Sunday, March 29, 2026

CRAB MENTALITY LÀ GÌ? LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐỐI PHÓ VỚI TÂM LÝ ĂN KHÔNG ĐƯỢC PHÁ CHO HÔI

Có bao giờ bạn cảm thấy như thể bạn bè hay đồng nghiệp không ủng hộ và cản trở bạn cải thiện bản thân không? Chẳng hạn như bạn đạt được thành tích cao trong công việc và rất hài lòng vì những nỗ lực của bản thân nhưng trong mắt đồng nghiệp kết quả này chỉ là ăn may. Hay khi bạn dự tính học thêm về tài chính để phụ giúp quản lý cửa hàng của người yêu, người khác lại dè bỉu rằng “chuột sa hũ gạo”. Nếu như vậy, rất có thể bạn là một con cua bị kẹt trong một cái xô, mỗi khi bạn cố gắng thoát ra sẽ có rất nhiều con cua khác kéo bạn xuống. Trong tâm lý học, hành vi này được gọi là “crab mentality”. Vậy crab mentality là gì, làm thế nào để bạn bứt phá khỏi vòng vây kìm hãm? Hãy cùng Nghề Nghiệp Việc Làm 24h khám phá ở bài viết dưới đây.

Thuật ngữ này nghe có vẻ khá xa lạ, tuy nhiên hẳn bạn đã gặp sự việc này ở thời điểm nào đó.

Crab mentality là gì?

Crab mentality có nghĩa là tâm lý “cua trong xô” hay gọi tắt là “tâm lý con cua” và bắt nguồn từ một hiện tượng tự nhiên của loài cua. Nếu bạn đặt một con cua vào một cái xô, nó sẽ dễ dàng leo lên và bò ra ngoài. Nhưng mọi chuyện sẽ diễn biến khác khi bạn cho một đàn cua vào cái xô. Lúc đó, bất kỳ con cua nào cố thoát ra ngoài sẽ bị những con khác kéo trở lại. Nếu tiếp tục nỗ lực trèo lần thứ 2, con cua có thể trở thành mục tiêu của cuộc tấn công. Điều này có nghĩa là không có con cua thoát ra ngoài được vì chúng đang chống lại nhau.

Thuật ngữ này nghe có vẻ khá xa lạ, tuy nhiên hẳn bạn đã gặp sự việc này ở thời điểm nào đó.

Hãy áp dụng hiện tượng này vào tâm lý và cách tương tác của con người. Crab mentality là phép ẩn dụ về cách con người phản ứng khi nhìn thấy những người xung quanh có những thay đổi tích cực mà chính họ không thể đạt được. Câu “ăn không được thì đạp đổ” mô tả chính xác nhất tâm lý con cua này. Mặc dù con người không cố gắng hạ gục nhau về thể chất như loài cua nhưng sẽ làm suy sụp tinh thần của người khác.


Tại sao con người lại có tâm lý con cua?

Crab mentality khá độc hại, vì với tâm lý này không ai có thể trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình. Nhưng tại sao crab mentality lại tồn tại, nguyên nhân gốc rễ của tâm lý cua là gì? Một số lý do giải thích về crab mentality như:

– Môi trường có tính cạnh tranh cao nhưng tài nguyên hạn chế: khi tài nguyên (như công việc, cơ hội, danh tiếng) có giới hạn và cạnh tranh trở nên khốc liệt, con người sẽ cảm thấy lo lắng về việc mất đi các tài nguyên này. Khi đó họ có khuynh hướng ghen tị với thành công của người khác vì cho rằng tài nguyên đang bị mất đi. Do đó, họ cần phải bảo vệ tài nguyên của mình bằng cách cản trở người khác.

– Tự ti về bản thân: khi một người cảm thấy không tự tin về bản thân, họ dễ dàng cảm thấy bị đe dọa bởi sự thay đổi tích cực của người khác. Vì vậy thể hiện hành vi crab mentality để tránh cảm giác này.

Tâm lý cua trong xô có thể xuất phát từ sự tự ti của bản thân.

– Áp lực, định kiến xã hội: xã hội và môi trường góp phần định hình tư duy, hành vi của con người. Nếu môi trường coi trọng tính cạnh tranh, đề cao cá nhân hơn là hợp tác thì việc thực hiện hành vi crab mentality được xem là cách để thích nghi với môi trường xung quanh.

– Khả năng chịu đựng cảm xúc tiêu cực: đố kỵ hay khó chịu là những cảm xúc tự nhiên mà bất kỳ ai cũng có thể trải qua. Khi không được nhận thức đúng và xử lý tốt, những cảm xúc này có thể dẫn đến hành vi crab mentality nhằm phân tán, chia sẻ cảm xúc tiêu cực này với người khác.

Làm thế nào để nhận biết ai đó có tâm lý cua trong xô?

Dấu hiệu chính của tâm lý con cua là thường ngăn cản hoặc phá hoại người khác. Ngoài ra, các dấu hiệu khác để nhận biết ai đó có crab mentality hay không, bao gồm cả bạn như:

– Có xu hướng nói xấu, chê bai, hạ thấp người khác.

– Phản ứng tiêu cực một cách tự động với thành tích của người khác.

– Hay so sánh bản thân với người khác.


Phán xét bản thân tiêu cực khi nhìn thấy thành công của người khác là biểu hiện của tâm lý con cua.

– Xem những người khác như đối thủ, đang cạnh tranh trực tiếp với chính mình, ngay cả khi không phải như vậy.

– Thể hiện sự thỏa mãn trước những điều bất như ý của người khác.

– Không có khả năng cộng tác với mọi người.

– Cảm thấy không an toàn khi ai đó vượt trội hơn và có tư duy “người ta không thể giỏi hơn, thành công hơn mình”.

– Không nỗ lực trong công việc hay giải quyết vấn đề, thay vào đó là liên tục chỉ trích, phàn nàn.

– Bất an và xem thường khả năng, thành tích hay địa vị của bản thân. Tuy nhiên một số người sẽ thể hiện ngược lại, đó là thổi phồng chính mình nhằm hạ thấp người khác.

Tự cho mình là nhất, xem thường người khác để tạo ra cảm giác an toàn giả tạo vì rất sợ mất đi điều gì đó.

Làm thế nào để hạn chế crab mentality của bản thân?

Bước đầu tiên nhưng rất quan trọng đó là trung thực với bản thân và nhận thức được rằng bạn đang hoặc sắp thể hiện tâm lý con cua. Để nhận ra điều này, cần xem xét lại liệu suy nghĩ, lời nói và hành động của bạn có mang tính ngăn cản, phá hoại ai đó mà không có lý do chính đáng hay không.

Khi nhận ra mình có tâm lý cua, bạn nên cố gắng giải quyết các vấn đề tiềm ẩn đang thúc đẩy bạn phải thể hiện ra ngoài. Ví dụ vấn đề là bạn có xu hướng cho rằng thành tích của người khác chắc chắn sẽ tác động tiêu cực đến lợi ích của bạn thì hãy thử chậm lại, suy nghĩ kỹ càng xem điều đó có phải là sự thật hay không.

Dành thời gian suy ngẫm về những gì bạn cho là đang đe dọa đến mình.

Ngoài ra, bạn nên chuyển hướng tập trung vào những điều tích cực của bản thân để tránh tâm lý này. Chẳng hạn như thay vì bị ám ảnh bởi những gì người khác đang làm và đạt được, bạn nên tập trung vào mục tiêu cũng như sự tiến bộ của bản thân. Tương tự, hãy tìm những điểm tốt trong hành trình của người khác để học hỏi và cố gắng hơn thay vì đố kỵ, hạ bệ họ.

Trong trường hợp bạn chưa thể thay đổi được suy nghĩ của mình thì có thể bắt đầu từ hành động. Ví dụ, một người bạn thân đã thi đậu tiếng Nhật bằng N2 – điều mà bạn cũng hướng đến. Có thể bạn không thực sự vui mừng cho họ, nhưng bạn có thể kiểm soát hành động của mình như gửi lời chúc mừng hoặc ít nhất là không hạ thấp họ.

Hãy nghĩ về cách bạn muốn người khác đối xử với mình và sau đó hành động tương ứng với họ.

Lưu ý quan trọng cần nhớ:

Nhìn chung để tránh tâm lý con cua bạn cần nhận ra đây là vấn đề của chính bạn và tập trung giải quyết những cảm xúc tiêu cực này. Tuy nhiên, đây là một quá trình cần thời gian, thậm chí là khá lâu. Đồng thời bạn không nên phán xét bản thân là xấu xa khi phát hiện mình có tâm lý con cua. Hãy nhớ 2 từ khóa quan trọng là chấp nhận và thời gian.

Làm thế nào để đối phó với crab mentality ở người khác?

Tương tự như khi đối phó với tâm lý con cua trong chính mình, bước đầu tiên cũng là nhận ra tâm lý con cua ở người khác. Khi làm điều này, bạn nên cố gắng hiểu được sự ảnh hưởng của tâm lý này đến họ như thế nào thông qua lời nói, hành động. Bắt đầu từ việc hiểu bản chất, thay vì có những hành động đáp trả trực tiếp, bạn sẽ dễ dàng chấp nhận và đối phó bằng cách:

– Bỏ qua hành vi của họ.

– Nhận ra tâm lý con cua chủ yếu là do các vấn đề của chính họ hơn là những gì bạn đã làm, ngay cả khi hành vi nhắm vào bạn.

– Tha thứ cho họ, đây là điều tốt nhất bạn có thể làm cho chính mình, vì lo lắng, tức giận là lãng phí năng lượng.

– Tập trung vào hành trình của chính mình hơn là sự tiêu cực của người khác.

– Từ chối tham gia vào các hành vi crab mentality cùng với người khác để “trả thù” lại những người đã hạ bệ bạn trước đây.

– Trong một số trường hợp, giải pháp tối ưu đơn giản là tránh xa những người có tâm lý con cua và thiết lập mối quan hệ lành mạnh với những người khác.

Bạn có thể chọn thoát ra khỏi mối quan hệ tiêu cực và tìm kiếm những điều tốt đẹp hơn.

Nhìn chung, crab mentality là hành vi mang tính thù địch với những người mà chúng ta đánh giá là tốt hơn. Trong khi đó, nếu xoay chuyển cục diện, biến sự thay đổi tích cực của người khác thành động lực để cố gắng sẽ mang đến kết quả tốt hơn. Hành động thù địch chỉ càng gây ra bất lợi và cản trở con đường hoàn thiện bản thân. Qua bài viết này, hy vọng bạn đọc đã hiểu hơn về crab mentality cũng như nhìn nhận lại bản thân hay những hành vi ác ý từ người khác để có cách giải quyết phù hợp. Đừng quên theo dõi blog của Việc Làm 24h để đón đọc nhiều thông tin thú vị hơn nhé!

Thuyen Dang / Theo: vieclam24h



CÂU CHUYỆN CHƯA KỂ TRONG LỊCH SỬ: LÃO TỬ, KHỔNG TỬ VÀ PHẬT THÍCH CA MÂU NI

Sau khi thời Xuân Thu đã đi qua được 2500 năm, ngoại trừ Phật gia không có học phái nào có thể ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa Trung Hoa bằng Nho gia và Đạo gia. Bởi vậy, ông tổ của 3 gia phái này là Phật Thích Ca Mâu Ni, Khổng Tử và Lão Tử được người đời sau ngưỡng mộ và sùng bái.


Thật trùng hợp ở chỗ, ngày tháng 3 vị ấy ra đời chênh nhau không quá 20 năm. Theo góc nhìn lịch sử, thì 3 vị ấy là người của cùng một thời đại. Năm 571 Trước công nguyên, ngày 15 tháng 2 Lão Tử giáng sinh tại nước Sở, huyện Khổ (nay là huyện Lộc Ấp, Hà Nam). 5 năm sau, ngày 8 tháng 4 năm 566 Trước công nguyên Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sinh ở Kim Ni Bạc Nhĩ. 15 năm sau, vào ngày 27 tháng 8 năm 551 Trước công nguyên, Khổng Tử ra đời tại Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông.

3 vị Thánh giả giáng sinh vào cùng một thời đại, ấy là sự trùng hợp của lịch sử hay là Ý Trời đã an bài như vậy?

Lão Tử

“Lão Tử” tên thật là Lý Nhĩ, tên tự là Bá Dương. “Lão” là ý gọi người tuổi cao Đức lớn. “Tử” là cách gọi bày tỏ lòng tôn kính đối với người khác. Tương truyền Lão Tử bẩm sinh có khí chất phi phàm, am hiểu chuyện xưa, giỏi việc lễ chế, từng đảm nhiệm chức quan “Thủ tàng thất sử” (tương đương với giám đốc thư viện quốc gia hoặc là giám đốc viện bảo tàng quốc gia) và chức Trụ hạ sử (tương đương với chức quan Ngự sử thời Tần, Hán). Lão Tử ở lại Lạc Dương nước Chu thật lâu, thấy rõ sự suy sụp của nhà Chu. Năm 500 trước công nguyên, trong hoàng tộc nhà Chu phát sinh cuộc nội chiến tranh giành ngôi vị, Lão Tử bị liên lụy và bị bãi quan. Lão Tử cảm thấy nhân thế hiểm ác, bèn rời đi. Ông lưu lạc khắp 4 phương trời nhưng không để ai biết danh tính của mình.

Ngày 1 tháng 9 năm 478 trước công nguyên, Lão Tử 93 tuổi đi về nước Tần. Lúc đi qua cửa Hàm Cốc, quan Lệnh tên là Doãn Hỷ ở đó xem bói đã biết trước là sẽ có một Thần nhân đi qua đây, bèn sai người quét dọn sạch sẽ 40 dặm đường để nghênh đón. Quả nhiên Lão Tử tới. Doãn Hỷ nói: “Tiên sinh Ngài muốn ẩn cư, sau này không còn được nghe Ngài dạy bảo nữa, kính xin tiên sinh viết sách để truyền lại cho hậu thế!”. Lão Tử tại Trung Nguyên chưa từng truyền thụ lại điều gì. Ông biết Doãn Hỷ trong mệnh đã định là sẽ đắc Đạo, bèn tạm dừng lại nơi này một thời gian ngắn, viết lại cuốn sách nổi tiếng ngàn đời: Đạo Đức kinh. Sau đó, Lão Tử ra khỏi cửa Hàm Cốc đi về phía Tây, vượt qua vùng Lưu Sa… Lưu Sa là chỉ vùng sa mạc lớn ở Tân Cương. Không ai biết cuối cùng ông đã đi về nơi đâu.


Khổng Tử từng đến kinh đô nước Chu, thỉnh giáo Lão Tử về Lễ chế. Một ngày, Khổng Tử cưỡi một chiếc xe cũ do trâu kéo, lắc la lắc lư tiến vào thành Lạc Dương – kinh đô của nước Chu. Ông đi lần này mục đích là để tham quan “Các nguyên tắc trị nước mà các vị Tiên vương đã dùng”, khảo sát “Nguồn gốc của Lễ Nhạc”, học tập “Các quy phạm đạo đức”, bởi vậy việc ông tới viếng thăm Lão Tử, vị quan tinh thông chế độ Lễ nghi và quản lý thư viện hoàng gia, ấy là an bài tối quan trọng [của Thiên thượng]. Khổng Tử sau khi hoàn thành việc khảo sát lần đó, đã nói một câu lưu truyền đời sau rằng: “Trong số rất nhiều học thuyết trên đời, ta chọn theo [học thuyết của] nhà Chu”. Chế độ Lễ nghi thời đại nhà Chu là phỏng theo Lễ chế thời đại nhà Hạ và nhà Thương làm cơ sở mà đặt định ra, và Khổng Tử chủ trương sử dụng Lễ chế của thời đại nhà Chu. Có thể thấy chuyến đi lần ấy của ông thu được ích lợi không hề nhỏ.

Khổng Tử bái kiến Lão Tử. Lão Tử hỏi Khổng Tử đọc sách gì, ông trả lời là đọc “Chu Dịch”, và Thánh nhân đều đọc sách này. Lão tử nói: “Thánh nhân đọc sách này thì được, còn ông vì sao cần phải đọc nó? Tinh hoa của quyển sách này là gì?”.

Khổng Tử trả lời: “Tinh hoa của nó là tuyên dương Nhân Nghĩa“.

Lão Tử nói: “Cái gọi là nhân nghĩa, đó là một thứ mê hoặc lòng người, giống như như muỗi rận ban đêm cắn người, chỉ có thể làm người ta thêm hỗn loạn và phiền não mà thôi. Ông xem, con chim Thiên nga kia không cần tắm rửa mà lông vũ tự nhiên vẫn trắng như tuyết, Quạ đen hàng ngày không nhuộm lông mà tự nhiên vẫn đen. Trời vốn là cao, đất vốn là dày, mặt trời mặt trăng từ trước tới nay đã phát ra ánh sáng rực rỡ, tinh thần từ trước tới nay chính là đã được an bài có trật tự, cây cỏ từ lúc sinh ra thì đã khác nhau. Nếu như ông tu Đạo, vậy cũng thuận theo quy luật tồn tại của tự nhiên, tự nhiên là có thể đắc Đạo. Tuyên dương những thứ nhân nghĩa để làm gì đây? Chẳng phải điều đó cũng đáng tức cười như việc vừa đánh trống vừa đi tìm một con dê thất lạc hay sao?”

Lão Tử lại hỏi Khổng Tử: “Ông cho rằng tự mình đắc Đạo rồi chưa?”.

Khổng Tử nói: “Tôi đã tìm cầu 27 năm rồi, vẫn chưa đắc được”.

Lão Tử nói: “Nếu như Đạo là một thứ hữu hình có thể tìm kiếm và dâng hiến cho con người, thì người ta sẽ tranh giành nó đem dâng tặng cho quân vương. Nếu như Đạo có thể đem tặng cho người khác, thì người ta sẽ đem tặng nó cho người thân. Nếu như Đạo có thể giảng rõ ra được, người ta sẽ đem nó giảng giải cho anh em của mình. Nếu như Đạo có thể truyền thụ cho người khác, thì người ta đều sẽ tranh nhau truyền nó cho con cái mình. Song những chuyện như thế là không thể được. Nguyên nhất rất đơn giản, Đạo ấy chính là thứ mà một người bình thường không thể nhận thức một cách chính xác được, Đạo tuyệt đối sẽ không thể nhập vào tâm của người thường được”.

Khổng Tử nói: “Tôi nghiên cứu ‘Thi Kinh’, ‘Thượng Thư’, ‘Lễ’, ‘Nhạc’, ‘Dịch’, ‘Xuân Thu’, giảng nói đạo lý trị quốc của các vị tiên vương, hiểu rõ con đường thành công của Chu Công, Triệu Công. Tôi đã lấy đó để bái kiến 70 quân vương, nhưng họ đều không chọn dùng chủ trương của tôi. Xem ra người ta thật là khó thuyết phục được!”.

Lão Tử nói: “Ông nói ‘Lục Nghệ’ ấy tất cả đều là những thứ xưa cũ của thời đại các tiên vương, ông nói những thứ đó để làm gì đây? Thành tựu tu học mà ông đạt được hôm nay cũng đều là những thứ xưa cũ rồi”.


Khổng Tử thỉnh giáo xong Lễ chế nhà Chu, liền quyết tâm trở về nước Lỗ khôi phục lại nguyên xi Lễ nghi của nhà Chu. Lão Tử đối với việc này vẫn bảo lưu ý kiến. Bởi vì Lễ tuy là cần phải có, nhưng muốn khôi phục toàn diện Lễ nghi nhà Chu, e rằng không thể làm được. Thời thế thay đổi, chút Lễ nghi nhà Chu ấy cũng không thích hợp với tình huống đương thời nữa. Vì vậy Lão Tử nói với Khổng Tử: “Ông theo lời những người đó, xương cốt của họ đều đã mục nát cả rồi, chỉ là những lời bàn luận của họ là còn tồn tại mà thôi. Hơn nữa quân tử gặp được thời cơ chính trị 1 thì liền theo chính, thời cơ không thích hợp thì cũng như cây cỏ bồng kia gặp sao yên vậy. Tôi nghe nói: Người giỏi kinh doanh đem cất giấu của cải hàng hóa, không cho người thác trông thấy, mặc dù giàu có nhưng dường như cái gì cũng không có. Người quân tử Đức cao thường bề ngoài cũng giống như người ngu độn, không để lộ chân tướng ra ngoài. Ông cần phải vứt bỏ tâm kiêu ngạo và dục vọng, vứt bỏ tâm thái và thần sắc mà ông đang có kia đi, vứt bỏ chí hướng quá truy cầu kia đi, bởi vì những thứ này đối với ông chẳng có chỗ nào tốt cả. Đó chính là những gì mà tôi muốn cho ông biết”.

Khổng Tử không biết nên trả lời ra sao, nhưng vẫn không buông bỏ chí hướng của mình: Đại trượng phu “biết rõ những việc không thể làm mà vẫn làm”. Tham quan xong các địa phương khác, Khổng Tử cáo từ Lão Tử, mang theo trong lòng những nỗi niềm phấn khởi xen lẫn với thất vọng mà rời kinh đô Lạc Dương của nhà Chu. Phấn khởi là vì học hỏi lễ giáo đã thành công, thất vọng là vì những lời khuyến cáo của Lão Tử. Phía sau lưng ông, một bia đá được dựng lên ghi lại mấy chữ: “Khổng Tử đến đất Chu học hỏi lễ nghi”.

Khổng Tử trở về, 3 ngày không nói chuyện. Tử Cống thấy kỳ lạ, bèn hỏi thầy chuyện là thế nào. Khổng Tử nói: “Chim, ta biết nó có thể bay; cá, ta biết nó có thể bơi; thú, ta biết nó có thể chạy. Có thể chạy thì ta có thể dùng lưới giăng bắt nó, có thể bơi thì ta có thể dùng dây tơ mà câu, có thể bay thì ta có thể dùng cung tên bắn được nó. Còn như con rồng, ta không biết nó làm sao có thể lợi dụng sức gió mà bay tới tận trời cao. Ta hôm nay gặp mặt Lão Tử, ông ấy cũng như con rồng kia thâm sâu không thể đo lường nổi!”.

Đó chính là sự khác nhau cơ bản giữa một Giác Giả độ nhân và một nhà tư tưởng của nhân gian. Cái gọi là “Đạo bất đồng bất tương vi mưu” (Tạm dịch: không cùng một trình độ tu Đạo thì tâm cảnh cũng khác nhau xa), chính là tình huống như thế này. Đạo lý của Lão Tử vi diệu khó có thể hiểu nổi, bởi vì ấy là lời giáo huấn của Thần. Lời của Khổng Tử chẳng qua chỉ là học vấn của con người, là quy phạm đạo đức và hành vi của loài người mà thôi.

Khổng Tử

Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tên tự là Trọng Ni, sinh vào nước Lỗ năm 551 trước công nguyên.

Khi lớn lên, Khổng Tử từng làm một chức quan nhỏ chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương công bằng chuẩn xác. Ông cũng từng đảm nhiệm chức quan nhỏ chuyên quản lý nông trường chăn nuôi, súc vật sinh trưởng rất tốt. Nhờ vậy ông được thăng chức lên làm quan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình. Khổng Tử thân cao 9 xích 6 tấc (xích là đơn vị đo lường cổ Trung Hoa = 1/3 mét), mọi người đều gọi ông là “Người cao lớn”, cho rằng ông là người phi thường.

Sau khi Khổng Tử tới đất Chu học hỏi Lễ nghi trở về lại nước Lỗ, các học trò theo ông học tập dần dần đông lên. Có thể nói Khổng Tử là người thầy tư nhân chuyên thu nhận học trò đầu tiên trong lịch sử giáo dục Trung Quốc. Trước thời ông, trường học hoàn toàn là của nhà nước. Khổng Tử sáng lập ra trường học tư, thu nhận nhiều đồ đệ, đưa giáo dục mở rộng cho bình dân, đem tri thức văn hóa truyền bá cho dân gian, có cống hiến thật to lớn đối với giáo dục thời cổ đại.

Lúc Khổng Tử 35 tuổi tới nước Tề. Tề Cảnh Công thỉnh giáo Khổng Tử về đạo trị nước. Khổng Tử nói: “Quân vương cần phải có phong thái của quân vương, bề tôi cần phải có phong thái của bề tôi, cha cần có phong thái của người cha, con cần có phong thái của con”. Cảnh Công nghe xong nói: “Cực kỳ đúng! Nếu quân vương không ra quân vương, bề tôi không ra bề tôi, cha không ra cha, con không ra con, thì cho dù có rất nhiều lương thực, ta làm sao có thể ăn được đây!”. Ngày khác Cảnh Công lại thỉnh giáo Khổng Tử về Đạo lý trị quốc, Khổng Tử nói: “Quản lý quốc gia cần nhất là tiết kiệm chi tiêu, ngăn chặn lãng phí từ gốc rễ”. Cảnh Công nghe xong rất phấn khởi, định đem đất Ni Khê phong thưởng cho Khổng Tử.


Yến Anh khuyên can nói: “Loại nhà Nho này, có thể nói đạo lý, không thể dùng pháp luật mà ràng buộc được họ. Họ cao ngạo tùy hứng, tự cho mình là đúng. Họ coi trọng tang lễ, dốc hết tình cảm bi thương, an táng trọng thể mà không ngại bị khuynh gia bại sản. Họ đi khắp nơi du thuyết, cầu xin quan lộc. Bởi vậy không thể dùng họ để quản lý quốc gia được. Hiện nay Khổng Tử nói về dung mạo phục sức, đặt định lễ tiết thượng triều hạ triều rườm rà, chính là mấy đời người cũng học tập không xong được, cả đời cũng làm không được thông. Nếu Ngài muốn đem bộ những thứ này để thay đổi phong tục của nước Tề, e rằng không phải là biện pháp tốt để dẫn dắt trăm họ”.

Yến Anh khuyên can có hiệu quả. Sau đó Tề Cảnh Công tiếp đãi Khổng Tử rất có lễ độ, nhưng không còn hỏi về những vấn đề có liên quan đến Lễ nữa. Trong số các quan đại phu nước Tề có người muốn mưu hại Khổng Tử. Cảnh Công nói với Khổng Tử: “Ta đã già rồi, không thể bổ nhiệm quan tước cho ông được nữa”. Thế là Khổng Tử rời Tề trở về Lỗ.

Tại nước Lỗ, Khổng Tử tuy về mặt chính trị có rất nhiều thành tích, cũng từng làm một vài chuyện lớn, nhưng con đường làm quan không hề trôi chảy. Có lần nhà Vua chủ trì một đại lễ tế Trời, quan đại phu Tam Hoàn cố tình không chia cho ông một khối thịt tế nào. Đó là loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong Chế độ Lễ nghi của nhà Chu. Khổng Tử biết con đường làm quan của mình không có hy vọng gì, bèn rời quê nhà đi dạy học bốn phương trời, tuyên truyền những chủ trương chính trị của mình.

Lúc đó Khổng Tử khoảng chừng 50 tuổi. Ông không nề hà khổ nhọc, dùng 13 năm để dẫn dắt học trò chu du các nước, đi du thuyết khắp nơi. Nhưng các nước đều không chấp thuận chủ trương của ông. Năm 63 tuổi, Khổng Tử trở lại nước Lỗ. Cuối cùng nước Lỗ cũng không trọng dụng Khổng Tử, mà Khổng Tử cũng không muốn ra làm quan nữa.

Tuy là một người tuổi đã gần đất xa trời, nhưng ngọn lửa tư tưởng trong 9 năm cuối đời đã phát huy được thành tựu rực rỡ. Khổng Tử dốc lòng thu nhận học trò, biên soạn điển tịch, tạo thành một hệ thống tư tưởng Nho học trong 9 năm cuối đời mình.

Thời đại Khổng Tử, nhà Chu đã suy, Lễ nhạc đã phôi pha, ‘Thi’, ‘Thư’ cũng không còn toàn vẹn nữa. Khổng Tử tìm tòi nghiên cứu chế độ lễ nghi của 3 thời đại Hạ, Thương, Tây Chu, biên định “Thượng thư”, “Lễ ký”. Khổng Tử sau khi từ nước Vệ trở về nước Lỗ, thì bắt đầu đính chính lại Thi Nhạc, khiến cho “Nhã”, “Tụng” đều khôi phục lại được nhạc điệu ban đầu. “Kinh Thi” vốn có 3000 bài được truyền lại từ thời cổ đại. Đến thời Khổng Tử, ông cắt bỏ những chỗ trùng lặp, lựa chọn trong đó những bài phù hợp cho việc dạy bảo Lễ Nghĩa.

Lúc về già Khổng Tử thích nghiên cứu “Chu Dịch”. Ông giải thích về “Thoán từ”, “Hào từ”, “Quái”, “Văn ngôn”. Khổng Tử đọc Chu Dịch rất siêng năng, đến nỗi sợi dây da trâu buộc sách đã nhiều lần bị mòn đứt. Ông nói: “Để ta sống lâu thêm vài năm nữa, ta có thể nắm vững và giải thích rõ ràng nội dung và đạo lý trong từng câu văn của “Chu Dịch””.

Khổng Tử nói: “Quân tử lo lắng nhất chính là sau khi chết không lưu lại được tiếng thơm. Chủ trương của ta không thể thực thi, ta lấy gì để cống hiến cho xã hội và lưu danh hậu thế đây?”. Bèn căn cứ vào các sách lịch sử của nước Lỗ biên soạn ra bộ “Xuân Thu”, trên từ năm Lỗ Ân Công đầu tiên (722 TCN) xuống tới năm Lỗ Ai Công thứ 14 (481 TCN), tổng cộng 12 đời vua nước Lỗ. Lấy nước Lỗ làm trung tâm để biên soạn, tôn thờ Hoàng tộc nhà Chu làm chính thống, lấy sự tích Ân Thương làm tham khảo, mở rộng và phát triển truyền thống các thời đại từ đời Hạ, Thương, Chu, lời văn súc tích uyên thâm.

Cuối cùng Khổng Tử biên soạn xong “Lục Nghệ” là Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân thu. Khổng Tử dùng Thi, Thư, Lễ, Nhạc làm tài liệu giảng dạy học trò, đến học có ước chừng tới 3000 đệ tử, trong đó hiền nhân quân tử có 72 người. Chưa kể nhiều học trò chưa chính thức nhập tịch ở khắp nơi nữa.

Lúc Khổng Tử lâm bệnh, Tử Cống đến thăm viếng thầy. Khổng Tử thở dài, nói ngay: “Thái Sơn sắp đổ rồi, rường cột sắp gãy rồi, người trí tuệ sắp chết rồi!”. Nước mắt chảy dài, nói với Tử Cống: “Thiên hạ từ lâu đã mất đi đạo lý thông thường, không có ai tiếp nhận chủ trương của ta cả …”. 7 ngày sau Khổng Tử qua đời, hưởng thọ 73 tuổi, nhằm vào ngày Kỷ Sửu, tháng 4 năm 479 trước công nguyên.

Sách “Luận Ngữ” chính là do đệ tử của Khổng Tử căn cứ theo lời nói và việc làm của ông mà biên soạn thành. Đó là tư liệu trực tiếp nhất để cho chúng ta hôm nay hiểu biết về Khổng Tử. Khổng Tử cho người ta biết thế nào là “Trung dung”, vì đời sau mà đặt định ra quy phạm làm người theo “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Ảnh hưởng của ông đối với văn hóa Trung Quốc và cả vùng Đông Nam Á là rất to lớn.

Tư Mã Thiên nói: “Trong kinh “Thi” có câu nói như thế này: “Cái giống như núi cao khiến người ta chiêm ngưỡng, cái giống như đại Đạo khiến người ta tuân theo”. Từ xưa tới nay trong thiên hạ, Quân Vương và người tài đức thì có cũng nhiều. Họ khi đang còn sống đều vinh hoa quý hiển, nhưng chết đi rồi thì chẳng còn lại chút gì. Khổng Tử là một người bình dân, nhưng những người đọc sách đều tôn ông làm thầy. Từ Thiên tử, Vương Hầu đến nhân dân cả nước, những ai nói về “Lục Nghệ” thì đều xem học thuyết ấy của Khổng Tử là chuẩn tắc cao nhất. Có thể nói Khổng Tử là một Thánh nhân chí cao vô thượng”.

Tư Mã Thiên đã đánh giá rất đúng.

Phật Thích Ca Mâu Ni

Trong lúc Đại Đạo Trung Quốc đang được lưu truyền tại mảnh đất Thần Châu, thì đồng thời tại Ấn Độ – cũng là quốc gia có nền văn minh lâu đời tại phương Đông – Phật Pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã được truyền rộng.

Thích Ca Mâu Ni giáng sinh tại Kapilavastu (Ca tỳ La vệ), một đất nước tại vùng đất Ấn Độ xưa kia. Mẹ của ông là Hoàng hậu Mayadevi (hoàng hậu Ma Da) sinh hạ ông tại Lumbini (nằm ở Nam Nepal ngày nay) trên đường trở về nhà mẹ đẻ của bà. Người ta đồn rằng khi Thích Ca Mâu Ni giáng sinh, liền bước đi 7 bước, mỗi bước đi sinh ra một đóa hoa sen. Một tay chỉ lên trời, một tay trỏ xuống đất ông nói “Phía dưới Thiên Đàng và bên trên mặt đất, chỉ có ta là nhất”. Đây thực ra là chuyện đơm đặt của hậu thế. Trong vũ trụ này, có vô số Thần Phật của vô số Thiên Đàng, có ai dám kiêu căng khoác lác như thế không? Thích Ca Mâu Ni không bao giờ làm như vậy. Câu chuyện này thực sự chỉ là kết quả của những tình cảm tôn giáo cuồng tín của người đời sau mà thôi. Một vị Phật chỉ muốn người đời tu luyện theo lời dạy bảo của họ, chứ không muốn người ta dựng chuyện lên để mà tâng bốc.

Thích Ca Mâu Ni từ thuở nhỏ đã có tấm lòng từ bi thương xót chúng sinh và luôn đi tìm ý nghĩa chân chính của đời người. Năm ông 19 tuổi, Thích Ca Mâu Ni rời bỏ ngai vàng, rời khỏi hoàng cung đi tu luyện. Ấn Độ thời bấy giờ có đủ loại tông phái và đường lối tu luyện khác nhau. Đầu tiên Thích Ca Mâu Ni tu theo pháp “vô tưởng định” (Samadi) 3 năm và cuối cùng đã đạt tới cảnh giới này. Nhưng ông cho rằng đó không phải là Đạo, không phải là chân lý tột cùng, cho nên ông từ bỏ nó. Sau đó ông lại tu theo “Phi tưởng – phi phi tưởng định” 3 năm, thành công rồi nhưng ông thấy rằng đó cũng không phải là Đạo, nên cũng từ bỏ. 2 lần, Thích Ca Mâu Ni từ bỏ những điều mà ông biết chắc ấy không phải là Đạo. Ông không thể tìm thấy một vị chân sư nào cả, cho nên ông tự mình tới một ngọn núi băng giá phủ đầy tuyết trắng để tu hành khổ hạnh. Mỗi ngày ông chỉ ăn một ít hoa quả khô và chịu đói đến mức toàn thân khô héo. Ông khổ tu như vậy để tìm chân lý. Nhưng 6 năm trôi qua, ông nhận ra rằng khổ hạnh cũng không phải là Đạo, bèn xuống núi.


Thích Ca Mâu Ni đi tới bờ sông Hằng. Vì quá gầy yếu xanh xao, ông ngã xuống hôn mê bất tỉnh. Một người phụ nữ làm nghề chăn dê tình cờ đi qua, và cho ông một ít váng sữa. Thích Ca Mâu Ni ăn và phục hồi sức lực. Nhưng ông không có cách nào tìm thấy một vị chân sư có thể hướng dẫn cho mình, nên ông vượt qua sông Hằng, tới dưới một tán cây Bồ Đề, ngồi xuống và thiền định. Ông thề rằng nếu không trở thành một bậc “Vô thượng chính đẳng chính giác” thì ông thà chết tại nơi này.

Thích Ca Mâu Ni thiền định dưới tán cây Bồ Đề ấy trong 49 ngày. Buổi sáng ngày thứ 49, ông ngẩng đầu lên nhìn trời, và nhìn thấy được những ngôi sao sáng trên bầu trời. Cũng trong một cái nhìn ấy, thần thông và các quyền năng siêu phàm của ông lập tức nổ tung, và tư tưởng của ông khai mở. Ông lập tức nhớ lại mọi điều mà ông đã từng tu luyện trước kia, hiểu được kiếp sống hiện tại và nhiều kiếp trước của mình, và tất cả những điều khác nữa mà ông cần phải biết sau khi khai ngộ. Bởi vì năng lượng phóng ra trong quá trình khai công khai ngộ, một chấn động lớn xuất hiện trong phạm vi địa lý rộng lớn xung quanh ông. Người ta cho rằng ấy là một trận động đất nhẹ, núi đổ hay sóng thần, nhưng thực ra đó là do sự khai ngộ của Thích Ca Mâu Ni. Đương nhiên năng lượng của Phật là từ bi và không làm hại ai cả. Sau 12 năm tu luyện vô cùng gian khổ, Thích Ca Mâu Ni rốt cuộc đã ngộ Đạo. Sau đó, Phật Thích Ca Mâu Ni liền bắt đầu cuộc đời truyền Pháp 49 năm của mình.

Đặc điểm của pháp môn tu luyện mà Thích Ca Mâu Ni truyền dạy là Giới, Định, Huệ. Giới chính là cấm tất cả dục vọng và tâm cố chấp, định là nói về người nhập định tu hành, huệ là nói về người khai ngộ khai huệ. Đại tạng kinh có mấy vạn quyển, đều không lìa xa 3 chữ này. Đương nhiên, hình thức biểu hiện của nó rất phong phú phức tạp, nhưng thực chất chính là 3 chữ này.

“Mọi người đều biết rằng Bà La Môn giáo là Thích Ca Mâu Ni phản đối nhiều nhất. Ông cho rằng [nó] là một tà giáo, nó cùng với Phật Giáo của Thích Ca Mâu Ni là đối lập [với nhau] nhất. Kỳ thực tôi cho chư vị biết rằng: Thích Ca Mâu Ni chống đối Bà La Môn giáo chứ không phải chống đối Thần của Bà La Môn giáo. Thần mà Bà La Môn giáo tin theo vào thời kỳ nguyên thủy nhất đều là Phật, [họ] tin theo chính là các vị Phật trước thời Thích Ca Mâu Ni. Nhưng qua thời gian quá lâu dài, con người không còn tin Phật nữa, khiến cho tôn giáo này trở thành tà giáo, thậm chí [họ] sát sinh để tế lễ Phật. Cuối cùng, Thần mà họ tin tưởng và tôn thờ kia cũng không còn là hình tượng Phật nữa, [họ] bắt đầu tin theo và thờ phụng yêu ma quỷ quái có hình tượng quái vật. Con người đã làm cho tôn giáo trở thành tà”. (Giảng Pháp tại Pháp hội Houston).

Lời nói và việc làm của mọi người đều trái với những điều mà các vị Phật thời tiền sử dạy bảo. Như vậy, Bà La Môn giáo tiến vào thời Mạt pháp. Trong thời gian ấy, Phật Pháp của Thích Ca Mâu Ni bắt đầu truyền rộng ra tại Ấn Độ. Bởi Pháp mà Thích Ca Mâu Ni truyền chính là chính Pháp, trong quá trình truyền Pháp, Thích Ca Mâu Ni không ngừng bác bỏ các giáo lý của các tôn giáo khác, cho nên không ngừng có những người rời bỏ ngoại đạo đến quy y Phật giáo. Như một trong những đồ đệ của ông, người mà sau này trở thành Xá Lợi Phất ban đầu là người của Bà La Môn giáo. Ông cùng Thích Ca Mâu Ni tranh luận, biết Phật Thích Ca Mâu Ni đang truyền chính pháp, bèn rời bỏ Bà La Môn giáo và trở thành người đệ tử có trí tuệ cao nhất của Phật Thích Ca Mâu Ni. Như vậy, Phật Pháp mà Thích Ca Mâu Ni truyền càng lúc càng cường thịnh, còn các tôn giáo kia càng lúc càng suy tàn. Phật Pháp dần dần bị các tôn giáo kia kỳ thị và phản đối. Trong thời gian mâu thuẫn tôn giáo lên đến đỉnh điểm, xuất hiện sự kiện các đệ tử Phật giáo bị sát hại một cách công khai. Người đệ tử có Thần thông nhất là Mục Kiền Liên bị những kẻ ngoại đạo lăn đá từ trên núi xuống đè chết, trở thành đệ tử đầu tiên của Phật Thích Ca Mâu Ni chết vì lý tưởng của Phật giáo. Ngoại đạo còn bắt bớ đệ tử của Phật Thích Ca, ném họ vào hầm lửa, hoặc trói vào cột rồi dùng cung tên bắn chết. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni không còn tại thế, 500 đệ tử của Phật từng bị người ta chém đầu. Sự kiện bức hại ấy khiến người ta vô cùng đau xót!


Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni không còn trên thế gian, các tôn giáo khác bắt đầu hưng thịnh trở lại. Phật giáo ở Ấn Độ trải qua nhiều lần cải tổ, cuối cùng đã kết hợp với những thứ của Bà La Môn giáo, biến thành một loại tôn giáo mới là Ấn Độ giáo. Ấn Độ giáo không còn tin Thích Ca Mâu Ni, cũng không thờ phụng một vị Phật nào cả. Do vậy, Phật giáo sinh ra tại Ấn Độ, cuối cùng lại dần dần bị tiêu biến ở Ấn Độ. Song tại Đông Nam Á, tại Trung Quốc, Phật Pháp đã truyền rộng khắp nơi, ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa của những quốc gia này.

Tác giả: Bất Danh
Theo: Chánh Kiến



KÝ HOÀNG CƠ PHỤC - HOÀNG ĐÌNH KIÊN


Ký Hoàng Cơ Phục

Ngã cư Bắc hải, quân Nam hải,
Ký nhạn truyền thư tạ bất năng.
Đào lý xuân phong nhất bôi tửu,
Giang hồ dạ vũ thập niên đăng.
Trì gia đãn hữu tứ lập bích,
Trị bệnh bất kỳ tam chiết quăng.
Tưởng đắc độc thư đầu dĩ bạch,
Cách khê viên khốc chướng khê đằng.

Bài này tuyển từ Sơn Cốc tập quyển 9, bản Tứ khổ toàn thư. Bấy giờ tác giả làm giám Đức Châu (nay thuộc Sơn Đông), nhớ đến bạn ở nơi xa nghìn dặm, cảm khái muôn phần, nên gửi thư tỏ bày nỗi nhớ. Tác giả thích dùng điển cố, bài thơ này có thể nói là “không một chữ nào không có gốc gác” song không cứng nhắc, có chỗ vì dùng điển cố linh hoạt khiến nội hàm câu thơ phong phú, lấy cũ làm mới, vận dụng việc xưa vào luật, nên bài này biểu hiện đầy đủ đặc sắc thơ của nhà thơ họ Hoàng. Hoàng Cơ Phục tên là Giới, người Nam Xương (nay thuộc Giang Tây), chơi với tác giả từ hồi niên thiếu, lúc này đang làm tri huyện Tứ Hội (nay thuộc Quảng Đông).


寄黃幾復

我居北海君南海
寄雁傳書謝不能
桃李春風一杯酒
江湖夜雨十年燈
持家但有四立壁
治病不蘄三折肱
想得讀書頭已白
隔溪猿哭瘴溪藤


Gửi Hoàng Cơ Phục
(Dịch thơ: Lê Xuân Khải)

Biển bắc, biển nam cách chúng ta
Thư đem gửi nhạn chẳng sao qua
Gió xuân một chén niềm vui đậm
Đèn tối mười năm nỗi nhớ xa
Nhà liệu vách còn nguyên cả bốn
Bệnh lành tay lọ gẫy lần ba
Bạc đầu đọc sách đôi phen nghĩ
Cách suối vượn kêu khí núi nhòa


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Hoàng Đình Kiên 黃廷堅 (1045-1105), tự Lỗ Trực 魯直, biệt hiệu Sơn Cốc đạo nhân 山谷道人, Phù ông 涪翁, người Phân Ninh, Hồng Châu (thuộc Giang Tây ngày nay). Ông là thư hoạ gia và thi gia trứ danh đời Bắc Tống, tề danh cùng thầy ông là Tô Thức, người đời thường gọi Tô-Hoàng. Ông đỗ tiến sĩ, có làm một số chức quan. Ông là người cầm đầu thi phái Giang Tây, một trường phái quá chú trọng đến kỹ xảo làm thơ mà không quan tâm đúng mức đến nội dung tư tưởng của tác phẩm. Hoàng Đình Kiên còn là một người rất am hiểu về hội họa và là một trong những người viết chữ đẹp nhất thời Bắc Tống.

Nguồn: Thi Viện



NHÌN LẠI VỤ THỬ BOM HẠT NHÂN MẠNH NHẤT TRONG LỊCH SỬ THẾ GIỚI

Với sức công phá đạt 50 Megaton, tương đương 50 triệu tấn thuốc nổ TNT, "Sa hoàng" là quả bom hạt nhân có mức tàn phá lớn nhất từng được ghi nhận trong lịch sử thế giới.


Theo báo cáo do trang Visual Capitalist của Canada đăng tải, các nhà khoa học ước tính, từ cuối Thế chiến II cho đến lúc Chiến tranh Lạnh kết thúc, cả Mỹ và Liên Xô đã thực hiện hơn 1.700 cuộc thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Trong khi chính quyền Mỹ tập trung vào việc hoàn thiện các khí tài mang thiết bị hạt nhân, Liên Xô lại hướng đến nghiên cứu những vũ khí có sức mạnh không tưởng và quả bom mang tên "Sa hoàng" là một trong số đó.

Bối cảnh

Giữa lúc căng thẳng Chiến tranh Lạnh ngày một leo thang vào giữa thập niên 1950, chính quyền Liên Xô đã đẩy mạnh dự án phát triển bom hạt nhân. Dự án được chia làm 2 giai đoạn và diễn ra trong khoảng thời gian 1956 - 1961. Những nghiên cứu khi đó của các nhà khoa học Liên Xô đã tạo ra thành quả là bom Sa hoàng.


Trong nghị quyết đưa ra hồi tháng 10/1961, các nhà lãnh đạo Liên Xô tuyên bố cuộc thử nghiệm quả bom Sa hoàng sẽ diễn ra tại bãi thử Novaya Zemlya (nay thuộc Nga) vào cuối tháng đó.

Để có thể chở quả bom nặng 27 tấn, chính quyền đã điều động một máy bay ném bom Tu-95. Tuy nhiên, các nhà khoa học Liên Xô vẫn phải chỉnh sửa lại chiến đấu cơ này để phù hợp với yêu cầu của cuộc thử nghiệm. Phiên bản máy bay chỉnh sửa đó sau này được các tài liệu quân sự Nga ghi nhận với tên gọi Tu-95V.

Cuộc thử nghiệm và kết quả

Vào sáng 30/10/1961, chiếc Tu-95V đã thực hiện vụ ném bom Sa hoàng tại bãi thử Novaya Zemlya. Để kíp lái chiến đấu cơ có đủ thời gian thu thập dữ liệu và rời khỏi phạm vi vụ nổ, quân đội Liên Xô đã trang bị cho quả bom một dù giảm tốc, đồng thời thả bom ở độ cao 10.500km.

Quả bom Sa hoàng được thả từ máy bay Tu-95. Ảnh: RT

Đài RT dẫn những tài liệu được công bố sau này cho hay, các chuyên gia quân sự Liên Xô có tổng cộng 188 giây để thu thập dữ liệu về quả bom, trước khi thiết bị hạt nhân trên phát nổ ở độ cao 4.200m. Khi phát nổ, sức công phá của bom Sa hoàng được ghi nhận lên tới hơn 50 Megaton, tương đương hơn 50 triệu tấn thuốc nổ TNT.

Một thành viên trong đội phụ trách thu thập dữ liệu cuộc thử nghiệm kể: “Qủa cầu lửa có đường kính 4,6km và có thể nhìn thấy từ khoảng cách 1.000km bất chấp những đám mây dày đặc. Cột khói hình nấm của vụ nổ đạt độ cao 67km và có đường kính 95km… Tại đảo Dikson (Nga) nằm cách tâm chấn vụ nổ khoảng 800km, sóng xung kích khiến cửa sổ của nhiều công trình vỡ nát, kèm tiếng động giống như đại bác”.

Khoảnh khắc quả bom Sa hoàng phát nổ. Ảnh: RT

Cuộc thử nghiệm bom Sa hoàng ở thời điểm đó đã gây ra một làn sóng phản đối vũ khí hạt nhân, không chỉ từ các quốc gia phương Tây mà còn nhiều nơi khác trên thế giới. Theo trang National WW2 Museum, lợi ích duy nhất mà cuộc thử bom hạt nhân trên mang lại là "Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân một phần" được ký kết vào tháng 8/1963 và bắt đầu có hiệu lực vào tháng 10 cùng năm.

Tuấn Trần / Theo: VNN
Link tham khảo:



Saturday, March 28, 2026

NGƯỜI TRẺ MỸ ĐANG BẤT HẠNH

Hóa ra Gen Z không phải đều không hạnh phúc trên toàn cầu - họ chỉ đang đặc biệt buồn chán tại Mỹ, Canada, Úc và New Zealand.

Ảnh minh họa

Thanh niên Mỹ đang cảm thấy khốn khổ - trái ngược với sự hạnh phúc của giới trẻ ở phần còn lại của thế giới.

Hóa ra thế hệ Gen Z không phải đều không hạnh phúc trên toàn cầu - họ chỉ đang đặc biệt buồn chán tại Mỹ, Canada, Úc và New Zealand.

Ngoài 4 quốc gia này, những người dưới 25 tuổi báo cáo cảm giác hạnh phúc ngày càng tăng trong thập kỷ qua, theo ấn bản lần thứ 14 của Báo cáo Hạnh phúc Thế giới được công bố vào thứ Tư (18/3).

Các tác giả của báo cáo thường niên không chắc chắn lý do tại sao lại có sự cách biệt về chỉ số hạnh phúc này, nhưng họ tin rằng nó có thể liên quan đến việc sử dụng mạng xã hội. Có vẻ như những nội dung trên mạng không thực sự nuôi dưỡng tâm trí, cơ thể hay tâm hồn của những người trẻ tuổi.

"Chúng tôi vẫn chưa biết tại sao sự sụt giảm hạnh phúc của giới trẻ lại lớn hơn nhiều ở những quốc gia đó so với những nơi khác", biên tập viên sáng lập báo cáo John F. Helliwell, giáo sư kinh tế danh dự tại Đại học British Columbia, chia sẻ.

"Nguyên nhân không phải vì việc sử dụng mạng xã hội ở đó cao hơn nhiều so với những nơi khác, bởi vì nó gần như phổ biến khắp mọi nơi trong thế hệ Gen Z", ông nói thêm. "Một số lý do có thể phản ánh sự khác biệt trong cách sử dụng mạng xã hội ở những quốc gia đó, vốn đều nằm trong quỹ đạo nói tiếng Anh".

Ảnh minh họa

Báo cáo - dựa trên dữ liệu Khảo sát Thế giới của Gallup và các nguồn khác - đã liên kết việc sử dụng mạng xã hội quá nhiều với mức độ an lạc thấp hơn, nhưng mối liên hệ đó phụ thuộc rất nhiều vào người dùng, nền tảng họ truy cập, phạm vi và thời gian sử dụng.

Thanh thiếu niên Mỹ dành trung bình 4,8 giờ mỗi ngày để lướt mạng xã hội, theo dữ liệu từ Gallup năm 2023. Những người trẻ sử dụng mạng xã hội ít hơn một giờ mỗi ngày có mức độ hạnh phúc cao nhất - thậm chí cao hơn cả những người hoàn toàn không sử dụng.

Điều đó có thể là do mạng xã hội được chứng minh là giúp thúc đẩy các kết nối xã hội và cảm giác thuộc về, ngay cả khi nó làm gia tăng sự so sánh xã hội gay gắt, lo âu và trầm cảm.

Gen Z không phải là những người Mỹ duy nhất đang u sầu. Báo cáo Hạnh phúc Thế giới xếp hạng hơn 140 quốc gia dựa trên mức trung bình ba năm về đánh giá chất lượng cuộc sống. Các tác giả báo cáo cũng xem xét GDP bình quân đầu tư, kỳ vọng sống khỏe mạnh, sự gắn kết của tình bạn, cảm giác tự do, sự hào phóng và nhận thức về tham nhũng.

Phần Lan - nơi có nền giáo dục miễn phí và chăm sóc sức khỏe với chi phí hợp lý - dẫn đầu thế giới về hạnh phúc trong năm thứ 9 liên tiếp, với điểm số trung bình là 7,8 trên 10. Bạn có thể ngạc nhiên khi biết rằng mọi người vui vẻ hơn ở Israel (vị trí số 8), Kosovo (số 16), Slovenia (số 18), Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (số 21) và Ả Rập Xê Út (số 22) so với Mỹ (số 23).

Ảnh minh họa

Hoa Kỳ xếp thứ 24 vào năm 2024, thứ 23 vào năm 2023, thứ 15 vào năm 2022, thứ 16 vào năm 2021 và thứ 20 vào năm 2020.

"Khi triển vọng việc làm và nhà ở có vẻ mờ mịt, và sự phân cực ngày càng tăng, đây là những lý do thực sự dẫn đến sự thay đổi trong cảm xúc", Helliwell nói.

"Bảng xếp hạng tổng thể bị kéo xuống bởi sự không hạnh phúc của giới trẻ, nhưng đó không phải là toàn bộ câu chuyện vì cũng có một số tác động tương tự đối với các nhóm tuổi già hơn. Tuy nhiên, đối với Hoa Kỳ, Canada, Úc và New Zealand, sự sụt giảm chủ yếu nằm ở những người trẻ tuổi", ông tiếp tục.

Nguồn: NYPost
Theo: Thanh Niên Việt
Link tham khảo:




TUYẾN ĐƯỜNG SẮT THANH TẠNG

Cách đây hơn 1.300 năm, Công chúa Văn Thành phải mất gần 3 năm mới tới được Lhasa, còn ngày nay ngồi trên chuyến tàu T44, từ Thành Đô đến Lhasa chỉ mất 44 giờ tàu chạy. Tuyến đường sắt Thanh Tạng đã làm nên điều kỳ diệu khi nối miền Đất của chư thiên với các vùng khác của Trung Quốc, mở ra nhiều triển vọng phát triển kinh tế và du lịch.


Tuyến đường sắt Thanh Tạng, Khám phá con đường trên bầu trời của Trung Quốc

Kéo dài 1.956km trên cao nguyên Thanh Hải-Tây Tạng, tuyến đường sắt Thanh Tạng kết nối Tây Ninh, thủ phủ của tỉnh Thanh Hải và Lhasa, thủ phủ của Tây Tạng. Tuyến đường sắt Thanh Tạng kết thúc lịch sử không có đường sắt của Tây Tạng và lập kỷ lục mới thế giới về tuyến đường sắt cao nhất thế giới.

Đôi nét về tuyến đường sắt Thanh Tạng

Vì 960km của nó nằm ở độ cao 4.000 mét so với mực nước biển, các nhà thiết kế và kỹ sư của tuyến đường sắt này đã phải giải quyết nhiều khó khăn khác nhau trong quá trình xây dựng. Ba thách thức lớn phải đối mặt là hệ sinh thái mong manh, thiếu oxy và băng vĩnh cửu. Nhiều chuyên gia nước ngoài từng cho rằng người Trung Quốc không thể vượt qua những khó khăn này. Tuy nhiên, một vài năm sau, họ đã bị sốc trước kỳ quan thế giới nhân tạo này và coi nó như một phép màu trong kỹ thuật của thế giới. Kể từ khi đi vào hoạt động, tuyến đường sắt Thanh Tạng đã trở thành một trong những tuyến đường sắt nhộn nhịp nhất châu Á. Hàng triệu du khách đổ xô đến Cao nguyên Thanh Hải-Tây Tạng để trải nghiệm những chuyến tàu đi trên tuyến đường sắ này trên cánh đồng tuyết.


Quá trình thi công tuyến đường sắt cao nhất thế giới

Để hoàn tất tuyến đường sắt Thanh Tạng với tổng chiều dài 1.956 km, Trung Quốc đac phải chia việc này làm hai giai đoạn. Giai đoạn 1, đoạn từ Tây Ninh đến Cách Nhĩ Mộc được khởi công từ năm 1984. Giai đoạn 2 được khởi công từ ngày 29-6-2001, đoạn từ Cách Nhĩ Mộc đến Lasa với tổng chi phí 33,09 tỷ NDT, cùng chiều dài 1.142 km. Riêng tiền đầu tư cho bảo vệ môi trường lên tới trên 1,1 tỷ NDT. Đây là khoản đầu tư lớn nhất trong lịch sử xây dựng đường sắt ở Trung Quốc. Tuyến đường sắt Thanh Tạng xuyên qua hai núi chính (Côn Lôn và Đường Cổ La) và 550 km đường đất nguy hiểm (đóng băng nhiều tầng, nhiều năm cùng một "khu vực cấm"). Mặc dù thi công trong điều kiện khắc nghiệt: phải đeo bình ôxy nặng 5kg nhưng không một công nhân nào trong số hơn 100.000 người tham gia xây dựng tuyến đường sắt Thanh-Tạng bị chết do sự cố hay lâm bệnh trong lúc lao động và đây được cho là một kỳ tích tại Trung Quốc.

Trung Quốc đã làm nên điều kỳ diệu về kỹ thuật trên thế giới


Ngay cả những khó khăn về kinh tế và địa lý đều gặp phải trong quá trình xây dựng tuyến đường sắt trên cao nhất này. Như đã biết, một kỳ tích kỹ thuật như vậy phải đòi hỏi đầu tư rất lớn, đây là một thách thức lớn đối với Trung Quốc vào thời điểm đó. Nhưng, thách thức lớn nhất nằm ở điều kiện địa lý khắc nghiệt trên cao nguyên. Hệ sinh thái mỏng manh trên Cao nguyên Thanh Hải-Tây Tạng, cũng như tình trạng thiếu oxy ở độ cao lớn và lớp băng vĩnh cửu là những vấn đề lớn khiến việc xây dựng Đường sắt Thanh Hải-Tây Tạng trở nên đặc biệt quan trọng.

Hành trình đường sắt Thanh Hải-Tây Tạng

Được mệnh danh là “Con đường trên bầu trời”, bản thân đường sắt đã là một kỳ quan tuyệt vời. Tất nhiên, phong cảnh ngoạn mục tạo thêm sức hấp dẫn cho tuyến đường sắt Thanh Tạng quyến rũ này. Hành trình của đường sắt Thanh Hải-Tây Tạng là một trải nghiệm phi thường, thú vị, đặc biệt là chuyến tàu leo ​​lên Thanh Hải Tây Tạng Pleatau từ Xinning. Đừng bỏ lỡ bất kỳ khoảnh khắc nào của thiên nhiên phi thường mà bạn sẽ quan sát qua cửa sổ tàu hỏa. Tuyến đường sắt kỳ diệu này đi qua những ngọn núi cao xa xôi, những dòng sông xanh, những hồ nước trong xanh, ốc đảo xanh và thảo nguyên. Bầu trời có thể thay đổi tạo nên mưa, tuyết, nắng và thời tiết lạ thường. Việc di chuyển bằng tàu hỏa mang lại nhiều khả năng hơn để khám phá các điểm tham quan dọc theo tuyến đường sắt, du khách có thể dễ dàng dừng tại bất kỳ ở gaa nào trong sáu ga tàu chính của đường sắt Thanh Hải-Tây Tạng để đi vòng quanh, sau đó tiếp tục hành trình đến Tây Tạng.

Tuyến đường sắt kết nối Trung Quốc và Tây Tạng


Hiện tại, bảy thành phố từ mọi hướng ở Trung Quốc đại lục cung cấp các chuyến tàu trực tiếp đến Lhasa qua tuyến đường sắt Thanh Tạng. Đó là Bắc Kinh ở phía bắc, Thượng Hải ở phía đông, Quảng Châu ở phía nam, Thành Đô và Trùng Khánh ở miền trung, Tây Ninh và Lan Châu ở phía tây. Nhưng nó không chỉ ra rằng bạn chỉ có thể lên tàu đến Tây Tạng ở những thành phố này. Các chuyến tàu đến Tây Tạng đi qua nhiều thành phố quan trọng ở Trung Quốc, như Nam Kinh, Trịnh Châu, Tây An, Trường Sa và Thái Nguyên. Tuy nhiên, đâu là thành phố tốt nhất để bắt đầu chuyến hành trình bằng tàu hỏa đến Tây Tạng, bản đồ đường sắt Thanh Hải-Tây Tạng đã vẽ cả các tuyến đường sắt từ Trung Quốc đến Tây Tạng và cũng đưa ra đánh giá tổng thể có thẩm quyền nhất về 7 tuyến đường sắt chính từ Trung Quốc đến Tây Tạng. Tây Ninh là điểm khởi đầu thực sự của đường sắt Thanh Hải Tây Tạng, nó cũng là điểm kết nối của Đường sắt Thanh Hải Tây Tạng và đường sắt ở Trung Quốc đại lục. các tuyến phổ biến nhất là tàu Bắc Kinh đến Lhasa, Tàu Thượng Hải đến Lhasa và Tàu Xining đến Lhasa.

Theo: dulichphuonghoang.vn



TỰ TUYÊN THÀNH PHÓ QUAN THƯỚNG KINH - ĐỖ MỤC


Tự Tuyên Thành phó quan thướng kinh

Tiêu sái giang hồ thập quá thu,
Tửu bôi vô nhật bất trì lưu.
Tạ Công thành bạn khê kinh mộng,
Tô Tiểu môn tiền liễu phất đầu.
Thiên lý vân sơn hà xứ hảo,
Kỷ nhân khâm vận nhất sinh hưu?
Trần quan quải khước tri nhàn sự,
Chung bả tha đà phỏng cựu du.


自宣城赴官上京

蕭灑江湖十過秋
酒杯無日不遲留
謝公城畔溪驚夢
蘇小門前柳拂頭
千里雲山何處好
幾人襟韻一生休
塵冠掛卻知閑事
終把蹉跎訪舊遊


Từ Tuyên Thành về kinh đô 
nhận chức quan mới
(Dịch thơ: Nguyễn Minh)

Quá mười năm giang hồ phiêu bạt
Không ngày nào không đạt say mèm
Tạ Công bên suối mộng tàn
Liễu nhà Tô Tiểu chạm cành đầu ai
Ngàn dặm mây núi nơi nào tốt
Áo phong lưu cốt cách mấy người
Treo mũ bụi, nhàn biết rồi
Cuối cùng chốn cũ tìm chơi quên đời.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng. Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng tong, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thư ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn).

Nguồn: Thi Viện