Wednesday, June 3, 2026

DẶM DÀI HỦ TIẾU - KỲ 2: ĂN HỦ TIẾU NAY MÀ NHỚ HỦ TIẾU XƯA

Đời nghề hay rong ruổi đây đó, tôi nhiều khi đói bụng ghé đại quán xá bên đường mà gặp gì ăn nấy cho qua bữa.

Xe hủ tiếu bình dân trên hè đường Sài Gòn trước 1975 - Ảnh: Michael Burr

Nếu lang thang đất Bắc, các quán phở, bún, miến thường níu chân lữ khách. Còn miền Nam thì tôi lại hay gặp quán xá treo biển phở, cơm tấm, hủ tiếu, bánh mì.

Mà ngộ nhứt là hủ tiếu, hầu như ở đâu cũng nhiều binh thiên, từ phố về quê, từ đất liền ra đảo, bán sáng rồi bán trưa, bán chiều, bán tối, bán đêm. Và càng xuôi xuống miệt miền Tây, quán hủ tiếu hình như càng nhiều hơn.

Tô hủ tiếu chợ quê và miếng thịt gió thổi bay

Thời nay, người sành ăn vô trung tâm Sài Gòn, gọi tô hủ tiếu hơn 100.000 đồng cũng chỉ "chuyện nhỏ như con thỏ". Còn dân lao động nghèo hay kẻ rong ruổi gặp gì ăn nấy như tôi vẫn dễ dàng tìm được tô 30.000 - 40.000 đồng bên lề đường, thậm chí tô chỉ 20.000 - 25.000 cũng thơm lừng...

Bạn bè lứa trung niên của tôi bây giờ ngồi ăn tô hủ tiếu tôm mực hơn 100.000 đồng lại hay rề rà nhắc chuyện miếng ăn thiếu hụt ngày xửa ngày xưa.

Tụi tôi lớn lên thời hậu chiến, mới lẫm chẫm chưa kịp cứng cẳng cứng giò đã theo cha mẹ đi kinh tế mới miệt bưng biền phèn lợ đến con chó mực còn lòi còi chậm bự.

Ngày qua ngày, dân phố về quê chỉ quay quắt lo nghĩ miếng ăn. Người lớn thì lo chuyện ruộng đồng sao cho trừ thuế má đóng tập đoàn còn đủ gạo bén lửa nồi cơm. Sắp nhỏ như tôi nhiều đêm đi ngủ mà bụng chưa no, cứ sôi ròng rọc mà nghĩ sáng mai mình được ăn cơm nguội đến trường hay lại củ khoai lang, khoai mì hoặc nhịn đói.

Hồi đó học trò đến trường với bụng trống rỗng là bình thường. Vậy nên cứ năm ngày bảy bữa lại rộ chuyện đứa này đứa nọ xỉu dọc đường vì cái bụng đói suốt từ tối hôm qua tới trưa hôm sau.

Trên đường tôi đến trường ở vùng biên giới huyện Đức Huệ, tỉnh Long An cũ có cái chợ quê lẹp xẹp thỉnh thoảng lại thơm lừng mùi hủ tiếu. Đám nhỏ nhóc học trò vừa thèm thuồng ngó vừa... lén nuốt nước miếng, nếu không chắc chảy ra áo thiệt.

Nói thỉnh thoảng mới có mùi hủ tiếu là chính xác, vì chợ quê thời nghèo khó thì ai có tiền ăn mà bán món ngon mỗi ngày. Còn gọi quán cho oai, chứ thiệt ra chỉ là cái chòi lá che nắng mưa trên mấy cái bàn ghế tre ọp ẹp, lỏng lẻo như ông già 90.

Đến giờ tôi vẫn nhớ chủ quán Ba Bảy, một phụ nữ gốc quê Long An có cái tên thiệt ngộ, vừa lo bán hủ tiếu vừa bận trông đàn con lít nhít năm đứa mà đứa nhỏ nhứt còn bú mẹ.

Mấy ông lớn tuổi ghẹo vui: "Đẻ chi mà đẻ dữ thần thiên địa vậy bay?". "Dạ, tại vợ chồng con thức khuya canh nồi hầm nước lèo hủ tiếu, hổng biết mần gì nên xáp lại là đẻ", cô Ba Bảy hổng chịu kém miệng.

Thời này ở Sài Gòn, tôi ăn hủ tiếu thập cẩm ú hụ thịt, xương, tôm, mực, trứng cút mà cứ nhớ tô của cô Ba Bảy chỉ có nước luộc thịt hoặc lòng heo. Cô bưng lên cho khách, chỉ có chút xíu thịt và lác đác màu xanh của hành lá, mà hoàn toàn chẳng có gì thêm như bây giờ.

Tuy nhiên thuở đó dân quê nghèo được ăn tô hủ tiếu này là "ngon nhứt xứ Ba Tư" rồi. Nhiều người cả năm không dám ăn dù chỉ một lần. Tôi có bà nội bán hàng vặt ở chợ nhưng xuân thu nhị kỳ chắc cũng chỉ được ngồi quán cô Ba Bảy một, hai lần mỗi năm.

Đó cũng là lần đầu thằng nhóc tôi hiểu cái câu "đồ thái thịt mỏng như tờ giấy". Thời dân nghèo gì mà nghèo xác xơ, người ta phải thái thịt mỏng lét để giảm giá cho có khách ăn. Vậy mà nhiều người vào quán vẫn kêu tô hủ tiếu không thịt, tức chỉ có sợi hủ tiếu và nước lèo để bớt giá. Nhiều bà mẹ còn mua một tô, chia đôi hai mẹ con cùng ăn...

Nhưng tình thiệt nói nào ngay, bận đó cỡ như tôi mà được ngồi vắt vẻo trên ghế tre, ăn tô hủ tiếu không thịt của cô Ba Bảy là sang dữ thần rồi. Bạn học đi ngang chỉ tròn xoe con mắt mà nuốt nước miếng, nghĩ lại thương ơi là thương.

Tô hủ tiếu mì gà ú hụ thời nay - Ảnh: Q.V.

Món ngon phố thị

15 năm đầu đời, tôi sống vùng kinh tế mới Long An nhưng mỗi dịp hè được trở lại thành phố vì có mẹ và bà ngoại trên đây. Đó là ba tháng tôi được ăn ngon hơn một chút và tất nhiên cũng không thể nào bằng bây giờ.

Chặng đường đầu tiên tôi ngồi chuyến đò dọc để lên vàm Trà Cú rồi đón xe lam đi thêm mấy chuyến nữa mới về đến thành phố. Giờ nghĩ lại cái chợ vàm Trà Cú đó toàn nhà lá trên sình lầy xác xơ nhưng ngày đó đối với tôi đã là phố chợ lắm rồi.

Tôi ngồi đợi xe lam mà nghe tiếng hát bolero ngọt lịm từ máy cassette. Nhưng thứ làm tôi thèm thuồng nhứt chính là quán hủ tiếu bán chung với cà phê đá thơm lừng.

Những thằng nhóc như tôi cứ tròn mắt nhìn cảnh mấy ông tấp vô quán, co ngay chân lên ghế như ngồi hầm cầu cá tra mà kêu tô hủ tiếu xì xụp ăn, sau đó lại tiếp tục nhâm nhi cà phê đá, nhả khói thuốc rê quấn tay và gật gù nghe giọng Tuấn Vũ, Hương Lan, Thanh Tuyền...

Sau này lớn thêm một chút, tôi mới hiểu dân Sài Gòn và nhiều địa phương miền Nam đã có nếp quen ra quán ăn sáng, uống cà phê. Tuy nhiên sang thời mười năm hậu chiến khó khăn, cảnh ăn uống thư thả này trở nên hiếm hơn.

Mấy ông dám ghé quán như tôi kể trên thường là cựu dân nhiều đời đã có cuộc sống tạm ổn định, hoặc là chủ đò dọc, chủ xe lam, làm nhà máy chà lúa có đồng ra đồng vô.

Nhớ lại ba tháng hè ở Sài Gòn, tôi cũng được mẹ và nhà ngoại dắt đi ăn phở, ăn hủ tiếu vài lần để "bồi dưỡng thằng nhóc miệt bưng biền còm nhom như con cò ma". Tôi dần phân biệt được hương vị phở bò khác hương vị hủ tiếu thịt heo như thế nào.

Nhà tôi ở đường Hiệp Nhất (quận Tân Bình cũ), nếu ăn phở thì ghé quán Cao Vân đầu đường. Còn ăn hủ tiếu thì cứ sà xuống ghế gỗ của mẹ con cô bán vỉa hè gần đó.

Hủ tiếu ở đây có hành khô phi mỡ thơm lừng hơn hẳn của cô Ba Bảy ở quê, nước lèo cũng ngon hơn, trong hơn nhưng mấy miếng thịt ba chỉ thì vẫn thái mỏng lét để hạp túi tiền thực khách phải ngồi quán vỉa hè.

Thỉnh thoảng được "tháp tùng" đi chợ vải vóc ở Soái Kình Lâm (quận 5 cũ), tôi mới được mẹ cho ăn hủ tiếu mì xá xíu "thứ thiệt" ở đường Châu Văn Liêm, dầu vẫn là xe hủ tiếu và bàn ghế cũ mèm bày vỉa hè.

Mấy chục năm qua rồi, tôi đã được nếm không ít thức ngon vật lạ trong đời nghề rong ruổi khắp nơi nhưng tôi vẫn đọng lại ký ức khó quên với tô hủ tiếu thơm ngon của cô chú người Hoa này.

Nếu không ăn hủ tiếu mì xá xíu, mẹ con tôi có thể chọn món hủ tiếu thập cẩm và lần đầu tiên tôi được ăn tô có con tôm đo đỏ, quả trứng cút trăng trắng, miếng bao tử heo giòn sừn sựt khác hẳn chỉ có mấy miếng thịt mỏng để gió có thể thôi bay như ở quê.

Mỗi mùa hè, tôi được lên chơi trung tâm Sài Gòn một, hai lần ở thương xá Tax và bến Bạch Đằng. Có hôm đi sớm, mẹ dắt tôi vào quán hủ tiếu ở chợ Cũ, đường Tôn Thất Đạm.

Cô chủ thấy mẹ tôi mừng như chị em lâu ngày gặp nhau, hóa ra mẹ tôi đã là khách quen của quán này từ trước năm 1975. Người lớn lâu ngày trò chuyện không dứt, còn tôi thì ngồi chễm chệ gặm xí quách ngon thiệt ngon được chủ quán thương cho thêm và uống xá xị thơm nồng...
Sang nửa cuối thập niên 1980, Sài Gòn đêm đêm vọng tiếng hủ tiếu gõ nhiều hơn. Người bán chủ yếu là dân quê lên, mà nhiều nhất là bà con Quảng Ngãi.

Xe hủ tiếu đẩy thường với một người lớn và một đứa trai nhỏ phụ bán giá bình dân. Cậu nhóc cầm ống tre đi gõ lốc cốc mời khắp cùng đường lớn, hẻm nhỏ. May mắn có ai gọi, cậu trở về xe hủ tiếu để nói người lớn làm, rồi bê tô đến tận nhà khách ăn và sau đó lại bê tô về.

Đêm lạnh nhưng các cậu bé gầy gò bán hủ tiếu gõ này lúc nào cũng vã mồ hôi trên đường.
-------------------

>> Kỳ tới: Người Quảng bán hủ tiếu

Minh Kỳ / Theo: tuoitre

ANH EM KHÔNG CHUNG TIỀN BẠC, CHỊ EM ĐỪNG QUÁ THÂN: LỜI NGƯỜI XƯA KHÔNG PHẢI VÔ TÌNH, MÀ LÀ BÀI HỌC VỀ LÒNG NGƯỜI

Nghe qua có vẻ lạnh lùng, nhưng thực ra đó không phải lời khuyên vô tình, mà là bài học được đúc kết từ trải nghiệm về lòng người và cách giữ gìn tình thân lâu dài.

Ảnh minh hoạ

Nhiều người luôn tin rằng tình thân là thứ tình cảm bền chặt nhất trên đời. Đã là máu mủ ruột rà thì dù thế nào cũng không thể cắt đứt. Vì thế, không ít gia đình có thói quen để anh em chị em cùng góp vốn làm ăn, cùng gánh vác chuyện tiền bạc, chuyện nhà cửa, thậm chí can thiệp sâu vào cuộc sống của nhau, cho rằng như vậy mới là “thân”.

Nhưng thực tế lại cho thấy, rất nhiều mối quan hệ anh chị em từng gắn bó từ nhỏ, đến khi trưởng thành lại dần xa cách, thậm chí trở mặt vì tiền bạc, vì chuyện gia đình, vì những va chạm nhỏ tích tụ qua năm tháng.

Người xưa có câu: Anh em không chung tiền bạc, chị em đừng quá thân. Nghe qua có vẻ lạnh lùng, nhưng thực ra đó không phải lời khuyên vô tình, mà là bài học được đúc kết từ trải nghiệm về lòng người và cách giữ gìn tình thân lâu dài.

Tình người mỏng như giấy, thế sự đổi thay như bàn cờ. Người thân không làm tổn thương nhau, quý nhất là biết chừng mực. Có lẽ vì hiểu rõ lòng người nên người xưa mới nhắc con cháu rằng: càng thân thiết càng phải biết giữ khoảng cách vừa đủ.

Điều dễ làm rạn nứt tình anh em nhất, từ xưa đến nay, thường vẫn là tiền bạc.

Khi còn nhỏ, anh em có thể vô tư chia nhau từng món đồ chơi, từng bữa ăn. Nhưng khi trưởng thành, mỗi người đều có gia đình riêng, áp lực riêng, trách nhiệm riêng. Tình thân lúc này không còn đơn thuần như thời thơ bé, mà bắt đầu xen lẫn lợi ích, tính toán và sự so sánh.

Rất nhiều anh em ban đầu vì tin tưởng nhau nên cùng hùn vốn làm ăn, cùng đứng tên tài sản hoặc giúp nhau quản lý tiền bạc. Những ngày đầu ai cũng nghĩ đơn giản rằng người nhà thì “không cần quá rõ ràng”. Nhưng càng về sau, khi công sức bỏ ra không đều, lợi nhuận chia không cân bằng hoặc trách nhiệm không rõ ràng, những ấm ức nhỏ sẽ dần tích tụ.

Người làm nhiều cảm thấy thiệt thòi. Người nhận nhiều lại nghĩ đó là điều bình thường. Từ chỗ thương nhau, hai bên bắt đầu nghi ngờ, trách móc rồi dần xa cách.

Không phải vì anh em không đủ thân, mà bởi tiền bạc là thứ dễ thử lòng người nhất. Có những mối quan hệ ngoài xã hội còn giữ được vì có giấy tờ, nguyên tắc rõ ràng, trong khi người thân lại thường vì ngại nói thẳng mà để mọi chuyện nhập nhằng, cuối cùng mất cả tiền lẫn tình cảm.

Thế nên, giữ tài chính độc lập, phân chia rõ ràng ngay từ đầu đôi khi lại là cách tốt nhất để bảo vệ tình anh em.


Còn câu “chị em đừng quá thân” cũng thường bị hiểu sai theo hướng phải xa cách, lạnh nhạt với nhau. 

Thực ra điều người xưa muốn nhắc là: sau khi lập gia đình, chị em nên giữ ranh giới vừa phải, đừng can thiệp quá sâu vào cuộc sống riêng của nhau.

Một người phụ nữ sau khi kết hôn sẽ có gia đình riêng, mối quan hệ riêng, áp lực riêng. Nếu chị em thường xuyên qua lại quá mức, xen vào chuyện hôn nhân, chuyện con cái hay thoải mái nhận xét về chồng của nhau, rất dễ khiến mâu thuẫn phát sinh.

Ảnh minh hoạ

Có những lời góp ý xuất phát từ ý tốt nhưng lại bị xem là nhiều chuyện. Có những lần giúp đỡ ban đầu là tự nguyện, nhưng lâu dần lại thành điều “đương nhiên”. Khoảng cách quá gần đôi khi khiến những va chạm nhỏ ngày càng nhiều hơn.

Không ít chị em từng rất thân thiết nhưng sau khi lấy chồng lại dần xa nhau vì những chuyện tưởng chừng vụn vặt như cách nuôi con, chuyện tiền bạc, chuyện đối nội đối ngoại hay sự so sánh giữa các gia đình.

Người xưa hiểu rằng, tình thân muốn bền lâu thì cần có giới hạn. Gần gũi nhưng không can thiệp quá sâu. Quan tâm nhưng vẫn tôn trọng không gian riêng của nhau. Đó mới là cách giữ cho tình cảm không bị “mài mòn” theo thời gian.

Suy cho cùng, những lời dạy của người xưa chưa bao giờ nhằm khuyên con người sống ích kỷ hay vô cảm. Ngược lại, đó là sự tỉnh táo sau khi đã nhìn thấu nhiều va chạm của cuộc đời.

Anh em không chung tiền bạc là để tránh tổn thương vì lợi ích. Chị em giữ khoảng cách vừa phải là để tránh mâu thuẫn vì can thiệp quá nhiều.

Mối quan hệ tốt đẹp nhất chưa bao giờ là “không có ranh giới”, mà là thân thiết nhưng vẫn biết chừng mực. Chỉ khi hiểu điều đó, tình thân mới có thể đi cùng nhau thật lâu, thay vì vì quá gần mà dần trở nên xa lạ.

Hiếu Đan / Theo: phunumoi

DƯƠNG LIỄU CHI TỪ - BẠCH CƯ DỊ


Dương liễu chi từ

Nhất thụ xuân phong thiên vạn chi,
Nộn ư kim sắc nhuyễn ư ty.
Vĩnh Phong tây giác hoang viên lý,
Tận nhật vô nhân thuộc a thùy.


楊柳枝詞

一樹春風千萬枝
嫩於金色軟於絲
永豐西角荒園裏
盡日無人屬阿誰


Dương liễu chi từ
(Dịch thơ: Lê Nam Thắng)

Liễu dương tha thướt vạn cành
Hoa vàng, tơ óng, lá xanh buông dài
Vĩnh Phong vườn cũ hoang đài
Ngày tàn lẻ bóng chẳng ai bạn cùng


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ.

Nguồn: Thi Viện



ĐẰNG SAU CÂU CHUYỆN KINH HOÀNG VỀ BÚP BÊ ANNABELLE NGOÀI ĐỜI THẬT

Annabelle ngồi trong một chiếc tủ kính có dòng chữ “Lời cầu nguyện của Chúa” viết bằng tay, nở nụ cười dễ chịu trên khuôn mặt hạnh phúc bên dưới mái tóc đỏ au. Nhưng bên dưới chiếc tủ là một tấm biển có nội dung: "Cảnh báo, tuyệt đối không mở."

Hai nhà thần bí học Ed và Lorainne Warren nhìn búp bê Annabelle trong tủ kính tại bảo tàng mà họ lập ra. Ảnh: Bảo tàng Huyền bí của Warrens (Warrens’ Occult Museum)

Đối với những du khách mới đến Bảo tàng Huyền bí của Warrens ở Monroe, bang Connecticut (Mỹ) thì Annabelle trông giống như bất kỳ con búp bê Raggedy Ann (búp bê trong truyện của Johnny Gruelle) nào khác được sản xuất vào giữa thế kỷ 20. Nhưng con búp bê này ngay từ đầu đã là một thứ gì đó không bình thường.

Kể từ lần đầu tiên được cho là ám ảnh con người vào năm 1970, búp bê Annabelle bị cho là nơi trú ẩn của ma quỷ, gây ra một loạt các cuộc tấn công bạo lực và ít nhất hai trải nghiệm cận kề cái chết. Trong những năm gần đây, những câu chuyện về Annabelle trở thành là nguồn cảm hứng cho hàng loạt bộ phim kinh dị.

Nhưng câu chuyện về Annabelle có bao nhiêu phần trăm là sự thật? Con búp bê này có thực sự là vật chứa ma quỷ đang tìm kiếm vật chủ là con người, hay nó chỉ đơn giản là một món đồ chơi trẻ em được sử dụng làm chỗ dựa cho những câu chuyện ma siêu lợi nhuận?

Khởi đầu của Annabelle ngoài đời thực

Mặc dù không có làn da trắng sứ và những nét đẹp như hình tượng búp bê trong điện ảnh, nhưng con búp bê Annabelle sống trong Bảo tàng Huyền bí của hai nhà điều tra thần bí học nổi tiếng là Ed và Lorraine Warren, vẫn trở nên rùng rợn bởi cách nó xuất hiện rất đỗi bình thường.

Búp bê Annabelle ngoài đời thật (trái) và tạo hình trong điện ảnh (phải).

Các chi tiết được khâu của Annabelle, bao gồm nụ cười nửa miệng và chiếc mũi hình tam giác màu cam, gợi lên ký ức về những món đồ chơi thời thơ ấu.

Nếu như bạn có thể hỏi Ed và Lorraine Warren (Ed đã qua đời vào năm 2006 và Lorraine mất đầu năm 2019), họ sẽ cho bạn biết rằng những cảnh báo rõ ràng được viết nguệch ngoạc trên tủ kính đặt Annabelle là rất cần thiết. Theo hai vợ chồng nhà thần bí học, con búp bê này chịu trách nhiệm trong hai trải nghiệm cận kề cái chết, một tai nạn chết người và một chuỗi các hành động quỷ quái kéo dài trong khoảng 30 năm.

Sự việc đầu tiên trong số những vụ ám ảnh khét tiếng được cho là bắt nguồn vào năm 1970, khi Annabelle vẫn còn mới tinh. Câu chuyện được kể với cặp đôi Warren bởi hai phụ nữ trẻ, và được chính nhà Warren kể lại trong nhiều năm sau đó.

Theo chuyện kể lại, búp bê Annabelle là món quà mà người mẹ tặng cho một y tá trẻ tên Donna (hoặc Deirdre) nhân dịp sinh nhật lần thứ 28 của cô. Rất vui với món quà, Donna mang nó về căn hộ nơi cô ở chung với một đồng nghiệp khác tên là Angie.

Lúc đầu, con búp bê là một phụ kiện đáng yêu, ngồi trên ghế sofa trong phòng khách và chào đón khách đến chơi bằng hình ảnh đầy màu sắc của mình. Nhưng không lâu sau, hai người phụ nữ bắt đầu nhận thấy Annabelle dường như đang di chuyển trong phòng theo ý mình.

Donna thường đặt Annabelle trên ghế sofa trong phòng khách trước khi đi làm, nhưng khi trở về nhà vào buổi chiều, cô lại thấy con búp bê ở trong phòng ngủ, dù cửa phòng đóng kín. Donna và Angie sau đó bắt đầu nhìn thấy những tờ giấy ghi chú rải rác khắp căn hộ của họ, với dòng chữ “Giúp tôi”. Những dòng chữ này được viết trên giấy da, thứ mà họ thậm chí còn không có trong nhà.

Búp bê Annabelle (trái) trong phim kinh dị cùng tên của hãng phim Warner Bros.

Một hôm, bạn trai của Angie, chỉ được biết đến với cái tên Lou, đang ở trong căn hộ vào buổi chiều khi Donna ra ngoài, thì nghe thấy tiếng sột soạt như thể có ai đó đột nhập. Sau khi kiểm tra, Lou không thấy có dấu hiệu nào có người vào nhà, nhưng anh tìm thấy con búp bê nằm úp mặt xuống đất. Đột nhiên, Lou thấy ngực mình đau nhói, nhìn xuống anh thấy những vết móng tay xước máu cào dọc trên ngực. Hai ngày sau, những vết xước đó biến mất không dấu vết.

Sau trải nghiệm đáng sợ của Lou, đôi bạn gái đã mời một bà đồng đến giúp giải quyết những vấn đề dường như huyền bí đó. Bà đồng tổ chức một buổi lễ và kết luận, con búp bê là nơi sinh sống của linh hồn một đứa trẻ 7 tuổi đã qua đời tên là Annabelle Higgins. Xác của đứa trẻ từng được tìm thấy nhiều năm trước đó tại địa điểm mà toà chung cư được xây dựng.

Bà đồng cho rằng, linh hồn đứa trẻ vốn hiền lành và chỉ muốn được yêu thương, chăm sóc. Hai cô y tá trẻ bỗng cảm thấy tội nghiệp cho đứa trẻ và cho phép linh hồn ẩn trú lâu dài trong con búp bê.

Hai nhà thần bí học bước vào câu chuyện

Tuy nhiên cuối cùng, Donna và Angie đã nhờ một linh mục là Cha Cooke giúp đỡ để đuổi hồn ma ám ảnh căn hộ của họ. Cha Cooke đã báo cho hai nhà điều tra thần bí học Ed và Lorraine Warren.

Theo như lời hai cô gái kể lại, khi họ bắt đầu tin rằng con búp bê đáng được thông cảm, cũng là lúc rắc rối xảy ra. Cặp đôi Warren tin rằng thực sự có một thế lực ma quỷ độc ác đang tìm kiếm vật chủ bên trong Annabelle chứ không phải là một linh hồn nhân từ.

Báo cáo của hai vợ chồng Warren về vụ việc được ghi lại như sau: "Các linh hồn không sở hữu những vật vô tri vô giác như nhà cửa hay đồ chơi, chúng chiếm hữu con người. Một linh hồn độc ác có thể gắn mình vào một địa điểm hoặc đồ vật và đây là những gì đã xảy ra trong vụ án Annabelle. Linh hồn này đã thao túng con búp bê và tạo ra ảo giác nó đang sống để được công nhận. Quả thật, linh hồn không muốn ở lại với con búp bê, nó muốn sở hữu một vật chủ là con người. "

Ed và Lorraine Warren, những nhà điều tra thần bí học liên quan đến câu chuyện về búp bê Annabelle ngoài đời thật. Ảnh: Warrens’ Occult Museum

Ed và Lorraine Warren ghi nhận những gì họ tin là dấu hiệu sự chiếm hữu của ma quỷ, bao gồm các hiện tượng như “dịch chuyển tức thời” (con búp bê tự di chuyển), "hiện thực hóa" (những tờ giấy da ghi chú) và “dấu hiệu của quái thú” (móng vuốt cào lên ngực Lou).

Cặp đôi sau đó đề nghị Cha Cooke thực hiện nghi lễ trừ tà ở căn hộ, rồi họ đưa Annabelle đến Bảo tàng Huyền bí của mình với hy vọng rằng sự ngự trị của linh hồn cũng kết thúc.

Nhưng sau khi Annabelle bị đưa khỏi căn hộ của Donna và Angie, hai nhà thần bí học Warren đã ghi lại một số trải nghiệm huyền bí khác liên quan đến con búp bê, chỉ trong vài phút đầu tiên họ quản lý nó. Sau lễ trừ tà, vợ chồng Warren buộc Annabelle vào băng ghế sau xe và tránh đi trên đường cao tốc đề phòng con búp bê có thể sử dụng quyền lực nào đó gây tai nạn với họ. Tuy nhiên, ngay cả những con đường nhỏ cũng là quá mạo hiểm.

Lorraine Warren bế búp bê Annabelle. Ảnh: Warrens’ Occult Museum

Trên đường về nhà, Lorraine cho biết hệ thống phanh bị khựng lại hoặc hỏng nhiều lần, khiến họ suýt gây ra những vụ tai nạn gần như thảm khốc. Chỉ đến khi Ed rút "Nước thánh" xức lên con búp bê thì trục trặc với hệ thống phanh mới biến mất.

Khi về đến nhà, Ed và Lorraine Warren đặt con búp bê trong phòng làm việc của Ed. Sau đó họ báo cáo rằng con búp bê đã bay lên tìm cách di chuyển trong nhà. Ngay cả khi bị nhốt trong một văn phòng khoá trái cửa ở ngoài toà nhà, con búp bê vẫn tìm cách xuất hiện trở lại trong nhà. Cuối cùng, cặp đôi nhà Warren quyết định nhốt Annabelle lại.

Họ chế tạo một hộp gỗ và kính đặc biệt, trên đó khắc "Lời cầu nguyện của Chúa" và "Lời cầu nguyện của Thánh Michael". Kể từ đó, ngày nào Ed cũng nhẩm lời chú để đảm bảo rằng linh hồn trong con búp bê không thể thoát ra ngoài.

Búp bê Annabelle tại Bảo tàng Huyền bí Warrens.

Kể từ khi bị nhốt, búp bê Annabelle đã không cử động trở lại mặc dù người ta cho rằng linh hồn bên trong nó vẫn tìm mọi cách để tiếp cận với thế giới bên ngoài. Một lần, một linh mục đến thăm Bảo tàng Warren đã cầm búp bê Annabelle lên và chế giễu sức mạnh ma quỷ của nó. Trên đường về nhà, vị linh mục này đã bị tai nạn chí tử, phá hỏng chiếc ô tô mới toanh của ông. Vị linh mục sau đó cho biết ông nhìn thấy Annabelle trong gương chiếu hậu xe ngay trước khi tai nạn xảy ra.

Nhiều năm sau, một du khách khác đã đập vào vỏ tủ kính đặt búp bê Annabelle và cười nhạo rằng mọi người đã ngớ ngẩn tin vào con búp bê ma. Trên đường về nhà, anh ta bị mất lái và lao thẳng chiếc mô tô vào gốc cây. Nạn nhân thiệt mạng tại chỗ, chỉ có bạn gái ngồi sau là thoát chết. Cô gái khai rằng vào thời điểm tai nạn xảy ra, hai người đang cười đùa về con búp bê Annabelle.

Trong những năm sau đó, vợ chồng Warren tiếp tục kể lại những câu chuyện đó như bằng chứng về sức mạnh khủng khiếp của búp bê Annabelle, mặc dù không vụ việc nào được chứng thực. Tên của vị linh mục trẻ và người lái xe mô tô không bao giờ được tiết lộ. Cả Donna và Angie, hai y tá là nạn nhân đầu tiên của Annabelle, thì không bao giờ kể lại câu chuyện của họ. Cha Cooke thì không đề cập đến việc trừ tà của mình một lần nào nữa.

Búp bê Annabelle lên phim

Cho dù có bất kỳ vụ ma ám nào thực sự xảy ra hay không, những câu chuyện về búp bê Annabelle đã trở thành chủ đề mà đạo diễn - nhà sản xuất James Wan cần để tạo nên một vũ trụ điện ảnh kinh dị sinh lời. Từ năm 2014, Wan đã viết kịch bản về búp bê ma ám Annabelle có khuynh hướng bạo lực, lấy cảm hứng từ búp bê Annabelle ngoài đời thực.

Tất nhiên, có một số điểm khác biệt giữa búp bê bị nhốt tại nhà Warrens và nhân vật điện ảnh của nó. Nếu như Annabelle thật là đồ chơi dành cho trẻ em với những đường nét phóng đại thì phiên bản điện ảnh của nó được lấy cảm hứng từ những con búp bê thủ công cổ điển làm bằng sứ với mái tóc bện và đôi mắt thủy tinh lấp lánh.

Cảnh trong phim "Annabelle: Creation". Ảnh: Getty Images

Những trò tai quái của Annabelle cũng được tăng cường để tăng kịch tính cho phim. Thay vì khủng bố một đôi bạn gái cùng phòng, trong phim Annabelle di chuyển từ nhà này sang nhà khác, tấn công các gia đình, chiếm hữu các thành viên của giáo phái Satanic, giết trẻ em, đóng giả thành một nữ tu và gây ra hỗn loạn trong chính ngôi nhà của Warren.

Wan đã xây dựng kịch bản cho ba bộ phim thành công về búp bê kinh dị và còn chưa dừng lại ở đó.

Bên trong bảo tàng "nhốt" búp bê Annabelle

Mặc dù cả Ed và Lorraine Warren đều đã qua đời, nhưng di sản của họ vẫn được con gái Judy và chồng là Tony Spera duy trì. Nhưng bất chấp những tuyên bố cảnh báo nguy hiểm về búp bê Annabelle, cặp đôi Warren có mối quan hệ phức tạp với sự thật. “Tác phẩm” của họ cuối cùng gần như đã bị bóc mẽ hoàn toàn.

Búp bê Annabell nằm ở một góc bảo tàng.

Một cuộc điều tra của Hiệp hội Hoài nghi New England đã chứng minh rằng các đồ tạo tác trong Bảo tàng Huyền bí Warrens chủ yếu là gian lận, trích dẫn các bức ảnh giả và lối kể chuyện phóng đại.

Những lo sợ về cuộc sống thực xung quanh búp bê Annabelle chỉ bùng lên nhiều hơn vào tháng 8/2020, khi xuất hiện thông tin cho rằng con búp bê đã “trốn thoát” khỏi Bảo tàng Huyền bí.

Mặc dù tin đồn lan truyền nhanh trên mạng xã hội, nhưng các báo cáo liền sau đó được xác định là không chính xác. Bản thân Spera đã đăng một đoạn video quay cảnh mình đứng bên cạnh búp bê Annabelle trong bảo tàng.

“Annabelle vẫn còn sống", Spera đảm bảo với mọi người. “Chà, tôi không nên nói là 'còn sống'. Annabelle đang ở đây trong tất cả vinh quang khét tiếng của nó. Con búp bê sẽ không bao giờ rời khỏi bảo tàng”, Spera tuyên bố.

Thu Hằng / Theo: Báo Tin tức (Theo ATI)

Tuesday, June 2, 2026

DẶM DÀI HỦ TIẾU - KỲ 1: NHỮNG QUÁN HỦ TIẾU ĐỜI NGƯỜI

Kể chuyện hủ tiếu thì khó biết bắt đầu từ đâu và kết thúc thế nào cho vẹn tròn. Bởi cùng với phở, tô hủ tiếu xưa nay đã trở thành những món ngon quá đỗi quen thuộc với người Việt.

Hủ tiếu mì xá xíu, món ngon từ thời ông Giang Hon đứng bán hơn 80 năm trước - Ảnh: MINH KỲ

Đặc biệt là dân Sài Gòn và phương Nam, hủ tiếu lại càng phổ biến từ bữa ăn sáng đến ăn khuya để rồi sinh ra đủ "trường phái" đặc trưng như hủ tiếu Sài Gòn, hủ tiếu Nam Vang, hủ tiếu người Hoa Chợ Lớn, hủ tiếu Sa Đéc, Mỹ Tho ...

Xin mời bạn đọc lang thang cùng dặm dài hủ tiếu. Và dặm dài ở đây xin hiểu là cả dòng thời gian lịch sử xưa nay cùng những quán ăn, nơi chốn thơm lừng món ngon.

Sợi hủ tiếu mềm dai, giá trụng giòn sần sật. Thịt heo ngọt mềm, quá đỗi là ngon. Rau hẹ thơm nồng vô cùng sảng khoái. Húp muỗng nước lèo ngọt thanh, đậm đà hương vị... Nhưng càng thú vị hơn nữa khi nhiều thực khách đã ăn riết như tri kỷ của chủ quán suốt cả đời người.

Quán chú Cẩu ba đời ở chợ Tân Định

Sách Địa chí văn hóa TP.HCM chép chợ Tân Định (phường Tân Định, TP.HCM) xây dựng vào năm 1926. Ngôi chợ vừa được UBND TP.HCM xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp TP.

Đây là điểm tham quan yêu thích của du khách trong và ngoài nước, đặc biệt là những Việt kiều trở về tìm lại các món ngon quê hương. Bản thân tôi lần nào về Sài Gòn dù bận rộn đến đâu cũng tranh thủ một vài lần la cà quán xá nơi bạc màu xưa cũ này.

Lần này thì kỹ sư xây dựng Võ Tấn Đạt (42 tuổi, quê Quảng Ngãi) làm việc cho công ty xây dựng người Nhật trụ sở gần đấy dẫn tôi ghé chợ ăn hủ tiếu người Hoa. Thuở trước nhiều người Hoa bán hủ tiếu quanh chợ Tân Định và cả Sài Gòn - Chợ Lớn. Họ mở quán bán cố định hay đóng xe hủ tiếu mưu sinh trên hè phố hoặc trong hẻm nhỏ thị thành.

Chúng tôi vào tiệm hủ tiếu người Hoa nằm trong chợ, phía bên đường Nguyễn Hữu Cầu có từ hơn 80 năm trước. Anh Giang Vỹ Thanh (42 tuổi, ở phường Tân Định, TP.HCM) đang bận rộn nấu hủ tiếu cho khách. Anh chính là thế hệ thứ ba trong gia đình mưu sinh bên xe hủ tiếu ở ngôi chợ nhộn nhịp trăm năm.

Hơn 80 năm trước, cụ nội Thanh là ông Giang Hon cùng người làng rời quê nhà Quảng Đông tránh khói lửa chiến tranh. Họ vượt biển đến Sài thành tìm kế sinh nhai. Ban đầu ông Hon bán hủ tiếu thuê cho người cùng quê sang định cư trước đó.

Vài năm sau ông kết hôn với cô gái gốc Hoa, con chủ lò hủ tiếu nơi thị thành. Vợ chồng ông thuê người đóng xe hủ tiếu gắn biển hiệu Giang Lâm Ký và cùng nhau mưu sinh tại ngôi chợ Tân Định tấp nập kẻ bán - người mua.

Bấy giờ, ông bà bán hủ tiếu xá xíu, mì xá xíu cho khách từ khắp nơi đến đây buôn bán. Nhiều người ngợi khen, nhất là xá xíu (thịt heo quay xuất phát từ Quảng Đông, Trung Quốc). Cuối thập niên 1980, ông giao xe hủ tiếu cho con trai Giang Cẩu sau gần 50 năm nhọc nhằn mưu sinh.

Từ đó nhiều người gọi là quán chú Cẩu bán những món ăn đậm đà hương vị. Thuở nhỏ, Giang Vỹ Thanh, con ông Cẩu, thường phụ giúp cha mẹ sau giờ học trên giảng đường. Rồi đến ngày anh thay cha nấu hủ tiếu phục vụ thực khách, dù anh đã tốt nghiệp ngành điện tử viễn thông.

Chừng 2h sáng, Thanh vào chợ mua thực phẩm và cùng mẹ, em trai, người giúp việc cặm cụi chế biến. Sớm mai anh lúi húi nấu cho khách những tô hủ tiếu xá xíu, hủ tiếu mì xá xíu, hủ tiếu mì cá, hoành thánh mì... với dư vị khó phai.

Tôi chậm rãi thưởng thức tô hủ tiếu mì xá xíu nóng hổi tỏa hương thơm dịu với giá 45.000 đồng. Những sợi mì và hủ tiếu dai mềm, xá xíu ngọt lịm tỏa hương thơm đặc trưng. Muỗng nước lèo hầm xương heo khiến tôi khựng lại trong giây lát. Vị ngọt từ xương hòa với mặn quyện lẫn chua, cay của gia vị thấm vào từng tế bào vị giác.

Ngơi tay giây lát, Thanh nhìn thực khách ăn ngon lành và nở nụ cười mãn nguyện. Nhiều lúc anh vui vẻ khi gặp lại khách quen. "Có nhiều khách ăn hủ tiếu từ thời ông nội đứng bán rồi đến ba và giờ đến em.

Nhiều người ra nước ngoài sinh sống khi trở về Sài Gòn tìm đến đây ăn hủ tiếu như để tìm lại ký ức của mình. Có hai khách hàng là vợ chồng người Hàn Quốc đến đây ăn khi mới cưới nhau. Giờ họ có bốn con vẫn thường ghé lại đây ăn hủ tiếu khi sang Việt Nam", Thanh tâm sự.

Quán của Giang Vỹ Thanh, cháu nội ông Giang Hon, ngày nay vẫn bình dân và có nhiều thực khách thân thiết - Ảnh: MINH KỲ

Hủ tiếu Sài Gòn sang Nhật

Mê mẩn vị ngon hủ tiếu Sài Gòn, tôi còn may mắn được bạn bè dẫn thưởng thức nhiều nơi. Và quán hủ tiếu tại số 1 đường Thành Mỹ, phường Tân Hòa là điểm đến của nhiều người suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Chủ quán, bà Võ Thị Thẳng (quê Quảng Ngãi) cùng chồng rời quê hương thuở còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Ban đầu, bà Thẳng giúp việc cho chị chồng rồi được giao hẳn quán hủ tiếu để kiếm tiền trang trải cuộc sống.

Ở tuổi 76, bà vẫn luôn tay bên xe hủ tiếu. Bà cho rau giá cùng sợi hủ tiếu vào vợt rồi trụng trong nước sôi sùng sục. Tiếp đến bà giật mạnh chiếc vợt lên cao cho giá và hủ tiếu ráo nước trước khi đổ ra tô. Người phụ nữ giúp việc đón lấy tô rồi cho ít nước mỡ cùng muỗng nhỏ nước nêm rồi dùng đũa đảo đều, hơi nóng cùng hương thơm tỏa ra xung quanh.

Bà cho xương, giò, thịt, bò viên, hoành thánh, phèo hay dạ dày heo vào tô tùy theo yêu cầu của khách. Sau đó bà cho thêm xà lách ngắt ngắn cùng rau hẹ rồi múc nước lèo vào tô, rắc ít tiêu xay nhuyễn và hành phi, hương thơm nồng nàn lan theo gió vờn trên con phố nhỏ. "Ở đây tôi bán hủ tiếu bò viên, hủ tiếu mì hoành thánh, hủ tiếu xương, hủ tiếu giò, hủ tiếu khô, hủ tiếu thập cẩm, tùy gu ăn của khách...", bà vui vẻ nói.

Người phụ quán niềm nở đặt tô hủ tiếu mì thịt nóng hổi tỏa hương thơm lên bàn cho khách. Tôi nhẹ tay vắt nước cốt chanh và gắp vài lát ớt cay vào tô rồi chậm rãi thưởng thức. Sợi hủ tiếu mềm dai, giá trụng giòn sần sật qua răng.

Miếng thịt cả nạc lẫn mỡ béo và ngọt mềm. Rau hẹ thơm nồng vô cùng sảng khoái. Húp muỗng nước lèo với vị ngọt thanh từ xương thịt lẫn vị chua từ chanh quyện với cay của tiêu ớt nơi đầu lưỡi...

Đời mẹ chưa ngơi tay bán, lại đến đời con đưa món ngon hủ tiếu đi xa. 20 năm trước, con gái út của bà Thẳng là chị Huỳnh Thị Kim Liêu xuất khẩu lao động tại Nhật Bản rồi sánh duyên với chàng trai xứ sở phù tang. Chị nấu các món ăn Việt như hủ tiếu chiêu đãi gia đình chồng và được khen ngợi hết lời.

Thế rồi chị nghĩ cần phải quảng bá ẩm thực Việt đến với đất nước của chồng. Thế là chị cùng người bạn thuê mặt bằng mở quán bán món ăn Việt ở thành phố Nishio, tỉnh Aichi. Nhiều người Nhật thưởng thức phở, hủ tiếu, bún bò, bánh mì, bánh cuốn... tại quán gật gù khen ngon. Bà con Việt kiều cư ngụ trong vùng và khu vực lân cận cũng tìm đến quán để được ăn lại những món quê hương.

Nhiều người xuýt xoa khen ngon khi ăn tô hủ tiếu đậm đà hương vị do chính tay chị nấu. "Từ nhỏ tôi đã thường phụ mẹ bán hủ tiếu nên thạo cách thức chế biến. Qua bên này tôi tìm mua những thứ cần thiết để nấu theo cách của mẹ để khách ăn ngon miệng...", chị Liêu tâm sự rồi lại bận bịu làm hai tô hủ tiếu Việt cho đôi vợ chồng người Nhật.

Bí quyết nước lèo

Bà Thẳng cùng con gái và bốn người giúp việc luôn kỹ lưỡng trong chế biến. Nước lèo là yếu tố quan trọng nhất quyết định tô hủ tiếu ngon hay dở nên được chăm chút cẩn thận. Xương heo luộc qua nước sôi rồi vớt ra rửa sạch trước khi cho vào thùng nấu nước lèo.

Họ còn dùng muối hạt và chanh chà xát để rửa sạch, khử mùi phèo cùng bao tử heo, sau đó mới ướp gia vị rồi cho vào luộc trong thùng nước lèo đang sôi sùng sục trên bếp. Họ gọt thêm củ cải trắng và củ sắn rồi xắt lát cho vào thùng nên nước lèo có vị ngọt thanh sau nhiều giờ nấu.

*************

>> Kỳ tới: Ăn hủ tiếu nay nhớ hủ tiếu xưa

Minh Kỳ / Theo: tuoitre

VÌ SAO NGƯỜI XƯA THƯỜNG KHUYÊN NÊN SỐNG THUẬN THEO MỆNH?

Trong cuộc đời, ai ai cũng mong muốn được thuận buồm xuôi gió, có vận khí tốt, có phúc khí, tiền tài dư đủ, gia đình hòa thuận, khỏe mạnh và trường thọ. Nhưng bao nhiêu người có thể được như ý?

(Hình minh họa: Qua sohu.com)

Văn hóa truyền thống cho rằng vận mệnh của con người là đã được Thượng Thiên an bài từ trước. Bởi vậy, con người phải kính Trời biết mệnh, chỉ có tích đức thủ đức mới có thể có phúc báo. Nhắc tới Lữ Mông Chính, chắc hẳn rất nhiều người đã nghe qua tên của ông. Ông là danh thần thời Bắc Tống, là một người độ lượng, hiền hậu, thật thà chất phác. Mỗi khi gặp chuyện sai trái, ông đều dám lên tiếng với thái độ khiêm tốn, khoan dung.

Lữ Mông Chính từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, sống cuộc sống lưu lạc, ăn xin. Ông còn bị người người xa lánh và khinh bỉ. Nhưng Lữ Mông Chính là người thông minh, lương thiện. Dù sống trong hoàn cảnh khốn khổ ấy nhưng ông chưa từng buông tha mục đích theo đuổi của mình. Ông dành rất nhiều thời gian để đọc sách, kinh thư cổ.

Một lần, Lữ Mông Chính đến một ngôi chùa cổ xin ăn và xin ngủ nhờ. Hơn nữa, ông còn mong muốn được ở lại chùa đọc sách học tập. Nhưng chỉ một thời gian sau, một số hòa thượng trong chùa sinh lòng ghét bỏ ông. Trước đây, họ thường gõ chuông trước, ăn cơm sau, nhưng hiện tại họ bắt đầu ăn cơm trước và gõ chuông sau khiến Lữ Mông Chính mỗi lần đến ăn đều không còn thứ gì. Cứ như vậy, ông thường xuyên nhịn đói học tập đọc sách.

Về sau, Lữ Mông Chính thi đỗ trạng nguyên, làm quan lớn trong triều ình. Địa vị của ông khi ấy chỉ ở dưới một người, đứng trên vạn người. Lúc này, ông viết ra và lưu truyền cuốn thiên cổ “Lữ Mông Chính châm ngôn”. Ông làm Tể tướng suốt 3 đời vua. Người đời ca ngợi ông tài đức nhưng ông lại cho rằng hết thảy những gì ông có được đều là do Thiên thượng an bài.

Ông từng làm một bài văn vần tên là “Phá diêu phú” trong đó đưa ra rất nhiều ví dụ về những câu chuyện nổi tiếng trong lịch sử, lấy đó để khuyên người đời. Ông nói rằng, hết thảy mọi sự trong thế gian này đều do Thiên thượng nắm trong tay, người ta cần phải hiểu Thiên mệnh, bất cứ việc gì cũng nên thuận theo tự nhiên, còn những việc cướp đoạt và tranh đấu vô nghĩa kia chẳng thể nào thay đổi được điều gì. Ông cũng lấy thiên văn chương ấy để giảng dạy cho Thái tử. Thời niên thiếu, Thái tử vô cùng kiêu ngạo không coi ai ra gì, nhưng sau khi xem xong tự nhiên thay đổi thái độ, trở nên khiêm tốn hơn rất nhiều.

(Ảnh minh họa: Nguồn qua kknews)

Trong “Phá diêu phú”, Lữ Mông Chính viết: Trời có mưa gió bất trắc khó lường, con người có những chuyện họa phúc bất ngờ. Con rết có trăm chân nhưng chạy không kịp con rắn. Gà trống có đôi cánh, nhưng bay không hơn gì con vịt. Con ngựa đi ngàn dặm đường, nhưng không có người cưỡi thì chẳng thể tự đi đến được. Người ta dù có chí khí ngút trời, nhưng vận số chưa đến thì cũng không làm nổi việc gì.

Có câu nói rằng: Con người sống ở thế gian, nếu được giàu sang phú quý cũng không thể phóng túng dâm đãng, dù nghèo khổ cũng không thể thay đổi chí hướng. Dù văn chương nổi tiếng hơn người, Khổng Tử cũng có lần bần cùng khốn khổ ở nước Trần. Dù võ lược siêu quần, Thái Công Khương Tử Nha cũng có lúc phải câu cá chờ thời ở sông Vị. Nhan Uyên nào phải là người hung ác, nhưng cũng chết sớm. Kẻ cướp đâu phải là người lương thiện, mà lại sống lâu?

Vua Nghiêu là một vị Thánh vương sáng suốt, lại sinh ra đứa con không ra gì. Cổ Tẩu (cha của Vua Thuấn) là kẻ ngu muội và ngoan cố nhưng lại sinh ra người con rất hiếu thảo. Trương Lương vốn là thường dân áo vải, nhưng gặp được Tiêu Hà mà trở thành quan huyện. Yến Tử, thân hình cao chưa đầy 5 thước mà được phong làm Tể Tướng nước Tề. Khổng Minh sống trong túp lều tranh, mà có thể làm Quân sư cho nhà Thục Hán.

Sở Vương tuy hùng mạnh, nhưng cuối cùng phải tự vẫn ở sông Ô giang. Hán Vương tuy yếu thế, mà lại có được giang sơn vạn dặm. Lý Quảng có oai phong bắn được hổ dữ, nhưng đến già vẫn không được phong tước. Phùng Đường có tài cưỡi rồng, mà suốt đời không có cơ hội. Hàn Tín khi chưa gặp thời, nghèo đến độ thường ngày không có đủ ba bữa cơm ăn, nhưng khi vận may đến, thì lưng đeo ngọc ấn dài 3 thước, một khi số mạng suy sụp thì cũng phải chết vào tay một người phụ nữ.

Có người trước nghèo khổ rồi sau lại giàu có, có người lúc còn trẻ yếu đuối mà về già lại khỏe mạnh. Có người bụng đầy văn chương, đến già cũng không thi đỗ, có người tài nghệ và học vấn nông cạn nhưng lại thi đỗ từ lúc còn thiếu niên. Cung nữ trong hoàng cung, gặp vận không may thì cũng thành kỹ nữ và hầu thiếp, gái lầu xanh gặp thời thế lại trở thành phu nhân quý phái. Mỹ nữ lại lấy người ngu xuẩn làm chồng, khôi ngô tuấn tú lại lấy người thô xấu làm vợ.

(Hình minh họa: Qua kknews.cc)

Rồng chưa gặp thời, cũng lặn cùng đám cá đám rùa, người quân tử khi thất thế cũng phải chắp tay dưới kẻ tiểu nhân. Khi nghèo khó áo quần rách nát, vẫn phải bảo tồn tác phong nghi lễ, khi gặp phải chuyện buồn, vẫn phải giữ cho tâm bình tĩnh. Thời thế chưa đến, chỉ nên an phận nghèo, nếu tâm chân thành không lừa dối, tất nhiên sẽ có ngày được mở mày mở mặt. Người quân tử ban đầu nghèo khổ, nhưng vẫn có cốt cách phong thái trời cho, kẻ tiểu nhân bất chợt giàu sang, thì vẫn cứ là người thấp kém.

Trời chưa gặp thời, thì mặt Trời mặt trăng không tỏa sáng, Đất chưa gặp thời, thì cây cỏ không sinh sôi. Nước không gặp thời, thì sóng gió sẽ nổi lên. Con người không gặp thời thì vận may không đến. Phúc và lộc của con người, trong số mạng đã được an bài định sẵn, giàu sang phú quý có ai mà chẳng muốn? Người ta nếu không theo căn cơ Bát tự, có thể nào làm quan làm tướng được không?

Về bản thân mình, ông cũng viết: Trước kia ta cư ngụ ở Lạc Dương, xin ăn của các nhà sư, tối ngủ trong một hốc đá đục bên sườn núi, quần áo không đủ che thân, thức ăn không đủ no lòng, người trên thì khinh ghét, kẻ dưới thì chán ngán. Đời sống của ta bần tiện, chẳng phải vì ta không tốt. Bây giờ ta ở chốn triều đình, làm quan đến cực phẩm, ở địa vị Tam Công, địa vị chỉ khom lưng dưới một người mà đứng trên cả ngàn vạn người, có quyền quất roi phạt trăm quan, có quyền chém kẻ nào không tốt. Quần áo có gấm vóc ngàn rương, thức ăn hàng trăm món ngon vật lạ, hễ ra ngoài là có tráng sĩ cầm côn bảo vệ, khi về nhà là có giai nhân hầu rượu, người trên yêu mến ta, kẻ dưới ủng hộ ta. Đời sống của ta phú quý, chẳng phải vì tài năng của ta, mà đó là thời của ta! Cũng là vận của ta! Cũng là Mệnh của ta!


Bởi vậy, con người sống trên thế gian, phú quý không thể dùng đến tận cùng, bần tiện không thể tự lừa dối bản thân, bởi vì Trời Đất tuần hoàn, xoay vần mãi mãi!

Theo: trithucvn

ĐỖ CÔNG BỘ THỤC TRUNG LY TỊCH - LÝ THƯƠNG ẨN


Đỗ Công bộ Thục trung ly tịch

Nhân sinh hà xứ bất ly quần?
Thế lộ can qua tích tạm phân.
Tuyết Lĩnh vị quy thiên ngoại sứ,
Tùng Châu do trú điện tiền quân.
Toạ trung tuý khách diên tỉnh khách,
Giang thượng tình vân tạp vũ vân.
Mỹ tửu Thành Đô kham tống lão,
Đương lô nhưng thị Trác Văn Quân.


杜工部蜀中離席

人生何處不離群
世路干戈惜暫分
雪嶺未歸天外使
松州猶駐殿前軍
座中醉客延醒客
江上晴雲雜雨雲
美酒成都堪送老
當壚仍是卓文君


Tiệc rượu chia tay 
với Đỗ Phủ ở đất Thục
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Nhân sinh thế sự hợp tan. 
Đường đời xa cách, chẳng bàn can qua. 
Sứ thần Tuyết Lĩnh còn xa. 
Tùng Châu tiền điện, xem ra quân về. 
Tiệc say khách tỉnh,khách mê. 
Trên sông mưa gió, dầm dề gió mưa. 
Rượu ngon uống mấy cho vừa. 
Văn Quân quán rượu say sưa mặc lòng.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Thương Ẩn 李商隱 (813-858) tự Nghĩa Sơn 義山, hiệu Ngọc khê sinh 玉谿生, người Hà Nội, Hoài Châu (nay là Tầm Dương, phủ Hoài Khánh, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ sa sút. Thuở thiếu thời giỏi văn thơ, được giao du với các con của tể tướng Lệnh Hồ Sở 令狐楚, trong đó có Lệnh Hồ Đào 令狐綯. Bấy giờ trong triều có hai phe đối nghịch nhau, tranh quyền đoạt lợi, một phe là Ngưu Tăng Nhụ 牛僧孺, phe kia là Lý Đức Dụ 李德裕, hầu hết quan lại đều bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp ấy. Sở theo phe Ngưu. Năm Lý Thương Ẩn mười bảy tuổi (829), Sở tiến cử làm tuần quan mạc phủ. Năm hai mươi lăm tuổi (837), ông lại được Lệnh Hồ Đào khen ngợi, nâng đỡ nên đỗ tiến sĩ năm Khai Thành thứ 2. Năm sau ông được Vương Mậu Nguyên 王茂元, tiết độ sứ Hà Dương mến tài, dùng làm thư ký và gả con gái cho. Chẳng may, Vương thuộc phe Lý Đức Dụ khiến ông trở thành kẻ vong ân bội nghĩa, xảo quyệt vô hạnh trong mắt Lệnh Hồ Đào. Vương Mậu Nguyên chết, rồi Lý Đức Dụ thất thế, ông đến kinh sư nhưng không được làm gì cả. Sau nhờ Trịnh Á vận động, ông được làm chức quan sát phán quan. Trịnh Á bị biếm ra Lĩnh Biểu, ông cũng đi theo. Ba năm sau ông lại trở về, làm huyện tào tại Kinh Triệu. Ông nhiều lần đưa thư, dâng thơ cho Lệnh Hồ Đào để phân trần và xin tiến dẫn, nhưng vẫn bị lạnh nhạt. Tiết độ sứ Đông Thục là Liễu Trọng Hĩnh dùng ông làm tiết độ phán quan, kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Liễu bị bãi quan, ông cũng mất chức. Như thế là ông mắc kẹt giữa hai phái, chưa hề được đắc chí trên hoạn lộ, cứ bôn tẩu khắp nơi: Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Từ Châu nương nhờ hết người này đến người khác, long đong khốn khổ. Cuối cùng ông về đất Oanh Dương thuộc Trịnh Châu rồi bệnh chết năm 46 tuổi.

Nguồn: Thi Viện