Monday, August 17, 2026

BÀI HÁT MÙA THU - ĐINH HÙNG


Bài hát mùa thu
thơ Đinh Hùng

Hôm nay có phải là thu?
Mây năm xưa đã phiêu du trở về,
Cảm vì em bước chân đi,
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn.
Ai về xa mãi cô thôn?
Một mình trông khói hoàng hôn nhớ nhà.
Ngày em mới bước chân ra,
Tuy rằng cách mặt, lòng ta chưa sầu.
Nắng trôi vàng chẩy về đâu?
Hôm nay mới thực bắt đầu vào thu.
Chiều xanh trắng bóng mây xưa,
Mây năm xưa đã phiêu du trở về.
Rung lòng dưới bước em đi,
Lá vàng lại gợi phân ly mất rồi!
Trời hồng, chắc má em tươi?
Nước trong, chắc miệng em cười thêm xinh?
Em đi hoài cảm một mình,
Hai lòng riêng để mối tình cô đơn.
Hôm nay tưởng mắt em buồn:
Đã trông thấp thoáng ngọn cồn, bóng sương.
Lạnh lùng chăng, gió tha hương?
Em về bên ấy, ai thương em cùng?

ĐINH HÙNG
(Trong Truyện lòng - Tập thơ tuổi mộng)


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đinh Hùng (3/7/1920 - 24/8/1967) người làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông cũ, nay là xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Ngoài việc ký tên thật Đinh Hùng, ông còn dùng bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết.

Nguồn: Thi Viện



"TIỀN" LÀ NGUỒI GỐC CỦA MỌI ĐAU KHỔ? VÌ SAO NÓI, "TIỀN" SẼ ĐỂ LỘ BẢN CHẤT THẬT SỰ CỦA BẠN?

Người đời thường nói: “Tiền là phép thử của lòng người”. Tiền không phải khi nghèo mới lộ bản chất, mà chính khi giàu lên, con người ta mới thật sự biết mình là ai.

“Tiền” là nguồn gốc của mọi đau khổ? Vì sao nói, “tiền” sẽ để lộ bản chất thật sự của bạn?

Tiền không làm con người ta xấu đi. Nó chỉ bóc trần những gì đã có sẵn bên trong mỗi chúng ta. Nói một cách đơn giản, tiền không phải là phần thưởng, mà là một bài kiểm tra. Bài kiểm tra về đạo đức, về nhân cách và về cái tâm của mình.

Bạn có để ý không? Nhiều người trúng số độc đắc hay làm giàu nhanh thường lộ rõ bản chất một cách khá rõ. Đó là minh chứng sống động rằng tiền chính là bài kiểm tra đạo đức lớn nhất của kiếp người.

Nó kiểm tra xem tâm ta có vững vàng hay không, liệu ta có vượt qua được cám dỗ hay không. Giàu đến đâu mà không vượt qua bài kiểm tra này thì cuối cùng cũng không giữ được.

Cổ nhân đã nói về vấn đề này từ hàng trăm năm trước: “Đức bất xứng tài, tất hữu tai ương.”

Nghĩa là đạo đức không gánh nổi tiền tài, thì tai họa sớm muộn cũng sẽ ập đến.

Không phải trời đất phạt ta, mà chính tiền bạc sẽ soi rọi và kéo hết những thứ tham, sân, si, ngã mạn, coi thường người khác ra ngoài ánh sáng. Tiền giống như một chiếc đèn pha chiếu thẳng vào tâm hồn. Tâm trong sạch thì càng sáng, tâm dơ bẩn thì sẽ lộ nguyên hình.

Cổ nhân còn dạy thêm: “Giàu không phải do nhân, sang không phải do lễ, họa hoạn tất nhiên sẽ tới.”

Khi giàu lên mà coi thường người nghèo, dùng tiền đè nén người khác, sống vô ơn nghĩa, coi mình hơn thiên hạ; thì không ai cần phải hại ta, chính ta đang tự gom nghiệp bất lợi cho tương lai.

Phật dạy về tiền càng rõ ràng hơn. Ngài không nói tiền là xấu, mà nói “tham tiền” mới là gốc rễ của khổ.

Trong kinh điển, Đức Phật dạy rõ: “Không phải tiền làm ta khổ, mà là sự dính mắc vào tiền mới khiến ta khổ.”

Có tiền mà mình dính mắc vào nó thì sẽ lo sợ đủ thứ: sợ mất, sợ nghèo lại, sợ người khác hơn mình. Lúc ấy, tiền không còn là “phúc” nữa, mà trở thành sợi dây trói chặt thân tâm.

Tài sản dễ làm con người sinh ra những thói hư tật xấu: chơi bời, khoe khoang, sống phóng túng, chủ quan, kiêu ngạo, nghĩ rằng mình sẽ không sao. Đến khi vấp ngã thật sự, mới biết mình gây nghiệp nặng đến mức nào.

Thực tế cho thấy, giàu lên rất dễ sinh ra ba thứ hư hỏng: dục vọng, kiêu mạn và vô ân. Nhiều người khi giàu lên ban đầu nghĩ chỉ là “thư giãn”, sau đó dần mất kiểm soát, dẫn đến trật bánh, thậm chí bại sản. Không phải vì họ không có khả năng kiếm tiền, mà vì họ không kiểm soát được con người mình khi có tiền.


Người tham lam sẽ càng tham lam. Người ác sẽ càng ác hơn khi có điều kiện. Ngược lại, người tử tế khi giàu lên sẽ càng tử tế hơn. Điều này cho thấy: “Tiền không thay đổi con người, tiền chỉ làm lộ rõ con người thật của họ.”

Chính vì vậy mới có những chuyện: mới giàu đã coi thường bạn cũ; mới có tiền đã không coi ai ra gì, cho rằng bản thân là trên hết; mới khá lên một chút đã quên gốc gác của mình. Đó không phải ngẫu nhiên, đó chính là kết quả của bài kiểm tra mà tiền đặt ra.

Và bạn biết không? Nhiều người giàu lên lại cảm thấy lo sợ. Không phải vì làm ăn thất bại, mà vì họ xài tiền sai cách. Khi họ đổ tiền vào những chỗ hoang phí, không đáng, không chỉ làm tổn thương người khác mà còn tạo ra oán hận, nuôi lớn cái tôi đến mức nguy hại. Tiền tài có thể không mất ngay lập tức, nhưng nó rút cạn dần, bào mòn từ từ. Đến khi cần dùng đến thì đã không còn gì.

Tiền thử con người không phải lúc đang kiếm tiền, mà chính là lúc đang xài tiền.

Tiền không xấu, nhưng không phải ai cũng xứng đáng nắm giữ nhiều tiền. Khi bạn có tiền mà vẫn giữ được sự khiêm tốn, vẫn biết ơn, vẫn tôn trọng người khác, vẫn sống có đạo đức, đó mới là “phúc đức” thật sự.

Giữ đạo đức khi nghèo đã khó, giữ đạo đức khi giàu còn khó gấp nhiều lần. Giàu chưa chắc đã là phúc; nhưng giữ được cái tâm hướng thiện, tu dưỡng bản thân của mình khi giàu lên, mới là phúc lớn nhất.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

Sunday, August 16, 2026

SỰ THẬT VỀ CUỘC SỐNG HOA LỆ SAU CÁNH CỬA CÁC VƯƠNG PHỦ NHÀ THANH

Ít ai biết rằng, những tòa vương phủ tráng lệ, xa hoa thời nhà Thanh thực chất lại chính là chiếc lồng son giam giữ cuộc đời của những hoàng thân quốc thích sống trong đó.

Ảnh minh họa.

Được biết tới là vương triều cuối cùng trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, Thanh triều cho tới ngày nay vẫn lưu lại nhiều công trình kiến trúc khiến cho hậu thế không khỏi ngưỡng mộ. Các vương phủ có niên đại từ thời kỳ này cũng nằm trong số đó.

Theo sử sách ghi chép, Thanh triều khi xưa từng có một quy định từ thời lập quốc: Chỉ có các phiên vương ở bên ngoài mới được phép sở hữu lãnh địa của riêng mình, còn những quận vương hay thân vương lưu lại trong kinh thành buộc phải sống tại vương phủ mà triều đình cấp cho.

Vì thế nên khi đế chế của Mãn tộc còn thống trị dải đất Trung Nguyên, thành Bắc Kinh đã từng là nơi quy tụ của không ít vương phủ, tính tới cuối thời nhà Thanh ước chừng đã lên tới con số 50 tòa.

Tuy nhiên điều đáng nói lại nằm ở chỗ, những tòa phủ đệ xa hoa tráng lệ một thời này thực chất lại chính là lồng giam kìm hãm cuộc đời của các hoàng thân quốc thích.

Thậm chí có ý kiến còn cho rằng cuộc sống chẳng thiếu ăn thiếu mặc ở những biệt phủ ấy có đôi khi còn bí bức chẳng khác nào… quan tài! Liệu đâu là lý do dẫn tới điều này?

Những khoản thu nhập khổng lồ phía sau các vương phủ xa hoa thời nhà Thanh

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.

Trước tiên, khó thể phủ nhận một sự thật rằng vương phủ vốn là những nơi chỉ xếp sau Tử Cấm Thành của nhà vua về độ xa hoa tráng lệ. Đa số các vương gia Thanh triều đều được hưởng thụ cuộc sống cẩm y ngọc thực bên trong những tòa phủ đệ của mình.

Thế nhưng để có được lối sống xa hoa như vậy thì họ phải cần tới một nguồn thu không hề nhỏ. Vậy liệu rằng nguồn thu của các vương phủ Thanh triều đến từ đâu?

Theo phân tích của chuyên trang lịch sử Trung Quốc Qulishi, thu nhập của các vương phủ thời bấy giờ chủ yếu đến từ 3 nguồn tài chính dưới đây:

Thứ nhất: Bổng lộc của triều đình.

Hàng ngũ hoàng thân quốc thích thời bấy giờ đều là những người sở hữu bổng lộc rất cao, các vương gia càng không phải ngoại lệ.

Lấy các Thân vương làm ví dụ, một năm bổng lộc của họ có thể lên tới vạn lượng bạc. Con số này của các quận vương mặc dù ít hơn, nhưng cũng dao động ở mức năm năm ngàn hai trăm lượng.

Thứ hai: ‘Tiền lương’ của các thành viên trong phủ.

Các hoàng thân quốc thích một khi được phong quan, nhận tước ắt sẽ có được nguồn bổng lộc phong phú. Vì vậy phàm là vương phủ nào có càng nhiều thành viên sở hữu chức tước thì số tiền thu vào mà họ nhận được sẽ càng nhiều.

Bên cạnh đó, mỗi khi Tân đế lên ngôi hoặc triều đình có đại hôn hay đại thọ, tầng lớp này sẽ được thưởng gấp đôi bổng lộc.

Hơn nữa, hầu hết các vương gia Thanh triều đều có chức quan trong triều, vì thế bổng lộc mà họ được hưởng từ triều đình hoàn toàn thừa sức để sống sung sướng cả đời.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.

Thứ ba: Nguồn thu đến từ số lượng đất đai khổng lồ.

Khi Thanh triều mới nhập quan không lâu, con em trong hàng ngũ bát kỳ bắt đầu không ngừng thâu tóm ruộng đất. Tình trạng này phải kéo dài tới thời Khang Hi mới chấm dứt.

Sau đó, chính phủ Thanh triều đem đất đai mà họ chiếm được chia cho các thành viên hoàng tộc và thống nhất để phủ Nội vụ quản lý. Vì vậy mỗi vương gia nhà Thanh trên danh nghĩa đều có không ít đất đai.

Theo hồi ức của con trai Cung Thân vương vào những năm cuối của triều đại này, dù gia đình ông không tính là quá nhiều đất đai, nhưng số lượng ước chừng cũng lên tới năm ngàn năm trăm mẫu.

Cũng bởi sở hữu diện tích đất đai khiến người khác không khỏi kinh ngạc nên các vương gia nhà Thanh năm xưa cũng có một khoản tiền không nhỏ thu về từ mối lợi này.

Cuộc sống bí bức chẳng khác nào quan tài bên trong những tòa vương phủ tráng lệ

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.

Thế nhưng ngay cả khi không phải lo lắng về chuyện tiền bạc, các vương gia nhà Thanh vẫn phải sống trong cảnh ‘cá chậu chim lồng’ vì sự ràng buộc của đủ mọi luật lệ khắt khe.

Họ không được tự ý đi quá phạm vi 40 dặm tính từ Hoàng thành, không được tùy tiện giao du với quan lại, không được phép tụ tập kết bè kéo cánh…

Chưa dừng lại ở đó, triều đình vì lo ngại các vương gia có mưu đồ riêng nên vẫn thường đặc biệt phái ra nhiều thám tử và ám vệ ở xung quanh các vương phủ nhằm giám thị nhất cử nhất động của họ.

Do đó chỉ cần tầng lớp vương gia có một lời nói hay hành động nào bất cẩn cũng sẽ nhanh chóng bị báo lên nhà vua.

Để tránh bị hiềm nghi, những thành viên hoàng tộc này mỗi khi đi đâu, làm gì hay gặp ai đều phải chủ động dâng tấu cho Hoàng đế.

Chính sự mất tự do này đã khiến nhiều người cho rằng, vương phủ xa hoa của họ thực chất cũng chỉ là ngục giam do triều đình hao tốn tâm tư để tạo nên mà thôi.

Ảnh minh họa: Nguồn Internet.

Buộc phải sống cả đời trong cảnh ‘cá chậu chim lồng’, các vương gia năm xưa thường phải tự tạo thú vui ngay trong phủ đệ của chính mình.

Vào thời Càn Long, Hòa Thân vương Hoằng Trú nổi danh là một vương gia hoang đường đã từng nghĩ ra trò tiêu khiển quái đản. Đó chính là tổ chức tang lễ cho chính mình.

Mỗi lần như vậy, ông lại chủ động ngồi vào quan tài, để cho người nhà đứng bên ra vẻ khóc lóc, ai càng khóc thương tâm thì ông càng cao hứng.

Những thành viên trong vương phủ cũng chẳng có cách nào cự tuyệt, chỉ còn cách hùa theo trò đùa quái đản của vị vương gia ấy.

Trong lúc trò vui này diễn ra, Hoằng Trú lại ngồi trong quan tài vui vẻ uống rượu như thể xem tang lễ là hỷ sự. Biệt hiệu ‘Hoang đường Vương gia’ của ông cũng từ đó mà ra.

Có lẽ, chính cuộc sống bí bức chẳng khác nào quan tài bên trong những tòa vương phủ ấy đã từng khiến cho không ít các thân vương, quận vương thời nhà Thanh không khỏi cám cảnh.

Ngay cả khi được ngồi trên cả núi vàng núi bạc thì cuộc đời của họ vĩnh viễn chỉ quẩn quanh trong chiếc lồng son mà Hoàng đế ban cho, để rồi chỉ còn cách tìm kiếm những trò tiêu khiển hoang đường mà quên đi khao khát về một cuộc sống tự tại như bao thường dân bách tính bình thường khác…

Theo: vanhienplus

TOP 10 MÓN ĂN NỔI TIẾNG CỦA ẨM THỰC TRUNG ĐÔNG

Lượng khách du lịch đến vùng Trung Đông tăng vọt sau mùa World Cup 2022 tổ chức tại Qatar. Dưới đây là danh sách 10 món ăn bạn không thể bỏ qua nếu có dịp vi vu đến xứ sở này.

Bourekas có tên gọi khác là “bureks”. Đây là món bánh nướng nhân phô mai, rau bina, thịt, cà tím hoặc khoai tây. Bourekas phổ biến tại Trung Đông đến nỗi bạn có thể tìm thấy nó tại các tiệm bánh, cửa hàng ven đường, siêu thị, thậm chí là hàng tạp hoá. Ảnh: One Green Planet.

Hummus là một loại sốt có thành phần chủ yếu là đậu gà, thực phẩm rất nổi tiếng đối với người Ấn Độ và khu vực Trung Đông. Họ nấu chín đậu, nghiền nhuyễn, trộn với sốt bơ vừng, dầu olive, nước cốt chanh, muối và tỏi, tạo thành sốt có vị mặn nhẹ, béo thơm và thanh đạm. Ảnh: Ludovic Avice/Unsplash.

Fattoush dường như là phiên bản Trung Đông của salad bánh mì, đồng thời gợi nhớ đến salad panzanella của Italy. Món ăn này có sự hoà trộn giữa bánh mì Pita nướng, cà chua, dưa chuột, hành tây, bạc hà, sumac, dầu olive, chanh và tỏi. Họ thường ăn kèm Fattoush trong những bữa tiệc thịt để giảm ngấy và cân bằng dinh dưỡng. Ảnh: Orchard Street Kitchen.

Kofta là một trong những món ăn làm từ thịt nổi tiếng nhất Trung Đông. Chỉ đơn giản là thịt bò hoặc thịt cừu xay, trộn với hành tây, tỏi và gia vị, sau đó đem đi nướng than rồi thưởng thức. Ảnh: Denise Bustard.

Baklava phổ biến tại hầu hết quốc gia Trung Đông, Hy Lạp, Bulgaria cho đến Armenia, Syria. Tuy nhiên, Thổ Nhĩ Kỳ dường như là đất nước gắn liền với món ăn này nhất. Đây là loại bánh ngọt béo ngậy, được chế biến bằng 40 lớp bột cán mỏng xếp chồng lên nhau, ở giữa nhồi hạt dẻ cười, quả óc chó và kem béo. Ảnh: Syed F Hashemi/Unsplash.

Falafel có nguyên liệu chủ yếu là đậu gà xay nhuyễn, sau đó nặn thành viên và chiên ngập dầu. Người Trung Đông có thể thưởng thức Falafel vào mọi bữa ăn trong ngày, ăn kèm salad, bánh mì kebab hoặc chấm với sốt Hummus. Ảnh: Ludovic Avice/Unsplash.

Kunafa là tên gọi của món bánh phô mai lừng danh ở miền Đông Địa Trung Hải. Trong tiếng Ả Rập, Kunafa có nghĩa là “trú ẩn”. Đây là cách miêu tả phần nhân phô mai mềm mịn được bao bọc bởi lớp vỏ giòn tan bên ngoài của bánh Kunafa. Người Trung Đông ăn bánh kèm với syrup đường, đôi khi là kem tươi hoặc quả hồ trăn. Ảnh: Kitchenmaestro.

Ful, hay Ful Medames, là một trong những món ăn đặc sắc của Ai Cập, bao gồm đậu fava nấu với thì là xay, thảo mộc tươi, ớt cay và nước sốt tỏi chanh thơm lừng. Đây là món đậu hầm chay truyền thống được người dân yêu thích, phù hợp để ăn sáng, trưa và tối. Ảnh: The Mediterranean Dish.

Shawarma, được mệnh danh là “Doner Kebab phiên bản Ấn Độ”, với cách chế biến lẫn hình thức món ăn gần như tương tự. Họ chất đống những miếng thịt gà hoặc thịt cừu lên một trục xoay và nướng trong nhiều giờ liền. Sau đó, thịt được lấy xuống dần, ăn kèm với bánh mì Pita, salad và nước sốt. Ảnh: Syed Hussaini/Unsplash.

Baba ghanoush, món sốt chấm ăn kèm bánh mì này sử dụng một loại nguyên liệu khá quen thuộc đối với người Việt Nam, đó chính là cà tím. Cách làm Baba ghanoush khá tương tự Hummus, tức nướng chín cà tím, sau đó xay nhuyễn, trộn với sốt bơ vừng, dầu olive, nước cốt chanh, muối và tỏi. Ảnh: Recipe Girl.

Theo: Zing

BÍ ẨN BẤT NGỜ VỀ "NỎ THẦN" HUYỀN THOẠI CỦA AN DƯƠNG VƯƠNG

Nỏ thần – vũ khí được xem là huyền thoại của thời kì An Dương Vương có khả năng sát thương cao vẫn mang trong mình nhiều huyền tích bí ẩn.


Hai ngàn năm về trước cha ông ta đã sở hữu một thứ vũ khí có sức sát thương ghê gớm khiến cho kẻ thù phải khiếp đảm. Ðó chính là nỏ liên châu. Nó đã đi vào truyền thuyết, song thực tế cho đến bây giờ người dân vùng đất Cổ Loa – Kinh đô của vương triều An Dương Vương huyền thoại, vẫn tin thứ vũ khí đó thực sự tồn tại và niềm tin đó hoàn toàn có căn cứ.


Theo truyền thuyết, tướng Cao Lỗ đã nỗ lực giúp An Dương Vương chế tạo thành công nỏ thần. Nỏ có sức mạnh kỳ diệu, “chỉ núi thì núi tan, chỉ ngàn thì ngàn cháy”, vì vậy dân gian gọi là nỏ thần và người chế tạo ra nỏ thần đó được gọi là Ông Nỏ hay Ðô Nỏ.


Vào khoảng tháng 6/1959 trong khi đang cùng các công nhân đắp con đường từ Quốc lộ 3 đi qua khu di tích Cổ Loa đến xưởng phim, tại khu vực có tên là Cầu Vực, mọi người phát hiện một hố gần vuông mỗi cạnh 1m, sâu khoảng 1,2m, trong chứa 93kg mũi tên đồng, ước khoảng gần một vạn chiếc, với rất nhiều kích cỡ khác nhau.


Một phần lẫy nỏ của chiếc nỏ thần huyền thoại hiện đang có mặt tại Bảo tàng lịch sử quốc gia.


Việc phát hiện được kho mũi tên đồng ở Cầu Vực cho thấy truyền thuyết về nỏ thần của An Dương Vương ở Cổ Loa có cốt lõi lịch sử chân thật. Tư liệu của khảo cổ học ở Cầu Vực đã “vén bức màn huyền thoại” và trả lại cho An Dương Vương sự thật việc luyện và đúc mũi tên đồng ở Cổ Loa.


Lẫy nỏ và mũi tên ba cạnh của chiếc “nỏ thần” huyền thoại thời kì Thục Phán An Dương Vương.


Lẫy nỏ loại hình thành sớm thường gồm 3 bộ phận, nhưng lẫy nỏ giai đoạn sau này được phát triển lên đến 6 bộ phận là hộp cò, lẫy cò, chốt (thường có 2 chốt), thước ngắm.


Có bảy loại mũi tên dùng cho nỏ thần của An Dương Vương: Loại dài nhất 11cm, loại ngắn nhất 6cm và đều cùng một loại, cấu tạo gồm 3 bộ phận: đầu nhọn, trụ và chuôi cùng có mặt cắt ngang hình tam giác. Ðầu mũi tên có mặt cắt hình tam giác với rìa cạnh thẳng hoặc hơi cong vồng ra; mặt cắt ngang đầu mũi hình tam giác đều cạnh thẳng hoặc cong lõm vào.


Điểm đặc biệt trong các loại mũi tên dùng cho nỏ thần An Dương Vương đó là mũi tên ba cạnh tạo ra vết rách to theo ba hướng, gây thoát máu nhanh, thương vong lớn cho đối phương.


Mũi tên ba cạnh là một đặc điểm quan trọng khiến cho đối phương hoang mang, mất bình tĩnh khi đang tấn công và là một yếu tố tạo nên tính thần kỳ của loại nỏ An Dương Vương so với các loại vũ khí đương thời và ngay cả với loại nỏ chỉ được bắn bằng mũi tên hai cạnh thông thường.

Độ sát thương của những mũi tên có đầu ba cạnh khiến kẻ thù của An Dương Vương khiếp sợ.

Theo: Giáo dục Việt Nam

LAN HUỆ SẦU AI?

Ngày còn nhỏ, khi còn ở bên nội, tôi thấy quanh nhà nội có hàng rào tre gai chen lẫn mấy bụi tre mạnh tông bao bọc mảnh vườn nhỏ trồng nhiều cây mãng cầu ta.

Hoa lan huệ Ảnh: TƯ LIỆU

Loại mãng cầu này trái tròn bằng nắm tay, có nhiều mắt, khi chín nở lớn, căng mịn, nứt vỏ. Nếu không kịp leo hái trái mãng cầu xuống thì lũ chim trao trảo nghe mùi thơm kéo nhau bay vào vườn ăn sạch. Góc vườn giáp với hàng rào tre có cây khế chua. Mỗi khi khế trổ bông, suốt ngày tôi nghe tiếng lũ ong bầu vo ve trên những chùm bông màu đỏ tím.

Tôi không biết lũ ong bầu thích mùi phấn hương hay tìm mật ẩn kín trong nhụy bông khế. Nhưng với trẻ con tinh nghịch, ưa khám phá, tìm tòi, thích những trò chơi của tuổi thơ, việc bắt ong bầu dằn lên đáy cái thùng nhôm để nghe tiếng chúng kêu u u rất lạ tai lại là trò chơi thú vị. Cứ chú ong bầu của đứa nào kêu to nhất là đứa đó thắng cuộc chơi âm thanh. Ở góc sân nhà nội tôi, sát hàng cây bông gòn, nơi có mương nước rất trong, còn có cây lê-ki-ma trái tròn giống như hột gà nên còn gọi là cây trứng gà. Trái lê-ki-ma chín có màu vàng ươm, nhìn rất ngon mắt.

Thứ tôi thắc mắc, quan tâm nhất không phải là cây trái trong vườn nhà nội mà là một loài hoa nảy chồi lá từ củ vùi sâu trong lớp đất pha cát suốt mùa nắng. Chỉ sau vài cơn mưa đầu mùa, chồi lá đã trồi lên. Loài hoa có củ này có nhiều dưới thềm nhà nội tôi, mọc thành từng bụi nhỏ. Những cọng lá xanh nhô lên cao khỏi mặt đất, lớn dần. Khi cao khoảng 20 cm thì giữa những cọng lá ấy nhú lên một chồi hoa, độc nhất cái hoa có 6 cánh thon, dài màu hồng rất mỏng manh, không hương thơm nhưng rất đẹp. Vẻ đẹp yếu đuối, mong manh ấy tàn lụi sau một – hai ngày bung nở.

Cũng không ai cho tôi biết loài hoa có củ ấy tên gọi là gì nhưng tôi rất ấn tượng về nó. Đó là sự bí ẩn đối với tuổi thơ tôi mà mãi sau này, tôi mới biết đó là loài huệ mưa, còn gọi là lan huệ. Chỉ riêng mình tôi gọi nó là “ẩn lan”, tên hàm chứa sự bí ẩn của loài hoa củ vùi sâu trong đất.


“Lan huệ sầu ai lan huệ héo/Lan huệ sầu tình trong héo ngoài tươi”. Trước khi biết tên loài hoa bí ẩn này là lan huệ, tôi đã nghe câu hát ru em của mẹ ngày bà còn xuân sắc khi mới về bên nội. Ba tôi đi kháng chiến, vắng nhà biền biệt… Những buổi trưa thôn xóm thanh vắng, chỉ có gió mùa khô lướt qua hàng rào tre rì rào cùng với nhịp võng đưa trước hiên nhà, mẹ đã ru em tôi ngủ bằng câu ca này.

Ngày ấy, có thể mẹ tôi đã biết có một loài hoa trước thềm nhà nội tên là lan huệ, hoặc có thể bà cũng không biết. Nhưng câu hát ru em của mẹ tôi từ thời xuân sắc về ở quê chồng, mà chồng thì biền biệt xa, đã trở thành mối cảm hoài ẩn sâu trong câu hát ru em buồn não lòng ấy. Khi lớn lên, tôi càng hiểu thêm tình ý của câu hát ru “Lan huệ sầu ai”. Và tất nhiên, tôi cũng rất trân trọng, dành nhiều thiện cảm cho loài hoa có cuộc đời bị vùi lấp rất sâu trong đất, chịu hết sự khô cằn, nắng lửa để chỉ đợi lúc mưa rào.

Bây giờ, tôi về ở quê ngoại, trong căn nhà cất trên mảnh vườn tôi mua lại của người bà con cho mẹ ở suốt tuổi nghỉ hưu của bà đến khi bà mất. Trong lúc quét dọn vườn tược, tôi mới khám phá ra trong đám cúc bò, quanh kẹt hồ chứa nước mưa, ven lối đi có những củ lan huệ không biết sống sót thế nào trong đất vườn nhà, bỗng dưng nhú chồi xanh. Chúng mọc ra những cọng lá mảnh rồi nảy lên những cái hoa 6 cánh, không chỉ có màu hồng mà cả màu vàng và màu đỏ. Trời ơi, “ẩn lan” của tôi đó, là huệ mưa, là “Lan huệ sầu ai lan huệ héo/Lan huệ sầu tình trong héo ngoài tươi”!


Thế là tôi dành trọn một buổi tìm bứng những củ huệ mưa từ tuổi thơ thăm thẳm của đời người mọc rải rác nhiều chỗ đem trồng gom lại một nơi cho tiện việc chăm sóc, nhìn ngắm mỗi ngày. Tôi cũng khám phá ra sự bí ẩn khác của huệ mưa khá thú vị. Loài hoa này không chỉ ẩn mình cam chịu dưới lớp đất sâu suốt mùa nắng lửa đợi đến khi mưa đầu mùa trút xuống mới trồi lên khỏi đất rồi nở hoa, chứng tỏ sức sống mãnh liệt. Huệ mưa còn một tập tính khác: nếu được ngắt những cọng lá xanh sát củ, chúng sẽ ra lá mới và lại cho hoa liên tục.

Thiên nhiên có những điều thật kỳ diệu mà chỉ ai ở gần, sát với thực tiễn mỗi ngày để nhìn thấy tận mắt, mới dần khám phá ra. Thú vị hơn cả là câu ca dao, câu hát ru em “Lan huệ sầu ai” mà ta nghe, mỗi người sẽ cảm nhận sâu hơn về loài hoa vốn có cuộc sống, vòng đời bí ẩn, đã mang sẵn một cái tên rất buồn này.

Từ Kế Tường

"LÈO" LÀ GÌ MÀ "HỨA LÈO"?

Ca dao Nam Bộ có câu: 

"Thuyền anh mỏng ván, bóng láng, nhẹ chèo
Xin anh bớt ngọn, xả lèo chờ em."


“Lèo” là cái gì mà phải xả? Nghe hỏi, nhiều người ngần ngừ, lật đật lật từ điển tra cứu xem sao. Thì đây, lèo là dây nối từ cánh buồm đến chỗ người lái thuyền để lựa gió cho thuyền đi. Nói rõ hơn một chút, có hai loại lèo: “lèo dùi” và “lèo thẳng”. Nếu không giải thích, khi đọc/học thơ của Lê Thánh Tông, đến câu này ắt lại ngắc ngứ:

Lèo ăn gió, dầu dùi thẳng
Cánh phơi mây, mặc lộng khơi

“Lèo ăn gió”, có thể hiểu lèo đã được gió, hoàn toàn theo đúng hướng gió, no gió; do đó, bất chấp cả “dùi thẳng”. Từ điển của Huình Tịnh Paulus Của giải thích: “Dùi thẳng: Chiều theo sự thể, lần hồi, không quyết bề nào”. Ta hiểu là sự nhùng nhằng, không dứt khoát, rạch ròi, chưa đâu vào đâu. Vậy nên, phải có dấu phết (,) giữa dùi và thẳng mới rõ nghĩa: người đi thuyền hoàn toàn chủ động theo ý thích, dầu/dù “lèo dùi” (dây dùn, không săn, không thẳng) hay “lèo thẳng” đi nữa cũng không sao vì “lèo” đã “ăn gió”, no gió, căng gió.

Tiếc rằng, do không nắm rõ ngữ nghĩa trên nên các bản in đều ghi liền mạch “dùi thẳng”. Hơn nữa hai câu thơ trên đối xứng từng chữ, vậy phải “dùi” và “thẳng” mới đối được với “lộng” và “khơi”, hai từ tách biệt. Thành ngữ có câu: “Vào lộng ra khơi” là vậy.

“Lèo lái” là động tác giữ lấy dây lèo, bánh lái để thuyền chạy đúng hướng. Khi nói: “co chân chạy một lèo”, lèo ở đây xuất phát từ hình ảnh chiếc thuyền chạy một bề, không phải trở buồm, cứ thế mà chạy một hơi, chạy một mạch.

“Xả lèo” trong câu: “Xin anh bớt ngọn, xả lèo chờ em”, ông Huỳnh Công Tín lý giải rành mạch trong “Từ điển từ ngữ Nam Bộ”: “Buông sợi dây chằng buồm, cho buồm bớt căng gió để thuyền ghe giảm tốc độ”; chứ không phải “Tháo sợi dây chằng buồm cho buồm căng gió” như “Đại từ điển tiếng Việt” đã giải thích.

Trong mối quan hệ xã hội, có không ít lần ta bực mình vì gặp người “hứa lèo”. Họ hứa hẹn “chắc như đinh đóng cột” nhưng kết quả “Ba voi không được bát nước xáo”, chỉ hứa hươu hứa vượn. “Hứa lèo” là hứa cuội, hứa hão, nói tắt một lời là xạo ke: “Nói lời rồi lại ăn lời được ngay” (Truyện Kiều).

Còn “giường lèo” thì sao? “Đêm rằm mười sáu trăng treo/ Anh đóng giường lèo, lấy vợ Lái Thiêu”. Tục ngữ cũng có câu: “Một vợ nằm giường lèo, hai vợ nằm chuồng heo, ba vợ nằm chèo queo”. “Giường lèo” là loại giường có chạm trổ tinh vi, làm bằng gỗ quý.

Vào miền Nam, nhiều người mê món “bún nước lèo”. Chẳng hạn, ở Sóc Trăng dùng mắm cá sặt còn ở Trà Vinh dùng mắm bò hóc để nấu nước lèo. Loại nước này, người Bắc gọi “nước xuýt” – nước luộc thịt, luộc lòng, hầm xương có mùi vị thơm ngon. Gọi “nước dùng” cũng không sai. Rõ ràng, tùy vùng miền, tên gọi có khác nhau.

Những người đàn ông bụng phệ, to tổ chảng do uống nhiều bia thì cái bụng đó bị gọi là “thùng nước lèo”.

Lê Minh Quốc