Tuesday, August 29, 2023

CUỘC ĐỜI THOMAS EDISON: KHỔ NẠN LÀ GIẤY BỌC NGOÀI CỦA MÓN QUÀ QUÝ

Đời người chính là lên lên xuống xuống, có nghịch cảnh cũng có thuận cảnh, không bao giờ hết thảy đều là “thuận buồm xuôi gió”. Điều quan trọng chính là kiên trì nhẫn nại đi qua hết thảy khổ nạn, khi ấy chúng ta sẽ đạt được thành tựu mà bản thân cũng không thể ngờ. Thomas Edison là nhà khoa học, nhà sáng chế và một thương nhân nổi danh với rất nhiều thiết bị có ảnh hưởng tới cuộc sống hiện đại. Có một câu chuyện về cách ông đối diện với khổ nạn như thế này.

Tượng Edison thời trẻ tại Michigan. (Ảnh: Matthew Gordon, Wikipedia, CC BY-SA 3.0)

Chiều tối ngày 10/12/1914, một vụ nổ xảy ra tại nhà máy của Thomas Edison ở New Jersey. Một nửa nhà máy chìm trong biển lửa. Các xe cứu hỏa nhanh chóng có mặt để dập tắt đám cháy, nhưng sự hiện diện của những chất hóa học bên trong nhà máy và phòng thí nghiệm đã khiến nỗ lực của họ bị chậm lại. Ngọn lửa đêm hôm đó đã đốt cháy nhiều bản thảo công trình và nguyên mẫu tâm huyết của cuộc đời Edison.

Thomas Edison, chủ nhân của nhà máy, thay vì bật khóc, la hét hay chán nản, đã bình tĩnh đi tới gần cậu con trai Charles, người đang chứng kiến đám cháy. Với một giọng nói trẻ con, Edison bảo cậu con 24 tuổi: “Con đi gọi mẹ và đám bạn lại đây. Cháy lớn thế này đời người khó gặp!” Khi Charles tỏ ý bất bình, Edison đã nói, “Đừng lo con trai. Chúng ta vừa mới dọn dẹp được một đống rác.” Sau này, Charles đã kể về kỷ niệm đó khi viết lại những kỷ niệm về cha vào năm 1961.

Khi một phóng viên của tờ New York Times tới hiện trường, Edison đã nói với anh ta, “Mặc dù đã hơn 67 tuổi, nhưng tôi sẽ bắt đầu lại từ đầu vào ngày mai”. Và quả thật ngay ngày hôm sau, Edison bắt đầu công việc xây dựng lại nhà máy mà không nghỉ ngơi lấy một ngày.

Edison đã mất khoảng 1 triệu USD sau đám cháy (tương đương 23 triệu USD ở thời điểm hiện tại). Công ty bảo hiểm chỉ chi trả một phần ba số tài sản đó. Tuy nhiên, sau khi vay mượn từ Henry Ford, chỉ sau 3 tuần, Edison đã có thể khiến một phần nhà máy khởi động lại.

Toàn cảnh nhà máy của Edison sau vụ cháy năm 1914. (Ảnh: National Park Service)

Thomas Edison không truy cứu trách nhiệm hay đuổi việc bất cứ công nhân hay kỹ sư nào. Nhân viên của ông làm việc tăng ca, và chỉ một năm sau, nhà máy của Edison đã đạt doanh thu 10 triệu USD.

Người phương Đông thời xưa nói rằng Thượng Thiên khi ban tặng một lễ vật tốt đẹp cho một người nào đó, thường sẽ dùng “khổ nạn” làm giấy gói bọc ngoài. Từ ngoài mà nhìn có lẽ sẽ thấy món quà đó là một sự đau khổ, xấu xí, nhưng nếu có thể chịu khổ, dụng tâm đi mở nó ra thì có thể hiểu được nhã ý tốt đẹp của Thượng Thiên và thật sự nhận được món quà đặc biệt ấy.

Khi còn nhỏ, chúng ta tập đi trên đường, đương nhiên sẽ không thể tránh khỏi việc bị vấp ngã, nhưng chúng ta cũng không vì thế mà không dám tiếp tục đi nữa. Vì sao lại như vậy? Chính là bởi vì lúc nhỏ, người ta căn bản không coi “vấp ngã” là sự thất bại, không coi “vấp ngã” là một sự ngăn trở. Vì vậy mà trẻ con sẽ vẫn tiếp tập đi, vẫn tiếp tục tập chạy, càng đi thì càng thành thạo hơn, càng chạy thì càng vững vàng.

Đời người cũng là như thế, kinh nghiệm càng nhiều, tự nhiên sẽ biết được nên ứng phó như thế nào. Còn nếu luôn sợ hãi, không dám làm gì thì sẽ không thể tích lũy được kinh nghiệm. Khi chưa từng có loại kinh nghiệm tương tự thì gặp sự tình không thuận sẽ hoảng hốt, thất kinh, không biết nên xử lý ra sao. Cũng giống như lần đầu tiên gây dựng sự nghiệp bị thất bại, đầu tư thất bại thì có những người sẽ không dám nếm trải lần nữa trong đời. Nhưng có một số người, càng ở vào lúc khó khăn lại càng không ngừng dũng mãnh mà bước tiếp, không ngừng nhìn lại mình, kiểm nghiệm lại và cuối cùng đã thành công.

(Ảnh: Vizu, ЖЗЛ book, Wikipedia, Public Domain)

Khi đối mặt và liễu giải nhân sinh, con người không nên kết luận quá sớm, đừng dùng sự tốt xấu nhất thời để phán định một việc là may mắn hay bất hạnh.

Khi chúng ta thay đổi tâm thái, hoán đổi góc nhìn để xem xét một sự việc nào đó, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng ở rất nhiều sự tình mà chúng ta cho là không hoàn mỹ, cuối cùng lại có sự an bài khác của Thượng Thiên, khiến nó trở thành một loại may mắn. Đúng như câu thơ cổ: “Sơn trùng thủy phục nghi vô lộ, Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn”, núi cùng nước tận ta cho rằng đã hết lối, nhưng sau bóng liễu hoa tươi kia lại chợt thấy một thôn làng xinh đẹp.

Theo Vision Times tiếng Trung, Business Insider
An Hòa biên tập / Nguồn: trithucvn

Monday, August 28, 2023

TẠI SAO BẾP TRƯỞNG NHÀ HÀNG, KHÁCH SẠN LỚN THƯỜNG LÀ NAM GIỚI?

Thực tế phụ nữ chiếm đa số tại các mục nấu ăn trên truyền hình, trổ tài nấu tại gia hoặc trong trường quay, làm chủ nhà ăn ở căng tin trường học, công ty,…nhưng lại hiếm khi giữ vị trí bếp trưởng trong các nhà hàng, khách sạn lớn.


Nguyên nhân tất nhiên không phải từ sự phân biệt giới tính, thậm chí xét về sự khéo léo hay thẩm mĩ một nữ đầu bếp cũng không hề thua kém một đầu bếp nam. Tuy nhiên theo chuyên trang Hoteljob, công việc này có những đặc thù mà bếp trường là nam giới sẽ đáp ứng tốt hơn.

Nam giới có sức khỏe tốt hơn

Nghề bếp gắn liền với những công việc nặng nhọc và vô cùng áp lực. Bạn sẽ thấy rõ điều này ở vị trí bếp trưởng khi hàng ngày phải làm việc từ 12-14 giờ (thường là ban đêm), đứng liên tục ít nhất 5-6 tiếng; điều hành hàng chục nhân viên; chỉ đạo, phân công công việc chế biến phục vụ hàng trăm thực khách; trực tiếp thao tác với những cái chảo nặng vài kg trong một không gian nóng bức…

Chỉ khi có sức khỏe tốt, có sự dẻo dai, nhanh nhẹn, làm việc cường độ cao, chịu được áp lực công việc, một người mới đủ bản lĩnh để vượt qua những khó khăn trong nghề. Đây là lý do tiên quyết lý giải thắc mắc tại sao hầu hết bếp trưởng nhà hàng, khách sạn lớn đều là nam.


Nam giới có khả năng tập trung cao độ trong công việc

Rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, khi trưởng thành, phần lớn nam giới sẽ có khả năng làm một việc ở mức tập trung cao độ; trong khi nữ giới dù có thể làm một lúc rất nhiều việc nhưng sẽ bị chi phối bởi nhiều vấn đề nhỏ nhặt khác và không hoàn toàn tập trung vào công việc đang làm.

Trong khi đó, sự tập trung ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng của việc bếp núc. Chỉ cần một chút lơ là, chểnh mảng, đầu bếp cũng có thể lỡ tay làm hư cả món ăn đặc sản của nhà hàng (món ăn quá mặn, bị cháy khét hoặc trang trí không đẹp,…). Ngoài ra, các chuyên gia cũng khẳng định rằng, nam giới một khi đã đặt niềm đam mê vào một lĩnh vực gì thì quyết tâm của họ sẽ mạnh mẽ hơn và ít bị tác động của ngoại cảnh.

Nam giới không có những "ngày khó ở"

Nghe có vẻ như đùa vui nhưng sự thật những "ngày khó ở" của phụ nữ ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ công việc và chất lượng món ăn. Người đầu bếp luôn cần có khẩu vị cân bằng trong chế biến để đảm bảo chất lượng món ăn, điều này sẽ không đáp ứng được ở những nữ đầu bếp nếu họ đang trong kỳ kinh nguyệt.

Ngoài ra, phụ nữ cũng còn phải trải qua giai đoạn sinh đẻ, điều này khiến hoạt động sản xuất của nhà hàng bị đình trệ trong một khoảng thời gian rất dài và nhà hàng sẽ phải tốn thời gian cũng như chi phí để tìm kiếm và đào tạo người thay thế.

Vấn đề nữa là nữ giới thường tóc rất dài và dễ rụng hơn nam giới, do đó sẽ tăng khả năng rơi rớt vào món ăn cả trong sơ chế nguyên liệu cũng như khi chế biến, trang trí.


Nam giới có xu hướng tập trung phát triển sự nghiệp

Nấu ăn là nghề của cảm hứng sáng tạo và kỹ thuật điêu luyện. Trong khi phụ nữ thường có xu hướng sống thiên về gia đình, thích nấu những món ăn ngon cho chồng, con thưởng thức và chờ đợi lời khen từ họ; thì nam giới lại muốn chứng minh khả năng bản thân với những người xung quanh, vì thế họ đặt 99% mối quan tâm của mình cho sự nghiệp xã hội.

Điều này lý giải vì sao càng lớn, phụ nữ càng có ý muốn lui về chăm sóc tổ ấm; còn nam giới lại muốn vươn xa hơn trên con đường sự nghiệp, trở thành bếp trưởng trong các nhà hàng, khách sạn lớn.

Nhật Anh / Theo: Trí Thức Trẻ

TÔI YÊU HUẾ CHỚ KHÔNG PHẢI YÊU NGƯỜI HUẾ

Anh Đỗ, Tôi đã ở Huế từ trong bụng mẹ đến cuối năm thứ hai mươi tám của cuộc đời. Huế đã mang thai tôi, đẻ ra tôi cho đến khi tôi đi lạc vào Sài-gòn. Từ hơn hai năm nay tôi ở nhà thuê, nói tiếng Bắc, ăn chả giò, ăn bún riêu, canh chua cá dấm, thịt bò vò viên, mía ghim…


Hôm nào anh vào Sài-gòn tôi sẽ đãi anh ăn một bữa thịt bò bảy món (mọi lần gọi là “bò bụng” vì ăn vào đầy một bụng thì thôi). Đàn ông ở Sài-gòn ăn chua dữ lắm anh Đỗ ạ! có nhiều ông vác cả trái cốc dầm cam thảo vừa đi vừa ăn lêu nghêu dọc đường.

Tôi vào Sài-gòn đã hơn hai năm mà vẫn còn hụt chân chưa đứng vững được, nghĩa là: tôi chưa hề viết được một chữ về cái Sài-gòn này. Khiếp quá! một lỗ hổng lớn… Còn nhớ thời gian ở Huế, khi tôi mang ý định bỏ Huế vào Sài-gòn ra nói với anh thì anh đã làm ra như cản như không: Chị chuồn hả? mình ở Huế có ai làm gì mình được?

Mình ở Huế có ai làm gì mình được … nghe thấm thía, thấm như nước mắm thấm vào cá nục kho khô trong trách đất. Tôi vào Sài-gòn đâu phải là một cuộc tháo thân, vì đâu có biết trước rằng trong tương lai Huế sẽ trải qua vụ đổ huyết rợn gáy lịch sử là cái biến cố Mậu-thân vừa rồi. Hồi đó chúng ta đã chẳng bàn với nhau: Cộng-sản chắc không chịu đánh Huế đâu? chẳng thêm cho họ được chút gì cả. Cái gọi là quân sự đâu phải là đất thần kinh nhà mình. Rồi chúng ta nhìn Sài-gòn, nhìn Nha-trang, nhìn Đà-nẵng bằng cặp mắt lo ngại… Bây giờ mới biết Huế đã đứng thật gần lịch sử!


Tôi cam đoan không có người Huế nào yêu Huế bằng tôi mặc dầu tôi đã bỏ Huế mà đi gần ba năm nay. Tôi là một trong những người yêu Huế nhất với cái bằng chứng: tôi chỉ viết được lai rai vài ba tác phẩm thôi mà cuốn nào cũng nói về Huế. Huế! Huế! hễ cứ cầm cây bút lên là Huế! (Tôi yêu Huế chứ không phải yêu người Huế). Phải là một thứ tình đậm đặc, kéo xiết khốc ác và cưỡng bức thế nào tôi mới viết về Huế hết mình như vậy! Mặc dầu có những người Huế không bằng lòng tôi viết ra một cái-Huế-như-vậy! Nhưng văn chương là viết những điều mình nghĩ và không làm dáng. Tôi chỉ đặt vấn đề là tôi thương Huế mà thôi! Bỏ Huế mà đi lòng nhớ trời, nhớ khoảng thiên nhiên. Tôi không yêu một thứ vẻ đẹp cấm cung, một thứ vẻ đẹp hạn hẹp, mà yêu bao la cả một khoảng thiên nhiên. Huế đẹp từ một vũng nước đọng bên đường đến lượng cả con Hương-giang, từ cọng rau muống bờ hồ đến cây phượng già xanh lục. Có nhiều hôm đi xe đạp lên cầu ga nhìn dãy núi lam phía sau cầu Bạch-hổ mịt mịt mùng mùng mà tưởng cái phần hồn của từng kiếp người cũng có thể dăng dài keo kéo dãy như vậy! Những đêm mùa đông, những con “ệng oạng” kê mõm khoắc khoải kêu khan từ những ao rau muống… Kêu chi mà khổ, mà trầm thống! Thêm vào đó, tiếng rao hàng dài lê lết: mua trứng lộn! mua trứng lộn… Trời ơi! tiếng kêu của miếng ăn sao mà buồn đến thế! nhức xương buốt tủy mất! Tưởng tượng mở cửa kêu vào chắc mình phải ôm cô hàng trứng mà khóc ngất! Rồi cái quán cơm, quán cơm cũng mang tên Âm-phủ ăn dưới ngọn đèn tù mù… và con đường Âm-hồn, tiếng chuông chùa Diệu-đế… Cực lòng quá Huế ơi! Tôi đi! Tôi đi… ở với Huế buồn lắm… Vào Sài-gòn họa may có một nụ cười…

Buổi sáng tôi đi, tôi ôm gói áo quần xuống phi trường Phú-bài. Huế của tôi, tôi biết, không bao giờ khóc người đi và cũng chẳng bao giờ mừng người trở lại. Huế của tôi không yêu ai mà cũng chẳng phản bội ai.


Anh Đỗ, khi chân vừa chấm đất Sài-gòn, tôi nhìn lại chiếc tàu bay mà lòng co quắp đau đớn: thôi! mất Huế hẳn rồi. Tôi thương con đường Phan Chu Trinh với ngôi nhà thềm trắng, bồn hoa violette, hai cây dừa xiêm giắt những gói muối, và bến sông thân yêu trước mặt. Tôi biết rằng rồi đây người Huế sẽ lần lần từng người từng người rủ nhau bỏ đi. Vì đó là mảnh đất tán chứ không phải tụ. Trời ơi! ra đi như vậy thì còn để ai ở lại mà ngắm, còn để ai ở lại mà làm người mộng áo trắng qua cầu, tóc thề vương vương con đò Thừa-phủ. Ngày chưa chia ly, ngày Huế chưa chia ly với tôi và với những người khác, dân cư cũng đã quá thưa thớt, nhà cửa cũng ít ỏi… Năm 1963, hai chiếc taxi Sài-gòn ra Huế chạy rước khách kiếm sống nhưng không kiếm được chút đỉnh gì đành phải quay lui lại Sài-gòn. Anh Đỗ, Huế thừa lẽ sống nhưng lại thiếu kế sống. Thành phố rất tinh thần, chỗ đất rất thần kinh. Những ai không chịu được nỗi buồn cưỡng bức, những ai giá áo túi cơm đều tìm không ra lẽ để sống với Huế. Tôi đã ra đi vì sợ nỗi buồn cưỡng bức, vì không ngửi thấy nguồn hương tinh thần dành an ủi những tâm hồn không bao giờ chịu xa Huế. Chỉ có những người chung thủy với Huế nhất mới ngửi thấy nguồn hương tinh thần đó. Vì rằng ngày xưa khi vua đầu triều nhà Nguyễn đang tâm niệm tìm một chỗ đất đóng đô thì thần linh hiện lên bảo: “hãy đứng bên trên đầu tổ quốc, hãy thắp một cây hương rồi lần theo phương Nam mà đi xuống, đến chỗ nào cây hương tắt thì hãy đóng đô.” Vì lẽ đó Huế là đất thần kinh. Kinh đô thần linh đối với những kẻ đeo chiếc mũi phàm tục chai sạn không ngửi thấy nguồn hương tinh thần đầy an ủi là một giải đất buồn phải không anh Đỗ. Buồn quá mà tôi đi phải không anh Đỗ? phải không Huế?

Anh Đỗ! chào anh.

Túy Hồng
Văn số Xuân Kỷ Dậu 1969

TÔ CANH HẸ

Một chuyện kể hàng tuần mà hồi nhỏ tôi học trong sách Tập đọc lớp Năm (lớp Một bây giờ) là Tô canh hẹ. Chuyện kể đại khái thế này…


Một người bị tội phải giam trong ngục. Lính gác đưa vào cho người tù tô canh hẹ. Anh ta cầm tô canh không ăn, chỉ nức nở khóc. Anh lính hỏi vì sao, người tù trả lời, ở nhà tôi thích canh hẹ, mẹ tôi thường nấu cho tôi ăn. Nhìn tô canh hẹ này, tôi chắc mẹ tôi nấu canh lặn lội đường xa đến thăm nuôi tôi. Tôi chưa báo hiếu ngày nào, lại để mẹ già khổ cực vì tôi thế này, nên tôi khóc.

Truyện chỉ có thế, hai trang: một trang in chữ to, trang kia là hình minh họa. Tôi còn nhớ tranh vẽ người lính mặc đồ như lính thú ngày xưa, đội nón lá đứng nhìn, còn người tù ngồi bệt dưới đất, mặc áo rách, một chân co lên, hai tay bưng tô canh trước mặt, nước mắt rơi lã chã.

Thuở đó tôi không biết rau hẹ thế nào, đọc truyện thấy cảm động nên nài nỉ mẹ tôi nấu canh hẹ ăn thử. Mẹ tôi ngạc nhiên, thằng con thường ngày một cọng hành cũng hớt ra khỏi tô canh, nay tự nhiên lại đòi ăn rau.

Bà nấu canh hẹ với đậu hũ, tôm khô. Vị chẳng có gì đặc biệt, nhưng mùi dễ chịu. Tôi ăn thấy tạm được, không thích lắm. Lỡ đòi ăn thì phải ráng nuốt cho hết, không bày tỏ khen chê một lời. Cái dại “sĩ diện” không bày tỏ khen chê cũng là chuyện di họa. Sau này mỗi khi thấy tôi ít ăn, bà lại nấu canh hẹ. Tôi miễn cưỡng ăn vì hiểu tạo sao bà lại nấu, nhưng bà lại cho tôi ăn canh hẹ cả tuần đến độ tôi nài nỉ làm món khác.

Sau này lớn khôn, đi làm rồi, đôi khi mẹ tôi lại hỏi, có ăn canh hẹ không, bà nấu. Tôi lại miễn cưỡng gật đầu. Già yếu, không làm gì được nữa, thì mẹ tôi nhắc nhở người nhà, nấu canh hẹ cho tôi ăn. Lúc nào bà cũng nghĩ canh hẹ là món ăn tôi thích, mà thích từ hồi nhỏ.

Hồi nhỏ tôi thường ra ngoài phá phách, hàng xóm đến nhà mắng vốn. Cũng có khi trong lớp tôi bị phạt, đứa bạn ghé nhà mách lẻo. Gặp tình huống này mẹ tôi rất nhanh nhẩu phạt tôi ngay, chứ không chờ “bạo chúa” ra tay. Ba tôi làm cái roi điện, ông gọi thế, thật ra roi làm bằng dây điện cứng, xoắn mấy sợi lại với nhau. Ông bảo, đánh một roi thành bốn, năm roi. Tôi sợ chết khiếp.

Nhưng “bạo chúa” chỉ bạo… miệng chứ chưa bao giờ xử thằng con bằng roi điện, chỉ có mẹ tôi phết vào mông tôi bằng cán chổi. Gãi ngứa! Có lần bà mạnh tay. Tôi khóc òa. Đau không đáng kể, nhưng ấm ức, vì sao hôm nay lại đánh mạnh thế! Tôi giận. Hôm sau bà dỗ dành tôi bằng canh hẹ. Giận một buổi không ăn cơm cũng đủ biến tô canh hẹ thành sơn hào hải vị.

Đời phong ba khó nói hết… Sống trong một xã hội mà hành lang pháp luật rộng rãi, ngút ngàn như đường cao tốc, con người thường xuyên phải đối mặt với chuẩn mực đạo đức khác thường, và gọi đó là “thức thời để thích nghi”, nhưng thích nghi ở mức nào đây? Tự mình biện hộ cho chính mình thì ngôn ngữ lập luận thuyết phục vô cùng. Mỗi khi rơi vào tình huống như thế, tôi lại nhớ đến hình ảnh người tù bưng tô canh hẹ…


Một độc giả trẻ khi đọc Ông thầy Việt Văn trong tập tùy bút Sài Gòn, một góc ký ức đã viết email hỏi tôi, làm thế nào để giữ vững cái nguyên tắc sống đó. Biết trả lời thế nào, khi bản thân tôi vẫn phải hàng ngày hàng giờ, vất vả tự tranh đấu với bản thân về cái “thức thời để thích nghi”. Tôi không nhắc đến câu chuyện tô canh hẹ vì tôi biết, tuổi thơ của bạn trẻ đấy đã học những gì khác tôi được học…

Câu chuyện Tô canh hẹ khởi đầu là một status tôi viết trên facebook cá nhân. Một bạn đọc, chắc cùng thế hệ với tôi, đã comment bổ sung, anh lính gác nghe chuyện, thấy cảm động, trình lên quan, và quan đã tha tội cho người tù.

Tôi cũng nhớ mang máng như thế, nhưng mấu chốt câu chuyện chính là, bà mẹ nấu canh hẹ và nước mắt người tù. Phải có sự giao cảm vô hình giữa hai điều đó mới đánh động vào tâm hồn non nớt của bọn trẻ lớp Năm như tôi và các bạn cùng thời. Để rồi ở tuổi “già” này lại thử thách nhau trí nhớ về những tình tiết nhỏ nhặt trong sách giáo khoa tiểu học.

Ngày trước, ở miền Nam, sách giáo khoa được tự do biên soạn theo chương trình khung của Bộ Giáo dục, dài chừng hai trang giấy cho mỗi môn học, mỗi cấp lớp. Sách nào viết hay thì thầy cô giới thiệu với phụ huynh, chứ không có người chủ biên hay nhóm biên soạn, rồi thêm hội đồng đánh giá, thẩm định bạc tỷ…

Thật ra, Trung tâm Học liệu thuộc Bộ Giáo dục cũng nhờ người biên soạn sách giáo khoa, xuất bản. Sách in đẹp, bìa dày, giấy trắng, giá rẻ vì được viện trợ từ cơ quan văn hóa Hoa Kỳ, nhưng… bán ế, vì chẳng học sinh nào dùng, và cũng không có thầy cô nào giới thiệu nên dùng.

Quyển Tập đọc lớp Năm đó, tôi nhớ mang máng do nhà xuất bản tư nhân Thanh Đạm nằm dưới chân cầu Trương Minh Giảng ấn hành, nhưng không nhớ tác giả biên soạn là ai. Còn nhiều câu chuyện hàng tuần khác tương tự như Tô canh hẹ trong sách này, đến giờ vẫn còn trong đầu tôi như in, thậm chí cả hình minh họa.


Sách giáo khoa bây giờ là mỏ vàng của các nhà “giáo dục” (lớn) với đủ thứ lý sự cao siêu trong đấy. Những thứ cao siêu này sẽ đeo đuổi cuộc đời học sinh sau này. Khi nào chúng hiểu ra sự thật về “mặt trời chân lý”, thì lúc đó mặt trời không còn “chói qua” tim, mà sẽ đốt cháy con tim.

Sau khi mẹ tôi mất, có khi chợt nghĩ đến tô canh hẹ, và cái “di họa” ân cần của bà, tôi ngậm ngùi thở dài. Tôi tự hỏi câu chuyện Tô canh hẹ và người tù đã gây ấn tượng và kéo dài suốt sáu mươi năm sau trong đầu một đứa trẻ như thế, có xứng đáng nằm trong sách giáo khoa lớp Một không? Có phải là một trong những chỉ tiêu giáo dục nhân cách cho trẻ không? Tôi không đủ tư cách trả lời câu hỏi này.

Vũ Thế Thành
(trích “những thằng già nhớ Mẹ”, tái bản 2022)

VẠCH LỖI CỦA NGƯỜI KHÁC THÌ DỄ, TÌM LỖI CỦA MÌNH MỚI KHÓ THAY

Một người đàn ông lo sợ vợ mình bị điếc nên đã gọi điện cho bác sĩ xin tư vấn: “Bác sĩ, vợ tôi có dấu hiệu của bệnh điếc. Cô ấy thường xuyên không nghe thấy tôi nói gì. Chúng tôi phải làm gì bây giờ?”.


Người bác sĩ đưa ra một bài kiểm tra nhỏ: “Vậy à, trước khi tìm đến với chúng tôi, anh có thể thử một bài kiểm tra ở nhà. Đầu tiên, anh hãy đứng cách xa cô ấy 12 mét, nói bằng giọng bình thường. Nếu cô ấy không nghe thấy, hãy tiến lại gần đến 9 mét, 6 mét rồi 3 mét… cho đến khi anh nghe thấy cô ấy trả lời”.

Tối hôm đó, người vợ đang nấu ăn dưới bếp còn anh ấy đang ở trong phòng ngủ. “Khoảng cách này là đủ 12 mét rồi, hãy xem chuyện gì đang xảy ra”, người đàn ông nghĩ. Sau đó anh ta nói bằng giọng bình thường: “Em yêu, tối nay chúng ta ăn gì?”. Không một lời đáp!

Sau đó, anh ta tiến lại gần bếp hơn, cách chỗ vợ khoảng 9 mét và lặp lại: “Em yêu, tối nay chúng ta ăn gì?”. Vẫn không có câu trả lời.

Anh ta tiến lại phòng bếp, đứng ở cửa cách chỗ vợ khoảng 6 mét: “Em yêu, tối nay chúng ta ăn gì?”. Cô vợ vẫn đáp trả bằng sự im lặng và miệt mài nấu nướng.

Lần này, anh tiến sát lại vợ, cách khoảng 3 mét: “Em yêu, tối nay chúng ta ăn gì?”. Không một tín hiệu cho thấy cô ấy nghe thấy.

Mất kiên nhẫn, người đàn ông tiến đến đứng ngay sau lưng vợ, bực mình hỏi: “Này em, tối nay chúng ta ăn gì?”.

Cô vợ cau có trả lời: “Đây là lần thứ 5 em trả lời là thịt gà!”


Một người đi trên đường chẳng may vấp phải hòn đá, sẽ bực mình trách hòn đá vô duyên hay kẻ nào vô ý ném hòn đá ra đây, chứ chẳng mảy may trách mình nhìn đường không cẩn thận. Bảo toàn bản thân, tìm lỗi của người, oán giận và trách móc, một người bình thường sẽ hành xử theo lối ấy.

Phạm Thuần Nhân, một học giả lỗi lạc thời nhà Tống thường xuyên nhắc nhở các con mình rằng: “Dù là kẻ ngu dốt nhất, người ấy cũng có thể là hết sức sáng suốt khi quở trách người khác. Còn người thông minh cực kỳ cũng có thể vô cùng hồ đồ trong lúc tự tha thứ cho lỗi lầm của bản thân mình. Vì vậy, nếu các con có thể tự xét tìm những lỗi lầm của bản thân như khi phán xét lỗi lầm của người khác, và khoan dung cho người khác như khi tha thứ cho chính bản thân mình, thì các con chắc chắn có thể trở thành bậc Thánh hiền”.


Chừng nào một người còn chăm chăm nhìn vào lỗi lầm của người khác, chừng ấy anh ta còn bực tức oán hận, sẽ dễ nói lời bất hảo, làm việc bất hảo, tổn đức và tạo nghiệp. Chỉ khi một người xoay cái nhìn sắc như dao vào bản thân mình, anh ta mới có thể nhận ra khuyết điểm của bản thân và tiến bộ. Để làm được điều này, một người cần có quyết tâm hướng Thiện và dũng khí lớn.

An Nhiên / Theo: Tinh Hoa

VÌ SAO NGƯỜI XƯA LẠI SỬ DỤNG “TRÂU SẮT” VÀ “GÀ ĐÁ” ĐỂ TRẤN HỒNG THỦY?

Dọc bờ sông đào Vận Hà và hồ Hồng Trạch ở Giang Tô Trung Quốc ngày nay vẫn thường trông thấy những con trâu sắt để trấn lũ lụt. Chúng đều nằm phủ phục, ngẩng đầu giương sừng, hai mắt trợn tròn, trông rất uy nghiêm. Tại sao người xưa lại dùng trâu sắt để trấn lũ lụt?


Trước tiên, trâu sắt được đúc bằng kim loại, do đó tiên thiên có thuộc tính hành Kim. Trong học thuyết ngũ hành cổ đại thì "Kim khắc Mộc", mà Mộc là ứng với phương Đông, Thần thú phương Đông là rồng, thế nên, trâu sắt khắc giao long, có thể khiến giao long phải ẩn tàng. Giao long thường thích làm sóng tạo gió, đem lũ lụt đến, mà Kim lại khiến nó ẩn tàng, nên tránh được lũ lụt xảy ra.

Thứ hai là trâu thuộc hành Thổ. Sách "Giả Tử" có viết: "Trâu là súc sinh trung tâm". Phương vị tương ứng trong ngũ hành là "Đông Mộc, Nam Hỏa, Tây Kim, Bắc Thủy, Trung Thổ". Trâu là súc sinh trung tâm, đương nhiên thuộc hành Thổ, mà Thổ khắc Thủy - đất có thể chặn nước.

Ngoài ra, trong Thần thoại Trung Quốc cổ đại, trâu được coi là tượng trưng cho trái đất và là tải thể của trái đất. "Chu lễ" có viết: "Trâu có thể chở các loại đất". Trong một số Thần thoại xưa của một số dân tộc thì trâu chính là bệ đỡ trái đất, trái đất được trâu dùng sừng nâng lên, khi một chiếc sừng mệt rồi thì sẽ chuyển sang sừng bên kia. Trong lúc chuyển đổi giữa 2 sừng này thì trái đất sẽ rung động, đó chính là động đất.

Trong Thần thoại Trung Quốc cổ đại, trâu được coi là tượng trưng cho trái đất và là tải thể của trái đất. (Ảnh: Pxhere)

Ở An Dương, Hà Nam đã từng khai quật được vật hoa văn hình 2 con thú được điêu khắc bằng đá hoa cương thời nhà Ân Thương, dùng trâu làm bệ đỡ, biểu thị chức năng chở đất của trâu. Vì trâu là Thần thú, do đó được phú cho công năng trấn thủy quái, chế ngự giao long.

Thuyết về đúc trâu sắt có thể chế ngự lũ lụt đại thể bắt đầu từ thời nhà Đường. Thời nhà Minh còn có truyền thuyết Lưu Bá Ôn trấn lũ lụt bằng "9 trâu 2 hổ 1 gà". Thời nhà Thanh, mọi người ở rất nhiều địa phương đều tin vào thuyết này, thế nên họ đã đúc những con trâu sắt đặt ở ven sông hồ để phòng chống lũ lụt.

Ở những khu vực lũ lụt nghiêm trọng, ngoài đúc trâu sắt để chế ngự lũ lụt ra, còn thường phối hợp với một con gà trống bằng đá vươn cổ gáy. Tương truyền gà trống đá cũng có thể chế ngự lũ lụt, Tại sao? Bởi vì gà trống có thể cảm ứng với mặt trời, là động vật chứa đầy dương khí, có linh khí. Gà trống gáy có nghĩa là trời bắt đầu trở nên sáng, mặt trời mọc lên, những thứ âm tính không tốt sẽ biến mất, thế nên trong dân gian luôn coi gà trống là vật trấn xua đuổi quỷ, trừ âm. Lũ lụt là do thủy quái gây ra, có tính âm, thế nên gà trống có thể ngăn chặn lũ lụt xảy ra.

Bởi vì gà trống có thể cảm ứng với mặt trời, là động vật chứa đầy dương khí, có linh khí. (Ảnh: Pixabay)

Truyền thuyết 9 trâu 2 hổ 1 gà

Thời ban đầu hồ Hồng Trạch rất yên tĩnh. Tương truyền một năm nọ có một con yêu long đến hồ Hồng Trạch, từ đó hồ Hồng Trạch và những ngọn núi xanh ven hồ đã mất đi sự yên bình tĩnh lặng.

Con yêu long này lên trời thành mây, đột nhiên lại xuống nước thành sương mù, khiến nước hồ dâng lên, lật những con thuyền lớn, kéo đứt lưới đánh cá, thỉnh thoảng lại đến những quả núi xanh tác oai tác quái, khiến ngư dân trên hồ và bách tính ven hồ trong lòng hoảng sợ, luôn miệng kêu khổ, ngày đêm đều không được yên.

Lão Tử thấy yêu long làm nhiều điều ác bèn khuyên giải, yêu long không biết hối cải, thế là Lão Tử liền dâng tấu lên Ngọc Đế. Ngọc Đế sai 2 con hổ và 10 con trâu xuống đấu với yêu long, đấu bẩy bẩy 49 ngày thì yêu long bại trận, nó điên cuồng chui xuống long cung ở đáy nước.

Đấu bẩy bẩy 49 ngày thì yêu long bại trận, nó điên cuồng chui xuống long cung ở đáy nước. (Ảnh: Pixabay)

Sau này Ngọc Đế lại sai một con gà trống lớn đứng ở nơi cao nhất, hễ thấy yêu long xuất hiện liền gáy lên, đánh thức hổ và trâu, không để yêu long lại xuất hiện tạo sóng làm gió nữa.

Sau khi Lão Tử luyện đan đắc Đạo, ông cưỡi một con trâu xanh bay về trời. Hồ Hồng Trạch chỉ còn lại 9 con trâu và 2 con hổ với 1 con gà để bảo vệ núi rừng, bảo vệ hồ Hồng Trạch không còn bị tai họa nữa.

Theo truyền thuyết này, khi bức tường đá của con đê hồ Hồng Trạch hoàn thành, vào những năm Khang Hy, mọi người đã dùng sắt đúc thành 9 trâu 2 hổ 1 gà, lần lượt yên vị ở những nơi hiểm yếu trên con đê lớn này. Hiện nay chỉ còn lại 5 con trâu sắt được lưu lại, và trở thành một trong những điểm tham quan du lịch của hồ Hồng Trạch.

Trung Hòa / Theo: ntdtv

Sunday, August 27, 2023

CUỘC SỐNG CỦA NHỮNG MỸ NHÂN HOÀNG CUNG TRONG BỘ TRANH "12 MỸ NHÂN THỜI UNG CHÍNH"

Trong bộ tranh 12 mỹ nhân này, mỗi bức tranh miêu tả một người phụ nữ. Trong đó có người chơi đồ cổ, có người đọc sách, có người đang ngắm bươm bướm bay… Tất cả đều toát ra dáng vẻ u nhàn trang nhã, và xung quanh họ cũng tràn đầy bầu không khí của văn nhân.

Hoàng đế Ung Chính

Người hiện đại phải đối diện với đủ loại ồn ào phiền não của xã hội hiện đại, thế nên ngày càng nhiều người tìm hiểu phương pháp để thân tâm an hòa của người xưa. Để thân tâm an hòa thì cần điều chỉnh phương thức sống để đạt được 3 loại hài hòa gồm: Hài hòa giữa con người với thiên nhiên; hài hòa giữa con người với con người; hài hòa giữa thân và tâm.

Để xem phụ nữ xưa sống như thế nào, chúng ta có thể tìm hiểu thông qua bộ tranh “12 mỹ nhân thời Ung Chính” (雍正十二美人图 Ung Chính thập nhị mỹ nhân đồ)

Bức tranh thứ nhất: Trầm tư bên tủ đồ cổ


Trong 12 bức tranh mỹ nhân thì bức tranh này vô cùng hoa lệ. Một người phụ nữ trầm tư ngồi trên chiếc ghế trúc, cô mặc chiếc áo đỏ bên trong, bên ngoài khoác chiếc áo khoác màu gỗ giáng hương, trước ngực thêu bông hoa màu chàm cũng rất bắt mắt.

Từ tay áo lộ ra bàn tay ngọc ngà nhỏ nhắn, nước da trắng nõn nà, ngón tay như những búp măng nhỏ nhắn xinh xắn, những chiếc móng tay óng ánh sáng bóng. Tay trái cô cầm chiếc khăn màu ngọc bích. Bàn tay và chiếc khăn tôn vẻ đẹp lẫn nhau.

Trong bức tranh, cô gái đang hơi cúi đầu nhìn về phía trước, Trước mặt cô là chiếc bàn sơn đen vẽ hoa văn màu vàng kim, bên trên bày mấy món đồ cổ. Một chiếc bình hồ lô nhỏ cắm một cành mai. Có một chiếc nghiên mực bằng đá tùng hoa, chiếc bình dẹt và các đồ khác. Bên cạnh cô còn có một chiếc tủ trưng bày đồ cổ, trưng bày những đồ cổ quý giá, đó là những đồ gia dụng rất được ưa chuộng thời nhà Thanh. Những đồ vật trưng bày trong tủ đồ cổ không phải là đồ sứ bình thường, mà là những đồ thờ dùng trong cúng tế thời nhà Thương và nhà Chu. Ví dụ: phía trên có chiếc chuông và một chiếc bình rượu bằng đồng thanh thời nhà Thương và nhà Chu. Bình rượu này là đồ thờ đựng rượu, rất thịnh hành vào cuối thời nhà Thương và đầu thời nhà Chu, được làm bằng đồng thanh. Ngoài ra còn có chiếc bồn chơi thủy tiên màu thiên thanh bằng gốm Nhữ Diêu thời nhà Tống, một chiếc bình 4 chân bằng bạch ngọc, một chiếc bình tăng mạo bằng đá quý màu đỏ, và chiếc chậu 3 chân màu lam nhạt bằng gốm Nhữ Diêu đời Tống. Những món đồ cổ này mang hơi thở của hoàng gia, không những tăng thêm tính chân thực của bức tranh, mà còn làm nổi bật người phụ nữ trong tranh là người có tu dưỡng văn hóa rất cao, bác cổ thông kim.

Bức tranh thứ 2: đứng cầm ngọc như ý


Trong chiếc sân kiểu truyền thống, một cô gái tay cầm ngọc như ý, đứng trước giậu tre ngắm hoa. Trước mặt cô là những đóa hoa đang đua nhau khoe sắc: những bông mẫu đơn tím, hồng, trắng, đỏ, quả là đẹp như gấm thêu. Hoa mẫu đơn với dáng vẻ ung dung hoa lệ, hương thơm ngan ngát, được mọi người tôn làm “vua của trăm hoa”, và trở thành biểu tượng của cát tường phú quý và phồn vinh thịnh vượng. Cùng với ngọc như ý hình linh chi, nó diễn tả nguyện vọng “phú quý như ý”.

Bức tranh thứ 3: Cầm đồng hồ bên hoa cúc


Cô gái trong bức tranh mặc chiếc áo ngoài màu lam nhạt, toát lên vẻ thanh khiết cao nhã. Những đóa hoa cúc trong bình hoa trên bàn đang nở đón sương thu, trên bức tường phía sau treo những câu thơ của Đổng Kỳ Xương đời Minh. Trên tay cô gái cầm một chiếc đồng hồ tráng men tinh xảo. Trên chiếc kỷ gần đó đặt bộ hỗn thiên nghi (một dụng cụ xem thiên văn thời xưa). Những đồ Tây này đã trở thành thời thượng trong hoàng cung.

Bức tranh thứ 4: Ngồi tràng kỷ ngắm chim


Cô gái trong bức tranh mặc áo khoác ngoài màu đỏ ngồi trên tràng kỷ. Cô nhìn ra ngoài cửa sổ, có 2 chú chim hỷ tước đang hót líu lo ríu rít. Trên chiếc bình phong phía sau cô viết đầy những chữ Thọ với ý nghĩa cầu mong trường thọ. Trên chiếc tràng kỷ là chiếc bình dẹt gốm Nhữ Diêu mô phỏng đời Tống, trong đó có cắm cành tùng và linh chi. Tay cô gái đang chơi với chiếc vòng hợp bích liên châu, say sưa ngắm nhìn chim hỷ tước ngoài cửa sổ.

Bức tranh thứ 5: Khâu áo dưới ánh nến


Gió mát nhè nhẹ, nến hồng đong đưa, dưới ánh nến vàng, bàn tay ngọc ngà mỹ nhân đang nhẹ nhàng đường kim mũi chỉ. Cô gái búi tóc kiểu hồi tâm. Vại nước ngoài cửa sổ là một “hồ sen” đang nở. Trong “hồ sen” có mấy chú cá vàng đang tung tăng vui đùa. Quả là một cảnh tượng tươi đẹp an nhàn tự tại của một buổi chiều hè lúc sẩm tối. Những chú cá vàng màu đỏ trong chậu sen đặt trên giá màu đỏ, với bông sen hồng và chiếc áo đỏ trên tay cô gái cùng với một chú dơi đỏ bên ngoài cửa sổ và cây nến đỏ trên bàn đã hình thành hiệu ứng màu sắc đối ứng. Con dơi chữ Hán là “biên bức”, gần âm với chữ “phúc”, nên dơi ngụ ý là có phúc khí. Trong phòng treo chiếc đèn lồng vẽ chú hươu. Hươu chữ Hán là “lộc”, đồng âm với chữ “lộc”, nêu hươu ngụ ý là có lộc. Trên đèn lồng cũng có hình Tiên hạc, mà Tiên hạc mang ý nghĩa trường thọ. Thế nên bộ 3 “dơi, hươu, Tiên hạc” tổ hợp lại thành “phúc lộc thọ”, mang ngụ ý tốt đẹp rằng “hồng phúc sẽ đến”.

Bức tranh thứ 6: Tựa cửa ngắm trúc


Một phụ nữ nép bên cửa ngắm nhìn sắc xuân đầy sân vườn, trong sân có các chậu hoa cây cảnh như mai du diệp màu đỏ, hoa đào trắng đang nở rộ, hoa nguyệt quế màu vàng nhạt. Trong chậu huệ lan cao thấp đan xen có cây linh chi nhỏ. Linh chi và hoa lan là hai loại hương thảo, trong thơ ca xưa có viết rằng “Chi lan sinh ư u cốc, bất dĩ vô nhân nhi bất phương”, nghĩa là “linh chi và hoa lan đều sinh trưởng ở thung lũng núi sâu không dấu chân người, nhưng chúng không vì không có người biết đến chúng, thưởng thức chúng mà không tỏa hương thơm”, thể hiện một phẩm chất cao khiết.

Bức tranh thứ 7: Bên lò sưởi ngắm tuyết


Cô gái ngồi bên cửa sổ, cô nhẹ nàng vén rèm, ngắm tuyết thưởng mai. Ngoài cửa, lá trúc xanh biếc bám tuyết trắng, mấy cành mai nở trong tuyết, cơn gió xuân nhẹ, dường như nghe tiếng tuyết rơi xào xạc trên lá trúc, ngửi thấy hương mai thoang thoảng bay trong không khí lạnh thanh khiết. Cô gái trong bức tranh kéo chiếc rèm màu xanh lục nhạt, cùng hoa văn màu xanh lục trên y phục cô gái và lá trúc xanh lục ngoài cửa tạo nên hiệu ứng đối ứng màu sắc. Trên chiếc án trong nhà có đặt chậu tùng cảnh. Tùng xanh cùng với hoa mai, trúc bên ngoài cửa sổ cấu thành 3 người bạn trong giá lạnh “Tuế hàn tam hữu”. Trong mùa đông giá rét, chúng vẫn sinh trưởng xanh tươi, được ví với tiết tháo cao khiết của người quân tử. Bên cạnh cô gái có một chiếc bồn đốt than, khiến cả căn phòng được sưởi ấm, mang lại mấy phần sắc xuân ấm áp.

Bức tranh thứ 8: Thưởng trà dưới bóng cây ngô đồng


Dưới gốc cây ngô đồng xum xuê, một mỹ nhân đang thưởng trà. Cô búi tóc hồi tâm, trước trán đeo dải băng trang sức hình chữ Thọ. Tay trái cô cầm chén trà men hồng, tay phải cầm chiếc quạt tròn, cô ngồi trên chiếc ghế đôn hình tang trống màu lam ngọc, loại ghế này còn được gọi là đôn tang trống vì hình dáng nói như một chiếc trống. Loại đôn tang trống này cho đến ngày nay vẫn là loại hình đồ nội thất cổ điển thường thấy. Trên chiếc giá sách bên cạnh đặt ngay ngắn những quyển sách đóng bằng chỉ.

Trà vốn là vật bình thường, nhưng do thịnh hành thưởng trà luận Đạo, nên đã trở thành sự việc rất phong nhã của giới văn nhân sĩ đại phu qua các triều đại. Giá sách trong bức tranh bày đầy thư tịch, không chỉ tăng thêm không khí thư hương nho nhã, mà còn tương hỗ với chén trà trên tay cô gái, làm nổi bật lên sự tu dưỡng văn hóa đẹp - đọc sách thưởng trà của cô.

Bức tranh thứ 9: Cầm sách trầm tư


Một cô gái khoác chiếc áo ngoài màu xanh lục nhạt, ngồi trên chiếc đôn me xanh lục phủ vải thêu. Ngoài cửa sổ là mấy cây trúc xanh. Trên chiếc lá ba tiêu trên tường có viết một bài thơ rằng: “Anh đào khẩu tiểu liễu yêu chi, tà ỷ xuân phong bán lãn thời. Nhất chủng tâm tình phí tiêu khiển, tương biên dục triển hựu ngưng tư”.

Tạm dịch: “Miệng tựa anh đào thân liễu mảnh, trễ nải ngồi chơi với gió xuân. Một chút tâm tình hoài tiêu khiển, sách vàng muốn mở lại trầm tư”.

Trên tay cô gái cầm một cuốn thi tập. Hai cành hoa hồng nhạt nở rộ cắm trong chiếc bình hoa trên bàn.

Bức tranh thứ 10: Soi gương trang điểm


Cô gái trong tranh mặc chiếc áo ngoài màu xanh lam ngọc, ngồi trên giường. Tay trái cô cầm chiếc gương bằng đồng thanh, tay phải đặt trên chiếc lò sưởi màu vàng để sưởi ấm. Thần sắc cô chăm chú nhìn vào trong gương, tự tán thưởng: lông mày lá liễu, mắt phượng hồng, miệng anh đào, lớp phấn trên gương mặt nhạt như có như không. Phía sau cô treo bức tranh chữ, nét chữ vô cùng phóng khoáng trôi chảy, lạc khoản là “Phá Trần cư sỹ đề”. “Phá Trần cư sỹ” chính là nhã hiệu của Ung Chính trước khi đăng cơ tự đặt cho mình, bày tỏ bản thân thanh tâm quả dục, không màng công danh vinh nhục thế gian. Phía dưới còn có 2 ấn chương “Hồ trung thiên” và “Viên minh chủ nhân”. Sau này, có người khảo chứng hai ấn chương này không phải là vẽ lên, suy đoán có khả năng khi đó Ung Chính trực tiếp dùng ấn chương của mình đóng dấu lên.

Bức tranh thứ 11: Ngắm bướm ngày hè


Cô gái trong tranh dựa nhẹ lên chiếc bàn trúc, trên bài có một cái quạt gấp, bên cạnh chiếc quạt là một bàn cờ. Trong chiếc bình hoa hình củ hành trên bàn có cắm một cành hoa dành dành và một cành huệ lan, mang ý nghĩa là tâm như hoa huệ, phẩm chất như hoa lan, phảng phất như từ bức tranh có thể ngửi thấy mùi thanh hương dìu dịu của những bông hoa. Bên ngoài lan can là mấy cây trúc xanh, hài hòa với ngọn giả sơn được tạo ra bởi đá Thái Hồ. Bên cạnh giả sơn là những bông hoa hiên đang nở rộ và mấy con bướm đang dập dờn múa. Cô gái trong tranh tay cầm một chiếc hồ lô nhỏ. Hồ lô là thực vật nhiều hạt, ngụ ý “nhiều con”. Hoa hiên ngoài cửa sổ, cũng có tên là vong ưu thảo. Trong “Thảo mộc ký” có viết rằng: “Phụ nữ có thai, đeo hoa này ắt sinh con trai”. Họa sĩ đã khéo léo phối hợp hoa hiên và hồ lô trong bức tranh, mang hàm ý cầu mong con trai.

Bức tranh thứ 12: Lần tràng hạt ngắm mèo


Một cô gái ngồi ngay ngắn bên cửa sổ, cô hơi tựa vào chiếc bàn, một tay nhàn nhã lần tràng hạt. Cô đang ngắm hai chú mèo nhỏ. Phía sau cô là một chiếc đồng hồ tráng men, đây là món đồ gia dụng từ phương Tây, thời đó là hàng xa xỉ. Bên cạnh là giá sách làm bằng thân cây tự nhiên, trên giá là những thư tịch quý được đóng tinh xảo bày ngay ngắn. Trên bàn là chiếc đỉnh hình chữ nhật đúc bằng đồng dùng để xông hương, và một chiếc ấn chương bằng đá Thanh Điền.

12 mỹ nhân trong 12 bức họa đều đoan trang yên tĩnh, thần thái bất phàm, dáng vẻ yêu kiều, dung nhan tú lệ. Họ không chỉ tinh thông cầm kỳ thư họa, còn bác cổ thông kim, am hiểu cổ vật, đồng thời còn chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây. Có thể thấy tu dưỡng văn hóa của các cô gái trong tranh rất cao.

Bộ tranh 12 mỹ nhân này, mỗi bức cao 1.8m, rộng 1m, kích thường gần như bằng người thật. Theo khảo cứu của các chuyên gia, đương thời Ung Chính chưa đăng cơ, sống ở Viên Minh Viên, những bức tranh này ban đầu treo ở trên bình phong trong phòng đọc sách Thâm Liễu ở Viên Minh Viên, sau này, Ung Chính sai người gỡ những bức tranh này xuống, tu bổ lại rồi cất giữ ở trong cung.

Những mỹ nhân trong tranh là ai? Rất nhiều học giả khảo cứu suy đoán, có người cho rằng họ có thể là phi tử của Ung Chính. Cũng có người nói họ là những mỹ nhân lý tưởng hóa, hư cấu. Họ không chỉ có dung mạo đẹp, mà còn có tu dưỡng học thức tốt, là hình tượng phụ nữ lý tưởng trong tâm Ung Chính. Cũng có người cho rằng, có lẽ những mỹ nhân trong tranh là hóa thân của Ung Chính. Ông hy vọng quốc gia dưới sự trị vì của ông, ai nấy đều có cuộc sống yên tĩnh dễ chịu, không chỉ có đời sống vật chất phong phú, mà còn có thế giới tinh thần tốt đẹp.

Bộ tranh “12 mỹ nhân thời Ung Chính” dùng thủ pháp tả thực sống động, miêu tả tinh tế các phương diện cuộc sống khuê các của những mỹ nhân. Từ trang phục tinh xảo đẹp đẽ, hoa văn thêu tươi đẹp, đồ gia dụng tinh tế, đồ văn phòng, sách và đồ chơi tinh xảo, hoa cỏ, động thực vật sống động, khiến người xem cảm nhận được không khí hoàng gia trang nhã, yên tĩnh, thấy được diện mạo cuộc sống của những phụ nữ quý tộc đời nhà Thanh.

Hoàng Mai
Theo: Epoch Times
Link tham khảo: