Thursday, March 28, 2019

DI TÍCH PHẬT GIÁO ẨN TRONG LÒNG NÚI

Lúc trước tôi có giới thiệu cho các bạn vài di tích Phật giáo như "Long Môn Thạch Quật" (龍門石窟) hay "Di tích Đôn Hoàng" (敦煌) ở Trung Quốc, các di tích này đều ở trong hang động cho chúng ta thấy cái tài tình của các nghệ nhân điêu khắc ngày xưa để lại cho hậu thế những kỳ công hoành tráng. Hôm nay xem tiếp chương trình du lịch của Fahoka, khi vào phim thấy cảnh các hang động di tích trong phim, tôi cứ ngở anh chàng đang ở Ấn Độ rồi bay sang Trung Quốc quay clip này vì nó rất giống như hang động ở Đôn Hoàng nhưng đến khi anh giới thiệu mới biết di tích này ở Ấn Độ làm tôi ngỡ ngàng


Tôi rất ngạc nhiên vì đã xem nhiều clip video mà các chùa (ở Úc cũng như ở Việt Nam) làm video về những chuyến đi tham quan Phật tích ở Ấn Độ dường như chưa có ai giới thiệu về nơi này nên tới bây giờ tôi mới biết. Tôi sẽ post clip video của Fahoka dưới đây và bài giới thiệu về di tích này trong mạng của Đạo Phật Ngày Nay. (LKH)


CHÙA HANG AJANTA

Chùa hang Ajanta là một trong những di sản lớn nhất về đạo Phật còn lưu giữ được đến ngày nay. Từ một dải núi đá khổng lồ, người Ấn Độ cổ đại đã đục đẽo, chạm khắc tạo nên những công trình kiến trúc với tầm vóc kỳ vĩ cùng sự tỉ mỉ, tinh tế trong từng chi tiết. Đó là tổ hợp chùa hang Ajanta ở bang Maharasta.


Nằm ẩn sâu trong khu rừng rậm hoang vu của cao nguyên Deccan ở Ấn Độ. Trong suốt một thời gian dài hang động này đã bị lãng quên hoàn toàn. Năm 1819 một nhóm người Anh đã tình cờ phát hiện ra hệ thống hang động Ajanta. Có thể nói quần thể hang động Ajanta là di tích quý giá đại diện cho thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo tại Ấn Độ.


Tọa lạc ở lưng chừng núi, bên dưới hang động là dòng sông Waghora uốn khúc. Hang động Ajanta được bố trí theo dạng hình móng ngựa, khoét sâu vào bên trong vách núi đá thẳng đứng cao 76m. Di tích hang động Ajanta có tất cả 30 hang, bao gồm Thánh đường Phật giáo và các khu phụ cận. Các nhà khảo cổ đã đánh dấu các hang theo số thứ tự. Quần thể hang động Ajanta không được tạo dựng trong một thời kỳ liên tục nên các nhà nghiên cứu phân chia các hang động theo từng thời kỳ xây dựng. Cụm hang được tạo dựng vào giai đoạn đầu thế kỷ II trước Công nguyên gồm hang số 8,9,10,12,13,15 mang nhiều màu sắc của Phật giáo nguyên thủy.


Cụm hang sau được xây dựng vào thế kỷ V, mang màu sắc Phật giáo mới và một số hang vẫn đang dang dở chưa được hoàn tất. Mặc dù còn nhiều chỗ chưa hoàn thiện nhưng chùa hang vẫn là một trong những công trình lớn được tạo ra do bàn tay của con người. Một trong những điểm đặc biệt của quần thể hang động này chính là một số lượng khổng lồ những bức tượng điêu khắc về đạo Phật. Đây được coi là những tác phẩm hội họa đẹp nhất của nghệ thuật Phật giáo ở Ấn Độ.


Tất cả các ngôi chùa hang Ajanta đều được tạo tác bằng cách đục khoét sâu vào lòng đá. Mặt ngoài, mỗi ngôi chùa thường có khoảng 20 cột đá đục đẽo liền từ núi đá nguyên thủy, rồi chạm khắc, trang trí công phu. Bước qua hàng hiên là tới đại sảnh, hai bên có hai dãy trai phòng, nơi cư ngụ của các nhà sư. Người ta đục đá tạo tác bàn thờ lớn từ giữa hang chùa đến đáy hang chùa. Chính bởi phải cắt đục lòng núi để tạo thành chùa nên mới gọi là chùa hang. Có những ngôi chùa rất lớn như chùa hang 16, gian hành lễ rộng đến 400m2 được đục khoét một cách vuông vức. Việc xây dựng các chùa hang này cũng có sự khác nhau rất lớn, có những chùa được xây dựng một cách đơn giản nhưng cũng có những chùa được xây dựng khá công phu và tinh xảo. Một vài chùa được tạo mái vòm nhưng cũng có chùa không có. Nhưng phần thiết yếu mà một ngôi chùa phải có đó là nơi thờ Phật. Trong giai đoạn Vakataka, những nơi thờ tự Phật ít được để tâm xây dựng bởi vì những nơi có mặt bằng rộng rãi thì thường được dùng làm nơi ăn ở và tụ tập tín đồ... Sau đó, các nơi thờ Phật mới được xây dựng nhiều hơn. Các nơi thờ Phật thường được xây dựng dựa lưng vào vách đá phía sau ở trung tâm của ngôi chùa và trên mỗi nơi thờ tự thường đặt một bức tượng Phật ngồi bằng đá.


Không chỉ có hệ thốn hang động, Ajanta đặc biệt nổi danh với những bức bích họa trên vách đá và trần hang. Tổng cộng ở Ajanta có đến 500 bức. Màu sắc tranh được làm từ các chất khoáng và các chất có nguồn gốc thực vật nên vừa hài hòa, vừa tương phản mà vẫn tươi nguyên qua mấy ngàn năm. Toàn bộ các bức tranh đều tập trung thể hiện cuộc đời đức Phật và thể hiện các câu chuyện tiền thân của Ngài (trong đó có nhiều kiếp là các con vật , nhiều kiếp là những con người có xuất thân khiêm tốn). Vì thế , tuy đều gắn với đề tài Phật giáo nhưng các bức tranh không chỉ giới hạn trong cuộc sống tăng viện mà bao trùm hiện thực rộng lớn hơn: cả cuộc sống cung đình, cuộc sống của bao người bình dị nơi thị thành thôn xóm, thế giới chim thú, cỏ hoa và cả thế giới của các tiên nữ, các tạo vật thần linh trên thiên giới nữa. Một cuộc sống sôi nổi, đầy đam mê.


Những thiếu nữ trong tranh Ajanta được thể hiện rất quyến rũ với những đường cong mềm mại, thần thái sinh động trong từng ánh mắt, từng nét môi say đắm và e lệ. Các nghệ nhân còn khéo lợi dụng sự phân bố ánh sáng để người xem khi chuyển dịch vị trí có thể thấy nhân vật trong tranh như chớp mắt, hé cười , hết sức sống động.


Nếu đến thăm quan chùa hang Ajanta, chắc chắn du khách sẽ phải ngạc nhiên trước khung cảnh hết sức hùng vĩ và các tuyệt tác nơi đây.


Ngay từ những bước chân đầu tiên, du khách sẽ phải choáng ngợp trước hàng dài tượng Phật được đục đẽo bằng tay ở mặt tiền của hang động. Vào sâu trong hang, cả một câu chuyện lịch sử về quá trình giác ngộ, tu luyện gian khổ của Đức Phật sẽ được thể hiện qua hàng loạt các tác phẩm điêu khắc trong hang.

Nguồn: daophatngaynay.com


NHỮNG THỰC PHẨM TÍNH KIỀM TỐT CHO SỨC KHỎE

Cơ thể con người phụ thuộc rất lớn vào độ cân bằng axit – kiềm (chỉ số pH). Để cơ chế miễn dịch, tự sửa chữa và hoạt động enzyme tốt, cơ thể có xu hướng duy trì mức độ kiềm nhẹ ở pH = 7.35, càng gần với giá trị này sức khỏe sẽ được duy trì trong thời gian dài. Khi cơ thể xãy ra sự mất cân bằng độ pH, đặc biệt có tính axit, nhiều nguy cơ bệnh bắt đầu xuất hiện như: dị ứng, loãng xương, béo phì, tiểu đường, đau nửa đầu, gút, đột quỵ và ung thư…


Chế độ ăn uống lý tưởng nên bao gồm các loại thực phẩm có 80% tính kiềm và 20% tính axit. Dùng nhiều thực phẩm có tính kiềm sẽ giảm gánh nặng cho cơ thể, giúp trung hòa axit và hấp thụ các chất dinh dưỡng dễ dàng hơn.

Để phân biệt loại thực phẩm nào có tính kiềm hoặc tính axit thường không dễ, đôi khi chúng ta nghĩ có tính acid nhưng lại không hình thành axit khi được cơ thể chuyển hóa. Ví dụ: dấm táo, nước cốt chanh có tính axit trên lưỡi nhưng lại có tính kiềm khi được chuyển hóa trong cơ thể.

Những Thực Phẩm Mang Tính Axit


Thực phẩm có tính axit thường gây khó khăn cho cơ thể khi tiêu hóa và khiến thận làm việc nhiều hơn, tuy nhiên chúng ta không cần loại bỏ hoàn toàn ra khỏi chế độ ăn uống mà chỉ cần duy trì chúng ở khoảng 20% lượng tiêu thụ mỗi ngày; thực phẩm có tính axit gồm các loại sau:
  • Ngũ cốc: gạo trắng, lúa mì, yến mạch
  • Món tráng miệng: bánh ngọt, bánh nướng, bánh quy,…
  • Đường: đường trắng và đường nâu
  • Đậu: đậu nành, đậu xanh, đậu đỏ, đậu phộng
  • Thịt đỏ: thịt bò, thịt cừu, thịt heo, thịt nguội
  • Động vật giáp xác: tôm hùm, trai…
  • Gia vị: mù tạt, nước sốt cà chua, sốt mayonnaise
  • Đồ uống: cafe, trà, chocolate, sữa, nước ngọt, nước ép cà chua, rượu vang, rượu mạnh, bia
Những Thực Phẩm Mang Tính Kiềm

Trái cây và rau quả tạo môi trường kiềm rất tốt cho cơ thể nên cần chiếm phần lớn trong chế độ ăn uống với mục đích làm giảm tải cho thận trong quá trình tiêu hóa hấp thụ dinh dưỡng, giúp não hoạt động tốt hơn, cơ thể năng động hơn, ít bị đau đầu, cảm lạnh; làm trẻ hóa các tế bào giúp da mịn màng tươi trẻ, gồm các loại thực phẩm sau:
  • Bắp cải, bông và củ cải; bó xôi, cần tây, dưa leo, khoai tây, cà rốt, măng tây, khoai lang,..
  • Chuối, bơ, nho xanh, dừa,dâu, bưởi, dưa hấu, đu đủ, cam, quýt, mâm xôi
  • Sữa, phô mai, kem, bơ
  • Hạt bí ngô, hạt kê, hạt hạnh nhân, quả hạch, hạt dẻ
  • Trái cây khô (trừ các loại có tính acid như mơ, táo, dứa)
  • Ớt, tiêu, gừng, tỏi, các loại thảo mộc…
  • Ô liu đen, các loại dầu ép lạnh, đường tự nhiên…

Tóm lại cơ thể chúng ta cần ít nhất 75% thực phẩm hàng ngày là chất kiềm tự nhiên để giúp tiêu hóa được thuận lợi và có một sức khỏe tốt. Đừng bao giờ để lượng thực phẩm có tính kiềm mà bạn đã ăn vào như trái cây, canh rau… ít hơn lượng các thực phẩm có tính acid và tinh bột.

Hãy điều chỉnh lại chế độ ăn uống để có một cơ thể khỏe mạnh và nhiều năng lượng nhé!

(Nam An Market tổng hợp)

VÌ SAO NGÀY CÀNG CÓ NHIỀU NGƯỜI MÊ TÍN?

Mỗi dịp Tết, tệ nạn mê tín dị đoan lại bùng phát dữ dội, và có chiều hướng ngày càng tăng. Những chuyện bi hài như cúng vái con cá, cục đá, rắn nước, hàng nghìn người chen chân lễ bái tại các đình chùa… cho thấy tâm lý mê muội, cuồng tín trong một bộ phận người dân còn rất nặng nề.

Người dân chen chúc khấn vái tại một ngôi chùa. Ảnh: Dương Thanh

Khi nhận thức còn thấp kém, thiếu tri thức khoa học, nhiều người sẽ “mặc định” về sự tồn tại của thế giới thần linh, ma quỷ, “cõi âm” theo tư duy của họ. Đó thực chất là sự phản ánh sự thực cõi trần cộng thêm trí tưởng tượng và suy diễn. Vì vậy, mới có chuyện bi hài như “mặc cả”, “hối lộ” thánh thần, nhét tiền vào tay tượng Phật, đốt vàng mã nghi ngút, với tư duy “trần sao âm vậy”, càng nhiều lễ vật, thần linh càng phù hộ nhiều.

Nhiều người Việt thiếu tư duy phản biện, rất “nhẹ dạ cả tin”, dễ dàng tin vào những chuyện đồn thổi nhảm nhí mà không cần kiểm chứng, suy nghĩ.

Cảnh đốt vàng mã nghi ngút, để gửi đồ đạc xuống “cõi âm”.

Cùng với đó, là tình trạng lưu manh, lừa đảo, “buôn thần bán thánh”, lợi dụng sự mê muội của đồng bào để làm tiền phát triển như nấm sau mưa. Trong khi chế tài pháp luật chưa đầy đủ, chặt chẽ, sự xử lý, vào cuộc của cơ quan chức năng còn lúng túng, chậm chạp. Thậm chí một bộ phận cán bộ, công chức vẫn có tâm lý và cách ứng xử mang màu sắc mê tín, vô hình trung “tiếp tay” cho tệ nạn.

Khi người ta thiếu niềm tin, cảm thấy bất an trong một xã hội nhiều biến cố, thay đổi bất thường, người ta tìm đến thế giới siêu nhiên, cầu mong sự phù hộ, che chở.

Khi người ta không còn tự tin, sẽ tìm đến thần linh, mong có được phép màu đem lại những điều mà bằng khả năng thực tế, khó hoặc không thể đạt được như giàu có, khỏe mạnh, thành đạt, hạnh phúc.


Những người gặp hoạn nạn, khó khăn, bất hạnh... cũng tìm đến sự che chở của thế lực siêu nhiên.

Một số người “lý luận” rằng: Không được phù hộ tại sao có nhiều người tin, nhiều người mê tín thành đạt, giàu có…

Nhiều chuyên gia đã phân biệt giữa tín ngưỡng và mê tín. Tín ngưỡng là niềm tin, đức tin vào những điều thiêng liêng đem lại sức mạnh tinh thần cho con người. Còn mê tín là tin mù quáng, mê muội, nhảm nhí gắn liền với sự sùng bái, lệ thuộc thái quá, tác động tiêu cực đến xã hội.


Đúng là nhiều người mê tín thành đạt, giàu có. Nhiều quan chức, “đại gia” rất mê tín, chăm đi đình chùa, công đức, khấn vái khắp nơi, trấn yểm đủ kiểu. Nhưng đó chỉ là một cách nhìn phiến diện. Thực tế có rất nhiều người mê tín vẫn nghèo khổ, khó khăn; và rất nhiều quan chức, “đại gia”, dù cực kỳ chăm chỉ cúng bái, nhưng cũng “sập tiệm”, thân bại danh liệt.

Giải pháp cho tình trạng mê tín tràn lan, vẫn là những “đáp án” đã quen thuộc: Hoàn thiện hành lang pháp lý, chế tai xử lý đối với những hành vi mê tín dị đoan, lừa đảo; nâng cao dân trí, phát triển kinh tế, giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh xã hội.

HẢI ĐĂNG

THẦN CỜ BẠC ĐẤT THÁI LAN

Nói thật với các bạn hồi nào tới giờ tôi chỉ biết Quan Nhị Ca (關二哥) tức ông Quan Thánh Đế Quân, người mà cả hắc bạch giang hồ đều thờ phượng cho tới hôm nay mới vừa xem một clip video của "Challenge Me" về đề tài "Ngôi đền Thần Cờ Bạc trên trụ sở Công An" thì mới thấy lạ và biết thêm một nhân vật truyền kỳ được tôn thành thần trong thời cận đại, được người dân Thái Lan và vài nước vùng Đông Nam Á thờ phượng hương khói hàng ngày và càng ly kỳ hơn trên mạng quảng cáo đầy rẩy các loại bùa của ông thần cờ bạc này.

Nhị Ca Phong Miếu

Tôi tìm được một ít chi tiết về ông mà Challenge Me không có nhắc:

Ông tên thật là Trịnh Trí Dũng (鄭智勇), thưở bé được gọi là Phong (豐), người gốc Triều Châu (潮州), thôn Kỳ Viên (淇園鄉), trấn Phụng Đường (鳳塘鎮), huyện Triều An (潮安縣), Trung Quốc, sinh năm 1851 tại Thái Lan, mất năm 1937.

Tôi tìm được một bài viết về nhân vật này nên post luôn cả clip video cho các bạn xem nhé, còn bạn nào biết chữ Hoa thì đọc link tôi kèm theo phía dưới:(LKH)


NHỊ CA PHONG (二哥豐)

Mấy ngày nay mình thấy dân Thái Lan ra quân rầm rộ bán amulet, tranh ảnh của ngài Nhị Ca Phong. Ngài được ca ngợi là ông tổ của ngành Casino Thái Lan nên ai thờ ngài đều tin rằng sẽ may măn trong canh bạc. Nhưng ít ai biết rằng ngoài chuyện tiền bạc trên sòng bài, ngài còn độ trong các lĩnh vực khác như kinh doanh, trị bệnh, thăng quan tiến chức...


Nhị Ca Phong là cố vấn đặc biệt cho Hoàng gia Thái Lan, thời vua Rama V. Ông được xem như ông tổ của sòng bài Thái Lan. Trước khi các sòng bài phát triển như ngày hôm nay, Nhị Ca Phong có đề xuất với vua Thái Lan là nên mở sòng bài để kiếm thêm nguồn ngân sách cho đất nước. Lúc đầu vua Thái Lan chần chừ vì cho rằng bài bạc là xấu, gây hại cho con người, kiềm chế sự phát triển kinh tế và tạo nên sự hỗn loạn về trị an. Tuy nhiên, Nhị Ca Phong đề nghị vua Thái Lan cho ông cai quản 1 sòng bài nhỏ trong một thời gian, ông sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có vấn đề xảy ra.


Kết quả là trong một thời gian ngắn, người ta vào sòng bài chơi ngày càng nhiều và mang lại khoản thu nhập đáng kể cho Hoàng Gia Thái. Trái ngược với những dự đoán bi quan của vua Thái Lan. Kinh tế Thái Lan ngày càng phát triển thịnh vượng,

Vì sự đóng góp của ông với Thái Lan nên vua Rama V cho xây đền của ông trên nước Thái. Có lần chính quyền Thái Lan muốn phá đền Nhị Ca Phong để xây trụ sở cảnh sát. Sau đó liên tục xảy ra tai nạn chết người cho các viên cảnh sát nên chính quyền Thái Lan lập tức xây dựng lại đền của Nhị Ca Phong.


Cũng giống như Quan Nhị Ca (Quan Vũ – của Trung Hoa), không những ngành công an, cảnh sát cũng thờ Nhị Ca Phong mà các tay anh chị giang hồ cũng thờ Ngài, đến các tay cờ bạc các loại cũng thờ ngài nốt.

Tương truyền, có lần nước Thái lâm vào cảnh dịch bệnh tràn lan, vị lương y của Thái cũng tên Phong (vị này cũng nổi tiếng và giỏi như Lương Y Lê Hữu Trác bên mình) cầu nguyện trước tượng của Nhị Ca Phong. Kết quả là bệnh dịch tự nhiên giảm dần và biết mất khỏi đất nước Thái.


Vì công đức và sự linh ứng của ngài mà không những người Thái thờ cúng ngài mà còn lan sang các nước Đông Nam Á khác như Lào, Campuchia, Trung Quốc, Singapor (Đặc biệt người Sing rất chuộng mô hình amulet đeo). Lúc sinh thời, ngài thường hay uống trà, bánh ngọt, cà phê nên khi cúng, khấn vái ngài, người ta thường hay cúng cà phê, thuốc lá, trà thơm lúc sáng sớm.

Wednesday, March 27, 2019

CẢNH GIỚI CAO NHẤT CỦA GIÁO DỤC LÀ GÌ?

Mục đích cao nhất, cảnh giới cao nhất của giáo dục ở các thời đại là gì? Phải chăng là để bồi dưỡng ra những nhân tài kiệt xuất, những kiến trúc sư giỏi, những bác sĩ giỏi hay những nhà kinh doanh tài ba tạo ra nhiều tiền của, vật chất cho xã hội. Kỳ thực, hết thảy những điều này đều không phải cảnh giới cao nhất của giáo dục!


Có một nạn nhân sống sót tại trại tập trung của Đức Quốc xã trở thành hiệu trưởng của một trường trung học ở Mỹ. Mỗi khi có một giáo viên mới đến trường, ông đều gửi cho người đó một bức thư, trong đó viết rằng:

Bạn thân mến!

Tôi đã từng chứng kiến những tình cảnh mà nhân loại không nên thấy, những phòng khí độc do các chuyên gia là kiến trúc sư kiến tạo ra, những trẻ em bị các bác sĩ uyên bác hạ độc, những trẻ sơ sinh bị các hộ sĩ được huấn luyện sát hại. Chứng kiến hết thảy những chuyện này, tôi tự hỏi: Giáo dục rốt cuộc là vì điều gì?

Tôi thỉnh cầu các bạn, hãy trợ giúp học trò của mình trở thành những con người có nhân tính. Chỉ khi học trò của các bạn trở thành những người có nhân tính thì các năng lực đọc, viết, tính toán của các em mới có giá trị.


Có câu chuyện kể về lòng tốt của một cậu bé như thế này: Vào một buổi sáng sớm sau khi cơn bão đi qua, có một người đàn ông đi tản bộ trên bờ biển. Ông ta nhìn thấy rất nhiều vũng nước to nhỏ, trong đó có những con cá nhỏ bị bão táp đêm qua cuốn lên và mắc cạn ở đó. Những con cá nhỏ bị mắc cạn ở đó có lẽ lên tới mấy trăm con, thậm chí cả ngàn con. Người đàn ông biết rằng chẳng bao lâu nữa, mặt trời lên và nước sẽ bị cát hút khô, những con cá ấy sẽ bị khô cạn mà chết hết.

Đang suy nghĩ như vậy, ông ta nhìn thấy trên bờ biển có một cậu bé không ngừng nhặt những con cá nhỏ từ trong các vũng nước lên và ném chúng xuống biển. Người đàn ông tiến lại gần đứa trẻ và nói: “Này cậu bé, trong những vũng nước này có hàng trăm, ngàn con cá, cháu cứu không nổi đâu!”


“Cháu biết điều đó!” Cậu bé không ngừng nhặt cá và trả lời.

Người đàn ông nói tiếp: “Ồ! Vậy cháu vẫn tiếp tục ném những con cá này xuống biển sao? Có ai quan tâm đâu?”

Cậu bé vẫn không ngừng nhặt cá và nói: “Nhưng những con cá nhỏ này quan tâm!”

Quả thực, câu chuyện nhỏ này rất tương ứng với một câu nói của nhà thơ vĩ đại Tagore: “Mục đích của giáo dục là phải truyền tải được hơi thở của mạng sống cho con người”. Bởi vậy, “giáo dục” là bắt đầu từ việc tôn trọng sinh mệnh, khiến nhân tính hướng thiện, khiến con người có tấm lòng rộng mở, và càng phải khơi dậy được “thiện căn” tốt đẹp của con người.

Một điều rất hiển nhiên rằng, con người có cả mặt Thiện lẫn mặt Ác. Mục đích của giáo dục là khiến linh hồn của con người được tôi luyện, vượt qua ác tính mà trở nên thuần Thiện. Giáo dục là giáo dục linh hồn con người, chứ không chỉ đơn thuần là nhồi nhét các nhận thức và tri thức lý trí. Mục đích cuối cùng của giáo dục lâu dài và vĩ đại. Nếu không, tri thức càng nhiều, thì chỉ càng nguy hại đối với nhân loại và đối với sinh mệnh.

(Hinh minh hoa: Soudapromessa.com.br)

Hiện nay, việc giáo dục trong trường học thường không coi trọng việc giáo dưỡng nhân cách cơ bản, đạo đức cơ bản, tình cảm cơ bản của học sinh. Điều đó khiến cho một số học sinh thờ ơ, lãnh đạm với mạng sống của người khác, thờ ơ với thế sự, đến mức lạnh lùng cay nghiệt.

Vậy nên, một vị chuyên gia giáo dục Nhật Bản đã nói một câu như thế này: “Chúng ta cần bồi dưỡng cho học trò đối mặt với một khóm cúc dại mà cảm xúc dâng trào, trống ngực đập thình thịch” . Loại tình cảm này cũng chính là cảm xúc của cậu bé trước những con cá bị mắc cạn trên bờ biển ở câu chuyện trên.

Nếu như nhìn thấy một con cá hoặc cây cỏ đều không thấy có giá trị gì, sẵn sàng chà đạp, thì cho dù điểm số các môn học ở trường đạt rất cao, cũng đã mất đi giá trị nhân sinh đáng quý trong đời.

Tôn trọng con người, tôn kính vũ trụ, chính là tôn trọng sự tồn tại của sinh mệnh, biết được sinh mệnh là vô cùng trân quý. Con người không được tự dưng cướp đoạt sinh mệnh, cho dù đó là những sinh mệnh thấp thế nào đi nữa.


Là một người mà đối với sinh vật hoặc động vật đều không hề có tình cảm yêu mến, thì có thể hy vọng người đó tôn trọng với sinh mệnh cao hơn hay không? Trái lại, là một người mà trong lòng luôn tràn ngập tình yêu thương, quan tâm tới cây cỏ, hay dù là một con cá nhỏ, thì đối với sinh mệnh cao hơn, đối với tính mạng con người, người đó cũng sẽ tôn trọng.

“Không gì bi thương hơn những ai có trái tim đã chết”. Một người mà lạnh lùng vô cảm đối với thế giới bên ngoài thì chính là một người không còn hy vọng. Một dân tộc thờ ơ coi thường mạng sống của người dân là một dân tộc không có tương lai.

Trong giáo dục, có lẽ có rất nhiều công việc cụ thể phải làm, có rất nhiều việc cụ thể phải nắm bắt. Nhưng việc bồi dưỡng học trò tốt nhất chính là bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, bồi dưỡng những giá trị nhân văn, trong đó căn bản nhất, quan trọng nhất chính là đánh thức lương tri biết trân quý, tôn trọng sinh mệnh của học trò.

An Hòa

CANH NGÓT CÁ KHOAI: ĂN LÀ GHIỀN


Cá khoai sinh sống ở biển, thường bơi từng đàn ở những vùng nước nông. Từ cuối mùa hè đến đầu mùa đông là thời gian ngư dân đánh bắt được nhiều cá khoai nhất. Nhiều nơi còn gọi cá khoai là cá cháo, vì thịt cá mềm như cháo. Cá khoai mình thon dài như củ khoai lang, không có vẩy, phần lưng và đuôi có màu phơn phớt xanh, còn lại là trắng muốt. Cá khoai miệng rộng, có hàm răng sắc, thịt cá trắng trong, xương mềm và trong suốt. Ngày xưa, cá khoai là món ăn quen thuộc của những người nghèo, người bình dân; nhưng bây giờ, cá khoai trở thành món ăn hấp dẫn, nhiều người ưa thích, là món đặc sản trong các bữa liên hoan ở các nhà hàng.

Thịt cá khoai tươi rất bở, dễ vỡ ra khi nấu nhưng lại ngọt vô cùng. Không cần nhai, ăn thịt cá khoai như có cảm giác ăn cháo vậy.


Cá mua về chỉ việc rửa sạch, cắt khúc vừa ăn. Ướp cá với : hành lá lấy phần cọng trắng đập dập, cắt nhỏ + tiêu + muối+ 1tsp nước mắm ngon.

Bắc nồi lên bếp cho nóng , cho 1tsp dầu ăn vào phi với hành lá (lấy phần trắng- đập dập) cho thơm, cho cà chua cắt 8 theo chiều dọc vào xào cho cà săn lại 1 tí. Tắt bếp, để cho thật nguội mới đổ nước vào nấu tiếp ( vì nếu đổ nước vào liền thì nước canh sẽ bị đục) với lửa nhỏ để cho cà chua ra nước.

Nồi canh sôi lên thì cho chỗ cá đã tẩm ướp vào, cùng với nắm thì là, hành tươi và rau răm thái nhỏ. Cá chín tới là được. Để sôi lâu quá thịt cá sẽ tan trong nước hết.

Canh cá khoai rất ngọt, vị thanh. Người ta ăn vã cá khoai là chính, ăn được cả xương. Vừa đưa miếng cá lên miệng, thịt cá đã tan ra như cháo, tưởng như chất bổ của cá thấm ngay vào vi huyết mạch của mình. Ăn vã cá khoai “đã” rồi mới múc nước riêu chan cơm. Canh ngót cá khoai có thể ăn kèm rau sống. Bữa cơm với canh cá khoai như thế, khó lòng mà quên được!


Cá khoai là loại cá ít xương, thịt ngọt nhưng mềm bở nên khó giữ được tươi lâu khi ra khỏi nước biển. Vậy nên chỉ có chế biến cá khoai thành khô là để được lâu.


Dùng chấm khô cá khoai là nước mắm me hoặc nước mắm xoài bằm sợi thì mới đúng sách. Chén nước mắm đỏ nâu, sánh đặc bởi cơm me chín nở xốp sau khi ngấu đều với nước mắm, giằm thêm mấy trái ớt hiểm. Khô vừa nướng còn nóng thì dùng chày đập dập dập con khô ngay (nếu để nguội thì con khô sẽ trở nên dòn – ăn cứng ngắc mà thịt cũng trở thành nhạ t nhẽo, dòn tan ăn như ăn như mùn cưa) xé chấm thứ nước “chua, cay, ngọt, mặn” đưa vào miệng nhai thật chậm, vị nhẩn của khô tiết ra hoà thành một hỗn hợp khó tả.

Theo: Biển và Người

LÒNG TỪ BI VÀ VẤN ĐỀ CÔNG LÝ

Lòng từ bi và vấn đề công lý là đề tài rất quan trọng và thiết thực trong cuộc sống mà mỗi người chúng ta đều có suy nghĩ. Nếu áp dụng lòng từ bi theo đạo Phật đôi khi ngược lại với công lý.


Thực sự đạo Phật thường đề cập đến từ bi và trí tuệ. Tức từ bi phải đi kèm với trí tuệ, không phải từ bi mà thiếu trí tuệ. Thầy nhớ có một Hòa thượng nói rằng có từ bi không có trí tuệ thì trở thành một Bồ-tát ngu ngốc. Vì vậy, chúng ta không nên làm Bồ-tát ngu ngốc, tức thiếu trí tuệ, vì đạo Phật là đạo trí tuệ. Đức Phật làm bất cứ điều gì đều do trí tuệ chỉ đạo. Có thể khẳng định tất cả Phật tử theo con đường của Đức Phật là tăng hiểu biết mình lên cao nhất. Hiểu biết cao nhất là Phật, gọi là trí tuệ.

Hiểu biết ban đầu của chúng ta rất giới hạn trong tầm hiểu biết của con người gọi là tri thức của loài người. Tuy chúng ta hiểu biết vượt hơn các loài khác, nhưng trí tuệ của loài người cũng chỉ tới đây thôi, nghĩa là chúng ta biết những gì do mắt thấy, tai nghe và suy nghĩ thì cái biết này rất giới hạn, chưa tới được chân lý, nên chúng ta còn phạm nhiều sai lầm. Vì vậy, nếu áp dụng từ bi với sự hiểu biết giới hạn này, chúng ta sẽ trở thành Bồ-tát ngu ngốc. Vì thực tế cho thấy những việc mà con người làm, hay chúng ta làm trái với Phật, tức trái với trí tuệ, trái với chân lý, nên chúng ta không thành Phật mà là ma quỷ.

Thật vậy, đôi khi chúng ta thấy hoàn cảnh nào đó đáng thương do suy nghĩ của chúng ta hạn hẹp, nên đã xả thân để cứu giúp, nhưng mình không cứu được, mà lại vướng mắc vào cái họa của họ. Họ đã sai lầm, gặp hoạn nạn, khó khăn, nguy hiểm, nhưng mình lại ngu ngốc cứu họ, tức đi theo con đường khó khăn, hoạn nạn, nguy hiểm đó. Việc này dẫn đến tình trạng tai hại là mình bất mãn, nên sau này gặp trường hợp khác đáng thương, nhưng mình lại thờ ơ, lạnh nhạt, vô cảm; như vậy là đọa, hay chúng ta đã biến mình thành ma quỷ.


Hôm nay chúng ta đặt vấn đề từ bi và công lý thì điều này cũng nằm trong phạm vi con người, cũng là sử dụng từ bi trên cán cân công lý để xét đoán đúng hay sai thì đúng sai này cũng nằm trong nhận thức của con người mà thôi.

Thí dụ ta thương người thiệt, nhưng họ phạm pháp thì ta nên che giấu hay không. Nếu ta vì thương mà che chở họ, che giấu tội của họ, ta đã trở thành tòng phạm. Điều này mới là công lý theo pháp luật, chưa nói đến chân lý, nhưng chúng ta cũng không thể vì lòng từ bi thương người mà bẻ cong sự thật được.

Thấy hoàn cảnh người phạm pháp bị pháp luật truy cứu, họ khổ đau, đương nhiên chúng ta là con người, lại là đệ tử Phật thì phải có lòng thương người. Nếu đánh mất lòng thương là trở thành ác ma. Lòng thương là tất yếu để chúng ta trở thành Hiền Thánh trong tương lai. Nhưng lòng thương phải có trí tuệ chỉ đạo để thấy chân lý, thấy công lý thì chúng ta mới ứng xử đúng đắn.

Đức Phật cũng thấy cảnh thương tâm của loài vật, loài người. Khi còn là thái tử, Ngài dự lễ hạ điền, trông thấy luống cày bóc lên những con trùn và những con trùn này đã bị những con chim sà xuống mổ lấy ăn, đồng thời người thợ săn lại rình bắn chim, nên không hay biết là sau lưng anh có con hổ sắp sửa vồ anh.

Đức Phật chứng kiến cảnh đáng thương như vậy, nhưng Phật có cứu những con trùn hay không, Ngài có cứu con chim hay không, có cứu anh thợ săn hay không. Chắc chắn là Ngài không cứu ai hết. Ngài tìm gốc cây ngồi suy nghĩ về thực tế cuộc sống này khổ đau như thế nào cho đến suy nghĩ xa hơn rằng tại sao tất cả các loài sát hại nhau như vậy, rõ ràng vì miếng ăn, vì sự sống còn mà các loài phải tranh giành, giết hại nhau.


Thể hiện lý này, trong kinh Dược Sư, Đức Phật cũng đã thấy cảnh khổ đau của muôn loài, nên Ngài phát lời nguyện rằng đối với người nghèo đói, khổ cực vì cầu thức ăn mà tạo nghiệp ác, nghĩa là tranh giành, giết hại người khác vì miếng ăn, Đức Phật Dược Sư sẽ giải quyết vấn đề ăn, mặc, ở cho họ, rồi mới dạy pháp Phật để giúp họ thoát khỏi nghiệp ác này.

Đức Phật Thích Ca khi còn là thái tử đã suy nghĩ phương cách tháo gỡ gút mắc này là Ngài giải quyết vấn đề từ gốc, không phải giải quyết ở ngọn. Trong khi đa số chúng ta gặp hoàn cảnh thương tâm chỉ giải quyết ngọn, nhưng cũng không giải quyết được mà lại bị lợi dụng. Thực tế cho thấy rõ các chùa tới ngày cúng có những người không bệnh, nhưng họ giả bệnh, giả đói để khiến Phật tử động lòng trắc ẩn, cảm thấy thương tâm mà cho họ tiền.

Thuở nhỏ tôi nhìn thấy cảnh này cũng suy nghĩ theo Phật rằng không nên cho tiền những người giả bệnh, giả khổ, vì cho là mình góp công sức cho những người ăn hại, biến họ thành ăn mày, chẳng lẽ sau này toàn thành phố tràn ngập những kẻ chuyên làm nghề ăn hại hay sao.

Là đệ tử Phật, chúng ta học theo cách suy nghĩ và việc làm của Phật để áp dụng trong cuộc sống mình mà tháo gỡ được những vấn đề xảy đến một cách đúng đắn, lợi lạc cho mình và cho người.

Theo tôi, những việc giải quyết ngay được thì giải quyết. Có những việc không giải quyết ngay được phải đợi sau này, thậm chí đợi đến đời sau mới có thể hóa giải. Lý này được kinh Pháp hoa gọi là thệ nguyện an lạc, nghĩa là thấy người mắc nạn đáng thương, nhưng phải đợi lúc ta có điều kiện giải quyết được, đó là người có trí tuệ chỉ đạo nên làm không sai lầm và cuộc sống của họ thăng hoa được.

Còn là Bồ-tát ngu ngốc phạm sai lầm phải đọa và cuộc đời họ phải đi xuống thôi. Điển hình là Xá Lợi Phất muốn bố thí vì nghe nói đó là hạnh đầu tiên của Bồ-tát, nên khi Ngài gặp người Bà-la-môn xin con mắt của Ngài. Ngài nghĩ nếu không cho là mình thiếu lòng thương và anh này khóc lóc thảm thiết nói rằng mẹ con bị bệnh nặng cần phải có con mắt của người sống mới chữa được.

Động lòng trắc ẩn, Xá Lợi Phất đã móc con mắt cho. Nhưng anh này đã liệng con mắt và nói rằng không phải con mắt bên phải, con mắt bên trái mới được. Ngài lại móc tiếp con mắt trái cho hắn. Và mất cả hai mắt, bị mù khiến Ngài hối hận vì đã làm việc ngu xuẩn này. Ngài hận đến mức độ thề rằng không bao giờ làm Bồ-tát nữa, không bao giờ bố thí nữa. Ai xin gì, Ngài cũng phớt lờ là trở thành Sa-môn vô cảm.


Là tu sĩ theo lộ trình Đại thừa của Đức Phật, nhưng vô cảm với cuộc đời, tách rời cuộc đời, trở thành người vô dụng. Tôi gặp một vị Hòa thượng nói rằng đạo Phật không đào tạo người vô dụng, nhưng đào tạo người cứu đời, giúp đời, tức hành Bồ-tát đạo.

Qua câu chuyện trên, Phật cho biết rằng Xá Lợi Phất phải mất đến 60 tiểu kiếp giữ tâm yểm ly. Mãi đến sau này, Ngài được gặp Phật khai ngộ, mới phát Bồ-đề tâm lại.

Để thực hiện được công lý một cách đúng đắn là điều vô cùng quan trọng. Vì vậy, Bồ-tát Quan Âm thừa khả năng cứu giúp tất cả mọi người, nhưng không phải ai Ngài cũng cứu, vì Ngài tôn trọng công lý, tôn trọng chân lý. Người cầu Ngài, nhưng Bồ-tát nhận thấy có thể cứu giúp được, Ngài sẵn lòng.

Tiền thân Phật trong kiếp quá khứ đã thể hiện lý này. Một lần Ngài làm vua trông thấy con chim bồ câu bị con chim ó rượt đuổi. Chim bồ câu đã sà vô cánh tay Ngài. Ngài liền cứu nó, giữ nó lại, không cho chim ó bắt. Nhưng con chim ó cũng đói và cần thức ăn, nên nó đòi vua phải thả bồ câu cho nó ăn thịt.

Nhà vua mới nói với chim ó rằng ngươi cần ăn thịt chim bồ câu, còn ta cần cứu chim bồ câu. Và để thực hiện công bằng, hay công lý, Ngài lấy một cái cân để chim bồ câu đứng lên một dĩa cân và Ngài lóc thịt mình để lên dĩa cân kia cho bằng với sức nặng của bồ câu. Nhưng lạ thay, Ngài lóc bao nhiêu thịt mình thì chim bồ câu vẫn nặng hơn. Cuối cùng Ngài lóc hết thịt mình để lên dĩa cân, nhưng số thịt Ngài lóc cũng không cân bằng với chim bồ câu.

Câu chuyện này ngụ ý cho chúng ta nhận thấy khi nghiệp của người nặng hơn phước của mình thì có cứu cũng không được. Thân nhẹ, nhưng nghiệp họ nặng thì muốn cứu phải hóa giải nghiệp. Còn cứu, mai mốt họ giết người nữa thì tội ác tăng thêm, chắc chắn không thể cứu được mà ta còn bị vạ lây.

Đối với người phạm tội, tôi khuyên họ nên đầu thú để may ra được luật pháp khoan hồng, không nên trốn.


Vì vậy, mình muốn cứu người. Đức Phật khuyên phải lượng sức mình. Phước của mình có đủ gánh nghiệp của họ hay không. Nếu đủ phước, Bồ-tát sẵn lòng giúp. Không đủ phước thì để lúc khác giúp là thệ nguyện an lạc. Bao giờ ta có điều kiện, sẵn lòng giúp, đó là Bồ-tát có trí tuệ, không phải Bồ-tát ngu ngốc.

Sống trong xã hội, lúc nào ta cũng tôn trọng công lý và từ tôn trọng công lý, đi xa hơn, vào thiền định, cho đến chứng được chân lý, nghĩa là ta thấy được phía sau của người, thấy nghiệp của họ, tánh của họ, hạnh của họ, khả năng của họ…, ta mới giáo hóa, giúp họ vượt qua chướng nạn và sống tốt đẹp, làm ích lợi cho đời.

HT.Thích Trí Quảng
Nguồn: Giác Ngộ Online