Thursday, April 30, 2026

OÁN - PHÙNG TIỂU THANH


Oán - Phùng Tiểu Thanh

Tân trang cánh dữ hoạ đồ tranh,
Tri thị Chiêu Dương đệ kỷ danh?
Sấu ảnh tự lâm xuân thuỷ chiếu,
Khanh tu liên ngã, ngã liên khanh.


怨 - 馮小青

新妝竟與畫圖爭
知是昭陽第幾名
瘦影自臨春水照
卿須憐我我憐卿


Oán
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Điểm trang cho đẹp tựa tranh. 
Chiêu Dương cung điện, xứng danh gọi mời. 
Thân gầy bóng nước lả lơi. 
Thân ta tự luyến, ai thời thương ta !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Phùng Tiểu Thanh 馮小青 (1594-1612) tên hồi nhỏ là Huyền Huyền 玄玄, quê ở Quảng Lăng, Giang Tô. Nàng bẩm sinh thông minh khác thường, lại nhan sắc hơn người. Năm 16 tuổi, nàng về làm thiếp một thư sinh họ Phùng ở Hổ Lâm, vì cùng họ với chồng nên tránh nhắc tới họ, chỉ gọi tên chữ là Tiểu Thanh. Phùng sinh là một công tử hào phóng, ba hoa, ngây ngô, xốc nổi, kém phong độ, vợ cả lại là người hay ghen hiếm thấy, khiến nàng có số phận bi thảm và qua đời năm 18 tuổi. Những bài thơ còn sót lại của nàng sau khi bà mất được người sưu tầm lại đóng thành sách, đặt tên là Phần dư. Câu chuyện về nàng khiến Nguyễn Du cảm xúc trong bài Độc Tiểu Thanh ký.

Nguồn: Thi Viện



THẰNG CHÓ ĐẺ CỦA MÁ

Má ơi! Bữa nay là ngày 23 tháng chạp, ngày đưa ông Táo. Không biết những người Việt lưu vong như tụi con có còn giữ phong tục hằng năm cúng đưa ông Táo về Trời hay không, chớ vợ của con năm nào đến ngày này cũng mua hoa quả bánh ngọt cúng đưa ông Táo, cũng thành khẩn như ngày xưa, hồi còn ở bên nhà.


Năm nay, nhờ vợ của con lau dọn bàn thờ ông Táo để sửa soạn bày lễ vật ra cúng, nên con mới nhớ ra là ngày 23 tháng chạp. Ngày này cũng là ngày sanh của má. Hồi đó, má hay nói: “Ngày sanh của đứa nào còn khó nhớ, chớ ngày sanh của tao là ngày ông Táo về Trời, không dễ gì quên!” Và ngày này hồi đó, khi cúng vái, má hay cầu khẩn: “Ông về ở trển nhờ tâu lại bữa nay tôi lên thêm một tuổi, cầu xin Ngọc Hoàng bớt cho tôi chút đỉnh khổ cực…” Hồi đó, nghe má cầu xin, con phì cười. Bây giờ, nhớ lại, con bỗng ứa nước mắt…Cuộc đời của má – theo lời tía kể – cũng lắm gian truân từ ngày má bỏ cái làng quê ở bờ sông Vàm Cỏ để đi theo tía dấn thân làm cách mạng vào những năm 1928/29. Gia đình giòng họ từ bỏ má cho nên hồi sanh con, tía bận đi xa, má nằm chèo queo một mình trong nhà bảo sanh, chẳng có người nào đi thăm hết. Vậy mà sau đó, má vẫn tiếp tục bôn ba… Mãi về sau, khi con lên sáu bảy tuổi, có lẽ chỉ vì sanh có một mình con nên tía má mới “trụ hình” – vẫn theo lời tía kể – với nhiều cực nhọc và khó khăn tiếp nối dài dài… Hỏi sao sau này mỗi lần đưa ông Táo má không có lời cầu khẩn nghe tội nghiệp như vậy?

Nhớ lại, cách đây ba năm má thọ tròn trăm tuổi. Tính ra, từ ngày con đi chui theo ý má muốn – má nói: “Mầy đem vợ con mầy đi đi, để tao còn hy vọng mà sống thêm vài năm nữa”! – cho đến năm đó, con xa má 25 năm. Con mới 72 tuổi mà cứ bịnh lên bịnh xuống nhưng năm đó con quyết định phải về. Và con đã về…

Thằng Bảy, con chị Hai Đầy ở Thị Nghè nghỉ chạy xe ôm một bữa để đưa con về cái làng quê nằm bên sông Vàm Cỏ. Nó nói: “Đi xe đò chi cho tốn tiền, để con đưa cậu Hai về, sẵn dịp con thăm bà Tám luôn”.

Hồi tụi con bước vào nhà, cả xóm chạy theo mừng. Con nhỏ giúp việc vội vã đỡ má lên rồi tấn gối để má ngồi dựa vào đầu giường: “Thưa bà cố, có khách”. Má nhướn mắt nhìn, hai mắt sâu hỏm nằm trên gương mặt gầy nhom đầy vết nám thâm thâm: “Đứa nào đó vậy?” Con nghẹn ngào: “Dạ, con…” Chỉ có hai tiếng “Dạ, con” mà má đã nhận ra con ngay mặc dầu đã xa con từ 25 năm! Má nói: “Mồ tổ cha mầy! Trôi sông lạc chợ ở đâu mà bây giờ mới dìa? Mà dìa sao không cho tao hay?” Con ngồi xuống cạnh má: “Sợ cho hay rồi má trông.” Má nói mà gương mặt của má nhăn nhúm lại: “Tao trông từ hai mươi mấy năm nay chớ phải đợi đâu tới bây giờ!” Rồi má nhắm mắt một vài giây mới để lăn ra được hai giọt nước mắt. Cái tuổi một trăm của má chỉ còn đủ hai giọt nước mắt để cho má khóc mừng gặp lại thằng con… Xúc động quá con gục đầu vào vai má khóc ngất, khóc lớn tiếng, khóc mà không cần biết cần nghe gì hết. Cái tuổi bảy mươi hai của con còn đầy nước mắt để thấm ướt cái khăn rằn má vắt trên vai…


Suốt ngày hôm đó, má con mình nói biết bao nhiêu chuyện, có sự tham dự của họ hàng chòm xóm. Nhớ gì nói nấy, đụng đâu nói đó… vui như hội. Vậy mà cuối ngày, không thấy má mệt một chút nào hết. Con nhỏ giúp việc ngạc nhiên: “Bình thường, bà cố nói chuyện lâu một chút là thở ồ ồ. Bữa nay sao thấy nói hoài không ngừng! Có ông Hai dìa chắc bà cố sống thêm năm bảy năm nữa à ông Hai!”

Đêm đó, má “đuổi” con vô mùng sớm sợ muỗi cắn. Con nằm trên bộ ván cạnh cái hòm dưỡng sinh của má. Con hỏi: “Bộ cái hòm hồi đó má sắm tới bây giờ đó hả?” Má cười khịt khịt vài tiếng rồi mới nói: “Đâu có. Cái hòm mầy nói, tao cho cậu Tư rồi. Hồi Cao Miên pháo kích quá, tao đem cậu Tư về đây ở, rồi ổng bịnh ổng chết. Tao có sắm cái hòm khác, cái đó tao cho thằng Hai con cậu Tư. Tội nghiệp thằng làm ăn suy sụp nên rầu riết rồi chết!” Con nói chen vô: “ Vậy, cái nầy má sắm sau đám của anh Hai”? Má lại cười khịt: “Đâu có. Cái hòm sắm sau cái hòm cho thằng Hai, tao cho dì Sáu rồi. Hồi chỉ nằm xuống, nhà chỉ không có tiền mua hòm thì lấy gì làm đám ma?” Ngừng lại một chút rồi má mới nói: “Còn cái hòm nầy chắc tao không cho ai nữa. Họ hàng quyến thuộc lần hồi chết hết, còn lại có mình tao thôi, có nó nằm gần tao cũng yên bụng!”

Nằm tơ lơ mơ một lúc bỗng nghe má hỏi: “Thằng chó đẻ… ngủ chưa?” Con trả lời: “Dạ chưa.” Má tằng hắng: “Tao tụng kinh một chút nghen”. Con “Dạ” mà nghe tiếng “Dạ” nghẹn ngang trong cổ. Mấy tiếng “Thằng chó đẻ” của má kêu con đã làm cho con thật xúc động. Hồi đó – lâu lắm, cách đây sáu mươi mấy bảy chục năm, hồi con còn nhỏ lận – má hay gọi: “Thằng chó đẻ, lại hun cái coi!” Hồi đó, mỗi lần cưng con, nựng con, ôm con vào lòng má luôn luôn gọi con bằng “thằng chó đẻ”! Mà con thì chỉ biết sung sướng khi nghe má gọi như vậy. Rồi con lớn lần, má không còn gọi con bằng “thằng chó đẻ” nữa. Con không để ý và chắc má cũng không để ý đến chuyện đó. Mãi đến bây giờ má lại gọi con bằng “thằng chó đẻ”, gọi tự nhiên như hồi con còn nhỏ. Chỉ có mấy tiếng thật thô thiển bình dị, nghe khô khan như vậy mà sao con cảm nhận tình thương thật là tràn đầy. Và đối với má, dầu tuổi đời của con có cao bao nhiêu nữa, con vẫn là “thằng nhỏ”, “thằng chó đẻ cưng”. Con bắt gặp lại sự sung sướng của hồi đó khi được má gọi như vậy. Rồi bao nhiêu hình ảnh thuở ấu thời hiện về trong đầu con, liên miên chớp tắt. Đêm đó, con trằn trọc tới khuya…

Sáng hôm sau, má biểu con đẩy xe lăn đưa má đến từng bàn thờ để má thắp nhang tạ ơn Trời Phật, Ông Bà. Cuối cùng, đến bàn thờ của tía, má nói: “Ông ơi! Có thằng nhỏ nó dìa đó. Ông độ cho nó được mạnh giỏi, độ cho vợ con nó ở bên tây được suôn sẻ trong công việc làm ăn… ” Đứng sau lưng má, con phải cắn môi thật mạnh để khỏi bật lên thành tiếng nấc!

Đẩy má ngang bàn viết cũ của tía, con thấy trên tường có treo hai khuôn kiếng lọng văn bằng đỏ chói có đóng dấu cũng đỏ chói của Nhà Nước. Con ngừng lại đọc: một tấm là huân chương hạng nhứt và một tấm là huy chương hạng ba cấp cho Lê Thị Ráng. Con hỏi: “Cái gì vậy, má?” Má nói: “Mề-đai của tụi nó cho tao. Tụi nó bươi chuyện thời ông Nhạc nào đâu hồi mấy năm 1928-29 rồi chạy lại cho. Cái hạng nhứt đó cho năm ngoái, còn cái hạng ba mới cho đây,” Con cười: “Vậy là họ hạ cấp má rồi.” Má hỏi: “Sao mầy nói vậy?” Con giải nghĩa: “Thì từ hạng nhứt tuột xuống hạng ba là bị hạ cấp chớ gì nữa?” Má cười: “Mầy không biết. Cái đầu hạng nhứt đó, cho treo chơi chớ không có tiền. Cái hạng ba đó mới có cho tiền”. Con đùa: “Vậy má chia cho con chút đỉnh lấy hên coi!” Má khoát tay: “Ối… từ ngày nhận cái mề-đai đó tới nay đã ba tháng rồi mà có thấy tụi nó đưa tiền đâu. Nghe nói còn mấy khâu gì gì đó chưa thông nên có hơi trễ!” Thấy trên văn bằng đề “Lê Thị Ráng” con thắc mắc: “Ụa! Mà Lê Thị Ráng đâu phải là tên của má. Trong khai sanh của con, má là Lê Thị Láng mà!” Má cười khục khục mấy tiếng rồi mới nói: “Để tao nói cho mầy nghe. Hồi đó tao sanh mầy ở gần nhà thờ Cha Tam, trong Chợ Lớn. Cô mụ người tàu, nói tiếng việt còn lơ lớ. Cổ hỏi tao tên gì để làm khai sanh. Tao nói tao tên Ráng, mà R cổ nói không được, nên ra sở khai sanh, cổ nói Ráng thành Láng là như vậy” Mãi tới bảy mươi hai tuổi con mới biết tên đúng của má là “Ráng”!


Hôm đưa ông Táo, con có tổ chức một bữa tiệc để ăn mừng một trăm tuổi của má, có họ hàng tham dự đầy nhà. Vừa ngồi vào bàn, dì Bảy Giang nói: “Theo phong tục mình, con cái phải quì lạy để chúc thọ mẹ cha. Bây giờ, chị Tám được một trăm tuổi, hiếm lắm, quí lắm. Mầy phải lạy má mầy đi rồi ăn uống gì ăn” Mọi người vỗ tay tán thành. Má cũng cười, nói: “Ồ phải! Hồi nẳm, đám cưới của mầy, mầy có đi học lạy với cậu Bảy Dinh, nhưng bên đàng gái miễn lễ chỉ bắt xá thôi, rồi về đây tía mầy cũng miễn luôn. Cho nên tao chưa thấy mầy lạy ra sao hết. Đâu? Mầy lạy tao coi!” Mọi người lại vỗ tay nữa. Con đứng trước mặt má, chấp tay ấp úng: “Thưa má. Hôm nay là ngày sanh thứ một trăm của má, con xin lạy mừng thọ má.” Rồi con lạy hai lạy, cũng đủ điệu bộ lên gối xuống gối như con đã học lạy cách đây gần năm chục năm. Con lạy mà nước mắt chảy quanh. Con biết rằng lần lạy đầu tiên này có thể là lần lạy cuối cùng, bởi vì qua Tết, con sẽ trở về Pháp với cái lạnh cắt da của mùa đông, rồi sau đó biết có còn về nữa hay không? Sức khỏe của con càng ngày càng kém, bao nhiêu thứ thuốc uống vô hằng bữa liệu kéo dài sự sống của con được đến bao lâu? Điều này, con đâu dám cho má biết. Mọi người lại vỗ tay khi con lạy xong. Rồi thì nhập tiệc. Bữa tiệc hôm đó thật là vui. Người vui nhứt là má.

* * *

Má ơi! Bữa nay là ngày sanh thứ 103 của má, ngày đưa ông Táo về Trời. Vậy là ba năm qua rồi, con đã không về thăm má. “Thằng chó đẻ” của má vẫn còn “trôi sông lạc chợ”, để cho má cứ phải trông nó về, trông hằng ngày, trông mòn con mắt, trông khô nước mắt!

Má thương con, xin má tha thứ cho con… tha thứ cho con…

Tiểu Tử

CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM: QUỐC GIA 15 THÁNG

Cách đây hơn 40 năm, có một quốc gia từng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam trong chưa đầy 15 tháng và ít được sử sách sau này nhắc tới.


13:30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà (VNCH), Dương Văn Minh, tuyên bố đầu hàng “quân giải phóng miền Nam Việt Nam” và kêu gọi binh sĩ của quân lực Việt Nam Cộng hoà buông vũ khí.

Lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong tuyên bố đầu hàng này chính là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (Mặt trận). Tên tiếng Anh của lực lượng này là National Liberation Front, thường được gọi tắt là NLF trong các văn bản quốc tế.

Mặt trận còn được xem là lực lượng nòng cốt của một chính thể thứ ba tại Việt Nam trong chiến tranh, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CPCM).

Trong khi quốc tế đã công nhận hai nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và VNCH trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, thì vai trò cũng như sự nhìn nhận quốc tế đối với chính thể thứ 3 trong giai đoạn này phức tạp hơn.

Ngoài ra, đối với người Việt Nam, thì cả Mặt trận lẫn CPCM hầu như đều bị cả hai phe Quốc gia và Cộng sản xem như là một phần của quân đội và nhà nước Bắc Việt trong và sau cuộc chiến.

Tuy nhiên, chính sự hiện diện của Mặt trận và CPCM trong lịch sử Việt Nam đã giúp khẳng định rõ hơn việc lãnh thổ Việt Nam đã từng hiện diện hai quốc gia trong vòng trên dưới 22 năm, từ 7/1954 – 7/1976.

Những chiếc xe tăng tiến vào Sài Gòn và chiếm dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 mang cờ nửa xanh nửa đỏ của Mặt trận. Ảnh: Francoise De Mulder—Roger Viollet/Getty Images.

Cánh tay nối dài của miền Bắc

Sau khi Hiệp định Geneva 1954 tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17, quyền quản lý miền Nam Việt Nam được thế giới công nhận thuộc về thể chế VNCH.

Mặt trận được thành lập ngày 20/12/1960. Họ tự tuyên bố là một liên minh chính trị của những người đối lập với chính quyền VNCH tại miền Nam Việt Nam, bao gồm những người Cộng sản tại miền Nam (chiếm đa số) và những người thuộc các đảng phái chính trị khác. Ngoài ra, Mặt trận còn kêu gọi tất cả những ai có tư tưởng chống Mỹ tham gia.

Mục tiêu của Mặt trận là lật đổ chế độ VNCH, không chấp nhận sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Việt Nam, và tiến hành thống nhất hai miền Nam-Bắc. Đối với quốc tế, Mặt trận luôn luôn đề cao tính trung lập của mình đối với cả VNCH lẫn VNDCCH trong vai trò hòa giải và thống nhất quốc gia.

Mặc dù vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, các văn kiện của đảng Lao động (tức đảng Cộng sản) Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 cho thấy sự chỉ đạo toàn diện của đảng Cộng sản đối với Mặt trận. Bà Nguyễn Thị Bình, cựu Bộ trưởng Ngoại giao của CPCM, được kết nạp vào đảng Cộng sản năm 1948, từng ra Bắc làm việc sau năm 1954 và được phái trở lại miền Nam năm 1962, sau này làm tới chức Phó Chủ tịch nước của Việt Nam thống nhất.

Đến 8/6/1969, Mặt trận cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, tiến hành thành lập chính phủ riêng, lấy tên là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, và công khai đối lập với chế độ VNCH.

Đại hội thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngày 6-8/6/1969 tại Tây Ninh. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Cần phải nói thêm, do cần thu hút những thành phần bất đồng chính kiến và các tổ chức chính trị phi cộng sản tại miền Nam tham gia vào Mặt trận mà Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam đã được thành lập. Lực lượng quần chúng này bao gồm rất nhiều thành phần trong xã hội, ví dụ như sinh viên, học sinh, trí thức, nhà văn, nhà báo, lãnh đạo các tôn giáo, v.v.

Qua đó, Mặt trận đã mở rộng cả mục tiêu hoạt động của mình lẫn thành phần tham gia, và điều này đã giúp cho họ thoát khỏi những cáo buộc là tổ chức vũ trang của đảng Cộng sản, cũng như tái khẳng định tính trung lập và vị thế của một liên minh chính trị đối lập với chính phủ VNCH tại miền Nam.

Tìm kiếm sự công nhận và tính chính danh đối với cộng đồng quốc tế

Sau khi thành lập chính phủ lâm thời vào năm 1969, Mặt trận và CPCM tăng cường vận động quốc tế để khẳng định tính chính danh của mình. Vào thời điểm tháng 11/1969, CPCM đã được 28 nước công nhận. Nhưng đa số các nước đó thuộc về khối cộng sản trong thời kỳ chiến tranh Lạnh.

Trong giai đoạn 1969-1975, CPCM luôn luôn công nhận sự độc lập và tự chủ về lãnh thổ quốc gia tại miền Nam Việt Nam, ngay cả đối với VNDCCH.

Khi tham gia vào hòa đàm Paris và tuy là một trong 4 bên của Hiệp định Paris 1973, nhưng CPCM chỉ được công nhận là một trong hai phe của miền Nam Việt Nam.

Hiệp định Paris 1973 công nhận có hai chính quyền (two governments) song song tồn tại và đối lập với nhau tại miền Nam Việt Nam: chính quyền Sài Gòn của VNCH và CPCM.

Bà Nguyễn Thị Bình, đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN ký Hiệp định Paris, ngày 27/1/1973. Ảnh: Chưa rõ nguồn.

Cả hai chính quyền đều có cơ quan hành chính và quân đội riêng, kiểm soát các phần lãnh thổ khác nhau tại miền Nam. Cả hai đều có các nghĩa vụ quốc tế riêng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn được xem là chỉ có hai quốc gia (two states), Bắc Việt và Nam Việt.

Quan điểm chung của thế giới vào thời điểm ấy có thể được tóm tắt trong tuyên bố sau đây của Bộ Ngoại giao Úc năm 1974:

“Khi Việt Nam được chia đôi vào năm 1954, hai quốc gia đã được thành lập và hai nhà nước được hình thành. Nhà nước Úc đã công nhận từ rất lâu việc hiện hữu của hai quốc gia và vẫn đang có mối quan hệ với cả hai nhà nước, nhà nước VNDCCH ở miền Bắc Việt Nam và nhà nước VNCH ở miền Nam Việt Nam. Cả hai nhà nước là thành viên của Hiệp định Paris (1973) cùng với CPCM. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là nhà nước Úc ủng hộ việc công nhận một quốc gia thứ ba với nhà nước riêng (tức là CPCM).”

Vì vậy, CHMNVN đã bị từ chối khi họ nộp đơn xin tham gia vào các hiệp nghị của Công ước Geneva 1949 tháng 12/1973 do gặp sự phản đối từ một số nước không công nhận tư cách “quốc gia” của họ.

Thế nhưng, nỗ lực tìm kiếm sự công nhận của quốc tế của CPCM vẫn được tiếp tục. Bộ Ngoại giao của CPCM đã thành lập phái đoàn thường trực với trụ sở tại Paris, Pháp.

Tài liệu lưu trữ của Liên Hiệp Quốc cho thấy vào tháng 1/1975, chính phái đoàn thường trực này đã gửi thư lên LHQ và lên án chính quyền VNCH vi phạm Hiệp định Paris 1973. Họ cũng tái khẳng định nỗ lực của CPCM trong việc giải quyết những xung đột nội bộ (internal affairs) của miền Nam Việt Nam với chính quyền Sài Gòn-VNCH bằng phương pháp hòa bình nhưng bất thành, cũng như lên án VNCH đã phá vỡ Hiệp định 1973 bằng vũ lực.

Quốc gia Cộng hòa Miền Nam Việt Nam: riêng biệt và độc lập trong 15 tháng

Ngay khi VNCH thua trận vào ngày 30/4/1975, CPCM đã lập tức khẳng định tư cách quản lý lãnh thổ miền Nam Việt Nam trước quốc tế bằng việc nêu rõ tính độc lập và quyền tự chủ của mình.

Đơn cử một ví dụ là vào ngày 4/5/1975, bà Nguyễn Thị Bình, với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao của chính phủ Cộng hoà Miền Nam Việt Nam (Republic of South Vietnam) – là tên gọi chính thức tại LHQ – đã gửi thư đến LHQ và nêu rõ tính độc lập và quyền tự chủ của CHMNVN, đồng thời tuyên bố tư cách thừa kế chính quyền VNCH tại LHQ và tại các tổ chức quốc tế, cũng như các định chế tài chính quốc tế.

Ngay tại Việt Nam, ngày 4/5/1975, báo Nhân Dân đã đăng thông báo về việc CPCM thành lập Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn-Gia Định để tiếp quản thành phố này.

Tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định tổ chức họp báo quốc tế ngày 8/5/1975. Nguồn: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.

Ngày 15/7/1975, ông Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch nước CHMNVN, đã gửi điện tín đến Tổng thư ký LHQ kèm theo đơn xin gia nhập LHQ. Cùng thời điểm đó, VNDCCH cũng nộp một đơn riêng xin gia nhập LHQ.

Rất rõ ràng là ngay sau ngày 30/4/1975, cả VNDCCH ở miền Bắc và CHMNVN ở miền Nam đã khẳng định một lần nữa trước quốc tế rằng họ là hai quốc gia độc lập.

Phản ứng quốc tế trước sự kiện 30/4/1975 cũng ủng hộ lập luận trên. Đó là hầu hết các quốc gia đều cho rằng CPCM đã thay thế VNCH để quản lý quốc gia Nam Việt Nam, tức là một sự thay đổi chế độ (change of government) tại miền Nam.

Tính chính danh của hai quốc gia Nam-Bắc Việt Nam trên phương diện công pháp quốc tế trong giai đoạn 4/1975-7/1976 được thể hiện qua tuyên bố của chính phủ Úc vào tháng 10/1975:

“Việc thống nhất giữa Bắc và Nam Việt Nam hiện tại vẫn chưa xảy ra, và như thế vẫn có hai nhà nước tiếp tục vận hành riêng biệt với nhau. Sự hiện diện của hai nhà nước riêng biệt (tại Việt Nam) đã được ít nhất 75 quốc gia công nhận. Việc vận hành riêng biệt cũng như sự chấp nhận bởi cộng đồng quốc tế đối với hai quốc gia này, VNDCCH và CHMNVN, được thể hiện rõ qua việc họ tham gia vào tổ chức WHO và WMO với tư cách là hai quốc gia thành viên khác nhau tại thời điểm này.”

Quốc gia CHMNVN chính thức chấm dứt tồn tại vào ngày 2/7/1976 khi họ hợp nhất với VNDCCH thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

Quỳnh Vi / Theo: luatkhoa.com



Wednesday, April 29, 2026

NGHÈO KHÓ THÌ TU THÂN, GIÀU CÓ THÌ GIÚP ĐỜI

Câu nói “Cùng tắc độc thiện kỳ thân, đạt tắc kiêm tế thiên hạ” (窮則獨善其身, 達則兼濟天下) xuất phát từ thiên Tận Tâm Thượng trong sách Mạnh Tử. Trải qua hàng nghìn năm, nó vẫn được xem là một chuẩn mực xử thế của người trí thức, đồng thời là điểm tựa tinh thần của biết bao bậc chí sĩ.

Nghèo khó thì tu thân, giàu có thì giúp đời

Chỉ vỏn vẹn mười chữ, nhưng đã hàm chứa toàn bộ trí huệ về sự tiến thoái trong đời người. Nó không chỉ chỉ ra ranh giới giữa cái “tôi” và thế giới, mà còn dạy ta trong từng hoàn cảnh khác nhau nên an định tâm mình ra sao, đối đãi với bản thân và với người khác như thế nào.

Một, “Cùng”: Không chỉ là nghèo, mà là lúc đời rơi vào nghịch cảnh

Chữ “cùng” ở đây không đơn thuần là thiếu thốn vật chất, mà chủ yếu chỉ trạng thái khốn đốn, không được toại chí – khi lý tưởng chưa thành, khi cuộc đời rơi vào điểm thấp nhất.

Khi cánh cửa cơ hội khép lại, khi năng lực chưa đủ nâng đỡ khát vọng, khi hoàn cảnh trở nên khắc nghiệt đến mức bất lực, Mạnh Tử không khuyên oán trách hay buông xuôi. Ông chỉ ra một lựa chọn đầy phẩm giá: độc thiện kỳ thân – tự tu dưỡng chính mình.

Giữ vững nguyên tắc, là cách chống lại sự phi lý

Ở trong nghịch cảnh, con người rất dễ nảy sinh oán hận, thậm chí vì thoát khốn mà đánh mất nguyên tắc. Nhưng chính lúc không ai nhìn thấy, lại càng cần giữ gìn đạo đức. Như hoa sen mọc giữa bùn, không thể đổi môi trường thì ít nhất cũng phải giữ mình không bị vấy bẩn.

Hướng nội tu dưỡng, là sự tích lũy cho tương lai

“Độc thiện kỳ thân” không phải là trốn tránh cuộc đời, mà là một dạng “lui để tiến”.

Khuất Nguyên trong cảnh lưu đày đã viết nên Ly Tao; Tư Mã Thiên sau biến cố vẫn hoàn thành Sử Ký.

Hình ảnh minh hoạ: Một, “Cùng”: Không chỉ là nghèo, mà là lúc đời rơi vào nghịch cảnh

Trong thời khắc khó khăn nhất, họ không sa ngã mà quay vào bên trong, mài giũa tâm trí và tài năng. Chính sự tu dưỡng âm thầm ấy giúp họ đủ sức nắm lấy cơ hội khi thời vận đổi thay.

Hai, “Đạt”: Không chỉ là giàu sang, mà là khi đã được toại chí

“Đạt” là khi con người ở vào giai đoạn thuận lợi có địa vị, có ảnh hưởng, có tiếng nói.

Không ít người khi còn khó khăn thì khiêm nhường, nhưng khi thành công lại dễ trở nên kiêu ngạo, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân. Mạnh Tử nhắc nhở: đạt tắc kiêm tế thiên hạ khi thành đạt, phải biết giúp đời.

Năng lực càng lớn, trách nhiệm càng lớn

Khi đã đứng ở vị trí cao, có trong tay tài nguyên và ảnh hưởng, tầm nhìn không nên chỉ bó hẹp trong lợi ích cá nhân. Tư tưởng Nho gia đề cao “nhân giả ái nhân” lòng nhân phải được thể hiện bằng hành động cụ thể, đặc biệt là khi ta có điều kiện giúp người khác.

Tầm vóc quyết định độ dài của con đường

Phạm Trọng Yêm từng nói: “Lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ”; Lâm Tắc Từ lại khẳng định: “Nếu lợi cho quốc gia, dù chết cũng cam lòng”.

Họ là những hình mẫu của tinh thần “kiêm tế thiên hạ”. Một đời người nếu chỉ dừng lại ở vinh hoa cá nhân thì vẫn còn hạn hẹp. Chỉ khi gắn vận mệnh của mình với lợi ích chung, cuộc đời mới thực sự rộng lớn.

Ba, Trí huệ dành cho người hiện đại: biết tiến và biết lui

Trong một thời đại nhiều áp lực và bất an, lời dạy của Mạnh Tử càng trở nên giá trị như một phương thuốc tinh thần. Nó chữa lành cảm giác bất lực.

Khi đối diện bất công hay áp lực mà chưa thể thay đổi, ta không cần ép mình phải “cứu đời” ngay lập tức. Hãy bắt đầu từ việc tu thân: đọc một cuốn sách, rèn luyện sức khỏe, chăm sóc người thân. Giữ được trật tự nội tâm giữa hỗn loạn bên ngoài, đó đã là một thắng lợi.

Hình ảnh minh hoạ: Ba, Trí huệ dành cho người hiện đại: biết tiến và biết lui

Nó cũng hóa giải nỗi lo khi thành công. Khi mọi thứ thuận lợi, lời dạy ấy giúp ta giữ tỉnh táo: đừng trở thành người chỉ biết hưởng thụ. Biết cho đi, biết hồi đáp xã hội đó không chỉ là đạo đức, mà còn là cách để phúc khí bền lâu.

Cuộc đời vốn là một đường cong lên xuống. Khi ở đáy vực, hãy rèn cho mình một nội tâm vững vàng, không xu nịnh, không thỏa hiệp đó là khí cốt của “cùng tắc độc thiện kỳ thân”.

Khi đứng trên đỉnh cao, hãy dang tay giúp đỡ và nâng đỡ người khác đó là tấm lòng của “đạt tắc kiêm tế thiên hạ”.

Mong rằng mỗi chúng ta đều có thể giữ được sự ung dung ấy: Gặp nghịch cảnh không hèn mọn cũng không oán trách, Gặp thuận cảnh không kiêu ngạo cũng không cuồng vọng.

Dù là “cùng” hay “đạt”, vẫn sống trọn vẹn với khí độ của chính mình.

Tiểu Hoa biên dịch
Theo: aboluowang

LỚP TANG THƯƠNG - J. LEIBA


LỚP TANG THƯƠNG
thơ: J. Leiba

Ngày ấy cùng say trong quán rượu
Sầu tư đã cạn rượu hồ vơi,
Hai chàng trai trẻ ca rồi hát,
Bắt chước người xưa đề vách chơi:

"Nhớ Hạnh Hoa thôn quán rượu này.
Nhớ ngày nhớ tháng hẹn rồi đây,
Mười năm sau sẽ cùng chung lại
Xem cuộc đời qua mấy đổi thay."

"Ngày ấy hẳn đầu chưa điểm bạc
Biết bao dòng nước chảy qua cầu!
Lối xưa tửu quán còn không nhỉ?
Bể rộng mong đừng hoá ruộng dâu!"

Chưa tới mười năm quán Hạnh Hoa,
Xuyên ngang tửu quán ánh dương tà,
Một người xuống ngựa mười năm trước
Một chén men tràn suối lệ sa.

J. LEIBA


Sơ lược tiểu sừ tác giả:

J. Leiba (1912-1941) tên tuy có vẻ Tây nhưng do hai chữ Lê Bái nói lái. Ông tên thật là Lê Văn Bái, khởi đầu ký bút hiệu Thanh Tùng Tử, sau mới đổi J. Leiba, sinh tại Yên Bái, nhưng chính quán là làng Nam Trực, phủ Nam Trực, tỉnh Nam Định. Thuở nhỏ ông theo học Trường Bưởi (tức trường Trung học Bảo hộ), đến năm thứ ba, ông bỏ dở việc học đi theo một nhóm giang hồ ngót một năm. Sau đó, ông trở về quê học chữ Hán, rồi lại lên Hà Nội viết báo và làm thơ.
 
Bước chân vào làng thơ từ khoảng năm 1929-1930, ban đầu với bút danh Thanh Tùng Tử, viết cho tờ Hà Thành Ngọ báo. Năm 1934, báo Tiểu thuyết thứ Bảy ra đời, ông cộng tác với Vũ Đình Long (chủ báo), rồi được cử giữ chức chủ bút tờ Ích hữu. Ngoài ra, ông còn viết các tờ: Tân báo, Tin văn, Việt báo, Nam Cường, L'Annam nouveau... Nhưng ông thật sự được người đọc chú ý nhiều, chính là nhờ những bài thơ đăng trên tuần báo Loa.
 
Năm 1935, ông thi đỗ bằng thành chung, được bổ vào ngạch thư ký toà sứ Bắc Kỳ, nhận việc ở toà sứ tỉnh Sơn Tây. Trong thời kỳ làm công chức ở đây, ông đã sống khá trác táng. Đến khi đổi lên toà sứ Hà Giang thì J.Leiba đã mắc hai chứng bệnh: lao phổi và đau tim. Ông xin nghỉ về Hà Nội chữa trị, nhưng đến tháng 7 năm 1940, tự biết mình không thể khỏi bệnh nên xin về nghỉ ở quê nhà. Tại đây, thỉnh thoảng ông mới gửi một vài bài thơ cho báo Tiểu thuyết thứ bảy và Tri tân.
 
Ngày 18 tháng 12 năm 1941, J. Leiba từ trần giữa tuổi 29 (1941).
 
J. Leiba có viết một số truyện ngắn, nhưng không thành công bằng thơ. Thơ ông, tuy chỉ có hơn chục bài đăng báo, chưa in thành tập, nhưng đã được giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân, và trong bộ sách Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan.

Nguồn: Thi Viện

NGỰ TIÊN ĐÔ (御仙都) - DẠ TIỆC CUNG ĐÌNH XA HOA GIỮA LÒNG BẮC KINH

Ngự Tiên Đô (御仙都 Yuxiandu) tại Bắc Kinh tái hiện yến tiệc hoàng gia Trung Hoa với ẩm thực cung đình, cổ phục và nghệ thuật truyền thống, mang đến trải nghiệm văn hóa độc bản.


Bắc Kinh, thủ đô ngàn năm văn hiến của Trung Quốc, vốn nổi tiếng với những di sản cung đình lộng lẫy. Giữa nhịp sống hiện đại, vẫn có một nơi đưa du khách trở về quá khứ vàng son của triều đại Minh – Thanh: nhà hàng Ngự Tiên Đô. Không đơn thuần là một điểm đến ẩm thực, nơi đây là “cánh cổng” mở ra thế giới cung đình cổ xưa, nơi ẩm thực, nghệ thuật và văn hóa giao hòa để tạo nên trải nghiệm duy nhất vô nhị.

Ngự Tiên Đô được thiết kế như một cung điện thu nhỏ, từ kiến trúc, nội thất cho đến phong cách phục vụ. Mỗi bước chân trên nền gạch bóng loáng, mỗi ánh sáng đèn lồng rực rỡ đều gợi nhớ về bầu không khí huy hoàng chốn hoàng cung. Đó không chỉ là sự tái hiện, mà còn là cách Bắc Kinh gìn giữ và làm sống dậy những giá trị truyền thống, mang đến cho thế giới một cái nhìn đầy cảm xúc về nền văn hóa Trung Hoa.

Không gian cung đình lộng lẫy


Ngay khi bước qua cổng chính, du khách sẽ lập tức bị cuốn hút bởi khung cảnh như thể bước vào một cung điện thực thụ. Đèn lồng đỏ treo cao lung linh ánh sáng, hồ sen lấp lánh gợn sóng, bàn ghế sơn son thếp vàng phản chiếu ánh đèn tạo nên không gian xa hoa, sang trọng.

Điểm đặc biệt là đội ngũ nhân viên phục vụ mặc cổ phục triều Minh – Thanh, cúi chào theo nghi thức cung đình, đưa thực khách ngược dòng thời gian trở về triều đại xưa. Từng chi tiết nhỏ – từ hoa văn trên tường, bức bình phong chạm trổ rồng phượng, đến bát đĩa sứ hoa lam tinh xảo – đều tái hiện tinh thần hoàng cung.

Ngự Tiên Đô không chỉ là một nhà hàng, mà còn là một “bảo tàng sống”, nơi mỗi góc nhỏ đều mang dấu ấn lịch sử, khiến du khách có cảm giác mình thực sự đang tham dự một buổi yến tiệc của bậc đế vương.

Nghi lễ nhập tiệc – sống lại vai trò vương tôn


Trải nghiệm tại Ngự Tiên Đô không bắt đầu bằng việc gọi món, mà bằng nghi lễ nhập tiệc. Du khách được mời khoác lên mình cổ phục hoàng gia – những bộ trang phục vốn chỉ dành cho tầng lớp quý tộc xưa. Khi bước vào sảnh tiệc, mỗi vị khách được chào đón như một thân vương hay công nương.

Âm nhạc cung đình trỗi lên, tiếng trống, tiếng sáo hòa quyện trong không gian, mang lại cảm giác thiêng liêng và trang trọng. Nghi lễ này không chỉ giúp du khách nhập vai mà còn mở ra một hành trình thưởng thức ẩm thực gắn liền với văn hóa, để mỗi món ăn trở thành một phần của câu chuyện lịch sử.

Thực đơn cung đình – tinh hoa ẩm thực đế vương


Điểm nhấn của Ngự Tiên Đô chính là thực đơn được phục dựng từ kho tàng ẩm thực hoàng thất Trung Hoa. Mỗi món ăn là sự kết hợp giữa nguyên liệu quý hiếm, kỹ thuật chế biến tinh vi và nghệ thuật trình bày cầu kỳ.

Một số món tiêu biểu:
  • Phật nhảy tường: món ăn thượng hạng với hơn 30 loại nguyên liệu quý, được hầm nhiều giờ liền, mang hương vị sâu lắng, từng được coi là “báu vật” trên bàn tiệc hoàng cung.

  • Vịt quay cung đình: biến thể tinh xảo của vịt quay Bắc Kinh, da giòn, thịt mềm, được phục vụ theo nghi thức truyền thống.

  • Nấm Matsutake: loại nấm hiếm, được ví như “kim cương ẩm thực”, chỉ xuất hiện trong những bữa tiệc xa hoa.

  • Cá viên hoa cúc: món ăn không chỉ ngon miệng mà còn có hình thức đẹp mắt, tượng trưng cho sự thanh tao và trường thọ.


Mỗi món đều gắn liền với một câu chuyện lịch sử, tái hiện lại phong cách ăn uống của các bậc đế vương. Không chỉ là hương vị, mà còn là hành trình khám phá văn hóa qua từng đĩa thức ăn.

Nghệ thuật cung đình – khúc nhạc vàng son


Bữa tiệc tại Ngự Tiên Đô không thể thiếu phần biểu diễn nghệ thuật cung đình. Xen lẫn giữa các món ăn là những tiết mục múa cổ trang, nhạc cụ dân tộc như đàn tỳ bà, sáo trúc, trống chiến.

Đặc biệt, có những màn tái hiện nghi lễ cung đình: dâng trà, múa cung nữ, hay các điệu múa rồng phượng – tất cả mang lại cho du khách trải nghiệm thị giác và thính giác sống động. Nhờ đó, bữa tiệc không chỉ thỏa mãn vị giác mà còn chạm đến trái tim, giúp thực khách thực sự đắm mình trong bầu không khí xa hoa của triều đại xưa.

Sự giao thoa giữa quá khứ và hiện tại


Ngự Tiên Đô là minh chứng cho sự sáng tạo trong việc kết hợp truyền thống và hiện đại. Nhà hàng không chỉ dừng lại ở việc tái hiện không gian cung đình, mà còn ứng dụng công nghệ ánh sáng, âm thanh để tạo hiệu ứng chân thực và sống động.


Điều này giúp du khách, đặc biệt là thế hệ trẻ, có thể tiếp cận văn hóa cổ truyền một cách gần gũi và hấp dẫn hơn. Bằng cách biến di sản văn hóa thành trải nghiệm sống, Ngự Tiên Đô đã thành công trong việc bảo tồn và lan tỏa giá trị tinh hoa ẩm thực – nghệ thuật Trung Hoa.

Trải nghiệm dành cho du khách quốc tế


Không chỉ thu hút người dân địa phương, Ngự Tiên Đô còn là điểm đến hấp dẫn của du khách quốc tế. Với vị trí thuận lợi tại Bắc Kinh – nơi tập trung nhiều di sản nổi tiếng như Tử Cấm Thành, Thiên An Môn – Ngự Tiên Đô trở thành điểm dừng chân hoàn hảo để du khách trải nghiệm một Trung Hoa cổ kính ngay trong nhịp sống hiện đại.

Nhiều du khách phương Tây bày tỏ sự ấn tượng mạnh mẽ trước sự cầu kỳ trong từng chi tiết, từ trang phục đến món ăn. Với họ, đây không chỉ là một bữa tối, mà là một “vở kịch sống” đưa họ đến với quá khứ huy hoàng của một nền văn minh vĩ đại.

Ý nghĩa văn hóa – ẩm thực


Sự ra đời của Ngự Tiên Đô không chỉ mang tính thương mại mà còn có giá trị văn hóa sâu sắc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc tái hiện lại một dạ tiệc cung đình cho thấy nỗ lực bảo tồn và quảng bá văn hóa truyền thống.

Thông qua ẩm thực, nghệ thuật và kiến trúc, du khách được kết nối với lịch sử, hiểu hơn về tinh thần hoàng gia, đồng thời trân trọng những giá trị mà người xưa đã để lại. Đây cũng là cách Trung Quốc khẳng định sức mạnh mềm của mình trên trường quốc tế: dùng văn hóa để tạo ấn tượng và sức hút.

Tuyết Lan / Theo: TravelSig+
Link tham khảo:
https://www.getyourguide.com/beijing-l186/cuisine-experience-yu-xiandu-royal-gastronomy-museum-t1189552/



1954-1975: QUỐC TẾ ĐÃ CÔNG NHẬN HAI NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO

Một trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất giữa những người Việt Nam khi nói đến cuộc chiến Việt Nam trong giai đoạn từ 1954 đến 1975 là về tính chính danh của hai nhà nước ở hai miền Nam – Bắc.


Hai điều khó có thể phủ nhận là: cả hai miền đều có sự ủng hộ riêng từ cộng đồng quốc tế; và kể từ 30/4/1975, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam rồi tiếp đến là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thừa kế hàng loạt quyền và nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam Cộng hòa.

Hiệp định Geneva 1954 nhấn mạnh rằng việc tạm thời chia đôi nước Việt Nam tại vĩ tuyến 17 không đồng nghĩa với việc thiết lập ranh giới lãnh thổ và chính trị giữa hai miền Nam – Bắc. Chính phủ ở cả hai miền đều thể hiện rất rõ ràng điều này tại các bản hiến pháp của họ trong giai đoạn 1954 – 1975.

Từ thời điểm bắt đầu đàm phán Hiệp định Geneva 1954 cho đến khi chiến tranh kết thúc, cả hai chính thể được thành lập trước đó tại mỗi miền đều cho rằng chỉ duy nhất một mình họ là đủ tính chính danh để quản lý cả đất nước, cũng như chỉ có họ là được quốc tế công nhận.

Thế nhưng định nghĩa “quốc tế” của mỗi miền lại không giống nhau. Khi ấy, chính cộng đồng quốc tế cũng chia rẽ thành hai khối, chứ không riêng gì đất nước Việt Nam.

Tháng 1/1950, cùng với Trung Quốc và Liên Xô, các quốc gia cộng sản Đông Âu đều công nhận tính chính danh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đối với lãnh thổ Việt Nam.

Cũng vào đầu năm 1950, Liên hiệp Pháp công nhận quyền tự trị và nền độc lập của Quốc gia Việt Nam (QGVN), tiền thân của Việt Nam Cộng hòa (VNCH), dựa trên một số hiệp ước được ký kết trước đó giữa hai nước vào năm 1949.

Đến tháng 2/1950, Anh, Hoa Kỳ và một số nước phương Tây đều công nhận QGVN là thể chế lãnh đạo của nước Việt Nam.

Sau khi VNCH được thành lập vào năm 1955 và thay thế quyền lãnh đạo miền Nam của QGVN, Hoa Kỳ và các đồng minh phương Tây tiếp tục công nhận tính chính danh của VNCH. Đến năm 1966, theo thống kê của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đã có 60 quốc gia trên thế giới công nhận chính thể VNCH của Nam Việt Nam.

Một số nước như Ấn Độ, Thụy Điển thì lại theo quy tắc không công nhận cả hai. Tuy nhiên, đến năm 1969, Thụy Điển trở thành nước phương Tây đầu tiên công nhận nhà nước VNDCCH của Bắc Việt Nam.

Việc công nhận thể chế nào tại Việt Nam mới thật sự đại diện cho cả đất nước vốn không hề ngã ngũ vào thời điểm Hiệp định Geneva 1954 được ký kết.

Ngược lại, cuộc giằng co này kéo dài đến hơn 20 năm sau.

Trong giai đoạn 1954 – 1975, ngoài sự công nhận của các nước trên thế giới chia theo hai cực cộng sản và tư bản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, hai nhà nước Việt Nam còn được công nhận theo một số cách khác.

Cờ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Việt Nam Cộng hoà tại vĩ tuyến 17 trong thời kỳ chiến tranh. Ảnh: Life.

Gia nhập Liên Hiệp Quốc

Trước hết, VNCH đã từng xin tham gia vào Liên Hiệp Quốc (LHQ) vào đầu thập niên 1950. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, VNDCCH cũng nộp đơn làm thành viên. Tuy nhiên, cả hai đều gặp phải sự phản đối từ thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an.

Chúng ta có lẽ không khó hiểu khi biết rằng Liên Xô đã từng phản đối VNCH tham gia vào LHQ, và ngược lại, Hoa Kỳ phản đối VNDCCH.

Vì những sự phản đối này mà hai chính phủ Bắc – Nam Việt Nam đã khá lận đận với việc đăng ký làm thành viên LHQ trong suốt 20 năm.

Ngày 30/4/1975, chế độ VNCH bị chính quyền của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CHMN) thay thế, nhưng vẫn giữ vị thế một nhà nước độc lập đối với VNDCCH tại miền Bắc. Điều này được thể hiện rõ qua hai lá đơn xin tham gia LHQ riêng biệt của VNDCCH – Bắc Việt và CHMN – Nam Việt vào năm 1975.

Đến ngày 8/8/1975, Hội đồng Bảo an đã đồng thuận chấp nhận và đề cử với Đại Hội đồng LHQ cho cả hai quốc gia VNDCCH – Bắc Việt lẫn CHMN – Nam Việt được tham gia vào LHQ.

Việc Hội đồng Bảo an đưa ra đề cử với cả hai đơn xin tham gia LHQ của hai nhà nước Việt Nam vào tháng 8/1975 càng làm rõ vấn đề là cả hai chính thể đều được đối xử như nhau và đều được LHQ công nhận.

Sau khi hai nhà nước VNDCCH và CHMN thống nhất và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam ra đời vào ngày 2/7/1976, Việt Nam mới trở thành một quốc gia với một chính phủ duy nhất. Sau đó, CHXHCN Việt Nam đã chính thức gia nhập LHQ vào tháng 9/1977.

Trên danh nghĩa, kể từ ngày 30/4/1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam tiếp quản toàn bộ lãnh thổ do Việt Nam Cộng hoà quản lý trước đó. Ảnh: Uỷ ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định tổ chức họp báo quốc tế ngày 8/5/1975. Nguồn: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.

Tham gia với tư cách thành viên của các tổ chức quốc tế

Việc VNCH và VNDCCH đều tham gia làm thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) càng giúp chúng ta kết luận Việt Nam đã từng có hai chính phủ và được đối đãi như hai quốc gia riêng biệt.

Trước hết, đây là các tổ chức quốc tế mà thành viên tham gia hầu hết phải là các quốc gia có chủ quyền (sovereign states). Chúng ta có thể dùng Đài Loan làm ví dụ để so sánh vì Đài Loan chưa bao giờ là thành viên của WHO.

Trong khi đó, từ 17/5/1950, VNCH đã là thành viên của WHO, và trở thành thành viên của WMO từ 1/4/1955.

Sau khi VNCH sụp đổ vào ngày 30/4/1975, VNDCCH mới xin gia nhập hai tổ chức này. VNDCCH được kết nạp làm thành viên của WMO vào ngày 7/8/1975, và là thành viên của WHO vào ngày 22/10/1975. Điều này có nghĩa là tư cách thành viên của VNCH tại WHO và WMO lúc đó không bị xóa bỏ cho dù chính thể VNCH không còn tồn tại nữa.

Sau khi hai miền Nam Bắc thống nhất và trở thành CHXHCN Việt Nam vào tháng 7/1976, chính phủ mới đã gửi thông báo đến hai tổ chức này trong năm 1977 để yêu cầu cho phép CHXHCN Việt Nam tiếp nhận tư cách thành viên của cả hai chính phủ Nam – Bắc Việt Nam trước đó.

Điều này đồng nghĩa rằng trong thời gian trước năm 1977, đã có hai quốc gia Việt Nam là thành viên của WHO và WMO, và đều được hai tổ chức quốc tế này công nhận.

Đến thời điểm hiện tại, ngày tham gia vào WHO của Việt Nam được ghi nhận là ngày 17/5/1950 – là ngày mà VNCH tham gia vào WHO như đã nói ở trên. Điều này có nghĩa là tư cách tham gia WHO với danh nghĩa một quốc gia của VNCH không hề bị ảnh hưởng từ việc thống nhất đất nước vào năm 1976.

Ngoài ra, CHXHCN Việt Nam còn tiếp tục thay thế tư cách thành viên của VNCH ở các tổ chức khác như Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), và Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA). Đây là những tổ chức quốc tế mà trước năm 1975 chỉ có VNCH tham gia làm thành viên.

Kể từ năm 1977, Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là chính thể duy nhất quản lý toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Ảnh: mard.gov.vn.

CHXHCN Việt Nam tiếp tục tư cách thành viên của VNCH đối với các định chế tài chính quốc tế

Trước tháng 4/1975, chỉ có VNCH là thành viên của các định chế tài chính quốc tế. Đó là Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).

Sau khi được thành lập vào tháng 7/1976, CHXHCN Việt Nam đã trình thư xin thay thế (substitution) tư cách thành viên của VNCH tại các định chế tài chính nói trên, chứ không phải là đơn xin gia nhập làm thành viên mới.

Cụ thể là khi thay thế tư cách thành viên của VNCH với ADB, CHXHCN Việt Nam đã tiếp quản 3.000 cổ phần của chính phủ VNCH tại ngân hàng này.

Đồng thời, CHXHCN Việt Nam cũng tiếp tục được nhận tất cả các khoản vay mà VNCH đã được ADB chấp thuận cho vay trong những năm trước đó. CHXHCN Việt Nam cũng bảo đảm sẽ chịu trách nhiệm chi trả cho những khoản vay này.

Vì vậy, ngày gia nhập ADB của Việt Nam hiện nay là ngày 22/9/1966, là ngày mà Quốc hội của chính phủ VNCH tại miền Nam đã phê chuẩn việc tham gia ADB.

CHXHCN Việt Nam tiếp tục công nhận một số hiệp ước mà VNCH đã ký kết

Tương tự việc tiếp tục tư cách thành viên của VNCH tại một số tổ chức và định chế tài chính quốc tế như đã nêu, CHXHCN Việt Nam còn tiếp tục công nhận ít nhất hai hiệp ước quốc tế mà VNCH đã ký kết trước ngày 30/4/1975.

Ngày 16/12/1976, nhà nước CHXHCN Việt Nam đã đệ trình đơn phê chuẩn Công ước Viễn thông Quốc tế 1973 (1973 International Telecommunication Convention) mà chính phủ VNCH đã ký kết vào ngày 25/10/1974 tại Hội nghị Málaga-Torremolinos nhưng chưa kịp phê chuẩn. Đơn đệ trình của CHXHCN Việt Nam nêu rõ là việc phê chuẩn được dựa trên những ký kết mà VNCH đã thực hiện trước đó.

Tương tự, VNCH được công nhận tư cách thành viên của Liên minh Bưu chính Quốc tế (UPU) từ năm 1951. Vào tháng 7/1974, chính phủ VNCH đã ký kết các văn bản liên quan đến các Quy chế Chung (General Regulations) và Công ước Liên minh Bưu chính Lausanne (Universal Postal Convention) của UPU nhưng chưa kịp phê chuẩn. Ngày 27/10/1976, Quốc hội của CHXHCN Việt Nam đã phê chuẩn các văn bản này và đệ trình lên tổ chức UPU với yêu cầu được thừa kế (succession) tư cách của VNCH.

Ngoài ra, vào ngày 4/7/1976, chỉ hai ngày sau khi được thành lập, Bộ Ngoại giao của nhà nước CHXHCN Việt Nam đã gửi công hàm đến chính phủ Thụy Sỹ và tuyên bố khẳng định tiếp tục tham gia vào các hiệp ước của Công ước Geneva 1949 (Geneva Conventions of 1949) mà hai chính phủ VNDCCH và VNCH đã ký kết trước đó về các vấn đề bảo vệ nạn nhân chiến tranh.

***

Qua những ví dụ kể trên, chúng ta nhận thấy rằng bằng nhiều hành động khác nhau, cả hai chính phủ VNCH và VNDCCH đã khẳng định tư cách quốc gia của mình trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975.

Nhà nước Việt Nam hiện nay chưa bao giờ chính thức công nhận chính thể VNCH. Tuy nhiên, CHXHCN Việt Nam lại liên tục công nhận tư cách quốc gia của VNCH một cách gián tiếp, qua việc thừa kế hoặc tiếp nhận tư cách thành viên của VNCH tại các tổ chức và định chế tài chính quốc tế.

Ngày nay, có lẽ đối với nhiều người Việt Nam, đặc biệt là những thế hệ sinh ra và lớn lên sau năm 1975, tư cách quốc gia của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền Bắc Việt Nam là việc không còn phải tranh cãi.

Còn về chính thể Quốc gia Việt Nam – Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam, chúng ta có thể đọc lại những gì mà Đại Hội đồng LHQ đã phát biểu khi đề cử QGVN tham gia LHQ trong phiên họp năm 1952. Từ đó, chúng ta có thể phần nào hiểu thêm được một quan điểm khác về sự tồn tại và tính chính danh của chính thể QGVN – VNCH:

“Quan điểm của Đại Hội đồng cho rằng (Quốc gia) Việt Nam là một nhà nước yêu chuộng hòa bình đúng như định nghĩa của Điều 4 Hiến chương, đã thể hiện nguyện ý cũng như có khả năng thực hiện các nghĩa vụ của Hiến chương, và do đó nên được chấp thuận tham gia làm thành viên của Liên Hiệp Quốc.”

Tài liệu tham khảo:
Quỳnh Vi / Theo: luatkhoa.com