Sunday, August 16, 2026

LAN HUỆ SẦU AI?

Ngày còn nhỏ, khi còn ở bên nội, tôi thấy quanh nhà nội có hàng rào tre gai chen lẫn mấy bụi tre mạnh tông bao bọc mảnh vườn nhỏ trồng nhiều cây mãng cầu ta.

Hoa lan huệ Ảnh: TƯ LIỆU

Loại mãng cầu này trái tròn bằng nắm tay, có nhiều mắt, khi chín nở lớn, căng mịn, nứt vỏ. Nếu không kịp leo hái trái mãng cầu xuống thì lũ chim trao trảo nghe mùi thơm kéo nhau bay vào vườn ăn sạch. Góc vườn giáp với hàng rào tre có cây khế chua. Mỗi khi khế trổ bông, suốt ngày tôi nghe tiếng lũ ong bầu vo ve trên những chùm bông màu đỏ tím.

Tôi không biết lũ ong bầu thích mùi phấn hương hay tìm mật ẩn kín trong nhụy bông khế. Nhưng với trẻ con tinh nghịch, ưa khám phá, tìm tòi, thích những trò chơi của tuổi thơ, việc bắt ong bầu dằn lên đáy cái thùng nhôm để nghe tiếng chúng kêu u u rất lạ tai lại là trò chơi thú vị. Cứ chú ong bầu của đứa nào kêu to nhất là đứa đó thắng cuộc chơi âm thanh. Ở góc sân nhà nội tôi, sát hàng cây bông gòn, nơi có mương nước rất trong, còn có cây lê-ki-ma trái tròn giống như hột gà nên còn gọi là cây trứng gà. Trái lê-ki-ma chín có màu vàng ươm, nhìn rất ngon mắt.

Thứ tôi thắc mắc, quan tâm nhất không phải là cây trái trong vườn nhà nội mà là một loài hoa nảy chồi lá từ củ vùi sâu trong lớp đất pha cát suốt mùa nắng. Chỉ sau vài cơn mưa đầu mùa, chồi lá đã trồi lên. Loài hoa có củ này có nhiều dưới thềm nhà nội tôi, mọc thành từng bụi nhỏ. Những cọng lá xanh nhô lên cao khỏi mặt đất, lớn dần. Khi cao khoảng 20 cm thì giữa những cọng lá ấy nhú lên một chồi hoa, độc nhất cái hoa có 6 cánh thon, dài màu hồng rất mỏng manh, không hương thơm nhưng rất đẹp. Vẻ đẹp yếu đuối, mong manh ấy tàn lụi sau một – hai ngày bung nở.

Cũng không ai cho tôi biết loài hoa có củ ấy tên gọi là gì nhưng tôi rất ấn tượng về nó. Đó là sự bí ẩn đối với tuổi thơ tôi mà mãi sau này, tôi mới biết đó là loài huệ mưa, còn gọi là lan huệ. Chỉ riêng mình tôi gọi nó là “ẩn lan”, tên hàm chứa sự bí ẩn của loài hoa củ vùi sâu trong đất.


“Lan huệ sầu ai lan huệ héo/Lan huệ sầu tình trong héo ngoài tươi”. Trước khi biết tên loài hoa bí ẩn này là lan huệ, tôi đã nghe câu hát ru em của mẹ ngày bà còn xuân sắc khi mới về bên nội. Ba tôi đi kháng chiến, vắng nhà biền biệt… Những buổi trưa thôn xóm thanh vắng, chỉ có gió mùa khô lướt qua hàng rào tre rì rào cùng với nhịp võng đưa trước hiên nhà, mẹ đã ru em tôi ngủ bằng câu ca này.

Ngày ấy, có thể mẹ tôi đã biết có một loài hoa trước thềm nhà nội tên là lan huệ, hoặc có thể bà cũng không biết. Nhưng câu hát ru em của mẹ tôi từ thời xuân sắc về ở quê chồng, mà chồng thì biền biệt xa, đã trở thành mối cảm hoài ẩn sâu trong câu hát ru em buồn não lòng ấy. Khi lớn lên, tôi càng hiểu thêm tình ý của câu hát ru “Lan huệ sầu ai”. Và tất nhiên, tôi cũng rất trân trọng, dành nhiều thiện cảm cho loài hoa có cuộc đời bị vùi lấp rất sâu trong đất, chịu hết sự khô cằn, nắng lửa để chỉ đợi lúc mưa rào.

Bây giờ, tôi về ở quê ngoại, trong căn nhà cất trên mảnh vườn tôi mua lại của người bà con cho mẹ ở suốt tuổi nghỉ hưu của bà đến khi bà mất. Trong lúc quét dọn vườn tược, tôi mới khám phá ra trong đám cúc bò, quanh kẹt hồ chứa nước mưa, ven lối đi có những củ lan huệ không biết sống sót thế nào trong đất vườn nhà, bỗng dưng nhú chồi xanh. Chúng mọc ra những cọng lá mảnh rồi nảy lên những cái hoa 6 cánh, không chỉ có màu hồng mà cả màu vàng và màu đỏ. Trời ơi, “ẩn lan” của tôi đó, là huệ mưa, là “Lan huệ sầu ai lan huệ héo/Lan huệ sầu tình trong héo ngoài tươi”!


Thế là tôi dành trọn một buổi tìm bứng những củ huệ mưa từ tuổi thơ thăm thẳm của đời người mọc rải rác nhiều chỗ đem trồng gom lại một nơi cho tiện việc chăm sóc, nhìn ngắm mỗi ngày. Tôi cũng khám phá ra sự bí ẩn khác của huệ mưa khá thú vị. Loài hoa này không chỉ ẩn mình cam chịu dưới lớp đất sâu suốt mùa nắng lửa đợi đến khi mưa đầu mùa trút xuống mới trồi lên khỏi đất rồi nở hoa, chứng tỏ sức sống mãnh liệt. Huệ mưa còn một tập tính khác: nếu được ngắt những cọng lá xanh sát củ, chúng sẽ ra lá mới và lại cho hoa liên tục.

Thiên nhiên có những điều thật kỳ diệu mà chỉ ai ở gần, sát với thực tiễn mỗi ngày để nhìn thấy tận mắt, mới dần khám phá ra. Thú vị hơn cả là câu ca dao, câu hát ru em “Lan huệ sầu ai” mà ta nghe, mỗi người sẽ cảm nhận sâu hơn về loài hoa vốn có cuộc sống, vòng đời bí ẩn, đã mang sẵn một cái tên rất buồn này.

Từ Kế Tường

"LÈO" LÀ GÌ MÀ "HỨA LÈO"?

Ca dao Nam Bộ có câu: 

"Thuyền anh mỏng ván, bóng láng, nhẹ chèo
Xin anh bớt ngọn, xả lèo chờ em."


“Lèo” là cái gì mà phải xả? Nghe hỏi, nhiều người ngần ngừ, lật đật lật từ điển tra cứu xem sao. Thì đây, lèo là dây nối từ cánh buồm đến chỗ người lái thuyền để lựa gió cho thuyền đi. Nói rõ hơn một chút, có hai loại lèo: “lèo dùi” và “lèo thẳng”. Nếu không giải thích, khi đọc/học thơ của Lê Thánh Tông, đến câu này ắt lại ngắc ngứ:

Lèo ăn gió, dầu dùi thẳng
Cánh phơi mây, mặc lộng khơi

“Lèo ăn gió”, có thể hiểu lèo đã được gió, hoàn toàn theo đúng hướng gió, no gió; do đó, bất chấp cả “dùi thẳng”. Từ điển của Huình Tịnh Paulus Của giải thích: “Dùi thẳng: Chiều theo sự thể, lần hồi, không quyết bề nào”. Ta hiểu là sự nhùng nhằng, không dứt khoát, rạch ròi, chưa đâu vào đâu. Vậy nên, phải có dấu phết (,) giữa dùi và thẳng mới rõ nghĩa: người đi thuyền hoàn toàn chủ động theo ý thích, dầu/dù “lèo dùi” (dây dùn, không săn, không thẳng) hay “lèo thẳng” đi nữa cũng không sao vì “lèo” đã “ăn gió”, no gió, căng gió.

Tiếc rằng, do không nắm rõ ngữ nghĩa trên nên các bản in đều ghi liền mạch “dùi thẳng”. Hơn nữa hai câu thơ trên đối xứng từng chữ, vậy phải “dùi” và “thẳng” mới đối được với “lộng” và “khơi”, hai từ tách biệt. Thành ngữ có câu: “Vào lộng ra khơi” là vậy.

“Lèo lái” là động tác giữ lấy dây lèo, bánh lái để thuyền chạy đúng hướng. Khi nói: “co chân chạy một lèo”, lèo ở đây xuất phát từ hình ảnh chiếc thuyền chạy một bề, không phải trở buồm, cứ thế mà chạy một hơi, chạy một mạch.

“Xả lèo” trong câu: “Xin anh bớt ngọn, xả lèo chờ em”, ông Huỳnh Công Tín lý giải rành mạch trong “Từ điển từ ngữ Nam Bộ”: “Buông sợi dây chằng buồm, cho buồm bớt căng gió để thuyền ghe giảm tốc độ”; chứ không phải “Tháo sợi dây chằng buồm cho buồm căng gió” như “Đại từ điển tiếng Việt” đã giải thích.

Trong mối quan hệ xã hội, có không ít lần ta bực mình vì gặp người “hứa lèo”. Họ hứa hẹn “chắc như đinh đóng cột” nhưng kết quả “Ba voi không được bát nước xáo”, chỉ hứa hươu hứa vượn. “Hứa lèo” là hứa cuội, hứa hão, nói tắt một lời là xạo ke: “Nói lời rồi lại ăn lời được ngay” (Truyện Kiều).

Còn “giường lèo” thì sao? “Đêm rằm mười sáu trăng treo/ Anh đóng giường lèo, lấy vợ Lái Thiêu”. Tục ngữ cũng có câu: “Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chuồng heo, ba vợ nằm chèo queo”. “Giường lèo” là loại giường có chạm trổ tinh vi, làm bằng gỗ quý.

Vào miền Nam, nhiều người mê món “bún nước lèo”. Chẳng hạn, ở Sóc Trăng dùng mắm cá sặt còn ở Trà Vinh dùng mắm bò hóc để nấu nước lèo. Loại nước này, người Bắc gọi “nước xuýt” – nước luộc thịt, luộc lòng, hầm xương có mùi vị thơm ngon. Gọi “nước dùng” cũng không sai. Rõ ràng, tùy vùng miền, tên gọi có khác nhau.

Những người đàn ông bụng phệ, to tổ chảng do uống nhiều bia thì cái bụng đó bị gọi là “thùng nước lèo”.

Lê Minh Quốc

Saturday, August 15, 2026

TĨNH NHƯ THU THỦY. LUI NHƯ THÁI SƠN. THUA NHƯ MÂY BAY. ẤY LÀ TRÍ TUỆ

Phàm ở đời, ai cũng mong được người hiểu, được kẻ tán dương, được đứng trên cao mà tỏ bày cái lý của mình. Bởi thế, miệng lưỡi chưa từng ngơi nghỉ, lời lẽ sắc như dao, cứ thế mà tranh, mà biện, đến cùng trời cuối đất. Nhưng mấy ai biết rằng, trong những lần hơn thua ấy, thứ đạt được chỉ là cảm giác thắng lợi thoáng chốc, còn điều mất đi lại là an nhiên trong tâm khảm, và cả những mối thâm tình quý giá.


Thắng một lời, dễ như trở bàn tay. Thắng một cuộc cãi, cũng chẳng khó chi. Song thắng được cái tâm, cái ngã bất phục trong mình, ấy mới là thắng lớn. Lặng im khi mình đúng, chẳng phải là bạc nhược hay khuất phục, mà là biểu hiện của bậc trí giả.

Có câu: “Đạo bất tranh, thiện bất biện.” Đạo lý chân chính vốn không cần lý lẽ mà lấp lánh, cũng như nước trong thì tự nhiên soi thấy đáy, người có chân tâm thì tự lòng người khác cảm thấu, chẳng cần đến tiếng nói.

Im lặng, không phải để thua, mà là một khoảng thinh không cho mình chiêm nghiệm. Là nhường cho đôi bên một phần tĩnh lặng, để tránh cuốn mình vào vòng xoáy của danh ngôn và thị phi.

Xưa kẻ xưng mình học rộng hiểu nhiều, dấn thân khắp nơi tranh luận Phật Pháp, lấy sự hơn thua làm vinh quang. Nhưng khi quay về, Sư Phụ chỉ hỏi một câu: “Con thắng được bao nhiêu người? Tâm con có an chưa? Ta có dạy con điều đó không?”

Một lời như sấm sét giữa trời quang, đánh thức vị đệ tử ngỡ mình đắc đạo.
 
Im lặng là cảnh giới của bao dung. Mà biết lùi, lại là bậc cao của trí tuệ

Đường đời, chẳng phải lúc nào cũng là đại lộ thênh thang. Có lúc là ngõ cụt, có khi là vách đá, tường thành kiên cố mà sức người chẳng thể lay.

Kẻ nông nổi sẽ lao đầu mà đập vỡ, mang về máu và khổ lụy. Kẻ tỉnh ngộ lại lui vài bước, nhìn rộng thêm một chút, để tìm một con đường khác, nhẹ hơn, sáng hơn, bớt đớn đau hơn.

Ngẫm đến Tư Mã Ý khi xưa, giữa thiên tài Gia Cát Lượng, chẳng xuất trận, chẳng ứng chiến, chỉ bế môn bất xuất, để mặc quân địch giễu cợt, tặng cả xiêm y đàn bà mà chọc tức. Thế gian chê ông hèn, nhưng sau cùng lại là ông định được cục diện thiên hạ. Lùi một bước để tiến vạn dặm. Chấp nhận nhẫn hôm nay để gặt hái ngày mai. Nhẫn ấy không phải yếu hèn, mà là trí sâu như biển, mưu cao như trời.

Lùi bước, còn là biểu hiện của khiêm nhường. Khi đạt tới một độ cao nào đó, biết dừng chân, nhường lối, nâng đỡ hậu bối, ấy mới là phong thái của bậc quân tử.

Đỉnh cao thật sự chẳng phải là vị trí, mà là cách người ta đối đãi với người đứng dưới.

Ảnh sưu tầm

Và hơn cả, biết thua là một loại giải thoát sâu xa

Con người mê hai chữ “thành công”, cứ tưởng thất bại là nhục, là đoạn tận.

Nhưng có khi, càng cố gắng giữ, càng đánh mất chính mình. Càng chiến đấu, càng tổn hao tâm can. Có mối nhân duyên, giữ lại chỉ còn khổ đau. Có công việc, níu kéo chỉ là cạn kiệt tinh thần.

Biết thua không phải đầu hàng, mà là nhìn rõ giới hạn. Là chấp nhận rằng, có những thứ không thuộc về mình, miễn cưỡng cũng vô ích. Buông một nước cờ nhỏ, giữ lại toàn cuộc. Thua một người không đáng, đổi lấy bình an lâu dài, ấy là trí.

Thế gian vẫn ồn ào, người người chen vai mà tiến. Nhưng kẻ chân chính, giữa bao la náo nhiệt, vẫn giữ được một cõi lặng cho riêng mình. Không phải để thoái lui, mà để tự hỏi lòng: ta đang đi đâu? Có đáng để theo đuổi? Có phải điều ấy là của mình không?

Khi lời nói trở nên vô nghĩa, hãy im.
Khi đường trước mặt chỉ còn khổ lụy, hãy lui.
Khi giữ chỉ khiến lòng thêm tan vỡ,hãy thua.

Không phải vì sợ hãi, mà vì biết đủ. Không phải vì yếu mềm, mà vì đã hiểu rồi.

Ảnh sưu tầm

Tĩnh – là ánh nước soi tâm.
Lui – là bậc cao của trí.
Thua – là con đường đến tự do.

Người nào giữ được ba chữ ấy trong lòng, thì giữa cõi thế gian đầy biến động, cũng chẳng lo nghiêng ngả.

Nguyên Tác An Hậu
Theo: vandieuhay

GIAI ĐOẠN NÀO CỦA ĐỜI MÌNH LÀ ĐẸP NHẤT?


Có một chàng trai luôn lo lắng về tương lai của mình, anh tự hỏi không biết giai đoạn đẹp nhất của đời mình là thời gian sắp tới hay là những năm tháng đã qua. Một hôm anh trò chuyện với một cụ già tuổi đã gần 80 nhưng vẫn còn khỏe mạnh và lạc quan yêu đời, hai người trao đổi với nhau về những kinh nghiệm sống. Chàng trai hỏi ông cụ:

– Cụ có thể nói cho cháu biết thời gian nào là đẹp nhất trong đời cụ?

Cụ già vui vẻ trả lời:

– Khi tôi còn nhỏ, tôi được sống trong vòng tay yêu thương của cha mẹ, được cha mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ. Đây là thời gian đẹp nhất của cuộc đời tôi. Khi lớn lên, tôi được cha mẹ cho đến trường, ở đó có thầy cô và bạn bè, tôi được thầy cô truyền trao kiến thức, được học tập và vui chơi cùng bạn bè. Đó là thời gian đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Khi tôi nhận được việc làm, biết gánh vác trách nhiệm, được hưởng những thành quả từ sự nỗ lực của mình. Đây cũng là thời gian đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Khi tôi gặp vợ tôi, chúng tôi yêu nhau, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Đó là thời gian đẹp nhất của cuộc đời tôi. Khi là một người cha, cảm nhận niềm hạnh phúc nhìn những đứa con của mình lớn lên. Đó là thời gian đẹp nhất của cuộc đời tôi. Bây giờ tôi đã gần 80 tuổi, tôi còn sức khỏe, tôi luôn cảm thấy vui vẻ và hạnh phúc, tôi vẫn yêu vợ và các con, sống hòa thuận với mọi người. Đây là thời gian đẹp nhất của cuộc đời tôi.

Theo: Cửa sổ tâm hồn


BÀI HỌC ĐẠO LÝ

Sau khi đã trải nghiệm đời sống thăng trầm dâu bễ rồi người ta thường quý cái tình cái nghĩa hơn. Bởi đó là những thứ mà đôi khi có nhiều danh phận và bạc tiền cũng không mua được.
Kế đó, khi đã chiêm nghiệm sâu sắc hơn, người ta bắt đầu trân quý cái sự an. Nói chung là an toàn tập. Khi mà bất an ở các phương diện thực phẩm, không khí, giao thông, sức khỏe, tài chính…đoanh vây thì được an trở nên vô cùng cấp thiết.

Thành ra, giai đoạn nào mà thân khỏe, tâm an, trí sáng thì khi đó là khoảng thời gian đẹp nhất, bình an nhất, hạnh phúc nhất.

QUẢNG TÁNH

VÌ SAO CON NGƯỜI KHÔNG THUẦN HÓA ĐƯỢC NGỰA VẰN?

Cùng họ nhà ngựa, cùng bốn vó khỏe và đủ sức kéo xe, nhưng lịch sử đã chọn ngựa trở thành bạn đồng hành của con người, còn ngựa vằn thì không.

Ngựa vằn rất khó thuần hóa - Ảnh: MARYLAND ZOO

Khoa học cho thấy câu trả lời không nằm ở những sọc của ngựa vằn, mà ở sinh học hành vi, phản ứng stress và cả áp lực tiến hóa của đồng cỏ châu Phi.
Vì sao ngựa vằn vẫn... "bướng"?

Trong lịch sử, từng có những nỗ lực cưỡi ngựa vằn, huấn luyện ngựa vằn kéo xe, thậm chí lai tạo với ngựa. Nhưng ngựa vằn chưa bao giờ trở thành vật nuôi phổ biến như ngựa hay lừa.

Theo một bài tổng quan khoa học đăng trên tạp chí Animals (2024), thuần hóa là một quá trình lâu dài đòi hỏi nhiều điều kiện cùng hội tụ như loài đó phải chịu được việc bị bắt giữ, nuôi nhốt, tiếp xúc gần với con người và quan trọng nhất là có thể thích nghi qua nhiều thế hệ dưới sự chọn lọc của con người.

Trong khi đó, ngựa vằn gặp trở ngại ở nhiều điểm trong chuỗi điều kiện này.

Một yếu tố then chốt được các nhà nghiên cứu nhấn mạnh là hiện tượng "tổn thương do stress khi bị bắt giữ". Đây là tình trạng một số động vật móng guốc có thể bị suy sụp sinh lý nghiêm trọng khi bị rượt đuổi hoặc nhốt giữ.

Theo bài viết trên trang Animals, mức độ dễ bị tổn thương do stress là yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt đến khả năng thuần hóa. Ngựa vằn, vốn tiến hóa trong môi trường có mật độ thú săn mồi cao ở châu Phi, giữ lại phản ứng cảnh giác và hoảng loạn rất mạnh.

Đó là bởi trong môi trường mà sư tử, linh cẩu hay báo luôn rình rập, những con phản ứng nhanh, giật mình mạnh và bỏ chạy tức thì có khả năng sống sót cao hơn.

Ngựa vằn đã tiến hóa để có thể thích ứng với cuộc sống hoang dã - Ảnh: LA ZOO

Qua hàng chục nghìn năm, đặc điểm này trở thành lợi thế tiến hóa, đặc biệt đúng với trường hợp của ngựa vằn.

Nhưng chính lợi thế ấy lại là rào cản đối với quá trình thuần hóa, vốn đòi hỏi động vật có thể chịu đựng việc bị kiểm soát và tiếp xúc lặp đi lặp lại với con người.

Chương trình Nature của PBS khi nói về tập tính ngựa vằn từng mô tả chúng là loài rất "căng thẳng", dễ phản ứng mạnh khi bị tiếp cận gần. Không ít trường hợp chấn thương do ngựa vằn cắn hoặc đá đã được ghi nhận trong thực tế.

Tuy nhiên vấn đề không chỉ nằm ở "tính khí". Thuần hóa không đồng nghĩa với việc một con ngựa vằn có thể được dạy dỗ.

Một con ngựa vằn riêng lẻ có thể được huấn luyện phần nào, nhưng để trở thành vật nuôi phổ biến, loài đó phải cho phép con người nhân giống và chọn lọc qua nhiều thế hệ mà không gây rủi ro quá lớn.

Giới nghiên cứu phân biệt rõ giữa "thuần tính" (một con trở nên hiền hơn) và "thuần hóa" (cả quần thể thay đổi về mặt di truyền và hành vi qua nhiều thế hệ). Theo tổng quan trên Animals, ngựa vằn không đáp ứng tốt những điều kiện nền tảng để tiến trình thuần hóa ở quy mô quần thể diễn ra bền vững.

Ngựa có thật sự thông minh?

Loài ngựa có khả năng ghi nhớ biểu cảm của con người - Ảnh: SCIENCE FOR HORSE LOVERS

Nếu ngựa vằn cho thấy giới hạn của thuần hóa, thì ngựa - loài đã đồng hành với con người hàng nghìn năm - lại ngày càng khiến các nhà khoa học nhìn nhận lại trí tuệ của chúng.

Năm 2018, một nghiên cứu công bố trên tạp chí Current Biology cho thấy ngựa có thể ghi nhớ biểu cảm cảm xúc của con người.

Trong thí nghiệm, ngựa được cho xem hình ảnh khuôn mặt người với biểu cảm vui hoặc giận. Nhiều giờ sau, khi gặp lại đúng người đó trong trạng thái trung tính, ngựa vẫn thể hiện phản ứng khác nhau tùy theo ký ức cảm xúc trước đó.

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng thiết kế thí nghiệm được kiểm soát để tránh việc con người vô tình phát tín hiệu cho ngựa.

Một nghiên cứu khác đăng trên Frontiers in Psychology năm 2020 tiếp tục đặt câu hỏi ngựa có thực sự nhận diện khuôn mặt người hay chỉ dựa vào những chi tiết như màu tóc, dáng người?

Kết quả cho thấy ngựa có khả năng xử lý khuôn mặt theo hướng tổng thể, tức không chỉ dựa vào một chi tiết đơn lẻ mà dựa vào cấu trúc chung của khuôn mặt.

Quá trình thuần hóa ngựa có thể liên quan nhiều đến khả năng tương tác xã hội của chúng - Ảnh: MASHABLE

Gần đây hơn, nghiên cứu công bố trên Applied Animal Behaviour Science (2024) cho thấy ngựa có thể học cách phân biệt các biểu cảm cảm xúc khác nhau của con người thông qua huấn luyện có thưởng.

Theo nhóm nghiên cứu, ngựa được huấn luyện trong môi trường kiểm soát với hình ảnh khuôn mặt thể hiện các cảm xúc khác nhau và được thưởng khi chọn đúng theo quy tắc. Khi thay đổi người trong ảnh hoặc góc chụp, ngựa vẫn duy trì khả năng phân loại.

Ở góc độ sinh học hành vi, những phát hiện này gợi ý rằng ngựa có hệ thống xử lý tín hiệu xã hội phát triển tương đối cao. Là loài sống bầy đàn, ngựa vốn phải nhạy cảm với trạng thái cảm xúc của những con khác để duy trì trật tự trong nhóm.

Quá trình thuần hóa kéo dài hàng nghìn năm có thể đã củng cố thêm khả năng đọc và phản ứng với tín hiệu của con người.

Theo các nhà nghiên cứu, đây là ví dụ điển hình cho thấy thuần hóa không dừng lại ở ngoại hình hay sức kéo, mà còn liên quan đến biến đổi về hành vi và khả năng tương tác xã hội.

Hoàng Thi / Theo: tuoitre

BÍ ẨN THÂN THẾ NGƯU MA VƯƠNG - KẺ KHIẾN TÔN NGỘ KHÔNG GỌI ĐẠI CA

Ngưu Ma Vương là một yêu quái hiếm hoi nhận được sự yêu mến của khán giả bởi pháp lực phi phàm. Tuy nhiên lai lịch và thân thế của nhân vật này lại là một bí ẩn, chẳng mấy ai biết đến.


Năng lực đáng sợ của Ngưu Ma Vương

Trong tập Ba lần lấy quạt Ba tiêu, thầy trò Đường Tăng đến dãy núi Hỏa Diệm Sơn. Ngọn núi này quanh năm bốc lửa, nước bình thường không thể dập tắt được, bèn nghĩ tới cách mượn quạt Ba Tiêu của Thiết Phiến Công chúa.

Trước đó, Ngộ Không đã bị Hồng Hài Nhi con trai của Thiết Phiến lừa bắt sư phụ. Không những vậy, Hồng Hài Nhi còn dùng Tam Muội Chân Hỏa thiêu Ngộ Không suýt mất mạng, phải nhờ tới sự trợ giúp của Quan Âm Bồ Tát mới hàng phục được.

Sự việc này bắt đầu gieo mầm ân oán giữa Ngộ Không và vợ chồng Ngưu Ma Vương.

Thiết Phiến Công Chúa căm hận Ngộ Không nên chẳng những không cho mượn mà còn thổi Ngộ Không bay tới tận thiền viện của Linh Cát Bồ Tát.

Ngộ Không dùng Định Phong Châu mượn của Linh Cát Bồ Tát tránh được sức mạnh quạt Ba Tiêu nên dùng mọi quỷ kế đa đoan đoạt lấy chiếc quạt ấy từ tay Thiết Phiến.

Ngưu Ma Vương thấy vợ bị làm nhục nên quyết một phen sống mái với Ngộ Không. Đây chính là ngọn nguồn của trận chiến hao tâm tổn lực nhất Tây Du Ký , cần sự góp sức của cả Tam Giới mới ngăn cản được.

Tôn Ngộ Không gây thù chuốc oán với vợ chồng Ngưu Ma Vương.

Ngưu Ma Vương không những sở hữu thực lực cường đại mà còn có sức mạnh đáng gờm. Ngộ Không liên thủ cùng Trư Bát Giới, Thổ Địa dẫn âm binh bao vây cũng không thể khống chế con trâu này.

Phải đến khi Phật Tổ phái Bát Đại Kim Cương, Ngọc Hoàng cử thiên binh thiên tướng tới giúp sức, các bên hợp lực tạo thành thiên la địa võng mới trấn áp nổi.

Trong Tây Du Ký, Tôn Ngộ Không là một nhân vật thần thông quảng đại, ngoại trừ Phật Tổ Như Lai và chư vị Bồ Tát pháp lực vô biên, thì những vị thần tiên hay yêu quái có thể đối đầu với Ngộ Không chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Một vài cái tên có thể kể đến rong cõi Tam giới đó là Nhị Lang Thần (cháu của Ngọc Hoàng), đại bàng Kim Sí Điểu (cậu của Phật Tổ Như Lai), Cửu Linh Nguyên Thánh (Thần thú của Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn) và cha con Ngưu Ma Vương.

Có thể thấy hầu hết những cái tên ấy đều thuộc dòng dõi chư tiên, nhưng cha con Ngưu Ma Vương với lai lịch bí hiểm lại lọt vào danh sách này.

Lai lịch bí ẩn của Ngưu Ma Vương

Trước khi Tôn Ngộ Không đại náo Thiên Cung đã cùng Ngưu Ma Vương kết nghĩa huynh đệ với sáu con yêu tinh khác, Ngưu Ma Vương làm đại ca hiệu xưng là Bình Thiên Đại Thánh.

72 phép biến hóa thần thông của Ngưu Ma Vương từ đâu mà có?

Bản thể y là một con khuê ngưu có thân hình to lớn, mình mặc áo giáp, tay cầm đinh ba và sở hữu pháp lực cao cường. Ngoài ra Ngưu Ma Vương cũng tu luyện 72 phép biến hóa thần thông như Tôn Ngộ Không.

Phép thuật chính đạo trong Tam giới gồm 36 phép thiên cang và 72 phép địa sát, phải khổ công rèn luyện và có tiên nhân đắc đạo chỉ điểm mới tu luyện được.

Từ thuở hỗn mang, chỉ những đấng sáng tạo như Hồng Quân lão tổ cùng với 3 người học trò mới biết đủ 108 phép thiên cang địa sát.

Tôn Ngộ Không luyện được 72 phép địa sát nhờ vào thiên phú và sự chỉ điểm của Bồ Đề Tổ Sư, Nhị Lang Thần là vãn bối của Nguyên Thủy Thiên Tôn. Vậy thì nhờ đâu mà Ngưu Ma Vương lại có thể luyện thành 72 phép?

Có một giả thuyết về thân thế của Ngưu Ma Vương được khán giả Trung Quốc tin tưởng: Ngưu ma Vương chính là thú cưỡi của Thông Thiên giáo chủ.

Linh Bảo Thiên Tôn tức Thông Thiên Giáo chủ là một trong 3 vị học trò của Hồng Quân lão tổ. Ngài có pháp lực vô biên, tay cầm tru tiên tứ kiếm, mình cưỡi khuê ngưu.

Sau khi thất bại trước hai vị sư huynh, ông được sư phụ đưa về cung Tử Tiêu nhưng con khuê ngưu thì bị thất lạc. Con khuê ngưu ấy có thể chính là Ngưu Ma Vương, trốn xuống trần gian làm yêu ma.


Suốt một thời gian dài đi theo phò tá Thông Thiên Giáo chủ, Ngưu Ma Vương nghe ông giảng đạo nên đã lĩnh ngộ được 72 phép thần thông quảng đại. Khi xuống trần, y tu thành chính quả sau đó cưới Thiết Phiến Công Chúa, một nữ nhân mang dòng dõi thần tiên.

Chính bởi xuất thân có phần cao quý như thế nên mặc dù một con yêu quái như Ngưu Ma Vương dám phá lệ trời cưới tiên nhân, không những không bị trời trừng phạt mà còn một lần được mời lên dự tiệc bàn đào.

Giả thuyết này là một trong những giả thuyết chính xác nhất lý giải về xuất thân của Ngưu Ma Vương.

Theo: Trí Thức Trẻ

Friday, August 14, 2026

HIỆU ỨNG DUNNING - KRUGER: NHẬN THỨC CÀNG THẤP CÀNG TỰ CHO LÀ MÌNH ĐÚNG

Nhận thức càng thấp càng tự cho là mình đúng (ảnh minh họa Psychologytoday)

Nhận thức càng thấp càng dễ cho là mình đúng mà phản đối ý kiến của người khác, trong tâm lý học gọi đây là “Hiệu ứng Dunning–Kruger”.

Có một câu chuyện như sau: Đã từng có một tên cướp tên là Wheeler. Anh ta đã cướp 2 ngân hàng ở Pittsburgh giữa ban ngày và không đeo mặt nạ hay có bất kỳ sự cải trang nào. Không mất nhiều thời gian để cảnh sát bắt giữ anh ta.

Khi bị bắt, anh ta vẫn còn bối rối hỏi cảnh sát: “Làm thế nào các anh tìm thấy tôi? Tôi rõ ràng đã bôi chất lỏng tàng hình lên mặt rồi mà!” Cảnh sát hỏi: “Chất lỏng tàng hình nào?” Tên cướp vô cùng nghiêm túc trả lời: “Nước chanh”. Hóa ra sau khi hắn biết dùng nước chanh để viết chữ trên giấy thì có thể làm cho chữ viết trở nên vô hình, anh ta ngu ngốc tin rằng nước chanh thoa lên mặt cũng có thể khiến mình tàng hình.

Tên cướp ngu ngốc này đã thu hút sự chú ý của giáo sư tâm lý học tại Đại học Cornell là David Dunning. Ông đã làm việc với nhóm của mình để tiến hành nghiên cứu thực nghiệm và phát hiện ra rằng: Trình độ nhận thức của một người càng thấp thì họ lại càng ít có khả năng nhận ra chính xác những khuyết điểm của mình và phân biệt rõ hành vi sai trái của bản thân. Đây chính là “Hiệu ứng Dunning–Kruger” nổi tiếng.

Trình độ nhận thức càng thấp càng tự cho mình là đúng

“Hiệu ứng Dunning–Kruger” giải thích rất rõ 4 giai đoạn nhận thức của con người:

Giai đoạn đầu tiên: Đỉnh cao sự ngu ngốc—không biết rằng mình không biết;

Giai đoạn thứ 2: Thung lũng tuyệt vọng — biết rằng mình không biết;

Giai đoạn thứ 3: Sườn dốc giác ngộ — biết rằng mình biết;

Giai đoạn thứ 4: Cao nguyên của sự bền vững — không biết rằng mình biết. 

Những người có trình độ nhận thức càng thấp càng tự cho là mình đúng (ảnh minh hoạ livescience)

Trong cuộc sống, hầu hết mọi người đều ở giai đoạn đầu tiên của trạng thái nhận thức, nhưng những người như vậy thường nghĩ rằng họ biết tất cả mọi thứ và tự cho mình là đúng.

Trong “Tống nhân dật sự hồi biên” có một câu chuyện như vậy: Kể rằng thời Nam Tống, có một quan huyện tên là Chung Nhược Ông, ông tự cho rằng chữ viết của mình rất đẹp, nên rất coi thường chữ viết của người khác và luôn muốn thay thế nó.

Đi đến đâu ông cũng thích châm chọc mỉa mai những chữ trên bức hoành, cố hết sức xóa bỏ những chữ gốc và viết lại dưới tên của chính mình. Tuy nhiên, chữ viết của ông thực sự rất xấu và mọi người xung quanh ông ấy đều gặp rắc rối vì điều đó.

Ông từng đi ngang qua một ngôi chùa trên núi ở Lư Lăng, nơi có một lầu gác cao rất nguy nga. Chung Nhược Ông và các quan viên cấp dưới cùng đi đến đó và đứng xung quanh phía dưới, nhìn bức hoành trên chùa có ghi “Định huệ chi các”, nhưng tên tác giả trên bức hoành rất mờ. Ông liền phê bình theo ý mình, còn nhờ một nhà sư dùng thang để gỡ bức hoành xuống.

Sau khi nhà sư lau sạch sẽ bức hoành, Chung Nhược Ông bước lại gần và thấy rằng nó thực sự được viết bởi Nhan Lỗ Công Nhan Chân Khanh, là người rất nổi tiếng về thư pháp.

Lúc này, ông xấu hổ quay đầu lại nói với quan viên cấp dưới: “Tại sao các ngươi không khắc những chữ đẹp như vậy lên bia đá?”. Thế là, sau khi trở về, ông lập tức sai người khắc chữ trên bức hoành vào một phiến đá. Nghe nói rằng sự việc này được người đời sau coi là một chuyện cười.

Trong cuộc sống, có rất nhiều người giống như Chung Nhược Ông, những người rõ ràng có nhận thức hạn chế nhưng lại cảm thấy tự mãn về bản thân. Người xưa có câu: “Núi cao còn có núi cao hơn, người giỏi ắt có người giỏi hơn”.

Trình độ nhận thức càng thấp càng cố chấp

Trang Tử nói: “Hạ trùng bất khả dĩ ngữ băng. Tỉnh để oa bất khả dĩ đàm thiên“. Có nghĩa: Trùng mùa hạ sao nói được băng tuyết, ếch đáy giếng sao bàn trời nổi. Đừng nói chuyện biển với ếch ngồi đáy giếng, nhận thức của nó chỉ lớn bằng đáy giếng, mà biển là điểm mù trong nhận thức của nó. Đừng nói về chuyện băng tuyết với trùng mùa hạ, vì trùng mùa hạ chưa bao giờ trải qua băng tuyết, và băng tuyết là điểm mù trong nhận thức của nó.

Những người có trình độ nhận thức thấp hơn có nhiều điểm mù nhận thức hơn. Ngược lại, họ ít có khả năng lắng nghe ý kiến ​​​​của người khác và mù quáng bám lấy nhận thức ​​​​của chính mình.

Một cư dân mạng đã chia sẻ câu chuyện như vậy: Trong một lần đi làm, một đồng nghiệp ở bộ phận kỹ thuật gọi điện cho anh nói rằng máy không hoạt động, chắc là máy bị hỏng, cần báo cáo. Anh nói với các đồng nghiệp của mình rằng việc máy không chạy không nhất thiết là do máy trục trặc và yêu cầu bên kia coi xem mã hóa của chương trình có vấn đề gì không. Sau đó, anh đã gọi cho cơ sở dữ liệu nền để xem và thấy rằng một dòng mã đã bị xóa.

Một người có trình độ nhận thức càng thấp thì càng cố chấp (ảnh minh họa Alodokter)

Sau khi tìm ra nguyên nhân, anh nhanh chóng nói với người đồng nghiệp của mình rằng đó là sự cố lập trình chứ không phải lỗi máy móc. Thật không ngờ, người đồng nghiệp hoàn toàn không nghe, gọi anh ta nửa tiếng, nhưng người đồng nghiệp này chỉ cho rằng máy hỏng.

Không tranh cãi thêm, anh gọi cho sếp của mình, người đã kiểm tra và xác nhận rằng đó là sự cố lập trình. Sự cố này cũng khiến anh hiểu rằng người đồng nghiệp kia bởi vì anh ta hoàn toàn không hiểu mã hóa máy là gì, mà chỉ hiểu sự cố máy móc nên mới cố chấp với suy nghĩ của mình.

Chúng ta thấy rằng, trình độ nhận thức của một người càng thấp thì cách nghĩ lại càng phiến diện, càng thiếu sức phán đoán và sẽ biểu hiện càng ngoan cố. Điều đáng buồn nhất là những người cứng đầu này không biết điểm hạn chế trong nhận thức của mình, họ chỉ bám lấy cách nghĩ ​​của riêng mình, dương dương tự đắc giống như ếch ngồi đáy giếng.

Kiên trì giữ chính kiến của bản thân tuy là đúng, nhưng nếu bạn không chịu lắng nghe và học hỏi, điều đó ngược lại sẽ cản trở sự tiến bộ và trưởng thành của chính bạn.
 
Phá vỡ “nhà tù tư duy” và đạt được sự phát triển bản thân

Triết gia Schopenhauer nói rằng: “Nhà tù lớn nhất trên thế giới là tâm trí con người“. Nếu một người không thể thoát ra khỏi quan niệm của chính mình thì người đó sẽ là “tù nhân” của suy nghĩ đó dù họ ở bất cứ đâu. Vì vậy, làm thế nào để phá giới hạn về nhận thức và thoát khỏi “nhà tù” của tư duy? Hãy xem xét ba điểm sau:
 
1. Học cách suy ngẫm

Nhiều người trong cuộc sống, bất cứ khi nào gặp phải vấn đề, họ thường thích phàn nàn hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh bên ngoài. Như mọi người đều biết, tự xét lại chính mình là bước đầu tiên để phát triển bản thân. Tăng Quốc Phiên lập chí muốn trở thành Thánh nhân, ông đã thông qua việc viết nhật ký để tự xét lại bản thân mỗi ngày. 

Học cách tự xét lại chính mình là bước đầu tiên để phát triển bản thân (ảnh minh họa Danviet)

Từ khi còn trẻ cho đến lúc về già, ông đều sống trong sự soi xét bản thân, không ngừng tu chỉnh hành vi và hoàn thiện những khuyết điểm trong tính cách, ví như sự nóng nảy, giả dối và khoa trương… Cuối cùng, nhờ nỗ lực không ngừng, ông đã hoàn toàn “thoát thai hoán cốt” và đạt đến cảnh giới cao nhất trong cuộc sống.

Như người ta vẫn nói, thuộc tính hướng nội sẽ phát triển hướng lên. Chỉ khi một người học cách hướng nội và từ bỏ những suy nghĩ tự cho mình là đúng, anh ta mới có thể nhận thức rõ chính mình và hoàn thiện bản thân mình tốt hơn.
 
2. Nâng cao nhận thức

Một mặt, nếu bạn muốn cải thiện nhận thức của mình, bạn phải duy trì “tâm thái chiếc cốc rỗng” và liên tục đặt lại bản thân về vị trí thấp nhất. Trong cuộc sống thực tế, có những người đã đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng họ nghĩ rằng họ có trình độ rất cao, họ kiêu ngạo tự mãn và không muốn tiến lên.

Người xưa có câu: “Mãn chiêu tổn khiêm thụ ích”, có nghĩa là khiêm nhường sẽ nhận được lợi ích, được cho thêm, tự mãn thì bị mất đi, chuốc lấy tổn hại. Chỉ khi từng thời khắc giữ được tấm lòng khiêm tốn, tích cực đón nhận những kiến thức mới mẻ, tiếp xúc với tri thức mới, lĩnh hội những điều mới, chúng ta mới có thể đề cao bản thân. 

Khi nghe chia sẻ kinh nghiệm, bạn cần biến nó thành tri thức của riêng mình để liên tục ứng dụng trong cuộc sống (ảnh minh họa Idntimes)

Mặt khác, bạn cần bồi dưỡng khả năng tư duy độc lập trong quá trình học tập. Sau khi có “đầu vào” của việc học, chúng ta cũng nên thử tìm “đầu ra” cho nó. Ví dụ, khi bạn đọc xong một cuốn sách hoặc nghe chia sẻ kinh nghiệm của người khác, bạn cần tiếp thu nó và biến nó thành tri thức của riêng mình để liên tục ứng dụng trong cuộc sống. Chỉ khi chúng ta không ngừng nâng cao tri thức, chúng ta mới có thể đột phá giới hạn của bản thân.

3. Học tập suốt đời

Có người hỏi rằng: “Tại sao lại nói rằng những sinh viên tốt nghiệp cùng một trường đại học có thể nới rộng khoảng cách rất lớn chỉ trong vài năm?” Có người cho rằng đó là do hoàn cảnh gia cảnh, và cũng có người cho rằng đó là do may mắn.

Trong số đó lại có người nói rằng: “Bởi vì tuy rằng học ở trường giống nhau, nhưng một số người đến lớp và sau giờ học, họ chơi game, xem phim truyền hình và đi mua sắm; Nhưng một số khác thì từ năm nhất đại học đã có kế hoạch trong cuộc sống của riêng họ. Chẳng hạn như học trong thư viện trong vài năm, sau đó tập trung vào thực hành vào xã hội, v.v.

Sau khi tốt nghiệp đại học, những người này cũng từng bước đi làm, nhóm đầu tiên vẫn chơi game, đi mua sắm và xem những đoạn video ngắn sau giờ làm việc. Trong khi những bạn học khác bắt đầu làm việc chăm chỉ ngay từ năm nhất, sau khi tốt nghiệp vài tháng họ đã có vốn đầu tư riêng và bắt đầu công việc kinh doanh của riêng mình….”


Những người có vẻ lợi hại này thực sự có một đặc điểm chung: Họ từng thời từng khắc đều chuẩn bị cho tương lai và họ luôn là người thực hành “học tập suốt đời”. Nhờ có tư duy cầu tiến này mà họ sẽ không bị thời đại đào thải.

Con người có hai lần tái sinh, một khi sinh ra và một khi thức tỉnh. Và sự thức tỉnh bắt đầu từ nhận thức của chính bạn. Phạm vi nhận thức của bạn xác định bạn có thể đi được bao xa.

Hy vọng rằng mọi người có thể thanh tỉnh nhận thức, phát hiện ra những khiếm khuyết của bản thân, thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của “Hiệu ứng Dunning–Kruger”, làm giàu nội hàm bản thân, nhận ra sự trưởng thành của mình và trở thành một con người luôn tràn đầy năng lượng.

Uyển Nhi / Theo: 360doc