Friday, October 29, 2021

ÁO DÀI ƠI


Áo dài ơi
thơ: Đường Tân

Áo dài là áo dài ơi!
Đưa em về với tinh khôi thuở nào
Thuở nào mận mới hỏi đào
'Vườn hồng đã có ai vào hay chưa'?
Thuở nào e ấp xin thưa:
'Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào'!
Thuở nào tát nước bờ ao
Vờ quên chiếc áo xôn xao đi tìm...


Thuở nào trống giục hội Lim
Hát câu Quan Họ mắt tìm trao duyên
Thuở nào bến vẫn đợi thuyền
Thủy chung một dạ lời nguyền khăng khăng
Thuở nào thầy mẹ em răn
'Rằng thân con gái chớ ăn trầu người'

.....

Áo dài là áo dài ơi!
Đưa em về với tinh khôi thuở nào
Áo dài là áo dài ơi!
Bao giờ cho đến cái thời 'ngày xưa'!...

Đường Tân

NHỮNG MÓN ĐẶC SẮC TẠO NÊN LINH HỒN TRONG ẨM THỰC KIÊN GIANG

Kiên Giang không chỉ là mảnh đất hiền hòa, xinh đẹp mà ẩm thực Kiên Giang cũng là lý do níu lòng mọi du khách có dịp đến đây. Vốn là nơi có nhiều nguyên liệu đặc sản, người dân bản xứ đã sáng tạo ra nhiều món ăn hấp dẫn, lạ tai, lạ miệng. Nếu các bạn độc giả đã sẵn sàng thì hãy cùng Tasty Kitchen khám phá ẩm thực vùng Hà Tiên-Kiên Giang qua bài viết dưới đây nhé!


Bánh canh chả ghẹ

Đến với các vùng đồng bằng sông Cửu Long thực khách chắc chắn không thể bỏ qua món bánh canh. Mảnh đất Kiên Giang sẽ giới thiệu cho chúng ta món bánh canh chả ghẹ đã nức tiếng nhiều năm của người dân bản xứ.

Tuy đây là món ăn chủ yếu làm từ hải sản nhưng vị tanh đã biến mất khi trải qua các công đoạn chế biến đặc trưng của ẩm thực Kiên Giang. Một tô bánh canh thường rất đầy đặn, sợi bánh canh được canh được xếp bên dưới, thịt cua cùng chả cá đặt lên trên.

Bát bánh canh chả ghẹ đầy đặn và đặc biệt hấp dẫn.

Điểm đặc biệt đầu tiên của món này nằm ở nước lèo. Nước lèo bánh canh ngon bao giờ cũng được hầm từ xương heo, đầu cá thu, thịt và tôm khô. Khi ăn chúng ta sẽ thấy hai vị chủ đạo là mặn và cái ngọt thanh từ hải sản.

Điểm đặc biệt thứ hai của món ăn là chả cá thu tươi, tẩm tiêu, hành tỏi, nước mắm được hấp hoặc chiên vàng. Dùng chung với bánh canh mềm lại càng tôn lên cái giòn hơi dai và đậm đà của miếng chả. Trong mỗi tô bánh canh thường được bỏ thêm thịt ghẹ đã luộc chín kỹ, khá thơm.

Bún cá Rạch Giá

Thành phố Rạch Giá chính là cái nôi của ẩm thực Kiên Giang. Tại đây du khách có thể thưởng thức món bún cá đặc trưng, không thể trộn lẫn của mảnh đất này. Không giống như bún cá thông thường chỉ ăn chung với cá rán hoặc cá kho, bún cá Rạch Giá ăn cùng tép tươi thơm bùi, dậy vị.

Tô bún cá đầy ự với nước lèo đẹp mắt.

Kinh nghiệm dành cho những ai sành ăn là nên gọi thêm đầu cá lóc hấp để thưởng thức chung với bát bún cá để thưởng thức được rõ nhất hương vị miền biển nơi đây.

Bún kèn

Nhắc đến ẩm thực Kiên Giang là nhắc đến món bún kèn. Vì sự cầu kỳ, yêu cầu nhiều công đoạn chế biến mà du khách chỉ có thể thưởng thức món bún kèn tại quê hương Hà Tiên.

Bún kèn là món ăn khá tinh tế và dễ ăn.

Đầu tiên, bát bún kèn sẽ khiến chúng ta “đã mắt” nhờ lớp tôm khô giã nhuyễn được rắc lên trên bát bún đầy đặn. Các loại rau thơm sẽ được đặt dưới cùng để chín vừa ăn, nóng hổi. Khi nếm, vị ngon của cá, cá đậm đà từ nước dừa và cái thanh của giá, rau ăn kèm hòa quyện cùng nhau, vừa đủ vị. Ăn món bún kèn chúng ta vừa nhẹ bụng lại vừa không bị ngán.

Xôi xiêm

Sở dĩ ẩm thực Kiên Giang gọi món này là xôi xiêm vì các nguyên liệu chính đều được nhập từ Thái Lan sang. Nguyên liệu đầu tiên là gạo nếp, giống gạo nếp xứ Chùa Vàng được đánh giá là dẻo và thích hợp nấu món xôi này hơn giống gạo Việt. Nước cốt dừa, đường Thốt Nốt và đường cát cũng là giống chính gốc Thái mới tạo vị đúng chuẩn cho xôi xiêm được.

Xôi xiêm dẻo mềm ngọt thanh nên ăn cùng nước cốt dừa.

Để bắt đầu nấu xôi xiêm, đầu bếp phải ngâm gạo từ 4 - 5 giờ liên tục. Kế đó rút hết nước trong gạo bằng vải the, đồ cách thủy. Xôi ăn cùng trứng gà ta cùng đường cát, đường thốt nốt cho bớt ngán. Tiếp tục hấp xôi và nhân xôi trong nồi nước lá thơm (lá dứa) cho quyện hương. Khi xới xôi ra bát để ăn thì rưới thêm nước cốt dừa lên trên rồi mới thưởng thức.

Bánh thốt nốt

Bánh thốt nốt là loại bánh nổi tiếng của bà con dân tộc Khmer sinh sống tại Kiên Giang. Từ lâu bánh thốt nốt đã trở thành một phần không thể thiếu của ẩm thực Kiên Giang và được nhiều du khách yêu thích.

Món bánh thốt nốt có màu vàng đẹp mắt.

Bột gạo kết hợp cùng nước thốt nốt sẽ tạo ra bánh thốt nốt. Thế nhưng theo chia sẻ của người dân nơi đây, bánh này cần ủ bột qua một đêm. Tiếp theo lấy bột đó trộn với nước thốt nốt rồi mới đem gói vào lá chuối đem hấp được. Tùy theo khẩu vị mà người ta có thể cho thêm chút dừa nạo. Bánh chín có màu vàng đẹp mắt và rất mềm, dễ ăn.

Bánh ống lá dứa

Bánh ống lá dứa cũng là món ăn vặt của đồng bào dân tộc Khmer nhưng ít được biết đến hơn so với bánh thốt nốt. Loại bánh này có dạng hình khuôn trụ, dài khoảng 10 - 15cm. Bánh tuy dài nhưng khá nhỏ, vừa miệng ăn.

Bánh ống lá dứa có mùi thơm quyền rũ

Nếu bàn về hương vị thì bánh lá dứa gồm các nguyên liệu phổ thông như bột gạo nếp, lá dứa và dừa nạo hoặc vừng. Bánh khi ăn có vị ngọt nhẹ, không ngán. Khi ăn xong mùi hương lá dứa vẫn còn thoang thoảng rất dễ chịu.

Ngoài 6 món ăn trên, ẩm thực Kiên Giang vẫn còn khá nhiều món ăn đặc biệt khác chờ du khách thưởng thức. Nếu các bạn độc giả vẫn còn hứng thú với nền ẩm thực của vùng quê nước mặn đồng chua này thì đừng quên theo dõi website của bếp nhà Tasty Kitchen để cập nhật những bài viết mới nhất từ chúng tôi nhé!

Diệu Trần / Theo: Tasty Kitchen

HỒI ĐẦU THỊ NGẠN 回頭是岸

Chủ đề hôm nay tôi nói là Hồi đầu thị ngạn, tức "Quay đầu lại là bờ giác". Biển mê và bờ giác chỉ cách nhau có một cái quay đầu. Tại sao chúng ta tu lâu quá mà chưa giác? Ðó là điều tôi muốn nói với tất cả.


Thân chúng ta có đầy đủ sáu căn, nhưng lúc nào chúng cũng phóng ra ngoài. Mắt đuổi theo sắc, tai đuổi theo âm thanh, mũi đuổi theo mùi hương v.v. Sáu căn đuổi theo sáu trần là đi đường mê. Bây giờ muốn trở về bờ giác thì phải quay đầu lại. Tôi sẽ dẫn kinh để nói lên lẽ thật này.

Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật đưa tay lên hỏi ngài A-nan: "Ông thấy không?" Ngài A-nan thưa: "Dạ thấy." Phật để tay xuống, hỏi: "Thấy không?" Ngài A-nan thưa: "Dạ không thấy." Ngay đó Phật liền quở: "Ông đã quên mình theo vật!" Tại sao vậy?

Ðây là câu chuyện nhỏ mà chúng ta ít quan tâm, chứng tỏ chúng ta cũng từng quên mình theo vật. Phật đưa tay lên, ngài A-nan thấy cái tay. Phật để tay xuống, ngài A-nan thấy không có cái tay, chớ không phải không thấy. Thế mà Ngài trả lời "không thấy" nên mới bị Phật quở. Ðâu phải cái tay mất là mất cái thấy. Cái thấy là mình, cái tay là cảnh. Không thấy là không thấy cái tay, chớ cái thấy vẫn hiện tiền. Cái thấy hiện tiền mà nói không, đó là quên mình chạy theo vật. Tất cả chúng ta cũng đều quên mình như vậy.

Phật lại dạy ngài La-hầu-la đánh chuông "boong" rồi hỏi ngài A-nan: "Ông nghe không?" Ngài A-nan trả lời: "Dạ nghe." Lát sau, tiếng chuông bặt, Phật hỏi: "Nghe không?" Ngài A-nan thưa: "Dạ, không nghe." Phật bảo ngài La-hầu-la đánh chuông một lần nữa và cũng hỏi y như vậy, ngài A-nan cũng trả lời y như vậy. Phật quở: "Ông quả là quên mình theo vật!"

Như vậy là sao? Trả lời như thế nào mới đúng? Ðánh tiếng chuông "boong" hỏi nghe không thì trả lời "Nghe". Khi tiếng chuông bặt, hỏi nghe không, trả lời "Không nghe". Như vậy là đồng hóa cái nghe với tiếng chuông làm một. Nhưng tiếng chuông là cảnh, cái nghe là mình. Cảnh hết chớ cái nghe đâu có mất. Tiếng chuông mất mà bảo "không nghe" tức là quên mình, chỉ biết cảnh thôi. Chúng ta tự kiểm xem lâu nay mình mê hay tỉnh. Thực tế chúng ta đang mê mà không biết mình mê lầm.

Qua một chuyện khác, Thiền sư Cảnh Thanh nghe tiếng con nhái bị rắn bắt, kêu la om sòm, Ngài hỏi Thị giả: "Tiếng gì đó?" Thị giả trả lời: "Bạch Hòa thượng, tiếng con rắn bắt con nhái, con nhái la." Ngài liền nói: "Chúng sanh khổ lại có khổ chúng sanh." Cái gì là chúng sanh khổ? Cái gì là khổ chúng sanh? Con nhái bị con rắn bắt nên nó la, đó là chúng sanh khổ. Thị giả nghe tiếng nhái kêu la mà quên mình có cái hay nghe, đó là khổ chúng sanh. Câu chuyện hết sức đơn giản, nhưng hỏi ra lại thấy rắc rối.


Bây giờ nếu chúng ta muốn trả lời thay cho chú Thị giả thì phải trả lời làm sao? Khó, phải không? Ðể thấy rằng nếu đứng trong trường hợp chú Thị giả, chúng ta cũng thế thôi. Nhưng sự thật đâu có khó, chỉ cần nói: "Con nghe tiếng rắn bắt nhái kêu." Chỉ thêm từ "Con nghe" là có mình. Vì chú Thị giả chỉ biết có tiếng thôi mà không biết có mình, nên mất mình. Khác biệt một chút thôi mà nói lên được sự khác nhau giữa người tỉnh và người chưa tỉnh.

Chúng ta tu cũng vậy, luôn quay lại mình, nhớ mình, đừng chạy theo cảnh. Nếu nhớ mình là tỉnh, còn chạy theo cảnh là mê. Như vậy trên đường tu không có gì khó, mà khó tại chúng ta quên mình. Giờ đây tỉnh lại biết quay về mình, đó là xoay về bờ giác.

Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật nói tất cả chúng sanh đều có một tinh minh sanh ra sáu hòa hợp. Một tinh minh tức là một cái trong sáng. Cái trong sáng đó sanh ra sáu hòa hợp tức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Sáu căn bên trong hợp với sáu trần bên ngoài sanh ra sáu thứ phân biệt, nên gọi là lục hòa hợp. Chúng ta tu là từ lục hòa hợp trở về một tinh minh. Ðó là bờ giác. Ngược lại, sáu hòa hợp đuổi theo sáu trần, đó là mê.

Muốn trở về một tinh minh đó, phải ngay nơi sáu hòa hợp đừng dính với sáu trần. Ví dụ cái nhà có sáu cửa đang mở, bên trong có một ngọn đèn néon lớn. Chúng ta đứng ngay cửa, nhìn ra thì thấy tối, xoay lại thì thấy sáng. Ðơn giản như vậy. Ngó ra ngoài, đuổi theo bên ngoài là đi trong biển mê. Xoay lại thấy ngọn đèn sáng là trở về bờ giác. Chỉ một cái xoay lại, hết sức giản đơn! Thế thì tu đâu có khó. Lẽ thật như vậy.

Cho nên cũng trong kinh Lăng Nghiêm, ngài A-nan hỏi Phật: "Cái gì là cội gốc của phiền não sanh tử? Cái gì là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn?" Khi đó, không những đức Phật Thích-ca, mà mười phương chư Phật, khác miệng đồng lời, cùng nói to lên rằng: "Sáu căn của ông là cội gốc phiền não sanh tử, sáu căn của ông cũng chính là cội gốc Bồ-đề Niết-bàn!" Nên biết tu là nhắm ngay nơi sáu căn, xoay trở về là Bồ-đề Niết-bàn, chạy ra ngoài là phiền não sanh tử. Việc tu quá dễ, có gì phải nghi ngờ nữa.


Hiện giờ chúng ta ngồi thiền để làm gì? Ngồi thiền là cốt gỡ bớt dính mắc của mắt, tai, mũi, lưỡi đối với các trần bên ngoài, chỉ chú ý bên trong. Trong sáu căn, điều phục được ý đừng cho chạy theo pháp trần là gốc. Pháp trần là những bóng dáng của quá khứ, chúng ta lưu giữ trong tâm. Khi ngồi yên chúng trào lên khiến mình nhớ cái này, nghĩ cái kia. Do vậy, chúng ta phải điều phục ý khiến nó không còn khả năng lôi mình chạy nữa, đó là mục đích chánh của người tu thiền.

Tại sao sáu căn mà chúng ta chỉ điều phục ý thôi? Thật ra, khi mắt thấy sắc, nếu chỉ thấy thôi, không có chú "ý" hợp tác thì đâu có chuyện. Tai nghe tiếng cũng vậy. Cho nên tuy "ý" sâu kín bên trong nhưng nó rất hệ trọng. Làm chủ được ý rồi thì năm căn kia làm chủ được. Vì vậy chúng ta phải quay về, làm sao điều phục cho ý dừng lại, đừng chạy nữa thì thành công. Chú "ý" dừng lại đó là định. Còn nó chạy hoài, đó là loạn.

Chúng ta làm việc gì đều phải biết được gốc của nó. Nhiều người cứ nghĩ tu thiền cho khỏe mạnh hoặc sống lâu, như thế là không đúng. Tu thiền là điều được ý căn của mình. Cho nên trong nhà thiền có câu chuyện hết sức đơn giản mà lý thú. Ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch tới chỗ Thiền sư Hồng Ân Trung Ấp thưa:

- Bạch Hòa thượng, thế nào là Phật tánh?

Ngài Trung Ấp nói:

- Ta không thể nói thẳng được, nên dùng thí dụ này cho ông tạm hiểu: Như có con khỉ nhốt trong lồng sáu cửa. Bên ngoài một con khỉ khác tới kêu "Chéo! Chéo!" Con khỉ bên trong đáp lại "Chéo! Chéo!" Cứ như vậy, con khỉ bên ngoài tới cửa nào cũng kêu, thì con khỉ bên trong đều đáp lại hết.

Nói đến đó ngài Trung Ấp làm thinh.

Ngưỡng Sơn là một tay cự phách trong nhà thiền, nghe xong liền hỏi: "Bạch Hòa thượng, nếu con khỉ bên trong ngủ thì sao?" Ngay khi đó Thiền sư Trung Ấp từ trên tòa bước xuống nắm lấy vai Ngưỡng Sơn nói: "Chúng ta thấy nhau rồi!"

Câu chuyện hết sức đơn giản và cũng hết sức rõ ràng. Thiền sư nói "Thấy" đó, là thấy cái gì? Con khỉ ở trong là con khỉ ý thức của mình. Con khỉ ở ngoài là sáu trần. Nếu cơ quan nào tiếp xúc và bị dính với một trần thì con khỉ ý thức bên trong liền nhảy ra. Nó cứ phản ứng đều đều như vậy. Nếu con khỉ ý thức lặng rồi thì Phật tánh hiện tiền, không cần giải thích Phật tánh là gì. Cho nên khi con khỉ ngủ thì Phật tánh hiện tiền, vì vậy các ngài nói "Chúng ta thấy nhau rồi".


Việc tu rõ ràng không phải chuyện xa lạ ở đâu, vậy mà lâu nay chúng ta cứ tìm kiếm bên ngoài, không biết gốc của sự tu hành. Như ngồi thiền là để dừng ý thức lại, không cho nó loạn động. Dùng cách nào, phương tiện nào cũng được, miễn điều phục được ý là tốt. Có người lại sợ: "Tâm tôi yên quá, không biết thành cái gì?" Chính chỗ này tôi nhắc lại cho quí vị nhớ câu chuyện Tổ Huệ Khả.

Khi Tổ đã biết đường vào, trải qua một thời gian tu, sau đó Ngài bạch với Tổ Ðạt-ma: "Con dứt hết các duyên." Tổ Ðạt-ma bảo: "Coi chừng rơi vào không." Ngài thưa: "Rõ ràng thường biết, làm sao không được." Ngay đó Tổ liền ấn chứng: "Ngươi như vậy, ta như vậy, chư Phật cũng như vậy!" Ðó là truyền tâm pháp ấn. Thế nhưng bây giờ có nhiều người lại bày chuyện truyền tâm theo những cách lạ lùng, khó hiểu. Thật ra, truyền tâm pháp ấn là những gì trò thấy đúng như thầy thấy, và những gì thầy thấy đúng như Phật Tổ thấy.

Việc truyền tâm ấn trong nhà thiền hết sức đơn giản, nhưng người ta vẫn lầm vì câu chuyện của Tổ Huệ Năng. Khi được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn gọi vào thất, Ngài còn là cư sĩ. Vì sợ người ngoài ganh tỵ nên buộc lòng Tổ phải lấy y che chung quanh cửa thất để người ngoài không thấy. Trong thất, Tổ nói kinh Kim Cang, ngài Huệ Năng ngộ đạo và được truyền y bát. Người thời nay cũng bắt chước như vậy, muốn "truyền tâm ấn" thì thầy trò vào riêng trong phòng, che kín lại. Truyền kiểu đó chẳng những không đúng mà còn khó coi quá! Ngày xưa Tổ có hoàn cảnh khác, bây giờ mình có hoàn cảnh khác mà lại làm thế là chỉ chuộng hình thức, chớ không thấy được mục đích chủ yếu của người xưa.

Tôi xin hỏi: Tất cả quí vị tin mình có Phật tánh không? Nếu tin thì chỉ cần một cái quay đầu là thấy, vì nó đã sẵn đây. Ngó ra thì mất, nhìn lại thì nó hiện tiền! Nhưng cũng có nhiều người hiểu lầm nghĩa quay đầu. Nghe nói quay đầu, họ cứ nhìn vô tim vô ngực thành ra sanh bệnh. Quay đầu nghĩa là nơi mắt, tai, mũi, lưỡi. chúng ta đừng dính ngoại trần. Trong bất kỳ trường hợp nào, cũng nhớ mình đang thấy, đang nghe thì cảnh ở ngoài không chi phối được. Vì nhớ như vậy nên chúng ta đâu có phân tích cái này đẹp cái kia xấu. Nghe thì cứ nghe, thấy thì cứ thấy, mà không đuổi theo, không dính mắc với cảnh. Nói quay đầu nhưng thật ra không quay gì hết, chỉ đừng dính với trần là được.

Trong nhà thiền thường nói, khi ngộ đạo rồi mắt thấy như mù, tai nghe như điếc. Như mù nhưng không phải mù, như điếc nhưng không phải điếc. Giả sử chúng ta đi chợ, nghe người ta xôn xao đủ thứ, nhưng mình không dính, không chú ý. Khi về người nhà hỏi: "Bữa nay đi chợ thấy cái gì?" Mình nói: "Không thấy gì hết." Nhưng sự thật mình có thấy không? Có thấy nhưng không dính thành ra như không thấy. Còn nếu ta để tâm vào việc gì thì khi được hỏi, mình liền trả lời: "Thấy thế này, thế kia." Ðó là ta đã tích lũy pháp trần vào trong tâm rồi.
Cho nên việc tu có nhiều điểm rất hay mà chúng ta không biết. Như ra đường bị ai nói xúc phạm tới danh dự mình, về nhà ít nhất ta cũng kể lại với người thân nghe. Kể một người nghe mình cũng chưa vừa lòng, phải kể cho người này người kia nghe chừng một trăm lần, như vậy mình đã thuộc lòng trong ký ức sâu quá rồi. Vì vậy khi ngồi thiền nó trồi lên, bỏ được một lát nó trồi lên nữa. Ðó là vì chúng ta đã ghi nhớ quá sâu đậm.

Giống như lúc còn bé đi học, mỗi khi muốn thuộc bài, mình phải đọc tới đọc lui nhiều lần mới thuộc. Ðem vô sâu là do ôn tới ôn lui nhiều lần. Lỡ nhớ rồi, khi muốn quên cũng phải tập bỏ thường xuyên mới quên được, không có cách nào khác hơn. Vậy mà vừa có chuyện buồn, chuyện giận là chúng ta đem ra kể liền. Gặp ai kể nấy, kể hoài như vậy quên sao được. Khi ngồi thiền nó trồi lên lại than: "Khổ quá! Con tu khó." Khó là tại ai? Tại mình chớ tại ai, tích lũy nhiều thì nó trồi lên nhiều.

Bây giờ chúng ta thấy chỉ thấy, không thèm quan tâm chú ý gì cả. Thấy tất cả mà tâm không giữ, không dính thì tu dễ không khó. Nếu tu là tìm cái gì ở đâu xa thì khó, đằng này nó đã sẵn nơi mình rồi, chỉ quay lại là hiện tiền. Chúng ta không thấy được cái chân thật là do pháp trần đầy cứng bên trong, nên quay lại thấy toàn tạp nhạp.


Những giờ ngồi thiền là những giờ quay lại, mình thấy pháp trần lăng xăng lộn xộn nên nói thấy loạn tưởng nhiều quá. Thấy loạn tưởng nhiều là tu tiến nhiều. Vì ngày xưa, mỗi khi chúng dấy lên mình chạy theo nên không thấy chúng, bây giờ chúng dấy lên mình biết liền bỏ, đó là tu tiến. Tuy nó còn nhưng mình đã làm chủ được chút chút. Hồi xưa nó dẫn mình chạy theo hoàn toàn, bây giờ nó trồi lên mình từ chối không theo, đó là tiến rõ ràng. Nhưng nhiều khi Phật tử thấy nó rồi sợ, tu gì mà vọng tưởng quá chừng. Sự thật có tiến, tiến từng bước, chớ không phải không tiến.

Bước tiến tiếp theo là ngoài giờ ngồi thiền, khi tiếp xúc với mọi cảnh mọi vật, chúng ta thấy biết rõ ràng nhưng bỏ qua, không chú tâm, đó là ta tu trong mọi lúc mọi nơi. Không phải tay lần chuỗi, thân tọa thiền mới tu. Lần chuỗi tọa thiền mà ai động tới liền la hét là không phải tu. Người không tỏ vẻ tu hành gì hết, nhưng đi đứng tự nhiên thoải mái, ai nói gì thì nói, bỏ qua không để lòng, ấy mới thật là chân tu.

Nhiều khi chúng ta như điên khùng với nhau. Thí dụ mình tưởng mình thông minh, sáng suốt, nhưng ai vừa nói "Chị ngu quá!" mình liền la đông đổng lên, để nói rằng ta không ngu. Nhưng thật ra như vậy là đã chứng tỏ mình đang ngu. Nếu không ngu ta chỉ cười, nói: "Phải, tôi ngu." Nói vậy còn gì nữa để la, thì đâu có khổ. Vậy mà ai nói mình ngu liền cự lộn, rồi đủ thứ chuyện thưa kiện. có khổ không? Thế là cả hai đàng đều khùng điên với nhau hết.

Những chuyện hết sức nhỏ như vậy, nhưng mình không biết tu, nên cứ tích lũy trong tâm thành ra sanh bệnh. Bây giờ muốn bỏ chúng ta phải gỡ lần những thứ đó, từ từ ngồi thiền sẽ được nhẹ nhàng yên ổn. Ai nói gì mình cũng cười. Ðức Phật ngày xưa bị Bà-la-môn theo sau mắng chửi, Ngài im lặng không nói, không nhận, thế mà Bà-la-môn phải chịu phép, không dám mắng chửi nữa, khỏe khoắn làm sao.

Phật là bậc giác ngộ nên thấy người mê Ngài thương, không phản đối, không chống cự gì cả nhưng lại nhiếp phục được họ. Còn chúng ta bây giờ nghe nói một câu không vừa lòng liền phản đối, chống cự, rốt cuộc càng thêm lớn chuyện. Như vậy bọn ta cũng giống những người mê kia, không hơn không kém, phải không? Mình là người tỉnh thì phải hơn kẻ mê. Họ nói bậy mình chỉ cười thôi thì không xảy ra chuyện gì hết. Như vậy có khỏe không?

Cho nên người biết tu xả bỏ hết những gì không quan trọng. Quan trọng là đừng để sáu trần lôi dẫn đi, phải quay về với cái chân thật của chính mình. Cái chân thật ấy ai cũng có nhưng vì vọng tưởng che lấp nên mình không nhận ra. Cho nên Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện nói, người tu thiền như con ngỗng chúa uống sữa chừa nước lại. Câu nói nghe muốn bể cả đầu! Làm sao mà uống sữa chừa nước được? Hai thứ ấy hòa lẫn nhau, lọc thế nào?


Những câu như vậy, tôi cũng mất nhiều năm lắm mới thấy rõ ý nghĩa của nó. Cái gì là sữa? Cái gì là nước? Vọng tâm và Chân tâm nơi mình hòa lẫn nhau, không phải một cũng không phải hai. Vậy làm sao để lọc Chân tâm ra khỏi vọng tâm? Ở đây, chúng ta chỉ cần khéo một chút là thấy liền. Cái biết trong sáng hiện tiền đó là sữa, còn cái biết lăng xăng lộn xộn là nước. Cái biết lăng xăng lộn xộn thì chúng ta không theo, chỉ sống với cái biết yên tĩnh, trong sáng. Ðó là mình đã loại nước, uống sữa. Ðược thế ta là ngỗng chúa.

Những phút giây yên tĩnh, chúng ta ngồi chơi không nghĩ gì hết. Lúc đó tai vẫn nghe, mắt vẫn thấy mà không nghĩ suy điều chi. Như vậy cái biết đó mình đã có sẵn, nhưng vừa dấy nghĩ cái này cái nọ liền quên mất cái biết hằng hữu. Bây giờ chỉ cần không chạy theo các thứ xao động thì nó hiện tiền. Nếu chúng ta đừng đuổi theo những gì mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm. ăn cứ ăn uống cứ uống, làm tất cả việc mà đừng dính, nếu không phải Phật thì ít nhất mình cũng là Bồ-tát con rồi.

Vì vậy không dính với sáu trần là biết quay đầu, còn dính với sáu trần là đã lao đi trong sanh tử, không có gì khó khăn hết. Trong nhà thiền có câu chuyện của anh hàng thịt, khi nghe một câu nói của vị Thiền sư, liền tỉnh ngộ và làm bài kệ:

Tạc nhật dạ-xoa tâm,
Kim triêu Bồ-tát diện,
Dạ-xoa dữ Bồ-tát,
Bất cách nhất điều tuyến.

Dịch:

Hôm qua tâm dạ-xoa,
Bữa nay mặt Bồ-tát,
Dạ-xoa và Bồ-tát,
Không cách một đường tơ.

Bồ-tát và dạ-xoa chỉ cách nhau ở một cái nhìn. Nhìn ra là mê, xoay lại là giác, dễ như trở bàn tay không có gì ngăn cản hết. Vậy mà chúng ta làm không nổi, cứ ì ạch hoài. Thiền đặc biệt ở chỗ đó, nhưng vẫn phù hợp với những gì Phật dạy ngày xưa. Tôi sẽ dẫn kinh để chứng tỏ điều này.

Trong kinh A-hàm kể lại, một hôm sau thời tọa thiền trong rừng, đức Phật xả thiền ngồi chơi tự tại. Chợt Ngài thấy có một con rùa bò về phía mình, phía sau con dã can đuổi theo định cắn đuôi con rùa, con rùa liền rút đuôi vào trong mai. Dã can chụp lấy chân, con rùa liền rút chân vào trong mai. Cứ như vậy dã can chụp cắn tứ tung, rùa cũng rút hết các bộ phận vào trong mai. Con dã can chụp hoài không được bèn bỏ đi.


Kết thúc câu chuyện Phật nói: "Người tu cũng thế, nếu biết giữ sáu căn không cho chạy theo sáu trần thì không có ma vương nào bắt được." Còn nếu chạy theo sáu trần bị nó cắn đứt đầu đứt cổ. Chuyện thật là hay.

Thêm một câu chuyện nữa. Phật kể trong một đàn khỉ, có con khỉ nhỏ đi sau đàn thấy mấy con lớn đi trước ăn nhiều trái cây ngon, còn mình thiệt thòi quá. Nó bèn tách đàn, đi một mình để được ăn ngon. Khi thấy miếng mồi ngon, nó liền đưa tay chụp, không ngờ đó là cái bẫy nhựa, nên tay nó bị dính nhựa. Nó liền đưa tay kia gỡ nên tay kia bị dính luôn. Con khỉ liền lấy chân phải quào, chân phải dính; lấy chân trái quào, chân dính luôn. Nó quật cái đuôi để gỡ, đuôi cũng dính. Cuối cùng còn cái miệng, nó liền đưa miệng cạp, thế là miệng dính luôn. Như vậy tổng cộng sáu bộ phận đều dính nhựa hết. Gã thợ săn chỉ cần tới lượm con khỉ bỏ vô giỏ là xong.

Phật nói: "Cũng vậy, nếu người nào sáu căn dính với sáu trần, cũng như con khỉ kia để sáu bộ phận dính với nhựa, người đó sẽ bị ma vương dẫn đi dễ dàng, không nghi ngờ." Như vậy Phật dạy chúng ta tu như thế nào? Là giữ sáu căn đừng cho dính mắc với sáu trần. Ðây là một lẽ thật chớ không phải tưởng tượng. Ðó là tôi đã dẫn trong kinh A-hàm.

Ðến kinh Kim Cang, Lục Tổ ngộ được từ câu: "Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm; ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", tức là không dính mắc vào các trần mà sanh tâm Bồ-đề. Tâm Bồ-đề là tâm thanh tịnh, không dính mắc thì tâm Bồ-đề hiện tiền. Còn dấy niệm là tâm sanh diệt. Sau khi ngộ rồi, Lục Tổ thốt lên: "Ðâu ngờ tâm mình xưa nay thanh tịnh!" Vì thanh tịnh nên không sanh diệt, còn loạn tưởng là tâm sanh diệt. Ngay đó Ngũ Tổ truyền tâm ấn và trao y bát cho Ngài.

Sự tu chẳng có gì lạ hết. Phật Tổ không hai đường, chỉ vì phương tiện truyền bá khác nhau thôi. Thấy như vậy, hiểu như vậy, chúng ta mới nhận ra việc tu không phải chuyện quanh co, khó khăn, mà trái lại rất đơn giản. Ngài Lâm Tế nói: "Ðâu ngờ Phật pháp của Hoàng Bá rất ít", nghĩa là rất là đơn giản. Cho nên trọng tâm của việc tu là nghe và hiểu được ý Phật dạy, rồi ứng dụng thực hành. Ðó mới là người biết tu.

Chúng ta nên nhớ tâm tích lũy là tâm sanh diệt, tâm tạo nghiệp cho nên tích lũy nhiều chừng nào thì nghiệp càng nặng chừng ấy. Nghiệp càng nặng thì càng gặp lại nhau. Nếu không muốn gặp lại những kẻ đã làm phiền mình thì thôi, ném hết, bỏ hết, thản nhiên tự tại. Sống ngày nay biết ngày nay, cái gì qua rồi thì buông hết đi. Như Thiền sư Thiền Lão nói:

Ðản tri kim nhật nguyệt,
Thùy thức cựu xuân thu?

Nghĩa là:

Ngày nay chỉ biết ngày nay,
Còn xuân thu trước ai hay làm gì?

Chúng ta thì ngược lại, cứ nhớ về những ngày trước, còn ngày nay lại không nhớ. Mình thích sống với quá khứ, trong khi quá khứ đã qua mất rồi. Còn hiện tại là cái thật mà mình lại không chịu sống. Ta đâu biết rằng càng đeo mang quá khứ thì nghiệp càng dày. Cho nên ngay đây có hai việc chúng ta cần làm. Một là buông bỏ hết những vui buồn của quá khứ. Hai là đối với hiện tại không dính mắc. Ðó là người tu giỏi, dù có tóc không tóc cũng được gọi là tu thành công. Còn đòi hỏi phải thế này thế nọ mới tu thì khó, thành ra không tu được.


Nhiều người nghĩ rằng phải ở trong thất một mình mới dễ tu. Một mình ta thấy dễ tu vì không có các duyên bên ngoài tác động. Nhưng khi ra thất gặp cái gì dính cái ấy thì cũng thế thôi, có tiến được chút nào đâu. Cho nên người khéo tu, dù ở trong thất hay ở ngoài đều thực hiện đúng như vậy thì việc tu đạt được kết quả tốt.

Ðức Phật không bao giờ dối gạt chúng ta. Ngài nói tất cả đều có Phật sẵn. Ngài có Phật sẵn nên Ngài tu thành Phật. Mình cũng có Phật sẵn, nếu mình biết quay lại thì cũng thành Phật. Lời Phật nói không dối, nhưng khi nghe Phật nói "Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành" mình lại không dám nhận sẽ thành Phật. Ðó là ý chí hạ liệt của chúng sanh vậy.
Cho nên tu Phật không phải là chuyện nhiêu khê, khó khăn mà là một việc làm thật đơn giản. Bởi chúng ta cứ chạy theo hơn thua, phải quấy, tốt xấu, nên suốt đời không giải quyết được việc này. Nếu ta thử đặt lại câu hỏi: Cái gì hơn? Cái gì thua? Cái gì phải? Cái gì quấy? Ðặt lại như vậy chúng ta sẽ thấy không có câu trả lời nhất định, tức là nó không thật. Có những điều mình thấy thua mà lại là hơn, không cố định được.

Thật tình, không có cái phải quấy thật. Vì cái "phải" ở đây không là cái "phải" ở kia. Chúng ta sống theo qui ước được mọi người tạm dùng với nhau, chớ không phải là chân lý. Vậy mà mình cứ đặt ra cái này phải cái kia quấy. Như hồi xưa cho rằng sanh con trai là quí, con gái là tiện nên con gái phải ở trong nhà, trong bếp, không có tư cách để ra ngoài. Nhưng bây giờ việc đó không còn nữa. Phụ nữ ngang quyền với nam giới vì họ đã thể hiện được năng lực, ý chí không kém gì nam giới. Như vậy đâu phải tất cả là chân lý. Phải quấy chỉ là qui ước của một thời. Thời phong kiến có qui ước thời phong kiến. Thời dân chủ có qui ước thời dân chủ. Như thế lấy gì làm tiêu chuẩn cho phải quấy, vậy thì bàn phải bàn quấy để làm gì? Cho nên người biết tu phải khéo linh động, tùy cảnh tùy thời ta vui sống, không cố chấp, không hơn thua với những chuyện giả tạm của thế gian làm gì.

Chúng ta có lỗi là cứ tranh đấu với người ngoài để được hơn, mà không tranh đấu với mình. Những toan tính hơn thua luôn quật ngã mình mà ta không sợ, không tranh đấu với nó. Quật ngã nó tức là thắng được mình. Phật bảo "Thắng một vạn quân không bằng thắng mình. Thắng mình là chiến công oanh liệt nhất". Vậy mà bây giờ chúng ta cứ lo thắng ở ngoài, quên thắng mình. Thắng ở ngoài mà không thắng được mình thì không bao giờ yên hết. Nên nhớ đã tu thì ai có giành hơn, giành thua cứ để họ giành, ta lo thắng mình trước đã. Có cơm no áo ấm đủ rồi, còn tất cả những gì hơn thua phải quấy, dành cho người khác. Ðược thế thì còn gì để buồn phiền nữa.

Nên nhớ chữ "Tùy duyên", không có một pháp cố định. Vậy mà chúng ta hay cố định quá, cứ lấy khuôn chỗ kia lấp vào chỗ này, như vậy là trật rồi. Hiểu như vậy thì cuộc sống thoải mái dễ dàng, đó là tu. Tu là đem lại sự an lạc cho nhau, chớ không phải đem lại đau khổ cho nhau.

Nhiều người cứ quan niệm tu phải đúng như hồi xưa, ông bà làm sao mình làm vậy. Cố chấp kiểu đó càng tu càng khổ thêm, chớ có được lợi lạc gì. Hoặc tu phải có thần thông huyền bí gì gì đó, chớ tu chỉ hiền lành thường thường vậy thôi thì không phải tu. Thế là người ta chạy theo hình tướng này hình tướng nọ, cuối cùng rơi vào lưới ma.

Những gì thuộc về quá khứ, chúng ta muốn mọi người đều phải lùi trở lại, như vậy là đi ngược với cuộc sống rồi. Quả địa cầu cứ quay tới quay tới, không dừng lại ở một điểm nào, mà chúng ta muốn dừng lại là trái với sự vận hành của vũ trụ. Sự vật linh động, chuyển biến không dừng, không có gì bám chặt một chỗ hết. Chỉ biết quay lại mình, thấy được cái chân thật của mình mới không biến đổi, không lạc hậu.


Chúng ta nói tu để cầu giải thoát sanh tử. Vậy thì cái gì giải thoát sanh tử? Thân này là bại hoại, tâm nghĩ suy tính toán vô thường sanh diệt, cũng bại hoại, như vậy chúng ta giải thoát là giải thoát cái gì? Ðó là chỗ hết sức quan trọng. Tâm vô thường sanh diệt của chúng ta nó phát lên, hợp tác với thân, khẩu, tạo thành nghiệp. Ðó là gốc dẫn mình luân hồi sanh tử. Bây giờ chúng ta dừng nó lại, nó lặng. Lặng là không tạo nghiệp, không tạo nghiệp thì cái gì dẫn mình đi trong luân hồi? Nên muốn giải thoát sanh tử thì phải dừng tạo nghiệp. Khi nghiệp dừng lặng rồi thì cái biết rõ ràng hằng hữu của mình hiện tiền, đâu có mất. Cái biết đó không tướng mạo, không sanh diệt, không dính mắc nên nó không bị nghiệp dẫn. Vì vậy mà được giải thoát sanh tử.

Chúng ta vốn đã giải thoát sẵn, nhưng tự mình lại cột trói mình rồi khóc la giãy giụa. Phật thương chỉ cho chúng ta cách gỡ thôi, chớ không thể nắm tay lôi lên Cực lạc được. Tự trói thì phải tự cởi. Nếu mình biết cách gỡ, biết cách giải trừ thì đi tới chỗ an lạc giải thoát. Còn không biết gỡ, không biết giải trừ thì khổ mãi không có ngày cùng.

Nên nói chỉ cần một phen quay đầu lại là bờ giác trước mắt. Có ai tiếc một cái quày đầu không? Nhẹ nhàng quá, tại sao mình không chịu quay lại. Mong tất cả chúng ta hãy sớm thức tỉnh, cùng quay lại, cùng trở về bờ giác. Ðó là nguyện ước duy nhất của chúng tôi

HT Thượng Chiếu 
Theo:Thiền Viện Thượng Chiếu

CHUYỆN Ở VƯỜN CHIM NƯỚC VỆ


1. Hồ nước trước vườn chim nước Vệ bị một lũ diều hâu từ xứ lạ tới đóng cọc, giăng dây chuẩn bị làm tổ định cư lâu dài. Chim chóc trong vườn nước Vệ tức giận, cử chèo bẻo và chìa vôi ra ngăn cản lũ diều hâu hung dữ. Diều hâu hung hăng, ỷ to xác, nhổ nước bọt tung tóe, vung cánh tát nước hồ phủ đầu chèo bẻo, mổ tới tấp vào chìa vôi. Chèo bẻo và chìa vôi vừa ngoan cường chống đỡ, vừa khẩn cấp kêu cứu các loài chim trong vườn trợ giúp. Chim chóc trong vườn vừa cử mấy chú chim khỏe mạnh bay ra ngoài hồ tiếp ứng, vừa tập hợp thành từng tốp bay lượn khắp vườn, miệng ríu rít: “Hồ này là của vườn chim nước Vệ, bọn diều hâu hung ác hãy cút đi”. Lại còn phân công chào mào bay đi khắp nơi, gặp gỡ chim chóc các xứ đang đi kiếm mồi trong vườn chim nước Vệ, bay tới cuộc họp các loài chim của các khu vườn lân cận, đang diễn ra ở vườn chim xứ Miến, để vạch trần âm mưu thâm độc của lũ diều hâu. Chim ở các vườn kế cận đa phần là những loài chim nhỏ, như chim sâu, chim én, chích bông…, nên rất sợ lũ diều hâu. Vả lại, thỉnh thoảng chúng cũng được diều hâu chia sẻ cho vài con châu chấu, cào cào nên không muốn ủng hộ vườn chim nước Vệ chống lại diều hâu. Chúng chỉ ngúc ngoắc cái đầu lấy lệ, rồi hót vài lời đãi bôi: “Bình tĩnh, bình tĩnh”.


Điểu chúa của vườn chim nước Vệ là lão hạc già, xưa nay chỉ biết đứng trên lưng rùa, mỏ ngậm dải lụa điều có viết “thập lục kim tự” bằng bột nghệ, chân quắp miếng nhựa ghi chữ “tứ hảo” bằng sơn đỏ, ngày đêm kính cẩn chầu cái hương án to mà lạnh lẽo ở trước đình làng. Vậy nhưng không hiểu sao lão hạc lại được bầu làm điểu chúa. Vốn xưa nay cẩn trọng, nghe lời hót dù hay dù dở của bá tánh thì hạc ta cũng câm mỏ vì há miệng thì… vướng dải lụa điều. Lần này cũng vậy. Lão hoàn toàn im hơi lặng tiếng kể từ khi diều hâu giăng dây đóng cọc trước hồ nhà. Bọn se sẻ thạo tin kháo nhau là điểu chúa tính kế “nhún nhường” để giữ tình hữu nghị với lũ diều hâu nên không hót được. Nhưng hình như diều hâu chúa không thèm chấp nhận cái ý định “nhẫn nhục mua hữu hảo” của lão hạc già ở nước Vệ. Thế là sau 12 ngày ru rú trong đình, chiều qua lão hạc già bay ra khoảng sân rộng ở giữa vườn, cất giọng khàn khàn: “Tình hình hồ nước trước vườn chim đang diễn biến phức tạp, nghiêm trọng, đòi hỏi chim chóc toàn vườn phải rất đoàn kết, tỉnh táo, sáng suốt, một lòng kiên kết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của vườn, đồng thời giữ vững môi trường yên ổn để chúng ta còn có nơi làm tổ, bắt sâu bọ, côn trùng… để sinh sống”. Lũ chim lắng nghe từ đầu đến đuôi nhưng không thấy lời lão hạc già có câu nào lên án hành động côn đồ, hung hãn của bọn diều hâu nên kháo nhau: “Bài này cũ quá, lúc nào cũng cứ hót lui, hót tới cái câu ‘diễn biến phức tạp’, nhưng không biết cách làm sao để kháng cự bọn diều hâu. Thôi, ở đằng kia có mấy con sáo sậu đang mổ phá tổ ấm của bọn diều hâu con đậu ở vườn mình. Bay tới đó coi đi”.

Rồi chúng vỗ cánh bay thẳng. Không phải một vài con mà cả đàn, rồi chim chóc cả vườn cùng bay đi. Chỉ còn lão hạc già trơ trọi giữa vườn.

Diều hâu từ phương Bắc kéo đến, bầy chim nước Vệ dáo dát tìm điểu chúa. Ảnh Internet.

2. Sau khi bầy chim trong vườn nước Vệ bay đi coi mấy con sáo sậu bị lũ quạ đen xúi giục phá phách tổ của bọn diều hâu con lưu lạc ở trong vườn chim nước Vệ, lại hăng tiết phá nhầm và đốt nhầm cả tổ ấm của mấy chú sếu và đám vịt trời lông tía từ phương Bắc bay về phương Nam tìm hơi ấm, thì tình hình trong vườn chim nước Vệ trở nên rối loạn.

Lão hạc già trốn đi đâu không rõ, để mặc cho chú công chúa đỏm dáng và bác bồ nông nghiêm nghị phải “tả xung hữu đột”, vừa líu lo kêu gọi lũ sáo sậu bình tĩnh, chớ manh động, vừa khẩn cấp sai đám ác là đi tóm cổ gần 500 con quạ đen đã xúi giục sáo sậu nổi loạn, tống giam vào cái ụ mối ở góc vườn, chờ ngày xử tội; một mặt phải bay tới những lùm cây bụi trong vườn, gặp đám chim khuyên, chim mía, chim chiền chiện… giải thích chủ trương đảm bảo toàn vẹn chủ quyền của vườn và kêu gào bọn diều hâu nhổ cọc cuốn dây khỏi hồ nước. Lại sai bọn bồ chao đi gặp mấy chú sếu và vịt trời có tổ bị phá để xin lỗi và cam kết bồi thường bằng lá điều khô, lá cây giá tị, rễ cây tiêu… cho chúng xây lại tổ.

Đám diều hâu ngoài hồ không hề có dấu hiệu khoan nhượng. Chúng liên tục cử bọn mặt cắt hung dữ tấn công đội quân chèo bẻo và chìa vôi của nước Vệ. Chèo bẻo và chìa vôi vừa khôn ngoan tránh đòn, vừa ranh mãnh chớp thời cơ mổ cho bọn mặt cắt mấy phát đau điếng. Đám chim sâu, chim chích trong vườn đồng thanh hưởng ứng, đập heo đất, gom tiền mua sâu, cào cào, châu chấu… mang ra tiếp ứng cho chèo bẻo và chìa vôi. Ngoài ra còn có đám sơn ca nhân hội nghị sơ kết cuộc vận động học tập làm theo tấm gương của tiên điểu, tranh thủ đăng đàn lên án lũ diều hâu hung ác.

Nhưng, có một việc ít ai để ý. Đó là ở bên kia hồ nước là lãnh thổ của vương quốc đại bàng. Lũ đại bàng này rất hùng mạnh, từng tấn công vườn chim nước Vệ trong quá khứ, nhưng lại bị bầy chim ngoan cường của nước Vệ liên minh với bọn diều hâu và đám chim ưng xứ tuyết đánh cho tan tác. Hai chục năm sau, đại bàng quay lại vườn chim nước Vệ, hót câu “xí xóa chuyện xưa, mong làm đối tác”. Mấy đời điểu chúa nước Vệ một mặt thì thích làm bạn với đại bàng, nhưng mặt khác lại bị diều hâu trói mỏ bằng dải lụa có ghi “thập lục kim tự”, nên chơi trò cù cưa, bạn không ra bạn, thù không ra thù. Lại cứ hay dùng chữ để phủ dụ bọn chim chóc trong vườn rằng “đại bàng vừa là đối tác, vừa là đối tượng” nên phải cảnh giác. Đại bàng cũng chẳng báu gì mấy đời điểu chúa già nua lẩm cẩm ấy, nhưng ngặt nỗi vườn chim nước Vệ ở vào cái thế chẹn ngang yết hầu lũ diều hâu hung tợn đang ngày đêm toan tính soán ngôi bá chủ loài chim của đại bàng. Vì thế, đại bàng đã mấy lần dụ dỗ lão hạc kết mối thâm giao nhưng lão cứ ậm ờ cho qua chuyện. Thực tình thì lão hạc ghét cay ghét đắng lũ đại bàng vì đám này hay đem chuyện “điểu quyền” ra trách cứ lão hạc già và bộ sậu. Lại còn đòi lão hạc phải thả mấy chú mòng mòng đang bị hạc ta tống giam vì tội “yêu sách điểu quyền” trong vườn chim nước Vệ. Do vậy mà quan hệ giữa vườn chim nước Vệ với vương quốc đại bàng mãi cứ dở dở ương ương.


Nhưng kể từ khi lũ diều hâu xé bỏ dải lụa điều “thập lục kim tự”, tràn vào giăng dây đóng cọc trong hồ nước trước vườn chim nước Vệ, mưu toan chiếm trọn cái hồ này để vét sạch cá tôm, rong rêu trong hồ và bành trướng lãnh thổ, thì tình hình trở nên khó lường. Điểu chúa thì im lặng vì hận diều hâu sao làm bẻ mặt mình trước bầy chim chóc thần dân trong vườn. Chim công chúa thì sau khi kêu cứu bọn chích bông, chim sâu… ở mấy khu vườn lân cận lên tiếng phản đối diều hâu mà không kết quả, nên có ý chờ xem chim ưng chúa xứ tuyết lên tiếng ủng hộ mình. Ai ngờ chim ưng chúa vô cùng ma mãnh, vừa bán mấy cây ná cho cho lũ chim nước Vệ để bắn diều hâu, lại vừa trao cung tên cho diều hâu bắn hạ lũ chim chích của nước Vệ. Vậy nên chim ưng chúa cũng ngậm tăm như lão hạc vì há miệng thì mắc… tiền.

Thế là đa phần chim chóc trong vườn nước Vệ giờ chỉ còn chờ mong mỗi đại bàng lên tiếng. Cả chim công chúa và đám đệ tử của công cũng thế. Nên mới sinh chuyện cứ sáng ra là đám đệ tử của chim công chúa lại tỏa đi khắp nơi, dỏng tai nghe xem hôm nay đại bàng có lên án diều hâu hay không? Đến chiều lại tề tựu ở khoảng sân giữa vườn, cung cấp thông tin cho gã bói cá, mới ra ràng chưa được bao lâu nhưng đầu đã hói trụi, cất giọng líu lo: “Hôm nay đại bàng đã kịch liệt lên án diều hâu, như vầy, như vầy…”.

Nghe vậy, mấy con cò già nằm trong cái tổ chênh vênh ở cạnh hồ nước lẩm bẩm với nhau: “Ngu chửa, ngu chửa. Cứ theo đuôi lũ diều hâu cho lắm, giờ lại hóng hớt tin theo mấy lời đãi bôi của bọn đại bàng ngạo mạn. Rõ khổ, rõ khổ”.

Tháng 6.2014
NGƯỜI NƯỚC HUỆ
(nghe và dịch lại từ lời trao đổi của lũ chim chóc ở nước Vệ)

Thursday, October 28, 2021

NHỮNG BÍ ẨN QUANH SALVATOR MUNDI, BỨC HỌA MẮC NHẤT THẾ GIỚI

Tại một nơi nào đó ở Ả-rập Saudi, bức tranh đắt nhất thế giới, bức Salvator Mundi của Leonardo da Vinci, đang được cất giấu theo lệnh của Thái tử Mohammad bin Salman.


Thật vậy không? Không ai trong giới nghệ thuật biết chắc bức tranh ở đâu.

Hầu hết các nhà quan sát đồng ý rằng có khả năng nó được cất giấu ở Trung Đông, nhưng một số người suy đoán nó được cất giữ ở một khu vực miễn thuế ở Geneva hoặc thậm chí trên du thuyền nửa tỷ đô của Thái tử.

Thậm chí đó có phải là tranh của Leonardo hay không? Bức vẽ Chúa Kitô trong hình ảnh Đấng Cứu Thế được quảng cáo là tác phẩm cuối cùng của da Vinci tại cuộc đấu giá Christie's hồi năm 2017, khi nó được bán với giá kỷ lục là 450 triệu đô la cho một đại diện của bin Salman (vâng, chính là bin Salman, người mà CIA xác định là chịu trách nhiệm ra lệnh giết nhà báo Jamal Khashoggi).

Nhưng ngay cả khi đó, nhiều chuyên gia về Leonardo ngờ rằng bức họa chỉ được ông vẽ có vài nét, và kể từ đó những nghi ngờ này đã tăng lên.


Hai bộ phim tài liệu

Bao phủ trong các lớp bí ẩn và sự lôi cuốn quốc tế, câu chuyện về Salvator Mundi là một trường ca tiếp diễn, hấp dẫn không ngừng được kể trong hai phim tài liệu mới, 'Bức họa mất tích của Leonardo' và 'Rao bán Đấng Cứu Thế: Kiệt tác thất lạc của da Vinci?', diễn ra với tất cả kịch tính và hồi hộp của một câu chuyện trinh thám.

Chúng ra mắt trong làn sóng ra đời của cuốn sách đình đám của Ben Lewis năm 2019, The Last Leonardo (Bức họa cuối cùng của Leonardo), và hàng chục bài tường thuật.

Bức họa này, có từ khoảng năm 1500, đã bị thất lạc trong lịch sử trong hơn 200 năm, đã bị hư hỏng và được phục chế tồi tệ, và được bán đi bán lại như một tác phẩm xoàng xĩnh, có lẽ bởi một phụ tá của Leonardo.

Nhưng giờ đây Salvator Mundi đã trở thành hình ảnh đại diện cho sự pha trộn đầy biến động của tiền bạc, quyền lực và địa chính trị vốn định hình thế giới nghệ thuật ngày nay.

"Khi chúng tôi đặt tựa," Andreas Dalsgaard, nhà sản xuất và người viết kịch bản của 'Bức họa mất tích của Leonardo', nói với BBC Culture, "cảm hứng một phần đến từ chuyện bức tranh hiện đang bị thất lạc và sự thật cũng bị mất, nhưng nó cũng lấy cảm hứng từ những phim như Indiana Jones vốn đầy những câu chuyện về kho báu và tìm kho báu."

Con đường đi đến sự nổi tiếng của bảo vật có thể là của Leonardo này bắt đầu khi nó xuất hiện tại một nhà đấu giá ít người biết ở New Orleans vào năm 2005 và được hai người mua bán nghệ thuật ở New York mua với giá rẻ bèo là 1.175 đô la.

Họ đã mang nó đến Dianne Modestini, một nhà phục chế rất được kính trọng, để loại bỏ hàng thập kỷ bụi bẩn và các lớp tô vẽ đè lên, và bà là người đầu tiên nghi ngờ đó có thể là tác phẩm đích thực của Leonardo.

Nhà phục chế tác phẩm nghệ thuật Dianne Modestini trong một cảnh phim Bức họa mất tích của Leonardo, một trong hai bộ phim tài liệu mới về Salvator Mundi

Không ai biết rõ

Với lời dẫn mượt mà và một loạt tiếng nói từ các nhà bán tranh, nhà sử học nghệ thuật đến nhà báo điều tra, 'Bức họa mất tích của Leonardo' là tác phẩm hay hơn và sử dụng Modestini làm nhân vật chính rất hiệu quả.

Bà xuất hiện nền nã, lôi cuốn trên màn hình, với giọng nói thì thầm và đôi mắt mở to phía sau chiếc kính gọng đen hay đỏ đặc trưng.

Bà đã dành nhiều năm khôi phục bức họa, say mê bảo vệ sự chân thực của nó đến từng chi tiết chính xác, chỉ ra pentimento (chi tiết gốc đã được chỉnh sửa) dưới ngón tay cái của Chúa hay đường cong nơi miệng vốn chỉ có thể là của Leonardo.

Nhưng nhiều chuyên gia cho rằng bà đã phục chế quá triệt để.


Trong phim, nhà sử học nghệ thuật Frank Zöllner, vốn biên soạn danh mục thỏa đáng các bức họa của Leonardo, nhạo báng gọi Salvator Mundi là "kiệt tác của Dianne Modestini", người đã làm nó "còn Leonardo hơn chính Leonardo".

Về phần mình, Modestini đã ghi lại công việc của bà và các nghiên cứu khoa học về bức tranh, và đăng lên mạng.

Hầu hết các chuyên gia ngày nay đồng ý rằng bức tranh có lẽ là tác phẩm của các phụ tá ở xưởng vẽ của Leonardo, và chính ông là người hoàn chỉnh - cách làm thông thường.

Nhưng sự bất định là chìa khóa làm nên sự cuốn hút của các phiên bản câu chuyện, như Lewis nói với BBC Culture: "Không ai biết đó có phải là tác phẩm của Leonardo hay không, vì vậy bạn cũng có thể tham gia trò chơi, bạn có thể làm Mật mã Da Vinci của mình với Salvator Mundi."

Bức Salvator Mundi của Leonardo da Vinci được nhà đấu giá Christie bán năm 2017 với giá kỷ lục là 450 triệu đô la

Bản thân chất lượng của bức họa cũng gây chia rẽ.

Nhà phê bình nghệ thuật người Mỹ Jerry Saltz trong phim 'Bức họa mất tích của Leonardo' còn xài xể rằng "thậm chí đó còn không phải là bức tranh đẹp", còn lâu mới với đến Leonardo vĩ đại, trong khi những người hết lòng tin tưởng thì thổ lộ rằng thấy nó trước mắt là trải nghiệm phi phàm. (Có lẽ vậy, nhưng trong phim và các hình ảnh sao chép khác, nó có hình ảnh sến súa hơn).

Một số trong những bình luận khai mở nhất trong cả hai phim thậm chí còn không phải là về nghệ thuật.

Trong 'Bức họa mất tích của Leonardo', Evan Beard, một giám đốc điều hành của Ngân hàng Bank of America, người coi nghệ thuật là đầu tư, nói về động cơ của người mua bình thường là sử dụng các tác phẩm nghệ thuật làm tài sản thế chấp cho các bước đi tài chính khác.

Phim không nêu quan điểm ai là người vẽ bức họa, nhưng nói rõ rằng các bảo tàng, người kinh doanh nghệ thuật và người mua tiềm năng có thể kiếm được hàng triệu đô la - cùng với uy tín không thể đo đếm được - bằng cách tin rằng đó là tác phẩm thật sự của Leonardo.

'Nhân vật lý thú'

Một bước ngoặt lớn xảy ra khi bức họa được trưng bày một cách gây tranh cãi như là tác phẩm Leonardo đích thực tại một triển lãm năm 2011 tại Nhà trưng bày Quốc gia ở London, National Gallery.

Trong cả hai phim, Luke Syson, người phụ trách chương trình, bảo vệ quyết định của mình.

Nhưng nhiều chuyên gia xuất hiện trong phim và trên báo chí cho rằng ông đã vội đi đến kết luận.

Alison Cole, biên tập viên của tờ The Art Newspaper, từng viết nhiều về bức tranh và đã xem nó tại Nhà trưng bày Quốc gia.


Bà nói với BBC Culture: "Kể từ đó, Dianne Modestini tiếp tục công việc với bức hoạ. Nhưng khi tôi nhìn thấy nó, tôi không thấy thoải mái trong việc coi đó là tác phẩm đặc trưng của Leonardo." Mặc dù vậy, triển lãm đã đi xa trong việc hợp thức hóa một quy kết không chắc chắn là bức họa của ai.

Hai năm sau, một số nhân vật lý thú nhập cuộc.

Yves Bouvier, một nhà kinh doanh nghệ thuật người Thụy Sĩ, đã mua bức tranh từ các đại lý ở New York với giá 83 triệu đô la, nhưng được báo chí đưa tin là mua giùm cho khách hàng của ông, trùm tài phiệt Nga có tên là Dmitry Rybolovlev, mặc dù Bouvier không thừa nhận điều này.

Trong vòng hai ngày, ông đã bán nó cho Rybolovlev với giá 127,5 triệu đô la.

Trong 'Bức họa mất tích của Leonardo' (The Lost Leonardo), Bouvier cười toe toét nói những thành tích của ông chỉ là chuyện làm ăn bình thường: 'anh mua thấp và bán cao'. (Chính quyền Thụy Sĩ đã điều tra ông ấy vì lừa đảo Rybolovlev về một số tác phẩm nghệ thuật, nhưng năm nay đã đóng lại vụ án mà không buộc tội ông).

Rồi sau đó, bức tranh được nhanh chóng đưa đến nhà đấu giá Christie's.

Bản thân việc mở bán của Christie's là một màn kịch tính được dàn dựng kỹ, bắt đầu với một video tiếp thị cho thấy không chỉ bức họa mà còn gương mặt của khán giả - hầu hết là người thường nhưng một trong số đó là Leonardo DiCaprio - nhìn bức họa một cách tôn kính như thể họ đang nhìn thấy Chúa Ki-tô.


Người mua ẩn danh, nhưng tờ New York Times không lâu sau đã tiết lộ ông ta làm việc cho Thái tử bin Salman, phát hiện đã đẩy bức tranh vào địa hạt địa chính trị.

Vào thời điểm đó, bin Salman đang cố gắng đánh bóng hình ảnh của Ả-rập Saudi bằng cách nới lỏng một vài hạn chế.

Hầu hết nhà quan sát nghệ thuật thế giới cho rằng Salvator Mundi sẽ nằm ở trung tâm của một bảo tàng hoặc trung tâm nghệ thuật mới trong khu vực, nhưng bức tranh đã không được trưng cho công chúng liếc mắt qua kể từ đó.

Màn ra mắt hụt ở Louvre

Nó đã suýt được đưa ra cho công chúng chiêm ngưỡng.

Bảo tàng Louvre rất muốn đưa nó vào triển lãm lớn của họ để kỷ niệm 500 năm ngày sinh của Leonardo vào năm 2019.

Bản thân Thái tử Bin Salman đã đến gặp Tổng thống Emmanuel Macron ở Paris trong khi việc mượn tranh vẫn còn đang chưa ngã ngũ.

Mãi cho đến khi báo chí giới thiệu về triển lãm, trên tường vẫn để trống một chỗ để chờ Salvator Mundi, nhưng nó không bao giờ tới.

Tờ New York Times xác nhận tin đồn rằng Louvre không đáp ứng đòi hỏi của bin Salman là tranh của ông được trưng bày cùng phòng với bức Mona Lisa, giúp nó có địa vị gần như tương đương.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron hồi năm 2018, đứng cùng chủ sở hữu bức tranh, Thái tử Mohammad bin Salman

"Sau lưng Bảo tàng Louvre là Chính phủ, Bộ Văn hóa và cuối cùng là Macron," Cole nói với BBC Culture. "Và do đó nó dính vào chính trị trong văn hóa. Do đó, nếu Ả-rập Saudi quyết định rằng họ sẽ mở cửa qua con đường văn hóa và Salvator Mundi sẽ là nhân tố quan trọng trong chiến lược đó và Bảo tàng Louvre đang đề nghị được trưng bày nó, thì tất cả những điều này gắn kết với nhau."

Cole là người đầu tiên nói hồi tháng 3/2020 về sự tồn tại của một cẩm nang nhỏ dày 46 trang mà Bảo tàng Louvre chuẩn bị xuất bản nhưng không bao giờ được tung ra - trong đó khẳng định bức họa đích thực là của Leonardo.

Bởi vì Louvre không thể bình luận về các tác phẩm thuộc sở hữu tư nhân mà bảo tàng chưa trưng bày, cẩm nang này không thể nào xuất bản, và lúc đầu, Cole nói, bảo tàng đã phủ nhận sự tồn tại của nó.

Tai tiếng và âm mưu

Phim 'Rao bán Đấng Cứu Thế' của Antoine Vitkine đáng chú ý nhất ở một số chi tiết bùng nổ về điều gì đã xảy ra đằng sau hậu trường ở Louvre.

Phim tài liệu này cũng kể chủ yếu cùng một nội dung như 'Bức họa mất tích của Leonardo', nhưng không sành điệu bằng, với quá nhiều thước phim có cảnh quay các thành phố.

Nó chịu thiệt thòi khi không có Modestini hoặc các nhân vật trung tâm hấp dẫn khác.

Tuy nhiên, nó có hai nguồn tin ẩn danh với gương mặt được che trước máy quay, được xác định là các quan chức chính phủ cấp cao của Pháp, những người có quyền tiếp cận nghiên cứu của Louvre về bức họa và các cuộc đàm phán Pháp-Ả-rập Saudi.

Một trong những nguồn tin này nói Louvre đã kết luận rằng Leonardo gần như "không góp phần vẽ bức họa", nhưng Thái tử bin Salman chỉ thuận cho mượn nếu Salvator Mundi được dán nhãn là tác phẩm của chính Leonardo.

Nguồn tin này nói ông đã khuyên Chính phủ Pháp rằng "làm theo điều kiện của Ả-rập Saudi sẽ giống như rửa tiền một tác phẩm có giá 450 triệu đô".


Bảo tàng Louvre và Nhà trưng bày Quốc gia từ chối bình luận về cả hai phim tài liệu.

Giữa tất cả những lịch sử rối rắm thú vị này, không có gì sánh được với Salvator Mundi.

Trừ khi có thêm tài liệu mới (không có khả năng vì sau bao nhiêu thế kỷ như vậy), hoặc một phương pháp xác thực khoa học mới ra đời (vẫn đánh đố vì tác phẩm đã bị hư hỏng quá nhiều), bí ẩn này có thể sẽ mãi là bí ẩn.

"Tôi tuyệt đối chắc chắn rằng sáu tháng hay một năm nữa, sẽ có một số thông tin mới, cho dù đúng hay không, sẽ bùng nổ trên khắp các phương tiện truyền thông," Dalsgaard nói. "Chừng nào bức họa còn bị cất giấu mà thế giới không thấy được và tương lai và số phận của nó vẫn bất định, nó vẫn sẽ bị bao trùm trong bí ẩn và thế giới sẽ sẵn sàng đọc thêm bất cứ điều gì mới. Bởi vì cuối cùng, đó là câu chuyện giải trí."

Caryn James
BBC Culture
Link tiếng Anh:


CANH CHUA CÁ VÀ TIẾNG ẦU Ơ...

Ra ngoài ao bắt lên con tra, xuống vườn rau bẻ vài cây rau ngổ, cắt nhánh bạc hà, hái trái me chua… Một nồi canh mùi thơm bốc lên tràn ra tận ngoài đường lộ. Canh chua cá. Cá gì cũng được hết trơn, từ cá lóc, cá rô, cá tra, cá vồ, cá chẽm, cá hồng, cá ngát, cá bông lau… Nói chung là họ hàng họ cá.


Một buổi trưa hè nắng gắt, bưng chén cơm nóng húp miếng canh chua, bao nỗi nhọc nhằn trên cánh đồng, những giọt mồ hôi ngoài nương rẫy phút chốc bay đi ráo trọi. Tài ghê. Tuyệt vời hết chổ chê hỡi nồi canh chua cá. Con cá lóc, con cá bông lau trên nước ngọt, con cá ngát cá mú nước mặn… Dù mặn dù ngọt cứ nấu canh chua là hết sẩy.

Từ lâu món canh chua được gắn liền với cánh đồng miền Nam lục tỉnh. Nói canh chua là nghĩ đến miền Nam. Ngoài quê hương xứ Bắc có món canh chua nhưng nấu bằng cây cải chua nó ngồ ngộ làm sao ấy. Miệt Trung Du có món canh chua nhưng cũng hổng giống miền Nam giá sống chút nào. Miền mô cũng có món ngon vật lạ hết í mà, nhưng món canh chua là thông dụng hơn hết thẩy. Dân nhậu cũng khoái (Ai là dân nhậu nói thiệt tui nghe. Có khoái canh chua hông vậy?) mấy bà nội trợ cũng ưa, mấy đấng phu quân cũng thích.

Canh chua, đừng đọc lộn canh cua nghe. Một chữ H đó thôi ngàn năm trước vẫn vậy và ngàn sau hổng khác. Có cố tìm cách thay tìm cũng hổng được đâu. Canh chua hai tiếng thiết tha đi vào lòng người. Canh chua có chua mà có ngọt, chất tuy bình dân mà ý nghĩa thâm trầm bác học như tiếng hát ầu ơ của người mẹ ru con:

Ầu…ơ…
Má ơi đừng đánh con đau
Để con bắt ốc hái rau má nhờ.
Má ơi đừng đánh con khờ
Để con thả lờ kiếm cá má ăn.


Nghe tiếng hát ru em mà não nùng như đứt từng khúc ruột. Tiếng hát ru em như u uất nghẹn ngào, tiếng ầu ơ lẩn quẩn trong hàng tre bụi chuối không thoát khỏi cái gốc rơm, không qua được miếng vườn con, đi không xa hơm tầm cái mác ném… Ầu…ờ…ví dầu… Tiếng hát ru em đó trở thành câu nói thông thường trên đầu môi người dân quê. Ầu ơ ví dầu trở nên một thành ngữ chỉ cho việc “Câu giờ” không ích lợi mà lại còn mang tính chất không thiệt thà cho người miệt tỉnh. Ầu…..ơ…..Cái âm điệu ngân nga kéo dài, uốn éo, trầm bỗng, xuống lên nghe như chất ngất yêu thương, mang nặng mối tình câm nín:

Ầu…ơ
…Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập gình khó đi.
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con đi trường học mẹ đi trường đời… Ầu ơ.


Tiếng hát của chị, tiếng ầu ơ của mẹ… Tiếng con tim của người nữ, và chỉ có nơi người nữ mà thôi. Hồi nào tới giờ, từ cái năm khai thiên lập địa kêu bằng cái hồi năm nẵm chẳng thấy có anh đờn ông nào ầu ơ ví dầu hết ráo. Đờn ông mà ầu ơ ví dầu thì chỉ có nước “sập tiệm”. Đi tán tỉnh đào tơ, đi cua con gái mà ầu ơ ví dầu thì con gái người ta ôm cầm sang xứ lạ liền một khi, bởi dzì anh chậm quá mà, anh còn ở đó ầu ơ dzí dzầu mà. Đi làm công kia chuyện nọ mà còn ầu ơ ví dầu, công chuyện lại phải sang tay người khác. Đấu thầu thì thầu hụt, xin việc, việc hổng còn… Nói cho cùng đi ăn đám giỗ còn ầu ơ dzí dzầu thì… thì… rửa chén thôi bậu ơi.

(Ảnh qua phunublog.vn)

Con người ta nghĩ, con người ta xài cái chữ ầu ơ ví dầu nó như vậy đó. Tội lắm cho tiếng ầu ơ kẽo kẹt trưa hè. Trong buổi trưa hè con cuốc gọi, tiếng võng đưa và từ trong hàng cau khuất sau mái lá tiếng ầu ơ ví dầu của chị của mẹ sẽ làm cho yên lòng con trẻ, cho xóm cho làng cảnh ấm êm thanh bình. Hãy nhắm mắt lại, hãy cho lòng mình lắng đọng và “U-Tơn” trở về quá khứ… Tiếng ầu ơ làm cho ông lão hăng say yêu đời, miếng trà, ly rượu thêm đậm đà tình nghĩa. Câu chào nhau không còn trên miệng trên lưỡi trên đầu môi. Cho cái nhìn không còn nghi ngờ xa vắng, cho cái bắt tay đúng nghĩa “Tay bắt mặt mừng” thiệt chớ hổng phải tay bắt người bạn mới qua mà lòng thì buồn “xa dzắng”; cho việc giúp đỡ nhau không còn là một chuyện bó buột đành phải gắng gượng làm. Tiếng ầu ơ ví dầu cất lên giữa tiếng động cơ nhà máy, tiếng xe hơi ầm ỉ trên xa lộ, trong ăn phòng máy lạnh, nơi sân trường, chỗ làm việc sẽ làm cho con trẻ nhớ anh nhớ chị nhớ bà con; không cần đẩy, hổng cần hô hào biểu ngữ bích chương đàn trẻ vưỡn cứ phom phom tìm chuyện Hùng Vương, Tấm Cám, Phù Đổng, Bà Trưng, Bà Triệu, Hưng Đạo, chuyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Chí Phèo, Hồm Bướm Mơ Tiên… để đọc, con nít không đọc được sẽ làm reo cho ông cho bà kể chuyện đời xưa cổ tích. Người Phụ nữ không còn cố bỏ phong tục ông bà để học đòi vương lên cho bằng cái ông chồng “Phong kiến” còn theo cái chế độ “Phu xướng phụ tùy”, “Chồng chúa vợ tôi”. Tiếng mỡ sôi trong bếp, miếng cánh gà chiên không còn sợ “Cô-lét-tê-rôn”.

Người nữ tự khắc bình đẳng không cần có cái hội “Đòi quyền sống” hay mấy cái luật cà khịa của mấy ông mũi lõ mắt xanh. Người nữ trong ngôi nhà trở về đúng vị trí là nội tướng cầm cân nẩy mực cho chồng cho con… Và từ đó tô canh cá nấu chua sẽ thơm mùi ngò om, bạc hà, tiếng mở lon bia kêu cái tách sẽ hấp dẫn hơn tiếng ỏng ẹo của mấy “ả” bán bia ôm trong quán đèn mờ. Người phụ nữ, đờn bà trở lại tấm lòng bao dung như biển cả, như giòng suối ngọt ngào chớ không là “bà chằng lửa”, “chằng tinh gấu ngựa” khó ưa. Các chị các bà không còn lo “Con đ. ngựa nó cướp chồng bà”. Mâm cơm gia đình dầu đạm bạc muối dưa cũng vẫn ngon hơn nem công chả phụng.

Ầu… ơ…
Con cá nọ nó đã có đôi, có cặp
Anh, em câu hoài hổng gặp được đâu.


Đừng có mà ham phá vỡ gia cang người khác. Tiếng ầu ơ nó có công hiệu như vậy đó mấy chị, mấy bà ơi. Cứ ầu ơ một tiếng như đánh trúng huyệt tê mê con người dẫu có ngăn sông cách núi cứ mò về như trâu về chuồng.


Một câu hát ầu ơ… Hàng cây trước nhà sẽ mang hình bóng của quê hương, và đi đâu ta cũng mang nỗi nhớ trong lòng. Hàng cây Palm của Mỹ, cây táo, cây hồng cây chanh hay cây lime đều trở thành của ta hết ráo. Ầu ơ một tiếng con cháu sẽ nhớ ngày giỗ cha giỗ mẹ, giỗ ông bà. Không cần tổ chức sinh nhựt linh đình con cháu bạn bè vẫn kéo nhau về chung vui chúc tụng.

Ngàn năm năm sau người Việt vẫn còn nói tiếng Việt… và câu hát ầu ơ sẽ là nhịp cầu cho con trẻ không mất gốc, cho tiếng lòng rung cảm với ông cha, cho nhịp đập trái tim đưa hai giòng máu đỏ đen về tim, dù cho hai giòng văn hoá có nhiều cách biệt.

Ầu…ơ
Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá, về đồng ăn cua… a… à… à… ơi…


Lê Việt Điểu / Theo: Hồn Quê

NGƯỜI BẤT TÀI THƯỜNG NGHĨ MÌNH GIỎI

Bạn có giỏi như bạn nghĩ? Bạn có giỏi quản lí tiền? Hay giỏi đọc cảm xúc người khác? Sức khỏe của bạn như thế nào so với những người bạn quen biết? Ngữ pháp của bạn có trên mức trung bình?

Chúng ta không giỏi lắm trong việc tự đánh giá năng lực.

Việc biết mình tài giỏi đến đâu khi so sánh với người khác không chỉ giúp ta thêm tự tin, mà còn giúp ta biết được khi nào nên nghe theo lí trí và bản năng và khi nào nên xin lời khuyên từ ai đó. Thế nhưng, nghiên cứu tâm lí chỉ ra rằng chúng ta không giỏi lắm trong việc tự đánh giá năng lực.

Trên thực tế, ta thường đánh giá quá cao bản thân.

Các nhà nghiên cứu đã gọi hiện tượng này là Hiệu ứng Dunning-Kruger giải thích tại sao hơn 100 nghiên cứu đã chỉ ra rằng con người có tính ảo tưởng tự tôn.

Chúng ta đánh giá mình cao hơn người khác đến mức vi phạm cả những định luật toán học. Khi hai kỹ sư phần mềm ở hai công ty được yêu cầu đánh giá hiệu quả làm việc của họ, 32% kỹ sư ở công ty này và 42% ở công ty kia đặt mình vào top 5% cao nhất. Trong một nghiên cứu khác, 88% tài xế người Mỹ cho là mình có kỹ năng lái xe trên mức trung bình.

Đó không phải là những nghiên cứu duy nhất. Thường thì mọi người có xu hướng đánh giá mình cao hơn người khác trong những lĩnh vực như sức khỏe, khả năng lãnh đạo, đạo đức và hơn thế. Điều thực sự thú vị là những người có ít khả năng nhất thường đánh giá bản thân là những chuyên gia giỏi nhất. Người được xem là kém về lí luận logic, ngữ pháp, kiến thức tài chính, toán, thông minh cảm xúc, thử nghiệm y khoa, và cờ vua đều có xu hướng đánh giá mình thành thạo gần như một chuyên gia thực thụ.

Chúng ta không giỏi lắm trong việc tự đánh giá năng lực.

Vậy những ai dễ bị ảo tưởng như thế này nhất?

Đáng buồn thay, tất cả chúng ta đều có nhiều lỗ hổng năng lực mà ta không nhận ra. Tại sao thế? Khi hai nhà tâm lí học Dunning và Kruger lần đầu mô tả hiệu ứng và năm 1999, họ cho rằng người bị thiếu kiến thức và kĩ năng ở một mặt nào đó sẽ bị ảnh hưởng bởi hai thứ cùng lúc. Thứ nhất, họ phạm sai lầm và có những quyết định tồi tệ. Nhưng thứ hai, chính những lỗ hổng kiến thức ấy ngăn họ nhận ra lỗi sai.

Nói cách khác, người kém kỹ năng chuyên môn cần thiết để nhận ra mình kém đến đâu. Ví dụ, khi nghiên cứu các thí sinh ở một giải hùng biện của trường đại học, 25% số đội kém nhất ở vòng chơi đầu tiên thua bốn trên năm vòng đấu. Nhưng họ nghĩ rằng họ đã thắng gần 60%. Không nắm chắc luật hùng biện, họ đơn giản là không thể nhận ra khi nào hay đã bao nhiêu lần luận điểm của họ bị đánh bại.

Hiệu ứng Dunning-Kruger không phải là việc để cái tôi che lấp điểm yếu. Người ta thường chấp nhận thiếu sót của mình khi biết về nó. Trong một nghiên cứu, sinh viên kém về câu hỏi logic ngay từ ban đầu khi học giờ logic sẵn sàng thừa nhận thành tích ban đầu của họ rất tệ. Đó có thể là lí do vì sao người có kỹ năng ở mức trung bình hoặc chuyên gia thường kém tự tin vào khả năng của mình. Họ biết đủ để hiểu rằng còn rất nhiều điều họ không biết. Nghĩa là, các chuyên gia sẽ nhận thức được họ thông thạo vấn đề đến đâu. Nhưng họ lại thường mắc một sai lầm khác: họ cho rằng mọi người khác cũng thông thạo như thế. Cho nên, những người này, dù kém cỏi hay thực sự giỏi, vẫn thường bị vướng vào rắc rối của việc đánh giá sai bản thân.


Khi không có kĩ năng, họ không thể tự nhận ra sai lầm. Khi quá giỏi, họ không nhận ra khả năng của mình vượt trội đến thế nào. Vậy nên, nếu không thể nhận ra sự tồn tại của hiệu ứng Dunning-Krugger, bạn có thể làm gì để biết năng lực của mình thực sự đến đâu? Đầu tiên, hãy hỏi ý kiến của người khác, và xem xét ý kiến đó, ngay cả khi nó thật khó nghe. Thứ hai, và quan trọng hơn là hãy học hỏi không ngừng. Càng hiểu biết, chúng ta càng có ít khả năng có lỗ hổng trong năng lực.

Có thể tất cả đều được tóm gọn trong câu thành ngữ xưa: Khi cãi nhau với một kẻ ngốc, trước tiên, hãy chắc rằng, mình không phải là kẻ ngốc trong mắt họ.

Theo: VnExpress