Sunday, October 11, 2026

BÀI THƠ ĐƯỜNG NÀO CHỈ CÓ 20 TỪ NHƯNG KHIẾN NGƯỜI ĐỌC "ĐỎ MẶT" ?

Trong tuyển tập Ba trăm bài thơ Đường, có một bài thơ khá đặc biệt bởi hình tượng được đặc tả bên trong khiến độc giả không khỏi đỏ mặt, thậm chí còn bị đánh giá là dung tục.


Nói đến thành tựu văn học phải nhắc đến viên ngọc sáng nhất trong lịch sử văn học nghệ thuật Trung Quốc - thơ Đường.

Cổ nhân đề cao sự lãng mạn, ngay từ thời Xuân Thu Chiến Quốc, họ đã có thể viết những câu thơ lãng mạn như“Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu”.

Nhà Đường phát triển cực thịnh, trở thành một trong những quốc gia hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ. Theo đó, nghệ thuật văn học thơ ca cũng đạt đến tầm cao mới. Bằng chứng là nhiều nhà thơ đại tài đã xuất hiện, chẳng hạn như Lý Bạch, Bạch Cư Dị…

Trong tuyển tập “Ba trăm bài thơ Đường” có một bài thơ khá đặc biệt bởi hình tượng được đặc tả bên trong khiến độc giả không khỏi đỏ mặt, thậm chí còn bị đánh giá là “dung tục”.

Thể thơ Đường khiến người đọc đỏ mặt

Bài thơ được đề cập thuộc phong cách “Ngọc đài thể”, là thơ tình của trai gái yêu nhau. Thời Đường, xã hội tương đối cởi mở, địa vị của phụ nữ tương đối cao, không còn sự trầm trọng của tư tưởng trọng nam khinh nữ. Theo đó, người thời bấy giờ mạnh dạn thể hiện tình yêu và bản thân, bao gồm cả nét đẹp cơ thể của người phụ nữ. Đó cũng chính là lý do bạn thường thấy tạo hình trang phục của các bộ phim cổ trang thời Đường có phần táo bạo hơn những thời kỳ khác.


Vì thế mà phong cách làm thơ theo lối “Ngọc đài thể” đã xuất hiện, lấy tình yêu làm chủ đề chính, sử dụng chuyện khuê phòng giữa nam và nữ cùng hình ảnh táo bạo hơn để đặc tả những cung bậc cảm xúc trong tình yêu, khiến người hiện đại đọc xong phải đỏ mặt, thót tim.

Do đó, "Ngọc đài thể" trong thời nhà Đường rất nổi tiếng, và thi nhân nổi tiếng với những bài thơ theo phong cách này chính Quyền Đức Dư nổi danh gần xa. Mặc dù danh tiếng của ông ở thời hiện đại không bằng Đỗ Phủ và Lý Bạch, nhưng địa vị lại rất cao lúc bấy giờ, bởi vì ông là một vị quan rất to, có lúc còn lên được chức tể tướng.

Có người có thể hỏi, nếu tể tướng làm thơ theo phong cách “Ngọc đài thể”, trái ngược với bộ mặt thanh cao quyền quý của quan lớn, vậy thì mặt mũi còn đâu? Trên thực tế, “Ngọc đài thể” không phải là phong cách thơ khiếm nhã, “không trong sạch”, mà ngược lại rất thịnh hành ở thời nhà Đường, mượn hình tượng phóng khoáng để thể hiện những tầng ý nghĩa sâu xa hơn.

Mượn hình ảnh phóng khoáng để đặc tả vẻ đẹp tình yêu

Bài thơ theo phong cách "Ngọc đài thể" của Quyền Đức Dư được chọn vào "Ba trăm bài thơ Đường", thực ra chỉ có 20 từ, nhưng bị đánh giá là rất thô tục, những ai “nhút nhát” thì có lẽ không thể đọc đến câu từ cuối cùng.


Đêm qua, đai váy cởi,
Hôm nay, nhền nhện bay.
Phấn hoa không thể quên,
Chày gỗ ấy mà về. (tạm dịch)

Bài thơ này sử dụng góc nhìn của một người đàn ông để diễn giải những suy nghĩ của người vợ mong chờ chồng trở về để tâm sự chuyện khuê các, được Quyền Đức Dư miêu tả sinh động gói gọn trong 20 từ.

“Đêm qua, đai váy cởi”, có nghĩa là đêm qua chỉ một mình ta ở nhà, nhưng đai váy không biết vì sao mà buông lơi, sáng ngủ dậy đã thấy những con nhện chân dài “bay” thành từng cặp ngoài cửa sổ. Tác giả dùng hình ảnh nhền nhện “bay” được lý giải là vì loài nhện giăng tơ nhưng mắt thường khó thấy, nên cứ tưởng nhện đang lơ lửng trên không trung.

Thời xưa, đai váy tự rơi ra và những con vật đi thành cặp là điềm đại cát, điều tốt lành sớm đến. Ngày nay nhiều nơi ở Trung Quốc vẫn sử dụng những hiện tượng này để gửi gắm hy vọng nào đó. Đặc biệt là đối với phụ nữ, họ tin rằng khi thấy những điềm này thì sớm muộn cũng sẽ gặp được ý trung nhân để nương tựa suốt phần đời còn lại.

"Phấn hoa không thể quên, chày gỗ ấy mà về". Nhìn thấy những điềm tốt lành, người phụ nữ thầm chắc trong lòng rằng chồng mình sắp trở về nhà nên lập tức tô son dặm phấn để chuẩn bị sẵn sàng đón chồng. Từ khi chồng đi xa, cô không buồn ăn mặc chỉnh tề, không còn muốn ra dáng một người phụ nữ biết chiều chuộng bản thân, nhưng khi người mình thương về là phải tắm rửa thay đồ ngay lập tức để xuất hiện trước mặt đối phương với hình tượng xinh đẹp nhất. Cái “chày gỗ” được ví von tài tình cho người đàn ông mạnh mẽ.


“Tiểu biệt thắng tân hôn”, những lần chia tay lại khiến người ta bịn rịn, yêu thương nhau hơn. Người chồng nhìn thấy vợ xinh đẹp động lòng, nói không chừng tình cảm đôi bên càng thêm bền chặt. Hơn nữa không còn phải cách biệt hai nơi, người phụ nữ hy vọng được ở bên người mình yêu bên mọi lúc.

Toàn bộ bài thơ, Quyền Đức Dư đã diễn giải rất hay tâm tư của người phụ nữ chờ chồng về chỉ trong vài từ. Không như thời nay, thời xưa không có trang thiết bị tiên tiến để có thể liên lạc mọi lúc mọi nơi, mà mỗi lần chia tay tiễn biệt thì như cách cả thiên thu vạn dặm. Họ chỉ liên lạc với nhau qua thư từ; người gửi có lòng, nhưng thư đến tay người kia hay không lại là chuyện khác, bởi lẽ quá trình này đều do sức người vận chuyển.

Do đó, người xưa chỉ có thể gửi những niềm hy vọng tốt đẹp vào cuộc sống, chẳng hạn như “đai lưng tự cởi”, báo trước người chồng sẽ sớm quay lại. Vì vậy, nhiều người đang thắc mắc tại sao việc cởi đồ lại gợi lên những điều không đứng đắn, khiến họ phải đỏ mặt và cảm thấy dung tục.


Trên thực tế, vấn đề này liên quan đến quan niệm của từng thời đại. Ở thời Đường, không ai ở nghĩ rằng loại thơ cổ này không nghiêm túc hay khơi gợi những chuyện không đứng đắn nơi phòng the. Mà cũng nhờ những hình tượng bị vô tình gắn mác dung tục này lại chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa khiến người ta không thể ngờ tới.

Thật vậy! Không đơn giản mà bài thơ 20 chữ của Quyền Đức Dư lại nằm trong tuyển tập “Ba trăm bài thơ Đường”.

Tóm lại, bài thơ của Quyền Đức Dư nói riêng và phong cách thơ “Ngọc đài thể” nói chung, là một nét nổi bật và kinh điển trong thơ Đường, tuy không được truyền bá rộng rãi nhưng qua miêu tả của nhà thơ vẫn cho chúng ta hiểu được vẻ đẹp và hy vọng trong tình yêu.

PV / Theo: Thời Đại Plus

Saturday, October 10, 2026

ẨM THỰC LẠC DƯƠNG: HÀNH TRÌNH VỊ GIÁC VỀ CỐ ĐÔ NGÀN NĂM

Lạc Dương – một trong “tứ đại cố đô” tráng lệ của Trung Quốc – không chỉ cuốn hút du khách bởi bề dày lịch sử và di sản văn hóa, mà còn mê hoặc bởi nền ẩm thực vô cùng phong phú. Những món ăn tại đây mang đậm hơi thở vùng Hà Nam, kết hợp tinh hoa cung đình và hương vị dân dã, tạo nên một hành trình vị giác khó quên. Hãy cùng Kim Lien Travel khám phá 10 tuyệt phẩm ẩm thực đặc trưng, nơi hương vị kể chuyện lịch sử cố đô.

Lạc Dương mê hoặc du khách bởi nền ẩm thực vô cùng phong phú

Lạc Dương Thủy Tịch – “Bữa Tiệc Dưới Thiên Đàng”

Nếu có một món ăn đại diện cho sự tinh hoa của ẩm thực Lạc Dương, đó chính là Lạc Dương Thủy Tịch (Luoyang Shuixia). Món ăn trứ danh này có xuất xứ từ thời nhà Đường, được ví von như một “Bữa tiệc dưới thiên đàng” bởi sự cầu kỳ và quy mô hoành tráng.

Lạc Dương Thủy Tịch (Luoyang Shuixia)

Đặc trưng của Thủy Tịch là sự kết hợp của 24 món nước (chủ yếu là các loại súp và canh), được bày biện khéo léo thành hình tượng hoa Mẫu Đơn – loài hoa biểu tượng của Lạc Dương. Các món ăn được chế biến từ nhiều nguyên liệu tươi ngon như thịt bò, thịt cừu, lòng bò, rau củ và nấm, được hầm nhừ trong nồi đất cùng nước dùng đậm đà. Thủy Tịch mang hương vị thanh ngọt, dễ ăn, thường được dùng làm món khai vị trang trọng. Thưởng thức Thủy Tịch nóng hổi trong những ngày tiết trời se lạnh chắc chắn là một trải nghiệm ẩm thực tuyệt vời và độc đáo không thể bỏ qua khi du lịch cố đô.

Canh Thịt Dê – Vị Thuốc Bổ Dưỡng Từ Cố Hương

Tiếp nối hành trình hương vị, Canh Thịt Dê là một món ăn truyền thống có lịch sử hàng trăm năm tại Lạc Dương. Món canh này nổi tiếng bởi hương vị độc đáo và giá trị dinh dưỡng cao.

Canh Thịt Dê là một món ăn truyền thống có lịch sử hàng trăm năm tại Lạc Dương

Ngay từ lần đầu tiên nếm thử, du khách sẽ bị chinh phục bởi mùi thơm đậm đà lan tỏa. Tiếp theo là vị thịt dê mềm ngon, tan chảy ngay trên đầu lưỡi, được hầm kỹ lưỡng cùng các gia vị bí truyền. Đây là món ăn được người dân địa phương vô cùng ưa chuộng, đặc biệt vào mùa đông, bởi khả năng giữ ấm và bồi bổ sức khỏe. Canh thịt dê chính là lựa chọn hoàn hảo để du khách khởi đầu hành trình khám phá ẩm thực Lạc Dương.

Cá Chép Hóa Rồng – Tuyệt Phẩm Mang Ý Nghĩa May Mắn

Món Cá Chép Hóa Rồng (Longmen Liyu) của ẩm thực Lạc Dương là một tuyệt phẩm nghệ thuật, lấy cảm hứng từ câu chuyện cổ tích dân gian về cá chép vượt vũ môn.

Món Cá Chép Hóa Rồng (Longmen Liyu) của ẩm thực Lạc Dương

Món ăn được chế biến từ cá chép tươi sống, sau đó chiên giòn vàng ươm hoặc hấp. Điểm nhấn chính là phần nước sốt chua ngọt đậm đà được rưới lên trên, tạo nên sự hài hòa tuyệt vời về hương vị. Cá chép tượng trưng cho sự thành công và may mắn, do đó, món ăn này thường xuất hiện trong các dịp lễ Tết hoặc sự kiện quan trọng, mang theo lời chúc tốt lành.

Bánh Mẫu Đơn – Vẻ Đẹp Tinh Tế Của Loài Hoa Biểu Tượng

Nếu hoa Mẫu Đơn là biểu tượng của Lạc Dương, thì Bánh Mẫu Đơn chính là linh hồn của những món ngọt truyền thống nơi đây.

Nguyên liệu chính của món bánh này là bột gạo nếp và bột đậu đỏ, được nhào nặn khéo léo và tạo hình thành bông hoa mẫu đơn tinh tế. Bánh Mẫu Đơn chinh phục thực khách bằng vẻ ngoài duyên dáng, màu sắc tươi sáng cùng kết cấu mềm xốp, độ ngọt vừa phải. Đây không chỉ là một món ăn vặt hấp dẫn mà còn là thức quà biếu ý nghĩa mà du khách nên chọn mua khi du lịch Lạc Dương.

Bánh Mẫu Đơn chính là linh hồn của những món ngọt truyền thống nơi đây.

Mì Sợi Tương – Hương Vị Dân Dã Đậm Đà

Bên cạnh những món ăn cung đình cầu kỳ, ẩm thực Lạc Dương còn phong phú với những hương vị đường phố mộc mạc. Mì Sợi Tương (Zhajiangmian) là một ví dụ điển hình.

Mì Sợi Tương mang hương vị đường phố mộc mạc

Đây là món ăn vô cùng hấp dẫn, dù cách chế biến có phần đơn giản. Sợi mì dai ngon, làm từ bột mì, được kết hợp cùng phần nước sốt tương đặc biệt làm từ đậu nành lên men, thêm thịt băm, rau củ và các loại gia vị khác. Món ăn này mang đậm hương vị dân dã, mặn mà, là trải nghiệm tuyệt vời cho những ai muốn khám phá văn hóa ẩm thực đường phố thực thụ của Lạc Dương.

Mì Thịt Bò – Bữa Sáng Tràn Đầy Năng Lượng

Đối với người dân địa phương, Mì Thịt Bò là món ăn sáng phổ biến và được yêu thích nhất.

Món mì này chinh phục thực khách bởi sự kết hợp hài hòa giữa sợi mì dai ngon, lát thịt bò mềm ngọt, rau củ xào và nước dùng đậm đà, được hầm xương công phu. Mì Thịt Bò không chỉ có hương vị thơm ngon mà còn cung cấp đầy đủ dưỡng chất và năng lượng để du khách sẵn sàng cho một ngày dài khám phá các di sản văn hóa tại Lạc Dương.

Mì Thịt Bò là món ăn sáng phổ biến và được yêu thích nhất

Mì Lạc Dương – Sự Lựa Chọn Đa Dạng

Tương tự như Mì Thịt Bò, Mì Lạc Dương cũng là một món ăn phổ biến với mức giá bình dân.

Sợi mì ở đây được làm từ bột mì nguyên cám, mang lại độ dai đặc trưng, kết hợp cùng nước dùng được hầm từ xương gà, xương lợn, nấm và rau củ, tạo nên hương vị đậm đà khó cưỡng. Du khách hoàn toàn có thể tùy chọn đa dạng các loại topping như thịt viên, rau cải, nấm hoặc thịt bò để biến tấu món ăn theo sở thích cá nhân.

Mì Lạc Dương cũng là một món ăn phổ biến với mức giá bình dân

Bánh Bao Nhân Thịt – Món Ăn Vặt Đơn Giản

Bánh Bao Nhân Thịt là món ăn vặt phổ biến tại Lạc Dương và khắp Trung Quốc.

Những chiếc bánh bao nhỏ nhắn, nhân thịt được nêm nếm ngọt đậm, có thể được hấp chín mềm hoặc chiên giòn. Đây là món ăn hoàn hảo để thưởng thức nhanh, đặc biệt vào những ngày trời lạnh. Bánh bao mang hương vị quen thuộc nhưng vẫn giữ được nét tinh tế, là món quà ẩm thực đơn giản nhưng đầy ấm áp mà cố đô dành tặng du khách.

Bánh Bao Nhân Thịt là món ăn vặt phổ biến tại Lạc Dương

Trà Hạnh Nhân – Thức Uống Thanh Tao Của Cung Đình

Chuyển sang thức uống, Trà Hạnh Nhân là một món tráng miệng hoặc đồ uống ngọt nổi tiếng tại Lạc Dương.

Trà được chế biến từ tinh bột sen, hạnh nhân và vừng, mang lại vị ngọt ngào và công dụng giải nhiệt tuyệt vời. Tương truyền rằng, các phi tần trong cung rất ưa chuộng món canh này để giữ cho làn da luôn dẻo dai và tươi sáng. Ngày nay, du khách có thể dễ dàng tìm thấy Trà Hạnh Nhân và cảm nhận hương vị thanh tao, béo ngậy của truyền thống ẩm thực cung đình.

Trà Hạnh Nhân được chế biến từ tinh bột sen, hạnh nhân và vừng, mang lại vị ngọt ngào

Trà Thảo Mộc Lạc Dương – Nét Văn Hóa Thưởng Thức Tinh Tế

Cuối cùng, Lạc Dương cũng nổi tiếng với các loại Trà Thảo Mộc và Trà Xanh chất lượng cao.

Trà Lạc Dương không chỉ nổi tiếng với hương vị thơm ngon mà còn có nhiều công dụng tốt cho sức khỏe. Ghé thăm các quán trà truyền thống, du khách sẽ có cơ hội thưởng thức một tách trà nóng, lắng đọng và tìm hiểu về nghệ thuật thưởng trà tinh tế của người dân địa phương, tạo nên một kết thúc nhẹ nhàng và đáng nhớ cho hành trình ẩm thực.

Trà Lạc Dương nổi tiếng với hương vị thơm ngon và có nhiều công dụng tốt cho sức khỏe

Ẩm thực Lạc Dương thực sự là một bức tranh đa sắc, nơi mỗi món ăn đều chứa đựng câu chuyện về lịch sử và văn hóa lâu đời của cố đô. Dù là bữa tiệc Thủy Tịch tráng lệ hay bát Canh Thịt Dê ấm áp, mỗi hương vị đều để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng du khách.

Hãy để Kim Lien Travel đồng hành cùng quý vị trên hành trình khám phá những hương vị độc đáo và những di sản văn hóa hấp dẫn tại Lạc Dương. Đừng bỏ lỡ cơ hội đặt chân đến vùng đất cổ kính này và thưởng thức tinh hoa ẩm thực ngàn năm.

Theo: kimlientravel

LÃNG ĐÀO SA KỲ 2 - LÝ DỤC


Lãng đào sa kỳ 2

Vãng sự chỉ kham ai,
Đối cảnh nan bài.
Thu phong đình viện tiển xâm giai,
Nhất nhiệm châu liêm nhàn bất quyển,
Chung nhật thuỳ lai.

Kim kiếm dĩ trầm mai,
Tráng khí hao lai.
Vãn lương thiên tịnh nguyệt hoa khai,
Tưởng đắc ngọc lâu dao điện ảnh,
Không chiếu Tần Hoài.


浪淘沙其二

往事只堪哀,
對景難排。
秋風庭院蘚侵階,
一任珠簾閑不卷,
終日誰來。

金劍已沉埋,
壯氣蒿萊。
晚涼天淨月華開,
想得玉樓瑤殿影,
空照秦淮。


Lãng đào sa kỳ 2
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Chuyện xưa nhắc lại thêm buồn.
Trước người trước cảnh, càng vương thêm sầu.
Ngoài sân gió thổi lao xao.
Rèm châu lặng lẽ, cuốn cao lâu rồi.
Cả ngày lui tới bồi hồi.
Thương cây kiếm báu nổi trôi phương nào ?.
Tráng khí lớp cỏ bồng hao.
Khí trời mát mẻ, tối nào sáng trăng.
Lầu Ngọc rạng rỡi cung hằng.
Tần Hoài sáng tỏ, chẳng bằng trăng suông !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Dục 李煜 (937-978) tự Trùng Quang 重光, tự hiệu là Chung sơn ẩn sĩ 鍾山隱士, Chung phong ẩn sĩ 鍾峰隠者, Bạch liên cư sĩ 白蓮居士, Liên phong cư sĩ 蓮峰居士, người đời quen gọi là Nam Đường Hậu Chủ 南唐後主 hay Lý Hậu Chủ 李後主. Ông là người nhân huệ minh mẫn, văn hay hoạ khéo, biết âm luật. Phủ khố Giang Nam có thu tàng tác phẩm thư hoạ của ông rất nhiều.

Nam Đường bị nhà Tống diệt, phong ông làm An Mệnh hầu, sau lại bị Tống Thái Tổ cho uống thuốc độc chết. Miền Giang Nam được tin Hậu Chủ chết, các phụ lão đều thương khóc.

Hậu Chủ lúc chưa mất nước sinh hoạt rất hào hoa nên từ cũng rất uỷ mị hoan lạc. Sau khi mất nước, bị đưa về nhà Tống, ngày ngày rửa mặt bằng nước mắt. Từ của ông lúc đó cũng rất thê thảm bi ai, đúng là vong quốc chi âm.

Nguồn: Thi Viện



TƯ MÃ THIÊN: NGƯỜI BỊ LÀM NHỤC VẪN QUYẾT SỐNG ĐỂ HOÀN THÀNH BỘ SỬ VĨ ĐẠI

Tư Mã Thiên, sống khoảng năm 145–86 trước Công nguyên, dưới thời Tây Hán, thường được xem là nhân vật đặt nền móng quan trọng cho truyền thống sử học Trung Hoa. Công trình lớn nhất của ông, Sử ký (Shiji), không chỉ ghi chép lịch sử mà còn biến lịch sử thành một tác phẩm có chiều sâu về con người, quyền lực và số phận.


Tư Mã Thiên sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm quan sử. Cha ông, Tư Mã Đàm, giữ chức Thái sử lệnh và đã khởi xướng việc biên soạn một bộ thông sử lớn. Sau khi cha qua đời, Tư Mã Thiên tiếp tục công việc ấy, với tham vọng kể lại lịch sử Trung Hoa từ thời Ngũ Đế trong truyền thuyết cho tới thời Hán Vũ Đế đương thời.

Nhưng cuộc đời ông rẽ sang một hướng bi thảm vào năm 99 trước Công nguyên. Trong chiến dịch chống Hung Nô, viên tướng Lý Lăng đầu hàng đối phương. Tư Mã Thiên lên tiếng bênh vực ông và vì vậy bị triều đình kết tội. Ông phải chịu cung hình, một hình phạt nhục nhã và đau đớn. Thay vì lựa chọn cái chết để bảo toàn danh dự theo quan niệm đương thời, Tư Mã Thiên quyết định sống và hoàn thành di nguyện của cha. Chính trải nghiệm ấy khiến phần tự truyện trong Sử ký trở thành một trong những đoạn văn nổi tiếng nhất của văn học Trung Hoa cổ đại.


Khoảng 130 thiên của Sử ký đã tạo nên một mô hình viết sử có ảnh hưởng lâu dài. Tác phẩm kết hợp bản kỷ về các hoàng đế, biểu ghi niên đại, thư bàn về những vấn đề như lễ nhạc và kinh tế, thế gia về các chư hầu và liệt truyện về những nhân vật nổi bật. Cấu trúc “kỷ truyện thể” này sau đó trở thành khuôn mẫu quan trọng cho các bộ chính sử Trung Hoa về sau.

Điều đặc biệt ở Tư Mã Thiên là ông không chỉ viết về hoàng đế. Trong Sử ký có cả những tướng lĩnh, học giả, thương nhân, thích khách, người du hiệp và những nhân vật ở các vùng bên ngoài trung tâm Trung Hoa. Ông cũng đưa vào tác phẩm những câu chuyện, lời đối thoại và những số phận cá nhân, khiến lịch sử không còn chỉ là danh sách các triều đại và chiến tranh.

Ảnh: sohu

Tư Mã Thiên vì thế không đơn giản là người “ghi chép quá khứ”. Ông cố gắng tìm kiếm quy luật đằng sau sự hưng vong của các triều đại và đặc biệt quan tâm đến câu hỏi: tại sao những con người tài năng lại thành công, thất bại hoặc bị lịch sử vùi lấp?

Hơn hai nghìn năm sau, Sử ký vẫn là một trong những nguồn tư liệu nền tảng để nghiên cứu Trung Hoa cổ đại. Di sản lớn nhất của Tư Mã Thiên có lẽ nằm ở một ý tưởng giản dị nhưng mạnh mẽ: lịch sử được tạo nên bởi con người và muốn hiểu lịch sử phải nhìn vào cả những con người đứng sau những biến cố lớn.

Thanh Bình / Theo: kienthuc.net

LỊCH SỬ NHÂN LOẠI DƯỚI TÁN CÂY BỒ ĐỀ

Hơn 2.000 năm trước, một nhánh từ thân cây đặc biệt quan trọng đã được chiết ra theo lệnh của quốc vương Ấn Độ Ashoka Đại đế. Nó nằm ngay dưới tán cây nơi được cho là Đức Phật Thích Ca Mầu Ni đã đắc đạo.

Nguồn ảnh: August Muench/CC by 2.0

Ashoka ban tặng dấu ấn vương quyền lên cành cây rồi trồng nó trong một bình làm bằng vàng ròng, rồi đưa cành cây lên núi và rồi đưa xuôi Sông Hằng xuống Vịnh Bengal.

Tại đó, nàng công chúa con ngài đã rước nó lên tàu ra khơi, đem tới Sri Lanka cung tiến cho nhà vua nước này. Vua Ashoka yêu mến cái cây tới mức ngài đã nhỏ lệ khi nhìn cảnh nó được đưa đi.

Câu chuyện này, được trích từ sử thi The Mahavamsa của Sri Lanka, nói tới cây bồ đề, mà các khoa học gia gọi là Ficus religiosa. Đúng như tên gọi của nó, cây bồ đề nối về với quá khứ hàng ngàn năm, trước cả thời vua Ashoka.

Thế nhưng bồ đề không phải là loại cây duy nhất. Nó chỉ là một trong số hơn 750 loại khác nhau trong chi họ sung. Không loài cây nào có sức mạnh hơn chi họ sung trong việc tác động tới trí tưởng tượng của con người.

Loài cây này xuất hiện trong mọi loại tôn giáo lớn, có ảnh hưởng tới các vị vua, các nữ hoàng, các nhà khoa học, và binh lính. Chúng đóng vai trò trong sự tiến hóa của loài người và trong thuở bình minh của văn minh nhân loại.

Tượng Phật tại Chùa Đá, tức chùa Rangiri Dambulla Rajamaha Viharaya tại Dambulla, Sri Lanka. Nguồn ảnh: AFP/Getty Images

Những cái cây này không chỉ chứng kiến lịch sử mà chúng còn định hình lịch sử; nếu được nhìn nhận một cách đúng đắn thì có lẽ chúng thậm chí sẽ còn làm cho tương lai chúng ta trở nên phong phú hơn.

Hầu hết các loài cây có hoa đều nở bung cho thế giới chiêm ngưỡng, nhưng các loại cây thuộc chi họ sung lại giấu hoa bên trong những trái quả rỗng ruột. Và trong khi hầu hết các loài cây chôn vùi gốc rễ xuống đất, thì cây vả sống bám (strangler fig) lại khoe chúng trên phía trên.

Vả sống bám là loài cây thú vị, mọc lên từ những hạt cây do chim, thú thải ra, mắc lại trên các cây khác. Nhờ việc nảy nở từ tầng trên của những tán rừng rậm thay vì ở mặt đất tối tăm, hạt cây sống bám có đủ ánh sáng cần thiết để phát triển mạnh mẽ.

Trong quá trình phát triển, chúng mọc rễ dài từ trên không xuống dưới, và đám rễ ngày càng trở nên dày dặn, to cứng thêm, bao trùm và biến cây chủ thành một 'con mồi' sống. Chúng thậm chí còn có thể bóp nghẹt, làm chết những cây chủ to lớn, và phát triển mạnh mẽ, trở thành những khối cột cao lớn.

Có hai quốc gia đã dùng hình ảnh cây vả sống bám để trang trí trên phù hiệu.

Tại Indonesia, cây này biểu tượng cho sự thống nhất đến từ sự đa dạng, những cái rễ chằng chịt thể hiện cho vô số những hòn đảo tạo thành nước này.

Còn ở Barbados, nó được lấy cảm hứng từ cảnh nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Pedro a Campos được chào đón khi chiếc thuyền của ông cập đảo hồi 1536. Ông đã nhìn thấy nhiều cây vả sống bám mọc dọc bờ biển của đảo, loại cây có tên khoa học Ficus citrifolia. Từng chùm rễ khổng lồ màu nâu đỏ mạnh mẽ rủ từ những cành cây xuống trông giống như những lọn râu tóc được bện xoắn. A Campos đã đặt tên cho đảo là Los Barbados - "đảo râu dài".

Hơn 300 năm sau, nhà sinh vật học người Anh Alfred Russel Wallace đi khám phá các hòn đảo ở phía bên kia của Trái Đất. Ông nói các cây vả sống bám mà ông từng nhìn thấy trong hành trình odyssey kéo dài tám năm của mình trên khắp Quần đảo Malay là "những cái cây vô cùng độc đáo ở trong rừng". Việc chúng vượt qua được những trở ngại để tồn tại đã tạo cảm hứng để ông phát triển học thuyết tiến hóa nhờ sự lựa chọn tự nhiên, là thuyết hoàn toàn độc lập so với thuyết tiến hóa của Charles Darwin.

Nhưng vả sống bám đã bắt rễ được vào tâm trí con người từ rất lâu trước khi các nhà thám hiểm châu Âu bắt đầu hành trình trên biển.

Ta hãy nhìn vào cây bồ đề của Ashoka Đại đế. Những người theo Phật giáo, Ấn giáo và Gia-nai giáo (một loại tôn giáo phát xuất từ Ấn Độ) đã thờ phụng loại cây này trong suốt hơn hai ngàn năm qua.

Cây bồ đề cũng xuất hiện trong khúc chiến ca của giới Bà-la-môn hồi 3.500 năm trước.

Và trước đó nữa 1.500 năm, cây bồ đề xuất hiện trong các truyền thuyết, trong nghệ thuật của nền văn minh lưu vực sông Ấn (Indus Valley Civilisation).

Người dân ở Ấn Độ nắn rễ cây thành những cây cầu sống vững chắc. Nguồn ảnh: AditiVerma/CC by 2.0

Tại các nơi khác ở châu Á - mà có thể nói là trên toàn các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, các nền văn hóa đã tiếp nhận cây đa, cây đề như những biểu tượng quyền lực và là nơi để người ta tới làm lễ cầu nguyện.

Những cây này được xuất hiện trong các câu chuyện kể, trong văn hóa dân gian, và trong cả các nghi lễ về sinh sản.

Được tôn kính nhất là cây bồ đề Ấn Độ (Ficus benghalensis), loại cây có thể lớn tới mức từ xa nhìn lại thì trông nó giống như một khu rừng nhỏ.

Cây bồ đề Ấn Độ có thể phát triển rất to bởi rễ của chúng thả xuống từ các cành có thể hợp lại với nhau thành các cột trụ to, chắc như các cây sồi, đỡ cho các cành khổng lồ của cây, cho phép các cành cây mọc ra dài hơn, rồi lại tiếp tục thả xuống nhiều rễ thêm nữa.

Có một cây bồ đề ở Uttar Pradesh được cho là bất tử. Một cây khác tại Gujarat được cho là đã lớn lên từ một nhánh con chỉ bé bằng cái bàn chải đánh răng. Một cái cây khác, cây thứ ba, được cho là đã mọc lên khi một thiếu phụ lao mình vào dàn hỏa thiêu xác người chồng quá cố để quyên sinh theo. Cây này, mọc tại Andhra Pradesh, lớn tới mức đủ chỗ trú cho 20 ngàn người.

Những người châu Âu đầu tiên được hưởng bóng mát của cây bồ đề là Alexander Đại đế và đội quân chinh chiến của ông, vốn đặt chân tới Ấn Độ vào năm 326 trước Công nguyên.

Những câu chuyện kể của họ về cây này nhanh chóng đến tai nhà triết học Hy Lạp cổ đại, Theophrastus, người đã đặt nền móng cho ngành thực vật học hiện đại.

Ông đã nghiên cứu loại cây vả cho quả ăn được, vả tây, có tên khoa học là Ficus carica. Theophrastus nhận thấy có những con bọ tí xíu chui ra chui vào quả vả. Điều này trở thành một trong những khám phá thú vị nhất của ngành sinh vật học.

Hơn 2.000 năm trôi qua cho tới khi các khoa học gia phát hiện ra rằng mỗi giống vả lại có một loại côn trùng thụ phấn riêng cho mình, và một số giống vả thậm chí còn có hai loài côn trùng 'đặc chủng' như thế. Tương tự, mỗi loại bọ vả chỉ có thể đẻ trứng vào hoa của những loài vả nhất định mà thôi.

Mối quan hệ này đã bắt đầu từ hơn 80 triệu năm trước, và nó đã định hình thế giới kể từ đó tới nay. Các giống thuộc chi họ sung Ficus phải đảm bảo ra quả trong cả năm để đảm bảo sự sinh tồn cho các giống bọ thụ phấn cho nó. Đây là điều tuyệt vời cho các loài động vật ăn trái cây vốn rất khó tìm được thức ăn trong phần lớn thời gian trong năm. Thực sự, các trái sung, vả giúp nuôi, duy trì sự tồn tại của nhiều loài động vật trong đời sống tự nhiên hơn bất kỳ loài trái cây nào khác.

Có hơn 1.200 giống loài động vật khác nhau ăn quả vả, trong đó có một phần mười toàn bộ các loài chim trên thế giới, gần như toàn bộ các loài dơi ăn hoa quả đã được con người biết đến, và hàng chục loài linh trưởng. Đổi lại, các loài động vật này cũng giúp phát tán hạt cây đi các nơi. Bởi vậy, các nhà sinh thái học đã gọi quả vả là "những nguồn tài nguyên chủ yếu". Và cũng giống như hòn đá trụ của một cây cầu, nếu như cây vả biến mất thì mọi thứ khác cũng bị phá hủy theo.

Cây vả không chỉ giúp nuôi dưỡng động vật. Việc quả vả chín quanh năm có lẽ cũng giúp cho sự tồn tại bền vững của tổ tiên loài người trong giai đoạn sơ khai.

Những quả vả chứa nhiều năng lượng có thể đã giúp cho tổ tiên chúng ta phát triển não bộ to hơn. Có giả thuyết cho rằng bàn tay chúng ta tiến hóa để trở thành công cụ hữu hiệu nhằm đánh giá xem quả vả đã mềm chưa, tức là đã đủ ngọt, đủ dinh dưỡng, năng lượng để ăn hay chưa. Các loại quả vả nằm trong số những cây quả đầu tiên mà con người thuần hóa từ hàng ngàn năm trước.

Nữ thần Ai Cập Hathor hiện lên từ cây vả để chào đón linh hồn các vị vua pharaoh vào thế giới bên kia, theo tính ngưỡng của người A Cập cổ đại

Người Ai Cập cổ đại đã thuần hóa được một loài sung có tên gọi Ficus sycomorus (sung dại khô), là loài cây mà côn trùng thụ phấn cho nó hoặc đã tuyệt chủng, hoặc chưa từng có mặt tại vùng đất đó. Lẽ ra thì loài sung này sẽ không thể cho ra được nổi một quả sung chín. Thế nhưng những người nông dân đã tìm được cách 'đánh lừa' cây bằng cách dùng lưỡi dao vạch lên thân cây.

Trước đó rất lâu, quả sung đã là một nguồn thu chính của nông nghiệp Ai Cập. Các nhà nông thậm chí còn luyện cho khỉ biết trèo cây hái quả nữa.

Cây sung ở Ai Cập vừa là thực phẩm, vừa nuôi dưỡng những niềm tin tôn giáo. Các vị vua Ai Cập, Pharaoh, đem các quả sung khô vào hầm mộ của mình nhằm giúp linh hồn vua trên hành trình đi sang cõi bên kia thế giới. Các vị vua tin rằng nữ thần Hathor sẽ hiện lên từ một cây sung thần bí để đón họ vào thiên đường.

Từ phía bắc sang phía đông, loài họ hàng ngọt ngào hơn của sung dại khô Ai Cập là vả tây (F. carica) đã trở thành một loại thực phẩm quan trọng của một số nền văn minh cổ đại khác.

Vua Urukagina của nền văn minh lưu vực sông Ấn đã viết về loại quả này từ gần 5.000 năm trước. Vua Nebuchadnezzar II cho trồng chúng trong các khu vườn treo Babylon. Vua Solomon của Israel ca ngợi chúng trong một bài hát. Người Hy Lạp cổ đại và người La Mã nói quả vả là thứ hoa trái đến từ thiên đường.

Sức hấp dẫn của loài quả này có lẽ có thể được giải thích bằng một điểm quan trọng khác. Ngoài việc ngon ngọt, chúng còn có nhiều chất xơ, vitamin và các loại khoáng chất.

Quả vả có nhiều chất xơ, vitamin và khoáng chất. Nguồn ảnh: Bernard Dupont/CC by 2.0

Những lợi ích dinh dưỡng này đã được biết đến từ lâu. "Quả vả rất bổ dưỡng," nhà triết học La Mã hồi thế kỷ thứ nhất Pliny Già (Pliny the Elder) viết, "và là thứ thực phẩm ngon nhất mà những người bị ốm bệnh lâu ngày có thể ăn."

Một ví dụ nổi tiếng về sức mạnh trị bệnh của cây vả được nêu trong Kinh Thánh. Hezekiah, Vua vùng Judah, đã 'lâm bệnh đến chết' nhưng đã khỏe trở lại sau khi những kẻ tôi tớ đắp quả vả nghiền nhuyễn lên da ngài.

Khả năng trị bệnh của cây vả không chỉ nằm ở các quả cây. Các loại thuốc được phát triển qua hàng ngàn năm đã sử dụng cả vỏ cây, lá cây, rễ cây và cả nhựa cây nữa.

Việc dùng cây vả để chữa bệnh thậm chí còn có từ trước khi loài người hình thành. Tổ tiên còn sống gần gũi nhất với chúng ta là tinh tinh có vẻ như cũng biết cách dùng các loại cây này để chữa trị bệnh, cho thấy tổ tiên chung của loài người và tinh tinh cũng biết làm vậy.

Các nhà nghiên cứu làm việc tại Uganda thỉnh thoảng quan sát được các con tinh tinh ăn những thứ thức ăn khác thường, chẳng hạn như vỏ cây hoặc lá cây vả dại. Những con tinh tinh này có lẽ đang tự chữa bệnh, các nhà nghiên cứu kết luânh. Các xét nghiệm cho thấy thành phần lá và vỏ cây vả có tác dụng chống khuẩn, các loài ký sinh trùng, và các khối u.

Cây vả, cây sung không chỉ giúp cho các nền văn minh, các nền văn hóa của con người phát triển. Chúng còn chứng kiến cảnh lụi tàn nữa, và thậm chí còn giúp chôn vùi, che giấu những kết cục suy tàn đó.

Chẳng hạn như các thành phố vĩ đại của nền văn minh lưu vực sông Ấn từng phát triển rực rỡ trong thời gian từ năm 3300 đến 1500 trước Công nguyên, nhưng chúng đã biến mất khỏi lịch sử loài người cho tới tận năm 1827, khi một kẻ đào tẩu bỏ chạy khỏi Công ty Đông Ấn có tên là Charles Masson phát hiện ra.

Những cây sống bám khổng lồ hiện lên sừng sững át hết các loại cây khác. Những đống đổ nát nhô lên như những gò đống bí hiểm. Người dân địa phương nói với Masson rằng đó là những vết tích còn lại của một xã hội bị thần linh trừng phạt vì "những ham muốn và những tội lỗi của nhà vua". Thực ra, chính là một trận hạn hán kéo dài đã khiến nền văn minh lưu vực sông Ấn tàn lụi.

Các cây vả sống bám cũng thay thế chỗ của con người ở những nơi bị nạn khô hạn xóa sổ, như các kim tự tháp của người Maya ở Tikal thuộc Guatemala, hay các ngôi đền Khmer ở Angkor Wat của Campuchia.

Nguồn ảnh: Hulton Archive/Getty Images

Trong các trường hợp kể trên, các cây vả đã giúp rừng xanh trở lại, bao phủ lên các khối kiến trúc bị bỏ hoang. Các hạt cây nảy lên từ các vết nứt trong tường đá. Rễ cây công phá các vết vữa và bao cuốn, bóp nghẹt những bức tường. Cây vả thu hút vạn vật tới sinh sống, và rồi những sinh vật đó lại đem hạt cây đi phát tán xa hơn. Cứ thể, rừng xanh dần lấn hết các khối công trình do con người dựng lên.

Sức mạnh này cũng đã được chứng kiến tại các núi lửa như Krakatoa, nơi trận núi lửa phun trào hồi 1883 đã hủy diệt toàn bộ sự sống trên đảo. Các cây vả tái chiếm những nơi vốn chỉ còn mỗi lớp nham thạch, khởi đầu cho sự hình thành của những khu rừng mới.

Ở khắp các khu vực nhiệt đới, các khoa học gia nay đang dựng lại hiệu ứng này với việc trồng các cây vả để tăng tốc tái phát triển rừng ở các nơi cây cối đã bị đốn mất gần hết do nạn chặt phá bừa bãi.

Và điều này đồng nghĩa với việc cây vả có thể đem lại hy vọng cho tương lai trong bối cảnh có tình trạng biến đổi khí hậu.

Cây vả cũng có thể giúp chúng ta thích nghi được với những điều kiện khắc nghiệt.

Ở vùng đông bắc Ấn Độ, người dân nắn rễ cây vượt sông, tạo thành những cây cầu sống dày dặn, vững chắc, giúp việc qua lại được dễ dàng trong những mùa mưa lũ.

Tại Ethiopia, cây vả giúp nhà nông thích nghi với nạn khô hạn bằng việc cung cấp bóng râm vô cùng cần thiết cho hoa màu, và thức ăn khô cho dê. Đây là những tác dụng có thể có ích cho cả những vùng khác nữa.

Nhìn chung, cây vả có thể giúp chúng ta hạn chế bớt tình trạng thay đổi khí hậu, bảo vệ tính đa dạng sinh thái, và cải thiện đời sống nếu như chúng ta tiếp tục trồng và bảo vệ chúng, điều mà nhân loại đã làm từ cả ngàn năm qua.

Trong nhiều nền văn hóa trên thế giới, việc chặt hạ các cây thuộc chi họ sung, như cây đa, cây đề, là điều cấm kỵ.

Câu chuyện lịch sử dài lâu của loài cây đặc biệt này nhắc nhở cho chúng ta rằng chúng ta chỉ mới xuất hiện trên Trái Đất này thôi, so với quá trình 80 triệu năm tồn tại của chúng. Tương lai của chúng ta sẽ an toàn hơn nếu như chúng ta đưa những loài cây đặc biệt này vào kế hoạch đồng hành với chúng ta tới tương lai.

Mike Shanahan
Theo: BBC Earth



Friday, October 9, 2026

NGƯỜI XƯA DẠY: "3 LOẠI VẤN ĐỀ KHÔNG THỂ GIÚP, 3 LOẠI CƠM KHÔNG THỂ ĂN, 3 LOẠI TIỀN KHÔNG THỂ TIÊU", NGHĨA LÀ GÌ?

Người xưa dạy: “3 loại vấn đề không thể giúp, 3 loại cơm không thể ăn, 3 loại tiền không thể tiêu”, nghĩa là gì? Bạn có nhận ra đạo lý gì không? Hãy cùng tìm hiểu nhé!


Con người có ba loại bề bộn không thể giúp đỡ

Giúp đỡ người khác cũng phải có giới hạn, tốt nhất là không nên giúp đỡ 3 loại bề bộn sau đây:

1. Cố tỏ ra bận rộn không thể giúp

Giúp đỡ người khác là đức tính tốt, nhưng trước hết chúng ta phải nhìn vào sức lực của chính mình. Không phải vì nóng nảy, hấp tấp mà làm những gì bạn không thể làm.

Việc cố gắng giúp đỡ không những không đạt được mục đích giúp đỡ mà còn vô cớ làm tăng thêm gánh nặng cho chính mình, đánh mất ý định giúp đỡ ban đầu và biến mình thành người được hỗ trợ.

Nếu bạn làm mọi thứ rối tung lên bằng cách tỏ ta nóng vội, ngược lại bạn sẽ bị người ta oán giận. Nếu như không thể giúp, cần gì phải vì chuyện của người khác mà ủy khuất chính mình.

2. Vấn đề tình cảm không thể giúp đỡ

Liên quan đến vấn đề tình cảm, tốt hơn là không nên giúp.

Đừng đưa ra ý kiến và lời khuyên cho người khác về các vấn đề tình cảm.

Con người sống tình cảm, rất dễ bị cảm xúc chi phối, xen lẫn chuyện tình cảm của người khác, tốt xấu đều dễ bị người khác oán giận.

Khổng Tử nói: “Bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chánh”.

Chuyện tình cảm không phải là đạo lý đơn giản có thể nói rõ ràng, cho nên không cần quản việc nhà người khác.

3. Liên quan đến tiền bạc, vội gấp không thể giúp

Người ta thường nói: “Giúp người khẩn cấp chứ không phải là giúp người nghèo”, liên quan đến tiền bạc phải thận trọng cân nhắc.

Cứu trợ khẩn cấp thì có thể, nhưng không thể cứu được người nghèo, giúp đỡ thường xuyên sẽ không đạt được mục đích cứu người nghèo mà sẽ khiến họ sinh ra tâm lý ỷ lại.

Người xưa nói: “Bát gạo dưỡng ân, đấu gạo dưỡng thù”, cho một bát gạo là ân nhân, cho một bao gạo là kẻ thù. Vì vậy, đừng giúp đỡ một người quá nhiều.

Tiền dễ vay, nhưng khi phải trả, hầu hết mọi người sẽ khó mở miệng vì sự đắn đo và tình cảm.

Nhân tình vay mượn ân huệ phải thận trọng, biết bao nhiêu người vì tiền mà đổi từ bạn bè biến thành người xa lạ.


Con người có ba loại cơm không thể ăn

Người ta thường nói rằng “Cơm có thể ăn bừa bãi, nhưng không thể nói bậy bạ”.

Trong thực tế, không chỉ không thể nói bậy bạ, bữa ăn cũng không thể ăn bừa bãi.

Nói năng bừa bãi hại mình hại người, ăn uống bừa bãi cũng dễ sinh ra tai họa.

1. Không ăn uống miễn phí

Trên đời không có bữa trưa miễn phí, đừng ăn uống miễn phí với tâm lý ham rẻ.

Đối với những người tham của nhỏ mà chịu thiệt lớn, ăn uống mà không chủ động trả tiền, bạn có thể nhất thời chiếm tiện nghi, nhưng cái bạn mất chính là tình bạn.

Những thứ không phải trả bằng tiền thường đòi hỏi bạn phải trả giá cao hơn.

2. Không ăn cơm mềm

Không ăn cơm mềm “cơm mềm” này có nghĩa là dựa dẫm quá nhiều vào người khác.

Để trưởng thành và trở thành người lớn, trước tiên chúng ta phải học cách tự lập.

Có thể tự nuôi sống bản thân bằng nỗ lực của chính mình, nếu không bất luận tuổi tác bao nhiêu cũng không thể tính là một người trưởng thành thực sự.

Không ăn cơm mềm, không sống phụ thuộc vào người khác.

Cha mẹ sẽ có một ngày rời đi, người yêu cũng sẽ có lúc vắng mặt, dựa vào ai cũng không bằng dựa vào chính mình mà an tâm.

3. Không ăn đồ thừa

Không ăn đồ thừa có nghĩa là không bắt chước lối sống của người khác, và không thể ăn “đồ thừa” của người khác. Mọi người đều có đặc điểm riêng, hãy tin rằng bát “cơm” trước mặt bạn là tốt nhất.

Bát của người khác có thể có sơn hào hải vị, nhưng “dạ dày” của bạn có thể chỉ phù hợp với cháo và các món ăn khác.

Cuộc sống không có khuôn mẫu nào cả, dù cuộc sống của người khác trải đầy hoa nhưng lại không phù hợp với bạn
.

Con người có ba loại tiền không thể tiêu

Tiêu tiền tưởng chừng là một việc vô cùng đơn giản, nhưng không phải tiền nào cũng tiêu được.

1. Tiền bất chính không thể được chi tiêu

Việc mua lại tiền bạc phải có nguyên tắc.

Tiền bất chính không thể lấy, không thể chi tiêu.

Lợi nhuận bất chính không thể được thực hiện hoặc chi tiêu.

Theo Phật giáo, nếu tham của bất chính, thì tài lộc trong đời sẽ bị hao hụt, phước báo trong đời cũng sẽ bị giảm đi rất nhiều.

2. Không tiêu tiền không phải của mình

Tuy rằng không phải là của cải bất chính, nhưng thay người khác bảo quản, trong trường hợp này tiền không được tiêu.

Cho dù đó là tiền của cha mẹ, anh chị em hoặc bạn bè của bạn, nếu người khác để bạn giữ tiền, điều đó có nghĩa là họ rất tin tưởng bạn và bạn phải xứng với sự tin tưởng này của bạn bè và gia đình.

Nó không phải của bạn, vì vậy đừng sử dụng nó.

Tiền cần được chi tiêu một cách an toàn, nhưng cũng phải kiếm tiền một cách thực tế.

3. Tiền của ngày mai không thể được chi tiêu

Bây giờ nhiều người chủ trương tiêu xài quá mức, chi tiêu tiền ngày mai để làm những điều ngày hôm nay, nhưng khi chi tiêu tiền phải thận trọng.

Trăng có mây có nắng, người có họa phúc sớm chiều. Không ai có thể đảm bảo rằng ngày mai sẽ thuận buồm xuôi gió.

Tiền ngày mai sẽ hữu ích vào ngày mai, vì vậy chúng ta cũng nên tính đến tương lai khi tiêu tiền, và đừng chỉ muốn vui chơi nhất thời.

Bạn có thể tiêu xài thoải mái ngày hôm nay, nhưng khi bạn gặp phải những biến cố vào ngày mai, lúc đó bạn đang bị đồng tiền điều khiển, bạn loay hoay với vấn đề của mình. Hãy làm chủ đồng tiền, lên kế hoạch và kiên định không tiêu tiền của ngày mai!

Kỳ Mai biên dịch
Minh Tâm / Theo: vandieuhay

THIẾP BẠC MỆNH - ĐỖ THẨM NGÔN


Thiếp bạc mệnh

Thảo lục Trường Môn yểm,
Đài thanh Vĩnh Hạng u.
Sủng di tân ái đoạt,
Lệ lạc cố tình lưu.
Đề điểu kinh tàn mộng,
Phi hoa giảo độc sầu.
Tự liên xuân sắc bãi,
Đoàn phiến phục nghinh thu.


妾薄命


啼鳥驚殘夢
飛花攪獨愁
自憐春色罷
團扇復迎秋


Thiếp bạc mệnh
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Cỏ xanh khuất lối Trường Môn. 
Đài rêu Vĩnh Hạng hoàng hôn phủ đầy. 
Lệ tình day dứt chốn đây. 
Ái ân sủng hạnh, bấy chầy còn đâu ?. 
Chim kêu tỉnh mộng ngõ hầu. 
Hoa rơi từng cánh thêm sầu lòng ai !. 
Sắc xuân giờ đã tàn phai. 
Quạt nồng ấp lạnh còn hoài thu sang !.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Thẩm Ngôn 杜審言 (645-708) tự Tất Giản 必簡, thi nhân Sơ Đường. Đỗ Thẩm Ngôn chính là ông nội của Đỗ Phủ đời Thịnh Đường.

Nguồn: Thi Viện