Sunday, July 26, 2026

SAU KHI NGHỈ HƯU, DÙ CON CÁI CÓ HIẾU THẢO ĐẾN ĐÂU CŨNG KHÔNG "BỀN VỮNG" BẰNG 3 ĐIỀU NÀY

Cuộc đời giống như một cuộc chạt marathon, muốn đi tới cuối con đường, bạn không thể cứ cắm đầu chạy, mà còn cần có 3 thứ đồng hành.


Nhiều người cho rằng khi về già, hạnh phúc phụ thuộc hoàn toàn vào con cái. Con cái có hiếu thì sống thoải mái; con cái không hiếu thảo thì một mình chịu cay đắng. Vì thế, để tuổi già được an nhàn hơn, họ có tâm lý luôn hy sinh, cống hiến hết mình cho con cái, mong sau này sẽ nhận được sự chăm sóc chu đáo từ con.

Tuy nhiên, đặt hết gánh nặng tuổi già lên vai con trẻ là một quan điểm không đúng. Tư duy này vừa khiến con cái bị “ngộp thở”, vừa khiến tương lai của chính mình trở nên chông chênh.

Trên thực tế, bạn mới là chủ nhân của cuộc đời mình. Vì thế, thay vì phụ thuộc vào con cái, bạn nên đề cao 3 yếu tố bền vững sau đây.

1. Tiết kiệm đủ để bảo vệ bản thân

Bà Vương chưa bao giờ nghi ngờ việc con trai bà sẽ đối xử tệ bạc với bà. Do đó, sau nửa đời tích lũy được số tiền tiết kiệm kha khá, bà quyết định dùng tất cả để mua nhà cho con trai.

Con trai của bà quả thực là một người con ngoan và hiếu thảo, luôn cố gắng đặt mẹ lên hàng đầu. Nhưng kể từ sau khi qua tuổi 70, bà Vương yếu đi trông thấy, nhiều lần phải nhập viện. Dần dần, bà cảm thấy con dâu dường như buồn phiền vì việc này.

Một lần, bà Vương thậm chí nghe thấy tiếng con trai và vợ đang tranh luận trong phòng riêng: “Mẹ đau ốm liên miên như vậy, tiền tiết kiệm của chúng ta gần như cạn sạch vì nộp viện phí. Nếu cứ tiếp tục như vậy, học phí của 2 đứa trẻ phải làm sao?”, tiếng con dâu vọng ra qua khe hở.

Bà Vương nghe xong, nước mắt lặng lẽ chảy dài trên khuôn mặt. Bà chợt nhận ra cuộc sống tuổi già lý tưởng của mình quá xa vời thực tế. Bà tính đến lòng hiếu thảo của con trai nhưng lại bỏ qua những yếu tố khác, chẳng hạn như sức khỏe của bản thân. Bà càng không thể trách con dâu vì con dâu cũng đã chăm sóc bà hết mức, chưa bạc đãi điều gì.

Bà nhận ra rằng, bản thân đáng lẽ phải giữ một khoản tiền tiết kiệm để lo cho chính mình. Như vậy, sự phụ thuộc vào con cái sẽ giảm đi đáng kể. Con trai vẫn có thể thể hiện lòng hiếu thảo, không còn bị đặt vào thế khó giữa mẹ và vợ.

Người già nên tiết kiệm một khoản tiền cho chính mình để giảm áp lực cho con cái (nguồn: cafef)

2. Một cơ thể khỏe mạnh cho phép bạn sống tận hưởng

Khi con người về già, một cơ thể khỏe mạnh là điều hạnh phúc nhất đối với người già. Khi còn trẻ, bạn nợ cơ thể bao nhiêu thì khi về già, bạn sẽ phải trả lại gấp bội. Bệnh nhẹ thì không sao, nhưng nếu chẳng may bị bệnh nặng thì những năm cuối đời sẽ chịu ảnh hưởng rất nhiều.

Một lần, bà Vương gặp lại người bạn cũ là bà Trương trong bệnh viện. Bà Trương tuy lớn hơn bà Vương vài tuổi nhưng trông có vẻ khỏe khoắn, nước da hồng hào.

“Chị chăm sóc thân thể thật tốt!” Bà Vương chân thành khen ngợi.

Bà Trương cười nói: “Không có bí quyết gì cả, khi còn trẻ tôi chú ý tập thể dục và ăn uống điều độ mà thôi. Dù bây giờ đã lớn tuổi, chúng ta vẫn cần phải tự chăm sóc bản thân để không gây phiền phức cho con cái”.

Bà Vương nghe xong liền cảm nhận được rằng, một cơ thể khỏe mạnh không chỉ giúp cuộc sống sau này của bạn thuận lợi hơn, mà còn giúp bạn sống tự do và thoải mái hơn, không cần phải làm phiền người khác quá nhiều.

3. Một thái độ cởi mở để vượt qua nhiều thay đổi tâm sinh lý

Một ngày nọ, bà Vương gặp một người hàng xóm cũ đang ngồi đọc báo một cách ung dung trong công viên.

“Ông Lý, hôm nay vui quá nhỉ!” Bà Vương chào hỏi.

Ông cười nói: “Đúng vậy, sau khi về hưu, tôi bắt đầu tận hưởng cuộc sống của mình. Con cái có sự nghiệp và gia đình riêng, người già chúng ta không cần lúc nào cũng phải quan tâm quá mức. Đến lúc nào con cái xin giúp đỡ thì mới giúp đỡ, mà còn tùy tình hình, tùy việc mới giúp. Còn những lúc khác thì cứ để thuận theo tự nhiên đi”.

Bà Vương gật đầu suy nghĩ. Đối với thế hệ con cháu, ông bà đều cách biệt thế hệ rất lớn, từ đó có quan niệm sống khác nhau, không dễ dàng can thiệp vào chuyện của nhau. Người xưa cũng có câu: “Con cháu sẽ có phúc của riêng con cháu”. Người lớn tuổi không cần quá ôm đồm, lao tâm khổ tứ vì thế hệ tương lai, kẻo ảnh hưởng đến trách nhiệm và sự đóng góp của con cái đối với gia đình, không có lợi cho sự hòa thuận giữa các thành viên.

Tinh thần lạc quan, vui vẻ sẽ giúp bạn có cuộc sống hạnh phúc (nguồn: cafef)

Khi có thể tận hưởng cuộc đời của chính mình, họ sẽ bắt đầu trở nên cởi mở hơn về tâm trí, thoải mái hơn về tâm thần, ít lo lắng muộn phiền nên không phải đối mặt với các cơn giận. Đây cũng là bí quyết chăm sóc sức khỏe hiệu quả trong những năm cuối đời.

Trải qua bao nhiêu chuyện, bà Vương cuối cùng cũng nhận ra rằng khi một người đến tuổi già, tài sản quan trọng nhất là chính bản thân mình. Vì thế, để lo cho bản thân tốt hơn, hãy chuẩn bị số tiền tiết kiệm đủ đầy, một cơ thể khỏe mạnh và một tâm hồn rộng mở.

Khi bạn có thể giữ được ba “vũ khí thần kỳ” này trong những năm cuối đời, cho dù bạn có gặp khó khăn, bạn cũng có đủ sự vững vàng để chống đỡ mọi chông gai.

Nguồn: cafef

Saturday, July 25, 2026

NGƯỜI KHỞI XƯỚNG XU HƯỚNG GÓT SEN BA TẤC: TỪ KỸ NỮ ĐẾN LÀM HOÀNG HẬU

Sử sách Trung Quốc chép lại, người phụ nữ này chẳng những có vẻ đẹp quyến rũ mà còn sở hữu đôi chân bé xíu, dáng đi lả lướt. Sau đó, xu hướng gót sen ba tấc trở nên phổ biến và được các phi tần khác bắt chước theo.


Tập tục bó chân từng rất phổ biến ở Việt Nam và Trung Quốc. Bấy giờ, người xưa quan niệm phụ nữ phải có đôi bàn chân “gót sen ba tấc” (hay còn gọi là kim liên tam thốn) thì mới là đẹp. Những cô gái có bàn chân nhỏ sẽ có được tấm chồng tốt. Càng là tiểu thư danh giá, phi tần trong cung lại càng phải bó chân và có chân đẹp.


Các sử gia đã nghiên cứu và phát hiện ra mỹ nhân xinh đẹp có liên quan trực tiếp đến tập tục bó chân gót sen 3 tấc chính là Triệu Phi Yến. Cô là người đẹp nức tiếng nhất nhì phong kiến Trung Quốc. Nhan sắc của Triệu Phi Yến khiến “chim sa cá lặn”, vua Hán Thành Đế vô cùng si mê.


Tương truyền, Triệu Phi Yến còn có bí kíp phòng the đỉnh cao, khiến vua mê mệt không thể rời xa, sự hoang dâm nổi tiếng cả kinh thànhh. Được vua sủng hạnh nên từ một kỹ nữ thông thường, cuối cùng chị em Triệu Phi Yến đã leo lên được vị trí hoàng hậu.


Theo ghi chép, Triệu Phi Yến múa rất đẹp nên thường được Hán Thành Đế gọi đến trình diễn. Trong một lần biểu diễn cho vua xem, nàng ta gây ấn tượng bởi đôi chân uyển chuyển, nhỏ xíu, di chuyển lả lướt như bay. Không chỉ Hán Thành Đế mà ai nấy đều ấn tượng với hình ảnh của Triệu Phi Yến khi đó.


Cũng sau buổi yến tiệc, việc Triệu Phi Yến quấn lụa quanh bàn chân rồi nhảy múa được lan truyền khắp kinh thành. Hán Thành Đế đã ra lệnh cho hậu cung ai cũng phải bó chân để có được gót sen ba tấc như Triệu Phi Yến. ừ đó, các phi tần ở triều đại sau cũng học theo tập tục này để có được đôi chân nhỏ, đi được những đôi giày cực bé.


Tuy nhiên, bao nhiêu đời vẫn tồn tại quy tắc bất di bất dịch là các phi tần không được để lộ đôi chân gót sen ba tấc trước mặt vua. Lý do bởi khi bó chân, bàn chân của họ vốn đã biến dạng, trông rất đáng sợ. Không chỉ hoàng đế không muốn nhìn thấy mà chính các phi tần cũng không muốn để lộ bộ phận xấu xí này của mình.

An An / Theo: Techz



CÓ PHẢI EM VỀ ĐÊM NAY - NGUYÊN SA


Có phải em về đêm nay
thơ Nguyên Sa

Có phải em về đêm nay
Trên con đường thời gian trắc trở
Để lòng anh đèn khuya cửa ngỏ
Ngọn đèn dầu lụi bấc mắt long lanh

Có phải em về đêm nay
Trên con đường chạy dài hoa cỏ
Cho lòng anh trở lại với lòng anh
Như lá vàng về với lá cây xanh
Trong những chiều gió đưa về cội

Có phải em về đêm nay
Để phá tan
Những nụ cười thắt se sầu tủi
Như anh vẫn cười mà đau đớn bao nhiêu
Không biết đời người có đưa đến tin yêu
Những ngón tay có đưa đến bàn tay
Những mùa thu có đến gió heo may
Hay ngày mai là bốn bề tuyết lạnh

Có phải em về đêm nay
Giữa lòng chiều tím lặng
Cho anh đừng tìm thấy
Đo đếm thời gian
Bằng những điếu thuốc lá tắt trong đêm
Đầu gối trên cánh tay
Để giấc mơ đừng tẻ lạnh

Em đừng trách anh đã quá lo âu đời người hiu quạnh
Làm thế nào khi lòng mình nứt rạn cơ em
Dù không muốn gục ngã trong đêm
Nhưng đã bao lần đêm khuya
Anh không biết đã làm thơ
Hay đã chọn âm thanh làm độc dược
Em đừng trách anh để lòng mình tủi cực
Đến ngại ngùng dù nắng dù mưa
Sao em không về
Để dù nắng dù mưa
Dù trong thời gian có sắc mầu của những thiên đàng đổ vỡ
Anh vẫn chăn chùm kín cổ
Ngủ say mềm
Vì lòng anh (em đã biết)
Có bao giờ thèm khát vô biên
Có bao giờ anh mong đừng chết - dù để làm thơ
Nên tất cả chỉ vì yêu em
Và làm thơ cho đến chết

Em sẽ về, phải không em
Có gì đâu mà khó khăn, trắc trở
Chúng mình lại đi
Trên con đường chạy dài hoa cỏ
Là những đồn phòng ngự của tình yêu
Mỗi ngón tay em
Anh vẫn gọi là một cửa đào nguyên
Và anh sẽ trở lại nguyên hình
Một anh chàng làm thơ
Mà suốt đời say rượu cúc

Có phải em sẽ về
Dù bầu trời ẩm đục
Hay bầu trời trang điểm bằng mây
Anh sẽ chải tóc em bằng năm ngón tay
Trong những chiều gió thổi

NGUYÊN SA

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Võ Tá Hân phổ nhạc thành bài hát cùng tên.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Nguyên Sa (1/3/1932 - 18/4/1998) tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn Việt Nam nổi tiếng từ thập niên 1950, với những tác phẩm nổi danh như Áo lụa Hà Đông, Paris có gì lạ không em, Tuổi mười ba, Tháng sáu trời mưa, v.v...

Tổ tiên Nguyên Sa gốc ở Thuận Hoá (Huế), ông cố ông là Thượng thư Trần Trạm, giữ chức Hiệp tá Đại học sĩ trong triều đình thời Tự Đức, đến đời ông nội mới ra Hà Nội. Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, gia đình ông tản cư đi Hà Đông. Tại đây, ông bị Việt Minh bắt giam khi mới 15 tuổi. Hồi cư về Hà Nội, gia đình cho ông qua Pháp du học vào năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài ở Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Đại học Sorbonne. Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này. Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thuý Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà về nước. Năm 1975, ông di tản đi Pháp. Ba năm sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và ở California từ đó cho tới ngày qua đời.

Nguồn: Thi Viện



NGƯỜI XƯA CÓ CÂU "ĐẠO TRỜI KỴ ĐẦY ĐỦ, ĐẠO NGƯỜI KỴ VẸN TOÀN", HÃY ĐỂ BẢN THÂN THIẾU 4 ĐIỀU SAU

Người xưa có câu: “Thiên Đạo kỵ mãn, nhân Đạo kỵ toàn”, nghĩa là “Đạo Trời thì kỵ đầy đủ, còn Đạo người thì kỵ vẹn toàn”. Dù một người có năng lực đến đâu cũng không nên đòi hỏi sự hoàn hảo mà phải luôn cho phép mình hài lòng với 4 điều còn thiếu.

Người xưa có câu “Đạo Trời kỵ đầy đủ, đạo người kỵ vẹn toàn”, hãy để bản thân thiếu 4 điều sau. (Nguồn ảnh: Tranh vẽ tay Zhiqing/Look at China)

Đầu tiên, đừng nói hết mà hãy để lối cho người khác

Trương Đại Thiên vẽ một bức tranh ve sầu trên cành liễu xanh, trên bức họa chỉ có một chú ve sầu lớn bò trên nhành liễu, đầu chú ve chúc xuống, ở tư thế chuẩn bị bay.

Tề Bạch Thạch ngắm bức họa, nói với Trương Đại Thiên: “Đại Thiên tiên sinh, bức tranh này vô cùng truyền thần. Nhưng trước đây khi vẽ ve, tôi từng thỉnh giáo một người nông dân.

Theo lời người nông dân thì đầu con ve đều hướng lên, cực kỳ ít trường hợp chúc xuống. Tất nhiên, đây cũng chỉ là lời nói một phía của bác nông dân đó, tôi cũng chưa từng tận mắt chứng kiến, cũng không chắc là chính xác.”

Trương Đại Thiên nghe xong, nhân cơ hội đến núi Thanh Thành phác họa, ông chạy ra ngoài quan sát cẩn thận, phát hiện ra quả nhiên ve trên cây đầu đều hướng lên trên.

Sau này, ông kể cho Tề bạch Thạch về sự quan sát của mình, Tề Bạch Thạch cười bí hiểm, nói: “Tôi cũng từng quan sát thấy vậy.”

Lúc đó, Trương Đại Thiên bỗng hiểu, hóa ra Tề Bạch Thạch đã sớm biết ông sai, nhưng nghĩ tới sự tự tôn của ông mới lấy lý do nghe được từ miệng một người nông dân.

Tề Bạch Thạch tìm ra lỗi của Trương Đại Thiên, giả mượn lời nói của người nông dân để chia sẻ, và thể hiện mình cũng không rõ đúng sai, xin ý kiến Trương Đại Thiên, nhằm giữ thể diện cho ông.

Nếu nói quá mạnh, bạn có thể bị đánh vào mặt hoặc mang lại tai họa. Thà khiêm tốn và không phô trương, coi mình kém cỏi còn hơn là nói quá gay gắt.

Thứ hai, làm người phải thiếu sự kiêu ngạo

Người xưa có câu: “Mãn chiêu tổn, khiêm thụ ích”, nghĩa là tự mãn chiêu mời tai họa, khiêm tốn thì được hưởng lợi.

Người ta kể rằng, Lỗ Hoàn Công là một vị vua rất kiêu ngạo, vì kiêu ngạo nên ông thường mắc sai lầm, do vậy ông đã làm một chiếc chai và đặt nó bên cạnh ngai vàng. Cái chai này có một tính năng đặc biệt là khi trống, nó sẽ bị nghiêng. Nếu đổ đầy một nửa nước hoặc rượu thì nó sẽ đứng thẳng, nhưng khi đã đầy thì nó sẽ tự động lật lại và đổ ra ngoài. Vì thế người ta nói: “Ít nước thì nó sẽ nghiêng, ở giữa thì đứng thẳng, đầy thì lật úp”. Lỗ Hoàn Công dùng lời này để tự cảnh cáo mình rằng đừng tự mãn, nếu không sẽ bị lộn nhào. 

Thứ ba, con người cần thiếu một chút thông minh

Tô Đông Pha từng viết một bài thơ: “Mọi người đều nuôi dạy con trai mình với hy vọng thông minh, nhưng tôi đã bị lừa dối cả đời”.

Mọi người đều muốn thông minh, nhưng thông minh không có nghĩa là trí huệ. Trong lịch sử từ xưa đến nay hay trong cuộc sống đời thường của chúng ta, có biết bao người vì tự cho mình là “quá thông minh” mà nhận phải thất bại thảm hại hay những bài học nhớ đời.

Làm người phải thiếu sự kiêu ngạo (Nguồn ảnh: Minh họa vẽ tay Zhiqing/Look at China)
 
Thứ tư, cảm xúc của con người nên trống rỗng

Chúng ta đang sống trong một thời đại đầy căng thẳng và vô số bi kịch tình cảm liên tục xảy ra. Đôi khi một sự bộc phát cảm xúc nhỏ cũng có thể nghiền nát hoàn toàn một con người.

Để lại một khoảng trống cho cảm xúc và không để cảm xúc chi phối mình là sự khôn ngoan mà mỗi người trưởng thành nên có.

Cuộc sống thường không như ý. Trên đời không có người nào thực sự hoàn hảo, cũng không có cuộc sống nào thực sự viên mãn, cho phép những thiếu sót nhất định trong cuộc sống là trạng thái tốt nhất của cuộc sống.

Đăng Dũng biên dịch
Theo: vandieuhay

ĐIỀU GÌ QUAN TRỌNG KHI DÂNG LỄ BÁI PHẬT, CÚNG THẦN LINH?

Có phải lời nguyện cầu nào cũng sẽ thành sự thực? Có phải cứ mâm cao cỗ đầy dâng lễ bái Phật thì sẽ được gia hộ? Chúng ta vẫn biết thực tế không phải vậy, đôi khi còn ngược lại. Bởi Thần Phật chỉ nhìn nhân tâm, không nhìn tài vật hay hình thức biểu hiện bên ngoài. Vậy điều gì quan trọng nhất khi lễ bái Thần linh? Người như thế nào mới được Thần Phật gia hộ?

Thần Phật chỉ xét nhân tâm chứ không nhìn hình thức (ảnh chụp màn hình Istockphoto).

Chuyện bà lão nghèo dâng đèn bái Phật

Chuyện kể rằng, một thời Đức Phật ở nước La Duyệt Kỳ tại núi Kỳ Xà Quật. Lúc bấy giờ vua A Xà Thế thỉnh Đức Phật dự lễ trai tăng trong hoàng cung.

Sau khi thọ trai, Đức Phật trở về tịnh xá Kỳ Hoàn, vua bèn hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta thỉnh Phật thọ trai xong, nay không biết nên làm gì?”

Kỳ Bà nói: “Ngài nên đem nhiều đèn đến để cúng dường Phật”. Nghe vậy, nhà vua liền sai chở một trăm thùng dầu về tịnh xá Kỳ Hoàn.

Trong vùng có một bà lão nhà rất nghèo, bà có tâm chí thành muốn cúng dường Đức Phật mà không có tiền. Thấy vua A Xà Thế làm công đức, bà rất lấy làm cảm kích. Bà xin được 2 đồng tiền, liền mang đi mua dầu.

Chủ hàng hỏi: “Bà nghèo khổ thế, xin được hai đồng tiền, sao không mua đồ ăn mà lại mua dầu?”.

Bà lão đáp rằng: “Tôi nghe nói để gặp được Đức Phật là rất khó, vạn kiếp mới được một lần. Tôi nay may mắn được sinh vào thời Đức Phật truyền Pháp, mà chưa có dịp cúng dường. Ngày nay tôi thấy nhà vua làm việc đại công đức, tôi tuy cùng khổ cũng muốn cúng dường ngọn đèn để làm căn bản cho đời sau”.

Lúc bấy giờ người chủ quán cảm phục chí nguyện của bà lão, liền đong cho thêm 3 đồng tiền thành được 5 đồng tiền dầu. Bà đến trước Đức Phật thắp đèn lên, tự nghĩ dầu thắp không quá nửa đêm là sẽ cạn.

Bà lão nghèo dâng đèn cúng dường Đức Phật (ảnh chụp màn hình Istockphoto).

Một lòng thành kính Đức Phật

Bà phát nguyện rằng: “Con không có gì cúng dâng Phật, ngoại trừ cây đèn nhỏ này. Nhưng do sự cúng dường này, mong cho con đời sau có trí tuệ. Mong cho con giải thoát thế nhân hữu tình ra khỏi bóng tối ngu si. Mong cho con tịnh hóa tất cả những xú uế chướng ngại của họ, và đưa họ đến giải thoát.”

Đêm ấy tất cả các ngọn đèn của nhà vua cúng dường có ngọn tắt, có ngọn đỏ, tuy có người săn sóc nhưng không được chu toàn. Riêng ngọn đèn của bà lão thì chiếu sáng hơn các ngọn đèn khác; suốt đêm không tắt, dầu lại không hao.

Đến lúc bình minh, ngọn đèn của bà lão vẫn tiếp tục cháy. Khi tôn giả Mục Kiền Liên đi thâu lại những cây đèn, trông thấy ngọn đèn nhỏ còn cháy sáng; đầy dầu và bấc vẫn mới. Ngài nghĩ: “Không lý gì để cho cây đèn này vẫn cháy vào ban ngày”, nên đã thổi tắt nó; nhưng ngọn đèn không tắt. Ngài lấy tay bóp, lấy y phục chụp lên mà nó vẫn tiếp tục cháy sáng.

Tâm sáng trong cũng như ngọn đèn bất diệt

Đức Phật đã quan sát việc này từ đầu, Ngài nói: “Mục Kiền Liên, có phải Thầy muốn dập tắt ngọn đèn ấy không? Thầy không làm được đâu. Cho dù Thầy đem nước của bốn biển tưới lên cây đèn này, nó vẫn không tắt được. Vì cây đèn này đã được đốt lên để dâng cúng với tất cả niềm sùng kính, và với tâm trí thanh tịnh. Chính động cơ ấy đã làm cho nó có công đức vô lượng.”

Khi Đức Phật nói lời này thì bà lão đi đến chỗ Ngài. Đức Phật thọ ký cho bà trong tương lai sẽ thành Phật.

Vua A Xà Thế nghe chuyện liền hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta làm công đức rộng lớn như vậy mà Đức Phật không thọ ký cho ta thành Phật; còn bà lão kia chỉ thắp một ngọn đèn mà được thọ ký là cớ làm sao?”

Kỳ Bà đáp rằng: “Ngài cúng đèn tuy nhiều mà tâm không chuyên nhất; không bằng được tâm thuận thành, tôn kính tuyệt đối của bà lão kia đối với Đức Phật”.

Hàng vạn ngọn đèn cũng không bằng một ngọn đèn nhỏ được thắp bởi lòng tôn kính tuyệt đối (ảnh: Tinh Hoa).

Thần Phật chỉ xét nhân tâm, không nhìn hình thức

Như chúng ta đã biết, trước khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vào rừng tu khổ hạnh, Ngài là Thái tử Tất Đạt Đa, con trai vua Tịnh Phạn. Chốn cung vàng điện ngọc không thể mang cho Ngài niềm vui trọn vẹn; đau khổ của người dân và sinh lão bệnh tử của vạn vật khiến Ngài luôn trăn trở và cũng là lý do thúc đẩy Ngài ra đi tìm đạo giải thoát.

Ngài đã từ bỏ cuộc sống xa hoa và danh vọng để đi tìm chân lý. Chỉ những người chân tâm cầu đạo mới có thể quy y theo Ngài. Vậy lẽ nào ngày nay con người không cầu đạo, chỉ muốn sống sung sướng, liền trưng mâm dọn cỗ, hoặc bỏ chút tiền cúng dường công đức thì có thể đắc phúc báo rồi sao? Chỉ e là phúc báo không đắc được mà còn đắc tội; bởi vì dám dùng vật chất của con người để ‘mua’ lấy từ bi của Thần Phật.

Thần Phật độ nhân chỉ xét nhân tâm, không phân giai cấp, màu da, không nhìn hình thức; càng không xét đến tiền tài danh vọng của người cầu cúng. Phật Pháp vô biên, càng tìm hiểu càng thấy mình nhỏ bé giữa biển từ bi bao la của Thần Phật. Tìm hiểu nhiều về Phật Pháp, con người có thể tự mình đánh thức thiện tâm; tiếp cận chân lý và sẽ biết được mình nên làm gì, cần làm gì.

Hàng vạn ngọn đèn cũng không bằng một ngọn đèn nhỏ được thắp bởi lòng tôn kính tuyệt đối. Những mâm cỗ dẫu không mấy linh đình vẫn sẽ cảm động Thần linh nếu cái tâm người dâng cỗ đầy ắp lòng thành kính.

Chuyện cúng bái lễ Phật ngày nay

Ngày nay còn mấy ai cầu Phật để xin một con đường giải thoát? (ảnh: Tinh Hoa).

Ngày nay đi chùa bái Phật thử hỏi còn mấy ai cầu xin Phật một con đường tu luyện để giải thoát?

Người xưa bái Phật cầu kinh, ngày nay con người bái Phật để cầu tình duyên, cầu tài lộc, cầu thăng quan tiến chức, cầu con trai nối dõi… Người vô sự nhất cũng cầu sức khoẻ, bình yên cho bản thân và gia đình.

Trước nơi chánh điện trang nghiêm thần thánh, mấy ai còn tin rằng mọi chuyện trên đời đều do duyên nợ và nhân quả; tin vào thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo; chứ không phải chỉ buông lời cầu nguyện rồi đợi chờ may mắn tìm đến, đợi chờ phúc lành Thần Phật ban cho.

Cúng Thần linh ngày nay chỉ còn là thông lệ, đến ngày nào thì cúng vị Thần nào; mâm cỗ gồm những gì, văn khấn đọc ra sao… Ai ai cũng làm răm rắp theo khuôn mẫu. Nhưng “cúng để làm gì”, “Thần linh có thật hay không” mấy ai còn biết rõ?

Tấm lòng thành kính phải xuất phát từ bên trong

Đi đôi với thành công và thất bại là tự hào và ca thán. Trước mọi thành bại của cuộc đời, chúng ta thường được chứng kiến những cung bậc cảm xúc thăng trầm muôn màu muôn vẻ, nhưng có vài điểm chung:

Những người thành tựu thắng lợi sẽ hào hứng thuyết về năng lực của bản thân. Nhưng trong số họ, có mấy ai nhớ đến việc cảm ơn Thần Phật vì sự gia hộ của các Ngài?

Những người thất bại thường ca thán số phận; thậm chí lớn tiếng trách Trời vì sao không công bằng với họ. Có mấy ai nghĩ rằng có lẽ công việc mình làm chưa đủ tốt; hay mình đã làm điều gì sai trái nên đã mất đi sự gia hộ của Thần Phật?

Tấm lòng thành kính phải xuất phát từ sâu bên trong chứ không phải ở hình thức bên ngoài. ‘Trên đầu ba thước có Thần linh’, Thần Phật luôn nhìn thấu mọi việc trên thế gian; chúng ta không nên cứ mãi tự lừa mình dối người, mong cầu những thứ hữu vi rồi cũng tan biến như bong bóng xà phòng; chỉ có sự chân thành mới cảm động được trời đất và được Thần Phật gia hộ; không cầu mà tự đắc.

Tiểu Khiết Sa / Theo: nguyenuoc

Friday, July 24, 2026

HỌC TRÒ GIỎI KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI THÔNG MINH, AM HIỂU VÀ THUỘC BÀI NHẤT

Có một lời khen mà bậc thầy của các vị thầy năm xưa dành cho học trò mình tới nay vẫn còn nguyên giá trị…


Ngày nay mọi người thường xuyên tức giận với nhau, và thường coi cái đấy là một việc bình thường, vì thế nên ai cũng sẵn sàng đẩy những bực tức đó sang người khác để giải tỏa nộ khí đang ngùn ngụt trong lòng của mình.

Những kiểu người này trong công việc chúng ta gặp rất nhiều, có những người ra ngoài bị khách hàng mắng, hoặc bị lãnh đạo công ty phê bình, khi quay lại chỗ ngồi lập tức vứt đồ, đập bàn chửi người khác… Bản thân mình không vui, sao lại làm ảnh hưởng tới không khí, môi trường chung, làm tổn thương người khác. Đồng thời làm cho sự việc thêm phức tạp, làm cho tâm can của mình không thể bình tĩnh trở lại. Tại sao cứ phải đẩy tức giận sang người khác?

Khổng Tử và các học trò. (Ảnh: Epochtimes.com )

Xem lại tích xưa để thấy, những tính nết như vậy quả là đáng hổ thẹn. Nhan Hồi là một học trò cưng của Khổng Tử, có lối sống giản đơn, thanh đạm giống như Khổng Tử. Họ sống cuộc sống hết sức bình dị. Nhưng tiếc thay, Nhan Hồi đã qua đời khi chưa tới 30 tuổi, khiến Khổng Tử vô cùng thương xót.

Khi vị vua thứ 27 của nước Lỗ là Lỗ Ai Công hỏi Khổng Tử ai là học trò giỏi của ông? Khổng Tử trả lời: “Nhan Hồi là trò giỏi, trò này không cáu giận với người khác, khi mắc lỗi không bao giờ tái phạm, nhưng tiếc thay trò đã qua đời sớm”.

Nhan Hồi. (Ảnh: Public Domain )

Qua câu trả lời đó, Khổng Tử đã khẳng định rằng sự yêu quý của ông đối với học trò là vì tính tình điềm đạm, không nổi cáu với người khác, không lặp lại lỗi khi đã nhận ra, chứ không phải vì anh ta thông minh, hiểu biết xuất chúng. Nói cách khác, cái mà Khổng Tử thấy nổi trội ở học trò chính là những gì họ vận dụng được sau khi đọc sách, học chữ chứ không phải lý thuyết mà ai cũng có thể học được.

Không phẫn nộ với người khác trước tiên đã là tự tu luyện bản thân, đã tự đối đãi tốt với bản thân bởi cảm xúc của mình là do mình khống chế. Sau đó thì chính là đối tốt với người khác vì đã không làm tổn thương họ, vô lối, vô lý với họ. Thế nên kiềm chế tốt, chính là vừa tốt cho mình vừa tốt cho người, lại thể hiện được rằng mình đã thấm nhuần đạo học mà thực hành thành thục.

Người xưa nhìn người đã vậy, chẳng nhẽ chúng ta nay lại không thể học theo. Làm người, hơn người khác không phải ở chỗ biết nhiều, hiểu rộng, mở mồm là đã có lý lẽ thuyết phục; cũng không phải ở việc ai thành công và ít mắc lỗi lầm hơn. Mà đơn giản là ở việc bạn thể hiện đạo lý ra ở ngay chính những hành động nhỏ bé của mình hàng ngày như thế nào. Đánh giá người có giáo dưỡng và thông tuệ hay không, lại ở những việc giữ gìn tâm tính, cử xử có lễ nghĩa và biết sửa mình sau những lần thất bại, mắc lỗi lầm hay không.

Theo: Forhuaren

HIỂU CHƯƠNG ĐẦU CỦA ĐẠO ĐỨC KINH ĐỂ NHÌN LẠI CHÍNH MÌNH

Trong nhịp sống gấp gáp hôm nay, chúng ta quen với việc chạy theo mục tiêu, bị cuốn vào vòng xoáy của danh lợi và những tiêu chuẩn do xã hội đặt ra. Ai cũng muốn chứng minh giá trị của mình, muốn sống một cuộc đời “đúng chuẩn”, nhưng càng cố gắng đuổi theo, con người lại càng dễ đánh mất sự bình yên bên trong. Sự tiêu hao không đến từ lao động, mà đến từ việc tâm trí luôn bị kéo căng giữa mong cầu và thực tại.


Từ hơn hai nghìn năm trước, Lão Tử đã mở đầu Đạo Đức Kinh bằng một câu nói tưởng chừng đơn giản nhưng lại chứa đựng chiều sâu vô hạn:

“Đạo khả đạo, phi thường đạo; danh khả danh, phi thường danh.”

Câu nói này không phải để làm khó người đọc, mà để chỉ ra một điều căn bản: chân lý tối thượng của vũ trụ không thể bị giới hạn trong ngôn từ, cũng như bản chất cuộc sống không thể bị đóng khung trong những định nghĩa cố định.

“Đạo” ở đây là quy luật vận hành của vạn vật, là bản nguyên của tồn tại – thứ chỉ có thể cảm nhận chứ không thể diễn tả trọn vẹn. Còn những gì chúng ta có thể gọi tên, có thể định nghĩa, đều chỉ là một phần rất nhỏ, tạm thời và phiến diện.

Thế nhưng, con người lại quen sống dựa vào những “danh” ấy. Chúng ta định nghĩa thành công là phải có tiền, có địa vị; định nghĩa hạnh phúc là phải đủ đầy vật chất, gia đình viên mãn. Những khuôn mẫu này dần trở thành áp lực vô hình, khiến chúng ta không còn sống theo chính mình, mà sống theo những gì người khác cho là đúng.

Trong khi đó, cuộc sống vốn không có một đáp án duy nhất. Có người thích sự sôi động nơi phố thị, có người lại tìm thấy bình yên trong một góc nhỏ giữa thiên nhiên. Có người theo đuổi sự nghiệp rực rỡ, có người chỉ mong một đời giản dị mà an ổn. Khi còn bám chặt vào “danh”, con người rất khó nhìn thấy bản chất thật của đời sống.

Lão Tử tiếp tục nói:

“Vô, danh thiên địa chi thủy; hữu, danh vạn vật chi mẫu.”

“Vô” là khởi đầu của trời đất, là trạng thái nguyên sơ, tĩnh lặng và không vướng bận. “Hữu” là nơi vạn vật hình thành, là thế giới của hiện hữu, của những điều cụ thể và hữu hình.

Ảnh internet.

Đặt trong đời sống con người, “Vô” chính là nội tâm thanh tịnh ban đầu, còn “Hữu” là những ham muốn, những ràng buộc mà ta tích lũy theo năm tháng.

Nỗi mệt mỏi của người hiện đại phần lớn bắt nguồn từ việc quá nghiêng về “Hữu” mà quên mất “Vô”. Chúng ta luôn muốn nhiều hơn: nhiều tiền hơn, nhiều thành tựu hơn, nhiều sự công nhận hơn. Nhưng càng có, lại càng lo mất; càng đạt được, lại càng sợ không giữ được. 

Trong khi đó, chính “Vô” trạng thái buông bỏ, trống rỗng, mới là nền tảng để con người hồi phục và cân bằng. Một chiếc cốc chỉ có thể đón thêm nước khi nó còn chỗ trống; một tâm hồn chỉ có thể nhẹ nhõm khi biết đặt xuống.

“Cho nên thường vô, dục dĩ quan kỳ diệu; thường hữu, dục dĩ quan kỳ kiếu.”

Đây là cách Lão Tử chỉ ra con đường sống hài hòa: khi giữ được trạng thái “Vô”, con người có thể nhìn thấy bản chất sâu xa của sự vật; khi sống trong “Hữu”, con người có thể cảm nhận được vẻ đẹp phong phú của cuộc đời.

Nói cách khác, không phải chọn một bỏ một, mà là học cách cân bằng giữa nhập thế và xuất thế, giữa nỗ lực và buông bỏ.

Ảnh internet.

Con người không thể tách rời cuộc sống thực tại, cũng không thể hoàn toàn từ bỏ dục vọng. Điều quan trọng là giữ được chừng mực. Làm việc hết mình nhưng không để bản thân bị cuốn vào áp lực. Sống giữa thế gian nhưng không để lòng mình bị nhiễu loạn.

Dù bận rộn đến đâu, cũng cần có khoảng lặng để quay về với chính mình. Dù đối diện với bao nhiêu biến động, cũng nên học cách giản lược những ham muốn không cần thiết.

Nhìn lại, nhiều người sống trong mệt mỏi không phải vì thiếu thốn, mà vì mong cầu quá nhiều. Chúng ta muốn kiểm soát mọi thứ, muốn mọi việc diễn ra theo ý mình, nhưng cuộc đời vốn biến đổi không ngừng.

Càng chấp vào kết quả, càng dễ bị kết quả chi phối; càng theo đuổi sự hoàn hảo, càng dễ bị những điều chưa trọn vẹn làm tổn thương.

Lão Tử nói: “Thử lưỡng giả đồng xuất nhi dị danh, đồng vị chi huyền…”

“Vô” và “Hữu” tuy khác tên nhưng cùng một nguồn, đều là biểu hiện của Đạo. Chính sự huyền diệu đó tạo nên muôn hình vạn trạng của thế gian. Trí huệ không nằm ở việc lựa chọn một phía, mà nằm ở khả năng dung hòa hai phía. Không cần quá bận tâm được -mất, thành – bại.

Được thì trân trọng, mất thì buông xuống. Khi cần nỗ lực thì dốc sức, khi cần nghỉ ngơi thì thả lỏng. Chấp nhận sự không hoàn hảo của cuộc sống cũng là một dạng trưởng thành.

Ảnh internet.

Thực ra, chương đầu của Đạo Đức Kinh không hề xa vời. Nó chỉ nhắc con người quay về điều đơn giản nhất: buông bớt chấp niệm, giữ tâm trong sáng, sống thuận theo tự nhiên. Trong một thời đại mà mọi thứ đều thúc ép con người phải nhanh hơn, nhiều hơn, thành công hơn, thì việc hiểu được điều này lại càng trở nên quan trọng.

Sống trong “Hữu”, hãy chăm chỉ vun đắp cuộc đời. Sống trong “Vô”, hãy nuôi dưỡng tâm hồn. Không vì có mà quá vui, không vì thiếu mà quá buồn. Giữ được sự cân bằng ấy, con người mới có thể bước qua những mỏi mệt tinh thần mà không đánh mất chính mình.

Và có lẽ, giữa chốn ồn ào của cuộc sống hiện đại, điều đáng quý nhất không phải là đạt được bao nhiêu, mà là vẫn giữ được một phần tĩnh lặng trong tâm, để sống một đời rõ ràng, nhẹ nhàng và tự tại.

Khai Tâm biên dịch / Theo: aboluowang