Thursday, August 27, 2026

CÂU CHUYỆN LUÂN HỒI CỦA NGŨ TỔ THIỀN TÔNG HOẰNG NHẪN

Những ký ức được lưu lại từ tiền kiếp chính là hé lộ cho con người thế gian thấy được kiếp nhân sinh ngắn ngủi. Câu chuyện luân hồi của các nhà sư nổi tiếng đã được ghi chép lại trong sử sách. Một trong cũng câu chuyện đó là về vị tổ sư đời thứ 5 của Thiền tông hay thường gọi là ngũ tổ thiền tông Hoằng Nhẫn.

Nhân sinh ngắn ngủi, điều quan trọng là phải tìm ra được ý nghĩa của sinh mệnh (ảnh chụp màn hình learnreligions

Thiền tông được Bồ-đề-đạt-ma truyền qua Trung Quốc vào năm 520. Tương truyền rằng Bồ-đề-đạt-ma từng đến gặp Lương Vũ Đế để truyền Phật pháp nhưng thấy cơ duyên không hợp nên đến chùa Thiếu Lâm. Ông quay mặt vào vách ngồi Thiền hơn 9 năm để chờ người có duyên hỏi đạo. Theo sử sách ghi lại, có 6 vị tổ sư nổi tiếng của Thiền thông . Bồ Đề Đạt Ma, được tính là tổ sư đầu tiên của Thiền Tông Trung Hoa, gọi là Sơ Tổ. Nhị tổ là Đại sư Huệ Khả; tam tổ là Đại sư Tăng Xán; tứ tổ là Đại sư Đạo Tín; ngũ tổ là Đại sư Hoằng Nhẫn và Lục Tổ là Đại sư Huệ Năng.

Dưới đây là câu chuyện luân hồi của vị ngũ tổ thứ 5 của Thiền tông có tên là Hoằng Nhẫn.

Nhân duyên chuyển sinh của thiền sư Hoằng Nhẫn

Ngũ tổ Hoằng Nhẫn là người ở xứ Hoàng Mai, huyện Tầm Dương (nay là huyện Cửu Giang, tỉnh Giang Tây). Có thuyết nói Sư là người Kỳ Châu (nay là huyện Kỳ Xuân, tỉnh Hồ Bắc). Khi sư vừa sinh ra đã có dị tướng. Lúc Hoằng Nhẫn còn nhỏ, vị đại sư khi nhìn thấy ông đã khen rằng: “Đứa trẻ này chỉ kém Như Lai có bảy tướng”.

Ngũ tổ Thiền Tông Hoằng Nhẫn cũng có một đoạn nhân duyên chuyển sinh khá nổi tiếng. Kiếp trước ông vốn là một ông lão trồng thông dưới chân núi Phá Đầu. Bởi ngưỡng mộ tứ tổ Thiền tông Đạo Tín nên thỉnh cầu cho mình được cạo đầu xuất gia.

Sư phụ Đạo Tín thấy ông tuổi đã cao nên mới an ủi rằng: “Ta thấy tuổi của ông cũng đã già rồi. Cho dù có thể nghe Đạo thì cũng không đủ thời gian mà truyền rộng nó tới chúng sinh. Như thế thì có ích gì đâu. Nếu ông đi đầu thai, ta có thể đợi ông mấy chục năm”.

Thiền sư Hoằng Nhẫn đã muốn đi tu từ kiếp trước nhưng tuổi đã cao, đành phải chờ đến kiếp sau mới có thể hoàn thành tâm nguyện (ảnh minh họa fodizi.net)

Mẹ thiền sư Hoằng Nhẫn mang thai đầy bí ẩn

Ông lão bái biệt tứ tổ và đi đến bờ suối. Ở đây ông nhìn thấy một cô gái đang giặt quần áo. Ông bước tới vái chào và hỏi: “Xin cô có thể cho tôi tá túc nhà cô được không?”

Cô gái nói: “Trên tôi có cha và anh trai. Việc này ông phải hỏi cha và anh của tôi mới được”.

Ông lão nói: “Ta cần cô đồng ý trước rồi mới đi hỏi họ được”.

Cô gái thấy trời đã nhá nhem tối, trong khi ông lão thì đã già rồi. Suy nghĩ một lúc rồi cô cũng gật đầu đồng ý cho ông lão tá túc qua đêm. Mấy tháng sau, cô gái chưa chồng bỗng nhiên có thai. Cha mẹ cô gái vô cùng hổ thẹn với làng xóm, ra sức tra hỏi cô xem chuyện gì đã xảy ra.

Cô gái không nói rõ ràng được nên bị cha mẹ đuổi ra khỏi nhà. Bởi vì không còn nhờ cậy được vào ai, cô gái đành làm việc dệt vải và một số việc vặt cho những người đồng hương để kiếm sống.

Về sau cô hạ sinh được một bé trai trắng trẻo mập mạp. Nhưng người mẹ bất hạnh này do đã phải chịu tủi nhục trong suốt thời gian qua, cô nghĩ quẩn mà đem đứa con xui xẻo ném xuống sông.

Qua ngày hôm sau, cô gái nghĩ lại và thấy vô cùng lo lắng nên đã ra sông xem xét. Không ngờ, đứa bé ấy không những không bị chết đuối mà toàn thân còn không bị ướt, đáng yêu vô cùng. Cô gái kinh hãi liền ôm lấy đứa trẻ và từ đó hết lòng chăm sóc.

Căn cơ tu luyện Phật Pháp bắt đầu từ cái tên “Vô Tính”

Bức tranh vẽ thiền sư Hoằng Nhẫn (ảnh Drbachinese)

Khi đứa trẻ lớn hơn một chút, hai mẹ con đi ăn xin để kiếm sống qua ngày. Bởi không biết cha đứa trẻ là ai, nên mọi người đều gọi cậu là “Vô Tính (không họ)”. Năm Vô Tính lên 6, 7 tuổi đã rất thông minh lanh lợi, hoạt bát đáng yêu.

Ngày nọ, tứ tổ Đạo Tín đi hoằng pháp đến nơi này. Vô Tính nhìn thấy vị thiền sư thì kéo áo cà sa của ông không buông. Vô Tính còn thỉnh cầu ông độ cho mình xuất gia. Vị thiền sư nhìn thấy cậu bé tuổi còn nhỏ liền xoa đầu cậu mà nói: “Tuổi con còn nhỏ quá, sao mà xuất gia được?”

Vô Tính hỏi như oán trách thiền sư: “Sư phụ, trước đây ngài chê con già quá, giờ lại nói con nhỏ quá. Rốt cuộc khi nào mới đồng ý độ con xuất gia đây?”

Thiền sư nghe thấy chợt hiểu ra chuyện, vội vàng hỏi cậu: “Cậu bé, họ tên con là gì? Nhà ở đâu?”

Cậu bé trả lời: “Con tên là Vô Tính, nhà ở ngõ Thập Lý”.

Thiền sư lại hỏi: “Mọi người đều có tên họ, sao con lại nói dối mình không họ? Rốt cuộc con mang họ gì?”

Cậu bé trả lời: “Họ thì có, nhưng không phải họ bình thường!”

Thiền sư sư Đạo Tín hỏi lại: “Là họ gì?”

Cậu bé trả lời: “Con lấy Phật tính làm họ, cho nên gọi là Vô Tính”.

Xuất gia tu hành, hoàn thành tâm nguyện

Thiền sư Đạo Tín nghe thấy vậy thì rất vui mừng. Ông nghĩ tuổi còn nhỏ mà khẩu khí lớn như thế này, đúng là người của Phật môn. Ông liền cho người đến nhà thỉnh cầu mẹ của cậu bé chấp thuận cho con trai được xuất gia tu hành.

Mẹ của cậu bé sớm đã hiểu rõ được ngọn nguồn về sự ra đời của con trai mình nên lập tức đồng ý. Bà còn nói với con rằng: “Con vốn là đệ tử của Phật, bây giờ con nên đi theo Sư phụ của mình thôi.”

Cậu bé từ ấy theo đại sư Đạo Tín tu hành và sau này trở thành Ngũ tổ của Thiền Tông. Ông lấy pháp danh là Hoằng Nhẫn. Thiền sư Hoằng Nhẫn có nhiều môn đệ, trong đó nổi bật nhất là hai vị đại sư hình thành nên hai tư tưởng Thiền khác nhau là Lục Tổ Huệ Năng và hòa thượng Thần Tú.

Theo: nguyenuoc

Wednesday, August 26, 2026

GIẢI MÃ NGUỒN GỐC BÍ ẨN CỦA ĐÁ SAPPHIRE

Những viên đá sapphire với màu xanh lấp lánh, gợi đến cảm giác lạnh lẽo, thực tế lại có nguồn gốc từ sâu bên trong núi lửa.

Các nhà nghiên cứu đã giải mã nguồn gốc bí ẩn của đá sapphire (Ảnh: Getty).

Trong nhiều năm qua, đá sapphire đã được tìm thấy trong các ngọn núi lửa lớn như Eifel. Tại đó, magma từ lớp vỏ của Trái Đất dâng lên lớp vỏ ngoài trong một khoảng thời gian dài, tạo ra các dung dịch giàu natri và kali.

Tuy nhiên, cũng có những viên sapphire được tìm thấy bên dưới các lòng sông dưới dạng các tinh thể bền vững đã bị rửa sạch khỏi các khối đá rắn chắc

Điều này khiến nguồn gốc chính xác của đá sapphire vẫn là một ẩn số trong mắt các nhà địa chất.

Trong một nghiên cứu mới, các nhà khoa học một lần nữa khẳng định những viên đá màu xanh lam này được tạo thành từ quá trình hoạt động của núi lửa, khi các quá trình cực đoan làm nóng và nén oxit nhôm trong lớp vỏ, tạo thành dạng tinh thể gọi là corundum- khoáng chất chính cấu thành nên sapphire.

Việc những viên đá sapphire được tìm thấy trên bề mặt Trái Đất, dưới lòng sông… là do chúng được dâng lên theo dòng magma, trong một hệ thống giống như thang máy thủy lực.

Để đưa ra kết luận này, nhóm nghiên cứu đã thu thập 223 viên sapphire siêu nhỏ từ núi lửa Eifel, và áp dụng phương pháp phổ khối lượng ion thứ cấp để tiến hành phân tích.

Họ tập trung vào đặc điểm chính của loại đá này, bao gồm tỷ lệ rutile và zircon bị mắc kẹt trong đá sapphire khi chúng hình thành, và tỷ lệ của các đồng vị oxy trong oxit nhôm.


Bằng cách nghiên cứu tỷ lệ của các đồng vị nêu trên, các nhà nghiên cứu đã xác định rằng các viên sapphire ở Eifel đều xuất phát từ khoảng 7km bên dưới lòng đất.

Trong khi đó, phương pháp định tuổi uranium-chì cho thấy chúng hình thành cùng thời điểm với sự hoạt động của núi lửa, thứ rốt cuộc đã đưa chúng lên bề mặt.

Các nhà nghiên cứu cũng xác định được rằng màu xanh "trứ danh" mà đá sapphire sở hữu có nguồn gốc từ titanium và sắt nhuộm corundum. Nếu trong thành phần của đá chỉ gồm sắt, nó sẽ tạo nên sapphire màu vàng, hoặc màu xanh lục.

Trong khi đó, thành phần chromium bên trong đá ruby làm chúng có màu đỏ.

Theo: sciencealert

NHÂN SINH CẢM NGỘ: VÌ SAO CHÚNG TA LẠI TỨC GIẬN?

Có một tác giả đã từng nói: “Nụ cười có thể hàn gắn mọi thứ, còn sự tức giận có thể giết chết hàng triệu điều”. Ấy vậy mà, cuộc sống hiện đại con người lại rất dễ nổi giận, không thể kiềm chế được bản thân mình…


Con người ngày nay thường dễ dàng nổi giận, khả năng kiềm chế rất kém, gặp chút sự việc nhỏ cũng dễ “bốc hỏa”. Bởi con người khó kiềm chế dẫn đến toàn bộ xã hội khó tìm thấy sự yên bình. Sống trong môi trường xã hội căng thẳng như vậy, cảm giác hạnh phúc của con người cũng ngày càng ít dần.

Lấy một ví dụ nhỏ, hiện nay trên đường phố người người, xe cộ đi lại tấp nập, tuy nhiên bởi đạo đức của con người tăng không kịp với tốc độ phát triển của giao thông, dẫn đến rất nhiều người mắc phải hội chứng “cáu gắt đường phố”.

Đi trên đường, nếu chúng ta để ý quan sát sẽ phát hiện ra hiện tượng: người điều khiển xe đi đường không nhìn đường mà chỉ mải chơi điện thoại, người đi bộ thì mắng người lái xe không đi cẩn thận, không biết nhường đường cho người khác, người điều khiển xe cũng chửi bới nhau, nào là ai đó dừng giữa đường, ai đó chạy chậm, ai đó vượt xe v.v. Tóm lại là chúng ta không thể cảm nhận được bầu không khí hòa ái khi đi trên đường.

Tính nóng giận của con người rất dễ gây ra tranh đấu. Tục ngữ có câu: “Lùi một bước biển rộng trời cao, nhẫn một lúc sóng yên gió lặng”. Có nhẫn mới an, nhưng con người hiện nay đa phần là tâm địa hẹp hòi, không thể nhẫn được, không thể nhường nhịn được.

Vợ chồng chỉ vì chút việc nhỏ mà cãi nhau rồi thành ra thù hận nhau, kết cục hôn nhân tan vỡ; trong công việc chỉ vì chút lợi nhỏ mà tranh giành đến mức kẻ sống người chết, nơi đâu cũng trở thành chiến trường.

Người ta chẳng qua cũng chỉ để bảo vệ cho cái “danh” của bản thân mà thôi, cảm thấy bản thân mình oan uổng hoặc mất mặt, cảm thấy nhục nhã không chịu nổi, phải nói ra cho thỏa cơn tức này, phải có kẻ thắng người thua.

Trong thần thoại Hy Lạp cổ đại có kể về câu chuyện cuộc chiến thành Troy, nguyên nhân cũng chỉ vì hai người đàn ông cùng tranh giành một mỹ nữ tên là Helen, kẻ không giành được người đẹp quá tức giận mà khơi mào cuộc chiến. Chính cái tâm lý tranh hơn thua của con người đã gây ra tấm bi kịch này.

Có người cho rằng nhẫn nhịn là thể hiện của sự nhu nhược, cho nên phải vùng lên tranh đấu, kỳ thực tranh đấu mới là không vượt qua được chính bản thân mình. Người có thể nhẫn nhịn không phải là người nhu nhược, mà là thể hiện của ý chí mạnh mẽ và phẩm chất cao thượng.

Người có phẩm chất cao thượng không nhận thức giống như người bình thường, họ có thể khống chế những cảm xúc tiêu cực của bản thân bằng ý chí mạnh mẽ. Tôi có biết một người như vậy, bà ấy thực sự có thể nhẫn nhịn trong mọi hoàn cảnh, gặp chuyện không vừa ý vẫn luôn vui vẻ, suy nghĩ khoáng đạt. Bà ấy có thể đối mặt với mâu thuẫn trong cuộc sống bằng tâm thái lạc quan, cuối cùng hóa giải được mâu thuẫn theo chiều hướng tốt lên.

Một lần, con rể và con gái bà cãi nhau, con rể tỏ thái độ rất hung hăng, không kiềm chế, người bình thường hẳn sẽ phải làm cho ra nhẽ với con rể, bênh vực cho con gái mình, nhưng bà ấy đã nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, tìm ra nguyên nhân gây tranh cãi mà không thiên vị bên nào, vừa an ủi con gái, vừa giáo dục con rể, bà đã chỉ ra thiếu sót của con gái một cách có thiện ý, cuối cùng con gái bà nhận ra vấn đề của mình và làm hòa với chồng, gia đình bà đã tránh được một cuộc ly hôn không đáng có.

Con trai bà đi làm xa bị người ta lừa tiền, cầu cứu khắp nơi nhưng thân cô thế cô không ai giúp đỡ, bà khuyên con trai hãy “chịu thiệt làm phúc”, còn cho con ít tiền để làm lại từ đầu. Chồng bà tính tình nóng nảy và luôn cay nghiệt với bà, bà cũng không để trong tâm, luôn nói với mọi người rằng chồng mình là người tốt, chỉ ác khẩu chứ bản chất lương thiện.

Có thể có người cho rằng người nhẫn nhục như vậy thật quá ngốc. Nhưng nhìn từ một góc độ khác, con người ai cũng phải đối mặt với những phiền phức trong cuộc sống, nóng giận, tranh đấu chỉ khiến bản thân càng thêm đau khổ chứ chẳng thể thay đổi được gì. Người có tấm lòng quảng đại, không tính toán được mất, hơn thua mới có thể khéo léo thoát khỏi mâu thuẫn, gặp dữ hóa lành.

Người xưa gửi gắm đạo lý này qua câu tục ngữ “bụng tể tướng có thể chèo thuyền”, con người nếu không có sự nhẫn nhục lớn, tấm lòng khoáng đạt thì không thể làm được tể tướng, không làm được việc lớn.

Người thường cảm ơn và một người hay oán hận sẽ dẫn đến hai số phận khác nhau…

Khi tiếp nhận người khác, người cảm ơn sẽ tán thưởng ưu điểm của người đó, còn người oán hận sẽ bắt bẻ khuyết điểm của người khác.

Khi tiếp nhận ân huệ, người cảm ơn sẽ cảm động rơi nước mắt, còn người oán hận thì cho rằng vẫn chưa đủ.

Khi tiếp nhận xin lỗi, người cảm ơn sẽ tha thứ khoan dung, còn người oán hận sẽ khí hận đầy mình.

Khi tiếp nhận giúp đỡ, người cảm ơn sẽ cảm động và nhớ về công ơn của người khác, còn người oán hận chỉ biết phàn nàn người khác không đủ chu đáo.

Khi tiếp nhận lời khuyên, người cảm ơn sẽ cảm tạ tấm lòng tốt đẹp của người khác, còn người oán hận sẽ hoài nghi người ta có ý đồ xấu.


Bên ngoài thì mỗi người đều sống trong mỗi hoàn cảnh khác nhau. Nhưng trên thực tế, mỗi người đều sống bên trong thế giới nội tâm của mình. Khi mỗi người cùng tiếp nhận Phật Pháp từ bi phổ độ chúng sinh, tiếp nhận Phật Pháp thuyết giảng từ bi, người cảm ơn sẽ biết ơn và tận dụng mỗi một quan ải để tiến bộ không ngừng, còn người oán hận khi gặp một quan ải sẽ không ngừng oán trách và cứ thế tạo nghiệp càng nặng, sa đọa càng sâu.

Người cảm ơn mang lòng trung nghĩa, giống như một khối nguyên liệu tốt, khi dùng có thể uốn nắn thành khối vuông khối tròn. Người oán hận ôm lòng gian trá phản nghịch, ngay cả làm khối bán thành phẩm cũng không đủ tư cách, khi dùng thì phần nhiều là hư hỏng, phế phẩm.

Theo: Tinh Hoa

TÁI THƯỢNG KÝ GIA HUYNH - CAO BIỀN


Tái thượng ký gia huynh

Lệ ngạc phân trương tín sứ hy,
Kỷ đa hương lệ thấp chinh y.
Già thanh vị đoạn trường tiên đoạn,
Vạn lý Hồ thiên điểu bất phi.


塞上寄家兄

棣萼分張信使希
幾多鄉淚濕征衣
笳聲未斷腸先斷
萬里胡天鳥不飛


Ngoài ải gửi anh trai
(Dịch thơ: mailang)

Huynh đệ chia lìa, tin hiếm trông,
Nhớ quê, áo trận lệ trôi dòng.
Tiếng kèn chưa dứt, hồn đà dứt,
Muôn dặm trời Hồ bóng nhạn không.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Cao Biền 高駢 (821-887) tự Thiên Lý 千里, tướng đời Hậu Đường, cháu của Nam Bình đô vương Cao Sùng Văn (tướng cấm quân dưới triều vua Đường Hiến Tông Lý Thuần).

Đầu đời vua Ý Tông, Cao Biền trấn giữ biên cương chống sự xâm lược của giặc Thổ Phồn 吐蕃. Năm Cảm Thông thứ 7 (866), Cao Biền trấn giữ An Nam, làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ. Năm Càn Phù thứ 2 (875) đời Hy Tông, chuyển sang trấn giữ Tây Xuyên.

Nguồn: Thi Viện

"THIÊN CUỒNG TẤT HỮU VŨ, NHÂN CUỒNG TẤT HỮU HỌA". Ý NGHĨA LÀ GÌ?

Người xưa thường dùng thiên tượng để nói đạo lý nhân sinh. Trời đất vốn không biết nói, nhưng mưa nắng, gió bão, bốn mùa thay đổi đều đang âm thầm giảng cho con người cách sống.


Trước cơn mưa lớn, bầu trời thường oi bức khác thường, cuồng phong nổi lên, mây đen kéo tới. Đó là lúc âm dương mất cân bằng, khí cơ xung đột nên tất sinh biến hóa.

Đời người cũng vậy. Một người nếu quá cuồng vọng, quá kiêu căng, quá tự mãn, thì thường đã bắt đầu bước tới mép của tai họa mà bản thân không hay biết. Cổ nhân gọi đó là: “Vật cực tất phản.”

Nước đầy thì tràn.

Trăng tròn rồi khuyết.

Hoa nở cực thịnh cũng là lúc bắt đầu úa tàn.

Thế gian này, rất nhiều việc hỏng đi không phải vì thiếu, mà vì “quá”.

Quá nóng nảy nên mất lý trí.

Quá tự tin nên không nghe lời can gián.

Quá hơn thua nên tự chuốc oán hận.

Quá phô trương nên hao tổn phúc phần.

Người xưa hiểu rất rõ đạo lý ấy nên đặc biệt coi trọng ba chữ:

“Khiêm” — biết hạ mình.

“Tĩnh” — giữ lòng ổn định.

“Liễm” — biết thu bớt sự sắc bén của bản thân.

Lão Tử từng nói: “Không tự thấy mình đúng thì mới sáng suốt, không tự cho mình là phải thì mới được người kính phục.” Ảnh internet.

Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử từng nói: “Không tự thấy mình đúng thì mới sáng suốt, không tự cho mình là phải thì mới được người kính phục.”

Lời này nghe qua tưởng mềm yếu, nhưng thật ra lại là trí huệ rất sâu. Người càng non nớt càng thích chứng minh bản thân. Người càng từng trải càng hiểu rằng thắng người chưa chắc là thắng, giữ được lòng người mới là khó.

Nhìn lại lịch sử, rất nhiều bi kịch đều bắt đầu từ chữ “cuồng”.

Hạng Vũ sức mạnh hơn người, khí phách ngút trời, từng phá Tần diệt Sở, chư hầu khiếp sợ. Nhưng cũng bởi quá tự phụ, không nghe lời can gián của Phạm Tăng, cuối cùng để vuột mất thiên hạ vào tay Lưu Bang.

Khi Hồng Môn Yến mở ra, Phạm Tăng nhiều lần khuyên nên trừ hậu họa, nhưng Hạng Vũ do dự rồi khinh suất bỏ qua cơ hội. Sau này, khi đại thế đảo chiều, ông than rằng:

“Trời muốn diệt ta.”

Hạng Vũ tự phụ, không nghe lời can gián của Phạm Tăng, cuối cùng để vuột mất thiên hạ vào tay Lưu Bang. Ảnh internet.

Nhưng thật ra, có nhiều tai họa không phải do trời đất vô tình, mà là do lòng người tự đẩy mình tới bước ấy.

Ngược lại, người chân chính có đại bản lĩnh thường rất khiêm hòa.

Tăng Quốc Phiên cả đời luôn lấy chữ “kính” và chữ “tĩnh” để tự răn mình. Ông từng nói:

“Người gặp đại sự càng phải giữ tâm bình khí hòa.”

Ông biết rõ rằng, khi con người đắc ý nhất cũng là lúc dễ sinh tự mãn nhất; mà tự mãn lại chính là khe nứt đầu tiên của thất bại.

Cho nên cổ nhân tu dưỡng bản thân không chỉ là học tri thức, mà còn là học cách “thu” lại cái tâm đang ngày càng phóng túng.

Thu bớt nóng nảy.

Thu bớt tranh thắng.

Thu bớt cái tôi quá lớn.

Bởi nhiều khi, thứ thật sự hủy hoại một con người không phải nghịch cảnh bên ngoài, mà là sự cuồng vọng bên trong.

Có người vừa có chút thành tựu liền xem thường người khác.

Có người có chút tiền tài liền quên mất đạo nghĩa.

Có người đúng được vài lần liền cho rằng mình luôn đúng.

Nhưng trời đất rất công bằng.

Cây càng cao càng đón gió lớn.

Người càng cuồng càng dễ chuốc họa.

Cho nên người xưa mới dạy: “Đắc ý chớ quá vui, thất ý chớ quá buồn.” Bởi đời người giống như thủy triều lên xuống. Không ai mãi đứng trên đỉnh cao, cũng không ai mãi ở dưới vực sâu.

Không ai mãi đứng trên đỉnh cao, cũng không ai mãi ở dưới vực sâu. Ảnh internet.

Biết tiến biết lui mới là trí huệ.

Biết khiêm nhường mới giữ được phúc lâu dài.

Người thật sự từng trải thường sẽ dần trở nên điềm đạm.

Không phải vì họ yếu đi, mà vì họ hiểu rằng:

Ngẩng đầu nhìn trời đất mới biết con người nhỏ bé; trải qua đủ thăng trầm mới hiểu khiêm nhường là phúc.

“Thiên cuồng tất hữu vũ, nhân cuồng tất hữu họa.”

Đó không chỉ là lời cảnh tỉnh, mà còn là một cách xử thế của cổ nhân để lại cho hậu thế.

Khi thuận cảnh, phải giữ sự tỉnh táo.

Khi đắc ý, phải giữ lòng khiêm hòa.

Khi có năng lực, càng phải biết tiết chế bản thân.

Bởi người biết cúi đầu đúng lúc, mới có thể đi đường dài.

Khai Tâm biên tập

TRƯỚC BA TƯ CỔ ĐẠI, VÙNG ĐẤT IRAN ĐÃ CÓ NỀN VĂN MINH GỒM CHỮ VIẾT VÀ ĐÔ THỊ

Iran không chỉ nổi tiếng với dầu mỏ mà còn là vùng đất lưu giữ dấu tích của một trong những nền văn minh cổ xưa nhất thế giới, với lịch sử thành văn kéo dài hơn 5.000 năm.


Theo World Population Review, Iran được xếp vào nhóm quốc gia có lịch sử lâu đời nhất thế giới, tồn tại từ khoảng năm 3.200 trước Công nguyên, đứng thứ hai là Ai Cập tồn tại muộn hơn khoảng 100 năm.

Iran thường được nhắc đến trong lịch sử như trung tâm của các đế chế Ba Tư cổ đại, đồng thời cũng là một trong những khu vực hình thành sớm các nền văn minh nhân loại.

Nhiều nghiên cứu khảo cổ cho thấy, các xã hội phức tạp đã xuất hiện trên cao nguyên Iran từ hơn 5.000 năm trước, với dấu hiệu của đô thị hóa, chữ viết và tổ chức nhà nước sơ khai.

Theo Tehran Times, các nhà khảo cổ học cho rằng nền văn minh Elam, phát triển ở vùng tây nam Iran ngày nay, là một trong những nền văn minh sớm nhất của Tây Á.

Những di vật thuộc thời kỳ Proto-Elamite có niên đại khoảng 3200-2800 trước Công nguyên cho thấy sự xuất hiện của các trung tâm định cư lớn và hệ thống quản lý kinh tế sơ khai.

Hình tượng người Proto-Elam với sừng dê rừng (Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan).

Nhiều hiện vật và cấu trúc xây dựng thuộc nền văn minh Elam tại các khu vực như Dehloran và Persepolis, cho thấy sự tồn tại của những hệ thống kinh tế và kỹ thuật tương đối phát triển từ hơn 4.000 năm trước.

Theo nhiều nhà nghiên cứu, nền văn minh Elam được xem là "bình minh của văn minh Iran", phản ánh sự hình thành sớm của các xã hội có tổ chức nhà nước, tôn giáo và thương mại.

Trung tâm giao thoa của các nền văn minh cổ

Cao nguyên Iran nằm giữa các trung tâm văn minh cổ đại như Lưỡng Hà ở phía tây và thung lũng sông Ấn ở phía đông. Vị trí này giúp hình thành các tuyến giao thương cổ đại nối liền Tây Á và Nam Á từ rất sớm.

Những di chỉ khảo cổ cho thấy các cộng đồng cổ đại trên cao nguyên Iran đã tham gia mạng lưới trao đổi hàng hóa rộng lớn từ thời kỳ đồ đồng.

Các hiện vật bằng đá quý, kim loại và gốm được tìm thấy tại nhiều khu vực cho thấy sự tồn tại của các tuyến thương mại đường dài từ hàng nghìn năm trước.

Các trung tâm văn hóa Proto-Elamite được phát hiện trải rộng trên nhiều khu vực cho thấy sự hình thành của một nền văn minh có phạm vi ảnh hưởng lớn.

Dấu vết của xã hội có chữ viết sớm

Các bằng chứng khảo cổ cho thấy Iran đã bước vào thời kỳ lịch sử thành văn từ khoảng thiên niên kỷ thứ IV trước Công nguyên, gần tương đương với thời điểm chữ viết xuất hiện tại Lưỡng Hà.

Nhiều hiện vật thuộc văn hóa Proto-Elamite cho thấy sự tồn tại của các hệ thống ký hiệu được sử dụng trong quản lý kinh tế và hành chính.

Những dấu vết này cho thấy cư dân cổ đại tại Iran đã phát triển các hình thức ghi chép sớm, đánh dấu bước chuyển từ thời tiền sử sang lịch sử.

Theo Live Science, các hiện vật kim loại tinh xảo từ khoảng 5.000 năm trước cũng phản ánh trình độ kỹ thuật cao của cư dân cổ đại.

Một tượng bạc thuộc văn hóa Proto-Elamite có niên đại khoảng 3100–2900 trước Công nguyên cho thấy khả năng chế tác kim loại và đời sống nghi lễ phát triển trong các xã hội cổ đại ở Iran.

Những trung tâm văn minh cổ đại

Nhiều di tích khảo cổ tại Iran cho thấy sự tồn tại của các trung tâm đô thị cổ đại với quy mô đáng kể. Trong số đó, Susa được xem là một trong những thành phố cổ lâu đời nhất ở Tây Á và từng là trung tâm chính trị của nền văn minh Elam.

Các công trình kiến trúc lớn cũng phản ánh trình độ tổ chức xã hội cao. Di tích Chogha Zanbil ở tây nam Iran là một quần thể tôn giáo Elamite được xây dựng khoảng năm 1250 trước Công nguyên, với kim tự tháp bậc thang (ziggurat) hiếm hoi còn tồn tại ngoài khu vực Lưỡng Hà.

Di chỉ khảo cổ Chogha Zanbil, Iran hình thành khoảng 1250 trước Công nguyên (Ảnh: AMW).

Những công trình này cho thấy cư dân cổ đại đã phát triển các hình thức tổ chức tôn giáo và nhà nước phức tạp.

Các cuộc khai quật tại nhiều khu vực khác nhau của Iran tiếp tục cho thấy dấu vết của các đô thị cổ và trung tâm sản xuất thủ công.

Các bằng chứng khảo cổ học về luyện kim, chế tác gốm và sản xuất đồ trang sức cho thấy nền kinh tế cổ đại tại đây đã đạt trình độ phát triển đáng kể.

Nếu trước đây Lưỡng Hà thường được xem là trung tâm duy nhất của các nền văn minh cổ đại, thì ngày nay các nhà nghiên cứu ngày càng nhấn mạnh vai trò của cao nguyên Iran như một trung tâm văn minh độc lập.

Các bằng chứng khảo cổ cho thấy vùng đất này đã trải qua quá trình phát triển liên tục từ các cộng đồng nông nghiệp sơ khai đến các xã hội đô thị có tổ chức. 

Di tích còn lại của nền văn minh Elam (Ảnh: Amazingbibletimeline).

Ngày nay, Iran vẫn là một trong những khu vực giàu di sản khảo cổ nhất thế giới. Hàng nghìn di chỉ khảo cổ được ghi nhận trên khắp lãnh thổ cho thấy chiều sâu lịch sử đặc biệt của quốc gia này.

Những bằng chứng ngày càng rõ ràng cho thấy cao nguyên Iran là một trong những trung tâm phát triển văn hóa cổ đại quan trọng, góp phần định hình nền văn minh nhân loại từ buổi bình minh của lịch sử.

Vũ Thanh Bình / Theo: Dân Trí

Tuesday, August 25, 2026

CÓ NHỮNG NGƯỜI TRÔNG RẤT BÌNH THẢN...KHÔNG PHẢI VÌ HỌ KHÔNG ĐAU, MÀ VÌ HỌ ĐÃ HỌC CÁCH NUỐT NỖI ĐAU VÀO TRONG

Có bao giờ bạn từng thắc mắc vì sao có những người sống rất bình thản không? Kiểu dù có chuyện gì lớn xảy ra, họ vẫn rất điềm tĩnh, rất lý trí, gần như chẳng phản ứng gì quá mạnh. Thậm chí đôi lúc nhìn họ còn có vẻ hơi lạnh lùng, hơi “kệ”, đến mức người khác phải tự hỏi: “Ủa, họ không buồn thật sao?”


Có người khi mất việc vẫn bình tĩnh đi giải quyết từng thứ. Có người bị phản bội cũng chỉ im lặng rồi bước tiếp. Có người đứng giữa tang lễ của người thân mà vẫn tỉnh táo lo hết mọi chuyện, tiếp khách, làm giấy tờ, sắp xếp mọi thứ đâu vào đó. Nhìn họ như chẳng hề sụp đổ.

Nhưng thật ra, rất nhiều người trong số đó không phải là không đau. Họ chỉ là đã trải qua quá nhiều chuyện để hiểu rằng có những lúc, mình không được phép gục xuống ngay lập tức.

Nhiều người nghĩ rằng sự bình thản đó là do họ bị chai sạn cảm xúc, hoặc từng trải qua trauma gì đó nên mới trở nên “lạnh” như vậy. Nhưng đôi khi, đó chỉ là cách duy nhất họ học được để tồn tại sau quá nhiều biến cố.

Bởi có những người từ nhỏ đã không được dạy cách thể hiện cảm xúc. Mỗi lần buồn thì nghe “đừng khóc nữa”. Mỗi lần tổn thương thì nghe “có vậy thôi mà cũng chịu không nổi à?”. Dần dần, họ quen với việc nuốt mọi thứ vào trong. Họ vẫn buồn, vẫn đau, vẫn tổn thương như bao người khác, chỉ là họ không còn biết cách bộc lộ ra ngoài nữa.

Cho nên thay vì khóc lóc hay kể lể, họ chọn im lặng. Thay vì hoảng loạn, họ tập trung xử lý vấn đề. Không phải vì họ mạnh mẽ hơn ai, mà vì cuộc đời đã dạy họ rằng nổi nóng, la hét hay tuyệt vọng cũng không làm sự việc thay đổi.

Sau quá nhiều lần va vấp, người ta bắt đầu hiểu rằng bình tĩnh mới là cách giúp mình sống sót qua những ngày khó khăn nhất.


Có một người từng kể rằng ngày mẹ anh mất đột ngột, cả bố và em trai đều sốc đến mức thẫn thờ, không thể làm gì. Một mình vợ chồng anh đứng ra lo toàn bộ tang lễ, giấy tờ, họ hàng, mọi thứ trong ngoài. Trong suốt những ngày đó, anh gần như không khóc. Anh bình tĩnh đến mức ai cũng nghĩ chắc anh mạnh mẽ lắm.

Nhưng đến khi mọi chuyện xong xuôi hết, anh mới xin nghỉ một ngày, nằm một mình trong phòng và khóc mẹ.

Người trưởng thành nhiều khi là như vậy. Không phải họ không đau, mà là họ phải cố đứng vững để làm chỗ dựa cho những người khác trước. Đặc biệt là nhiều người đàn ông, từ nhỏ đã được dạy rằng mình phải là trụ cột, phải gánh vác, phải mạnh mẽ. Thành ra có những nỗi đau họ không dám thể hiện ra ngoài, không phải vì không có cảm xúc, mà vì họ biết nếu mình cũng gục xuống lúc này thì những người còn lại sẽ biết dựa vào ai.

Cho nên đôi khi, người bình tĩnh nhất trong một biến cố… lại chính là người đang gồng nhiều nhất.

Càng lớn, chúng ta càng nhận ra một điều: mỗi người đều có cách riêng để đối diện với đau đớn. Có người khóc lớn. Có người kể hết ra. Có người chọn im lặng. Nhưng im lặng không có nghĩa là vô cảm.

Đôi khi, sự bình thản mà ta nhìn thấy ở một người… thật ra được tạo nên từ rất nhiều lần họ đã tự nhặt mình lên sau giông bão.

Tú Uyên biên tập