Thursday, September 17, 2026

THAM RƯỢU QUÊN NGƯỜI, THAM SẮC QUÊN MÌNH, THAM TÀI QUÊN THÂN QUYẾN

Người xưa thường nói: “Tham rượu quên người, tham sắc quên mình, tham tài quên thân quyến”, câu nói này của cổ nhân tuy ngắn gọn, nhưng lại bao hàm rất nhiều đạo lý làm người.


Làm bất cứ chuyện gì cũng cần vừa phải, đừng đi đến cực đoan, như vậy mới là hiểu lý lẽ, cũng là có trách nhiệm với bản thân và người khác.

Trên thế gian này, có rất nhiều thứ mê hoặc con người, nếu không biết cách tự kiềm hãm, nhất mực truy cầu hưởng thụ vật chất để lấp đầy dục vọng, sẽ chỉ làm chính mình càng lún sâu, cuối cùng sẽ không còn cách nào thoát khỏi.

Mà trên đời những thứ có sức mê hoặc con người nhất, chính là rượu, sắc và tiền tài. Ba thứ này, chỉ cần tùy tiện sa vào một thứ, sẽ gây ra nhiều hậu quả khôn lường; nếu vướng vào hai thứ thì càng bi đát hơn.

“Tham rượu quên người, tham sắc quên mình, tham tài quên thân quyến”, những lời thâm thúy của người xưa để lại, nhắc nhở cho chúng ta về những tác hại mà ba thứ kia dẫn đến.

Tham rượu quên người

Uống rượu có chừng mực quả thật không phải là chuyện xấu, có thể giúp cường gân hoạt huyết, khi trời lạnh còn có tác dụng làm ấm người.

Không chỉ vậy, thời điểm mới xã giao, nhiều hợp đồng được ký kết là nhờ sau khi tan làm, đi uống cùng khách hàng vài ly.

Tuy nhiên, thói quen này càng ngày càng trở nên tha hóa, người ta không còn chỉ dừng lại ở mức 1,2 chén nữa mà đã phát triển đến mức “rượu chè trác táng”, “chén chú chén anh”…, uống đến mức bị đầu độc trong rượu, không có rượu không làm được việc gì.

Uống rượu quá độ chẳng những gây nghiện, còn dễ gây ra ngộ độc. Mà rắc rối nhất là khi say người ta lại làm ra đủ trò mất mặt. Bởi vì ý thức đã bị rượu làm cho hồ đồ, cho nên có những hành vi cử chỉ không phù hợp, tâm trí lúc không vui có thể còn làm tổn thương người khác, như vậy chính là hại người hại mình.

Bởi thế, nếu như một người uống rượu mà không biết tiết chế, cũng không để ý tới lời khuyên của người khác thì nên giữ khoảng cách với loại người này, không nên giao du thân thiết.

Tham sắc quên mình

Phụ nữ và đàn ông đẹp luôn dễ dàng thu hút ánh mắt của mọi người. (Ảnh: Pinterest)

“Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu”, mọi người đều thích những thứ tốt đẹp, người khác giới với nhau cũng vậy, phụ nữ và đàn ông đẹp luôn dễ dàng thu hút ánh mắt của mọi người.

Nhưng nếu một người không thể chống cự được sự cám dỗ của sắc, làm ra những hành vi cử chỉ không đúng đắn, thì sẽ rất khó tránh khỏi hậu họa về sau.

Với những người đắm chìm vào sắc dục, thường không cách nào chống lại được những cám dỗ đến từ những người khác giới, do vậy rất dễ phạm sai lầm.

Lâu dần, không chỉ làm tổn hại đến thân thể của bản thân, khiến tinh huyết hao tổn, tinh lực suy kiệt, mà còn ảnh hưởng đến mối quan hệ với gia đình, với người khác; đặc biệt là với những người đã lập gia đình, thì chuyện này lại càng mang đến hậu quả đáng tiếc hơn.

Không thiếu những ví dụ tiêu cực trong xã hội này, đặc biệt gần đây rất nhiều người nổi tiếng, quan chức, vì không thể kìm hãm được dục vọng của bản thân mà đã phát sinh ra những mối quan hệ ám muội với người khác giới.

Những kiểu hành vi như thế này sau khi bị phơi bày ra ánh sáng, gia đình hai bên đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, hơn nữa còn ảnh hưởng đến sự nghiệp của chính mình, cuộc đời cũng vì thế mà dính những vết nhơ vĩnh viễn không thể nào xóa sạch.

Tham tài quên thân quyến

Khổng Tử có câu: “Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo”, ý nói, người quân tử coi trọng của cải nhưng lấy của cải phải đúng đạo lý. Hiện nay muốn duy trì cuộc sống, tiền là thứ rất quan trọng, nhưng khách quan mà nói, vẫn có nhiều thứ quan trọng hơn cả tiền, giống như tình thân.

Một người khi chìm sâu vào tiền tài, rất dễ bị lòng tham dẫn dắt. Chỉ vì một chút lợi ích nhỏ mà gây gổ cãi nhau với người thân, thậm chí có người thống hận tới nỗi đến chết cũng không muốn nhìn mặt nhau.

Tiền có thể từ từ kiếm ra, nhưng người thân một khi đã mất sẽ chẳng bao giờ có thể nói chuyện được nữa. (Ảnh: Sohu)

Tiền có thể từ từ kiếm ra, nhưng người thân một khi đã mất sẽ chẳng bao giờ có thể nói chuyện được nữa. Có rất nhiều anh chị em khi bố mẹ vẫn còn sống, lạnh lùng vô tình tranh chấp tài sản trước mặt bố mẹ. Hành động này không chỉ làm tổn thương bố mẹ, mà còn tổn hại đến ngày tháng sống chung với nhau sau này, tựa như đang chôn một quả bom, có thể phát nổ bất cứ lúc nào.

“Tham rượu quên người, tham sắc quên mình, tham tài quên thân quyến”, chỉ ba câu ngắn ngủi lại có thể giảng giải rất nhiều đạo lý làm người. Cuộc đời nếu có thể không bị ba thứ này hấp dẫn, thì bản thân mới có những tháng ngày bình yên, tốt đẹp.

Tuệ Tâm / Theo: khoahoctamlinh

Wednesday, September 16, 2026

NĂM THỜI KHẮC QUAN TRỌNG GIÚP TA NHẬN BIẾT AI NGƯỜI QUÂN TỬ, AI KẺ TIỂU NHÂN?

Từ xưa đến nay, chúng ta đều được khuyên rằng, nên tránh kết giao với kẻ tiểu nhân. Nhưng giữa đủ loại người trên thế gian, làm cách nào để phân biệt được? Thực ra, muốn biết một người là quân tử hay tiểu nhân, chỉ cần nhìn vào tâm thái của họ trong 5 thời khắc quan trọng này.


1. Quan sát phẩm hạnh khi đứng giữa lợi ích

Người xưa thường nói, muốn nhìn rõ phẩm hạnh đạo đức của một người, cứ nhìn vào thái độ của họ trong những khoảnh khắc liên quan đến lợi ích.

Người quân tử có thể tạo ra tiền tài, nhưng để có tiền tài thì chỉ làm những việc đạo nghĩa, không thể vì không có tiền mà vượt quá ranh giới làm người.

Nhưng với kẻ tiểu nhân, đối mặt với khoảnh khắc cám dỗ về lợi ích vô cùng lớn, khi nhìn thấy tiền họ liền sáng mắt, sẽ không tiếc việc bán đứng bạn bè hay người thân, thậm chí là kéo người thân thiết nhất của mình xuống nước. Thực tế họ là những kẻ không biết xấu hổ.

Nhìn rõ một người, là phải nhìn vào thái độ của người đó với tiền bạc, thái độ với lợi ích, liệu họ có vượt qua được ranh giới và lương tâm làm người của mình hay không.

2. Quan sát thái độ trong thời khắc đói và mệt

Người xưa thường nói, muốn biết một người tinh thần và thể lực thế nào, hãy xem trạng thái của họ lúc sức tàn lực kiệt, đói khổ và vất vả.

Một người lúc sức lực dồi dào, mạnh như rồng như hổ thì ý chí sự nghiệp cũng mạnh mẽ, tinh thần đầy đủ, tràn ngập ý chí phấn đấu, cho dù làm gì cũng đều tràn đầy sự tin tưởng. Do đó, khi họ mệt mỏi, thì nghỉ ngơi một chút cũng là hợp lý và cần thiết.

Nhưng nếu vì quá mệt mà đánh mất đi sự lạc quan, mặc kệ không làm nữa, không còn sự kiên trì và nghị lực nữa, thì đó không phải là điều một người quân tử nên làm, cũng không phải là điều người thành công nên làm.

3. Quan sát sự độ lượng trong thời khắc vui vẻ và bực bội

Người xưa cũng nói rằng, để quan sát sức chịu đựng và sự độ lượng của một người, thì phải xem biểu hiện của họ trong lúc vui vẻ và bực bội.

Với tiểu nhân, khi họ vui vẻ thì dễ dàng trở nên hí hửng đắc ý, cao ngạo tự mãn, xem thường người khác.

Còn khi bực bội, họ dễ dàng bực tức phiền não, nhìn thấy ai đang làm gì cũng không vừa mắt, trút mọi bực bội lên người yếu thế hơn, thậm chí còn trút giận lên vợ và con cái. Đây chính là những người không có tiền đồ.

Nhưng nội tâm của một người quân tử thì khác, họ thường bình thản không chút lo lắng, đối với mọi xáo trộn trong cuộc đời đều phân định rạch ròi, thấu suốt suy xét và đưa ra quyết định.


4. Quan sát sự tu dưỡng của một người trong thời khắc phồn hoa

Sự tu dưỡng của một người còn được phản ánh vào lúc họ đối mặt với phồn hoa đô hội, khi đó hãy quan sát xem họ đối nhân xử thế như thế nào?

Sự mê hoặc trên thế giới này là rất nhiều, dù là bất cứ ai, đều sẽ có nhược điểm của riêng mình, một khi bị người khác lợi dụng, thì rất dễ bị lôi xuống nước.

Tiểu nhân thường đắm chìm trong sự hoan lạc nhất thời, hôm nay có rượu thì hôm nay say, trước giờ chưa từng nghĩ về tương lai của bản thân.

Nhưng người quân tử lại có thể kháng cự được sự mê hoặc, trong lòng họ có lý tưởng, trong mắt họ có cốt cách, sẽ không dễ để bản thân đắm chìm trong những thú vui dung tục ấy. Họ yêu thích và làm chủ cuộc đời và những thứ vây quanh mình.

5. Quan sát sự bình tĩnh vào thời khắc kinh hãi

Để quan sát sự bình tĩnh của một người, thì hãy xem biểu hiện của họ khi đối mặt với những chuyện kinh hãi ngoài ý muốn.

Khi xảy ra chuyện ngoài ý muốn, biểu hiện nội tâm của con người là thứ chân thật nhất. Nếu quá bối rối có nghĩa là trong lòng họ không có chủ kiến, tương lai khi làm việc lớn, khó mà bảo đảm người đó không bỏ rơi bạn.

Người giữ được sự bình tĩnh là khi “Thái Sơn có sập, cũng không đổi sắc”, là người có chủ kiến, có mưu lược, có đủ tốc độ để phản ứng, suy nghĩ vì đại cục, đó mới là người thật sự làm nên chuyện lớn.

Theo: Tinh Hoa

NHỮNG LOÀI CHIM BIỂN

1. Gentoo-penguin:  Chim cánh cụt Ấn độ (Gentoo Penguin):

Có nhiều điều phải e sợ khi bước vào vùng nước lạnh giá Nam cực. Để tiếp cận tặng vật cá, mực, tôm krill vào mùa hè, chúng thường thương lượng với bầy báo biển đói.

2. Baby royal tern: Chim nhạn nhỏ (Baby royal tern):

Chim nhạn nhỏ, giống như con này đang học bay trên bãi biển Florida, rời tổ chỉ trong vòng 1 ngày sau khi nở. Chúng tập hợp với những con mới nở khác thành nhóm có thể lên đến hàng ngàn con. Lúc cho ăn, chim mẹ tìm con của mình trong đám đông bằng tiếng kêu riêng của nó.

3. Chim hải âu chân đen (Black-Footed Albatrosses) : 

Giống như con đực ( phải) và con cái (trái) ở đảo Tern của Hawaii có thể gặp đang nhảy múa và xây tổ trong nhiều mùa trước khi đẻ trứng, nuôi dưỡng mối quan hệ kéo dài 20 năm hoặc hơn.

4. Pelican: Chim bồ nông Úc (Australian Pelican):

Mỏ có túi của chim bồ nông Úc có thể dài 50 cm. Loài chim lớn này dùng sải cánh 2,5 mét để lướt đi hàng trăm dặm, dùng luồng không khí nóng bốc lên để lấy độ cao.

5. Gannet: Chim ó biển Úc (Australasian Gannets):
 
Có một trong các kiểu săn mồi gây ấn tượng nhất trên trái đất. Chúng bay thấp trên đại dương thành từng đàn tìm kiếm những đàn cá. Khi nhận ra mục tiêu, nó gấp cánh lại và nhào thẳng xuống, xuyên qua nước như một mũi tên. Mỏ có răng cưa túm lấy và nuốt cả con mồi.

6. King-penguin: Chim cánh cụt lớn ở Nam cực (King Penguin):

Chim cánh cụt lớn tụ tập thành đàn suốt bảy đảo và nhóm đảo cực nam của Đại tây dương và Ấn độ dương. Cao 1 mét và cân nặng 14 kg, chúng là loài lớn thứ hai.

7. Razorbill: Chim cộc (Razorbill):

Chim cộc với hai màu trắng đen bảnh bao ( bên phải) và hải âu mỏ sáng ( ở trái và đang bay, ở giữa) tìm ra thiên đường của chúng ở quần đảo Shiant của Scotland. Có khoảng gần 8.000 con chim cộc và hơn 200.000 con hải âu mỏ sáng dùng quần đảo này làm nơi đẻ trứng hàng năm.

8. Puffin: Hải âu mỏ sáng Đại tây dương (Puffin)

Trải qua hầu như suốt cuộc đời ở biển, tăng tốc trong không gian tới 88 km một giờ , lao xuống dưới nước để săn mồi, hoặc nghỉ ngơi trên sóng. Chúng trở về đất liền hàng năm để lập đàn đẻ trứng, thu nhặt cành cây nhỏ và cỏ để xây tổ trên đỉnh vách đá.

9. Kittiwake: Mòng biển xira (Kittiwake bird):

Trong mùa hè, mòng biển xira, giống như con này, canh giữ trứng ở eo biển Prince William của Alaska, tạo thành đàn đẻ trứng bên vách đá. Chúng trải qua mùa đông ở biển từng đàn săn bắt cá và giáp xác khác.

10. Blue-footed-booby: Chim điêu chân xanh (Blue Footed Booby):

Chim điêu chân xanh được đặt tên rất thích hợp, con đực lấy làm hãnh diện về đôi chân thần thoại của nó. Trong nghi thức cặp đôi, con đực khoe khoang với con cái tương lai bước đi oai vệ. Chân càng xanh con đực càng hấp dẫn hơn.

Nguồn: Biển Và Người

NƯỚC CÀNG NHẠT CÀNG TRONG, NGƯỜI CÀNG BÌNH THẢN THÌ CÀNG HẠNH PHÚC

"Nước càng nhạt càng trong, người càng bình thản thì càng hạnh phúc". Tâm thiện thì gương mặt dịu hiền, tâm từ thì dáng vẻ nhu hòa.


Không tham, dục vọng sẽ ít; không sân, trong lòng bình yên

Gặp được nhau hãy biết trân quý, đừng đợi đến lúc đánh mất rồi mới biết luyến tiếc một đời.

Con người sống trên đời, cơ hội chẳng ai giống ai, nhân duyên mỗi bên mỗi khác, thuận buồm xuôi gió cũng được, trầm bổng lên xuống cũng hay, ta vẫn bình thản như bao ngày thường, đều là vận mệnh của bản thân ta. Những người đã từng đi ngang qua đời ta, những người mà ta vô tình chạm mặt, những người mà ta gặp để rồi biệt ly, thì hết thảy đều là duy nhất trong đời. Rơi vào tình huống nào, đều không nên chê trách thói đời, không buông bỏ ranh giới cuối cùng, cũng không cần đố kỵ oán hận người khác. Không tham, dục niệm sẽ ít; không sân, lòng ta bình thản; không cầu, tâm thường biết đủ. Gặp được nhau hãy biết trân quý, đừng đợi đến lúc đánh mất rồi mới biết luyến tiếc một đời.

Xem nhẹ được và mất, bình thản trước phồn hoa

Bởi xem nhẹ, nên mới không thấy khổ. Ngọt ngào quá mức sẽ trở thành đắng, đắng quá nhiều sẽ khiến lòng kiệt quệ. Cuộc sống giống như nước, dục vọng tựa như đường, không phải đường càng nhiều nước sẽ càng ngọt hơn. Quá nhiều dục vọng, ngọt cũng trở thành đắng, chỉ tâm thái hài hoà mới có thể khiến cuộc sống trở nên ngọt ngào. Một trái tim bình thản vô vi, có thể xem nhẹ được và mất, dẫu không vui nhiều thì cũng không buồn nhiều. Năm tháng hờ hững, con tim nhạt nhòa, con người cũng lẳng lặng bước đi, khi đã trang nhã ngồi xuống, buông bỏ dục vọng, lòng cũng an tâm bình hoà. Hương vị của đời người là như vậy, nhạt lâu sẽ tỏa mùi ngát hương.


Im lặng là sự thanh cao cuối cùng

Im lặng có thể khiến con tim hỗn loạn bỗng trở nên bình thản. Không cần phải cho người khác biết rằng bạn khờ dại thế nào, ngây thơ thế nào, thiện lương ra sao, hạnh phúc thế nào, bất hạnh bao nhiêu, đau khổ nhường nào. Hãy học cách dùng sự im lặng để làm chủ cảm xúc của bản thân. Có thể có người nói bạn cởi mở thoải mái, nhưng sự cởi mở của bạn có lúc chỉ là thể hiện ở bên ngoài. Lại có người nói bạn âu sầu khổ não, nhưng cái âu sầu khổ não ấy có lúc chỉ là tạm thời trong giây lát. Giữa những nốt thăng trầm lên xuống của cuộc đời, hãy học cách im lặng. Chỉ có im lặng, mới là biểu hiện của khôn ngoan lanh lợi, là nhìn xa trông rộng, là nội hàm bên trong. Im lặng, chính là sự thanh cao cuối cùng, cũng là sự tự do cuối cùng.

Có thể buông bỏ mới có thể nắm giữ

Đời người có thể buông bỏ mới có thể nắm giữ, có xả mới có đắc, được hay mất trong lòng ta tự biết. Chỉ một câu nói giản đơn, nhưng đã bao hàm biết bao trí huệ và đạo lý xử thế trong đời. Bởi vì, người rộng lượng mới hiểu được siêu thoát, người chân thành mới biết được hiến dâng, người hạnh phúc mới hiểu được buông bỏ, người trí huệ mới hiểu rõ được và mất. Đời người, cùng lúc tìm kiếm được cũng là lúc luôn phải phó xuất; nếu có thể nhận thức được và mất một cách chính xác, con người sẽ hiểu rõ “được – mất” là song hành, cũng là lẽ tất nhiên. Do đó, mất đi cũng đừng quá đau khổ, chỉ cần tìm về bản thân mà làm chủ chính mình trong sự mất mát đó.

Hạnh phúc của đời người, một nửa nên tranh, một nửa nên thuận

Người chân thành mới biết được hiến dâng, người hạnh phúc mới hiểu được buông bỏ, người trí huệ mới hiểu rõ được và mất.

“Tranh” không phải là tranh chấp với người khác, mà là với khổ đau. Không hạnh phúc nào có được dễ như trở bàn tay, mà phải cố gắng phấn đấu, nỗ lực hết mình, mới có thể từng bước từng bước đến gần hơn tới bến bờ hạnh phúc. “Thuận” không phải là gặp sao hay vậy, mà là biết dừng lại đúng lúc mà an vui sau này. Bởi sự hạn chế của năng lực và điều kiện, rất nhiều người và sự việc chỉ có thể thích ứng trong một tình cảnh, tùy duyên mà dừng lại. Không tranh với người, vậy nên đời người ít tiếc nuối; lòng luôn thuận theo, bởi biết đủ nên thường an vui.


Không phải thế giới đã chọn bạn, mà là bạn đã lựa chọn thế giới này

Nếu lòng bạn tràn đầy tình yêu thương, thế thì cuộc sống của bạn đâu đâu cũng tràn ngập yêu thương. Nếu lòng bạn chứa đầy thù hận, thế thì cuộc sống của bạn đâu đâu cũng chứa chan thù hận. Còn như lòng bạn chứa đầy cảm ân, thì đâu đâu cũng thấy ngập tràn lòng cảm ân. Nếu bạn trưởng thành, mọi chuyện cũng đều sáng rõ như lòng bàn tay. Vậy mới nói, không phải thế giới đã chọn bạn, mà là bạn đã lựa chọn thế giới này. Nếu không có chỗ nào để thoả mãn, chi bằng ta hãy cười ngây ngô. Nếu không có chỗ nào để so tài cao thấp, chi bằng ta hãy tự tại mừng vui. Nếu mọi chuyện đều không như ý, chi bằng ta hãy thản nhiên mà đón nhận.

Nước càng nhạt thì càng trong suốt; người càng bình thản thì càng vui vẻ an nhiên

Nếu không có chỗ nào để thoả mãn, chi bằng ta hãy cười ngây ngô.


Tâm thiện thì gương mặt dịu hiền, tâm từ thì dáng vẻ nhu hòa. Nước càng nhạt thì càng trong suốt; con người càng bình thản thì càng vui vẻ, an nhiên. Bình thản, khiến con người ta giản đơn; giản đơn, khiến người ta vui vẻ. Tâm thiện, tự nhiên xinh đẹp; tâm thẳng, tự nhiên chân thành; tâm từ, tự nhiên nhu hòa; tâm tịnh, tự nhiên trang nghiêm. Lẳng lặng mà cảm ngộ, phủi đi bụi trần của năm tháng, lấy một trái tim không vướng bụi trần mà trở về với nguồn gốc ban sơ, dùng một trái tim cảm ân đối đãi với hết thảy của cuộc đời.

Hiểu được từ bỏ sẽ đạt đến vẻ đẹp của sự trưởng thành. Nhìn rõ một người hà tất phải vạch trần; chán ghét một người hà tất phải trở mặt. Còn sống, thì sẽ luôn có người bạn thấy không vừa mắt, cũng như không phải tất cả mọi người đều thấy bạn thuận mắt. Sự trưởng thành của người ta không phải ở tuổi tác, mà là hiểu rõ lẽ được-mất, biết được buông bỏ, học cách viên dung, hóa giải mâu thuẫn. Có những nỗi khổ tâm không nói hết được, không phải trong lòng vô cảm, mà là biết rằng dù nói hay không cũng đều như nhau. Những vết thương kia, không phải ta không để tâm, mà bởi ta đã biết cách chữa lành nó thế nào…

Theo Soundofhope

LÀM SAO ĐỐI ĐÃI VỚI "ĐƯỢC - MẤT"

Người trí tuệ luôn sống thuận theo tự nhiên, không cầu mà tự được (ảnh Secretchina)

Xưa nay, các nhân sĩ thành công mà còn để được tiếng thơm muôn đời thì đa phần đều là coi nhẹ được mất; sống luôn biết suy nghĩ cho người khác mà tự an vui; tâm không truy cầu mà phúc đức đầy nhà; cuộc đời thanh nhàn mà con cháu lại được giàu sang phú quý.

Coi nhẹ được mất thế gian

Cổ nhân giảng “Thiên nhân hợp nhất”, tin vào thiên lý “Thiện ác hữu báo”. Văn hóa truyền thống là kết tinh giao thoa của ba gia phái là Nho giáo, Thích giáo và Đạo giáo. Dù góc độ khác nhau, nhưng thực chất là dạy người ta làm sao đối xử với được mất nơi thế gian con người; làm sao hành thiện tích đức; làm sao để không làm việc xấu, không tạo nghiệp, đề cao ngộ tính; làm sao có thể bước trên con đường tu luyện, tu thành chính quả.

Trong dân gian lưu truyền gia tộc Phạm thị của Phạm Trọng Yêm. Trong lịch sự có câu nói “Phúc không quá ba đời”, tuy nhiên gia tộc này lại hưng thịnh tới tám đời; tới ngày nay vẫn còn hậu thế. Nếu cổ nhân tầm nhìn thiển cận, làm việc bất chấp hậu quả, không suy xét tới tương lai, chắc chắn sẽ không có được thành tựu như vậy; sẽ không có được đại gia tộc nổi danh hậu thế như vậy.

Phạm Trọng Yêm (989 -1052), là danh thần nổi tiếng thời Bắc Tống, từ nhỏ khắc khổ đọc sách; học tập các kinh điển Nho gia như Kinh Thi, Thượng Thư, Lễ Ký, Xuân Thu v.v. Sau này, ông còn tiếp thu ảnh hưởng của tư tưởng Phật gia, kính tín Thần Phật.

Thứ để lại cho con cháu là phúc đức

Phạm Trọng Yêm sống cả đời cần kiệm, chất phác (ảnh Aboluowang)

Làm quan mấy chục năm, ông sống vô cùng cần kiệm, chất phác. Mặc dù đã làm tới chức tể tướng nhưng ông vẫn không xây dựng phủ đệ đàng hoàng. Có người chủ trương xây dựng nhà mới cho ông, ông nói: “Cái mà con người truy cầu chỉ là đạo nghĩa. Một người nếu trong tâm đã có đạo nghĩa thì bất kể thân ở nơi nào thì tâm cũng đều vui thích”.

Những năm cuối đời sau khi bị cắt chức, ông dùng tiền tích góp của mình trong nhiều năm mua một nghìn mẫu đất màu mỡ tại Tô Châu; gạo thu hoạch được dùng để cứu tế những người nghèo khó trong gia tộc.

Có người không lý giải được cách làm của ông, nên tới khuyên răn: “Ông làm như vậy thì con cháu sau này làm thế nào? Họ có thể vì nguyên nhân này mà oán hận ông đó”. Phạm Trọng Yêm thở dài đáp: “Nếu chúng thực sự oán hận ta, thì đã không hiểu ta rồi. Ta lưu lại cho chúng là tài phú còn quý báu hơn nhiều”.
 
Luôn suy nghĩ cho người khác

Năm Cảnh Hựu thứ hai (năm 1035), Phạm Trọng Yêm làm quan tại Tô Châu, ông mua một mảnh đất tên “Nam viên”; vốn định xây dựng làm nhà ở riêng. Thầy phong thủy nói với ông: “Mảnh đất này là phong thủy bảo địa. Ai có nó trong tay thì gia đình sẽ không ngừng có công khanh quý nhân”.

Sau khi nghe vậy, ông nói: “Nếu mảnh đất này đã có phong thủy tốt như vậy, chi bằng xây dựng một trường học tại đây; để nó có thể bồi dưỡng thêm nhiều nhân tài cho xã hội; chẳng phải tốt hơn nhiều so với việc gia tộc của ta xuất hiện nhiều công khanh quý nhân hay sao?”

Vì vậy, ông tu sửa nơi đây thành Tô Châu quận học, còn mời người có uy tín tới dạy. Bởi chịu ảnh hưởng của phong trào học tập lười nhác khi đó, dù “học trò có hàng mấy trăm, nhưng đa số không được dẫn dắt dạy dỗ”.

Để xoay chuyển vấn đề học sinh không giữ kỷ luật, ông cho con trai cả là Phạm Thuần Điếu vào học. Trong trường mặc dù là người ít tuổi nhất, nhưng Phạm Thuần Điếu sau khi nhập học hết sức tuân thủ kỷ luật và quy tắc nên các học sinh dần dần không dám phạm lỗi; khiến không khí học tập trong trường thay đổi. Sau đó nơi đây trở thành ngôi trường nổi tiếng thời đó; bồi dưỡng ra không ít nhân tài.

Cứ cho đi rồi sẽ được nhận lại, tâm biết đủ thì nơi đâu cũng an ổn (ảnh Aboluowang)

Cho đi rồi sẽ được nhận lại

Không lo được mất, dùng tâm bình thản đối đãi với những chìm nổi trong cuộc đời; đây là một cảnh giới không dễ đạt được. Lão Tử từng viết trong “Đạo Đức kinh”: “Ồn ào náo nhiệt đều vì lợi mà bôn tẩu”, đó là nói chốn nhân gian, đại đa số mọi người đều vị lợi ích cá nhân mà bận rộn ngược xuôi. Đạo đức, nhân nghĩa, ai cũng có thể từng nghe qua; nhưng vào thời khắc then chốt, hỏi có bao nhiêu người có thể buông bỏ lợi ích cá nhân, nghĩ cho người khác đây?

Trong tác phẩm “Nhạc Dương lâu ký”, Phạm Trọng Yêm viết: “Không vui buồn vì được mất cá nhân”, đó chính là loại cảnh giới này. Ông còn viết: “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”. Tấm lòng quảng đại của Phạm Trọng Yêm thật khiến người ta cảm phục.

Cổ nhân tin rằng “Đức” là rất quan trọng với con người. Không có đức tích lũy lại từ hành thiện kiếp trước, thì không có tài phú và công danh lợi lộc kiếp này. Tất cả mọi thứ trong đời người đều có số mệnh an bài.

Sống thuận theo tự nhiên, không cưỡng cầu để tránh tạo nghiệp. Hơn nữa, dù đạt được điều gì thì cũng phải biết cảm tạ Thần Phật; trong tâm có sự tôn kính. Dù mất đi điều gì thì trong tâm cũng không đau buồn, oán hận; vì mắt nhìn thấy là mất, nhưng trên thực tế là đã đắc được “Đức”; đây mới là thứ trân quý nhất đối với sinh mệnh. Có Đức rồi thì phúc báo mới có thể kéo dài, gia tộc mới có thể phồn thịnh.

Thanh Mai / Theo: nguyenuoc

Tuesday, September 15, 2026

SƠ ĐÁO HOÀNG CHÂU


Sơ đáo Hoàng Châu

Tự tiếu bình sinh vị khẩu mang,
Lão lai sự nghiệp chuyển hoang đường.
Trường giang nhiễu quách tri ngư mỹ,
Hảo trúc liên sơn giác duẩn hương.
Trục khách bất phương viên ngoại trí,
Thi nhân lệ tác thuỷ tào lang.
Chỉ tâm vô bổ ty hào sự,
Thượng phí quan gia áp tửu nang.


初到黃州 - 蘇軾

自笑平生為口忙
老來事業轉荒唐
長江繞郭知魚美
好竹連山覺筍香
逐客不妨員外置
詩人例作水曹郎
隻慚無補絲毫事
尚費官家壓酒囊


Mới đến Hoàng Châu
(Bản dịch của Tuệ Sỹ)

Cười ta bình sinh miệng nói nhăng
Già rồi sự nghiệp càng hoang đường
Trường giang vỗ bến cho cá béo
Tre rậm đầy non thơm mùi măng
Khách lang bạt khỏi phiền viên ngoại
Lệ nhà thơ ghi sổ tang bồng
Chỉ thẹn không nên chuyện gì hết
Uổng thay dốc túi rượu nhà quan


Ghi chú:

Tô Thức ngày 18 tháng tám năm Nguyên Phong thứ 2 (1079) chịu Ô Đài thi án, bị giam trong ngục 4 tháng tới ngày 28 tháng chạp, biếm làm Kiểm hiệu thuỷ bộ Viên ngoại lang, Hoàng Châu đoàn luyện phó sứ, bị người của ngự sử đài áp đi. Ngày mồng 1 tháng giêng năm sau (1080) rời kinh, ngày mồng 1 tháng hai tới Hoàng Châu, ngụ cư và ăn cơm với sư tại Định Tuệ thiền viện. Bài thơ này làm trong thời gian đó.

Nguồn: Thi Viện

HẾT THẢY HẠNH PHÚC CÕI NHÂN SINH ĐỀU CHỈ CÓ THỂ TÌM ĐƯỢC TỪ TRONG CHÍNH TÂM MÌNH

Hết thảy mọi hạnh phúc, vui vẻ, an toàn, bình yên, tĩnh lặng mà bạn theo đuổi, đều không thể có được từ bất kỳ ai hay bất cứ nơi đâu. Mọi sự tình đều phải dựa vào bản thân mình, bạn chỉ có thể tìm được từ trong chính tâm mình.


“Tu hành là việc của mỗi một thời khắc, giác ngộ là việc của mỗi một thời khắc. Chỉ khi mỗi một thời khắc đều ở trong đạo tràng giác ngộ, công đức của chúng ta mới có thể tăng thêm, trí huệ mới có thể tăng trưởng liên tục không ngừng. Đây không phải là lý luận.

Mỗi một thời khắc đều quán chiếu nội tại của mình, đây mới là đạo tràng thật sự của bạn.

Tu hành thật sự, chính là bắt đầu từ thời khắc bạn thật sự gặp được chân ngã nội tại của mình, bắt đầu từ chân tâm giác ngộ đó. Mỗi một thời khắc, mỗi một hành vi, mỗi một thần thái của bạn, khi đều ở cùng với chân tâm của tự mình, bạn chính là đạo tràng rồi”.

Tu hành thật sự, bắt đầu từ ngay thời khắc bạn gặp được chân tâm của mình

Đạo tràng không ở nơi nào khác, mà chính ở ngay giờ phút này, chính ở tại nơi này, chính ở tại cái tâm này. Mỗi một thời khắc đều quán chiếu nội tại của bạn.

Chúng ta vẫn luôn đang tìm kiếm, muốn từ trên thế giới này mà tìm được một nơi an trú cho cái thân tâm này. Chúng ta đi tìm kiếm tài phú, gây dựng rất nhiều các mối quan hệ, học tập tri thức các loại, không ngừng tham gia các loại huấn luyện, vì sao vậy? Chính là muốn tìm được một nơi an thân lập mệnh cho tự mình. Thế thì, đã lâu như vậy rồi, bạn đã tìm được hay chưa? Và bạn muốn đi tìm kiếm ở nơi nào đây?

Tu hành thật sự, bắt đầu từ ngay thời khắc bạn gặp được chân tâm của mình. (Ảnh: pixabay.com)


Trong Phật giáo có một bài kệ:

佛在靈山莫遠求,
靈山只在汝心頭.
人人有個靈山塔,
好向靈山塔下修.

“Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu
Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu
Nhân nhân hữu cá Linh Sơn tháp
Hảo hướng Linh Sơn tháp hạ tu”.

(Tạm dịch: Phật tại Linh Sơn, khỏi tìm đâu. Linh Sơn ở ngay trong tâm bạn. Ai ai cũng có Linh Sơn tháp. Hãy hướng Linh Sơn tháp mà tu).

Bài kệ này là nói: Mọi đạo tràng đều không phải ở nơi nào khác, giác ngộ không phải ở nơi nào khác, Phật cũng không phải ở nơi nào khác. Hòa bình yên vui, giải thoát và tự tại cũng không ở nơi nào khác trên thế giới này. Hết thảy mọi hạnh phúc, vui vẻ, an toàn, bình yên, tĩnh lặng mà bạn theo đuổi, đều không thể có được từ bất kỳ ai hay bất cứ nơi đâu. Mọi sự tình đều phải dựa vào bản thân mình, bạn chỉ có thể tìm được từ bên trong mình.


Bởi thế giới giác ngộ đó chính là ở trong tâm của bạn

Sinh mệnh của mỗi người chúng ta đều giống như Linh Sơn, giống như tháp Phật, giống như thế giới Tịnh Độ của Phật, cũng chính là một đạo tràng của Phật vậy, mà bản thân đạo tràng ấy chính là nơi tu hành. Hết thảy mọi thành tựu của bạn đều phải có được từ nơi này, có được ngay từ trong sinh mệnh hiện tại, từ trong thân thể hiện nay của bạn, từ trong phiền não hiện tại của bạn.

Đạo tràng ở đâu đây? Đạo tràng chính ở trong một tâm niệm ngay chính vào thời khắc này của bạn, bao gồm hết thảy phiền não chướng ngại và mọi năng lực trí huệ của bạn.

Bạn không cần phải tìm kiếm đạo tràng ở nơi đâu. Bạn là đến từ trong đạo tràng của sinh mệnh, vậy cớ chi vẫn mãi luôn dùng đạo tràng vốn có này để tìm kiếm một đạo tràng khác bên ngoài chứ? Nhìn từ tâm giác ngộ thì đâu đâu cũng đều là đạo tràng cả.

Đạo tràng thật sự, sinh ra từ một trái tim thành thật hết sức toàn vẹn này. Khi mỗi một thời khắc, cái tâm của bạn hoàn toàn đều ở trong trạng thái của Đạo, khi tương hợp với mọi chân tướng của sự vật; thuận theo nhân duyên, chứ không phải hãm sâu vào trong các loại trạng thái phiền não, sợ hãi, tranh đấu, bất an, thị phi… Thế thì khi đó, tâm của bạn chính là đạo tràng rồi. Còn khi rời khỏi cái tâm hành đạo này, bạn còn có thể tìm được đạo tràng ở đâu đây?

Nếu như bạn xa rời “tỉnh giác”, bôn ba khắp nơi tìm kiếm đạo tràng, chính là như “rời bỏ tỉnh giác, hòa mình vào chốn bụi trần”. Giác ngộ chính là một niệm trong lòng này. Chúng ta sở dĩ là phàm phu, sở dĩ có các loại vấn đề, chính là bởi chúng ta nhìn không thấy nó hoặc không chịu đi nhìn nó, mà muốn tìm kiếm giác ngộ ở bên ngoài. Bên ngoài là gì đây? Bên ngoài chính là “bụi trần”, chúng ta luôn muốn tìm kiếm giác ngộ từ trong bụi trần, muốn tìm kiếm giác ngộ từ trong hoàn cảnh bên ngoài, muốn tìm kiếm sự giác ngộ từ chỗ của người khác, hoặc muốn tìm kiếm giác ngộ từ nơi Phật Đà, Bồ Tát hoặc những bậc trí giả.

Bạn dùng cái tâm như vậy mà tìm kiếm đạo, tìm kiếm giác ngộ, như thế sẽ không bao giờ tìm được. Mỗi ngày khi học tập từ rất nhiều nơi, đi khắp nơi tìm kiếm, bạn đã bỏ qua đạo tràng quan trọng nhất kia, chính là bản tính thuần chân tràn đầy giác ngộ kia. Đó chính là đạo tràng chân thật nhất, không có bất cứ sự hư giả nào cả.

Vì sao nó không có hư giả đây? Bởi ngoài hết thảy những thứ cái tâm này triển hiện ra, bạn còn có thể tìm được một chân tướng khác nữa hay không? Bạn có thể tìm thấy, và đem bất cứ sự thật nào của quá khứ bày ra trước mặt bạn hay không? Bạn có thể phơi bày tương lai cho hiện tại hay không? Lúc này, toàn bộ những gì bạn nhận biết được đều hiện ra trước mặt bạn thật chi tiết, chân tâm ánh hiện ra toàn bộ thế giới. Không kể là núi sông mặt đất, hay là hết thảy sinh mệnh, đều hoàn toàn hiển hiện ra trong mỗi một thời khắc chân tâm hiển lộ đó. Nó hiển hiện thành như thế nào thì chính là như thế đó. Vậy nên, tâm của thời khắc này là chân tâm không chút hư giả, là chân tâm tròn đầy, là giác ngộ đầy đủ.

Chúng ta cả đời đi tìm hạnh phúc, sự bình yên… Tìm mãi ở trong danh lợi tình, ở trong cảm xúc được mất thế gian… Chúng ta càng tìm càng không hạnh phúc, càng bất an hơn. (Ảnh: tidal.com)

Vậy nên, đạo tràng không ở nơi nào khác, mà chính ở ngay thời khắc này, chính ở ngay nơi này, chính ở tại tâm này

Bởi vì có tâm như vậy, mới có thể có hành vi và hành động, vậy nên tâm có thể phát sinh hành động. Bạn có để ý đến hay không, cái tâm này mỗi một thời khắc đều không dừng lại được? Hết thảy mọi kiểu cách, hành vi, thể nghiệm, sáng tạo đều diễn ra vào lúc nào đây? Những điều bạn nói bạn nghĩ, gồm cả tham sân si, gồm cả Giới Định Huệ, bao gồm hết thảy mọi chuyện tốt hay chuyện xấu, đều đang diễn ra vào những lúc nào? Chỉ có vào thời khắc này, vào lúc bạn hành động, chứ không phải là vào lúc nào khác. Vậy nên, thời khắc khi mà bạn hành động này chính là đạo tràng.

Thời khắc chúng ta gặp được nhau này, phải chăng là một đạo hạnh công phu tu luyện? Đây chính là một đạo tràng. Những lúc chúng ta trò chuyện, ở cùng người khác, thậm chí những lúc chúng ta ăn cơm, những lúc chúng ta ngủ, thì đều là đạo tràng cả; thậm chí ngay cả lúc tức giận, cũng là như thế.

Có người thường nghĩ, nói tôi vào trong chùa thì có thể tu Đạo rồi, không vào trong chùa thì không tu Đạo được. Thế bạn tu Đạo ở nơi nào trong chùa đây? Dù là thân đang ở trong chùa, thì bạn sẽ tu Đạo ở nơi nào đây? Tu Đạo trong mỗi một hành vi mỗi một ý niệm. Nếu bạn khởi tâm động niệm ở đây, hành vi tạo tác ở đây, không dung hòa với Đạo, thế thì bạn ở đâu trở nên viên dung được đây? Là ngôi chùa khiến bạn đồng hóa được với Đạo chăng? Là tượng Phật khiến giúp bạn trở nên viên dung với Đạo hơn chăng?

Có người nói tôi có tiền rồi sẽ tu Đạo, tôi có thời gian rồi sẽ tu Đạo, tôi gặp được người thầy tốt rồi sẽ tu Đạo. Nếu thế thì bạn gần như không có cơ hội tu Đạo được, đây chẳng qua chỉ là lý cớ bạn không muốn tương hợp với đạo tràng trong bạn mà thôi. Dù bạn đã có người thầy tốt rồi, thì cũng không nhất định là Phật, còn như bạn muốn tìm Phật, thì Phật lại không thể triển hiện nơi thế gian, còn Đức Phật Thích Ca thì đã viên tịch hơn hai nghìn năm rồi, bạn không thể nào gặp được. Vậy nên, bạn luôn cũng sẽ không bao giờ có cơ hội gặp được Phật, mãi mãi cũng sẽ không đồng hóa được với Đạo.

Vậy nên, tu hành thật sự, chính là bắt đầu từ cái thời khắc bạn gặp được chân ngã nội tại thật sự của mình, bắt đầu từ chân tâm giác ngộ ấy. Mỗi một thời khắc, mỗi một hành vi, mỗi một ý niệm của bạn, khi đều ở cùng với chân tâm của bạn, thì bạn chính là đạo tràng rồi. Khi lấy tâm thanh tịnh đi thực hành hết thảy các Pháp, hết thảy các Pháp đều sẽ thanh tịnh, bạn có thể tạo nên một thế giới hoàn toàn thanh tịnh.

Đạo tràng không ở nơi nào khác, mà chính ở ngay thời khắc này, chính ở ngay nơi này, chính ở tại tâm này – điều mà bạn hoàn toàn có thể nắm giữ được. (Ảnh: pickpik.com)

Cái tâm không ngừng tìm tòi, nghiên cứu thâm sâu, duy trì thường hằng liên tục không gián đoạn ấy chính là đạo tràng. Không phải tôi giờ phút này đang ở trong giác ngộ, giờ phút kia thì không còn ở trong giác ngộ nữa; nếu bạn nhìn sâu vào trong tâm mình, thì có thể phát hiện: giác ngộ vẫn đang luôn ở đó! Nhưng thời khắc đó, chúng ta không tự giác lại hãm mình vào trong phiền não, thị phi giữa người và ta, bởi vậy công đức của chúng ta ngay lúc đó gần như đã tan biến hết.

Vậy nên, tu hành là chuyện của mỗi thời khắc, giác ngộ cũng là chuyện của mỗi một thời khắc. Chỉ khi ta mỗi thời mỗi khắc đều ở trong đạo tràng giác ngộ, công đức của chúng ta mới có thể tăng thêm, trí huệ mới có thể tăng trưởng không ngừng. Đây không phải là lý luận. Mỗi một thời khắc quay trở về với sự giác ngộ bên trong bạn, đó mới là đạo tràng thật sự của bạn.

Theo wise99.com
Thuận An biên dịch / ĐKN

Monday, September 14, 2026

HỌC VÀ SUY NGHĨ

Đức Khổng Tử nói: “Có lần tôi không ăn trong một ngày và không ngủ suốt một đêm để suy nghĩ. Nhưng tôi không được lợi lộc gì. Nó không tốt như là học”.

Đức Khổng Tử còn nói: “Nếu một người chỉ học và không suy nghĩ, người đó sẽ bị mù mờ. Và nếu một người chỉ suy nghĩ mà không học, người đó sẽ hoài nghi”.


Dưới đây là một vài câu chuyện lịch sử về Lục Cửu Uyên đặt những câu hỏi về vũ trụ. Lục Cửu Uyên là một triết gia và giáo dục đời nhà Tống. Trí thông minh của ông rất khác với những người thường. Khi ông ta mới 3, 4 tuổi, ông đã hỏi cha của ông: “Có phải Trời và Đất có biên giới không?” Cha của ông chỉ cười và không trả lời. Lục Cửu Uyên suy nghĩ mãi về câu hỏi và suy nghĩ nhiều đến nỗi ông ta quên ăn uống và ngủ. Sau này, khi đi học, ông ta rất khác với người thường.


Một ngày, ông ta đọc một quyển sách nói về vũ trụ: “Trời là đủ mọi phương hướng và Đất là tồn tại muôn đời”. Ông ta chợt hiểu và nói: “Tất cả vạn sự trên vũ trụ là bổn phận của chúng ta và bổn phận của chúng ta là vạn sự trong vũ trụ”. Chúng ta có thể thấy rằng Lục Cửu Uyên xem rằng tất cả mọi sự trong vũ trụ là bổn phận của chúng ta. Nhưng có rất nhiều người không dùng hết khả năng để làm tròn bổn phận của họ.


Một số người có tài trí rất cao nhưng chỉ khoe khoang và nghĩ rằng người khác không bằng họ. Thật ra, tài trí của những người này rất nông cạn và hạn hẹp. Họ không có những suy nghĩ to tát và mở mang như Lục Cửu Uyên.

(Sưu tầm trên mạng)

TÌM HIỂU NGAY HIỆN TƯỢNG LẠ CHỈ XUẤT HIỆN Ở MỘT VÀI LOẠI QUẢ

Hiện tượng đột biến này hóa ra đã từng xuất hiện ở không ít loại thực vật. Bạn chưa tin ư, cứ xem những bức ảnh dưới đây là rõ ngay!


Thế giới đúng là không thiếu những điều dị thường khiến người ta phải bất ngờ. Bất kể động vật hay thực vật, luôn có những cá thể phải đi ngược với số đông thì mới chịu được.

Điển hình, hạt bình thường chỉ có thể nảy mầm khi đã được tách riêng khỏi thân cây mẹ. Thế nhưng, lại có những trường hợp không thể chờ đợi nổi mà bắt đầu mọc mầm luôn thế này đây.

Có những trường hợp hạt không thể chờ đợi nổi mà bắt đầu mọc mầm luôn thế này đây.

Hiện tượng này được khoa học nhận định là một dạng đột biến gene của thực vật và chỉ xảy ra trong điều kiện nhất định.

Tuy nhiên, với một số loại cây đặc biệt như cây đước - giống cây có rễ dài mọc dưới nước, việc hạt nảy mầm ngay trên thân mẹ lại là đặc điểm thường xuyên xảy ra và hoàn toàn không có gì lạ lẫm.

Với một số loại cây đặc biệt, việc hạt nảy mầm ngay trên thân mẹ lại là đặc điểm thường xuyên xảy ra.

Vậy nhưng, với phần lớn các loại thực vật còn lại, đây đích thị là một hiện tượng bất thường. Đặc biệt, nếu nó xảy ra với các loại cây trồng thu hoạch thì sẽ là một tin không vui cho lắm.

Bởi đơn giản, khi hạt bị đột biến thì người ta không thể sử dụng chúng cho mục đích gieo trồng hay chế biến thực phẩm sau này nữa.

Khi hạt bị đột biến thì người ta không thể sử dụng chúng cho mục đích gieo trồng hay chế biến sau này nữa.

Thế đâu mới là nguyên nhân thực sự khiến các loại cây, quả trở nên "dị" như vậy? Theo các nghiên cứu, nhiều loài thực vật gặp hiện tượng này là do tính chất sẵn có trong gene, tuy nhiên lý do phổ biến hơn thường là vì thay đổi trong nhiệt độ và độ ẩm xung quanh.

Một ví dụ rõ ràng nhất cho lý giải này chính là bắp ngô với nhiệt độ nảy mầm tối thiểu 10°C.

Thông thường, lớp vỏ ngoài sẽ tránh cho nước lọt vào bên trong - yếu tố khiến ngô dễ mọc mầm nhất.

Tuy nhiên, trong trường hợp mưa quá nặng hạt hay sương quá dày, nước vẫn sẽ đọng lại ở hạt ngô gây ẩm môi trường xung quanh. Và chỉ chờ có thế, khi nhiệt độ vượt qua ngưỡng 10°C, hiện tượng đột biến trên lập tức xảy ra!

Hiện tượng kì lạ này hay bị nhầm lẫn với việc mọc mầm thông thường bên trong một số loại quả như mít hay bơ, tuy nhiên chúng hoàn toàn khác nhau nhé! Mầm xuất hiện trong trường hợp này đơn giản là do quả đã chín quá mà thôi.

Mầm xuất hiện trong trường hợp này đơn giản là do quả đã chín quá mà thôi.

Vậy câu hỏi đặt ra là: Những "kẻ đột biến" như vậy có an toàn để ăn không? Đa số các loại quả như quả dâu phía trên vẫn thuộc nhóm "ăn được", nhưng theo các chuyên gia thì khi đó chúng sẽ không còn giữ được vị ngon như bình thường nữa.

Nói cho cùng, với vẻ ngoài kém hấp dẫn như vậy thì có lẽ những loại quả mọc mầm này cũng sẽ khiến người ta suy nghĩ lại về việc thưởng thức chúng mà thôi. Chưa rõ có độc hay không nhưng tốt nhất là "cẩn thận vẫn hơn", phải không?

Theo: Trí Thức Trẻ

NHÂN SINH CẢNH NGỘ: CHÍNH TRỰC - NGỌN ĐÈN TRONG BÓNG TỐI

Con người ta, sống cả đời, rốt cuộc để lại được gì? Có phải là nhà cao cửa rộng, danh vọng lẫy lừng hay tiền bạc đong đầy? Không. Thứ còn lại mãi, khắc sâu vào lòng người, chính là nhân cách. Và trong nhân cách ấy, chính trực là cái gốc rễ, cái cốt lõi làm nên giá trị của một đời người.


Chính trực không hào nhoáng, không phô trương. Nó như ngọn đèn nhỏ, sáng trong lặng lẽ giữa bóng tối. Người chính trực không cần nói nhiều, không cần biện minh. Họ chỉ sống, và cách họ sống tự khắc là minh chứng.

Khi chính trực bị đặt vào thử thách

Đời không thiếu những lúc khiến ta phải chọn: hoặc giữ mình, hoặc đánh đổi để đạt điều mình muốn. Đứng trước lợi ích, người không chính trực cúi đầu, nhắm mắt bước qua. Còn người chính trực, dù đau, dù mất mát, vẫn chọn con đường đúng.

Người ta có thể gọi họ là dại, là ngu. Nhưng kẻ cúi đầu để đổi lấy lợi ích nhất thời, rồi sẽ sống thế nào khi đêm xuống, đối diện với chính mình? Họ có thể giàu có, quyền lực, nhưng sâu thẳm, họ luôn bất an, vì biết rõ giá trị của mình đã bị bào mòn, từng chút một.

Còn người chính trực? Họ không giàu, có khi mất cả những gì đáng quý. Nhưng trong lòng họ, không một gợn sóng. Họ tự hào vì đã sống đúng với lương tâm, vì không cần che giấu hay bịa đặt điều gì để làm đẹp lòng ai.

Ảnh vạn điều hay

Chính trực chưa hẳn là hoàn hảo

Đừng lầm tưởng chính trực là không bao giờ sai lầm. Người chính trực cũng sai, cũng thất bại. Nhưng khác biệt ở chỗ, họ dám nhận sai, dám đứng lên sửa chữa. Họ không chối bỏ, không đổ lỗi.

Chính trực là nhìn thẳng vào cái sai của mình, không trốn tránh, không sợ hãi. Đó là sự can đảm, sự tử tế của người không để cái tôi lớn hơn lương tâm của chính mình.

Có lần, tôi gặp một người bán hàng rong. Bà cụ già, dáng gầy guộc, cặm cụi bên rổ bánh. Tôi mua một túi, đưa tờ tiền lớn, bà lục đục tìm trả lại. Đếm đi đếm lại, bà trả thiếu một ít. Thấy tôi không để ý, bà dừng tay, đôi mắt thoáng ngập ngừng, rồi rút từ túi mình vài đồng bạc lẻ thêm vào.

Một hành động nhỏ thôi, nhưng tôi nhớ mãi. Đó chính là chính trực – không để lòng tham, dù là nhỏ nhất, làm mờ đi giá trị của mình.

Rồi một lần khác, tôi biết một người bạn, từng đứng trước cơ hội thăng chức. Anh chỉ cần ký vào một báo cáo không đúng sự thật, là mọi thứ sẽ dễ dàng. Nhưng anh từ chối. Người khác cười anh, bảo: “Có ai biết đâu mà sợ.” Anh chỉ đáp: “Tôi biết. Thế là đủ.”

Lời nói của anh, nghe qua giản dị, nhưng thấm sâu vào lòng tôi. Chính trực không cần chứng minh, bởi chỉ cần chính mình biết, đã là quá đủ.

Chính trực không thể đo đếm bằng giá trị

Có những thứ không bao giờ có giá, và chính trực là một trong số đó. Khi ta bán rẻ sự chính trực, nghĩa là ta đang tự hạ thấp giá trị của mình. Một khi đã đánh mất, rất khó để lấy lại, bởi lòng tin của người khác không thể mua được, và sự thanh thản trong tâm cũng chẳng có gì thay thế nổi.

Người chính trực sống cuộc đời đơn giản, nhưng trong ánh mắt họ, luôn sáng lên sự bình yên. Họ không phải lo sợ ai đó sẽ vạch trần, không cần sống hai mặt để làm vừa lòng bất kỳ ai.

Chính trực cũng có thể được xem là gốc rễ của nhân cách

Người ta có thể giỏi giang, có thể tài năng, nhưng nếu không chính trực, tất cả chỉ như lâu đài xây trên cát, đẹp đấy nhưng dễ dàng đổ vỡ. Chính trực là nền móng, là cái gốc làm nên một con người đáng kính trọng.

Khi chính trực, ta không chỉ sống cho riêng mình, mà còn lan tỏa giá trị ấy đến những người xung quanh. Ta dạy con cái mình sống thật, không gian dối. Ta khiến người khác tôn trọng, không phải vì ta giàu có, mà vì ta đáng tin.

Sống chính trực không dễ. Nó có thể khiến ta mất mát, đôi khi khiến ta lạc lõng giữa đời. Nhưng hãy nhớ rằng: người chính trực, dù đi một mình, vẫn ngẩng cao đầu. Còn kẻ không chính trực, dù đứng giữa đám đông, cũng chỉ là cái bóng của chính mình.

Chính trực là một con đường không rực rỡ, nhưng bền vững. Đi trên con đường ấy, ta không chỉ để lại dấu chân, mà còn để lại lòng kính trọng trong trái tim người khác.

Sống, rốt cuộc, không phải để có thật nhiều, mà để khi nhắm mắt, ta biết rằng: mình đã sống một đời không hổ thẹn.

Nguyên Tác An Hậu / Theo: vandieuhay

Sunday, September 13, 2026

CON NGƯỜI BẮT ĐẦU NẤU ĂN TỪ KHI NÀO?

Từ khi nào con người biết dùng lửa để nướng chín thức ăn? Các nhà khảo cổ học và sinh vật học đã tìm ra câu trả lời cho bí ẩn này.

Dấu vết của những đống lửa do con người đốt lên và xương động vật cháy có thể làm sáng tỏ câu hỏi về thời điểm con người biết nấu chín thức ăn (Ảnh: gorodenkoff/ Getty Images).

Nấu chín thức ăn là việc làm rất quan trọng. Một số nhà nghiên cứu cho rằng việc này đã giúp tổ tiên loài người hấp thụ được nhiều năng lượng và dưỡng chất hơn, giúp bộ não phát triển hơn.

Chính xác vào thời gian nào thì không ai biết, nhưng bằng chứng chỉ ra con người đã nấu ăn chắc chắn ít nhất từ cách đây 50.000 năm và có thể là cách đây 2 triệu năm. Các bằng chứng được tìm thấy trong lĩnh vực khảo cổ và sinh học.

Một trong những bằng chứng khảo cổ của việc nấu ăn là hạt tinh bột đã nấu chín được tìm thấy trong cao răng của những mẫu vật răng người 50.000 năm trước, còn trước đó nữa con người đã biết làm chín thức ăn hay chưa thì bằng chứng chưa rõ ràng.

Nhìn chung, các nhà khoa học thường tìm kiếm bằng chứng của việc con người biết kiểm soát lửa, nhưng bằng chứng này không nhất thiết là bằng chứng duy nhất của việc nấu nướng, chẳng hạn như con người có thể đã đốt lửa để sưởi ấm hoặc tạo ra các công cụ cần thiết.

Giáo sư Bethan Linscott ở Trường đại học Oxford, Anh, chuyên gia địa hóa học khảo cổ, cho biết có rất nhiều bằng chứng của lửa cháy trong các di tích khảo cổ, nhưng vấn đề là cần làm rõ được lửa đó là do con người cố tình đốt hay do cháy rừng.

Điều hoàn toàn có thể xảy ra là có một đám cháy rừng và người vượn nhặt một cành cây đang cháy âm ỉ, tận dụng nó để đốt lửa nấu nướng hoặc chế tác dụng cụ. Một trong những điều cốt lõi khi tìm kiếm bằng chứng của việc biết kiểm soát lửa là một cấu trúc cháy nhân tạo.


Vì thế, những hòn đá xếp thành vòng tròn và có ít tro ở giữa có thể là sỏi thực vật, hay các cấu trúc silic hình thành từ thực vật chết đã lâu, cùng với các đồ dùng, dụng cụ bị cháy.

Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy những dụng cụ này ở nhiều nơi sinh sống của loài người đứng thẳng, có nghĩa là loài người trước đó đã từng dùng lửa.

Một nhóm nghiên cứu đã tìm thấy trong hang Qesem ở Israel bằng chứng của một lò sưởi 300.000 năm tuổi ở gần những đống xương của động vật bị giết làm thịt, và trong hang động ở Suffolk, Anh, một lò sưởi 400.000 năm tuổi chứa xương cháy và đá lửa.

Ngược thời gian xa hơn nữa, tro than trong hang Wonderwerk ở Nam Phi cũng có thể là bằng chứng của việc nấu nướng từ cách đây một triệu năm. Hang này nằm sâu tận 30 mét nên lửa cháy ở đây khó có thể là ngọn lửa của một quá trình tự nhiên, mà khả năng lớn là do người tiền sử đã biết nhóm lửa.

Bằng chứng tương tự với 1,6 triệu năm tuổi cũng xuất hiện ở Kenya.

Ở địa điểm khảo cổ tại Gesher Benot Ya'aqov, Israel, các nhà nghiên cứu còn tìm thấy các vòng tròn xếp bằng đá rất giống với bếp lửa cùng với nhiều xương cá có dấu hiệu được làm chín bằng nhiệt. Những tàn tích này được xác định niên đại 780.000 năm.

Bên cạnh các bằng chứng khảo cổ, bằng chứng sinh học cho thấy thời điểm con người ăn thức ăn chín thông qua sự tiến hóa đột ngột trong cơ thể.

Loài người là một loài động vật khác với tất cả các loài khác trên Trái Đất ở chỗ cơ thể chúng ta thích nghi với việc ăn thức ăn chín. Ví dụ trong một nghiên cứu về những người ăn thức ăn sống, các nhà nghiên cứu nhận thấy những người này có xu hướng giảm cân và 1/3 số phụ nữ tham gia nghiên cứu ngừng có kinh nguyệt.

Vậy câu hỏi đặt ra là khi nào thì con người bắt đầu biết dùng lửa? Câu trả lời là có lẽ cả trước khi loài người hiện đại xuất hiện. Người đứng thẳng là loài người đầu tiên có ít đặc điểm giống linh trưởng hơn và nhiều đặc điểm giống người hiện đại hơn. Một số đặc điểm này cho thấy có thể người đứng thẳng là loài người đầu tiên biết nấu chín thức ăn.

Một điểm khác biệt cơ bản giữa loài người và các loài linh trưởng họ hàng là kích cỡ của ruột. Vì thức ăn nấu chín cần ít hoạt động tiêu hóa hơn nên ruột của chúng ta nhỏ hơn ruột các loài linh trưởng họ hàng, đồng thời dạ dày của chúng ta cũng nhỏ hơn nên bụng chúng ta cũng phẳng hơn chứ không phình ra, nhất là sau khi ăn, như những loài kia.

Để chứa đựng được bộ lòng to, các loài linh trưởng không phải là người có khung chậu rộng và các xương sườn khung to và nở rộng. Tổ tiên loài người chúng ta đã mất đi những đặc điểm này từ cách đây 2 triệu năm.

Một đặc điểm sinh học khác là bộ hàm nhai trong quá trình tiến hóa loài người. Bộ hàm của người không lớn như của các loài linh trưởng khác. Điều này cũng khớp với nhận định là đột nhiên có một thay đổi nào đó xảy ra với chế độ ăn uống, mà cụ thể là thức ăn trở nên dễ nhai hơn vì mềm hơn.


Điều này xảy ra cách đây khoảng 1,8 triệu năm, cũng khá khớp so với thời điểm của bộ khung xương tiến hóa.

Như vậy, tổng hợp lại câu chuyện ở đây là việc nấu chín thức ăn bắt đầu diễn ra khoảng 1,9 triệu năm trước ở những loài giống với chúng ta nhất trong quá trình tiến hóa, tức là loài người đứng thẳng.

Các nhà khoa học cho rằng chính việc ăn thức ăn chín và biết đốt lửa là nguyên nhân tiến hóa vượt bậc của loài người đứng thẳng.

Nhưng nếu không có bằng chứng của việc biết kiểm soát, tức là biết tự đốt lửa chứ không chỉ tận dụng lửa của các đám cháy rừng, từ lâu như vậy thì nhận định rằng người đứng thẳng là loài người đầu tiên biết nấu ăn vẫn là một chủ đề gây tranh cãi.

Giáo sư Linscott nói rằng: "Các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục tìm hiểu vấn đề này và tôi cho rằng họ sẽ vẫn tiếp tục tìm hiểu rất lâu nữa, và tôi không biết liệu rồi họ có thể xác định được chính xác thời điểm nào hay không".

Theo: livescience

NHÀ THỜ THÁNH TÂM - CÔNG TRÌNH ĐÁ CẨM THẠCH ĐỘC ĐÁO

Thánh Tâm là một trong bốn nhà thờ trên thế giới được xây dựng hoàn toàn bằng đá cẩm thạch, cũng là nhà thờ cổ nhất Quảng Châu.


Đôi nét về nhà thờ Thánh Tâm

Nhà thờ Thánh Tâm tên tiếng Anh là Sacred Heart Cathedral. Nhà thờ Thánh Tâm Chúa Giêsu và Nhà Thờ bằng đá tại Quảng Châu là 2 Nhà thờ Công giáo mang kiến trúc phục hưng Gothic tại Quảng Châu, Trung Quốc. Đây cũng là nơi ở của Tổng giám mục Quảng Châu. Nhà thờ chính tòa tọa lạc tại 56 Yide Road, phía bắc bờ sông Pearl ở trung tâm thành phố cổ.

Toàn cảnh nhà thờ Thánh Tâm Quảng Châu

Đây là một trong bốn nhà thờ trên thế giới được xây dựng hoàn toàn bằng đá cẩm thạch, bao gồm tất cả các bức tường, trụ và tháp (ba bức khác là Giáo đường Notre Dame de Paris, Nhà thờ Collegiate St Peter ở Westminster và Nhà thờ Hohe Domkirche Peter và Maria). Chính điều này tạo nên điểm đặc biệt, hấp dẫn du khách khi ghé thăm điểm đến Quảng Châu cổ kính này.

Lịch sử hình thành nhà thờ Thánh Tâm

Địa điểm của nhà thờ chính là nơi trú ngụ của Viceroy Quảng Đông và các tỉnh Quảng Tây trong triều nhà Thanh. Trong Chiến tranh thuốc phiện thứ hai, nơi cư trú đã bị phá hủy hoàn toàn và Viceroy Ye Mingchen bị người Anh bắt. Dựa trên các điều khoản của một sắc lệnh của hoàng đế do Hoàng đế Daoguang ban hành vào tháng 2 năm 1846, hứa hẹn đền bù cho các nhà thờ bị phá hủy và các tài sản bị biến mất, Société des Missions Etrangères de Paris đã giành lại được địa điểm này bằng cách ký một thỏa thuận với triều nhà Thanh ngày 25 tháng giêng, năm 1861.

Phía trong khu thánh đường cổ kính của nhà thờ Thánh Tâm

Trong văn bản phê chuẩn của ông, Hoàng đế Xianfeng đã viết: "Từ bây giờ, chiến tranh phải được chấm dứt và hòa bình được giữ mãi mãi mãi". Với sự tài trợ của Napoleon III và sự đóng góp của những người Công giáo Pháp, giám mục Philippe François Zéphirin Guillemin, M.E.P, vị tông đồ đầu tiên của Quảng Đông, phụ trách dự án xây dựng.

Một kiến ​​trúc sư Pháp từ Nancy, Léon Vautrin, được yêu cầu thiết kế nhà thờ, phối hợp với Charles Hyacinthe Humbert, cũng từ Nancy, và Antoine Hermitte từ Paris, những người cùng nhau làm kiến ​​trúc sư điều hành.

Đức cha Guillemin đã không chứng kiến ​​việc hoàn thành nhà thờ, khi ông qua đời ở tuổi 72 tại Paris vào năm 1886, hai năm trước khi nhà thờ hoàn thiện. Việc xây dựng sau đó được giám sát bởi người kế nhiệm, giám mục Augustin Chausse, M.E.P

Nhà thờ Thánh Tâm được xây dựng hoàn toàn bằng đá cẩm thạch

Việc xây dựng nền móng bắt đầu vào ngày 28 tháng 6 năm 1861, Lễ Thánh Tâm, và kết thúc năm 1863. Vào ngày 8 tháng 12, Lễ Vô Nhiễm Nguyên Tội, với những tòa nhà và đường phố xung quanh Trung Quốc được trang trí, một buổi lễ lớn được tổ chức, Viceroy của Liangguang, một đội quân 300 lính Manchu, tất cả các lãnh sự tại Canton cũng như các nhà truyền giáo và một số linh mục. Vị giám trợ và lãnh sự Pháp, Baron Gilbert de Trenqualye, phát biểu. Hai viên đá tảng được ban phước và đặt tại nhà thờ này.

Dòng chữ "Jerusalem 1863" được khắc ở phía đông và "Roma 1863" ở phía tây, liên quan đến nguồn gốc của Giáo hội Công giáo ở Jerusalem ở phía đông và sự tiến hóa ở Rôma phía tây. Một kilôgam đất lấy từ Rôma và một viên đá từ Jerusalem được đặt dưới những tảng đá tương ứng.

Việc xây dựng nhà thờ gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là vì cấu trúc hoàn toàn bằng đá cẩm thạch và sự thiếu thốn máy móc, nghĩa là nhà thờ được xây dựng thô sơ, hoàn toàn bằng sức người.

Nhũng người xây dựng tại Trung Quốc cũng là lẫm với kết cấu kiến trúc này, dó đó họ không có kinh nghiệm trong việc xây dựng nhà thờ này. Rào cản ngôn ngữ cũng là một vấn đề hết sức bất cập, khi người Pháp không thể truyền đạt lại lời nói cho người Trung, tiến độ xây dựng của tòa nhà cũng chững lại vì lý do này.

Mặt tiền bằng đá cẩm thạch mang cấu trúc Gothic

Cuối cùng, người Pháp đã thuê một người Hoa tên Cai Xiao từ quận Jiexi làm người quản lý. Cai đã có nhiều năm kinh nghiệm trong việc xây dựng những ngôi nhà bằng đá ở quê nhà, cho phép ông mang áp dụng rất nhiều phương pháp độc đáo và sáng tạo. Và ông ta hầu như không rời khu vực này kể từ khi làm việc. Việc xây dựng nhà thờ lớn này được xem là công trình lớn và duy nhất trong cuộc đời ông. Nhà thờ được xây dựng vào thời điểm mà hầu hết người Quảng Đông địa phương bị ảnh hưởng bởi chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất và thứ hai, hầu hết vẫn còn ngoại đạo.

Căng thẳng giữa hai bên luôn tồn tại, mâu thuẫn và tranh chấp thường do vị giám mục hoặc lãnh sự Pháp giải quyết trực tiếp với các quan chức cao cấp trong tỉnh hoặc Bắc Kinh.

Vào ngày 11 tháng 8 năm 1880, một vụ hỏa hoạn nổ ra với ngôi nhà ngay bên ngoài hàng rào của nhà thờ. Người dân địa phương đã cố gắng lấy nước từ giếng nằm trong khu vực công trình xây dựng của nhà thờ, nhưng họ đã bị công nhân bên trong từ chối. Cuộc tranh cãi trở thành cuộc chiến và một số người bị thương trong cuộc đàn áp sau đó của chính phủ nhà Thanh.

Phần lễ đường cực kỳ cổ kính và cổ điển của Thánh Tâm

Cuối cùng tranh chấp đã được giải quyết khi ban quản lý nhà thờ đền bù cho những ngôi nhà bị hư hỏng và tài sản bị đánh cắp do hỗn loạn.

Do địa điểm được nhà thờ lựa chọn, việc xây dựng nhà thờ cũng như trường học, bệnh viện và trại mồ côi đòi hỏi phải phá dỡ nhiều ngôi nhà và di dời cư dân địa phương. Trong khi đó, vào thế kỷ 19, hầu hết các ngôi nhà ở Canton đều cao hơn 2 tầng nên ngôi nhà cao tầng và những ngọn tháp đôi nhọn của nó tạo ra một khung cảnh bất thường giữa đường chân trời của thành phố mà người dân địa phương sợ sẽ ảnh hưởng đến phong thủy của thành phố, mang lại những bất hạnh và thảm hoạ cho người dân. Điều này dẫn đến sự nghi ngờ và oán giận đối với nhà thờ.

Nhà thờ chính tòa hầu hết được tài trợ bởi Napoleon III. Khi giám mục Guillemin gặp ông ở Paris vào năm 1858, hoàng đế, được hối thúc bởi vợ Eugénie, đã đề nghị khoản trợ cấp cá nhân là 500.000 franc. Nhà thờ được hoàn thành vào năm 1888 sau 25 năm xây dựng.

Câu trúc xây dựng nhà thờ Đồng Tâm

Mặt tiền của nhà thờ được mô phỏng dựa trên công trình Basilica of St. Clotilde ở Paris. Gian giữa và phòng ngự của nó được lấy cảm hứng từ nhà thờ Toul. Nhà thờ chính tòa có một gian nhà cao 28,2m, bao quanh bởi hai lối đi phía dưới và 14 nhà nguyện nhỏ. Với diện tích sàn là 2.924 mét vuông, đó là nhà thờ Công giáo La Mã lớn nhất trong tổng giáo phận Quảng Châu và nhà thờ lớn nhất theo phong cách Gothic ở Trung Quốc và Đông Nam Á. Nhà thờ có chiều rộng 32,85 m, dài 77,17 mét và tòa tháp đôi cao 52,76 m.


Tháp phía tây là tháp đồng hồ, còn tháp phía đông làm tháp chuông, bên trong có năm chiếc chuông bằng đồng lớn được vận chuyển từ Pháp vào thế kỷ 19, mặc dù ngày nay chỉ có 4 chiếc, chiếc còn lại được mang tặng một nhà thờ địa phương Tỉnh Quảng Tây vào đầu những năm 1980.

Nhà thờ, giống như hầu hết các nhà thờ Gothic lớn của châu Âu, được xây dựng bằng nấm mốc rắn. Đây là một trong số ít các nhà thờ trên thế giới được xây dựng hoàn toàn bằng granit, bao gồm tất cả các bức tường, trụ và tháp đôi. Các hòn đá được vận chuyển từ Kowloon, Hong Kong bằng thuyền buồm.

Kể từ khi hoàn thành vào năm 1888, nhà thờ đã trải qua ba lần sửa chữa lớn. Lần đầu tiên là vào những năm 1920 và 1930, khi đó Giám mục Antoine-Pierre-Jean Fourquet thay thế mái bằng gỗ, dầm và cầu thang thép bằng bê tông. Lần sửa chữa thứ hai diễn ra sau Cách mạng Văn hoá vào những năm 1980. Gần đây từ năm 2004 đến năm 2006, cuộc sửa chữa lớn nhất toàn công trình.

Là một công trình độc đáo của Quảng Châu, du lịch Trung Quốc du khách đừng bỏ lỡ điểm đến này.

Theo dulichvietnam