thẩm mỹ độc đáo, khác biệt rõ rệt so với các loại hình nghệ thuật biểu diễn hiện đại.

Kịch Noh, dù có nguồn gốc từ thế kỷ XIV, vẫn tiếp tục ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật biểu diễn và khán giả hiện đại. Đối với diễn viên, Noh không chỉ là một nghệ thuật cổ điển cần được học hỏi và bảo tồn mà còn là một thách thức để hiểu sâu về kỹ thuật và cảm xúc, đòi hỏi sự tập trung cao độ và kỹ năng diễn xuất tinh tế. Nó truyền cảm hứng cho các diễn viên trẻ và được coi như một trường phái nghệ thuật để học hỏi và phát triển.

Đối với khán giả, Noh mang lại một trải nghiệm thẩm mỹ độc đáo, khác biệt rõ rệt so với các loại hình nghệ thuật biểu diễn hiện đại. Nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về văn hóa và lịch sử của Nhật Bản, đồng thời gợi mở những suy tư về cuộc sống, cái đẹp và tâm linh.

Các lễ hội và sự kiện Noh ngày nay

Trong xã hội hiện đại, kịch Noh không chỉ được biểu diễn trong những nhà hát truyền thống mà còn là một phần của các lễ hội văn hóa và sự kiện nghệ thuật. Các lễ hội Noh thường được tổ chức hàng năm, tập trung vào việc trình diễn các vở kịch cổ điển cũng như thử nghiệm với các hình thức biểu diễn mới, thu hút cả khán giả trong nước và quốc tế.

Ngoài ra, các học viện và trường đại học có khóa học và chương trình đào tạo chuyên sâu về Noh, không chỉ giúp bảo tồn nghệ thuật này mà còn phát triển kỹ năng cho thế hệ diễn viên tiếp theo. Các workshop và buổi nói chuyện về Noh cũng được tổ chức thường xuyên, mở cửa cho mọi người hiểu rõ hơn về loại hình nghệ thuật này.

Sự công nhận và bảo tồn Noh như thế nào?

Kịch Noh cũng được công nhận là di sản Văn hoá Phi vật thể của UNESCO.

Kịch Noh được công nhận là một phần quan trọng của di sản văn hóa Nhật Bản và thế giới. Năm 2008, UNESCO công nhận kịch Noh là Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại, một bước quan trọng trong việc bảo tồn và tôn vinh loại hình nghệ thuật này.

Chính phủ Nhật Bản và các tổ chức văn hóa cũng đặt ra các chính sách và chương trình bảo tồn, từ việc hỗ trợ tài chính cho các nhóm biểu diễn đến việc tổ chức các sự kiện quảng bá Noh. Sự hợp tác giữa các nghệ sĩ Noh, chính phủ, và cộng đồng quốc tế tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển kịch Noh, không chỉ như một bảo tàng sống về lịch sử và văn hóa mà còn là nguồn cảm hứng sáng tạo cho thế hệ hiện đại.

Các nỗ lực bảo tồn Noh của chính phủ Nhật Bản và cộng đồng quốc tế

Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện nhiều chính sách và sáng kiến nhằm bảo tồn và phát triển kịch Noh. Điều này bao gồm việc công nhận Noh là một phần quan trọng của di sản văn hóa quốc gia, cung cấp tài chính và hỗ trợ cho các nhà hát và nghệ sĩ, cũng như tổ chức sự kiện và lễ hội để quảng bá loại hình nghệ thuật này. Các bảo tàng và trung tâm nghiên cứu cũng được thành lập để lưu giữ và nghiên cứu về kịch Noh.

Trên phạm vi quốc tế, cộng đồng nghệ thuật và tổ chức văn hóa cũng đóng góp vào việc bảo tồn Noh. Sự hợp tác và trao đổi giữa Nhật Bản và các nước khác đã giúp quảng bá Noh ra thế giới, đồng thời tạo cơ hội cho nghệ sĩ Noh biểu diễn và học hỏi từ các nền văn hóa khác.

Các khóa học và chương trình đào tạo diễn viên Noh

Nhật Bản cung cấp các khóa học và chương trình đào tạo chuyên sâu về Noh.

Nhằm duy trì và phát triển kỹ năng diễn xuất Noh cho thế hệ tiếp theo, nhiều trường đại học và học viện nghệ thuật tại Nhật Bản cung cấp các khóa học và chương trình đào tạo chuyên sâu về Noh. Các chương trình này không chỉ tập trung vào kỹ năng diễn xuất mà còn giáo dục về lịch sử, văn hóa, và triết lý đằng sau kịch Noh. Điều này giúp diễn viên trẻ không chỉ là người kế thừa mà còn là người đổi mới, góp phần làm cho Noh luôn sống động và phát triển.

Noh trong mắt thế giới

Sự công nhận của UNESCO vào năm 2008 là một bước ngoặt quan trọng trong việc bảo tồn và phổ biến kịch Noh. Kịch Noh được công nhận là Di sản Văn hóa Phi vật thể của nhân loại, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn loại hình nghệ thuật này không chỉ cho Nhật Bản mà cho cả thế giới. Sự công nhận này không chỉ tăng cường nhận thức và sự quan tâm đối với Noh mà còn mở rộng cơ hội cho nghệ sĩ Noh biểu diễn và giao lưu quốc tế, từ đó tạo điều kiện cho sự sáng tạo và hợp tác văn hóa xuyên biên giới.

Những nỗ lực bảo tồn và phát triển này cho thấy sự cam kết mạnh mẽ của Nhật Bản và cộng đồng quốc tế trong việc giữ gìn kịch Noh, đồng thời mở ra hướng đi mới cho sự phát triển của nghệ thuật truyền thống trong thế giới hiện đại.

Le Ha / Theo: TravelSig+
Link tham khảo: