Wednesday, November 27, 2024

TẢN MẠN VỀ PHONG THỦY SÔNG TÔ LỊCH

Sông Tô Lịch từng là con sông mà các đời vua Lý – Trần thường ngồi thuyền rồng dạo chơi. Nhưng đến nửa đầu thế kỷ 18 sông Hồng đổi dòng, sông Tô Lịch kdần dần trở thành dòng sông chết, không còn dòng chảy và cũng mất đi khả năng tự làm sạch. Ngày nay nơi đây chỉ giống như một cống thoát nước lớn của Hà Nội.


Sau khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi, sư Vạn Hạnh biết phong thủy ở kinh đô Hoa Lư không phù hợp nữa, các Triều đại ở đây chỉ tồn tại ngắn ngủi. Hoa Lư chật hẹp đất thấp, không xứng với tầm vóc để xây dựng một Giang Sơn hùng mạnh, vì thế mà sư Vạn Hạnh khuyên Vua dời đô đến thành Đại La.

Theo truyền thuyết, trước đó vào thời nhà Đường, Cao Biền quan sát phong thủy đã biết nơi đây vượng khí rất mạnh nên đã tìm cách trấn yểm. Tuy nhiên các thiền sư Diệt Hỷ đã tìm cách giải được trận đồ trấn yểm này.

Vua Lý Thái Tổ dời đô đến thành Đại La và đổi tên là thành Thăng Long. Từ đó văn minh Đại Việt phát triển rực rỡ, các Triều đại sau này cũng tồn tại rất lâu dài. Vượng khí Thăng Long hình thành từ núi Tản Viên và sông Hồng.

Sông Hồng còn có tên là Nhĩ Hà, sở dĩ sông Hồng có tên gọi là Nhĩ Hà bởi khi chạy đến Thăng Long thì uốn cong như vành tai, nên có tên là Nhĩ Hà (Nhĩ âm Hán Việt là tai). Khúc sông này vòng ngoài hướng ra phía Long Biên, đoạn ở cầu Vĩnh Tuy ngày nay lại hơi lõm vào như vành tai. Khu vực này ôm trọn vùng nội thành Hà Nội ngày nay.

Gần vị trí Nhĩ Hà này xưa kia Cao Biền đã cho xây thành Đại La, đồng thời có nhiều công trình dưới sông Tô Lịch (một phân lưu của sông Hồng) nhằm trấn yểm vượng khí nước nam. Cao Biền cũng nhận thấy Hồ Tây vượng khí rất mạnh không thể trấn yểm, Hồ Tây là rốn rồng. Sông Hồng, Sông Tô Lịch đối với rốn rồng Hồ Tây cũng có mối liên hệ mật thiết, là long mạch chủ dẫn vượng khí đến rốn rồng.

Bản đồ kinh thành Thăng Long theo “Hồng Đức bản đồ sách”, ban hành vào đời vua Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 21 (tức năm 1490). Có thể thấy vị trí hồ Tây và sông Tô Lịch. (Tranh: Wikipedia, Public Domain)

Trong “Chiếu dời đô”, vua Lý Thái Tổ mô tả Thăng Long như sau:

“Ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.” (Bản dịch của “Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam”)

Thăng long phía sau tựa vào núi Ba Vì vững chắc làm huyền vũ, phía trước chu tước là sông Hồng rộng rãi làm minh đường, tầm nhìn rộng hơn là biển Đông. Đây là nơi mà các thiền sư Diệt Hỷ chọn làm Kinh đô sau khi đã phá thế trấn yểm của Cao Biền.

Kinh đô Thăng Long ở nơi thịnh vượng giúp Đại Việt vững vàng đánh bại các cuộc xâm lăng của ngoại bang. Trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc, nhà Lý vẫn đánh bại liên quân Tống – Chiêm – Khmer. Nhà Trần 3 lần đánh bại đội quân Nguyên Mông hiếu chiến hùng mạnh trong lịch sử.

Hồ Quý Ly sau khi lên ngôi đã dời đô về Thanh Hóa và không bảo vệ được Giang Sơn trước sự xâm lăng của quân Minh. Sau này nhà Lê suy sụp, nhưng đặt đô ở Thăng Long nên không có ngoại bang nào xâm phạm.

Tuy nhiên vượng khí phong thủy không tồn tại mãi mãi. Trước kia sông Tô Lịch chảy đến Yên Thái thì nhận nước từ sông Thiên Phù khiến nước luân chuyển, vì vậy mà các đời vua Lý – Trần thường ngồi thuyền rồng dạo sông Tô Lịch. Khi vua Gia Long lên ngôi lập ra nhà Nguyễn đã dời đô về Phú Xuân, các hoạt động văn hóa, thương mại ở Thăng Long lắng dần xuống

Sông Tô Lịch đến cận đại vẫn còn trong xanh thơ mộng, gắn bó mật thiết với dân chúng, nhiều bài ca dao nói về dòng sông này:

Nước sông Tô vừa trong vừa mát
Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh
Ngập ngừng muốn tỏ tâm tình
Sông bao nhiêu nước thương mình bấy nhiêu.

Đến nửa đầu thế kỷ 18 sông Hồng đổi dòng, cát bồi lấp cửa sông Thiên Phù, sông Tô Lịch không còn nhận được nước từ sông Thiên Phù nữa để chảy vào Hồ Tây, dần dần trở thành dòng sông chết, không còn dòng chảy và cũng mất đi khả năng tự làm sạch.

Sông Tô Lịch, đoạn chảy qua quận Cầu Giấy, Hà Nội. (Ảnh: Bình Giang, Wikipedia, Public Domain)

Sông Tô Lịch không còn, vượng khí Thăng Long cũng không còn, thành Hà Nội không thể ngăn được quân Pháp.

Năn 1889, người Pháp cho lấp sông Tô Lịch đoạn Hàng Khoai để xây chợ Đồng Xuân. Từ đó sông Tô Lịch cứ bị lấp thu hẹp dần.

Sau này các dự án sông Hồng đã khiến sông Tô Lịch thành con sông chết, ngày nay trở thành con kênh thoát nước của Hà Nội. Từ con sông là long mạch chủ, sông Tô Lịch ngày nay trở thành kênh thoát nước thải cho thành phố Hà Nội.

Theo: Trithucvn

NHẤT TÙNG HOA - TRƯƠNG TIÊN


Nhất tùng hoa - Trương Tiên

Thương cao hoài viễn kỷ thời cùng,
Vô vật tự tình nùng.
Ly sầu chính dẫn thiên ty loạn,
Cánh đông mạch phi nhứ mông mông,
Tê kỵ tiệm viễn,
Chinh trần bất đoạn,
Hà xứ nhận lang tung.

Song uyên trì chiểu thuỷ dung dung,
Nam mạch tiểu kiêu thông,
Thê hoành hoạ các hoàng hôn hậu,
Hựu hoàn thị tà nguyệt liêm lung.
Trầm hận tế tư,
Bất như đào hạnh,
Do giải giá đông phong.


一叢花 - 張先

傷高懷遠幾時窮,
無物似情濃。
離愁正引千絲亂,
更東陌飛絮濛濛,
嘶騎漸遠,
征塵不斷,
何處認郎蹤。

雙鴛池沼水溶溶,
南陌小橈通,
梯橫畫閣黃昏後,
又還是斜月簾櫳。
沈恨細思,
不如桃杏,
猶解嫁東風。


Nhất tùng hoa
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Xa xôi thương nhớ tận cùng.
Lấy chi bày tỏ nhớ nhung cho chàng.
Tơ sầu bao sợi giăng ngang.
Tường Đông hoa rụng, mơ màng liễu buông.
Đường xa ngựa hí dặm trường.
Bụi hồng chưa tỏ, con đường về đâu ?.
Uyên ương sóng bước bên nhau.
Chèo khuya Nam Bắc, làu làu chưa thông.
Những khi trăng rọi bên song.
Những khi lầu gác nhớ mong người về.
Khi đâu suy nghĩ não nề.
Thương cho đào hạnh, bộn về gió đông.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Trương Tiên 張先 (990-1078) tự Tử Dã 子野, người Ngô Hưng, tỉnh Chiết Giang, từng làm quan lang trung. Từ của ông phong cách khá cao, nổi danh ngang với Liễu Vĩnh. Trong Bạch Vũ trai từ thoại, từ của ông được nhận định vừa hàm súc, vừa phát việt. Tác phẩm của ông có An lục tập và An lục từ.

Nguồn: Thi Viện



TẠI SAO CON NGƯỜI ĂN THỊT ĐỘNG VẬT ĂN CỎ MÀ KHÔNG ĂN THỊT ĐỘNG VẬT ĂN THỊT? CÓ GÌ KHÁC BIỆT?

Thịt là loại thực phẩm thường xuyên xuất hiện trong bữa ăn của con người. Tuy nhiên, nếu ngẫm nghĩ kỹ thì hầu như tất cả loại thịt chúng ta thường ăn đều là thịt của động vật ăn cỏ chứ không phải là động vật ăn thịt! Lý do đằng sau thói quen ăn uống này là gì?


Con người bắt đầu ăn thịt từ khi nào?

Thực tế, tổ tiên chúng ta ban đầu là người ‘ăn chay’ và họ đã duy trì thói quen này từ rất lâu. Nguồn gốc của con người có liên quan chặt chẽ với loài linh trưởng và loài vượn. Điều này thể hiện rõ nhất dựa vào việc ăn trái cây, lá cây dại và các loại thực phẩm khác để tồn tại.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu hóa thạch răng hàm và xương hàm của người tiền sử, từ cấu trúc và hình dạng đã suy ra rằng thức ăn ăn vào thời đó cần phải nhai kỹ và lượng tiêu thụ tương đối lớn. Động vật ăn cỏ thường có răng hàm phát triển tốt, nhưng động vật ăn thịt thì không.

Con người chính thức bắt đầu ăn thịt cách đây khoảng 2,3 triệu năm, chủ yếu là do sự thay đổi đột ngột của môi trường sống. Do biến đổi khí hậu, lượng mưa giảm, rừng biến mất và các yếu tố khác, thậm chí nếu muốn ăn một ít cỏ cũng đòi hỏi con người phải chiến đấu với các động vật khác.

Điều này khiến con người phải mở rộng thực đơn và bắt đầu ăn xác thối do động vật lớn để lại .


Tại sao con người lại thích ăn thịt?

Có thể nói, việc con người thèm ăn thịt là một tín hiệu được gửi đến từ nhu cầu năng lượng của cơ thể . Năng lực não bộ ban đầu của con người gần bằng với tinh tinh. Tuy nhiên, bắt đầu từ 1,5 triệu năm trước, tốc độ tiến hóa não bộ của con người tăng lên đáng kể, và chỉ khi đó con người mới dần có được những đặc điểm cơ bản của bộ não người hiện đại.

Đồng thời, tổ tiên của loài người lúc đầu thấp và gầy, phải đến khi tiến hóa thành Homo erectus thì kích thước đầu và chiều cao mới thực sự ở mức "con người" hiện đại. Để cung cấp nhu cầu của cơ thể trong giai đoạn này không thể thiếu những thực phẩm có hàm lượng calo cao, nếu không thì sẽ không theo kịp tốc độ tăng trưởng.

Thịt chứa một lượng lớn axit amin, protein, vitamin, khoáng chất, … Trong quá trình tiến hóa của não và tứ chi, việc chỉ ăn một ít rễ cỏ, hạt, hoa không còn có thể đáp ứng đủ chất béo và protein cần thiết cho sự phát triển của con người, vì vậy con người bắt đầu ăn thịt để hấp thụ năng lượng cung cấp cho các hoạt động sinh lý.


Tại sao con người không ăn động vật ăn thịt?

Việc săn bắn quá khó khăn và cái được nhiều hơn cái mất. Người ta không ăn thịt động vật ăn thịt vì một lý do rất đơn giản: Những động vật ăn thịt quá khó chiến đấu. Động vật ăn thịt cũng có thể được gọi là thú dữ, thú ăn thịt, chỉ cần nghe gọi thôi cũng có thể thấy rõ sự nguy hiểm.

Nếu xét theo chuỗi thức ăn, mặc dù hàm lượng dinh dưỡng trong thực phẩm động vật cao hơn thực phẩm thực vật nhưng động vật ăn thịt xét cho cùng vẫn là sinh vật tiêu thụ cấp 3. Đặc điểm cơ quan cơ thể của chúng thích hợp hơn cho việc săn bắn và chúng thường có cơ bắp khỏe mạnh, to lớn, miệng và các giác quan nhạy bén.

Hơn nữa, răng của động vật ăn thịt còn sắc hơn răng của động vật ăn cỏ rất nhiều, một vết cắn sẽ khiến máu chảy ồ ạt, nên việc đi săn đương nhiên sẽ gặp nhiều rủi ro hơn. Ngay cả sau khi đã tạo ra công cụ săn bắn, con người vẫn cần phải bao vây thú ăn thịt với cả tập thể , việc này không chỉ tiêu tốn nhiều năng lượng mà còn có thể gây thương vong nặng nề .

Đồng thời, con người sơ khai không có móng vuốt hay hàm răng sắc nhọn và phải đối mặt với một môi trường sống hết sức khắc nghiệt. Đối với con người thời đó, sinh tồn là mục tiêu lớn nhất. Thiên tai như lũ lụt, bão tố cũng đủ khiến người ta phải đau đầu, vậy nếu muốn ăn thịt tại sao không chọn những loài động vật ăn cỏ tương đối dễ bắt?


Khó thuần hóa và nhân giống

Con người bắt đầu chăn nuôi động vật vào thời kỳ đồ đá mới từ 8.000 đến 10.000 năm trước, ban đầu họ bắt được động vật hoang dã trong quá trình săn bắn, sau đó dần dần thuần hóa chúng, trở thành nguồn thực phẩm quan trọng cho con người. Nhưng cho đến sau này, hầu hết các loài được thuần hóa đều là động vật ăn cỏ, nhiều nhất là động vật ăn tạp.

Bởi vì người ta đã phát hiện ra rằng những động vật có tính tình ngoan ngoãn, dễ điều khiển và có khả năng sinh sản mạnh là thích hợp nhất để thuần hóa, nhưng hầu hết các loài ăn thịt rõ ràng không đáp ứng được những đặc điểm này. Hầu hết loài thú ăn thịt đều có tính ‘tự chủ’ cực kỳ cao và hung dữ, khiến chúng khó nuôi, và quản lý trong điều kiện nuôi nhốt.

Ngược lại, động vật ăn cỏ do con người nuôi lại có giá trị sử dụng cao hơn. Ví dụ như gà, vịt, ngan, v.v. không chỉ có thể cung cấp thịt mà còn có thể đẻ trứng, các động vật như bò, cừu cũng có thể cho sữa. Đối với con người, động vật ăn cỏ có thể cung cấp giá trị trong thời gian dài và liên tục đồng thời sẽ tiết kiệm chi phí hơn.


Số lượng hiếm và nguồn cung không đủ

Trong chuỗi thức ăn, các loài động vật có bậc dinh dưỡng càng cao như sư tử, hổ và các loài động vật ăn thịt lớn khác thì số lượng thức ăn của chúng càng nhỏ, vì động vật ăn thịt cần bỏ công sức để săn các động vật khác, điều này không chỉ tiêu tốn nhiều sức lực mà chúng còn có thể bị giết.

Nhưng hãy nhìn động vật ăn cỏ, chúng có rất nhiều rễ cỏ và vỏ cây có thể ăn được, dễ tìm kiếm thức ăn.

Vì vậy, tốc độ sinh sản của động vật ăn cỏ nói chung cao hơn nhiều so với động vật ăn thịt, chu kỳ sinh sản cũng ngắn hơn. Ví dụ như thỏ có thể giao phối và sinh sản quanh năm, một lứa có thể sinh trên 5 con.

Thịt của động vật ăn thịt không tốt cho sức khỏe?

Trong môi trường tự nhiên, sinh vật ít nhiều sẽ hấp thụ một số chất ô nhiễm và tích tụ trong cơ thể ... Nếu tiêu thụ quá nhiều sẽ xảy ra hàng loạt hiệu ứng dây chuyền. Động vật ăn thịt đứng ở vị trí cao hơn trong chuỗi thức ăn, điều đó có nghĩa là các chất ô nhiễm được tiêu hóa bởi tất cả các sinh vật bên dưới cuối cùng sẽ xâm nhập vào cơ thể chúng.

Mặc dù axit dạ dày của con người rất mạnh nhưng chức năng đường tiêu hóa dễ bị tổn thương và mỏng manh hơn nhiều so với động vật ăn thịt sống và quanh năm ký sinh trùng. Nếu con người ăn động vật ăn thịt, họ cũng sẽ ăn phải một số chất kim loại nặng và các chất có hại mà dạ dày không thể phân hủy được.


Thịt động vật ăn thịt có thực sự khó ăn?

Đầu bếp nổi tiếng của Trung Quốc là Yi Yin từng nói về mùi vị của động vật ăn thịt và động vật ăn cỏ . Thực ra, cả hai loại thịt đều có cái hay riêng, quan trọng hơn là ở sự khác biệt trong khẩu vị của mỗi người mà thôi. Nhiều người Trung Quốc cho rằng thịt mèo thịt chua nhưng nhiều người Việt lại rất thích ăn. Cũng có người ghét mùi thịt cừu, mùi cá, đây là điều không thể xác định được.

Từ góc độ khoa học, bất kể là động vật ăn thịt hay động vật ăn cỏ, tất cả các loại thịt đều có tính axit. Chỉ là trong cuộc sống hằng ngày, vì thấy ít đồ ăn và giá cả cao nên phần lớn mọi người muốn thử mùi vị của thịt thú ăn thịt với tâm lý “ khan hiếm càng quý”, ngon hay không chỉ là vấn đề quan điểm.

Nhìn chung, việc ăn thịt động vật ăn thịt là một điều rất tốn kém đối với con người và khoản đầu tư thậm chí không tỷ lệ thuận với lợi nhuận thu được. Khi cân nhắc những ưu và nhược điểm, chúng ta tự nhiên có xu hướng ăn động vật ăn cỏ. Không phải động vật ăn thịt không ngon mà chỉ là chúng ta không cần thiết phải ăn chúng.

Becky Trương / Theo: techz

Tuesday, November 26, 2024

NHÀ THƠ NHIỀU VỢ NHẤT VIỆT NAM: BI KỊCH SAY RƯỢU LẠC MẤT CON, CUỘC ĐỜI GẮN LIỀN VỚI CON SỐ 4 BÍ ẨN

Nếu phải chọn ra một thi sĩ có cuộc đời lận đận, gặp nhiều bi kịch bậc nhất Việt Nam, ông chắc chắn sẽ được nhớ đến. Không hiểu vì sao, số phận của người đàn ông này luôn gắn chặt với con số 4.


Nhà thơ nhiều vợ nhất Việt Nam: Bi kịch say rượu lạc mất con, cuộc đời gắn liền với con số 4 bí ẩn

Trong làng thơ văn Việt Nam, nhắc đến Nguyễn Bính là nhắc đến “nhà thơ của làng quê Việt”. Những câu từ đậm chất dân gian, lãng mạn, bay bổng nhưng cũng không kém phần chân chất thôn quê của ông đã quá nổi tiếng. Nhưng còn nhiều điều về nhà thơ này mà có lẽ bạn chưa biết.

Nguyễn Bính rất đào hoa. Ông có đến 4 người vợ, với mỗi người lại có một người con. Có lẽ trong làng văn học nghệ thuật Việt Nam, hiếm nhà thơ nào lại nhiều vợ như Nguyễn Bính. Người vợ đầu tiên của nhà thơ này là bà Nguyễn Hồng Châu, một cán bộ cách mạng, có trình độ học vấn. Cuộc hôn nhân của họ thực chất do là sắp xếp của tổ chức chứ không hề có tình cảm. Họ có một người con chung tên Nguyễn Bính Hồng Cầu. Sau này, 3 người vợ còn lại của Nguyễn Bính lần lượt có tên là: Mai Thị Mới, Phạm Vân Thanh, Trần Thị Lai.


Năm 1957, tờ báo Trăm Hoa mà Nguyễn Bính là chủ bút rơi vào cảnh lỗ vốn nặng, tự giải thể. Bà vợ thứ ba của ông khi đó là Phạm Vân Thanh cũng là nữ thư ký của báo. Tình hình lao dốc, thi sĩ này tìm đến men rượu giải sầu. Điều đó khiến gia đình ông xảy ra mâu thuẫn khó giải quyết.

Một đêm nọ Nguyễn Bính say rượu, về nhà lại gây gổ với vợ. Vân Thanh tức giận bỏ về nhà mẹ đẻ, để cho người chồng này làm “gà trống nuôi con”. Nguyễn Bính đã nghèo khổ, lại còn phải đảm nhận nhiệm vụ nuôi con. Hàng ngày ông cõng theo cậu con trai trên lưng và tiếp tục đi uống rượu.

Một chiều cuối năm, Nguyễn Bính uống rượu say mèm. Trong cơn mê man, không hiểu vì sao ông lại nhờ một ông già bán củi giữ con hộ để mình đi vệ sinh. Cuối cùng đi xong, Nguyễn Bính nằm ngủ luôn bên thềm chợ. Khi ông tỉnh dậy, bàng hoàng đi tìm con thì chợ đã vắng tanh, không ai thấy ông già bán củi hay đứa bé đâu nữa. Đó cũng là lần cuối nhà thơ này được nhìn thấy cậu con trai nhỏ.


Hàng chục năm sau, Nguyễn Bính cùng gia đình nỗ lực tìm kiếm khắp nơi nhưng không thể tìm thấy người con này. Đó mãi mãi là nỗi day dứt của vị thi sĩ.

Nói cuộc đời Nguyễn Bính bi kịch là còn bởi dù ông có đến 4 người vợ, 4 người con, nhưng cuối đời lại ra đi ở nhà một người quen chứ không phải gia đình mình. Hôm đó là 29 tháng Chạp nhưng vì năm đó chỉ có 29 ngày, nên nó cũng là ngày cuối cùng của năm. Nguyễn Bính sau khi ăn uống xong với bạn, ra cầu ao rửa mặt thì bị trượt chân ngã xuống ao, trúng lạnh rồi ói ra máu và ra đi. Vị thi sĩ này trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 49, khi mà người vợ thứ tư đang ở cữ sinh hạ cho ông cậu con trai Nguyễn Mạnh Hùng.


Cuộc đời của Nguyễn Bính không hiểu vì sao luôn gắn liền với con số 4. Từ 4 người vợ, 4 người con, đến 4 lần di chuyển mộ phần. Chứng kiến cuộc đời long đong đến tận khi qua đời vẫn chẳng yên của người bạn này, Nguyễn Thế Vinh đã phải thốt lên:

“Long đong kiếp sống đã đành
Gian nan cả lúc đã thành người xưa”.

S.H (Theo Sở Hữu Trí Tuệ và Sáng Tạo)

TỶ LỆ BỎ HỌC ĐẠI HỌC ÚC CAO KỶ LỤC, CHỈ 62% SINH VIÊN ĐỊA PHƯƠNG TỐT NGHIỆP

Dữ liệu mới nhất do một tổ chức tư vấn công bố cho thấy tỷ lệ sinh viên bỏ học tại các trường đại học Úc đã đạt mức cao kỷ lục, và trọng tâm của giáo dục đại học đang chuyển dần từ sinh viên trong nước sang sinh viên quốc tế, xu hướng này đã làm dấy lên mối lo ngại rộng rãi về chất lượng giáo dục và phân bổ nguồn lực.


Một báo cáo phân tích do Viện Công vụ (IPA) công bố hôm thứ Tư (23/10) cho thấy 25% sinh viên địa phương bắt đầu học cử nhân vào năm 2017 đã bỏ học trước năm 2022 và chỉ 62% tốt nghiệp thành công trong vòng 6 năm.

Ngược lại, sinh viên nước ngoài có tỷ lệ tốt nghiệp cao hơn. Trong vòng 6 năm, tỷ lệ sinh viên quốc tế bỏ học chỉ là 19% và tỷ lệ tốt nghiệp của họ lên tới 79%.

Phân tích, dựa trên dữ liệu của Bộ Giáo dục liên bang, cho thấy các trường đại học Australia đang ưu tiên thị trường sinh viên quốc tế sinh lợi.

IPA cho biết, từ năm 2000 đến năm 2022, số lượng du học sinh theo học tại các trường đại học Australia đã tăng từ 95.000 lên gần 450.000. Tỷ lệ sinh viên quốc tế tuyển sinh đại học cũng tăng từ 14% năm 2000 lên 29% vào năm 2022.

Kể từ năm 2000, số lượng sinh viên quốc tế ghi danh đã tăng 370%, trong khi số lượng sinh viên địa phương chỉ tăng 84%.

Nhà nghiên cứu Brianna McKee của IPA cho biết dữ liệu cho thấy các trường đại học Australia đã trở thành “nhà máy cấp bằng phục vụ sinh viên quốc tế”.


Bà nói: “Người Úc có quyền đặt câu hỏi về những phó hiệu trưởng dựa vào số lượng sinh viên quốc tế để hỗ trợ mức lương cao và liệu mô hình đại học hiện tại có thực sự phục vụ sinh viên Úc hay không. Sinh viên địa phương phải luôn là ưu tiên hàng đầu của các khoa trong trường đại học”.

Bà cũng chỉ trích mô hình đại học của Úc đang chuyển từ giáo dục sang mô hình kinh doanh tìm kiếm doanh thu, dẫn đến sự suy giảm các tiêu chuẩn học tập.

IPA cũng đổ lỗi cho sự gia tăng tỷ lệ sinh viên bỏ học ở Úc là do việc học tập từ xa tăng lên, hạ thấp tiêu chuẩn học tập, văn hóa khuôn viên trường xấu đi và tập trung quá mức vào sinh viên quốc tế.

IPA cho biết ngày càng nhiều sinh viên địa phương không thể hoàn thành chương trình học của mình, đồng nghĩa với việc họ phải gánh khoản nợ cho vay giáo dục đại học (HELP) trong khi không đạt được bằng cấp phù hợp.

Báo cáo cho thấy chỉ một nửa số sinh viên địa phương bắt đầu học lấy bằng giáo dục vào năm 2017 đã tốt nghiệp trong vòng 6 năm, giảm từ mức 70,3% trong giai đoạn 2005-2010. Ngành Y có tỷ lệ tốt nghiệp cao nhất với 90,9%, tiếp theo là nha khoa với 88%.

Tỷ lệ bỏ học đại học Úc cao kỷ lục, chỉ 62% sinh viên địa phương tốt nghiệp. (Ảnh minh họa: Shutterstock)

Ngoài ra, trong số sinh viên nhập học năm 2017, tỷ lệ không tốt nghiệp cao nhất thuộc về sinh viên chuyên ngành Công tác xã hội (Social Work), đạt 53,4%. Tỷ lệ không tốt nghiệp của sinh viên chuyên ngành Giáo dục (Teacher Education) là 48,9%, trong khi sinh viên chuyên ngành Tin học và Hệ thống Thông tin (Computing & Information Systems) có tỷ lệ không tốt nghiệp là 45,4%.

Bà McKee kêu gọi sinh viên quốc tế là một thị trường quan trọng đối với các trường đại học Australia, nhưng việc theo đuổi nguồn thu này không nên đánh đổi bằng chất lượng giáo dục, nhà ở và cơ sở hạ tầng xã hội cho sinh viên địa phương.

“Hơn bao giờ hết, chúng ta cần những giới hạn cứng rắn hiệu quả đối với số lượng sinh viên quốc tế và tập trung đổi mới vào lĩnh vực đại học trong việc giáo dục thế hệ người Úc tiếp theo”.

Lý Ngọc biên dịch
Theo The Epoch Times
Link tham khảo:



QUY TUNG SƠN TÁC - VƯƠNG DUY


Quy Tung Sơn tác
Vương Duy

Thanh xuyên đới trường bạc,
Xa mã khứ nhàn nhàn.
Lưu thuỷ như hữu ý,
Mộ cầm tương dữ hoàn.
Hoang thành lâm cổ độ,
Lạc nhật mãn thu sơn.
Điều đệ Tung cao hạ,
Quy lai thả bế quan.

Tung Sơn là một trong Ngũ nhạc, cách 10 dặm phía bắc huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam. Núi có hai quả, đông là Thái Thất, tây là Thiếu Thất.


歸嵩山作 - 王維

清川帶長薄
車馬去閑閑
流水如有意
暮禽相與還
荒城臨古渡
落日滿秋山
迢遞嵩高下
歸來且閉關


Làm khi về Tung Sơn
(Dịch thơ: Trần Trọng Kim)

Suối trong quanh giữa rừng thưa
Ngựa xe đi đó từ từ thẩn thơ
Nước trôi có ý đón chờ
Chim hôm dường muốn đợi ta cùng về
Thành hoang cạnh bến đò kia
Bóng chiều đã giọi khắp rìa núi thu
Non Tung thăm thẳm nhấp nhô
Về đây đóng cửa để tu mới mầu

Nguồn: Thi Viện



VÌ SAO THƯỜNG XUYÊN ĂN SƠN HÀO HẢI VỊ NHƯNG CÁC PHI TẦN THỜI XƯA VẪN HAY ĐAU ỐM VÀ KHÔNG SỐNG THỌ?

Dù sống trong nhung lụa nhưng các phi tần thời xưa vẫn phải quẩn quanh bên bát thuốc mỗi ngày.


Bất cứ nữ nhân nào thời xưa cũng đều hy vọng mình có thể lọt vào mắt xanh của hoàng đế. Họ chỉ cần được thông qua những đợt tuyển chọn tú nữ trong hoàng cung là có thể một bước lên tiên, sống cuộc đời nhung lụa.

Tuy nhiên, cuộc sống có xa hoa, ngày ngày ăn sơn hào hải vị thì vẫn có những phi tần dễ ngã bệnh, thậm chí qua đời từ rất trẻ. Vậy nguyên nhân thực sự là gì? Dưới đây là những nguyên nhân khiến các phi tần dễ mắc bệnh.

Tinh thần thường xuyên lo lắng

Những hoàng hậu và phi tần này dường như họ chưa bao giờ thực sự vui vẻ bởi việc hầu hạ hoàng thượng không hề dễ dàng.

Phi tần thời xưa ngày ngày phải sống trong mùi thuốc

Trong hậu cung có hàng ngàn mỹ nữ, những phi tần này rất ít khi được tận mắt thấy hoàng thượng, vì vậy không thể đoán ra được hoàng thượng đang nghĩ gì. Có phi tần một tháng, một năm cũng không được hoàng thượng sủng ái, khiến họ luôn có những suy nghĩ tiêu cực trong đầu, không biết rằng mình đã phạm phải sai lầm nào đó không mà không được hoàng thượng đoái hoài đến.

Đến khi đột nhiên được gọi đến tên để hầu hạ hoàng thường thì lại có cảm xúc bồn chồn, lo lắng về cử chỉ, hành động, lời nói… cứ tiếp tục như vậy trong thời gian dài chắc chắn sẽ gây ra một số tổn thương tâm lý cho bản thân dẫn đến mắc bệnh.

Luôn phải đề phòng xung quanh, ăn ngủ không ngon

Người trong hoàng tộc thường xuyên ăn sơn hào hải vị nhưng vẫn không thể sống thọ

Trong lịch sử Trung Quốc, nhiều phi tần dùng thủ đoạn tàn ác để được thăng tiến, sủng ái. Khi đã đứng được ở địa vị cao đồng nghĩa với việc tay nhuốm máu vô số người, gánh tội ác không dứt. Vì vậy, trong lòng luôn bồn chồn, thân bất an làm sao có thể thanh thản, ngủ ngon giấc được.

Các phi tần ngoài việc ngày ngày nỗ lực chiếm được sự sủng ái, hầu hạ hoàng đế tốt nhất, họ còn lo lắng về sự ghen tị của các phi tần khác sẽ làm tổn hại tới mình.

Nếu may mắn được hoàng thượng sủng ái, có được long thai, họ cũng phải lo lắng đến việc người khác sẽ làm hại con mình. Người không có con thì suốt ngày nghĩ cách để hoàng đế thích mình, luôn lo lắng bị người khác so sánh.

Thói quen ăn uống

Trong cung, chế độ ăn uống của hoàng đế, hoàng hậu và các phi tần luôn đặc biệt. Theo đó, 3 bữa ăn mỗi ngày đều được nhà bếp chuyên dụng của hoàng gia chuẩn bị kỹ lưỡng. Tuy nhiên các món sơn hào hải vị tưởng chừng rất ngon miệng và bổ dưỡng này lại ẩn chứa nhiều rủi ro lớn.


Cụ thể, để theo đuổi hương vị thơm ngon của các món ăn dâng lên hoàng đế, có không ít nguyên liệu phải trải qua quá trình chế biến vô cùng phức tạp. Chẳng hạn, các đầu bếp phải tiến hành ướp và hầm các nguyên liệu trong một thời gian dài. Điều này không chỉ làm mất đi chất dinh dưỡng trong thực phẩm mà còn có thể sản sinh ra các chất có hại cho sức khỏe.

Bên cạnh đó, các nữ nhân thường lạm dụng nhiều loại thuốc bổ để giữ gìn sắc xuân. Mặc dù những loại thuốc bổ này có thể cải thiện sức mạnh thể chất trong một thời gian ngắn, nhưng nếu sử dụng lâu dài có thể gây ra những tổn thương đáng kể.

Do hôn nhân cận huyết

Thời xưa, để duy trì quyền lực và bảo vệ dòng máu hoàng tộc tôn quý nên nhiều vị hoàng đế đã kết hôn với những mỹ nữ có quan hệ họ hàng với mình. Họ cũng không biết tác hại của các mối quan hệ hôn nhân cận huyết thống.


Tuy nhiên, theo các nghiên cứu khoa học hiện nay, việc kết hôn giữa những người họ hàng gần gũi sẽ gây ra tác hại rất lớn, chẳng hạn như con cái của họ sẽ dễ bị nhiễm các bệnh về di truyền, dị tật bẩm sinh...

Đương nhiên, những căn bệnh di truyền do hôn nhân cận huyết có thể là nguyên nhân khiến tuổi thọ của các hoàng đế thời xưa bị rút ngắn.

Theo: Sohu, Toutiao