Thursday, April 9, 2026

HÀN PHI VIẾT QUYỂN "BÍ KIẾP" CAI TRỊ NƯỚC: TẦN THỦY HOÀNG THÍCH THÚ ÁP DỤNG TRIỆT ĐỂ

Quyển "sách giáo khoa" của Hàn Phi đã giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất và cai trị tốt Trung Hoa.

Dù phải chết vì một âm mưu chính trị mà không có cơ hội được bào chữa, Hàn Phi đã để lại những tác phẩm, tiêu biểu là "Hàn Phi Tử" có triết lý cai trị giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa lần đầu tiên trong lịch sử.

Hàn Phi (280 TCN - 233 TCN) là một bậc thầy về Pháp trị, là con trai của vua An nước Hàn, sống ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, cũng là giai đoạn Tần Thuỷ Hoàng đang thống nhất Trung Hoa.

TẦN THỦY HOÀNG KHAO KHÁT GẶP HÀN PHI

Hàn Phi (280 TCN - 233 TCN) là học giả nổi tiếng Trung Quốc theo trường phái Pháp trị, tác giả sách Hàn Phi tử. Ảnh: JoongAng Ilbo

Tương truyền, có người muốn dâng sách của Hàn Phi lên cho Tần Thuỷ Hoàng. Dù cùng là học trò của Tuân Tử nhưng Lý Tư vô cùng cảnh giác với Hàn Phi, người được cho là vượt trội hơn nhiều về trí tuệ và hiểu biết.

Có lẽ vì vậy nên Lý Tư đã tìm cách ngăn cản Tần Thủy Hoàng tiếp cận được quyển sách đó. Tuy vòng vèo mãi nhưng cuối cùng sách Hàn Phi Tử cũng đến tay Tần Thủy Hoàng.

Tần Thủy Hoàng sau khi đọc xong quyển Cô phẫn và Ngũ đố (Hàn Phi Tử), nói: "Ôi! Nếu ta có thể gặp gỡ người đã viết ra tác phẩm này thì có chết cũng không còn hối hận gì." Lý Tư đáp: "Cuốn sách này là sách do Hàn Phi viết đấy ạ."

Nghe vậy, Tần Thủy Hoàng rất thán phục và luôn ước ao được gặp Hàn Phi, đến nỗi Lý Tư không còn cách nào khác ngoài dùng thủ đoạn, xui Tần Thủy Hoàng điều động quân đến bao vây nước Hàn, cho rằng nếu làm như vậy, vua Hàn buộc phải cử người thông minh nhất nước, là Hàn Phi, đi làm sứ giả. Cuối cùng, kế dụng hàng trăm ngàn quân đã thành công, Tần Thủy Hoàng đã gặp mặt được Hàn Phi.

Sau này, Tần Thủy Hoàng đã chấp nhận triết lý cai trị của Hàn Phi và thống nhất Trung Hoa. Theo tác giả Nguyễn Hiến Lê trong Sử Trung quốc, cái học của Hàn Phi vẫn được thi hành ở Tần và giúp Tần Thủy Hoàng hoàn thành được công việc thống nhất Trung Quốc, lập chế độ quân chủ chuyên chế thay chế độ phong kiến. Trong thời kỳ của Hàn Phi, các học thuyết của Khổng, mặc dù đã thất bại trong việc cứu vãn thời thế, Hàn Phi đã thành công nhờ dùng trọn các thuyết của Pháp trị, theo đó đề cao luật pháp nghiêm minh, các hình phạt hà khắc, và sử dụng gián điệp.

MƯU KẾ HÈN HẠ

Chân dung Hàn Phi (280 TCN - 233 TCN) và cuốn sách Hàn Phi tử. Ảnh: Weekly Chosun

Hàn Phi là người giỏi lý luận, tư duy có logic, văn hay chữ tốt và có khả năng dự đoán tương lai; nhưng theo "Sử ký" của Tư Mã Thiên, điểm yếu của ông là không giỏi ăn nói, mắc tật nói lắp. Đó là một bất lợi mang tính quyết định khi không thể diễn thuyết như nhiều nhà tư tưởng đương thời.

Tuy ganh ghét nhưng Lý Tư cảm thấy nhẹ nhõm khi thấy Vua Tần, sau nhiều mong chờ được gặp và trò chuyện, lại thấy thất vọng, giảm tín nhiệm đặt vào Hàn Phi. Lý do có thể là vì những điểm yếu trong việc ăn nói này.

Dù vậy, Hàn Phi đã dùng cách viết để truyền đạt những ý kiến sắc sảo ​​của mình với nhà vua. Lo sợ Vua Tần sẽ khám phá ra cái tài thật sự của Hàn Phi, sợ rằng Hàn Phi sẽ đe dọa vị trí của mình, Lý Tư và Diêu Giả đã âm mưu với Vua Tần vu cho Hàn Phi tội phản quốc.

Lý Tư đã âm mưu với Vua Tần rằng: "Không đời nào Hàn Phi không có thù oán với nhà Tần. Nếu nhà vua không có ý định sử dụng hắn, xin hãy gửi hắn về nước Hàn."

Tần Thủy Hoàng cho là phải, nói: "Nếu như gửi lại, chẳng phải giống như thả con hổ khó bắt về rừng sao? Chi bằng lấy cớ làm trái pháp luật mà giết đi."

Vua Tần giao cho quan lại trị tội Hàn Phi vì tội phản quốc. Lý Tư sai người đưa thuốc độc, khiến Hàn Phi phải tự sát.

Dù phải chết vì một âm mưu chính trị mà không có cơ hội được bào chữa, nhưng Hàn Phi đã để lại những tác phẩm có triết lý cai trị giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa lần đầu tiên trong lịch sử.

"SÁCH GIÁO KHOA DẠY LÀM VUA"

Tần Thủy Hoàng được coi là vị vua đầu tiên áp dụng Học thuyết Pháp trị do Hàn Phi viết về cách để trị nước.

Hàn Phi Tử được xem là cuốn sách chứa "Học thuyết của Đế Vương", hay là "cuốn sách giáo khoa dạy làm vua" độc đáo, mang đậm dấu ấn của chế độ phong kiến Phương Đông. Qua tác phẩm, tác giả đã chính thức khai sinh học thuyết Pháp trị, đề cao pháp luật với tư cách là công cụ quan trọng, hữu hiệu nhất trong việc bình ổn xã hội.

Tư tưởng của Hàn Phi Tử khác với tư tưởng của Nho giáo (vốn cho rằng để quản lý xã hội thì dùng Nhân trị và Đức trị), đề cập rằng cách tốt nhất để quản lý xã hội là dùng pháp luật: "Pháp luật không hùa theo người sang. [...] Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh của kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót của kẻ thất phu".

Trong Hàn Phi Tử, Hàn Phi đưa ra lập luận rất chặt chẽ và sắc sảo, sử dụng rất nhiều dẫn chứng, trong đó các dẫn chứng là chuyện đương thời chứ không phải chuyện xa xôi, nên sức thuyết phục rất mạnh.

Theo cách nói ngày nay, Hàn Phi là một nhà tư tưởng có cả khuynh hướng cánh hữu và cánh tả. Hệ tư tưởng của ông hoàn toàn hướng tới việc củng cố quyền lực của quân vương. Hàn Phi đưa ra quan điểm trong "Hữu độ" về sự thăng trầm của đất nước: "Không có quốc gia nào luôn mạnh hay luôn yếu. Người dân càng tự giác tuân theo pháp luật, đất nước càng mạnh; còn ý thức tuân theo pháp luật của người dân càng kém, thì đất nước càng yếu."

Theo: Pháp Luật & Bạn Đọc

TẠI SAO RẤT NHIỀU NƠI TRÊN THẾ GIỚI ĐỀU CÓ ĐIỂM CHUNG LÀ CHÔN CẤT NGƯỜI QUÁ CỐ TRONG QUAN TÀI?

Chôn cất truyền thống với quan tài đã tồn tại hàng nghìn năm, song không phải là giải pháp hoàn hảo khi xét đến tác động môi trường và sức khỏe cộng đồng. Với những lựa chọn thay thế như hỏa táng và phân trộn đang ngày càng phổ biến, liệu chúng ta có thể từ bỏ quan tài và thay đổi cách thức chôn cất để giảm thiểu tác động tiêu cực, đồng thời vẫn giữ trọn vẹn ý nghĩa trang trọng cho người đã khuất?


Trong hàng nghìn năm, nghi lễ chôn cất đã là cách loài người đối mặt với cái chết và vĩnh biệt những người thân của mình. Tuy nhiên, chôn cất truyền thống thường đi kèm với quan tài và các phụ kiện khác lại không phải là giải pháp hoàn hảo tại nhiều nơi ở thời điểm hiện tại. Tại Mỹ, khoảng 404.685 ha đất hiện đang được dành cho nghĩa trang, trong khi sản xuất quan tài tiêu thụ khoảng 1,6 triệu ha rừng mỗi năm.

Điều gì sẽ xảy ra nếu bỏ qua việc sử dụng quan tài, và tại sao người ta lại cần quan tài để chôn cất thay vì chỉ đặt thi thể trực tiếp vào lòng đất?

Trên khắp thế giới, việc sử dụng quan tài trong các nghi lễ tang lễ là một phong tục có từ lâu đời, phản ánh niềm tin và văn hóa đặc trưng của từng cộng đồng. Quan tài không chỉ là một vật dụng để bảo quản thi hài trước khi an táng hoặc hỏa táng mà còn là biểu tượng của sự tôn kính đối với người đã khuất.

Một trong những lý do quan trọng để dùng quan tài trong chôn cất là sự tiện lợi và trang nghiêm. Quan tài không chỉ là vật chứa thi thể mà còn tạo không gian an toàn để các thành viên trong gia đình có thể tiễn biệt người đã khuất. Nếu chỉ dùng túi đựng thi thể, dù thực dụng, nhưng cảm giác trân trọng và tôn vinh sẽ bị giảm đi đáng kể.

Quan tài mang lại khả năng xử lý thi thể một cách gọn gàng, chắc chắn, giúp cho những người đưa tang không phải đối mặt với mùi phân hủy tự nhiên của cơ thể. Việc đóng kín của quan tài còn giúp giảm bớt các phản ứng không mong muốn trong quá trình di chuyển và chôn cất.

Việc sử dụng quan tài còn giúp bảo vệ môi trường xung quanh khu vực chôn cất, ngăn chặn sự phân hủy của thi thể tiếp xúc trực tiếp với đất và nước, mặc dù vẫn chưa có bằng chứng khoa học cụ thể để xác minh điều này. Phong tục chôn cất theo địa táng, hay còn gọi là thổ táng, là phương pháp phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước phương Đông, thực hiện bằng cách đặt thi thể trong quan tài và sau đó đưa xuống huyệt mộ. Trong quá trình này, gia đình và người thân thực hiện nghi lễ và đặt vật dụng kỷ niệm vào trong quan tài, thể hiện sự gắn bó và tôn trọng đối với người đã mất.

Khi qua đời, cơ thể con người trở thành môi trường lý tưởng cho vi khuẩn phát triển, bao gồm những loại vi khuẩn mà hệ miễn dịch đã kìm hãm trước đó. Một số bệnh như lao, dịch tả và bệnh xuất huyết có thể tồn tại trong thi thể sau khi tử vong, và chúng có khả năng lây nhiễm cao đối với những ai thường xuyên tiếp xúc với người đã khuất. Do đó, trong một số trường hợp, người ta buộc phải dùng quan tài kín hoặc niêm phong đặc biệt để ngăn chặn sự lây lan của bệnh. Quan tài lót chì đã trở thành truyền thống trong hoàng gia Anh kể từ thời vua William the Conqueror, nhằm hạn chế nguy cơ nhiễm bệnh và bảo vệ thi thể.

Cũng có những quan niệm khác về việc sử dụng quan tài, như tại một số nơi, quan tài được đóng đinh để ngăn chặn hiện tượng tráo xác hoặc ma nhập.

Trong tự nhiên, quá trình phân hủy diễn ra nhanh chóng nhờ sự tham gia của hệ sinh thái với hàng loạt các loài sinh vật từ vi khuẩn đến động vật ăn xác thối. Tuy nhiên, nếu chôn cất người chết mà không sử dụng quan tài và chỉ đắp một lớp đất mỏng bên trên, cơ thể sẽ sớm bị "khai quật" do sự hoạt động của côn trùng, chim, và động vật ăn xác như cáo, chó sói, hay chim kền kền.

Sâu bọ như ruồi nhặng có thể đào xuống sâu để tiếp cận thi thể và đẻ trứng, đẩy nhanh quá trình phân hủy và làm rải rác hài cốt. Ngay cả chó nhà cũng có thể bị thu hút bởi xương người đã được chôn cất nông và gây ra những tình huống khó xử.

Trong nhiều nền văn hóa, người ta thường gửi những đồ vật quý giá cùng người đã khuất, điều này tạo cơ hội cho những kẻ trộm mộ. Các quan tài không chỉ là nơi bảo vệ thi thể mà còn là lớp rào chắn ngăn ngừa sự đột nhập của những kẻ trộm và những tay săn xác. Đặc biệt, trong thế kỷ 18 và 19, khi nhu cầu nghiên cứu khoa học tăng cao, tình trạng trộm xác diễn ra phổ biến, thúc đẩy nhiều gia đình bảo vệ ngôi mộ của người thân bằng các thiết bị an ninh như ngư lôi quan tài – thiết bị được phát minh để ngăn chặn các tay trộm táo tợn.


Ngày nay, có nhiều lựa chọn có thể thay thế được việc chôn cất truyền thống và đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường và ngăn ngừa việc sử dụng tài nguyên một cách lãng phí. Các phương pháp như hỏa táng, thủy táng và thậm chí là biến thi thể thành một dạng dưỡng chất cho đất đang dần phổ biến. Những phương pháp này không chỉ tiết kiệm tài nguyên mà còn giúp người chết trở thành một phần hữu ích của vòng đời tự nhiên. Trong tương lai, xu hướng này có thể sẽ phát triển mạnh mẽ, thay thế dần các phương thức truyền thống.

Chôn truyền thống cất không còn là lựa chọn duy nhất và đôi khi quan tài cũng có thể không cần thiết, nhưng sự thay đổi này cần cân nhắc dựa trên yếu tố văn hóa, sức khỏe và môi trường. Khi chúng ta bước vào kỷ nguyên mới, với những tiến bộ trong công nghệ và tư duy về cái chết, quan niệm về việc vĩnh biệt người thân cũng đang dần thay đổi.

Đức Khương / Theo: thanhnienviet

DẠ TÚC SƠN TỰ - LÝ BẠCH


Dạ túc sơn tự - Lý Bạch

Nguy lâu cao bách xích,
Thủ khả trích tinh thần.
Bất cảm cao thanh ngữ,
Khủng kinh thiên thượng nhân.


夜宿山寺 - 李白

危樓高百尺
手可摘星辰
不敢高聲語
恐驚天上人


Đêm trú ở chùa trên núi
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Lầu cao trăm trượng nơi đây.
Một tay ta với trời đầy trăng sao.
Biết rằng chốn ấy thanh cao.
Chớ làm kinh động Thiên Tào biết không ?.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi “chống kiếm viễn du”, đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn “ẩm tửu hàm ca” (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một “văn nhân ngự dụng” nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Nguồn: Thi Viện



RUỘNG BẬC THANG NGUYÊN DƯƠNG - DI SẢN VĂN HÓA HANI ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN

Ruộng bậc thang Nguyên Dương luôn khiến du khách choáng ngợp ngay từ khoảnh khắc đầu tiên. Trên những sườn núi uốn lượn của Vân Nam, hàng nghìn thửa ruộng xếp tầng như những dải lụa phản chiếu trời mây, biến đổi màu sắc theo từng mùa. Đây không chỉ là nơi ngắm bình minh đẹp bậc nhất Trung Quốc, mà còn là vùng đất kể câu chuyện của người Hani, những người đã gìn giữ và tạo dựng nên cảnh quan kỳ vĩ này qua hàng trăm năm. Chỉ cần đứng giữa biển ruộng, giữa sương mù và ánh sáng lấp lánh, bạn sẽ hiểu vì sao Nguyên Dương luôn nằm trong danh sách những “bức tranh thiên nhiên” phải đến ít nhất một lần.


1. Giới thiệu đôi nét về Ruộng bậc thang Nguyên Dương

Ruộng bậc thang Nguyên Dương thuộc huyện Nguyên Dương của châu Hồng Hà, Vân Nam, là phần lõi của quần thể ruộng bậc thang Hani nổi tiếng, nơi được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Cảnh quan. Trên những triền núi trải dài hàng nghìn héc-ta, ruộng được xếp tầng lớp như những đường cong mềm ôm lấy sườn đồi, tạo nên một “kỳ quan nông nghiệp” hiếm nơi nào có được. Mỗi thửa ruộng phản ánh kỹ thuật canh tác tinh tế của người Hani, những cư dân đã sống cùng đất và nước suốt nhiều thế hệ để tạo nên một hệ sinh thái bền vững.


Cảnh quan ở Nguyên Dương thay đổi theo mùa, mỗi thời điểm lại mang một vẻ đẹp rất khác. Vào mùa đổ nước khoảng tháng 11 đến tháng 3, mặt ruộng như những tấm gương lớn, phản chiếu ánh bình minh và sắc mây tạo thành khung cảnh mờ ảo đầy cuốn hút. Mùa hè mang lại sắc xanh non mềm mại khi lúa bắt đầu lên, còn mùa thu là bức tranh vàng óng khi lúa chín rộ. Chính sự biến hóa này khiến Nguyên Dương trở thành “thiên đường của nhiếp ảnh gia”, điểm đến mà ai yêu cảnh sắc tự nhiên đều muốn đến một lần.


Những điểm ngắm nổi bật như Duoyishu, Bada hay Laohuzui cũng góp phần làm nên thương hiệu cho Nguyên Dương. Duoyishu nổi tiếng với khoảnh khắc mặt trời ló rạng qua biển ruộng bạc sáng, trong khi Laohuzui có địa hình dốc và đường cong mạnh, tạo hiệu ứng hoàng hôn rực rỡ. Ẩn giữa những thửa ruộng là các bản làng Hani truyền thống, nơi du khách có thể nhìn thấy nhịp sống mộc mạc, kiến trúc nhà đất đặc trưng và những tập tục canh tác vẫn được giữ nguyên từ đời này sang đời khác. Tất cả tạo thành một bức tranh văn hóa, thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa gần gũi.

2. Lịch sử hình thành

Ruộng bậc thang Nguyên Dương có lịch sử hàng nghìn năm, gắn liền với quá trình cư trú và canh tác của người Hani trên vùng núi phía nam Vân Nam. Người Hani vốn sinh sống ở những dãy núi cao, nơi địa hình dốc, đất canh tác ít và nguồn nước phân tán. Để thích nghi, họ khai mở sườn núi thành từng bậc ruộng theo độ dốc tự nhiên, tạo thành hệ thống thửa ruộng nhiều tầng kéo dài từ chân núi, lưng chừng tới gần đỉnh.


Việc hình thành ruộng bậc thang không phải diễn ra trong vài thập kỷ, mà kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các gia đình, dòng họ Hani cùng nhau mở đất, dẫn nước, bồi ruộng, san bậc… tạo nên một hệ thống canh tác liên tục mở rộng. Trải qua hàng trăm năm tích lũy, khu vực Nguyên Dương mới có được hàng chục nghìn héc-ta ruộng bậc thang đồ sộ như ngày nay.

3. Giá trị văn hoá của cộng đồng Hani

3.1 Kỹ thuật dẫn nước và hệ sinh thái bền vững

Điểm ấn tượng nhất trong văn hoá canh tác của người Hani chính là hệ thống dẫn nước tinh vi được duy trì qua hàng trăm năm. Trên những dãy núi cao, họ coi rừng đầu nguồn là “rừng thiêng”, nơi giữ lại nguồn nước sạch tự nhiên. Từ đó, nước được dẫn qua những mương tre, đá và đất uốn lượn dọc các sườn núi, chia đều về từng thửa ruộng theo nguyên tắc cộng đồng mà cả làng cùng tuân thủ.

Nhờ cách quản lý nước khéo léo này, toàn bộ vùng Nguyên Dương hình thành nên hệ sinh thái “rừng – làng – ruộng – hồ” khép kín, giúp đất luôn được nuôi dưỡng mà không làm tổn hại đến môi trường. Chính sự bền vững ấy là nền tảng để ruộng bậc thang tồn tại ổn định qua nhiều thế hệ.

3.2 Nền văn hoá nông nghiệp đặc sắc


Với người Hani, ruộng bậc thang không chỉ là nơi tạo ra lương thực, mà còn là trung tâm của đời sống tinh thần. Những nghi lễ như cầu mưa, lễ tạ ơn ruộng hay mừng lúa mới đều nhằm bày tỏ sự biết ơn với đất và nước, hai yếu tố giữ cho cuộc sống nơi đây tiếp nối không ngừng. Bản làng Hani thường được xây bám theo triền núi, nhà đất hoặc nhà trình tường mọc lên giữa mây mù và những thửa ruộng xếp lớp, tạo nên một cảnh quan vừa mộc mạc vừa trọn vẹn. Mỗi ngôi làng, mỗi cánh ruộng đều phản ánh sự hoà hợp giữa con người và thiên nhiên, một triết lý sống đã ăn sâu vào văn hoá của cộng đồng này.

3.3 Truyền thống lao động tập thể

Lao động cộng đồng là linh hồn giúp ruộng bậc thang Hani tồn tại qua bao biến đổi. Mỗi khi mở rộng một bậc ruộng mới hay sửa sang bờ mương, cả làng lại tụ họp cùng “đắp đất – dẫn nước – san mặt ruộng”, biến công việc nặng nhọc thành một hoạt động chung đầy tính gắn kết. Các luật lệ về chia nước, lịch cấy gặt hay thời điểm tu sửa đều được truyền lại từ đời này sang đời khác, như một bản “bộ luật tự nhiên” mà bất kỳ ai trong làng cũng hiểu và tôn trọng. Chính tinh thần làm việc tập thể này đã giúp hệ thống ruộng bậc thang phát triển bền vững, dù trải qua bao biến động của thời gian.

3.4 Di sản được UNESCO công nhận

Năm 2013, UNESCO đã ghi danh “Cảnh quan văn hoá ruộng bậc thang Hani ở Hồng Hà” vào danh sách Di sản Thế giới, và Nguyên Dương là khu vực trung tâm của quần thể này. Tổ chức quốc tế đánh giá cao nơi đây vì hệ thống canh tác lâu đời dựa vào tự nhiên, không phá vỡ cân bằng sinh thái; sự kết hợp hoàn hảo giữa địa hình núi dốc, nguồn nước và kỹ thuật trồng lúa truyền thống; cùng mối quan hệ cộng sinh giữa con người và cảnh quan kéo dài suốt hàng thế kỷ. Nhờ vậy, ruộng bậc thang Nguyên Dương không chỉ nổi tiếng bởi vẻ đẹp kỳ vĩ, mà còn trở thành minh chứng sống động cho một nền văn minh nông nghiệp độc đáo của Vân Nam.

4. Các điểm ngắm cảnh nổi bật ở Nguyên Dương

4.1 Duoyishu


Duoyishu là nơi du khách luôn muốn dậy thật sớm để đón khoảnh khắc mặt trời từ từ nhô lên sau dãy núi và ánh sáng dát vàng lên những thửa ruộng tầng tầng lớp lớp. Buổi sáng ở đây thường phủ lớp sương mỏng, tạo nên hiệu ứng “biển mây tràn xuống biển ruộng”, khiến cảnh quan vừa hư ảo vừa rộng mở. Khu vực này có bậc thềm quan sát được đầu tư khá tốt, góc nhìn bao quát và thuận tiện cho việc ngắm bình minh hoặc chụp ảnh phơi sáng. Duoyishu thường đông người vào mùa đẹp, nhưng chỉ cần đứng lùi sang hai bên một chút, bạn sẽ có ngay góc riêng yên tĩnh để tận hưởng trọn vẹn vẻ tinh khôi của buổi sớm.

4.2 Laohuzui

Laohuzui thu hút bởi địa hình dốc mạnh và những đường cong ruộng bậc thang uốn lượn như dòng sóng bạc đổ xuống từ miệng một con hổ khổng lồ. Đây là điểm được yêu thích nhất để ngắm hoàng hôn, khi nắng chiều quét qua triền núi và tô lên mặt ruộng những dải vàng, cam, đỏ thay đổi từng phút. Không gian ở Laohuzui rộng hơn và hoang sơ hơn so với Duoyishu, cảm giác đứng trước một công trình thiên nhiên kết hợp bàn tay con người kéo dài hàng trăm năm rất dễ gây choáng ngợp. Buổi chiều thường có gió nhẹ, rất hợp để nán lại thêm một lúc, nhìn mặt trời chìm xuống và khung cảnh chậm rãi chuyển sang sắc xanh tím dịu.

4.3 Bada


Bada nổi tiếng với dải ruộng bậc thang được xếp tầng đều đặn và kéo dài bất tận, từ thung lũng cho đến tận chân trời. Khi ánh nắng thay đổi trong ngày, bề mặt ruộng phản chiếu ánh sáng như những tấm gương nhỏ xếp tầng tầng lớp lớp, tạo hiệu ứng đặc trưng mà nhiều nhiếp ảnh gia săn đón. Buổi chiều và hoàng hôn ở Bada cực kỳ đẹp, nhưng nếu đến vào sáng sớm bạn vẫn có thể cảm nhận sự yên bình của bản làng Hani bên dưới lớp sương mờ. Đây cũng là nơi lý tưởng để hiểu rõ cách người Hani dẫn nước, chia bờ và canh tác bởi các bậc ruộng xếp đều nhìn rất rõ cấu trúc.

4.4 Các bản làng Hani


Xen giữa những thửa ruộng là các bản làng Hani cổ, nơi mà đời sống văn hoá và nông nghiệp vẫn được duy trì gần như nguyên vẹn. Nhà cửa xây bám theo triền núi, mái hình nón hoặc mái đất truyền thống tạo thành những cụm dân cư đồng nhất nhìn từ xa như những đốm nâu nhỏ ẩn mình giữa màu xanh. Đi dọc trong làng, du khách dễ bắt gặp cảnh bà con sửa bờ ruộng, dẫn nước, phơi lúa hoặc chuẩn bị cho các nghi lễ theo mùa. Không khí ở làng Hani mang nhịp sống chậm rãi, rất hợp để tản bộ, ngắm cảnh, hoặc chụp những khoảnh khắc đời thường giàu bản sắc.

5. Một vài lưu ý khi tham quan

Thời điểm đẹp: mùa nước đổ (12–3), lúa xanh (5–9), lúa chín (9–10); sáng sớm hoặc chiều muộn ánh sáng đẹp nhất.

Thời tiết và sương mù: sương mù thay đổi nhanh, nên đến sớm để không bỏ lỡ bình minh hoặc hoàng hôn.

Di chuyển giữa các điểm: đường dốc, nhiều khúc cua; nên thuê xe hoặc tài xế địa phương; tránh đi ban đêm.

Tôn trọng cộng đồng Hani: xin phép khi chụp ảnh người dân hoặc sinh hoạt; không đi vào ruộng đang canh tác.

Trang phục và vật dụng: giày thoải mái, áo khoác gió, khăn giữ ấm, áo mưa; máy ảnh/điện thoại chống ẩm.

Ruộng bậc thang Nguyên Dương không chỉ là kỳ quan thiên nhiên mà còn là nơi lưu giữ văn hóa, kỹ thuật canh tác và nhịp sống của cộng đồng Hani suốt hàng trăm năm. Từ bình minh lấp lánh trên Duoyishu, hoàng hôn rực rỡ ở Laohuzui, đến những bản làng yên bình và Bada rộng lớn, mỗi bước chân đều đưa bạn gần hơn với vẻ đẹp hòa hợp giữa con người và núi rừng. Đây thực sự là điểm đến mà bất kỳ ai yêu thiên nhiên, văn hóa và nhiếp ảnh đều không thể bỏ qua.

Theo: Du Lịch Hoàng Hà



Wednesday, April 8, 2026

THI SĨ TẢN ĐÀ VÀ BÀI THƠ THỀ NON NƯỚC

Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889, ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây cũ, nay thuộc Thành phố Hà Nội. Bút danh Tản Đà được nhà thơ ghép chữ từ địa danh núi Tản, sông Đà, quê hương ông. Tản Đã được sinh trưởng trong một gia đình quan lại phong kiến, bố là Nguyễn Danh Kế làm quan đến chức Án sát, mẹ là một đào hát hay và làm thơ giỏi. Là thi sĩ nổi danh cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, ông như cái gạch nối giữa hai thế kỷ, hai nền văn học.


Cuộc đời riêng của Tản Đà khá lận đận và có nhiều nỗi buồn, đau. Từ khi người anh cả Nguyễn Tài Tích là phó bảng và đốc học mất, gia cảnh nhà ông trở nên túng thiếu. Thời kỳ ở Hà Đông ông lại bị viên Tổng đốc thù ghét, phải chuyển ra Hà Nội, mở lớp dạy học kiêm cả xem lý số Hà Lạc nên cuộc sống trở nên nghèo đói, không đủ ăn, không có tiền trả thuê nhà, bị chủ nhà tịch thu đồ đạc đuổi đi. Tết đến, ông phải kêu lên: “Ôi! Trời! Ôi đất! Ôi! là Tết!/ Tháng cận năm cùng, gạo cũng hết” (Than Tết). Cái buồn hơn nữa là ba lần ông bị hỏng thi hai lần thi Hương năm 1909 và 1912, một lần thi Hậu bổ). Một lần hỏng thi đã đủ buồn như nhà thơ Tú Xương thổ lộ: “Đệ nhất buồn là cái hỏng thi”. Thế mà Tản Đà hỏng những ba lần! Cái buồn tích tụ trở thành nỗi đau và chán đời khi người yêu Đỗ Thị thấy ông hỏng thi, ruồng bỏ và đi lấy chồng khác. Thực tế quá phũ phàng và cay đắng cộng với nỗi đau mất nước và sau này là sự thất bại trong nghề báo đã ảnh hưởng không nhỏ đến các sáng tác của ông.

Để tìm sự thanh thản Tản Đà đã rủ bạn là Bạch Thái Bưởi lên chùa chơi, làm thơ rồi ông đi du ngoạn khá nhiều nơi ở các tỉnh miền Trung, vào cả Nam Bộ. Ở Huế, ông đã tìm gặp nhà chí sĩ Phan Bội Châu.Tháng hai năm 1928, từ Sài Gòn trở về Bắc, ông ghé thăm mộ anh hùng Nguyễn Huệ ở Phú Phong làm náo động các quan lại ở đây. Các buổi du ngoạn cũng giúp ông nhập thế một cách tích cực.

Xuất thân là một nhà nho, Tản Đà đọc khá nhiều sách về tân thư, sách Âu Tây dịch sang tiếng Trung Quốc và chữ Hán, đọc các báo chí mới của Trung Quốc. Ông viết báo, làm chủ bút báo, viết sách, làm thơ, những mong góp ý, xây đời. Nghề viết đã trở thành phương tiện kiếm sống chủ yếu, ông viết khỏe với một khối lượng sáng tác lớn, viết truyện ngắn, tiểu thuyết: Giấc mộng con I (1917), Thề non nước (1920), Trần ai tri kỷ (1924), Giấc mộng lớn (1928) Giấc mộng con II (1932)..., viết sách giáo khoa, Lên sáu, Lên tám..., dịch thuật: Đại học, Đường thi..., viết tuồng chèo..., các tập thơ Khối tình con I và II lần lượt ra đời.

Văn ông viết rất hay, rất sắc sảo, giàu trí tưởng tượng, ông chưa đi ra nước ngoài nhưng tả những cảnh đẹp nước ngoài rất sống động như chính mình đã tới. Đông Dương tạp chí đã mở riêng một mục “Tản Đà văn tập” chuyên đăng tải văn của ông mà bạn đọc rất ưa thích, cảm thấy một sự mới lạ. Các nhà văn có tiếng như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Triệu Luật... cũng tự nhận mình chịu ảnh hưởng của Tản Đà.

Về thơ, sáng tác của ông cũng đa dạng về thể loại và đề tài: Đường luật, ca trù, thơ lục bát, thơ tự do... Ông có thơ buồn, thơ say, thơ tình, thơ thế sự... và đặc biệt thơ ngông thể hiện một phong cách phóng khoáng, giàu trí tưởng tượng để giãi bày tâm sự, ước mơ (Hầu giời, Còn chơi...). Với bài thơ “Tống biệt” ông đã thổi một làn gió mới, cách tân vào thi ca, ông nói rõ ý định này trong bài “Thơ mới”: “Nếu không phá cách điệu luật/ Khó cho thiên hạ đến bao giờ”. Hoài Thanh trong buổi họp hội Tao đàn, trước đông đảo các thi nhân những năm 1930 của thế kỷ trước, đã đọc bản “Cung chiêu anh hồn Tản Đà”, trong đó nói: “Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa... Có tiên sinh người ta sẽ thấy rõ chúng tôi không phải là những quái thai của thời đại” *. Như vậy ta đủ thấy cái vị trí, uy tín của Tản Đà.

Thi sĩ Tản Đà

“Sáng tác của Tản Đà vừa “đậm chất trữ tình, vừa hài hước, vừa đại chúng, vừa có ý vị hiện thực, lại vừa bàng bạc một màu sắc lãng mạn**, có những bài còn bàng bạc một tình yêu đối với non sông đất nước. Ta hãy thưởng thức bài thơ “Thề non nước”* dưới đây, một trong những bài thơ hay nhất của Tản Đà, một tuyệt bút!

Bài thơ có 22 câu, là một bài thơ tình, theo thể lục bát, vịnh một bức tranh sơn thủy có ba chữ nôm “Thề non nước” giữa khách làng chơi và cô đào hát Vân Anh, chủ nhân bức tranh, một gia bảo của nhà cô, muốn nhờ khách đề bài thơ. Thế rồi hai người cùng làm.

Sáu câu đầu là của khách:
Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi không về cùng non
Nhớ lời “nguyện nước thề non”
Nước đi chưa lại non còn đứng không


Bức tranh trông thì không có nước, “nước đi, đi mãi không về cùng non”, chỉ có một rặng núi nên khách bảo phải lấy non là chính, non ở đây có ẩn ý là một cô gái. Dưới rặng núi là một ngàn dâu được khách giải thích là hiện tượng của tang thương nên lại phải coi như có sông, có nước, chỉ có điều “nước đi chưa lại” mà thôi. Những điệp từ “nước non” nhắc đi, nhắc lại nhiều lần, cứ như những sợi tơ tình vấn vương, nước vẫn nhớ lời “Nguyện nước thề non”.

Khách đã tạo ra một tình huống chia ly có hội ngộ làm đầu câu chuyện.

Mười câu tiếp theo là của cô đào Vân Anh. Cô biết chữ Hán, giỏi cả thơ chữ Hán và chữ quốc âm:

Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương
Trời Tây chiếu bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha
Non cao tuổi vẫn chưa già
Non thời nhớ nước, nước mà quên non
Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa


Tản Đà đã dùng những hình ảnh rất đắt, để nói về cuộc chia ly và nỗi buồn của non (cô gái). Cặp từ “những... cùng” (những ngóng cùng trông) cho thấy cuộc chia ly khá dài. Một loạt hình ảnh khá tập trung để diễn tả nỗi buồn dẫn đến thân nàng tiều tụy: “Suối tuôn dòng lệ” (có bản ghi suối khô), nàng đã khóc nhiều, “xương mai”, vóc dáng đã gầy mà gầy lắm (một nắm), cũng là vịnh cảnh trên núi có cây mai già. Làn tóc trước đây đẹp, mềm mại như mây vờn (tóc mây) nay đã “đầy tuyết sương”, bạc trắng, cũng là vịnh cảnh sương tuyết đọng trên núi của bức tranh. Rồi những cái gì là “vẻ ngọc”, “nét vàng” của người con gái cũng “phôi pha” nốt. Thật là buồn! Trời cũng phải chiếu bóng tà dương xuống “Trời Tây chiếu bóng tà dương” (có bản ghi là ngả bóng...) và đúng là: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Truyện Kiều). Ở đây ta cũng thấy nghệ thuật vừa vịnh cảnh, vừa tả người tài tình của tác giả.

Sự đối lập giữa hoàn cảnh cô đơn, tiều tụy của non với sự trung thành lời thề, dù ở mức độ nào cũng không lay chuyển được lời thề sắt son của non (cô gái):

Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa


Điệp từ “còn” láy lại đến ba lần trong một câu lại nhấn mạnh sự sắt son đó.

Khách lại nối sáu câu tiếp theo nhắc lai lời thề như một sự cam kết và động viên của nước: “Nước đi ra bể lại mưa về nguồn” rồi “Bảo cho non chớ có buồn làm chi”, rằng “non thì cứ vui”.

Cô đào Vân Anh kết thúc bài thơ bằng hai câu ngắn gọn nhưng súc tích:

Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề


Mỗi từ non và nước ở câu cuối bài, được nhắc lại hai lần thành: “non non nước nước” đặt liền kề sát nhau thành một cặp trong một dòng để cùng nhau: “không nguôi lời thề”.


Toàn bài thơ có 22 câu lục bát với nhiều biện pháp tu từ được sử dụng: ẩn dụ, nhân hóa và đặc biệt điệp từ “non nước” được nhắc nhiều lần trong bài, bốn câu đầu, câu trên, câu dưới đều có cặp từ này khiến bài thơ, đọc lên nghe âm vang xoắn xuýt, quấn quýt lấy nhau, vừa êm dịu, vừa mặn mà trữ tình.

Tác giả đã khéo thổi hồn vào bức tranh tĩnh lặng trở thành câu chuyện tình sinh động, giàu tính nhân văn.

“Thề non nước” là một bài thơ đa nghĩa. Với nghệ thuật ẩn dụ và nhân hóa, nó không chỉ nói lên mối tình nam nữ thủy chung son sắt mà còn bàng bạc một tình cảm yêu nước thầm kín, thiết tha lúc đất nước còn chưa được độc lập, tự do. Vì vậy, bài thơ đã có tác dụng khích lệ lòng yêu Tổ quốc của dân tộc. Đó là cái biệt tài của tác giả.

Tản Đà là nhà văn, nhà thơ có tài năng, đã đóng góp to lớn vào nền văn học đầu thế kỷ 20. Là một cây bút phóng khoáng, ông nổi lên như “một hiện tượng đột xuất”, “vừa độc đáo”, “vừa dồi dào năng lực sáng tạo”** trong lúc nền văn học của dân tộc còn đang ở giai đoạn đầu của sự cách tân.

--------------------

* Thi nhân Việt Nam - Hoài Thanh, Hoài Chân NXB Văn học Hà Nội - 1988 - Cung chiêu anh hồn Tản Đà. Bài thơ “ Thề non nước” chép theo cuốn Thi nhân Việt Nam.

** Từ điển Văn học (bộ mới) - mục Tản Đà

Trần Hành / Theo: nguoihanoi

TỪ XƯA ĐẾN NAY, CÓ BAO NHIÊU HÀO KIỆT CÓ THỂ BUÔNG BỎ HẬN THÙ?

Trong văn hóa truyền thống, Tô Thức (Tô Đông Pha) không chỉ là một đại văn hào mà còn là một bậc đại trí giả thấu hiểu nhân sinh. Ông từng nói: “Không nên có hận”. Chỉ vỏn vẹn bốn chữ, nhưng lại chứa đựng trí tuệ sâu sắc về cuộc đời.


Chữ “hận” (恨) được tạo thành từ chữ “tâm” (心) và “cấn” (艮). “Tâm” là bản tâm và trí tuệ của con người, còn “cấn” có nghĩa là ngăn cản, dừng lại. Cái gọi là “hận” chính là trạng thái tâm trí bị tắc nghẽn, ngừng trệ. Khi một người chìm đắm trong “hận”, họ sẽ bị mắc kẹt bởi những cảm xúc tiêu cực, tâm hồn mất đi sự lưu chuyển, và sinh mệnh cũng vì thế mà đình trệ.

Trong lịch sử và hiện thực, vô số bi kịch đều sinh ra từ “hận”:

Có “hận”, vợ chồng phản bội, gia đình tan nát. Có “hận”, anh em trở mặt, tình thân hóa thù hằn. Có “hận”, bạn bè chống đối, tình bạn biến thành lưỡi dao. Có “hận”, nhân tính bị bóp méo, trở nên hung ác bạo liệt. “Hận” khiến con người không nhìn thấy ánh sáng của thế giới, dù đang ở giữa mùa hè, lòng vẫn lạnh giá như mùa đông khắc nghiệt. Nó làm cho con người thú tính trỗi dậy, từ đó dẫn đến xã hội hỗn loạn và tai họa liên tiếp, trả thù không ngừng, oan oan tương báo. Những cuộc giết chóc, báo thù, trộm cắp, cướp bóc trên thế gian, không gì không liên quan đến “hận”.

Ngược lại, khi chúng ta học cách buông bỏ “hận”, chúng ta mới có thể thực sự cảm nhận được trí tuệ của cuộc đời. Cổ huấn Trung Quốc dạy “dĩ trực báo oán, dĩ đức báo đức” (lấy ngay thẳng báo oán, lấy ân đức báo đáp ân đức), ý nói đừng lấy ác chế ác, mà hãy dùng sự chính trực và thiện niệm để hóa giải thù oán. Khoan dung không phải là yếu đuối, mà là dũng khí; thấu hiểu không phải là nhượng bộ, mà là trí tuệ.


Cuộc đời Tô Thức đầy gian nan, con đường quan lộ gập ghềnh, nhiều lần bị giáng chức, theo lẽ thường phải ôm đầy oán hận. Nhưng ông lại có thể ngâm thơ vẽ tranh, dùng tâm cảnh siêu thoát để nhìn nhận vinh nhục được mất. “Không nên có hận” của ông, chính là sự giác ngộ tâm linh sau khi vượt qua thử thách. Tự do thực sự không phải là không có những khó khăn bên ngoài, mà là nội tâm không bị “hận” trói buộc.

Sau đây chúng ta hãy cùng xem vài câu chuyện của người xưa về sự hận thù và không hận thù.

“Hận” của Hạng Vũ trong cuộc chiến Sở Hán

Cuộc chiến Sở Hán là một trong những cảnh tượng kịch tính nhất trong lịch sử Trung Quốc. Hạng Vũ, lúc bấy giờ xưng hiệu “Tây Sở Bá Vương”, từng lấy ít thắng nhiều trong trận Cự Lộc, đánh tan quân chủ lực nhà Tần, vang danh thiên hạ. Khoảnh khắc đó, các anh hùng thiên hạ đều cúi đầu, không ai có thể địch nổi.

Tuy nhiên, Hạng Vũ dù có sức mạnh vô song, nhưng tính tình cương liệt, lòng đầy oán hận. Ông xuất thân quý tộc, huyết khí phương cương, làm việc thường theo cảm tính. Đặc biệt đối với Lưu Bang, đối thủ xuất thân bình dân, ông luôn giữ thái độ khinh miệt và oán độc. Lưu Bang nhiều lần bội ước thất tín, thậm chí suýt chết dưới lưỡi kiếm tại bữa tiệc Hồng Môn, những điều này đã gieo mầm “hận” trong lòng Hạng Vũ.

“Hận” này khiến Hạng Vũ khi nhìn Lưu Bang, chỉ thấy một kẻ tiểu nhân xảo quyệt, mà không thấy được những ưu điểm của ông ta là đối xử rộng lượng với người khác, và giỏi dùng người. Trong khi Lưu Bang không ngừng thu phục lòng người, chiêu mộ nhân tài, thì Hạng Vũ lại nhiều lần bỏ lỡ cơ hội vì nghi kỵ và oán hận. Ông phân phong thiên hạ, đối xử bất công với công thần. Ông đa nghi, thường bỏ ngoài tai lời khuyên của mưu sĩ. Ông ôm lòng báo thù, khắp nơi đối đầu với Lưu Bang.

Điểm chí mạng nhất là, Hạng Vũ vì “hận” mà mất đi sự bình tĩnh chiến lược. Trong những thời khắc then chốt của các cuộc giao tranh với Lưu Bang, ông thường vội vã muốn đánh một trận, tìm kiếm sự hả hê nhất thời, mà bỏ qua bố cục lâu dài. Lưu Bang thì có thể co duỗi, biết rõ tạm thời không địch nổi thì lui về Quan Trung, tích lũy lực lượng, cuối cùng phản bại thành thắng.


Hạng Vũ tuy võ dũng tuyệt luân, nhưng ông không biết buông bỏ “hận”, không biết dùng tấm lòng rộng lớn để đoàn kết lòng người. Quân Sở trên dưới, theo ông vào sinh ra tử, cuối cùng lại vì sự cố chấp và oán độc của ông mà rơi vào tuyệt cảnh. Bên bờ Ô Giang, Hạng Vũ tự cảm thấy không còn mặt mũi nào để gặp lại phụ lão Giang Đông, rút kiếm tự vẫn. Chí lớn anh hùng bỗng chốc tan thành mây khói.

Kết cục của Hạng Vũ chính là minh chứng cho “hận”: Hận khiến ông tầm nhìn hạn hẹp, không nhìn rõ đại thế thiên hạ, cũng khiến ông bỏ lỡ cơ hội Đông Sơn tái khởi. “Hận” này, không chỉ hủy hoại bản thân ông, mà còn chôn vùi vô số tướng sĩ quân Sở.

Lịch sử vì thế để lại một lời nhắc nhở nặng nề: Sự hận thù của một người, nếu không thể chuyển hóa thành trí tuệ và tấm lòng rộng mở, cuối cùng sẽ trở thành xiềng xích đè nặng chính bản thân người đó.

Sự nhẫn nhục và đại độ của Hàn Tín

Đại tướng khai quốc Tây Hán Hàn Tín, khi còn trẻ gia cảnh nghèo khó, tính cách cô độc kiêu ngạo. Dù ôm ấp tài thao lược, nhưng từng có lúc phải sống nhờ người khác, chịu đựng sự khinh miệt. Cảnh tượng được lưu truyền rộng rãi nhất là ông từng “chịu nhục chui háng”.

Theo sử sách ghi lại, khi Hàn Tín còn trẻ, thường mang kiếm đi lại trong thành Hoài Âm, tạo ấn tượng cao ngạo tự phụ. Một lần, có một thanh niên bán thịt công khai sỉ nhục ông, nói: “Ngươi dù đeo kiếm, thực ra chẳng qua là một tên nhát gan! Nếu thật sự có gan, hãy một kiếm giết ta; nếu không có gan, thì hãy bò qua dưới háng ta!”. Dưới con mắt của đám đông, đây chắc chắn là một sự sỉ nhục ghê gớm. Những người vây xem đều chờ đợi xem Hàn Tín sẽ phản ứng thế nào.

Nếu là người lòng dạ hẹp hòi, chắc chắn sẽ rút kiếm đánh nhau ngay tại chỗ, không chỉ gây ra án mạng, mà còn có thể vì thế mà mất mạng hoặc trở thành kẻ chạy trốn. Nhưng Hàn Tín trong lòng có chí lớn, ông hiểu rằng cuộc tranh chấp như vậy hoàn toàn vô nghĩa. Vì thế, ông nín nhịn sự sỉ nhục, cúi mình chui qua dưới háng của người bán thịt. Những người vây xem cười nhạo không ngớt, gọi ông là kẻ nhát gan, nhưng không biết rằng sự nhẫn nhục này chính là nền tảng cho thành tựu tương lai của ông.


Sau này, Hàn Tín đầu quân cho Lưu Bang, nhờ tài quân sự xuất chúng mà trở thành một trong “Hán Sơ Tam Kiệt”. Ông thống lĩnh quân đội giỏi chiến đấu, sáng tạo ra “Minh tu sạn đạo, ám độ Trần Thương” (Sửa đường hầm công khai, bí mật vượt ải Trần Thương), lại dùng kỳ sách “Bối thủy nhất chiến” (Trận đánh dựa lưng vào sông), nhiều lần lấy yếu thắng mạnh, giúp Lưu Bang giành được giang sơn, đặt nền móng cho triều đại Tây Hán.

Điều đáng ca ngợi là, khi Hàn Tín đắc chí, ông không hề ôm lòng thù hận. Người bán thịt năm xưa sỉ nhục ông đã từng lo sợ Hàn Tín sẽ báo thù, run rẩy lo lắng, nhưng bất ngờ lại nhận được sự tha thứ của Hàn Tín. Hàn Tín không những không trách phạt hắn, mà còn đối xử với hắn bằng lễ nghĩa. Hành động này đã thể hiện tấm lòng “lấy đức báo oán” của ông—đúng như Sử Ký đánh giá ông: “Quốc sĩ vô song” (Người tài giỏi nhất nước).

Tấm lòng không hận thù của Tống Nhân Tông

Tống Nhân Tông Triệu Trinh là vị hoàng đế tại vị lâu nhất thời Bắc Tống. Ông lên ngôi từ khi còn trẻ, trị vì suốt bốn mươi hai năm, lịch sử gọi là “Nhân Tông thịnh trị”. Trong những năm tháng đó, ông không dựa vào vũ lực để mở rộng lãnh thổ, mà bằng lòng nhân hậu và tấm lòng rộng lớn, đoàn kết lòng người, tạo ra một thời kỳ thanh bình hiếm có.

Khi Nhân Tông tại vị, một trong những đại thần được ông trọng dụng nhất là Phạm Trọng Yêm. Phạm Trọng Yêm lo nước thương dân, cải cách tệ nạn, đề ra chí hướng “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ), được hậu thế ca tụng. Tuy nhiên, cải cách động chạm đến lợi ích của các thế lực cũ, gây ra sự đố kỵ từ quyền thần và kẻ tiểu nhân. Có người nhân cơ hội vu khống Phạm Trọng Yêm, nói rằng ông ta kết bè kết phái, mưu đồ bất chính. Phong thái triều đình nhất thời thay đổi, Phạm Trọng Yêm bị giáng chức đi xa.

Toàn bộ quan văn võ trong triều đều cho rằng Nhân Tông chắc chắn sẽ ôm lòng thù hận. Dù sao, bị người khác che mắt lầm lạc, dẫn đến việc trọng thần mà mình tin tưởng nhất phải rời xa triều đình, đối với bất kỳ vị đế vương nào, đây cũng là một loại “mất mặt” khó lòng dung thứ.

Tuy nhiên, Nhân Tông lại vượt ngoài dự đoán của mọi người. Ông bình tĩnh nói: “Trẫm há có thể vì lời nói nhất thời mà mất đi hiền thần?”. Câu nói này, vừa là sự phủ định những lời gièm pha của kẻ tiểu nhân, vừa là sự minh chứng cho tấm lòng rộng mở của bản thân. Ông không vì một phút sai lầm mà chuyển oán hận sang Phạm Trọng Yêm, càng không để định kiến che mờ mắt mình.


Sau này, khi Phạm Trọng Yêm vì chính tích và danh vọng lại được triều đình và dân chúng ca ngợi, Nhân Tông không chút do dự mà tái sử dụng ông, để ông chủ trì triều chính. Phạm Trọng Yêm cùng Âu Dương Tu, Phú Bật và một nhóm hiền thần chính trực đồng lòng phò tá, thúc đẩy chính trị thanh minh, bách tính an cư, sử sách gọi là “Nhân Tông thịnh trị”.

Sự không hận thù của Nhân Tông, không chỉ thành tựu cuộc đời của Phạm Trọng Yêm, mà còn thành tựu một thời đại. Thử nghĩ mà xem, nếu Nhân Tông vì một phút tức giận, vĩnh viễn gạt bỏ Phạm Trọng Yêm ra ngoài, chính trị Bắc Tống có lẽ đã sớm rơi vào bóng tối, bách tính cũng sẽ mất đi một vị người bảo vệ “tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu”.

Lịch sử vì thế để lại một lời nhắc nhở sâu sắc: Sự không hận thù của đế vương, là một tầm nhìn; tấm lòng của quân chủ, thường quyết định sự sáng sủa của một thời đại.

Sự không hận thù của Tống Nhân Tông, vừa hóa giải ân oán cá nhân, vừa mang lại thái bình thịnh trị cho thiên hạ.

Theo Vision Times
Thanh Ngọc biên dịch / Theo: ĐKN

TRƯỜNG MỆNH NỮ - PHÙNG DUYÊN KỶ


Trường mệnh nữ

Xuân nhật yến,
Lục tửu nhất bôi ca nhất biến.
Tái bái trần tam nguyện.
Nhất nguyện lang quân thiên tuế,
Nhị nguyện thiếp thân trường kiện,
Tam nguyện như đồng lương thượng yến,
Tuế tuế trường tương kiến.


長命女 - 馮延己

春日宴,
綠酒一杯歌一遍。
再拜陳三願。
一願郎君千歲,
二願妾身長健,
三願如同樑上燕,
歲歲長相見。


Trường mệnh nữ
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Ngày xuân mở tiệc rộn ràng.
Bên ly rượu ngọt, ca vang đất trời.
Thề nguyền vái lạy đôi lời.
Nguyện chàng trăm tuổi, một đời bình an.
Thiếp nguyện sức khoẻ an khang.
Ngyện như đôi én cùng chàng sánh đôi.
Ước nguyện chỉ bấy nhiêu thôi.
Tháng năm quấn quýt, bồi hồi tháng năm !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Phùng Duyên Kỷ 馮延己 (903-960) còn có tên Duyên Tự 延嗣, tự Chính Trung 正中, người Quảng Lăng (nay là Dương Châu, tỉnh Giang Tô) thời Nam Đường. Từ của ông có ảnh hưởng rất lớn với hậu thế. Lưu Hy Tái trong tập Từ khái nhận định: “Từ của Phùng Duyên Kỷ, Án Thù được phần tuấn, Âu Dương Tu được phần thâm”. Vương Quốc Duy khẳng định: “Từ của Phùng Duyên Kỷ mở ra một thời phong khí Bắc Tống”. Trong bài từ Dương xuân lục, Trần Thế Tu nói: “Từ của Phùng tứ sâu, lời đẹp, văn thanh, điệu mới”. Tác phẩm của ông hiện còn 120 bài biên thành Dương xuân tập.

Nguồn: Thi Viện