Wednesday, May 28, 2025

LÀM ĐIỀU CẤM KỊ ĐỂ CHIẾM NGAI VÀNG, VỊ HOÀNG ĐẾ TRUNG HOA MANG "TIẾNG XẤU MUÔN ĐỜI"

Nhà Hậu Tấn là triều đại thứ 3 dưới thời Ngũ đại Thập quốc ở Trung Hoa. Hậu Tấn Cao Tổ Thạch Kính Đường là người mang vết nhơ "cõng rắn cắn gà nhà", nhượng 16 châu cho người Khiết Đan ở phương bắc.

Thạch Kính Đường là hoàng đế khai quốc nhà Hậu Tấn, người mượn tay ngoại bang đế giành ngai vàng. Ảnh minh họa.

Thạch Kính Đường là một trong số các hoàng đế gây tranh cãi thời Ngũ đại Thập quốc ở Trung Hoa. Năm 937, Thạch Kính Đường nhượng Yên Vân Thập lục châu cho nhà Liêu ở phương bắc - triều đại phong kiến do người Khiết Đan thành lập, vận nước kéo dài từ năm 907 đến năm 1125, dài 218 năm.

Hành động nhượng đất từ xưa đến nay luôn được coi là điều cấm kỵ. Điều gì khiến Thạch Kính Đường quyết định như vậy dẫn đến "tiếng xấu muôn đời"?

Con rể của hoàng đế triều Hậu Đường

Vào thời Ngũ đại Thập quốc, người Khiết Đan ở phương bắc trở thành thế lực hùng mạnh, lập ra nhà Liêu.

Thạch Kính Đường sinh năm 892 trong một gia đình người dân tộc Sa Đà - nhóm dân tộc thiểu số sống ở vùng biên giới phía tây Trung Hoa khi đó.

Cha của Thạch Kính Đường là Thạch Chi Hân, một thủ lĩnh nổi tiếng trong cộng đồng người Sa Đà. Dù không phải là người Hán, nhưng từ nhỏ, Thạch Kính Đường đã được giáo dục cả văn hóa Sa Đà và văn hóa Hán. Thạch Kính Đường đặc biệt yêu thích binh pháp và ngưỡng mộ các tướng tài như Lý Mục, Chu Á Phu, những anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa.

Sau khi nhà Đường sụp đổ vào năm 907, vùng lãnh thổ phía tây Trung Hoa trở thành địa bàn của tiết độ sứ Lý Khắc Dụng - kẻ thù duyên nợ với hoàng đế nhà Hậu Lương ở Trung Nguyên là Chu Toàn Trung. Thạch Chi Hân là một trong số những cánh tay đắc lực của Lý Khắc Dụng.

Năm 908, Lý Khắc Dụng qua đời, con trai Lý Tồn Úc kế nghiệp cha. Lý Tồn Úc trọng dụng Lý Tự Nguyên, con nuôi của vua cha. Nhận thấy Thạch Kính Đường có tài cưỡi ngựa bắn cung hơn người, Lý Tự Nguyên đặc biệt trọng dụng, giao cho chỉ huy thân binh và gả con gái sau này là Vĩnh Ninh công chúa cho.

Trong các trận đánh với triều Hậu Lương, Thạch Kính Đường đã nhiều lần lập công lớn, giúp đánh bại kẻ thù duyên nợ. Năm 923, Lý Tồn Úc xưng đế, lập ra nhà Hậu Đường, sau đó tiến hành một chiến dịch diệt hoàn toàn nhà Hậu Lương trong cùng năm.

Lý Tự Nguyên đóng vai trò nổi bật trong chiến dịch còn Thạch Kính Đường và Lý Tòng Kha đều lập được công lớn. Lý Tòng Kha là một vị tướng tài năng, con nuôi của Lý Tự Nguyên. Tuy vậy, Lý Tồn Úc không ban phú quý vì theo ghi chép thì Thạch Kính Đường không thích kể công, chỉ có Lý Tự Nguyên là biết.

Giống như hoàng đế một số triều đại Trung Hoa, Lý Tồn Úc sau khi nắm quyền thì bắt đầu sát hại công thần. Thạch Kính Đường thuyết phục Lý Tự Nguyên làm phản. Kết quả là Lý Tồn Úc bị sát hại trong một cuộc binh biến tại Lạc Dương. Lý Tự Nguyên sau đó trở thành hoàng đế.

Thạch Kính Đường không chỉ được phong làm tiết độ sứ mà còn được xem là người kế thừa tiềm năng cho ngai vàng. Nhưng Thạch Kính Đường khéo léo né tránh, để các con của Lý Tự Nguyên tranh giành ngôi báu.

Nhượng Yên Vân Thập lục châu cho người Khiết Đan

Thạch Kính Đường không chỉ nhượng đất mà còn gọi vua Khiết Đan Gia Luật Đức Quang là "cha nuôi". Ảnh minh họa.

Sau khi Lý Tự Nguyên qua đời , triều Hậu Đường bắt đầu rơi vào khủng hoảng quyền lực. Hoàng tử Lý Tòng Hậu kế vị nhưng triều đình bị các phe cánh chia rẽ dẫn đến bất ổn. Lý Tòng Hậu mất quyền kiểm soát, dẫn đến việc Lý Tòng Kha đoạt ngôi vị.

Dù Lý Tòng Kha từng có quan hệ thân thiết với Thạch Kính Đường, nhưng sau khi lên ngôi, hoàng đế bắt đầu nghi ngờ Thạch Kính Đường vì quyền lực và ảnh hưởng lớn từ thời Lý Tự Nguyên.

Để giảm bớt mối đe dọa, Lý Tòng Kha nhiều lần điều chuyển Thạch Kính Đường khỏi các chức vụ quan trọng. Năm 936, vợ của Thạch Kính Đường với tư cách là trưởng công chúa, đến chúc rượu Lý Tòng Kha, xin được cùng chồng rời khỏi kinh đô Lạc Dương. Trong lúc uống rượu say, Lý Tòng Kha buột miệng: "Sao không ở lại mà vội về. Muốn cùng Thạch lang làm phản chăng?"

Thạch Kính Đường biết tin thì càng lo sợ. Không lâu sau, Lý Tòng Kha ra lệnh cho các tướng đem quân triều đình thảo phạt Thạch Kính Đường. Vào thời điểm nguy cấp, Thạch Kính Đường sai người gửi thư tới người Khiết Đan - thế lực khi đó đã thành lập nhà Liêu ở phương bắc. Người Khiết Đan là kẻ thù của nhà Hậu Đường, từng nhiều lần xâm nhập lãnh thổ.

Trong thư gửi hoàng đế nhà Liêu là Gia Luật Đức Quang, Thạch Kính Đường ngỏ ý nhận Đức Quang là "cha nuôi", sẵn sàng nhượng Yên Vân Thập lục châu cho người Khiết Đan.

Những người thân tín của Thạch Kính Đường từng can gián, nói xưng thần có thể được, còn tôn Gia Luật Đức Quang làm cha thì có phần thái quá và nên biếu của cải chứ không nên nhượng đất vì đây là điều cấm kỵ. Tuy nhiên, Thạch Kính Đường không nghe theo.

Gia Luật Đức Quang nhận được thư thì rất vui, trả lời nói rằng quân Khiến Đan sẽ liên minh với Thạch Kính Đường diệt triều đại của Lý Tòng Kha.

Mùa thu năm 936, Da Luật Đức Quang tuyên bố Thạch Kính Đường có tố chất làm chủ Trung Nguyên, hậu thuẫn để Thạch Kính Đường xưng đế, lập ra nhà Hậu Tấn.

Đến tháng 1/937, liên quân Khiết Đan và Hậu Tấn vây hãm kinh đô Lạc Dương. Trong tình thế vô vọng, Lý Tòng Kha cùng một số cận thần tự thiêu. Thạch Kính Đường tiến vào thành trong chiều tối hôm đó. Quân Hậu Đường hạ vũ khí đầu hàng, Thạch Kính Đường tuyên bố miễn trừng phạt.

Giữ đúng lời hứa, Thạch Kính Đường nhượng Yên Vân Thập lục châu cho người Khiết Đan. Quân Khiết Đan đạt mục đích thì rút khỏi Trung Nguyên.

Quan điểm trái chiều về Thạch Kính Đường

Vùng Yên Vân Thập lục châu (màu xanh đậm) sau này trở thành bàn đạp để người Khiết Đan tấn công nhà Tống.

Yên Vân Thập lục châu là khu vực quan trọng về mặt chiến lược nằm giữa tỉnh Hà Bắc và Sơn Tây của Trung Quốc ngày nay (bao gồm Bắc Kinh). Khu vực này không chỉ có giá trị kinh tế mà còn là phòng tuyến bảo vệ Trung Nguyên khỏi các cuộc xâm lược từ phương bắc. Theo góc nhìn của một số nhà sử học Trung Quốc ngày nay, Thạch Kính Đường bị coi là "kẻ bán nước", mang tiếng "cõng rắn cắn gà nhà", Sohu cho biết.

Hàng trăm năm sau, Trung Hoa vẫn luôn phải đối diện mối đe dọa từ các thế lực ngoại bang phương Bắc vì quyết định nhượng đất của Thạch Kính Đường. Năm 1368, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương giành lại giang sơn từ nhà Nguyên, Yên Vân Thập lục châu cũng được thu hồi về tay người Hán.

Một số nhà sử học khác ở Trung Quốc lại cho rằng, gán tội "bán nước" cho Thạch Kính Đường có phần không công bằng, theo Sohu.

Lý do là triều Hậu Đường lúc đó đã suy yếu nghiêm trọng với các cuộc nội chiến liên miên còn người Khiết Đan đã trở thành thế lực đáng gờm ở phương bắc.

Mặc dù việc nhượng đất là một quyết định đau lòng, nhưng nó cũng giúp Thạch Kính Đường có được thời gian và hòa bình tạm thời cho Trung Nguyên, theo quan điểm thứ hai.

Sau khi lên ngôi, Thạch Kính Đường đã cố gắng củng cố quyền lực của triều Hậu Tấn và xây dựng lại đất nước sau nhiều năm chiến tranh.

Thạch Kính Đường đã thực hiện nhiều chính sách khôi phục nông nghiệp và tăng cường quân đội, đồng thời cải tổ lại hệ thống chính trị để tăng cường sự kiểm soát của triều đình đối với các vùng đất xa xôi. Dưới sự cai trị của Thạch Kính Đường, triều Hậu Tấn từng bước ổn định và trở thành một thế lực trong khu vực.

Tuy nhiên, việc Thạch Kính Đường quá phụ thuộc vào Khiết Đan và không có nỗ lực nào nhằm lấy lại Yên Vân Thập lục châu đã làm giảm uy tín của hoàng đế trong mắt dân chúng.

Khi Thạch Kính Đường qua đời ở tuổi 50 vào năm 942, triều đại nhanh chóng suy yếu dưới sự cai trị của con nuôi Thạch Trọng Quý.

Trọng Quý còn công khai từ chối tiếp tục thần phục Khiết Đan, dẫn đến cuộc xâm lược từ phương bắc. Quân Khiết Đan đánh tan nhà Hậu Tấn. Triều đại kết thúc chỉ sau 9 năm.

Có thể nói, trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của thời kỳ Ngũ đại Thập quốc, quyết định của Thạch Kính Đường có thể được coi là một hành động mang tính chiến lược, nhằm bảo vệ quyền lực và ổn định đất nước trong ngắn hạn. Dẫu vậy, di sản của Thạch Kính Đường vẫn bị lu mờ bởi việc để mất phần lãnh thổ chiến lược. Thạch Kính Đường bị ghi nhớ như một hoàng đế "mang tiếng xấu muôn đời" trong lịch sử Trung Quốc, theo Sohu.

____________________________

Cuối thời Ngũ đại Thập quốc, có một nhân vật xuất thân con nuôi của hoàng đế, sau này lên ngôi vạch ra kế hoạch 30 năm thống nhất Trung Hoa. Nhưng khi sự nghiệp đang trên đà thuận lợi thì biến cố xảy ra khiến triều đại rơi vào tay nhà Tống. Nhân vật này là ai và có những công lao gì? Mời độc giả đón đọc bài kỳ 3:

Hoàng đế Trung Hoa nổi danh đệ nhất minh quân, không ngờ kết cục yểu mệnh, cơ nghiệp bị cướp

Theo: Đăng Nguyễn - Tổng hợp (Người đưa tin)

KHUYNH BÔI - LIỄU VĨNH


Khuynh bôi - Liễu Vĩnh

Vụ lạc sương châu,
Nhạn hoành yên chử,
Phân minh hoạ xuất thu sắc.
Mộ vũ sạ yết.
Tiểu tiếp dạ bạc,
Túc vi thôn sơn dịch.
Hà nhân nguyệt hạ lâm phong xứ,
Khởi nhất thanh Khương địch?
Ly sầu vạn tự,
Văn ngạn thảo thiết thiết cung ngâm như chức.

Vị ức phương dung biệt hậu,
Thuỷ dao sơn viễn,
Hà kế bằng lân dực?
Tưởng tú các thâm trầm,
Tranh tri tiều tuỵ,
Tổn thiên nhai hành khách?
Sở giáp vân quy,
Cao Dương nhân tán,
Tịch mịch cuồng tung tích.
Vọng kinh quốc,
Không mục đoạn,
Viễn phong ngưng bích.


傾杯 - 柳永

鶩落霜洲,
雁橫煙渚,
分明畫出秋色。
暮雨乍歇。
小楫夜泊,
宿葦村山驛。
何人月下臨風處,
起一聲羌笛?
離愁萬緒,
聞岸草切切蛩吟如織。

為憶芳容別後,
水遙山遠,
何計憑鱗翼?
想繡閣深沈,
爭知憔悴,
損天涯行客?
楚峽雲歸,
高陽人散,
寂寞狂蹤跡。
望京國,
空目斷、
遠峰凝碧。


Nghiêng Chén
(Dịch thơ: Nguyễn Xuân Tảo)

Cò đậu bãi sương,
Nhạn qua bến khói,
Sắc thu rành rành như vẽ.
Mưa chiều vừa dứt.
Thuyền nhỏ đậu đêm,
Trạm bản lau ghé nghỉ.
Nơi ai hóng gió dưới đêm trăng,
Tiếng định nghe rền rĩ.
Chia ly buồn nỗi,
Ngoài bãi cỏ, eo óc tiếng trùng xen kẽ.

Nhớ dung nhan sau tiễn biệt,
Nước rộng non xa,
Lá thư đưa hồ dễ?
Nghĩ nơi buồng thêu xâu thẳm,
Rẫu rĩ xiết bao,
Kẻ chân trời góc bể.
Núi Sở mây bay,
Cao Dương tan cuộc,
Vết ngông cuồng vắng vẻ.
Nhìn đô thành,
Tấm mắt đứt,
Non xanh quạnh quẽ.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Liễu Vĩnh 柳永 (khoảng 987 - khoảng 1053) tự Kỳ Khanh 耆卿, người huyện Kỳ An, tỉnh Phúc Kiến. Năng cải trai man lục nói: “Từ tự Nam Đường trở xuống, chỉ có tiểu lệnh. Mạn từ tới thời vua Tống Nhân Tông (1023-1062) trung nguyên thanh bình, Biện kinh phồn thịnh, ca đài vũ tạ, đua thưởng tân thanh. Kỳ Khanh lưu liên phường khúc, thu hết lời nói quê mùa, biên vào trong từ, cho người truyền lưu ca xướng, rồi sau có Thiếu Du và Sơn Cốc kế tiếp, nên man từ trở thành đại thịnh”. Hiện Liễu Vĩnh còn Nhạc chương tập 樂章集 3 quyển.

Nguồn: Thi Viện



NGÀY PHẬT ĐẢN – TÍN PHẬT LÀ GÌ?

Ngày Phật Đản đến, lòng người dường như cũng dịu lại. Phố xá đông đúc, chùa chiền rộn ràng tiếng chuông, tiếng tụng. Dẫu cuộc sống có lo toan, vất vả, nhưng giây phút đứng trước tượng Phật, ai ai cũng thấy lòng mình có chút gì đó lắng lại, bình yên.


Người người đi chùa, người người cúng dường, hành hương, tụng kinh. Đó là một phần văn hóa tâm linh đáng trân quý, là niềm an trú cho biết bao người giữa đời sống chao đảo. Nhưng rồi, mọi thứ ngày càng đi vào hình thức, ta tự hỏi: Thế nào mới Tín Phật thật sự?
 
Tín, không phải là xin Phật cho, mà là tin Phật dạy đúng

Không ít người tìm đến Phật như một nơi để cầu xin: cầu bình an, cầu sức khỏe, cầu tài lộc, cầu con cái, cầu tình duyên. Điều đó vốn không phải cái sai gì lớn, bởi trong nỗi sợ và bất an của con người, niềm tin là nơi tựa vào.

Nhưng nếu, ta chỉ dừng lại ở mức độ đó, chỉ tin rằng Phật là đấng ban ơn, là quyền năng để xin xỏ, thì vô tình, ta đang biến niềm tin thành một hình thức giao dịch tâm linh. Mình dâng hoa trái, nhang đèn, công đức, rồi mong Phật “hồi đáp” theo ý mình.

Thế nhưng, Phật không phải là vị thần linh thưởng phạt. Phật là bậc Giác Ngộ, là người đã nhìn thấy rõ chân lý của vũ trụ, của sinh tử, của nhân quả. Phật không đến để ban cho chúng ta điều gì, mà đến để chỉ cho chúng ta thấy con đường giải thoát khỏi đau khổ. Con đường ấy, không ai đi giùm ai được.

Do đó, tín Phật, không phải là tin rằng Phật sẽ cho mình điều mình muốn, mà là tin rằng những lời Phật dạy về vô thường, về nhân quả, về từ bi, về buông bỏ… là đúng. Và từ đó, ta cam nguyện sống theo.

Tín nằm trong, từng hành vi của ta giữa đời

Có người đi đây đi đó, lễ bái trăm tượng, mà vẫn tham lam, sân si, nói lời cay độc, đối đãi với người thân thì không dễ chịu chút nào, ngoài mặt với thiên hạ thì… Vậy cái “tín” đó nằm ở đâu?

Cũng có người không hay đi chùa, không biết tụng kinh, nhưng sống chân thành, biết nhường nhịn, biết giúp người trong khó khăn, biết nhận lỗi khi sai, biết cười nhẹ khi bị tổn thương, không tranh đúng sai hơn thua… Người đó, Phật ở trong họ.


Phật từng dạy, Đại ý:

“Dù có đọc ngàn kinh điển, nếu không thực hành, thì chẳng ích gì. Nhưng nếu sống đúng với chân lý, dù không tụng một câu kinh, cũng là đệ tử ta.”

Vậy nên, tín Phật không đo bằng con số, mà đo bằng mỗi lần bạn chịu quay về với tâm mình, chịu sửa mình, chịu sống tử tế hơn. Đôi khi, chỉ cần im lặng khi tức giận, tha thứ cho một người khiến ta tổn thương, hay nở một nụ cười khi lòng không muốn, cũng là đã đi đúng lời Phật dạy rồi.

Tín không phải tránh khổ, mà là hiểu khổ để vượt qua

Phật không đến để giúp ta “né” khổ, mà để giúp ta hiểu khổ, và từ đó vượt lên khổ bằng trí tuệ và từ bi.

Một người tín Phật thật sự không phải là người luôn gặp may mắn, mà là người dù gặp nghịch cảnh vẫn giữ được tâm an, không trách Trời, không oán người, biết rằng tất cả đều có nhân duyên của nó, và trong mỗi nỗi đau đều có một bài học đang chờ mình trưởng thành.

Người tín Phật, càng tu, càng sống nhẹ nhàng, biết buông cái nên buông, giữ cái nên giữ. Không phải “sống trên mây”, không phải xa rời trần tục, mà là giữa bụi trần vẫn giữ được lòng trong.

Tín không phải nói ra, mà là sống ra

Giữa cuộc sống hôm nay, Phật đôi khi cũng trở thành một nhãn hiệu. Có người treo đầy tranh Phật, tượng Phật, nhưng không mở lòng lắng nghe cha mẹ, không biết cúi đầu khi sai, không dám nhường một lời cho người nghèo khó hơn mình.

Tín Phật không phải để người ta nhìn thấy, mà để mỗi khi mình nhìn lại mình, thấy mình đang tiến gần Phật hơn. Cái tiến ấy, đôi khi không ồn ào. Chỉ là hôm nay kiềm chế được một câu nói cay nghiệt, hôm nay không còn nóng giận như trước, hôm nay thấy người thành công mà lòng không ganh tị, hôm nay thấy ai làm lỗi thì khởi tâm thương, chứ không chê trách…


Phật đang đản sinh nơi đâu?

Phật Đản không chỉ là ngày lịch. Đó là ngày ta tự hỏi:

“Phật đã sinh, nhưng trong lòng mình đã sinh ra ánh sáng chưa? Hay vẫn còn tối tăm như cũ?”

Chỉ khi nào trong tim ta có sự thức tỉnh, không còn chạy theo hình thức, mà biết quay về sống thiện, sống thật, sống trí tuệ, thì khi ấy, Phật thật sự đản sinh trong lòng ta.

Và khi lòng người khắp nơi đều sinh ra ánh sáng ấy, thế giới này, dẫu vẫn còn khổ đau, vẫn sẽ có một con đường thoát khổ, nhẹ nhàng và bền vững hơn bất kỳ lời cầu xin nào.

Nguyên Tác An Hậu
Theo: vandieuhay

Tuesday, May 27, 2025

BỊ BỆNH LÀ Ý TRỜI, KHỎI BỆNH CŨNG LÀ Ý TRỜI

Có lúc con người bị bệnh là do ý trời, khỏi bệnh hay không cũng là do ý trời, không phải cứ có thầy thuốc giỏi thì có thể trị được bệnh.


Trong Thái bình quảng ký có ghi chép một câu chuyện trích từ Hội Xương giải di, kể rằng có một người bị mắc bệnh, chữa trị thế nào cũng không khỏi. Nhưng có thể là ý trời, ông ấy ngẫu nhiên uống một phương thuốc thì bệnh liền khỏi. Câu chuyện này cũng nói lên một sự thật là có một số người có khả năng kì lạ, độ chính xác khi xem xét sự việc của họ cũng khác người thường, câu chuyện đại ý như sau.

Có một vị lão nhân nọ, gia cảnh rất giàu có, nhưng lại mắc phải một căn bệnh khó chữa trị, cơ thể ngày một gầy gò ốm yếu, đến mức không nuốt nổi cơm, chỉ có thể mỗi ngày uống nửa lít máu tươi để duy trì sự sống. Người lớn kẻ nhỏ trong nhà đều rất lo lắng và sợ hãi, do đó đã chi ra một số tiền lớn để tìm thầy giỏi về trị bệnh cho ông, rất nhiều thầy thuốc tìm đến, mặc dù được hậu đãi nhưng họ vẫn không thể nào chữa được bệnh, đành phải ra về.

Có một người đến từ Kiếm Nam, chẩn bệnh hơn mười ngày vẫn không đoán được là bệnh gì, liền hỏi con trai của người bệnh rằng: “Tôi trị bệnh cho người ta đã có kinh nghiệm ba đời gia truyền rồi, chỉ cần chẩn đoán bệnh tình thì đều nhất định sẽ biết căn nguyên của bệnh là gì. Nay xem bệnh của lão tiên sinh thì lại cảm thấy hoàn toàn không có manh mối, có thể là vì y thuật của tôi không đủ, hoặc cũng có thể là bệnh của lão tiên sinh thuộc về tai họa do trời giáng xuống chăng? Tuy nhiên, tôi từng nghe nói có một vị Phủ Soái, họ Giả, học rộng hiểu nhiều, là một người có khả năng kì lạ. Ông ấy đối với y dược và toán quái mệnh lý không gì là không biết. Ngài có thể bỏ ra một ít tiền biếu cho tùy tùng của Phủ Soái thì có thể biết được bao giờ ông ấy đi ra ngoài, có thể kính cẩn chờ đợi để Phủ Soái gặp lão tiên sinh. Để ông ấy gặp, chỉ cần ông ấy nói một lời thì tôi có thể trị được bệnh cho lão tiên sinh”.

Con trai của lão tiên sinh làm theo lời dặn. Quả nhiên một ngày nọ, Giả Phủ Soái trên đường đến chùa dâng hương, trông thấy lão tiên sinh, thì chăm chú nhìn một lúc. Lúc ông đang định nói điều gì đó thì trùng hợp Giám quân sử đến báo cáo sự tình. Bất ngờ, Phủ Soái lên xe ngựa đi về phía giám quân sử.

Vị thầy thuốc chỉ đành tin rằng đây là an bài của vận mệnh, vì vậy mà từ bỏ việc chẩn trị rồi rời đi. Lão tiên sinh cũng tin vào vận mệnh, do đó bèn nói với con trai rằng: “Bệnh của ta định là không qua khỏi, nay cảm thấy rất buồn bực, không muốn nghe thấy giọng nói của ai cả. Con có thể đưa ta đến nơi có núi non sông nước ở ngoại thành, chỉ cần các con ba ngày đến thăm ta một lần, nếu ta chết thì hãy chôn cất ta tại nơi đó”.

Lão nhân muốn người nhà đưa ông đến một nơi có núi sông ở ngoại thành. (Ảnh: Tài sản công)

Người con trai bất đắc dĩ đành phải đưa cha ra ngoại thành, trông thấy có một tảng đá cạnh một cái ao, bèn đặt ông ở đó, khóc lóc rồi quay về.

Người cha già đột nhiên trông thấy một con chó vàng đi đến ao, ngụp lặn trong ao mấy lượt tựa như đang tắm trong đó. Sau khi con chó vàng rời đi, nước trong ao bỗng nhiên có mùi thơm. Vị lão nhân lúc này cảm thấy khát liền muốn uống nước, nhưng hơi thở mệt nhoài không chút sức lực, ông đành bò đến bên cạnh ao. Sau khi uống nước trong ao thì lập tức cảm thấy toàn thân nhẹ nhàng. Sau khi không ngừng uống nước, thì có thể ngồi dậy. Người con trai đến thăm nhìn thấy vậy thì vô cùng kinh ngạc và mừng rỡ, liền đón ông lão trở về nhà.

Lão tiên sinh nhìn thấy con chó vàng bơi lội trong ao, nước ao nhờ đó có mùi thơm, bèn lấy nước trong ao uống, nhờ đó mà khỏi bệnh. (Ảnh: Tài sản công)

Lão tiên sinh đã có thể ăn uống, không quá mười ngày thì bệnh đã khỏi.

Một ngày nọ, Giả Phủ Soái lại đi ra ngoài, khi xe đi đến chỗ lần trước dừng chân thì bèn hỏi thủ hạ rằng: “Người lần trước ta đã gặp tại nơi này vẫn còn ở chỗ cũ chứ?” Thuộc hạ báo lại rằng ông ấy đã khỏi bệnh rồi.

Giả công nói rằng: “Bệnh của người này rất nhiều thầy thuốc đều không biết. Bệnh mà ông ta mắc phải là chứng bệnh chấy rận, trên thế gian không có thuốc có thể chữa trị, bắt buộc phải dùng đến lược gỗ ngàn năm, đốt thành tro rồi đem uống. Nếu không thì phải uống ‘hoàng long dục thủy’, ngoài ra không còn phương thuốc nào khác, các ngươi có biết ông ta đã khỏi bệnh bằng cách nào không?”

Thuộc hạ đến nhà lão tiên sinh hỏi thăm, ông lão kể lại đầu đuôi sự việc. Phủ Soái sau khi biết chuyện thì nói: “Người này chính là ông trời muốn ông ta mắc bệnh này, cũng chính là ông trời để ông ta tự mình tìm thấy thuốc có thể trị bệnh cho mình, đây hoàn toàn đều là vận mệnh an bài”.

Người đương thời nghe thấy vậy đều rất bội phục kiến thức uyên bác của Giả công, vị “dị năng” mà người thầy thuốc kia nhắc đến.

Nguồn: Epoch Times

MÓN NGON TỪ LÀNG

Thường thì có hai món mà tôi ít ăn ở Hà Nội, một là lòng lợn và hai là thịt gà.

Vì cứ ấn tượng hai món này ở thành phố không ngon (gà thì thường là gà công nghiệp, bở, nhạt và to) và đôi khi không đảm bảo vệ sinh, nhiều chất bảo quản. Tôi chỉ cảm thấy thoải mái và ngon lành nhất khi ăn hai món này ở quê. Vậy nên, có những dịp về quê, chuẩn bị lên đường vẫn kịp gọi cho cậu bạn cùng xóm, dặn kiếm chỗ nào người ta mổ lợn, loại ăn cám đun bếp củi, mua lấy cỗ lòng trưa anh em tụ tập. Nó đồng ý là yên tâm nai nịt gọn ghẽ lên đường.

Đi từ sáng sớm nên về đến nhà khoảng chừng mới hơn 9h, vấn an song thân, thắp hương các cụ, dọn dẹp trong nhà ngoài sân một lát chắc khoảng hơn 11h, dặn dò mọi người xong lững thững đi bộ xuống nhà cậu bạn. Nhìn vào trong bếp thấy nó đang xoay lưng ra ngoài, trên bếp là chiếc nồi to bốc hơi nghi ngút, sôi lục bục, dưới là chiếc chiếu hoa đã trải phẳng phiu cẩn thận, trên đó có chiếc mâm để sẵn bát nước mắm tỏi ớt, rau sống đủ loại đã rửa sạch vẩy ráo nước và chai rượu quê trong như mắt mèo nút bằng lá chuối khô sủi tăm đều đặn.

Một đĩa lòng lợn đủ đầy các món cùng rau thơm

Chả cần chào nhau, chả cần xoay lưng lại, nói vài câu bông đùa để biết đã gặp nhau rồi. Lát sau nó kêu lấy hộ cái rá. Rá là cái rổ miệng tròn đáy khá sâu được đan bằng lạt tre tước nhỏ đều đặn. Xối nước thêm một lần cho sạch, vẩy ráo nước đưa cho cậu bạn, nó để lên miệng một chiếc nồi khác rồi lấy đôi đũa dài lần lượt vớt lòng lợn từ nồi luộc ra.

Lòng lợn ở bất cứ đâu cũng không thể thiếu món dồi. Hình như bên Tây cũng có dồi. Nhưng khác với lòng lợn ở thành phố, ở hàng quán có mỗi ruột già nhồi tiết trộn ít thịt mỡ băm rối, lúc cắt ra trông hơi cứng và khá tẻ nhạt, dồi ở quê là ruột già ngâm muối bóp kỹ rửa sạch, một đầu được buộc chặt bằng lạt tre (rất organic chứ không dùng dây nhựa), đầu kia thường có miệng rộng (chỗ tiếp giáp dạ dày lợn) được một người vạch ra, người kia lấy chiếc muỗng to múc vào bát nhân dồi để nhồi vào.

Nhân ở đây tất nhiên có huyết lợn là chủ đạo trộn với mỡ chài và thịt dải hay thịt sườn cho đủ cả nạc cả mỡ được băm mịn, đỗ xanh xay vỡ đã ngâm mềm và ít rau thơm (hành, ngò cắt nhỏ để khi dồi luộc xong thái ra không bị kéo dây), gia vị tất nhiên có mắm muối và chút hồ tiêu cho nồng đượm. Người biết nấu ăn ngon khi luộc dồi thường có một chiếc que xiên bằng tre vót nhọn một đầu, để thử xem dồi đã luộc đủ độ chín chưa: cần chiếc xiên chọc vào khoanh dồi, nhìn nước nguyên nhiên liệu sủi ra là biết đã đến lúc vớt hay cần đun thêm lúc nữa.

Lòng lợn ở bất cứ đâu cũng không thể thiếu món dồi

Những món khác như dạ dày, cổ hũ, tràng, ruột non hay gan tim phèo phổi… qua đôi bàn tay khéo léo của mấy đầu bếp lành nghề là lũ bạn tôi, lúc sau đã có một mâm ê hề đầy đủ mà món nào món nấy cũng đủ ngon đủ dai đủ giòn nóng sốt tươi ngon, nhớ đến nước miếng đã chứa chan đầy vòm miệng.

Lợn thịt ở quê được nuôi chủ yếu bằng cơm thừa hoặc cơm cháy, nước vo gạo, rau xanh (rau muống già hoặc khoai lang, bèo) trộn cám gạo, có khi ăn thẳng có lúc được đun lên, không có thuốc tăng trọng hay cám “con cò” nên thịt lợn thơm, mềm, khi luộc hay rang không sủi bọt khí mang mùi nằng nặng như thịt lợn công nghiệp.

Có một thứ mà ít khi tôi được ăn, nhưng cứ về quê, lũ bạn biết tính và chiều tôi nên mới có dịp thưởng thức, đó là đuôi lợn luộc. Hôm vào siêu thị mua thức ăn cuối tuần, có lần bắt gặp hộp đuôi lợn đóng bán trông hơi lạ. Đuôi lợn ở quê thường dài và mảnh (không ngắn, to và dầy mỡ như đuôi lợn ở siêu thị). Chiếc đuôi chỉ có mỗi xương, da và ít thịt (chủ yếu là mỡ) bọc quanh nhưng luộc lên gặm ăn rất ngon, thơm và không bị ngấy, đưa rượu chắc hẳn mềm môi. Đuôi là bộ phận mà con lợn hay con cá sử dụng nhiều nhất do chuyển động nhiều nên chắc lẳn và bùi.

Lòng lợn kho là món lòng một lửa (đã luộc), đem ướp mắm muối gia vị vừa đủ rồi đun lên như rang thịt. Thanh Hóa quê tôi có loại nước mắm Thanh Hương, nếu dùng để chấm thì mùi vị vẫn như chưa được tinh lọc, nhưng dùng để kho cá kho thịt thì ngon tuyệt cú mèo. Lòng lợn kho trông hơi giống món phá lấu ở miền Nam nhưng đậm vị, từng miếng lòng đã qua hai lửa nóng sốt không cần đến nước chấm, mềm tan dễ làm cho người ăn tăng cân nhanh, vì đưa cơm trôi tuồn tuột.

Thịt gà lá chanh

Thịt gà ở quê mà người thân và bạn bè cho tôi ăn cũng thường là loại gà ri, to nhất cũng chỉ khoảng cân rưỡi, thịt trắng mịn thơm ngon, cặp đùi và phần thịt đen thì giòn dai. Hồi tôi còn bé “gà chạy đồng” nhiều hơn, giờ gà được các hộ gia đình nuôi trong một khoảnh vườn rộng, quây lưới, ngày ngày bới đất bắt giun tìm mối, đến bữa được vãi cơm nguội, thóc lúa cho ăn. Trứng gà ăn thóc thường có lòng đỏ mầu đậm trông rất đẹp và thơm ngon.

Gà quê được làm thịt xong, cặp đùi đôi cánh và chỗ thịt lườn được bỏ vào luộc chấm với muối gia vị trộn tiết luộc thái nhuyễn, phần còn lại chặt ra ướp mắm muối hành khô bóc vỏ đập dập đem rang, lòng mề làm sạch xào mướp và giá đỗ rắc hành lá xắt nhỏ. Nước luộc óng ánh mỡ nấu với miến làm canh hoặc nêm nếm cho tròn vị ăn cùng với bún tươi. Mâm cơm bưng lên lúc thức ăn nóng sốt vừa được múc ra từ nồi lan tỏa mùi vị cỗ bàn no ấm khiến những người cùng quanh đều tứa nước miếng.

Lê Hồng Lam / Theo: travellive

BÍ ẨN MỎ KIM LOẠI QUÝ HƠN VÀNG: RẤT QUAN TRỌNG TRONG CHẾ TẠO TÊN LỬA NHƯNG ĐỘC TÍNH RẤT MẠNH VÀ CỰC KHAN HIẾM

Ngày nay, chúng ta sử dụng hầu hết các vật liệu trên trái đất phục vụ cho mục đích của mình, khiến chúng phát huy giá trị trong từng lĩnh vực khác nhau. Trong số các kim loại đó có rất nhiều kim loại quý giá, thậm chí có loại còn quý hơn cả vàng và đất hiếm.


Dưới đây là một kim loại quý hiếm bậc nhất, có nguồn gốc từ Tân Cương (Trung Quốc) và cực kì độc hại. Sau khi tìm hiểu, kim loại này có thể sử dụng để chế tạo tên lửa và các thiết bị hàng không vũ trụ khác. Vậy kim loại bí ẩn này là gì?

Kho tàng kim loại quý hiếm ở Khu tự trị Tân Cương (Trung Quốc)

Vị trí địa lý của khu tự trị Tân Cương (Trung Quốc) vô cùng đặc biệt, nằm ở giữa lục địa lớn nhất thế giới, chưa từng tiếp xúc với biển nên thổ nhưỡng và khoáng chất ở đây vẫn còn tương đối nguyên thủy.

Tính đến nay, Trung Quốc đã phát hiện 162 mỏ kim loại, riêng Tân Cương có 122 loại. Vì vậy, Tân Cương được mệnh danh là “kho tàng kim loại quý”.

Kim loại quý giá nhất được các chuyên gia phát hiện ở Tân Cương là Berili (Be).

Chính những kim loại này đã tạo ra nguồn thu nhập cho người dân địa phương, đồng thời giúp đất nước Trung Quốc tạo ra những bước đột phá trong lĩnh vực công nghệ.

Kim loại bí ẩn quý hơn vàng

Kim loại quý giá nhất được các chuyên gia phát hiện ở Tân Cương là Berili (Be), kim loại này có hình dạng kỳ lạ, màu sắc tổng thể là mày xám, độ nén bên trong rất cao nên nó có độ cứng cực kỳ kinh khủng và có độ bền siêu cao.

Hiện nay, Berili đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong đời sống của con người, tuy không phổ biến như đồ sắt và đồng nhưng nó cũng đã thâm nhập vào mọi mặt của cuộc sống.

Do tính dẫn điện cao và độ bền tuyệt vời nên Berili thường được sử dụng trong lắp ráp các linh kiện điện tử công nghệ cao, card đồ họa trên máy tính và vật liệu đàn hồi trên chip điện thoại di động. Kim loại này có thể kéo dài tuổi thọ của các linh kiện điện tử, từ đó giảm chi phí sửa chữa.

Sau khi xử lý, Berili sẽ biến thành Oxit berili. Như vậy, tính dẫn điện của nó sẽ biến mất, trở thành chất cách điện và dẫn nhiệt hoàn hảo, không những chịu được nhiệt độ cao mà còn duy trì được độ ổn định. Chất liệu này cũng thường được dùng trong lò vi sóng và bộ tản nhiệt, những nơi đòi hỏi vật liệu có độ chịu nhiệt cực cao.

Berili thường được sử dụng trong lắp ráp các linh kiện điện tử công nghệ cao.

Trên thực tế, Berili là một kim loại độc hại, một khi hít vào cơ thể sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng gần như không thể phục hồi như suy nội tạng, ung thư v.v.

Vì vậy, việc khai thác và sử dụng nó phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an toàn, nếu không sẽ gây ra hậu quả vô cùng nghiêm trọng.

Phần lớn berili mà chúng ta tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày đều đã được xử lý và pha loãng nên sẽ không ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe.

Berili là một kim loại cực kỳ khan hiếm, hiện nay trên thế giới ước tính chỉ có tổng cộng gần 80.000 tấn, trong đó Tân Cương chiếm 40.000 tấn.

Nếu quy đổi ra thì giá trị của berili còn đắt hơn cả vàng, chính vì vậy 40.000 tấn mỏ berili khai thác ở Tân Cương là tài sản tiềm ẩn của Trung Quốc.

Kim loại này có thể kéo dài tuổi thọ của các linh kiện điện tử, từ đó giảm chi phí sửa chữa.

Xét cho cùng, kim loại này không chỉ đóng vai trò lớn trong hệ thống công nghiệp mà trong ngành hàng không vũ trụ berili cũng là một sự tồn tại có tầm ảnh hưởng lớn, hầu hết các tên lửa đều dùng berili làm nguyên liệu.

Berili và chế tạo tên lửa

Tên lửa là một phương tiện quan trọng để con người khám phá không gian, trải qua nhiều công trình nghiên cứu, yêu cầu và tiêu chuẩn về vật liệu chế tạo tên lửa cũng ngày càng cao hơn.

Để tên lửa đạt được điều kiện tiêu chuẩn, người ta phải dùng vật liệu có độ bền cao, nhẹ làm khung chính. Yêu cầu này quá nghiêm ngặt và trong tự nhiên rất ít chất nào đồng thời đáp ứng được cả hai tiêu chí này.

Berili là một kim loại cực kỳ khan hiếm.

Nhưng berili là một ngoại lệ, so với kim loại khác berili nhẹ hơn cả về khối lượng lẫn trọng lượng, tuy nhiên xét về độ cứng thì berili lại cứng hơn thép gấp 5 lần.

Ngoài ra, berili còn có khả năng chịu nhiệt cực cao nên dù tên lửa ma sát trong bầu khí quyển, berili vẫn đảm bảo phi hành gia và thiết bị hàng không không bị tổn hại.

Berili là một kim loại cực kỳ quý hiếm, con người gần như không thể tạo ra nó, vì vậy chúng ta phải tìm cách để thay thế nó. Chỉ như vậy chúng ta mới duy trì sự phát triển bền vững, đồng thời bảo vệ được những thành tựu mà con người đã tạo ra trong ngành hàng không vũ trụ.

Đây là quá trình đòi hỏi thời gian dài, tuy nhiên trên trái đất rộng lớn này không có điều gì là không thể xảy ra.

Theo: khoahoc.tv



Monday, May 26, 2025

NHÂN QUẢ BÁO ỨNG


NHÂN QUẢ BÁO ỨNG

"Kiếp trước mở hồ bao bố thí,
Nên kiếp nầy địa vị giàu sang;
Kiếp nầy bỏn sẻn tham gian,
Kiếp sao đói khó nghèo nàn tả tơi.
Nghiệp dâm đãng sanh nơi đĩ điếm,
Nghiệp rượu chè sanh chốn tửu lâu;
Nói sơ kể chẳng hết đâu,
Nghiệp đâu sanh đó khó hầu đi sai.
Mới kiếp trước ghét cay ghét đắng,
Kế kiếp sau làm bạn làm chồng;
Luân hồi lộn bậy cõi hồng,
Khi cha khi mẹ khi chồng khi con.
Mới đời trước đánh đòn đứa ở,
Kế đời sau làm tớ bị đòn;
Chết rồi nhưng nghiệp vẫn còn,
Mạnh thì nở trước yếu tồn lại sau.
Cuộc luân chuyển chừng nào mới hết,
Nếu chúng sanh còn kết dây oan;
Ở trong ba cõi sáu đàng,
Như là giữa bãi chiến tràng khác chi.
Người biết giúp người thì ít có,
Người hại người thì số vô biên,
Tranh hơn ở kiếp hiện tiền.
Quên rằng tội ác còn truyền hậu lai.
Danh Không chánh chỉ gây hậu hoạn,
Lợi bất nhân hưởng chẳng lâu dài.
Vui nay để chịu khổ mai,
Mà không nghĩ đến đời nay nhiều người.
Nay đắc thế chê cười hèn yếu,
Mai thất thời phải chịu cười chê.
Đời thường nay tướng mai hề,
Chớ nên hiếp đáp nhún trề một ai.
Lúc mạnh khá nhớ ngày yếu dở,
Khi giàu đừng quên thuở bần cùng.
Ở ăn giữ mực trung dung,
Sống không kẻ oán, chết không người hờn.
Kẻ đã hiểu đâu chơn đâu ngụy,
Khá khuyên người chỗ mị chỗ không.
Chưa làm chỉ tính trong lòng,
Cũng là ảnh hưởng chớ hòng tính gian.
Thường nghĩ tốt có Thần phúc hộ,
Hay tưởng xằng bị họa Thần theo.
Họa Thần theo tất nạn eo,
Được Thần phúc hộ thì tiêu tai nàn.
Lòng dạ ác có màn tối phủ,
Tâm tánh lành có lưới sáng bao.
Mắt Thần khi ngó nhìn vào,
Tức thời biết rõ người nào hiền hung.
Màn tối phủ ma nung quỉ giục,
Lưới sáng bao Thần chúc Phật ban.
Quỉ ma nung giục thì tàn,
Phật Thần ban chúc thì an lạc đời.
Lòng lành dạ lộ nơi nhơn tướng,
Khách nữ nam đừng tưởng nằm yên.
Trong tâm vừa muốn mưa phiền,
Thì là ngoài mặt cũng liền kéo mây.
Phàm thấy sắc tướng ngoài còn biết,
Thánh xem còn thấu triệt đáy lòng.
Tâm không mà chẳng phải không,
Mười phương chư Phật đều trông thấy rành.

(Đường Giải Thoát – Thanh Sĩ)