Sunday, February 8, 2026

MUỐN BIẾT ĐỨC VƠI ĐẦY HÃY NHÌN CHỮ NHẪN, MUỐN BIẾT PHÚC MỎNG DẦY NHÌN VÀO SỰ ĐỘ LƯỢNG

Cổ nhân có câu rằng: “Quan đức ư nhẫn, quan phúc ư lượng”. Nghĩa là, muốn biết đức hãy nhìn chữ Nhẫn, muốn biết phúc hãy nhìn sự độ lượng.


Muốn biết đức vơi đầy, hãy nhìn chữ Nhẫn

Muốn biết một người có đức hạnh hay không thì nhìn xem người ấy có khả năng nhẫn không. Chữ “Nhẫn” hàm chứa ý vị sâu xa, nội dung bao phủ cũng rất toàn diện. Phải nhẫn điều gì đây? Ví như đối diện với lợi ích trước mắt bạn có thể nhẫn mà không tham không, thấy lợi thì có nghĩ tới nghĩa hay không? Nếu không phù hợp với đạo nghĩa thì bạn có thể nhẫn được mà không tranh giành hay không? Đây chính là biểu hiện của đức hạnh.

Khi diện kiến mỹ sắc, bạn có thể nhẫn mà không tham luyến ái dục, không phóng túng hành vi của mình hay không? Đây cũng là biểu hiện của đức hạnh.

Có người phỉ báng, không hiểu bạn, phê bình bạn, oán hận bạn, bạn có thể nhẫn mà không tranh biện với họ hay không? Bạn có thể không đả kích, báo thù, không kéo bè kéo cánh không? Đây cũng là biểu hiện của đức hạnh.

Vậy nên cổ nhân mới nói rằng: “Mọi pháp đều đắc được nhờ nhẫn”, tức là xem bạn gặp lúc khó nhẫn có thể nhẫn được hay không. Khi nghèo khó bạn có thể nhẫn chịu được cuộc sống bần hàn, tự lực tự cường mà gây dựng tương lai sau này hay không? Khi gặp chuyện như ý, khi được người người mến yêu, liệu bạn có thể nhẫn được mà không sinh tâm hoan hỷ, không tham luyến ái hay không? Đây cũng là biểu hiện đức hạnh của một người.

Cho nên dẫu trong thuận cảnh hay trong nghịch cảnh thì khảo nghiệm đều vô cùng nghiêm khắc. Đâu phải khi vạn sự đều như ý thì không còn gì có thể đề cao lên được. Hoàn cảnh thuận lợi cũng có thể mài mòn ý chí của con người, khiến con người phóng túng tình cảm, dục vọng của mình, tham thú hoan lạc, hưởng thụ kiếp người.

Nếu bạn có thể đối diện với những niềm hưởng lạc này mà không tham luyến ái dục thì đây cũng là biểu hiện của đức hạnh. Nhan Hồi, đệ tử của Khổng Phu Tử khi thỉnh giáo thầy rằng “Nhân” là gì, Khổng Tử đã trả lời: “Khắc chế bản thân theo Lễ là nhân” (Khắc kỷ phục lễ vi nhân).

Con người cần khắc chế dục vọng, tư lợi của bản thân để trở về với quy phạm của lễ, làm theo lễ tiết. Đây mới là đức hạnh, đây mới là biểu hiện của lòng nhân. Do đó, một người có đức hạnh hay không chỉ cần nhìn khi khó nhẫn họ có thể nhẫn được hay không.


Muốn biết phúc dày mỏng, hãy nhìn sự độ lượng

“Quan phúc ư lượng”, muốn xem một người có phúc khí hay không, sau này có phát triển không, chỉ cần xem tâm của họ có rộng lượng hay không. Người xưa có câu: “Lượng đại phúc đại”, nghĩa là tấm lòng đại lượng thì được phúc lớn.

Trong “Liễu phàm tứ huấn” giảng rằng, khi còn trẻ con đường quan lộ của Viên Liễu Phàm không thuận lợi lắm. Sau này ông tự phản tỉnh bản thân thì nhận ra rằng mình không thể dung nạp được người khác. Ông thường cho rằng người khác không xứng đáng và đã làm rất nhiều việc có lỗi với mình. Ông không thể khoan dung và tha thứ cho người khác là do tấm lòng không đủ độ lượng.

Tóm lại, cổ nhân có rất nhiều cách quan sát con người. Muốn quan sát đức hạnh của một người, điều quan trọng là cần suy ngẫm một cách toàn diện.

Trong cuốn “Yến Tử” viết rằng, khi Tề Cảnh Công thỉnh giáo Yến Tử về con đường cầu hiền tài, Yến Tử đáp lại rằng: “Thông tắc thị kỳ sở cử, cùng tắc thị kỳ sở bất vi, phú tắc thị kỳ sở phân, bần tắc thị kỳ sở bất thủ”.

“Thông tắc thị kỳ sở cử” nghĩa là, khi một người hanh thông, đắc chí thì xem họ giới thiệu người như thế nào, là người hiền đức hay là người họ kết bè kết đảng, hay họ hàng thân thích của mình.

“Cùng tắc thị kỳ sở bất vi” nghĩa là, khi nghèo khó, bất đắc chí thì xem việc mà họ làm ra sao. Người nghèo nhưng chí không ngắn. Mặc dù một người rất khốn cùng, nhưng những chuyện không phù hợp với đạo nghĩa cũng không nên giành lấy.

“Phú tắc thị kỳ sở phân” nghĩa là, khi họ giàu có, xem xem họ có chia sẻ với người nghèo khó hay không, có vui vẻ bố thí tiền tài hay không. Khổng Tử cũng nói rằng, dẫu một người tài hoa như Chu Công, nhưng lại ngạo mạn, bủn xỉn thì những phương diện còn lại không đáng được nhắc đến. Một người giàu sang không những không keo kiệt, mà còn vui vẻ bố thí tiền tài, nhân tài như vậy mới có chỗ hữu dụng.

“Bần tắc thị kỳ sở bất thủ” nghĩa là, một người rất nghèo, nhưng họ không tuỳ tiện chiếm đoạt tài vật của người khác, mà họ còn phải xét xem điều này có phù hợp với đạo nghĩa hay không.


Khi còn nhỏ gia cảnh của Phạm Trọng Yểm vô cùng nghèo khó nên ông theo học tại một ngôi chùa. Một hôm đột nhiên ông phát hiện trong sân có chôn một hũ vàng. Lúc đó cuộc sống của ông vô cùng cần kiệm, nghèo khó. Nhưng sau khi nhặt được hũ vàng, biết rằng số tiền này không thuộc về mình, ông lại chôn trở lại dưới gốc cây như cũ.

Sau này ông thi đỗ làm tể tướng, dưới một người mà trên vạn người. Câu chuyện này đã nói với chúng ta rằng những gì có trong số mệnh một người thì chẳng thể mất.

Sau khi Phạm Trọng Yểm lên làm tể tướng, vị phương trượng đã tìm tới hoá duyên vì muốn tu sửa lại ngôi chùa. Bởi ông từng học dưới ngôi chùa này, giờ lại làm tể tướng nên vị phương trượng mới tìm tới ông hoá duyên.

Phạm Trọng Yểm nói kỳ thực trong chùa đã có số tiền này rồi và nói cho vị trụ trì biết về hũ vàng chôn dưới gốc cây. Họ vừa đào lên quả nhiên thấy ngay. Do vậy mới nói, khi một người nghèo khó không tuỳ tiện lấy đồ không phải của mình, thì đó mới là người có phúc.

An Nhiên / Theo: ĐKN

VẢI - THỨC QUẢ QUÝ TỪ THỜI XA XƯA VÀ LỢI ÍCH BẤT NGỜ

Vải, tên khoa học Litchi chinensis, vốn là một loại quả truyền thống của Trung Hoa từ thời nhà Đường (618–907). Vải hấp dẫn bởi vị ngọt, mùi thơm, thịt quả mọng nước. Cây vải được trồng chủ yếu ở phía Nam Trung Quốc, sau lan sang Việt Nam, Thái Lan, Ấn Độ… rồi đến khắp thế giới.

Ảnh: HONG SON Pexels

I. Nguồn gốc vải

Vải gắn với những truyền tích lẫy lừng, những giai thoại về những bậc đế vương, những mỹ nhân thời xưa.

Dương Quý Phi, một trong tứ đại mỹ nhân thời Đường, được hoàng đế Đường Huyền Tông yêu chiều hết mực. Nàng chỉ thích vải, mỗi khi được dâng lên những quả vải tươi từ Lĩnh Nam, Dương Quý Phi luôn nở nụ cười rạng rỡ.

Sách Tư trị thông giám ghi lại: “Vải từ Lĩnh Nam truyền về kinh đô, mỗi dặm thay một con ngựa để luôn được tươi, chỉ để Quý Phi được hài lòng”.

Câu chuyện này minh chứng được vải luôn được xem như sản vật quý hiếm, sang trọng, biểu thị địa vị, quyền lực thời bấy giờ.

1.Vải có tác dụng dưỡng tâm, bổ máu, sinh tân dịch

Các tài liệu y học cổ truyền đều ghi nhận vải có vị ngọt, hơi chua, ôn (ấm), quy vào kinh Tỳ, Can, Tâm, với những công dụng:

Bổ Tỳ, dưỡng Tâm: Giúp hồi phục sức lực, bồi bổ máu.

An Thần, trấn Tâm: Giảm hồi hộp, lo lắng, khó ngủ.

Sinh Tân, chỉ khát: Giải khát, nhuận phế, sinh dịch.

Bản thảo cương mục (Lý Thời Trân) ghi:

“Vải bổ não, tiện tỳ, ôn trung, sinh tân dịch, nhuận khát, chỉ ho, trị tâm quý chính xung (tim hồi hộp), kiện tỳ, dưỡng can.”

II. Vải giàu dinh dưỡng, chất kháng oxy hoá

Các nghiên cứu hiện đại cũng chỉ ra vải chứa hàm lượng dinh dưỡng phong phú:

Vitamin C: Tăng sức đề kháng, giúp hấp thu sắt.

Polyphenol: Có khả năng kháng oxy hoá, bảo vệ tế bào khỏi tổn thương bởi gốc tự do.

Flavonoid (đặc biệt như rutin, quercetin): Giúp bảo vệ mạch máu, tim mạch, giảm viêm.

Một nghiên cứu đăng trên Journal of Functional Foods (2015) chỉ ra:

Vải chứa nhiều oligonol, một phức chất polyphenol, giúp cải thiện tuần hoàn máu, ức chế tích mỡ, bảo vệ gan, cũng như kiểm soát glucose trong máu.


1. Bồi bổ cơ thể, hồi sức lực

Vải giàu glucose, fructose, vitamin C, khoáng chất như kali, đồng… giúp hồi sức, tăng sức lực sau thời gian suy kiệt, ốm dậy hoặc lao động nặng.

Thầy thuốc Tôn Tư Mạc thời Đường cũng ghi:
“Vải ôn, nhuận, bồi bổ chính khí, hồi sức, nhuận da.”

2. An thần, cải thiện giấc ngủ

Vải chứa những chất an thần tự nhiên, giúp trấn tĩnh, cải thiện chất lượng giấc ngủ.
Y học truyền thống khuyên nếu khó ngủ, hồi hộp, lo lắng, bạn có thể ăn thêm một số quả vải hoặc uống nước vải để tìm lại được sự an tĩnh.

3. Dưỡng da, trẻ hoá, chống lão hoá

Vải chứa hàm lượng vitamin C, polyphenol, anthocyanin… — những chất chống gốc tự do, bảo vệ tế bào da, giúp da căng mịn, trẻ trung.
Các nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu Thực phẩm Thượng Hải (Shanghai) cũng khẳng định:

“Vải giúp tăng sinh collagen, cải thiện sức khoẻ da từ bên trong.”

4. Bảo vệ mạch máu, kiểm soát cholesterol

Flavonoid từ vải giúp mạch máu thêm dẻo dai, kiểm soát mức cholesterol xấu ( LDL ), qua đó phòng ngừa xơ vữa động mạch.

Một nghiên cứu của Pharmaceutical Biology (2015) chỉ rõ:
Vải chứa rutin, quercetin, catechin… những chất giúp thư giãn mạch máu, tăng tuần hoàn, bảo vệ sức khoẻ tim mạch.

5. Tăng sức đề kháng, phòng ngừa nhiễm khuẩn

Vải chứa hàm lượng vitamin C dồi dào (40mg/100g thịt quả), cùng với các chất kháng khuẩn, kháng viêm, giúp củng cố sức đề kháng, hoàn thành hàng rào bảo vệ cơ thể trước những mầm bệnh từ vi khuẩn, virus.


III. Những lưu ý khi sử dụng vải

Vải thật sự bổ dưỡng, nhưng nếu ăn nhiều hoặc sai thời điểm, cũng có thể ảnh hưởng sức khoẻ:
  • Vải chứa nhiều đường, nếu ăn quá nhiều, sẽ tăng glucose máu, không phù hợp với những người mắc diabetes hoặc béo phì.

  • Vải nóng, nếu hấp thụ vượt mức, sẽ sinh nội nhiệt, nóng trong, biểu hiện như mụn, lở miệng, táo bón…

  • Trẻ em nếu ăn vải lúc đang đói mà chưa ăn cơm, sẽ có nguy cơ hạ glucose máu (đây được ghi nhận tại Ấn Độ, nơi xảy ra dịch “hội chứng viêm não” ở trẻ em sau khi ăn vải chưa chín mà chưa lót dạ).
An Hậu Tổng hợp

NHẠC NGOẠI LỜI VIỆT: AI ĐÃ SÁNG TÁC NHẠC PHẨM "KHÚC TÌNH DỐI GIAN" ?

Sinh thời, Claude François nhờ đồng sáng tác nhạc phẩm « Comme d'habitude » (My Way) mà hơn nửa thế kỷ sau, con cháu của nam danh ca người Pháp vẫn sống dư dả nhờ tiền tác quyền. Một cách tương tự, Luis Gardey lúc đầu chọn nghề ca hát, nhưng sau đó lại thành công vượt trội nhờ sáng tác cho các nghệ sĩ khác. Bản nhạc nổi tiếng nhất của ông « Devaneos » từng được chuyển lời Việt thành « Khúc tình dối gian ».


Được phát hành vào năm 1981, giai điệu « Devaneos » hiểu theo nghĩa đen là những lời tán tỉnh, còn hiểu theo nghĩa bóng là lời gian dối của kẻ đa tình. Bản nhạc này trở nên rất nổi tiếng nhờ phiên bản ghi âm trong nhiều thứ tiếng của Julio Iglesias. Ông hoàng nhạc La Tinh thu bài này với tiểu tựa « O me quieres, o me dejas » hiểu theo nghĩa : yêu ta hoặc bỏ ta, chứ đừng đùa với con tim.

Về thân thế sự nghiệp, Luis Gardey sinh trưởng tại thị trấn Quintes, vùng Asturias, phía bắc Tây Ban Nha. Từ khi còn nhỏ, ông luôn nuôi mộng trở thành ca sĩ chuyên nghiệp, chỉ cần nghe vài lần một giai điệu, ông có thể hát lại thuộc lòng. Ông bắt đầu đi hát tại các quán nhạc năm ông 15 tuổi. Đến Madrid lập nghiệp, Luis Gardey (nhờ vào sự dìu dắt của hai người thầy là Raúl Matas và José Luis Pecker) bắt đầu xuất hiện thường xuyên trong chương trình Cadena Ser trên đài phát thanh thủ đô, bước đệm quan trọng cho nhiều ca sĩ trẻ thời bấy giờ. Năm 23 tuổi, Luis Gardey lần đầu tiên thực hiện được ước mơ của mình khi giành giải nhất cuộc thi hát nhân kỳ liên hoan ca khúc Duero, dành cho các tài năng mới đến từ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Quan trọng hơn nữa là giải Đĩa Vàng do Đài Truyền hình Quốc gia trao tặng vào năm 1966. Nhờ giải này, nhiều bài hát của ông Somos tu y yo, Yo que no vivo sin Ti cũng như Mi vida (phiên bản phóng tác của bài "Ma vie" của Alain Barrière) trở nên phổ biến tại châu Mỹ La Tinh từ đầu thập niên 1970.

"O Me Quieres O Me Dejas" (yêu ta hoặc bỏ ta, chứ đừng đùa với con tim), tiểu tựa của nhạc phẩm Devaneos. © Ảnh chụp màn hình

Trong giai đoạn khởi nghiệp, Luis Gardey đã có được những thành công bước đầu đáng kể, nhưng chính ông cũng không ngờ rằng trong thập niên sau đó, sự nghiệp của ông lại tăng thêm một bậc nhờ soạn nhạc cho các nghệ sĩ tên tuổi. Về giai thoại sáng tác bài hát « Devaneos », ông cho biết là đầu những năm 1980, ông đang bận đi diễn ở Trung Mỹ và ông dự định nghỉ ngơi một thời gian sau chuyến lưu diễn này. Phía hãng đĩa mới đề nghị với ông rằng, họ sẵn sàng thanh toán toàn bộ chi phí của kỳ nghỉ dưỡng, với điều kiện ông sáng tác nguyên một album gồm 10 ca khúc mới để phát hành vào đầu năm sau. Luis Gardey hoàn tất album này sớm hơn dự kiến và nhạc phẩm « Devaneos » được chọn làm ca khúc chủ đạo để quảng bá cho album.

Một cách rất tình cờ, giai điệu này lại lọt vào tai của Julio Iglesias. Ông hoàng nhạc tình La Tinh đã mua lại quyền phân phối bài hát cho thị trường Bắc Mỹ và châu Âu. Bản nhạc được đưa vào album phòng thu mang tựa đề "De Niña a Mujer", tập nhạc đầu tiên của Julio phát hành trên thị trường Hoa Kỳ. Nhân một buổi ăn trưa tại Mexico, Luis Gardey nhận được trước 100.000 đô la tiền bản quyền, còn tiền hoa hồng sẽ được trả sau, dựa vào doanh thu của việc bán đĩa.


Đó không phải là bài hát duy nhất mà Luis Gardey đã sáng tác cho Julio. Vào năm 1986, Julio Iglesias đã chọn một trong những sáng tác mới của ông làm ca khúc chủ đạo, mở đầu album « Libra ». Với tựa đề « Ni te tengo, ni te olvido » (Tim vẫn chưa có, mà hồn chưa quên) bài hát này giành lấy hạng đầu thị trường Tây Ban Nha và thị trường Hoa Kỳ trong hạng mục pop La Tinh. Trong tiếng Việt, bài này từng được phóng tác thành nhạc phẩm « Tình mãi đam mê » qua phần ghi âm của ca sĩ Hoàng Nam.

Thành công của nhạc phẩm Devaneos (tựa tiếng Pháp là Les dérobades) cho ra đời nhiều phiên bản phóng tác trong nhiều ngôn ngữ ăn khách trên thị trường quốc tế. Riêng trong tiếng Việt, bài này có ít nhất đến ba lời khác nhau. Lời thứ nhất « Khúc tình dối gian » là của tác giả Vũ Xuân Hùng. Lời thứ nhì mang tựa đề « Bài ca tình nhớ » là của tác giả Lữ Liên qua phần ghi âm của các danh ca Tuấn Ngọc hay Kasim Hoàng Vũ. Lời thứ ba « Và rồi nắng ra đi » là của nam ca sĩ Duy Hạnh.

Click để nghe: "Khúc tình dối gian - Ca sĩ Ngọc Lan"

Tuy trong đời, Luis Gardey đã sáng tác khá nhiều bài hát, nhưng ít có bài nào ăn khách bằng các bản ghi âm của Julio Iglesias. Với hơn 10 triệu đĩa được bán mỗi năm chỉ trong thập niên 1980, chính ông hoàng dòng nhạc La Tinh đã giúp cho các giai điệu sâu lắng êm đềm của tác giả Luis Gardey càng trở nên khó quên, tên tuổi ông được nhiều trái tim hâm mộ biết đến.

Tuấn Thảo
Theo: RFI Tiếng Việt



TIỀN LÌ XÌ NÊN PHÁT ĐẾN MẤY TUỔI THÌ DỪNG LẠI? ĐỪNG VƯỢT QUÁ MỐC ẤY, KẺO CẢ HAI BÊN ĐỀU NGẠI

Chớp mắt đã sắp đến Tết. Mỗi năm, khi đi chúc Tết họ hàng, câu chuyện về tiền lì xì luôn là đề tài không thể tránh khỏi. Năm ngoái, đồng nghiệp tôi – chị Vương đã rơi vào một tình huống khá ngượng ngùng chỉ vì phong bao đỏ. Cháu trai chị năm ấy đã 23 tuổi. Theo thói quen mọi năm, vừa gặp cháu, chị liền rút phong bao lì xì đưa ra. Nhưng ngay khoảnh khắc ấy, chị nhận thấy rõ vẻ bối rối hiện trên gương mặt cháu.


Lúc đó chị mới sực hiểu: cháu đã tốt nghiệp đại học, đã đi làm, thực ra không còn cần nhận tiền lì xì nữa.

Những tình huống như vậy không hề hiếm. Vì thế, mỗi dịp Tết đến, chuyện “có nên phát lì xì nữa hay không” lại khiến nhiều người lớn lúng túng. Ở phía bên kia, bọn trẻ cũng chẳng dễ chịu hơn: nhận thì thấy ngại, mà không nhận lại sợ mất lòng. Cảnh tượng ấy lặp đi lặp lại trong không ít gia đình, khiến bầu không khí vốn ấm áp của ngày Tết bỗng chen thêm chút gượng gạo khó nói thành lời.

Vậy rốt cuộc, tiền lì xì nên phát đến mấy tuổi thì hợp lý? Con cái đã học đại học, thậm chí đã đi làm, có còn cần lì xì nữa không?

Ý nghĩa ban đầu của tiền lì xì

Tiền lì xì xưa vốn gọi là “áp tuế tiền”, nghĩa là tiền để trấn áp tà khí, xua đuổi điều xấu. Tục này xuất hiện từ thời Hán. Khi ấy, người lớn xâu tiền đồng bằng dây đỏ, đặt dưới gối trẻ nhỏ với mong muốn trừ tà, tránh tai ương.

Dần dần, phong bao đỏ không chỉ mang ý nghĩa trừ họa, mà trở thành lời chúc phúc và sự quan tâm của người lớn dành cho con cháu trong dịp năm mới.

Hình ảnh minh hoạ: Ý nghĩa ban đầu của tiền lì xì

Theo truyền thống, tiền lì xì thường chỉ phát đến khi con cháu trưởng thành. Thời xưa, nam 20 tuổi làm lễ đội mũ, nữ 15 tuổi làm lễ cài trâm; ngày nay, mốc trưởng thành được quy ước chung là 18 tuổi.

Bởi vậy, ở nhiều nơi, tiền lì xì thường dừng lại khi con cháu tròn 18 tuổi. Dù còn đi học hay đã đi làm, qua mốc ấy thì không phát nữa. Ở vùng tôi sinh sống, hầu hết các gia đình đều theo tiêu chuẩn này: qua 18 tuổi, cơ bản không còn nhận lì xì.

Vậy tiền lì xì nên phát đến mấy tuổi là phù hợp?

Mỗi năm đến Tết, trên mạng lại rộ lên tranh luận về chuyện lì xì và độ tuổi dừng phát. Thực ra, do khác biệt vùng miền, tiêu chuẩn cũng không giống nhau. Tôi tìm hiểu thì thấy hiện nay có vài cách xác định phổ biến:

Thứ nhất, theo phong tục miền Nam: dựa vào việc đã kết hôn hay chưa.

Bạn bè tôi ở miền Nam nói rằng, chỉ cần chưa lập gia đình thì vẫn được nhận lì xì. Trong mắt người lớn, chưa cưới tức là vẫn còn “trẻ”, nên dù bao nhiêu tuổi cũng có thể nhận phong bao đỏ.

Một cô bạn tôi năm nay đã 30, thường bảo mỗi lần về quê ăn Tết là sợ nhận lì xì nhất. Xung quanh toàn trẻ nhỏ, còn mình là “phụ nữ lớn tuổi chưa chồng”, mỗi phong bao thường đi kèm câu hỏi: “Bao giờ lấy chồng?”. Dù không ai nói, bản thân cũng thấy ngại, nhưng phong tục là vậy, từ chối cũng khó, người lớn lại nhất quyết đưa.

Thứ hai, theo phong tục miền Bắc: dựa vào việc đã đi làm hay chưa.

Ở miền Bắc, nhiều nơi coi việc có thu nhập là ranh giới. Khi con cháu đã đi làm, có thể tự nuôi sống bản thân, thì không còn phát lì xì nữa.

Hình ảnh minh hoạ: Văn hoá lì xì

Tiêu chuẩn này nghe thì rõ ràng, nhưng trên thực tế lại dễ sinh ngại ngùng, vì có người đi làm sớm, có người đi làm muộn. Như trường hợp chị Vương kể trên, do không biết cháu đã đi làm, nên vẫn lì xì như mọi năm, khiến cả hai đều lúng túng.

Xét về lý, sau khi đã có thu nhập, việc tiếp tục nhận tiền lì xì quả thật cũng khó tránh cảm giác áy náy.

Thứ ba, văn hóa “lì xì” có nét rất riêng. Theo chia sẻ của nhiều người, số tiền thường không lớn, nhưng phạm vi phát lại rất rộng.

Ở đó, người đã kết hôn sẽ phát lì xì cho người chưa kết hôn. Chỉ cần chưa cưới, dù bao nhiêu tuổi vẫn có thể nhận phong bao đỏ. Điều họ coi trọng không phải số tiền, mà là ý nghĩa. Thường chỉ 5 tệ, 10 tệ một bao – đó là tấm lòng, không phải sự tính toán.

Khi nhận lì xì, không mở ngay tại chỗ, mà phải kèm lời chúc như “Cung hỉ phát tài” hay “Tân niên khoái lạc”. Nếu bạn nhận được phong bao nhỏ, đừng nghĩ là keo kiệt, mà hãy vui vẻ đón nhận tấm lòng giản dị ấy.

Suy cho cùng, tiền lì xì vốn là sự quan tâm và lời chúc phúc của người lớn dành cho con cháu, chứ không nằm ở số tiền nhiều hay ít, cũng không chỉ ở chuyện phát đến mấy tuổi.


Phong bao đỏ cất giữ trong đó sự lưu luyến và tình thân. Quan hệ ruột thịt thật sự sẽ không vì có hay không một phong bao mà thay đổi.

Chú ý đến phong tục của từng vùng, hiểu rõ mốc dừng phù hợp, sẽ giúp tránh những tình huống ngại ngùng không đáng có. Mỗi nơi có một cách, tốt nhất nên thuận theo tập quán địa phương mà quyết định, đừng cố vượt quá giới hạn ấy.

Bởi hương vị quý giá nhất của Tết, chưa bao giờ là số tiền trong phong bao đỏ, mà chính là những lời chúc bình an, là sự sum họp ấm áp giữa người thân và bạn bè.

Tiểu Hoa biên dịch
Theo: aboluowang

CÁI ĐẦU CÚI XUỐNG - CÁI CẰM HẤT LÊN

Trong đời mình, chắc ai cũng từng gặp hai kiểu người. Một kiểu, dù chưa nói câu nào, mình đã cảm thấy có một bức tường vô hình ngăn cách. Ánh mắt họ nhìn mình cứ như từ trên cao nhìn xuống.


Còn một kiểu khác, họ lặng lẽ, ăn nói nhỏ nhẹ, nhưng mình lại thấy muốn đến gần, muốn ngồi xuống kể cho họ nghe chuyện của mình.

Ông bà tôi thường nhắc con cháu câu này: ngạo mạn che mất mắt, khiêm nhường mở được lòng.

Câu này không phải để chỉ trích ai, tôi nghĩ, nó chính là bí quyết, là cách đối nhân xử thế cần học hỏi.

Nói cho dễ hiểu, ngạo mạn là một thứ bệnh của “cái tôi”. Là khi “cái tôi” của mình nó bị sưng lên. Mình bắt đầu tin rằng mình hay hơn người khác, mình biết nhiều hơn người khác, mình đáng được trọng vọng hơn người khác. Cái bệnh này không phải lúc nào cũng la lối ồn ào. Nó có khi chỉ là cái cằm hơi hất lên, là cái nhíu mày khi nghe ai đó có ý kiến khác mình, hay là nụ cười nửa miệng khi thấy ai đó lầm lỡ.

Cái ngạo mạn nó giống như một tấm vải đen, tự mình lấy che lên mắt mình. Che rồi thì không còn thấy đường nữa. Không thấy được cái lỗi của bản thân, nhưng lại rất tinh tường khi nhìn ra cái dở của người khác.

“Thiên ngoại hữu thiên, nhân ngoại hữu nhân”

Không thấy được rằng Trời ngoài kia còn cao, biển ngoài kia còn rộng, mà chỉ thấy cái thế giới nhỏ bé của mình là to nhất.

Người mà ngạo mạn, cái lòng họ chật lắm. Lòng đã chật thì không chứa thêm được nhiều, không dung thêm được ý kiến nào trái với mình. Họ giống như một cái ly đã đổ đầy nước, ai có muốn rót thêm trà quý vào, họ cũng gạt đi, vì sợ trà mới làm loãng thứ nước cũ của họ.

Đọc đến đây rồi, bạn có cảm thấy bị nhói ở tâm không? Bạn có cảm thấy bị động chạm không? Có oán trách người viết không? Chính là nó đang cất tiếng thông qua bạn đó!
 
Ngược lại hoàn toàn, là người khiêm nhường

Khiêm nhường không phải là tự ti, yếu đuối. Người khiêm nhường biết rất rõ giá trị của mình, nên họ không cần phải gồng mình lên để làm gì. Họ giống như rễ của cây cổ thụ, cứ âm thầm bám sâu vào lòng đất. Người ta chỉ thấy cái cây vững chãi, chứ ít ai thấy được bộ rễ đã làm việc vất vả thế nào.

Họ hiểu một cái lẽ rất tự nhiên: biển sâu thì tĩnh lặng, lúa chín thì cúi đầu. Càng biết nhiều, họ càng thấy mình chưa biết gì, không phải là cứ nói mình không biết gì là khiêm nhường, không thể giả vờ được.

Càng đi xa, họ càng thấy Trời Đất rộng lớn. Cái đầu của họ biết cúi xuống. Và chính cái cúi đầu đó lại khiến người khác phải ngước nhìn.

Ở gần một người khiêm nhường, tự nhiên lòng mình nó mở ra. Mình không sợ bị phán xét, không sợ bị chê bai. Mình thấy an toàn. Cái cảm giác an toàn đó quý hơn vàng, mà không trường lớp nào dạy được.


Các bậc Giác ngộ như Đức Phật, Lão Tử, hay các nhà hiền triết từ thời xưa đến nay, họ đều có chung một loại trạng thái như vậy, bạn sẽ luôn cảm thấy an toàn khi ở gần, tiếp xúc với họ, hành vi của họ tự nhiên sẽ khiến bạn muốn thay đổi bản thân, khiến bạn muốn tốt hơn, sự cao quý của họ sẽ làm bạn thức tỉnh. Chứ họ không giúp bạn bằng quát mắng, đây là điều mà chúng ta rất dễ mắc phải, đây cũng là sự phàm tục của một người.

Nói như vậy, không phải là người viết là cao thượng gì, ở đây muốn chỉ ra để tôi và bạn cùng hướng mắt về ánh sáng, về chuẩn mực, về thước đo thế nào là tốt. Khi chúng ta trở nên hoàn thiện bản thân, một cách tự nhiên ta sẽ có một số đức tính giống như Thánh Nhân. Con của cha mẹ thì ít nhiều cũng giống cha mẹ, lẽ nào lại giống người dưng?

Chỉ người đã từng trải qua sóng gió, từng biết mình nhỏ bé, từng âm thầm tu sửa chính mình, mới có được cái khí chất đó.

Có câu chuyện về chén trà rót mãi không đầy, chắc nhiều người đã nghe

Một học giả rất giỏi tìm đến một vị thiền sư. Ông nói không ngừng về kiến thức của mình. Vị sư chỉ im lặng rót trà. Trà đầy tràn ra bàn, ông vẫn cứ rót. Vị học giả hoảng quá la lên: “Thầy ơi, đầy rồi!”

Vị sư mới từ tốn nói: “Lòng ông cũng như chén trà này, đã đầy ắp chữ nghĩa và thành kiến rồi, thì làm sao tôi rót thêm Đạo vào được nữa?”

Cái ly nước đầy ấy, chính là lòng người ngạo mạn. Trí tuệ nhiều đến mấy mà không có chỗ trống để tiếp thu, thì cũng là một cái kho cũ kỹ.

Trong cách ăn ở với đời, người ngạo mạn thường tự đẩy mình vào chỗ cô đơn. Họ coi thường người khác, nên dần dần người khác cũng không muốn ở gần họ nữa. Họ nói một câu, người ta đã muốn bỏ đi. Họ giành được phần thắng trong một cuộc tranh luận, họ lại mất đi thêm một người bạn.

Người khiêm nhường, họ ít khi tranh cãi. Họ biết lùi lại một bước để trời yên biển lặng. Nhưng chính cái lùi đó lại làm người khác cảm thấy thân thương, muốn đến gần. Họ không nói nhiều, nhưng lời họ thốt ra lại có sức nặng. Đó mới là cái thắng lớn nhất, thắng mà không cần tranh, thắng bằng chính Đức độ của mình.



Sống rồi lại ngẫm, ta sẽ thấy

Cái tôi của mình là thứ ồn ào nhất, nhưng cũng là thứ mong manh, dễ vỡ nhất.

Sự ngạo mạn là cái hố được phủ bằng hoa thơm, mình cứ tưởng đang bước lên cao, ai ngờ lại đang đi xuống vực.

Còn sự khiêm nhường, nó lặng lẽ, âm thầm, nhưng nó là cái gốc, là nền móng. Nhà có thể xây cao bao nhiêu tùy thích, nhưng móng phải vững trước đã.

Hãy nhìn những người thật sự vĩ đại mà xem. Ai càng lớn, tâm lại càng tĩnh, dáng lại càng khiêm. Họ không cần cúi, nhưng họ lại chọn cúi xuống. Vì họ đủ cao để có thể cúi. Cái cúi xuống đó thể hiện một sức mạnh nội tâm phi thường, một lòng từ bi rộng lớn.

Cho nên, sống ở đời, hãy cứ giữ trong lòng một lời nhắc nhở: cái ngạo mạn làm mình thành kẻ mù giữa ban ngày, còn cái khiêm nhường lại giúp mình mở toang cánh cửa vào lòng người.

Hạ cái tôi của mình xuống, thì trí tuệ mới có chỗ để đi lên.

Cúi cái đầu của mình xuống, thì mới nhìn thấy được con đường dưới chân và không phải vấp ngã.

Và có lẽ, phần thưởng lớn nhất của sự khiêm nhường không phải là sự kính trọng của người khác, mà đầu tiên là sự bình an trong lòng mình. Khi lòng mình là một ngôi nhà rộng lớn, thênh thang, không còn bị “cái tôi” chiếm hết chỗ, thì hạnh phúc và an lạc mới có chỗ để bước vào.

Nguyên Tác An Hậu
Theo: vandieuhay

Saturday, February 7, 2026

CHIẾN TRANH KHỐC LIỆT GIỮA ẤN ĐỘ VÀ PAKISTAN: RA ĐỜI MỘT QUỐC GIA MỚI

Chỉ trong vỏn vẹn 13 ngày, một cuộc chiến ác liệt giữa Ấn Độ và Pakistan đã gây ra thương vong lớn và dẫn đến sự thành lập một quốc gia mới.

Ấn Độ nằm giữa Đông Pakistan và Tây Pakistan (phần màu xanh lá). Ảnh: The Indosphere

Những vết nứt không thể hàn gắn

Khi Ấn Độ và Pakistan tách khỏi Anh năm 1947, Pakistan được hình thành từ 2 vùng lãnh thổ cách biệt: Tây Pakistan (nay là Pakistan) và Đông Pakistan (nay là Bangladesh). Việc bị chia cắt bởi hơn 1.600km lãnh thổ Ấn Độ, cộng thêm khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ, đã khiến Đông Pakistan và Tây Pakistan nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc.

Trong khi chính quyền Tây Pakistan áp đặt tiếng Urdu làm quốc ngữ, người dân Đông Pakistan, chiếm đa số, lại sử dụng tiếng Bengal.

Tình hình trở nên căng thẳng hơn sau cuộc tổng tuyển cử năm 1970 tại Pakistan. Đảng Awami League, do ông Mujibur Rahman lãnh đạo, giành chiến thắng áp đảo ở Đông Pakistan, nhưng chính quyền Tổng thống Yahya Khan từ chối trao quyền lực. Điều này dẫn đến các cuộc biểu tình quy mô lớn đòi độc lập ở Đông Pakistan.

Theo Britannica, xung đột leo thang vào tháng 3/1971, khi Tổng thống Pakistan Yahya Khan ra lệnh trấn áp phong trào đòi độc lập của Đông Pakistan.

Cựu Tổng thống Pakistan Yahya Khan. Ảnh: Tv9 Hindi

Chiến dịch Operation Searchlight của quân đội Pakistan khiến hàng trăm nghìn người thiệt mạng, hàng triệu người phải chạy sang Ấn Độ lánh nạn, theo trang Britannica.

Bạo lực khốc liệt đã thúc đẩy phong trào giải phóng Đông Pakistan. Lực lượng Mukti Bahini, bao gồm dân thường và binh sĩ Pakistan đào ngũ, được thành lập để tiến hành chiến tranh du kích chống lại quân đội Pakistan. Ấn Độ, đối mặt với áp lực từ 10 triệu người tị nạn ở Đông Pakistan, cũng bắt đầu hỗ trợ ngầm cho Mukti Bahini, đặt nền móng cho sự can thiệp quân sự trực tiếp sau này.

Những diễn biến quyết định

Sau nhiều tháng hỗ trợ bí mật cho lực lượng Mukti Bahini của Đông Pakistan, Ấn Độ chính thức tham chiến ngày 3/12/1971, khi Pakistan mở chiến dịch không kích Operation Chengiz Khan nhằm vào các căn cứ không quân phía tây bắc Ấn Độ.

Tờ India Express dẫn lời Thủ tướng Indira Gandhi tuyên bố: “Đây là hành động khiêu chiến trắng trợn”. New Delhi lập tức đáp trả bằng một chiến dịch quân sự toàn diện, phối hợp chặt chẽ với lực lượng Mukti Bahini.

Chiến lược của Ấn Độ được xây dựng trên 3 mũi tấn công: trên bộ, trên không và trên biển.

Ở Đông Pakistan, quân đội Ấn Độ nhanh chóng giành ưu thế nhờ sự hỗ trợ của Mukti Bahini, lực lượng làm suy yếu quân đội Pakistan qua các cuộc phục kích và phá hoại.

Hải quân Ấn Độ thiết lập một cuộc phong tỏa biển, cắt đứt nguồn tiếp tế của Pakistan, trong khi không quân tiến hành các cuộc không kích vào các thành phố lớn như Lahore và Karachi, theo Indian Express.

Ở Tây Pakistan, các cuộc giao tranh diễn ra tại bang Punjab, Rajasthan (Ấn Độ) và Jammu và Kashmir (phần do Ấn Độ kiểm soát), nhưng trọng tâm của chiến dịch vẫn là Đông Pakistan.

Lực lượng ở Đông Pakistan bắt gián điệp năm 1971. Ảnh: Getty

Đỉnh điểm của cuộc chiến diễn ra vào giữa tháng 12/1971 khi quân đội Ấn Độ đã siết chặt vòng vây quanh Dhaka – "trái tim" của Đông Pakistan. Với ưu thế tuyệt đối về không quân và hải quân, Ấn Độ dội bom liên tục vào các vị trí phòng thủ, đồng thời phong tỏa đường tiếp tế từ biển.

Theo Indian Express, chiến thuật “blitzkrieg” (tấn công chớp nhoáng) được áp dụng triệt để: Quân Ấn bỏ qua các cứ điểm nhỏ, tập trung thọc sâu vào các mục tiêu then chốt, khiến lực lượng Pakistan bị chia cắt và mất khả năng phối hợp.

Trong tuyệt vọng, tướng A.A.K. Niazi – Tư lệnh Pakistan chiến đấu tại Đông Pakistan – liên tục gửi tín hiệu cầu cứu về Tây Pakistan. Theo India Today, một bức điện ngày 7/12/1971 của Thống đốc Đông Pakistan gửi Tổng thống Yahya Khan viết: “Hàng triệu người trung thành đang chờ chết… Nếu không có can thiệp quân sự trực tiếp từ đồng minh trong 48 giờ, hãy đàm phán đầu hàng”. Sau đó, các đồng minh của Tây Pakistan không có động thái nào.

Ngày 16/12/1971, khi quân Ấn tiến sát cổng thành Dhaka, tướng Niazi nhận tối hậu thư từ quân đội Ấn Độ: “Đầu hàng trong vòng 30 phút, hoặc chúng tôi sẽ tấn công”. Theo Al Jazeera, lúc 16h55p cùng ngày, trong một tòa nhà bị hư hại nặng ở Ramna Race Course (nay là Công viên Suhrawardy Udyan), tư lệnh Niazi ký “Văn kiện Đầu hàng” trước sự chứng kiến của hàng trăm phóng viên quốc tế.

Kẻ thắng, người thua và nỗi đau không lời

Tướng Khan Niazi của Pakistan ký văn kiện đầu hàng vào ngày 16/12/1971. Ảnh: AmrullahSaleh2

Việc tư lệnh Pakistan ký văn kiện đầu hàng chính thức chấm dứt cuộc chiến Ấn Độ - Pakistan năm 1971. Ngày 16/12/1971, Đông Pakistan tuyên bố độc lập, đổi tên là Bangladesh, chính thức trở thành quốc gia thứ 139 trên thế giới. Tuy nhiên, theo Al Jazeera, phải đến năm 1974, Pakistan mới công nhận nền độc lập của Bangladesh sau áp lực quốc tế.

Theo trang Britannica, Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) ước tính, hơn 3.500 binh sĩ Ấn Độ và khoảng 5.000 binh sĩ Pakistan đã thiệt mạng, cùng hàng chục nghìn người bị thương trong cuộc chiến. Con số này chưa tính đến thương vong thảm khốc cho dân thường, dao động từ 300.000 đến 3 triệu người. Ít nhất, 10 triệu người phải sơ tán.

Ấn Độ còn bắt giữ 93.000 tù binh Pakistan – con số đầu hàng lớn nhất kể từ Thế chiến II - và giam giữ suốt 3 năm.

Theo Al Jazeera, cuộc chiến Ấn Độ - Pakistan 1971 cũng được nhìn nhận khác nhau qua lăng kính của các quốc gia liên quan. Với Bangladesh, người dân nước này xem đây là cuộc đấu tranh giải phóng Đông Pakistan.

Với Ấn Độ, nước này kỷ niệm chiến thắng như một cột mốc lịch sử, được gọi là Vijay Diwas (Ngày Chiến thắng). Chiến thắng năm 1971 đã củng cố vị thế khu vực của Ấn Độ, nhưng cũng để lại những vấn đề như dòng người tị nạn ở bang Assam và mối lo về việc đối xử với 93.000 tù binh Pakistan.

Pakistan xem cuộc chiến 1971 là một thất bại nặng nề. Nhiều người Pakistan đổ lỗi cho Ấn Độ dẫn đến sự gia tăng thái độ chống Ấn Độ ở Pakistan.

Nguyễn Thái - (t/h)
Theo: Người đưa tin

MAI HOA - VƯƠNG AN THẠCH


Mai hoa

Tường giác sổ chi mai,
Lăng hàn độc tự khai.
Dao tri bất thị tuyết,
Vị hữu ám hương lai.


梅花 - 王安石

牆角數枝梅
凌寒獨自開
遙知不是雪
為有暗香來


Hoa Mai
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Góc tường có mấy cành mai.
Mặc cho giá lạnh, miệt mài trổ hoa.
Trông xa dáng tuyết mặn mà.
Mùi hương phảng phất, đậm đà trong đêm.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương An Thạch 王安石 (1021-1086) tự Giới Phủ 介甫, hiệu Bán sơn lão nhân 半山老人, người Phủ Châu, Lâm Xuyên (tỉnh Giang Tây ngày nay), là một nhà văn lớn thời Bắc Tống và cũng là nhà kinh tế, chính trị lỗi lạc trong lịch sử Trung Quốc. Ông đỗ tiến sĩ năm 1041. Năm 22 tuổi (1042), ông được bổ dụng làm trợ lý cho quan đứng đầu thủ phủ tỉnh Dương Châu. Năm 1047, ông được thăng tri huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang. Năm 1051, ông được sử đến Thương Châu làm Thông phán. Hết nhiệm kỳ này ông được điều về kinh đô. Năm 1057, ông làm tri châu Thương Châu, tỉnh Giang Tô. Năm 1058 ông lại được điều đi làm quan hình ngục Giang Đông, trông coi việc tư pháp và hành chính Giang Nam. Đến cuối năm này, sau 17 năm làm quan địa phương, ông đã viết một bài trình lên Tống Nhân Tông, nêu rõ các trì trệ hiện thời của Bắc Tống và nêu lên các biện pháp khắc phục, áp dụng tân pháp để cải cách chế độ kinh tế-xã hội, quân sự của nhà Tống nhưng thất bại do sự chống đối của các tầng lớp quan lại đương thời. Trải qua một thời gian dài hai đời vua Tống Nhân Tông và Tống Anh Tông, sau khi về chịu tang mẹ 3 năm ở quê nhà, ông ở lại đó và mở trường dạy học.

Nguồn: Thi Viện