Monday, January 20, 2020

NHỮNG LOẠI TRÁI DẠI DÂN DÃ MIỀN TÂY GẮN LIỀN VỚI TUỔI THƠ

Những loại trái dại dân dã miền Tây gắn liền với tuổi thơ khiến bao người con xa quê thổn thức

Trên khắp vùng miền đất nước Việt Nam bao la xinh đẹp này, bất kì nơi nào cũng gắn liền với những loại trái dại dân dã mà người xứ đó rất trân quý. Mảnh đất miền Tây cũng thế, những loại trái dại sau đây đã gắn với bao thế hệ người miền sông nước, trở thành một phần kí ức của họ. Để rồi khi xa quê, người miền Tây nào cũng cảm thấy nhớ thương và chỉ muốn quay về "vùng trời kí ức" ấy, bên những trưa hè đầy nắng, trò chơi quen thuộc, cùng các loại trái dại nếm một miếng đã cảm thấy "ấm lòng".

 

1. Trái bình bát

Đi khắp các vùng quê trên mảnh đất miền Tây, bạn sẽ bắt gặp nhiều nhất đó là trái bình bát. Với màu vàng rực rỡ cùng hương thơm dịu dàng khi chín nên loại trái này rất được trẻ con nơi đây yêu thích. Sau những giờ cùng nhau nô đùa mệt lả, mấy đứa bé thường rủ nhau hái trái bình bát chín trên cành rồi chia ra làm 4 vừa ăn vừa trò chuyện.

Nếu "sang" hơn thì có thể dầm bình bát cùng với đường và sữa đặc thì phải nói là ''cực phẩm'' miền quê đấy! Ngoài ra, vị của trái bình bát còn trên cả tuyệt vời, thịt của nó dai dai màu cam nhẹ, có chút chua chua ngọt ngọt nên ăn không cũng đã thấy ngon rồi.

Trái bình bát đem dầm cùng đường với sữa đặc là ''hết sảy''

2. Nhãn lồng

Đối với những đứa trẻ vùng sông nước này, nhãn lồng được xem là loại trái dại ngon nhất. Nhãn lồng khi còn non có màu xanh và hạt nhỏ nhưng lúc đã chín rồi lại vàng ươm, với vị chua ngọt cùng hương thơm đậm đà.

Hoa nhãn lồng cũng rất xinh với màu trắng tím, những cô bé cứ tha hồ mà hái rồi cài lên tóc và thi nhau tự xưng là công chúa hay hoàng hậu. Loại dây leo dại mọc sát mé mương này tưởng chừng như chẳng ai thèm ngó tới nhưng lại là "cả một vùng kí ức" mà người con xa xứ nào cũng thương nhớ khôn nguôi.
 

Nhãn lồng có hương thơm và vị ngọt dịu

3. Chùm ruột

Chùm ruột nghe cái tên thôi đã thấy thú vị rồi bạn nhỉ? Sở dĩ người ta gọi bằng cái tên ấy bởi vì nó không ra trái đơn lẻ mà lại kết thành từng chùm kín hết cả cây. Trái chùm ruột trông chua thế thôi nhưng lại làm ra món mứt đỏ au, ngọt ngào không thể thiếu trong ngày Tết.

Không những thế, chùm ruột mà đem đi dầm với nước mắm đường thêm ớt đỏ thì còn gì bằng, vị chua ''thấu trời'' của nó cùng độ mặn ngọt và cay cay của các nguyên liệu khác nhắc thôi đã thấy thèm lắm rồi!
 
Dù chua tới "nhăn mặt" những rất được yêu thích

4. Bình bát dây

Ngoài trái bình bát vàng ươm, thơm nức còn nó có cả loại dây leo, quả thì màu đỏ khi chín trông xa xa như chiếc đèn lồng nữa đấy! Dù chẳng cần ai chăm bón nhưng bình bát dây cứ thế mà sinh sôi, leo trên các loại cây lớn. Người lớn thì hái lá về sắc thuốc nam hay nấu canh với cua đồng, tôm, cá trê ăn giải độc và thanh nhiệt cơ thể; còn trẻ nhỏ cứ hồ hởi hái trái bình bát đỏ au mà vừa ăn vừa đùa giỡn.
 
Trái bình bát dây rất ngọt và lá có chức năng giải độc cơ thể

5. Trái me

Trong những loại quả dại ở miền Tây, sẽ thật là thiếu sót nếu không nhắc đến trái me. Trái me lúc lỉu trên cành cứ như mời gọi trẻ con hái xuống, cạo lớp vỏ nâu nâu bên ngoài rồi đem chấm với muối ớt cay. Riêng mùa me nở rộ thì từ người lớn hay trẻ nhỏ đều được thưởng thức trái me dôn dốt, bột bột bên trong, ăn vừa chua lại bùi bùi cực thích.

Không những thế, đến khi mùa me chín người miền Tây lại được thưởng thức me theo một cách rất đặc biệt đó là đem đi trộn đường hay xốc với muối ớt thì còn gì tuyệt vời bằng. Hơn thế nữa, me còn là một nguyên liệu không thể thiếu trong món canh chua "nức tiếng" gần xa của người miền Tây nữa đấy!

Me dốt bột ăn bùi bùi cực thích

6. Trái thù lù

Trái thù lù hay còn gọi là tầm bóp trông tên nghe buồn cười thế thôi nhưng lại xinh xắn và rất ngon đấy! Trái có vỏ mỏng mỏng trông như chiếc lồng đèn hình trái tim treo trên cây, khi còn non bên ngoài mang sắc xanh dịu dàng nhưng lúc đã chín rồi thì nhăn lại.

Trẻ con yêu thích loại trái này lắm, chúng cứ thi nhau bóp lớp vỏ ra tanh tách rồi lấy phần thịt bên trong ăn mới ngọt làm sao! Ngày trước trái thù lù chẳng được ai ngó ngàng tới nhưng hiện nay nó được xem như một vị thuốc quý và thậm chí là xuất khẩu đi nước ngoài nữa đấy!
 

Trái thù lù ngay nay được rất nhiều người "săn đón"

7. Trái dừa nước

Một hình ảnh thân thương luôn "cắm rễ" trong lòng của bao người con xa quê đó chính là những rặng dừa nước xanh rì. Xứ sông nước miền Tây, đi đâu bạn cũng có thể bắt gặp các bụi dừa nước xanh rờn khiến bao người con nhớ về những trưa hè lội sông chặt buồng lấy trái.

Lũ trẻ thường hay đòi bà mẹ quê chặt buồng dừa rồi đập ra thành từng trái nhỏ, sau đó lại chẻ đôi ra và nạo lớp cơm trắng ngần bên trong mà thưởng thức. Chính vì những hương vị mộc mạc ấy mà những đứa trẻ năm nào đã trưởng thành rồi đi học xa quê vẫn nhớ thương lắm và nhất quyết mỗi lần về nhà phải đem lên vài buồng mà ăn.
 

Dừa nước khiến bất kì người con xa quê nào cũng thương nhớ

Không đơn giản chỉ là những loại trái dại giúp bầy trẻ nhỏ nhâm nhi trong buổi trưa hè đầy nắng, nó còn là một phần tuổi thơ không thể nào phai trong tim mỗi người. Có rất nhiều người sau khi đã có tất cả từ công danh, tiền bạc cho đến tình duyên thì cái mà họ mong muốn nhất nhưng không thể nào đạt được đó chính là quay về tuổi thơ bên những người thân yêu, chiếc võng kẻo kẹt và những gì gần gũi nhất chẳng hạn như trái dại quê nhà. Miền Tây giản dị nhưng không kém phần đặc sắc với những loại trái ấy, còn quê hương của bạn có loại quả dại quen thuộc nào?

(Sưu tầm trên mạng)

Sunday, January 19, 2020

CUỐI NĂM ĂN THỊT VỊT

Tổng kết cuối năm bằng thịt vịt: Vừa xả xui, vừa tốt cho dạ dày

Nhiều người quan niệm ăn thịt vịt đầu tháng hay đầu năm sẽ đem đến điều không may mắn nhưng không phải ai cũng biết đây là món ăn tốt sức khỏe.

Thịt vịt là món ăn ngon và tốt cho sức khỏe.

Trong khi giá thịt lợn đang leo thang, thậm chí còn cao hơn cả giá bò thì mọi người đi tìm những loại thực phẩm khác thay thế. Và một trong số đó có thịt vịt, không chỉ giá cả hợp lý mà còn ngon bổ bất ngờ.

Chứa nhiều khoáng chất, tốt cho dạ dày và hệ thần kinh

Theo bác sĩ Hoàng Xuân Đại, nguyên cán bộ công tác tại Bộ Y tế, trong 100 g thịt vịt thì có đến 25 g protein, 201 calo và các dinh dưỡng như canxi, lipit, protit, phospho, kẽm, magie, đồng, vitamin B, A, E, K,... Không chỉ có vậy thịt vịt còn là thực phẩm tốt cho dạ dày tiết dịch mới và bổ dưỡng với hệ thần kinh.
 
Thịt vịt chứa nhiều vitamin và khoáng chất.

Trong sách Nhật dụng bản thảo của Trung Quốc chia sẻ: “Vịt bổ phần âm của ngũ tạng, máu, dạ dày, giải nhiệt, làm hết giật mình, kinh sợ, giúp nuôi dưỡng dạ dày, sinh tân dịch, trấn định tâm thần.”

Như vậy không chỉ ngon mà thịt vịt còn rất bổ dưỡng, giải nhiệt cơ thể, tốt cho dạ dày và cả hệ thần kinh.

Thế nhưng theo quan niệm, nhiều người đầu tháng vẫn tránh thịt vịt như tránh tà vì sợ vận đen đeo bám. Vậy mà đến cuối tháng món ăn này lại đắt khách với lý do: thịt vịt giải vận đen, đánh bay xui xẻo.

Những người cần kiêng thịt vịt

Tuy nhiên đối với những người mới phẫu thuật, bác sĩ Hoàng Xuân Đại cho biết không nên ăn thịt vịt. Bởi chúng có vị tanh, tính hàn nên sau khi phẫu thuật ăn thịt vịt có thể khiến vết mổ sưng tấy, khó lành thậm chí mưng mủ.

Đối với người bị bệnh gout cũng nên tạm biệt với món thịt này bởi trong thịt vịt có hàm lượng purin cao, làm tăng axit uric trong cơ thể.
 
Nhưng không phải ai cũng ăn được thịt vịt.

Những điều cấm kỵ khi ăn thịt vịt

Lương y Bùi Đắc Sáng, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho hay bạn không nên ăn thịt vịt cùng thịt ba ba.

Khi ăn kết hợp 2 loại thực phẩm này khiến hàm lượng dinh dưỡng của chúng giảm đi. Thịt ba ba có vị ngọt còn thịt vịt có tính mát. Khi ăn chung có thể gây tiêu chảy.

Một loại thực phẩm khác là mận khi ăn chung cùng thịt vịt có thể gây ra nóng ruột. Bên cạnh đó nhiều người cho rằng không được ăn thịt vịt với đậu đỏ.

Tuy nhiên đây là quan niệm sai vì theo lương y Đinh Công Bảy, Hội Dược liệu TP.HCM thì thịt vịt nấu đậu đỏ là bài thuốc xưa, có tác dụng chữa thiếu máu.

Công thức gồm 1kg thịt vịt, 50g đậu đỏ, 100g lạc, 30g vỏ bí đao, như vậy bạn đã có nồi canh bổ dưỡng thơm ngon.

Khi chế biến thịt vịt cần lựa chọn các gia vị cẩn thận để tránh làm mất đi giá trị dinh dưỡng của thịt.
Thịt vịt không hề khiến bạn trở nên may mắn hay đen đủi hơn nhưng chắc chắn chúng là thực phẩm bổ dưỡng, nếu bạn biết cách sử dụng và chế biến đúng.

(Sưu tầm trên mạng)

TÌM HIỂU NGUỒN GỐC TẾT NGUYÊN ĐÁN Ở TRUNG QUỐC

Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống quan trọng nhất trong năm của một số dân tộc Châu Á như Trung Quốc, Việt Nam, Hàn Quốc, Triều Tiên,…Tết Nguyên Đán đánh dấu sự kết thúc của năm cũ và khởi đầu một năm mới.


Tết Nguyên Đán được tính theo Âm lịch của người Châu Á, trong khi đó, Âm lịch là một loại lịch theo chu kỳ vận hành của mặt trăng, do vậy, Tết Nguyên Đán luôn bắt đầu muộn hơn Tết Dương dịch. Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21/1 Dương lịch và sau ngày 19/2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữatháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).


Chữ "Tết" được người Việt Nam đọc chệch đi từ chữ "Tiết" (mùa màng, lễ hội) mà thành.Trong khi đó, cả hai chữ "Nguyên Đán" (元旦) nghĩa là "sự khởi đầu buổi sáng mới"; "nguyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và "đán" có nghĩa là buổi sáng sớm, cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán". Thời xa xưa, người Trung Quốc gọi Tết Nguyên Đán bằng nhiều tên khác nhau như: "Nguyên thần", "Tuế đầu", "Niên tiết", "Nguyên thần", "Nguyên nhật",…


Tuy nhiên, khi nhắc đến Tết Nguyên Đán tại Trung Quốc hiện nay, người Trung Quốc sẽ hiểu rằng đây là Tết Dương lịch. Thay vào đó, Tết Nguyên Đán được người Trung Quốc hiện nay gọi là "Xuân Tiết" 春節 "Nông lịch tân niên", hoặc "Quá niên", "Quá đại niên", hay "Quá xuân tiết" (quá: qua, đón; ý chỉ: đón năm mới). Sau cách mạng Tân Hợi, Trung Quốc bắt đầu sử dụng Dương lịch để tính lịch cho cả năm, do vậy gọi ngày 1/1 Dương lịch hàng năm là "Nguyên Đán", và gọi ngày 1/1 Âm lịch thành "Xuân Tiết". Trong thời kỳ Chính phủ Bắc Dương Dân quốc, Viên Thế Khải có ý định bãi bỏ "Xuân Tiết" nhưng cuối cùng đã thất bại trước sự phản đối của dân chúng.

Liên quan đến nguồn gốc của Tết Nguyên Đán có nhiều cách diễn giải, tuy nhiên, giả thiết được nhiều người Trung Quốc đại lục phổ biến chấp nhận hiện nay đó là thời kỳ vua Nghiêu vua Thuấn, vào chính ngày mà vua Nghiêu lên nắm ngai vàng, ông đã dẫn theo thuộc hạ của mình lên núi khấn bái trời đất, kể từ đó, người ta gọi ngày này là "tuế thủ" và coi là khởi đầu của một năm. Đây là một trong những giả thuyết được lưu truyền rộng rãi nhất.


Còn theo lịch sử Hồng Kông, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ các triều đại. Thời kỳ Tam Hoàng, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần làm tháng đầu năm mới.Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Còn nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Mãi cho đến đời nhà Hán, sau khi Hán Vũ Đế thống nhất giang sơn đã đặt lại ngày đầu năm mới vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Cũng có nghiên cứu cho rằng Tết Nguyên Đán có nguồn gốc từ phong tục "Tế lễ tháng chạp" (lạp tế) từ thời thượng cổ, đến nay đã có lịch sử phát triển hơn 4.000 năm. Ngay từ thời kỳ vua Nghiêu vua Thuấn, xã hội Trung Quốc đã xuất hiện hoạt động “Lạp tế”.“Lạp tế” tức là hoạt động tế lễ bách thần diễn ra vào tháng cuối cùng trong năm (lạp nguyệt), nhằm cảm tạ thần linh đã phù hộ cho mọi người được no đủ, mùa màng bội thu. Nghi thức tế lễ này vô cùng trang trọng, mọi người phải chuẩn bị những loại thực phẩm ngon nhất để tế tự bách thần. Bởi thế, người ta phải đi săn (đả liệp), nhằm kiếm thịt thú rừng tươi, có mùi vị thơm ngon để làm tế phẩm. Thời cổ, chữ “liệp” đồng nghĩa với chữ “lạp”, bởi vậy “Lạp tế” còn có ý nghĩa là hoạt động "săn bắt, tế tự".


Ngoài ra, "Tết Nguyên Đán" của người dân Trung Hoa cũng bắt nguồn từ truyền thuyết về con Niên. Theo truyền thuyết, khởi đầu của Tết Nguyên Đán Trung Quốc là một cuộc chiến chống lại con niên (Niên Thú) quanh năm sống dưới đáy biển. Con niên hay đến vào dịp đầu năm mới để phá hoại gia súc, mùa màng, giết hại dân làng, đặc biệt là trẻ con. Để bảo vệ mình, dân làng đặt thức ăn trước cửa nhà vào dịp đầu năm và sau đó, già trẻ trai gái cùng dắt nhau lên núi trốn chạy con niên. Mọi người tin rằng sau khi ăn những thức ăn đó, nó sẽ không tấn công dân làng nữa. Một lần, có một ông già ăn xin đến thôn làng, khi đó dân làng đã trốn hết lên núi, chỉ còn một bà lão ở lại cho ông thức ăn và khuyên ông lão nhanh chân đi trốn. Ông lão bất ngờ nói: "Hãy cho tôi ở lại nhà hôm nay, tôi sẽ đuổi được con niên đi". Thế rồi vào đêm trừ tịch (giao thừa), con niên đến thôn như thường lệ, nhưng phát hiện ra có điều bất thường, ngoài cửa nhà bà lão đầu thôn có dán giấy đỏ, bên trong nhà có ánh lửa sáng rực, con niên khi đó đã vô cùng sợ hãi, kêu to một tiếng toan tháo chạy. Ngay khi đến gần cửa, bên trong vườn đột nhiên phát ra tiếng pháo nổ lớn, con niên khiếp đảm, một mạch chạy thẳng ra cửa mà không dám quay đầu trở lại nữa. Sau này, dân làng mới hiểu ra rằng con niên sợ màu đỏ, ánh lửa và tiếng pháo nổ. Do đó, về sau, vào những ngày đầu năm mới, dân làng đều treo đèn lồng đỏ, dán giấy đỏ trên cửa sổ, cửa ra vào. Mọi người cũng dùng pháo hoa để làm cho con niên khiếp sợ. Từ đó, con niên không bao giờ tới làng nữa. Cuối cùng, con niên bị Hồng Quân Lão Tổ bắt (ngài là thầy dạy của Tam Thanh - là ba vị thần tiên tối cao trong Đạo Giáo). Con niên trở thành vật cưỡi của Hồng Quân Lão Tổ.

Theo: Viet Viet Tourism

Saturday, January 18, 2020

TRẺ PHẢI ĐỦ ĐƯỜNG MỚI KHỎE!


Do quá sợ bệnh tiểu đường từ nhiều bản tin y học tô đậm gam màu thê lương nên nhiều ông bà, cha mẹ, thậm chí một số không ít thầy cô đang cấm trẻ con ăn ngọt. Nỗi lo tuy hợp tình nhưng không hề hợp lý vì trẻ cần đủ chất đường, chất cơ bản để cung cấp năng lượng, mới có thể phát triển đúng mức cả hai mặt tâm thể. Lo lắng cho sức khỏe của trẻ là tốt, nhưng phải lo cho đúng. Ép trẻ kiêng món ngọt nhưng cho trẻ ngồi hàng giờ trước máy truyền hình, trước máy vi tính thì trẻ cữ ăn ngọt bao nhiêu vẫn béo phì!


Đừng quên
  • trẻ cần đủ chất ngọt ngay sáng sớm vì trẻ tiêu hao nhiều năng lượng trong giấc ngủ để gan tổng hợp kháng thể chống viêm gan, chống siêu vi cảm cúm, tủy xương sản xuất hồng cầu, vỏ xương tăng chiều dày lẫn chiều dài, bộ nhớ tiếp nhận kích ứng từ giác quan …
  • trẻ học mau hơn, trẻ lớn nhanh hơn trong khi ngủ. Trẻ tất nhiên không thể phấn chấn đến trường nếu trẻ hết pin khi mới ra cửa vì bữa điểm tâm thiếu chất ngọt! Trẻ không thể thuộc bài nếu trẻ không đủ năng lượng cần thiết cho dẫn truyền thần kinh đi đến nên về đến chốn.
  • trẻ thiếu dự trữ chất đường mau tiêu hết năng lượng cùng với các khoáng tố có tác dụng trấn an thần kinh như canxi, manhê nên trẻ dễ phản ứng thái quá trong giờ thể dục thể thao, dễ quýnh quáng khi bị hỏi bài, dễ cáu sau vài giờ học.
  • trẻ dễ bội nhiễm đường hô hấp nếu trẻ tụt đường huyết sau giờ học, nhất là trong môi trường ô nhiễm, trong phòng học quá lạnh hay quá nóng vì hệ miễn dịch còn mong manh của trẻ không thể vận hành nếu thiếu năng lượng. Siêu vi, vi khuẩn, nấm mốc núp trong cơ thể trẻ chỉ chờ có thế để thừa nước đục thả câu!

Trẻ đúng là không được thiếu chất ngọt. Nhưng quan trọng hơn nữa là làm sao để chất đường trong khẩu phần của trẻ được biến dưỡng tối ưu để cung cấp năng lượng tối đa và phế phẩm tối thiểu. Muốn được vậy cơ thể của trẻ cần sự có mặt cùng lúc của tập thể sinh tố B, trong số đó đặc biệt cần thiết cho chu trình biến dưỡng chất đường là B1, B3 và B7. Nói cách khác, một thức uống ngọt ngào cho trẻ muốn trọn nghĩa nên thuốc phải có nhiều hoạt chất sinh học khác đi kèm, như canxi, sắt, acid amin …


Viên kẹo, miếng bánh, ly kem, chén chè … gắn liền với tuổi thơ mộng mơ của trẻ. Trẻ càng có thời thơ ấu càng ngọt lịm càng dễ thành người lớn khỏe mạnh. Không cho trẻ ăn ngọt là sai, nhưng vụng về nếu cho trẻ ăn ngọt mà quên tập thể sinh tố + khoáng tố cần thiết để biến dưỡng chất đường. Cấm đến thiếu thì cấm làm gì? Cho đủ nhưng lại dùng không hết đến độ thành thừa thì cho làm chi?

BS. Lương Lễ Hoàng

THỰC PHẨM HALAL TRONG NỀN ẨM THỰC TRUNG QUỐC

Tôi có thằng cháu rể người gốc Tân Cương nên đôi lúc cả đại gia đình rủ nhau ra ngoài ăn nó đề nghị ăn món Tân Cương nên chúng tôi cũng đi ăn nhiều lần. Người Tân Cương đa số theo đạo Hồi nên tôi nghĩ các nhà hàng Tân Cương ở Úc đều có thực phẩm Halal. Thằng cháu rể chắc không có đạo vì tôi thấy nó có ăn thịt heo. Trong nhà hàng Tân Cương không có thịt hay bất cứ món gì làm từ heo mà ra đa số là thịt cừu, bò, gà,..và rất ít cải.

Hôm nay đọc được bài này thấy hay nên share lại, tôi có sửa lại đôi chút nên xin lỗi tác giả trước:


Thực phẩm Halal tại Trung Quốc

Tại Trung Quốc, thực phẩm Halal được gọi là Thanh Chân Thái (清真菜). Thực phẩm Hahal dễ dàng để tìm thấy trong hầu hết các thành phố lớn ở Trung Quốc do dân số theo Hồi giáo khá đông ở Trung Quốc. Nhà hàng Hồi giáo nhỏ và quầy hàng thực phẩm cũng được phổ biến rộng rãi ở các thành phố, thị trấn vì số lượng người nhập cư Hồi giáo từ miền tây Trung Quốc. nhà hàng Hồi giáo ở Trung Quốc thường được điều hành bởi người nhập cư Hồi giáo, và cung cấp thực phẩm Halal rẻ cho tỷ lệ lớn hơn của các loại thịt trong các món ăn của vùng phía tây Trung Quốc.


Thực phẩm Halal tại Trung Quốc xuất hiện hơn 1.000 năm trước trong thời nhà Đường, khi Hồi giáo được giới thiệu với Trung Quốc. Doanh nhân Arab, du khách và các nhà truyền giáo đến Trung Quốc dọc theo Con đường tơ lụa cổ xưa, và định cư ở những nơi như Tây An, Khai Phong, Quảng Châu, Tuyền Châu, Dương Châu và Hàng Châu. Những người Ả Rập là tổ tiên của ngày hôm nay của người hồi ở Trung Quốc. Thực phẩm Halal Trung Quốc phát triển, và nhiều món ăn được tạo ra trong triều đại nhà Nguyên khi các dân tộc thiểu số Hui đã được hình thành.


Thực phẩm Halal Trung Quốc hòa trộn hương vị Trung Đông ban đầu với các món ăn truyền thống của Trung Quốc, tạo ra phong cách riêng của mình. Thực phẩm mì và các sản phẩm được ăn thường xuyên hơn so với gạo, và các món ăn khác nhau và đồ ăn nhẹ được làm từ bột lúa mì. Hương vị ngọt ngào có một vai trò quan trọng, có thể liên quan đến sở thích của người Hồi giáo Ả Rập cho một hương vị ngọt ngào.

Các loại thịt của động vật có vuốt và răng nanh như sư tử, hổ, gấu; thịt heo nói chung; thịt chó, rắn, khỉ đều không đúng Halal. Ngoài ra thịt của các loài chim săn mồi như đại bang, kền kến, động vật ăn thịt trên đất liền như sư tử, chó, thịt từ động vật giết bởi nghẹt thở hoặc đánh đập và các thức ăn có thành phần là máu động vật (hay còn gọi là tiết).


Với những trường hợp đặc biệt như những loài động vật cấm sát sinh như kiến, ong; loài vật được xét chung là bẩn và ghê tởm như giòi, ấu trùng; con la - lừa; bất kỳ loại thực phẩm nào được làm từ máu hoặc chứa đựng máu cũng không đúng Halal. Hầu hết các loại hải sản đều được xem là Halal, trừ những loài vật sống được cả dưới nước và trên cạn như cua, ếch, cá sấu. Thịt bò và thịt cừu cũng là thực phầm Halal.

Món ăn Halal nổi tiếng tại Trung Quốc

* Kháo Toàn Dương (烤全羊): cừu (dê) nướng nguyên con


Kháo Toàn Dương là món ăn nổi tiếng nhất ở tỉnh Tân Cương, và nó có thể được tìm thấy ở các thành phố lớn trên khắp Trung Quốc. Các món ăn được chuẩn bị với các thành phần được lựa chọn và được nấu chín bằng cách sử dụng kỹ thuật nấu ăn đặc biệt. Khi chuẩn bị, một hỗn hợp của bột và nước với yelk, muối, gừng, bột hạt tiêu được áp dụng để che đậy toàn bộ thân thịt. Sau đó, thịt cừu được đưa vào một đặc biệt làm lò và nướng khoảng một giờ. Nó được trang trí với lụa đỏ quanh cổ của mình và phục vụ với nó miệng nhồi với caraway tươi. Khi ăn, người ta sử dụng một con dao để cắt thịt cừu từ thịt cừu.

* Lan Châu Ngưu Nhục Lạp Miến (兰州 牛肉 拉面): chữ lạp miến có nghĩa là mì được kéo thành sợi bằng tay


Đây là loại mì kéo bằng tay cũng được gọi là "mì bò Lan Châu" - một trong những món ăn phổ biến nhất tại khu vực địa phương. Du khách có thể nhìn thấy món ăn này được phục vụ vào mỗi góc của thành phố, và nó đã trở thành một phần cuộc sống của người dân. Mì được làm bằng tay, và do đầu bếp chỉ cần một hoặc hai phút để kéo bánh bột mì ra nhiều sợi mì như thế nào. Ngày nay, Mì thịt bò Lan Châu có thể được tìm thấy trong hầu hết các thành phố của Trung Quốc.

* Thủ Trảo Dương Nhục (手抓羊肉): dùng tay bóc thịt cừu (dê)


Thủ Trảo Dương Nhục có một lịch sử khoảng một ngàn năm. Nó như vậy được đặt tên bởi vì thịt được dùng tay bóc ăn

Thịt được luộc trong canh, với các thành phần như tiêu, hành tây và gừng cho đến khi thịt mềm. Loại thịt này có thể được phục vụ nóng, lạnh hoặc chiên.

(Sưu tầm trên mạng)


THỊT DÊ - MỘT MÓN ĐẶC SẢN CỦA TRIỀU NGUYỄN

Dê phổ biến trong đời sống đến như vậy nhưng không ai ngờ mãi cho đến thời vua Minh Mạng (1820-1841), nhà nước Việt Nam mới có chủ trương nuôi dê...


Dê chữ Hán gọi là dương. Dê có hai loại: dê nhà và dê rừng. Dê rừng theo sách vở có sơn dương và cao dương.

Dê là con vật rất gần gũi với đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam. Ngày nay ta gặp rất nhiều từ có liên quan đến dê hay nghĩa bóng lấy từ hình tượng và đặc tính của dê như chăn dê, sữa dê, lẩu dê, cà dái dê, già dê, máu dê, râu dê, dê xồm, dê cụ... Người đàn ông có máu dê là người có khí dương tốt, mạnh mẽ.

Dê phổ biến trong đời sống đến như vậy nhưng không ai ngờ mãi cho đến thời vua Minh Mạng (1820-1841), nhà nước Việt Nam mới có chủ trương nuôi dê. Mùa Đông năm Minh Mạng thứ 17 (1836), nhà vua sai người của tỉnh Thừa Thiên đi mua 220 con dê đực, 100 con dê cái. Chọn 20 dê đực giao cho Tể sanh (cơ quan làm thịt súc vật của triều đình) nuôi để cúng tế, (dùng hết lại chọn 20 dê đực khác), còn bao nhiêu giao cho dân nuôi. (Đại Nam Thực Lục CB, t.18, tr.339). Sau bốn năm nhân giống, đến mùa hạ năm Minh Mạng 21 (1840) nhà vua sai phát thứ dê đuôi to cho các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Quảng Bình, Bình Định, Gia Định và Hà Nội để chăn nuôi. Các tỉnh lớn 2 cặp (đực cái), các tỉnh nhỏ 1 cặp. Hễ dê sinh sản ra nhiều là có thưởng nhưng để hao hụt là phạt nặng. (ĐNTL CB, t.22, tr. 127).

Con dê trên Dụ Đỉnh (Ảnh: tapchisonghuong)


Năm 1836, đúc Cửu Đỉnh đặt trước Thế Miếu (Đại Nội Huế), vua Minh Mạng đã chọn trong hàng trăm loài thú của Việt Nam lúc ấy để lấy 9 loài chạm lên Cửu Đỉnh. Dê “trúng tuyển”, được xếp thứ tám trong bảng thứ tự sau đây: Hổ (con cọp, trên Cao Đỉnh); Báo (beo, trên Nhân Đỉnh), Tê (tây ngu, trên Chương Đỉnh); Mã (ngựa, trên Anh Đỉnh); Tượng (voi, trên Nghị Đỉnh); Lê Ngưu (bò tót, trên Thuần Đỉnh); Thỉ (con heo, trên Tuyên Đỉnh); Dương (con dê, trên Dụ Đỉnh); Sơn mã (con ngựa núi, trên Huyền Đỉnh).

Cho đến cuối triều Minh Mạng, dê vẫn còn là một loại thú quý. Thịt dê chỉ được dùng vào các cuộc tế lễ. Trong các thứ đồ mặn Tế Nam Giao (tế phẩm) đặt tại đàn Thượng có thịt dê ướp (dương hải) bên cạnh thịt nai ướp (lộc hải), thịt heo rừng ướp (sơn trư hải), thịt hưu ướp (mê hải)... Mỗi thứ thịt ướp nầy bỏ vào một cái đậu có nắp đậy bằng kim khí tráng men xanh. Về sau, dê sinh sản nhiều, được tiếng là bổ dương, thịt dê được dùng trong bữa cơm ngự thiện, tiệc tùng trong phủ phòng các ông hoàng bà chúa và các quan. Cái khó nhất trong việc nấu món ăn bằng thịt dê là khử mùi hôi của dê. Trong bếp Thượng Thiện (bếp chuyên nấu ăn cho vua, bên phải Duyệt Thị Đường ngày nay) có hai chuyên gia chuyên làm món Gỏi dê và Bó sỗ dê.


Trải qua thời “tứ nguyệt tam vương” (bốn tháng ba vua) tiếp đến Kinh thành thất thủ (7.1885), đàn dê của Tể Sanh thời vua Đồng Khánh không được chăm sóc tốt, dê sinh sản thêm không bao nhiêu mà giết mổ dê làm thức ăn ngày một tăng, chẳng bao lâu sau Triều đình hết dê. Trong lúc đó vua Đồng Khánh hay thết đãi khách Pháp, thịt dê là món chủ lực trong các buổi tiệc, Viện Cơ Mật phải cho người xoay chạy rất khó nhọc mới có đủ số thịt dê để cung cấp cho sở Lý Thiện (bếp của nhà vua chuyên lo việc cúng tế và thết đãi quốc khách đặt ở phường Huệ An ngoài Hoàng Thành, tại địa điểm gần số 24 Ông Ích Khiêm, phường Thuận Hoà ngày nay). Viện Cơ Mật “nhìn xa thấy rộng”, biết trước việc triều đình Đồng Khánh và các vua Nguyễn sau nầy ngày càng có nhiều khách Pháp nên đã nghĩ đến chuyện nuôi lại đàn dê của triều đình. Tháng ba năm Đồng Khánh thứ hai (1887), Viện Cơ Mật đệ lên vua Đồng Khánh bản tấu: “Quan Pháp đi lại triều yết luôn, thết đãi phần nhiều cần có súc vật chăn nuôi, hiện nay vật giá hơi cao, không tính dự nuôi, đến lúc ấy mới mua, sợ không được tiện; nhưng xem xét trong thành chỗ kho ở Kinh (gần cầu Kho ngày nay, NĐX), nhiều chỗ bỏ không mà rộng, cỏ mọc um tùm, tiện việc chăn nuôi, hiện giá ở tỉnh Quảng Trị hơi phải chăng, xin do tỉnh ấy kén mua dê đực 2 con, dê cái 12 con, giao cho lính giữ kho chăn nuôi, cuối năm sinh sôi được bao nhiêu, kê ra tư lên để kiểm xét vào sổ, để phòng khi cần đến”. Vua nghe theo. (ĐNTL CB t.37, tr. 257). Chỉ một việc nuôi dê để thết khách mà cả nhà vua và Cơ quan lãnh đạo tối cao của triều đình (Viện Cơ Mật) phải lo liệu trù tính mới xong. Qua đó ta thấy miếng thịt dê giữa triều Đồng Khánh quý hiếm biết chừng nào!

Năm 1914, viết cuốn Thực Phổ Bách Thiên, bà Trương Thị Bích - cô dâu của nhà thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, xem Gỏi dê và Bó sỗ dê là 2 trong 100 món ăn Huế nổi tiếng thời Nguyễn. Bà Bích dạy con cháu trong Phủ Tùng Thiện cách làm hai món ăn nầy bằng hai bài thơ sau đây:

Gỏi dê (Ảnh minh họa)

Gỏi dê

Thịt dê xắt nhỏ cũng in rau,
Chả rối, heo ria, luộc bún tàu
Bánh tráng mè rang xương nấu nước
Tương đường mỡ tỏi ruốc năm màu.

Bó sỗ dê (Ảnh minh họa)

Bó sỗ dê


Nây dê phải cạo sạch lông con
Lá sả bao ngoài khéo cuốn tròn,
Lạt mỏng ràng quanh cho thịt chặt
Luộc lâu da dẻo ấy là ngon.

Ngày nay triều Nguyễn đã cáo chung từ hơn nửa thế kỷ, không còn lễ tế Trời (tế Nam Giao) để cho người dân còn biết đến món thịt dê ướp (dương hải); hai món đặc sản Gỏi dê và Bó sỗ dê cũng theo chân triều Nguyễn thất truyền luôn. Tuy nhiên, ngày nay khách du lịch vào thăm Thế Miếu trong Đại Nội Huế vẫn còn có thể thấy được hình tượng con dê chạm nổi trên Dụ Đỉnh (đỉnh cuối cùng bên phía trái). Con dê nầy sẽ nhắc lại rằng nó mới đi vào văn hoá Việt Nam qua cửa khẩu Thừa Thiên thời Minh Mạng (1836). Biết đâu con dê triều Nguyễn sẽ bước ra khỏi Dụ Đỉnh để làm sống dậy các món ngự thiện phục vụ cho các “Thượng đế” đi du lịch Huế-Việt Nam.

Theo Nguyễn Đắc Xuân/Gác Thọ Lộc

Friday, January 17, 2020

5 HƯƠNG VỊ ĐẶC TRƯNG VÙNG MIỀN TRONG ẨM THỰC TRUNG QUỐC

Ẩm thực Trung Quốc mang 5 hương vị đặc trưng của những vùng miền riêng trên toàn đất nước Trung Quốc như mặn, cay, chua, ngọt và vị đắng.
 

Mỗi món ăn là sự kết hợp hài hoà của tất cả những hương vị trên không chỉ hấp dẫn mà còn tăng cường sức khoẻ, thậm chí còn điều trị bệnh, giúp phục hồi sau chấn thương. Dưới đây là 5 hương vị gắn với từng vùng riêng đặc trưng được ưa thích ở vùng này mà du khách có thể khám phá trong hành trình du lịch Trung Quốc:

Vị mặn

Vị mặn có vai trò quan trọng trong ẩm thực, có tác dụng phòng ngừa bệnh, có lợi cho sức khoẻ. Vị mặn giúp giải toả trì trệ của cơ thể. Tuy nhiên, món ăn không nên mặn quá bởi ăn quá nhiều muối có hại cho sức khoẻ.

Hầu hết muối sử dụng cho món ăn ở Trung Quốc là muối biển ở các khu vực ven biển vì vậy người dân ở các khu vực này có xu hướng cho nhiều muối hơn mỗi khi nấu ăn vì nó có giá rẻ hơn.


Người dân ở miền Bắc Trung Quốc thưởng thích món ăn mặn, đặc biệt là rau muối. Do miền Bắc có khí hậu khắc nghiệt, mùa đông rất lạnh, không có rau tươi sẵn vào mùa đông. Vì vậy, ở miền Bắc cách để bảo quản rau lâu nhất là món rau muối để có rau ăn trong mùa đông.

Ngày nay, mặc dù vào mùa đông vẫn có nhiều loại rau tươi vận chuyển đến bán ở miền Bắc nhưng rau muối vẫn được người dân ở đây ưa chuộng, ăn vào bữa sáng với cháo.

Vị ngọt

Theo y học cổ truyền Trung Quốc, vị ngọt có tác dụng làm săn chắc cơ thể, làm giảm bớt bệnh tệt và cải thiện tâm trạng con người. Vị ngọt trong ẩm thực Trung Quốc có nguyên liệu từ đường, mật ong và nhiều nguyên liệu khác giúp tăng cường hương vị không chỉ ngọt mà làm món ăn có vị dịu nhẹ.


Ẩm thực miền Đông Trung Quốc có vị ngọt chiếm ưu thế gồm Phúc Kiến, Chiết Giang, Giang Tô, An Huy và tỉnh Quảng Đông. Người dân ở đây tin rằng, ăn những món ăn có hương vị ngọt dịu nhẹ nhiều sẽ giúp cho cơ thể gọn gàng hơn.

Vị chua

Vị chua trong món ăn có tính năng giúp cho tâm trí con người được thư thái hơn, tốt cho tiêu hoá và giúp hoà tan canxi trong thực phẩm đồng thời kích thích sự thèm ăn. Theo y học cổ truyền Trung Quốc, vị chua giúp co ruột, ngăn chặn tiêu chảy, thúc đẩy sự tiết nước bọt và làm dịu cơn khát.


Vị chua là hương vị phổ biến trong ẩm thực miền Nam Trung Quốc, đặc biệt ở các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam. Vùng dân tộc ít người ở đây nghèo nàn, vì vậy họ muốn giữ thức ăn lâu hơn bằng cách cho nhiều vị chua. Món ăn nổi bật là canh cá chua ở Quý Châu.

Những người ở tỉnh Sơn Tây rất ưa chuộng giấm trong mỗi bữa ăn. Hầu như ăn món gì họ cũng cho thêm giấm vì vậy mà thiếu giấm đối với họ là bữa ăn chưa trọn vẹn, chưa đủ độ ngon hấp dẫn.

Vị cay

Vị cay là một trong năm hương vị có tính năng kích thích sự thèm ăn đồng thời giải gió và làm nóng cơ thể tốt và giảm bớt sự toát mồ hôi trộm, thúc đầy lưu thông khí và tuần hoàn máu.


Vị cay phổ biến ở miền Trung và miền Nam Trung Quốc bao gồm Tứ Xuyên, Hồ Nam, Vân Nam và tỉnh Quảng Tây. Điều này được cho là do khí hậu ở những khu vực này có độ ẩm cao, khó làm khô mồ hôi toát ra. Vì vậy, ớt cay thường có mặt trong các món ăn ở đây được cho là để làm khô và nóng cơ thể, tăng sức khoẻ và sự thoải mái.

Hai nơi có ẩm thực cay nổi tiếng là ẩm thực Tứ Xuyên và các món ăn Hồ Nam. Món ăn Tứ Xuyên có vị cay tê do sử dụng hạt tiêu trong khi các món Hồ Nam gồm nhiều gia vị cay, thậm chí còn cay hơn vùng Tứ Xuyên.

Vị đắng


Vị đắng sử dụng trong ẩm thực Trung Quốc, nhưng được dùng hoà trộn với các hương vị khác. Vị đắng nhẹ làm cho món ăn tươi ngon hơn. Nói chung, món ăn có vị đắng thường dùng để chữa bệnh: giúp củng cố dạ dày, thúc đẩy sự tiết nước bọt.

Cũng giống như các quốc gia khác, ẩm thực Trung Quốc cũng có cách nấu, hương vị khác nhau giữa các vùng. Thông thường, mỗi vùng có một hoặc hai trong số 5 hương vị nổi trội hơn. Sở thích hương vị của người dân mỗi vùng miền quyết định do vị trí địa lý, khí hậu, nghề nghiệp, văn hoá và lịch sử.

(Sưu tầm trên mạng)