Friday, October 30, 2026

NHẠN MÔN THÁI THÚ HÀNH - LÝ HẠ


Nhạn Môn thái thú hành

Hắc vân áp thành thành dục tồi,
Giáp quang hướng nhật kim lân khai.
Giốc thanh mãn thiên thu sắc lý,
Tái thượng yên chi ngưng dạ tử.
Bán quyển hồng kỳ lâm Dịch thuỷ,
Sương trọng cổ hàn thanh bất khởi.
Báo quân Hoàng Kim đài thượng ý,
Đề huề Ngọc Long vi quân tử.


雁門太守行

黑雲壓城城欲摧
甲光向日金鱗開
角聲滿天秋色裡
塞上燕脂凝夜紫
半捲紅旗臨易水
霜重鼓寒聲不起
報君黃金臺上意
提攜玉龍為君死


Nhạn Môn thái thú hành
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Mây đen về cuốn ngang thành.
Lớp mây vẩy cá, long lanh nắng chiều.
Tiếng thu se sắt cô liêu.
Đêm nơi biên ải nhạn liều cánh bay.
Cờ hồng Dịch Thủy lắt lay.
Sương giăng trống dục, chẳng tày tiến quân.
Hoàng Kim đài, nặng nghĩa ân.
Tay cầm kiếm báu xả thân đáp đền.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Thi quỷ Lý Hạ 李賀 (790-816) thuộc dòng dõi tôn thất nhà Đường, cực kỳ thông minh đĩnh ngộ, khi mới lên bảy đã biết làm thơ. Danh sĩ đương thời là Hàn Dũ nghe tiếng Hạ bèn cùng Hoàng Phủ Thực đến nhà. Hai người muốn thử tài nên bắt Hạ làm thơ. Hạ thản nhiên cầm bút viết ngay bài Cao hiên quá trình lên, hai ông xem xong đều kinh hoảng. Bài thơ Cao hiên quá có những câu vô cùng kỳ dị, nếu đúng là do một cậu bé làm ra như giai thoại được kể trong Thái bình ngự lãm thì hai nhà thơ đương thời có kinh tâm động phách cũng là điều dễ hiểu: “Điện tiền tác phú thanh ma không, Bút bổ tạo hoá thiên vô công” (Trước nhà, làm thơ trình, thanh âm của bài thơ chạm vào bầu trời, Ngọn bút bổ sung những chỗ khiếm khuyết bất toàn của tạo hoá một cách dễ dàng, không tốn chút công sức).

Theo tiểu truyện về Lý Hạ do Lý Thương Ẩn - một nhà thơ lớn thời Vãn Đường - viết, thì khi Lý hạ bệnh nặng, bỗng có một vị tiên mặc áo lụa đào, cưỡi con cù long màu đỏ, bay đến bên cửa, cầm một cuốn sách, chữ giống như chữ triện thời thái cổ, trao cho Lý Hạ và nói: “Thượng đế đã cho xây xong lầu Bạch Ngọc, xin mời ông lên gấp để viết cho bài ký” (Đế thành Bạch Ngọc lâu, lập quân chiêu vi ký). Lát sau Lý Hạ mất. Người nhà thấy hơi và khói thấp thoáng qua cửa sổ, và nghe tiếng xe đi trong tiếng sáo réo rắt. Trong lịch sử Đường thi, có lẽ chỉ có Thi Tiên Lý Bạch và Thi Quỷ Lý Hạ mới có huyền thoại chung quanh cái chết mà thôi. Một người nhảy xuống sông ôm trăng rồi cưỡi con kình ngư lên cõi thiên khung (tương truyền khi Lý Bạch nhảy xuống sông ôm trăng thì có con kình ngư tới đón và chở lên trời), một người được Thượng đế cho tiên nhân đem xe nhạc đến mời lên viết bài ký cho lầu Bạch Ngọc chốn thiên đình. Ai dám khẳng định điều đó là hoang đường không thực, khi mà cõi đời tự bản chất đã là sắc sắc không không?

Nguồn: Thi Viện



BÀN LONG CỔ ĐẠO - CUNG ĐƯỜNG DÀI 75KM VỚI 600 KHÚC CUA

Uốn lượn trên dãy núi Côn Lôn ở phía tây bắc Tân Cương chính là Bàn Long Cổ Đạo, tuyến đường được mệnh danh là “cơn ác mộng với những người say xe” vì có hơn 600 khúc cua ngoằn ngoèo. Thậm chí, ngay cả những tay lái giàu kinh nghiệm cũng phải toát mồ hôi hột khi lái xe trên cung đường này. Hãy cùng May Travel tìm hiểu về Bàn Long Cổ Đạo trong bài viết dưới đây nhé!


Bàn Long Cổ Đạo – Cung đường với hơn 600 khúc nguy hiểm

Bàn Long Cổ Đạo (盤龍古道 Pamir Plateau Sky Road) là tuyến đường vắt ngang qua dãy núi Côn Lôn của vùng Kashgar, Tân Cương. Tổng chiều dài của tuyến đường là 75km, trong đó có 36km với hơn 600 khúc cua 180 độ, thậm chí có đoạn 270 độ. 

Bàn Long Cổ Đạo với hơn 600 khúc cua nguy hiểm

Ở điểm cao nhất, Bàn Long Cổ Đạo có độ cao 4.269m so với mực nước biển, chênh lệch độ cao từ chân núi tới đỉnh dốc lên đến 1000m. Từ trên cao nhìn xuống, toàn bộ con đường như một con rồng đen khổng lồ uốn mình len lỏi qua dãy núi Côn Lôn hùng vĩ – cũng là lý do cái tên “Bàn Long” (rồng cuộn) ra đời.

Bên cạnh những khúc cua chữ S, Bàn Long Cổ Đạo còn được xem là một trong những tuyến đường nguy hiểm nhất Trung Quốc. Bởi một bên là vách đá dựng đứng và bên dưới là dòng sông Hoàng Hà. Ngay cả những tài xế giàu kinh nghiệm cũng phải căng mắt để lái xe cẩn thận trên cung đường này.

Tuyến đường được thông xe từ tháng 7/2019 nhằm tạo lối đi qua núi Côn Lôn cho hơn 2800 người dân của 5 ngôi làng phía trên núi. Tuy nhiên, nơi đây nhanh chóng trở thành điểm thu hút du lịch và những ai muốn thử thách tài nghệ lái xe của bản thân. 

Bàn Long Cổ Đạo thách thức mọi tay lái giàu kinh nghiệm

Hành trình chinh phục Bàn Long Cổ Đạo

Cách duy nhất để bạn chinh phục tuyến đường này là lái xe đến đây. Bắt đầu từ Kashgar, bạn di chuyển về hướng về cao nguyên Mier ở phía Tây. Càng lên cao cảnh vật càng thay đổi. Trên hành trình này, bạn sẽ được ngắm nhìn khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ tuyệt đẹp của vùng đất Tân Cương, từ hồ Bạch Sa, hồ Karakul cho đến đỉnh núi Muztagh Ata cao 7546m.

Đến huyện Tashkurgan, bạn đi tiếp 23km về phía Hồng Kỳ Lạp. Sau khi băng qua vài dãy núi, bạn sẽ nhìn thấy một con đường uốn lượn quanh núi Côn Lôn hùng vĩ, đó chính là Bàn Long Cổ Đạo nổi tiếng.

Tuyến đường Bàn Long Cổ Đạo hiện ra trước mắt

Bàn Long Cổ Đạo được chia làm hai đoạn là Đại Bàn Long và Tiểu Bàn Long:
  • Đại Bàn Long với nhiều khúc cua lớn nhưng không quá dày đặc, giúp tài xế và hành khách làm quen dần. Dọc đường có nhiều điểm dừng chân, nếu cảm thấy mệt, bạn có thể nghỉ ngơi, ngắm cảnh rồi đi tiếp.

  • Tiểu Bàn Long là đoạn thử thách nhất, với những khúc cua 180 độ nối nhau liên tiếp. Đoạn đường này chắc chắn là “cơn ác mộng tồi tệ nhất” của những người say xe.
Đặc biệt ngay tại chân núi là tấm biển với nội dung: “Hôm nay đã đi hết mọi khúc quanh của cuộc đời. Từ nay cuộc đời chỉ toàn đường bằng phẳng.” Tấm biển này đã trở thành điểm check in không thể bỏ qua với bất cứ du khách nào có dịp đến đây. 

Tấm biển check in nổi tiếng

Thời điểm lý tưởng để khám phá Bàn Long Cổ Đạo

Thời gian lý tưởng nhất để chinh phục Bàn Long Cổ Đạo là từ tháng 5 đến đầu tháng 10. Thời tiết tại Tân Cương lúc này khô ráo, nắng nhẹ, bầu trời trong xanh và cảnh quan hiện lên rõ nét nhất. Đây cũng là thời điểm thiên nhiên vùng Kashgar khoác lên mình vẻ đẹp lộng lẫy – từ những dãy núi tuyết trắng đến các thung lũng xanh mướt.

Từ tháng 10 trở đi, tuyết phủ dày đặc khiến cung đường này bị đóng băng và buộc phải tạm ngừng hoạt động vì lý do an toàn. Vì vậy, nếu có kế hoạch đến đây thì bạn hãy chọn thời điểm phù hợp nhé!

Bàn Long Cổ Đạo phủ đầy tuyết trắng vào mùa đông

Lý do xây dựng Bàn Long Cổ Đạo

Mục đích xây dựng Bàn Long Cổ Đạo xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân vùng cao nguyên Pamir. Trước đây, người dân thôn Waqia phải mất nhiều giờ băng qua núi cao hiểm trở để đến trung tâm huyện Tashkurgan. Việc xây dựng tuyến đường không chỉ giúp rút ngắn thời gian di chuyển, mà còn mở ra cơ hội phát triển du lịch cho những ngôi làng của thôn Waqia.

Tại làng Kunyuzu, người dân phát triển du lịch homestay, bảo tồn kiến trúc nhà ở truyền thống của người Tajik, giúp mỗi hộ dân thu thêm hàng vạn nhân dân tệ mỗi năm. Trong khi đó, làng Xialafudie ngay dưới chân tuyến đường cũng phát triển khu du lịch sinh thái, tổ chức các hoạt động truyền thống như đua ngựa, ném dê. 

Tuyến đường giúp rút ngắn thời gian di chuyển cho người dân

Với 639 khúc cua nguy hiểm và cảnh quan kỳ vĩ từ độ cao hơn 4000m, Bàn Long Cổ Đạo chính là điểm đến lý tưởng cho những ai đam mê du lịch mạo hiểm. Nếu có dịp đến Tân Cương, đừng chỉ nghe kể mà hãy tự mình trải nghiệm cung đường huyền thoại này nhé!

Thùy Linh / May Travel



NHỮNG THÍ NGHIỆM TRÊN NGƯỜI TÀN BẠO NHẤT CỦA PHÁT XÍT NHẬT THỜI THẾ CHIẾN II - PHẦN CUỐI

Sáu trong số những thí nghiệm kinh hoàng nhất đều là tác phẩm của Đơn vị 731, đơn vị nghiên cứu chiến tranh sinh học và hóa học tàn bạo của Quân đội Đế quốc Nhật Bản.

Thử nghiệm bệnh giang mai

Shiro Ishii, Chỉ huy Đơn vị 731. Ảnh: Wikimedia Commons

Bệnh hoa liễu đã trở thành cơn ác mộng của các quân đội kể từ thời Ai Cập cổ đại, và do đó, có lý do để quân đội Nhật Bản quan tâm đến các triệu chứng và cách điều trị bệnh giang mai.

Để tìm hiểu những gì cần biết, các bác sĩ tại Đơn vị 731 đã cho các tù nhân nhiễm căn bệnh này và không điều trị để quan sát diễn biến bệnh không bị gián đoạn. Tuy nhiên, một phương pháp điều trị hiện đại là chất hóa trị Salvarsan thỉnh thoảng được sử dụng trong khoảng thời gian vài tháng để quan sát các tác dụng phụ.

Để đảm bảo lây truyền căn bệnh này một cách hiệu quả, những nam tù nhân mắc bệnh giang mai được lệnh cưỡng hiếp cả tù nhân nữ và nam, những người này sau đó sẽ được theo dõi để xem căn bệnh này khởi phát ra sao. Nếu lần tiếp xúc đầu tiên không làm lây nhiễm thành công, chúng sẽ bắt nam tù nhân gây ra nhiều vụ cưỡng hiếp cho đến khi nạn nhân nhiễm bệnh.

Hiếp dâm và cưỡng bức mang thai

Cơ sở của Đơn vị 731 ở Harbin. Ảnh: Wikimedia Commones

Ngoài các thí nghiệm về bệnh giang mai, hiếp dâm đã trở thành một đặc điểm chung trong các thí nghiệm của Đơn vị 731.

Ví dụ, các nữ tù nhân trong độ tuổi sinh đẻ đôi khi bị cưỡng bức để có thể thực hiện các thí nghiệm về vũ khí và chấn thương đối với họ.

Sau khi bị mắc các bệnh khác nhau, tiếp xúc với vũ khí hóa học, hoặc bị thương do vật nặng đè, vết thương do đạn, mảnh đạn, các đối tượng mang thai được mổ phanh và nghiên cứu ảnh hưởng đến thai nhi.

Chiến tranh vi trùng

Toàn bộ nghiên cứu của Đơn vị 731 là nhằm hỗ trợ cho sứ mệnh lớn hơn của chúng. Vào năm 1939, chúng định phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt khủng khiếp để sử dụng chống lại người dân Trung Quốc và có lẽ là lực lượng Mỹ và Liên Xô nếu có cơ hội.

Để đạt được mục tiêu này, Đơn vị 731 đã gom hàng chục nghìn tù nhân tại một số cơ sở trên khắp Mãn Châu, nơi đã bị quân đội đế quốc chiếm đóng trong nhiều năm. Các tù nhân của các cơ sở này đã bị cho nhiễm một số mầm bệnh gây chết người nhất mà khoa học biết đến, chẳng hạn như Yersinia pestis, gây ra bệnh dịch hạch và bệnh dịch phổi, và bệnh sốt phát ban. Người Nhật hy vọng các mầm bệnh sẽ lây lan từ người này sang người khác sau khi được triển khai và làm giảm dân số các khu vực tranh chấp.

Để tạo ra những chủng gây chết người cao nhất có thể, các bác sĩ đã theo dõi bệnh nhân để xem quá trình khởi phát nhanh chóng của các triệu chứng và tiến triển. Những tù nhân sống sót sẽ bị bắn, còn những người ốm nhanh nhất sẽ bị cho chảy máu đến chết trên bàn trong nhà xác. Máu của họ được sử dụng để truyền bệnh cho các tù nhân khác để những người ốm yếu nhất sẽ bị chảy máu nhằm truyền chủng độc nhất sang thế hệ khác.

Các nhà nghiên cứu Đơn vị 731 thực hiện thí nghiệm vi khuẩn với tù nhân trẻ em. Ảnh: Xinhua

Một thành viên của Đơn vị 731 sau này kể lại rằng những tù nhân rất ốm yếu và không kháng cự sẽ được đặt trên phiến đá để luồn một dây vào động mạch cảnh của họ. Khi máu đã bị hút gần hết và tim quá yếu không thể bơm máu được nữa, một sĩ quan đi ủng da trèo lên bàn và dùng lực đủ mạnh để đè nát lồng ngực nạn nhân, từ đó một lượng máu khác sẽ phụt ra thùng chứa.

Khi trực khuẩn dịch hạch đã được nuôi đến mức đủ gây chết người, thế hệ tù nhân cuối cùng bị nhiễm bệnh đã tiếp xúc với số lượng lớn bọ chét, vật trung gian truyền bệnh của Y. pestis. Bọ chét sau đó được đóng gói trong đất và niêm phong bên trong vỏ bom đất sét.

Vào ngày 4/10/1940, các máy bay ném bom Nhật Bản đã triển khai những chiếc vỏ này, mỗi chiếc chở 30.000 con bọ chét từng hút máu một tù nhân sắp chết, bay trên ngôi làng Quzhou ở Trung Quốc và thả xuống. Sau đó, hầu như ai cũng bị bọ chét cắn đau đớn đỏ rát.

Theo lời người kể thời đó, trên 2.000 thường dân đã chết vì bệnh dịch sau cuộc tấn công này, và khoảng 1.000 người khác đã chết ở Yiwu gần đó sau khi bệnh dịch lan đến qua công nhân đường sắt ốm yếu. Các cuộc tấn công khác sử dụng bệnh than đã giết chết thêm khoảng 6.000 người trong khu vực.

Vào tháng 8/1945, sau khi thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản đều bị ném bom, Quân đội Liên Xô đã vào Mãn Châu và tiêu diệt hoàn toàn Quân đội Nhật Bản. Đơn vị 731 chính thức bị giải tán.

Hồ sơ của đơn vị này hầu hết đã bị đốt cháy, phá hủy toàn bộ thông tin mà nhóm đã cố gắng tạo ra trong 13 năm nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu chủ yếu quay trở lại cuộc sống thường dân ở Nhật Bản như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra. Nhiều người trong số họ trở thành những thành viên nổi bật của các trường đại học.

Cho đến ngày nay, Nhật Bản chưa xin lỗi và Trung Quốc cũng không tha thứ cho vô số hành động tàn bạo mà quân Nhật gây ra từ năm 1931 đến năm 1945. Khi những nhân chứng cuối cùng của lịch sử này già đi và chết, có thể vấn đề sẽ không bao giờ được đề cập tới nữa.

Thùy Dương / Theo: baotintuc

Thursday, October 29, 2026

BẤT NGỜ NỔI TIẾNG VÌ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TỪ THỜI CÀN LONG

Hai gia đình hàng xóm ở Tây An tranh chấp ranh giới đất suốt nhiều năm qua, thậm chí kiện nhau ra tòa với bằng chứng là văn tự đất đai từ thời Càn Long.

Căn bếp cải tạo của gia đình họ Đỗ. Ảnh: SCMP

Tòa án quận Nhạn Tháp, thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, ngày 9/10 đã hòa giải thành công vụ tranh chấp đất đai kéo dài nhiều năm giữa hai gia đình hàng xóm họ Đỗ và họ Trương.

Tranh chấp bắt nguồn từ việc nhà họ Đỗ muốn sửa sang lại căn bếp và xây tường cao hơn, nhưng nhà họ Trương đã liên tục phản đối vì lo ngại ảnh hưởng đến ánh sáng và việc thoát nước. Mâu thuẫn này dẫn đến nhiều cuộc cãi vã và ẩu đả thường xuyên. Công an và ban quản lý thôn đã nỗ lực hòa giải hàng chục lần nhưng vẫn bế tắc.

Trong một buổi hòa giải, nhà họ Trương đã đưa ra bằng chứng khiến tất cả mọi người phải kinh ngạc: văn tự đất đai có từ năm Càn Long thứ 46 (1781) thời nhà Thanh (1644-1912).

Trên trang giấy đã ngả vàng và rách góc, nét mực viết tay được bảo quản tốt và vẫn đọc được rất rõ. Ông Trương cho biết đó là thỏa thuận giữa hai gia tộc để xác định ranh giới giữa hai ngôi nhà, được đánh dấu bằng một cây hồng trong sân. Nhà họ Trương tin rằng thỏa thuận này cần phải được các thế hệ sau tôn trọng.

Đến lúc này, chính quyền mới nhận ra rằng vụ tranh chấp giữa hai gia đình hàng xóm đã kéo dài hơn 200 năm. Trong suốt hai thế kỷ qua, các thế hệ nối tiếp của hai gia tộc đã liên tục xung đột về ranh giới, bao gồm cả một lần ngay sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949.

Văn tự đất đai từ năm 1781 mà nhà họ Trương đưa ra. Ảnh: iFeng

Trong quá trình hòa giải, thẩm phán kể cho hai hộ gia đình một điển tích thời nhà Thanh: Đại học sĩ thời Khang Hy Trương Anh từng viết thư khuyên gia đình mình nên nhường bước trong vụ tranh chấp đất đai với hàng xóm.

Trong thư, Trương Anh viết: "Nghìn dặm gửi thư chỉ vì tường/ Nhường người ba thước ngại gì vương/ Vạn Lý Trường Thành nay còn đó/ Nào thấy năm nao Tần Thủy Hoàng".

Gia đình Trương Anh sau đó tự nguyện lùi tường nhà mình lại ba thước. Nhà hàng xóm thấy vậy cũng làm theo, lùi tường của họ lại ba thước. Hai bức tường sau đó tạo thành một con hẻm rộng sáu thước, hiện nay đã trở thành một điểm thu hút khách du lịch ở Đồng Thành, tỉnh An Huy.

Điển tích "Hẻm 6 thước" đã góp phần khiến hai gia đình họ Đỗ và họ Trương ở Thiểm Tây xuôi lòng, đồng ý hợp tác. Chính quyền đo đạc tại hai ngôi nhà để xây dựng phương án cải tạo làm hài lòng cả hai bên. Cuối cùng, nhà họ Đỗ đã sửa sang xong căn bếp và nhà họ Trương cũng vui vẻ chấp nhận kết quả.

Thẩm phán đến tận nơi tranh chấp để tìm hiểu tình hình. Ảnh: iFeng

Câu chuyện tranh chấp đã gây xôn xao mạng xã hội Trung Quốc.

"Tình yêu không thể kéo dài 200 năm, nhưng kiện tụng thì có thể", một người bình luận.

"Mảnh đất họ ở chắc chắn phải có phong thủy rất tốt, giúp họ vượt qua mọi thăng trầm lịch sử mà vẫn có đủ tiền bạc và sức lực để đấu tranh với nhau", một người khác nhận xét.

Theo: Hồng Hạnh (SCMP, iFeng)
Link tham khảo:

BỒ TÁT MAN - ÁN KỶ ĐẠO


Bồ tát man

Ai tranh nhất lộng Tương giang khúc,
Thanh thanh tả tận Tương ba lục.
Tiêm chỉ thập tam huyền,
Tế tương u hận truyền.
Đương diên thu thuỷ mạn,
Ngọc trụ tà phi nhạn.
Đàn đáo đoạn trường thì,
Xuân sơn mi đại đê.


菩薩蠻

哀箏一弄湘江曲,
聲聲寫盡湘波綠。
纖指十三弦,
細將幽恨傳。
當筵秋水慢,
玉柱斜飛雁。
彈到斷腸時,
春山眉黛低。


Bồ tát man
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Cầm đàn, gẩy khúc Tương Giang.
Tiếng tơ lột tả, mênh mang sóng ngời.
Đàn huyền tay dạo lả lơi.
Mười ba dây hận, chơi vơi bao tình.
Chiếu đàn thu thủy thêm xinh.
Cần đàn ôm ấp dáng hình hạc bay.
Tiếng đàn đứt đoạn xưa nay.
Non xuân như họa, như bày nét mi.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Án Kỷ Đạo 晏幾道 (1050-1119) tự Thúc Nguyên 叔原, hiệu Tiểu Sơn 小山, từ nhân đời Bắc Tống, người Lâm Xuyên, Phủ Châu (nay thuộc Giang Tây). Ông là con thứ 7 của Án Thù 晏殊. Văn tứ của ông rất mới, tác phẩm của ông có tập Tiểu Sơn từ.

Nguồn: Thi Viện

BÍ MẬT ÍT AI BIẾT VỀ CHIẾC "MAI RÙA" NẰM BÊN TRONG CƠ THỂ LOÀI MỰC NANG

Dưới đáy biển, có một sinh vật sở hữu khả năng đổi màu chớp nhoáng, tạo hoa văn phức tạp và đánh lừa con mồi bằng những màn ngụy trang đáng kinh ngạc.

Ảnh: fish-alert.com

Mực nang thuộc nhóm động vật chân đầu, cùng họ hàng với mực ống và bạch tuộc. Hơn 90 loài mực nang sinh sống ở các vùng biển nhiệt đới và ôn đới, phần lớn quanh những khu vực đáy cát, bùn hoặc đá. Dù có thân mềm, chúng là những kẻ săn mồi tinh vi, sở hữu đôi mắt phát triển, hệ thần kinh phức tạp và một trong những cơ chế ngụy trang ấn tượng nhất thế giới động vật.

Vũ khí nổi bật nhất của mực nang là lớp da có khả năng đổi màu gần như tức thì. Những tế bào sắc tố gọi là chromatophore chứa các túi sắc tố li ti, được điều khiển bởi cơ và hệ thần kinh. Khi các cơ co lại, túi sắc tố mở rộng, làm màu sắc hiện rõ; khi chúng giãn ra, màu sắc thu hẹp hoặc biến mất. Các cấu trúc phản xạ ánh sáng khác dưới da còn tạo ra những sắc thái óng ánh, giúp cơ thể biến đổi thành nhiều hoa văn phức tạp.


Điều kỳ lạ là mực nang không chỉ đổi màu để hòa lẫn với môi trường. Chúng còn có thể biến đổi bề mặt cơ thể, tạo những phần lồi giống rong biển, đá hoặc san hô. Nghiên cứu công bố năm 2025 ghi nhận mực nang vây rộng (Sepia latimanus) sử dụng nhiều kiểu trình diễn thị giác khi săn cua, bao gồm bắt chước lá và san hô, nhằm tiếp cận con mồi mà ít bị phát hiện hơn.

Trong số các loài nổi bật, mực nang thường (Sepia officinalis) phân bố ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, được nghiên cứu nhiều về hành vi và khả năng học hỏi. Mực nang khổng lồ Australia (Ascarosepion apama, thường được gọi là Sepia apama trong tài liệu cũ) có thể dài tới khoảng một mét tính cả các xúc tu, đồng thời nổi tiếng với những cuộc tụ tập sinh sản quy mô lớn. Một số loài mực nang nhỏ hơn lại có màu sắc rực rỡ, tạo nên vẻ ngoài chẳng khác nào sinh vật ngoài hành tinh.


Mực nang có tám tay và hai xúc tu dài chuyên dùng để bắt mồi. Chúng thường phóng hai xúc tu ra rất nhanh để tóm lấy cá hoặc giáp xác, sau đó đưa con mồi về phía miệng có chiếc mỏ cứng. Khi gặp nguy hiểm, chúng có thể phun mực tạo màn che để đánh lạc hướng kẻ săn đuổi, rồi dùng lực đẩy nước qua phễu để lao đi.

Một đặc điểm khác ít người biết là bên trong cơ thể mực nang có mai nang — cấu trúc vỏ giàu calcium carbonate, gồm nhiều khoang nhỏ giúp điều chỉnh độ nổi. Đây không phải bộ xương ngoài như vỏ sò, mà là một cấu trúc nằm bên trong cơ thể. Mai nang còn được sử dụng trong đời sống con người, chẳng hạn làm nguồn bổ sung khoáng cho chim nuôi hoặc dùng trong một số hoạt động thủ công.

Ảnh: Wikimedia Commons

Điều khiến mực nang trở thành đối tượng nghiên cứu hấp dẫn không chỉ là vẻ đẹp của chúng, mà còn là khả năng xử lý thông tin thị giác và điều khiển cơ thể cực kỳ linh hoạt. Dù không nhìn thế giới bằng cách giống con người, chúng vẫn có thể điều chỉnh hoa văn để phù hợp với nền đáy biển. Mỗi lần mực nang biến đổi màu sắc, đó không đơn thuần là một màn trình diễn, mà là kết quả của sự phối hợp tinh vi giữa giác quan, thần kinh và cơ bắp - một thành tựu tiến hóa đã được mài giũa qua hàng triệu năm.

Thanh Bình (t/h) / Theo: Kiến Thức



VÌ SAO KHI ĐANG THẮNG QUÂN THANH NHƯ CHẺ TRE, NGÔ TAM QUẾ LẠI DỪNG LẠI?

Khi cuộc nổi dậy nổ ra, Ngô Tam Quế đã 62 tuổi. Theo cách lý giải của đời sau, ông lúc ấy muốn giữ gìn những gì đang có, hy vọng có thể kết thúc chiến tranh trong thế thắng, thay vì tiếp tục mạo hiểm mở rộng chiến trường.

Quân nổi dậy của Ngô Tam Quế lần lượt đánh chiếm Thường Đức, Lễ Châu, Trường Sa và những địa phương khác, qua đó hoàn toàn kiểm soát tỉnh Hồ Nam.

Vì sao khi đang thắng quân Thanh như chẻ tre, Ngô Tam Quế lại dừng lại?

Tháng 11/1673, Bình Tây vương Ngô Tam Quế phát động cuộc nổi dậy ở Vân Nam, mở đầu cuộc chiến tranh được lịch sử gọi là “Loạn Tam Phiên”. Trong giai đoạn đầu, do triều đình nhà Thanh chưa chuẩn bị đầy đủ, còn Ngô Tam Quế đã âm thầm mưu tính từ lâu, quân nổi dậy liên tiếp giành chiến thắng. Họ gần như không tốn sức đã chiếm được Quý Châu, sau đó lần lượt kiểm soát Hồ Nam, Tứ Xuyên và nhiều vùng đất khác, tiến sát bờ nam sông Trường Giang. Thế nhưng, điều khiến người ta bất ngờ là Ngô Tam Quế lại không vượt sông tiến lên phía Bắc. Chuyện gì đã xảy ra?

Những ngày đầu nổi dậy, Ngô Tam Quế giành được thắng lợi hết sức thuận lợi, có thể nói là thế như chẻ tre. Quân nổi dậy đi đến đâu, quan lại và tướng lĩnh ở các phủ, châu, huyện hoặc bỏ trốn, hoặc đầu hàng. Quân Thanh hễ giao chiến là nhanh chóng tan rã, thậm chí “quan binh quân Thanh thuộc lực lượng Lục kỳ ở Hồ Nam phần lớn đều theo giặc”.

Tháng 2 năm Khang Hi thứ 13 (1674), quân nổi dậy của Ngô Tam Quế lần lượt đánh chiếm Thường Đức, Lễ Châu, Trường Sa và những địa phương khác, qua đó hoàn toàn kiểm soát tỉnh Hồ Nam. Lúc này, ông hoàn toàn có thể thừa thắng vượt sông Trường Giang, tiến quân lên phía Bắc để mở rộng chiến quả. Thế nhưng, Ngô Tam Quế lại cho quân dừng chân suốt mấy tháng, không tận dụng thời cơ để vượt sông.

Trong khoảng thời gian đó, triều đình nhà Thanh tranh thủ tập trung lực lượng lớn, tăng cường phòng thủ khu vực bờ bắc Trường Giang. Hai bên dần hình thành thế đối đầu, khiến Ngô Tam Quế đánh mất thời cơ thuận lợi nhất. Tình thế sau đó ngày càng bất lợi cho quân nổi dậy.

Vậy tại sao Ngô Tam Quế lại đưa ra quyết định bị xem là sai lầm như vậy? Vào thời điểm ấy, nhiều tướng lĩnh dưới quyền ông đều chủ trương vượt sông tiến lên phía Bắc, nhưng đề xuất này lại bị chính Ngô Tam Quế bác bỏ. Nguyên nhân là ông vẫn nuôi hy vọng có thể đàm phán hòa bình với triều đình nhà Thanh.

Ngô Tam Quế cùng mưu sĩ Phương Quang Sâm cho rằng quân nổi dậy đang chiếm ưu thế, hoàn toàn có thể tận dụng tình thế thuận lợi trên chiến trường để đưa ra điều kiện với Hoàng đế Khang Hi.

Sau khi phát động cuộc nổi dậy, Ngô Tam Quế vẫn đối xử tương đối tử tế với hai sứ giả của nhà Thanh là Thị lang Bộ Lại Chiết Nhĩ Khẳng và Hàn lâm học sĩ Phó Đạt Lễ. Sau khi chiếm được Thường Đức, ông cho hai người mang thư do mình viết đến gặp Hoàng đế Khang Hi.

Trong bức thư, giọng điệu của Ngô Tam Quế hết sức ngạo mạn. Ông tuyên bố mình đã thu phục được một phần ba lãnh thổ của nhà Minh, sau đó đưa ra ba yêu cầu với triều đình nhà Thanh.

Nếu phía nhà Thanh chấp thuận những điều kiện này, hai bên có thể chấm dứt chiến sự. Vậy những yêu cầu của Ngô Tam Quế là gì?

Hoàng đế Khang Hi.

Thứ nhất, dựa vào những vùng đất hiện đang kiểm soát, Ngô Tam Quế muốn đàm phán với nhà Thanh để thực hiện cục diện “chia đôi thiên hạ, lấy Trường Giang làm ranh giới cai trị”.

Thứ hai, ông yêu cầu Hoàng đế Khang Hi thả con trai và các cháu nội của mình.

Từ thời Thuận Trị, con trai trưởng của Ngô Tam Quế là Ngô Ứng Hùng đã kết hôn với Hòa Thạc Kiến Ninh Trưởng công chúa, con gái của Hoàng Thái Cực. Sau đó, Ngô Ứng Hùng sống tại Bắc Kinh với tư cách con tin và sinh được mấy người con trai.

Ngô Tam Quế luôn canh cánh trong lòng về số phận của con cháu đang sống ở Bắc Kinh. Vì thế, ông muốn lợi dụng ưu thế quân sự hiện tại để gây sức ép, buộc Hoàng đế Khang Hi trả tự do cho họ.

Chính vì hai nguyên nhân này, Ngô Tam Quế mới quyết định tạm dừng tiến quân, chờ đợi phản hồi từ phía Khang Hi.

Tuy nhiên, kết quả lại khiến ông vô cùng thất vọng. Bức thư không những không cứu được tính mạng của con cháu ông mà còn trở thành “lá bùa đòi mạng”.

Sau khi đọc thư của Ngô Tam Quế, Hoàng đế Khang Hi lập tức ban chiếu:

“Gần đây, sau khi xem tấu chương của Ngô Tam Quế, trẫm nhận thấy lời lẽ trong đó hết sức ngang ngược, hắn còn dám tùy tiện đưa ra những yêu cầu vô lý. Nay xử tử Ngô Ứng Hùng và con trai hắn là Ngô Thế Lâm bằng hình phạt thắt cổ; những người con còn nhỏ tuổi khác đều được miễn chết và sung vào quan phủ.”

Thông qua việc xử tử Ngô Ứng Hùng, Khang Hi muốn tuyên bố với thiên hạ quyết tâm dẹp loạn của triều đình. Ông đồng thời ra chiếu chỉ bác bỏ đề nghị nghị hòa của Ngô Tam Quế, yêu cầu đối phương chỉ có con đường “trói mình quy hàng”.

Khi nhận được tin con cháu bị giết, Ngô Tam Quế không khỏi rơi nước mắt. Ông thậm chí phải thừa nhận: “Ngày hôm nay, ta đã cưỡi lên lưng hổ rồi”, nghĩa là đã lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, không còn đường lui và buộc phải tiếp tục chiến đấu.

Con người khi tuổi cao thường trở nên thận trọng, thậm chí bảo thủ hơn. Khi cuộc nổi dậy nổ ra, Ngô Tam Quế đã 62 tuổi.

Ngô Tam Quế từng trải qua nhiều trận mạc, nhưng đến lúc này, ông đã già và không còn sự quyết đoán, táo bạo như thời trai trẻ.

Con người khi tuổi cao thường trở nên thận trọng, thậm chí bảo thủ hơn. Khi cuộc nổi dậy nổ ra, Ngô Tam Quế đã 62 tuổi. Theo cách lý giải của đời sau, ông lúc ấy muốn giữ gìn những gì đang có, hy vọng có thể kết thúc chiến tranh trong thế thắng, thay vì tiếp tục mạo hiểm mở rộng chiến trường.

Thế nhưng, chính tâm lý ấy lại khiến ông trở nên do dự, bó buộc trong các quyết định và bỏ lỡ thời cơ quân sự quan trọng.

Cuộc đời vốn là như vậy: cơ hội một khi đã bỏ lỡ thì rất khó quay trở lại. Sau khi Ngô Tam Quế đánh mất thời cơ giành thắng lợi quyết định, cán cân chiến tranh dần nghiêng về phía nhà Thanh. Trải qua nhiều năm nỗ lực, Hoàng đế Khang Hi cuối cùng đã hoàn toàn dẹp yên cuộc nổi dậy của “Loạn Tam Phiên”.

Trong tình thế rất khó khăn, năm 1678, Ngô Tam Quế vẫn xưng làm Hoàng đế, lập ra nhà Đại Chu (大周), thủ đô tại Hành Dương, Hồ Nam. Nhưng chỉ được 5 tháng thì chết vào ngày 2 tháng 10 năm 1678, ông thọ 66 tuổi.

Cháu của ông là Ngô Thế Phiên nối ngôi nhưng thế lực đã rất suy yếu. Năm 1681, quân nhà Thanh tấn công và chiếm được Vân Nam, Thế Phiên phải tự tử. Cuộc nổi dậy của "Tam phiên" đến đây thì bị dập tắt.

Minh Tuấn / Theo: Dân Việt