Tuesday, October 29, 2024

CẬN CẢNH VẺ ĐẸP CỦA LOÀI HOA MỌC TỪ LÁ

Semele androgyna là loài thực vật có hoa trong họ Măng tây. Điều đặc biệt của loài này là hoa học từ lá chứ không phải từ cành hay thân như những loài cây khác.

Semele androgyna là loài thực vật có hoa trong họ Măng tây.

Loài này được (L.) Kunth miêu tả khoa học đầu tiên năm 1850.

Hoa Semele androgyna chỉ được tìm thấy tại quần đảo Canaria, đảo Lanzarote của Tây Ban Nha, quần đảo Fuerteventura (Đại Tây Dương), quần đảo Madeira (Bồ Đào Nha) ở độ cao từ 300 - 1.000m.

Semele androgyna là loại cây bụi thường xanh.

Ở môi trường tự nhiên, cây thường cao khoảng 10m. Mỗi cành cây dài từ 15 - 30cm.

Hoa Semele androgyna thường có màu vàng nhạt.

Các chùm hoa mọc ra từ lá.

Quả chín thường có màu đỏ.

Giai đoạn ra hoa là từ tháng 11 đến tháng 4 sang năm.

Phượng Vũ (tổng hợp) / Theo: KHPT



Monday, October 28, 2024

GIA TỘC HIỂN HÁCH BẬT NHẤT CỦA CÔNG NƯƠNG DIANA: LỊCH SỬ HƠN 500 NĂM, SẢN SINH BAO BẬC TINH ANH NHƯNG CŨNG ĐẦY SCANDAL TÌNH ÁI BI THƯƠNG

Công nương Diana là biểu tượng hoàng gia nổi tiếng bậc nhất thế giới nhưng ít ai biết rằng bà xuất thân từ một gia tộc hiển hách, có lịch sử hơn 500 năm.


Khác với hai con dâu Kate và Meghan, Công nương Diana có xuất thân vô cùng cao quý, sinh trưởng trong một gia tộc hiển hách bậc nhất Vương quốc Anh. Tồn tại hơn 500 năm, gia tộc Spencer đã trải qua nhiều thăng trầm và biến cố, mặc dù vậy không thể phủ nhận rằng, nơi đây đã sản sinh biết bao con người tinh anh, tài hoa vang danh thế giới.

Cho đến ngày nay, con cháu của gia tộc Spencer vẫn có chỗ đứng nhất định trong giới thượng lưu với gia sản đồ sộ cùng khí chất không ai sánh bằng.

Lịch sử lâu đời, giàu có vinh hiển

Theo Tatler, gia tộc Spencer đã tồn tại được hơn 500 năm. Lịch sử ra đời của gia tộc này cho đến nay vẫn còn gây ra nhiều tranh cãi. Ra đời từ thế kỷ 15, nhiều tài liệu ghi lại rằng tổ tiên của gia tộc này bắt đầu từ Henry Spencer, Bá tước đầu tiên của Sunderland.

Gia đình của Henry Spencer bắt đầu làm giàu bằng việc buôn bán gia súc và mua hai vùng đất rộng lớn là Wormleighton và Althorp. Trải qua năm tháng gió sương, gia đình Henry Spencer ngày càng giàu có. Các điền trang của họ được mở rộng và ngày càng ăn nên làm ra.

Henry Spencer.

Đến thế kỷ thứ 16, gia tộc Spencer trở nên nổi tiếng hơn trong giới thượng lưu, hậu duệ của họ cũng ghi được nhiều công trạng hiển hách. Vào cuối thế kỷ thứ 16, Sir Robert Spencer (1570–1627) được phong làm Hiệp sĩ của Garter. Dưới thời trị vì của Vua James I, ông được coi là người giàu nhất nước Anh. Trong thời kỳ hưng thịnh, các thành viên của gia tộc Spencer đều được phong tước gồm Bá tước, Tử tước hay Nam tước.

Nhánh cao cấp của gia tộc Spencer chính là Spencer-Churchill với nhiều gương mặt nổi bật. Trong đó nhân vật nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20 là Sir Winston Leonard Spencer Churchill, một chính khách người Anh, từng giữ chức Thủ tướng Vương quốc Anh. Một nhánh khác của gia tộc này cũng vang danh không kém đó chính là Spencers of Althorp, đây cũng là nguồn cội của gia đình Công nương Diana.

Sir Winston Leonard Spencer Churchill.

Bá tước Spencer thứ nhất của nhánh này là John Spencer (1734-1783). Con trai của ông, Bá tước Spencer thứ 2 là người sau này trở thành Bộ trưởng Nội vụ từ năm 1806 đến năm 1807. Cha của cố Công nương Diana là Bá tước Spencer thứ 8 và hiện tại Bá tước Spencer thứ 9 chính là em trai của bà Diana, Charles Edward Maurice Spencer.

Nơi ở từ bao đời nay của gia đình Bá tước Spencer là Althorp ở Northamptonshire. Di sản của họ gồm rất nhiều đất đai rải hầu khắp Vương quốc Anh. Công nương Diana được chôn cất vào ngày 6/9/1997 trong khu bất động sản Althorp của nhà Spencer. Bà được mai táng bên hồ Oval và gia đình cũng dựng khu tưởng niệm riêng để mọi người có thể nhớ đến huyền thoại của Vương quốc Anh.

Cha Công nương Diana cùng các con.

Nơi tưởng niệm Công nương Diana.

Gia tộc nhuốm màu bi thương

Thông minh, hấp dẫn và truân chuyên đó là những đặc tính dễ thấy của các thành viên trong gia tộc Spencer. Dù họ là người giàu có, có tước vị nhưng cũng không thể thoát khỏi những thăng trầm của cuộc sống. Công nương Diana chỉ là một trong số những thành viên của gia tộc có số phận bất hạnh. Trước đó trong lịch sử 500 năm, Spencer cũng chứng kiến nhiều vụ lùm xùm, bê bối từng gây chấn động dư luận.

Ít ai biết rằng, trước cố Công nương Diana, từng có một thành viên khác đã mang tên này, sinh ra ở thế kỷ thứ 18. Điều trùng hợp là cả hai người phụ nữ cùng tên Diana ấy đều có số phận thật thảm thương. Lady Diana Spencer sinh năm 1710, con gái út của Bá tước Charles Spencer và là cháu gái yêu của Sarah Churchill, Nữ công tước Marlborough, một trong những người phụ nữ quyền lực nhất ở Anh lúc bấy giờ.

Lady Diana Spencer.

Gia đình thường gọi bà bằng cái tên trìu mến: "Bé Di thân yêu". Vào năm 6 tuổi, bà mồ côi mẹ. Đến năm 12 tuổi, Lady Diana lại mất cha, ngay sau đó là sự ra đi của người ông đáng kính, Công tước Marlborough. Đến tuổi trưởng thành, Lady Diana xinh đẹp rạng ngời, có biết bao người trong giới quý tộc đã ngỏ lời cầu hôn bà. Sau đó, bà đã được sắp đặt kết hôn với Frederick, Hoàng tử xứ Wales vào những năm 1730.

Tuy nhiên, cuộc hôn nhân ấy đã bị Thủ tướng Robert Walpole ngăn cản vì mục đích ngoại giao. Về sau, bà được sắp xếp một cuộc hôn nhân khác là Công tước Bedford. Tuy nhiên, bi kịch vẫn chưa buông bỏ Lady Diana. Con trai đầu lòng của bà chết yểu chỉ một ngày sau lễ rửa tội. Khi mang bầu lần thứ hai thì bà bị sảy thai. Không lâu sau đó bà được chẩn đoán mắc bệnh lao và sụt cân nhanh chóng. Lady Diana kết thúc cuộc đời mình ở tuổi 25.

226 năm sau, một bé gái Diana khác ra đời. Công nương Diana sau đó kết hôn với Thái tử Charles nhưng cuộc hôn nhân ấy vô cùng bất hạnh để rồi bà qua đời sau vụ tai nạn xe hơi thảm khốc.

Georgiana Cavendish (1757-1806), Công tước phu nhân vùng Devonshire cũng có xuất thân là tiểu thư quý tộc nhà Spencer, sinh ra ở thế kỷ 18. Lúc sinh thời, Georgiana Cavendish là một quý bà sắc nước hương trời. Georgiana được gả vào nhà Cavendish, một gia tộc rất có quyền thế. Tuy nhiên đây là cuộc hôn nhân gượng ép, chồng bà chỉ muốn vợ sinh con trai nối dõi mà thôi. Sau khi sinh hạ người thừa kế cho ngài Công tước, bà Georgiana bắt đầu tìm tình nhân cho riêng mình.

Chân dung Georgiana Cavendish.

Sử dụng mối quan hệ với nhiều người có máu mặt trong giới văn nghệ sĩ và chính khách, người phụ nữ này đã thao túng chính trường bằng sắc đẹp và bộ óc thông minh sắc sảo. Tuy nhiên, Georgiana nghiện cờ bạc nặng và ham mê tiệc tùng. Vào lúc cuối đời, Georgiana phải chiến đấu với bệnh tật và chưa bao giờ tìm được tình yêu đích thực của đời mình.

Sarah Churchill, Nữ công tước Marlborough từng là người phụ nữ quyền lực nhất nước Anh nhờ vào mối quan hệ với Nữ hoàng Anne. Hoàn toàn đối lập với Nữ hoàng Anne, Sarah Churchill sở hữu tính cách mạnh mẽ hiếm có ở một người phụ nữ của thế kỷ 18. Bà thích những môn thể thao đầy nam tính như bắn súng, cưỡi ngựa. Khác nhau là thế, nhưng Sarah Churchill lại được Nữ hoàng Anne coi là người bạn tâm giao, là người cố vấn đáng tin cậy. Thậm chí nhiều tài liệu lịch sử còn cho rằng, Sarah Churchill chính là người tình đồng tính của Nữ hoàng Anne.

Cả hai thân thiết với nhau như hình với bóng. Tuy nhiên mối quan hệ giữa cả hai sau đó có dấu hiệu rạn nứt bởi những bất đồng về quan điểm, đường lối chính trị. Sarah trở nên đầy thù hận, bị cáo buộc đe dọa tống tiền Nữ hoàng Anne. Cuối cùng, Sarah bị thất sủng. Mặc dù vậy, bà vẫn trở thành một trong những người phụ nữ giàu nhất nước Anh.

Sarah Churchill.

Hậu duệ hùng mạnh

Dù trải qua hơn 500 năm tồn tại với nhiều thăng trầm nhưng gia tộc Spencer vẫn tồn tại và phát triển với những hậu duệ tài giỏi. Gia tộc này vẫn sở hữu khối bất động sản khổng lồ, của cải không đếm xuể. Dù hiếm khi lộ diện trên truyền thông nhưng các thành viên trong gia tộc này vẫn luôn khiến người khác ngưỡng mộ và kính trọng.

Trong số đó, không thể không nhắc đến "bản sao" hoàn hảo của Công nương Diana, Kitty Spencer. Kitty Spencer là gương mặt đại diện của những show thời trang nổi tiếng cùng các thương hiệu xa xỉ đẳng cấp quốc tế. Không chỉ xinh đẹp mà Kitty còn học rất giỏi. Cô đã lấy bằng thạc sĩ Quản lý thương hiệu cao cấp tại Đại học Regent London.


Mới đây, Kitty đã kết hôn với ông trùm thời trang 62 tuổi Michael Lewis. Ông Lewis là người sở hữu chuỗi thời trang cao cấp Whistles and Phase Eight. Cuộc sống đẹp như mơ của Kitty đang khiến hàng triệu cô gái khao khát có được.

Louis Spencer , em trai ruột của Kitty Spencer, người sẽ kế thừa gia tộc cũng là một gương mặt nổi bật. Người đàn ông này sinh ra ở Westminster và lớn lên ở Cape Town, Nam Phi cùng với các chị gái. Theo Tatler, cháu trai Công nương Diana từng học tại trường Đại học Edinburgh. Louis Spencer sở hữu vẻ ngoài nam tính đầy quyến rũ, đậm chất quý tộc.

Dù xuất thân trong gia tộc danh giá và có biết bao người hâm mộ, Louis lại lựa chọn lối sống kín tiếng, tránh xa mạng xã hội và hạn chế góp mặt tại các sự kiện đình đám. Theo Telegraph, bạn bè của Louis đã mô tả anh là một người đàn ông trầm tính, khiêm tốn và là một diễn viên tài năng. Anh ấy là một diễn viên tại trường kịch nghệ và làm việc cực kỳ chăm chỉ, 14 tiếng đồng hồ mỗi ngày.

Louis Spencer.

Có thể thấy rằng, gia tộc Spencer đã sản sinh ra biết bao nhân vật ưu tú và xuất chúng, dù trải qua nhiều biến cố nhưng cho đến nay Spencer vẫn là một trong những gia tộc hiển hách và lẫy lừng của thế giới.

Diệp Lục / Theo: Pháp luật và Bạn đọc

"NGÀY THỨ BA ĐEN TỐI" - PHỐ WALL TỪNG SỤP ĐỔ NHƯ THẾ NÀO?

Ngày 29/10/1929, các nhà đầu tư phố Wall giao dịch khoảng 16 triệu cổ phiếu trên thị trường chứng khoán New York chỉ trong một ngày.


Hàng tỷ USD “bốc hơi”, khiến hàng nghìn nhà đầu tư phải bỏ cuộc. Sự kiện đôi khi được nhắc lại với tên gọi “ngày thứ Ba đen tối” – là một trong những sự kiện diễn ra trước khi Mỹ và thế giới công nghiệp hóa đi sâu vào cuộc Đại suy thoái, cuộc suy thoái kinh tế sâu sắc nhất và kéo dài nhất trong lịch sử của thế giới công nghiệp hóa phương Tây tính đến thời điểm đó.

Nguyên nhân khủng hoảng

Trong những năm 1920, thị trường chứng khoán Mỹ trải qua quá trình mở rộng nhanh chóng, đạt đến đỉnh điểm vào tháng 8/1929 sau một thời gian trào lưu đầu cơ diễn ra rầm rộ. Vào thời điểm này, sản xuất đã giảm và tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, khiến các cổ phiếu vượt quá giá trị thực của chúng.

Trong số những nguyên nhân khác dẫn đến sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 còn là lương thấp, nợ nần chồng chất, ngành nông nghiệp gặp khó khăn và dư nợ ngân hàng lớn không thể thanh toán được.

Ngày thứ Ba đen tối

Sàn giao dịch chứng khoán New York, ngày 25/10/1929. (Ảnh: Getty)

Giá cổ phiếu bắt đầu giảm vào tháng 9 và đầu tháng 10/1929. Đến ngày 18/10 giá cổ phiếu bắt đầu giảm mạnh. Sự hoảng loạn trên sàn giao dịch sớm bắt đầu và vào ngày 24/10, “thứ Năm đen tối”, kỷ lục 12.894.650 cổ phiếu đã được giao dịch. Các công ty đầu tư và các chủ ngân hàng hàng đầu đã cố gắng ổn định thị trường bằng cách mua vào những khối cổ phiếu lớn, tạo ra một đợt phục hồi vừa phải vào thứ Sáu (25/10).

Tuy nhiên, đến thứ Hai (28/10), cơn bão lại bùng phát và thị trường giống như “rơi tự do”. "Thứ Hai đen tối" xảy ra và sau đó là "thứ Ba đen tối" - ngày 29/10/1929 - trong đó giá cổ phiếu sụp đổ hoàn toàn và 16.410.030 cổ phiếu được giao dịch trên thị trường chứng khoán New York chỉ trong một ngày. Hàng nghìn nhà đầu tư đánh mất hàng tỷ USD, các mã cổ phiếu chạy chậm hàng giờ vì máy móc không thể xử lý nổi khối lượng giao dịch khổng lồ.

Khởi đầu Đại suy thoái

Báo chí Mỹ đưa tin về sự hoảng loạn của thị trường chứng khoán. (Ảnh: Getty)

Sau ngày 29/10/1929, giá cổ phiếu vì đã gần như “chạm đáy” nên đương nhiên chỉ có thể tăng trở lại. Các tuần tiếp theo chứng kiến sự phục hồi đáng kể, nhưng sau đó giá tiếp tục giảm khi Mỹ rơi vào thời kỳ Đại suy thoái, và đến năm 1932, cổ phiếu chỉ còn khoảng 20% ​​giá trị so với mùa hè năm 1929.

Sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 không phải là nguyên nhân duy nhất của cuộc Đại suy thoái, nhưng nó đã có tác dụng đẩy nhanh sự suy sụp kinh tế toàn cầu. Giá cổ phiếu tiếp tục giảm trong năm 1932, chỉ số công nghiệp Dow Jones - một tiêu chuẩn được sử dụng rộng rãi cho các cổ phiếu blue-chip ở Mỹ - đóng cửa ở mức 41,22, giá trị thấp nhất trong thế kỷ 20, thấp hơn 89% so với mức đỉnh của nó.

Đến năm 1933, gần một nửa số ngân hàng Mỹ phá sản và tỷ lệ thất nghiệp tăng gần đến mức 15 triệu người, tương đương 30% lực lượng lao động Mỹ. Chỉ số trung Dow Jones phải đến khoảng tháng 11/1954, tức 25 năm sau đó, mới trở lại mức cao trước năm 1929.

Trong hoàn cảnh này, những người Mỹ gốc Phi đặc biệt bị ảnh hưởng nặng nề, vì họ là người “được thuê cuối cùng, bị sa thải đầu tiên”. Phụ nữ trong thời kỳ Đại suy thoái khá hơn một chút, vì các công việc truyền thống của phụ nữ trong thời đại này như dạy học và y tá ít bị ảnh hưởng hơn những công việc phụ thuộc vào thị trường khác.

Hàng triệu USD chứng khoán và hồ sơ được vận chuyển trên phố Wall. (Ảnh: Getty)

Cuộc sống của một gia đình trung bình trong thời kỳ Đại suy thoái rất khó khăn. Bão và hạn hán nghiêm trọng ở phía Nam nước Mỹ hủy hoại mùa màng, khiến khu vực này có biệt danh là Bát bụi. Những cư dân của khu vực này thì cố gắng chuyển đến các thành phố lớn tìm việc làm.

Cũng trong thời kỳ đại suy thoái này, lệnh cấm rượu ở Mỹ được hủy bỏ. Các chính trị gia tin rằng hợp pháp hóa việc tiêu thụ rượu có thể giúp tạo việc làm và kích thích nền kinh tế.

Các biện pháp cứu trợ và cải cách do chính quyền của Tổng thống Franklin D. Roosevelt ban hành đã giúp giảm bớt những tác động tồi tệ nhất của cuộc Đại suy thoái đến nước Mỹ, tuy nhiên, nền kinh tế này chỉ hoàn toàn xoay chuyển cho đến sau năm 1939, khi Thế chiến II hồi sinh ngành công nghiệp.

Phương Anh / VTC News
Link tham khảo:




NƯỚC HOA HỒNG TỪ GÓC NHÌN LỊCH SỬ VÀ KHOA HỌC

Từ xa xưa, con người đã sử dụng nước hoa hồng như một phương thuốc dân gian để chăm sóc sức khỏe và sắc đẹp. Nó không chỉ giúp làm dịu da và giảm viêm, mà còn có khả năng chống oxy hóa và cải thiện tâm trạng.

Ảnh: Medical News Today.

Tình yêu của con người với hoa hồng luôn nồng cháy và mãnh liệt trong suốt chiều dài lịch sử. Hoa hồng xuất hiện trong thần thoại và truyền thuyết tôn giáo, hình ảnh cánh hoa hồng hiện diện trong các lăng mộ cổ, và loài hoa này thậm chí còn được cả hai phe sử dụng làm biểu tượng trong Cuộc Chiến tranh Hoa hồng đẫm máu tại nước Anh.Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi con người vẫn yêu thích loài hoa này cho đến ngày nay, đặc biệt là ở Morocco, nơi có lễ hội hoa hồng kéo dài tới ba ngày.

Nhưng hoa hồng không chỉ nổi tiếng vì hương thơm hay cánh hoa đẹp. Nước hoa hồng – một loại chất lỏng với mùi thơm ngọt ngào được chiết xuất từ cánh hoa hồng thông qua quá trình chưng cất hơi nước – cũng xuất hiện trong nhiều loại sản phẩm phổ biến trong đời sống, từ món tráng miệng cho đến các sản phẩm cải thiện sức khỏe, nước cân bằng da (toner) và sản phẩm chăm sóc sắc đẹp. Thị trường nước hoa hồng toàn cầu dự kiến sẽ tăng lên tới 921 triệu USD vào năm 2032, theo National Geographic.

Người ta đã tìm thấy những mô tả về các chất cô đặc và tinh dầu chiết xuất từ hoa hồng và quả hồng (phần còn lại sau khi hoa tàn) từ thời Lưỡng Hà cổ đại, với các ghi chép trên những tấm bảng chữ hình nêm có niên đại từ năm 2630 trước Công nguyên.

Để tạo ra hương thơm ngọt ngào và mùi hương đặc trưng của nước hoa hồng, những người thu hoạch thường hái hoa vào buổi sáng sớm. Đây là thời điểm lý tưởng khi nụ hoa chưa nở hoàn toàn nhưng đã được ánh nắng Mặt trời sưởi ấm, giúp đảm bảo tối đa tinh chất tự nhiên của hoa hồng.

Một trong những nhân vật lịch sử tiêu biểu gắn liền với nước hoa hồng là Ibn-i Sina. Ông là một bác sĩ nổi tiếng trong triều đình Ba Tư vào thế kỷ 10 trước Công nguyên. Ông khuyến nghị dùng nước hoa hồng để chữa nhiều bệnh, từ say rượu cho đến các vấn đề trí nhớ, bệnh về mắt và đau đầu. Ông cũng được coi là người đầu tiên sử dụng hơi nước để chưng cất tinh dầu hoa hồng.

Thiết bị chưng cất nước hoa hồng theo cách truyền thống tại hợp tác xã Flora Sina Rose ở Maroc. Ảnh: Rena Effendi

Kể từ đó, nước hoa hồng đã trở thành một phương thuốc dân gian phổ biến, tồn tại song hành cùng các sản phẩm hiện đại hơn trong những quy trình làm đẹp và chăm sóc sức khỏe. Vào thế kỷ 19, nhiều phụ nữ thường xuyên sử dụng mặt nạ tự chế và các sản phẩm trang điểm, bao gồm “Bloom of Roses” – một hỗn hợp của nước hoa hồng, amoniac lỏng, carmine và cồn.

Nước hoa hồng đã đồng hành cùng với con người trong suốt một thời gian dài. Nhưng niềm tin của chúng ta về lợi ích sức khỏe của nó có thực sự đúng đắn hay không?

Trên thực tế, các nhà khoa học vẫn chưa thể chứng minh những lợi ích của nước hoa hồng một cách rõ ràng bằng thực nghiệm. Hầu hết các nghiên cứu về lợi ích tiềm năng của nó – chẳng hạn như khả năng làm giảm lo âu, làm sáng hoặc mịn da – chủ yếu được thực hiện trong lĩnh vực y học thay thế hoặc y học bổ sung, bao gồm cả phương pháp trị liệu bằng hương thơm. Nhưng các phương pháp này vẫn còn gây ra nhiều tranh cãi trong cộng đồng khoa học.

Dù vậy, điều đó không ngăn cản các nhà khoa học cố gắng hiểu rõ hơn về hoa hồng. Trong một bài viết trên tạp chí Molecules vào tháng 1/2021, Milka Mileva tại Viện Hàn lâm Khoa học Bulgaria và các cộng sự đã xem xét các nghiên cứu về những lợi ích sức khỏe tiềm năng của hoa hồng từng được công bố trên hàng chục tạp chí khoa học và tạp chí về y học thay thế. Họ phát hiện, chiết xuất từ hoa hồng có đặc tính kháng virus, kháng khuẩn và chống viêm, với hiệu quả khác nhau tùy theo quy trình sản xuất và nồng độ của tinh dầu hoa hồng.

Tuy nhiên, đa số các nghiên cứu mà Mileva trích dẫn đều được tiến hành trên cơ thể của động vật thay vì con người. Chỉ có một số ít các thí nghiệm về lợi ích sức khỏe của nước hoa hồng đối với con người, nhưng đối tượng thử nghiệm là các tế bào người trong phòng thí nghiệm thay vì trên cơ thể người sống.

Do đó, chúng ta không thể kết luận liệu con người có trải qua những tác động tương tự nếu sử dụng nước hoa hồng và các sản phẩm chiết xuất từ hoa hồng hay không. Ví dụ, trong một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Puerto Rico Health Sciences vào năm 2019, các nhà khoa học tại Đại học Adnan Menderes (Thổ Nhĩ Kỳ) nhận thấy nước hoa hồng có tác dụng chống lại tổn thương DNA ở chuột chứ không phải ở người.

“Các nghiên cứu trên động vật rất hữu ích trong việc nhận biết một hợp chất nào đó có độc hại hay không, nhưng liều lượng và các phương pháp sử dụng trong những thí nghiệm này không thể áp dụng cho con người trong đời sống thực”, Lauren Plogh, bác sĩ tại Học viện Da liễu Mỹ, nhận định.


Tuy vậy, nhiều hóa chất riêng lẻ có trong nước hoa hồng đã được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng. Chúng bao gồm citronellol và tricosane – thành phần hương liệu trong các mỹ phẩm – cũng như phenyl ethyl alcohol, hợp chất đóng vai trò là chất bảo quản hoặc chất thơm trong một số sản phẩm chăm sóc sắc đẹp.

Mặc dù thiếu bằng chứng cụ thể cho thấy nước hoa hồng mang lại những lợi ích sức khỏe có thể đo lường được đối với con người, nhưng các nghiên cứu về những ứng dụng tiềm năng của nó vẫn đang diễn ra, từ nước súc miệng cho đến nước nhỏ mắt. Công dụng của nước hoa hồng trong lĩnh vực chăm sóc da – thường được dùng như một loại nước cân bằng da có mùi thơm – ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Ví dụ, trong nghiên cứu đăng trên tạp chí Journal of Medicinal Food vào năm 2020, các nhà khoa học Hàn Quốc phát hiện nước hoa hồng có tác dụng làm trắng da và chống hình thành nếp nhăn.

Chúng ta có một số điều cần lưu ý khi sử dụng nước hoa hồng. Trước tiên, tình trạng dị ứng với nước hoa hồng có thể xảy ra, vì vậy các chuyên gia khuyên người mới sử dụng nên bắt đầu bằng việc thử một lượng nhỏ trên da để loại trừ phản ứng dị ứng.

“Một điều quan trọng nữa là bạn nên kiểm tra nhãn của bất kỳ sản phẩm nào mà bạn đang sử dụng để đảm bảo an toàn, đặc biệt là đối với thành phần phenyl ethyl alcohol trong nước hoa hồng”, Plogh cho biết. Hợp chất này có thể gây độc cho thai nhi ở liều lượng cao, chỉ được chấp thuận sử dụng trong mỹ phẩm với nồng độ tối đa 1%. Thư viện Y khoa Quốc gia Mỹ cũng lưu ý rằng hóa chất này có liên quan đến bệnh tự kỷ, bệnh celiac, viêm loét đại tràng và các rối loạn phát triển ở người.

Nước hoa hồng tự làm có khả năng gây nguy hiểm vì các hóa chất trong hỗn hợp có thể vượt ngưỡng liều lượng an toàn. “Việc sử dụng một sản phẩm nước hoa hồng có thành phần hoạt chất đã được biết rõ sẽ an toàn hơn so với sản phẩm tự làm tại nhà”, Plogh nhận định.

Theo National Geographic
Bá Lộc / Theo: KH&PT
Link tham khảo:

Sunday, October 27, 2024

LOẠT CHÙA CỔ TRUNG QUỐC NỔI TIẾNG SAU GAME VỀ NGỘ KHÔNG

Nhiều ngôi chùa cổ ở Sơn Tây, Trùng Khánh, Phúc Kiến bỗng nổi tiếng, thu hút lượng lớn khách du lịch nhờ xuất hiện trong game "Hắc Thoại: Ngộ Không".


Hắc thoại: Ngộ Không tạo nên cơn sốt toàn cầu trong làng game và cũng góp phần thúc đẩy du lịch Trung Quốc, đặc biệt là tỉnh Sơn Tây - nơi chưa nổi tiếng trên bản đồ du lịch. Thống kê cho thấy 27/36 bối cảnh đời thực được đưa vào trò chơi lấy cảm hứng từ các địa danh tại Sơn Tây.

Cơ quan du lịch tỉnh Sơn Tây đã khởi động chiến dịch quảng bá du lịch "Du lịch cùng Ngộ Không ở Sơn Tây", qua đó cung cấp các tuyến du lịch cho phép người chơi chiêm ngưỡng những địa điểm ngoài đời thực của trò chơi. Ban quản lý chùa Tiểu Tây Thiên cũng sẽ đưa các nội dung liên quan đến game lên trang web của chùa.

Trong ảnh là một cảnh của trò chơi ở chương ba, lấy cảm hứng từ chùa Tiểu Tây Thiên tại tỉnh Sơn Tây. Ảnh: Our China Story


Chùa có tuổi đời hơn 400 năm, được xây thời nhà Minh, mất 15 năm để hoàn thành. Điểm nổi bật của chùa là những bức tranh chạm khắc tinh xảo cùng khoảng 2.000 bức tượng được được đánh giá như kiệt tác nghệ thuật ở Trung Quốc.

Trong ảnh là một góc của chùa Tiểu Tây Thiên ngoài đời thật. Ảnh: Our China Story


Chùa Phật Quang ở Tân Châu, tỉnh Sơn Tây, được xây dựng lần đầu vào thời Bắc Ngụy (386-535) và tu sửa lại vào thời Đường (618-907).

Chiếc chuông và một số ngọn tháp trong chùa được nhà sản xuất Game Science tái hiện trong chương một của trò chơi (ảnh sau). Ảnh: Our China Story


Những chiếc quan tài treo nổi tiếng ở Tân Châu, Sơn Tây cũng xuất hiện trong một số phân cảnh của trò chơi. Theo Our China Story, thời điểm những ngôi mộ này xuất hiện chưa được xác định và điều này càng khiến chúng có nhiều giá trị về mặt khảo cổ học. Ảnh: Our China Story


Đền Ngọc Hoàng tại Tân Thành, Sơn Tây, có diện tích khoảng 3.500 m2 với 110 ngôi đền nhỏ bên trong. Ngôi đền nổi tiếng với nhiều bức tượng tinh xảo, đặc biệt là tượng 28 vị tinh tú ở khu vực phía tây. Ảnh: Our China Story


Bức tượng Cang Kim Long, một trong 28 vị tinh tú, cũng là kẻ địch người chơi phải đối đầu trong game. Tại đền Ngọc Hoàng, du khách có thể tìm thấy bức tượng tương tự nhưng nhỏ hơn. Ảnh: Game Science


Sơn Tây không phải địa phương duy nhất hưởng lợi nhờ Hắc Thoại: Ngộ Không. Bức tượng Phật Bà nghìn tay với niên đại hơn 800 năm tuổi tại núi Bảo Đỉnh, Trùng Khánh cũng xuất hiện trong trò chơi. Ảnh: China Daily

Một cảnh trong game khi người chơi hóa thân thành hồ ly tuyết, đến gặp nhà sư Bất Không - người đang hành lễ trước bức tượng Phật nghìn tay, lấy cảm hứng từ bức tượng ở Trùng Khánh.


Chùa Khai Nguyên (ảnh trước) thuộc thành phố Tuyền Châu, tỉnh Phúc Kiến được tái hiện trong chương một của game, cảnh ngọn tháp cháy trong trận đấu với Hắc Hùng Tinh (ảnh sau). Bên trong chùa, du khách có thể tìm thấy hai tòa tháp, gọi là Tháp Đông và Tháp Tây - biểu tượng của thành phố Tuyền Châu. Ảnh: VCG

Hoài Anh (Theo Our China Story, China Creative Hub)
Theo: VnExpress



TRÚC CHI TỪ NHỊ THỦ KỲ 1 - LƯU VŨ TÍCH


Trúc chi từ nhị thủ kỳ 1 
(Dương liễu thanh thanh giang thuỷ bình)

Dương liễu thanh thanh giang thuỷ bình,
Văn lang giang thượng đạp ca thanh.
Đông biên nhật xuất tây biên vũ,
Đạo thị vô tình hoàn hữu tình.


竹枝詞二首其一
(楊柳青青江水平)

楊柳青青江水平
聞郎江上踏歌聲
東邊日出西邊雨
道是無晴還有情


Trúc chi từ hai bài kỳ 1
(Dương liễu xanh xanh nước sông bằng)
(Dịch thơ: phanlang)

Nước im bên rặng liễu xanh
Nghe chàng hát khúc ca lành trên sông
Mưa bờ tây nắng bờ đông
Trong vô tình đã mênh mông hữu tình.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lưu Vũ Tích 劉禹錫 (772-842) tự Mộng Đắc 夢得, người Bành Thành (nay là huyện Đông Sơn, tỉnh Giang Tô) đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), làm giám sát ngự sử đời Đức Tông. Thời Thuận Tông cùng tham dự vào những chủ trương chính trị tiến bộ cùng Vương Thúc Vân, Liễu Tông Nguyên, sau Vương Thúc Văn bị bọn cường quyền gièm pha, ông cũng bị đổi thành Lãng Châu thứ sử. Ông làm từ hay dùng tục ngữ địa phương, Bạch Cư Dị từng gọi ông là thi hào. Tác phẩm có Lưu Vũ Tích tập.

Nguồn: Thi Viện



ADAM WEISHAUPT: NGƯỜI SÁNG LẬP HỘI ILLUMINATI

Nếu còn sống, Adam Weishaupt (triết gia Đức cuối thế kỷ 18) chắc hẳn sẽ rất kinh ngạc khi biết tư tưởng của mình đã trở thành niềm cảm hứng cho vô số thuyết âm mưu, best-seller văn học và phim điện ảnh bom tấn.


Sinh năm 1748 tại Ingolstadt (thành phố thuộc bang Bavaria – nay là lãnh thổ Đức, nơi áp dụng chế độ cử tri từ khá sớm), Weishaupt mang trong mình dòng máu Do Thái nhưng có gia đình phải cải đạo sang Cơ đốc giáo. Mồ côi cha mẹ từ sớm, Weishaupt được nuôi dạy bởi một người chú uyên bác, lớn lên ghi danh theo học tại một trường của Dòng Tên, trở thành giáo sư đạo đức học và luật Cơ đốc giáo tại Đại học Ingolstadt, kết hôn và có một gia đình yên ấm – cuộc sống mà thoạt nhìn ai cũng phải ngưỡng mộ, mãi cho đến khi chính quyền Bavaria phát hiện thấy tư tưởng của ông ẩn chứa những mầm mống đe dọa tính chính danh của họ (năm 1784).

Có thể nói, Weishaupt là người sở hữu một bộ óc phi thường, luôn trăn trở và không ngừng suy tư. Ngay từ nhỏ, ông đã rất mê sách và đọc ngấu nghiến hầu như mọi tác phẩm của các triết gia khai sáng Pháp trong thư viện gia đình. Bang Bavaria khi ấy còn rất bảo thủ do chịu ảnh hưởng sâu sắc của Công giáo, và Weishaupt có lẽ cũng không phải người duy nhất tin rằng: chế độ quân chủ và giáo lý nhà thờ là nguyên nhân chính kìm hãm tư duy và sự sáng tạo. Nhận thấy những hạn chế của hệ thống niềm tin tôn giáo trong việc dẫn dắt xã hội, ông quyết định đi tìm một hướng “khai sáng” mới bằng cách tập hợp các ý tưởng và thực tiễn – có khả năng vận dụng được – nhằm thay đổi hoàn toàn cách thức quản trị nhà nước. Bản thân Weishaupt cũng từng nghĩ tới việc gia nhập Hội Tam Điểm (Freemasonry) – ra đời từ đầu thế kỷ 18 (với chi hội đầu tiên được thành lập tại London năm 1717), sau lan rộng khắp lục địa và thu hút những nhà tư tưởng theo khuynh hướng tự do. Tuy nhiên, cảm thấy nhiều tôn chỉ và đường hướng hoạt động của Freemasonry có phần không ổn, ông đã quyết định tự thành lập một hội kín khác, dựa trên cảm hứng từ những câu chuyện về Bảy vị hiền triết Memphis (Ai cập cổ đại) và Kabbalah thần bí trong Ngũ Thư Do Thái Giáo (Torah).

Khi sáng lập Illuminati (Hội Ánh sáng), Weishaupt không hẳn muốn chống lại tôn giáo, mà ông chỉ đơn giản không đồng tình với cách người ta thực hành lẫn áp đặt nó. Vì vậy, Weishaupt đã đặt ra một tôn chỉ mới cho Hội, là “mang lại tự do từ những định kiến tôn giáo, nuôi dưỡng và cổ vũ đạo đức xã hội thông qua một viễn tượng lớn, khẩn trương và khả thi về hạnh phúc phổ quát; Để đạt được điều đó, cần thiết phải tạo ra một nhà nước [thật sự] tự do và bình đẳng về mặt đạo đức nhằm giải phóng con người khỏi những trở ngại của sự lệ thuộc, thứ bậc và ước muốn giàu sang – thứ [luôn] ám ảnh tâm trí chúng ta.” Đêm 1/5/1776, trong một cánh rừng gần Ingolstadt, dưới ánh đuốc, các thành viên đầu tiên của Illuminati đã gặp nhau để tuyên bố sáng lập và đặt ra những quy tắc điều hành hoạt động của Hội. Theo đó, mọi ứng viên tương lai cần nhận được sự đồng ý của tất cả các thành viên để được gia nhập, bên cạnh nhiều tiêu chí khắt khe khác như: xuất thân giàu có, gia đình danh giá, có địa vị và mối quan hệ xã hội tốt. Lúc đầu, Illuminati phân chia các thành viên làm 3 cấp: novice (người mới), minerval và illuminated minerval (illuminated mang nghĩa là đã được khai sáng) – Minerval là tên của vị Nữ thần thông thái La Mã, được xem là rất phù hợp với mục tiêu truyền bá tri thức, sự thật lẫn khai sáng về cách thức định hình lại nhà nước và xã hội.

Biểu tượng con mắt của Illuminati trên đồng đô la Mỹ. Ảnh: HowStuffWorks

Chỉ trong vài năm, Illuminati đã đạt được sự phát triển đáng kể, cả về quy mô lẫn sự đa dạng, với số lượng thành viên lên tới hơn 600 (năm 1782), bao gồm nhiều nhân vật rất có ảnh hưởng tại Bavaria như Bá tước Adolph von Knigge và ông chủ nhà băng Mayer Amschel Rothschild (có thuyết âm mưu cho rằng Rothschild chính là gia tộc giàu có nhất thế giới). Từ chỗ chỉ giới hạn quanh các môn đệ của Weishaupt, về sau Hội kết nạp thêm nhiều quý tộc, chính trị gia, bác sĩ, luật sư, trí thức và cả những thi sĩ, văn hào hàng đầu như Johann Wolfgang von Goethe. Vì thế, tính đến cuối năm 1784, Hội đã có khoảng 2000 – 3000 thành viên. Đặc biệt, Bá tước von Knigge là người góp công cực lớn trong việc mở rộng tổ chức và hoạt động của Hội. Vốn là một cựu Freemason, ông đã ủng hộ việc áp dụng một số nghi thức tương tự, như đặt cho các thành viên của Illuminati một “bí danh” mang tính biểu tượng – lấy từ những điển tích cổ, chẳng hạn Weishaupt có tên là Spartacus, còn Knigge là Philo. Chưa hết, cơ chế phân loại hội viên cũng trở nên phức tạp hơn nhiều, khi tổng cộng có tới 13 bậc và được chia làm 3 cấp.

Tuy nhiên, trước rất nhiều sức ép, cả ở trong lẫn bên ngoài, sự lan truyền ảnh hưởng của Hội đến giai cấp thượng tầng và quyền lực ở Bavarian đã bị chặn lại. Ngoài ra, giữa Weishaupt và Knigge cũng ngày càng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tranh cãi liên quan đến các mục tiêu, nghi thức và hoạt động của Hội, dẫn tới việc Knigge phải ra đi. Nhưng nghiêm trọng hơn, một cựu thành viên khác là Joseph Utzschneider còn gửi thư cho nữ Công tước xứ Bavaria, tiết lộ nhiều bí mật (pha trộn giữa sự thật với dối trá) của Illuminati, thậm chí vu cho Hội đang âm mưu chống lại Bavaria nhân danh nước Áo. Được vợ cảnh báo, Công tước Bavaria đã ban hành một sắc lệnh vào tháng 6/1784, cấm tiệt việc thành lập các hội kín. Chỉ chưa đầy một năm, tháng 3/1785, sau lệnh cấm thứ hai, cảnh sát lại nhận được lệnh tăng cường đàn áp. Trong quá trình truy bắt các thành viên Illuminati, cảnh sát đã tìm thấy nhiều tài liệu biện hộ cho hành vi tự sát, ủng hộ thuyết vô thần, hướng dẫn phá thai, kế hoạch thành lập chi hội nữ và công thức của một loại mực vô hình … tất cả trở thành cơ sở để kết tội Hội âm mưu chống lại tôn giáo và nhà nước. Đến tháng 8/1787, công tước lại ban hành một sắc lệnh thứ ba, khẳng định việc cấm lập hội và tuyên bố sẽ xử tử bất cứ ai vi phạm. Còn Weishaupt, sau khi mất ghế giáo sư tại Ingolstadt, ông bị trục xuất khỏi Bavaria, chuyển tới Gotha (Saxony), nhận dạy triết cho các sinh viên ĐH Göttingen và sống nốt phần đời còn lại ở đây cho tới khi mất (năm 1830).

Adam Weishaupt (1748 – 1830). Ảnh: Wikipedia

Mặc dù đã tan rã, song rất nhiều di sản của Illuminati vẫn còn tồn tại đến tận ngày nay và trở thành chủ đề hấp dẫn đối với các thuyết âm mưu. Chẳng hạn, một số đồn đoán cho rằng, chính Weishaupt là người đã bày mưu cho Cách mạng Pháp (1789); hay Hội Ánh sáng thực chất đang vẫn tồn tại, âm thầm hoạt động và can dự đến nhiều bí ẩn lịch sử, chẳng hạn vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy (11/1963). Ngoài ra, tư tưởng của Weishaupt còn có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều tiểu thuyết nổi tiếng như Thiên thần và Ác quỷ (Dan Brown) hay Con lắc Foucault (tác giả Umberto Eco người Ý). Nhưng sau cùng, có lẽ đóng góp độc đáo và trường tồn nhất của Weishaupt chính là ý tưởng về các hội kín – do giới tinh anh lập ra – để chi phối quyền lực sau hậu trường.

Đức Trung (Theo National Geographic)
Link tham khảo: