Sunday, August 29, 2021

LUẬT NHÂN QUẢ ĐỐI VỚI NGƯỜI "ÁC KHẨU"

Trong xã hội hiện nay, một số bạn trẻ online trên mạng xã hội Facebook, Twitter,… thường dùng những lời lẽ ác ngữ, thô tục, xúc phạm đến người khác.


Đức Phật dạy, Ác khẩu hay còn gọi là ác ngữ là một trong bốn điều bất thiện thuộc về lời nói (vọng ngữ, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu).

Nó sẽ gây ra nhiều hối hận cho con người trong cuộc sống sau khi nói ra.

Tác dụng của lời nói có thể xoa dịu nỗi đau trong lòng, làm vơi đi những tâm trạng buồn; lời nói nhã nhặn, lời khuyến tấn đúng thời, đúng lúc có thể làm thay đổi suy nghĩ tiêu cực của đối phương và từ đó dần dần sẽ làm thay đổi những hành vi, những việc làm bất thiện.

Ngược lại, lời nói cũng có thể đưa con người vào vực thẳm của tội lỗi, có thể khiến người ta ăn năn hối hận cả cuộc đời, trong đó lời nói ác ngữ, ác khẩu là một trong những nguyên nhân đưa đến hậu quả như thế.

Hãy thận trọng với ác nghiệp

Điều này rất dễ thấy thông qua tính chất quan hệ nhân quả trong Phật giáo.

Ác khẩu, ác ngữ là lời nói thâm độc, thô bạo, mắng nhiếc, chửi rủa,… là những lời lẽ thiếu văn minh, đạo đức trong giao tiếp.

Đương nhiên, nói nặng lời, hoặc lớn tiếng trong chừng mực nào đó không phải là ác ngữ, nhất là trong quá trình giáo dục con cái của cha mẹ, giáo huấn học trò của thầy cô.

Trong kinh Phật có bài học đạo lý rằng: Có người nghe Đức Phật rất từ bi, rất có đạo hạnh, nên cố ý đến mắng nhiếc Đức Phật. Nhưng khi chửi mắng, Đức Phật đều lặng thinh, chẳng đáp.

Khi người ấy mắng nhiếc xong, Phật hỏi: “Ông đem lễ vật tặng người khác, người ấy không nhận thì lễ vật ấy cuối cùng sẽ thuộc về ai?” Người ấy đáp rằng, lễ vật vẫn là của ông ta.

Đức Phật liền nói “Nay ông mắng nhiếc ta, nhưng ta không nhận, ông tự mang vào thân ông vậy. Cũng giống như âm vang là do nương theo tiếng mà có, như bóng do hình mà thành, cuối cùng vẫn chẳng tránh được. Hãy thận trọng, chớ nói lời mắng nhiếc, ác ngữ!”


Theo đạo lý nhân quả trong Phật giáo, thì một việc làm, một lời nói, một ý niệm suy nghĩ của thân, miệng, ý dù đó là thiện hay bất thiện đều đưa đến kết quả nhất định của nó.

Có những hành vi, lời nói, suy nghĩ được lập đi lập lại nhiều lần thì kết quả hiện hành rõ ràng hơn, chi phối mạnh mẽ hơn trong đời sống thường ngày của cá nhân đó.

Cho nên, có câu sách tấn rằng “Phàm làm việc gì, suy nghĩ đến hậu quả của nó”, hay “Bồ tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”, tức là người trí, người giác ngộ thì làm việc gì, nói lời gì, nghĩ điều gì luôn luôn cẩn trọng, cân nhắc đến hậu quả của nó.

Còn người mê thì cứ làm, cứ nói, cứ hành xử theo cảm tính, theo suy nghĩ cá nhân của mình cho thỏa dạ hả lòng, khi hậu quả đến thì lo âu sợ hải.

Hậu quả khó lường…

Như vậy, với những người thường dùng lời nói thâm độc, thô bạo, mắng nhiếc, chửi rủa,… trong cuộc sống hàng ngày của họ, trước hết, chính bản thân của người ấy đã thể hiện lối sống thiếu phẩm chất, đạo đức, văn minh trong lời nói, trong giao tiếp và dẫn đến hạ thấp uy tín của tự thân, những người xung quanh sẽ dần dần xa lánh họ.

Những người thân của họ ít nhiều cũng ảnh hưởng lây bởi những lời ác ngữ này, nếu là bậc cha mẹ thường dùng ác ngữ đối với con cái thì những đứa trẻ này sẽ tiếp nhận và trong quá trình trưởng thành cũng sẽ ảnh hưởng những tính chất bất thiện này.

Một đứa bé được nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường có nhiều tố chất bất thiện thì khi trưởng thành chắn chắn sẽ ảnh hưởng ít nhiều về tố chất đó.

Còn nếu là con cái thường nói những lời thô bạo, thâm độc,… thì chắc chắn cha mẹ, thầy cô giáo không khỏi nao lòng.

Nhất là, trong xã hội hiện nay, một số bạn trẻ online trên mạng xã hội Facebook, Twitter,… thường dùng những lời lẽ ác ngữ, thô tục, xúc phạm đến người khác không phải là không có.


Có thể các bạn cho rằng những lời nói này không chỉ một người nào cụ thể, không trực tiếp một ai, thì sẽ không sợ nguy hại.

Nhưng thực tế rất nguy hiểm, không chỉ viết những lời ác ngữ, mà thậm chí chỉ cần nhấp chuột tán thành, ủng hộ những lời ác ngữ đều nguy hiểm cả, vì nhiều lần làm như vậy chính không ai biết xấu hổ, không ai kiểm soát, không ai khuyến tấn nên lâu ngày dài tháng sẽ trở thành một thói quen.

Mà Phật giáo gọi điều này là nghiệp, mà đã là nghiệp thì nó sẽ chi phối đối với đời sống của tự thân người đó. Vì thế, một lời ác khẩu, ác ngữ đều có thể đưa đến hậu quả khó lường.

Theo: Thích Huệ Nhẫn/Gia đình Việt Nam

CHUYỆN TÌNH CỦA VUA GIA LONG

Nᾰm 2016, tôi đến Huế. Đấy là lần đầu tiên tôi đến thᾰm lᾰng Gia Long. Tôi đᾶ đi Huế rất nhiều, đᾶ đi lᾰng Tự Đức, Khἀi Định vài lần. Nhưng lᾰng Gia Long hầu như tôi không hề đặt chân đến, chỉ vὶ … tôi không biết. Ngài được mặc định là nhân vật phἀn diện trong sάch giάo khoa, trong những tài liệu chίnh thống, và vὶ thế, lᾰng cὐa ngài cῦng bị đưa vào quên lᾶng.

Lăng Gia Long còn gọi là Thiên Thọ lăng

Dịp đό là lần đầu tiên tôi đưa bᾳn gάi ra Huế chσi. Trong vе́ tham quan cάc điểm di tίch lᾰng tẩm, thὶ chỉ cό lᾰng Minh Mᾳng, Tự Đức, Khἀi Định và thᾰm Đᾳi Nội, không cό lᾰng Gia Long. Chiều đό, tôi chở bᾳn gάi đi thᾰm lᾰng Minh Mᾳng. Nhưng không hiểu sao tôi chᾳy lố đến một cây cầu mới xây và cό biển hiệu chỉ dẫn “Lᾰng Gia Long”. Vừa lᾳc, vừa tὶm mᾶi chưa ra lᾰng Minh Mᾳng mà thấy biển chỉ lᾰng Gia Long. Bᾳn gάi tôi nόi: “Cάi này là ông Gia Long muốn anh tới thᾰm ổng rồi. Anh vừa viết bài gὶ cho ổng hἀ?”. Tôi nόi “Ừ, mới cό một bài viết cάch đây hσn tuần“. “Vậy thὶ đi đi anh.” Thế là phi xe vào hướng chỉ. Chᾳy mᾶi chᾳy mᾶi. Đi nhầm lối rẽ vài lần (không hiểu sao tỉnh Thừa Thiên Huế tiết kiệm bἀng hiệu thế), phἀi hὀi 2, 3 người dân, cuối cὺng mới tới được lᾰng Gia Long. Lᾰng vua rất vắng người. Lύc tới chỉ cό 2 chύng tôi thᾰm. Khάc những lᾰng kia, lᾰng Gia Long chưa khai thάc du lịch nên không bάn vе́. Tôi bὀ ίt tiền công đức. Tôi thắp nhang cho ngài trong đền và đặt một ίt tiền quyên gόp. Nhờ hành động kίnh cẩn này mà chύ bἀo vệ sau đό đᾶ mở lᾰng cho tôi.

Điện Minh Thành là nơi thờ, thắp hương lễ bái hoàng đế và hoàng hậu.

Bởi vὶ chưa khai thάc du lịch nên không khί rất trầm mặc, lᾰng phὐ bụi lịch sử, uy nghi và trầm tῖnh. Khάc hẳn cάc điểm lᾰng khάc do khάch du lịch quά đông nên nе́t lịch sử bị phai nhᾳt rất nhiều.

Tᾳi đấy, tôi sẽ kể cho bᾳn một câu chuyện tὶnh cὐa vua Gia Long.

Vua Gia Long là hoàng đế đᾶ tάng mộ mὶnh và mộ vợ ở cᾳnh nhau. Khi Thừa Thiên Cao Hoàng hậu ra đi vào nᾰm 1814, nhà vua rất đau đớn. Ông đᾶ đίch thân chỉ huy công trὶnh xây dựng lᾰng tẩm này, và bị một tai nᾳn suу́t chết. 6 nᾰm xây dựng, để nᾰm 1820 khi ngài nằm xuống. Mộ cὐa ngài và mộ cὐa vợ được ở cᾳnh nhau.

Mộ vua Gia Long bên trάi, và mộ Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu bên phἀi.

Thừa Thiên Cao Hoàng hậu cό tên hύy là Lan. Tống Phύc Lan là tên bà. Bà sinh nᾰm 1762, và bằng tuổi Gia Long. Đắng cay ngọt bὺi mà Gia Long phἀi gάnh từ thuở lưu lᾳc, bà cῦng gάnh cὺng. Bao nhiêu lần Tây Sσn truy sάt khiến Gia Long chᾳy đôn chᾳy đάo, bà cῦng chᾳy đông chᾳy tây. Bao nhiêu lần Gia Long lưu lᾳc, bà vẫn chịu khό phụng dưỡng mẹ vua, bἀo vệ gia thất suốt quᾶng thời gian phiêu bᾳt, sᾰn sόc đến từng bữa ᾰn cὐa người mẹ già (nghe như một chuyện về mẫu người phụ nữ Việt Nam phἀi không). Giai đoᾳn đen tối. Nguyễn Ánh đᾶ sang cầu viện quân Xiêm La, đi cὺng việc cậy nhờ Bά Đa Lộc đem Hoàng tử Cἀnh sang Phάp xin thêm ngoᾳi viện. Trước khi ra đi, nhà vua đᾶ lấy một nе́n vàng tốt, chặt ra làm hai, trao cho bà một nửa, cὸn mὶnh thὶ giữ một nửa, và nόi: “Con ta đi rồi và ta cῦng sẽ đi đây. Ngày gặp lᾳi cῦng chẳng biết là vào lύc nào và ở đâu, bởi vậy, Phi hᾶy lấy nửa nе́n vàng tốt này làm cὐa tin”.


Bà đᾶ đợi ông từ Xiêm La trở về. Khi vua chiếm được Gia Định, rước bà về từ đἀo Phύ Quốc. Từ đό về sau, bà quyết không rời xa ông nữa. Trên chiến trường tên bay đᾳn lᾳc, mưa mάu và bẩn thỉu. Bà vẫn ra chiến trường cὺng với vua, động viên, tâm sự. Hὶnh ἀnh Gia Long – Thừa Thiên sau này được vί như nàng Ngu Cσ luôn ở bên Hᾳng Vῦ đời Hάn vậy. Giữa bôn ba ấy, bà không chỉ là cột trụ tinh thần cho Gia Long. Mà cὸn tự tay dệt nhung phục cho quân sῖ. Trong một trận đάnh, quân Gia Định thất thế. Chίnh bà, cầm trống thύc quân khiến tướng sῖ phấn chấn mà đάnh bᾳi địch. Nᾰm 1802, vua Gia Long thống nhất đất nước. Nᾰm 1806, bà được phong tước hoàng hậu. Nᾰm ấy, bà đᾶ 44 tuổi. Gần nửa đời người bôn ba, vào sinh ra tử với người đàn ông cὐa đời mὶnh. Đến lύc đό, bà mới được an ὐi. Cό một câu chuyện nhὀ. Hôm đό, vua hὀi bà thὀi vàng nᾰm nào. Bà đem vàng ra trὶnh lên. Gia Long vô cὺng cἀm động, cầm lấy nửa thὀi vàng và bἀo rằng: “Vàng này mà cὸn giữ được, đό thật là ân trời đᾶ giύp cho trong lύc gian nan, chẳng nên quên lᾶng. Vậy phἀi để dành về sau cho con chάu biết”.Thὀi vàng ấy, sau này được Minh Mᾳng cho thờ ở Điện Phụng Tiên.


8 nᾰm hưởng vinh hoa ngắn ngὐi, Thừa Thiên hoàng hậu ra đi. Vua khόc thưσng vô cὺng. Tự tay xây mộ, và dặn Minh Mᾳng khi ta bᾰng hà thὶ tάng ở bên cᾳnh. Hai nấm mồ ở cᾳnh nhau, không cô độc, hai con người đᾶ từng chia ngọt sẻ bὺi khi cὸn sống và bây giờ nằm cᾳnh nhau để đi vào giấc ngὐ nghὶn thu, vẫn chia ngọt sẻ bὺi cὺng nhau. Hậu thế đời sau đάnh giά lịch sử cực đoan đᾶ chửi ông, nhưng tôi tin, khi cό bà ở cᾳnh như vậy, thὶ ông sao cό thể cô đσn?

Bao nhiêu đắng cay, bao nhiêu thất bᾳi, bao nhiêu tὐi nhục cὐa nhà vua, vẫn không khiến bà ngᾶ lὸng, vẫn ở bên ông. Cὸn ông, khi vinh hoa đầy mὶnh, khi thiên hᾳ trong tay, vẫn muốn bà ở cᾳnh mὶnh.

Điện Gia Thành nơi thờ thân mẫu vua Minh Mạng

Khi bᾳn rời khὀi lᾰng Gia Long, bᾳn sẽ gặp một con đường lᾶng mᾳn đẹp vô cὺng. Bởi Lᾰng Gia Long là sự hὸa quyện cὐa u tịch lịch sử và thiên nhiên hoang sσ Thiên Thọ Sσn. Và xa xa con đường ấy, chίnh là lᾰng mẹ vua Minh Mᾳng. Vua Minh Mᾳng không phἀi là con chίnh thất. Mẹ ông không được chôn cᾳnh Gia Long. Nhưng vὶ lὸng hiếu thἀo, ông để mẹ mὶnh không ở quά xa cha mὶnh.

Chuyện tὶnh ấy, không chỉ là một chuyện tὶnh đẹp. Mà cὸn là bài học đᾳo đức cho đời sau.

Lê Văn Thông



Saturday, August 28, 2021

KHO BÁU DUY NHẤT CÒN LẠI CỦA TRIỀU NGUYỄN Ở MONNAIE DE PARIS


Ngày 05/07/1884, chỉ một tháng sau khi ký hoà ước Giáp Thân (còn gọi là hòa ước Patenôtre), quân đội Pháp vào được thành Huế và khám phá kho báu bí mật của nhà Nguyễn gồm 6.000 nén vàng và 2.000 đồng tiền vàng, chưa kể đến bạc nén. Tất cả đều được đúc vào khoảng thời gian từ 1820-1841.

Kho báu bị trưng thu để đáp ứng nhu cầu cho chế độ bảo hộ còn non trẻ và thanh toán chi phí cho cuộc viễn chinh Bắc Kỳ (1883-1885). Theo yêu cầu của triều đình Huế, Pháp hoàn lại một nửa kho báu, cùng với các ấn triện bằng vàng hoặc ngọc, các quyển sách vàng được khắc biểu tượng của mỗi triều đại. Tuy nhiên, số tài sản do nhà Nguyễn nắm giữ bị vơi dần trong những giai đoạn sau.

Riêng phần được trả cho Kho bạc Pháp, nặng 14.630 kg bạc và 1.335 kg vàng, được đưa lên tầu chở về Paris, qua cảng Marseille vào năm 1885. Nhưng một phần cũng bị “biến mất” trên hành trình vượt biển. Tổng cộng có 150 thỏi vàng và tiền vàng, cùng với bốn nén bạc trong phần của Pháp đã không bị nấu chảy để đúc thành tiền đương thời và hiện được bảo quản tại Monnaie de Paris.

Cuối tháng 09/2017, lần đầu tiên, bảo tàng Monnaie de Paris giới thiệu rộng rãi đến công chúng Kho báu triều đình Huế (Trésor de Huế) sau hơn 130 năm cất giấu.

RFI tiếng Việt đã đặt câu hỏi với ông Victor Hundsbuckler, người phụ trách di sản và các bộ sưu tập của Monnaie de Paris, ngay những ngày đầu trưng bày Trésor de Huế.

Một phần Kho báu triều Huế, Trésor de Huế, được bảo quản tại Monnaie de Paris. RFI / Tiếng Việt

RFI : Xin ông giới thiệu về Kho báu triều đình Huế hiện đang được bảo quản tại Monnaie de Paris ?

Victor Hundsbuckler: Đối với Monnaie de Paris, đó là niềm tự hào được bảo quản kho báu này ở đây vì kho báu giúp khẳng định vai trò của Monnaie de Paris. Nếu không có sự chăm sóc, sự chú ý của các nghệ nhân và các lãnh đạo của Monnaie de Paris, thì Kho báu triều Nguyễn đã không được bảo quản, và như vậy sẽ không được giới thiệu đến với công chúng.

Lịch sử của Kho báu Huế vừa bi thương vừa may mắn. Bi thương, dĩ nhiên là do liên quan đến một kho báu bị trưng thu trong giai đoạn thành lập chế độ bảo hộ tại An Nam (Trung Kỳ). Kho báu bị chia thành hai phần, một nửa dành cho hoàng đế An Nam, nửa còn lại dành cho đội quân viễn chinh Pháp. Đội quân này đã mang kho báu về Paris, qua cảng Marseille, vào năm 1885, để nấu chảy và đúc thành tiền vàng và bạc hiện hành lúc đó để đưa lại vào nền kinh tế Đông Dương và Pháp.

Hiện nay, những mẫu duy nhất còn sót lại được bảo quản tại Monnaie de Paris. Nửa kho báu được trao lại cho hoàng đế An Nam có lẽ đã hoàn toàn biến mất hoặc chẳng còn gì nhiều so với toàn bộ kho báu trước đây. Và ngoài những gì được cất giữ tại đây, phần còn lại hẳn đã bị đúc thành tiền khác, được lưu hành ở Đông Dương hoặc ở Pháp.

RFI : Ngoài giá trị tài chính, những thỏi vàng và đồng tiền được lưu tại Monnaie de Paris còn mang giá trị nghệ thuật tượng trưng cho văn minh giai đoạn đó ?

Victor Hundsbuckler: Đây hẳn là kho vàng lớn nhất. Những thỏi vàng đều có họa tiết trang trí, như hình rồng, hoặc những lời chúc thịnh vượng được cách điệu.

Hiện nay, tổng cộng có 150 thỏi vàng, tiền xu vàng và chỉ có 4 thỏi bạc. Đa số mỗi loại chỉ còn một mẫu, nhưng có một hoặc hai loại còn được 2 mẫu. Nguyên nhân là vào cuối thế kỷ XIX, ông Gabriel Devéria, chuyên về nghệ thuật và sản xuất tiền châu Á, đặc biệt là ở An Nam, nghiên cứu về Kho báu Huế và ông bị nhầm lẫn ở vài điểm. Vì thế mà họ lưu lại thêm một bản vì bị lầm.

Mầu của những thỏi vàng và tiền vàng trong Kho báu cũng có điểm đặc biệt. Nó đỏ hơn rất nhiều so với vàng mà người ta thường thấy ở đồ trang sức thường dùng. Đây là vàng ròng và để tạo nên mầu đỏ, người ta phủ lên một lớp mỏng từ động vật thân giáp.

RFI : Ông có thể cho biết giá trị của Kho báu triều Nguyễn và kho báu được bảo quản như thế nào ?

Victor Hundsbuckler: Những thỏi vàng này có kích thước và trọng lượng đa dạng. Những miếng nhỏ nhất chỉ nặng khoảng vài gam. Những thỏi lớn nhất nặng 4,4 kg. Theo nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp ở Pháp, các bảo tàng không thẩm định giá trị. Dĩ nhiên, chúng tôi có mức giá trị về bảo hiểm nhưng chúng tôi không công bố những con số này vì lý do an ninh để tránh mọi khả năng đánh cắp.

Kho báu được bảo quản trong một phòng rất kiên cố, như những tủ két ở ngân hàng, với cửa được mở bằng vô lăng và được tăng cường bảo vệ bằng một hệ thống nhưng tôi không miêu tả ra đây được. Đó là một hệ thống bảo vệ rất hiệu quả.

Trong phòng trưng bày các Kho báu, có bốn Kho báu khác nhau, chưa từng được giới thiệu cho công chúng, gồm một Kho báu La Mã, một Kho báu Pháp, một Kho báu Hà Lan được vớt từ con tầu đắm ngoài khơi Batavia và Kho báu triều đình Huế.

Chúng tôi có một bản tóm lược lịch sử của những kho báu này. Với chúng tôi, truyền tải các giá trị là điều rất quan trọng, như trong Kho báu triều đình Huế, có nhiều biểu tượng thịnh vượng. Vì vậy, thật thú vị khi hiểu những ý nghĩa của những biểu tượng được thể hiện nói trên. Điều này cho chúng ta hiểu thêm về nền văn minh giai đoạn đó.

RFI : Tại sao phải chờ đến hơn 130 năm, Kho báu triều đình Huế mới được giới thiệu rộng rãi đến công chúng ?

Victor Hundsbuckler: Kho báu không được trưng bày vì đơn giản là bảo tàng cũ có kích thước nhỏ hơn rất nhiều so với bảo tàng mới và cũng không được đảm bảo an ninh bằng bảo tàng này. Và trong quá khứ, đúng là có nhiều do dự trong việc trưng bày kho báu này vì có thể sẽ bị chất vấn.

Quyển sách gần đây viết về Kho báu triều Huế đã khôi phục, giúp bảo tàng xóa tan những nghi ngờ, những do dự để giới thiệu với công chúng. Nhưng ngay từ đầu, giới thiệu Kho báu Triều đình Huế là một điều quan trọng với chúng tôi.

Một phần Kho báu triều Huế, Trésor de Huế, được bảo quản tại Monnaie de Paris. RFI / Tiếng Việt

Trong cuốn Le trésor de Huê : Une face cachée de la colonisation de l'Indochine (tạm dịch : Kho báu Huế : Một mặt bị che giấu của giai đoạn thuộc địa Đông Dương) (1), tác giả François Thierry giải thích, giá trị của các nén vàng và bạc được gọi là “lạng”“tiền”, trừ các đồng “phi long”.

Mỗi “lạng” (người phương Tây vẫn gọi là “taël” hoặc “once”) có trọng lượng 38,5 gr và được chia thành 10 “tiền”. Thông thường, về mặt đúc kim loại quý, “lạng” của Việt Nam được quy định chặt chẽ hơn so với hệ thống tiền Trung Hoa vì đơn vị đo lường đồng nhất trên khắp nước Việt.

Bốn nén bạc trong Kho báu triều đình Huế tại bảo tàng Monnaie de Paris là do tướng Courcy mang về, gồm hai nén từ thời Minh Mạng và hai nén từ thời Tự Đức. Mỗi nén (10 lạng) nặng khoảng 385 gr, với tỉ lệ là 991‰, có nghĩa là khoảng 382,5 gr bạc nguyên chất.

Bảo tàng Monnaie de Paris lưu trữ rất nhiều nén vàng với trọng lượng khá đồng đều. Điều này cho thấy các xưởng đúc tiền của Nội Vụ Phủ triều Nguyễn rất chú ý đến quá trình sản xuất và kiểm tra nghiêm ngặt.

Các nén vàng triều Nguyễn có hai dạng chính : hình hộp rất vuông vắn và các thỏi đều nhau. Những nén vàng có trọng lượng 10 hoặc 40 lạng thường chỉ được thấy trong kho bạc của triều đình, của hoàng tộc, trong gia đình một số quan chức cao cấp hoặc thương nhân lớn. Thanh vàng 10 lạng thì phổ biến hơn.

Từ thời Minh Mạng, trên các nén vàng từ 30 đến 100 lạng bắt đầu xuất hiện họa tiết và thường giống nhau : hai cạnh trên và dưới thường là hình hoa, còn hai cạnh bên là hình rồng tìm viên ngọc rực lửa trong những đám mây và mặt trời hiện ra sau lớp mây. Các họa tiết được chau chuốt, uyển chuyển hơn trên những nén vàng 50 và 100 lạng.

Cuối cùng, nhà nghiên cứu François Thierry cho biết những đồng tiền (médaille) được bảo quản tại Monnaie de Paris đều bằng vàng và đáng tiếc là không có bất kỳ đồng bạc nào trong bộ sưu tập dù đây là loại tiền thông dụng thời Nguyễn. Trên các đồng tiền vàng này thường có hàng chữ “Minh Mạng thông bảo”, “Thiệu Trị thông bảo”, “Tự Đức thông bảo”.

Trong Kho báu Triều Nguyễn tại bảo tàng Monnaie de Paris, người ta có thể thấy nhiều đồng “Song Long”, “Vạn thế vĩnh lại”, “Long Văn”, “Sử dân phú thọ”… hoặc “Tam Đa”, “Ngũ Bảo”… Tùy theo kích cỡ mà tiền có mệnh giá khác nhau.

Bốn nén bạc (trị giá 1, 10, 30, 100 lạng, 1841-1847) trong Kho báu triều Nguyễn, Trésor de Hué, bảo tàng Monnaie de Paris. RFI / Tiếng Việt

(1) François Thierry, Le trésor de Huê : Une face cachée de la colonisation de l'Indochine (tạm dịch : Kho báu Huế : Một mặt bị che giấu của giai đoạn thuộc địa Đông Dương), NXB Nouveau Monde, 2014.

François Thierry phụ trách tại phòng Huy chương của Thư Viện Quốc Gia Pháp (BNF), chuyên gia về lịch sử châu Á.


Theo: RFI Tiếng Việt (15/01/2018 )

"SÓC SỜ BAI SÓC TRĂNG" CỦA NHẠC SĨ THANH SƠN, BÀI HÁT ĐẬM CHẤT DÂN CA NAM BỘ

Thanh Sơn được mệnh danh là “nhạc sĩ của dòng nhạc dân ca quê hương Nam Bộ” và bài hát “Sóc Sờ Bai Sóc Trăng” chính là một minh chứng rõ ràng nhất cho tài năng của vị nhạc sĩ miền Tây này.

Nhạc sĩ Thanh Sơn (1940 – 2012) tên thật là Lê Văn Thiện, sinh năm 1940 tại tỉnh Sóc Trăng. Ông có nhiều sáng tác được đông đảo khán thính giả đón nhận: Nhật ký đời tôi, Trả lại thời gian, Mùa hoa anh đào, Đoản xuân ca, Hồn quê, Hoa tím người xưa… Những ca khúc về một số địa danh trên khắp ba miền đất nước: Non nước hữu tình (miền Bắc), Trở lại thành phố sương mù (Tây Nguyên), Thương về cố đô, Đôi lời gửi Huế (miền Trung), Quê hương 3 miền,…

Lắng nghe những sáng tác của ông, chúng ta sẽ cảm nhận được sự giản dị, chân chất, đồng thời là tình cảm thiết tha đối với quê hương, con người Nam Bộ và rộng hơn là tình yêu đất nước cao đẹp của người nhạc sĩ đáng kính này. Về đề tài quê hương và con người Nam Bộ, ông có nhiều tác phẩm thân quen với mọi người dân như Sóc Sờ Bai Sóc Trăng, Hành trình trên đất phù sa, Áo mới Cà Mau, Yêu cô gái Bạc Liêu, Hương lúa Hậu Giang, Chiều mưa Kiên Giang, Tình em Tháp Mười, Điệu Lâm Thôn Trà Vinh, Áo trắng Gò Công, Cần Thơ… Có thể khẳng định những sáng tác của ông đều in dấu ấn sâu đậm đối với con người 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.


Sinh ra tại quê hương Sóc Trăng, nhạc sĩ Thanh Sơn với lòng yêu quý tất cả những gì thuộc về nguồn cội. Bằng ca từ giản dị nhưng cũng không kém phần điêu luyện, ông đã viết nên một khúc hát dân ca đậm đà về nơi chôn nhau cắt rốn của mình, đó chính là bài Sóc Sờ Bai Sóc Trăng.

Mở đầu khúc hát là những ca từ với nhịp điệu hào hứng như muốn giới thiệu với cô bác gần xa về miền quê mà tác giả sinh ra, “người dân quê tôi Sóc Trăng”. Và ở mỗi người dân Sóc Trăng cũng có những đức tính khá giống với người miền Tây nói chung, đó là sự chịu thương, chịu khó, cần cù, “dầm mưa dãi nắng”. Con người nơi đây bám đất, bám ruộng, trồng trọt và chăn nuôi để tạo nên những hạt ngọc trời, những bát cơm thơm ngon, trắng ngần. Đồng thời, người Sóc Trăng thật thà, dễ mến, hiếu khách, sống hòa đồng và hăng say lao động để tạo nên những giá trị vật chất, tinh thần cho đời.

“Người dân quê tôi Sóc Trăng
Đã bao đời dầm mưa dãi nắng
Đổi lấy chén cơm thơm ngọt
Như sữa mẹ mát ngọt đời con”


Sóc Trăng là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Theo bài viết “Nét độc đáo của ngôi chùa Khmer cổ ở Sóc Trăng” của tác giả Trịnh Công Lý thì tên gọi Sóc Trăng do từ Srok Kh’leang của tiếng Khmer mà ra. Srok tức là “xứ”, “cõi”, Kh’leang là “kho”, “vựa”, “chỗ chứa bạc”. Srok Kh’leang là xứ có kho chứa bạc của nhà vua. Tiếng Việt phiên âm ra là “Sốc-Kha-Lang” rồi sau đó thành Sóc Trăng.


Lắng nghe bài hát này để thấy được sự am hiểu của tác giả về quê hương nơi ông sinh ra. Sóc Trăng với một nền văn hóa đặc sắc và khá riêng biệt mà có thể gọi là “văn hoá xứ giồng”. Vùng đất là nơi sông Hậu đổ vào biển Đông tại hai cửa Định An và Trần Đề. Sóc Trăng được bồi đắp từ phù sa màu mỡ của sông Hậu cộng với nguồn nước và mối lợi từ sông Nguyệt (sông Maspero), làm cho mảnh đất này trù phú, cây trái thơm ngọt mang đặc trưng của miền cửa Nam sông Hậu mà nhạc sĩ Thanh Sơn gọi là “cửa ngọt phù sa”. Đặc biệt sông Nguyệt, con sông tọa lạc tại thành phố Sóc Trăng chảy theo ba hướng, là nơi diễn ra nhiều lễ hội đặc sắc, từ lâu đã trở thành biểu tượng của người dân nơi đây.

“Sông quê tôi đổ về ba ngã
Cây trái ngọt cửa dòng phù sa”


Tác giả như muốn đưa người nghe đến với những địa danh nổi tiếng của Sóc Trăng. Đầu tiên là Trường Khánh, là nơi có “người bạn Hoa” của nhạc sĩ Thanh Sơn. Về thực tế thì đây là một xã thuộc huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng, địa bàn cư trú của khá nhiều người Hoa. Người nhạc sĩ cũng nói lên đôi nét về văn hóa của vùng này bằng câu “tùa chế tùa hia, úa tá lư thìa” – một câu nói xuất phát từ ngôn ngữ của người Hoa. Theo cách gọi của người Hoa thì “chế” là chị còn “hia” là anh, toàn câu nói như muốn mời gọi du khách thập phương đến với vùng đất Sóc Trăng, nơi có món bánh pía nổi tiếng gần xa (sản phẩm mang đậm dấu ấn của đồng bào người Hoa Nam Bộ).

“Đường qua Trường Khánh có người bạn Hoa
Tùa chế tùa hia, úa tá lư thìa”


Tiếp theo, tác giả dìu dắt chúng ta về Đại Tâm, nơi có “người bạn Khmer” của ông. Địa danh Đại Tâm là một xã thuộc huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. Xã này nổi tiếng với hai món bánh cống và bánh bò nướng ngói thơm lừng. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với các món ăn mà còn được biết đến bởi chùa Sà Lôn (chùa Chén Kiểu) – ngôi chùa có kiến trúc độc đáo và khác lạ so với các chùa Phật giáo tại Nam Bộ.

Đến với những ca từ tiếp theo của khúc hát, quý thính giả sẽ được hiểu thêm đôi nét văn hóa Nam Bộ. Đại Tâm là vùng đất có nhiều đồng bào Khmer sinh cơ lập nghiệp từ lâu đời, người Khmer có văn hóa vô cùng độc đáo, điều đó được thể hiện qua nghệ thuật dù kê. Đây là một trong ba loại hình nghệ thuật kịch hát nổi tiếng của người Khmer được tác giả nhắc đến gồm rô băm, dù kê và dì kê. Bên cạnh đó là điệu múa vô cùng hấp dẫn – múa lâm thôn thường xuất hiện trong những ngày sinh hoạt văn nghệ của người Khmer.


Nghe đi nghe lại bài hát này, tôi cứ thắc mắc hoài về câu “sóc sờ bai, bòn, tâu na bòn, tâu na bòn ơi”. Và vì thế tôi tra cứu mạng: sóc sờ bai theo tiếng Khmer có nghĩa là tỉnh, vậy sóc sờ bai Sóc Trăng tương đương là tỉnh Sóc Trăng. Còn sóc sờ bai bòn, tâu na bòn, tâu na bòn ơi: Sóc Trăng đây rồi, còn đi đâu nữa anh (em), đi đâu nữa anh (em) ơi… Tuy nhiên, kết quả này làm cho tôi chưa vừa ý so với những gì tôi được học về văn hóa người Khmer. Và rồi tôi hỏi vài người bạn Khmer để họ giải đáp giúp tôi: Sóc Sờ Bai được hiểu theo hai nghĩa (Thứ nhất Sóc là phum, sóc – đơn vị tổ chức sinh sống của người Khmer, còn Sờ Bai là tên một phum, sóc ở Sóc Trăng; Thứ hai, sờ bai có nghĩa là vui vẻ, nên cả câu là sóc vui vẻ của người Sóc Trăng), tâu na bòn (ở đâu vậy), tâu na bòn ơi (đi đâu vậy anh). Qua tìm hiểu, tôi tạm kết luận: Sóc Sờ Bai là một sóc (giống với xóm làng) của người Khmer tại Sóc Trăng và “Sóc Sờ Bai, bòn, tâu na bòn, tâu na bòn ơi” là lời mời gọi mọi người đến với nơi đây.

“Về Đại Tâm thăm người bạn Khmer
Nghe hát dù kê và điệu múa lâm thôn
Sóc sờ bai, bòn,
Tâu na bòn,
Tâu na bòn ơi”


Nhạc sĩ Thanh Sơn tuy sinh ra tại Sóc Trăng nhưng do bối cảnh lịch sử đất nước và niềm đam mê sáng tác âm nhạc nên ông phải xa quê nhà và phải đi khắp mọi miền đất nước. Trái tim của người nhạc sĩ luôn hướng về quê hương, hướng về quê cha đất tổ. Ca từ và giai điệu lắng đọng cuối bài hát làm chúng ta ngẹn ngào về tình cảm của những con người xa quê. Câu nói của nhạc sĩ Thanh Sơn như một “chân lý cuộc sống” đối với mỗi người chúng ta “dù đi bốn biển năm châu, xa quê rồi mới hiểu lòng đau”.

“Về đây quê hương Sóc Trăng
Lũy tre làng hàng dừa rợp bóng
Dù đi bốn biển năm châu
Xa quê rồi mới hiểu lòng đau”


Đây là một sáng tác mang đậm nét văn hóa vùng miền, cụ thể là viết về Sóc Trăng, một tỉnh của mảnh đất Nam Bộ. Ngay ở cái tên Sóc Sờ Bai Sóc Trăng, chúng ta cũng đã thấy được điều đó. Bài hát là sự gắn kết tình cảm giữa các dân tộc anh em Kinh, Hoa, Khmer trên mảnh đất Nam Bộ hiền hòa, giàu tình người, giàu những điệu lý dân ca. Giai điệu trữ tình hào hứng nhưng không kém phần xúc động, ca từ chắt lọc, cộng với giọng hát ngọt ngào của nữ ca sĩ Giáng Tiên, hy vọng sẽ giúp cho quý khán thính giả gần xa có được những giây phút thư giản thật ý nghĩa.

Trong những ngày lễ lớn cùa bà con Sóc Trăng nói riêng và người dân Nam Bộ nói chung, đặc biệt là dịp Tết Chol Chnam Thmay (Tết cổ truyền hay Lễ đón chào năm mới của người Khmer Nam Bộ) mọi người được sum họp, quây quần bên nhau. Và mỗi lần ngang qua các phum sóc, tôi lại được nghe đi nghe lại bài hát này. Việc có thêm bài hát Sóc Sờ Bai Sóc Trăng làm nhạc nền cho các buổi sinh hoạt thì tin chắc không khí vui chơi của bà con sẽ càng vui tươi, hào hứng hơn bội phần.

 Minh Tạo



MIẾU THÀNH HOÀNG HƠN 200 NĂM TUỔI, LŨ CỨ ĐẾN LÀ ĐI ĐƯỜNG VÒNG TRÁNH XA

Ở Thiểm Tây, Trung Quốc có một ngôi miếu thờ Thần Thành Hoàng nằm giữa lòng sông, ngôi miếu này trải qua vô số trận lũ lớn nhỏ trong hơn 200 năm nhưng vẫn sừng sững đứng vững. Điều kỳ lạ là nước lũ cứ chảy đến đây thì sẽ tránh ra đi đường vòng.

Miếu thờ Thần Thành Hoàng ở huyện Ninh Hạ, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. (Ảnh qua Sound Of Hope)

Ngôi miếu kỳ bí khiến các chuyên gia khó xử

Vào năm Trung Hoa Dân Quốc thứ 18, huyện Ninh Hạ, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc phải hứng chịu trận lụt 100 năm có một. Những nơi lân cận đều bị lũ tàn phá nhưng ngôi miếu Thành Hoàng nằm ở cồn đất có hình con thuyền giữa dòng sông Trường An lại có khả năng kỳ lạ. Lũ chảy đến gần miếu thì rẽ ra hai bên để đi vòng, nên ngôi miếu không một chút tổn hại.

Khi đó, những người xung quanh đều thấy mực nước của trận lũ rõ ràng là cao hơn cả miếu Thành Hoàng, ngay cả bức tường thành kiên cố ở bên ngoài dòng sông Trường An cũng bị lũ cuốn trôi, nhưng tại sao ngôi miếu nằm ở trung tâm dòng sông lại bình an vô sự?

Bản vẽ miếu Thần Thành Hoàng nhìn từ trên cao. (Ảnh qua Sound Of Hope)

Trong dân gian có truyền thuyết cho rằng phía dưới miếu Thần Thành Hoàng có một con vịt vàng, khi gặp lũ thì nó sẽ nâng miếu lên cao. Theo cuốn ‘Ninh thiểm huyền chí’, miếu Thành Hoàng này được xây dựng vào năm Càn Long thứ 50 (1786), đã có hơn 200 năm lịch sử.

Trong thời gian này, trên sông Trường An đã phát sinh 47 trận lũ lớn nhỏ, vô số làng mạc và thị trấn xung quanh bị phá hủy, duy chỉ có miếu Thành Hoàng này là bình yên vô sự. Người dân không cách nào giải thích được hiện tượng kỳ lạ này nên mới truyền ra câu chuyện “vịt vàng nâng thuyền”. Theo truyền thuyết, vào thời Gia Khánh, một vị lạt ma đến từ huyện Ninh Thiểm khi đi ngang qua bờ sông Trường An, thì vô tình nhìn thấy 2 con vịt vàng đang ở cạnh gò đất giữa sông, nên muốn bắt chúng làm của riêng.

Khi 2 con vịt vàng đang nhắm mắt nghỉ ngơi, vị lạt ma bất ngờ nhảy xuống nước và bơi về phía chúng, 2 con vịt vàng này rất có linh tính, thấy vị lạt ma đến bắt, chúng liền sải cánh bay lên trời. Sau đó, một con vịt bay đến miếu Quan Đế trong thành, còn con còn lại rơi trên bãi đất giữa lòng sông. Dân chúng cho rằng 2 con vịt này là vật linh thiêng, nên nhờ huyện nha ra mặt gây quỹ xây dựng miếu Thành Hoàng để bảo vệ bình an cho bách tính.

Vì muốn phá giải bí ẩn về ngôi miếu có thể né tránh lũ này, đã có nhiều chuyên gia đến đó tiến hành các cuộc điều tra, khảo sát chi tiết. Sau khi điều tra, các chuyên gia kết luận, ngôi miếu Thành Hoàng này có diện tích khoảng 6000m2, diện tích kiến trúc là 1000m2., phong cách xây dựng rất phổ biến trong các tòa nhà kiểu đền thờ triều Thanh, và không có kết cấu đặc biệt nào.

Miếu Thần Thành Hoàng nhìn từ trên cao. (Ảnh qua Sound Of Hope)

Địa hình bãi đất giữa sông không hề cao, với hình dạng một chiếc thuyền, đặc điểm này có thể phân nhánh lũ ở một mức độ nhất định. Tuy nhiên, miếu Thành Hoàng được xây dựng chỉ cao hơn mặt sông chưa đầy 2m, về mặt logic thì nó không có khả năng chống chọi với lũ lụt. Cuối cùng các chuyên gia cũng không đưa ra được lời giải thích phù hợp cho hiện tượng kỳ lạ này, vì thế những truyền thuyết và bí ẩn về miếu Thành Hoàng vẫn được lưu truyền rộng rãi trong khu vực địa phương.

Phá giải bí ẩn

Cho đến năm 2006, cục thủy lợi của huyện Ninh Thiểm đã thành lập một nhóm nghiên cứu, điều tra đặc biệt về miếu Thành Hoàng, do các chuyên gia thủy lợi dẫn đầu. Khi họ đang tiến hành đo đạc ngôi miếu và lòng sông xung quanh, thì 3 người trong số đó phát hiện ra một tảng đá khổng lồ với hình thù kỳ lạ nằm dưới đáy sông, cách bờ đất giữa lòng sông nơi miếu Thành Hoàng tọa lạc hơn 60m về phía thượng lưu. Sau khi đo đạc, phần tảng đá lộ ra có chiều dài khoảng 7m, chiều rộng 5m, nhưng kích thước chính xác của phần bị chôn vùi phía dưới vẫn chưa được biết.

Nhìn từ phía Tây của tảng đá, phần lộ ra phía trên trông giống như một con tê giác bị chôn vùi trong cát, vì vậy nhóm nghiên cứu đã gọi nó là “lưng tê giác”. Ngoài tảng đá này, có hàng chục tảng đá khác phân bố xung quanh, có kích thước khác nhau, chúng đều có đặc điểm chung là phần bị chôn vùi dưới đất rất lớn, cho nên dù có gặp lũ mạnh đến đâu cũng không thể xê dịch những tảng đá này. Vì vậy nhóm nghiên cứu gọi nó là “nhóm đá mọc rễ”.

Tảng đá khổng lồ với hình thù kỳ lạ nằm dưới đáy sông Trường An. (Ảnh qua Sound Of Hope)

Chức năng của “nhóm đá mọc rễ” này tương tự như “đê miệng cá phân dòng chảy” trong các công trình thủy lợi cổ đại. Khi lũ thượng nguồn đổ về, “nhóm đá mọc rễ” sẽ chia lũ làm đôi, cộng với hình dáng con thuyền của đồi đất nơi xây miếu Thành Hoàng khiến dòng lũ được phân làm hai và đẩy nhanh quá trình nước chảy.

Đồng thời, vị trí dòng sông nơi có miếu Thành Hoàng, tình cờ là khúc quanh của sông, khi lũ thượng nguồn đổ xuống, do tác dụng của “nhóm đá mọc rễ” phần lớn nước lũ sẽ chảy về phía Tây sông, dưới tác dụng của lực ly tâm tại khúc cua, nước sông sẽ hình thành trạng thái Tây cao Đông thấp, lưu lượng nước càng lớn, sự khác biệt càng rõ ràng.


Đây là lý do tại sao những người đứng trên cao cảm thấy mực nước ở phía Tây cao hơn một chút so với miếu Thành Hoàng, nhưng miếu lại không bị nhấn chìm. Những người thợ thủ công xây dựng miếu cũng đã tận dụng triệt để vai trò của khúc quanh, khi lũ xảy ra, dòng nước chủ yếu cuốn trôi những thứ ở bên ngoài dòng sông, còn bãi đất ở bên trong dòng sông nơi miếu Thành Hoàng tọa lạc, thì nước chảy tương đối thong thả, đồng thời dòng chảy dưới nước sẽ tiếp tục cuốn một số cát, đá vào bờ trong, đóng vai trò gia cố.

Như thế, bí ẩn về miếu Thành Hoàng khiến lũ đi đường vòng cuối cùng đã được giải đáp, nó bắt nguồn từ những người thợ xây dựng cổ đại, họ đã dùng bàn tay của mình để tạo nên một tòa kiến trúc kỳ diệu trong lịch sử. Ngoài ra, sự thật về kỳ tích này cũng là để cho con người ngày này phải nhìn nhận lại trí tuệ vượt bậc của người xưa.

Tử Vi (Theo Sound Of Hope)
Link tham khảo:



TÓC DÀI, TÀ ÁO VỜN BAY...

Thời chύng tôi cό rất nhiều thiên đàng mσ mộng: “Em theo trường về… tόc dài tà άo vờn bay”.


“Thiên đàng” cὐa những thằng tόc hớt ngắn, quần xanh άo trắng là nσi cάc nữ thiên thần άo dài trắng tύa ra như lῦ chim bồ câu sau giờ tan học cὐa Trường Gia Long. Thằng học sinh Petrus Kу́ nào chẳng mσ được “mần quen” cὺng một em άo dài.

Phίa bên hông cổng Trường Gia Long, trước cổng chὺa Xά Lợi, “cᾳnh tranh” với những chiếc xe bάn bὸ bίa, gὀi đu đὐ là những chàng άo trắng Petrus Kу́ đang gửi hồn qua cάnh cổng thâm nghiêm cό từ nᾰm 1915 với cάi tên thσ mộng “Trường nữ sinh Áo Tίm”.

Nghe kể lᾳi, trường được thành lập do đề nghị cὐa nghị viên Hội đồng quἀn hᾳt Nam kỳ Lê Vᾰn Trung cὺng vợ cὐa tổng đốc Phưσng và một số trί thức người Việt. Khόa đầu tiên (1915) trường tuyển 45 nữ sinh với đồng phục là άo dài tίm. Những đời hiệu trưởng đầu toàn là người Phάp.


Nᾰm 1949, nữ sinh Trường Áo Tίm cὺng nam sinh Trường Petrus Kу́ tổ chức bᾶi khόa kỷ niệm ngày Nam kỳ khởi nghῖa nên chίnh quyền đᾶ đόng cửa trường. Nᾰm 1950, sau một cuộc đấu tranh, biểu tὶnh dài ngày với sự ὐng hộ cὐa phong trào học sinh lύc ấy, trường được mở cửa lᾳi.

Đάnh dấu sự kiện quan trọng này, sau bἀy đời hiệu trưởng trường là người Phάp, lần đầu tiên trường cό nữ hiệu trưởng là người Việt: bà Nguyễn Thị Châu. Nᾰm 1953, Trường Áo Tίm đổi tên thành Trường nữ trung học Gia Long. Áo dài tίm được thay bằng άo dài trắng với phὺ hiệu là bông mai vàng. Chưσng trὶnh giάo dục bằng tiếng Phάp được chuyển sang quốc ngữ.

Biết đâu chίnh “mối tὶnh” gắn kết tranh đấu cὐa Áo Tίm và sau đό Gia Long trong những nᾰm về sau đᾶ gắn kết “trai Petrus Kу́, gάi Gia Long” trong những mối tὶnh thật và ἀo cὐa lứa tuổi học trὸ. Hᾶy mσ đi những chàng trai Petrus về “thiên đường” tuổi nhὀ dᾳi cὐa mὶnh!


Khoἀng giữa thập niên 1970, bài hάt Con Đường Tὶnh Ta Đi cὐa nhᾳc sῖ Phᾳm Duy làm xάo động những trάi tim mới lớn với những lời ca mộng mị:

“…Lά đổ để đưa đường
Hỡi người tὶnh Trưng Vưσng”.


Tôi không biết đό là lời cἀm thάn cὐa chàng trai nào. Nhưng cό lẽ thίch hợp hσn xin hᾶy cho chàng trai ấy là người cὐa Trường Chu Vᾰn An. Như một mặc định, “trai Petrus Kу́, gάi Gia Long” thὶ nữ sinh Trường Trưng Vưσng lᾳi là “cὐa riêng” cὐa những học sinh Chu Vᾰn An mặc dầu hai trường cάch trở về mặt địa lу́ một quᾶng đường khά dài.

Trường chàng thὶ ở tận nhà thờ ngᾶ sάu, đường Minh Mᾳng, cὸn “thiên đường” cὐa nàng thὶ ở đối diện Sở thύ – Thἀo cầm viên, số 3 Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tội nghiệp cho nam sinh Trường Vō Trường Toἀn cὺng ᾰn chung xe gὀi bὸ với cάc nàng nhưng chỉ đứng xa ngắm những chàng trường Chu đόn nàng mà hάt câu cἀm thάn:

“Trưng Vưσng hôm nay mưa vẫn giᾰng đầy trời
Bόng người thὶ mịt mὺng
Từng hàng me rung rung”
 
(Lời bài hάt Trưng Vưσng Khung Cửa Mὺa Thu – Nam Lộc)


Cό lẽ “nhân duyên tiền định” cὐa hai trường này đều xuất phάt từ “người phưσng Bắc”. Học sinh Chu Vᾰn An đa số là người miền Bắc và Trường Trưng Vưσng cῦng vậy. Điều này cῦng dễ hiểu vὶ Trường Trưng Vưσng là ngôi trường cό gốc gάc từ Hà Nội.

Theo “gia phἀ”, trường được thành lập từ nᾰm 1925, trên con đường Đồng Khάnh, phίa nam hồ Gưσm mang tên Trường Nữ trung học (College de Jeunes Filles), ngôi trường nữ trung học đầu tiên và duy nhất cὐa nữ giới miền Bắc. Vὶ nằm ở đường Đồng Khάnh nên cὸn được gọi là Trường Đồng Khάnh. Đến nᾰm 1948 trường được chuyển đến đường Hai Bà Trưng (Hà Nội) và đổi tên là Trường Trưng Vưσng. Nᾰm 1954, một số giάo sư và học sinh di cư vào Sài Gὸn và thành lập lᾳi Trường Trưng Vưσng.


Nᾰm học đầu tiên phἀi học nhờ cσ sở cὐa Trường nữ trung học Gia Long. Mᾶi cho đến nᾰm 1957, Trường Trưng Vưσng dời về số 3 Nguyễn Bỉnh Khiêm (nguyên trước đό là Quân y viện Coste cὐa quân đội Phάp).

Bởi vậy ta không lấy làm lᾳ khi đây là một trong những ngôi trường mang đậm dấu ấn kiến trύc Phάp và được bὶnh chọn là ngôi trường cό kiến trύc đẹp nhất Sài Gὸn. Nhờ là học sinh Trưng Vưσng nên mỗi lần làm lễ kỷ niệm Hai Bà, nữ sinh Trưng Vưσng được ưu tiên tuyển chọn làm Trưng Trắc, Trưng Nhị cưỡi voi trong lễ diễu hành.


Cό lần đi xem lễ diễu hành trên đường Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn), khi hai nàng học trὸ Trưng Vưσng ngồi trên voi “phất ngọn cờ vàng” đi ngang, tôi thấy thằng bᾳn cό vẻ phấn khίch. Tôi hὀi: “Mầy thίch “ghệ” άo vàng hἀ?”. Nό trἀ lời buồn xo: “Không, tao thίch con voi. Bây giờ tao ước gὶ mὶnh được làm con voi”.

Rồi nό cἀm thάn nhᾳi theo thσ cὐa Nguyễn Công Trứ:

“Kiếp sau xin chớ làm người
làm voi nàng cưỡi, cάi vὸi đung đưa”


Sau này tôi mới biết cô gάi đόng vai Trưng Trắc – άo vàng đό đᾶ cho chàng leo cây.

“Trưng Vưσng vắng xa anh dần.
Mὺa thu đᾶ qua một lần.
Cὸn đây bâng khuâng” 
(Trưng Vưσng Khung Cửa Mὺa Thu)

Ôi, tội nghiệp một thời mê gάi!


“Áo dài trắng em mang mà anh nhớ…” đâu chỉ ở Sài Gὸn. Ở một vὺng trời tỉnh Gia Định, những chiếc tà άo cὐa nữ sinh Trường nữ trung học Lê Vᾰn Duyệt vờn bay thật nhẹ nhàng, thanh khiết. Tôi khoάi chữ “vờn bay” cὐa nhà thσ Phᾳm Thiên Thư hσn chữ “tung bay” cὐa nhᾳc sῖ Từ Huy khi nόi về chiếc άo dài cὐa nữ sinh trung học. Chữ “tung” cό vẻ gὶ đό mᾳnh bᾳo quά khi nόi về chiếc άo dài vốn dῖ đằm thắm.

Thật thiệt thὸi khi ngôi trường này không được nhắc đến trong âm nhᾳc hoặc thσ ca, cό lẽ những chàng thi sῖ, nhᾳc sῖ chỉ thίch tụ tập ở Sài Gὸn mà bὀ quên một ngôi trường nữ làm đẹp và trắng khung trời Gia Định.


Từ Sài Gὸn, xuôi theo đường ĐinhTiên Hoàng, quẹo tay mặt, qua cầu Bông một đoᾳn, nhὶn sang tay trάi là một ngôi trường kiến trύc kiểu hiện đᾳi hσn trường Gia Long và Trưng Vưσng. Chuyện cῦng dễ hiểu vὶ nᾰm 1960, tὸa tỉnh trưởng Gia Định đᾶ dὺng một khu đất trước kia là ao rau muống để xây dựng trường trên đường Lê Vᾰn, gần Lᾰng Ông thuộc xᾶ Bὶnh Hὸa (tỉnh Gia Định), nay thuộc quận Gὸ Vấp. Trước kia trường mang tên Trưσng Tấn Bửu, thành lập nᾰm 1957, cό hai lớp đệ thất một nam và một nữ, học nhờ tᾳi trường nam tỉnh lỵ (nay là Trường THCS Lê Vᾰn Tάm).


Nᾰm 1959, lớp nam sinh chuyển về Trường Hồ Ngọc Cẩn (nay là Trường Nguyễn Đὶnh Chiểu). Khi xây dựng xong, trường được đặt tên là Trường nữ trung học Lê Vᾰn Duyệt và chưσng trὶnh học bắt đầu từ lớp đệ thất đến lớp đệ nhị. Học sinh nào đậu tύ tài I sẽ chuyển sang học Trường Trưng Vưσng. Khoἀng nᾰm 1965-1966 trường mới cό lớp đệ nhất. So với hai trường nữ đàn chị thὶ nữ sinh Lê Vᾰn Duyệt nào cό kе́m cᾳnh chi, cῦng làm những chàng trai thốt lên: “Ơi em, bắt hồn tôi về đâu?”…

Cό những chàng trai lᾶng mᾳn thὶ cῦng cό những chàng trai rất thực tế. Hiệp mập, thằng bᾳn cὐa tôi, phάt biểu: “Tao không lấy vợ là “ghệ” Gia Long, yểu điệu thục nữ quά cỡ, tao chỉ muốn vợ tao là nữ sinh Trường Sưσng Nguyệt Anh”. Tôi sửng sốt vὶ Trường nữ trung học tổng hợp Sưσng Nguyệt Anh mới vừa thành lập nᾰm 1971.

Sau Mậu Thân 1968, một gόc đường Minh Mᾳng, Sư Vᾳn Hᾳnh gần chὺa Ấn Quang bị chάy rụi. Vài nᾰm sau đό, chung cư Minh Mᾳng ra đời, phίa bắc cὐa chung cư, ngay gόc đường Hὸa Hἀo, Minh Mᾳng (nay là đường Nguyễn Chί Thanh), Trường nữ trung học tổng hợp Sưσng Nguyệt Anh cὺng được xây dựng.

Không phἀi thằng Hiệp mập không cό lу́ cὐa nό, vὶ nữ sinh trường này được học một chưσng trὶnh giάo dục hoàn toàn mới. Đây là ngôi trường nữ đầu tiên tᾳi VN với lối giάo dục theo phưσng phάp tổng hợp theo mô hὶnh cὐa cάc nước tiên tiến thời ấy. Song song với việc giἀng dᾳy như cάc trường công lập khάc, trường cὸn dᾳy thêm kinh tế gia đὶnh (tức nữ công gia chάnh, may vά nấu ᾰn), môn doanh thưσng (tức kế toάn đάnh mάy), âm nhᾳc (đàn tranh, piano), hội họa, nghệ thuật cắm hoa, và cἀ môn vō aikido, vovinam.


Ngay từ nᾰm lớp 6, nữ sinh Trường Sưσng Nguyệt Anh đᾶ được học cἀ hai sinh ngữ Anh và Phάp khi mà học sinh công lập cάc trường khάc chỉ được học một sinh ngữ. Trường được trang bị một phὸng thίnh thị mάy mόc rất tối tân để luyện giọng chίnh xάc với giάo sư ngoᾳi quốc, một phὸng thί nghiệm đầy đὐ dụng cụ.

Với lối giάo dục mới mẻ này, sau bἀy nᾰm trung học, nữ sinh trường cό cσ hội thành một thiếu nữ VN vᾰn vō song toàn. Cὸn theo thằng bᾳn tôi, giύp ίch xᾶ hội được hay không thὶ chưa biết, nhưng chắc chắn là một bà xᾶ biết dᾳy chồng bằng vō vovinam và tài nội trợ.

Sài Gὸn, cὺng với những trường nữ trung học công lập Gia Long, Trưng Vưσng, Lê Vᾰn Duyệt, Sưσng Nguyệt Anh cῦng cὸn trắng trời άo dài với những trường nữ trung học tư khάc như Thάnh Linh, Hồng Đức… đᾶ nhốt hồn những chàng trai mặt bắt đầu nổi mụn trứng cά và vỡ giọng với những thổn thức “άo ai trắng quά nhὶn không ra”…


Những cô nữ sinh với những ngôi trường ấy đᾶ là một phần hồn cὐa chύng tôi, một phần hồn cὐa Sài Gὸn đᾶ đào tᾳo những nữ lưu anh kiệt về cάc mặt chίnh trị, vᾰn hόa, khoa học, và tiếp tục những nữ lưu anh kiệt lᾳi là những anh kiệt nữ lưu khάc.

Cἀm σn Sài Gὸn đᾶ cό những ngôi trường ấy cho tôi nhớ. Cἀm σn Sài Gὸn cό những ngôi trường thiên đàng tuổi nhὀ dành riêng cho chàng trai mσ về những mάi tόc, những chiếc άo dài trắng vờn bay… vờn bay!

Theo: Lê Vᾰn Nghῖa



NGƯỜI LÍNH NHẬT CUỐI CÙNG ĐẦU HÀNG SAU WWII

Đầu tháng 2 năm 1974, một du khách Nhật Bản khi đang thám hiểm trên đảo Lubang ở Philippines bất ngờ phát hiện ra một người lính Nhật còn sống sót từ Đại chiến Thế giới lần thứ hai – trung úy Hiroo Onoda.

Hiroo Onoda trong lễ đầu hàng ngày 10/03/1974 in Lubang, Philippines.

Sáng hôm ấy, khi du khách trẻ người Nhật Norio Suzuki đi sâu vào rừng rậm nhiệt đới để thám hiểm, anh chợt nhìn thấy một quái vật hình dạng người, râu tóc xồm xoàm, mình đầy vỏ cây đang ngồi ngấu nghiến ăn quả dại trên cành cây. Suzuki sợ quá nhảy thót lên. Quái vật nhìn thấy anh cũng vội trèo lên cao. Nhìn thấy động tác trèo cây của nó không giống động tác của loài khỉ, Suzuki đoán ra đây là người. Anh vội lại gần và hét to bằng tiếng Nhật: “Ai thế? Đừng sợ, tôi không làm hại ai đâu!” Suzuki bỗng nghe thấy quái vật kia hỏi lại cũng bằng tiếng Nhật: “Anh là người Nhật Bản hả?” Mừng quá, Suzuki thét to: “Tôi là người Nhật sang đây du lịch. Tại sao anh cũng biết tiếng Nhật? Anh là người nước nào?”

Một lát sau, quái vật kia nhảy từ trên cây xuống, miệng lắp bắp: “Người Nhật, người Nhật … thế là cuối cùng tôi đã nhìn thấy người Nhật rồi!”

Qua câu chuyện người ấy kể lại, Suzuki được biết đây là Hiroo Onoda, trung úy quân đội Nhật, sinh năm 1922, cách đây 29 năm từng phục vụ trong đội đặc nhiệm thuộc Bộ Tư lệnh Tập đoàn quân vùng 14 đóng trên đất Philippines; trong chiến đấu với quân Mỹ, đơn vị của anh bị tiêu diệt gần hết, anh cùng 3 người sống sót chạy vào rừng ẩn náu. Lính Mỹ đã lùng sục khắp vùng rừng núi này, sau đấy nhiều đợt quân đội và cảnh sát Philippines cũng vào rừng tìm kiếm và gọi hàng. Các bạn anh về sau một người đầu hàng, hai người bị bắn chết, riêng Onoda lẩn sâu hơn nên thoát được. Suốt từ năm 1945 tới nay, Onoda sống một mình trong rừng không hề ra ngoài gặp ai. Anh đoán đơn vị mình đã bị tiêu diệt, nhưng nước Nhật vẫn tồn tại và anh quyết sống đến ngày trở về.

Onoda sống nhờ ăn trái cây và các loại côn trùng, động vật nhỏ như chuột, sóc, chim, thỏ rừng bẫy được. Vì không có lửa nên anh phải ăn sống nuốt tươi mọi thứ. Bộ quân phục duy nhất đã rách hỏng từ lâu, mùa hè anh trần truồng như nhộng, mùa rét anh lấy vỏ và lá cây đan lại làm áo che thân. Tuy không có phương tiện xem ngày giờ, nhưng qua nhìn trăng tròn trăng khuyết, Onoda cũng đại khái biết được mình đã sống ở đây được 29 năm.

Đã nhiều lần Onoda gặp tai họa, như bị dã thú tấn công và bị ốm đau. Lòng dũng cảm và khôn ngoan đã giúp anh thắng được dã thú. Anh cũng dùng khẩu súng của mình bắn lại các binh sĩ Mỹ và Philippines vào rừng săn lùng lính Nhật lẩn trốn không đầu hàng. Trong ngót ba chục năm qua, Onoda đã bắn chết hơn ba chục và làm bị thương hơn 100 binh sĩ đối phương hoặc dân thường vào rừng sâu. Khẩu súng của anh hiện giờ vẫn tốt nguyên, luôn được lau chùi bóng loáng kèm túi đạn ngót 200 viên. Anh phải tự tìm các loại lá cây và rễ cây để chữa bệnh. Nhờ tinh thần kiên cường bất khuất, anh vượt qua mọi khó khăn, sống được đến ngày nay. Điều duy nhất Onoda khó chiến thắng nổi là cảm giác cô đơn u tịch.

Suzuki kể cho Onoda biết là nước Nhật đã thua trận và đầu hàng từ tháng 8 năm 1945, nhưng Onoda nhất định không tin. Mấy chục năm qua lính Mỹ và Philippines nhiều lần bắc loa gọi hàng cũng nói như vậy, nhưng anh đều cho đây là kẻ địch giăng bẫy. Anh nói: “Không thể được. Đại Nhật Bản không bao giờ thua ai cả!” Mặc cho Suzuki thuyết phục nên về Nhật sinh sống với đồng bào mình, Onoda kiên quyết ở lại trong rừng như cũ, tiếp tục cuộc chiến đấu vì niềm tin của mình. Thuyết phục mãi không có kết quả, Suzuki bèn chia tay ra về.

Trở về nước, Suzuki kể lại chuyện trên cho báo chí biết. Chính quyền Nhật bèn cử một viên chức tên là Isuzu sang tận cánh rừng Onoda ở để thuyết phục người lính già này từ bỏ ảo tưởng, trở về cuộc sống bình thường. Nhưng dù Isuzu trổ hết tài ăn nói, Onoda vẫn lắc đầu quầy quậy: “Tôi không bao giờ tin như vậy. Tôi khước từ mọi lời khuyến hàng và dụ hàng của bất cứ ai, trừ phi cấp trên cũ của tôi đến đây ra lệnh thì tôi mới tin đó là sự thật; nếu không tôi phải hết sức nêu cao cảnh giác và đấu tranh hết sức mình theo cách của tôi!”

Lính Nhật trong thế chiến thứ II

Isuzu vô cùng thất vọng, chỉ còn biết hẹn với Onoda cách liên lạc lần sau, rồi ra về. Sau khi gọi điện về nước xin ý kiến, Isuzu viết thư báo cho Onoda biết Chính phủ Nhật sẽ cử cấp trên cũ của Onoda là thiếu tá Taniguchi thân chinh đến gặp Onoda để ra lệnh cho anh. Isuzu đặt lá thư này vào chỗ đã hẹn trước với Onoda. Và thế là đã diễn ra một nghi thức chấp nhận đầu hàng chưa từng có trong lịch sử loài người.

Quá trưa ngày 9 tháng 3 năm 1974, theo thư Isuzu báo trước, Hiroo Onoda đi đến chỗ hẹn thì trông thấy một chiếc lều vải có cắm cột cờ, trên đó lá quốc kỳ Nhật Bản bay phấp phới. Anh vô cùng xúc động vì đây chính là lá cờ đã cổ vũ anh kiên cường sống suốt 29 năm qua.

Isuzu ra đón. Onoda biết đã tới giờ phút gặp lại thủ trưởng năm xưa của mình. Anh vội bước đến, hướng về phía chiếc lều và hét to: “Báo cáo thiếu tá Taniguchi, trung úy Onoda có mặt!” Từ trong lều vang lên giọng nói quen thuộc: “Onoda hả, đúng là anh đấy chứ? Chờ một chút nhé, tôi đang mặc quân phục. Đây là lần cuối cùng tôi ra lệnh cho anh, cho nên phải làm đúng điều lệnh.”

Isuzu lấy máy ảnh chuẩn bị chụp lễ tiếp nhận đầu hàng cuối cùng của Đại chiến thế giới lần thứ hai. Taniguchi quân phục chỉnh tề bước ra. Onoda giơ tay chào theo kiểu chào của quân đội, dõng dạc nói: “Báo cáo trưởng quan Taniguchi, trung úy Onoda có mặt nghe lệnh ngài!”

Taniguchi chào lại và nói: “Onoda, anh giỏi lắm. Tôi rất mừng có một cấp dưới như anh.” Sau khi bắt tay Onoda, thiếu tá nghiêm giọng: “Lễ thụ hàng chính thức bắt đầu. Trung úy Onoda nghe đây! Lấy danh nghĩa là cấp trên của anh, tôi đọc mệnh lệnh như sau cho anh nghe.”

“Theo mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Tập đoàn quân vùng 14 thuộc quân đội Hoàng gia Nhật Bản, 19 giờ ngày 10 tháng 9 năm 1945, đội đặc nhiệm Bộ Tư lệnh Tập đoàn quân ra lệnh: ‘- Điều Một. Theo lệnh của Thiên Hoàng, Tập đoàn quân vùng 14 đình chỉ mọi hành động chiến đấu; – Điều Hai. Theo mệnh lệnh số A-2003 của Bộ Tư lệnh Tập đoàn quân vùng 14, đội đặc nhiệm của Bộ Tư lệnh Tập đoàn quân vùng 14 đình chỉ mọi hành động quân sự; – Điều Ba. Tất cả các đơn vị và cá nhân thuộc đội đặc nhiệm phải lập tức đình chỉ mọi hành động quân sự và quy tập theo sự chỉ huy của sĩ quan cấp trên nơi gần nhất. Trường hợp không tìm thấy sĩ quan cấp cao hơn thì phải đầu hàng quân đội Mỹ hoặc Philippines và nghe theo sự chỉ huy của họ.’ Mệnh lệnh đến đây là hết. Thiếu tá Taniguchi, đội đặc nhiệm Bộ tư lệnh Tập đoàn quân vùng 14.”

Đọc xong lệnh, Taniguchi nhìn Onoda nói: “Mệnh lệnh chỉ có thế. Mọi chuyện khác chúng ta sẽ nói sau.”

Onoda hỏi: “Đầu hàng thật ạ?”

Taniguchi trả lời: “Phải chấp nhận thực tế thôi. Toàn bộ Hoàng quân Nhật Bản 29 năm trước đã chấp nhận đầu hàng, cả tôi cũng thế.”

Onoda lặng người đi một lúc lâu, rồi quỳ xuống “Oà” một tiếng khóc váng lên: “Chúng ta thật sự thua trận ư? Quân địch đã làm gì thế ạ? Bao năm nay tôi chiến đấu như một chiến sĩ du kích của Hoàng quân là để làm gì hả trời? 29 năm nay tôi ôm ấp một niềm tin Nhật Bản không bao giờ thua trận, lẽ nào bây giờ lại phải nghe một mệnh lệnh như vậy chăng? Lẽ ra tôi không nên đến gặp các vị. Chấp nhận đầu hàng như vậy thì sao còn có thể chiến đấu đến cùng vì vinh dự của nước Nhật, vì vinh dự của Thiên Hoàng, vì vinh dự của một quân nhân Đế quốc Nhật Bản được nữa?”

Hiroo Onoda nộp kiếm trong lễ đầu hàng ngày 10/03/1974 in Lubang, Philippines.

Taniguchi thân mật vỗ vai Onoda: “Trung úy Onoda, mọi việc đã kết thúc. Chiến tranh, ngót 30 năm cuộc sống hoang dã của anh, và cả huyền thoại ‘Nhật Bản bất bại’, tất cả đều đã chấm dứt rồi!”

Sau nhiều lần cố gắng, cuối cùng Taniguchi và Isuzu thuyết phục được Onoda theo họ trở về nước Nhật. Dân chúng Philippines có người đòi trị tội Onoda vì đã vô lý chống lại lệnh đầu hàng và gây thiệt hại lớn cho binh sĩ và dân thường Philippines. Nhưng Tổng thống nước này đã ân xá cho anh và tiếp kiến anh. Khi Onoda về nước, dân Nhật đón anh như một anh hùng tượng trưng cho tinh thần yêu nước.

Phải nhiều năm sau, Hiroo Onoda mới quen dần với cuộc sống ở quê nhà. Ông viết và xuất bản cuốn tự truyện “Cuộc chiến 29 năm không đầu hàng của tôi”. Ông từ chối gặp Thiên Hoàng rồi sang Brazil (nơi có nhiều người Nhật di cư từ xưa) làm nghề chăn nuôi. Sau khi lấy vợ, ông lại về quê cũ và mở một vườn trẻ. Hiroo Onoda qua đời năm 2014, thọ 92 tuổi./.

Nguyễn Hải Hoành biên tập dựa trên tài liệu nước ngoài.
Nguồn: Asahi Shimbun/Getty Images.

Link tham khảo: