Thursday, September 24, 2026

THÂN THỂ CỦA BẠN LÀ MỘT CON THUYỀN QUÝ BÁU VÔ GIÁ

Y học hiện đại trị bệnh đa phần đều là khi bệnh đã có triệu chứng thì mới bắt đầu chữa trị, đau đầu thì chữa ở đầu, đau chân thì chữa ở chân, có khối u thì cắt bỏ… Nhưng vẫn có một số bệnh không thể chữa trị được, nguyên nhân sâu xa là vì nó liên quan đến nghiệp lực, một thứ mà khoa học hiện đại không thể đụng chạm đến được.

Thân thể con người là một con thuyền quý báu vô giá (ảnh chụp màn hình Istockphoto)

Căn bệnh ung thư hành hạ nhiều năm trời

Dưới đây là lời kể của thầy thuốc Trung y Ngọc Lâm về một người đồng nghiệp của mình:

Katie là bác sĩ tây y, bệnh viện nơi cô ấy làm việc rất gần phòng khám của tôi. Cách đây bảy năm cô ấy bị ung thư vú. Lúc đó, giống như các bệnh nhân ung thư khác, cô đã thực hiện phẫu thuật sớm cắt bỏ hết vú; sau đó là hóa trị và xạ trị. Tóc của cô ấy rụng sạch sau rồi lại mọc dài lại. Sau đó, cô cảm thấy như thể đã hoàn thành nhiệm vụ, không còn nghĩ về nó nữa; như thể hết thảy chuyện này chưa hề xảy ra.

Không ngờ, căn bệnh ung thư này chỉ chữa được chưa đến 5 năm lại phát tác. Lần này khối u đột nhiên bắt đầu từ chỗ cũ, nhanh chóng xuyên qua da thịt và lan từ trong ra ngoài da; nó cứng như đá, bề mặt sần sùi, không bằng phẳng, ăn sâu vào nhiều mạch máu và dây thần kinh khiến cô ấy đau đớn vô cùng. Cô chuyển từ một viện nghiên cứu ung bướu sang một bệnh viện chuyên khoa khác; chụp rất nhiều phim và đã làm xét nghiệm bằng các loại thiết bị tiên tiến, nhưng các chuyên gia y tế đều bó tay.

Y học hiện đại đã bó tay

Một lần, cô ấy tìm đến phòng khám của tôi để khám bệnh. Cô ấy điền vào bảng kê theo trình tự, và ở cuối cô ấy viết thêm những dòng này: “Bệnh ung thư giai đoạn cuối, có lẽ chỉ sống thêm một hoặc hai tháng, Thượng Đế và bản thân tôi đã định buông xuôi rồi. Tôi đến đây chỉ để tìm cách tạm thời giảm bớt sự đau đớn”.

Lúc đó cô ấy từ sáng đến tối phải mang một cái túi. Trong đó có một bình nước truyền morphin; một cái ống một đầu nối với bình nước một đầu gắn lên người cô ấy…

Cô ấy nói với tôi trong nước mắt: “Hiện tại tôi thực sự thất vọng đối với Tây y. Họ coi con người như những cỗ máy. Họ chỉ biết thay thận, thay gan, cắt bỏ các cơ quan nội tạng; còn nào là đóng đinh, đặt ống, đóng thêm nẹp thép… Tất cả những thứ này đều không có tác dụng với tôi; tôi coi như đã hỏng rồi”.

Nghe những điều này khiến tôi không khỏi suy nghĩ: Đúng vậy, máy móc là do con người tạo ra, mà con người là do Thần linh tạo ra. Cơ thể con người bằng xương bằng thịt bằng máu và có linh tính vốn là hòa một thể với vũ trụ; sử dụng những thứ đồ bằng sắt và đồ điện nhân tạo để sửa chữa cơ thể người thì làm thế nào có thể thực sự giải quyết vấn đề được?

Thân thể và tinh thần là một thể thống nhất (ảnh Facebook)

Thân thể con người là một tiểu vũ trụ

Tôi hỏi cô ấy: “Cô có câu thông được với cơ thể của mình không?”

Cô ấy sững sờ, dường như không rõ câu hỏi của tôi, rồi đột nhiên như hiểu ra điều gì đó, cô ấy hỏi: “Ông nói rằng con người có thể câu thông với cơ thể của mình sao?” Cô có vẻ rất đau đớn, tiếp tục nói: “Tôi hận cái cơ thể xấu xí hiện nay của tôi, nó đã mọc lên những khối u đáng sợ mà tôi không bao giờ thừa nhận. Nhưng tôi phải hàng ngày sống chung với nó; bị nó hành hạ, bị nó kiểm soát”.

Cô nghiến răng căm hận và hoàn toàn tuyệt vọng. Với tâm trạng rối bời khó tả này, nước mắt cô không ngừng chảy trên khuôn mặt. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy một bác sĩ kiêu ngạo, đã từng rất giỏi và thành công, lại phải chịu khuất phục với cơ thể mình trong đau đớn và tuyệt vọng như vậy.

Cô tiếp tục tâm sự: “Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ trở thành một linh hồn vĩnh viễn sẽ không bao giờ bị đau đớn về thể xác nữa; tôi sẽ được giải thoát. Tuy nhiên, nếu Thượng Đế cho tôi thêm một cơ hội nữa; ban cho tôi thêm một cơ thể người nữa, tôi sẽ sống như ông. Ông biết đấy, khi tôi thường xuyên thấy lúc ông ngồi ở đó luyện công, tôi thực sự rất ngưỡng mộ ông – ông biết cách chăm sóc tâm hồn và thân thể của ông. Thật đáng tiếc, giờ thì đã quá muộn đối với tôi; mọi thứ đều không kịp nữa…”

Hãy trân trọng thân thể của chính mình

Katie đã ra đi. Trong bảy năm, từ khi cô bị bệnh cho đến lúc qua đời, nhìn người phụ nữ trạc tuổi tôi; người đã từng khỏe mạnh và xinh đẹp này qua đời, lòng tôi cảm thấy tiếc nuối vô hạn.

Bạn thân mến, qua câu chuyện vừa kể, bạn có từng nghĩ đến việc chúng ta đối xử với cơ thể quý giá của chúng ta như thế nào không? Điều này có mối liên hệ chặt chẽ với tâm của chúng ta. Sự hối hận của Katie đã nói cho chúng ta rằng, chúng ta phải trân trọng cơ thể của mình; đừng để đến lúc cuối cùng không còn thời gian nữa mới hối hận thì đã quá muộn.

Bệnh nan y là do nghiệp lực của con người

Tai họa cần được giải quyết trước khi nó phát sinh (ảnh DKN)

Lý Đức Phù là một thầy thuốc Trung y gia truyền, phương pháp chữa bệnh của ông rất thần kỳ, giúp tiêu trừ đau đớn cho nhiều bệnh nhân. Ông cho rằng trong các bệnh nhân mà ông điều trị, hầu hết có thể chứng tỏ sự thần kỳ của Trung y, nhưng không phải tất cả đều như vậy.

Trên thực tế, rất nhiều căn bệnh nan y có liên quan tới nghiệp lực của con người. Nghiệp lực của một người qua đời đời kiếp kiếp lớn hay nhỏ sẽ quyết định mức độ nặng nhẹ của bệnh tật. Là một thầy thuốc, biết rõ nguyên nhân trong đó, nhưng ông không thể giải thích rõ, cũng khó diễn tả bằng lời.

Thói đời ngày nay, đạo đức thấp kém, các căn bệnh kỳ lạ cũng nhiều. Bệnh nhân lại chuộng những bác sĩ giỏi điều trị triệu chứng; đau đầu chữa đầu, đau chân chữa chân. Mặc dù bệnh nặng toàn thân, nhưng vẫn cứ muốn uống thuốc hợp với khẩu vị của mình; châm những huyệt vị không đau, chọn thời gian rảnh rỗi để chữa bệnh; không biết rằng tính mệnh của mình sẽ sớm lụi tàn.

Người xưa nói: “tích vị nguy chi mệnh, trị vị bệnh chi bệnh”. Nghĩa là: trân quý những sinh mạng chưa bị bệnh hiểm nguy, điều trị các căn bệnh khi chưa thành bệnh. Điều này cùng đạo lý với một câu cổ ngữ khác: “Chớ để đến lúc khát nước rồi mới đào giếng”.

Tai họa cần được giải quyết trước khi nó phát sinh

Lão Tử nói: “Vi chi ư vị hữu, trị chi ư vị loạn. Hợp bão chi mộc, sinh ư hào mạt; cửu tầng chi đài, khởi ư lũy thổ”. (dịch nghĩa: Ngăn ngừa sự tình từ khi chưa manh nha, trị loạn từ khi chưa thành hình. Cây lớn nhiều người ôm, khởi sinh từ cái mầm nhỏ; đài cao chín tầng khởi từ một sọt đất). Điều này có nghĩa là trước khi sự việc chưa xảy ra cần phải được xử lý; trước khi tai họa chưa phát sinh cần phải được giải quyết. Cây gỗ to được lớn lên từ những chồi non; đài cao chín tầng được chất lên bởi những sọt đất.

Con người đến phút cuối vẫn tất bật vì cuộc sống; lại còn bị thất tình lục dục liên tục làm hao mòn; hình dáng ngày một gầy guộc, tóc ngày một bạc dần. Đến khi bệnh nặng thống khổ thì vái tứ phương tìm thầy tìm thuốc để giữ mạng, có đáng thương không?

Lão Tử đã bàn luận rất sâu sắc về vấn đề này. Ông nói: Người có tu dưỡng đạo đức thì trong sáng, thuần chân nhu hòa như em bé. Côn trùng độc không cắn người ấy; thú dữ không vồ người ấy; ác điểu không quắp người ấy. Xương và gân của cậu ta mềm nhưng rất vững chắc; người ấy có thể hét to, nhưng giọng của cậu ta sẽ không bị khàn; điều đó là do duyên cớ hòa khí của người ấy to lớn sâu dày.

Thân thể con người là một con thuyền quý báu, muốn đi tới đâu là do bản thân tự chọn (ảnh chụp màn hình Istockphoto)

Thân thể con người là một con thuyền quý báu vô giá

Tinh khí và hòa khí là gốc rễ của sinh mệnh, người sáng suốt hiểu được cái gốc rễ này. Truy cầu cuộc sống hưởng thụ quá mức chính là tai họa. Làm việc theo cảm tính và bị chi phối bởi dục vọng chính là kiên cường; đó là điều trái với mềm dẻo. Sự vật hình thành rồi thì phải đi đến già nua. Nếu không hiểu điều này mà cưỡng cầu sự cường thịnh tráng kiện, nó được gọi là không phù hợp với “Đạo”; không phù hợp với “Đạo” thì sẽ nhanh chóng tiến đến diệt vong.

Người xưa nói thiên địa vĩnh cửu. Thiên địa sở dĩ vĩnh cửu là do trời đất vô tư; là do nó không sinh tồn vì bản thân nó. Nếu một người trước hết có thể nghĩ đến người khác; không mưu danh, không cầu lợi, không ham sắc dục, không hám tiền; không chấp vào mùi vị, không tật đố, thì bệnh sao mà sinh ra được? Vì vậy, đạo trời được lấy làm tiêu chuẩn, đạo làm người phải thuận theo đạo trời.

Trong câu chuyện về sự tu luyện của Phật Mật Lặc Nhật Ba, Ông nói: Thân thể con người này, là một con thuyền quý báu vô giá đối với những người có phúc đức và thiện lương. Con thuyền quý báu này sẽ được sử dụng để vượt qua dòng sông sinh tử đến bến bờ bên kia của sự giải thoát! Đối với những người làm điều ác và gây ra tội ác, nhục thân này là một vực thẳm đầy cám dỗ.

Điều này có nghĩa là một người muốn đi đâu, tất cả là nhờ xem con thuyền của mình đi hướng nào.

Ngọc Lâm/Lý Đức Phù
Theo: Chánh Kiến

Wednesday, September 23, 2026

TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM ĐƯỢC TỔNG THỐNG MỸ EISENHOWER RA ĐÓN Ở SÂN BAY TRONG CHUYẾN VIẾNG THĂM MỸ NGÀY 08/05/1957

Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã nhận được sự chào đón nồng nhiệt và được ca ngợi là lãnh đạo của một " quốc gia tự do " trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Các phương tiện truyền thông Mỹ đã được vận động để tạo dư luận thuận lợi cho tổng thống VNCH, và TT. Diệm đã được miêu tả như một nhà vô địch của chế độ dân chủ.

U.S. President Dwight D. Eisenhower and Secretary of State John Foster Dulles (from left) greet South Vietnamese President Ngo Dinh Diem at Washington National Airport. 05/08/1957

Cụ thể, tờ The Washington Post đã dành bốn trang viết về tiểu sử Ngô Đình Diệm và giật tít "Diệm-Biểu tượng của Châu Á Tự Do mới". Tờ Washington Evening Star để tiêu đề "Chào mừng nhà vô địch" và mô tả Diệm là "một chiến binh hùng mạnh và có hiệu quả để chống chủ nghĩa cộng sản". Tờ New York Times ca ngợi cuộc viếng thăm đã "thúc đẩy sự nghiệp tự do và dân chủ ở Châu Á". Tờ Boston Globe gọi Diệm là "Người đàn ông sắt của Việt Nam".

Ike Welcomes Vietnam Chief (1957)

Đích thân tổng thống Dwight D. Eisenhower ra đón Diệm tại sân bay, một vinh dự đặc biệt. Sau 21 phát đại bác, 50.000 người xếp hàng hai bên đường khi xe chở Diệm đi qua, và bài phát biểu trước quốc hội Mỹ đã được cả 2 đảng hoan nghênh. Tại New York, Diệm được chính quyền thành phố tổ chức một cuộc diễu hành di động qua Manhattan với 250.000 người tham gia. Đại học Seton Hall trao cho Diệm bằng tiến sĩ danh dự. Ngày 15 tháng 5, tổng thống VNCH có bài phát biểu trước 4.000 người ở Đại học Tiểu bang Michigan và được trao thêm một bằng danh dự nữa; Thống đốc bang Mennen Williams còn ấn định ngày đó là "ngày Ngô Đình Diệm".

New York Hails Vietnam's President Diem (1957)

Thế nhưng, vận đổi sao dời. Chỉ 6 năm sau, Ngô Đình Diệm bị sát hại trong một cuộc đảo chính do Mỹ hậu thuẫn.

Theo: lichsuvn.net

Link tham khảo:

09/05/1957 USA: President Ngo Dinh Diem Speaks At The Congress / Leaves Conference After The Speech


TẦM ẨN GIẢ BẤT NGỘ - GIẢ ĐẢO


Tầm ẩn giả bất ngộ

Tùng hạ vấn đồng tử,
Ngôn sư thái dược khứ.
Chỉ tại thử sơn trung,
Vân thâm bất tri xứ.
尋隱者不遇

松下問童子
言師採藥去
只在此山中
雲深不知處


Tìm ẩn sĩ không gặp
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Rừng thông hỏi chú tiểu đồng.
"Thầy đi hái thuốc, bận không có nhà".
Chỉ tay về phía rừng già.
Mây dày ngập lối, biết là hướng đâu ?.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Giả Đảo 賈島 (779-843) tự Lãng Tiên 浪先 (còn viết là 閬先), hiệu Kiệt Thạch sơn nhân 碣石山人, người Phạm Dương 范陽, nay thuộc thành phố Trác Châu, tỉnh Hà Bắc, là một thi nhân trứ danh đời Đường, được người đời gọi là “Thi nô” (nô bộc của thơ).

Thuở nhỏ ông xuất gia làm hoà thượng, pháp hiệu là Vô Bản 無本. Thời đó ở Lạc Dương có lệnh cấm hoà thượng ra ngoài sau giờ trưa, Giả Đảo làm thơ phản đối, được Hàn Dũ 韓愈 phát hiện ra tài hoa. Sau ông thụ giáo Hàn Dũ, hoàn tục và tham gia khoa cử, nhưng thi mấy lần không đỗ. Thời Đường Văn Tông, ông bị biếm ra là Chủ bạ huyện Trường Giang ở Toại Châu, nên người đời còn gọi không là Giả Trường Giang. Đời Đường Vũ Tông, ông làm Tham quân ở Phổ Châu, rồi đổi làm Ty hộ, chưa kịp nhậm chức thì bệnh mất.

Giả Đảo sống một đời sầu bi, lấy khổ ngâm làm thơ. Thơ ông đã phần miêu tả cảnh hoang lương, khô tịch, sở trường thơ ngũ ngôn luật thi, tề danh cùng với Mạnh Giao 孟郊, nên người đời sau còn có câu “Giao hàn Đảo sấu” 郊寒島瘦 để nói về phong cách thơ của hai người. Tác phẩm của ông có Trường Giang tập 長江集.

Nguồn: Thi Viện



VÌ SAO TỔ CHIM LẠI HƯỚNG MIỆNG LỘ THIÊN LÊN TRÊN MÀ KHÔNG QUAY NGANG?

Vì sao đa số tổ chim đều có miệng hướng lên trên thay vì quay ngang? Câu trả lời nằm ở hàng triệu năm tiến hóa, liên quan đến cách chống mưa, đón nắng, giữ nhiệt và bảo vệ chim non. Hiểu đúng sẽ thấy đây là một trong những thiết kế tự nhiên đáng kinh ngạc nhất.


Tổ chim tưởng như đơn giản nhưng lại là một "công trình kiến trúc" được hoàn thiện qua quá trình tiến hóa rất dài. Nhiều người thắc mắc vì sao phần lớn tổ chim dạng chén đều mở miệng hướng lên trời thay vì quay ngang như một chiếc hang nhỏ. Thực tế, cách xây này giúp chim cân bằng nhiều yếu tố cùng lúc, từ thời tiết đến an toàn cho chim non.

1. Miệng tổ hướng lên giúp giữ trứng và chim non an toàn hơn

Nhìn qua, nhiều người nghĩ miệng tổ hướng lên sẽ dễ hứng mưa. Tuy nhiên, với đa số loài chim làm tổ dạng chén, điều quan trọng nhất là giữ trứng và chim non không bị rơi khỏi tổ khi có gió mạnh hoặc khi chim bố mẹ liên tục ra vào.

Tổ thường có thành khá cao, đáy sâu và được đan rất chặt bằng cỏ khô, rễ cây, lông vũ hoặc bùn. Cấu trúc này tạo thành một chiếc "bát" ôm sát trứng, giúp chúng ổn định ngay cả khi cành cây rung lắc. Nếu miệng tổ quay ngang, chỉ cần một cú va chạm mạnh hoặc gió lớn, nguy cơ trứng lăn ra ngoài sẽ tăng đáng kể.

Ngoài ra, chim non sau khi nở thường chưa đủ sức bám. Thành tổ bao quanh giúp chúng được giữ cố định trong những ngày đầu đời, khi bộ lông còn chưa phát triển đầy đủ và khả năng giữ thăng bằng rất hạn chế. Và chức năng chính của tổ chính là nơi giữ trứng và chim non nên điều này đảm bảo yếu tố quan trọng nhất của tổ trứng, nó không giống như những lồng chim giữ chim trưởng thành thì cửa nên quay ngang để chim dễ bay ra, dễ đưa chim ra ngoài.


2. Mưa nắng không đáng sợ như nhiều người nghĩ

Không phải loài chim nào cũng làm tổ lộ thiên. Những loài có tổ dạng chén thường chọn vị trí dưới tán lá rậm, trong bụi cây hoặc nơi cành lá che phủ tự nhiên. Chính lớp "mái nhà" này mới là hàng rào đầu tiên giúp giảm lượng nước mưa rơi trực tiếp xuống tổ.

Khi trời mưa, nước thường chảy theo lá và cành trước khi nhỏ xuống đất. Bên cạnh đó, nhiều vật liệu làm tổ như cỏ khô, rêu, lông vũ hay sợi thực vật có khả năng thoát nước và giữ nhiệt tương đối tốt. Chim bố mẹ cũng thường dùng thân mình che tổ trong những trận mưa lớn để hạn chế chim non bị lạnh.

Về nắng nóng, chim thường chọn hướng và vị trí làm tổ tránh ánh nắng gay gắt giữa trưa. Những nơi có bóng râm ổn định giúp nhiệt độ trong tổ không tăng quá cao. Vì vậy, yếu tố quyết định không phải miệng tổ quay lên hay quay ngang, mà là vị trí đặt tổ trong môi trường tự nhiên.


3. Không phải tổ nào cũng hướng lên trên

Quan sát kỹ sẽ thấy thiên nhiên không chỉ có một kiểu tổ chim. Mỗi loài lại có "thiết kế" phù hợp với môi trường sống và tập tính riêng của mình.

Chim én, chim yến xây tổ bám vào vách, miệng tổ hướng ra ngoài nhưng phần đáy rất sâu để giữ chim non. Chim bói cá hay chim trảu đào hang trong đất, cửa tổ nằm ngang vì cả đường hầm dài phía sau mới là nơi nuôi con. Chim gõ kiến lại khoét hốc cây với cửa nhỏ để hạn chế mưa và kẻ săn mồi.

Điều này cho thấy hướng của miệng tổ không phải quy luật cứng nhắc. Mỗi kiểu đều là kết quả của quá trình thích nghi với môi trường sống, nguồn thức ăn và nguy cơ từ thiên địch.


4. Thiết kế của tổ chim là kết quả của hàng triệu năm tiến hóa

Chim có thể không "tính toán" như con người khi xây tổ nhưng chúng hành động theo bản năng đã được chọn lọc qua rất nhiều thế hệ. Những kiểu tổ giúp chim non sống sót cao hơn sẽ có cơ hội được duy trì lâu dài.

Qua thời gian, kích thước tổ, độ sâu, vật liệu sử dụng và vị trí xây tổ đều dần tối ưu để thích nghi với khí hậu từng vùng. Chính vì vậy, cùng một loài nhưng sống ở khu vực khác nhau vẫn có thể tạo ra những chiếc tổ có hình dáng và độ dày khác biệt.

Điều thú vị là mỗi chiếc tổ chỉ được sử dụng trong một giai đoạn sinh sản nhất định, nhưng lại hội tụ rất nhiều "giải pháp kỹ thuật" tự nhiên: giữ nhiệt, chống rung, giảm thất thoát năng lượng, bảo vệ trứng và hỗ trợ chim non phát triển an toàn.

Dạ Ngân / Theo: phunutoday

Tuesday, September 22, 2026

"ĐẾ CHẾ BỊ LÃNG QUÊN": KHI NGA ĐÔ HỘ CALIFORNIA

Trong gần 30 năm, một phần Sonoma nằm dưới sự cai trị của nước Nga Sa hoàng, và nơi đây đóng một vai trò then chốt – dù ít được biết đến – trong việc định hình nước Mỹ.

Nguồn hình ảnh: A Polotnova & Serenity Strull

Từ San Francisco lái xe về phía bắc đến Fort Ross (Крѣпость Россъ) mất hai giờ, qua một cung đường đẹp.

Sau khi xuyên qua màn sương ở Cổng Vàng, tôi đi qua những vườn nho cháy nắng đến vùng bờ biển hẻo lánh của Sonoma và hạ cửa kính xe.

Bên trái tôi, California đổ dốc thẳng xuống Thái Bình Dương, nơi những chú hải cẩu sủa vang từ những tảng đá nhô lên giữa những lớp sóng trắng xóa. những vách đá dựng đứng vươn cao, còn những cây tùng đỏ khổng lồ vươn thẳng lên từ những đoạn đường quanh co ngoằn ngoèo.

Đột nhiên, một nhà nguyện đơn độc với hai mái vòm, trên đỉnh là những cây thánh giá Chính thống giáo hiện ra trên nền đại dương xanh.

Tôi bước ra khỏi xe và đi theo một con đường mòn, ngang qua một biển báo chữ Cyrillic, hướng về phía một pháo đài bằng gỗ, mang dáng dấp pháo đài thời kỳ biên giới, được xây dựng ở độ cao 46 mét trên đỉnh một vách đá nhô ra biển.

"Chào mừng đến với Pháo đài Ross (Крѣпость Россъ), vùng cực nam của Đế quốc Nga," Chris Kimsey, một nhà khảo cổ học của Công viên Tiểu bang California, nói.

Nga từng tuyên bố chủ quyền đối với một dải bờ biển tuyệt đẹp của California trong gần 30 năm. Nguồn hình ảnh: Alamy

Hằng năm, hàng triệu du khách bắt đầu hành trình trên tuyến đường cao tốc ven biển Thái Bình Dương, một trong những con đường ngoạn mục nhất nước Mỹ, ôm trọn toàn bộ bờ biển California.

Nhưng rất có thể, ít người trong số những du khách lái xe đường dài này nhận ra rằng ẩn mình tại một mũi đất hẻo lánh cách San Francisco 145km về phía bắc là một di tích từ thời kỳ mà một phần California nằm dưới sự cai trị của nước Nga Sa hoàng.

Tôi thì không biết điều đó, và xét vẻ vắng lặng đến kỳ lạ của Pháo đài Ross, dường như tôi không phải là người duy nhất.

"Ngay cả hầu hết người California cũng không biết rằng Nga từng có một thuộc địa ở California," Kent Lightfoot, một nhà nhân chủng học tại Đại học California, Berkeley, sau đó nói với tôi. "Họ đều biết về người Tây Ban Nha và người Mexico, nhưng hầu như không ai biết gì về việc người Nga từng ở đây. Nó giống như một đế chế bị lãng quên."

Mặc dù một số người Mỹ có thể nhớ rằng Alaska, bang lớn nhất của Mỹ, từng thuộc về Nga trong gần 70 năm, thuộc địa hải ngoại lâu dài duy nhất của Đế quốc Nga, được gọi là Russian America (phần châu Mỹ của nước Nga), cũng từng mở rộng tới California trong giai đoạn 1812-1842.

Trên thực tế, người Nga đã định cư tại California từ nhiều thập niên trước khi những người Mỹ của quốc gia mới giành độc lập đến sinh sống tại đây.

Pháo đài Ross (viết tắt của Rossiya, nghĩa là "Nga"), mang tính đột phá và đa văn hóa một cách đáng kinh ngạc, được dự định trở thành vựa lương thực cho các khu định cư đang gặp khó khăn của Nga ở Alaska, nhưng nó cũng trở thành nguồn gốc những kế hoạch bành trướng của Nga trên khắp Bắc Mỹ, vốn gây ra nhiều tranh cãi gay gắt.

Người Nga đã định cư ở California nhiều thập niên trước khi người Mỹ giành độc lập. Nguồn hình ảnh: Alamy

Khởi nguồn phần châu Mỹ của nước Nga

Khi các cường quốc châu Âu bành trướng về phía tây vào thế kỷ 15 và 16, Nga lại bành trướng về phía đông.

Đến những năm 1640, các thương nhân buôn lông thú và lính đánh thuê người Nga đã tràn qua Siberia để đến bờ biển Thái Bình Dương.

Cuộc chạy đua này đã dẫn đến việc hình thành các khu định cư lâu dài của người Nga dọc theo các đảo và bờ biển Alaska.

Năm 1799, Sa hoàng Paul I chính thức hóa các tuyên bố chủ quyền của đế quốc đối với Alaska bằng cách thành lập Công ty Nga-Mỹ.

Được mô phỏng theo Công ty Đông Ấn Anh, liên doanh vì lợi nhuận này không chỉ kiểm soát việc buôn bán lông thú mà còn kiểm soát toàn bộ Alaska như một thuộc địa do doanh nghiệp quản lý.

Nhưng có một vấn đề: trong khi công ty này làm giàu nhờ lông rái cá biển, những người định cư lại ngày càng đói vì họ không thể canh tác trên phần lớn vùng đất băng giá của Alaska.

Vì vậy, những người định cư Nga đã giong buồm về phía nam để tìm kiếm nơi có khí hậu ấm áp hơn và các đối tác thương mại Tây Ban Nha.

Giấc mơ California

Vào tháng 4/1806, khi thuộc địa của mình bị nạn đói đe dọa và thủy thủ đoàn bị suy giảm nghiêm trọng do bệnh scorbut (chứng bệnh thiếu hụt vitamin C nghiêm trọng), giám đốc Công ty Nga-Mỹ Nikolai Rezanov đã lái con tàu Juno tiến vào Vịnh San Francisco.

Khi con tàu hai cột buồm chật vật tiến về khu định cư cực bắc của Tây Ban Nha ở California, một người línhTây Ban Nha đã dùng loa phóng thanh yêu cầu tàu lạ xưng danh.

"Nga," một giọng nói đáp lại.

Đó là câu trả lời mà người Tây Ban Nha đã dự liệu gần 40 năm.

Mặc dù tuyên bố toàn bộ California thuộc về mình từ năm 1542, thực tế phải đến năm 1769 Tây Ban Nha mới chiếm đóng vùng đất này, sau khi nhận được tin những thương nhân buôn lông thú Nga đang nhanh chóng tiến về phía đông qua các đảo của Alaska.

Để ngăn chặn Nga và Anh tiến quân, Tây Ban Nha lập một chuỗi các đồn quân sự dọc theo bờ biển, bắt đầu từ San Diego.

"Xét trên nhiều phương diện, sự mở rộng của toàn bộ Alta [Thượng] California được người Nga thúc đẩy," Lightfoot nói. "Người Tây Ban Nha lo lắng về việc người Nga tiến xuống phía nam. Vì vậy, việc thành lập San Diego, Santa Barbara, Monterey và San Francisco là một phản ứng trước người Nga ở Alaska."

Pháo đài Ross mang một cảm giác kỳ lạ, cô độc. Nguồn hình ảnh: Alamy

Trong thời gian sáu tuần lưu trú tại San Francisco, vị chính khách 42 tuổi – ông Rezanov – bảo đảm đủ lương thực từ phía Tây Ban Nha để cứu những người thực dân đang chết đói ở Alaska, bằng cách đính hôn với cô con gái 15 tuổi của chỉ huy quân sự Tây Ban Nha tại San Francisco.

Khi đi thuyền trở lại qua Cổng Vàng, Rezanov nhận ra rằng toàn bộ bờ biển phía bắc California không được phòng thủ và có nhiều nắng hơn Siberia hay Alaska, vì vậy ông nảy ra kế hoạch mở rộng lãnh thổ của Nga ở Bắc Mỹ tới California.

Năm 1812, sau nhiều năm âm thầm khảo sát bờ biển, 25 người Nga và 80 thợ săn bản địa Alaska đã tới định cư trên một cao nguyên thoai thoải nhìn ra Thái Bình Dương, nơi vùng bờ biển gồ ghề nay thuộc hạt Sonoma.

Tại đây, đủ gần với quần thể rái cá biển phong phú của khu vực nhưng đủ xa vùng biên giới phía bắc được phòng thủ sơ sài của Đế quốc Tây Ban Nha, họ sống trong một khu định cư được thiết kế theo kiểu Siberia, dựng bằng gỗ tùng đỏ California, dưới lá cờ đại bàng hai đầu của Sa hoàng.

Khám phá thuộc địa California của Nga

Ngày nay, thuộc địa xa xôi của Nga ở California vẫn là một nơi đơn độc, kỳ lạ.

Nằm cách thị trấn hoặc dịch vụ điện thoại di động gần nhất 19km, những dấu tích bằng gỗ đã phong hóa của một khu định cư từng nhộn nhịp này hướng ra biển, với tầm nhìn rộng 180 độ.

Trong hai ngày tại Công viên Lịch sử bang Fort Ross rộng 3.400 mẫu Anh, tôi đếm được 14 du khách khác, và ngoại trừ tiếng chuông thỉnh thoảng vang lên từ nhà nguyện St Nicholas, âm thanh duy nhất phá vỡ sự tĩnh lặng là tiếng sóng vỗ bên dưới vách đá.

"Có một cảm giác ma mị tại Fort Ross," Robin Joy Wellman, người từng làm nhân viên thuyết minh cho Cơ quan quản lý Công viên bang California trong gần 30 năm, nói. "Nó có phần bí ẩn, nhưng một khi mọi người khám phá ra nơi này, họ nói đây là một trong những nơi đẹp nhất mà họ từng đến."

Nhà nguyện St Nicholas là một trong những công trình kiến ​​trúc Chính thống giáo cổ nhất ở Tây bán cầu. Nguồn hình ảnh: Eliot Stein

Khung cảnh ấn tượng của địa điểm này nằm vắt qua đứt gãy San Andreas, và cũng chính trận động đất san phẳng San Francisco vào năm 1906 đã phá hủy phần lớn tiền đồn bằng gỗ ban đầu.

Nhưng các khu trưng bày chi tiết trong pháo đài Fort Ross được phục dựng một phần đã vẽ nên một bức tranh sống động về cuộc sống nơi biên giới ở vùng Viễn Đông hoang dã của nước Nga.

Trung tâm của thuộc địa này là hàng rào kiên cố như pháo đài, nơi một số ít binh lính, sĩ quan và quan chức cấp cao của Nga sống trong doanh trại được bao quanh bởi hàng rào cao 3,6 mét.

Tôi theo Kimsey lên những bậc thang của hai lô cốt được trang bị đủ đại bác để kiểm soát toàn bộ bờ biển.

Ông giải thích rằng trong khi người Nga chọn vị trí quan sát tự nhiên này để phòng thủ trước các cuộc tấn công của Tây Ban Nha, hai đế quốc này chưa bao giờ thực sự xung đột và thậm chí còn phụ thuộc vào nhau để tồn tại.

"Người Nga và người Tây Ban Nha đều ở những vùng biên giới xa xôi nhất của đế chế đã trải rộng quá mức của họ. Cả hai đều cần những thứ mà phía bên kia có thể cung cấp, vì vậy họ đã giao dịch bất hợp pháp," Kimsey nói.

Trong nhà kho, những bộ da rái cá biển đang được phơi khô, mỗi bộ trị giá 100 USD (tương đương một năm tiền lương của một nông dân Pennsylvania vào thời điểm đó), để chuyển tới Trung Quốc, châu Âu và California thuộc Tây Ban Nha, hẳn đã được treo trên các xà nhà.

Dưới mái vòm hình củ hành của một trong những nhà thờ Chính thống giáo cổ nhất ở Tây bán cầu, khu định cư nhỏ bé này dần phát triển thành một thuộc địa đa văn hóa, với đầy đủ nhà tắm hơi, tiệm bánh và khoảng 60 tòa nhà.

Vào thời kỳ đỉnh cao, có khoảng 60 tòa nhà tại Pháo đài Ross. Nguồn hình ảnh: Alamy

"Đó là một ngôi làng thương mại nhộn nhịp, đa dạng về ngôn ngữ, với nhiều người đến từ các quê hương khác nhau cùng chung sống," Lightfoot nói. "Hàng rào phòng thủ chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Hoạt động thực sự diễn ra bên ngoài."

Bên ngoài pháo đài

Khi Kimsey và tôi bước ra khỏi khu vực được bao quanh bởi hàng rào cọc gỗ, ông giải thích rằng khi thuộc địa này mở rộng và có gần 400 người vào những năm 1830, nơi đây đã trở thành một trong những khu vực đa dạng nhất California – và hầu như tất cả những người sống ở đó đều làm việc cho Công ty Nga-Mỹ.

Tại đây, nơi từng có một sloboda (làng) nằm ở rìa mũi đất, những thợ săn Aleut và Kodiak được trả công đã sinh sống cùng phụ nữ bản địa California. Những người Creole (lai Nga và châu Âu) kết hôn với người lao động Kashaya Pomo và Coast Miwok địa phương. Khi qua đời, họ đều được chôn cất cạnh nhau tại Nghĩa trang Nga Cổ (Old Russian Cemetery) trên sườn đồi phía trên.

So với các thuộc địa châu Âu khác, nơi đây cũng tương đối khoan dung.

"Người Nga không đến đây để 'khai hóa' như người Tây Ban Nha," Kimsey, người làm đầu mối liên lạc với các cộng đồng bản địa trong khu vực, nói.

Pháo đài Ross nằm trên một cao nguyên dốc đứng, sâu, ở độ cao 45 mét so với Thái Bình Dương. Nguồn hình ảnh: Alamy

Sau đó, chúng tôi đi theo một con đường dốc xuống một bãi biển hình lưỡi liềm, nơi những người thợ đóng thùng, thợ mộc và thợ rèn do Công ty Nga-Mỹ đưa đến từ những nơi xa xôi như Phần Lan và Hawaii từng làm việc cùng nhau.

"Đây là nơi những con tàu đi biển đầu tiên ở California được đóng," ông nói.

Đây cũng là nơi những viên gạch, thủy tinh và cối xay gió đầu tiên ở California được sản xuất.

Khi những người thợ đóng thuyền dài, rèn sắt, đúc đồng thau và chế tạo kim loại, Fort Ross trở thành trung tâm sản xuất ở California.

Người Nga trao đổi những hàng hóa rất được săn đón này với các nước láng giềng Tây Ban Nha và (sau này) Mexico để đổi lấy thêm lương thực và nhu yếu phẩm cho các khu định cư của họ ở Alaska – và bằng cách đó, họ vô tình giúp các đối thủ của mình định cư tại California.

Vịnh nước nông này cũng là nơi những thuyền chở hàng và những thợ săn di chuyển bằng thuyền kayak khởi hành đến cảng nước sâu chính của thuộc địa, cách 35km về phía nam tại Rumyantsev (ngày nay là Vịnh Bodega), và đến trạm săn hải cẩu ngoài khơi San Francisco trên quần đảo Farallon.

Khi phạm vi hoạt động của Fort Ross mở rộng, những lời kêu gọi từ bên trong Công ty Nga-Mỹ ngày càng mạnh mẽ hơn, yêu cầu Nga chấp thuận lời đề nghị của Rezanov về việc sáp nhập bờ biển phía tây Bắc Mỹ vào Nga.

Năm 1821, Sa hoàng Alexander I ban hành một sắc lệnh hoàng gia, tuyên bố Nga kiểm soát khu vực từ Oregon đến Alaska ngày nay.

John Quincy Adams, người khi đó sắp trở thành tổng thống thứ sáu của Mỹ, nhanh chóng phản đối và cảnh báo Nga rằng châu Mỹ "không còn là đối tượng cho bất kỳ sự thiết lập thuộc địa mới nào của châu Âu".

Điều này đã đặt nền móng cho một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong chính sách đối ngoại của Mỹ: Học thuyết Monroe, phản đối sự can thiệp của nước ngoài tại Tây bán cầu.

    Sử dụng pháo đài Ross làm căn cứ, Nga đã tìm cách tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ bờ biển phía tây bắc của vùng đất hiện nay thuộc Hoa Kỳ. Nguồn hình ảnh: Eliot Stein

Từ bãi biển, Kimsey và tôi leo lên một ngọn đồi dốc, vượt qua hàng rào phòng thủ để đến vườn cây ăn quả mà người Nga bắt đầu bằng việc trồng một cây đào duy nhất vào năm 1814.

Chúng tôi mở cổng bước vào.

Trong số hàng trăm cây có múi và các loại cây trồng khác mà người Nga đã trồng, chỉ còn lại một cành duy nhất của một cây anh đào Capulin 200 năm tuổi.

Tuy vậy, trên thực tế, tại đây, người Nga đã để lại một di sản nông nghiệp lớn hơn nhiều so với những gì hầu hết mọi người nhận ra.

"Chính người Nga đã trồng những cây nho đầu tiên ở [khu vực nay là] hạt Sonoma vào năm 1817," Megan Jones, thủ thư phụ trách tư liệu về rượu vang của Sonoma, nói.

Như Jones giải thích, trong khi Sonoma hiện được coi là "nơi khai sinh của phong trào rượu vang Mỹ hiện đại", các thương nhân Nga đã đưa giống nho Mission, hiện nay rất hiếm, đến Sonoma và sản xuất những mẻ rượu vang đỏ nhẹ với số lượng nhỏ.

Tuy nhiên, bất chấp tất cả những đổi mới, Fort Ross không bao giờ đạt được hai mục tiêu chính: tạo ra lợi nhuận và bảo đảm lương thực cho những người Alaska đang đói.

Đến đầu những năm 1820, những thợ săn bản địa Alaska của Công ty Nga-Mỹ đã săn quá nhiều rái cá biển đến mức quét sạch quần thể địa phương.

Và sự kết hợp giữa sương mù dày đặc ven biển cùng chuột hoành hành khiến sản lượng lúa mì chỉ đạt 13 tấn mỗi năm trong giai đoạn 1826-1833.

Khi Công ty Hudson's Bay do Anh điều hành đồng ý cung cấp lương thực cho vùng Alaska thuộc Nga từ các khu định cư của công ty ở vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, bắt đầu từ năm 1839, đó là dấu hiệu mở đầu cho hồi kết của California dưới thời Nga Sa hoàng.

Hơn 130 người Nga, người Alaska và người bản địa California được chôn cất tại Nghĩa trang Fort Ross. Nguồn hình ảnh: Alamy

Hai năm sau, một người nhập cư Thụy Sĩ tên là John Sutter mua các tòa nhà và tài sản của Fort Ross từ người Nga với giá 30.000 USD.

Ông tháo dỡ một số phần của các công trình để sử dụng cho khu định cư mới của mình ở Sacramento.

Bảy năm sau khi người Nga trở về Alaska bằng đường biển, một phát hiện tình cờ trên khu đất của Sutter đã châm ngòi cho Cơn sốt vàng California.

Di sản California của nước Nga

Ngày nay, những dấu tích về quá khứ California dưới thời Nga Sa hoàng vẫn nằm rải rác khắp Bang Vàng (Golden State) khi lái xe từ San Francisco lên về phía bắc.

Một trong những khu phố nổi tiếng nhất của thành phố, Russian Hill (Đồi Nga), được đặt tên theo những ngôi mộ của các thủy thủ Công ty Nga-Mỹ được phát hiện tại đó trong thời kỳ Cơn sốt vàng (hãy tìm một tấm bia gần số 1120 phố Vallejo).

Một biển chỉ dẫn lịch sử tại Vịnh Bodega cho biết nơi người Nga ra khơi tới thủ phủ Alaska của họ, Novo-Arkhangelsk (ngày nay là Sitka).

Và hơn một triệu người đến Thung lũng Russian River (Sông Nga) mỗi năm để tắm biển, đi bộ đường dài và thưởng thức một số loại rượu vang ngon nhất nước Mỹ.

"Người Nga gọi con sông này là Slavyanka, và đây là một trong những tuyến đường thủy chính mà họ sử dụng để khai thác khu vực này," bà Suki Waters, một hậu duệ của người Kashaya Pomo và là chủ sở hữu của WaterTreks, công ty tổ chức các chuyến du lịch sinh thái dọc sông Russian, nói.

Khi chúng tôi chèo thuyền kayak ngang qua những con hải cẩu trên cảng và những con bồ nông di cư, bà kể lại những câu chuyện từ cụ cố của mình, người vẫn còn sống khi người Nga cập bến.

"Fort Ross từng là một làng đánh cá theo mùa có tên Metini trong hàng ngàn năm," bà nói.

"Khi người Nga lần đầu tiên đến, các bậc cao niên gọi họ là 'Những Người Dưới Biển', bởi vì nhìn từ vách đá trên cao, trông như thể họ trồi lên từ dưới đại dương."

Ngày nay, mũi đất hoang vắng này mời gọi du khách dừng chân và suy ngẫm về quá khứ thời Sa hoàng của California. Nguồn hình ảnh: Eliot Stein

Chiều hôm đó, tôi đi bộ trở lại qua những tấm biển chữ Cyrillic, khu pháo đài và sloboda của Fort Ross, hướng về một chiếc ghế băng đơn độc ở rìa vách đá.

Nhìn ra Thái Bình Dương, tôi tự hỏi sẽ mất bao nhiêu ngày để đến được nước Nga.

Nhưng khi tiếng chuông xa xôi từ nhà nguyện vang vọng trong không khí, tôi nhớ lại điều Wellman đã nói với mình.

"Thật đáng kinh ngạc khi một phần nhỏ của nước Nga từng ở ngay đây, tại California. Tại sao chúng ta lại muốn quên điều đó?"

Eliot Stein
Theo: BBC Tiếng Việt (04/09/2026)
Link tiếng Anh:



XYANUA: TỪ "MÓN QUÀ" CỦA THIÊN NHIÊN ĐẾN CHẤT ĐỘC VÔ SONG

Xyanua có lịch sử lâu đời là chất độc đầu bảng trong các vụ đầu độc và giết người. Trải qua hàng thế kỷ, mức độ nguy hiểm của nó vẫn không hề suy giảm.


Dư luận vẫn chưa hết bàng hoàng sau vụ đầu độc người thân trong gia đình bằng xyanua ở Đồng Nai, thì mới đây, một sự việc khác đã diễn ra cũng liên quan tới chất độc.

Truyền thông Thái Lan ngày 16/7 cho biết 6 người gốc Việt được tìm thấy đều đã tử vong trong tình trạng sùi bọt mép tại một khách sạn ở trung tâm thủ đô Bangkok.

Truyền thông địa phương cho rằng, 6 nạn nhân có thể tử vong do bị đầu độc bằng xyanua.

Xyanua là gì?

Việc sử dụng chất độc làm vũ khí là kỹ năng đã được con người thuần thục từ thời tiền sử.

Từ cách đây hàng triệu năm, khi các thợ săn thời tiền sử lần đầu tiên nhúng mũi tên vót nhọn của mình vào nọc rắn, cũng là lúc họ tìm thấy thứ vũ khí có thể thay đổi toàn bộ lịch sử chỉ bằng một lượng nhỏ như đầu kim, đó là chất độc.

Trong suốt nhiều thế kỷ, có đến hàng tá loại chất độc gây chết người khác nhau đã trở nên thịnh hành. Chúng ta có thể kể đến các loại chế biến từ cây độc cần, cây cà độc dược, cây phụ tử, mao địa hoàng, mã đề, thuốc phiện...

Thế nhưng trong các cuộc chiến tranh hiện đại, cụ thể là từ thế kỷ 20, không có loại thuốc độc nào nổi tiếng như xyanua khi nó thường xuyên được nhắc tới trong các vụ đầu độc và giết người.

Thuật ngữ "xyanua" vốn dĩ dùng để chỉ bất kỳ hóa chất nào có chứa liên kết cacbon-nitơ (CN). Tuy nhiên, nó dần trở thành tên gọi để chỉ chất độc xyanua.

Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), xyanua có thể là khí không màu, chẳng hạn như hydro xyanua (HCN) hoặc xyanua clorua (CNCl). Ngoài ra, nó cũng có thể ở dạng tinh thể như natri xyanua (NaCN) hoặc kali xyanua (KCN).


Một tỷ lệ xyanua nhất định có thể tồn tại bên trong các thực phẩm như sắn, đậu lima, hạnh nhân... hay hạt của các loại trái cây phổ biến, như quả mơ, táo, đào...

Nói cách khác, bên trong "món quà" của thiên nhiên trao tặng con người vẫn luôn ẩn chứa thứ vũ khí có thể lấy đi mạng sống trong giây lát.

Thực tế, đã có nhiều người ăn sắn bị chết vì chất xyanua có trong sắn. Ngoài ra, chúng không quá khó để điều chế và tìm kiếm dựa trên các nguồn nguyên liệu sẵn có.

Trong sản xuất, xyanua xuất hiện khá phổ biến khi thường được sử dụng để sản xuất giấy, dệt may, nhựa, luyện kim. Ngoài ra, xyanua ở dạng khí được sử dụng để tiêu diệt sâu bệnh và côn trùng gây hại

"Vua của các loại chất độc"

Quân đội Pháp đeo mặt nạ phòng độc, dùng lưỡi lê tẩm độc, trong Trận Ypres, diễn ra vào tháng 4/1915 (Ảnh: Hulton).

Xyanua vốn dĩ là hóa chất cực độc, thậm chí được liệt vào danh sách những chất độc nhất trong các chất độc.

Việc sử dụng xyanua làm chất độc bắt nguồn từ Hoàng đế La Mã Nero (37-68 CN) khi ông sử dụng nước nguyệt quế anh đào có chứa xyanua làm chất độc.

Xyanua cũng được sử dụng trong Chiến tranh Pháp- Phổ (1870-1871). Tại đó, vua Napoléon III thúc giục quân đội của mình nhúng đầu lưỡi lê vào thuốc độc xyanua để dễ dàng hạ gục quân địch.

Xyanua cũng được sử dụng như một loại thuốc độc để tự tử trong giai đoạn Thế chiến II và Chiến tranh Lạnh. Trong đó, phổ biến nhất là kali xyanua ở thể rắn, tan trong nước, và hydro xyanua được chưng cất ở dạng lỏng.

Chiến thuật tự tử bằng thuốc độc từng được nhiều nhà lãnh đạo Đức Quốc xã sử dụng vào cuối Thế chiến II. Tiêu biểu là trùm phát xít Adolf Hitler và người vợ Eva Braun đã tự đầu độc mình bằng xyanua trong một boongke ở Berlin.

Sau đó, Hermann Goring, một lãnh đạo cấp cao của chính quyền Đức quốc xã, cũng chọn cách tự tử để tránh bị hành quyết trong phiên tòa bằng cách cắn một viên nang chứa chất độc xyanua giấu trong miệng.

Adolf Hitler (phải) tự đầu độc bằng xyanua (Ảnh: Telegraph).

Kể từ đó, xyanua gần như trở thành từ đồng nghĩa với thuốc độc tự tử trong các bộ phim điện ảnh lấy chủ đề về trinh thám, điệp viên.

Nhiều tác phẩm văn học kể lại rằng các tổ chức tình báo của chính phủ cũng cung cấp cho điệp viên của họ thuốc L (với L là tên viết tắt của "lethal" - nghĩa là gây chết người). Hành động này nhằm tránh việc các điệp viên bị tra tấn và tiết lộ bí mật quốc gia nếu không may bị kẻ địch bắt giữ.

Thuốc độc này có thành phần chính là xyanua, được giấu bên trong các ngăn bí mật ở kính mắt hoặc bút máy. Khi điệp viên nhai và nuốt những vật này sẽ giải phóng chất độc, và kết liễu mạng sống của chính mình trong giây lát.

Vì sao xyanua nguy hiểm?

Chất độc xyanua tấn công các ty thể và chuỗi vận chuyển electron trong tế bào (Ảnh: Getty).

Theo CDC, sở dĩ chất độc xyanua gây tử vong cao là do đặc tính cản trở khả năng sử dụng oxy của cơ thể. Cụ thể, xyanua sẽ tấn công chính các tế bào tạo nên sự sống, cụ thể là các ty thể và chuỗi vận chuyển electron - còn được biết đến như "nhà máy điện" của tế bào.

Ty thể chịu trách nhiệm cho quá trình hô hấp tế bào và tạo ra năng lượng - gọi là adenosine triphosphate (ATP) - từ oxy. Để làm điều này, ty thể cần một loại enzyme cụ thể, gọi là cytochrome oxidase.

Tuy nhiên khi cơ thể tiếp xúc với xyanua, ion xyanua liên kết với cytochrome oxidase và ngăn không cho nó thực hiện nhiệm vụ mang lại sự sống.

Khi các tế bào không còn sử dụng được oxy, tình trạng bắt đầu xấu đi. Cơ thể dần tiến tới trạng thái suy hô hấp hoặc suy tim chỉ trong vòng vài phút.

Thế nhưng, thứ nguy hiểm nhất của chất độc xyanua là chúng có rất nhiều con đường để tiếp cận nạn nhân. Theo đó, xyanua có thể phơi nhiễm qua tiếp xúc với da, mắt, hoặc hít phải qua đường hô hấp. Ngoài ra, nuốt phải xyanua ở dạng rắn hoặc lỏng cũng có thể gây độc.


Thông thường, sau khi bị ngộ độc xyanua, nạn nhân sẽ trải qua 3 giai đoạn.

Đầu tiên là giai đoạn kích động, người bị nhiễm độc sẽ có dấu hiệu lo lắng, kích động, thở nhanh và lú lẫn. Sau đó, nạn nhân bắt đầu co giật, khó thở, tụt huyết áp và bị giảm thông khí. Cuối cùng, nạn nhân dần rơi vào trạng thái giảm trương lực cơ và mất phản xạ, bị trụy tim mạch, hạ oxy trong máu, dẫn đến tử vong.

Những dấu hiệu để nhận biết khi trúng độc xyanua đó là cảm thấy đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, thở nhanh, nhịp tim tăng cao, cảm thấy bồn chồn và kiệt sức.

Khi phát hiện ra những dấu hiệu trên, điều khả dĩ nhất chúng ta có thể làm là nhanh chóng đưa nạn nhân nhiễm độc xyanua đến cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu kịp thời. Lúc này, thời gian là yếu tố "sống còn", vì nạn nhân cần phải có sự điều trị y tế càng sớm càng tốt.

Theo các tổ chức y tế, nếu người trúng độc xyanua trong vòng 2 giờ không được chữa trị kịp thời, sẽ gây nguy cơ tử vong rất cao. Ngay cả những người sống sót sau khi tiếp xúc nhiều với xyanua cũng đối mặt với nguy cơ bị tổn thương tim, não và thần kinh nghiêm trọng.

Luật pháp Việt Nam không xếp xyanua vào danh mục hóa chất cấm bán. Tuy nhiên, việc kinh doanh xyanua phải tuân theo Luật Hóa chất 2007 và Nghị định 113, nghĩa là để kinh doanh xyanua phải có giấy phép đặc biệt, còn muốn mua phải có giấy giới thiệu, công văn, nói rõ số lượng, mục đích của việc mua bán.

Minh Khôi / Theo: DNews

CÚC HOA - NGUYÊN CHẨN


Cúc hoa - Nguyên Chẩn

Thu tùng nhiễu xá tự Đào gia,
Biến nhiễu ly biên nhật tiệm tà.
Bất thị hoa trung thiên ái cúc,
Thử hoa khai tận cánh vô hoa.


菊花 - 元稹

秋叢繞舍似陶家
遍繞籬邊日漸斜
不是花中偏愛菊
此花開盡更無花


Hoa cúc
(Dịch thơ: Nguyễn Minh)

Ngày thu hoa nở tựa Đào gia
Dạo bước xem hoa đến xế tà
Chẳng phải niềm riêng yếu mến cúc
Hoa này tàn rụng, chẳng còn hoa


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Nguyên Chuẩn 元稹 (779-831) tự Vi Chi 微之, người Lạc Dương, Hà Nam, gia đình quan lại, làm Thượng thư Tả thừa, có quan điểm chính trị và văn học gần gũi với Bạch Cư Dị, chủ trương tác phẩm phải giàu tính hiện thực, nên người đương thời gọi là Nguyên-Bạch. Tác phẩm có Nguyên thị Trường Khánh tập. Ông còn là tác giả của truyện Hội chân ký về sau được Vương Thực Phủ đời Nguyên dựa vào để viết vở kịch Tây sương ký.

Nguồn: Thi Viện