Saturday, July 25, 2026

ĐIỀU GÌ QUAN TRỌNG KHI DÂNG LỄ BÁI PHẬT, CÚNG THẦN LINH?

Có phải lời nguyện cầu nào cũng sẽ thành sự thực? Có phải cứ mâm cao cỗ đầy dâng lễ bái Phật thì sẽ được gia hộ? Chúng ta vẫn biết thực tế không phải vậy, đôi khi còn ngược lại. Bởi Thần Phật chỉ nhìn nhân tâm, không nhìn tài vật hay hình thức biểu hiện bên ngoài. Vậy điều gì quan trọng nhất khi lễ bái Thần linh? Người như thế nào mới được Thần Phật gia hộ?

Thần Phật chỉ xét nhân tâm chứ không nhìn hình thức (ảnh chụp màn hình Istockphoto).

Chuyện bà lão nghèo dâng đèn bái Phật

Chuyện kể rằng, một thời Đức Phật ở nước La Duyệt Kỳ tại núi Kỳ Xà Quật. Lúc bấy giờ vua A Xà Thế thỉnh Đức Phật dự lễ trai tăng trong hoàng cung.

Sau khi thọ trai, Đức Phật trở về tịnh xá Kỳ Hoàn, vua bèn hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta thỉnh Phật thọ trai xong, nay không biết nên làm gì?”

Kỳ Bà nói: “Ngài nên đem nhiều đèn đến để cúng dường Phật”. Nghe vậy, nhà vua liền sai chở một trăm thùng dầu về tịnh xá Kỳ Hoàn.

Trong vùng có một bà lão nhà rất nghèo, bà có tâm chí thành muốn cúng dường Đức Phật mà không có tiền. Thấy vua A Xà Thế làm công đức, bà rất lấy làm cảm kích. Bà xin được 2 đồng tiền, liền mang đi mua dầu.

Chủ hàng hỏi: “Bà nghèo khổ thế, xin được hai đồng tiền, sao không mua đồ ăn mà lại mua dầu?”.

Bà lão đáp rằng: “Tôi nghe nói để gặp được Đức Phật là rất khó, vạn kiếp mới được một lần. Tôi nay may mắn được sinh vào thời Đức Phật truyền Pháp, mà chưa có dịp cúng dường. Ngày nay tôi thấy nhà vua làm việc đại công đức, tôi tuy cùng khổ cũng muốn cúng dường ngọn đèn để làm căn bản cho đời sau”.

Lúc bấy giờ người chủ quán cảm phục chí nguyện của bà lão, liền đong cho thêm 3 đồng tiền thành được 5 đồng tiền dầu. Bà đến trước Đức Phật thắp đèn lên, tự nghĩ dầu thắp không quá nửa đêm là sẽ cạn.

Bà lão nghèo dâng đèn cúng dường Đức Phật (ảnh chụp màn hình Istockphoto).

Một lòng thành kính Đức Phật

Bà phát nguyện rằng: “Con không có gì cúng dâng Phật, ngoại trừ cây đèn nhỏ này. Nhưng do sự cúng dường này, mong cho con đời sau có trí tuệ. Mong cho con giải thoát thế nhân hữu tình ra khỏi bóng tối ngu si. Mong cho con tịnh hóa tất cả những xú uế chướng ngại của họ, và đưa họ đến giải thoát.”

Đêm ấy tất cả các ngọn đèn của nhà vua cúng dường có ngọn tắt, có ngọn đỏ, tuy có người săn sóc nhưng không được chu toàn. Riêng ngọn đèn của bà lão thì chiếu sáng hơn các ngọn đèn khác; suốt đêm không tắt, dầu lại không hao.

Đến lúc bình minh, ngọn đèn của bà lão vẫn tiếp tục cháy. Khi tôn giả Mục Kiền Liên đi thâu lại những cây đèn, trông thấy ngọn đèn nhỏ còn cháy sáng; đầy dầu và bấc vẫn mới. Ngài nghĩ: “Không lý gì để cho cây đèn này vẫn cháy vào ban ngày”, nên đã thổi tắt nó; nhưng ngọn đèn không tắt. Ngài lấy tay bóp, lấy y phục chụp lên mà nó vẫn tiếp tục cháy sáng.

Tâm sáng trong cũng như ngọn đèn bất diệt

Đức Phật đã quan sát việc này từ đầu, Ngài nói: “Mục Kiền Liên, có phải Thầy muốn dập tắt ngọn đèn ấy không? Thầy không làm được đâu. Cho dù Thầy đem nước của bốn biển tưới lên cây đèn này, nó vẫn không tắt được. Vì cây đèn này đã được đốt lên để dâng cúng với tất cả niềm sùng kính, và với tâm trí thanh tịnh. Chính động cơ ấy đã làm cho nó có công đức vô lượng.”

Khi Đức Phật nói lời này thì bà lão đi đến chỗ Ngài. Đức Phật thọ ký cho bà trong tương lai sẽ thành Phật.

Vua A Xà Thế nghe chuyện liền hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta làm công đức rộng lớn như vậy mà Đức Phật không thọ ký cho ta thành Phật; còn bà lão kia chỉ thắp một ngọn đèn mà được thọ ký là cớ làm sao?”

Kỳ Bà đáp rằng: “Ngài cúng đèn tuy nhiều mà tâm không chuyên nhất; không bằng được tâm thuận thành, tôn kính tuyệt đối của bà lão kia đối với Đức Phật”.

Hàng vạn ngọn đèn cũng không bằng một ngọn đèn nhỏ được thắp bởi lòng tôn kính tuyệt đối (ảnh: Tinh Hoa).

Thần Phật chỉ xét nhân tâm, không nhìn hình thức

Như chúng ta đã biết, trước khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni vào rừng tu khổ hạnh, Ngài là Thái tử Tất Đạt Đa, con trai vua Tịnh Phạn. Chốn cung vàng điện ngọc không thể mang cho Ngài niềm vui trọn vẹn; đau khổ của người dân và sinh lão bệnh tử của vạn vật khiến Ngài luôn trăn trở và cũng là lý do thúc đẩy Ngài ra đi tìm đạo giải thoát.

Ngài đã từ bỏ cuộc sống xa hoa và danh vọng để đi tìm chân lý. Chỉ những người chân tâm cầu đạo mới có thể quy y theo Ngài. Vậy lẽ nào ngày nay con người không cầu đạo, chỉ muốn sống sung sướng, liền trưng mâm dọn cỗ, hoặc bỏ chút tiền cúng dường công đức thì có thể đắc phúc báo rồi sao? Chỉ e là phúc báo không đắc được mà còn đắc tội; bởi vì dám dùng vật chất của con người để ‘mua’ lấy từ bi của Thần Phật.

Thần Phật độ nhân chỉ xét nhân tâm, không phân giai cấp, màu da, không nhìn hình thức; càng không xét đến tiền tài danh vọng của người cầu cúng. Phật Pháp vô biên, càng tìm hiểu càng thấy mình nhỏ bé giữa biển từ bi bao la của Thần Phật. Tìm hiểu nhiều về Phật Pháp, con người có thể tự mình đánh thức thiện tâm; tiếp cận chân lý và sẽ biết được mình nên làm gì, cần làm gì.

Hàng vạn ngọn đèn cũng không bằng một ngọn đèn nhỏ được thắp bởi lòng tôn kính tuyệt đối. Những mâm cỗ dẫu không mấy linh đình vẫn sẽ cảm động Thần linh nếu cái tâm người dâng cỗ đầy ắp lòng thành kính.

Chuyện cúng bái lễ Phật ngày nay

Ngày nay còn mấy ai cầu Phật để xin một con đường giải thoát? (ảnh: Tinh Hoa).

Ngày nay đi chùa bái Phật thử hỏi còn mấy ai cầu xin Phật một con đường tu luyện để giải thoát?

Người xưa bái Phật cầu kinh, ngày nay con người bái Phật để cầu tình duyên, cầu tài lộc, cầu thăng quan tiến chức, cầu con trai nối dõi… Người vô sự nhất cũng cầu sức khoẻ, bình yên cho bản thân và gia đình.

Trước nơi chánh điện trang nghiêm thần thánh, mấy ai còn tin rằng mọi chuyện trên đời đều do duyên nợ và nhân quả; tin vào thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo; chứ không phải chỉ buông lời cầu nguyện rồi đợi chờ may mắn tìm đến, đợi chờ phúc lành Thần Phật ban cho.

Cúng Thần linh ngày nay chỉ còn là thông lệ, đến ngày nào thì cúng vị Thần nào; mâm cỗ gồm những gì, văn khấn đọc ra sao… Ai ai cũng làm răm rắp theo khuôn mẫu. Nhưng “cúng để làm gì”, “Thần linh có thật hay không” mấy ai còn biết rõ?

Tấm lòng thành kính phải xuất phát từ bên trong

Đi đôi với thành công và thất bại là tự hào và ca thán. Trước mọi thành bại của cuộc đời, chúng ta thường được chứng kiến những cung bậc cảm xúc thăng trầm muôn màu muôn vẻ, nhưng có vài điểm chung:

Những người thành tựu thắng lợi sẽ hào hứng thuyết về năng lực của bản thân. Nhưng trong số họ, có mấy ai nhớ đến việc cảm ơn Thần Phật vì sự gia hộ của các Ngài?

Những người thất bại thường ca thán số phận; thậm chí lớn tiếng trách Trời vì sao không công bằng với họ. Có mấy ai nghĩ rằng có lẽ công việc mình làm chưa đủ tốt; hay mình đã làm điều gì sai trái nên đã mất đi sự gia hộ của Thần Phật?

Tấm lòng thành kính phải xuất phát từ sâu bên trong chứ không phải ở hình thức bên ngoài. ‘Trên đầu ba thước có Thần linh’, Thần Phật luôn nhìn thấu mọi việc trên thế gian; chúng ta không nên cứ mãi tự lừa mình dối người, mong cầu những thứ hữu vi rồi cũng tan biến như bong bóng xà phòng; chỉ có sự chân thành mới cảm động được trời đất và được Thần Phật gia hộ; không cầu mà tự đắc.

Tiểu Khiết Sa / Theo: nguyenuoc

Friday, July 24, 2026

HỌC TRÒ GIỎI KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI THÔNG MINH, AM HIỂU VÀ THUỘC BÀI NHẤT

Có một lời khen mà bậc thầy của các vị thầy năm xưa dành cho học trò mình tới nay vẫn còn nguyên giá trị…


Ngày nay mọi người thường xuyên tức giận với nhau, và thường coi cái đấy là một việc bình thường, vì thế nên ai cũng sẵn sàng đẩy những bực tức đó sang người khác để giải tỏa nộ khí đang ngùn ngụt trong lòng của mình.

Những kiểu người này trong công việc chúng ta gặp rất nhiều, có những người ra ngoài bị khách hàng mắng, hoặc bị lãnh đạo công ty phê bình, khi quay lại chỗ ngồi lập tức vứt đồ, đập bàn chửi người khác… Bản thân mình không vui, sao lại làm ảnh hưởng tới không khí, môi trường chung, làm tổn thương người khác. Đồng thời làm cho sự việc thêm phức tạp, làm cho tâm can của mình không thể bình tĩnh trở lại. Tại sao cứ phải đẩy tức giận sang người khác?

Khổng Tử và các học trò. (Ảnh: Epochtimes.com )

Xem lại tích xưa để thấy, những tính nết như vậy quả là đáng hổ thẹn. Nhan Hồi là một học trò cưng của Khổng Tử, có lối sống giản đơn, thanh đạm giống như Khổng Tử. Họ sống cuộc sống hết sức bình dị. Nhưng tiếc thay, Nhan Hồi đã qua đời khi chưa tới 30 tuổi, khiến Khổng Tử vô cùng thương xót.

Khi vị vua thứ 27 của nước Lỗ là Lỗ Ai Công hỏi Khổng Tử ai là học trò giỏi của ông? Khổng Tử trả lời: “Nhan Hồi là trò giỏi, trò này không cáu giận với người khác, khi mắc lỗi không bao giờ tái phạm, nhưng tiếc thay trò đã qua đời sớm”.

Nhan Hồi. (Ảnh: Public Domain )

Qua câu trả lời đó, Khổng Tử đã khẳng định rằng sự yêu quý của ông đối với học trò là vì tính tình điềm đạm, không nổi cáu với người khác, không lặp lại lỗi khi đã nhận ra, chứ không phải vì anh ta thông minh, hiểu biết xuất chúng. Nói cách khác, cái mà Khổng Tử thấy nổi trội ở học trò chính là những gì họ vận dụng được sau khi đọc sách, học chữ chứ không phải lý thuyết mà ai cũng có thể học được.

Không phẫn nộ với người khác trước tiên đã là tự tu luyện bản thân, đã tự đối đãi tốt với bản thân bởi cảm xúc của mình là do mình khống chế. Sau đó thì chính là đối tốt với người khác vì đã không làm tổn thương họ, vô lối, vô lý với họ. Thế nên kiềm chế tốt, chính là vừa tốt cho mình vừa tốt cho người, lại thể hiện được rằng mình đã thấm nhuần đạo học mà thực hành thành thục.

Người xưa nhìn người đã vậy, chẳng nhẽ chúng ta nay lại không thể học theo. Làm người, hơn người khác không phải ở chỗ biết nhiều, hiểu rộng, mở mồm là đã có lý lẽ thuyết phục; cũng không phải ở việc ai thành công và ít mắc lỗi lầm hơn. Mà đơn giản là ở việc bạn thể hiện đạo lý ra ở ngay chính những hành động nhỏ bé của mình hàng ngày như thế nào. Đánh giá người có giáo dưỡng và thông tuệ hay không, lại ở những việc giữ gìn tâm tính, cử xử có lễ nghĩa và biết sửa mình sau những lần thất bại, mắc lỗi lầm hay không.

Theo: Forhuaren

HIỂU CHƯƠNG ĐẦU CỦA ĐẠO ĐỨC KINH ĐỂ NHÌN LẠI CHÍNH MÌNH

Trong nhịp sống gấp gáp hôm nay, chúng ta quen với việc chạy theo mục tiêu, bị cuốn vào vòng xoáy của danh lợi và những tiêu chuẩn do xã hội đặt ra. Ai cũng muốn chứng minh giá trị của mình, muốn sống một cuộc đời “đúng chuẩn”, nhưng càng cố gắng đuổi theo, con người lại càng dễ đánh mất sự bình yên bên trong. Sự tiêu hao không đến từ lao động, mà đến từ việc tâm trí luôn bị kéo căng giữa mong cầu và thực tại.


Từ hơn hai nghìn năm trước, Lão Tử đã mở đầu Đạo Đức Kinh bằng một câu nói tưởng chừng đơn giản nhưng lại chứa đựng chiều sâu vô hạn:

“Đạo khả đạo, phi thường đạo; danh khả danh, phi thường danh.”

Câu nói này không phải để làm khó người đọc, mà để chỉ ra một điều căn bản: chân lý tối thượng của vũ trụ không thể bị giới hạn trong ngôn từ, cũng như bản chất cuộc sống không thể bị đóng khung trong những định nghĩa cố định.

“Đạo” ở đây là quy luật vận hành của vạn vật, là bản nguyên của tồn tại – thứ chỉ có thể cảm nhận chứ không thể diễn tả trọn vẹn. Còn những gì chúng ta có thể gọi tên, có thể định nghĩa, đều chỉ là một phần rất nhỏ, tạm thời và phiến diện.

Thế nhưng, con người lại quen sống dựa vào những “danh” ấy. Chúng ta định nghĩa thành công là phải có tiền, có địa vị; định nghĩa hạnh phúc là phải đủ đầy vật chất, gia đình viên mãn. Những khuôn mẫu này dần trở thành áp lực vô hình, khiến chúng ta không còn sống theo chính mình, mà sống theo những gì người khác cho là đúng.

Trong khi đó, cuộc sống vốn không có một đáp án duy nhất. Có người thích sự sôi động nơi phố thị, có người lại tìm thấy bình yên trong một góc nhỏ giữa thiên nhiên. Có người theo đuổi sự nghiệp rực rỡ, có người chỉ mong một đời giản dị mà an ổn. Khi còn bám chặt vào “danh”, con người rất khó nhìn thấy bản chất thật của đời sống.

Lão Tử tiếp tục nói:

“Vô, danh thiên địa chi thủy; hữu, danh vạn vật chi mẫu.”

“Vô” là khởi đầu của trời đất, là trạng thái nguyên sơ, tĩnh lặng và không vướng bận. “Hữu” là nơi vạn vật hình thành, là thế giới của hiện hữu, của những điều cụ thể và hữu hình.

Ảnh internet.

Đặt trong đời sống con người, “Vô” chính là nội tâm thanh tịnh ban đầu, còn “Hữu” là những ham muốn, những ràng buộc mà ta tích lũy theo năm tháng.

Nỗi mệt mỏi của người hiện đại phần lớn bắt nguồn từ việc quá nghiêng về “Hữu” mà quên mất “Vô”. Chúng ta luôn muốn nhiều hơn: nhiều tiền hơn, nhiều thành tựu hơn, nhiều sự công nhận hơn. Nhưng càng có, lại càng lo mất; càng đạt được, lại càng sợ không giữ được. 

Trong khi đó, chính “Vô” trạng thái buông bỏ, trống rỗng, mới là nền tảng để con người hồi phục và cân bằng. Một chiếc cốc chỉ có thể đón thêm nước khi nó còn chỗ trống; một tâm hồn chỉ có thể nhẹ nhõm khi biết đặt xuống.

“Cho nên thường vô, dục dĩ quan kỳ diệu; thường hữu, dục dĩ quan kỳ kiếu.”

Đây là cách Lão Tử chỉ ra con đường sống hài hòa: khi giữ được trạng thái “Vô”, con người có thể nhìn thấy bản chất sâu xa của sự vật; khi sống trong “Hữu”, con người có thể cảm nhận được vẻ đẹp phong phú của cuộc đời.

Nói cách khác, không phải chọn một bỏ một, mà là học cách cân bằng giữa nhập thế và xuất thế, giữa nỗ lực và buông bỏ.

Ảnh internet.

Con người không thể tách rời cuộc sống thực tại, cũng không thể hoàn toàn từ bỏ dục vọng. Điều quan trọng là giữ được chừng mực. Làm việc hết mình nhưng không để bản thân bị cuốn vào áp lực. Sống giữa thế gian nhưng không để lòng mình bị nhiễu loạn.

Dù bận rộn đến đâu, cũng cần có khoảng lặng để quay về với chính mình. Dù đối diện với bao nhiêu biến động, cũng nên học cách giản lược những ham muốn không cần thiết.

Nhìn lại, nhiều người sống trong mệt mỏi không phải vì thiếu thốn, mà vì mong cầu quá nhiều. Chúng ta muốn kiểm soát mọi thứ, muốn mọi việc diễn ra theo ý mình, nhưng cuộc đời vốn biến đổi không ngừng.

Càng chấp vào kết quả, càng dễ bị kết quả chi phối; càng theo đuổi sự hoàn hảo, càng dễ bị những điều chưa trọn vẹn làm tổn thương.

Lão Tử nói: “Thử lưỡng giả đồng xuất nhi dị danh, đồng vị chi huyền…”

“Vô” và “Hữu” tuy khác tên nhưng cùng một nguồn, đều là biểu hiện của Đạo. Chính sự huyền diệu đó tạo nên muôn hình vạn trạng của thế gian. Trí huệ không nằm ở việc lựa chọn một phía, mà nằm ở khả năng dung hòa hai phía. Không cần quá bận tâm được -mất, thành – bại.

Được thì trân trọng, mất thì buông xuống. Khi cần nỗ lực thì dốc sức, khi cần nghỉ ngơi thì thả lỏng. Chấp nhận sự không hoàn hảo của cuộc sống cũng là một dạng trưởng thành.

Ảnh internet.

Thực ra, chương đầu của Đạo Đức Kinh không hề xa vời. Nó chỉ nhắc con người quay về điều đơn giản nhất: buông bớt chấp niệm, giữ tâm trong sáng, sống thuận theo tự nhiên. Trong một thời đại mà mọi thứ đều thúc ép con người phải nhanh hơn, nhiều hơn, thành công hơn, thì việc hiểu được điều này lại càng trở nên quan trọng.

Sống trong “Hữu”, hãy chăm chỉ vun đắp cuộc đời. Sống trong “Vô”, hãy nuôi dưỡng tâm hồn. Không vì có mà quá vui, không vì thiếu mà quá buồn. Giữ được sự cân bằng ấy, con người mới có thể bước qua những mỏi mệt tinh thần mà không đánh mất chính mình.

Và có lẽ, giữa chốn ồn ào của cuộc sống hiện đại, điều đáng quý nhất không phải là đạt được bao nhiêu, mà là vẫn giữ được một phần tĩnh lặng trong tâm, để sống một đời rõ ràng, nhẹ nhàng và tự tại.

Khai Tâm biên dịch / Theo: aboluowang

TRONG NHẪN CÓ BAO DUNG, TRONG BAO DUNG CÓ SỨC MẠNH

Tôi có một người thầy cũ, dáng người gầy gò, giọng nói chậm rãi, luôn mang theo nụ cười hiền hậu. Hồi còn đi học, trong mắt chúng tôi, thầy không phải mẫu người gây ấn tượng mạnh mẽ hay sắc sảo. Nhưng càng lớn, tôi mới nhận ra ở thầy có một thứ sức mạnh rất đặc biệt, sức mạnh của sự Nhẫn.

Trong Nhẫn có bao dung, trong bao dung có sức mạnh

Có lần, trong một giờ học, một phụ huynh tức giận xông vào lớp vì cho rằng thầy phê bình con trai mình quá nặng lời. Trước mặt cả học trò, người ấy to tiếng, thậm chí có câu xúc phạm. Chúng tôi ngồi phía dưới mà lòng nóng ran, có đứa thì thầm: “Nếu là mình chắc không chịu nổi, phải cãi tay đôi mới được.” Nhưng thầy vẫn lắng nghe, thỉnh thoảng gật đầu, rồi khẽ nói: “Tôi hiểu sự lo lắng của anh. Chúng ta có thể ngồi lại trao đổi sau giờ.” Chỉ thế thôi, không phản ứng gay gắt, không biện hộ, không đẩy sự việc đi xa.

Hôm ấy, tôi mới hiểu thế nào là Nhẫn. Không phải thầy không có tự trọng, càng không phải thầy yếu đuối, mà là thầy chọn cách giữ bình tĩnh để không biến lớp học thành nơi bùng nổ tranh cãi. Sau này, khi kể lại, thầy cười: “Khi người ta nóng giận, mình đừng vội thêm lửa. Chờ khi họ lắng xuống, mới có thể nói điều mình muốn nói.”

Thì ra, Nhẫn chính là sự tự chủ ấy. Không để cảm xúc điều khiển mình, mà để lý trí chọn thời điểm thích hợp. Nhẫn không làm ta thấp bé đi, trái lại, nâng mình lên một bậc vì giữ được sự sáng suốt.

Trong đời sống, chúng ta thường hiểu Nhẫn là “chịu đựng”, là “cam nhường”. Nhưng thật ra, Nhẫn không phải là nuốt hận cho qua, càng không phải để người khác lấn lướt. Nhẫn là khi ta biết điều gì đáng giữ, điều gì nên buông. Đôi khi Nhẫn là im lặng để bảo vệ sự bình yên; nhưng cũng có lúc, Nhẫn là kiên trì bền bỉ đi đến cùng, không bỏ cuộc trước khó khăn.

Nhẫn chính là sự tự chủ ấy. Không để cảm xúc điều khiển mình, mà để lý trí chọn thời điểm thích hợp. Nhẫn không làm ta thấp bé đi, trái lại, nâng mình lên một bậc vì giữ được sự sáng suốt.

Tôi nhớ một người bạn từng kể là trong công việc, cô bị đồng nghiệp nói xấu, gài bẫy. Thay vì đôi co, cô âm thầm làm việc tốt hơn, để kết quả tự chứng minh. Vài năm sau, chính người từng chèn ép phải thừa nhận năng lực của cô. Nếu ngày đó cô chọn cãi vã, có lẽ sự nghiệp đã chẳng thể vững vàng như hôm nay. Nhẫn ở đây không phải chịu thua, mà là giữ niềm tin, chọn con đường dài hơn.

Nhẫn còn là khoan dung. Ai trong đời chẳng có lúc sai lầm? Nếu cứ ôm chặt lỗi lầm của người khác để trách móc, ta chỉ làm lòng mình nặng nề. Tha thứ không phải vì người kia xứng đáng, mà vì ta chọn cách để trái tim được nhẹ nhõm. Sự Nhẫn ấy không yếu mềm, mà là một món quà dành cho chính mình.

Dĩ nhiên, Nhẫn không phải là vô nguyên tắc. Nhẫn để giữ sự bình an, nhưng khi cần bảo vệ lẽ phải, ta vẫn phải dũng cảm đứng lên. Có như vậy, Nhẫn mới thật sự là một đức hạnh, chứ không biến thành nhu nhược.

Ngày hôm nay, mỗi khi lòng tôi nổi giận hay muốn đôi co cho hả dạ, tôi thường nhớ đến hình ảnh thầy giáo năm xưa, ngồi bình tĩnh giữa cơn bão lời lẽ. Nhẫn không làm thầy mất đi uy nghiêm, mà khiến chúng tôi càng kính phục hơn.

Có lẽ, “Nhẫn trong Đức” chính là như thế, một sự mạnh mẽ thầm lặng. Không ghi nhớ sai lầm để trừng phạt, không nuôi dưỡng oán hận để tự làm khổ mình. Nhẫn là biết dừng lại trước cơn nóng giận, để giữ cho tâm được trong sáng. Nhẫn là kiên định bước tiếp, khi thử thách tưởng như không lối thoát. Và trên tất cả, Nhẫn là sống khoan dung nhưng không đánh mất nguyên tắc.

Khi hiểu được điều ấy, ta sẽ thấy Nhẫn không phải gánh nặng, mà là đôi cánh. Nó giúp ta bay cao hơn khỏi những chuyện nhỏ nhặt, để giữ lại sự thanh thản và lòng tự trọng. Và đó mới là sức mạnh thật sự của con người.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

Thursday, July 23, 2026

CỔ NHÂN NÓI: "MÔN PHẢI LUÔN MỞ VÀ HỘ PHẢI LUÔN ĐÓNG" - MÔN VÀ HỘ ĐỀU CÓ NGHĨA LÀ CỬA NHÀ, VẬY CHÚNG KHÁC NHAU Ở CHỖ NÀO?

Trong Tây Sương Ký có câu nói: “Dù chẳng được môn đăng hộ đối nữa, cũng còn hơn hãm vào tay quân giặc”. “Môn đăng hộ đối” có nghĩa là địa vị xã hội và tình hình kinh tế của hai gia đình tương đương nhau thì mới thích hợp cho việc kết thân và kết hôn.


Mặc dù “môn” và “hộ” đều chỉ cánh cửa nhưng giữa chúng có sự khác biệt. “Môn” thường đề cập đến cổng, lối vào chính, cửa trước; còn “hộ” chỉ cửa sau hoặc cửa các căn phòng khác như phòng ngủ. Suy cho cùng, cửa là lối vào, là bộ mặt của ngôi nhà, cũng là nơi tập trung của cải và phước lành. Còn “hộ” dùng để chỉ cửa sau và cửa các phòng khác được quy hoạch trong quá trình xây nhà. Những cửa này khác với cửa chính nên gọi là “hộ”.
 
Cánh cửa lớn thường xuyên mở

Câu “môn phải luôn mở và hộ phải luôn đóng” nghĩa đen là cửa nhà phải luôn mở, còn cửa sau và cửa các phòng ở khác luôn phải đóng. Về lý do, có những lập luận sau đây:

Cửa lớn phải mở thường xuyên bởi vì cửa là “bộ mặt” của ngôi nhà và là lối để tiếp bạn bè và khách vào nhà. Như lời bài hát: “Cửa nhà tôi thường mở, mở vòng tay chờ đợi bạn. Trời đất chủ yếu là bằng hữu, xin không cần khách khí…”

(ảnh: Nextcom).

Một gia đình có khách đến nhà liên tục, đồng nghĩa là mối quan hệ của người sống trong nhà này với người ngoài rất tốt. Cuộc sống và công việc của họ đều diễn ra tốt đẹp. Người xưa nói: “nhiều bạn bè con đường đi sẽ dễ dàng hơn”, cũng là biểu hiện của ý nghĩa này.

Cảnh tượng “môn đình nhược thị” (cửa chính như cái chợ – ám chỉ gia đình tấp nập đón đưa khách) không phải một gia đình bình thường có thể có được. Vô luận ở thời đại nào, gia đình đón khách như nêm như vậy không phú thì cũng quý.

Ngoài ra, cánh cửa chính thường rộng mở cũng là một biểu hiện của lòng hiếu khách.

Theo quan điểm phong thủy, cửa chính là nơi thu hút tập trung tài vận và phúc khí. Nếu nó thường xuyên duy trì ở trạng thái mở thì sẽ có lợi hơn cho tài vận của gia chủ. Khi gia đình người khác làm hỉ sự, nhân tiện gia chủ mở cửa có thể đón thêm một chút may mắn.

Cánh cửa phụ thường xuyên đóng

“Hộ gia đình phải đóng cửa thường xuyên”, điều này thực sự rất dễ hiểu. Chẳng hạn như cửa hậu, cửa phòng ngủ, hay những căn phòng khác trong nhà tất cả đều cần phải được đóng thường xuyên. Thứ nhất, tất cả mọi người muốn có không gian riêng tư. Hai là để đảm bảo sự an toàn. Nếu cửa sau và các phòng khác đều mở ra, một khi có kẻ trộm hoặc là người có tâm bất chính phát hiện ra, tài vật trong nhà có thể bị tổn thất.

Lý do thứ ba xuất phát từ quan điểm phong thủy: người ta cho rằng, tài vận và phúc khí từ cửa chính tiến vào. Nếu cửa sau mở, nó sẽ trực tiếp theo đó trượt đi mất. Người xưa gọi như vậy là “tán tài”. Và không ai muốn điều đó xảy ra.

Nguyên nhân ít được đề cập nhất xuất phát từ ba chữ “tẩu hậu môn” (đi cửa sau). Đây đã trở thành một thuật ngữ xúc phạm. Nó ám chỉ một hành vi, một trạng thái rất xấu của xã hội. Vào thời cổ đại, khi gia đình tổ chức tang lễ, quan tài cũng là từ cửa sau đi ra ngoài. Như vậy, nếu cửa sau luôn mở, tự nó có ý nghĩa không may mắn. Chỉ khi có người trong nhà rời đi, người ta mới mở cửa sau.

(ảnh: Cafef).

Câu tục ngữ “cửa chính luôn phải mở, cửa sau, cửa phòng luôn phải đóng” cũng là một mô tả về một trạng thái của cuộc sống. Trong phủ vương hầu, quan lớn ở thường có rất nhiều đình viện lớn nhỏ. Do đó cửa phòng trong phủ thật sự quá nhiều, khiến người ta hoa cả mắt.

Cửa trong một gia đình càng có nhiều càng có thể thể hiện thân phận và địa vị của gia đình. Đương nhiên gia đình như vậy nhất định là quý tộc hiếm có ở địa phương.

Đồng thời, cổ nhân cũng có lời khuyên răn rằng, đừng luôn nghĩ đến việc “đi cửa sau”, như vậy vừa là vô trách nhiệm với mình vừa là không công bằng với người khác. Làm người, phải làm được thì khi ngồi mới vững thế, công danh tài lộc mới bền vững.

Nguồn: Aboluowang (Triệu Lệ)

"NGƯỜI NÓI TA LÀ TRÂU, THÌ TA CHÍNH LÀ TRÂU"

Truyện cổ Đạo giáo kể rằng, nghe danh tiếng của một vị chân nhân đã lâu, một học giả đã từ nơi rất xa đến cầu kiến, muốn học Đạo.


Nhưng vài ngày sau, khi nghe thấy và nhìn thấy một số tình huống, ông bèn tới và nói với vị chân nhân rằng:

“Ta nghe nói tiên sinh là bậc thánh nhân. Nhưng hiện giờ ta thấy tiên sinh hoàn toàn không phải là bậc thánh nhân. Nơi chuột sinh sống đều còn đồ ăn thừa, còn trong nhà của ngài lại chẳng tích trữ một chút đồ ăn nào. Ngài có một tiểu muội, nhưng ngài lại ruồng bỏ không nuôi dưỡng, thế là bất nhân. Thi thoảng ngài mang rất nhiều đồ ăn chín chất đống lại trước mặt nhưng không chia cho người khác, thế là tham tài.”

Vị chân nhân nghe xong, vô cùng bình thản, cũng không giải thích bất cứ lời nào. Người học giả thấy vậy bèn lui ra.

Vài ngày sau, người học giả lại đến gặp vị chân nhân nói:

“Mấy hôm trước, tôi châm chọc ngài, nói xấu ngài. Hôm nay tôi đã ngộ ra được một chút, nhưng tôi không thể nói rõ ra được đạo lý mà tôi đã ngộ, là vì sao?”

Vị chân nhân nghe xong bèn nói:

“Hiện giờ ta sớm đã không còn là người minh trí thần thánh nữa rồi. Ông nói ta là trâu thì ta chính là trâu, ông nói ta là ngựa thì ta cũng là ngựa. Giả dụ người khác nói là gì, người khác gọi ta bằng tên gì, mà bản thân ta phản đối không tiếp nhận, thì điều ấy sẽ chỉ khiến ta gặp tai ương mà thôi. Những việc ta làm xưa nay đều vậy, không phải cố ý để cho người khác xem, nên mới làm được thật nhiều việc này việc kia.”

Học giả nghe xong, cảm thấy hổ thẹn không biết giấu mặt vào đâu. Ông bắt đầu cung kính trước mặt vị chân nhân.

Ông thành khẩn thỉnh giáo rằng:

“Tôi nên tu như thế nào?”

Bức “Thu giang ngư ẩn đồ” thời Tống tại Bảo tàng quốc gia Đài Loan. (Họa sĩ: Mã Viễn, Public Domain)

Vị chân nhân nói:

“Bình thường ông luôn tỏ ra rất trang trọng, mắt ông nhìn thẳng về phía trước, đầu ngẩng cao, miệng mở rộng, chứng tỏ ông rất cao ngạo. Ông giống như chú ngựa hoang, vốn muốn xông thẳng về phía trước, chỉ là vì bị dây cương buộc chặt mà phải dừng lại. Ông vốn muốn động, nhưng lại miễn cưỡng bị ghìm chặt, hễ bắt đầu hành động sẽ nhanh như máy. Quan sát tinh tường nhưng cố chấp vào ý kiến của bản thân, cơ trí nhưng quá nhiều dục vọng, truy cầu. Những điều này đều đi ngược lại với bản tính làm người. Người ngoài biên giới nếu vượt qua biên giới thường bị coi là trộm cướp, gây hại cho xã hội. Nội tâm của ông không đủ tĩnh tại, sao có thể tu?”

Vị học giả nghe xong, thấy thọ ích vô cùng.

Đối với bậc chân nhân đắc đạo mà nói, dẫu người khác bình luận về bản thân thế nào, ông cũng đều có thể thản nhiên tiếp nhận. Người khác nói bạn là trâu thì chính là trâu, nói bạn là ngựa thì chính là ngựa. Những thứ này đều là vật ngoại thân, căn bản không nên để tâm. Người tu đạo ắt cần làm được việc quên đi vinh nhục, buông xả tất cả phiền nhiễu của cảm xúc hỷ nộ ai lạc, nội tâm bình thản như nước, thong dong tự tại, từ đó mà tu thân dưỡng tính, đắc đạo nhập thánh.

Thiên Cầm biên tập (Theo Vision Times tiếng Trung)
Theo: trithucvn

BAO GIỜ NGÂU NỞ HOA - XUÂN QUỲNH

"Nắp đàn khoá sợi dây vẫn hát:
Bao giờ ngâu nở hoa..."
(Lưu Quang Vũ)


Bao giờ ngâu nở hoa
thơ Xuân Quỳnh

Những bông hoa nho nhỏ
Chỉ có chút hương đầm
Ẩn vào trong kẽ lá
Như mối tình lặng câm

Vượt qua tháng qua năm
Vượt qua đồi qua suối
Bỗng gặp một mùi hương
Như lời yêu thầm gọi
Như ánh đèn chờ đợi
Như ánh mắt bao dung
Trong cơn khát cháy lòng
Bỗng tìm ra nguồn nước...

Mùi hương không hẹn trước
Tình yêu đến bất ngờ
Em đâu biết bao giờ
Mùa hoa ngâu ấy nở
Anh như cây đàn khóa
Sợi dây còn ngân vang
Em đi hết lòng em
Lại gặp lời hát đó
Hoa ngâu ở nơi nào
Em cũng không biết nữa
Em chỉ biết tình em
Như ngâu vàng vẫn nở

Xuân Quỳnh


Sơ lược tiểu sừ tác giả:

Xuân Quỳnh (1942-29/8/1988) tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, vốn là diễn viên múa từ năm 13 tuổi, có thơ đăng báo năm 19 tuổi, trở thành nhà thơ chuyên nghiệp sau khi qua lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ khóa đầu tiên của Hội Nhà Văn Việt Nam (1962-1964). Xuân Quỳnh được coi là nhà thơ nữ hàng đầu của nửa cuối thế kỷ 20.

Nguồn: Thi Viện