Tuesday, August 18, 2026

TÔI CƯỚI VỢ

Hồi học lớp đệ tứ (lớp 9 bây giờ), tôi có đọc đâu đó truyện ngắn tựa là "Lấy vợ miền quê", của tác giả nào tôi quên. Tôi rất khoái truyện ngắn nầy và định bụng lớn lên mình cũng “lấy vợ miền quê” như tác giả kia.


Nói thì hơi xấu hổ, vừa đậu Tú Tài phần hai, lúc đó tôi mới 18 tuổi tây, tức 19 tuổi ta, mà tôi đã... "muốn vợ"! Con trai mà “muốn" chuyện gì thì thường vòi vĩnh với mẹ, như chiếc xe đạp, đồng hồ, quần áo mới, kể cả chiếc solex cáu cạnh tôi đang chạy, mà chỉ hàng “thiếu gia”... ở tỉnh như tôi mới có.

Những thứ đó tôi đều manh dạn nói với mẹ, và lần nào cũng vậy, mẹ tôi không cần suy nghĩ mà “ô kê” liền. Còn cái vụ "muốn vợ" nầy, tôi có miệng mà chẳng thốt nên lời! Tôi định bụng lúc nào mẹ vui và khi chỉ có hai mẹ con ở nhà thì tôi "tâm sự" liền. Mẹ lúc nào lại không vui!
Vả lại tôi là con một trong gia dình, chỉ cần ba tôi đi uống cà phê hay đi đâu đó thì có biết bao nhiêu dịp… may!

Thế mà khi thấy mẹ ngồi, tôi vừa xề lại thì bao dũng khí đã tiêu tan!

Bao lần như vậy, dường như bà để ý, giọng ngọt ngào cố hữu:

- Gì đó con trai cưng? Muốn gì nữa phải không?

Lúc đó tôi chỉ cần một “gờ-ram” dũng khí, thêm một tiếng "vợ" sau tiếng "muốn" của me tôi thì đòn cân cục diện đâu lại vào đấy rồi.

Đàng nầy tôi lại nhút nhát, rụt rè! – Điều nầy, vốn không phải là bản tính của tôi:

- Dạ... có "muốn" gì đâu mẹ!

Trả lời xong tôi thấy ấm ức, giận mình sao quá yếu gan! Thì may thay, vợ chồng anh hai Trân tới chơi. Anh với tôi là chú bác ruột tôi. Hai Trân là con trai trưởng của bác hai, còn cha tôi đến thứ chín, nên ảnh nhỏ hơn cha tôi chẳng bao nhiêu. Anh rất vui tính, cởi mở, lẹ làng, sốt sắng. Cái gì cũng chịu hoạch toẹt, không chịu úp úp mở mở, nên có khi hơi lố lố. Vậy mà tôi lại quý mến anh ở điểm nầy nhất, mới lạ!

Chưa chào hỏi mẹ tôi, anh nhìn tôi bôm bốp:

- Đậu (Tú Tài ) rồi hả mậy? Là người lớn rồi, cưới vợ được rồi đó nghen!

Thuở đó đậu Tú Tài cũng oai lắm, kiếm việc làm dễ như chơi. Trong thân tộc có người đậu tú tài là niềm hãnh diện chung. Nghe anh nói, tôi khoái chí tử, nhưng cũng làm bộ:

- Mới bây lớn mà có vợ gì anh ơi!

- Sao lại “bây lớn"? Hồi tao cỡ mầy là con cu biết gáy rồi. Mầy hỏi chú chín....

Chị hai thúc mạnh vào hông chồng:

- Nói bậy không hà! Thím chín kìa!.. Chú nó còn nhỏ...

- Nhỏ nhỏ cái gì? Cỡ tuổi nó tôi có con rồi!

Tôi mỉm cười, thấy thích anh lạ! Anh hai quay sang mẹ tôi:

- Thím chín! Em lớn rồi nghen thím. “Nam đại bất hôn như liệt mã vô cương” đó thím. Em nó đẹp trai, học giỏi, nhà giàu, mà thím không chịu cưới vợ cho nó là có ngày có người bồng cháu nội về cho thím nuôi đó!

Chị hai nạt:

- Nói bậy không hà! Cái tật không bỏ!

Anh hai nói chuyện thường chêm vào mấy câu chữ nho, những lần đó tôi cũng bực mình, vì có câu tôi cũng không hiểu nghĩa rõ ràng.

Câu anh vừa nói tôi hiểu, xem ra nó cũng hay đó chứ! Còn chị hai, là người phụ nữ nết na, đẹp lại hiền, hay kìm chế chồng những khi anh quá trớn. Đặc biệt lần nầy tôi lại thấy chị hơi… quá trớn! 

Mẹ mỉm cười:

- Biết nó chịu không mà cưới?

Tim tôi đập thình thịch. Không ngờ diễn tiến lại thuận lợi như vậy. Mẹ nói thế tức là nếu tôi "chịu" thì mẹ cưới chứ gì? Ôi con đường... cưới vợ sao mà hanh thông như vậy!

Anh hai quyết liệt:

- Sao lại hổng chịu thím? Hỏng lẽ nó muốn vợ nó lại la làng lên sao?

Hồi trước con muốn vợ, con cũng đâu dám nói cho má con mà phải nhờ chú chín mở hơi giùm. Thím quên rồi sao?

Quay qua tôi, anh dịu giọng:

- Nè cưng, anh hai hỏi thiệt nghen, cưng có muốn cưới vợ không?

Phải nói là nhờ anh hai mà lòng tôi tràn dũng khí. Tôi quyết không bỏ lỡ cơ hội. Chỉ cần tôi nói một tiếng "muốn" là bài toán có đáp số ngay, và bao nhiêu đè nén trong lòng bấy lâu chắc chắn giờ đây tan biến!

Nhưng như vậy xem phàm phu quá! Tôi cười cười, đợi cho mọi người chờ một lát, thần khẩu xui tôi phát ra một câu quá tuyệt vời:


Note: hình trong bài này là minh họa

- Thì hồi trước anh hai sao thì giờ em vậy thôi!

Mọi nghười cười rần và mang ý nghĩa khác nhau. Tôi cười cho... đở mắc cở. Chị hai cười xòa góp phần vui; anh hai cười ngất, cười sặc sụa của người thích chí; còn mẹ thì cười hiền hòa, sung sướng, lấy tay áo chậm hai khóe mắt rưng rưng. Tôi thấy thương mẹ vô cùng, sà vào lòng mẹ. Dù là một cậu tú, nhưng với mẹ, tôi vẫn thường thích mẹ vuốt ve như thuở lên ba. Mẹ vò tóc tôi, nói với anh chị hai:

- Bây thấy hôn? Nó làm còn như nhỏ lắm vậy!

Mẹ hỏi tôi:

- Bộ con có để ý bạn gái nào ở trường hả?

Tôi lắc đầu. Mẹ bảo:

- Vậy thì mẹ biết ai mà cưới cho con?

Anh hai nhanh nhẩu:

- Thì làm mai! Hồi trước chú chín cũng vậy, con cũng vậy. Có ai thương yêu ai trước đâu? (liếc sang chị hai) Chừng về ở chung cũng khoái thấy mồ...

Anh phủi bàn tay chị hai định nhéo vào hông anh:

- Vậy chớ hỏng phải sao?

Rồi quay sang tôi, anh lại ngọt ngào và xôm tụ:

- Nè, bây giờ em chưa quen ai phải không? E hèm! Hồi trước anh cũng vậy thôi. Có sao? Nhưng em phải cho thím chín và anh chị hai đây biết mẫu người em ưng thế nào thì ở đây mới kiếm cho em được chứ! Thí dụ, hồi trước anh ra tiêu chuẩn là phải vừa đẹp, vừa hiền, vừa có chút học vấn.

Em thấy hôn, chị hai đúng bon tiêu chuẩn đó, Anh thấy là khoái liền.

Hề hề…!

Tôi thấy mặt chị hai đỏ lên vì sung sướng:

- Nói không biết mắc cở....

Sẵn đà, tôi tiếp:

- Mà phải ở miệt vườn nữa em mới chịu.

Anh hai có vẻ cụt hứng, còn mẹ thì có vẻ vui:

- Phải đó à bây, con gái ở vườn nó nết na, thùy mị, giỏi giang.

Anh hai cười. lại xông xáo:

- Trúng tủ bả rồi! Mà cũng dễ thôi! Thím bán tạp hóa lớn, mối mang miệt vườn biết bao nhiêu, nhờ họ mối lái giùm.

Chị hai:

- Sao hăng hái dữ! Mai mốt anh hai chịu lạy đó nghen!

- Tất nhiên! tất nhiên!

Thói thường người ta tin tưởng vào những gì mình hy vọng, và sợ mất những gì mình có. Mẹ đã xong rồi, còn ba thì sao? Ba thường hay chìu ý mẹ dù đôi khi ý mẹ có đôi chút ông chẳng hài lòng, nhưng đó là những việc nhỏ đời thường, còn đây là "hôn nhân đại sự", liệu ba có còn chìu mẹ hay không?

Ngày hôm sau, tôi thấy ba có vẻ khác khác - vậy là mẹ nói với ba rồi!

Ba ít nói, có chiều nghĩ ngợi. Khi giáp mặt tôi, ba mỉm cười khó hiểu. Phúc hay là họa đây!
Rồi ngày tôi chờ đợi cũng đến. “Phái đoàn” gồm ba mẹ, anh chị hai và tất nhiên có vai chánh là tôi. Thật khó tả được bao cảm xúc bồn chồn lo lắng, hồi hộp, đủ thứ lộn xộn trong lòng tôi. Mẹ tôi cứ dặn dò đủ mọi việc, hết chuyện nọ tới chuyện kia, đến nỗi khó mà nhớ hết; còn anh hai thì cứ lải nhải bên tai "bình tỉnh, bình tỉnh, đừng có run". Nhà ông nhạc tôi (tạm gọi vậy) ở xã Ngũ Hiệp, cách thành phố Mỹ Tho 30 cây số về hướng tây. Chợ Ngũ Hiệp nằm bên kia sông, muốn qua phải nhờ một phà nhỏ.



Từ chợ, theo lời bà mai, chúng tôi phải đi bộ thêm gần ngàn mét nữa. Nghe vậy anh hai nói với tôi:

- Như vậy là "vườn trong vườn" rồi phải không cưng? Tiêu chuẩn một đạt hai trăm phần trăm rồi hén!

Chị hai cau mặt:

- Cái ông nầy lúc nào cũng đùa được.

Thật vậy, đây là vùng trù phú đất đai, cây lành trái ngọt. không biết cơ man nào là cây trái quả mọng trĩu cành! Cam, bưởi, sa bô, dừa, vú sữa, nhãn, chôm chôm... nhất là sầu riêng cây nào cây nấy chân tay đeo đầy nghẹt quả, theo gió thơm lừng. Bà mai chỉ tay về căn nhà ngói kiểu xưa (kiểu "chữ đinh") nói:

- Nhà đó đó.

Tất cả dừng lại “hội ý”. Mẹ khẩn trương thấy rõ, lại dặn dò:

- Nhớ những gì mẹ dặn nghen con!”

- Dạ!

Anh hai cũng thì thào:

- Nhà cất kiểu nầy mà gặp ông già củ tỏi thì mệt lắm à nghen!

Chị hai nạt nhỏ:

- Ông lo cái miệng ông đó. Vô đó nói bậy đi!

Bà mai vô trước, mẹ sửa lại áo quần tôi chưa xong thì có người ra mời vào. Giờ phút nầy tôi càng thấy tình mẫu tử bao la như thế nào. Mẹ hồi hộp như sắp bước vào nơi hang hùm nọc rắn không bằng, lại điệp khúc "Nhớ nghe con!" lại phát ra!

Vừa vào cổng, tôi bị hốt hồn vì hơn hai chục cặp mắt, đủ hạng tuổi, nhiều nhất là trẻ em chăm chú vào tôi, một bà trạc tuổi mẹ có lẽ thông cảm được điều ấy, bèn rầy đám nhỏ:

- Nè, mấy đứa làm gì tụ tập lại đây dữ vậy? Có đi hết không?

Đám trẻ tản đi vài bước rồi bẽn lẽn đứng nhìn. Phòng khách được bài trí hai bàn. Bàn giữa gồm ba mẹ tôi, bà mai, ông bà nhạc và hai vị cao niên. Bàn bên có anh chị hai tôi và bốn người bên gái cùng trang lứa.

Phần tôi nghe lời mẹ là không được ngồi, mà đứng sau ghế cha mẹ, hai tay xếp lại để dưới bụng (nếu đã mời trà xong), tư thế y như lính hầu ở phủ huyện, hay các thái giám ở cung đình hầu hạ đức vua!

Theo cách nói chuyện… lại có dịp đứng trước nhạc phụ mẫu; tôi biết ông bà là người cởi mở, dễ tính. Câu chuyện của hai "sui" càng lâu càng khởi sắc tốt đẹp. Dần dà khách khí không còn, mà như đã quen nhau từ trước vậy.

Bỗng Ông nhạc gọi:

- Con hai đâu, châm trà mới đi con!

Một tiếng "dạ" thảnh thót không kém Điêu Thuyền thời Tam Quốc từ nhà dưới vọng lên làm tim tôi rộn ràng. “Phái đoàn” nhà trai ai cũng hồi hộp chờ đợi. Bởi ai cũng biết bảo “châm trà” chẳng qua là lời nói khéo cho con mình ra chào để nhà trai “coi mắt” đó thôi!



Mẹ quay lại nhìn tôi mỉm cười, thầm bảo ”hãy xem kỹ vì thời gian không lâu”. Tôi chưa kip mỉm cười với mẹ thì rèm hoa lay động, một kiều nữ vận bộ bà ba, không phấn không son mà má phấn môi hồng.Tóc dài phủ long gọn gàng bởi chiếc kẹp vàng có đính bông hồng chói lọi. Thoạt trông, tôi giật nẩy người, đến nỗi bố vợ nhìn thấy. Đợi giai nhân chăm trà xong, ông vội bảo:

- À quên nữa, cháu qua bên ngồi uống nước, hay cứ ra ngoài dạo cho thoải mái.

Mẹ lại quay ra tôi, nhướng mày, thầm bảo “hãy đi đi con”, vì thực ra, ông nhạc cũng ngầm ý cho tôi và vợ tôi gặp nhau để “tìm hiểu”, dù thời lượng ít oi, nhưng nếu tri túc ắt tiện túc mà thôi! Mọi sự đều được người lớn sắp xếp có bài có bản và, có màn có lớp hẳn hoi!

Không khí bên ngoài thực thoải mái. Nhiều loại cây trái lớn nhỏ thi nhau che rợp ánh mặt trời làm mát rượi cả một không gian rộng. Vài tia sáng yếu ớt cố gắng chen vào đất tạo thành những đóm trắng lưa thưa đây đó tựa rãi hoa. Mùi sầu riêng thơm lừng. Hàng sa-pô thẳng tắp trái nặng sai oằn. Mấy nhánh ổi cho trái bóng láng no tròn, rục mềm rơi rụng tứ tung, tỏa hương thơm bát ngát. Chim hót líu lo, bướm vờn thẳng cánh.

Đàn ong tranh nhau hút mật của trăm ngàn hoa đủ sắc đủ màu. Rõ ràng là vùng đất lành thừa mứa cây lành trái ngọt.

Bên sau một giọng êm đềm:

- Biết người ta ưng hay không mà dám đi hỏi vậy?

Tôi quay lại, thì ra là vợ tôi, (tạm gọi vậy), mà cũng là Vi, người đã làm tôi kinh ngạc đến đánh thót cả người khi nãy!



Vi là bạn học cùng lớp với tôi hồi năm đệ tứ. Hồi đó lớp đệ tứ được xem là cái “móc” của sự chia tay. Bởi con trai, nếu thi rớt thì cha mẹ thường cho nghỉ để học nghề, còn thi đậu (cấp bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp) thì cũng mỗi người một hướng đi: Vào sư phạm hoặc gành nghề nào đó, hoặc học tiếp ba năm nữa để lấy Tú Tài rồi lên đai học. Con gái thì ít người được học đến chốn đến nơi. Rớt hay đậu cũng th ường bị cha mẹ cho nghỉ mà lo phụ việc nhà, viện lẽ con gái “học cao” khó có chồng! Vi cũng nằm trong số phận nầy. Bởi vậy cuối năm đệ tứ, chúng tôi thường trao nhau lưu bút, mọi người đều nắn nót tuồng chữ cho trang mình thường tặng cả ảnh, dán vào giữa trang viết, dưới đề:

"Thương nhau mới tặng ảnh nầy,
Để làm kỷ niệm những ngày xa nhau'
Dù cho ảnh có phai màu,
Cũng đừng xé bỏ mà đau lòng người!”

Không biết bốn câu thơ ấy là của tác giả nào, sáng tác tự bao giờ, mà đến nay, thỉnh thoảng tôi lại thấy sau bức ảnh ”tặng nhau” của các em cũng có đề như vậy.

Hơi lạc đề, nhưng nói thêm cho vui: Hồi đó tôi cũng có quyển lưu bút, tất nhiên khi ai nhận thì cũng nắn nót từng chữ và giữ sạch sẽ như nói ở trên. Khi tôi đưa cho thằng Nhứt, ngày sau nó trả (thường thì vậy), nó viết vào trang đôi mấy chữ tổ bố: “Lưu niệm làm cái xê bình phương gì?", rồi láu cá ký tên giáp cả hai trang giấy!

Tôi xem giận run. Cự nó. Nó cười: “Để sau nầy mầy nhớ tao”.

Tôi nghe cũng xìu lòng. Quả thật, đến giờ, nó là người tôi nhớ nhất. 

Và đến ngày cuối, chúng tôi tổ chức tiệc liên hoan cuối khóa tại lớp.

Văn nghệ xung quanh các bài hát về “mùa chia tay”, “tạm biệt”, “nỗi buồn hoa phượng”... Tôi có sở trường ngâm thơ, ngâm hai bài thơ Đường luật, bài đầu của thầy H.C, giáo sư sử địa, bài nầy tôi chỉ nhớ hai câu cuối:

“Rồi đây nếu chẳng sau mùa phượng,
Tất cũng mai kia ở chợ đời!”

Và bài họa của tôi:

"Việc cũ, ngàn sau vẫn đổi dời.
Chút tình tâm huyết nói sao vơi?
Luyến lưu kẻ ở đôi dòng lệ,
Tiếc nhớ người đi một góc trời
Chín tháng vui buồn trong một lớp,
Vài giây ly biệt rẽ ngàn khơi,
Đường mây một kẻ hanh thông bước,
Một kẻ lang thang giữa chợ đời!
(Thơ Kha Tiệm Ly)



Đám con gái mắt đỏ hoe, có đứa khóc thành tiếng. Chúng tôi lai tặng quà lưu niệm cho các bạn “nghỉ luôn”. Tôi tặng Vi cái kẹp tóc bằng vàng 14 (tôi là... “thiếu gia” mà! Vàng hồi đó rẻ lắm, đàn bà con gái chẳng thấy ai đeo, có đeo thì cũng sơ sài, đeo nhiều mắc cở, bị coi là “quê”; không thấy ai đeo cục cục như giờ. Vi tặng lại cho tôi cây bút Pilot nắp vàng, loại cao cấp nhất thời ấy.
 
- Sao không trả lời?

Vi nghiêm trang như thuở nào, tôi hơi chột dạ:

- Thật lòng tôi không ngờ mình đi hỏi cưới Vi. Đã bao năm rồi, vả lại lúc đó mình còn nhỏ cả mà!

- Bộ mấy năm qua không nhớ chút gì về Vi sao?

- Vẫn nhớ về người bạn nhỏ hiền lành, nhiều nước mắt.

Vi vừa đưa tay rút cây viết trên túi áo tôi, vừa nói:

- Xin lỗi nghe, cho Vi mượn.

Rồi xoay cán viết, nhìn những dòng chữ khắc trên ấy, Vi có vẻ xúc động:

- Vẫn còn giữ của Vi à?

Tôi không đáp, nhìn hai rèm mi chơm chớp, tôi thấy Vi đẹp não nùng.

Tôi nắm lấy tay Vi:

- Không ngờ lại gặp lại Vi. Chẳng phải không có duyên số hay sao? Vi đồng ý nhé!

Vi tủm tỉm cười:

- Nếu em không ưng thì sao?

- Thì anh về, nhưng xin gởi trái tim anh lại.

Lại cười:
- Rõ là thi sĩ! Em đã đồng ý từ khi bà mai nói chuyện với ba mẹ, đâu phải đến bây giờ.

- Không biết mặt làm sao ưng?

Vi kéo mái tóc về phía trước ngực:

- Khờ quá đi! Mọi người ở đây ai không biết con trai một của tiệm tạp hóa Vạn Phát, chứ em thì rành lắm. Vị “công tử” ấy còn tặng cho em chiếc kẹp xinh đẹp nầy nữa phải không?

Trên đường về, mẹ luôn miệng với ba:

- Con nhỏ xem nết na và lịch sự  ghê ông há?".

Lại lo ngại:

- Hổng biết nó có ưng thằng con trai cưng tôi không nữa?”

Nãy giờ tôi lặng thinh, nhớ lại những lời nói của Vi mà thấy lòng hân hoan lạ. Nhưng thấy mẹ cứ lo lắng mãi, tôi mói nói:

- Chắc ăn rồi mẹ ơi! Mẹ đừng lo!

Mẹ nghi ngờ. Anh hai nói:

- Hồi nãy ngoài vườn tụi nó nói chuyện, chỉ cần khi về, đá lông nheo một cái là kể như xong. Thím lo gì!

Ba châm vào:

- Hồi trước bả cũng vậy, sao bả mau quên quá!

Không biết mẹ đánh hay phủi bụi cho ba::

- Cha già mất nết!

oOo



Thế là chậm lắm khoảng một tuần, mươi ngày tôi đều đến tham nhạc gia, nhạc mẫu. Ba mẹ vợ tôi đều nhân hậu, nghiêm khắc với con cái nhưng xem chừng ”dễ” với thằng rể tương lai.

Trước khi đi, ba tôi dặn. Con đến đó thấy cái gì làm được thì làm, chứ đừng lấy mắt ngó là không được! Ngày xưa trước khi cưới, phải làm rể ba năm: Chẻ củi, vác lúa, cày bừa, làm đủ thứ nặng nhọc, chứ chẳng phải chơi đâu!

Nhưng tôi biết cái gì mà làm, mà phụ? Lần đầu đến, tôi thấy ba vợ tôi đang chài cá, thấy tôi sựng rựng, ông hiểu ý, nói:

- Con đứng chơi, ba vãi vài chài nữa ba vô.

Thế coi sao được! Đợi mỗi khi ba kéo chài lên, tôi phụ gỡ cá, mà có được đâu! Tôi đụng tới con nào thì con ấy giãy rồn rột, rách cả tay, có khi phóng lại xuống mương; trong lúc ông bỏ vào giỏ lia lịa như bỏ đá vào vậy!

Một lần thì thấy ông đang chiết nhánh cây, cái nầy tôi càng mù tịt, nhưng cũng có việc làm là... đưa dây cho ba tôi cột “bầu”; cái công việc không cần người phụ tá!

Ba vợ tôi rất điệu đời, ông thường bảo vợ tôi dắt tôi ra vườn xem có “cái gì nó thích thì hái nó ăn”. Tôi biết ba tạo điều kiện cho chúng tôi chuyện trò. Ông dư hiểu, bởi nói tiếng là thăm cha mẹ vợ, nhưng chủ yếu của chàng rể tương lai nào cũng là thăm... vợ cho đở nhớ mà thôi.



Nếu không, tại sao mỗi lần đến thăm mà cha mẹ vợ đi vắng thì chàng rể lại hớn hở trong lòng!?

Vườn nhà vợ tôi đủ loại cây nên có trái quanh năm, chúng chen chút nhau nên chỉ cách hơn mười thước là không thấy dáng người. Tôi có cảm tưởng như hoàng tử gặp công chúa trong rừng vậy! Đến hàng dừa tơ, quày ôn trĩu trái màu vang rực, sai oằn đụng tới mép mương, Vi đưa tôi dao,
bảo:

- Chặt dừa uống nhé!

- Trái nào đây?

- Thì tùy chọn

Khổ sở lắm tôi mới đem được hai trái dừa rời quày được. Dùng dao chặt phần đầu có cuống. Dao bén ngót mà tôi phạt năm bảy nhát liền mà vỏ dừa chỉ dập dập, trầy trầy, tung mấy miếng văm! Vi cười khoe hai hàm răng đều như hạt bắp:

- Để nô tì giúp cho, thưa công tử!

Giành lấy dao, Vi chỉ phập ba nhát nhẹ nhàng mà vỏ dừa tách ra từng mảng lớn, nhát thứ tư, nhẹ hơn, chạm vào gáo, Vi thuần thục lách nhẹ lưỡi dao, để lộ phần “cái” trắng bóc mịn màng, bao quanh phần nước sóng sánh trong veo! Một tay đưa dừa cho tôi, tay kia chỉ chỉ vào trái dừa bảo:

- Chặt dừa phải chặt đầu lớn nầy nầy, Lưỡi dao phải để hơi xiêng. Ai đời ở trên bổ xuống... 90 độ. Làm sao đứt được?

Lợi dụng tôi nắm lấy cổ tay tròn trịa mịn màng của Vi, ghé mũi xuống hít một hơi dài. Vi vẫn để yên nhưng bặm môi:

- Có thấy con dao ở đây không thì bảo?

Rồi cùng cười, tôi hít mũi chọc:

- Còn ngọt hơn cả nước dừa!

Đến địa phận chuyên canh sầu riêng. Ôi! hàng hàng thẳng tắp. Không biết cơ man nào là trái đậu trên cành! Toòng teng nhỏ to đủ cở, lủng la, lủng lẳng tầng thấp tầng cao, xem vô cùng ngoạn mục. Tôi hỏi:

- Nghe nói sầu riêng chỉ rụng về đêm, phải không?

- Sao lạ vậy?

- Thì ... trời khiến để đừng bể đầu người!

Vi cười ngoặt ngoẽo:

- Sao trái dừa vẫn rụng ban ngày? Bộ trái dừa không làm bể được đầu người? Chủ vườn nòi vậy để cho mấy thằng ăn trộm không dám lẻn vào đó thôi!

Rồi chỉ vào phía trước, bảo:

- Có hai trái rụng kìa! Anh lại lượm đi! Coi chừng nó "bịch" một cái là hết có vợ đo.o..ó!

Tôi nhìn lên, thấy hàng trăm trái lòng thòng, gai tua tủa, giống như những quả chùy của các võ tướng ngày xưa. Nói dại, nếu nó mà"phịch" xuống một cái như lời Vi nói thì dù không bể đầu, thì mặt mũi chắc cũng khó coi! Dợm chạy đi, bỗng luồng gió quái ác từ đâu lùa tới, bèn chột dạ, tôi dừng lại. Vi cười ngất:

- Coi vậy mà cũng sợ mất vợ hén!

Tôi chữa thẹn:

- Vậy chớ vợ như Tây Thi thì chết sao dành!

Má Vi càng đỏ thêm, nắm tay lại giá giá vào tôi:

- Cái tật nịnh.......

Tôi vừa dặt hai trái sầu riêng xuống thì Vi bảo:

- Tách ra đi!

Nói đoạn lại bờ rào tìm hái những nhánh bông. tôi lui cui lấy dao chặt phình phịch vào đầu lớn trái sầu riêng, dao cũng để xiêng một góc mà xem ra vỏ sầu riêng còn dai hơn cả vỏ dừa. Thật tình, sầu riêng tôi ăn có hàng trăm nhưng mỗi lần đều được mẹ bóc sẵn bỏ vào tủ lạnh, nên có biết gì đâu!

Tôi lật qua, lật lại, chợt nhớ tới cái vỏ sầu riêng mẹ bóc xong đâu có trầy trụa, hay mất một góc đàng đầu trái, mà xem ra nó còn nguyên vẹn giống như một chiếc xuồng! Tôi sửa lại rồi dùng dao bổ theo chiều dọc, cũng chẳng ăn thua! Mệt, tôi định gọi cầu cứu, thì Vi đã đứng sát bên tôi bụm miệng cười tự lúc nào...

Rõ ràng là Vi biết tôi không làm được mà cố chọc chơi! Bèn ngồi xuống, lấy dao, vừa làm vừa dạy đời:

- Hồi nãy em bảo công tử “tách” ra chứ có bảo “chặt” đâu mà làm như bửa củi vậy? Đây nè, chỗ nầy lúc nào cũng có một khe hở. Chỉ cần để mũi dao vào đây rồi dùng đòn bẩy Ạc-Shi-Met là xong. Làm rể kiểu nầy mất vợ như chơi.

Tôi bá lấy cổ Vi:

- Giỏi quá, để anh thưởng cho một cái.

Vi nhắm mắt, lắc đầu quầy quậy:

- H..ô..ông..!

Đợi khi tôi “chụt” xong, Vi mới mở mắt ra, chỉ tay vào vỏ sầu riêng, nói:

- Cái vỏ sầu riêng nầy mà vô mặt thì còn hơn té thùng đinh nữa đó!

Lần nào cũng có chuyện tương tự như vậy, thử hỏi sao tôi không khoái về thăm... ông bà nhạc?

Gần tới ngày cưới, tội nghiệp Vi gầy thấy rõ. Sau nầy tôi mới biết, là con gái trưởng trong gia đình, Vi lo lắng sắp xếp mọi thứ, lại nghĩ tới ngày theo chồng, xa mẹ bỏ em nên đủ thứ tình cảm ray rức trong lòng. Vậy mà trò chuyện với tôi một hồi, mặt hoa lại rạng rỡ, nói nhỏ cho tôi vừa nghe, như một chuyện gì quan trong lắm:

- Làm rể mà lỏng nhỏng không động móng tay, cứ đeo sát con gái người ta hoài không sợ bà con họ nói sao?

Ba vợ tôi thường bảo tôi: “Con ở chợ không quen việc ở vườn. Con cứ về thăm, khỏi làm gì hết, đừng ngại, cứ coi như ở nhà con”.

Tôi đem lời nầy nói cho vợ nghe, rồi châm thêm:

- Vậy chứ anh có việc gì để làm?

- Em chỉ cho. Gần tới ngày cưới rồi, phải có củi để nấu chứ! Hay là anh chịu khó ra chẻ một mớ....

- Ở đâu?

Vi chỉ tay về một hàng củi được chất ngay ngắn từng ô một, dài chừng... vài chục mét, khúc nào khúc nấy cở bắp đùi... voi. Tôi chột dạ:

- Chẻ hết sao?

Vi làm mặt nghiêm:

- Ừa!... thì tới đâu hay tới đó! Ngày còn dài mà!....

Tôi xách búa đi mà tác phong rời rã như Hạng Võ tại bến Ô Giang! Nhưng muốn ăn phải lăn vào bếp, muốn cưới được vợ thì phải bửa củi, cày bừa… Thì ra lời ba tôi nói chẳng sai, bằng chứng là tôi cũng không ngoại lệ!

Tôi cởi áo sơ mi máng trên cành bưởi, còn lại chiếc áo thun ba lỗ trắng tinh, vốn là mô đen của con nhà giàu mới có áo lót bên trong. Dù là “công tử”, nhưng tôi thường tập tạ nên bắp thịt coi cũng ngon lành.

Tôi đếm thầm: Một, hai, “phập!”; một, hai “phập!” Có cái “phập” làm củi vỡ ra, có cái “phập” thì búa lại dính khắn vào củi, gỡ ra cũng tróc vải trầy vi! Khi độ mệt đã choáng váng mặt mày, nhưng còn đủ để nhận được tiếng ông nhạc ở sau lưng:

- Bây làm cái gì vậy?

Tôi quay lại chào ông bà vừa đi xóm về, rồi trả lời với giọng điệu của người vừa lập nên công trạng:

- Dạ, vợ con biểu chẻ củi để khi đám cưới có mà xài!

- Thôi, thôi! Bây “bị” nó rồi! Đi vô! Đi vô uống nước con!

- Dạ, để con chẻ thêm một mớ nữa, ba!

- Củi nầy ba để bán cho lò bánh mì, đâu cần chẻ! Còn củi dùng cho đám cưới thì để trong nhà kho kia, có xài mười đám cũng không hết!

Bà nhạc lắc đầu:

- Cái con nhỏ nầy…

Vào nhà bà nhạc rầy Vi:

- Chồng của mầy nó không quen làm việc nặng. Xúi dại rũi nó trợt chân trợt cẳng thì sao?



Bà nhạc dùng tiếng “chồng mầy” tôi thấy ấm áp lạ lùng! Còn vợ tôi thì chúm chím cười, còn liếc qua tôi với ánh mắt còn bén hơn... lưỡi búa, lại chu đôi môi đỏ ao chế nhạo.

Thế là bao mệt mỏi trong tôi biến mất tiêu!

Phải nói trong đời thường, về sự thông minh, lúc nào vợ cũng hơn tôi một phép. Khi về làm dâu vợ tôi đã chứng minh đầy đủ điều đó. Ngoài sự hiếu thảo với cha mẹ chồng, vợ tôi còn nhiều đức tính như hân hậu, cần kiệm...

Thuở đó, ở thành phố “nhà giàu” mới có tủ lạnh (ti vi chưa có), còn dưới quê thì tuyệt đối không, bởi có điện đâu mà xài! Nên những ngày đầu, tủ lạnh đối với vợ tôi là một phát minh khoa học lớn lao, nó đủ công năng, nên có cái gì cũng “thồn” vô trong đó. Có lần mẹ tôi mở tủ lạnh, rồi nói với vợ tôi:

- Tô mắm nêm nầy, con đừng có để vào đây, nếu không tất cả cái gì trong nầy đều có mùi mắm nêm hết.

Chỉ chờ có dịp nầy, tôi cười hí hí:

- Trái cây mà có mùi mắm nêm ăn càng ngon chứ sao mẹ?

Mẹ cười, còn vợ tôi cứ đem cái sở trường là bắn nửa mắt vào tôi.

Tôi khoái chí, nói theo kiểu đá banh thì “gỡ” được một, nhưng dường như chỉ có một mà thôi!

Khi con chúng tôi đã lớn, tuổi có thể về quê thăm ngoại một mình, thế mà một tối cả nhà xem ti vi, không phải nhằm đoạn hài mà vợ tôi cười ngất. Con hỏi, “sao tự nhiên mẹ cười?” Một lát vợ tôi mới trả lời được:

- Mẹ thấy bộ tướng ông thái giám đứng khúm núm kia giống"mấy thằng cha“ lần đầu coi mắt vợ quá!” Hi! Hi!

Biết bị xỏ ngọt nhưng tôi biết gì hơn ngoài làm...thinh! May sao đến chương trình quảng cáo, quảng cáo tủ lạnh, tôi nói tỉnh bơ:

- Tủ lanh đời mới coi bộ tốt à nghen! Nó tự khử mùi, dù “mấy con mẹ” ở vườn có để mắm nêm vô đó cũng không sợ hôi. Ha! Ha!...

Tức thì vành tai tôi bị kéo ra cả thước, tiếp theo là một giọng tru tréo, muốn nổi da gà:

- Trời..u.u..i! Chuyện cũ nhắc hoài! Nhắc hoài!

Vậy đó, “chuyện xưa” thì vợ tội nhắc được, còn “chuyện cũ” tôi nhắc thì như bị muốn nhai xương!

Có vợ miệt vườn, miệt quê là vậy đó!

Thái Quốc Mưu

CHỪA LẠI ĐƯỜNG LUI CHO NGƯỜI KHÁC LÀ THIỆN ĐÃI BẢN THÂN MÌNH

Cổ nhân luôn coi trọng việc tu dưỡng đạo đức và phẩm hạnh (ảnh: Vandieuhay)

Nhân vô thập toàn, trên đời này không có ai là hoàn hảo không chút khuyết điểm. Vậy nên khi bạn có thể khoan dung chừa lại cho người khác đường lui thì con đường nhân sinh của bạn sẽ ngày càng rộng mở.

Người xưa lấy “Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín” làm tiêu chuẩn để đánh giá đạo đức của một người. Đây cũng là nguyên tắc để điều chỉnh các mối quan hệ giữa người với người trong xã hội cho phù hợp với luân thường đạo lý. Trong đó, “nhân” tức là lòng nhân từ, nhân ái, được xếp lên hàng đầu. Người có lòng nhân sẽ biết suy nghĩ cho người khác, dùng tấm lòng khoan dung độ lượng để đối đãi với mọi người xung quanh.

1. Chừa cho người khác đường lui

Khi bạn có thể đặt mình vào vị trí của người khác để suy nghĩ, lo lắng cho nỗi lo của người khác và vui vẻ với niềm vui của họ, thì bạn sẽ dần dần cảm nhận được ý nghĩa của cuộc sống không nằm ở việc có được mà là cho đi.

Chừa lại cho người khác đường lui thì con đường nhân sinh tự nhiên sẽ rộng mở (ảnh: 360doc)

Lương thiện thực sự là biết cách quan tâm đến cảm giác của người khác và bảo vệ lòng tự tôn của họ. Trong đối nhân xử thế, khi bạn có thể đặt mình vào vị trí của đối phương thì các mối quan hệ của bạn tự nhiên sẽ trở nên hài hoà.

Hoàng đế Chu Nguyên Chương của nhà Minh rất thích câu cá. Một ngày nọ, ông đã mời nội các thủ phủ Giải Tấn cùng mình đi câu cá trong Vườn Thượng Uyển. Giải Tấn rất giỏi câu cá, chẳng mấy chốc đã câu được vài con cá và cảm thấy rất vui vẻ. Còn Chu Nguyên Chương câu một hồi lâu cũng không bắt được con cá nào, liền cau mày không vui.

Giải Tấn sớm cảm nhận thấy sự không hài lòng của Chu Nguyên Chương, ông lo sợ rằng bản thân để lộ tài năng mà gây ra tai hoạ. Vì vậy, ông cung kính nói với Chu Nguyên Chương rằng: “Bệ hạ, những con cá kia rất thông thái và rất tuân theo quy tắc”. Chu Nguyên Chương hỏi: “Khanh nói vậy là sao?”. Giải Tấn liền ngâm 1 bài thơ: “Số xích ti luân lạc thuỷ trung; Kim câu phao hạ ẩn vô tung; Phàm ngư bất cảm triêu thiên tử; Vạn tuế quân vương chỉ điếu long”.

Giải Tấn giải thích rằng: “Cá là vật phàm, không dám gặp mặt Thiên tử. Chỉ có rồng mới có thể xứng gặp được Thiên tử mà thôi!” Bài thơ này đã giúp cho Chu Nguyên Chương giữ được thể diện và lòng tự trọng. Sau đó, Chu Nguyên Chương đã đổi giận làm vui và xua tan đi nỗi buồn trong lòng.

Giải Tấn biết cách giữ chừng mực và đặt mình vào vị trí của người khác. Ông không chỉ để lại đường lui cho Chu Nguyên Chương, mà còn giúp bản thân mình thoát khỏi sự trừng phạt. Trong “Thái Căn Đàm” có viết: “Lộ kinh trách xử, Lưu nhất bộ dữ nhân hành; Tư vị nùng xứ, Giảm tam phân nhượng nhân thường”. (Tạm dịch: “Đường hẹp nhường 1 bước cho người khác đi; Vị đậm đà bớt 3 phần cho người khác nếm”).
 
2. Nhường lại danh tiếng cho người khác hưởng

Phạm Trọng Yêm vào thời Bắc Tống đã mua một ngôi nhà ở Tô Châu và dự định xây dựng một nơi để ở. Ông mời thầy phong thuỷ giúp mình quy hoạch. Thầy phong thuỷ nói với ông rằng: “Phong thủy của ngôi nhà này rất tốt, sau này nhất định sẽ xuất hiện quan lại quyền quý”. Sau khi nghe điều này, Phạm Trọng Yêm đã tặng ngôi nhà và xây dựng nó thành một trường học ở Tô Châu.

Ông cảm thấy phong thủy của ngôi nhà quá tốt, nên ông không muốn độc chiếm tất cả. Thế là, ông liền chia sẻ vận khí tốt này với người dân Tô Châu, để có thêm nhiều học giả được đề tên bảng vàng. Sau khi Phạm Trọng Yêm hiến đất để mở trường học, tin này đã được lưu truyền khắp Tô Châu, nhờ đó đã giúp đề cao văn hóa và đạo đức tại nơi này. Sau đó, Tô Châu đã liên tiếp xuất hiện 38 vị Trạng Nguyên. Con số này nhiều hơn 5 lần so với trước đây, và ngôi trường này đã trở thành một “Trạng Nguyên Chi Phủ” thực sự.

Sau đó, Tô Châu còn xuất hiện hơn 100 viện sĩ và trở thành quê hương của các viện sĩ. Phạm Trọng Yêm nhờ có tấm lòng “dung chứa cả thiên hạ” mà đã thành tựu được rất nhiều vị học giả. Chính tấm lòng rộng lớn độ lượng của ông đã giúp cho gia tộc họ Phạm thịnh vượng trong suốt 800 năm.

Tục ngữ có câu “súng bắn chim đầu đàn“, có nghĩa là không nên thể hiện bản thân quá nhiều, nếu không sẽ dễ chuốc lấy tai họa. Đó là một phép ẩn dụ rằng những người dẫn đầu dễ bị nhắm vào nhất, những người càng để lộ tài năng thì càng dễ gặp phải thương tổn.

Tục ngữ có câu “súng bắn chim đầu đàn”, những người càng để lộ tài năng thì càng dễ gặp phải thương tổn (ảnh: 360doc)

Vì vậy, nếu bạn chiếm hết danh tiếng, bộc lộ hết tài năng sẽ chỉ làm mất lòng người khác, bị người khác xa lánh và đánh mất tất cả. Người càng hàm dưỡng thì càng biết cách ẩn giấu tài năng và khiêm tốn, đồng thời họ có thể nhường lại ánh hào quang cho người khác. Trong cuộc sống, nếu có thể thiện đãi và đối xử tử tế với người khác, bạn mới có thể sống hài hòa với mọi người.

3. Nhường lại lợi ích cho người khác nhận

Người xưa thường nói rằng: “Nếu bạn có thể chịu khổ thì bạn có thể trở thành người có lý tưởng. Nếu bạn có thể chịu tổn hại thì không phải là một kẻ ngốc mà là người có tu dưỡng“.

Có câu nói: Chịu khổ là phúc, có mất thì có được. Khi bạn có thể nhường lại lợi ích cho người khác, thì bạn mới có thể thu phục được lòng người và nhận được sự tôn trọng thực sự của người khác.

Nếu bạn có thể chịu tổn hại thì không phải là một kẻ ngốc mà là người có tu dưỡng (ảnh: 360doc)

Lý Gia Thành bắt đầu kinh doanh từ năm 14 tuổi. Nhờ đó, ông có sự nhạy bén trong thương trường, ông sẽ không chạy theo lợi nhuận trước mắt, hơn nữa còn giữ lại một số lợi ích cho người khác hưởng. Con trai của ông, Lý Trạch Giai từng nói rằng: “Cha tôi nói với tôi rằng khi làm ăn với người khác, nếu bạn được 7 hoặc 8 phần lợi ích, thì chúng ta chỉ nên lấy 6 phần”.

Napoleon từng nói: “Biết cách suy nghĩ từ vị trí của người khác, có thể nhìn và suy nghĩ vấn đề từ góc độ của người khác và thực sự có thể giúp người khác giải quyết vấn đề, thì thế giới là của bạn”.

Nếu bạn có thể chia sẻ cho người khác hưởng lợi thì có thể giúp bạn cải thiện các mối quan hệ và trải đường cho thành công của bạn sau này. Nhượng lại lợi ích cho người khác hưởng là một loại trí tuệ của người có tu dưỡng, cũng là thể hiện của một người có tấm lòng bao dung rộng lớn. Nếu bạn có thể nhường cho người khác 3 phần lợi ích, bạn có thể giành được nhiều cơ hội phát triển hơn sau này cho chính mình.

Chừa lại đường lui cho người khác, không phải là nhu nhược, mà là tu dưỡng; Nhường lại danh tiếng cho người khác, không phải là bất tài, mà là phẩm đức; Nhường lại lợi ích cho người khác, không phải là ngu xuẩn, mà là trí huệ. Trên đường đời, nếu bạn có thể để cho người khác 3 phần thì con đường càng vững vàng, khoan dung cho người 3 điểm thì vạn sự càng hanh thông.

Uyển Nhi / Theo: 360 doc

CHÚNG TA ĐẾN THẾ GIAN CHỈ ĐỂ "SINH RA, LÀM VIỆC, GIÀ ĐI RỒI MẤT" THÔI SAO?

Thiền sư Hồng Di từng nói: “Cuộc đời chỉ có khoảng 30.000 ngày, chỉ là một thân xác mượn tạm. Cuộc sống không phải là bất diệt. Khi thời gian đến, những người sinh ra để già đi sẽ già đi, và những người sinh ra để ra đi sẽ ra đi.

Chúng ta đến thế gian chỉ để “sinh ra, làm việc, già đi rồi mất” thôi sao?

Cuối cùng, chúng ta đều tay trắng, không có bạn hay tôi, và chúng ta chẳng mang theo gì cả. Chúng ta đều chỉ là những người qua đường trong thời gian, vậy tại sao phải bám víu vào bất cứ điều gì? Sau khi đã cố gắng hết sức, chúng ta có thể chấp nhận được mất mát và được tự do, an yên.”

Ba mươi nghìn ngày. Nghe thì dài, nhưng thực ra chỉ đủ để chứng kiến hoa xuân nở rồi tàn, trăng thu tròn rồi khuyết. Thân xác chúng ta chẳng khác gì một quán trọ trần gian. Linh hồn là lữ khách dừng chân một chút rồi lại lên đường.

Chúng ta sinh ra với hai bàn tay trắng, và khi rời đi cũng chẳng mang theo được gì ngoài những gì đã trải nghiệm. Mọi thứ mà ta từng gọi là “của mình” như: nhà cửa, xe cộ, tiền bạc, danh vọng, thậm chí cả những mối quan hệ; cuối cùng đều trở về với cát bụi, hoặc thuộc về người khác.

Vậy tại sao chúng ta lại sống như thể mình có quyền sở hữu và kiểm soát chúng?

Vài năm trước, một vị hòa thượng từng nói với một người trẻ: “Khi trong lòng con cảm thấy mình thiếu thốn, thì con mãi mãi là một người nghèo. Nhưng khi trong lòng con cảm thấy đủ đầy, thì mọi thứ trên thế giới này đều là của con.”

Lúc ấy anh không hiểu. Không tiền, không nhà, không xe, làm sao có thể cảm thấy đủ đầy?

Cho đến gần đây anh mới thấm. “Đủ đầy trong tâm” không phải là sở hữu nhiều, mà là nhận ra rằng mình vốn chẳng sở hữu gì cả, cũng chẳng cần phải sở hữu.

Chiếc xe kia đang chạy ngoài đường, ngôi nhà kia đang có người ở, số tiền kia đang lưu thông trong xã hội… tất cả đều đang được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ. Chúng chưa từng thuộc về ai mãi mãi.

Nếu nghĩ như vậy, thì mọi thứ trên đời đều đang “là của mình” theo một cách khác: mình không nắm giữ, không kiểm soát, nhưng vẫn được hưởng thụ sự tồn tại của chúng trong khoảnh khắc hiện tại. Đó mới là sự đủ đầy thật sự, đủ đầy vì không còn cảm giác thiếu thốn, không còn sợ mất mát.

Chúng ta thường dành cả đời để gầy dựng: sinh ra, lớn lên, học hành, lập nghiệp, xây dựng gia đình, rồi cố gắng tích cóp để hưởng thụ tuổi già. Cứ như thể đó là toàn bộ ý nghĩa của việc đến thế gian này.

Nhưng nếu sống chỉ để hoàn thành chuỗi công việc ấy rồi lặng lẽ ra đi, thì liệu chúng ta đến đây để làm gì? Phải chăng chỉ để trải qua một vòng luân chuyển của sinh – trụ – diệt, rồi để lại phía sau những thứ mình từng ôm chặt?

Thân xác chúng ta chẳng khác gì một quán trọ trần gian. Linh hồn là lữ khách dừng chân một chút rồi lại lên đường.

Thật ra, có những người đã sống trọn vẹn cả hai nửa của đời người, để rồi nhận ra điều gì mới là đáng quý nhất. Giống như thiền sư Hồng Di, ông đã dành nửa cuộc đời sống xa hoa và nửa còn lại sống đời tu hành. Từ một chàng trai trẻ hào hoa, ông đã từ bỏ những phù phiếm trần tục và tìm kiếm sự bình an nội tâm. Ông dạy chúng ta rằng:

Sự viên mãn lớn nhất trong cuộc sống không phải là sở hữu bao nhiêu của cải, mà là sự bình an trong tâm hồn.

Vì sinh mệnh hữu hạn, nên mỗi khoảnh khắc đều quý giá. Vì không gì là của mình, nên ta được giải thoát khỏi gánh nặng phải giữ, phải kiểm soát, phải thắng thua. Tự do thật sự không đến từ việc sở hữu nhiều hơn, mà đến từ việc buông bỏ quyền sở hữu trong tâm. Khi không còn xem bất cứ điều gì là “của mình”, ta không còn sợ mất. Khi không còn cố kiểm soát kết quả, ta được nhẹ nhàng sau mỗi nỗ lực.

Lão Tử nói: “Điều thiện tối cao giống như nước. Nước mang lại lợi ích cho vạn vật mà không cần nỗ lực.”

Đào Uyên Minh: “Hái hoa cúc bên hàng rào phía đông, ta thảnh thơi ngắm nhìn Nam Sơn.”

Họ không sở hữu hoa, không sở hữu núi, nhưng họ được trọn vẹn khoảnh khắc ấy. Cũng như chúng ta: có thể dốc hết sức cho công việc, cho tình cảm, cho ước mơ, nhưng đừng biến chúng thành xiềng xích. Được thì vui, mất thì bình thản. Vì rốt cuộc, không có gì từng thật sự thuộc về ta.

Ba mươi nghìn ngày không dài cũng không ngắn. Đủ để ta học cách cảm thấy đủ đầy ngay cả khi tay trắng. Đủ để ta sống tự do giữa quán trọ trần gian, không bám víu, không sợ hãi. Và đủ để, khi giờ phút ra đi đến gần, ta có thể mỉm cười mà nói rằng: cuộc hành trình này, dù ngắn ngủi, cũng đã không vô ích.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

Monday, August 17, 2026

ĐI CHÙA ĐỂ CẦU XIN HAY ĐỂ TU THEO PHẬT

Đến với Phật là để tu, để chừa bỏ những thói xấu. Nhưng đến với Phật lâu mà những thói xấu không giảm, ngược lại càng tăng, đó là tu theo Phật hay là gì? Lỗi tại đâu? Tại vì chúng ta không chịu tu mà chỉ có xin.


Khi cúng rồi, quý vị quỳ xuống nguyện Phật cho gia đình con bình an, cho con cháu con thi đậu, cho tất cả trong gia quyến đều gặp may mắn… như thế là xin hay tu?

Quý Phật tử xét thật kỹ xem từ trước đến giờ, chúng ta đi chùa là vì cầu xin hay để tu học theo Phật? Đa số đều cầu xin, phải không? Mỗi khi đến chùa, Phật tử hoặc là cúng hoa quả hoặc là cúng nhang đèn. Khi cúng rồi, qúy vị qùy xuống nguyện Phật cho gia đình con bình an, cho con cháu con thi đậu, cho tất cả trong gia quyến đều gặp may mắn … như thế là xin hay tu?

Như vậy chúng ta đi chùa cầu xin Phật cho điều này, cho điều kia, cho đủ thứ hết. Nhưng rốt cuộc rồi tất cả những gì chúng ta xin có được như ý hết không? Điều này tôi không khẳng định là được hay không được. Có thể một số người xin được, nhưng đa số người xin không được, phải không?

Quý Phật tử xét thật kỹ xem từ trước đến giờ, chúng ta đi chùa là vì cầu xin hay để tu học theo Phật?

Thí dụ, khi con cái thi cử, cha mẹ là phật tử thế nào cũng tới chùa xin Phật gia hộ cho con mình thi đậu. Như vậy các Phật tử được cha mẹ cầu xin đều đậu hết hay vẫn có người rớt? Tại sao cùng xin với nhau, Phật lại cho người đậu, kẻ rớt? Vậy là Phật không công bằng rồi. Đức Phật đối với chúng sanh chỉ một lòng từ bi bình đẳng, thương như con một, không bỏ người nào, tại sao có người xin Phật cho, có người xin Phật không cho? Như vậy, vấn đề này chưa thể khẳng định đúng hay sai.

Chúng ta tự nghiệm xét những gì chúng ta xin đó, nếu được hết thì chắc rằng Phật tử đều giàu, đều vui vẻ, không ai khổ phải không? Nhưng kiểm lại trong giới phật tử có giàu hết chưa, có hết khổ hoàn toàn chưa? Nếu Phật cho thì phải cho đều, người này cho thì người kia cũng phải cho. Sao có người xin được, có người xin không được? Chúng ta nghĩ sao về điều này? Tôi gợi ý để rồi qúy Phật tử tự nghiệm tự xét.

Cũng như những người gặp tai nạn, cầu nguyện đức Quan Thế Âm cứu độ, tất cả đều cầu được hay có người được, có người không được? Như vậy Phật và Bồ-tát hình như thương người này, không thương người kia. Nhưng thật ra Phật, Bồ-tát có như vậy không?

Tất cả chúng ta do yếu lòng, nhẹ dạ nên gặp tai nạn, gặp khó khăn thì lúc nào cũng ỷ lại. Ỷ lại Phật, ỷ lại Bồ-tát. Cầu xin Phật, Bồ-tát an ủi cứu giúp mình bớt khổ. Nhưng sự thật việc cầu xin đó đâu có gì bảo đảm được trăm phần trăm. Vậy mà tất cả Phật tử chúng ta đi chùa tới đâu cũng xin, cũng cầu. Nếu xin cầu thì không phải là tu, còn tu thì không có cầu xin.

Nên kết luận lại, Phật tử chúng ta đi chùa là để tu theo Phật hay để xin Phật cho mình được phước đức?

Tôi thường thí dụ, qúy Phật tử có bệnh đi tới phòng khám của bác sĩ. Khi tới phòng khám, lẽ ra phải để cho bác sĩ khám, cho toa, mua thuốc uống. Nhưng có người tới phòng khám chỉ chấp tay nói rằng: “Thưa bác sĩ, bác sĩ cứu giùm tôi cho hết bệnh.” Đó, cứ nằng nằng đòi như vậy. Bác sĩ biết nói làm sao đây? Chắc cũng đầu hàng luôn, không biết sao cứu được. Nếu là người bệnh thì yêu cầu bác sĩ xem bệnh, rồi cho toa chúng ta mua thuốc uống, bệnh mới lành. Chúng ta không chịu cho xem bệnh, không chịu xin toa, mà cứ đòi bác sĩ cho hết bệnh, như vậy bác sĩ biết nói sao đây? Đó là điều hết sức lầm lẫn.

Phật đã từng tuyên bố: “Ta không có quyền ban phước xuống họa cho ai.”

Kế nữa, có người được bác sĩ khám bệnh, cho toa, bảo phải về mua thuốc uống. Nhưng người không chịu mua thuốc, cứ cầm toa đọc hoài, đọc thuộc lòng. Thuộc lòng cái toa hết bệnh không? Chắc rằng không hết. Chỉ khi nào mua thuốc uống thì mới lành bệnh.

Chúng ta ngày nay đến với Phật giống hệt như những người bệnh đến với bác sĩ. Không cần bác sĩ khám, không cần bác sĩ cho toa mà cứ chắp tay cầu bác sĩ cứu cho tôi hết bệnh thôi. Điều này bác sĩ cũng bó tay. Quí vị đến chùa, cứ xin Phật cho con cái này, cho con cái nọ… thì Phật sẽ làm sao? Phật đã từng tuyên bố: “Ta không có quyền ban phước xuống họa cho ai.” Mà không ban phước xuống họa thì Ngài cho được không? Nên có người xuyên tạc, như vậy thì Phật bất lực quá, Phật không có khả năng, xin Phật không có kết quả.

Trong đạo Phật luôn luôn dạy rằng “Phật là một bậc Đạo sư”, là vị thầy chỉ đường cho chúng ta ra khỏi nẻo luân hồi đau khổ, giúp cho chúng ta tránh những hiểm nguy trong cuộc đời này. Phật là người chỉ đường nhưng nếu chúng ta không chịu đi thì lỗi tại chúng ta, chớ không phải lỗi tại Ngài. Ngài không thể cho chúng ta hết khổ đâu. Vì thế có người cho Phật bất lực, nhưng với người biết nghĩ suy, biết nhận định thì chính lời nói đó là lời nói chân thật.

Như chúng tôi bây giờ, thật tình chỉ hiểu Phật pháp, chỉ tu để tâm được yên tịnh và chỉ dẫn lại cho qúy phật tử cùng tu. Chứ tôi cũng đâu có quyền cho phật tử được hết bệnh, đâu có quyền cho phật tử gặp cảnh khổ được hết khổ. Tôi chỉ giảng dạy lời Phật cho quý phật tử hiểu, ứng dụng, dẹp hết các phiền não, đó là Phật tử tu. Nếu tu được thì phiền não sạch, chớ tôi đâu có giúp gì cho quý vị.

Đức Phật dạy, tất cả chúng ta muốn được quả lành thì phải gieo nhân lành. Chúng ta muốn quả dữ, quả ác thì gieo nhân ác.

Quý vị nghĩ kỹ, chúng ta là Phật tử tức là con của Phật. Phật là bậc giác ngộ mà con của Phật có giác ngộ chưa? Nếu không giác ngộ trăm phần trăm như Phật, thì ít ra chúng ta cũng giác ngộ được một phần trăm, tí xíu vậy đó. Phật trăm phần, chúng ta được một phần cũng tạm gọi là con của Phật. Chớ Phật thì trọn vẹn còn mình thì không có chút nào, làm sao gọi là con Phật. Cái giác ngộ nhỏ nhất, gần nhất là giác ngộ được lý nhân quả.

Đức Phật dạy, tất cả chúng ta muốn được quả lành thì phải gieo nhân lành. Chúng ta muốn quả dữ, quả ác thì gieo nhân ác. Nhân lành sẽ đưa đến quả lành, nhân ác sẽ đưa đến quả khổ. Như vậy cái khổ, cái vui đều do chúng ta tạo mà ra, chớ Phật không làm thế được. Phật dạy rất thực tế.

Tôi thí dụ, một anh nông phu muốn làm ruộng trúng thì phải lựa giống, mua giống tốt. Giống tốt đó là nhân khiến sẽ được quả tốt là những bông lúa chín vàng, no đầy. Những bông lúa chín vàng, no đầy có được là nhờ những hạt giống tốt. Nhân đã có thì quả sẽ có. Có anh nông phu nào ngây ngô đến nỗi không chịu gieo giống lúa mà cứ ra ngoài đồng chấp tay cầu Phật cho con lúa đầy đồng không? Có ông Phật nào trên trời, trên mây rải giống xuống cho lúa mọc được không? Hay là chính tay mình gieo giống, rồi mình mới gặt được kết quả do công phu của mình làm ra.

Rõ ràng lẽ thật của cuộc sống này là chúng ta tự tạo nhân tốt hay tạo nhân xấu, từ nhân đó đưa tới quả tốt hay xấu, chớ không ai có quyền chen vô hết. Đó là một chân lý, một lẽ thật mà chúng ta không chịu tin, cứ đòi Phật cho không thôi, đòi thế này, đòi thế kia.

Như khi tôi lên Châu Đốc thấy một số phật tử, nhất là từ tháng giêng tới tháng ba, nhằm thời gian vía Bà, người ta đi đông là đông. Từ các tỉnh, thành phố lên, để làm gì? Để vay tiền Bà về làm ăn cho phát đạt. Họ cứ quan niệm rằng mượn của Bà chừng năm ba chục ngàn, về làm ăn sẽ giàu. Quí vị thấy nghĩ vậy đúng hay sai? Tôi chỉ cần nói đơn giản rằng nếu Bà thương người tới vay tiền, Bà cho làm ăn phát đạt giàu có, thì từ Châu Đốc tới Long Xuyên, ai cũng giàu hết. Tại sao vậy? Vì ở gần Bà, tốn ít chục bạc tiền xe là đã tới rồi, tiếc gì mấy chục mà không đi vay? Còn những người ở xa như thành phố Hồ Chí Minh hay dưới Cà Mau lên vay xa quá. Vậy thì người ở gần vay nhiều nên phải giàu nhiều, nhưng nhìn lại dân ở gần đó vẫn nghèo, vẫn có những người rất khổ sở, rách trước rách sau. Sao họ không tới vay cho được giàu? Hay họ vay hoài không giàu nên phải chịu nghèo. Như vậy có đúng là Bà cho vay thì được giàu không?

Có những điều rất thực tế mà không ai dám nói. Thí dụ khoảng trăm người lên vay tiền của Bà, về có chừng năm mười người làm ăn phát tài, họ liền khoe: “Tôi nhờ năm nay vay tiền của Bà về làm ăn phát tài.” Còn tám chín chục người vay, nhưng làm ăn lỗ lã, thua thiệt lại làm thinh, không dám nói. Vì họ không dám nói nên đâu có ai biết. Thiên hạ chỉ biết người phát tài mà không biết những người không có gì. Đó, lẽ thật ở chỗ nào?

Trong một trăm người, có người phước nhiều, có người phước ít. Người có phước làm ăn phát tài, lấy cớ vay tiền Bà được phát tài. Còn người vô phước làm ăn thất bại, sao lại làm thinh không đổ thừa tiền Bà không có giá trị? Tại không dám nói. Nên người ta cứ nghe đồn đằng kia, đằng nọ có người vay tiền Bà về làm ăn khá. Thế là ùa nhau kéo đi vay. Chúng ta không chịu nghiệm, không chịu xét nên rồi bị rơi vào mê tín. Mê tín là lòng tin mù quáng, không có lẽ thật, không đúng chân lý.

Nên quý phật tử phải tin tưởng đức Phật là một vị đã giác ngộ, chỉ cho chúng ta những lẽ thật trong cuộc đời để chúng ta ứng dụng tu, ứng dụng thực hành thì chúng ta sẽ đạt kết quả tốt.

Chúng ta là Phật tử hiểu Phật pháp thì phải thực hành theo lời Phật. Chúng ta muốn làm ăn khá thì chúng ta phải biết ăn ở tốt với mọi người, xử sự công bằng với mọi người. Trong cuộc sống chúng ta đừng giành phần hơn về mình mà luôn luôn biết nhường nhịn nhau. Nhờ có phước chúng ta làm ăn mới tốt. Người không chịu thực hành như vậy, cứ đi vay chỗ này, xin chỗ kia, rốt cuộc không được gì hết mà chỉ chuốc khổ. Hiện tại không được mà vị lai cũng không có chút phước đức nào. Nên quý Phật tử phải tin tưởng đức Phật là một vị đã giác ngộ, chỉ cho chúng ta những lẽ thật trong cuộc đời để chúng ta ứng dụng tu, ứng dụng thực hành thì chúng ta sẽ đạt kết quả tốt.

Quy y: Khi chiều chúng tôi đã làm lễ quy y cho một số Phật tử. Trong lễ quy y có những vấn đề mới nghe quý Phật tử thấy hơi lạ một chút. Như nói rằng, quy y Phật rồi khỏi đọa địa ngục, quy y Pháp rồi khỏi đọa ngạ quỉ, qui y Tăng rồi khỏi đọa súc sanh. Trong nhà Phật nói ba đường khổ là địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Nếu quy y Phật rồi khỏi rơi vào địa ngục, quy y Pháp rồi khỏi rơi vào ngạ quỉ, quy y Tăng rồi khỏi rơi vào súc sanh. Nếu quy y là chỉ hứa suông thôi mà thành công liền thì dễ quá! Ở đây tôi sẽ giải thích thứ tự cho quý vị hiểu.

Như chúng ta đã biết Phật là bậc giác ngộ sáng suốt. Quy y Phật tức là trở về con đường sáng suốt. Trở về con đường sáng suốt thì chúng ta không rơi vào chỗ u minh, tối tăm. Địa ngục là chốn u minh cho nên Bồ-tát Địa Tạng phát nguyện xuống địa ngục để độ chúng sanh. Vì vậy, Ngài làm Giáo chủ ở cõi địa ngục, gọi là U Minh giáo chủ. Chúng ta đi con đường sáng thì không rơi vào chỗ tối, nhưng phải đi chớ không chỉ hứa. Nếu Phật tử hứa rằng tôi qui y Phật rồi khỏi đọa địa ngục, ngang đó không tu tập thì có khỏi địa ngục không? Chắc chưa khỏi.

Tôi lặp lại ví dụ anh nông phu, anh được hạt giống tốt và gieo xuống. Biết rằng nhân tốt thì quả sẽ tốt, đó là lẽ thật. Nhưng từ ngày gieo giống cho tới ngày cây lúa đơm bông kết quả, phải làm sao? Gieo giống rồi chúng ta phải chăm sóc, nhổ cỏ, bón phân, chúng ta còn phải theo dõi sâu rầy. Cuối cùng đủ điều kiện thì bông lúa mới được tốt, được no đủ, được chín vàng.

Cũng như vậy, khi chúng ta nguyện quy y tu theo Phật, đó là nhân để đi tới quả giác ngộ. Nhưng từ nhân tới quả đòi hỏi chúng ta phải liên tục theo dõi, phải cố gắng tu hành mới được kết quả như vậy. Chớ không phải qui y rồi nói: “Ngang đây tôi khỏi đọa địa ngục”, đó là sai lầm.

Quy y Pháp khỏi đọa ngạ quỷ, ngạ quỷ tức là loài quỷ đói. Bởi vì, Phật dạy chúng ta tu phải có lòng từ bi thương yêu mọi người. Có lòng từ bi thì ai khổ chúng ta giúp. Chúng ta không nỡ gian lận, hiểm độc, bòn rút người khác mà phải mở lòng từ bi thương xót, cứu độ người ta. Vì có lòng từ bi nên không có tâm bỏn xẻn, tâm keo kiệt, tâm hiểm độc. Vì vậy không đọa làm loài quỷ đói. Không bao giờ chúng ta tạo nhân tốt mà lại có kết quả xấu được.

Cho nên qui y Pháp rồi thì tránh khỏi làm loài quỉ đói. Vì vậy khi đã quy y rồi, chúng ta phải tập tâm từ bi. Mỗi ngày mỗi mở rộng, mỗi ngày mỗi thực hành đúng như vậy, thấy ai khổ ai đói chúng ta dùng phương tiện giúp. Thực hành đúng pháp Phật dạy tránh khỏi loài ngạ quỷ, nhất định không sai chạy.

Quy y Tăng rồi khỏi đọa làm súc sinh. Tại sao? Vì súc sanh là si mê. Bây giờ mình theo chư Tăng, chư Tăng dạy cho mình biết đây là thiện, đây là ác, đây là tội, đây là phước, đây là chánh, đây là tà. Giản trạch cho mình biết rõ, nhờ biết rõ nên mình tránh tội làm phước, tránh ác làm lành, tránh tà làm chánh. Kết quả mình không đọa làm súc sanh. Như vậy từ nhân đến quả không sai chạy nếu chúng ta làm đúng. Nhưng có nhân mà không săn sóc, không chăm bón thì kết quả không bao giờ đúng hết.

Chúng ta đến với đạo Phật là đến với tâm hồn chân thật, phải dụng công tu hành, không phải đến với đạo Phật bằng cách cầu xin. Nếu quý Phật tử ngẫm kỹ, nhớ cho rõ ràng, từ hồi biết đi chùa cho tới bây giờ, mình tu theo Phật hay là cầu xin Phật? Chắc tu ít, cầu xin thì nhiều. Đó là điều đáng buồn mà cũng rất đáng thương. Nếu phật tử cứ đi cầu xin hoài thì đạo Phật đã mất rồi. Dầu còn chùa, còn Phật tử cũng không còn đạo Phật, vì Phật dạy tu mà mình có tu gì đâu? Nên nhiều người đi chùa mười năm, hai mươi năm nhưng phiền não ngày càng tăng chớ không giảm. Đi chùa nhiều mà sân cũng lắm, giận cũng nhiều thì có hiệu quả gì đâu.


Đến với Phật là để tu, để chừa bỏ những thói xấu. Nhưng đến với Phật lâu mà những thói xấu không giảm, ngược lại càng tăng, đó là tu theo Phật hay là gì? Lỗi tại đâu? Tại vì chúng ta không chịu tu mà chỉ có xin. Xin không được rồi đâm ra chán, mà chán rồi thì nghe ai đồn đại đằng kia miếu Bà, miếu Ông gì đó xin chi cũng được, linh lắm. Thế là Phật tử liền mang bó hương, đĩa quả tới xin. Vì xin cho nên dễ lạc đường tà. Còn nếu chúng ta biết tu, hiểu lời Phật dạy, ứng dụng tu thì chúng ta hết khổ. Hết khổ bằng lẽ thật chứ không phải hết khổ bằng tưởng tượng.

Chúng ta đến với đạo Phật là để tu, mà tu thì phải làm sao? Phật dạy lấy nhân quả làm căn bản. Chúng ta gieo nhân tốt rồi còn phải cố gắng duy trì, bảo vệ thì sẽ được quả tốt. Nếu chúng ta gieo nhân xấu thì phải rơi vào cảnh khổ, không nghi ngờ. Như vậy người phật tử là người biết chọn nhân để gieo, tránh nhân dữ không cho nó sanh khởi, đó là chúng ta tu.

Biết như vậy, hiểu như vậy, thấy như vậy, đó là chúng ta có tỉnh có giác. Còn không hiểu như vậy là không có tỉnh, không có giác. Biết được, nhận chân được lý nhân quả của Phật đó là chúng ta đã giác một phần rồi. Nếu biết nhân quả do mình gây, mình chịu thì chúng ta có kêu trời kêu Phật gì nữa không? Gặp khổ có kêu trời, gặp vui có tạ ơn trời không? Tất cả những điều đó là do nhân mình gây, quả mình hưởng. Biết rõ như vậy thì chúng ta là người tỉnh.

Hơn nữa người tin nhân quả là người gan dạ, can đảm, còn người không tin thì không gan dạ, không can đảm, tại sao vậy? Bởi vì tin nhân quả nên việc gì tốt là do mình tạo thì mình thành công. Mình thành công là do nhân mình làm nên quả mình hưởng, không có gì ngạo mạn cho mình là hơn. Nếu mình gặp điều xấu là do nhân mình không khéo tạo cho nên quả xấu đến với mình. Như vậy là cũng tại mình chứ không trách ai hết.

Hòa thượng Thích Thanh Từ

BÀI HÁT MÙA THU - ĐINH HÙNG


Bài hát mùa thu
thơ Đinh Hùng

Hôm nay có phải là thu?
Mây năm xưa đã phiêu du trở về,
Cảm vì em bước chân đi,
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn.
Ai về xa mãi cô thôn?
Một mình trông khói hoàng hôn nhớ nhà.
Ngày em mới bước chân ra,
Tuy rằng cách mặt, lòng ta chưa sầu.
Nắng trôi vàng chẩy về đâu?
Hôm nay mới thực bắt đầu vào thu.
Chiều xanh trắng bóng mây xưa,
Mây năm xưa đã phiêu du trở về.
Rung lòng dưới bước em đi,
Lá vàng lại gợi phân ly mất rồi!
Trời hồng, chắc má em tươi?
Nước trong, chắc miệng em cười thêm xinh?
Em đi hoài cảm một mình,
Hai lòng riêng để mối tình cô đơn.
Hôm nay tưởng mắt em buồn:
Đã trông thấp thoáng ngọn cồn, bóng sương.
Lạnh lùng chăng, gió tha hương?
Em về bên ấy, ai thương em cùng?

ĐINH HÙNG
(Trong Truyện lòng - Tập thơ tuổi mộng)


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đinh Hùng (3/7/1920 - 24/8/1967) người làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông cũ, nay là xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Ngoài việc ký tên thật Đinh Hùng, ông còn dùng bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết.

Nguồn: Thi Viện



"TIỀN" LÀ NGUỒI GỐC CỦA MỌI ĐAU KHỔ? VÌ SAO NÓI, "TIỀN" SẼ ĐỂ LỘ BẢN CHẤT THẬT SỰ CỦA BẠN?

Người đời thường nói: “Tiền là phép thử của lòng người”. Tiền không phải khi nghèo mới lộ bản chất, mà chính khi giàu lên, con người ta mới thật sự biết mình là ai.

“Tiền” là nguồn gốc của mọi đau khổ? Vì sao nói, “tiền” sẽ để lộ bản chất thật sự của bạn?

Tiền không làm con người ta xấu đi. Nó chỉ bóc trần những gì đã có sẵn bên trong mỗi chúng ta. Nói một cách đơn giản, tiền không phải là phần thưởng, mà là một bài kiểm tra. Bài kiểm tra về đạo đức, về nhân cách và về cái tâm của mình.

Bạn có để ý không? Nhiều người trúng số độc đắc hay làm giàu nhanh thường lộ rõ bản chất một cách khá rõ. Đó là minh chứng sống động rằng tiền chính là bài kiểm tra đạo đức lớn nhất của kiếp người.

Nó kiểm tra xem tâm ta có vững vàng hay không, liệu ta có vượt qua được cám dỗ hay không. Giàu đến đâu mà không vượt qua bài kiểm tra này thì cuối cùng cũng không giữ được.

Cổ nhân đã nói về vấn đề này từ hàng trăm năm trước: “Đức bất xứng tài, tất hữu tai ương.”

Nghĩa là đạo đức không gánh nổi tiền tài, thì tai họa sớm muộn cũng sẽ ập đến.

Không phải trời đất phạt ta, mà chính tiền bạc sẽ soi rọi và kéo hết những thứ tham, sân, si, ngã mạn, coi thường người khác ra ngoài ánh sáng. Tiền giống như một chiếc đèn pha chiếu thẳng vào tâm hồn. Tâm trong sạch thì càng sáng, tâm dơ bẩn thì sẽ lộ nguyên hình.

Cổ nhân còn dạy thêm: “Giàu không phải do nhân, sang không phải do lễ, họa hoạn tất nhiên sẽ tới.”

Khi giàu lên mà coi thường người nghèo, dùng tiền đè nén người khác, sống vô ơn nghĩa, coi mình hơn thiên hạ; thì không ai cần phải hại ta, chính ta đang tự gom nghiệp bất lợi cho tương lai.

Phật dạy về tiền càng rõ ràng hơn. Ngài không nói tiền là xấu, mà nói “tham tiền” mới là gốc rễ của khổ.

Trong kinh điển, Đức Phật dạy rõ: “Không phải tiền làm ta khổ, mà là sự dính mắc vào tiền mới khiến ta khổ.”

Có tiền mà mình dính mắc vào nó thì sẽ lo sợ đủ thứ: sợ mất, sợ nghèo lại, sợ người khác hơn mình. Lúc ấy, tiền không còn là “phúc” nữa, mà trở thành sợi dây trói chặt thân tâm.

Tài sản dễ làm con người sinh ra những thói hư tật xấu: chơi bời, khoe khoang, sống phóng túng, chủ quan, kiêu ngạo, nghĩ rằng mình sẽ không sao. Đến khi vấp ngã thật sự, mới biết mình gây nghiệp nặng đến mức nào.

Thực tế cho thấy, giàu lên rất dễ sinh ra ba thứ hư hỏng: dục vọng, kiêu mạn và vô ân. Nhiều người khi giàu lên ban đầu nghĩ chỉ là “thư giãn”, sau đó dần mất kiểm soát, dẫn đến trật bánh, thậm chí bại sản. Không phải vì họ không có khả năng kiếm tiền, mà vì họ không kiểm soát được con người mình khi có tiền.


Người tham lam sẽ càng tham lam. Người ác sẽ càng ác hơn khi có điều kiện. Ngược lại, người tử tế khi giàu lên sẽ càng tử tế hơn. Điều này cho thấy: “Tiền không thay đổi con người, tiền chỉ làm lộ rõ con người thật của họ.”

Chính vì vậy mới có những chuyện: mới giàu đã coi thường bạn cũ; mới có tiền đã không coi ai ra gì, cho rằng bản thân là trên hết; mới khá lên một chút đã quên gốc gác của mình. Đó không phải ngẫu nhiên, đó chính là kết quả của bài kiểm tra mà tiền đặt ra.

Và bạn biết không? Nhiều người giàu lên lại cảm thấy lo sợ. Không phải vì làm ăn thất bại, mà vì họ xài tiền sai cách. Khi họ đổ tiền vào những chỗ hoang phí, không đáng, không chỉ làm tổn thương người khác mà còn tạo ra oán hận, nuôi lớn cái tôi đến mức nguy hại. Tiền tài có thể không mất ngay lập tức, nhưng nó rút cạn dần, bào mòn từ từ. Đến khi cần dùng đến thì đã không còn gì.

Tiền thử con người không phải lúc đang kiếm tiền, mà chính là lúc đang xài tiền.

Tiền không xấu, nhưng không phải ai cũng xứng đáng nắm giữ nhiều tiền. Khi bạn có tiền mà vẫn giữ được sự khiêm tốn, vẫn biết ơn, vẫn tôn trọng người khác, vẫn sống có đạo đức, đó mới là “phúc đức” thật sự.

Giữ đạo đức khi nghèo đã khó, giữ đạo đức khi giàu còn khó gấp nhiều lần. Giàu chưa chắc đã là phúc; nhưng giữ được cái tâm hướng thiện, tu dưỡng bản thân của mình khi giàu lên, mới là phúc lớn nhất.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

Sunday, August 16, 2026

SỰ THẬT VỀ CUỘC SỐNG HOA LỆ SAU CÁNH CỬA CÁC VƯƠNG PHỦ NHÀ THANH

Ít ai biết rằng, những tòa vương phủ tráng lệ, xa hoa thời nhà Thanh thực chất lại chính là chiếc lồng son giam giữ cuộc đời của những hoàng thân quốc thích sống trong đó.

Ảnh minh họa.

Được biết tới là vương triều cuối cùng trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, Thanh triều cho tới ngày nay vẫn lưu lại nhiều công trình kiến trúc khiến cho hậu thế không khỏi ngưỡng mộ. Các vương phủ có niên đại từ thời kỳ này cũng nằm trong số đó.

Theo sử sách ghi chép, Thanh triều khi xưa từng có một quy định từ thời lập quốc: Chỉ có các phiên vương ở bên ngoài mới được phép sở hữu lãnh địa của riêng mình, còn những quận vương hay thân vương lưu lại trong kinh thành buộc phải sống tại vương phủ mà triều đình cấp cho.

Vì thế nên khi đế chế của Mãn tộc còn thống trị dải đất Trung Nguyên, thành Bắc Kinh đã từng là nơi quy tụ của không ít vương phủ, tính tới cuối thời nhà Thanh ước chừng đã lên tới con số 50 tòa.

Tuy nhiên điều đáng nói lại nằm ở chỗ, những tòa phủ đệ xa hoa tráng lệ một thời này thực chất lại chính là lồng giam kìm hãm cuộc đời của các hoàng thân quốc thích.

Thậm chí có ý kiến còn cho rằng cuộc sống chẳng thiếu ăn thiếu mặc ở những biệt phủ ấy có đôi khi còn bí bức chẳng khác nào… quan tài! Liệu đâu là lý do dẫn tới điều này?

Những khoản thu nhập khổng lồ phía sau các vương phủ xa hoa thời nhà Thanh

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.

Trước tiên, khó thể phủ nhận một sự thật rằng vương phủ vốn là những nơi chỉ xếp sau Tử Cấm Thành của nhà vua về độ xa hoa tráng lệ. Đa số các vương gia Thanh triều đều được hưởng thụ cuộc sống cẩm y ngọc thực bên trong những tòa phủ đệ của mình.

Thế nhưng để có được lối sống xa hoa như vậy thì họ phải cần tới một nguồn thu không hề nhỏ. Vậy liệu rằng nguồn thu của các vương phủ Thanh triều đến từ đâu?

Theo phân tích của chuyên trang lịch sử Trung Quốc Qulishi, thu nhập của các vương phủ thời bấy giờ chủ yếu đến từ 3 nguồn tài chính dưới đây:

Thứ nhất: Bổng lộc của triều đình.

Hàng ngũ hoàng thân quốc thích thời bấy giờ đều là những người sở hữu bổng lộc rất cao, các vương gia càng không phải ngoại lệ.

Lấy các Thân vương làm ví dụ, một năm bổng lộc của họ có thể lên tới vạn lượng bạc. Con số này của các quận vương mặc dù ít hơn, nhưng cũng dao động ở mức năm năm ngàn hai trăm lượng.

Thứ hai: ‘Tiền lương’ của các thành viên trong phủ.

Các hoàng thân quốc thích một khi được phong quan, nhận tước ắt sẽ có được nguồn bổng lộc phong phú. Vì vậy phàm là vương phủ nào có càng nhiều thành viên sở hữu chức tước thì số tiền thu vào mà họ nhận được sẽ càng nhiều.

Bên cạnh đó, mỗi khi Tân đế lên ngôi hoặc triều đình có đại hôn hay đại thọ, tầng lớp này sẽ được thưởng gấp đôi bổng lộc.

Hơn nữa, hầu hết các vương gia Thanh triều đều có chức quan trong triều, vì thế bổng lộc mà họ được hưởng từ triều đình hoàn toàn thừa sức để sống sung sướng cả đời.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.

Thứ ba: Nguồn thu đến từ số lượng đất đai khổng lồ.

Khi Thanh triều mới nhập quan không lâu, con em trong hàng ngũ bát kỳ bắt đầu không ngừng thâu tóm ruộng đất. Tình trạng này phải kéo dài tới thời Khang Hi mới chấm dứt.

Sau đó, chính phủ Thanh triều đem đất đai mà họ chiếm được chia cho các thành viên hoàng tộc và thống nhất để phủ Nội vụ quản lý. Vì vậy mỗi vương gia nhà Thanh trên danh nghĩa đều có không ít đất đai.

Theo hồi ức của con trai Cung Thân vương vào những năm cuối của triều đại này, dù gia đình ông không tính là quá nhiều đất đai, nhưng số lượng ước chừng cũng lên tới năm ngàn năm trăm mẫu.

Cũng bởi sở hữu diện tích đất đai khiến người khác không khỏi kinh ngạc nên các vương gia nhà Thanh năm xưa cũng có một khoản tiền không nhỏ thu về từ mối lợi này.

Cuộc sống bí bức chẳng khác nào quan tài bên trong những tòa vương phủ tráng lệ

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.

Thế nhưng ngay cả khi không phải lo lắng về chuyện tiền bạc, các vương gia nhà Thanh vẫn phải sống trong cảnh ‘cá chậu chim lồng’ vì sự ràng buộc của đủ mọi luật lệ khắt khe.

Họ không được tự ý đi quá phạm vi 40 dặm tính từ Hoàng thành, không được tùy tiện giao du với quan lại, không được phép tụ tập kết bè kéo cánh…

Chưa dừng lại ở đó, triều đình vì lo ngại các vương gia có mưu đồ riêng nên vẫn thường đặc biệt phái ra nhiều thám tử và ám vệ ở xung quanh các vương phủ nhằm giám thị nhất cử nhất động của họ.

Do đó chỉ cần tầng lớp vương gia có một lời nói hay hành động nào bất cẩn cũng sẽ nhanh chóng bị báo lên nhà vua.

Để tránh bị hiềm nghi, những thành viên hoàng tộc này mỗi khi đi đâu, làm gì hay gặp ai đều phải chủ động dâng tấu cho Hoàng đế.

Chính sự mất tự do này đã khiến nhiều người cho rằng, vương phủ xa hoa của họ thực chất cũng chỉ là ngục giam do triều đình hao tốn tâm tư để tạo nên mà thôi.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.

Buộc phải sống cả đời trong cảnh ‘cá chậu chim lồng’, các vương gia năm xưa thường phải tự tạo thú vui ngay trong phủ đệ của chính mình.

Vào thời Càn Long, Hòa Thân vương Hoằng Trú nổi danh là một vương gia hoang đường đã từng nghĩ ra trò tiêu khiển quái đản. Đó chính là tổ chức tang lễ cho chính mình.

Mỗi lần như vậy, ông lại chủ động ngồi vào quan tài, để cho người nhà đứng bên ra vẻ khóc lóc, ai càng khóc thương tâm thì ông càng cao hứng.

Những thành viên trong vương phủ cũng chẳng có cách nào cự tuyệt, chỉ còn cách hùa theo trò đùa quái đản của vị vương gia ấy.

Trong lúc trò vui này diễn ra, Hoằng Trú lại ngồi trong quan tài vui vẻ uống rượu như thể xem tang lễ là hỷ sự. Biệt hiệu ‘Hoang đường Vương gia’ của ông cũng từ đó mà ra.

Có lẽ, chính cuộc sống bí bức chẳng khác nào quan tài bên trong những tòa vương phủ ấy đã từng khiến cho không ít các thân vương, quận vương thời nhà Thanh không khỏi cám cảnh.

Ngay cả khi được ngồi trên cả núi vàng núi bạc thì cuộc đời của họ vĩnh viễn chỉ quẩn quanh trong chiếc lồng son mà Hoàng đế ban cho, để rồi chỉ còn cách tìm kiếm những trò tiêu khiển hoang đường mà quên đi khao khát về một cuộc sống tự tại như bao thường dân bách tính bình thường khác…

Theo: vanhienplus