Sunday, April 28, 2024

PHONG THỦY TẠI TÂM

Tướng mạo không phải sinh ra là cố định, mà nó thay đổi tùy theo tâm thái của mỗi người.


Vẻ ngoài của một người không chỉ có dung mạo, mà còn là cử chỉ, lời nói, và thái độ của một người. Những biểu hiện bên ngoài đó thể hiện phần nào phẩm đức và tính cách cá nhân. Thông qua đó, những điểm này gián tiếp cho thấy phúc phần và vận mệnh của một người.

Theo quan niệm của người xưa, “tâm” là nhân của “tướng”, “tướng” là quả của “tâm”. Nếu một người giữ được nội tâm ngay thẳng, đoan chính, lạc quan thì dễ có tinh thần tốt, sức khỏe ổn định và dung mạo tươi sáng.

Dưới đây là đặc điểm của những người dễ gặp may mắn, hạnh phúc trong cuộc sống.

1. Ngoại hình tươi tắn, ánh mắt sáng

Một người có ngoại hình tươi tắn thường đem lại cảm giác tích cực, thân thiện và vui vẻ cho mọi người xung quanh. Bên cạnh đó, con mắt là bộ phận quan trọng và đặc biệt nhất, xét theo nhân tướng học. Cái thần và nội tâm của một người chủ yếu được phản ánh qua ánh mắt.

Có những điều được thể hiện trực tiếp qua ánh mắt, dù che đậy bằng bao thứ hào nhoáng bề ngoài cũng không có ích gì. Một đôi mắt sáng, đẹp đẽ thường mang đến cảm giác thoải mái với người đối diện.

Theo người xưa, nét mặt càng hiền hòa, tươi sáng thì khả năng khí vận càng nhiều. Người như vậy thường hòa đồng và có nhiều mối quan hệ bạn bè, mọi người chủ động kết thân, vận may và phúc khí theo đó mà đến.


2. Nụ cười lạc quan

Theo nhân tướng học, môi không chỉ là cơ quan xuất nạp mà còn là “cánh cửa” của lưỡi. Thông qua tướng miệng, người ta phán đoán được phần nào sự nghiệp, tính cách và vận mệnh cuộc đời. Nó là phương thức, khẩu đức của ngôn ngữ, là khí chất của tính cách, là hệ số tham khảo quan trọng của ý chí. Cho nên người đi trước mới nói, họa hay phúc đều từ miệng mà ra.

Một người muốn thay đổi tướng miệng để đạt vận may, phúc khí tốt hơn thì trước hết phải tu khẩu, nói lời khiêm tốn, không buông tiếng thị phi và cay độc.

Bên cạnh đó, người ta thường nói: “Người hay cười sẽ gặp nhiều may mắn”. Vì thế, nếu một người muốn có được phúc khí, trước tiên người đó phải học cách suy nghĩ tích cực và lan tỏa những năng lượng tích cực cho môi trường xung quanh.

Nếu ví đôi mắt là cửa sổ tâm hồn thì nụ cười có thể coi là “mặt tiền”. Trong mọi hoàn cảnh, nụ cười có thể trở thành phương pháp hữu hiệu nhất để thể hiện cái tâm bên trong.

Người có nụ cười lạc quan tạo cho người đối diện cảm giác ấm áp thoải mái, tích cực vui vẻ, khiến ai nhìn thấy cũng muốn tới gần và làm thân. Những người luôn mỉm cười sẽ có một thái độ lạc quan và tích cực đối với cuộc sống, và phước lành sẽ tự nhiên đi cùng với họ!

Vì vậy, khi gặp khó khăn rắc rối, hãy dùng thái độ tích cực và lạc quan để đối mặt và tìm cách xử lý vấn đề. Nụ cười lạc quan sẽ không thể giúp bạn thay đổi cục diện ngay lập tức, nhưng sẽ giải tỏa một phần gánh nặng áp lực trên vai.

3. Cẩn trọng và khiêm tốn

Một suy nghĩ bất chợt nảy ra trong lòng có thể không khiến tướng mạo thay đổi. Nhưng nhiều suy nghĩ lặp đi lặp lại ít nhiều sẽ để lại dấu ấn trong vẻ bề ngoài mà một người thể hiện. Do đó, người trong lòng giữ sự khiêm tốn và cẩn trọng thì thần thái sẽ có xu hướng ôn hòa, khiêm nhường.


Bất luận là ai, phàm là kiêu ngạo tự mãn thì không dễ đạt được sự thỏa mãn. Còn người biết khiêm nhường, nhìn nhận cái sai của bản thân sẽ biết cách bù đắp thiếu hụt cá nhân, giống như vùng đất trũng thì nước sẽ dễ dàng chảy tới, tươi tốt và đầy đủ.

Người khôn ngoan biết giữ lại cái tôi để có thể học hỏi và mở rộng tâm trí với mọi điều xung quanh. Ở địa vị cao mà giữ được lòng khiêm tốn thì được sự kính trọng. Ở địa vị thấp mà có lòng khiêm tốn cũng thể hiện sự đoan chính, ngay thẳng của cá nhân.

Người giữ được tâm thái như vậy tự nhiên sẽ có tướng mạo ôn hòa, dễ có được cảm tình từ mọi người xung quanh.

Thùy Anh / Theo: Sohu

Saturday, April 27, 2024

NHỮNG MÓN ĂN BẠN NHẤT ĐỊNH PHẢI THỬ KHI DU LỊCH Ý

Nước Ý mang đến cho nhân loại rất nhiều đóng góp về văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc, bên cạnh đó là một nền ẩm thực phong phú. Pizza tươi, mì ống sốt kem, rượu vang… đây thực sự là điểm đến châu Âu tuyệt vời cho những người sành ăn.


Dưới đây là 10+ món ăn bạn nhất định phải thử khi du lịch Ý:

1. Cơm risotto

Risotto là món ăn miền Bắc nước Ý, có thể được pha trộn với nhiều loại nguyên liệu. Đặc điểm quan trọng của cơm risotto là được nấu chín chậm trong nước dùng. Nếu nấu chưa tới cơm sẽ bị nát, còn quá lửa cơm sẽ bị khô. Cơm risotto truyền thống được làm từ gạo, rượu vang trắng, phô mai parmesan, bơ và hành tây, nhưng nhiều cửa hàng cũng tự tạo ra công thức mới với nhiều loại nguyên liệu như nấm, tỏi, tôm hùm, tôm và các loại rau khác.

(Ảnh: Shutterstock)

2. Kem Gelato

Gelato là một món tráng miệng phổ biến nhất ở Ý. Thành phần chính của gelato không phải là cream mà là sữa nguyên chất, thậm chí là sữa gầy đã tách toàn bộ hàm lượng kem béo. Kem thông thường hay được bảo quản trong nhiệt độ khoảng âm 25 độ C, còn gelato được giữ ở âm 14 độ C nên khi ăn không có cảm giác lạnh buốt, mà có vị mát lạnh tan dần, mềm mượt. Gelato được xem như món ăn tốt cho sức khỏe bởi nguyên liệu từ nguồn gốc thiên nhiên, hàm lượng béo thấp và nhiệt độ ấm hơn kem.

(Ảnh: Shutterstock)

3. Pizza

Pizza ở Ý được làm bằng các nguyên liệu tươi và đơn giản. Ngày nay pizza xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nguyên liệu đa dạng không giới hạn nhưng nó vẫn được xem là món ăn đặc trưng của ẩm thực Ý, đặc biệt là ở vùng Napoli (pizza napoletana). Pizza chính hãng ở Ý được làm từ các thành phần đơn giản, không thể thiếu cà chua và phô mai mozzarella.

(Ảnh: Shutterstock)

4. Prosciutto

Prosciutto là giăm bông khô, thường được thái lát mỏng, ăn như món khai vị. Mỗi vùng miền ở Ý sẽ có một biến thể riêng của giăm bông nhưng Prosciutto di Parma và Prosciutto di San Daniele là phổ biến nhất ở đất nước này.

(Ảnh: Shutterstock)

5. Cacio e pepe

Cacio e pepe là một món ăn đơn giản của Ý được làm từ phô mai và hạt tiêu. Nếu dịch sang tiếng Anh, bạn sẽ thấy đây là cách viết khác của “phô mai và hạt tiêu”. Trong cacio e pepe chỉ có 4 thành phần: bơ, mì ống, hạt tiêu và phô mai (pecorino hoặc parmesan). Đây là một trong các món mì ống cổ điển của Rome nên bạn sẽ thấy nó xuất hiện trong mọi thực đơn. Felice a Testaccio là một nhà hàng nổi tiếng với món ăn này.

(Ảnh: Shutterstock)

6. Nấm truffle

Nấm truffle là một nguyên liệu cực kỳ sang trọng và đắt tiền, những đầu bếp hàng đầu cũng rất cẩn trọng khi dùng nấm để nấu ăn. Du khách muốn nếm thử các món ăn cao cấp nên dừng chân ở Alba, nơi được biết đến với nấm cục trắng nổi tiếng thế giới. Ở đây, bạn sẽ tìm thấy các món mì ống hàng đầu có chứa truffle, không rẻ nhưng rất đáng để trải nghiệm.

(Ảnh: Shutterstock)

7. Gnocchi

Nơi tốt nhất ở Ý để thử món gnocchi là Verona. Gnocchi là một loạt các loại mì ống bao gồm các loại bánh bao bột dày, nhỏ và mềm khác nhau có thể được làm từ semolina, bột mì thông thường, trứng, phô mai, khoai tây, vụn bánh mì, bột ngô hoặc các thành phần tương tự, và có thể bao gồm cả hương vị của các loại thảo mộc, rau quả, ca cao hoặc mận khô.

(Ảnh: Pixabay)

8. Ribollita

Được tạo ra lần đầu tiên ở Tuscany, Ribollita là món hầm cổ điển đã tồn tại hàng trăm năm ở Ý. Món ăn này đơn giản đến ngạc nhiên. Nguyên liệu gồm rau xanh, đậu, rau thơm, dầu ô liu và phô mai Parmesan cùng một vài miếng bánh mì được xếp xung quanh.

(Ảnh: Wikipedia)

9. Osso Buco

Osso Buco là một món thịt hầm (khoanh dày), làm từ thịt bê om với rượu, nước dùng và rau (như hành tây, cà rốt và cà chua). Nó thường được trang trí với gremolata, phục vụ kèm với risotto hoặc polenta. Tùy vùng miền sẽ có cách kết hợp khác nhau.

(Ảnh: Wikipedia)

10. Limoncello

Thường được phục vụ như một thức uống sau bữa tối, Limoncello là loại rượu nổi tiếng đến từ bờ biển Amalfi, Sorrento và Capri. Limoncello có các thành phần gồm đường, vỏ chanh, vodka và nước, luôn được phục vụ khi đã ướp lạnh.

(Ảnh: Alex B / Pixabay)

11. Carbonara

“Tứ đại mì ống” của Rome chính là carbonara, cacio e pepe, gricia và amatriciana. Sốt carbonara đem đến cho thực khách trải nghiệm béo ngậy nhờ hỗn hợp sốt gồm phô mai tươi và trứng gà. Có 2 loại phô mai thường được dùng phổ biến nhất trong carbonara là Pecorino Romano và Parmigiano – Reggiano. Hai loại phô mai này đã có sẵn vị mặn, nên các đầu bếp ít khi phải nêm thêm gia vị gì vào sốt trừ hạt tiêu đen xay nhỏ. Thịt ba chỉ xông khói là phiên bản truyền thống, còn ngày nay người ta còn cho cả bò, gà, nấm, tôm, cá hồi vào món carbonara.

(Ảnh: Wow Phochiangrak / Pixabay)

12. Tiramisu

Tiramisu là món ngọt có mặt trong tất cả các quán cà phê. Nhưng đã một lần đến Ý, nhất định bạn phải thử hương vị chính gốc. Tiramisu là món tráng miệng cổ điển của Ý, là sự kết hợp hương vị của cà phê, ca cao và phô mai mascarpone. Tiramisu là một trong những món ăn tráng miệng phổ biến nhất của Ý.

(Ảnh: Andrey Cojocaru / Pixabay)

13. Polenta

Polenta có mặt từ thời La Mã cổ đại. Món ăn làm từ bột ngô dần dần trở thành mặt hàng chủ lực ở Milan. Bạn có thể ăn polenta như cháo hoặc dạng bánh mì cắt lát. Món ăn này được phục vụ đi kèm với thịt hay ăn riêng đều được.

(Ảnh: Wikipedia)

Minh Minh / Theo: trithucvn

TUẾ MỘ QUY NAM SƠN - MẠNH HẠO NHIÊN


Tuế mộ quy Nam Sơn - Mạnh Hạo Nhiên

Bắc khuyết hưu thướng thư,
Nam sơn quy tệ lư.
Bất tài minh chủ khí,
Đa bệnh cố nhân sơ.
Bạch phát thôi niên lão,
Thanh dương bức tuế trừ.
Vĩnh hoài sầu bất mị,
Tùng nguyệt dạ song hư.


歲暮歸南山 - 孟浩然

北闕休上書
南山歸敝廬
不才明主棄
多病故人疏
白髮催年老
青陽逼歲除
永懷愁不寐
松月夜窗虛


Tuổi già về núi Chung Nam
(Dịch thơ: Trần Trọng Kim)

Đền rồng thôi chớ dâng thư,
Nam Sơn miền ấy, thảo lư trở về.
Bất tài minh chúa dùng chi,
Bệnh nhiều, bạn cũ ai hề tới lui.
Tuổi già, đầu bạc đốc thôi,
Xuân xanh mấy chốc, năm đòi hết đi.
Nỗi sầu trằn trọc đêm khuya,
Cành thông bóng nguyệt lả kề trước song.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Mạnh Hạo Nhiên 孟浩然 (689-740) tên Hạo, tự Hạo Nhiên, hiệu Mạnh sơn nhân 孟山人, người Tương Dương (nay là huyện Tương Dương tỉnh Hồ Bắc), cùng thời với Trần Tử Ngang.

Ông từng làm quan, nhưng ông không thích hợp với đám quý tộc lạm quyền, nên rất thích nơi nhàn cư. Ông lui về ở ẩn, tìm lấy đời sống tao nhã ở Long Môn quê nhà và trong cuộc du ngoạn ở những nơi xa, khắp vùng đất. Ông đi nhiều, thấy nhiều, mạnh thơ đầy ắp những khí chất hồn hậu của thiên nhiên núi sông diễm lệ, hợp với tâm hồn trong sáng của mình.

Ông để lại 260 bài thơ. Có thể gọi thơ ông là thơ sơn thuỷ được. Thơ năm chữ của ông luật lệ nghiêm cách, phóng khoáng, hùng tráng, rất nổi tiếng. Bài Lâm Động Đình được nhiều người truyền tụng.

Nguồn: Thi Viện



CHIÊM NGƯỠNG BỨC TRANH TRÊN TRẦN CHÁNH ĐIỆN LỚN NHẤT VIỆT NAM

Chùa Diệu Đế với kiến trúc độc đáo, cùng bức tranh “Cửu long ẩn vân”. Đây là bức tranh vẽ trên trần chính điện xưa và lớn nhất Việt Nam.


Chùa Diệu Đế tọa lạc trên đường Bạch Đằng, phường Gia Hội, TP Huế. Đây là một trong ba ngôi Quốc tự của triều Nguyễn còn tồn tại đến ngày nay (cùng với chùa Thiên Mụ và chùa Thánh Duyên).


Chùa trước đây là nhà cũ của Phúc quốc công (ông ngoại của vua Thiệu Trị), nơi vua Thiệu Trị ra đời năm 1807. Sau khi lên ngôi, năm 1844, nhà vua đã cho xây dựng chùa và sắc phong làm Quốc tự.


Trải qua các biến cố lịch sử như vụ thất thủ kinh đô năm 1885, nhiều công trình kiến trúc xưa của chùa Diệu Đế bị phá hủy.


Ngôi chùa hiện nay có diện tích khoảng 2.500m2. Cửa chùa là cổng tam quan hai tầng, phía trên có lầu Hộ Pháp, hướng về sông Đông Ba và Kinh thành Huế.


Sau cổng tam quan là con đường dẫn vào chính điện. Công trình chính là điện Đại Giác 3 gian 2 chái, bên trái chánh điện là Cát Tường Từ Thất, bên phải là Trí Tuệ Tinh Xá.


Trước điện là gác Đạo Nguyên 2 tầng 3 gian, hai bên gác có lầu chuông, lầu trống. Gần cổng chính chùa là hai nhà lục giác, nhà bên trái để chuông, nhà bên phải dựng bia khắc thơ vua Thiệu Trị.


Đặc biệt, tại chánh điện có bức tranh Long vân khế hội (còn gọi là Cửu long ẩn vân). Đây là bức tranh được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam công nhận là “Bức tranh vẽ trên trần chánh điện xưa và lớn nhất Việt Nam”, vào tháng 3/2008.


Bức tranh vẽ 5 con rồng uốn lượn, ẩn hiện trong các tầng mây trên tầng điện Đại Giác và 4 con rồng quấn quanh 4 cột trụ lớn. Bức tranh có chiều dài khoảng 10m và chiều rộng khoảng 11m.


Hình tượng rồng được vẽ nhiều đường cong uốn lượn, đầu to và tròn, mắt to, mũi mở, miệng lớn, răng cửa nhọn, thân dài, có vảy nhiều màu và móng rất sắc, thể hiện sự uy nghiêm của bậc quyền uy.


Ngoài ra, bên trong chánh điện thờ tượng Tam Thế Phật ở giữa, xung quanh là các tượng A-Nan, Ca-Diếp, Di Lặc, Chuẩn Đề Phật và một số vị Thánh, Phật khác. Sát vách bên trái còn có khám thờ vua Thiệu Trị và một vài công chúa, hoàng tử.


Hoàng Hải / Theo: giaoducthoidai



VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH

Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc thực chất dài bao nhiêu km, ý nghĩa của nó là gì?


Nhiều người vẫn có quan niệm rằng: Vạn Lý Trường Thành là do Tần Thủy Hoàng xây dựng vào thời nhà Tần. Nhưng trên thực tế, những đoạn tường thành đầu tiên được xây dựng là vào thời Xuân Thu – Chiến Quốc.

Các nước chư hầu nhà Chu đã tiến hành xây các bức tường thành lớn, độ cao ban đầu chỉ khoảng 3 mét, mục đích là để ngăn chặn các cuộc cướp phá của những bộ tộc du mục đến từ phương Bắc như Hung Nô, Khiết Đan...

Vạn Lý Trường Thành.

Những bộ tộc này nổi tiếng là tàn bạo, đặc biệt ngựa của họ rất khỏe, và các chiến binh thì thiện chiến. So với vùng đất của các bộ tộc du mục ở miền Bắc lạnh lẽo và nghèo nàn, thì vùng Trung Nguyên của người Hán sinh sống có nguồn tài nguyên trù phú, và lương thực dồi dào hơn rất nhiều.

Để tự bảo vệ mình thì các nước chư hầu ở phía Bắc vùng Trung Nguyên đã xây những công trình ngăn chặn họ với các tộc người khác.

Đến khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Tàu, thì ông ta đã quyết định vừa xây dựng, vừa tăng cường các đoạn thành rời rạc lại với nhau nhằm tạo thành một bức trường thành thật dài và vững chãi, ngăn chặn các nguy cơ xâm lăng đến từ phương Bắc như Hung Nô.


Như vậy, có thể nói những viên gạch đầu tiên xây dựng Vạn Lý Trường Thành đã bắt đầu đặt xuống từ trước khi Tần Thủy Hoàng nảy sinh ý định trên. Sau khi nhà Tần diệt vong, các triều đại kế tiếp của Tàu như Hán, Tùy, Tống, Minh đã tiếp tục xây dựng và củng cố Vạn Lý Trường Thành.

Mục đích không phải tạo nên kỳ quan gì mà đơn giản vẫn chỉ là chống lại nguy cơ ngoại xâm, đặc biệt là nhà Tống và nhà Minh. Vạn Lý Trường Thành mà chúng ta chiêm ngưỡng ngày nay chủ yếu được xây dựng vào thời nhà Minh.

Đây là thời đại mà các vị Hoàng đế vô cùng lo sợ để mất giang sơn vào tay những kẻ họ coi là ngoại bang như tộc Nữ Chân, nước Hậu Kim (do người Mãn thành lập) từ miền Bắc Tàu, nên dễ hiểu khi thời đại này cũng là lúc Vạn Lý Trường Thành được đầu tư xây dựng và trùng tu nhiều nhất.


Tuy nhiên, trớ trêu thay, người Hán vẫn phải ngậm ngùi chấp nhận sự cai trị của người Mãn khi nhà Minh sụp đổ. Và họ đã lập ra một triều đại là nhà Thanh, cũng là triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc.

Hoàng đế Khang Hy nhà Thanh còn từng chế giễu: "Dài Vạn lý đến tận biển cả, trùng trùng điệp điệp đầy phô trương, khiến dân chúng sức cùng lực kiệt, mà thiên hạ vẫn cứ thuộc về ta".

Hàm ý nói Vạn Lý Trường Thành tốn bao mồ hôi và máu của dân chúng, cao lớn và hùng vĩ như vậy nhưng vẫn cuối cùng không ngăn nổi người phương Bắc tiến xuống.

Rốt cuộc độ dài của Vạn Lý Trường Thành là bao nhiêu?

Bức tường hùng vĩ này chính là niềm tự hào của người Trung Hoa

Được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới từ tháng 10 năm 1987. Nhưng mãi tới năm 2009. Cục Di sản Văn hóa Quốc gia Trung Quốc mới công bố những số liệu về chiều dài Vạn Lý Trường Thành.

Cụ thể bức tường tạo nên Vạn Lý Trường Thành liền mạch như ta thấy dài 8.851 km. Đây chủ yếu là đoạn tường thành được xây dựng vào thời nhà Minh.

Đến năm 2012 thì Cục Di sản Văn hóa Quốc gia lại công bố tổng chiều dài của di tích Vạn Lý Trường Thành là 21.196 km bao gồm cả các cửa ải, đoạn thành ngắn rời rạc, các chiến hào cũ... Sở dĩ có sự chênh lệch về số liệu như vậy vì cách hiểu danh xưng "Vạn Lý Trường Thành" có thể khác nhau.

Đa số chúng ta cho rằng: Vạn Lý Trường Thành phải là các đoạn thành trì nối với nhau vững chãi, đầy đủ, liền mạch, rõ ràng. Nếu như vậy thì các đoạn thành này chính xác là dài 8.851 km như Cục Di Sản Văn hóa công bố năm 2009. Còn nhiều Chuyên gia nghiên cứu và Học giả coi Vạn Lý Trường Thành không đơn giản chỉ như vậy, họ coi đây là một tổ hợp di tích như đã nói ở trên là bao gồm cả các cửa ải, chiến hào, vô số di tích nhỏ liên quan khác nằm rải rác ở Đông bắc tới Tây bắc Trung Quốc.

Thực tế, đến ngày nay các di tích như vậy cũng chưa được phát hiện hết, cứ sau một hoặc vài năm lại có thể phát hiện ra các đoạn thành hoặc cổng thành chưa lộ diện. Như vậy nên đến năm 2012 họ tính rằng độ dài toàn bộ di sản Vạn Lý Trường Thành là 21.196km trải dài qua 15 tỉnh, thành phố và khu tự trị.


Vạn Lý Trường Thành cho tới bây giờ tuy được xem là bảo vật vô giá của người Trung Quốc, nhưng tình trạng hư hại và nguy cơ bị bào mòn vẫn diễn ra thường xuyên bởi 3 nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, đầu tiên do Vạn Lý Trường Thành dài, lại nằm ở vùng núi cao, công tác quản lý nhà nước còn kém, nên người dân chưa có ý thức bảo vệ, họ thậm chí còn xâm hại bằng cách lấy gạch đá về để sửa nhà.

Thứ hai là do thiên tai, vùng núi cao khi có mưa lớn, sạt lở hay động đất cũng sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới các công trình, trong đó các đoạn tường thành tuy nổi tiếng chắc chăn nhưng đã quá cũ và dễ bị sập. Tháng 8 năm 2012, 36 mét của một đoạn tường thành tại tỉnh Hà Bắc đã bị đổ sập sau khi hứng chịu một trận mưa lớn kéo dài.

Thứ ba, do trình độ nghiên cứu lẫn công nghệ bảo tồn ngày nay chưa đủ để có thể gìn giữ di sản này một cách hoàn toàn, nên các phương thức bảo tồn chủ yếu là cố gắng giữ cho sự bào mòn chỉ tác động ở mức tối thiểu mà thôi.

Theo các báo cáo thì chỉ có 8,2 % tường thành xây dựng là đang được bảo quản ở trạng thái tốt, còn có tới 74.1 % đang ở trong tình hình được bảo quản trung bình hoặc kém, phần còn lại thậm chí không có số liệu.

Danh xưng "Vạn Lý Trường Thành" xuất hiện từ bao giờ?

Một đoạn thành ở tỉnh Sơn Tây bị hư hại khá nặng (Ảnh: xinhuanet.com)

Tần Thủy Hoàng có lẽ là cá nhân nổi tiếng nhất có mối liên hệ với Vạn Lý Trường Thành. Bởi sự tàn bạo và những giai thoại đáng sợ trong quá trình xây dựng Vạn Lý Trường Thành đều bắt nguồn từ thời đại vị Hoàng đế này cai trị. Tuy nhiên, không phải ông ta là người đã đặt tên cho công trình này.

Người Trung Quốc qua các triều đại khác nhau cũng không phải lúc nào gọi danh xưng này. Theo các ghi chép lịch sử, cụ thể trong "Sử ký, phần Sở Thế vi gia" có chép: "Tề Tuyên Vương tìm cách tận dụng các đoạn núi cao, đắp Trường Thành, phía Đông dài đến tận biển, phía Tây dài đến sông Tế Thủy, dài cả nghìn dặm, cùng nước Sở phòng bị".

Như vậy, danh xưng Trường thành đã có từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc, trước cả khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa. Thậm chí, trong "Sử ký Tần bản ký" khi ghi chép về Vạn Lý Trường Thành cũng nói rằng vào năm Tề Giản Công trị vì thứ 6 (tức năm 409 trước Công nguyên) nước Tần men theo sông Lạc Hà xây dựng thành cao, cũng chỉ dùng hai chữ " Khiếm Lạc" (ý chỉ thành lũy ngăn sông) chứ chưa nhắc đến Trường Thành.

Vạn Lý Trường Thành cho người ta cảm giác nó là công trình vô tận.(Ảnh:xinhuanet.com)

Danh xưng Vạn Lý Trường Thành sẽ làm người ta liên tưởng rằng bức tường dài ít nhất 10.000 km. Nhưng như đã nói, các đoạn thành liền mạch và mới nhất vào thời Minh cũng chỉ dài hơn 8.000km.

"Vạn Lý" ở đây đơn thuần chỉ là một cách gọi để chỉ "sự vô tận". Hơn nữa, người xưa không có đủ công cụ để đo chính xác độ dài của Vạn Lý Trường Thành, nên sẽ không có chuyện tính toán chuẩn để đặt tên theo độ dài. "Vạn Lý Trường Thành" là cách gọi để ám chỉ đây là một bức tường thành dài vô tận, chưa thể đo được mà thôi.

Theo Soha.vn

Friday, April 26, 2024

11 CÂU NÓI "TRIẾT LÝ NHÂN SINH" KINH ĐIỂN NHẤT TRONG TIỂU THUYẾT KIM DUNG

Kim Dung mất đi nhưng những câu nói kinh điển này của ông thì vẫn còn mãi.


1. “Có nỗi khổ không nói ra được, đó mới là khổ thực sự”. (Thiên long bát bộ)

Nỗi khổ có thể nói ra được thì không được coi là khổ, nỗi khổ không nói ra được mới là khổ thực sự. Khi nỗi khổ đè nặng trong lòng, nếu như có người tâm đầu ý hợp, hay có người tri kỷ tri âm để nghe ta thổ lộ tâm tư, thì nỗi lòng ấy đã nguôi ngoai đi rất nhiều rồi.

Khổ nhất là không biết thổ lộ cùng ai, đó mới là khổ thực sự, lâu dài, dai dẳng. Không ai hiểu, chỉ mình ta hết lần này đến lần khác nếm trọn nỗi cay đắng trong lòng.

2. “Làm người có thể lơ mơ thì cứ lơ mơ, cuộc sống hãy buông lỏng hết cỡ”. (Lộc đỉnh ký)

Nhân thế hỗn độn, sự đời rối ren, lòng người đen trắng nào ai sáng tỏ? Nếu cầu toàn trách bị quá, truy cầu hoàn mỹ quá, hay xét nét người quá, thì sẽ chỉ thấy căng thẳng, bất hạnh và khổ đau.

Thế giới quá rộng lớn, sao cứ phải ngụp lặn mãi trong những chuyện thị thị phi phi? Cho nên, cứ lơ mơ một chút, buông xả một chút, rất có thể con đường phía trước sẽ là một chân trời bát ngát hương hoa.

3. “Thông minh quá ắt tổn thương, tình sâu quá ắt tổn thọ, mạnh mẽ quá ắt chịu nhục, vậy nên, hãy là người quân tử khiêm nhường, ấm áp như ngọc sáng”. (Thư kiếm ân cừu lục)

Thông minh quá sẽ có lúc bị trí tuệ làm cho thương tổn, si tình quá sẽ có lúc bị ái tình làm cho đau khổ, giàu có quá sẽ có lúc bị tiền bạc làm cho khánh kiệt, mà kiêu ngạo quá lại có lúc bị danh lợi làm cho ê chề…

Vì sao Phật gia giảng ‘Thủ Trung’, Nho gia giảng ‘Trung Dung’, Đạo gia giảng ‘Âm Dương cân bằng’? Bởi vì các bậc Thánh nhân, Giác Giả đã thấu hiểu một chân lý rằng “chỉ có ở giữa là Đại Đạo”, hễ vượt quá giới hạn đều bước sang cực đoan, mà xưa nay trạng thái cân bằng mới là bền vững nhất.


4. “Lửa thiêu thân xác, lửa thiêng rừng rực, sống có gì vui, chết có gì khổ? Hành thiện trừ ác, còn mãi sáng soi. Hoan lạc sầu bi, đều về cát bụi. Thương thay thế nhân, lo nghĩ ưu sầu”. (Ỷ thiên đồ long ký)

Con người đến thế gian dạo chơi vùng vẫy một phen, rồi sau cùng tất cả lại rời đi. Khi đến là tấm thân trần trụi, khi đi là hai bàn tay trắng, dẫu cả đời phú quý vinh hoa thì cuối cùng lại chẳng thể mang theo được thứ gì.

Thế nên, người thấu hiểu đạo lý sẽ coi nhẹ danh vọng, coi thường tiền tài, coi khinh sắc dục; họ sống là để tu dưỡng bản thân, trở nên ngày càng chân thành, chất phác, giản đơn, thanh tịnh.

5. “Nam nhi đại trượng phu, thứ nhất luận nhân phẩm tấm lòng, thứ nhì luận tài năng sự nghiệp, thứ ba luận văn học võ công”. (Thiên long bát bộ)

Tự cổ chí kim, thiên thượng vẫn luôn coi trọng người có đức. Lịch sử nhân loại ghi nhận biết bao anh hùng hào kiệt, bao đấng quân vương minh chủ, bao danh sĩ lẫy lừng lưu danh thiên cổ… đều bởi một chữ “Đức” đứng đầu.

Thế nên người xưa tu đức, lại khuyên răn con cháu trước phải tu nhân tích đức, rồi sau mới là rèn rũa tài năng. Vì đức nâng đỡ tài năng, còn tài năng lại dựa vào đức mà thi triển. Hữu đức bất tài, dẫu không thể giúp đời thì vẫn là một tấm thân trong sạch. Hữu tài vô đức, càng thi triển tài năng thì chỉ càng gây họa cho xã hội mà thôi.


6. “Họ mạnh mặc họ mạnh, gió mát phẩy núi đồi. Họ ngang mặc họ ngang, trăng sáng soi sông lớn”. (Ỷ thiên đồ long ký)

Những người có chí hướng sẽ chuyên tâm thành tựu bản thân, đâu để ý đến thành bại, tốt xấu, khen chê của người đời. Trong tâm có Đạo thì lúc nào cũng vui – Đó là điều mà Nho gia vẫn giảng: “An bần lạc Đạo” (yên lòng với cảnh nghèo mà vui với Đạo), hay: “Triêu văn Đạo tịch khả tử” (sáng nghe Đạo, tối chết cũng cam lòng).

7. "Bậc đại trượng phu muốn làm thế nào thì cứ thế mà làm, tựa hồ nước chảy mây trôi muốn đi về phương nào thì đi. Hết thảy quy củ võ lâm, giáo điều môn phái vứt hết cả đi". (Nhân vật Phong Thanh Dương)

8. "Trước mặt cũng có mưa lớn, chạy đi đâu mà không ướt như nhau?", Quách Tĩnh – Anh Hùng Xạ Điêu.


Câu nói tưởng có phần ngô nghê của Quách Tĩnh nhưng trong đó lại hàm chứa một triết lý vô cùng sâu xa. Nếu là phúc thì không phải họa, là họa thì không tránh được.

Vì vậy, hãy bình thản và điềm tĩnh để đối đầu với mọi việc.

9. "Hễ ai không chung tình với quá khứ thì sẽ không chung tình với hiện tại và tương lai", Nhậm Doanh Doanh – Tiếu Ngạo Giang Hồ.

Một quan điểm tình yêu hết sức độc đáo và khúc triết của Nhậm Doanh Doanh (và có thể là của cả Kim Dung nữa).

Chính vì suy nghĩ như vậy nên Nhậm Doanh Doanh luôn có một lòng vị tha hết mực với Lệnh Hồ Xung (dẫu trong lòng anh ta luôn phảng phất hình bóng của người thanh mai trúc mã Nhạc Linh San).


10. "Đạo trời là lấy chỗ thừa bù vào chỗ thiếu, bởi vậy hư có thể thắng thực, không đủ thắng được có thừa", Cửu Âm Chân Kinh.

Quan điểm này là sự hòa trộn hoàn hảo giữa triết lý Phật gia và Đạo gia. Kim Dung luôn cho rằng không có gì là tuyệt đối cả. Mọi vật trên thế gian đều có điểm yếu và cách khắc trị.

11. "Ta không tin thứ lễ giáo ăn thịt người không nhả xương ấy thì người ta bảo ta là tà ma ngoại đạo", Hoàng Dược Sư – Anh Hùng Xạ Điêu.

Câu nói thể hiện sự căm phẫn của Hoàng đảo chủ với những thứ lễ giáo phong kiến lạc hậu.

Là một trong những nhân vật gây nhiều tranh cãi nhất trong tiểu thuyết Kim Dung, chất chính hay tà trong con người của Hoàng Dược Sư thật sự vẫn còn là điều bí ẩn.

PV / Theo: Phunutoday

NHẠC DƯƠNG LÂU: CHỐN DỪNG CHÂN CỦA MẶC KHÁCH VÀ TIÊN NHÂN

Từ xưa người Trung Hoa đã có câu: “Động Đình là hồ đứng đầu trong thiên hạ, Nhạc Dương là lầu đứng đầu trong thiên hạ”. Nằm ở nơi sơn linh thủy tú, với kiến trúc tinh xảo hùng vĩ, Nhạc Dương Lâu không chỉ là viên ngọc quý trong kiến trúc cổ mà còn là nơi tụ họp của các văn nhân mặc khách và tiên nhân.


Nhạc Dương Lâu tiếp giáp hồ Động Đình, nằm ở Hồ Nam, cùng với Hoàng Hạc Lâu ở Vũ Hán và Đằng Vương Các ở Giang Tây được xưng là “Giang Nam tam đại danh lâu”. Danh tiếng của tòa lầu tháp này bắt đầu được truyền khai vào thời nhà Đường bởi một bài thơ của Lý Bạch.

Vào mùa thu năm Kiền Nguyên thứ 2 triều nhà Đường, Lý Bạch cùng bạn bè đi qua Nhạc Dương và dạo chơi ở hồ Động Đình. Ông đã sáng tác bài thơ “Dữ hạ thập nhị đăng Nhạc Dương Lâu”. Từ đó về sau, cái tên Nhạc Dương Lâu được truyền ra. Trải qua chiến tranh, Nhạc Dương Lâu bị hư hại nhiều. Đến thời Bắc Tống, Nhạc Dương Lâu được trùng tu và cũng được mở rộng thêm.

Nhạc Dương lâu và Hồ Động Đình. Hồ Động Đình là địa danh quan trọng trong huyền sử Việt. (Tranh: Wikipedia, Public Domain)

Nhạc Dương Lâu nổi tiếng còn là nhờ bài “Nhạc Dương Lâu ký” do danh thần thời Bắc Tống là Phạm Trọng Yêm sáng tác. Bài “Nhạc Dương lâu ký” tổng cộng chỉ có 360 chữ nhưng văn chương và tình cảm đều dạt dào, rất cảm động lòng người. Trong bài còn có câu đã trở thành cách ngôn xử thế của đời sau: “Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc”, lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ.

Về tổng thể, Nhạc Dương Lâu được chia làm ba tầng. Toàn bộ tòa lầu không sử dụng một xà ngang và một cây đinh nào. Bên trong lầu dùng bốn trụ lớn bằng gỗ để đỡ toàn bộ trọng lượng và 12 trụ tròn đỡ ở 2 lầu, phía ngoài dùng 12 trụ bằng gỗ cây tử làm trụ thềm. Bên ngoài lầu, bốn phía mái hiên vểnh lên như đang bay lượn. Mái nhà được lợp bằng ngói lưu ly màu vàng. Lầu cao khoảng 19.42 m, sâu 14.54 m, rộng 17.42 m. Cả toà lầu rất vững vàng chắc chắn, cũng rất đồ sộ.

Mặc dù trải qua các triều đại thay đổi, nhưng kiến trúc này không hề bị người đời quên lãng. Trái lại, ở các triều đại khác nhau đều có các văn nhân mặc khách vì mộ danh mà đến đây thưởng thức, lên lầu ngắm cảnh, ca hát và làm thơ. Thi thánh Đỗ Phủ từng tới đây và viết bài thơ “Đăng Nhạc Dương Lâu”: “Tích văn Động Đình thuỷ, kim thượng Nhạc Dương lâu”, xưa kia nghe nước Động Đình, nay lên Lầu Nhạc Dương.


Ngoài ra, các thi nhân nổi tiếng khác như Trương Cửu Linh, Mạnh Hạo Nhiên, Bạch Cư Dị, Lý Thương Ẩn cũng từng đến đây làm thơ trữ tình, lưu lại rất nhiều tác phẩm xuất sắc. Nhờ vậy mà tòa lầu này cũng thêm phần nổi danh.

Nhạc Dương Lâu còn là địa danh gắn liền với những câu chuyện về tiên nhân. Theo “Nhạc Dương phong thổ ký”, Lã Động Tân từng ba lần say rượu ở đây và cũng lưu lại một bài thơ.

Truyền thuyết kể rằng Lã Động Tân chu du thiên hạ, một hôm đi qua hồ Động Đình thì kinh ngạc trước cảnh non sông tươi đẹp ở nơi đây. Ông phóng mắt nhìn xung quanh thấy đầm lớn Vân Mộng bị bao phủ trong sương mù, những dãy núi nhấp nhô lúc ẩn lúc hiện, Nhạc Dương Lâu với mái hiên uốn lượn thật kỳ diệu và tráng lệ. Thế là tiên nhân hạ mây xuống, lấy ra bình hồ lô bên hông và uống.

Có câu: “Tiên hoa nhân dịch, nhân hoa tiên nan” (tiên tìm người dễ mà người tìm tiên thì khó), Lã Động Tân uống rượu, thường xuyên say bên hồ Động Đình. Một hôm, có một ông lão tráng kiện đi đến quỳ trước mặt Lã Động Tân nói: “Đại tiên, xin ngài hãy độ tôi thành tiên đi!”


Lã Động Tân nói: “Ta cũng là phàm nhân, sao ngươi gọi ta là thần tiên?’

Ông lão đáp: “Ngài là một trong bát tiên, người khác không biết nhưng tôi biết”.

Lã Động Tân sau khi nghe xong, cảm khái nói: “Tinh biết tiên, người không biết”. Nguyên lai, ông lão kia là một cây cổ thụ già thành tinh. Thế là Lã Động Tân để lại một bài thơ:

Độc tự hành lai độc tự tọa
Vô hạn thế nhân bất thức ngã
Chích hữu thành nam lão thụ tinh
Phân minh tri đạo thần tiên quá.

Tạm dịch:

Một mình đi đến một mình ngồi
Thế nhân vô hạn không biết ta
Chỉ có lão thụ tinh Thành Nam
Hiển nhiên biết rõ thần tiên qua.


Lã Động Tân từng ba lần say rượu ở Nhạc Dương Lâu. Dân chúng vì để tưởng nhớ tiên nhân nên đã dựng lên một ngôi đình, đặt tên là “Tam Túy Đình”. Trong đình có đề thơ của Lã Động Tân.

An Hòa biên tập
Theo: Vision Times

Bài hát "Nhạc Dương Lầu ký"