Thursday, March 30, 2023

CÁI BẪY NGỌT NGÀO "THEO SỞ THÍCH NGƯỜI TIÊU DÙNG"

Kinh doanh phải thuận theo sở thích của người tiêu dùng là điều dễ hiểu, nhưng nếu không chú ý đến vấn đề đạo đức thì sẽ rất nguy hiểm.

Nhiều người đã trở thành con nghiện internet mà không hay (ảnh minh họa Telegraph)

Có người dùng mạng xã hội TikTok thấy toàn hiện lên các video có nội dung nhạy cảm, nhảy nhót, trêu đùa vô bổ… những video này một phần là do TikTok tự đề xuất, một phần là dựa vào “sở thích của người tiêu dùng” mà hiện ra, nghĩa là TikTok sẽ thuận theo nội dung mà người dùng quan tâm để gợi ý các video. Vậy chúng ta thử mạn đàm một chút về cái “sở thích người tiêu dùng” này.

Từ xưa trong sách “Lễ Ký” đã viết rằng: “Ăn uống và tình cảm nam nữ là những dục vọng lớn của con người”. Cho nên Nho gia mới chủ trương dùng Lễ để ức chế dục vọng. Vậy đối với con người hiện đại ngày nay thì họ thường quan tâm đến điều gì?

Có một nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học từ trường Đại học Ohio ở Mỹ, họ đã theo dõi suy nghĩ của một nhóm thanh niên từ 18 đến 25 tuổi về tình dục, thức ăn và giấc ngủ. Kết quả cho thấy, nam giới nghĩ về tình dục 19 lần mỗi ngày, về thức ăn và giấc ngủ lần lượt là 18 và 11 lần mỗi ngày. Còn nữ giới nghĩ về tình dục 10 lần mỗi ngày, đối với thức ăn và giấc ngủ lần lượt là 15 và 8,5 lần mỗi ngày.

Con người sống trong xã hội thật khó mà có được những suy nghĩ thanh cao (ảnh minh họa Facebook)

Tuy chỉ là một nghiên cứu nhỏ, nhưng nó lại khá đúng với những gì trong sách cổ đã nói, thức ăn và tình cảm nam nữ vẫn luôn là những dục vọng rất lớn của con người. Tôi chợt nghĩ, nếu ngay lúc chúng ta đang nghĩ về tình cảm nam nữ mà lại có một video hay hình ảnh sắc tình nào đó hiện lên ở trên mạng xã hội, thì rất dễ mà chúng ta sẽ click vào để xem, vì nó đang thuận theo cái tâm của chúng ta. Và một khi đã xem rồi thì những hình ảnh liên quan sẽ liên tục được đề xuất, khiến dục vọng của chúng ta ngày càng dâng cao và có thể đánh mất cả lý trí của bản thân.

Những nhà sản xuất đã đặt ra một cái bẫy rất ngọt ngào: “Theo sở thích của người tiêu dùng”. Họ đã đẩy toàn bộ trách nhiệm cho người tiêu dùng, họ lấy cớ rằng chúng ta thích cái gì, truy cầu cái gì thì họ cung cấp cái đó, đó là do chúng ta tự lựa chọn.

Nhưng như ở trên đã nói, con người bình thường trong xã hội thật khó có được những suy nghĩ thanh cao, vẫn là quẩn quanh cơm áo gạo tiền, rồi ăn uống và tình dục. Nếu chỉ thuận theo sở thích của người tiêu dùng mà cung cấp các dịch vụ và sản phẩm thì rõ ràng nó chỉ là những thứ tầm thường và không thể giúp người ta nâng cao đạo đức được; thậm chí là đạo đức sẽ ngày càng tụt dốc, bởi vì con người sống trong xã hội cũng như chiếc thuyền trôi giữa dòng, nếu không tiến lên thì nhất định sẽ bị dòng nước cuốn trôi.

Ông Trần Hướng Dương – phó cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn cho hay, trong năm 2022, nước ta đã có 22 cuộc thi hoa hậu được cấp phép chính thức. Các cuộc thi sắc đẹp ngày càng nhiều chẳng phải cũng là do truy cầu sắc tình của con người ngày càng nhiều hay sao?

Tôi còn xem được một video nói về lịch sử của đồ bơi trong vòng 100 năm. Trong khi vào năm 1890 đồ bơi vẫn còn rất kín đáo, không khác gì những bộ quần áo mặc ở nhà; thì càng về sau này đồ bơi lại càng thiếu vải hơn, đến cuối cùng thì không khác gì mặc đồ nội y đi ra đường. Nhưng vì thuận theo dòng chảy của xã hội mà người ta cũng cho đó là bình thường, trong khi thực sự thì nó không bình thường một chút nào.

Váy tắm, tạp chí Harper’s, 1858 (ảnh Beachcombingmagazine)

Tôi trộm nghĩ, các chị em khi mặc quần áo mà chẳng may bị hở chút đồ nội y ra thì xấu hổ đỏ mặt, vội vàng che lại, vậy mà chị em lại có thể mặc bikini đi thoải mái trước mặt người khác, đây chẳng phải là mọi người đang tự lừa dối chính mình hay sao?

Cái nguy hiểm của xã hội ngày nay là người ta làm gì thì chỉ cần biết không vi phạm pháp luật là được, chứ không quan tâm đến vấn đề đạo đức. Điều này thì thật là khác xa với các bậc thánh hiền xưa, họ dù viết sách, vẽ tranh, sáng tác âm nhạc, hay làm bất cứ việc gì thì cũng đều quan tâm đến vấn đề đạo đức trước tiên, coi xem nó có tác dụng giáo hóa con người hay không, chứ không phải là thuận theo dục vọng thấp kém của con người.

Một trong những công cụ mạnh mẽ nhất của Marketing đó là nghiên cứu thị trường – tìm hiểu nhu cầu của người tiêu dùng, nhưng nó cũng là vũ khí hủy diệt nhân loại nhanh nhất, bởi vì cứ thuận theo thói đời trượt dốc, thuận theo sở thích của người tiêu dùng, thì kết cục chính là nhân loại đang tự hủy diệt chính mình.

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương từng nói rằng, dục vọng của con người là rất nhiều, không chỉ giữa nam và nữ, hoàn cảnh nhà ở, cái ăn cái mặc, chỉ cần là tư tâm có lợi cho bản thân thì đều là dục vọng và chỉ có lễ chế mới khống chế được dục vọng. Hệ thống lễ nghi ban đầu được hình thành cũng là vì để ngăn chặn dục vọng của con người.

Lão Tử cũng nói: “Tội ác lớn nhất là phóng túng dục vọng, tai họa lớn nhất là không biết đủ, khuyết điểm lớn nhất là lòng tham không đáy, cho nên, biết thế nào là đủ thì sẽ vĩnh viễn không thiếu gì”.

Quay về truyền thống là lối thoát cho nhân loại (ảnh minh họa Vandieuhay)

Xã hội vật chất ngày nay có lẽ đã đi tới giới hạn cuối cùng của nó, sự hưởng thụ quá mức của con người khiến nguồn tài nguyên cạn kiệt, môi trường ô nhiễm, nhưng nguy hiểm hơn cả là đạo đức trượt dốc, con người vì lợi mà không điều gì không dám làm. Chắc không chỉ riêng tôi, mà nhiều người cũng cảm nhận được là xã hội nhân loại đang đứng trên bờ vực sụp đổ.

Nhưng như người ta vẫn nói: “Nước đến tận cùng là thác đổ, người đến đường cùng người hồi sinh”, nhân loại đi một bước thật dài trong lịch sử và đã đến lúc nên trở về, tìm lại những giá trị văn hóa truyền thống quý báu, đó chính là những “vòng kim cô” để khóa chặt dục vọng của con người lại, giúp con người có thể trải nghiệm một đời sống tinh thần thanh cao, cảm nhận được niềm hạnh phúc từ bên trong, đây là những thứ mà văn hóa thấp kém không thể mang lại cho con người.

Theo: nguyenuoc

TÌNH GIÀ


Hôm nay lão vui. Mân mê mãi trong tay tấm thiệp mời đi dự hội Tết trường trung học Bông Mai, mồ hôi tay đã làm cho một góc giấy mềm đi, mà ngó tới ngó lui cái đồng hồ trên tường dường như chỉ có một cây kim làm việc, hai cây kia cứ nằm ì ra đó, thật dễ ghét.

“Trung học Bông Mai”, cái tên nghe quen lắm, gợi ra nhiều điều có khi mơ hồ, có khi gần gũi. Hình như cỡ đâu 50 năm trước, không nhớ là lão đã dạy, hay đã học ở đó. Cái trường trung học bé tí ở tỉnh, mỗi “đệ” chỉ có hai lớp.

Hiệu trưởng là ông thầy Nam kỳ, giáo sư dạy Toán, da ngăm ngăm đen nên đám học trò gọi ổng là “ông táo.” “Bữa nay ông táo bịnh, tụi mình được 2 giờ, kéo ra đình chơi nhen bây?” Hay “Chào cờ sáng nay có ông táo nhen bây. Đừng có láo nháo ổng leo xuống quất cho mấy roi, quê lắm à!”

Giám học là một ông thầy Bắc kỳ 54, tên là Anh Hùng, người thanh mảnh đẹp trai, trắng trẻo nhưng lùn, tánh tình hắc búa nên học trò gọi là A Lùn. “A Lùn” phát âm nhanh nghe từa tựa như “Anh Hùng”.

Ông giáo dạy Pháp văn cao ráo, thanh lịch, tánh tình xởi lởi dễ chịu, học trò đứa nào cũng thương nên gọi ổng là “Nehru”, theo tên ông thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ. Ông giáo có cái mũi to ngoại khổ, lúc nào cũng đỏ. Ổng dạy tiếng Pháp nên học trò dịch “mũi đỏ” thành “nez rouge”, nhưng gọi vậy nghe lộ liễu quá, lũ trẻ bèn thương mến gọi thầy là Nehru, nghe cho nó... sang.

Lão thương cái trường đó. Đó là trường công lập, học sinh hỗn hợp nam nữ ngồi chung lớp, nam đông hơn nữ. Cái tỉnh đó lại nằm xa biển nên ít người đi thoát vào thời cả nước vượt biên, vượt biển. Qua tới bên Mỹ này lão tìm hỏi mãi mới ra được vài ba học sinh cùng trường nhưng khác lớp, khác niên học. Tuần trước đột nhiên không biết có ai đó gửi cho lão tấm thiệp mời đi dự hội Tết cựu học sinh Bông Mai, hỏi sao lão không mừng vui, háo hức!

Lão lôi trong tủ quần áo ra, chọn một bộ vừa vặn, đẹp đẽ nhất, đem đi giặt ủi tử tế. Lại chọn một đôi giày đẹp, đánh xi sơ qua cho dễ coi. Từ ngày vợ chết, rồi về hưu, lão ít khi đi ra ngoài, hoặc nếu có đi đâu thì ăn mặc xập xệ, miễn sao lành lặn và sạch sẽ là được, không cần trau chuốt. Nhưng hôm nay khác. Bạn cũ trường xưa, bê bối quá sợ mắc công người ta thương xót hay chê cười, “tưởng mầy qua Mỹ học được củ gì”. Lão chịu khó lên cây lên cối một chút, lại còn soạn sẵn tờ giấy 50 đô mới tinh để trả tiền vào cửa bao gồm tiền ăn tối.

Đúng 1 tiếng đồng hồ trước giờ khai mạc, lão lò dò ra xe. Chỉ cần đi 30 phút là tới nơi, tính ra sớm nửa tiếng, và tính theo giờ cao su Việt Nam, ít ra sớm gần 2 tiếng.Lão biết đồng hương của lão, mời “7giờ” có nghĩa là... 8giờ rưỡi hay hơn. Nếu là đám cưới, mời “7 giờ” thì sau 9 giờ mới bắt đầu. Đi đám cưới thì phải ăn trước ít nhất nửa bụng ở nhà, tới nơi mới đủ sức kiên nhẫn ngồi đồng chờ đợi.


7 giờ 35 phút tới nơi, chưa có ai, không thấy cả tấm bảng hay biểu ngữ chào mừng. Lão đi rảo một vòng chung quanh khu phố cho thoải mái. 20 phút sau trở lại hội trường, may quá, đã có người.

Lão đóng tiền vào cửa, được gắn cho cái bảng tên có chỗ chấm chấm để ghi thêm năm học. Tên “Vũ” thì nói cho người ta viết vào, còn niên khóa nào, đầu óc lão lơ mơ quá, cười cười trả lời “hổng nhớ” khiến người làm bảng suýt nữa đã ghi vào là “không biết” thay vì để trống.

Bước vào trong, lão thấy có tất cả 8 bàn tròn, mỗi bàn 10 ghế. Vậy là người ta dự trù đông nhất là 80 người, kể cả ban tổ chức. Tính ra, có thể có khoảng phân nửa hay gần phân nửa là cựu học sinh hay cựu giáo sư của trường, còn lại là thân nhân. Đông đó chớ, đối với 1 trường nhỏ ở miền Đông Nam phần. Lúc chưa đi, lão nghĩ, chắc gặp giỏi lắm là 10 hay 15 người là cùng. A! Đông hơn thì vui hơn. Ở xã hội nào cũng vậy, ai cũng nói “đông vui”, chẳng ai nói “vắng vui”, dù là tiếng của bất cứ nước nào!

Lão được xếp ngồi vào bàn đầu tiên trong cùng, lúc đó chưa ai ngồi. Nửa phút sau, ban tổ chức đưa tới người khách thứ hai, sau lão. Người đó mặc áo dài màu lụa trắng, tóc cắt ngắn vừa phải, dáng điệu thanh mảnh. Lão lịch lãm đứng dậy, kéo ghế cho phái nữ, đợi người ta yên vị xong mới ngồi xuống. Y như tây! Lão nghĩ thầm và mỉm cười.

Thật là khó đoán tuổi phụ nữ Việt Nam ở xứ này, phần lớn ai cũng sửa, cũng cắt, cũng bơm và cũng vừa trét vừa sơn đủ các loại mỹ phẩm, đủ thứ màu mè. Nhưng, may quá, cụ bà này có vẻ như chưa kịp tân trang gì nhiều, ngoài một tí son phấn để đỡ nhợt nhạt dưới ánh đèn đêm.

Bà cụ vừa ngẩng trông lên, liếc vội vào bảng tên lão đeo trước ngực rồi kêu lên:

- Anh Vũ! Em là Nga nè!

À! Tiện quá, khỏi phải tự giới thiệu, nhưng không tiện nhìn vào ngực phụ nữ dù chỉ để đọc kỹ cái bảng tên xem học năm nào. Lão thò tay ra định nâng bàn tay cụ bà lên hôn vào mu bàn tay, nói “enchanté” cho phải phép, nhưng sực nhớ đây là chỗ Việt Nam, không phải tây u gì, làm vậy không hợp cảnh, nên kịp né tay qua, cầm một cái ly lật ngửa lên, hỏi:

- Bà dùng chi?

Cụ bà nhắc lại:

- Em là Nga, Hồng Nga, em của anh Thành, Nguyễn Văn Thành, em học dưới anh một lớp.

Thì ra vậy. Bạch Nga, Hoàng Nga, Hồng Nga, Thiên Nga... nhiều ngỗng quá, em nào cũng là ngỗng mà sao lão chẳng nhớ ngỗng nào với ngỗng nào!

Hồng Nga tiếp:

- Hồi đó anh hay tới nhà em để học luyện thi với anh Thành. Có lần... có lần... anh nắm tay em... Anh quên em rồi sao?

Chết mụ nội chưa! Ngoài chuyện cầm tay em, không biết lão có cầm... chỗ nào khác không nhưng cũng không tiện hỏi lại, bèn giả lả bằng một lời ca của ông nhạc sĩ nào đó, trong hoàn cảnh này thì nghe rất chi là cải lương nhưng hạp cảnh:

- “Làm sao mà quên được! Ánh mắt với nụ cười!..”

Cụ bà có vẻ hơi hơi cảm động. Lão bèn hỏi tiếp:

- Anh... Thành giờ ra sao, thưa... em?

Chả nhớ là “anh Thành” nào, nhưng hỏi thì cứ hỏi.

Hồng Nga hơi cúi đầu, chớp mắt, giọng tự nhiên nhỏ xuống:

- Ảnh chết trong trại tù cải tạo ở ngoài Bắc. Ảnh và ông nhà em đi tù chung trại. Nhà em ra tù về nhà, 4 ngày sau mới chết.

Lão mím môi. Thảm cảnh xã hội. Nhà nào cũng có người đi tù, người chết, chết trong tù hay chết trên đường vượt biên. Tự nhiên lão đặt tay lên bàn tay cụ bà, vỗ vỗ rồi siết nhè nhẹ.

Cụ bà không rụt tay lại, mà chồng thêm bàn tay kia lên tay lão:

- Em không ngờ gặp lại anh ở đây. Em mừng quá. Còn chị đâu rồi anh, sao anh đi một mình?

Lão đáp nhẹ như tiếng thở:

- Bả bỏ tôi đi đã 4 năm rồi, ung thư gan.

Cụ bà đột nhiên rụt cả hai tay lại, hơi lúng túng:

- Tội nghiệp anh quá! Rồi anh sống làm sao? Có ở chung với con cháu không?...

Câu chuyện cứ thế mà nổ râm ran nho nhỏ giữa 2 người bạn đồng hương đồng khói.


Có sao nói vậy người ơi. Lão sống một mình trong căn phố thuê trong một cao ốc. Lão không nói rõ là lão thích cái chỗ ở tươm tất 3 phòng ngủ trong cái buyn-đinh nằm cạnh sân cù và mặt trước nhìn ra biển. Lão sống bằng lương hưu, con cháu có đời sống riêng, thỉnh thoảng có dịp thì gặp nhau.

Hồng Nga có vẻ bằng lòng với hiện tại hơn. Chồng sau của bà là 1 bác sĩ chuyên khoa người Mỹ, đã qua đời vì tuổi tác, để lại khá nhiều nhà. Bà chia cho các con mỗi đứa 1 căn, còn lại giao cho 1 công ty địa ốc cho thuê, kiếm thêm lợi tức để chi tiêu, không phải nhờ con cháu.

Câu chuyện tiếp tục rù rì rủ rỉ ấm áp. Hồng Nga mời lão lên sân khấu hát chung bài “Học sinh hành khúc” cùng với nhóm của bà. Lão mỉm cười lắc đầu. Hồng Nga thắc mắc:

- Hồi đó anh đàn hát trong ban văn nghệ nhà trường mà?

Lão lại cười:

- Ờ… Hồi đó…

Lão kịp nuốt ực nửa câu sau: “bây giờ khác, già rồi, ai lại leo lên đó làm trò!”

Hồng Nga lên hát. Lão đứng lên tiễn bà rời bàn. Bà hát giọng chánh, khá hay. Lão đứng lên vỗ tay rất lâu. Hồng Nga nhìn xuống, giơ tay hôn gió. Khi bà về lại bàn, lão kéo ghế cho bà, thầm thì bên tai bà:

- Em hát hay lắm!

Hồng Nga cố tình hất má cho chạm vào môi ông, cười hích hích, bảo:

-Anh nịnh đầm nha!

Rồi họ lại chụm đầu rù rì rủ rỉ. Hơi thở của bà thơm, phần lão thì không hút thuốc lại vừa nhai kẹo cao su xong nên chắc không tệ. Họ nói chuyện gia đình, con cháu, xã hội bên này, bên kia.....

Khi câu chuyện từ từ tới lúc chín muồi, tình trong như đã mặt ngoài... hết e, lão cầm tay bà ân cần hỏi:

- Em sống một mình có trống trải quá không? Có bao giờ em nghĩ rằng em cần một... ai đó sống bên cạnh em?

Hồng Nga nhìn lão, ánh mắt hơi khác lạ:

- Có phải anh muốn hỏi, em có định tái giá lần nữa hay không chớ gì?

Lão gật đầu. Hồng Nga đáp:

- Em không có ý định đó, nhưng nếu trời cao đặt để, gặp người em yêu thì em sẽ... không chạy trốn. Còn anh thì sao?

Lão kéo vai Hồng Nga lại gần, hỏi rất nhỏ:

- Nếu người đó là anh, em bằng lòng làm vợ anh không?

Hồng Nga ửng hồng hai má, khẽ gật đầu:

- Em…

Lão kéo vai cụ bà lại gần hơn nữa. Rồi họ hôn nhau, ban đầu chỉ hơi chạm môi, rồi hôn nồng nàn, vừa đúng lúc tiệc tàn. Rồi họ trao đổi số điện thoại, địa chỉ vi thư và tạm chia tay. Ai cũng lái xe nên chẳng ai được đưa ai.


Trên đường về nhà hôm đó, lòng lão lâng lâng, đi xượt qua chỗ rẽ trên xa-lộ hàng chục dặm mới nhận ra, quay trở lại, lại lố exit một lần nữa. Về tới buyn-đinh, lão luống cuống tra chìa khóa vào cửa phòng người khác…

Đêm đó lão không ngủ được. Hình ảnh cụ bà nhí nhảnh cứ nhảy múa lung tung trước mắt ông kèm theo giọng hát dịu mềm “Học sinh là người tổ quốc mong cho mai sau, Học sinh là người”… gì gì đó. Nhạc xập xình. Tiếng hát ỏn ẻn vọng lên trong đêm.

Nằm lơ mơ dỗ giấc, lão hoang mang không nhớ chắc, cứ thắc mắc khi lão ngỏ lời cầu hôn, bà cụ đã trả lời sao, chịu hay không chịu? Đầu óc lão rối bung lên, lẫn lộn, không nhớ. Lão chỉ nhớ môi bà ngọt mềm và tình tứ quấn quít môi lão. Lão hơi giận mình, sao lúc đó không lôi cái cell phone ra ghi “note” như lão thường làm hàng ngày mỗi khi cần ghi nhớ một điều gì.

Lão muốn gọi điện thoại hỏi lại cụ bà cho chắc, nhưng cũng không nhớ số điện thoại lúc đó ghi trên cái giấy khăn ăn rồi để đâu. Muốn liên lạc ban tổ chức thì không biết cả tên người gửi thiệp mời mình là ai, làm sao mà hỏi.

Cứ thế mà lão lay hoay trăn trở cho tới sáng banh mắt mới ngủ được một chút.

Suốt cả tuần lễ sau đó lão cứ bần thần ngồi đứng không yên, đêm biếng ăn ngày mất ngủ, người cứ gầy rạc cả ra, ngơ ngơ ngẩn ngẩn như vừa dò số thấy trúng độc đắc nhưng khi mang vé đi lãnh tiền, hãng xổ số xem lại bảo hàng số thì đúng nhưng ngày xổ thì sai, nên đi không rồi lại về không.

Qua tới ngày thứ 12, đột nhiên lão nhận được email của cụ bà. Hồng Nga không viết lời nào âu yếm hay nhắc lại chuyện lão cầu hôn, chỉ rủ Tết năm sau về nước dự họp mặt học sinh lớp 12 niên khóa năm con Vịt, hiện bạn bè còn sống gần phân nửa.

Lão đọc đi đọc lại email, muốn viết hỏi “cái hồi anh cầu hôn, em trả lời sao?” mà ngần ngại không dám hỏi, sợ thất thố làm buồn lòng người yêu. Cuối cùng lão chỉ viết rất gọn, hứa sẽ thu xếp để về nước trong cùng một khoảng thời gian đó để họp mặt bạn bè. Hẹn thì có hẹn đó, mà như trớt hơ!

Cụ bà nhận được email, cũng không thấy nhắc gì tới chuyện cưới xin nên chắc là hẫng, cảm thấy như nị hụt đõi. Hai bên tiếp tục “lạc” nhau thêm 1 tháng nữa. Cụ bà cảm thấy như bị đùa giỡn, hay nặng hơn nữa, bị phản bội, nên viết:

“Nga cũng vui khi gặp lại người anh trường cũ, nhưng 2 đứa mình làm bạn thôi nha. Nga vẽ một đường làm ranh giới, ai bước qua sẽ bị chặt cụt chân.”

Không còn xưng “em”, và cụ bà trồi lên vị thế ngang hàng, “hai đứa mình” và vẽ ranh giới xác định mối giao thiệp bạn bè, kèm theo hình phạt cho bất cứ trong 2 người vi phạm!

Lão đọc xong xây xẩm mặt mày. Lão nhớ lại rồi. Khi lão ngỏ lời cầu hôn, cụ bà vừa trả lời “Em...” thì bị môi lão vít chặt với nụ hôn, không nói tiếp được nữa. “Em... đồng ý” hay “Em không”? Thiệt tình! Nhưng rõ ràng sau khi lão cầu hôn, họ đã hôn nhau, hay ít nhất, lão hôn trước và cụ bà hưởng ứng, không đẩy ra. Không ưng thì đẩy ra chứ sao lại nhận nụ hôn như trao nhau một lời hứa hẹn nồng nàn? Tại sao? Đàn bà thật khó hiểu hay đàn ông thật ngây ngô? Một nhà văn đã viết trên sách: trên đời này không có đàn ông mà chỉ có... đần ông. Chữ “đần” có dấu mũ hẳn hòi.

Lão cũng biết, phụ nữ Việt ở bên này có thói quen tính toán thiệt hơn, nhất là khi bên nhà gái giàu có hơn, không muốn bị đào mỏ. Hay là cụ bà có đồng ý nhưng khi về nghĩ lại, hoặc kể chuyện cho con cháu nghe, không ai thấy thoải mái khi cụ bỏ con bỏ cháu để xuống thuyền đi tái giá với 1 ông cụ hiện không làm chủ nổi một căn nhà, phải đi ở thuê.

Cụ bà có thể không nghĩ xa xôi chớ con cháu cụ chắc lo nơm nớp, sau khi hôn thú ký xong, gia tài 2 bên cộng lại chia đôi khi ly dị, thì chúng nó mỗi đứa sẽ mất vài cái nhà, chỉ còn sở hữu được mỗi 1 căn nhà mà chúng đang ở, đã sang tên xong xuôi đâu đó.

Lão càng nghĩ càng nóng mặt và tự trách tại sau trước đó, khi Hồng Nga kể chuyện có năm bảy cái nhà cho thuê, lão lại không nói là mặc dù lão đi ở thuê, nhưng nếu muốn mua, lão có thể mua 1 cái nhà trị giá bằng tất cả những căn nhà mà cụ bà có, cộng lại!

Lão không nói ra, vì lão vốn coi rất nhẹ chuyện tiền bạc và rất ghét mang tiếng khoe khoang. Hiện tại, khoảng lương hưu cộng với tiền lời nhà băng trong 1 tháng của lão đã đủ để lão tiêu pha thoải mái cả năm. Lão không hề nghèo. Tại sao lại không nói rõ để con cháu của người yêu phải lo lắng và gàn quải chuyện hôn nhân của 2 cụ? Lão giận mình tê tái.

1 tháng trôi qua sau khi suy nghĩ đâu đó cẩn thận, lão mới thong thả trả lời Hồng Nga về lằn ranh biên giới “bước qua thì bị chặt chân”. Cụ viết ngắn gọn:

“Xin Hồng Nga yên tâm, tôi không có ý định rước một cụ bà cùng trường về bầu bạn.”

Thư đi nhưng không có tin lại. Thời gian lặng lẽ trôi. Hồng Nga như cánh ngỗng đã thiên di về trời. Mỗi lần chạnh nhớ, lão cũng bâng khuâng thơ thẩn, ôn lại lời mời về nước họp mặt bạn cũ trường xưa.

Lão chưa một lần trở lại quê hương. Bạn bè còn kẹt lại đông, thân nhân cũng không ít, nhưng lão “giang hồ quen thói vẫy vùng”, đang sống ung dung tự tại, không muốn cúi đầu khép nép chui qua khung cửa hẹp để cho một thằng nhóc hỉ mũi chưa sạch làm việc ngoài sân bay cũng có thể ăn hiếp được mình.

“Anh sẽ về”, về chứ, nhưng vốn quen đứng thẳng, lão không thể về trong cung cách “Bó thân về với triều đình, Hàng thần lơ láo phận mình ra đâu”, lúc nào cũng phải giữ gìn lời ăn tiếng nói, muốn cất tiếng gọi một tô phở cũng phải đánh lưỡi cho đủ 7 lần…

Lật bật rồi lại cuối năm. Lại nhận được thiệp mời họp mặt cựu học sinh trường cũ. Cầm tấm thiệp trong tay, lòng lão lại rộn ràng như năm ngoái. Lão lại lễ bộ quần áo giày dép chuẩn bị xôn xao, và lần nầy đến sớm hẳn tới 1 tiếng.

Ngồi yên vị khá lâu, cũng cái bàn trong trong cùng, đúng 7 giờ rưỡi tối, Hồng Nga tới, lần nầy đi với một bà sồn sồn cỡ dưới 50, chắc là con gái.

Hồng Nga nhận ra lão từ xa, mừng rỡ bước nhanh tới:

- A! Anh Vũ, em là Nga em anh Thành nè. Anh còn nhớ em hông? Em học dưới anh một lớp…

A! Hay thật! Cũng cùng một câu tự giới thiệu mà cụ bà nói hồi năm ngoái, lần đầu gặp lại ông. Cụ bà sợ lão mang bệnh mất trí nhớ chăng?

Lão đứng dậy kéo ghế cho 2 mẹ con. Hồng Nga giới thiệu:

- Hồng Loan, con gái em.

Hồng Loan chào bác, lão chào cháu, rồi buột miệng hỏi:

- Hồng Loan đây rồi, còn Đào Hoa đâu?

Hồng Nga hơi giật mình:

- Anh cũng biết Đào Hoa hả. Cái thằng đó chẳng bao giờ chịu đi với mẹ.

Lão mỉm cười. Lão thấy con gái mà bị đặt cho cái tên cấm kỵ là Hồng Loan nên hỏi chơi cho đủ cặp, đâu biết người ta đã có đủ. Lão hơi ngần ngừ một chút rồi nhìn sâu vào mắt Hồng Nga, hỏi thẳng một câu trong lòng muốn hỏi:

- Năm ngoái, cũng trong không khí này, anh hỏi cưới em, em còn nhớ em trả lời anh như thế nào không?

Hồng Nga ngạc nhiên:

- Ủa, thì ra là anh đó hả? Em nhớ mang máng có ai đó tỏ tình, xin cưới mà không nhớ là ai, hóa ra là anh sao? Thiệt sao? Mà anh hỏi vậy thì em trả lời sao?

Cô con gái nhìn lão, muốn phân bua gì đó, nhưng thôi. Lão nói tiếp:

- Thì là anh chớ ai vô đây. Em thiệt vô tình. Sau đó em còn gởi email cho anh, dặn giữ tình bạn, ai tiến tới sẽ bị chặt chưn…

Hồng Nga chưng hửng:

- Em tuy có email nhưng có bao giờ xài đâu! Với lại, em có lòng thương mến anh, em có bao giờ viết bậy bạ vậy đâu? Anh buồn em lắm hả? Rồi anh có trả lời gì cho em hông?

Cô con gái lại định nói gì, nhưng một lần nữa, lại thôi. Lão ngập ngừng:

- Em nhứt định không viết, không đọc email thiệt hả?

- Hông có, thưa anh.

- Vậy bây giờ anh hỏi lại câu hỏi năm ngoái: “Em có bằng lòng làm vợ anh hông?

Hồng Nga thò tay qua nắm tay ông, giục giặc:

- Em thương anh nhiều, em muốn làm vợ anh lắm, nhưng em đang có chồng mà, làm vậy sao được?

Tới phiên lão sững sờ:

- Em mới tái giá hả?

Hồng Nga cười ra tiếng:

- Không anh. Lâu rồi. Mấy chục năm rồi.

- Vậy thì anh ấy đâu mà em đi với con gái?

Hồng Nga lắc đâu:

- Hôm nay ảnh trực bệnh viện, em nhờ con Loan đưa đi.

Hồng Loan chợt đứng dậy, chồm qua lão, nói nhỏ:

- Cháu xin phép thưa riêng với bác một chuyện…

Lão gật đầu bước ra gần bàn tiếp tân, Hồng Loan lửng thửng theo sau:

- Thưa bác, thực tình thì bố dượng cháu qua đời lâu rồi. Cháu không dám giấu bác, mẹ cháu trở bệnh Alzheimer gần đây, khi nhớ khi quên, càng lúc càng tệ hơn, cháu đã thu xếp cho mẹ vào viện dưỡng lão, có y tá và bác sĩ trực chăm lo chu đáo hơn ở nhà. Khổ lắm bác ơi. Hôm nọ cháu đi vắng có chút xíu, mẹ ở nhà tự ý nấu nướng cái gì đó, suýt làm cháy nhà, may mà cháu về kịp.

Lão ngạc nhiên nhìn người đàn bà đang đứng trước mặt, thắc mắc:

- Xin lỗi, xin bà tha lỗi, bà là ai và mẹ bà là ai? Tôi thấy quen quen mà tự nhiên bây giờ nhớ không ra?

Hồng Loan gần như chết điếng tại chỗ, chưa biết phản ứng làm sao, chợt nghe tiếng 1 người đàn ông trẻ thoảng bên tai, nhẹ như hơi gió:

- Ô! Xin lỗi chị. Ba tôi dạo này bắt đầu quên trước quên sau…

Không đợi cậu kia nói thêm, lão vui vẻ giới thiệu liền, tỉnh queo như chưa hề hỏi câu “mẹ bà là ai”:

- Đây là thằng Nam, con trai lớn của bác đó cháu, còn đây là… là…

- Dạ là Hồng Loan…

- Đúng rồi. Hồng Loan con riêng của.. người ba yêu và xin cưới.. Đầy đủ hết rồi nhe, “con em, con anh” đã đủ mặt, chỉ chờ “con chúng ta” ra đời…

Nói xong lão cười ha hả, thong thả trở lại bàn.

Hồng Loan và Nam bắt tay nhau, kéo ra một góc tỉ tê trò chuyện. Lão ngồi thầm thì tình tự với Hồng Nga, mặc ai ca hát, diễn trò, xổ số hay nhảy nhót quanh họ…


Nam cho Hồng Loan biết, lão đã vào viện dưỡng lão mấy năm nay. Phòng lão rộng và đẹp lắm, có bao lơn nhìn ra biển Thái Bình. Tiền tháng rất cao, Viện có hoa viên và sân cù chung quanh. Các cụ đi bộ cả 45 phút mới giáp một vòng. Lại còn hồ bơi, phòng thể dục, phòng xem phim, phòng chơi game, hòa nhạc, thư viện... thôi thì đủ cả. Cơm nước thì ngày 3 buổi tươm tất, đổi món luôn luôn. Nếu các cụ không xuống được phòng ăn, sẽ có người mang lên tận phòng, có khi tận giường. Việc lau chùi, quét dọn hay ngay cả tắm rửa, thay quần áo cho các cụ hàng ngày, có y công lo, nếu các cụ không tự làm được. Về y tế, có đủ y tá trực 24/24, 7 ngày trong tuần. Bác sĩ tới mỗi sáng một lần. Xe cứu thương thì cách đó 3 phút, bệnh viện lớn cách đó 10 phút. Mỗi tuần một lần, thân nhân tới đón các cụ ra ngoài du ngoạn, ăn nhà hàng hay về nhà thăm con cháu. Nếu thân nhân không đến được, có nhân viên trực lái xe đưa các cụ đi riêng, hoặc xe bus nhỏ chở một lúc 7 cụ đi ngoạn cảnh, ăn ngoài, mọi chi phí do Viện trả.

Trường hợp của lão năm ngoái, chưa bị nặng nên còn được phép lái xe. Sau lần lão quên mất đường về phải gọi cell phone cho viện dưỡng lão cho người tới dẫn về thì không được lái xe nữa. Đó là lý do tại sao hôm nay Nam có mặt đưa lão đến đây.

Hồng Loan ngập ngừng hỏi:

- Tiền trả hàng tháng có cao lắm không anh Nam?

Nam gật đầu:

- Cao hơn lương tháng của tôi, nhưng ba trả trước tất cả vào “trust fund” rồi, cho tới năm 100 tuổi, nếu thọ hơn, Viện sẽ tự trang trải. Tiền lời quỹ tín dụng đủ để trả bù vào tiền Viện gia tăng hàng năm, con cháu không phải lo. Nếu như ba có vợ hay bạn già tới ở chung, ba chỉ phải trả thêm 50 phần trăm. Ba lo được vì ba có tiền lời quỹ tiết kiệm ký thác ở ngân hàng. Ông già có tiêu gì đâu! Thế còn bác gái, mẹ của chị thì sao?

Hồng Loan cười buồn:

- Tháng sau tụi em cũng đưa mẹ vào viện dưỡng lão cho an toàn. Viện nầy nhỏ thôi, nhưng cũng đắt lắm so với lợi tức của tụi em. Chắc phải bán cái nhà của mẹ đang ở để lấy tiền chung vào. Mẹ buồn lắm anh. Mẹ chỉ muốn ở nhà. Mẹ khóc…

Nam và Hồng Loan trở lại bàn. Họ trố mắt ngạc nhiên khi thấy 2 cụ đang hôn nhau đắm đuối như một cặp thiếu niên, bất chấp thiên hạ chung quanh thầm thì soi mói.

Thoáng thấy 2 trẻ, lão ngẩng lên phân bua, môi còn dính son toè loe:

- Hồng Nga đồng ý lấy ba và dọn vào Viện sống chung với ba. Ba sẽ nhờ Viện tổ chức lễ cưới tại phòng tiếp tân, các con đưa hết con cháu, bạn bè tới dự nha! Hôm đó ba với Hồng Nga sẽ lên sân khấu song ca bài “Học sinh hành khúc” theo lời yêu cầu của cô dâu.

Cung Vũ (Nguyễn Hữu Nghĩa)

Wednesday, March 29, 2023

PETRA - THÀNH PHỐ BỊ LÃNG QUÊN

Hình thức tận dụng các hang động hay việc đục khoét các vách núi tạo thành nơi cư trú xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới. Nếu Trung Quốc có động Đôn Hoàng, Thổ Nhĩ Kỳ có Capadocia. Cũng là cách này, nhưng thành cổ Petra ở Jordan mang một sắc thái hoàn toàn khác lạ, nghệ thuật xây dựng và điêu khắc trên các vách đá đạt đến đỉnh cao của sự hoàn mỹ.


Cách thủ đô Amman 245km về hướng Nam, Petra là một thành phố cổ xinh đẹp và độc đáo, quần thể kiến trúc Petra trải dài trên một diện tích khá rộng, hơn 200 km2. Trong khu vực địa hình có nhiều đồi núi, những khối đá sa thạch đa màu sắc đã được gọt đẽo tạo thành các công trình kiến trúc tuyệt đẹp. Theo các nhà nghiên cứu, Petra là một thành phố cổ hơn 2000 năm tuổi.

Những chủ nhân đầu tiên của Petra

Từ những bằng chứng khảo cổ, người ta có thể kết luận rằng hơn 6500 năm trước công nguyên, đã có loài người sinh sống tại khu vực núi đá Petra, họ đã biết thuần hóa súc vật dể phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Trong giai đoạn thịnh vượng nhất, Petra từng là một thành phố có hơn 35.000 dân, một quy mô khá lớn so với các thành phố của châu Âu trong giai đoạn bấy giờ.


Đi dọc theo các con đường dẫn lên ngôi đền Jabal Al-Deir, chúng ta sẽ gặp rất nhiều những người Boudin buôn bán các mặt hàng lưu niệm hay hành nghề cho thuê lừa. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, thì có thể những cư dân xây dựng nên thành cổ Petra là những người Natabai, một bộ tộc được cho là xuất phát từ vùng phía tây của bán đảo Ả Rập.

Khi thành cổ Petra bị bỏ hoang, một vài nhóm người thuộc bộ tộc Bedouin đến đây sinh sống, nhưng số lượng rất ít, không đủ để hồi sinh thành cổ, người Bedouin cũng là một bộ tộc có đời sống du mục trên bán đảo Ả Rập, họ cũng là một trong những cư dân có sức sống mãnh liệt, cả đàn ông và đàn bà người Bedouin đều thừa hưởng một nét đẹp huyền bí theo kiểu Ả Rập, nhưng tóc của họ thường xoăn hơn, đôi mắt đen long lanh và có phần đẹp theo kiểu hoang dại hơn, nhìn vào đôi mắt của người Bedouin, cả thế giới của người Ả Rập như đang ẩn chứa sau hàng mi dài cong vút và đôi lông mày đen láy.


Thành phố Sa Thạch Đỏ

Thật là một điều không hề dễ dàng để diễn tả về Petra, cho dù bạn có cố gắng dùng những ngôn từ hoa mỹ nhất. Chỉ trừ khi bạn đặt chân đến đấy và đắm mình hàng giờ trước các công trình kiến trúc thì các bạn sẻ cảm nhận được phần nào cái hồn của Petra, một thành phố cổ xinh đẹp nguy nga tráng lệ.

Những vách núi sa thạch nhiều màu sắc chạy dọc theo lối đi với chiều dài hơn 4 km tạo cho chúng ta một không gian bao la hùng vĩ. Đá sa thạch có độ mềm vừa phải giúp cho nhựng cư dân nơi đây dễ dàng chạm trổ tạo nên những hoa văn khá sắc sảo giúp cho các công trình kiến trúc trở nên sống động hơn.

Trong vùng đất khô hạn, lượng mưa hàng năm rất ít, không có nhiều loài cây có thể mọc ở đây, cho nên gần như không có chất liệu nào khác thích hợp hơn cho việc xây dựng đó là các tảng đá sa thạch với nhiều màu sắc khác nhau.

Không chỉ giỏi về kỹ thuật thể hiện qua việc xây dựng các hệ thống dẫn nước, các nhà hát quy mô, mà các lăng mộ ở Petra đã cho chúng ta thấy nghệ thuật điêu khắc của những nghệ nhân nơi đây đã đạt đến đỉnh cao, nghệ thuật điêu khắc nơi đây là sự pha trộn của nhiều nền văn hoá khác nhau, từ phong cách Ai Cập cho đến Hy Lạp và La Mã đều có thể tìm thấy ở đây.


Một quá khứ vàng son

Trước khi rời Petra đi về thung lung Wadi Rum, chúng tôi dừng lại một nơi được gọi là tiểu Petra (little Petra), nơi các thương đoàn đã từng dừng lại để nghỉ lại khi đi qua khu vực này. Những bậc thang bằng đá dẫn lên những ô vuông được khoét vào vách đá, có nơi dung để làm nhà bếp, nơi dùng làm phòng ngủ, có nơi dùng để chứa nước và cả những kho chứa thức ăn để phục vụ cho lạc đà và ngựa của những thương đoàn.

Trong quá khứ, giữa sa mạc mênh mông tưởng chừng như hoàn toàn tự do và không hề có bóng dáng của con người, nhưng sa mạc vẫn có những luật lệ của riêng nó, khi băng qua sa mạc, các thương đoàn vẫn phải đóng một khoản thuế, nếu ai cố tình không thực hiện thì cái giá phải trả là toàn bộ hành lý có thể bị cướp sạch, hoặc thậm chí là sẽ bị giết.


Các thương đoàn bao giờ cũng cần có một người dẫn đường thành thạo, họ biết được con đường nào để đi gần nhất, nơi nào sẽ an toàn để ngủ lại qua đêm. Little Petra là một nơi an toàn và lý tưởng để dừng lại qua đêm, nơi đây các thương gia sẻ được phục vụ ăn uống, các con lạc đà sẻ được chăm sóc cho lại sức để có thể tiếp tục hành trình, và dĩ nhiên, một khoản thuế tương xứng sẻ phải được chi trả.

Trong những năm đầu thế kỷ sau công nguyên, Petra đã được xây dựng từ những nguồn thu thuế của các thương đoàn khi đi ngang qua khu vực nơi đây, Petra nằm ở vị trí ngã tư đường trong hành trình di chuyển từ bán đảo Ả Rập sang địa Trung Hải hay từ Syria sang Ai Cập.


Đến đầu thế kỷ thứ 4, vai trò của Petra đã dần suy yếu, những thương đoàn không còn qua lại nhiều như trước nữa. Một buổi sáng, ngày 19 tháng 5 năm 363 sau công nguyên, một trận động đất xãy ra phá huỷ thành phố khá nặng, và những cư dân của Petra đã dần bỏ đi, một thành phố sầm uất một thời đã bị bỏ hoang và chìm vào quên lãng.

Mãi cho đến năm 1812, J.L Burckhardt, một nhà thám hiểm người Thụy Sỹ đã vén bức màn bí mật, đưa Petra ra thế giới bên ngoài. Năm 1985, Petra được công nhận là di sản văn hoá thế giới bởi UNESCO.

Theo: VYCTravel



SUY NGHĨ VỀ BA BÀI HÁT “LÀNG TÔI” TRONG ÂM NHẠC VIỆT NAM

Trong lịch sử âm nhạc Việt Nam có ba bài hát mang tên Làng tôi thì đều tuyệt mỹ rất hay, bất tử với thời gian. Ba bài đó kể theo thứ tự thời gian thì bài Làng tôi của Văn Cao là có trước nhất, ông sáng tác vào năm 1947, kế đến bài Làng tôi của Hồ Bắc sáng tác năm 1949 và cuối cùng là bài Làng tôi của Chung Quân được sáng tác vào năm 1952, như vậy trong 5 năm chúng ta có ba bài hát hay về làng quê, thật là một sự kiện hiếm có trong làng âm nhạc Việt Nam


Trước tiên xin nói đến bài hát Làng tôi của nhạc sĩ Văn Cao được sáng tác vào năm 1947. Trong một tự truyện của họa sĩ Văn Thao (con trai của nhạc sĩ Văn Cao) đã kề lại, bài “Làng tôi” của Văn Cao sáng tác dành tặng cho người vợ của mình, cũng là món quà cưới duy nhất tặng cho vợ.

Về hoàn cảnh ra đời bài hát, thì đầu năm 1947, sau ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946), Văn Cao cùng các văn nghệ sỹ tản cư đi kháng chiến về đóng quản rải rác tại các thôn xóm thuộc huyện Ứng Hòa - Hà Đông. Trong một lần đi công tác, con đò chở ông xuôi trên sông Đáy, hai bên bờ sông rợp bóng tre xanh dưới nắng chiều nhẹ êm. Bỗng một hồi chuông từ nhà thờ ngân lên…, tiếng chuông tỏa lan trên mặt nước hòa trong tiếng mái chèo khua nước. Tiếng chuông khiến tâm hồn nhạy cảm của Văn Cao bồi hồi sao xuyến đưa ông về với miền quê thân thương đầy ắp những kỷ niệm…từ những cảm xúc đó ông viết ra bài Làng tôi:

Làng tôi xanh bóng tre
Từng tiếng chuông ban chiều
Tiếng chuông nhà thờ rung
Đời đang vui đồng quê yêu dấu
Bóng cau với con thuyền, một dòng sông.

Nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995)

Bài hát mô tả cảnh làng quê Việt Nam đang sống trong yên vui, thanh bình thì bỗng đâu giặc Pháp tràn đến đốt phá, tàn sát người dân lành:

Nhưng thôi rồi còn đâu quê nhà
Ngày giặc Pháp tới làng triệt thôn
Đường ngập bao xương máu tơi bời
Đồng không nhà trống tan hoang.


Với lòng căm thù giặc, quân và dân đã dũng cảm chiến đấu bảo vệ quê hương, tin tưởng mãnh liệt vào ngày mai chiến thắng:

Ngày diệt quân Pháp tan
Là lúc tiếng chuông ngân
Tiếng chuông nhà thờ rung
Làng tôi cùng đoàn quân chiến thắng
Đánh tan lũ quân thù về làng xưa
Dân tưng bừng chặt tre phá cầu
Cùng lập chiến lũy đào hào sâu
Giặc chưa tan chiến đấu không thôi
Đồng quê chào đón ngày mai


Bài hát được viết ở nhịp 6/8, điệu valse nhịp nhàng, sâu lắng, giàu tình cảm, bố cục gọn gàng, chặt chẽ. Nét nhạc chủ đạo phỏng theo nhịp điệu đung đưa của tiếng chuông nhà thờ. Bài hát gồm có 3 lời, như một câu chuyện kể có mở đầu, có dẫn dắt tình tiết và có phần kết thúc đầy lạc quan và tin tưởng vào ngày mai sáng lạng. Từ điệu luân vũ cung đình sang trọng của Châu Âu, Văn Cao đã biến thành một điệu valse bình dị làng quê Việt Nam thật nhẹ nhàng sâu lắng. Có thể nói ông là vua nhạc valse thời thập niên 40 với những bài hát valse nổi tiếng thuộc vào hàng kinh điển Việt Nam như Ngày mùa, Thu cô liêu, Cung đàn xưa, Làng tôi...


Từ những ngày đầu Giải phóng năm 1976 khi lên dạy học vùng Biên giới Tây Ninh tôi đã dạy các em hát bài nầy, các em rất thích thú khi lần đầu biết đến nhạc Cách mạng. Làng tôi của Văn Cao xứng đáng là một bài hát có giá trị, có sức sống lâu bền trong đời sống âm nhạc của nhân dân ta. Nhạc sĩ Văn Cao qua đời vào năm 1996 tại Hà Nội

Bài Làng tôi thứ hai là bài của Hồ Bắc, chỉ sau bài Văn Cao ba năm, bài hát Làng tôi được ông viết năm 1949 tại chiến khu Việt Bắc. Nhạc sĩ Hồ Bắc sinh ngày 8 tháng 10 năm 1930 tại làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn (nay là khu phố Phù Lưu, phường Đông Ngàn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Ông tham gia cách mạng từ rất sớm, 15 tuổi đã là cán bộ Việt Minh phụ trách Thiếu nhi tuyên truyền cách mạng. Sau đó Hồ Bắc vào bộ đội và là cán bộ âm nhạc của Văn công sư đoàn 316, Tổng cục Hậu cần. Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình, ông để lại dấu ấn với nhiều ca khúc nổi tiếng về đề tài Cách mạng, quê hương như: như Làng tôi (1949), Bên kia sông Đuống (phỏng thơ Hoàng Cầm - 1950), Gặt tay nhanh (1952), Giữ mãi tuổi xuân (1954), Giữ biển trời Xô viết Nghệ An (1965), Trên đường Hà Nội (1966) Gửi anh chiến sĩ thông tin đảo (1966), Sài Gòn quật khởi (1968), Bến cảng quê hương tôi (1970)...

Nhạc sĩ Hồ Bắc (1930-2021)

Từ năm 1956, Hồ Bắc chuyển về Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam và làm việc ở đây cho đến khi nghỉ hưu năm 1990. Ở Đài Tiếng nói Việt Nam, Hồ Bắc đã viết một số hợp xướng như Ca ngợi tổ quốc, Dáng đứng Việt Nam, Tổ quốc yêu thương. Ông cũng viết nhạc cho các phim truyện, tài liệu và hoạt hình. Trong đó, nổi bật nhất phải kể đến Bến cảng quê hương tôi. Tác phẩm từng được bình chọn là 1 trong 10 bài hát hay nhất về ngành giao thông vận tải.

Bài hát Làng tôi của Hồ Bắc viết trên cung trưởng nhịp ¾ cấu trúc gồm 3 đoạn. Vô đầu đoạn nhạc sáng lên với những nốt cao vang xa...diễn tả một làng quê thanh bình khuất sau lũy tre mờ xa...

Làng tôi sau lũy tre mờ xa
Tình quê yêu thương những nếp nhà
Làng tôi yên ấm bao ngày qua Những chiều đàn em vui hòa ca
Làng tôi bát ngát cánh đồng mỗi khi thu sang nắng vàng bông lúa chín
Làng mạc vui sống êm đềm,
Người nông dân hăng hái tăng gia cho đời no


Đoạn hai (B) tác giả khéo dùng các dấu lặng đen để diễn tả sự bất ngờ, thảng thốt khi quân giặc tràn về cày xới quê hương hoang tàn 

“Nhưng ngày nào quân cướp tràn qua đốt phá tan hoang quê nhà tôi xơ xác
Có những người chiến sĩ xa quê hương súng bên mình cùng tiến bước lên đường”


và đoạn ba kết thút (C) tác giả hạ cao độ xuống nét nhạc trầm lắng nhưng vẫn thể hiện một hình ảnh chiến thắng hào hùng của bộ đội chiếm đồn giặc trong đêm khuya, giai điệu lôi cuốn tạo hình ảnh âm nhạc rõ nét đầy chất thơ: rộn ràng tiếng quân đi, bóng mẹ già nhìn theo mến thương, những người con xa quê hương, người con gái đón quân về...

Trong đêm tàn đồn giặc cháy kinh hoàng
Nghe xa xa dồn dập đoàn quân tiến
Có những nàng ra đứng bên kia sông
Đón quân về giải phóng quê mình



Đây là bài nhạc valse rất hay của Hồ Bắc, thường thì các bài hát điệu valse lente (chậm) với cấu trúc âm hình các nốt trắng, nốt đen rất dễ tạo sự đơn điệu (monotone) nghe không hấp dẫn dễ nhàm chán nhưng Hồ Bắc đã biến hóa nhịp điệu rất tự nhiên hài hòa và sinh động, lôi cuốn, tác giả đã khéo sử dụng các cung bậc, các quãng lên xuống nghe âm điệu khác nhau nghe rất cuốn hút rất hòa quyện sinh động nhất là đoạn cuối đầy hình ảnh vừa hào hùng vừa lãng mạn “Có những nàng ra đứng bên kia sông, đón quân về giải phóng quê mình”

Ông được trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất (1997) và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001 cho chùm ca khúc "Làng tôi", "Giữ mãi tuổi xuân", "Ca ngợi Tổ quốc" (hợp xướng), "Sài Gòn quật khởi" và "Bến cảng quê hương tôi" (2001). Ông mất ngày 8/02/2021 tại Hà Nội hưởng thọ 92 tuổi

Cuối cùng là bài hát thứ ba, bài Làng tôi của Chung Quân, những giai điệu êm đềm của bài hát đã đi vào tâm thức của biết bao nhiêu thế hệ người Việt. Bài hát Làng Tôi của nhạc sĩ Chung Quân đã có tuổi đời qua 70 năm, ít người biết là được khi sáng tác lúc đó tác giả mới có 16 tuổi. Nhạc sĩ Chung Quân tên thật là Nguyễn Đức Tiến, sinh năm 1936. năm 1952 khi mới 16 tuổi, trong một dịp tình cờ Công ty điện ảnh, tuồng cải lương Kim Chung ở Hà Nội tổ chức dự thi tìm bài hát cho bản nhạc nền bộ phim Kiếp hoa, ông đã viết bài tham gia và bản Làng tôi của ông đã giành được giải, đây một trong số ít những phim Việt Nam thực hiện trong thời kỳ này. Từ đó bài hát nổi tiếng được mọi người yêu thích và lan tỏa đi khắp nơi.

Nhạc sĩ Chung Quân (1936-1988)

Bài hát viết với nhịp 4/4, danh từ hành điệu là Moderato Espressivo (biểu cảm), vô đầu nét nhạc đã hiện lên một làng quê Việt Nam rất quen thuộc thanh bình:

Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau
Bóng tre ru bên mấy hàng cau đồng quê mơ màng


Giai điệu bài hát rất Việt Nam, gần gũi với dân ca khi tác giả khéo dùng các nốt luyến rất tinh tế:

Bài hát có giai điệu êm ả, mềm mại, duyên dáng dựa trên chất liệu âm nhạc dân tộc với lời ca mộc mạc, dung dị, giàu chất thơ:

Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
có sông sâu lờ lững vờn quanh
êm xuôi về Nam.
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau.
Bóng tre ru bên mấy hàng cau.
đồng quê mơ màng!

Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn

Là bao vấn vương tâm hồn
người bốn phương


Đoạn kết bài hát tác giả dùng các biến âm bất thường, sử dụng rất nhuyễn những quãng nghịch thật “đắt” (Quãng 2 trưởng, quãng 2 thứ, quãng 7 thứ...) tạo cảm giác lâng lâng khó tả cho ta thấy một hình ảnh làng quê, dòng sông, cây cầu, lại thấy như nét duyên dáng thiếu nữ che nghiêng nón lá hay tưởng tượng được một điệu múa dân gian mềm mại:

Tuy là tác giả của ca khúc nổi tiếng nhưng Chung Quân không phải là nhạc sĩ chuyên nghiệp mà cả đời ông làm nghề dạy học. Sau năm 1954, Chung Quân theo gia đình vào cư trú ở Sài Gòn. Đang có bài hát nổi như cồn, ông được Bộ Giáo dục Sài Gòn cho dạy nhạc ở các trường Chu Văn An và Nguyễn Trãi. Học trò của ông có những người về sau cũng trở thành những nhạc sĩ nổi tiếng như Ngô Thụy Miên, Vũ Thành An, Nam Lộc…Khi chưa xuất dương du học, ông vẫn dạy nhạc, sau khi có bằng tiến sỹ văn chương ở Anh, ông về nước dạy văn. Giáo sư Chung Quân luôn để lại cho học trò sự tôn kính, quý trọng...

Bản nhạc “Làng Tôi” của Chung Quân.

Tuy rằng bài hát sanh sau đẻ muộn nhưng rất thịnh hành từ trong nước và ngoài nước. Ngày trước từ người trẻ đến người già, từ thính giả ở nông thôn đến thành thị, từ trong nước đến Việt kiều ở nước ngoài ai cũng có thế hát lên: "Làng tôi có cây đa cao ngất tầng xanh, có sông sâu lờ lững vờn quanh êm xuôi về Nam…". nó đã sống trong lòng người yêu nhạc 70 năm qua, cho thấy giá trị tác phẩm như thế nào? bài hát được chơi với nhiều điệu blues, slow, ballad... đều hay

Sau nầy ông tiếp tục dạy học ở Huế cho đến ngày qua đời (năm 1988)

Trong ba bài hát tuyệt mỹ Làng tôi thì theo tôi bài Làng tôi của Chung Quân mang đậm chất Việt Nam hơn, gần gũi với tâm hồn người Việt, có thể nói ba bài hát Làng tôi là một hiện tượng đặc biệt trong lịch sử âm nhạc Việt Nam, thể hiện sự tinh tế của nghệ thuật. Cho đến nay đã qua bảy thập kỷ mà sức hút của các bài hát vẫn còn mạnh mẽ, người ta vẫn dàn dựng nhiều, vẫn hát, vẫn múa, vẫn chơi, vẫn yêu thích như ngày nào...Đúng là những tác phẩm âm nhạc trác tuyệt bất hủ trong làng nhạc Việt Nam.

Nhạc sĩ Nguyễn Quốc Đông



8 BÀI HỌC XƯƠNG MÁU RÚT RA TỪ TAM QUỐC DIỄN NGHĨA, NGƯỜI CÓ CHÍ MUỐN "HỐT BẠC" TUYỆT ĐỐI ĐỪNG BỎ QUA

Tam Quốc Diễn Nghĩa là bộ tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng của Trung Quốc, ẩn chứa nhiều bài học làm người, bài học kinh doanh quý báu. Phàm là người có chí lớn thì tuyệt đối không nên bỏ qua.


Tam Quốc Diễn Nghĩa (tác giả La Quán Trung) là 1 trong tứ đại danh tác của văn học Trung Bộ tiểu thuyết lừng danh này đến nay vẫn được giới mộ văn yêu thích. Thậm chí có người còn coi nó là cuốn sách gối đầu giường bởi chứa đựng rất nhiều bài học sâu sắc trong cuộc sống cũng như kinh doanh. Dưới đây là một số bài học mà những người muốn gây dựng sự nghiệp lớn, không nên bỏ qua.

Kết nghĩa đào viên: Muốn đi xa, đi cùng nhau – Tìm người chung chí hướng

Đối với đọc giả Tam Quốc, sự kiện kết nghĩa vườn đào của Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi có lẽ đã quá quen thuộc. Và, hoàn cảnh của một Tây Thục có phần chắp vá khi đó không khác là mấy so với những gì mà một startup phải trải qua. Xuất phát điểm ban đầu chỉ là ý tưởng. Trong khi Ngụy hay Ngô sở hữu đầy đủ mọi nguồn tài nguyên cần thiết và cả một đế chế “chống lưng” phía sau. Nước Thục không có gì ngoài 3 “nhà đồng sáng lập” với tài sản duy nhất là một ước mơ chung, một lý tưởng chung và một mục tiêu chung.

Khi ấy, dù có tiếng là mang trong mình dòng máu hoàng thất, song Lưu Bị và hai người anh em thực sự không có bất cứ thứ gì ngoài khát vọng khôi phục nhà Hán. Thành thực mà nói, mãi sau trận Xích Bích, Thục mới có khái niệm gọi là kinh đô đóng quân. Và dù nhiều lần Lưu Bị phải nương nhờ dưới trướng người khác, nhưng sợi dây liên kết giữa 3 anh em Lưu – Quan – Trương không vì thế mà bị cắt đứt.

3 Anh em kết nghĩa vườn đào - Ảnh: pinterest

Bài học:

Để khởi nghiệp thành công, các nhà sáng lập nhất thiết phải có chung một mục tiêu và lý tưởng. Bởi vì, khi đi lên từ hai bàn tay trắng, khó khăn và vấp ngã là điều không thể nào tránh khỏi. Việc sở hữu một mục tiêu chung cũng như một lý tưởng chung sẽ giúp cho các thành viên sáng lập đoàn kết hơn trước những tình huống khó khăn hay mâu thuẫn.

Thông thường, mỗi người đều có sự xuất phát khác biệt trong suy nghĩ và cách thức làm việc. Nếu không thể chia sẻ cùng một mục tiêu và lý tưởng, thì chắc chắn những thành viên sáng lập – hạt nhân của startup – không thể đi cùng nhau đến ngày cuối cùng.

Tam cố thảo lư: Sức mạnh của lòng nhẫn nại và biết hạ cái Tôi đúng lúc

Tại Tân Dã, Lưu Bị được nghe về danh tiếng cùng tài năng của Gia Cát Lượng nên đã không kể thân phận mình mà quyết định đích thân đến mời ông ra giúp sức. Hai lần đầu ghé thăm, cả ba anh em đều không gặp Gia Cát Lượng. Trong đó, lần thứ 2, cả ba gặp phải trận tuyết lớn song vẫn cố đến nơi, vì Lưu Bị cho rằng đội gió tuyết mà đi mới tỏ được lòng thành.

Đến lần thứ 3, cả Quan Vũ cũng không vui, ngỏ ý không muốn đến. Song, Lưu Bị nhất định muốn đi. Đến nơi, Lưu Bị kiên nhẫn đứng đợi Gia Cát Lượng ngủ một giấc rồi mới kính cẩn bàn việc lớn. Sau khi nghe Gia Cát Lượng phân tích tình hình khi ấy, Lưu Bị liền quỳ xuống mà khẩn cầu ông giúp đỡ. Cảm động bởi sự chân thành, khiêm tốn của Lưu Bị, Gia Cát Lượng đã nhận lời và sau này giúp Thục đạt được nhiều thành tựu lớn.

Những người làm nên việc lớn đều là những người hiểu thời, hiểu thế, hiểu nên trọng dụng nhân tài như thế nào. Bên cạnh đó, việc vứt bỏ cái Tôi, nghiêm túc học hỏi, tiếp thu những người giỏi giang, tài trí với tấm lòng cầu thị cực kỳ cần thiết.

3 anh em tới chiêu mộ Gia Cát Lượng - Ảnh: pinterest

Dùng người chính xác

Hoàng Trung – một trong “ngũ hổ tướng” của Thục – được Tam Quốc Diễn Nghĩa miêu tả là một lão tướng song có sức địch muôn người. Lưu Bị, vì ý thức được tài năng và sự trung thành của ông, nên vẫn phong Hoàng Trung làm Hậu tướng quân, vị trí ngang hàng với Quan Vũ (Tiền tướng quân), bất chấp tuổi tác của ông đã cao.

Điều này thể hiện rõ nhất trong công việc, đánh giá dựa trên thực lực chứ không phải các yếu tố bên ngoài. Đừng xem thường nhân viên nhiều kinh nghiệm! Kinh nghiệm đã được tích luỹ qua thời gian và thực chiến, vô cùng hữu ích. Cả Gia Cát Lượng lẫn Lưu Bị đều hiểu rằng, để có thể tiếp tục con đường chinh phạt, thì một tướng quân dày dạn kinh nghiệm như Hoàng Trung là vô cùng quan trọng.

Trong kinh doanh, đặc biệt ở vai trò là người làm chủ, nếu bạn bỏ lỡ một nhân tài, là điều vô cùng đáng tiếc. Và tệ hơn nữa là nhân tài ấy rất có thể sẽ đầu quân cho đối thủ của bạn, thì lúc ấy bạn rất dễ gánh thua thiệt.

Cơ hội không nhiều, phải nâng niu!

Tào Tháo từ một viên quan nhỏ, ám sát Đổng Trác bất thành, phải lẩn trốn khắp nơi. Nhưng may nhờ nắm bắt được thời cơ tốt mà xây dựng nên đế chế Tào Ngụy vô cùng hùng mạnh, chia thiên hạ thành thế kiềng ba chân.

Cơ hội chỉ đến với những người nắm bắt lấy nó, phải biết nắm bắt và tận dụng nó để hoàn thành việc lớn.

Hợp tác chiến lược

Trước trận Xích Bích, Nguỵ là quốc gia có thực lực mạnh nhất trong 3 nước và Tào Tháo đang dẫn quân bình định phương Nam với số lượng áp đảo. Trước tình thế đó, Thục nhận ra bản thân quá yếu để có thể chiến đấu một mình. Trong khi đó, Đông Ngô lại là quốc gia sở hữu vị trí then chốt, vì họ vốn quen thuộc với thủy chiến. Thế nên, để đẩy lùi Ngụy, Gia Cát Lượng, bằng tài ngoại giao của mình, đã thuyết phục Đông Ngô liên minh để kháng quân Tào.

Trận Xích Bích - Ảnh: pinterest

Nếu là một startup hay đơn giản là một doanh nghiệp nhỏ, bạn hoàn toàn có thể tự liên hệ mình với tình thế của Tây Thục. Khi kinh doanh, thông thường, doanh nghiệp sẽ luôn gặp phải một đối thủ như Bắc Ngụy – lớn, mạnh hơn về mọi mặt và sẵn sàng thâu tóm toàn bộ thị trường. Nhưng, cũng sẽ có những công ty khác giống như Đông Ngô – quy mô trung bình và có tiềm năng tốt.

Sẽ có lúc, bạn buộc phải chấp nhận sự thật rằng không thể đương đầu trực diện với một đối thủ lớn mà cần thiết phải có kế hoạch liên minh chiến lược. Dù việc thuyết phục một ông chủ như “Đông Ngô” thiết lập quan hệ đối tác là không dễ dàng. Song đó là điều cần thiết để đảm bảo sự sống sót của doanh nghiệp trong cuộc chiến giành thị phần.

Kiêu ngạo là cánh cửa dẫn tới tai hoạ

Quan Vũ, Trương Phi, Mã Tắc, Ngụy Diên…tuy anh dũng, lập được đại công nhưng do kiêu ngạo, khinh địch, chủ quan đều bị chết thảm.

Trong cuộc sống, công việc, hay kinh doanh nên thận trọng khiêm tốn, chủ động đón đầu và vượt qua thử thách, bởi chủ quan kiêu ngạo dễ dẫn đến thất bại và mất tất cả.

Tức giận vô cớ - mầm mống của đại hoạ

Cổ nhân có câu: “Khi cáu giận không được trừng phạt người quá đáng, khi vui mừng không được ban cho người quá nhiều”. Là người không thể không có cảm xúc, nhưng tuyệt đối không được bị cảm xúc chi phối.

Trương Phi uy mãnh chính là một ví dụ điển hình. Mặc dù trong cuộc đời gặp không ít hào quang, nhưng tính cách nóng nảy lại trở thành điểm yếu chết người của Trương Phi.

Trương Phi nóng nảy đánh viên Đốc bưu khiến 3 huynh đệ vừa mới ổn định lại phải lưu vong thiên hạ.

Trương Phi đánh Tào Báo nhạc phụ của Lã Bố khiến Lã Bố từ thế bị động trở thành chủ động chiếm mất Từ Châu, vô cớ đánh mất cơ hội tốt để phát triển.

Nóng như Trương Phi - Ảnh: pinterest

Và lần chí mạng nhất đó là khi nghe tin Quan Vũ bị giết, Trương Phi phẫn nộ nóng lòng muốn báo thù nên sắp xếp cho hai thuộc hạ của mình là Phạm Cương, Trương Đạt một nhiệm vụ không thể hoàn thành: “Trong vòng 3 ngày phải gấp rút chuẩn bị cờ trắng giáp trắng, khởi quân phạt Ngô nếu không sẽ bị trừng trị theo quân lệnh”.

Phạm Cương, Trương Đạt chỉ biện minh đôi câu liền bị đánh đập dã man. Cuối cùng Phạm Cương, Trương Đạt không thể chịu nhẫn nhịn, nhân lúc Trương Phi say rượu ngủ say đã sát hại cắt lấy thủ cấp của Trương Phi chạy trốn sang Ngô xin hàng Tôn Quyền.

Trương Phi là anh hùng cái thế nhưng lại kết thúc trong sự uất ức.

Thực ra, không có ai sinh ra vốn đã tự kiềm chế được cảm xúc của mình. Chỉ có những người thông minh có trí tuệ thực sự mới luôn luôn nhắc nhở mình không được chết trong sự xấu tính.

Thay vì bực tức hãy lấy bực tức làm động lực phấn đấu. Chỉ có kẻ ngốc mới tức giận, còn người thông minh sẽ bình tĩnh vươn lên. Tính cách phải tốt thì phước đức mới bủa vây lấy bạn.

Lữ Bố vì tình yêu mà giết hại cha nuôi - Ảnh: pinterest

Làm đại sự, phải có tầm nhìn

Lữ Bố vì Điêu Thuyền mà giết hại Đổng Trác, cha nuôi của mình, qua đó nhận lấy sự chê bai, khinh bỉ của người đời, và cuối cùng dẫn tới hỏng việc lớn, thân bại danh liệt và chết trong tay của Tào Tháo.

Làm việc lớn không nên để việc nhỏ xen vào, dễ dẫn đến hỏng đại sự.

Theo: Thể thao và Văn hoá

Tuesday, March 28, 2023

SIÊU TRÁI CÂY VIỆT NAM LÀ TRÁI DẠI NƯỚC NGOÀI

Quả tì bà (biwa) phổ biến ở Nhật và Trung Quốc là loại quả bình dân. Nhưng khi về Việt Nam được thổi giá thành "siêu trái cây". Thực sự tác dụng với sức khỏe cao đến đâu?

Tại Nhật và Trung Quốc là loại quả bình dân, nhưng ở Việt Nam lại là siêu trái cây,

Ở Nhật, TQ thì mọc ven đường, về Việt Nam "lên thiên đường"!

Thời gian vừa qua, người "lắm tiền nhiều của" rộ lên trào lưu mua hoa quả ngoại với giá đắt đỏ để thưởng thức như một sự thể hiện đẳng cấp và đánh giá cao tác dụng tuyệt vời của những loại "siêu trái cây" đối với sức khỏe.

Một trong những loại quả được săn đón chính là Biwa, còn gọi là nhót Nhật. Loại quả này ở Trung Quốc khá phổ biến, có tên là Tì bà, Tì xoa hay Pí Pá (tiếng Anh là Loquat), một loại quả tương tự như Thanh trà, Sơn trà của Việt Nam.

Trên thị trường trái cây, chủ yếu là hình thức bán hàng bán trên mạng, giao tận nhà, quả Tì bà được thổi giá lên tới 4 triệu/kg, trong khi tại Nhật Bản hay Trung Quốc, đây chỉ là loài cây trồng ven đường làm bóng mát, mọc hoang trên đồi hoặc trồng đơn giản trong vườn nhà, không có gì đặc biệt.

Quả tì bà được đóng gói đẹp bán trong siêu thị...

Vì sao giá gốc của loại quả này ở Trung Quốc hay Nhật chỉ từ 100- 400 ngàn/kg, mà khi về Việt Nam lại bị thổi giá như vậy? Liệu có tốt đến mức phải bỏ tiền mua với giá cao "ngất ngưởng" không? Chúng ta cùng tìm hiểu.

Giá trị dinh dưỡng của quả tì bà: Như dứa, không hơn gì táo!

Quả Tì bà khi chín có màu vàng cam, vị ngọt pha chua, phần thịt mềm, thanh mát, hơi thơm nhẹ, được Đông y xưa đánh giá là trái cây giàu dinh dưỡng, có lợi cho sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần. Tốt cho người mắc bệnh hô hấp vì tác dụng chữa ho, thanh đàm, nhuận phổi.

Danh y nổi tiếng thời Minh (Trung Quốc) Lý Thời Trân viết trong cuốn " Bản thảo cương mục" rằng, quả tì bà có tác dụng giảm khí trong dạ dày, thanh nhiệt, giải nóng. Vì ăn vào sẽ rất mát nên còn được gọi là "quả chi quán" (đứng đầu trong trái cây), hay hoàng hậu của trái cây. Hàng trăm năm trước, khi hoa quả còn hiếm, tì bà dùng để tặng nhau như một món quà.

Nhưng chúng chỉ là loại quả được trồng làm cảnh, lấy bóng mát.

Tuy nhiên, trong thực tế, tì bà thường được xem là loại trái cây mùa hè, chín rộ trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 6 hàng năm, người dân ăn chúng bình thường như món dứa hay các loại hoa quả địa phương khác.

Nghiên cứu khoa học cho thấy, tì bà chứa các chất dinh dưỡng như carbohydrates, protein, chất béo, cellulose, pectin, carotene, tannin, axit malic, axit citric, kali, phốt pho, sắt, canxi, vitamin A, B, C và một số chất dinh dưỡng khác.

So sánh giữa tì bà và táo, quả tì bà nhỏ hơn táo, phần ruột không đặc như táo, do phần hạt to hơn. Phần thịt của tì bà khoảng 62g tương ứng với phần thịt của táo khoảng 76g. Ví dụ trong 100g tì bà, thì phần ăn được (phần thịt) sẽ chiếm khoảng 65g, còn phần bỏ đi (vỏ, hạt) là khoảng 35g.

Lượng đường có trong tì bà thấp hơn so với táo: Tỉ tệ đường của tì bà là 8,5g/100g, còn của táo là 12,3g/100g. Các chất beta-carotene trong tì bà phong phú hơn táo, cao hơn khoảng 40 lần. Chất beta-carotene này có thể được chuyển đổi thành vitamin A khi vào trong cơ thể. Tuy nhiên, các thành phần canxi, sắt, vitamin E, vitamin B1, vitamin B2 trong tì bà lại không cao như táo - theo nguồn Bách khoa Trung Quốc.

Và quả tỳ bà là một loại quả đặc sản của người dân vùng cao Lạng Sơn và Lào Cai,

Điều này phản ánh một thực tế rằng, các loại trái cây khác nhau sẽ chứa các chất dinh dưỡng khác nhau. Nếu muốn cân bằng dinh dưỡng, chúng ta nên ăn đa dạng, đó là yếu tố quan trọng trong quá trình chăm sóc sức khỏe.

Tóm lại, tì bà là một loại trái cây mùa hè phổ biến, giá cả bình dân, có những tác dụng tốt cho sức khỏe, nhưng không hẳn là đặc biệt so với các loại trái cây khác, kể cả so sánh với táo - loại quả được xem là đứng hàng đầu trong nhóm trái cây.

Theo: Trái Cây Dũng Mập



LOẠI MUỐI ĐẶC BIỆT CỦA BỘ TỘC TRÊN NÚI CAO

Không thể tiếp cận nguồn từ các mỏ hay biển, người dân tộc Apatani ở Ấn Độ đã tự tạo ra một loại gia vị riêng có chức năng và hương vị như muối.


Sau một ngày chăm sóc đồn điền trồng tre của mình, Pussang Punyo trở về nhà để thưởng thức một cốc bia gạo với tapyo. Loại muối nhà làm này thêm chút hương vị đậm đà cho ly đồ uống, cân bằng vị ngọt.

Punyo cho biết: "Thím tôi tự làm nó ở nhà, mất khoảng một tuần. Thím làm cho tôi và bạn bè đến đây vào dịp cuối tuần, để chúng tôi làm pike pila (một món ăn truyền thống rất được người Apatani ưa chuộng)".

Punyo thuộc Apatani, một trong những bộ tộc không du mục cổ xưa nhất Ấn Độ. Họ sống giữa những cánh đồng lúa và đồi xanh của vùng Arunachal Pradesh. Vị trí của nơi này lý giải vì sao thím của Punyo, như nhiều người khác trong bộ tộc, tự làm muối suốt nhiều thế kỷ.

Người Apatani sống trong thung lũng Ziro.

"Chúng tôi sống giữa những ngọn núi, ít tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Khu vực này tách biệt, không có nước mặn hay mỏ muối. Khi biết đến sản phẩm này, chúng tôi không mua nổi. Nó có giá rất cao vì việc đem chúng vào thung lũng Ziro là thử thách với các nhà buôn" - Hibu Rimung, một thành viên khác của bộ tộc, cho biết.

Người Apatani đã tự tìm thứ thay thế cho muối, tạo ra một nguyên liệu không chỉ độc đáo, mà còn giúp họ thoát khỏi những vấn đề sức khỏe thường phổ biến ở những vùng thiếu loại gia vị này. Tapyo không phải là muối theo đúng nghĩa đen, mà được làm từ thực vật, và có vai trò tương tự trên cả phương diện sức khỏe và mùi vị.

Ngày nay, muối không còn quý hiếm, nhưng trong lịch sử, chúng từng được coi như vàng, được đem bán và tích trữ do có khả năng bảo quản thực phẩm và khiến mọi thứ ngon hơn. Trong thực đơn của người Apatani gồm cơm, rau, thịt và cá, không có muối và ít gia vị. Tapyo được trân trọng như muối, được đặt một bên món ăn và sử dụng dè xẻn để tạo hương vị.

Khách mời thử làm tapyo.

Họ phát hiện ra tapyo một cách tình cờ. Rimung cho biết: "Các ngôi nhà Apatani truyền thống thường có chulha (lò 3 tầng) giữa nhà. Sau khi ăn xong, họ sử dụng tro thay thế xà phòng để rửa tay. Nhờ đó, họ nhận ra tro có vị mặn và có thể được dùng để nêm nếm món ăn".

Anh cho biết thêm các nhà nghiên cứu y khoa kết luận rằng việc dùng tro trong món ăn là an toàn, nhưng không nên ăn riêng nó hay theo số lượng lớn.

Tapyo có vẻ đã đem lại lợi ích sức khỏe cho nhiều thế hệ, giúp họ có đủ lượng iốt, một khoáng chất trong muối mà cơ thể không thể tự sản xuất. Không thành viên nào trong bộ tộc bị bướu cổ hay trẻ con bị thiếu khả năng tư duy.

Tuy nhiên, loại gia vị này tốn nhiều thời gian và công sức để làm ra, thường chỉ được sử dụng trong các dịp đặc biệt hay lễ hội.

Trong đó, pepu (một loại cây tương tự tre), lá chuối, kê chân vịt và cây tarii được phơi khô dưới ánh nắng suốt nhiều ngày trước khi đem đốt. Tro được bỏ vào một giỏ lọc hình nón, có tên sader, và từ từ rót nước vào. Nước chảy qua tro và kết tủa lại ở đáy, một quá trình có thể tốn từ 3 ngày đến 2 tuần. Nước tro - hay còn gọi là pila - được để khoảng 3 ngày trước khi đem làm tapyo.

Đầu tiên, một chiếc nồi được đặt lên bếp, thêm nước cơm và đun cho đến khi tạo thành một lớp trong suốt, giúp nước tro không dính vào nồi. Sau đó, người làm sẽ rót từng chút nước cho vào, cho đến khi nó khô và tạo thành một khối giống như đất sét có màu nhạt.

Khối pila được để nguội, bọc trong cỏ và treo trên lò cho khô. Mỗi khi cần dùng, họ sẽ lấy ra từng miếng.

Tapyo phơi khô được dùng làm gia vị cho các món ăn truyền thống.

Hiện nay, chỉ người lớn tuổi biết cách làm tapyo, khi thế hệ trẻ đi đến những thành phố lớn để học tập. Nhưng một số cũng tò mò muốn học.

Khi được hỏi liệu tapyo có biến mất, Rimung trả lời: "Một số người dùng muối mua ở cửa hàng để làm pike pila, nhưng vị không ngon chút nào, cần phải có tapyo. Mọi người đến thung lũng này hay hỏi có thể thử tapyo ở đâu, nên chúng tôi vẫn sẽ tiếp tục làm nó".

Theo Zing
Link tham khảo: