Saturday, March 28, 2020

RÔ BĂM, NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU ĐIỂN HÌNH CỦA NGƯỜI KHMER

Từ trước đến nay tôi cứ tưởng điệu múa Lâm Thôn của người Campuchia là điệu múa tiêu biểu và sau này biết thêm nghệ thuật Dù Kê. Lúc trước còn nhà hàng Miên ở Springvale thì họ cũng hay mở nhạc Miên cho khách lên nhảy và họ nói đó là nhảy Lâm Thôn. Hôm nay xem "Ai là triệu phú" phát sóng 24/03/2020 có một câu hỏi mà cho tôi thêm một kiến thức về nghệ thuật Rô Băm của người Miên. Tôi chắc chắn là có xem qua rồi nhưng tới bây giờ mới biết tên của nó.


Rô băm, nghệ thuật sân khấu điển hình của người Khmer

Rô băm còn gọi “Rom Rô băm” là loại kịch múa cổ điển trên sân khấu cung đình của người Khmer xưa. Trong các loại hình sân khấu của người Khmer, Rô băm được cho là đã đạt đến trình độ nghệ thuật rực rỡ. Với những giá trị riêng có, người Khmer đang nỗ lực bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật truyền thống này.

Múa Rô-băm trên sân khấu (Ảnh: quehuongonline.vn) 

Sân khấu Rô băm dùng ngôn ngữ múa để diễn tả “chuyện xưa tích cũ”, xoay quanh các câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, lịch sử. Các tích cũ khai thác từ đề tài đạo Phật, đạo giáo Bà-la-môn, quen thuộc nhất là sử thi Ramayana của Ấn Độ. Những triết lý giáo dục và đạo lý của đồng bào Khmer xưa đều gói gọn trong nội dung và hình thức của loại hình sân khấu đặc sắc này. Giáo sư tiến sỹ Lê Ngọc Canh, Phó Chủ tịch Hội nghệ sỹ múa Việt nam, cho biết: "Khi nói về văn hóa của người Khmer thì nhất thiết phải nói đến sân khấu Rô băm. Sân khấu Rô băm là sản phẩm trí tuệ, là điểm nhấn của văn hóa người Khmer. Sân khấu Rô băm là nghệ thuật tổng hợp gồm có múa, có hát, có trang phục...".

Hướng dẫn múa Rô-băm cho lớp trẻ (Ảnh: quehuongonline.vn)

Do xuất xứ từ cung đình nên phục trang, hành động, lời thoại… của nhân vật trong sân khấu Rô băm thuộc về tầng lớp vua chúa, quan lại quý tộc. Sân khấu Rô băm được bố trí quy cách, bài bản, chặt chẽ và mang tính ước lệ. Trong vở diễn Rô băm thường có hai tuyến nhân vật.Tuyến nhân vật đại diện cho cái thiện là vua, hoàng tử, công chúa… thường không mang mặt nạ. Tuyến nhân vật đại diện cho cái ác thường đeo mặt nạ và gồm nhiều loại, nổi bật nhất là vai chằn –còn gọi là Yeak. Người ta yêu thích Rô băm bởi nét đặc sắc ẩn trong các điệu múa và những chiếc mặt nạ.

Các nhân vật trên sân khấu Rô băm múa các động tác chân, tay theo một quy ước chung cho từng loại nhân vật.Theo thống kê, trong Rô băm có 33 điệu múa, thể múa; trong đó, thể tay cơ bản có 8 điệu. Riêng múa chằn được quy định trong 12 điệu, mỗi điệu có những ý nghĩa và tạo hình khác nhau. Mặt nạ Rô băm có sự tiếp thu văn hóa Ấn Độ nên rất hài hòa giữa mỹ thuật và tạo hình. Có nhiều loại mặt nạ được sử dụng trong các vở Rô băm như: mặt nạ mô phỏng chằn (thể hiện hành vi, tâm địa độc ác); mặt nạ vua khỉ Ha-nu-man, ngựa Ma-no-ni, chim thần Kơ-rích, phượng hoàng, rùa, rắn… Mặt nạ trên sân khấu Rô băm sinh động, giàu biểu cảm và đều được nhân cách hóa gây hứng thú cho người xem.

Những mặt nạ và mũ được sử dụng trong nghệ thuật Rô băm (Ảnh: quehuongonline.vn)

Ngoài các điệu múa và mặt nạ, trang phục trên sân khấu Rô băm cũng có quy ước riêng. Bộ trang phục thông thường gồm yếm cổ, khăn nịt ngực, yếm trước bụng, yếm sau lưng, bao buộc chân, bao tay rất độc đáo.

Cùng với hai tuyến nhân vật đại diện cho cái thiện và cái ác, trong vở diễn Rô băm còn xuất hiện vai hề để gây cười, làm vui nhộn sân khấu. Nhạc cụ của Rô băm chủ yếu là trống vỗ, trống dùi, chiêng và hèn Slayrom. Trống có tác dụng thúc giục mạnh mẽ những màn chiến đấu. Kèn thì được cất lên khi ai oán khóc than.

Biểu diễn múa Rô-băm đường phố (Ảnh: Báo Bạc Liêu)

Rô băm phát triển mạnh và rộng khắp ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu long, nhất là Trà Vinh, Sóc Trăng, dưới sự bảo trợ của các chùa Khmer . Nhưng mức độ thịnh hành của loại hình nghệ thuật này đang bị thu hẹp dần. Anh Sơn Đel, thành viên của Đoàn nghệ thuật múa Rô-băm Basắc Bưng Chông, duy nhất ở Sóc Trăng, cho biết: "Rô băm có từ thời ông cha, vì vậy mình cứ cố gắng giữ gìn, để bà con mình cần diễn phục vụ thì mình đi diễn chứ tiền bạc thì không được bao nhiêu cả. Quan trọng là mình bảo tồn được loại hình nghệ thuật truyền thống Khmer, nếu không đi đâu diễn thì mình diễn vào các dịp lễ Dâng Y cũng được".

Nghệ thuật sân khấu Rô băm là nét văn hóa đặc sắc, là niềm tự hào của đồng bào Khmer nói riêng và Việt Nam nói chung. Sân khấu Rô băm lâu nay đã quay lại trên những cánh đồng sau thu hoạch, hay trong các lễ hội truyền thống của người Khmer. Giờ đây Rô băm đang được bảo tồn và gìn giữ, góp phần phát huy những giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống độc đáo của người Khmer.

Hồng Hạnh Chi


BỘ KHỈ TAM KHÔNG

Hiện nay, ở một số chùa có trưng-bày tượng ba con khỉ trong sân chùa. Nhưng không phải ai cũng biết về nguồn-gốc cũng như hiểu đầy-đủ ý-nghĩa sâu-xa! Mà người xưa muốn truyền dạy lại cho thế-hệ sau qua bức tượng, tưởng chừng như vô-tri đó!


Thoạt đầu, khi mới nhìn qua bức tượng này có lẽ ai trong chúng ta cũng tưởng như đã hiểu được ẩn ý của nó! Đó là: “không nói, không thấy, không nghe”. Nhiều người cho rằng bức tượng ấy muốn dạy chúng ta hãy ở yên và sống cuộc sống của mình, đừng quan tâm đến chuyện của người khác! Hay những gì đang xảy ra xung quanh!!! Nhưng nếu hiểu như vậy thì thiếu chính xác và chưa đầy đủ.

Thực ra, nguồn gốc xuất xứ của bức tượng này bắt nguồn từ Ấn-Độ vài ngàn năm về trước! Lúc đầu, đó là bức tượng về một vị thần, là thần Vajrakilaya. Đây là vị thần có sáu tay, mỗi đôi tay dùng để bịt hai mắt, hai tai và miệng!!! Theo đó bức tượng được khắc nhằm để răn dạy mỗi người: Không được nói bậy! Không nhìn bậy! Và không nghe bậy!!! 
 
Tư tưởng “ba không” đó theo các nhà tu Phật giáo đi qua Trung Hoa không rõ vào thời kì nào? Sau đó, vào khoảng thế kỷ thứ 9 (có tài liệu ghi năm 838), một thiền sư người Nhật trong chuyến đi làm Phật sự ở Trung Hoa đã mang theo về Nhật tư tưởng này!


Tại Nhật Bản, vùng Nikko (cách Tokyo chừng 140 cây số về hướng Bắc) trong đền Toshogu hiện nay còn lưu giữ một bức điêu khắc cổ (tổng cộng có tám bức khác nhau) có tượng ba con khỉ tên là Kikazaru, Mizaru và Iwazaru: bịt tai, bịt mắt và bịt miệng bằng gỗ của nghệ nhân Hidari Jingoro rất nổi tiếng từ thế kỉ XVII.

Vì từ “zaru” gần âm với “saru” có nghĩa là con khỉ, nên người ta khắc hình ba con khỉ bịt miệng, bịt mắt, bịt tai với vẻ mặt ngộ nghĩnh để biểu đạt triết lý này.

Bức tượng cũng mang đậm tư tưởng của Đức Khổng-Tử trong Luận Ngữ. Khi Nhan-Uyên hỏi về đức nhân và những điều gì cần phải làm, Khổng-Tử đã đáp: “Phi lễ vật thi, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động”. Nghĩa là "Không nhìn điều sai! Không nghe điều tầm bậy! Không nói điều trái! Không làm điều quay!”.

Người Nhật còn có thâm ý sâu xa hơn nhiều khi họ muốn: “Bịt mắt để dùng tâm mà nhìn! Bịt tai để dùng tâm mà nghe! Bịt miệng để dùng tâm mà nói!”. Khi tâm ở trạng thái tịnh Không bị quay-rầy bởi những điều xấu! Thì từ tâm mới phát-sinh những điều thiện!


Hình ảnh “Bộ khỉ tam không” còn nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của “Tâm viên ý mã” trong phép thiền. Chúng ta phải biết kiểm soát cái tâm vọng động, chẳng khác gì con khỉ chạy lăng xăng. “Tâm viên là vượn tâm, là tâm tán-loạn như vượn khỉ. Loài khỉ thường hay nhảy-nhót, khọt-khẹt, đứng ngồi không yên, thường chuyền hết từ cành này sang cành cây khác, lại hay phá-phách, bắt-chước nên người đời có câu 'liếng khỉ!'". 

Tâm người ta cũng thế! Không khi nào được yên, cứ lăng xăng, lộn xộn, suy nghĩ, nghĩ hết chuyện này đến chuyện khác, từ quá khứ, hiện tại đến tương lai, đó là tâm viên! Tâm này sẽ đưa con nguời đến loạn động! Phát sinh ra đủ thứ phiền não, cấu uế!!! Bởi vậy tâm chúng sinh bị vô minh che lấp nên phần nhiều hướng ác nhiều hơn thiện!”

Trong xã hội hiện nay bức tượng ba con khỉ càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết! Bởi mỗi người đều đang tự làm khổ chính mình! Khổ vì nghe chuyện thiên-hạ! Khổ vì nói chuyện thế-gian! và khổ vì nhìn lỗi người khác!


Bởi vậy, nếu biết tu sửa thân tâm, nhìn lỗi của người khác như lời nhắc nhở để ta không phạm phải những sai lầm đó! Lúc nào cũng phải nhắc nhở bản thân, tất cả mọi người quanh ta đều là Bồ-tát chỉ có ta là kẻ phàm phu nên còn rất nhiều lỗi cần phải sửa chữa!!! Cũng như vậy, tai nghe thấy những việc phiền não cũng đừng giữ trong long! Nên nghĩ đó là lúc Đức Phật đang dạy ta chữ “Nhẫn”! Không được sân hận trước những lời nói của người khác, lúc nào cũng giữ cho mình tâm bình-lặng trước mọi việc!

“Nhẫn một chút sóng yên gió lặng!
Lùi một bước biển rộng trời cao!”

Từng bước, từng bước như vậy chúng ta sẽ dần hoàn thiện được con người của mình! Không phải nhờ năng lực siêu nhiên nào khiến bản thân mình thay đổi, mà chính sự nhận thức sâu sắc từ trong tâm sẽ giúp ta quán chiếu được mọi vấn đề một cách vẹn toàn nhất!!! Hình ảnh “Bộ khỉ tam không” tưởng như đơn-giản, mà lại mang những giáo-lý vô cùng sâu- sắc!


Lúc nào đó, khi đi dạo trong khuôn-viên của chùa, nhìn thấy hình-ảnh những chú khỉ ấy ta vừa thấy thích-thú trước một hình-ảnh ngộ-nghĩnh, vừa là một lời nhắc-nhở nhẹ-nhàng! Mà thâm -húy của các bậc thiện tri- thức muốn truyền-đạt lại cho thế-hệ mai sau!

(Sưu tầm trên mạng)

VĂN HÓA ẨM THỰC NAM BỘ: “CẢ MỘT TRỜI THƯƠNG NHỚ”

Nếu ẩm thực miền Bắc có phần tinh tế, cầu kỳ, ẩm thực miền Trung thanh đạm thì nhắc về ẩm thực miền Nam người ta thường dùng các tính từ “đơn giản, đậm đà”. Nhiều người cho rằng ẩm thực Nam Bộ thể hiện đúng cuộc sống giản đơn, chân chất nhưng đầy nghĩa tình của người dân nơi đây. Văn hóa ẩm thực Nam Bộ cũng có nhiều đặc điểm nổi bật khiến nhiều người tò mò và thích thú nghiên cứu.


Người Nam Bộ ăn theo mùa

Người Nam Bộ “ăn theo thuở, ở theo thời” hay nói cách khác người địa phương tận dụng nguyên liệu theo từng mùa. Mỗi mùa nước nổi cũng là mùa cá linh, mùa đông bông điên điển, thiên lí, bông súng, sầu đông… Còn đến mùa gặt, người dân lại có cơ hội thưởng thức nhiều món ngon từ cá lóc, cua đồng, rau đắng… Mùa nào thức ấy quả không sai.

Gỏi bông súng là đặc trưng mùa nước nổi của ẩm thực miền Tây Nam Bộ (Ảnh: Internet)


Ẩm thực miền Nam Bộ còn đa dạng bởi những loại thủy hải sản như con còng, con cua, ba khía, chuột, cóc, nhái, ếch… Thậm chí, người dân địa phương còn dùng các loại côn trùng để chế biến thành những món ăn độc đáo như cào cào, dế… Đặc trưng về nền ẩm thực đa dạng, phong phú theo từng vùng cũng được nhắc đến trong câu ca dao:

“Gió đưa gió đẩy
Về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá
Về đồng ăn cua
Bắt cua làm mắm cho chua
Gởi về quê nội khỏi mua tốn tiền” 



 
Chế biến và ăn: Tại chỗ

Một đặc trưng nổi bật khác của ẩm thực Nam Bộ được nhiều tài liệu nhắc đến là thói quen chế biến món ăn và ăn ngay tại chỗ. Không gian chế biến món ăn gần gũi thường gắn liền với khuôn viên vườn, mảnh ruộng, bờ ao, khoảng sân của từng gia đình… Chắc hẳn, bạn sẽ chẳng còn xa lạ gì với hình ảnh người miền Tây thường chế biến cá lóc nướng trui hay nồi canh chua cá lóc ngay sau buổi tát thìa.

Về nơi ăn, người miền Nam rất thích thưởng thức món ăn ngay tại nơi chế biến, bởi họ cho rằng như vậy mới có thể cảm nhận được trọn vẹn hương vị của món ăn. Đối với những bữa cơm gia đình hằng ngày, người dân miền Nam Bộ thường bố trí nơi ăn hợp lý tùy thuộc vào không gian nhà rộng hay hẹp. Đặc biệt trong ẩm thực miền Tây Nam Bộ, nhiều gia đình còn dọn cơm ngay trên sàn nhà. Tuy nhiên, khi có đám tiệc, người miền Nam sẽ bày biện bàn ăn ở nơi trang trọng, ấm cúng thể hiện sự hiếu khách của gia chủ.



Vị ngọt đặc trưng của món miền Nam

Khác với vị mặn của ẩm thực miền Bắc, vị cay nồng của món ăn miền Trung, người dân Nam Bộ chủ yếu ăn ngọt và thích vị ngọt. Vì thế, người miền Nam Bộ thường xuyên sử dụng đường để nêm nếm món ăn trong chế biến. Đồng thời, điều này cũng lý giải tại sao nơi đây là quê hương xuất hiện nhiều loại chè ngon nổi tiếng như chè bà ba, chè đậu, chè bắp, chè bưởi…

Nói như vậy không có nghĩa là người miền Nam chỉ ăn ngọt. Vị trong ẩm thực của họ khá rõ ràng có thể gọi là “gì ra nấy”. Bạn có thể cảm nhận được điều đó qua món kho quẹt mặn quéo lưỡi, vị cay nồng của ớt trái, gừng già trong bát nước chấm, ngọt béo ngậy của bát nước chè phủ lớp nước cốt dừa bên trên…

Vị ngọt là một trong những đặc trưng của ẩm thực miền Nam Bộ (Ảnh: Internet)


Văn hóa ẩm thực Nam Bộ là “cả một trời thương nhớ” trong lòng người Việt. Khám phá ẩm thực vùng đất này cũng là cả công trình quy mô cần sự nghiên cứu hết sức kì công. Giống như không phải ai cũng biết người miền Nam dùng tiêu trong món ăn không chỉ để tăng vị cay mà còn thêm vị ngọt:

“Ví dầu cá lóc nấu canh
Bỏ tiêu cho ngọt bỏ hành cho thơm”

(Sưu tầm trên mạng)

Friday, March 27, 2020

TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT

CHUYỆN VỀ MẪU LIỄU HẠNH VÀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TRONG VĂN HÓA NGƯỜI VIỆT


Tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian đã tồn tại lâu đời và phổ biến tại Việt Nam. Khởi nguồn của tín ngưỡng ngày xuất phát từ sự biết ơn đối với người phụ nữ, người mẹ trong nhận thức thuở khai sơ của con người. Tín ngưỡng thờ Mẫu thể hiện sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị Nữ thần gắn liền với các hiện tượng tự nhiên trong vũ trụ, được người đời cho rằng có chức năng sáng tạo, sản sinh, bảo trợ và che chở cho cuộc sống của con người như: trời, đất, sông, nước, rừng núi....

Ngoài ra, nhân dân ta còn thờ những Thái hậu, Hoàng hậu, Công chúa, Nữ tướng, những người mẹ khi còn sống tài giỏi, có công với dân, với nước, khi mất về phù hộ cho người an, vật thịnh.

Tín ngưỡng thờ Mẫu trong văn hóa người Việt

Tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian đã tồn tại lâu đời và phổ biến tại Việt Nam

Hiện nay, tại Việt Nam có khoảng 75 vị nữ thần tiêu biểu, trong đó có ba vị Nữ thần tồn tại trong truyền thuyết như ba chị em, con của Ngọc Hoàng giáng trần được phân công cai quản ba miền. Miền Bắc với sự nổi trội của Chúa Tiên (Thánh Mẫu Liễu Hạnh – Vân Cát Thần nữ), miền Trung với Thiên Y A NA Diễn Phi Chúa Ngọc (tiếp biến với hình ảnh Nữ thần Ponagar – Người Mẹ đất nước – Mẹ xứ sở dân tộc Chăm) và miền Nam với Linh Sơn Thánh Mẫu (Bà Đen hay còn gọi là Bà Thâm, Bà Đanh, Bà Đênh), tất cả đang cư ngụ trong lòng tin của những tín đồ thờ Mẫu hiện nay ở Việt Nam.

Người dân Đại Việt xưa đều thờ Tam toà Thánh Mẫu. Tục thờ Mẫu của người Việt ra đời trên cơ sở tục thờ nữ Thần; các vị được thờ trong các đền, chùa, miếu, điện, đặc biệt có vị được thờ trong một loại hình kiến trúc riêng (Phủ) như việc thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

Theo chiều dài lịch sử lâu đời ở nước ta, tín ngưỡng thờ Mẫu đã phát triển có Tam Phủ, Tứ Phủ. Trong làng xã và đô thị miền Bắc từ xa xưa, trong hệ thống Tam Phủ, Tứ Phủ đều thờ các Thánh Mẫu rất tôn nghiêm.

+ Mẫu Thượng Thiên (còn gọi là Mẫu Đệ Nhất) cai quản miền trời và làm chủ mây mưa, sấm chớp; trong điện thờ thường đặt ở giữa, mặc áo màu đỏ hoặc hồng.

+ Mẫu Thượng Ngàn (còn gọi là Mẫu Đệ Nhị) cai quản miền rừng núi, cây cối; trong điện thờ thường đặt ở bên trái Mẫu Thượng Thiên, mặc áo màu xanh.

+ Mẫu Thoải (còn gọi là Mẫu Thuỷ, gọi chệch là Mẫu Thoại – Mẫu Đệ Tam) cai quản miền sông nước; trong điện thờ thường đặt ở bên phải Mẫu Thượng Thiên, mặc áo màu trắng.

Hình ảnh tượng trưng của ba Thánh Mẫu trong tâm thức của người Việt

Với tư tưởng Âm Dương - Tam Tài - Ngũ Hành, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật, thì Mẫu là nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam. Điều đó có nghĩa là từ Mẫu Thiên mà tự đối ứng hoá thành Mẫu Địa (Mẫu Thượng Ngàn) – thứ hai, rồi lại hoá thành Mẫu Thoải (Mẫu Thuỷ) – thứ ba, chính vì thế mới có tên là Tam toà Thánh Mẫu. Nơi thờ Tam toà Thánh Mẫu – chúa tể Tam Phủ là Thiên phủ, Địa phủ, Thuỷ phủ gọi là Tam phủ.

Vì Tam phủ thờ cả Ngọc Hoàng Thượng đế, Nam Tào – Bắc Đẩu, Ngũ vị quan lớn, Tứ vị chầu Bà nên thường được gọi là Tam phủ cộng đồng hay Tứ phủ vạn linh. Phủ thứ tư là để thờ các vị thần linh khác.

Tam phủ thờ cả Ngọc Hoàng Thượng đế, Nam Tào – Bắc Đẩu, Ngũ vị quan lớn, Tứ vị chầu Bà

Chuyện về Mẫu Liễu Hạnh

Hình ảnh của thánh mẫu Liễu Hạnh trong suy nghĩ của người Việt 


+ Lần giáng sinh thứ nhất

Liễu Hạnh công chúa là một trong những vị thần quan trọng của tín ngưỡng Việt Nam, là người đứng đầu hệ thống Tam phủ, Tứ phủ thờ đạo Mẫu. Nhiều làng xã và các đô thị ở phía bắc Việt Nam đều có đền thờ Bà. Bà còn được gọi bằng các tên: Bà Chúa Liễu, Liễu Hạnh, Mẫu Liễu Hạnh hoặc ở nhiều nơi thuộc vùng Bắc Bộ bà được gọi ngắn gọn là Thánh Mẫu.

Truyền thuyết kể rằng Mẫu Liễu Hạnh vốn là con gái thứ hai của Ngọc Hoàng, được giáng sinh ba lần xuống trần. Lần thứ nhất Bà đầu thai thành con gái của hai vợ chồng già quê ở Nam Định là ông Phạm Huyền Viên và bà Đoàn Thị Hằng, dù sống hiền lành, tu nhân tích đức ngoài 40 tuổi chẳng có nổi một mụn con.

Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng sẽ cho con gái thứ hai đầu thai làm con, từ đó bà có thai. Trước khi sinh, vào đêm ngày 6 tháng 3 năm Quý Sửu, trời quang mây vàng như có ánh hào quang. Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng, bỗng như có một nàng tiên từ trong đám mây bước xuống thềm nhà, và Bà sinh một bé gái. Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga.

Phạm Tiên Nga càng lớn càng xinh đẹp, mọi việc nữ công gia chánh đều thành thạo, đảm đang. Đến năm 15 tuổi đã có nhiều người đến dạm hỏi nhưng nàng đều khước từ vì nàng còn phải ở nhà chăm sóc cha mẹ già yếu, canh cửi quán xuyến công việc gia đình. Tuổi già cũng đến, cha mẹ nàng Tiên Nga cũng về nơi tiên cảnh. Sau đó, nàng bắt đầu chu du khắp nơi làm việc thiện, giúp ích cho đời và mất vào năm 40 tuổi ( thời Hồng Đức năm 1473).

Phủ Quảng Cung là một trong những nơi thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh

+ Lần giáng sinh thứ hai

Lần giáng sinh thứ hai Mẫu Liễu Hạnh làm con của ông Lê Thái Công và bà Trần Thị Phúc, quê Nam Định, cách quê cũ khoảng 7 km. Sau khi sinh Bà, ông Lê Thái Công nhìn mặt con, thấy nét mặt giống nàng tiên nữ bưng khay rượu trong bữa tiệc chúc thọ Ngọc Hoàng mà ông mơ trước đó nên đặt tên cho con là Lê Giáng Tiên.

Lần này, công chúa Liễu Hạnh kết duyên với ông Trần Đào Lang sinh được một người con trai, tên là Nhân, một con gái tên là Hoà. Giữa lúc cả gia đình đang đầm ấm vui vẻ thì bỗng nhiên bà mất, năm ấy, bà chỉ mới 21 tuổi năm Đinh Sửu (1577), tuyệt nhiên không bệnh tật gì.

Hội Phủ Dầy được tổ chức hàng năm vào ngày 3 tháng 3 âm lịch. Lễ hội nhằm tổ chức nghi lễ, thắp hương biết ơn Thánh Mẫu Liễu Hạnh

+ Lần giáng sinh thứ ba

Truyền thuyết kể rằng, vì tình nghĩa thủy chung với chồng con ở trần thế nên đến năm Canh Dần (1650), Thánh Mẫu Liễu Hạnh lại giáng sinh tại đất Tây Mỗ, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 10 tháng 10, tái hợp với ông Trần Đào lúc này đã tái sinh là Mai Thanh Lâm, sinh được một con trai.

Bà mất ngày 23 tháng Chạp năm Mậu Thân (1668). Năm ấy bà vừa 18 tuổi. Lần giáng trần thứ ba của bà là vào lúc Trịnh Nguyễn phân tranh, nhân dân lầm than cơ cực. Bà đi khắp nơi để cứu nhân độ thế, trừng trị kẻ ác. Bởi thế, nhân dân lập đền thờ ở nơi nàng giáng trần (đền Sòng, Thanh Hóa).

Những lần giáng trần, nàng lấy hiệu là Liễu Hạnh, ngao du sơn thủy, thưởng lãm cảnh đẹp hùng vĩ của đất nước và gặp gỡ, giao lưu với biết bao người, nhất là những tao nhân mặc khách (trong đó có Phùng Khắc Khoan để rồi cuộc gặp gỡ này lưu lại vết tích là phủ Tây Hồ).

Điện thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong phủ Tây Hồ, nơi ghi dấu cuộc gặp gỡ của Bà và Phùng Khắc Khoan

Cũng có tích kể rằng thời vua Lê Thái Tổ (1385-1433) trị vì, Liễu Hạnh từng mở quán bán hàng cho khách bộ hành ở chân Đèo Ngang. Tiếng đồn về một cô gái xinh đẹp bán hàng nơi heo hút ấy khiến cho bao kẻ tò mò, trong đó có vị hoàng tử đương thời. Vị này tìm đến quán hàng bán nước với ý đồ xấu xa nên đã bị nàng Liễu Hạnh làm cho dở điên dở dại.

Nhà vua nhờ sự giúp đỡ của tám vị Kim Cương đã lừa bắt được Tiên Chúa. Họ đưa Tiên Chúa về kinh để hỏi tội. Sau khi nghe Tiên Chúa kể lại hành vi của Hoàng tử, Nhà vua hổ thẹn, bèn tha mạng cho nàng, sau đó nói lời cảm tạ rồi chúc Tiên Chúa lên đường may mắn.

Đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh tại Đèo Ngang 

Trong đạo Mẫu, Bà Chúa Liễu Hạnh được suy tôn là Thánh Mẫu tối cao, hóa thân của Đệ Nhất Thánh Mẫu Thượng Thiên, được thờ ở chính giữa trong Tam tòa Thánh Mẫu. Trong tín ngưỡng dân gian nói chung, bà là một trong Tứ bất tử, họ là những người sinh ra trong thời xã hội rối ren, sự xuất hiện của họ như là một chốn nương tựa cho người dân cơ cực về mặt tâm linh.

Sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh được xem là dấu ấn của đạo Mẫu và chế độ Mẫu hệ, qua đó cho ta thấy được vị trí quan trọng của người phụ nữ trong tâm thức của người Việt.

(Sưu tầm trên mạng)

10 MÓN ĂN ĐẶC SẢN CỦA NGƯỜI HOA Ở SÀI GÒN

Sài Gòn - đô thị phồn hoa bậc nhất Việt Nam này có không ít khu phố Tàu, với nhiều món ăn hấp dẫn của ẩm thực Trung Hoa.

Hủ tiếu, sủi cảo, chè hột gà... là một vài đại diện trong vô số các món ngon của người Hoa ở Sài Gòn.

1. Hủ tiếu cá


Hủ tiếu cá là món ăn nổi tiếng của người Hoa. Cá dùng để chế biến là cá lóc tươi, đã bỏ xương làm sạch và lóc thịt, thái lát, ướp chút muối, hạt nêm. Nước lèo được nấu từ xương lợn nên có vị ngọt đậm đà, nước lèo cũng sẽ trong hơn. Gia vị nêm nước lèo ngoài những loại phổ biến còn có một gia vị đặc biệt là tăng xại (hay còn gọi là cải nặm). Hủ tiếu cá được ăn kèm với xà lách, giá, ớt, chanh và không thể thiếu nước tương (xì dầu).

2. Hủ tiếu sa tế


Hủ tiếu sa tế là món ăn của người Tiều ở khu vực quận 5, 6, 11. Cái tạo nên hương vị cho món ăn chính là nước dùng khi nó được pha chế từ gần 20 loại hương liệu và gia vị. Một bát hủ tiếu đầy đủ ngoài nước dùng, bánh hủ tiếu, thịt bò hay bò viên… thì còn có các loại rau ăn kèm như dưa leo thái sợi, giá, khế chua, húng quế, ngò gai… vừa tăng thêm hương vị vừa tạo thành một gia vị rất riêng cho món ăn rất đặc trưng này.

3. Hủ tiếu hồ


Hủ tiếu hồ cũng là món đặc trưng chỉ có ở các tiệm do người Tiều (Triều Châu) làm chủ. Hủ tiếu hồ có “cọng” hủ tiếu làm từ những miếng bột mỏng gần như bánh ướt nhưng dày hơn và có hình vuông. Ngoài ra, hủ tiếu hồ không ăn chung với thịt heo, gà hay cá mà chỉ dùng với lòng heo khìa cùng cải chua.

4. Sủi cảo

Sủi cảo vốn là món ăn nổi tiếng của ẩm thực Trung Hoa. Ở Sài Gòn nói riêng và Việt Nam nói chung, không chỉ ở các phố Tàu mới bán sủi cảo, nhưng các quán do chính người gốc Hoa chế biến hay truyền bí quyết kinh ngiệm mới có hương vị ngon hơn cả.


Ở Sài Gòn, sủi cảo có bán nhiều ở các con phố khác nhau, nổi tiếng nhất là đường Hà Tôn Quyền (quận 11) với hơn chục quán bán món ăn này. Sủi cảo được chế biến gần giống với hoành thánh nhưng lớn hơn và nhiều nhân hơn. Nhân thường được làm từ tôm, thịt lợn, các loại rau... băm nhuyễn với nhau và trộn gia vị cho vừa ăn, bọc ngoài bởi vỏ gói hoành thánh. Sủi cảo có thể chế biến theo nhiều cách như ăn nước, hấp hay chiên, thường ăn kèm cải ngọt, ít dầu mỡ ngấy ngán và rất ngon miệng.

5. Cháo cá người Hoa


Ở Sài Gòn, có hai món cháo của người Hoa rất nổi tiếng là cháo cá và cháo Tiều. Cháo cá của người Hoa được chia làm 2 phần riêng biệt gọi là "núi" và "biển". "Núi" là phần gạo nở nằm phía trên, còn "biển" là phần nước phía dưới. Cả hai nằm tách riêng chứ không trộn lẫn vào nhau. Dùng kèm với tô cháo lạ này là lòng và trứng cá khá lạ. Món này là phải chấm với sa tế mới đúng điệu.

6. Cháo Tiều


Cháo Tiều gần giống với món cháo lòng của người Việt với các thành phần như: tim, gan, phèo, cật… ngoài ra còn có thêm nấm rơm, mực tươi và đặc biệt là cho rất nhiều hành lá, gừng thái sợi nên đây là món ăn thích hợp trong ngày se lạnh hoặc với những người bị bệnh cảm.

7. Mì vịt tiềm

Mì vịt tiềm ở Sài Gòn không giữ nguyên bản với nơi xuất xứ, mà được chế biến cho phù hợp với khẩu vị của người Việt. Nước dùng ngọt mà không béo, thịt vịt giòn, mềm mà không tanh.


Ngoài ra, món ăn còn hấp dẫn với những sợi mì tươi được làm từ trứng, màu vàng rất bắt mắt. Khi ăn, bạn sẽ cảm nhận được sợi mì mềm, dai rất ngon miệng, bên cạnh đó là những cọng cải ngọt giòn giòn.

8. Xôi cadé

Một món ăn bình dân nhưng không thể thiếu khi nhắc đến ẩm thực người Hoa là xôi cadé. Món ăn pha trộn giữa xôi, lòng đỏ trứng gà cùng hương sầu riêng thoang thoảng rất hấp dẫn người ăn. Thành phần chính là cadé, được pha trộn giữa các nguyên liệu như trứng, đường, nước cốt dừa, sầu riêng theo một công thức rất riêng để cho ra một hỗn hợp hơi sánh, có màu vàng cùng hương thơm thoang thoảng rất quyến rũ.


Ngoài cadé còn có dừa nạo, đậu phụng giã nhuyễn là bạn đã có một gói xôi hấp dẫn, thơm ngon để thưởng thức.

9. Bánh mì phá lấu

Cùng cách gọi nhưng bánh mì của người Hoa khác hẳn món phá lấu nội tạng heo hay bò dùng chung với nước cốt dừa. Cụ thể, ngoài phá lấu lòng heo, đặc sản của người Tiều còn có thêm phá lấu chân gà, tàu hũ chiên, trứng...


Cái hấp dẫn của ổ bánh mì phá lấu nằm ở hậu vị ngọt dịu của nước chấm đi kèm, cái dai dai, sừn sựt của tai heo, một chút béo của những miếng bao tử, phèo... Kẹp chung với hành, dưa leo với vị cay nồng của ớt, cắn vào một miếng là thấy hết ngay hương vị đậm đà của món bánh mì độc đáo này.

10. Chè trà hột gà


Chè trứng gà trà Tàu là một món ăn rất nổi tiếng của người Hoa, giúp an thận bổ phổi, đẹp da, thanh giọng. Chè hột gà trà Tàu chỉ đơn giản là hột gà hầm với nước trà tàu, chế thêm đường thật ngọt nhưng có hương vị rất hấp dẫn. Nước trà sóng sánh màu có vị ngọt đậm, vị đắng, hương thơm thoang thoảng, uống đến đâu mát đến đó. Còn trứng gà, nhìn có vẻ lạc điệu với trà nhưng không những không tanh mà còn thơm ngon với hương trà ủ bên ngoài.

Theo Depplus.vn/MASK

Thursday, March 26, 2020

BÍ QUYẾT GIÀU CÓ CỦA NGƯỜI DO THÁI

Trên thế giới có khoảng 16 triệu người Do Thái, và họ phân bổ chủ yếu chỉ ở một vài quốc gia mà thôi, còn chưa đến 0,3% dân số thế giới. Tuy nhiên trong danh sách 400 người giàu có nhất nước Mỹ có 45% là người Do Thái và trong Top 40 người đứng đầu bảng xếp hạng này thì có 18 người Do Thái, theo Forbes.


Nhà vật lý lỗi lạc thế giới Albert Einstein là người Do Thái. Ngay cả ông trùm tài chính nổi tiếng George Soros, tỷ phú Warren Buffet và người sáng lập Facebook giàu có Mark Zuckerberg cũng đều là người Do Thái.


Tỷ phú Warren Buffet. (Ảnh: Bloomberg)

Còn có câu nói rằng: “Tiền của thế giới ở trong túi của người Mỹ, còn tiền của người Mỹ thì lại ở trong túi của người Do Thái”. Vậy thì những người Do Thái phải lưu lạc hơn 2.000 năm làm thế nào để trở thành dân tộc giàu có nhất thế giới? Họ có bí quyết đầu tư quản lý tiền bạc gì chăng?

Hơn 4.000 năm trước, tổ tiên đầu tiên của người Do Thái sinh sống ở một ‘vùng đất màu mỡ hình lưỡi liềm’ trong sa mạc Ả Rập rộng lớn, đây cũng chính là Israel và Palestine ngày nay.

Sau khi trải qua rất nhiều khó khăn và gian nan, dưới sự dẫn dắt của một số nhà lãnh đạo xuất sắc, cuối cùng người Do Thái đã thành công trong việc thành lập được quốc gia của riêng mình tại khu vực đồng cỏ tươi tốt ở Palestine có tên là Vương quốc Do Thái, đặt thủ đô ở Jerusalem.


Thế nhưng những ngày tháng tốt đẹp này chỉ duy trì được khoảng 70 năm, sau đó người Do Thái bước vào thời kỳ lưu lạc, không chỉ tự mình phân tán mà còn bị các dân tộc khác đàn áp, đánh đuổi. Ví như bị Babylon diệt quốc vào năm 586 TCN, cả dân tộc Do Thái trở thành “tù nhân của Babylon”. Vào năm 72 lại bị tàn sát hàng loạt do kiên quyết chống cự lại đội quân La Mã cướp bóc, gần 100.000 người Do Thái bị biến thành nô lệ! Từ đó, người Do Thái bị La Mã trục xuất, bị ép rời khỏi Jerusalem, bắt đầu cuộc sống lưu lạc hơn 2.000 năm.

Tuy nhiên, cho tới ngày nay, người Do Thái đã “vùng dậy” và trở thành một dân tộc thông minh, giàu có nhất thế giới và bí quyết thành công của họ chính là nhờ hệ thống giáo dục đặc biệt, ngay từ khi còn nhỏ họ đã bắt đầu thực hiện ‘mô hình giáo dục thành công’.

Mô hình giáo dục này có thể khái quát thành 3 điều quý giá sau:

1. Đọc thuộc Kinh Thánh

Ngay từ nhỏ người Do Thái đã xây dựng cho con trẻ thói quen đọc và học thuộc Kinh thánh, đây đã trở thành quy tắc giáo dục không thay đổi theo thời gian. Họ cho rằng khi trẻ còn rất nhỏ phải truyền cho con những quyển Kinh thánh đại diện cho trí tuệ cao nhất của dân tộc, nhằm đặt cơ sở nhân văn vững chắc cho sự phát triển cả đời của trẻ. Rất nhiều những đứa trẻ Do Thái đã bắt đầu học thuộc Kinh thánh từ 2-3 tuổi.

Tỉ phú hàng đầu thế giới Bill Gates cũng là hậu duệ của người Do Thái, vào năm 7 tuổi ông đã có thể đọc thuộc Phúc âm Matthew hơn 30.000 chữ trong “Kinh Thánh”, và ông đã được dẫn dắt từ những điều đã đọc trong cuộc sống sau này.

(Ảnh: Getty Images)

2. Bảo vệ sức sáng tạo của trẻ

Người Do Thái cho rằng sức sáng tạo là khả năng quan trọng nhất trong cuộc đời, nên họ được bảo vệ hết lòng ngay từ khi còn nhỏ, người lớn cần phải không ngừng tán dương và cổ vũ con trẻ.

(Ảnh: shutterstock.com)

3. Xây dựng thói quen tốt

Người Do Thái cho rằng thói quen tốt cần bắt đầu được bồi dưỡng, rèn luyện ngay từ khi còn nhỏ.

Khi con của họ được 3 tuổi, các bé sẽ được đưa đến trường tư thục địa phương để học tiếng Hebrew. Sau khi trẻ biết đọc thì họ bắt đầu dùng sách tiếng Hebrew để dạy trẻ cách viết chữ. Tiếp đó, họ sẽ cho các bé bắt đầu học thuộc lòng.

(Ảnh: shutterstock.com)

Người Do Thái cho rằng nếu còn nhỏ không xây dựng “cơ sở trí nhớ” của trẻ thì sau này trẻ sẽ không thể nào học được những kiến thức khác. Đến 5 tuổi, các bé bắt đầu học thuộc Kinh thánh, Luật Moses. Trước năm 7 tuổi, trẻ phải thuộc được “Sách Sáng Thế, Xuất Ê-díp-tô, Sách Lê-vi, Sách Dân số, Sách Đệ Nhị Luật” trong 5 quyển Moses, các bé sẽ đọc đi đọc lại hàng trăm lần theo nhịp điệu. Đến năm 7 tuổi thì sẽ học phần còn lại của Kinh Cựu Ước cũng như Giáo pháp điển Do Thái. Trước khi được học “Thành nhân điển” vào năm tròn 13 tuổi, các bé đã học thuộc toàn bộ những kiến thức cơ bản rồi.

Thanh Vân

CHÂN TÌNH


Vào một buổi sáng bận rộn ở bệnh viện, khoảng 8 giờ, một cụ ông ngoài 80 đến gặp bác sĩ để tháo chỉ khâu vết thương ở ngón tay cái. Ông nói rằng ông sẽ vội phải đi ngay sau khi hẹn gặp bác sĩ lúc 9 giờ. Tôi nhận ra dáng vội vả của ông và mời ông ngồi chờ vì ít nhất cũng phải hơn một tiếng nữa mới có bác sĩ khám cho ông.

Tôi thấy ông cứ ngó đồng hồ đeo tay và tỏ vẻ bồn chồn nên tôi quyết định sẽ khám vết thương của ông vì lúc đó tôi không bận khám bệnh nhân nào khác. Khi khám vết thương, tôi thấy nó đã lành nên bảo một bác sĩ khác lấy dụng cụ y khoa cần thiết để tháo chỉ khâu ra rồi băng bó vết thương lại cho ông.

Trong khi ăn sóc vết thương cho ông, chúng tôi bắt đầu chuyện vãn với nhau. Tôi hỏi ông có muốn lấy hẹn với một bác sĩ khác sáng nay trong khi ông quá vội như vậy không. Ông trả lời là không vì ông cần phải đi tới viện dưỡng lão để ăn sáng với bà vợ ông.


Tôi hỏi thăm về tình trạng sức khỏe của vợ ông. Ông bảo tôi rằng bà vợ ông đã phải vào viện dưỡng lão vì bà bị bệnh mất trí nhớ Alzheimer. Tôi hỏi ông rằng bà vợ ông có bực mình khi ông đến trễ không. Ông trả lời rằng bà không còn biết ông là ai. Bà không còn nhận ra ông từ năm năm nay rồi.

Tôi ngạc nhiên và hỏi ông: “Vậy ông cứ đến thăm bà mỗi sáng dù bà không biết ông là ai à?”.

Ông phát mạnh vào tay tôi và mỉm cười nói: “Bà nhà tôi không biết tôi, nhưng tôi vẫn biết bà là ai chứ”.

Tôi đã phải nén nhỏ lệ khi tiễn ông ra về, vừa sờ vào vết bầm trên cánh tay vừa nghĩ thầm: “Đó mới là thứ tình yêu mà tôi mong ước trong đời”. (Phỏng dịch "True Love")

Tình yêu chân thật không phải là yêu vẻ đẹp hào nhóang bên ngoài, cũng không phải là yêu vẻ lãng mạn tình tứ của người mình yêu, mà là chấp nhận thương đau và chấp nhận hy sinh cho người mình yêu.

Yêu thật là chấp nhận tất cả những gì người yêu đang có, đã có, sẽ có, và sẽ không còn có nữa.

Trong tất cả những chuyện khôi hài và chuyện tiếu lâm gửi đến bằng điện thư, thỉnh thoảng cũng có vài chuyện mang một thông điệp quan trọng. Chuyện này là một trong số đó. Tôi muốn chia sẻ với tất cả các bạn thế thôi.

À, nhân tiện, an bình là biết nhìn ngắm hoàng hôn xuống và biết ai để cám ơn.

Người hạnh phúc nhất không nhất thiết phải có mọi thứ tốt nhất mà chính là người làm cho mọi thứ họ có trở nên tốt nhất.


Lời Bàn của người viết:

Đọc câu chuyện về tình yêu chân thật trên đây, tôi cảm thấy xúc động về mối chân tình mà ông cụ 80 tuổi dành cho vợ bị bệnh lú lẫn. Trong đọan cuối của câu chuyện, tác giả đã định nghĩa về tình yêu chân thật và câu định nghĩa này đã đánh động tâm hồn tôi:

“Tình yêu chân thật không phải là yêu vẻ đẹp hào nhoáng bên ngoài, cũng không phải là yêu vẻ lãng mạn tình tứ của người mình yêu, mà là chấp nhận thương đau và chấp nhận hy sinh cho người mình yêu. Yêu thật là chấp nhận tất cả những gì người yêu đang có, đã có, sẽ có, và sẽ không còn có nữa”.
Qủa vậy, lúc còn trẻ còn đẹp thì người ta dễ yêu nhau và thề non hẹn biển sẽ chung thủy với nhau cho đến đầu bạc răng long. Nhưng rồi khi về gìa, nay đau mai yếu, tính tình lẩm cẩm, nói trước quên sau, ông nói gà thì bà nói vịt. Lúc đó có khi chỉ nhìn thấy mặt nhau cũng thấy bực mình thì khó mà chịu đựng được nhau chứ nói chi đến thủy chung như ông gìa 80 tuổi hàng ngày vào ăn sáng với vợ lú lẫn trong viện dưỡng lão trong suốt 5 năm trường.

Lộc Vũ