dạ cấm trung độc trực
đối nguyệt ức Nguyên Cửu
Ngân đài kim khuyết tịch trầm trầm,
Độc túc tương tư tại hàn lâm.
Tam ngũ dạ trung tân nguyệt sắc,
Nhị thiên lý ngoại cố nhân tâm.
Chử cung đông diện yên ba lãnh,
Dục điện tây đầu chung lậu thâm.
Do khủng thanh quang bất đồng kiến,
Giang lăng ty thấp túc thu âm.
八月十五日夜禁中
獨直對月憶元九
銀臺金闕夕沉沉
một mình trực trong cung
trước trăng nhớ Nguyên Cửu
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Lầu son gác tía về đêm.
Một mình nhớ bạn, bên thềm Hàn lâm.
Đêm dằm, trăng sáng thanh khâm.
Cách hai vạn dặm, cố nhân ngóng hoài.
Đông cung sương lạnh, khói phai.
Giọt đồng thánh thót, điểm dài Dục Tây.
Ánh trăng còn sáng đâu đây.
Giang Lăng mát mẻ, đã bầy vẻ thu.
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ.
Nguồn: Thi Viện



