Tuesday, October 20, 2026

ĐƠN VỊ 731 VÀ NHỮNG TỘI ÁC KINH HOÀNG TRONG NHÀ MÁY TỬ THẦN - KỲ CUỐI: NHỮNG THÍ NGHIỆM KINH HOÀNG

Từ mổ xẻ người sống, thử nghiệm hóa chất và vũ khí cho đến phát tán mầm bệnh, những hoạt động này sau đó được quân đội Nhật Bản đưa vào thực chiến, gây ra cái chết của hàng trăm nghìn người.

Kỳ cuối: Những thí nghiệm kinh hoàng

Ảnh cận cảnh tòa nhà hình vuông của Đơn vị 731 năm 1940. Ảnh: Wikimedia Commons

Tù nhân bị cho nhiễm bệnh dịch hạch, bệnh than, bệnh tả, thương hàn, bệnh lậu và giang mai. Họ cũng bị đưa vào các thí nghiệm nhằm kiểm tra khả năng chịu đựng tình trạng mất nước và bỏng lạnh. Về cơ bản, tù nhân bị đặt vào những điều kiện mà quân đội Nhật Bản sẽ phải đối mặt khi hoạt động tại Đông Nam Á và vùng Viễn Đông của Liên Xô. Những thí nghiệm này mô phỏng điều kiện chiến đấu một cách thực tế hơn mức có thể tưởng tượng.

Chẳng hạn, các loại vũ khí như lựu đạn và bom được thử nghiệm trên tù nhân. Để xác định phương pháp điều trị tối ưu đối với vết thương do mảnh đạn, tù nhân bị trói vào các cọc rồi bom và lựu đạn được kích nổ ở những khoảng cách khác nhau. Những người chết được khám nghiệm tử thi, còn những người sống sót được điều trị, nhưng chỉ để tiếp tục bị giết trong thí nghiệm tiếp theo. Súng phun lửa cũng được thử nghiệm trên tù nhân.

Tù nhân, trong đó có cả trẻ sơ sinh được sinh ra trong trại, bị đưa ra ngoài trời lạnh và nhấn chìm trong nước băng giá. Hiếp dâm và cưỡng ép mang thai nhằm nghiên cứu tình trạng lây truyền bệnh giang mai và các bệnh nhiễm trùng khác từ mẹ sang con cũng là những hoạt động thường xuyên diễn ra tại đơn vị này.

Một nỗi kinh hoàng khác là việc mổ xẻ người sống, tức tiến hành phẫu thuật và giải phẫu thực nghiệm trên những người còn sống. Những thủ thuật này được thực hiện để nghiên cứu phản ứng của cơ thể trong các điều kiện khác nhau. Một nhân viên y tế Nhật Bản chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng này và từng trực tiếp mổ một người còn sống cho biết: “Đối với các bác sĩ phẫu thuật, đó chỉ là một ngày làm việc bình thường”.

Ghê rợn không kém là khi các bác sĩ phẫu thuật cần một cơ quan cụ thể, chẳng hạn như não, họ sẽ ra lệnh cho lính canh tìm một tù nhân phù hợp. Lính canh dùng rìu đập vỡ đầu tù nhân, lấy não đưa cho các bác sĩ rồi chuyển thi thể đến lò hỏa táng.

Thi thể các nạn nhân trong các thí nghiệm của Đơn vị 731. Ảnh: FSB

Tù nhân còn bị bỏ đói trong thời gian dài, đưa vào buồng áp suất, dùng vật nặng nghiền nát, điện giật, chôn sống và thiêu sống. Tác động của phốt pho, phosgene, khí mù tạt và các chất hóa học khác dùng trong chiến tranh cũng được thử nghiệm trên tù nhân.

Tất cả những thí nghiệm vô nhân đạo này đều được ghi hình, cho thấy đây không phải những vụ việc đơn lẻ do một số kẻ tàn bạo gây ra mà là một quy trình thường lệ, được thiết lập và thực hiện có hệ thống. Đáng chú ý, một số bác sĩ sau này kinh hoàng kể lại những gì họ chứng kiến tại Đơn vị 731, trong khi những người khác không hề tỏ ra hối hận mà còn mô tả các thí nghiệm trên người sống trong những bài viết khoa học.

Càng kinh hoàng hơn là việc mổ bụng người sống và các thí nghiệm vô nhân đạo khác được thực hiện để phục vụ những quan chức cấp cao đến thăm Đơn vị 731 nhằm mục đích giải trí bệnh hoạn và vô nhân đạo.

Vũ khí được đưa vào thực chiến

Những hành vi của các bác sĩ tàn bạo tại Đơn vị 731 không chỉ diễn ra trong phòng thí nghiệm mà còn được quân đội Nhật Bản tích cực sử dụng tại Trung Quốc. Liên Xô lần đầu tiên đối mặt với vũ khí sinh học của Nhật Bản trong trận chiến với quân Nhật tại Khalkhin Gol năm 1939. Khi đó, quân đội Nhật Bản bí mật vận chuyển các ống chứa vi khuẩn thương hàn trên một đoàn tàu chở khách rồi đổ chúng xuống các con sông ở khu vực biên giới, qua đó gây ra một đợt bùng phát dịch bệnh trên lãnh thổ Liên Xô.

Sau đó, quân đội Nhật Bản tiến hành ít nhất 12 cuộc tấn công nhằm vào các thành phố của Trung Quốc. Cụ thể, máy bay bay thấp đã thả bọ chét nhiễm dịch hạch xuống các thành phố Ninh Ba và Trường Đức, gây ra các đợt bùng phát dịch bệnh khiến hàng chục nghìn dân thường thiệt mạng. Trong cuộc chiến tại Trung Quốc, quân đội Nhật Bản cũng làm nhiễm bẩn các cơ sở nông nghiệp, hồ chứa nước và giếng nước trên quy mô lớn. Họ còn thả thực phẩm và quần áo nhiễm mầm bệnh xuống những vùng lãnh thổ không do quân đội Nhật Bản kiểm soát dưới vỏ bọc viện trợ nhân đạo. Tiếp xúc với những vật nhiễm bệnh này dẫn đến lây nhiễm và tử vong. Theo nhiều ước tính, ít nhất 200.000 người Trung Quốc đã thiệt mạng do bệnh dịch hạch, bệnh tả và bệnh than do quân đội Nhật Bản phát tán.

Nhật Bản cũng lên kế hoạch tấn công Mỹ bằng vũ khí sinh học. Tháng 12/1944, Hải quân Nhật Bản bắt đầu nghiên cứu khả năng tấn công các thành phố tại California như Los Angeles, San Francisco và San Diego.

Theo kế hoạch, máy bay được phóng từ các tàu ngầm mang máy bay. Những máy bay này do các phi công cảm tử điều khiển và mang theo các loại vũ khí sinh học do Đơn vị 731 phát triển, trong đó có dịch hạch, bệnh tả và thương hàn. Các thủy thủ tàu ngầm sau đó cố tình tự lây nhiễm bệnh rồi đổ bộ lên bờ biển Mỹ.

Tuy nhiên, chiến dịch này ban đầu bị Tổng tham mưu trưởng Lục quân Đế quốc Nhật Bản Yoshijiro Umezu đình chỉ và sau đó bị hủy bỏ khi Nhật Bản đầu hàng.

Nỗ lực che giấu tội ác

Quân đội Nhật Bản cũng lên kế hoạch sử dụng vũ khí sinh học chống Liên Xô, nhưng thất bại nhanh chóng của Quân đội Quan Đông trước quân đội Liên Xô đã phá vỡ những kế hoạch này.

Nhận thấy thất bại hoàn toàn đang cận kề và tìm cách che đậy tội ác, quân đội Nhật Bản đã phá hủy các tòa nhà của Đơn vị 731 và các chi nhánh của đơn vị này, các phòng thí nghiệm, kho vũ khí sinh học tích trữ, tài liệu và kết quả thí nghiệm. Khoảng 300 tù nhân còn lại cùng 600 công nhân người Trung Quốc và Mãn Châu đã bị thủ tiêu.

Đây là cách làm phổ biến của quân đội Nhật Bản vào thời điểm đó. Ngày 9/8/1945, đúng ngày Liên Xô và Nhật Bản tuyên chiến với nhau, hiến binh Nhật Bản đã bắt giữ và hành quyết 19 công dân Liên Xô tại thành phố Hải Lạp Nhĩ. Khác với các tù nhân tại Đơn vị 731, những người này là dân thường và bị hành quyết vì bị coi là những cá nhân có khả năng không trung thành.

Vì vậy, khi các đơn vị Hồng quân đến địa điểm của Đơn vị 731 vài ngày sau đó, họ chỉ thấy trại trống không. Đến thời điểm đó, ít nhất 3.600 người đã chết trong những cuộc thí nghiệm kinh hoàng và hàng trăm nghìn người đã thiệt mạng do các loại vũ khí sinh học được phát triển tại đơn vị này.

Tuy nhiên, cái kết của nước Nhật quân phiệt không có nghĩa Đơn vị 731 bị lãng quên. Cả Liên Xô và Mỹ đều biết quân đội Nhật Bản đã tiến hành các thí nghiệm vô nhân đạo, nghiên cứu và sử dụng vũ khí sinh học. Đương nhiên, hai cường quốc đều muốn đạt được hai mục tiêu: thu thập những tài liệu có giá trị từ các bác sĩ Nhật Bản tàn bạo và trừng phạt những tội phạm chiến tranh.

Cụ thể hơn, Liên Xô là bên chủ yếu muốn trừng phạt những tội phạm chiến tranh vì các thí nghiệm của Đơn vị 731 cũng được tiến hành trên công dân Liên Xô.

Tuy nhiên, người Mỹ lại đánh giá tình hình theo cách khác. Mỹ cần tái thiết Nhật Bản thời hậu chiến, quốc gia khi đó nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Mỹ, vì vậy Hoàng đế Hirohito, người đã phê chuẩn việc thành lập Đơn vị 731, được miễn đưa ra xét xử tại tòa án xét xử tội phạm chiến tranh. Số phận của những nhân vật khác đứng sau việc thành lập Đơn vị 731 cũng khác nhau: Chikahiko, một trong những người bảo trợ Ishii, đã tự sát theo truyền thống samurai; người bảo trợ khác của Ishii là Sadao phải ngồi tù vài năm và được trả tự do vào năm 1956.

Số phận của Ishii đáng chú ý hơn nhiều. Không lâu trước khi quân đội Liên Xô chiếm Mãn Châu, Ishii sơ tán cùng phần lớn nhân viên và kho lưu trữ, trước tiên đến Triều Tiên rồi sau đó về Nhật Bản. Chính tại Nhật Bản, người Mỹ đã tìm thấy ông ta sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc.

Ban đầu, Ishii phủ nhận tiến hành các thí nghiệm trên người và sử dụng vũ khí sinh học, nhưng quân đội Mỹ đã đưa ra một đề nghị mà ông ta không thể từ chối: được miễn hoàn toàn truy tố để đổi lấy việc cung cấp toàn bộ dữ liệu về nghiên cứu vũ khí sinh học dựa trên các thí nghiệm trên người.

Kết quả là Ishii và các cộng sự đã chuẩn bị báo cáo về các thí nghiệm trên người và việc sử dụng vũ khí sinh học mà chính người Mỹ coi là “vô giá”. Sau đó, Ishii cùng các nhà khoa học Nhật Bản khác sống và làm việc bình yên dưới sự giám sát của Mỹ.

Trong khi Mỹ tìm cách che giấu thông tin về hoạt động của Đơn vị 731 nhiều nhất có thể, Liên Xô đã tổ chức một phiên tòa công khai tại Khabarovsk năm 1949. 12 chỉ huy cấp cao và các nhà khoa học của Đơn vị 731 cùng những đơn vị liên quan bị kết tội ác chiến tranh, phát triển và sử dụng vũ khí sinh học, sau đó chấp hành án tại các trại ở Siberia.

Nhật Bản thừa nhận sự tồn tại của Đơn vị 731 và những hoạt động kinh hoàng của đơn vị này một cách miễn cưỡng và chậm chạp. Các tài liệu lưu trữ ghi chép về 3.607 nhân sự của Đơn vị 731 chỉ được giải mật vào năm 2018.

Nhiều thành viên Đơn vị 731 đã sống lâu và bình yên, gây dựng sự nghiệp thành công trong các lĩnh vực khoa học, y học và kinh doanh.

Điều duy nhất có thể làm cho hàng nghìn người đã chết trong các trại của Đơn vị 731 và hàng trăm nghìn nạn nhân của vũ khí sinh học được phát triển tại đây là ghi nhớ những tội ác kinh hoàng do hệ thống vô nhân đạo này gây ra và ngăn chúng tái diễn.

Thùy Dương
Theo: baotintuc



CÓ VÀ KHÔNG


Có một vị cư sĩ đến học đạo và thỉnh vấn Trí Tạng thiền sư như sau: “Xin hỏi thiền sư thiên đường và địa ngục có hay không?”. Thiền sư trả lời “có”.

Ông ta hỏi tiếp: “xin hỏi Phật và Bồ tát có không?”

- “Có”

- “Xin hỏi có nhân quả báo ứng không?”

- “Có”

Ông ta hỏi bất cứ điều gì, Trí Tạng thiền sư đều trả lời “có”.

Sau khi nghe xong vị cư sĩ này cảm thấy hoài nghi liền phản ứng rằng: “thiền sư! Ngài nói sai rồi”.

Thiền sư ôn tồn đáp “tôi nói sai ở đâu?”

Vị cư sĩ cao giọng nói “con đã hỏi Kinh Sơn thiền sư và Ngài đều nói "không"”.

- "Nói “không” như thế nào?"

- "Con hỏi: có nhân quả báo ứng không? Kinh Sơn thiền sư nói “không”; có Phật Bồ tát không? trả lời “không”; có thiên đường địa ngục không? cũng nói “không” và con hỏi những gì thì Kinh Sơn thiền sư đều trã lời “không”. Nhưng ngược lại đối với Ngài thì tất cả đều nói “có”."


Trí Tạng thiền sư hiểu rỏ căn tánh và trình độ của vị cư sĩ ở cấp bậc nào rồi và vui vẻ nói: “Ồ! ông có vợ không?” Vị cư sĩ thưa “dạ có”; “ông có con không?” - “dạ có”; “Ông có tiền của không?” - “dạ có”; “Ông có nhà cửa xe cộ không?” - “dạ có”.

Trí Tạng thiền sư lại hỏi tiếp: “Kinh Sơn thiền sư có vợ không?” Vị cư sĩ nọ thưa “dạ không”; “Kinh Sơn thiền sư có con không?” - “dạ không”; “Kinh Sơn thiền sư có tiền của nhà cửa không?” - “dạ thưa không”.

Trí Tạng thiền sư kết luận: "vì thế Kinh Sơn thiền sư trả lời với Ông “không”. Ta Trả lời với Ông“có” vì Ông có vợ, con,..."

Vấn đề này đối với người này nói “có”, đối với người khác nói “không” như vậy có khác nhau không? Thật ra, không có gì khác cả, đạo thì chỉ có một, “có” “không” là hai mặt của đạo mà thôi. Đạo là tùy theo căn tánh của con người mà có khác nhau. Hỏi đáp và trả lời của thiền sư lúc thì “có” lúc thì “không” chỉ vì trình độ của chúng ta có khác hoặc là thứ tự hiểu biết vấn đề của chúng ta có khác nhau mà thôi.

Như Nguyện dịch 
Theo: zhongguofojiaowang

NHÀN THUYẾT - VƯƠNG KIẾN


Nhàn thuyết - Vương Kiến

Đào hoa bách diệp bất thành xuân,
Hạc thọ thiên niên dã vị thần.
Tần Lũng châu duyên anh vũ quý,
Vương hầu gia vị mẫu đơn bần.
Ca đầu vũ biến hồi hồi biệt,
Mấn dạng my tâm nhật nhật tân.
Cổ động lục nhai kỵ mã xuất,
Tương phùng tổng thị học cuồng nhân.


閒說 - 王建

桃花百葉不成春
鶴壽千年也未神
秦隴州緣鸚鵡貴
王侯家為牡丹貧
歌頭舞遍回回別
鬢樣眉心日日新
鼓動六街騎馬出
相逢總是學狂人


Lời nói khi rảnh
(Dịch thơ: Nguyễn Minh)

Chẳng nên xuân dù đào trăm lá
Hạc ngàn năm cũng chả thành thần
Nhờ chim cao giá bãi Tần
Dinh trồng hoa mẫu cũng thành kém sang
Điệu ca múa thời trang đổi khác
Vành mi tô, kiểu tóc thay hoài
Trống khua cưỡi ngựa ra coi
Chỉ toàn bọn ngốc học đòi cuồng ngông.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương Kiến 王建 (751-835) tự là Trọng Sơ 仲初, người Khoản Châu, Dĩnh Xuyên (nay là Hứa Xương, Hà Nam, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Đại Lịch thứ 10 (775), từng làm quan Tư mã Thiểm Châu. Ông trước tác Nhạc phủ cung từ rất được người ta khen ngợi, nổi danh ngang với Trương Tịch. Tác phẩm có Vương tư mã tập.

Nguồn: Thi Viện

ÁC LAI ÁC BÁO


Ca dao có câu :
 
Đời xưa báo trả nhãn tiền,
Đời nay quả báo cũng liền theo tay .
 
Nghĩa là xưa cũng như nay, hễ ác lại thì ác báo .
 
Ví dụ trường hợp của Tào Tháo thời Tam quốc .
 
Xin kể chuyện Tào Tháo :
 
Tào Tháo muốn giết Đổng Trác để cứu triều đình nhà Hán và nhân dân Trung Hoa ra khỏi bạo quyền . Tháo phải khuất thân thờ Đổng Trác để lừa dịp hạ thủ . Trác rất tin Tháo nên Tháo thường được hầu gần .
 
Một hôm Tháo nhận cây Thất Bảo đao của Vương Doãn, vào phủ Trác đặng thích khách, Đổng Trác đuơng ngồi trên gường gấm , Lã Bố đứng hầu bên cạnh . Thấy Tháo vào, Trác hỏI :
- Sao Mạnh Đức đến chậm thế ?
 
Tháo thưa :
 
- Vì con ngựa gầy nên đi chậm .
 
Trác quay lại bảo Lã Bố :
 
- Ta có nhiều ngựa tốt ở Tây Lương mới đến. Phụng Tiên hãy ra lựa cho Mạnh Đức một con .
Lã Bố vâng mệnh đi ra . Tháo nghĩ thầm:
 
-Thằng giặc này tận số .
 
Vừa toan rút dao đâm, nhưng sợ Trác to và khoẻ quá, nên chưa dám khinh động . Chợt Trác ngả mình nằm xuống quay mặt vào phía trong . Tháo khấp khởi mừng thầm, vội rút dao ra . Chẳng ngờ Trác trông vào gương thấy rõ mọi cử động của Tháo, vội quay lại hỏi :
  
- Mạnh Đức làm gì thế ?
 
Vừa lúc ấy , Lã Bố vừa dắt ngựa tới ngoài hiên . Tháo vội quỳ ngay xuống thưa ?:
 
- Tiểu tương có cây dao quí này, xin dâng lên ân nhân .
 
Trác cầm xem thấy dao dài hơn thước, chuôi khảm ngọc Thất bảo, lưỡi sáng như nước, bèn khen ngợi và trao cho Lã Bố cất . Tháo cởi vỏ đau đưa luôn cho Bố . Rồi Trác dẫn Tháo ra ngoài xem ngựa . Tháo tạ ơn và nói :
 
- XIn cho cỡi thử xem sao .
 
Trác ra lệnh thắng yên cương cho Tháo cỡi .
 
Ra khỏi phủ Tháo liền ra roi cho ngựa chạy nhanh.
 
Tháo đi rồi cha con Đổng Trác mới nghĩ ra rằng Tháo đã âm mưu hành thích, bèn thảo văn thư, hoạ hình Tháo, thông sứ đi khắp các nơi tróc nã .
 
Tháo ra khỏi thành phóng ngựa đi như bay . Đến huyện Trung Mâu bị lính bắt giải vào nộp quan . Quan huyện lệnh là Trần Cung phục chí khí của Thao, bỏ quan , trốn đi cùng Tháo . Đi được ba ngày, đến một địa phương gần Thành Cao, gặp lúc mặt trời lặn, Tháo cùng Trần Cung ghé vào nhà Lã Bá Xa là anh em kết nghĩa với cha Tháo , để hỏi thăm tin tức gia đình và nghỉ tạm một đêm .Lã Bá Xa mừng, hỏi :
 
- Ta nghe tiên triều tống văn thư đi tróc nã hiền điệt gấp lắm . Gia đình cháo đã đem nahu sang Trầu Lưu lánh nạn rồi . Sao hiền điệt còn tới đây được ?
 
Tháo đem câu chuyện gặp Trần Cung kể lại . Lã Bá Xa bái tạ Trần Cung :
 
- Nếu Tiểu điệt không gặp được sứ quân thì họ Tào đến tuyệt chủng mất . Vậy xin mời sứ quân an toạ và nghỉ tạm một đêm nơi gian nhà cỏ nầy .
 
Nói rồi đi vào nhà trong , hồi lâu mới đi ra bảo cùng khách :
 
- Nhà lão không sẵn rượu ngon, xin phép qua Tây thôn , mua một bầu về cùng uống .
 
Lã ông đi được giây lâu thì Tháo nghe sau nhà có tiếng mài dao . Tháo bảo Cung:
 
- Lã Bá Xa cùng nhà tôi không thân lắm mà ông ta ra đi đột ngột như vừa rồi thật là khả nghi . Vậy thử vào nhà trong nghe ngóng xem sao .
 
Hai người liền rón rén ra nhà sau , bỗng nghe tiếng nói :
 
- Trói lại mà giết .
 
Tháo thất kinh bảo Cung:
 
- Đúng rồi ! Nếu không hạ thủ trước, ắt bị chúng bắt .
 
Hai người bèn rút gươm xông vào, gặp ai giết nấy bất luận già trẻ trai gái . Giết luôn một lúc tam mạng người , thây nằm ngổn ngang ! Lúc lục tìm sau bếp thấy một con heo bị trói tròn nằm chờ chọc tiết ! Trần Cung kêu lên :
 
- Ôi thôi ! Mạnh Đức đa nghi giết lầm người tốt rồi !
 
Hai người vội vã ra khỏi trại , lên ngựa đi gấp . Đi được vài dặm đường đã thấy Lã Bá Xa, cỡi lừa đủng đỉnh trở về, hai bên yên đeo hai bầu rượu , tay cầm trái cây và rao thơm . Thấy Trần Cung và Tào Tháo, Lã Bá Xa liền kêu :
 
- Kìa hiền điệt và Sứ quân, sao lại bỏ đi như vậy ?
 
Tháo đáp:
 
- Kẻ có tội trong mình không dám ở lâu một chổ .
 
Bá Xa hết lời mời trở lại, nhưng Tháo không nhận, quất ngưạ đi luôn . Đi đươc. một đoạn đường, Tháo bỗng quay ngựa chạy theo Bá Xa và gọi lớn :
 
- Xin bá phụ dừng ngựa cho nhắn lời này .
 
Bá Xa nghe kêu vừa quay đầu lại thì Tháo vung gươm chém chết ! Trần Cung kinh hãi noí :
- Vừa rồi đã lầm, sao bây giờ còn giết nữa ?
 
Tháo đáp:
 
- Để Bá Xa về thấy cảnh toàn gia bị sát hại thì đời nào chịu bỏ qua . Nhất định hô hoán làng xóm đuổi bắt . Như thế chúng ta mắc đại hoạ ngay .
 
Trần Cung than :
 
- Biết là giết oan mà cố giết như vậy là đại bất nghĩa .
 
Tháo nói :
 
- Thà mình phụ người còn hơn người phụ mình .
 
Trần Cung lặng thinh .
 
Đêm ấy hai người vào quán nghỉ. Tháo ngủ trước, Trần Cung bứt rứt không nằm yên, tự nghĩ :
 
- Mình tưởng nó là người tốt, bỏ quan mà theo . Ai ngờ là phường lòng lang dạ thú . Nếu để nó sống ắt gây tai vạ về sau .
 
Nghĩ rồi rút gươm tiến lại bên giường để giết Tháo, nhưng nghĩ lại :
 
- Mình vì việc nước mà theo hắn đến đây, nếu lại giết hắn thì mình cũng là người bất nghĩa . Âu bỏ hắn mà đi nơi khác thì hơn .
 
Đoạn tra kiếm vào vỏ, lên ngựa đi sang Đông quận .
 
Tháo thức dậy không thấy Trần Cung, tự nhủ :
 
- Anh này nghe mình nói thật quan niệm xử thế của mình, nghi mình là đứa bất nhân, nên bỏ mà đi đây .
 
Liền hối hả lên ngựa đi gấp .
 
ThÁo đến Trần Lư thăm cha, rồi đi chiêu mộ hào kiệt, không bao lâu gây nên sự nghiệp lớn ở đất Sơn Đông .


Nhớ ơn sanh thành, Tháo sai người đi rước cha là Tào Tung ở Trần Lưu về cùng hưởng phú quý .Tào Tung cùng em là Tào Đức và gia quyến trên bốn mươi người , đem theo hơn một trăm đầy tớ thân tín, ngồi xe đến Sơn Đông . Khi đến TừnChâu, quan Thứ sử Đào Khiêm, vốn hâm mộ Tào Tháo, muốn kết giao nhưng chưa có dịp, nay nghe tin Tào Tung đi qua, liền ra nghênh tiếp . Sau khi thiết tiệc đãi đằng . Đào Khiêm thân hành tiễn Tào Tung ra khỏi thành, lại sai viên đô úy là Trương Khải đem 500 quân bản bộ đi hộ tống.
 
Lúc bấy giờ nhằm tiếc thu sang . Khi qua quyến Tào Tung tới Hoa Phi thì gặp mưa lớn, phải ghé vào một ngôi chùa bên đường mà nghỉ ngơi đọi tạnh . Nhưng cơn mưa kéo dài, đêm phải nghỉ lại chùa . Tào Tung sai Trương Khải đem binh đóng dọc theo hai bên hành lang chùa để canh phòng . Lính bị ướt, đều ta thán . Nửa đem Trương Khải gọi bọn đầu mục vào nơi vách kín bàn nhỏ cùng nhau :
 
-Chúng ta là du đảng Khăn Vàng bất đắc dĩ phải hàng Đào Khiêm . Từ bấy đến nay chưa được gì vừa ý . Nay nhà họ Tào qua đây có của cải vô số chất chứa trên xe . Chúng ta giết hết cả nhà họ Tào, đoạt lấy của cải , về núi theo nghiệp cũ còn hơn .
 
Ai nấy đều hưởng ứng .
 
Thế là khuya đêm ấy Trương Khải hô năm tram quân phá cửa chùa vào giết sạch gia quyến và tôi tớ của Tào Tung . Tào Tung cùng nàng hầu chạy trốn vào nhà xí cũng bị Trương Khải tìm giết chết ! Giết hết cả nhà Tào Tung và vơ vét hết của cải , bọn Trương Khải phóng hoả đốt chùa rồi kéo nhau lên núi .
 
Người sau có thơ rằng:
 
Tào Tháo gian hùng thế sở khoa,
Tằng tương Lã thị sát toàn gia .
Như kim hạp hộ tao nhân sát:
Thiên lý tuần hoàn báo bất sa .
 
Nghĩa là :
 
Tào Tháo gian hùng thế chẳng hai,
Giếg nhà Lã Bá chẳng còn ai !
Nhà Tào chết dưới guơm người khác :
Quả báo từ xưa lý chả sai .
 
(Sưu tầm trên mạng)

CHU SA - KHOÁNG VẬT NHƯNG NHIỀU NGƯỜI LẦM TƯỞNG LÀ THẢO DƯỢC

Từ lâu, chu sa nổi tiếng như một vị thuốc hỗ trợ điều trị nhiều chứng bệnh. Trong đông y, chu sa được sử dụng khá phổ biến. Vị thuốc này đặc biệt hiệu quả trong điều trị suy nhược thần kinh, hôn mê, mất ngủ,.. Tuy vậy, bạn tuyệt đối không nên sử dụng bừa bãi chu sa mà cần tham khảo kỹ tư vấn của thầy thuốc.

Hình ảnh chu sa trong thực tế

1. Chu sa là gì?

Không ít người vẫn lầm tưởng chu sa là một loại thảo dược. Nhưng thực chất thì chu sa lại là một dạng khoáng vật từ thủy ngân với màu đỏ tự nhiên. Loại khoáng vật này không qua điều chế mà thường tìm thấy trong tự nhiên.

Qua phân tích, người ta nhận thấy rằng chu sa chiếm thành phần chính là thủy ngân (HgS nhóm II). Nói cho dễ hiểu thì đây là một dạng đá đỏ, điều chế theo dạng bột nghiền nhỏ với bị ngọt đặc trưng và tính hàn.

Chu sa được tìm thấy nhiều tại khu vực núi lửa từng phun trào. Có thể loại khoáng vật này tồn tại khá nhiều trong lòng núi lửa.

Từ hàng ngàn năm nay, con người đã biết khai thác và sử dụng chu sa. Loại khoáng vật đặc biệt này có khả năng tạo màu, là nguyên liệu trong sản xuất thủy ngân, ứng dụng vào trong y học.
 
2. Thành phần hóa trong chu sa

Như vừa phân tích, thành phần chính của khoáng vật chu sa chủ yếu là thủy ngân (chiếm 86.2%). Bên cạnh đó còn phải kể đến 13.8% sulfua cùng với tỉ lệ nhỏ chất hữu cơ hoặc tạp chất khác.

Thành phần chính trong khoáng vật chu sa là thủy ngân

Nếu đem nung nóng chu sa, bạn dễ dàng nhận thấy màu sắc dần chuyển sang màu đen, cho thấy tỷ lệ thủy ngân khá cao trong thành phần. Sau khi chuyển sang màu đen thì một SO2 từ chu sa bắt đầu xuất hiện.

Trong quá trình phân tích hóa học, người ta còn nhận thấy muối HgSe trong loại khoáng vật này tồn tại theo dạng keo. Đặc biệt muối trong chu sa hỗ trợ an thần khá tốt, giúp cải thiện chất lượng, ngăn chặn co giật.
 
3. Phương pháp điều chế chu sa cơ bản

Chu sa hiện nay thường được điều chế theo hai phương pháp cơ bản.
 
3.1. Phương pháp 1

Trường hợp cần sử dụng một lượng nhỏ chu sa, có thể đem chu sa mài với nước sạch rồi tán thành bột nhỏ. Quá trình mài cần thực hiện đi thực hiện lại để loại bỏ chất cặn bã. Để loại bỏ hoàn toàn tạp chất thì người ta còn dùng nam châm hút tạp chất.

Bột chu sa đã qua tinh chế

Thành phẩm cuối cùng chính là phần bột mịn màu đỏ. Bột chu sa tinh khiết có thể sắc uống. Liều dùng mỗi ngày tương đương 0.3g đến 1.5g.
 
3.2. Phương pháp 2

Nếu như cần dùng đến chu sa với một lượng lớn hơn, chu sa sẽ được nghiền trong một chiếc cối sứ cùng với nước. Cứ sau mỗi lần nghiền, người ta lại chắt đi một chút nước và giữ bột lại.

Phần bột đỏ mịn còn lẫn nước cần phải để lắng trong vài giờ. Sau đó người ta mới bắt đầu gạn bỏ đi phần nước phía trên và thu phần bột mịn màu đỏ lắng xuống phía dưới.

Tiếp theo, bột mịn được phơi dưới bóng râm cho đến khi nước bốc hơi hoàn toàn. Cuối cùng, bột mịn mới cho vào lọ thủy tinh. Trong quá trình bảo quản bạn cần lưu ý không cho bột chu sa tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng mặt trời.
 
4. Công dụng và liều lượng sử dụng chu sa

Trong quá trình tìm hiểu về chu sa, bạn chắc chắn cần phải tham khảo qua về công dụng và liều lượng sử dụng lý tưởng.
 
4.1. Công dụng

Trong Đông y, công dụng chính của chu sa là an thần. Chính vì thế người hay bị lên cơn co giật, tim đập nhanh khi hồi hộp, phim mất ngủ,.. Có thể sử dụng chu sa.

Chu sa có tác dụng an thần khá tốt

Bên cạnh dùng theo dạng tinh chế thì chu sa cũng thường được phối hợp cùng xạ hương,... Sau đó đem sắc cùng với nước sạch. Trước khi uống bạn chỉ cần khuấy đều cho bột tan.

Chu sa có khả khả năng chống viêm khá tốt. Trường hợp bị nhiệt miệng, xuất hiện mụn phồng rộp, nhiễm khuẩn,... Trong Đông y có thể cho bệnh nhân dùng thêm vị thuốc chứa chu sa.
 
4.2. Liều lượng sử dụng

Tùy vào từng tình trạng bệnh lý, thể trạng người bệnh mà sẽ chỉ định liều lượng chu sa phù hợp. Nhưng với chu sa dạng bột hoặc dạng viên thì liều lượng dùng trong ngày nên dao động từ 0.4 gam đến 2 gam tùy từng trường hợp.
 
5. Tham khảo một vài bài thuốc chữa bệnh từ chu sa

Chu sa có thể biến tấu thành nhiều bài thuốc, hỗ trợ điều trị từng chứng bệnh cụ thể.

Chu sa có thể biến tấu thành nhiều bài thuốc
  • Bài thuốc trị di tinh: Nấu chín chu sa cùng với một quả tim lợn, người bệnh cần dùng ngay khi món tim nấu chu sa còn nóng.

  • Bài thuốc chữa suy nhược thần kinh: Bạn cần chuẩn bị một số nguyên liệu như đương quy 2 gam, hoàng liên 6 gam. Cùng với đó là 4 gam chu sa, cam thảo và sinh địa. Bạn cho tất cả những nguyên liệu này hầm cách thủy, sau đó dùng ngay.

  • Bài thuốc chữa hôn mê, co giật: Chuẩn bị sẵn 15 gam hoàng liên, 1 gam ngưu hoàng. Và khoảng 6 gam chu sa, 12 gam sơn chi và hoàng cầm. Tiếp theo, nghiền nhỏ tất cả nguyên liệu này thành dạng bột. Mỗi lần sử dụng, bạn cần sắc 3 gam hỗn hợp bột mịn này cùng nước và dùng ngay.

Lưu ý: không tự ý sử dụng các bài thuốc mà không có tư vấn, chỉ định của thầy thuốc, bác sĩ.
 
6. Một vài ý trong quá trình sử dụng chu sa

Chu sa mặc dù xếp vào nhóm vị thuốc quý. Thế nhưng không vì vậy mà bạn tự ý sử dụng. Bởi nếu dùng không đúng cách loại thuốc này dễ gây phản tác dụng không mong muốn.

Bạn nên thủ chỉ dẫn của thầy thuốc nếu sử dụng chu sa

  • Tham khảo ý kiến thầy thuốc: Chu sa chủ yếu sử dụng trong đông y. Nếu có ý định sử dụng vị thuốc này, bạn hãy tham khảo kỹ ý kiến của thầy thuốc chuyên môn.

  • Dùng đúng hướng dẫn: Liều lượng sử dụng đặc biệt tuân thủ theo đúng hướng dẫn từ phía thầy thuốc. Bạn tuyệt đối không nên thêm bớt liều lượng.

  • Không tự ý kết hợp với các loại thuốc khác: Nếu kết hợp bừa bãi với những loại thuốc khác, dược tính của chu sa bị ảnh hưởng hoặc tạo tác dụng phụ không mong muốn. Vì vậy nếu không có am hiểu chuyên môn, bạn tốt nhất không nên tự ý phối hợp chu sa với các loại thuốc khác.

Lưu ý, phần hướng dẫn một số bài thuốc kết hợp cùng chu sa trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Trước khi áp dụng, bạn cần hỏi ý kiến thầy thuốc chuyên môn.

Trường hợp nhận thấy cơ thể xuất hiện dấu hiệu bất thường, bạn không nên tự chữa trị tại nhà. Mà thay vào đó hãy đến cơ sở y tế uy tín để khám chữa, đảm bảo an toàn. Một địa chỉ bạn có thể tham khảo là Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC có bề dày lịch sử gần 30 năm.

Sở hữu thiết bị hỗ trợ thăm khám hiện đại cùng với đội ngũ y bác sĩ giỏi về chuyên môn, tận tình trong khám chữa, MEDLATEC luôn sẵn sàng phục vụ quý khách. Nếu có nhu cầu đặt lịch khám, xét nghiệm hoặc tư vấn, Quý khách có thể liên hệ hotline 1900 56 56 56 luôn hoạt động 24/7 của bệnh viện.

Mong rằng từ bài chia sẻ, bạn đã hiểu hơn về dược tính cũng như cách sử dụng chu sa. Lưu ý rằng mọi thông tin mà vừa tổng hợp chỉ có tính chất tham khảo. Vì thế trước khi áp dụng, bạn cần chú ý tham khảo ý kiến thầy thuốc hoặc bác sĩ chuyên môn, tuyệt đối không nên sử dụng chu sa một cách tùy tiện.

Theo: medlatec.vn

Monday, October 19, 2026

DỰA VÀO KHẨU VỊ CÓ THỂ BIẾT NGŨ TẠNG CÓ KHỎE MẠNH HAY KHÔNG

Trong cuộc sống, có người thích đồ ngọt, có người thích ăn cay… Chỉ cần dựa vào khẩu vị một người là có thể biết được ngũ tạng khỏe mạnh hay không.


Mỗi người đều có khẩu vị khác nhau. Trên thực tế, ngoài các yếu tố như vùng miền, di truyền và thói quen ăn uống hình thành từ nhỏ, thì liên quan đến việc đặc biệt thích một mùi vị nào đó, đôi khi chính là tín hiệu của sự mất cân bằng dinh dưỡng hoặc sức khỏe không bình thường, khi khẩu vị thay đổi đột ngột có thể là cảnh báo tình trạng sức khỏe của các cơ quan trong cơ thể.

Thích vị chua: Cho thấy vấn đề về gan

Nếu một người thích vị chua hoặc đột nhiên thích vị chua thì có thể là biểu hiện của các vấn đề về gan. Thích vị chua lâu ngày hoặc ăn quá nhiều đồ chua sẽ dẫn đến suy gan và khí cơ không thông suốt. 

Những người thích ăn vị chua nên chọn đồ ăn có độ chua vừa phải (ảnh minh họa Hellobacsi)

Những người thích ăn vị chua thông thường có thể chọn các loại rau củ quả tươi có vị chua vừa phải như cà chua, cam, dương mai, lựu, chanh, nho, táo xanh, mận bắc…giảm ăn các sản phẩm dưa chua, đồ muối chua.

Thích vị đắng: Đa số là do tâm hỏa gây nên

Vị đắng vào tim, vị đắng có thể thanh nhiệt tâm hỏa, giải nhiệt. Những người thích vị đắng thường là biểu hiện của tâm hỏa, thường kèm theo các triệu chứng như hồi hộp, mất ngủ, khóe miệng lở loét, đầu lưỡi đỏ.

Thực phẩm đắng chủ yếu là có tính hàn. Thích ăn đắng lâu ngày không chỉ tổn thương tâm khí, mà còn làm trầm trọng thêm các triệu chứng tỳ vị hư hàn như ăn không ngon, lạnh bụng, đau bụng, tiêu chảy. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc thường xuyên ăn đồ có vị đắng, uống trà lạnh cũng có thể gây ra các bệnh về xương khớp.
 
Thích vị ngọt: Tổn thương tỳ vị

Vị ngọt vào tỳ, vị ngọt có tác dụng bổ tỳ vị. Những người nghiện vị ngọt thường xuất hiện chứng tỳ hư, đa số bệnh nhân mắc bệnh tỳ vị đều nghiện vị ngọt. Vị này sẽ càng làm tổn thương lá lách và dạ dày. Đối với bệnh nhân đang bị viêm loét sẽ kích thích dạ dày tiết nhiều axit, làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh. Ngoài ra, nghiện vị ngọt còn có thể gây sâu răng, tiểu đường, béo phì và tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp. 

Bạn có thể chọn táo có hàm lượng đường thấp và vị ngọt vừa phải thay cho món tráng miệng (ảnh: Laodong)

Nên chọn các loại ngũ cốc, trái cây, rau củ ít đường, có vị ngọt dịu như khoai mỡ, củ sen, bí đỏ, khoai lang, ngô, các loại đậu, thanh trà, dứa, kiwi… Thường có thể dùng cháo đậu xanh lá sen, canh rau củ, khoai từ luộc thay món tráng miệng.

Thích vị cay: Hao tổn khí

Vị cay đi vào phổi, vị cay có thể giải biểu (có tác dụng làm ra mồ hôi), hành khí (có tác dụng thúc đẩy khí huyết lưu thông), điều hòa khí huyết. Ví dụ như ở Tứ Xuyên (Trung Quốc) có nhiều núi cao trùng điệp, dễ mắc chướng khí. Vì thế, người ở địa phương này thích ăn cay, để lưu thông khí huyết, thải chướng khí. Những người bệnh phổi thích ăn cay, thường là một loại lựa chọn tự nhiên dựa trên nhu cầu sinh lý để khai thông khí phổi và hóa giải các chứng bệnh. Về lâu dài, ăn quá nhiều đồ cay có thể khiến khí phổi phát ra quá nhiều, khí cơ tiêu tán, hao mòn tinh thần, khiến người mệt mỏi. 

Các món ăn thường ngày có thể thêm các gia vị cay với mức độ vừa phải (ảnh minh họa vinmec)

Cho vào món ăn thường ngày một ít gừng tươi, ớt, hành lá, tỏi… các loại đồ cay làm gia vị, có thể cải thiện khẩu vị, nhưng phải có chừng mực, để tránh kích thích dạ dày.

Thích vị mặn: Tổn hại thận

Vị mặn đi vào thận, vị mặn vừa phải có tác dụng bổ thận. Người ở vùng lạnh thường thích ăn mặn. Điều này cũng liên quan đến việc ăn mặn có thể bổ thận, chuyển hóa thành dương khí để chống lạnh, tăng cường khả năng chống lạnh của cơ thể. Thích ăn mặn lâu ngày sẽ làm tổn thương thận, còn có thể gây ra bệnh cao huyết áp, bệnh tim, hen suyễn, bệnh thận mãn tính v.v. Bạn nên chú ý giảm lượng muối trong món ăn.

Khẩu vị của một người không chỉ thể hiện thói quen ăn uống mà còn cho thấy tình trạng sức khỏe của các cơ quan trong cơ thể. Do đó, chúng ta nên chú ý ăn uống cân bằng để giữ gìn sức khỏe của mình.

Uyển Nhi / Theo: visiontime

TỀ AN QUẬN VÃN THU - ĐỖ MỤC


Tề An quận vãn thu

Liễu ngạn phong lai ảnh tiệm sơ,
Sứ quân gia tự dã nhân cư.
Vân dung thuỷ thái hoàn kham thưởng,
Khiếu chí ca hoài diệc tự như.
Vũ ám tàn đăng kỳ tán hậu,
Tửu tỉnh cô chẩm nhạn lai sơ.
Khả liên Xích Bích tranh hùng độ,
Duy hữu thoa ông toạ điếu ngư.


齊安郡晚秋

柳岸風來影漸疏
使君家似野人居
雲容水態還堪賞
嘯誌歌懷亦自如
雨暗殘燈棋散後
酒醒孤枕雁來初
可憐赤壁爭雄渡
唯有蓑翁坐釣魚


Cuối thu ở quận Tề An
(Dịch thơ: Nguyễn Minh)

Hình ảnh liễu gió lên mờ nhạt
Nhà sứ quân nom hệt nhà dân
Đẹp thay mặt nước mây vần
Lời ca tiếng sáo thanh âm tuyệt vời
Mưa u ám cờ chơi vừa dứt
Tỉnh rượu trên gối chiếc nhạn qua
Thương cho Xích Bích bến xưa
Chỉ còn ông lão áo mưa câu ngồi.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng. Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng tong, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thư ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn).

Nguồn: Thi Viện