Monday, May 13, 2019

TAM CUNG, LỤC VIỆN

NHƯ THẾ NÀO LÀ “TAM CUNG”, “LỤC VIỆN”,
CÓ PHẢI HOÀNG ĐẾ CHỈ CÓ 72 PHI TỬ ?


Trong dân gian, nếu hỏi hậu phi của hoàng đế có bao nhiêu người, đáp án 10 người thì hết 8, 9 người nói là “tam cung lục viện thất thập nhị phi”.


Dân gian gọi là “tam cung” 三宫, nhìn chung chỉ trung cung và đông tây 2 cung nơi hậu phi cư trú. Kì thực phải từ triều Minh Thanh về sau mới phân ra như thế.

“Tam cung” sớm nhất chỉ nơi ở của phu nhân chư hầu, còn nơi ở của hậu phi thiên tử gọi là “lục cung”. Trong Lễ kí 礼记 ghi rằng:

Vương hậu lục cung, chư hầu phu nhân tam cung dã.
王后六宫, 诸侯夫人三宫也
(Vương hậu 6 cung, phu nhân của chư hầu 3 cung)

Do bởi lục cung là nơi ở của hoàng hậu, cho nên thường dùng từ “lục cung” để chỉ hoàng hậu. Về sau hàm nghĩa của “tam cung” đã phát sinh biến hoá. Thời Hán, hoàng đế, thái hậu, hoàng hậu gọi chung là “tam cung”, cũng gọi thái hoàng thái hậu, thái hậu, hoàng hậu là “tam cung”. Thời Mục Tông nhà Đường đã đem 2 thái hậu cùng với hoàng hậu hợp xưng là “tam cung”. Có thể thấy, cách nói của các đời có khác nhau.

“Lục viện” 六院 nguyên là “lục uyển” 六苑 , chỉ cung uyển nơi hoàng hậu cư trú. Trong Trường hận ca 长恨歌 của Bạch Cư Dị 白居易 có câu:

Hồi mâu nhất tiếu bách mị sinh
Lục cung phấn đại vô nhan sắc

回眸一笑百媚生
六宫粉黛无颜色
(Quay đầu lại cười hiện ra trăm vẻ đẹp
Khiến cho phi tần sáu cung đều thất sắc)


“Thất thập nhị phi” cũng là hư chỉ, chỉ số người trong hậu cung của hoàng đế đông. Trên thực tế, số thị nữ trong hậu cung vượt hơn 72 người. Trong Quản Tử - Tiểu Khuông 管子 - 小匡ghi rằng:

Cửu phi lục tần, trần thiếp số thiên
九妃六嫔, 陈妾数千
(Cửu phi lục tần, số thiếp có đến cả ngàn người)

Trong Lễ - Hôn nghi 礼 - 昏仪 ghi rằng:

Cổ giả thiên tử hậu lập lục cung, tam phu nhân, cửu tần, nhị thập thất thế phụ, bát thập nhất ngự thê.
古者天子后立六宫, 三夫人, 九嫔, 二十七世妇, 八十一御妻
(Thời xưa, lập hậu của thiên tử gồm 6 cung, 3 phu nhân, 9 tần, 27 thế phụ, 81 ngự thê)

Triều Thanh từng quy định số lượng cơ bản hậu phi của hoàng đế: 1 hoàng hậu, 2 hoàng quý phi, 2 quý phi, 4 phi, 6 tần. Quy định là quy định, hoàng đế vẫn có thể theo lòng ham muốn của mình mà “mở rộng quân số” vô hạn. Ví dụ: từ tần trở xuống như: quý nhân 贵人, thường tại 常在, đáp ứng 答应 thì không có hạn ngạch cụ thể. Theo ghi chép, hoàng đế Khang Hi từng có 55 thê thiếp, số lượng nhiều khiến người ta kinh ngạc. Chẳng qua, đó chỉ là một bộ phận nhỏ “có danh vị”, nghe nói, thực tế số thê thiếp của Khang Hi lên đến hơn 200 người.


Đẳng cấp hậu phi trong cung đình triều Thanh

Chế độ hậu phi trong cung đình triều Thanh được xác lập từ triều Khang Hi 康熙.

Quy định cụ thể là:

Tôn tổ mẫu của hoàng đế là thái hoàng thái hậu, mẫu thân là hoàng thái hậu. Thái hoàng thái hậu và hoàng thái hậu cư trú tại cung Từ Ninh 慈宁 có thái phi, thái tần theo ở. Chính thê của hoàng đế là hoàng hậu, phụ trách sự vụ nơi hậu cung. Dưới hoàng hậu lập 1 hoàng quý phi, 2 quý phi, 4 phi, 6 tần, chia ra cư trú tại 6 cung ở bên đông và bên tây. Dưới tần lập quý nhân, thường tại, đáp ứng, số người không nhất định, theo phi tần chia ra ở tại 6 cung bên đông và bên tây.

Chế độ hậu cung triều Thanh còn quy định, trước đại hôn của hoàng đế, tuyển chọn 8 cung nữ lớn tuổi hơn hoàng đế, 8 cung nữ này đều có danh phận, lần lượt ban cho chức hàm như Tư trướng 司账, Tư tẩm 司寝, Tư nghi 司仪, Tư môn 司门.


Dịch giả: Huỳnh Chương Hưng
Nguyên tác Trung văn
Trong quyển
THÚ VỊ VĂN HOÁ TRI THỨC ĐẠI TOÀN
趣味文化知识大全
Thanh Thạch 青石 biên soạn
Trung Quốc Hoa kiều xuất bản xã, 2013

Sunday, May 12, 2019

QUAN NIỆM BỔ TRONG ĐÔNG Y

Theo quan điểm tây y, có bốn nhóm dinh dưỡng cơ bản giúp cơ thể con người bồi bổ cho sức khỏe gồm nước, chất đường (carbo-hydrates), chất béo (fats) và chất đạm (proteins). Song song với bốn chất căn bản chính yếu giúp con người tồn tại thì những chất bổ phụ giúp cho sức khỏe (health supplements) dưới hai dạng sinh tố (vitamins) và khoáng chất (minerals). Y khoa tây y chú trong vào sự phân tích để cho thấy cơ thể thiếu hụt hay thặng dư chất nào để điều chỉnh cho nhu cầu của cơ thể.


Bằng phần dẫn nhập trên, ta hãy quay về với cách trị bệnh cổ điển của ông bà chúng ta xa xưa từ ngàn năm về trước xét xem quan niệm y học giúp họ tồn tại như thế nào. Theo y khoa đông y dựa trên căn bản âm dương ngũ hành, việc bồi bổ được hiểu qua hai khía cạnh căn bản là bổ âm hay bổ dương. Khi người y sĩ đông y chẩn mạch hay bắt mạch để định bệnh cho thấy phần âm hay dương bị khiếm khuyết để cần điều chỉnh lại.

Nếu chứng dương hư hay dương khí thiếu hụt thì năng lượng hoạt động cần điều chỉnh hay bồi bổ lại cho thích hợp. 


Còn thuốc bổ âm được cho khi sự chẩn mạch cho thấy chứng âm hư. Thông thương khi bổ huyết có tác dụng âm tính cho sự bổ âm. Đông y còn chia ra 2 loại bổ cho cơ thể con người như bổ khí và bổ máu.


* Thế Nào là Bổ Khí và Bổ Huyết ?

I) Bổ Khí:

Thuốc bổ khí hay nôm na là bổ hơi (energy) có tác dụng bồi bổ chức năng các tạng phủ đã bị suy yếu hay làm cho cơ thể suy nhược. Người y sĩ phải định chẩn xem cơ quan nào bị hư như tâm, phế, tỳ hay thận, thì loại thuốc thích ứng sẽ được bốc hay ra toa. Y khoa đông y dựa trên căn bản tổng hợp nhiều chất liên hoàn tiếp dẫn và hổ tương nhau, nên sự gia giảm rất cần thiết khi người y sĩ có kinh nghiệm ra toa. 

Bài viết này xin chỉ mạn bàn trong sự giới hạn một số chất bổ khí thông dụng như sau:

1) Sâm Hoa Kỳ (Radix Panacis Quinquefolli): 

Loại sâm này có nhiều ở vùng bắc Mỹ châu, đặc biệt ở tiểu bang Wisconsin. Dược chất chủ yếu là saponin và panaquilon. Sâm này có vị nhẫn, hơi ngọt và mang tính hàn. Khi vào cơ thể nó qui vào các kinh tâm, phế và thận.
Sâm Hoa Kỳ đựơc dùng chống mệt mỏi, tăng cường sinh lực, tác dụng tốt của sâm Hoa Kỳ là điều hòa nhịp tim và trung khu thần kinh hệ, có tác dụng như thuốc an thần.


2) Đảng Sâm (Radix Codonopsis Pilosulae): 

Đảng sâm có nhiều ở miền đông bắc Trung Quốc và vùng Cao Bă‘c Lạng của Việt Nam. Dược chất chủ yếu là saponin, alkaloid, sucrose, glucose và insulin. Đảng sâm có vị ngọt. Khi vào cơ thể sẽ qui vào các kinh tỳ và phế. 

Đảng sâm được dùng để chống mệt mõi, gia tăng hệ thống miễn nhiễm tạo bạch huyết cầu, giúp sự chống lở loét bao tử do acetic acid, làm dãn mạch máu tim làm hạ áp huyết. Ngoài ra đảng sâm còn có công dụng hữu hiệu chống viêm đại tràng.


3) Hoàng Kỳ (Radix Astragali): 

Hoàng kỳ còn có tên khác là Bắc kỳ, mang tính ôn và vị ngọt. Hoàng kỳ ngày nay được phổ thông hóa trong thị trường dược thảo Hoa Kỳ vì đặc tính cho công dụng hữu ích và đem lại tác dụng hiệu quả của nó. Phân tích các nguyên tố trong hoàng kỳ người ta thấy có folic acid, cholin, selenium, calcium, sắt, phosphorus, magnesium,... Hoàng kỳ có công dụng tăng cường hệ thống miễn nhiễm cho cơ thể phòng chống bệnh tật. Hoàng kỳ còn làm gia tăng sự chuyển hóa các hóa chất xúc tác (metabolism) nuôi dưỡng các tê’ bào trong cơ thể. Hoàng kỳ có công dụng kháng sinh, chống viêm thận. Hoàng kỳ còn được dùng như chất lợi tiểu, làm hạ huyết áp và làm dãn nở mạch co thắt của tim. Hoàng kỳ được dùng trong y khoa đông y trị các bệnh tim mạch.


4) Linh Chi (Ganoderma Lucidii): 

Linh chi vốn được xem như thần dược, linh chi mọc ở nhiều nơi á châu như Trung Quốc, Mã Lai, Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam, Cao Ly và Nhật Bản. Linh chi có nhiều màu như đỏ, đen, xanh, vàng và tím. Linh chi có tính ôn, vị ngọt, vào cơ thể qua các kinh Tâm, Can và Phế, có thành phần amino acid, protein, saponin, steroid, polysaccharid, germanium và ganoderic acid. 

Linh chi có công dụng an thần, giải độc bảo vệ gan, đề phòng hệ miễn dịch, chống ung thư, giúp khí huyết lưu thông trị cao máu, chống xơ cứng động mạch, và rất tốt cho tim.


5) Bạch Truật (Rhizoma Atractylodis Macrocephalae): 

Bạch Truật có nhiều ở Trung Quốc và Việt Nam. Mang tính ôn, vị nhẫn và ngọt. Vào cơ thể qua các kinh tỳ và vị, có các thành phần atractylon và sinh tố A. Bạch truật dùng để tăng lượng bạch cầu, tăng hệ thống miễn dịch, chống viêm gan, bảo vệ gan, làm thư dãn mạch máu, chống sự tích tụ máu hay máu đông đặc. Bạch truật được dùng chống ung thư. Bạch truật có tác dụng ức chế tiểu quản thận tái hấp thụ nước.


II) Bổ Máu:

Trong quan niệm y khoa đông y khi đề cập về bổ cũng bao hàm khả năng lọc máu và tạo máu hay sự rối loạn máu huyết trong cơ thể phụ nữ. Khi phụ nữ bị kinh nguyệt không điều, bị rong kinh, tắt kinh, hay thiếu máu,... mà tất cả nguyên nhân liên quan đến máu huyết y sĩ cần chẩn bệnh và xác định bệnh trạng. Trong kho tàng dược thảo đông y có muôn vàn loại hoa cỏ, củ rễ dược thảo hay nguồn làm thức ăn, thức uống bổ máu mà bài viết này chỉ nêu lên một số dược thảo tiêu biểu mà thôi.

1) Đương Qui (Radix Angelicae Sinensis): 

Đương qui được ngành dược thảo tây y ghi nhận có công dụng thiết thực cho các sản phụ trong thời gian thai nghén. Người Hoa đã xử dụng dược thảo này cả ngàn về trước. Đương qui mang tính ôn, vị cay, ngọt và vào cơ thể qua các kinh tâm, can và tỳ. Các thành phần hóa học chủ yếu là sinh tố 12, folic acid, carotene, beta-sitosterol, dihydrophtalic anhydrid, butylidene phtalid, sucrose,... Đương qui tăng sự co thắt tử cung, tăng sinh tố E đề phòng sẩy thai. Đương qui làm dãn thành động mạch tăng lưu lượng máu, chống sự kết tụ huyết khối với tác dụng giảm sự rối loạn máu huyết, chống sự viêm tiểu cầu, bảo vệ gan tạo máu và lọc máu. Đương qui giúp tăng áp huyết đối với bệnh thấp áp huyết, làm dã nở phế quản giúp cho bệnh nhân ho hen vì suyễn. Đương qui còn co tác dụng lợi tiểu và tạo tác dụng kháng sinh cho cơ thể.


2) Thục Địa (Radix Rehmannae Glutinosae Conquitae): 

Thục địa là phần củ của cây địa hoàng (Rehmannia glutinosa libosch), mang tính ôn, hơi ngọt. Tinh chất thục địa sẽ đi vào hai kinh can và thận. Thành phần hóa học gồm rehmannin, campesterol, manitol, beta-sitosterol, catalpol, stigmasterol, anginin và glucose. Ứng dụng trị bệnh thục địa hoàng làm gia tăng lưu lượng máu, làm dãn nở cơ tim, co bóp nhịp tim và tạo chất kháng sinh rất tốt cho hệ thống miễn nhiễm.


3) Hà Thủ Ô (Radix Poligoni Multiflori): 

Hà thủ ô có hai loại là đỏ và trắng. Hà thủ ô đỏ mang tính ôn, vị nhẫn và ngọt. Thành phần hóa học có lecithin, emodin, chrysophanic acid, rhein và chrysophanic acid anthrone.
Công dụng Hà thủ ô là hạ cholesterol, chống chứng xơ cứng thành động mạch, có tác dụng nhuận tràng, có tác dụng kháng vi khuẩn xâm nhập cơ thể, làm cho tóc đen và chống lão hoá. Hà thủ ô trắng có tác dụng ức chế, ngăn cản tế bào ung thư phát triển và làm mạnh hệ thống miễn nhiễm.


4) Bạch Thược Dược (Radix Paconiae Lactiflorae): 

Bạch thược dược là rể cây thược dược được sấy khô, mang tính hàn, vị đắng và chua. Thành phần hóa học gồm paenoflorin, paeonol, paeonin, tritepenoid và sistoterol.
Ư’ng dụng như chất thuốc an thần, làm thư dãn mạch máu hệ thần kinh, chống sự tích tụ của máu, chống viêm đại tràng, nhuận tràng, bạch thược dược có tác dụng chống chứng mồ hôi trộm và dùng như chất lợi tiểu.


5) Câu Kỷ Tử (Fructus Lycii Chinensis): 

Câu kỷ tử là quả chín màu đỏ, kích thước hạt tiêu, mang vị ngọt, tính ôn. Khi vào cơ thể tinh chất câu kỷ tử sẽ qua kinh can, phế và thận. Thành phần hoá học có carotene, thiamine, riboflavin, beta-sitosterol, sinh tố C, A và linoleic acid. Công dụng của câu kỷ tử là bảo vệ hệ thống miễn dịch, hạ cholesterol, làm hạ áp huyết do việc làm dãn nở thành mạch máu. Câu kỷ tử được dùng chống ung thư (anti-oxidant).


* Những Lưu Ý Khi Dùng Dược Thảo:

Xuyên qua phần trình bày sơ lược trên, chúng ta thấy y khoa đông y dựa trên dược thảo khô hay tươi như sâm, hoàng kỳ, thục địa, đơn qui, câu kỷ tử, hà thủ ô,... vì không qua qui trình biến chế có pha thêm các chất hóa học, do đó phương pháp điều trị cho bệnh nhân có thể tránh được các phản ứng phụ gây tác hại bất lợi cho cơ thể, trị bệnh này lại phát sinh ra bệnh khác. Đó là cái lợi khi dùng dược thảo. Tuy vậy đời sống theo luật tương đối vì có vài loại dược thảo bị FDA liệt kê vào danh sách cấm sử dụng như ma hoàng, mộc thông, phụ tử, bọ cạp,... vì mang các độc chất (toxins) nên được khuyến cáo không nên dùng.

1) Ma hoàng: (thuộc gốc Ephedraceae) dùng trị các bệnh ho hen, phế quản, suyễn, cảm cúm thuộc về đường hô hấp. Nó có chứa chất ephedrin có tác dụng như chất adrenalin, ở lượng nhiều nó làm thông đường tiểu tiện, toát mồ môi và làm giảm dịch vị trong tỳ, làm bệnh nhân không muốn ăn, song song với việc mất nước nhiều trong cơ thể làm bệnh nhân sẽ mau sụt ký và trong một thời gian ngắn giảm cân thật mau lẹ, và vì hậu quả của nó là ở lượng cao, ma hoàng làm hạ áp huyết mau lẹ, tuyến hô hấp tăng nhanh, khó thở, đưa đến tử vong khi tim ngừng đập.


2) Mộc thông: dùng trong mục đích lợi tiểu và thông huyết mạch, khi dùng ở lượng cao sẽ hạ thấp áp huyết, buồn nôn, ói mửa gây ra tử vong.


3) Phụ Tử: là một trong bốn dược vị thông dụng để bổ dương trong đông y là sâm, nhung, quế, phụ. Phụ tử có chứa chất aconiti rất độc hại. Nhưng vì công dụng của nó trị các bệnh đau bụng, đau khớp xương, liệt gân cốt, sưng viêm các khớp rất hữu hiệu. Phụ tử được dùng làm dầu thoa đau nhức ngoài da. Khi dùng làm thuốc uống ở lượng cao rất nguy hiểm.


FDA có một danh sách nhỏ những loại dược thảo được khuyến cáo cho các nhà làm thuốc. Nhưng lời đề nghị vẫn là nên tham khảo hay hỏi ý kiến của các chuyên viên y khoa trước khi dùng bất cứ một loại dược thảo hay những loại thuốc nào nói chung mà ta chưa hiểu rỏ nguyên nhân điều trị hay hậu quả do thuốc gây ra.

Nói về nguồn bổ dưỡng do sâm dem lại, trong đông y có hai loại sâm mà trong các tiệm thuốc bắc gọi là hồng sâm hay sâm đỏ (như sâm Cao ly, nhị hồng sâm) và sâm trắng (sâm Hoa kỳ). Sâm Hoa kỳ được dùng để bổ khí, gia tăng sinh lực, bệnh về máu huyết hay tim mạch có thể dùng được. Hồng sâm hay sâm đỏ tốt cho bổ máu, tạo máu mới, da dẻ hồng hào, nhưng sâm đỏ lại làm gia tăng áp huyết. Thế nên các bệnh nhân cao máu không nên dùng nó.

Săn sóc sức khoẻ là điều cần thiết qua câu nói: "Sức khoẻ là vàng". Khi ta còn sức khỏe thì ta còn tất cả, khi sức khỏe bị mất mát hay hư hao trầm trọng thì cuộc đời sẽ mất đi ý nghĩa sống. Mong rằng bài tản mạn về dinh dưỡng và sức khỏe này được gửi đến độc giả như một niềm vui khi nghĩ về tầm quan trọng của sức khoẻ của chúng ta.

Vương Thư Sinh biên soạn 
(Gởi Peter Morita, OMD, PhD.)

* Tham khảo:
- Những Cây Thuốc, Vị Thuốc Việt Nam, GS Đ.T. Lợi
- Cây Thuốc, Bài Thuốc & Biệt Dược, DS Phạm Thiệp
- Chinese Herbal Medicine, Dan Bensky & A. Gamble
- Japanese Herbal Medicine, Robert Rister
- The Complete Book of Chinese Healing & Healing, Daniel Reid
- The Complete Guide to Asian Herbal Medicine, Letha Hadday.


ĐÁM MÂY


Một ngày đẹp trời bạn nhìn lên trời cao, thấy một cụm mây trắng nõn như bông đang trôi lơ lửng. Bạn ngắm nghía, thưởng thức hình dáng đám mây, ánh sáng chiếu trên nhiều từng mây và bóng mây che mát cánh đồng màu xanh dưới đất.

Bạn đâm ra yêu đám mây. Bạn mong đám mây cứ ở đó với bạn để bạn được sung sướng. Nhưng rồi hình dáng và màu sắc của mây thay đổi. Nhiều đám mây khác tụ lại, rồi bầu trời tối sầm và bắt đầu mưa. Không còn đám mây nữa, nó đã biến thành mưa. Bạn bắt đầu than khóc, mong đám mây dễ thương kia trở lại với mình.


Bạn sẽ không than khóc khi bạn biết rằng nếu nhìn sâu vào các giọt mưa, bạn sẽ thấy đám mây. Trong đạo Bụt có giáo pháp vô tướng (animitta 無相). Tướng là hình dáng bên ngoài của một sự vật. Thực tập vô tướng để không bị cái bề ngoài của sự vật đánh lừa mình. Khi ta hiểu chữ animitta, ta sẽ thấy hình tướng bề ngoài không phải là tất cả thực tại.

Khi đám mây biến đổi thành ra mưa, bạn có thể nhìn sâu vào mưa để thấy rằng đám mây vẫn còn đó, đang cười với bạn. Ðiều này làm cho bạn sung sướng và bạn có thể ngưng khóc vì bạn không còn bị vướng vào hình tướng của đám mây nữa. Khi bạn quỵ xuống vì đau khổ và tiếp tục khóc lóc hoài, chỉ vì bạn đã bị bỏ lại phía sau, bị vướng vào hình tướng của đám mây. Bạn bị quá khứ buộc chặt và không thể nhìn thấy được hình tướng mới. Bạn không theo được đám mây khi nó đã biến hóa thành ra mưa hay tuyết.


Khi bạn mất một người nào và bạn than khóc nhiều quá, thì xin hãy nghe lời gọi của Bụt. Nhìn cho sâu để nhận ra bản chất vô sinh bất diệt, không tới không đi của người bạn thương. Ðó là giáo pháp của Bụt dạy về bản chất thật sự của ta.

(Sưu tầm trên mạng)

BỐN NỔI KHỔ LỚN CỦA MỘT ĐỜI NGƯỜI

Đời người tựa như cánh cửa, có người lạc quan khi ở bên trong, có người lại vui vẻ khi đứng bên ngoài. Kỳ thực, có rất nhiều thứ không biết như thế nào mới là tốt nhất, chỉ cần bạn cho là đáng giá thì mới là tốt nhất…

Không có vàng nguyên chất, cũng không có người hoàn mỹ, bởi vì không hoàn mỹ mới là chúng ta đích thực. (Ảnh: Internet)

1. Bốn cái khổ của đời người

Một là nhìn không thông: Không nhìn thấy được bản thân mình lạc trong vòng luẩn quẩn, không thấy vết thương của mình sau mỗi lần tranh đấu, không nhìn thấy nơi yên tĩnh ở phía sau sự sầm uất vô vị, chính là một nỗi khổ lớn của đời người.

Hai là luyến tiếc: Luyến tiếc sự ưu việt của bản thân trong quá khứ, luyến tiếc những sự việc không tới nơi tới chốn đã từng làm, luyến tiếc những hư vinh, những tiếng vỗ tay đắc thắng. Sống trong luyến tiếc thì cả đời sẽ dằn vặt không yên.

Ba là không thể đứng dậy sau thất bại: Cuộc sống ai mà chưa từng thất bại, nhưng nếu thất bại mà lại gục ngã, không thể đứng dậy được thì phần đời còn lại có lẽ chỉ là những lời than trách mà thôi.

Bốn là không thể vứt bỏ: Không buông bỏ được người và sự việc đã đi xa, không vứt bỏ được những mặc cảm về tội lỗi trong quá khứ sẽ giống như mang theo tảng đá khi đi đường dài vậy, thật khổ, thật mệt.

Bạn đã hiểu rồi, vậy bạn có muốn thay đổi hay không?

……….

2. Một đời người, không phải tốt đẹp như trong mơ, cũng không xấu như trong tưởng tượng.

Phía sau mỗi người đều có nỗi đau ẩn chứa, đều có nỗi khổ không thể nói ra bằng lời.

(Ảnh: Internet)

Mỗi người đều bước đi trên con đường của mình. Chỉ cần nhớ:

Khi lạnh hãy mặc thêm áo khoác cho mình;
Khi đói mua cho mình một cái bánh;
Khi đau hãy tự cho mình một chút kiên cường;
Khi thất bại thì tự đặt cho mình một mục tiêu, hãy chịu đau đứng dậy sau khi bị té ngã, hãy đích thực là chính mình.

3. Không nên lấy tiêu chuẩn của mình để đặt yêu cầu cho người khác, cũng không nên đeo kính màu để nhìn người khác.
Bởi vì mỗi người đều có sở thích, cá tính, cũng như giá trị của riêng họ. Những điều bạn thấy không thuận mắt, cũng không nhất định là điều không tốt.

Lý giải về hành phúc có hàng ngàn vạn loại, quan niệm về hạnh phúc của mỗi người cũng không giống nhau. Hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời chính là có thể được làm chính mình.

Tin tưởng chính mình, đi theo tiếng gọi của tâm hồn mình, không viễn tưởng đặt ra mục tiêu vượt xa khả năng bản thân, không mù quáng ganh đua, bạn chính là người hạnh phúc nhất.

Không có vàng nguyên chất, cũng không có người hoàn mỹ, bởi vì không hoàn mỹ mới là chúng ta đích thực nhất.

4. Hạnh phúc là sự gom góp từng chút từng chút, là được thực hiện từng ngày từng ngày. Đừng làm tổn thương người yêu mến bạn, cũng đừng làm người bạn yêu mến bị tổn thương.

(Ảnh: Internet)

Một người dẫu có tốt đến mấy, nhưng nếu họ không nguyện ý cùng bạn đồng hành cho đến hết cuộc đời, thì họ chính là người khách ghé thăm bạn mà thôi.

Một người dẫu có nhiều nhược điểm, nhưng lại có thể luôn nhường nhịn bạn, chăm sóc bạn, nguyên ý suốt đời ở bên bạn, đó chính là hạnh phúc của bạn.

Ai cũng muốn tìm một người thập toàn thập mỹ, nhưng con ngươi ai cũng có khuyết điểm. Yêu chính là nhường nhịn, thành thật với nhau, trọn đời bên nhau.

Có được một người có thể làm cho bạn vui vẻ cả đời, mới chính là mục tiêu của cuộc sống.

5. Khi những thứ mà ta sở hữu và những chấp nhất của chúng ta trở thành một loại “vũ khí” gây tổn thương, thì buông bỏ chính là giải pháp tốt nhất cho cuộc đời.

Mấy ai có thể biết được mình có bao nhiêu đau khổ, ai biết được mình bị bao nhiêu tổn thương. Nếu nước mắt không đọng lại ở trên mặt thì không ai biết được nó lạnh giá đến chừng nào, cái đau không nằm trên thân thể thì không thể biết nó đau đớn nhường nào.

Bạn có thể nhìn thấy giọt lệ đọng nơi khóe mắt, vết sẹo ở trên thân nhưng không nhất định hiểu được nỗi đau buồn và bi thương ở trong tâm hồn.

Hãy ngoảnh mặt bước đi trước khi rơi lệ, để lại sau lưng một hình bóng kiên cường, bạn sẽ thấy tâm hồn thật nhẹ nhõm trên hành trình kế tiếp của cuộc đời mình.

6. Khi còn trẻ không hiểu biết, trung niên sẽ luyến tiếc.

Có một số thứ, khi bạn hoàn toàn sở hữu được, lại cảm thấy buồn tẻ vô vị; có một số thứ, khi vĩnh viễn mất đi, mới phát hiện ra nó trân quý vô cùng.

(Ảnh: Internet)

Khi lâm vào giai đoạn khốn khổ của cuộc đời, cái gì tới thì muốn ngăn cản cũng không ngăn được, cái gì đi thì muốn giữ cũng giữ không được.

Trong cái được và mất, có những sự việc nhỏ bé không đáng kể, nhưng chúng khiến bạn đau, khiến bạn yêu, bạn hận, khiến bạn cả đời phải đau khổ, cả đời phải khác cốt ghi tâm.

7. Cánh cửa cuộc đời

Đời người tựa như một cánh cửa, có người cảm thấy bi quan khi ở trong cánh cửa tối om, có người lạc quan khi được ở trong cánh cửa tĩnh mịch, có người ưu sầu vì mưa gió khi đứng bên ngoài cánh cửa, có người thấy vui vẻ bởi vì được tự do khi đứng ngoài cánh cửa.

Kỳ thực trong đời người, có rất nhiều thứ không biết như thế nào mới là tốt nhất, chỉ cần bạn cho là đáng giá thì nó là tốt nhất.

Thành công và thất bại, hạnh phúc và bất hạnh, định nghĩa trong nội tâm của mỗi người là không giống nhau. Mấu chốt là phải năm chắc được điều bạn muốn là cái gì, đừng để nó tuột khỏi tay bạn, đừng để mình phải hối tiếc quá nhiều.

8. Thêm một chút gia vị cho tình bạn.

Tình nghĩa bạn bè, cuối cùng sẽ dần dần phai nhạt. Để có một người bạn đích thực thường phải mất vài năm hoặc vài chục năm, mà đắc tội với một người bạn có thể chỉ trong vài phút, hoặc chỉ vì một chuyện.

(Ảnh: Internet)

Thế tục phù phiếm, lòng người phức tạp, rất mẫn cảm với những lặt vặt nhỏ nhoi, đều là trở ngại cho sự tiến triển của tình bạn.

Có lẽ bởi vì là bạn bè, nên đã thiếu đi một chút băn khoăn, thiếu đi một chút tôn trọng, vì thế mới thành ra như vậy. Giữa bạn bè với nhau khi thân cận quá, quan hệ sẽ trở nên phức tạp, khoảng cách quá xa thì lại mất đi liên lạc.

Hãy biết quan tâm, trân quý, che chở cho tình bạn. Cho dù không trường tồn muôn thủa, thì ít nhất đã từng có một tình bạn khắc cốt ghi tâm.

9. “Thấu hiểu” là thuật ngữ thâm tình nhất, khắc sâu nhất trong thế giới tình cảm.

Thấu hiểu, chính là dùng ánh mắt của ta để an ủi nỗi ưu thương của người khác;

Thấu hiểu, chính là để nhịp tim đập theo nhịp tim của người khác;

Thấu hiểu, chính là im lăng lắng nghe âm thanh của tâm hồn;

(Ảnh: Internet)

Thấu hiểu, chính là trong mắt của tôi luôn có hình bóng của bạn;

Người thấu hiểu, chính là yêu hết mức có thể. Bởi vì chỉ có “thấu hiểu”, mới có thể trầm tĩnh, mới có thể ung dung, mới biết thế nào là trân quý.

10. Cánh “cung” của cuộc đời, người kéo quá cỡ sẽ mệt mỏi, kéo cung không đủ sẽ tụt lại phía sau.

Người coi cuộc đời người như một hành trình, thì sẽ luôn nhìn thấy phong cảnh. Người coi cuộc đời như một chiến trường, thì gặp phải luôn là những tranh đấu.

Cuộc đời chính là như vậy, lựa chọn cái gì thì sẽ gặp cái đấy, không có đúng hay sai, chỉ có chấp nhận hay không.

Học cách quên đi những chuyện làm mình không vui, học cách rời xa những người làm cho mình trở nên hèn mọn. Chỉ cần vẫn có ngày mai, thì ngày hôm nay mãi mãi vẫn là khởi điểm.
Gặp gỡ nhiều người thì biết sự đáng quý của tình bạn
Va vấp nhiều thì biết được sự đáng quý của hiểu biết
Thất bại nhiều mới biết sự đáng quý của tư tưởng
Thành công nhiều thì biết được sự đáng quý của dũng khí
Mâu thuẫn nhiều thì biết sự đáng quý của ý chí
Không thuận mắt nhiều thì biết sự đáng quý của tu dưỡng
Nịnh nọt nhiều mới biết sự đáng quý của chân thành
Danh lợi nhiều mới biết sự đáng quý của xem nhẹ
Xã giao nhiều mới biết sự đáng quý của thanh tịnh!

Kiếp người rất ngắn, hãy cảm ơn vì mình đang được sống, bạn mới có thể cảm nhận được những điều mỹ hảo của cuộc đời này…

Lê Hiếu, dịch từ Cmoney.tw

NỮ BÁC SĨ ĐẦU TIÊN TRONG QUÂN ĐỘI MỸ

Không chỉ là nữ bác sĩ đầu tiên trong quân đội Mỹ, Mary Edwards Walker còn trở thành người phụ nữ duy nhất được trao Huân chương Danh dự.


Đáng tiếc, tên tuổi Mary Edwards Walker hiếm khi được nhắc đến trong sách vở. Theo NPR, Quốc hội Mỹ từng có ý định lấy lại Huân chương Danh dự của bà.

Sinh ngày 26/11/1832, Walker chưa bao giờ quan tâm đến cuộc sống bình thường. Ngay từ thời thơ ấu, bà đã ghét những quy định về xiêm y, ứng xử dành cho con gái. May mắn, cha mẹ Walker đều là những người cởi mở, ủng hộ bình đẳng giới và cải cách trang phục.

Bác sĩ Mary Edwards Walker với Huân chương Danh dự trên ngực. Ảnh: APIC.

Được hưởng nền giáo dục vượt trội so với bạn bè đồng lứa, Walker quyết định trở thành bác sĩ. Thời kỳ ấy, người Mỹ đã có nữ bác sĩ đầu tiên nhưng hầu hết trường y vẫn cấm phái đẹp. Walker theo học tại Trường y Syracuse và nhận bằng năm 1855. Ở tuổi 23, bà trở thành nữ bác sĩ thứ hai trong lịch sử nước Mỹ, bắt đầu hành nghề tại phòng khám riêng ở New York cùng chồng là Albert Miller.

Năm 1860 nội chiến bùng nổ. Walker nộp đơn ứng tuyển vị trí bác sĩ cho quân đội liên minh miền Bắc. Thế nhưng dù chưa đầy 100 bác sĩ phẫu thuật được cấp bằng vào giai đoạn đầu cuộc chiến, Walker vẫn bị từ chối. Không nản lòng, bà chấp nhận làm y tá tại bệnh viện dã chiến. Trong trận đánh Fredericksburg và Chattanooga, Walker hoạt động như một bác sĩ phẫu thuật chiến trường không lương.

Tháng 9/1863, Walker cuối cùng được ký hợp đồng với trung đoàn bộ binh Ohio 52, trở thành nữ bác sĩ phẫu thuật đầu tiên trong quân đội Mỹ. Các đồng nghiệp nam cho động thái này là "sự báng bổ y học", từ chối hành nghề bên cạnh Walker, thậm chí đề nghị cấp trên bãi nhiệm bà.


Không nao núng, Walker tin tưởng mình được dành cho chiến trường. Bà ăn mặc như nam giới, sẵn sàng xông pha giữa chốn bom đạn, thường xuyên vượt tuyến để điều trị cho cả thương binh lẫn dân thường. Bằng tài năng và lòng trung thành, Walker dần dần giành được sự tín nhiệm của quân lính. Tuy nhiên, bà tiếp tục làm việc không lương cho đến khi chiến tranh gần kết thúc.

Ngày 10/4/1864, vị bác sĩ bị liên minh miền Nam bắt và tống giam tại Castle Thunder, nhà ngục nổi tiếng tàn bạo ở Richmond. Theo các tài liệu ghi lại, nữ tù nhân mới khoảng trên 30 tuổi, xấu xí gầy gò, ăn mặc kỳ quái và đầy vẻ thách thức. Quãng thời gian ở Castle Thunder ám ảnh Walker đến tận cuối đời.

Vài tháng sau, theo chương trình trao đổi tù binh, Walker được trả tự do, quay về với vị trí nhân viên y tế. Năm 1865, Tổng thống Andrew Johnson quyết định trao cho bà Huân chương Danh dự. Mary Edwards Walker chính thức trở thành người phụ nữ đầu tiên nhận tấm huân chương quân sự cao quý nhất nước Mỹ.

Không phải ai cũng mừng cho Walker. Năm 1917, tên bà cùng 910 người khác bị gạch khỏi danh sách nhận Huân chương Danh dự do các điều khoản bị thay đổi. Với bản tính cứng rắn, Walker từ chối trao trả lại huân chương, tiếp tục đeo nó trên y phục hàng ngày kèm lời nhắn tới chính phủ: "Các ngài sẽ nhận được nó chừng nào tôi chết".

Mary Edwards Walker trong giai đoạn từ năm 1911-1917. Ảnh: Library of Congress.

Sau thời gian phục vụ trong chiến tranh, Walker bị tàn tật. Từ ngày 13/6/1865, bà được trợ cấp 8,5 USD mỗi tháng, đến năm 1899 số tiền này tăng lên 20 USD. Bên cạnh nghề y, vị bác sĩ viết lách và giảng dạy về chăm sóc sức khỏe, ăn uống điều độ, quyền của phụ nữ, cải cách trang phục. Bà thường xuyên bị bắt vì ăn mặc giống nam giới. Trả lời những chỉ trích, Walker khẳng định: "Tôi không mặc quần áo của đàn ông, tôi mặc quần áo của chính tôi".

Walker qua đời ngày 21/2/1919 ở tuổi 87 sau thời gian dài bị bệnh. Lễ tang đơn giản với một lá cờ Mỹ treo trên quan tài. Bà yên nghỉ tại New York trong bộ com-lê màu đen thay vì váy.


Năm 1977, Tổng thống Jimmy Carter phục hồi Huân chương Danh dự cho Mary Edwards Walker, ca ngợi bà về "lòng hy sinh, yêu nước, sự cống hiến trung thành không sợ hãi dành cho quốc gia bất chấp bị phân biệt đối xử do giới tính".


Minh Nguyên


Saturday, May 11, 2019

BÙI GIÁNG TRONG KÝ ỨC TRI KỶ: ĐƯỜNG XA MÂY VÁ ...

“Bên lòng sa mạc quạnh hiu
Hồn ta chiếc bóng từ nhiều kiếp xa”
(Lâm Ngọc Duy)

Trong giấc ngủ mơ màng, gã vùng dậy theo cơn mơ. Người ở tâm thức cách đó mấy giây không thật bước vào, bởi căn nhà vẫn không bóng khách, thanh vắng. Gã cầm bút ghi lại cảm xúc ngọt ngào vừa qua: “Bỗng đường xa mây vá/ Áo rách rưới đi về”. Lần này là không biết lần thứ bao nhiêu gã mơ thấy mình gặp lại Bùi Giáng.

Bùi Giáng cùng gã nằm trên thảm lá trong khuôn viên một ngôi chùa ở Sài Gòn. Ảnh của Lâm Ngọc Duy

Năm 1981, gã cắt dây thả cho con bò duy nhất mình có được tự do, bỏ bốn sào rưỡi đất canh tác lơghim, đốt luôn căn nhà gỗ trên đồi Cam Ly, dắt vợ cùng đứa con gái năm tuổi trôi thẳng về Hòn ngọc Viễn Đông. Gã lang thang chụp hình dạo, còn vợ bán khoai lang luộc, tối cùng nhau ngủ trên vỉa hè Sài Gòn hoa lệ.

Sài Gòn hào hiệp và Sài Gòn tàn bạo, chìa tay và xua đuổi, từ đồng nghiệp chụp hình đến đồng nghiệp bán khoai. Từ chợ Bình Tây đến chợ Bến Thành, khách lữ hành trên đường Đồng Khởi xa hoa, đến khách ở bến cảng, xóm lều, di tích, chùa chiền… Nồi khoai nấu nhờ hè phố khói tỏa nhớ về phố núi lãng đãng đất rộng người thưa. Gã ngơ ngác khi có người gọi vào cho tắm nhờ, và càng ngơ ngác khi những đồng bạc cuộn trong quần áo gối trên đầu khi ngủ bị những kẻ cố cùng khác cuỗm lấy khi say giấc. “Những tưởng đầu đường thương xó chợ/ Ai ngờ xó chợ chẳng thương nhau”. Mười năm chìm nổi tao loạn, người đàn bà bán khoai của phố núi hóa điên giữa Sài Gòn. Người điên vẫn có thể sinh ra đứa trẻ thứ hai. Gã muốn tự vẫn. Nhìn hai đứa trẻ, gã đã không tự tử và người điên cũng có khoảnh khắc nhận ra là hai sinh linh kia không thể thiếu mẹ.

Một lần đang đi mưu sinh, chợt thấy có người đàn ông rách rưới đang nhảy múa ở hồ Con Rùa, bao quanh là người đứng xem. Gã xé đám đông bước vào: “Có phải ngài là Bùi Giáng?”. Người đang là trò vui của đám đông dừng lại: “Sao ngươi biết ta!?”. “Tôi linh cảm thấy!”. Ở trên xứ lạnh, những lúc buồn bã gã từng lôi những thi phẩm Ngàn thu rớt hột, Mười hai con mắt, Rong rêu, Trường học đờn bà, Mùa màng tháng Ba, và cả những dịch phẩm Hoàng tử bé, Khung cửa hẹp, Cõi người ta, Nhà sư vướng lụy, Ngộ nhận, Mùi hương xuân sắc, các khảo cứu Martin Heidegger… của Bùi Giáng ra đọc. Người đó cầm tay kéo gã ra khỏi đám đông, dắt đi, bỏ lại đám đông ngỡ ngàng. Họ đưa nhau vào quán cà phê “ăn thề” tri kỷ. Bùi Giáng xé miếng giấy làm câu thơ tặng gã: “Đáp lời bờ cỏ ra hoa”. Từ đó họ thành bạn, một tình bạn vô tiền khoáng hậu, của một vang danh trí tuệ và một kẻ vô danh vô phận.

Gã nhiều lần tìm đến nơi Bùi tiên sinh ở để thăm, nhưng họ Bùi đi về như gió mây. Bùi Giáng đến thăm cái chòi lá của gã nơi một xóm ngoại ô, do một người xa lạ cho cất nhờ trên đám sình bỏ hoang. Bùi ngủ qua đêm trong căn chòi, rạng sáng dậy tham thiền thật lâu, rồi vác túi ra đi khi trời chưa hừng đông. Và họ tiếp tục có những lần gặp nhau trên phố. Bữa nọ, từ khu vực bến Bình Tây gã quyết có mặt nơi Bùi ở vào thời điểm hơn bốn giờ sáng, với túm trà và chiếc bình con bằng bụm bàn tay. Nhưng Bùi đã đi khỏi. Gã dắt chiếc xe đạp lang thang trên đường Lê Quang Định. May thay, Bùi đang ngồi trong quán một ngã ba gần nhà. Và gã chở Bùi đi chơi. Bùi đọc thơ cho gã nghe dọc đường. Họ đưa nhau vào một ngôi chùa, nằm ngửa trên cỏ nhìn kiếp nghèo qua kẽ lá. Bùi lại nhẩn nha triết học, đọc thơ, và họ cùng ngủ trưa ở sân chùa.

Sau lần gặp đấy, bi kịch áo cơm đẩy gã đột ngột xa cách Bùi mất hút mà không lời giã biệt, bởi chống chọi không nổi với thế nhân ở xứ tuyệt đỉnh của đấu tranh sinh tồn, sau mười một năm xó chợ lề đường. Bùi vi vu sống trên mây, gã thì lưng lửng giữa mây và đời.

Gã quay về xứ sở sương mù. Lại mở ảnh viện, cái photo bé con ở Ngã năm Đại học. Bao thứ ở xứ này đã thay đổi, nói chi nghề ảnh. Gã lui xuống một thị trấn để được xa cách tỉnh lỵ, ba chục cây số, Tùng Nghĩa. Rồi gã bị “đồng nghiệp” cạnh tranh, thế gian lừa gạt nơi đặt hiệu ảnh đến đất đai. Không sao, đời ta vẫn còn một tài sản lớn là tình bạn với con người đặc biệt. Đặc biệt đến độ, trên tấm ảnh thờ Bùi, gã kẹp vào mảnh giấy nhỏ có ghi mấy chữ: “Bồ Tát nghệ sĩ”. Mười một năm lăn lội với Sài Gòn, tài sản duy nhất gã mang về núi là thế, còn hũ tro của người vợ thì “tị nạn” một chùa nơi ấy. Những tấm ảnh gã chụp Bùi Giáng treo quanh nhà không biết để nhớ về Sài Gòn hay nhớ về Bùi Giáng. Gã định bụng khi nào có được một căn nhà tươm tất, sẽ quay về Sài Gòn đón Bùi Giáng lên nghỉ dưỡng. Chưa kịp thực hiện, Bùi đã hóa thiên cổ.

Đời lạ lắm, khi Bùi tại thế với hình ảnh tả tơi như cái bang thì gần xa né tránh, gọi bằng “thằng”. Nhưng khi ông mất, thành thi sĩ huyền thoại, nhiều người kéo vào xưng mình từng là bạn thân, chiến hữu, gọi bằng “anh”, bằng “thầy”.

Về đến núi cũng chưa hết kẻ buông tha. Người ta lấm la lấm lét những tấm ảnh vô giá đó. Vài tay Sài Gòn tìm lên nơi ở của gã ở miền huyện, dụ dỗ gã đưa những file ảnh đó xem chơi rồi cuỗm luôn. Họ mang về Sài Gòn sử dụng đủ trò để kiếm ăn, kể cả đưa triển lãm với tư cách họ là người chụp hay sưu tầm được. Lại có kẻ dẻo miệng ngon ngọt bảo gã viết giấy tay giao cho mình quyền sở hữu những bức ảnh kia. Gã vô tư viết, ký, và trao thật. Đời lạ lắm, khi Bùi tại thế với hình ảnh tả tơi như cái bang thì gần xa né tránh, gọi bằng “thằng”. Nhưng khi ông mất, thành thi sĩ huyền thoại, nhiều người kéo vào xưng mình từng là bạn thân, chiến hữu, gọi bằng “anh”, bằng “thầy”. Gã chả sống trong phù hoa cũng không là trí thức. Gã học chưa qua tiểu học. Gã chỉ biết đó là người bạn khốn cùng.

Gã làm giỗ cho Bùi theo kiểu của mình, hàng năm tổ chức thanh và gọn, chẳng mời ai; nhưng vật phẩm luôn có là “món thơ”, lôi thơ Bùi ra đọc khi cúng, từ dạo đó.

*

Gã lý tưởng nghề chụp hình, chỉ chụp người đẹp và người nghèo. Ảnh viện Ngọc Duy trên đường Minh Mạng ở phố núi là địa chỉ tâm đắc của các nữ sinh trung học, sinh viên Viện Đại học Đà Lạt. Từ bổn quán Quảng Ngãi đến Đà Lạt, nhờ chiếc máy ảnh mà gã trốn lính thoát nhiều phen. Nhưng một lần gã về Sài Gòn mua vật phẩm ảnh, chuyến xe đêm đó bị cảnh sát cùng quân cảnh buộc dừng lại để kiểm tra, vì hôm trước trên Đà Lạt có nhóm người nào đó đột nhập trường Chiến tranh Chính trị hạ sát sáu vị mục sư cùng lúc. Sự vụ rúng động đến đầu não Sài Gòn. Kiểm tra từng người, đến lượt gã thì người ta phát hiện trong giỏ xách có tấm bản đồ vẽ chằng chịt đường đi ở Sài Gòn mà một người Đà Lạt vẽ cho. Chỉ có thể là giao liên với Việt Cộng mới mang sơ đồ vẽ tay thế này - cơ quan công lực nghĩ thế. Sự thực là để đến đường Tự Do, nơi bán vật tư ngành ảnh, phải vẽ chi li như thế thì một người chưa từng biết Sài Gòn mới đi được. Khai thật thế nào người ta cũng không tin.

Bùi Giáng trước căn nhà như cái chòi. Ảnh: Lâm Ngọc Duy

Vào tù, thấy mình quá oan ức, gã đọc đi đọc lại những vần thơ nằm lòng của thi nhân nào đó trong tập Lửa thiêng. Có lần người quản ngục áp tai nghe thảnh thót: “Hỡi Thượng đế tôi cúi đầu trả lại/ Linh hồn tôi đã một kiếp đi hoang/ Nhận tôi đi dù địa ngục thiên đường”. Linh cảm rằng gã vô tội, người quản ngục tìm cách thuyết phục cơ quan hữu trách. Gã được tha, nhưng tội trốn quân dịch thì không thể bỏ qua. Gã được đưa ngay ra quân trường Vạn Kiếp ở Vũng Tàu. Sau ba tháng, vào một đêm người ta đưa gã cùng những tân binh khác lên chiến trường Đắk Tô. Đột ngột có lệnh đâu đó, phải đưa số tân binh này về quân trường Lam Sơn ở Khánh Hòa để huấn luyện kỹ hơn, bởi Đắk Tô mới vừa diễn ra cuộc đánh nhau dữ dội và mất quá nhiều lính trẻ. Xe chở đi đường bộ, theo đường 7 (quốc lộ 25 nay), xuống khỏi cao nguyên đến Phú Yên thì đã khuya, người ta cho đám tân binh phần đông là trốn quân dịch này nghỉ qua đêm trong một khu dã chiến.

Khuya đó, gã chớp cơ hội đào thoát. Về tới nhà bà dì ở trung tâm thành phố Nha Trang, nhìn căn nhà mặt tiền gã nghĩ trong lòng: “Mình phải mở một ảnh viện ở đây!”. Hôm sau, nhà thầu nổi tiếng của Đà Lạt Võ Đình Dung xuống núi tắm biển, gõ cửa chỗ quen biết là nhà bà dì ấy: “Mai nhà có ai đi Đà Lạt không, cho quá giang nè?”. Bà dì mừng như trúng độc đắc.

*
Đà Lạt ít mùi chiến tranh, cũng là đất dung túng tự nhiên bao kẻ mơ mộng, thất chí, lẫn trốn lính. Gã thuê một căn nhà bỏ hoang ở đường Hoàng Diệu để ẩn trú. Rồi gã cưới vợ, một nữ sinh gốc Quảng Ngãi từng đến chụp ở ảnh viện của gã. Cưới xong, đưa nàng về Nha Trang, lại gõ cửa bà dì: “Cháu muốn thuê mặt trước nhà dì để mở một cái photo! Giá cả theo thị trường, không để thiệt dì!”. Cái ảnh viện ấy đổi tên từ Ngọc Duy sang Ngọc Trâm, dựng lên lấp lánh. Ảnh viện nơi phố biển đang dập dìu khách, bỗng người dì đòi ngăn đôi mặt tiền để lấy một phần cho con kinh doanh. Cảm thấy bị tổn thương, ngày hôm sau gã tháo bảng hiệu, chở lên phố núi. Gã xin lại vào cái ảnh viện mà gần mười năm trước từ xứ Quảng lưu lạc lên học nghề chụp và tráng rọi ảnh, Lợi Ký. Tay nghề điêu luyện của gã khiến ông Lợi Ký giao cho gã chụp chính.

Hai năm sau, chiến tranh lên đến đỉnh điểm, chủ ảnh viện kéo gia đình chạy về phía Phan Rang, giao đứt ảnh viện cho gã. Quân cách mạng làm chủ được Đà Lạt, và những người lâu ngày từ trong núi ra tranh thủ chụp hình lưu niệm. Hàng ngày gã chụp mỏi tay, kiếm bộn tiền. Vượt biên không thành, con chủ ảnh viện quay lại Đà Lạt hất gã ra khỏi ảnh viện. Gã lại cù bơ cù bất. Chợt có một tay tư sản gốc miền Tây muốn bán đứt căn nhà để lấy tiền ra đi. Gã chạy vạy, mua được căn nhà kia. Lần đầu tiên trong đời gã có nhà. Gã dựng lại biển hiệu ảnh viện Ngọc Duy. Ít tháng sau, những người quân quản ghé ảnh viện bảo gã là tư sản. Gã phải giã biệt căn nhà, mang chiếc máy ảnh lê bước như kẻ mộng du, vợ con lẽo đẽo theo sau.

Lâm Ngọc Duy trong căn nhà treo dán đầy thơ trên vách gỗ. Ảnh: Nguyễn Hàng Tình

Cụt đường, gã nhảy lên đồi hoang Cam Ly, sát những cánh rừng hỗn giao giữa lá rộng và lá kim âm u, khai hoang. Gã chặt cây, cất lên cái chòi, và làm vườn, nuôi bò. Ăn rau, măng, cháo, củ, ốc suối, và loay hoay với tài sản duy nhất là con bò ấy.

*
Gã nhìn lại, chợt thấy mình được người đời tôn trọng, chính nhờ vào những tấm hình chụp Bùi Giáng. Không có nó thì gã cũng như bao nhiêu thợ hình, ảnh viện trên cả nước này thôi, chả ai để ý. Nhiều năm qua, ở Lâm Đồng người ta hay đến mời gã vô hội văn nghệ địa phương, chả biết với tư cách gì, nghệ sĩ nhiếp ảnh hay một người lơ mơ thi phú, hay một người yêu cái đẹp. Dĩ nhiên, như Bùi, ông có thuộc hội nào đâu, gã từ chối.

Gã không có danh xưng nào cả trong giới văn chương, nghệ sĩ, nhưng tâm hồn duy mỹ, đa cảm chất ngất và mênh mông. Gã muốn quăng quách cái tên Lâm Ngọc Duy của mình, để được vô danh tuyệt đối. Bị Bùi Giáng nhập vào, gã làm thơ về đời mình: “Bên lòng sa mạc quạnh hiu/ Hồn ta chiếc bóng từ nhiều kiếp xa”.

Trong mảnh vườn bé ở nhà mình, gã xây một cái bệ xi măng để những kỳ có trăng ra nằm ngửa mặt lên trời mà ngắm. “Em về mấy thế kỷ sau/ Nhìn trăng thấy có nguyên màu ấy không” - cứ như Bùi đang theo gặng hỏi gã từ độ quê hương thôi khói lửa...

Nguyễn Hàng Tình
Theo: Người Đô Thị Online

Ý NGHĨA CHÂN THỰC CỦA "TU HÀNH" LÀ GÌ?

Nói đến “tu hành” chúng ta thường liên tưởng đến việc phải vào chốn đền miếu thâm u hay nơi núi rừng hoang vắng, hoàn toàn thoát ly thế tục,… thực ra chính ở trong môi trường xã hội phức tạp với những ma sát trong cuộc sống hiện thực mới là nơi tốt nhất để thực hành tu luyện.

Tu giữa đời thường chính là môi trường tu hành tốt nhất. (Ảnh minh họa: internet)

Tu hành không phải vì để gặp Phật, mà là để gặp chính mình

Chân chính tu hành không phải ở nơi núi sâu, cũng không tại đền chùa hay thoát ly xã hội, mà chính ở trong hiện thực cuộc sống mà tôi luyện tâm can. Môi trường, hoàn cảnh chính là nơi tu đạo tốt nhất đặc định cho con người.

Tu hành rốt cuộc là gì, bạn có biết?

Tu hành là gì? Có phải nhất định cần thoát ly cuộc sống, chạy vào trong chùa niệm kinh lạy Phật, có phải nhất định cần chuyên chú đả tọa ngồi thiền, đọc sách tu tâm hay không?

Khi những vấn đề xuất hiện trong cuộc sống, chúng ta thường cảm giác chúng làm rối loạn việc tu luyện của chúng ta. Kỳ thực, tu hành và cuộc sống là một thể, chúng là nhất tính và đồng hành.

Tu hành cũng có thể giải quyết được nhiều vấn đề trong thực tế cuộc sống. Cách ly cuộc sống mà nói chuyện tu hành, chẳng giống như né tránh vấn đề hay sao?


Nấu cơm rửa bát, làm việc nhà cũng là một loại tu hành

Bao nhiêu khổ não trên đời, thường khiến con người ta chuyển hướng suy nghĩ về sự yên ổn, quy ẩn nơi núi rừng, mạc thiên tịch địa, ngồi thiền, hành bộ…

Tuy nhiên, định nghĩa của tu hành tuyệt không phải chỉ có ngần ấy. Tu hành ngay trong cuộc sống, cần phải dũng cảm hơn những người tu ẩn một mình rất nhiều lần, phải cân bằng giữa công việc và gia đình, giữa áp lực và sức khỏe, giữa những mong muốn, cảm xúc, vui vẻ, khổ đau cùng vô thường.

Tìm cầu sự cân bằng trong các mối quan hệ phức tạp đan xen, trái lại càng có thể khiến chúng ta nhìn rõ bản chất thực của cuộc sống.

Đơn giản mà nói, chỉ cần bạn chuyên chú thì dù là việc nấu cơm, rửa bát, trông trẻ nhỏ… cũng là một loại tu hành.

Vậy nên, chỉ cần thời thời khắc khắc xem xét tự ngã, loại bỏ những kiêu mạn, tham cầu, kỳ vọng và sợ hãi của bản thân, để đạt được một tâm hồn thanh tĩnh, thấy được các tầng thứ khác nhau của sinh mệnh, bạn và tôi đều sẽ thành những người thầy trong cuộc sống.


Mỗi rắc rối, mỗi vấn đề đều là môi trường tu luyện

Tu hành cần phải tu từ những vấn đề của thực tế, không thể mơ hồ nói suông, nếu không, sẽ chẳng có bất kỳ ý nghĩa gì. Bạn có thể nói ra cả một mớ lý thuyết, nhưng đến khi đụng việc lại cảm thấy khổ, cảm thấy buồn rầu, vậy thì tu hành có tác dụng gì?

Tu luyện nhất định cần phải tôi luyện từ trong những phiền phức, những phiền não của cuộc sống hoặc từ những thống khổ trong thực tế.

Đừng mượn cớ biến tu hành thành một loại trốn tránh phiền não hoặc trốn tránh cuộc sống hiện thực. Tu hành không phải là một loại phương thức chạy trốn, càng không phải là một trò giải trí tiêu khiển của tâm linh.

Đương nhiên, bạn có thể phản đối, một mực kiên trì phản đối tới cùng, nhưng kết quả vẫn là bản thân bạn chịu khổ. Tu hành cần phải bắt tay từ những vấn đề của thực tế, mỗi một rắc rối, một vấn đề thực tế đều là một thông đạo.

Môi trường tu luyện chân chính không phải là miếu chùa, không phải thiền đường, không phải nơi núi rừng, hay nơi những người tu hành tụ tập, mà then chốt nhất chính là ở chỗ những điều đang diễn ra, đang tồn tại ngay trước mắt.

Nếu hôn nhân của bạn có vấn đề, thế thì hôn nhân có vấn đề chính là chỗ tu của bạn; nếu như mối quan hệ của bạn và chồng có vấn đề, vậy thì mối quan hệ với chồng chính là chỗ tu của bạn; nếu như bạn và đồng nghiệp phát sinh mâu thuẫn, thì điều mâu thuẫn này là chỗ tu của bạn; nếu bạn rơi vào buồn chán của cuộc sống, nỗi buồn chán này là chỗ tu của bạn; Nếu như bạn xuất hiện vấn đề về tiền bạc, thì tiền bạc chính là chỗ tu của bạn. Ở đâu xuất hiện vấn đề thì ở đó chính là cần tu, ở đó chính là môi trường tu luyện.

Nếu bạn sợ hãi sinh tử, vấn đề sinh tử chính là chỗ tu của bạn. Tu hành chính tại mỗi khi bạn gặp khó xử, ngay khi bạn gặp vướng mắc. Tu hành cần phải từ trong đó mà thực tu.

Đừng gạt bỏ vấn đề của hôn nhân, vấn đề của chồng, của đồng nghiệp, của buồn chán, vấn đề của tiền, của sinh tử, rồi một mực chạy tới chùa chiền, thiền đường, núi sâu rừng già, hoặc đi đến những chốn u minh tưởng nhớ Bồ Tát, tưởng nhớ Phật, đi niệm A Di Đà Phật hoặc Chú đại bi,… đều không có tác dụng.


Tu hành nên cần phải ở đâu có vấn đề thì ở đó tu sửa

Ở nơi chùa chiền, thiền đường, đại sơn lâm, ở những nơi xung quanh toàn người tâm tính tốt, không xuất hiện vấn đề gì, vậy thì tu làm sao?

Tu hành không phải là hiển thị ra bên ngoài, kiểu như: “Nhìn xem tôi tu tốt chưa này? Tôi là một người tu”, mà là hướng vào chính bản thân, ví như: “Vấn đề này dù khó cũng không cản được tôi; khó cũng không thành vấn đề; cái gì cũng không thể mang đến vấn đề rắc rối hoặc phiền não cho tôi…”

Tu hành không phải vì để gặp Phật, mà vì để gặp chính mình trước nhất, tu cho tròn trước nhất đạo làm người…

Thanh Tâm, dịch từ Cmoney
Theo Tinh Hoa