Tuesday, June 23, 2026

CHINH PHỤC NHỮNG VÌ SAO - KỲ 10: TÌM CÂU TRẢ LỜI LOÀI NGƯỜI CÓ CÔ ĐƠN TRONG VŨ TRỤ

Thế chiến thứ 2 thảm khốc kết thúc chưa tròn hai thập niên, nhân loại đã chứng kiến bước nhảy vọt khoa học vũ trụ.

Phi hành gia Eugene Cernan của Apollo 17 chụp cùng lá cờ Mỹ trên Mặt trăng năm 1972 - Ảnh: NASA

Đặc biệt, trong thập niên 1960, hai siêu cường Liên Xô và Mỹ đã liên tục phóng tàu vũ trụ không người lái và có người lái lên bầu trời xa thẳm mà trước đó không lâu loài người chỉ có thể nhìn ngắm qua kính thiên văn.

Liên Xô nối nhau các chương trình phóng Sputnik, Vostosk, Voskhod, Soyuz. Mỹ gặt hái nhiều thành công lịch sử với các dự án vũ trụ Explorer, Pioneer, Mercury, Gemini, Apollo... Đồng thời cũng gửi thông điệp ra vũ trụ để tìm câu trả lời loài người có đơn độc trong vũ trụ này không?

Loài người đã hiểu biết "chị Hằng"

Sau thành công lịch sử của Apollo 11 với hai phi hành gia đầu tiên của loài người là Neil Armstrong và Buzz Aldrin đặt chân lên Mặt trăng, Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA) lại tiếp tục đưa phi hành gia lên đây với tổng cộng 12 người Mỹ.

Không chỉ đi bộ, lấy mẫu vật Mặt trăng, họ còn lái xe tự hành khám phá và ở lại nhiều giờ để làm các nhiệm vụ khoa học.

Ngày 14-11-1969, phi thuyền Apollo 12 được phóng từ Mũi Kennedy, bang Florida với siêu tên lửa Saturn V từng thành công ngoạn mục với các dự án phóng Apollo trước đó.

Mặc dù giây thứ 52 trong hành trình bay, tàu bị sét đánh nhưng chuyến bay vẫn tiếp diễn an toàn đúng kế hoạch. Ba phi hành gia Mỹ Charles Conrad, Alan Bean và Richard Gordon điều khiển phi thuyền, trong đó Charles Conrad nhận lãnh trách nhiệm chỉ huy.

Theo NASA, ngày 19-11, khoang đổ bộ tàu Apollo 12 với hai phi hành gia Conrad và Bean hạ cánh thành công xuống vị trí gần miệng núi lửa Head trên Mặt trăng, cách vị trí hạ cánh của Apollo 11 khoảng 1.500km về phía tây.

Tổng cộng họ đã được trải qua 7 giờ 45 phút trên bề mặt Mặt trăng, không tính thời gian vào lại khoang đổ bộ để nghỉ ngơi. Ngoài chụp hình, quay phim, họ còn lấy mẫu vật đất đá ở độ sâu khoảng 40-81cm dưới bề mặt Mặt trăng và lắp đặt thiết bị khảo sát gió Mặt trời, bức xạ, địa chấn... trên đây.

Ngày 22-11, Apollo 12 chuẩn bị về lại Trái đất. Một ngày sau, họ còn tổ chức cuộc họp báo khi đang cách Trái đất 174.000km. S

ang ngày 24-11, tàu tái nhập khí quyển và kết thúc an toàn chuyến bay 10 ngày khi hạ cánh xuống Thái Bình Dương chỉ chệch điểm dự kiến chưa tới 5km sau chuyến bay kéo dài tất cả 244 giờ 36 phút 25. Tàu cứu hộ USS Hornet đã sẵn sàng đón các phi hành gia nước Mỹ.

Sau đó năm tháng, NASA lại phóng Apollo 13 lên Mặt trăng ngày 11-4-1970 nhưng thất bại. Ở thời điểm 55 giờ 46 phút sau giờ phóng, phi hành đoàn vừa kết thúc chương trình truyền hình dài 49 phút về Trái đất và nói lời "chúc ngủ ngon" thì chín phút sau, bình oxy số 2 phát nổ khiến bình số 1 cũng bị hỏng.

Nguồn cung cấp điện, ánh sáng và nước bình thường của khoang điều khiển bị mất lúc họ đang cách Trái đất khoảng 320.000km. Tuy nhiên đội nhiệm vụ mặt đất của NASA cùng ba phi hành gia trên tàu đã xuất sắc đưa Apollo trở về thành công vào ngày 17-4-1970.

Tàu cứu hộ USS Iwo Jima vớt họ an toàn gần đảo Samoa trên Thái Bình Dương. Nước Mỹ và nhiều người dân thế giới vỡ òa cảm xúc vui mừng. Câu chuyện này về sau được dựng bộ phim nổi tiếng.

Thất bại với Apollo 13 không làm NASA và Chính phủ Mỹ nản chí. Các chuyến bay Apollo 14, 15, 16, 17 lên Mặt trăng liên tiếp thành công trong các năm 1971-1972 và đưa thêm tám phi hành gia đặt chân lên Mặt trăng.

Số giờ họ hoạt động trên bề mặt "chị Hằng" (không tính thời gian nghỉ trong khoang hạ cánh) tăng lên từ 9 giờ đến hơn 22 giờ. Kể từ Apollo 15, con người cũng lần đầu lái xe tự hành trên Mặt trăng để khám phá rộng ra hàng chục km.

Apollo 17 là chuyến bay cuối cùng vào tháng 12-1972. Hai phi hành gia Gene Cernan và Harrison Schmitt cũng lập kỷ lục đi bộ trên Mặt trăng trong ba chuyến dài 22 giờ 02 phút. Tổng cộng 12 người Mỹ đã được in dấu chân mình trên Mặt trăng trong sáu chuyến bay bằng vũ trụ mang tên thần Apollo.

Đĩa vàng gửi thông điệp về loài người cùng Trái đất trên tàu Voyager 1 và 2 - Ảnh: NASA

Tìm câu trả lời từ vũ trụ

Thành công với chương trình Apollo và trở thành siêu cường duy nhất đưa được người lên Mặt trăng nhưng thật ra trước đó Mỹ cũng như Liên Xô đã có tham vọng vươn xa trong vũ trụ sâu thẳm. Đó chính là khát khao đi tìm câu trả lời phải chăng loài người đơn độc trong vũ trụ bao la này?

Suốt hàng ngàn năm, con người nhìn lên bầu trời bao la và tự hỏi ngoài Trái đất có sự sống này, còn nơi nào trong vũ trụ cũng có sự sống, có hay không anh em của nhân loại và họ đang ở đâu trong tỉ tỉ ngôi sao lấp lánh kia?

Để trả lời câu hỏi vĩ đại này, ngày 2-3-1972 NASA đã phóng tàu không người lái Pioneer 10 bằng tên lửa Atlas-Centausr cho hành trình khám phá các hành tinh xa xăm hơn Apollo. Đây là tàu vũ trụ đầu tiên của loài người bay đến được sao Mộc vào tháng 12-1973 và truyền về Trái đất những bức ảnh đầu tiên chụp gần Mộc tinh.

Hơn một năm sau, vào ngày 6-4-1973, NASA lại phóng tiếp tàu Pioneer 11 để khám phá vũ trụ xa xôi như vành đai tiểu hành tinh, sao Mộc, sao Thổ, gió Mặt trời và bức xạ vũ trụ... Pioneer 11 được ghi vào lịch sử kỷ nguyên vũ trụ là tàu thăm dò đầu tiên tới được sao Thổ, là con tàu thứ hai bay xuyên qua vành đai tiểu hành tinh và qua sao Mộc...

Điều đặc biệt của hai con tàu vũ trụ này là NASA đều thiết kế mang theo thông điệp loài người gửi ra vũ trụ: tấm bảng nhôm mạ vàng có hình ảnh con người và vị trí Trái đất để nếu nền văn minh khác ngoài vũ trụ gặp được sẽ biết về loài người và cách tìm được, tất nhiên viễn cảnh này sẽ ở một tương lai rất xa.

Theo NASA, tấm bảng gửi thông điệp của loài người ra vũ trụ này là ý tưởng của giáo sư thiên văn học Carl Sagan. Ông muốn bất kỳ nền văn minh ngoài hành tinh nào có thể tình cờ gặp con tàu vũ trụ này đều biết ai đã chế tạo nó và cách liên lạc với họ.

Bảng thông điệp cho biết vị trí của Trái đất trong dải Ngân hà và hình vẽ một người đàn ông cùng một người phụ nữ khỏa thân - hình ảnh đặc trưng nhất của loài người.

Đến nay, tàu vũ trụ Pioneer 10 đang hướng tới ngôi sao Aldebaran trong chòm sao Kim Ngưu và sẽ mất hơn 2 triệu năm để đến được đó. Còn tàu Pioneer 11 đang hướng tới chòm sao Đại Bàng (Aquila) ở phía Tây Bắc của chòm sao Nhân Mã. Con tàu sẽ đi qua gần một trong những ngôi sao trong chòm sao này trong khoảng 4 triệu năm nữa.

Pioneer 10 mất liên lạc với NASA năm 2006, Pioner 11 mất liên lạc vào năm 1995 nhưng cả hai tàu vẫn đang tiếp tục bay. Đến nay hai phi thuyền của nhân loại đã lang thang trong vũ trụ hơn 50 năm nhưng con người vẫn chưa nhận được hồi âm từ một nền văn minh nào đó ngoài vũ trụ.

Nhiều nhà khoa dự kiến rằng viễn cảnh đó có thể xảy ra sau hàng triệu năm nữa dù xác suất rất nhỏ và lúc đó chưa biết loài người sẽ như thế nào...

Phi thuyền bay xa nhất trong vũ trụ

Đến nay, Voyager 1 và Voyager 2 là hai phi thuyền được NASA phóng vào năm 1977 đạt kỷ lục du hành vũ trụ xa nhất, trong đó Voyager 1 đang cách trái đất 24 tỉ km.

Cũng giống tàu Pioneer 10, 11 phóng trước đó, cả hai tàu Voyager đều mang theo đĩa vàng (Golden Record) lưu trữ những âm thanh, hình ảnh thế giới tự nhiên và loài người cùng đoạn chào hỏi bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau trên Trái đất, đặc biệt có cả âm nhạc Mozart.

Nếu gặp được hai tàu này, nền văn minh nào đó ngoài vũ trụ sẽ hiểu về loài người, thế giới tự nhiên trên Trái đất cũng như định vị được để tìm trong hệ Mặt trời. Tuy nhiên hai phi thuyền Voyager đã bay xa thẳm gần 50 năm trong vũ trụ mà loài người vẫn chưa nhận được hồi âm...

*****************

>> Kỳ cuối: Khi tư nhân vào cuộc khám phá vũ trụ

Thùy Chi / Theo: Tuoitre

Monday, June 22, 2026

ẨM THỰC QUẾ LÂM : HƯƠNG VỊ ĐẶC SẮC VÀ ĐỘC ĐÁO

Ẩm thực Quế Lâm, một trong những viên ngọc quý của nền ẩm thực Trung Hoa. Là sự kết hợp tinh tế giữa hương vị và văn hóa truyền thống. Nằm trong tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Quế Lâm không chỉ nổi tiếng với phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ mà còn với những món ăn đặc trưng; phong phú và hấp dẫn. Hãy cùng QTEDU tìm hiểu về ẩm thực tại vùng đất này nhé!


Mỳ gạo Quế Lâm

Mì gạo Quế Lâm là một món ăn đặc trưng của Quế Lâm. Món ăn này được làm từ bột gạo, có sợi dài và đàn hồi như spaghetti. Mì gạo thường kết hợp với thịt hấp, thịt quay, lạc rang, măng và rau thơm. Nước dùng của mì gạo Quế Lâm đậm đà và thơm ngon. Nó tương tự như nước dùng trong món mì Quảng nổi tiếng.

Các quán mì gạo Quế Lâm phục vụ với nhiều bát gia vị và món ăn kèm. Thực khách có thể tự do điều chỉnh hương vị theo sở thích cá nhân. Điều này làm tăng thêm sự hấp dẫn của món ăn. Mì gạo Quế Lâm không chỉ ngon mà còn là biểu tượng văn hóa ẩm thực Quế Lâm. Với hương vị đặc trưng, món ăn này thu hút du khách khám phá nền ẩm thực nơi đây.


Món vịt già hầm bạch quả

Bạch quả, hay ginkgo, là một thảo dược quý trong Đông y. Nó có nhiều tác dụng tuyệt vời đối với sức khỏe. Khi kết hợp với vịt già trong món hầm, bạch quả làm tăng hương vị và mang lại nhiều lợi ích dinh dưỡng. Vịt già có thịt chắc, ít mỡ và hương vị đậm đà. Khi hầm kỹ với bạch quả, món ăn trở nên bổ dưỡng và hấp dẫn.

Món vịt già hầm bạch quả không chỉ ngon mà còn là phương thuốc tự nhiên hỗ trợ sức khỏe. Bạch quả có khả năng tăng cường trí nhớ và cải thiện chức năng não bộ. Nó cũng hỗ trợ tuần hoàn máu và có tác dụng tốt với sinh lý. Bạch quả giúp nâng cao sức khỏe tổng thể và tinh thần minh mẫn.

Khi thưởng thức món ăn này, bạn sẽ cảm nhận sự hòa quyện hoàn hảo giữa vị ngọt thanh của bạch quả và vị béo ngậy của thịt vịt. Nước hầm thấm đượm hương vị, tạo nên một trải nghiệm ẩm thực thú vị và bổ dưỡng. Món ăn này rất phù hợp cho người cao tuổi hoặc những người cần tăng cường sức khỏe.


Cá bia Dương Sóc

Ẩm thực Quế Lâm nổi tiếng với những món ăn đậm đà và mang phong vị đặc trưng. Một món ngon không thể bỏ qua là cá bia Dương Sóc. Đây là món ăn tinh tế, hấp dẫn và yêu thích bởi cả người dân địa phương lẫn du khách.

Cá bia Dương Sóc kết hợp giữa nguyên liệu tươi ngon từ sông Li Giang và bia Dương Sóc. Cá chọn lựa phải là cá từ sông Li Giang, dòng chảy được mệnh danh là “linh hồn” của Quế Lâm. Bia Dương Sóc, sản phẩm địa phương, giúp tăng cường hương vị món ăn. Nó làm thịt cá mềm mịn và thấm đượm hương bia.

Một yếu tố không thể thiếu là tương ớt Quế Lâm. Tương ớt này có vị cay nồng đặc trưng. Khi kết hợp với cá và bia, chúng tạo nên một sự hòa quyện hoàn hảo. Sự kết hợp này làm nên sự hấp dẫn không thể cưỡng lại của món cá bia Dương Sóc.

Quá trình chế biến cá bia Dương Sóc cũng là một nghệ thuật. Cá được làm sạch, tẩm ướp gia vị và nấu chung với bia Dương Sóc. Món ăn được phục vụ trong những chảo cá to, đặt trên bếp lửa. Hương thơm bốc lên từ chảo khiến thực khách không thể chờ đợi để thưởng thức.


Cơm ống tre dân tộc Choang

Cơm ống tre dân tộc Choang là món ăn đặc sắc của Quế Lâm, mang nét đặc trưng và sáng tạo của người Choang. Món cơm này giống như cơm lam của Việt Nam, được chế biến bằng cách nhồi gạo thơm và thịt xay vào ống tre. Sau đó, nêm gia vị và cho nước vừa đủ, bịt kín bằng lá chuối rồi nướng cho đến khi tre chuyển màu đen.

Quá trình làm món cơm đòi hỏi sự tỉ mỉ và tinh tế. Gạo thơm phải có độ dẻo vừa đủ để khi nấu trong ống tre, cơm trở nên dẻo mềm và thấm hương vị của lá chuối và tre. Thịt xay được chọn lọc và gia vị sao cho mang lại hương vị đậm đà, giống như patê tự nhiên.

Sau khi nhồi gạo và thịt vào ống tre, món cơm được nướng trực tiếp trên lửa than hoặc lửa củi. Quá trình nướng giúp tre chuyển màu từ xanh non sang đen, giữ độ dẻo của cơm và tạo lớp vỏ ngoài hấp dẫn. Món ăn có hương vị đặc biệt và thú vị.


Thịt lợn lát với Lipu

Thịt lợn thái lát với Lipu là một trong những món ăn truyền thống nổi tiếng của Quế Lâm. Nó sử dụng khoai môn Lipu và lợn bụng làm nguyên liệu và được chế độ thông qua nấu, chiên, hấp và các quy trình khác. Khoai môn có kết cấu tinh tế, thơm và dẻo, thịt ba chỉ béo nhưng không béo ngậy và tan chảy trong miệng khi kết hợp với nhau, cả hai đều thơm ngon và bổ dưỡng.


Ốc Sông Li

Ốc Quế Lâm là một trong những món ngon kinh điển ở các nhà hàng, quán ăn lớn ở Quế Lâm, Quảng Tây, nổi tiếng với kích thước to, thịt chắc và hương vị thơm ngon. Có nhiều cách chế biến ốc khác nhau nhưng ở Quế Lâm, người ta có thể chế biến ốc thành món ngon ngon miệng chỉ với một vài nguyên liệu đơn giản. Ớt chua đặc biệt của Quế Lâm là một trong những gia vị thiết yếu, được dùng để chế biến nước sốt chua cay đậm đà, bổ sung hoàn hảo cho món ốc. Ngoài ra, cần thêm nhiều loại gia vị như hành, gừng, rượu Tam Hoa, qua quá trình chiên và nấu nóng, ốc có thể hòa quyện hoàn hảo tất cả các gia vị và mùi vị, khiến chúng trở nên độc đáo. Dù được nấu ở nhà hay nếm thử ở nhà hàng, ốc Quế Lâm vẫn là một món ngon hảo hạng đáng để thử.


Đậu phụ lên men

Đậu phụ lên men Quế Lâm là một trong ba báu vật của Quế Lâm. Được làm từ đậu nành làm nguyên liệu chính, có hai loại: đậu phụ lên men tẩm gia vị và đậu phụ . Nó được đặc trưng bởi làn da mỏng và thịt mềm, kết cấu mịn, hương vị thơm ngon, cay và ngọt, ngọt và thơm, và mùi thơm có thể được phân biệt với hỗn hợp của hạt tiêu Tứ Xuyên, cồn quế, hoa hồi, bột tỏi và rượu Sanhua.

Thử món đậu phụ lên men khi đi du lịch Quế Lâm

Trà dầu Gongcheng

Trà dầu Gongcheng là đồ uống truyền thống ở vùng Yao của Quế Lâm. Nó được làm từ trà, đậu phộng, gạo nếp, v.v. thông qua quá trình chiên, xay, đun sôi và các quy trình khác. Trà này có vị đậm đà, êm dịu, thơm ngon, có tác dụng thanh tâm, tiêu hóa thức ăn, giải quyết tích tụ. Bạn có thể nếm thử món hoa trà Gongchen oleifera đích thực tại Bảo tàng Dân tộc Gong Cheng Yao.


Theo: qtedu / vietnamtourism



TẠ TRÌ XUÂN - LỤC DU


Tạ trì xuân - Lục Du

Tráng tuế tòng nhung,
Tằng thị khí thôn tàn lỗ.
Trận vân cao,
Lang yên dạ cử.
Châu nhan thanh mấn,
Ủng điêu qua tây thú,
Tiếu nho quan tự lai đa ngộ!

Công danh mộng đoạn,
Khước phiếm thiên chu ngô sở.
Mạn bi ca,
Thương hoài điếu cổ.
Yên ba vô tế,
Vọng tần quan hà xứ?
Thán lưu niên hựu thành hư độ!


謝池春 - 陸遊

壯歲從戎,
曾是氣吞殘虜。
陣雲高、
狼煙夜舉。
朱顏青鬢,
擁雕戈西戍,
笑儒冠自來多誤!

功名夢斷,
卻泛扁舟吳楚。
漫悲歌、
傷懷弔古。
煙波無際,
望秦關何處?
歎流年又成虛度!


Tạ trì xuân
(Dịch thơ: Google AI)
Thời trai trẻ tòng quân,
Từng có khí thế nuốt chửng giặc tàn.
Mây trận trên cao,
Khói sói đêm lượn.
Mặt hồng tóc xanh,
Vác giáo điêu đi thú biên ải phía tây,
Cười kẻ đội mũ nho từ xưa đến nay thường làm lỡ việc!
Giấc mộng công danh vỡ nát,
Đành thả thuyền nhỏ nơi vùng Ngô Sở.
Thoải mái ca vang,
Xót xa hoài niệm người xưa.
Khói sóng vô bờ bến,
Cửa ải Tần nằm nơi đâu?
Than ôi năm tháng lại trôi qua uổng phí! 


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lục Du 陸遊 (1125-1209) tự Vụ Quan 務観, hiệu Phóng Ông 放翁, người Sơn Âm, Việt Châu (nay thuộc Nhạn Môn đạo, tỉnh Sơn Tây), thời Nam Tống. Ông đã trải các chức quan Tri châu, Tri phủ, Quốc sử biên tu, và là một vị thi nhân ái quốc. Sống vào thời kỳ hai hai triều Tống - Kim đánh nhau, Lục Du trở thành một người rất trăn trở vì mất nước. Khi đó người Nữ Chân (vương triều Kim) đã đánh chiếm xuống phía nam, đất nước chia năm xẻ bảy, dân tình ly tán loạn lạc. Ông đã từng vào đất Nam Trịnh (Tứ Xuyên hiện nay) theo phong trào chống Kim, đã từng mặc giáp cưỡi ngựa vượt qua sông Vị cùng những toán kỵ mã yêu nước, ban đêm đột kích quân Kim nhiều lần. Ông có Kiếm nam từ chuyên tập lưu truyền đến nay.

Nguồn: Thi Viện



SỐNG VUI VẺ, KHÔNG PHẢI LÀ CÓ HẾT THẢY NHỮNG THỨ MÌNH MUỐN, MÀ LÀ "KHÔNG CÓ CŨNG ĐƯỢC"

Cùng lắm cũng chỉ là quay trở về với trạng thái lúc ban đầu mà thôi, có gì phải đau khổ chứ?


Có một người mẹ dắt theo cậu con trai cùng đi ra chợ, lúc đi ngang qua một tiệm bánh, mùi bánh thơm phức từ trong cửa tiệm bốc ra, trong tủ kính ngay ngắn bày đủ các loại bánh ngọt với đủ hương vị vừa mới làm xong. Cậu bé đứng trước tủ kính, nhìn chằm chằm vào những chiếc bánh kem khoái khẩu, người mẹ biết được tâm tư của cậu, liền chiều ý cậu bé, chọn cậu một miếng bánh kem vị chocolate mà cậu thích nhất. Khi nhân viên cửa tiệm gói xong miếng bánh, trao cho cậu, cậu bé vui mừng nhảy nhót, muốn đưa lên miệng ăn ngay.

Nhưng thời gian đã gần đến giữa trưa, để tránh cậu bé bỏ lỡ bữa chính, người mẹ giật lấy miếng bánh kem từ tay cậu bé đem cất, và nói với cậu rằng: “Đợi đến chiều chúng ta mới ăn có được không?”. Cậu bé vốn dĩ tâm trạng đang vui, bất chợt phải chịu đả kích lớn như vậy, liền ngồi xổm xuống đường quấy khóc ầm lên, quyết không chịu đứng dậy, hét lớn: “Mẹ xấu lắm.. mẹ xấu lắm...” Cậu bé khóc như chết đi sống lại, giống như chịu đủ mọi oan ức trên đời, vì phản ứng của cậu bé quá quyết liệt, khiến mọi người đi đường đều ngoảnh đầu lại nhìn, người mẹ cảm thấy lúng túng, không biết làm sao mới phải.

Đúng lúc đó có một lão hòa thượng đi ngang qua, nhìn thấy cảnh tượng này, đột nhiên trong tâm dường như đã lĩnh ngộ được điều gì đó, lòng nghĩ: “Cậu bé này trước khi được mẹ mua cho bánh kem, vốn cũng chẳng có gì cả, bây giờ người mẹ lấy mất bánh kem, cùng lắm chỉ là quay lại trạng thái ban đầu, cũng không hề mất mát gì cả, như vậy có gì phải đau lòng chứ?”

Trên đời không có thứ gì là không có không được, tuyệt không thể từ bỏ

Nhìn lại bản thân, có phải chúng ta chính là giống như cậu bé muốn ăn bánh kem cho bằng được: Có một số người nhất định phải dùng nhãn hiệu nào đó, nhất định phải đến nhà hàng nào đó, nhất định phải ăn cho được món ăn nào đó mua được chiếc xe, ngôi nhà hay đồ dùng nào đó… Vốn dĩ trong cuộc sống không có những thứ đó cũng không sao, bây giờ lại không thể không có nó.

Đôi khi buông bỏ không phải là điều gì xấu mà đó lại là sự giải thoát cho sinh mệnh (Nguồn: Internet)

Đương nhiên, bản thân có sở thích vốn không phải là chuyện xấu gì, nhưng giống như triết gia Hy Lạp Socrates đã nói, những thứ mà chúng ta sở hữu, chúng sẽ làm chủ chúng ta.

Trong cuộc sống, con người giống như là đi câu cá, nhưng nhìn sâu xa là bạn đang câu cá, hay là cá đang “câu” ngược lại bạn? Chúng ta đi mua sắm, nhưng lại bị món đồ điều khiến, không mua được thì tiếc nuối thất vọng, mua được thì hoan hỉ sung sướng. Thực ra chúng ta không hề nghĩ, trước khi nhìn thấy món đồ đó cuộc sống của ta vẫn bình an. Nhưng khi thấy nó thì sao ta lại điên đảo muốn có bằng được.

Thử nghĩ, khi bạn thích món đồ nào đó, nếu không có được nó thì cảm thấy không vui, vậy thì điều khiến bạn không vui không phải chính là món đồ đó sao?

Muốn sống vui vẻ, không phải là phải có cho bằng được hết thảy những thứ mà mình muốn có, mà là phải để bản thân “không có nó cũng được”, đừng cho rằng, trên đời này có thứ gì nhất định phải có cho bằng được nó mới được, là thứ tuyệt đối không thể từ bỏ. Giống như miếng bánh kem của cậu bé, chúng ta lúc đầu vốn dĩ đã không có nó, sau này dù có mất đi rồi, cùng lắm cũng chỉ là quay về trạng thái ban đầu mà thôi, có gì phải đau khổ chứ?

Thực ra giá trị của sự vật thậm chí con người được hình thành chính từ dục vọng của ta, nếu như bạn mong cầu có nó, nó sẽ có giá trị, nếu bạn không mong cầu, vậy giá trị đó cũng sẽ không tồn tại nữa.

Một cô gái vốn dĩ cũng bình thường trong mắt người này, nhưng trong mắt kẻ si tình thì cô ấy là cả thế giới, cam thấy có thể hy sinh tất cả để có được, thậm chí cũng chẳng ngại ngần thủ đoạn nào để đánh bại đối thủ.

Rất nhiều người thích ngôi sao âm nhạc. điện ảnh, buổi biểu diễn của họ thường cháy vé. Nhưng nếu bạn không có hứng thú, thì dù giá vé đắt bao nhiêu hoặc có mua được vé hay không, cũng không có chút ảnh hưởng gì với bạn, có phải vậy không? Tôi rất thích sưu tầm đồ gốm sứ, nhưng bạn tôi lại không có chút hứng thú với mấy thứ này, vậy nên chúng cũng chẳng có chút giá trị gì trong mắt anh ta. Ngược lại, bạn tôi thích uống trà Phổ Nhĩ, cũng sưu tầm không ít vật phẩm trà thượng đẳng, nhưng tôi không thích uống, vậy nên không kể nó cao cấp thế nào, với tôi mà nói, cũng không có chút giá trị.

Nếu bạn thực sự muốn có cuộc sống tốt đẹp, có một nguyên tắc nên phải nhớ kỹ:một người càng yêu thích, phụ thuộc nhiều thứ, thì càng khó có được niềm vui. Cho dù là ly Cappuccino “không thể không uống” vào mỗi buổi sáng, hay là buổi biểu diễn ca nhạc mỏi mòn chờ đợi “không thể không xem”. Điều bạn nên làm không phải là thỏa mãn, mà là buông bỏ những dục vọng mà bạn truy cầu, có vậy bạn sẽ có được niềm vui thật sự và lâu dài.

An Nhien / Theo: ĐKN

CHINH PHỤC NHỮNG VÌ SAO - KỲ 9: SỰ THẬT CỜ MỸ ĐƯỢC CẮM TRÊN MẶT TRĂNG THẾ NÀO?

Giờ phút lịch sử của nước Mỹ cũng như toàn thể nhân loại bắt đầu vào sáng 16-7-1969 ở Mũi Kennedy, bang Florida. Khoảng 650 triệu người đã theo dõi chuyến bay trọng đại qua truyền hình.

Phi hành gia trên chuyến bay vũ trụ Apollo 11: Neil Armstrong, Michael Collins và Edwin “buzz” Aldrin (từ trái sang) - Ảnh: NASA

Trong cuộc đua kỷ nguyên vũ trụ, hai phi hành gia Mỹ Neil Armstrong, Buzz Aldrin đã đi vào lịch sử khi lần đầu in dấu chân loài người trên Mặt trăng.

Trước đó, cả hai siêu cường Liên Xô - Mỹ đều đã phóng nhiều tàu không người lái và có người lái thăm dò nhưng chưa có ai chạm được vào "chị Hằng".

Ngày lịch sử của kỷ nguyên vũ trụ

Dẫn đầu là Liên Xô trong chương trình phóng các tàu Luna. Mỹ sau bi kịch mất mát ba phi hành gia với Apollo 1, đã thành công với các chuyến bay sau đó.

Chín phi hành gia Mỹ đã bay trên các tàu từ Appllo 7 đến Apollo 10 tới "chị Hằng" nhưng chưa thực hiện đổ bộ. Trong đó, William Anders, Frank Borman, Jim Lovell là những người Mỹ trên Apollo 8 lần đầu bay quanh Mặt trăng.

Đặc biệt, ba phi hành gia Mỹ trên chuyến bay Apollo 10 đã diễn tập cuộc đổ bộ đầu tiên và là thử nghiệm cuối cùng cho chuyến bay vũ trụ lịch sử của Apollo 11 với Neil Armstrong, Buzz Aldrin.

Tài liệu lịch sử NASA ghi cụ thể rằng: "Mục tiêu chính của Apollo 11 là hoàn thành mục tiêu quốc gia do Tổng thống John F. Kennedy đặt ra vào ngày 25-5-1961: thực hiện cuộc đổ bộ có người lái lên Mặt trăng và trở về Trái đất".

Giờ phút lịch sử của nước Mỹ cũng như toàn thể nhân loại bắt đầu vào sáng 16-7-1969 ở Mũi Kennedy, bang Florida. Đúng 9h32 sáng giờ ET (giờ miền đông nước Mỹ), phi thuyền Apollo 11 được lệnh cất cánh, chở theo ba phi hành gia Neil Armstrong, Michael Collins và Edwin "buzz" Aldrin. Chỉ huy đội bay là Armstrong, phi công mô đun chỉ huy là Collins và phi công mô đun hạ cánh Mặt trăng là Aldrin.

Khoảng 650 triệu người đã theo dõi chuyến bay trọng đại này qua truyền hình. Hơn 1 triệu người Mỹ, trong đó có Phó tổng thống Spiro Agnew, cựu Tổng thống Lyndon Johnson và Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, tướng William Westmoreland đến xem trực tiếp gần bãi phóng.

Apollo cất cánh hoàn hảo lên bầu trời trong xanh bằng lực đẩy của siêu tên lửa hạng nặng Saturn V từ bệ phóng 39A. Toàn bộ tên lửa và khoang phi thuyền dài tới 110,6m và nặng hơn 3.000 tấn.

Theo NASA, chuyến bay Apollo 11 đã khởi hành chính xác đến mức ba trong số lần hiệu chỉnh đường bay không cần thiết phải thực hiện.

Armstrong vui vẻ thốt lên: "Con tàu Saturn này đã cho chúng ta một chuyến đi tuyệt vời... Thật đẹp!". Các phi hành gia mở nhạc để thư giãn, trong đó có những bài nhạc đồng quê vui tươi của quê hương họ.

Tầng thứ ba của tên lửa Saturn V được kích hoạt để đưa phi hành đoàn bắt đầu hành trình dài 376.400km đến Mặt trăng. Các phi hành gia đã thực hiện lần truyền hình màu đầu tiên về Trái đất từ tàu Apollo 11 giai đoạn bay ngang Mặt trăng.

Sang ngày 18-7, Armstrong và Aldrin đã mặc bộ đồ bảo hộ vũ trụ để đi qua đường hầm kết nối sang kiểm tra mô đun hạ cánh xuống Mặt trăng mang tên Eagle (chim đại bàng) và thực hiện buổi truyền hình trực tiếp thứ hai.

Phi hành gia Aldrin đứng cạnh quốc kỳ Mỹ cắm trên Mặt trăng trong chuyến bay Apollo 11 năm 1969 - Ảnh: NASA

Đại bàng hạ cánh

100 giờ 12 phút sau khi phóng, khoang tàu Eagle tách rời để chuẩn bị đáp xuống Mặt trăng. Lúc 102 giờ 33 phút, quá trình hạ cánh có động cơ được thực hiện với động cơ giảm tốc hoạt động. Sau tám phút, Armstrong và Aldrin trong khoang Eagle ở độ cao khoảng 8km trên bề mặt "chị Hằng". Riêng Collins ở lại khoang chỉ huy, đây là yêu cầu bắt buộc phải có phi công ở lại tàu.

Đây là thời điểm hồi hộp nhất với NASA và người theo dõi truyền hình từ mặt đất, còn phi hành gia không có thời gian để suy nghĩ điều đó. Động cơ hãm tiếp tục cung cấp lực đẩy giảm tốc cho đến khoảng 102 giờ 45 phút kể từ khi bắt đầu nhiệm vụ.

Từ đây, Armstrong đã điều khiển một phần việc hạ cánh bằng tay. Eagle đáp an toàn xuống khu vực mang tên Biển Yên Tĩnh cách điểm hạ cánh dự kiến khoảng 1,2km và sớm hơn gần 1 phút rưỡi so kế hoạch bay, tức lúc 20h17 giờ UTC ngày 20-7-1969. Armstrong phải điều khiển khoang đáp tránh miệng hố nhiều đá gồ ghề có thể không an toàn lúc hạ cánh.

Armstrong gọi về trạm chỉ huy chuyến bay dưới Trái đất: "Houston, căn cứ Tranquility. Eagle đã hạ cánh". Trước đó, máy tính đã cảnh báo 5 lần nhưng Trung tâm Điều khiển nhiệm vụ từ mặt đất đều cho rằng an toàn và việc đáp xuống được tiếp tục.

Khoảng hai giờ rưỡi trước khi phi hành gia bước chân ra Mặt trăng, Aldrin đã gọi về Trái đất - tổ ấm của toàn thể nhân loại: "Đây là phi công LM (khoang đáp Eagle). Tôi muốn nhân cơ hội này thỉnh cầu bất kỳ người nào đang lắng nghe, dù bạn là ai hay ở đâu đi chăng nữa, hãy tạm ngừng trong giây lát để chiêm ngưỡng những sự kiện đã xảy ra trong ít tiếng vừa qua và bày tỏ lòng biết ơn theo cách của riêng mình". Sự thật, đây là lần đầu tiên loài người trải qua sự kiện vĩ đại này trong kỷ nguyên vũ trụ.

Trong bài viết lịch sử Tổng quan về sứ mệnh Apollo 11, tác giả Sarah A. Loff đã ghi lại: "Bốn giờ sau đó, Armstrong bước ra khỏi tàu Eagle và triển khai máy quay truyền hình để truyền tải sự kiện về Trái đất. Khoảng 109 giờ 42 phút sau khi phóng, ông bước chân lên Mặt trăng. Khoảng 20 phút sau, Aldrin theo sau.

Máy quay sau đó được đặt trên giá ba chân cách tàu đổ bộ Mặt trăng khoảng 9m. Nửa giờ sau, Tổng thống Nixon đã nói chuyện với các phi hành gia qua điện thoại.

Những huy chương kỷ niệm mang tên ba phi hành gia Apollo 1 thiệt mạng trong vụ hỏa hoạn trên bệ phóng và hai nhà du hành vũ trụ khác cũng qua đời trong các tai nạn đã được đặt trên bề mặt Mặt trăng. Một đĩa silicon đường kính một inch rưỡi chứa những thông điệp thiện chí siêu nhỏ từ 73 quốc gia và tên của các nhà lãnh đạo quốc hội và NASA cũng được giữ lại...".

Sau khi lấy mẫu đất đá Mặt trăng cho vào túi, trước ống kính truyền hình, Armstrong và Aldrin thực hiện việc trang trọng nhất là cắm quốc kỳ Mỹ.

Sau này, Alrin đã kể lại: "Trong số những việc phải làm trên Mặt trăng, việc mà tôi muốn thực hiện trôi chảy nhất chính là dựng lá cờ Mỹ lên đó".

Ban đầu, các phi hành gia hơi gặp khó khăn với cây thanh lồng nhau và họ chỉ có thể cắm nó xuống dưới bề mặt cứng khoảng 5cm. Sở dĩ nhìn qua hình người ta thấy lá cờ như luôn tung bay dù Mặt trăng không có gió, vì cây cắm cờ được thiết kế thêm thanh ngang trên đầu để có thể giương căng phần lá cờ theo chiều ngang mà không để nó bị rủ xuống.

Sau đó, hai phi hành gia tiến hành chụp hình cho nhau lúc chào cờ. Tổng thống Richard Nixon đã vui vẻ nói chuyện với họ qua đường truyền vô tuyến: "Tôi không thể diễn tả hết niềm tự hào nơi chúng tôi về những gì mà các anh đã làm. Đối với mỗi người Mỹ, đây hẳn phải là ngày đáng tự hào nhất trong đời. Và tôi tin rằng mọi người trên khắp thế giới cũng sẽ cùng với người Mỹ công nhận chiến tích to lớn này. Nhờ các anh, bầu trời đã trở thành một phần của thế giới loài người".

Armstrong đáp lời: "Cảm ơn Ngài tổng thống. Đây quả là một vinh dự và đặc ân lớn lao khi chúng tôi có mặt tại nơi này".

Armstrong cùng Aldrin đã ở trên bề mặt Mặt trăng trong 21 giờ 36 phút. Động cơ tầng cất cánh được kích hoạt lúc 124 giờ 22 phút sau giờ khởi hành.

Quy trình trở về Trái đất của Apollo 11 được bắt đầu vào ngày 24-7-1969. Sau hành trình vũ trụ dài 195 giờ 18 phút 35 giây, khoang đáp đã hạ cánh xuống Thái Bình Dương và được người trên tàu cứu hộ USS Hornet chào đón trong niềm vui chưa từng có.

Phi hành gia Neil Armstrong đã nói câu lịch sử khi đi bộ trên Mặt trăng: "Đây là bước chân nhỏ của một người, nhưng là bước tiến khổng lồ của toàn nhân loại".

>> Kỳ tới: Tìm câu trả lời loài người có đơn độc trong vũ trụ?

Thùy Chi / Theo: tuoitre

Sunday, June 21, 2026

DUYÊN PHẬN - GẶP RỒI, CHƯA CHẮC LÀ PHÚC. MẤT RỒI, CHƯA CHẮC LÀ HỌA

Trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, “duyên” và “phận” là hai chữ mà người xưa hay dùng để giải thích những sự gặp gỡ, gắn bó hay xa rời trong cuộc đời. Người ta tin rằng, mỗi mối quan hệ đều do duyên định, mỗi cuộc hội ngộ đều là kết quả của nhân quả đời trước. Nếu không có duyên, dù có đứng đối diện nhau cũng như người xa lạ. Nếu có duyên, thì dù xa cách nghìn trùng, cũng có ngày gặp gỡ.


Tôi từng nghĩ duyên phận là điều đẹp đẽ, như thể mỗi người bước vào đời ta đều mang theo món quà nào đó. Nhưng sống thêm vài năm, va vấp vài lần, tôi mới hiểu: không phải duyên nào cũng lành, không phải cứ gặp nhau là điều tốt, và càng không phải cứ muốn giữ lấy một người là sẽ giữ được.

Duyên được phân thành nhiều loại, thiện duyên, ác duyên, oán duyên, nợ duyên, thậm chí là duyên chưa trả xong từ nhiều đời. Điều này nghe tưởng xa xôi, nhưng nếu tĩnh tâm nhìn lại đời mình, ai cũng từng trải qua đủ dạng duyên ấy.

Có người đến khiến ta mỉm cười, đó là thiện duyên.

Có người đến khiến ta khổ tâm, tổn thương, nhưng vẫn không buông được ấy, là ác duyên.

Có người làm tổn thương ta rồi ra đi, để lại một nút thắt trong tim, đó là oán duyên.

Có người mình yêu thương thật lòng, nhưng cả đời vẫn chẳng thể ở cạnh nhau đó là nợ duyên.

Người xưa không vội nhìn một mối quan hệ bằng hình thức: “Họ có tốt không?, họ có giàu không?”, mà nhìn bằng trí huệ: “Duyên này lành hay dữ? Đến để đưa mình lên, hay kéo mình xuống?”.

Có duyên đến như ngọn gió mát, nhưng cũng có duyên như cơn bão ngầm, cuốn phăng hết sự bình yên mà mình vốn có. Vậy nên, có duyên chưa chắc là phúc. Mà không duyên, đôi khi chưa chắc là họa.

Chúng ta hay nghĩ rằng mình làm chủ đời mình, có thể chọn ai mình yêu, giữ ai ở lại, tránh ai ra đi.

Nhưng, duyên là thứ đến từ nhân quả, không thể cưỡng cầu. Khi một người cố cải biến duyên phận, níu một người không thuộc về mình, cưỡng ép một việc chưa đúng thời điểm, chẳng khác nào trói chặt chính mình vào sợi dây đau khổ, càng vùng vẫy, càng bị trói chặt hơn. Cuối cùng, người khổ nhất lại là bản thân. Chẳng phải vô minh sao?

Tôi từng thấy một người phụ nữ sống hơn 20 năm trong cuộc hôn nhân đầy tổn thương. Bà cố chịu đựng, cố gắng thay đổi chồng, sửa tính con, giữ lấy một gia đình đã mục rữa. Khi tôi hỏi: “Sao không buông?”, bà nói: “Vì mình nghĩ cho con, vì gia đình, thế này thế kia”.

Nhưng tôi thấy rõ trong mắt bà là một nỗi sợ: sợ mất, sợ đổi thay, sợ cô đơn, hơn là một niềm tin vào nhân quả. Cái bà bám vào không phải là duyên, mà là chấp.

Duyên phận không phải là thứ để cưỡng cầu. Cưỡng duyên, là nghịch thiên. Mà nghịch thiên, thường phải trả giá.

Trong “Liễu Phàm Tứ Huấn”, Viên Liễu Phàm có nói: “Người biết mệnh, không oán trời; người giữ đức, không cầu phúc.“ Nghĩa là người hiểu rõ luật duyên phận, thì sẽ sống trong thuận tự nhiên, không truy cầu danh lợi, không níu giữ người không còn duyên với mình. 


Vậy ta nên làm gì trước duyên?

Không phải buông xuôi, mà là tùy duyên, tức làm hết lòng, nhưng không cưỡng cầu kết quả.

Cái gì nên giữ, thì giữ bằng Thiện tâm, không giữ bằng nỗi sợ mất. Cái gì nên buông, thì buông bằng trí tuệ, không buông trong giận hờn. Một người từng làm mình tổn thương, nếu là ác duyên, thì buông đi là giải thoát. Còn nếu là thiện duyên chưa chín, thì thời gian sẽ làm nó đơm hoa trở lại, nếu nó thật sự là của bạn, nếu bạn có phúc phận đủ đầy.

Có người hỏi tôi: “Sao có những kẻ ác lại gặp toàn người tốt yêu thương họ, còn người hiền lành lại hay bị phụ bạc, lẽ nào vật chất quyết định ý thức?”

Tôi chỉ nói: đời này chỉ là một trường đoạn ngắn của dòng nhân quả dài miên man. Có người hôm nay trả nợ cũ. Có người hôm nay hưởng phúc đã gieo. Đừng vội kết luận khi mọi thứ chưa kết thúc. Thứ gì bạn thấy trước mắt chỉ là kết quả nhất thời. Tương lai thế nào còn phải chờ xem.

Thiện duyên, ác duyên, đều là nhân quả nối nhau, không phải ngẫu nhiên, cũng không phải bất công.


Và cuối cùng, ta vẫn có một điều có thể làm: tu tâm, tích đức, để tự cải hóa chính mình.

Khi nội tâm thay đổi, trường duyên quanh ta cũng sẽ thay đổi. Một người tu tâm hướng thiện, tự khắc sẽ ít gặp oán duyên, nhiều gặp thiện duyên. Như hoa sen vươn lên khỏi bùn lầy, sạch sẽ, nhẹ nhàng, không dính bụi trần.

Duyên, không giữ được thì buông.
Phận, không cải được thì thuận.
Người, không thể thay đổi thì tự quay về sửa mình.
Việc, không như ý thì xem như là bài học.


Đời người chỉ dài bằng một cái chớp mắt trong cõi luân hồi. Gặp ai, yêu ai, mất ai, không gì là ngẫu nhiên. Hiểu được vậy, tâm sẽ an. Biết cảm ân thiện duyên, biết hóa giải ác duyên, và biết bước tiếp không nặng lòng, đó mới là trí tuệ thật sự, không bám víu… Đời tự khắc bình an.

Nguyên Tác An Hậu
Theo: vandieuhay

HÁN CUNG XUÂN (SƠ TỰ NAM TRỊNH LAI THÀNH ĐÔ TÁC) - LỤC DU


Hán cung xuân (Sơ tự 
Nam Trịnh lai Thành Đô tác)

Vũ tiễn điêu cung,
Ức hô ưng cổ luỹ,
Tiệt hổ bình xuyên.
Xuy già mộ quy,
Dã trướng tuyết áp thanh chiên.
Lâm ly tuý mặc,
Khán long xà,
Phi lạc man tiên.
Nhân ngộ hứa,
Thi tình tướng lược,
Nhất thì tài khí siêu nhiên.

Hà sự hựu tác nam lai,
Khán trùng dương dược thị,
Nguyên tịch đăng sơn.
Hoa thì vạn nhân lạc xứ,
Khi mạo thuỳ tiên.
Văn ca cảm cựu,
Thượng thì thì,
Lưu thế tôn tiền.
Quân ký thủ,
Phong hầu sự tại,
Công danh bất tín do thiên.

Năm 1173, Lục Du vào Thục, kiên trì chống Kim. Có thời gian ông đi theo việc quân ngũ. Ít lâu sau, ông lại từ Nam Trịnh trở về Thành Đô làm những việc nhàn rỗi. Bài này đoạn đầu tác giả nhớ thời ở Nam Trịnh, đoạn sau tả nỗi buồn với nét sinh hoạt thái bình ở Thành Đô, không đả động gì đến việc chống giặc.


漢宮春-初自
南鄭來成都作

羽箭雕弓,
憶呼鷹古壘,
截虎平川。
吹笳暮歸,
野帳雪壓青氈。
淋漓醉墨,
看龍蛇、
飛落蠻箋。
人誤許,
詩情將略,
一時才氣超然。

何事又作南來,
看重陽藥市,
元夕燈山。
花時萬人樂處,
攲帽垂鞭。
聞歌感舊,
尚時時、
流涕樽前。
君記取,
封侯事在,
功名不信由天。


Hán cung xuân - Mới từ 
Nam Trịnh về Thành Đô làm
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Đeo cung, tên gắn lông chim. 
Thành xưa lũy cũ, tầm nhìn chim ưng. 
Bình Xuyên giết hổ đã từng. 
Tù và thúc giục, lưng chừng chiều buông. 
Ngoài thềm dấu tuyết còn vương. 
Say sưa nét bút ta dường chưa quên. 
Giấy hoa ai họa nét tiên. 
Rồng bay phượng múa mà nên hình hài. 
Có tài, ai ngợi chi tài !. 
Tài thơ binh lược, dùi mài mài ai hay ?. 
Chiêu hiền đãi sĩ bấy nay. 
Phương Nam công việc lại quay trở về. 
Nguyên tiêu đèn đuốc mải mê. 
Trùng dương chợ thuốc dễ bề bỏ qua ?. 
Muôn người lạc giữa muôn hoa. 
Buông roi thúc ngựa mũ đà lệch ngang. 
Lời ca chuyện cũ xốn xang. 
Ngồi bên chén rượu đôi hàng lệ rơi. 
Phong hầu quyết chí tới nơi. 
Công danh há tự ông trời ban cho ?.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lục Du 陸遊 (1125-1209) tự Vụ Quan 務観, hiệu Phóng Ông 放翁, người Sơn Âm, Việt Châu (nay thuộc Nhạn Môn đạo, tỉnh Sơn Tây), thời Nam Tống. Ông đã trải các chức quan Tri châu, Tri phủ, Quốc sử biên tu, và là một vị thi nhân ái quốc. Sống vào thời kỳ hai hai triều Tống - Kim đánh nhau, Lục Du trở thành một người rất trăn trở vì mất nước. Khi đó người Nữ Chân (vương triều Kim) đã đánh chiếm xuống phía nam, đất nước chia năm xẻ bảy, dân tình ly tán loạn lạc. Ông đã từng vào đất Nam Trịnh (Tứ Xuyên hiện nay) theo phong trào chống Kim, đã từng mặc giáp cưỡi ngựa vượt qua sông Vị cùng những toán kỵ mã yêu nước, ban đêm đột kích quân Kim nhiều lần. Ông có Kiếm nam từ chuyên tập lưu truyền đến nay.

Nguồn: Thi Viện