Tuesday, November 3, 2026

QUÂN TỬ KHÔNG ĐẤU VỚI TIỂU NHÂN

Quân tử không đấu với tiểu nhân, ác nhân tất có ác nhân trị

Có câu: “Quân tử không đấu với tiểu nhân, ác nhân tự có ác nhân trị”. Là vì quân tử không đấu nổi tiểu nhân chăng? Bậc trí tuệ chỉ liếc mắt nhìn là hiểu ra đạo lý.


Thường nghe nói “cẩu cẩu cắn người” hoặc là “chó cắn chó”, nào có ai nói… “người cắn chó” bao giờ!

Tất nhiên, con người sao có thể xếp ngang hàng với động vật được? Đạo lý này ai ai cũng hiểu.

Tục ngữ có câu: “Quân tử không đấu với tiểu nhân, ác nhân tự có ác nhân trị”. Là vì quân tử đấu không nổi tiểu nhân chăng? Bậc trí tuệ chỉ liếc mắt nhìn là hiểu ra đạo lý.

Người quân tử trọng đạo nghĩa, được mọi người tôn sùng. Kẻ tiểu nhân trọng lợi ích cá nhân, bị mọi người khinh ghét. Là quân tử, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào thì sẽ luôn giữ vững đạo nghĩa mà làm việc, tuân theo lời dạy của Thánh nhân mà làm người.

Thế nào là quân tử, thế nào là tiểu nhân?

Trong Trinh Quán Chính Yếu giải thích rằng: “Quân tử, tiểu nhân vốn vô thường, làm điều tốt là quân tử, làm điều xấu là tiểu nhân”. Nếu hỏi ai là quân tử, thì chính là người khi gặp việc bất lợi vẫn có thể chịu thiệt thòi. Nếu hỏi ai là tiểu nhân, thì chính là người gặp sự việc thì tham luyến lợi ích.

Kẻ tiểu nhân tâm địa hẹp hòi, trong lòng thường có điều mờ ám, vĩnh viễn bất an. (Ảnh minh họa nguồn: youtube)

Chúng ta đã nghe rất nhiều đạo lý phân biệt kẻ tiểu nhân, nhưng thường khó tránh khỏi việc tranh đấu với họ. Trong cuộc sống cũng như vậy, phân biệt đúng sai thì dễ, nhưng phạt ác khen thiện lại là điều khó làm.

Khổng Tử nói: “Người làm điều thiện thì Trời lấy phúc mà bồi hoàn, kẻ làm điều bất thiện thì Trời lấy họa mà trả lại”. Trong Tăng Quảng Hiền Văn cũng viết: “Kẻ ác người sợ nhưng Trời không sợ, người hiền người khinh nhưng Trời chẳng khinh”.

Kẻ ác người sợ, Trời không sợ

Tiểu nhân cũng được sinh ra trong trời đất, sao có thể khiến họ biến mất đây? Điều ấy là không thể.

Vậy thì liều mình đấu với tiểu nhân đến cùng, hoặc dùng cái ác để ‘một mất một còn’ với họ, đó có phải là hành động sáng suốt hay không? Hiển nhiên không phải!

Đối đãi với tiểu nhân thì cách tốt nhất là: Không chấp nhặt với họ.

Tranh cãi với người không cùng cảnh giới là việc phí thời gian vô ích. (Ảnh minh họa nguồn: youtube)

Có người nói vui rằng: “Bị chó cắn cũng không thể cắn lại”. Đạo lý cũng tương tự như thế: Khi bị tiểu nhân tính kế, nếu chúng ta cũng mưu tính lại thì sao có thể phân biệt mình với tiểu nhân đây?

Tục ngữ có câu: “Quân tử không đấu với tiểu nhân, ác nhân tự có ác nhân trị”. Nếu tiểu nhân nham hiểm mưu mô, thì trời đất rộng lớn này tất yếu cũng luôn có người trừng trị họ.

Cho dù tiểu nhân có xảo quyệt đến đâu, cũng sẽ không tránh khỏi chế ước của pháp luật và sự lên án của đạo đức lương tri. Chính là nói mọi vật đều có yếu điểm, luôn tồn tại điều khắc chế với nó. Mọi việc trên thế gian vốn là do nhân quả mà tuần hoàn.

Thời cổ có hai vị cao tăng, một vị là Hoán Hàn Sơn, vị còn lại tên là Hoán Thập Đắc.

Hàn Sơn tu hành giữa người thường, thường hay gặp những lời nhục mạ và bị ác nhân đối xử thô bạo một cách vô cớ. Một ngày hòa thượng Hàn Sơn hỏi hòa thượng Thập Đắc rằng: “Thế gian có người phỉ báng ta, bắt nạt ta, làm nhục ta, cười nhạo ta, xem thường ta, khinh dễ ta, rẻ rúng ta, dối lừa ta… Làm thế nào để trị họ?”.

Thập Đắc đáp: “Chỉ cần nhẫn với họ, nhường nhịn họ, bỏ qua cho họ, tránh họ, chịu đựng họ, thành kính với họ, không truy cứu họ… qua một thời gian thì xem họ thế nào”.

Chúng ta làm bất cứ việc gì, cuối cùng thì vẫn nên tin rằng: Làm nhiều việc bất nghĩa ắt sẽ tự hại mình. Việc xấu nếu làm nhiều thì cái bất lương sớm hay muộn cũng bị mọi người thấy rõ. Đồng thời nên học cách hòa giải mọi việc, chớ để lãng phí sinh mệnh quý báu của mình mà vướng víu với tiểu nhân.

Kẻ thiện người khinh, Trời chẳng khinh

Vì sao quân tử không nên đấu với tiểu nhân?

Là vì:

Quân tử ở nơi sáng, tiểu nhân ở nơi tối.
Quân tử thuyết đạo lý, tiểu nhân nói tà lý.
Quân tử ngôn hành nhất trí, tiểu nhân bằng mặt không bằng lòng.
Quân tử nghiêm khắc với bản thân, tiểu nhân bàn mưu tính kế với người khác.
Quân tử lo nghĩ cho đại cục, tiểu nhân vì cá nhân mà bỏ qua tập thể.
Quân tử lòng dạ thoáng đãng, tiểu nhân bụng dạ hẹp hòi.
Quân tử làm việc đến nơi đến chốn, tiểu nhân làm việc trống rỗng hư không.

Người quân tử cho dù gặp cảnh khốn cùng hay tuyệt lộ thì vẫn ung dung đĩnh đạc, kiên trì với nguyên tắc làm người của mình. (Ảnh minh họa nguồn: youtube)

Tục ngữ có câu: “Ruồi không cắn được vỏ trứng”. Quân tử giữ thân đoan chính, nghĩa là làm việc chính, ngồi ngay ngắn, không làm việc xấu hổ với trời đất, hành vi tư tưởng không hổ thẹn với bản thân. Trước một bậc chính nhân quân tử như thế, tiểu nhân không có mánh khoé nào, cũng tìm không được sơ hở để thực hiện ý đồ.

Người đang làm, Trời đang nhìn

Người tốt thường phải chịu thiệt thòi nhưng đạo Trời vốn công bình, lẽ đời tự có trả có vay. Người khác thiếu nợ bạn, Trời sẽ hoàn trả cho bạn. Người khác xử tệ với bạn, Trời sẽ bồi thường cho bạn.

Tăng Tử từng nói: “Người làm điều thiện, phúc tuy chưa đến mà họa đã rời xa”. Thiện lương của mỗi người là lá bùa hộ thân cho chính mình. Từ bỏ ác tâm chính là không kích động điều bất thiện, trừ bỏ ham muốn bản thân và rời xa thị phi.

Phẩm đức của quân tử giống như mặt trời, chiếu sáng những nơi tối tăm trên thế gian, không chỉ chiếu sáng người khác mà còn sưởi ấm bản thân mình.

Khổng Tử nói: “Người quân tử yêu cầu chính là bản thân, kẻ tiểu nhân yêu cầu chính là mọi người”. (Ảnh minh họa nguồn: youtube)

Gieo nhân ác gặp ác báo, gieo nhân thiện được thiện quả. Thiện niệm trong tâm hễ khởi lên, phúc báo theo đó lần lượt đến. Phúc báo không ở đâu xa mà ở sự tu dưỡng nội tâm và hành vi của chúng ta mà thôi.

Mạn Vũ
Theo Soundofhope.com

THAY ĐỔI BẢN THÂN LÀ THẦN, THAY ĐỔI NGƯỜI KHÁC LÀ BỆNH THẦN KINH

Có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”, tính cách và thói quen của một người là thứ rất khó để thay đổi. Không thể thay đổi được người khác, phương pháp thông minh nhất chính là thay đổi chính mình.


Khi chúng ta được sinh ra, tất cả chúng ta đều giống như những trang giấy trắng. Kinh nghiệm sống tích lũy theo cùng năm tháng. Chúng ta có tính cách, dần hiểu chuyện nhân tình thế thái. Khi còn trẻ, tinh thần nhiệt huyết, luôn muốn làm hài lòng tất cả mọi người, muốn mọi người công nhận mình, cố gắng thay đổi quan điểm của người khác.

Sau nhiều trải nghiệm, chúng ta dần hiểu ra: Thay đổi bản thân là Thần, thay đổi người khác là bệnh thần kinh. Thay vì cố gắng thay đổi người khác, hãy tập trung để hiểu chính mình.

1. Tâm mỗi người khác nhau, đừng ép buộc người khác thay đổi

Người với người, nền tảng giáo dục khác nhau, kinh nghiệm và mối quan hệ bạn bè khác nhau, chắc chắn có những mức độ tư duy khác nhau. Vì vậy, cách nhìn nhận sự việc, cách giải quyết vấn đề sẽ có những chỗ bất đồng. Nếu bạn ép buộc thay đổi thì chắc chắn sẽ gây ra xung đột. Con người là khác nhau, đừng ép buộc.


Thật khó để thay đổi một con người, thật mệt mỏi khi cưỡng ép thay đổi một cá nhân.

Hãy học cách tôn trọng, cho nhau một chút không gian, nhường chỗ cho cảm xúc riêng tư, thay vì đòi hỏi quá nhiều gây ra xung đột.

Để mối quan hệ không đi vào bế tắc, tình cảm không phai nhạt, nên điều chỉnh trạng thái cảm xúc của bản thân tốt hơn, cảm thông và khoan dung hơn.

2. Bất kỳ việc gì thì cũng tìm nguyên nhân từ chính mình

Mối quan hệ giữa người với người thường xảy ra tranh chấp, xung đột. Lý do không phải là người khác, mà là chính mình luôn đặt mình lên hàng đầu, không quan tâm đến cảm xúc của người khác. Khi vấn đề phát sinh thì trốn tránh trách nhiệm, đổ hết lỗi cho người khác.

Bất kỳ việc gì thì cũng tìm nguyên nhân từ chính mình, đừng đổ lỗi cho người khác một cách mù quáng.


Chủ động thay đổi, phá vỡ bế tắc, thì sẽ không có mong muốn thay đổi người khác nữa. Khi tâm trạng của bạn thay đổi, yêu cầu đối với người khác cũng sẽ thay đổi, mâu thuẫn dù lớn đến đâu cũng có thể giải quyết dễ dàng.

3. Thay vì phàn nàn, hãy thay đổi bản thân

Người hạnh phúc thì không phàn nàn, người phàn nàn sẽ không hạnh phúc. Phàn nàn là cách vô ích nhất, nó cũng là chất độc mạnh nhất.

Người phàn nàn trong một thời gian dài, sẽ sinh ra chán nản, nội tâm u tối, mất nhiệt tình, không quan tâm đến cuộc sống. Sống cuộc sống buồn tẻ, mệt mỏi.

Trong thế giới này, nhiều tình huống rất khó để chúng ta làm khác đi, có nhiều thứ chúng ta không thể thay đổi. Thay vì phàn nàn, tốt hơn là im lặng và làm mọi việc. Thực hiện thay đổi bằng hành động để thích nghi với môi trường mới, cải thiện các kỹ năng và điều chỉnh tâm lý của bản thân.


Khi bạn thay đổi chính mình, thế giới cũng thay đổi. Bạn sẽ thấy: Niềm vui hiển hiện ở khắp mọi nơi, hạnh phúc ở ngay bên mình.

Trong cuộc sống này, thay đổi bản thân là Thần, thay đổi người khác là bệnh thần kinh.

Thay đổi người khác là khởi đầu của khổ đau, thay đổi bản thân là khởi đầu của hạnh phúc.

Thường rất khó để thay đổi người khác, thay đổi bản thân dễ dàng hơn nhiều.

Vì vậy, hãy ngừng lãng phí thời gian của bạn để cố gắng thay đổi người khác.

Làm việc của riêng bạn, không ép buộc bất cứ điều gì, làm cho mình hạnh phúc. Đó là điều tuyệt vời nhất!

Nguồn: ntdvn.
Nguyên Anh biên dịch

VÌ SAO CHỈ VỚI 30,000 NGƯỜI, DÂN TỘC SA ĐÀ (沙陀族) CÓ THỂ LẬP NÊN 4 TRIỀU ĐẠI Ở TRUNG HOA ?

Chỉ với khoảng 30.000 người, dân tộc Sa Đà đã dựng nên bốn triều đại, nhiều lần thay đổi cục diện Trung Nguyên và trở thành một trong những hiện tượng kỳ lạ nhất của thời Ngũ Đại Thập Quốc.


Vì sao chỉ với 30.000 người, dân tộc Sa Đà (沙陀族) có thể lập nên 4 triều đại ở Trung Hoa?

Đã từng có rất nhiều dân tộc du mục tung hoành trên thảo nguyên Á – Âu rồi dần biến mất trong dòng chảy lịch sử. Người Tiên Ti hòa nhập vào dân tộc Hán sau thời Tùy – Đường, người Đảng Hạng lập nên Tây Hạ rồi cũng bị xóa sổ, người Khiết Đan từng xây dựng đế quốc Liêu hùng mạnh nhưng cuối cùng cũng tan biến. Thế nhưng, có một dân tộc còn bí ẩn hơn cả. Họ chỉ có khoảng 30.000 người, nhưng lại liên tiếp dựng nên bốn vương triều ở Trung Nguyên, thống trị vùng đất đông dân nhất thế giới suốt 56 năm. Điều kỳ lạ hơn là sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử ấy, dân tộc này gần như biến mất không dấu vết.

Đó chính là người Sa Đà.

Nếu chỉ nhìn vào quy mô dân số, thật khó tin một bộ tộc chưa đầy 30.000 người lại có thể nhiều lần trở thành chủ nhân của thiên hạ, giữa một Trung Quốc có tới hàng chục triệu người Hán. Thế nhưng lịch sử thời Ngũ Đại Thập Quốc đã chứng minh điều tưởng như không thể ấy là sự thật.

Khi tiến vào Trung Nguyên, dân tộc Sa Đà chỉ có khoảng 30.000 người.

Người Sa Đà vốn là một nhánh của người Đột Quyết. Ban đầu, họ sinh sống ở vùng sa mạc và thảo nguyên phía tây bắc Trung Quốc ngày nay. Chính vì cư trú tại vùng đất nhiều cát sỏi nên được gọi là "Sa Đà", nghĩa là "đồi cát". Cuộc sống du mục khiến họ từ nhỏ đã quen với cưỡi ngựa, bắn cung và chinh chiến. Mỗi người đàn ông gần như đều là một chiến binh thực thụ.

Nhưng nếu chỉ có sức chiến đấu thì chưa đủ để lập quốc. Điều khiến người Sa Đà thay đổi vận mệnh lại bắt nguồn từ những biến động lớn của khu vực Trung Á.

Vào thế kỷ VIII, cuộc chiến kéo dài giữa Thổ Phồn (Tây Tạng) và Hồi Hột liên tục lan rộng, khiến vùng đất của người Sa Đà bị chiến tranh tàn phá. Để tránh họa diệt tộc, họ buộc phải đưa cả bộ lạc di cư về phía đông, tìm nơi nương tựa dưới quyền triều Đường.

Đây được xem là bước ngoặt đầu tiên trong lịch sử dân tộc này.

May mắn cho người Sa Đà là nhà Đường lúc ấy lại có chính sách vô cùng cởi mở với các dân tộc phương Bắc. Không giống nhiều triều đại khác luôn coi người du mục là "dị tộc", các hoàng đế nhà Đường lại chủ trương đoàn kết các sắc tộc.

Bản thân hoàng thất nhà Đường cũng có quan hệ huyết thống với người Tiên Ti. Bà nội của Đường Thái Tông Lý Thế Dân là người Tiên Ti, Hoàng hậu Trưởng Tôn cũng mang dòng máu Tiên Ti. Chính vì vậy, Đường Thái Tông từng nổi tiếng với câu nói:

"Từ xưa người ta đều trọng người Hoa, khinh người Di Địch, nhưng trẫm đối xử với tất cả như nhau”.

Nhờ chính sách ấy, người Sa Đà không chỉ được phép định cư trong lãnh thổ nhà Đường mà còn được trao ruộng đất, chức tước và nhiều đặc quyền khác. Các thủ lĩnh Sa Đà lần lượt trở thành tướng lĩnh của triều đình.

Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất giúp người Sa Đà từng bước nắm quyền lực lại nằm ở sự suy yếu của chính nhà Đường.

Dân tộc Sa Đà đã lập nên 4 triều đại tại Trung Nguyên.

Thời kỳ đầu, nhà Đường áp dụng chế độ phủ binh. Binh sĩ vừa cày ruộng vừa luyện quân, mọi lực lượng đều nằm dưới quyền triều đình. Vì thế, các tướng lĩnh rất khó xây dựng quân đội riêng.

Nhưng sau loạn An Sử, cục diện thay đổi hoàn toàn.

Để đối phó với các cuộc nổi dậy và sức ép từ các dân tộc phương Bắc, triều đình buộc phải trao quyền ngày càng lớn cho các Tiết độ sứ. Họ không chỉ nắm quân đội mà còn quản lý cả đất đai, tài chính, thuế khóa và dân cư.

Chẳng bao lâu sau, các Tiết độ sứ biến thành những "ông vua con", sở hữu quân đội riêng và gần như không còn chịu sự kiểm soát của triều đình.

Đó chính là mảnh đất màu mỡ để những võ tướng xuất thân từ người Sa Đà vươn lên.

Khác với tầng lớp quý tộc người Hán vốn coi trọng môn phiệt và huyết thống, các võ tướng Sa Đà xuất thân bình dân, không bị ràng buộc bởi tư tưởng Nho giáo. Trong suy nghĩ của họ, thiên hạ thuộc về người mạnh nhất.

Tinh thần ấy được thể hiện đúng với câu nói nổi tiếng: "Vương hầu tướng lĩnh chẳng lẽ sinh ra đã cao quý?"

Sau khi nhà Đường sụp đổ, Trung Quốc bước vào thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc đầy hỗn loạn. Các phiên trấn cát cứ liên tục tranh giành thiên hạ. Chính trong hoàn cảnh ấy, sức mạnh quân sự của người Sa Đà được phát huy tối đa.

Người đầu tiên lập nên triều đại là Lý Tồn Úc, con trai của danh tướng Lý Khắc Dụng. Năm 923, ông tiêu diệt Hậu Lương, thành lập Hậu Đường, mở đầu thời kỳ người Sa Đà thống trị Trung Nguyên.

Sau Hậu Đường, đến lượt Thạch Kính Đường, vốn cũng là người Sa Đà, liên minh với người Khiết Đan để lật đổ Hậu Đường và lập nên Hậu Tấn. Dù phải đánh đổi bằng việc cắt nhượng "Yên Vân thập lục châu", Thạch Kính Đường vẫn trở thành hoàng đế.

Sự biến mất của người Sa Đà vẫn còn là một bí ẩn.

Không lâu sau, Lưu Tri Viễn, một tướng lĩnh Sa Đà khác, lại lật đổ Hậu Tấn để lập ra Hậu Hán.

Cuối cùng, khi Hậu Hán diệt vong, Lưu Sùng rút về Thái Nguyên và thành lập Bắc Hán, chính quyền cuối cùng của người Sa Đà.

Từ năm 923 đến năm 979, bốn chính quyền này lần lượt tồn tại, giúp người Sa Đà cai trị Trung Nguyên trong suốt 56 năm.

Điều đáng chú ý là suốt khoảng thời gian ấy, dân số người Sa Đà vẫn vô cùng ít ỏi. Họ không thể thống trị bằng số lượng mà chủ yếu dựa vào việc nắm quân đội, kiểm soát các Tiết độ sứ và thu phục tầng lớp quan lại người Hán để điều hành đất nước.

Thế nhưng, chính ưu thế ấy cũng trở thành điểm yếu chí mạng.

Sau nhiều thế hệ sống tại Trung Nguyên, người Sa Đà dần kết hôn với người Hán, sử dụng tiếng Hán, tiếp nhận văn hóa Hán và từng bước đánh mất bản sắc dân tộc. Trong khi đó, triều Bắc Tống ngày càng lớn mạnh.

Năm 979, quân Tống tiêu diệt Bắc Hán, chấm dứt hoàn toàn thời kỳ các triều đại Sa Đà.

Kể từ đó, cái tên Sa Đà gần như biến mất khỏi lịch sử. Họ không bị tiêu diệt hoàn toàn, mà dần hòa nhập vào cộng đồng người Hán và các dân tộc khác, để rồi biến mất như một dân tộc độc lập.

Lịch sử Trung Hoa có rất nhiều dân tộc từng lập quốc, nhưng hiếm có dân tộc nào để lại dấu ấn đặc biệt như người Sa Đà. Chỉ với khoảng 30.000 người, họ đã dựng nên bốn triều đại, nhiều lần thay đổi cục diện Trung Nguyên và trở thành một trong những hiện tượng kỳ lạ nhất của thời Ngũ Đại Thập Quốc. Sự trỗi dậy của họ không phải nhờ dân số đông đảo, mà là kết quả của sức mạnh quân sự, khả năng nắm bắt thời cơ và đặc biệt là sự hỗn loạn kéo dài sau khi nhà Đường sụp đổ. Chính thời thế đã tạo nên những anh hùng, và cũng chính thời thế đã khiến một dân tộc từng làm chủ thiên hạ cuối cùng tan biến vào dòng chảy lịch sử.

Minh Tuấn / Theo: Dân Việt
Link tham khảo:



Monday, November 2, 2026

VĂN DẠ CHÂM - BẠCH CƯ DỊ


Văn dạ châm

Thuỳ gia tư phụ thu đảo bạch,
Nguyệt khổ phong thê châm chử bi.
Bát nguyệt cửu nguyệt chính trường dạ,
Thiên thanh vạn thanh vô liễu thì.
Ưng đáo thiên minh đầu tận bạch,
Nhất thanh thiêm đắc nhất hành ty.


聞夜砧 - 白居易

誰家思婦秋搗帛
月苦風淒砧杵悲
八月九月正長夜
千聲萬聲無了時
應到天明頭盡白
一聲添得一莖絲


Nghe tiếng chày đêm
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Nhớ chàng giặt lụa canh thâu. 
Trăng tàn gió lặng, thêm sầu chày đêm. 
Sáng trăng, đêm cũng dài thêm. 
Tiếng chày mải miết, tay mềm chưa buông. 
Sáng ra tóc bạc như sương. 
Chày buông một tiếng, sợi vương bạc đầu.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, 15 bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.

Nguồn: Thi Viện

VĂN HÓA MŨ CHÂU ÂU: NÉT THANH LỊCH VÀ LỄ NGHI TRÊN PHỐ XƯA

Từ mũ quả dưa của quý ông đến những chiếc mũ vành rộng của quý bà, phục sức trên phố châu Âu xưa còn gắn với lễ nghi, cách chào hỏi và sự tôn trọng giữa người với người.


Nếu quay ngược thời gian hơn một thế kỷ và xem những bức ảnh châu Âu thuở ấy, điều đầu tiên đập vào mắt có lẽ là khung cảnh độc đáo tạo nên bởi vô số chiếc mũ: trên phố London, nhân viên ngân hàng đội mũ quả dưa cứng cáp, vội vã bước đi; trước quán cà phê Vienna, những quý ông gặp nhau khẽ ngả mũ chào; trên đại lộ rợp cây ở Paris, mũ của các quý bà lộng lẫy và nổi bật, với vành rộng trang trí lông vũ, hoa và ruy băng. Nhìn từ xa, cả con phố tựa như một khu vườn đang chậm rãi chuyển động.

Trong các đô thị châu Âu thời ấy, ra ngoài không đội mũ gần như bị xem là ăn mặc chưa chỉnh tề. Mũ không chỉ để giữ ấm hoặc làm đẹp, mà còn trở thành một phần lễ nghi xã hội. Ngay cả người lao động bình thường cũng thường đội mũ phẳng hay mũ vải. Dù là mũ lễ sang trọng hay chiếc mũ giản dị, người ta thường qua phục sức và cử chỉ để thể hiện thân phận cùng sự giáo dưỡng; chiếc mũ là một trong những dấu hiệu dễ nhận thấy nhất.

Mỗi kiểu mũ, một dáng vẻ đời sống

Trên đường phố London hay Paris phồn hoa, kiểu mũ thường gợi ra vai trò xã hội khác nhau. Nhân viên ngân hàng và thương nhân hay đội mũ quả dưa cứng, vành ngay ngắn, đường nét đơn giản, trông nghiêm chỉnh và lịch thiệp. Công nhân và thợ thủ công thường chọn mũ phẳng hoặc mũ vải, đôi khi đội hơi lệch, vừa thuận tiện làm việc vừa tự nhiên, thoải mái.

Trong giới văn hóa ở Paris và Vienna, một số họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ lại thích mũ beret mềm hoặc mũ nỉ vành hơi rủ, mang vẻ phóng khoáng, không câu nệ.


Nếu mũ nam giới thường tượng trưng cho thân phận và nghề nghiệp, thì mũ phụ nữ thể hiện thời trang và thẩm mỹ. Một chiếc mũ thường là phần quan trọng nhất trong trang phục của quý bà. Nhiều người thậm chí chọn mũ trước rồi mới quyết định hôm ấy mặc gì.

Bởi vậy, tại Paris xuất hiện đông đảo thợ chuyên làm mũ nữ, gọi là milliner. Công việc của họ không chỉ là chế tác mũ, mà gần với công việc của nhà thiết kế thời trang. Mỗi mùa mới, tạp chí giới thiệu các kiểu mũ mới nhất, còn cửa kính bách hóa trưng bày những mẫu đang thịnh hành.

Với nhiều phụ nữ, chiếc mũ mới không chỉ có nghĩa là hợp mốt, mà còn là hòa vào đời sống đô thị và dòng chảy thời trang. Phố xá, công viên và quán cà phê vừa là nơi thư giãn, vừa là sân khấu thể hiện gu thẩm mỹ. Người ta dạo bước, trò chuyện và vô tình quan sát phục trang của nhau, tất nhiên bao gồm cả những chiếc mũ.

Chiếc trâm cài nhỏ và câu chuyện giữa phố đông

Mũ nữ thời ấy thường rất rộng nên phải dùng những chiếc trâm dài để cố định vào búi tóc. Có chiếc dài tới 20–30 cm, vừa giữ chắc mũ vừa là một phần của phục sức. Trâm thường bằng kim loại, đầu trên trang trí ngọc trai, pha lê hay những món đồ nhỏ tinh xảo.

Điều thú vị là ngoài công dụng giữ mũ, những chiếc trâm ấy đôi khi còn trở thành vật phụ nữ mang theo để tự vệ. Theo bài viết, báo chí London và Paris đầu thế kỷ XX thỉnh thoảng đưa tin về việc trâm cài mũ gây thương tích: trên xe điện hoặc đường phố đông đúc, trâm quá dài có thể vô tình đâm vào người bên cạnh. Một số thành phố thậm chí từng bàn đến việc giới hạn chiều dài trâm.

Những câu chuyện nhỏ, sinh động ấy phần nào cho thấy văn hóa đội mũ phổ biến đến đâu: ngay cả một chiếc trâm bé nhỏ cũng có thể thu hút sự chú ý của cả đô thị.


Ngả mũ để thể hiện sự tôn trọng

Văn hóa mũ gắn sâu vào phép ứng xử thường nhật. Một động tác bỏ mũ đơn giản có thể biểu đạt sự tôn kính, lịch sự, thậm chí lời xin lỗi.

Khi các quý ông tình cờ gặp nhau trên phố, nếu chỉ quen sơ, họ thường khẽ nâng vành mũ và gật đầu. Gặp người quen hoặc một phụ nữ, họ thường bỏ hẳn mũ, kết hợp hơi cúi đầu để chào cho đúng phép.

Khi bước vào quán cà phê hay nhà hát, bỏ mũ là quy tắc được ngầm hiểu. Theo tác giả, điều đó vừa thể hiện phép lịch sự khi chuyển từ ngoài trời vào trong nhà, vừa là sự tôn trọng diễn viên, đồng thời tránh để vành mũ rộng che tầm nhìn của khán giả ngồi sau.

Nâng vành mũ, bỏ mũ, đội lại: những động tác nhỏ lặp đi lặp lại trên đường phố đã tạo nên một khung cảnh ứng xử thanh lịch của xã hội phương Tây.

Một chiếc mũ nhỏ phản chiếu diện mạo đời sống đô thị châu Âu hơn trăm năm trước. Thời đại thay đổi, mũ không còn là vật bắt buộc mỗi khi ra ngoài. Nhưng lễ nghi, sự văn minh và lòng tôn trọng người khác cùng trật tự xã hội chứa đựng trong đó không nên vì thế biến mất.

Sự thanh lịch và đúng mực ấy vẫn là một gợi ý đẹp cho cách con người chung sống hòa thuận, tôn trọng nhau trong xã hội hiện đại, đáng được các thế hệ sau tiếp nối.

Cao Lị – Sound of Hope
Theo: ĐKN

Sunday, November 1, 2026

LÀ NGƯỜI TRUNG QUỐC NHƯNG LẠI ĐƯỢC MỆNH DANH LÀ THIÊN HOÀNG KHAI QUỐC NHẬT BẢN

Từ Phúc là người vâng lệnh Tần Thủy Hoàng ra biển tìm thuốc trường sinh, nhưng lại được một số học giả khẳng định ông chính là Thần Vũ Thiên Hoàng, vị vua khai quốc của Nhật Bản. Vậy rốt cuộc thực hư ra sao?

Từ Phúc (Nguồn: baidu)

Như chúng ta đã biết, Trung Quốc là một quốc gia có lịch sử lâu đời, vậy tại sao trong tiếng Nhật lại có nhiều chữ Hán đến vậy? Điều này là do họ đã học được văn hóa, phong tục và chế độ chính trị từ Trung Quốc. Trong quá khứ, người Nhật đã gửi 19 đoàn sứ giả đến triều Đường để học hỏi kiến thức, có những học giả cho rằng, một số cư dân đầu tiên của Nhật Bản có thể là người Trung Quốc chuyển đến.

Tần Thủy Hoàng, vị hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc đã phái hàng nghìn người ra biển tìm kiếm “tiên đan”, người lãnh đạo chính là Từ Phúc. Trong “Sử ký” có ghi chép: Tần Thủy Hoàng rất vui mừng, sai 3000 đồng nam và đồng nữ hộ tống Từ Phúc, mang theo đủ loại lương thực và công cụ. Từ Phúc đã đến một nơi bình nguyên quảng trạch (nghĩa là vùng đồng bằng, có nhiều hồ rộng), tự xưng làm vua và không bao giờ quay lại.

Từ Phúc nói cho Tần Thủy Hoàng biết về các núi Bồng Lai ở trên biển, Phương Trượng, Doanh Châu tiên sơn, nơi có thần tiên sinh sống. Vì vậy, Tần Thủy Hoàng đã sai Từ Phúc dẫn đầu 3000 đồng nam đồng nữ mang theo đủ loại đồ đạc, lương thực, quần áo, thuốc men,… đủ dùng trong 3 năm để đi tìm nơi thần tiên ở. Sau vài năm ra khơi, họ vẫn không tìm thấy những nơi mà Từ Phúc đã mô tả.

Tần Thủy Hoàng ra lệnh cho Từ Phúc đi tìm thuốc trường sinh (Nguồn: baidu)

Năm 210 trước Công nguyên, Từ Phúc và đoàn người đến một vùng bình nguyên quảng trạch, thấy nơi này có thời tiết tốt, dân chúng thân thiện, phù hợp để sinh sống. Từ Phúc quyết định ở lại đây với mọi người và lên ngôi vua. Vùng đất này chính là khu vực phía sau núi Phú Sĩ ở Nhật Bản. Từ Phúc đã dạy cho người dân địa phương sử dụng những đồ vật mang theo và giúp mọi người sửa đổi họ tên của mình.

Hiện nay, hậu duệ của người Nhật cũng coi Từ Phúc là Thiên Hoàng Thần Vũ và tôn sùng ông là Thiên Hoàng đầu tiên của Nhật Bản. Vì vậy mà người Nhật rất tôn kính Từ Phúc.

Trong thời kỳ Nhật Bản xâm lược Trung Quốc, một nhóm binh sĩ Nhật Bản xông vào một ngôi làng ở thị trấn Kim Sơn, tỉnh Giang Tô, chuẩn bị cướp bóc thì bất ngờ nhìn thấy bức tượng Từ Phúc bằng đá. Điều này khiến họ sợ hãi, vội vàng nhờ người đến hỏi thăm thì mới biết đây chính là làng quê của Từ Phúc, được gọi là “Làng Từ Phúc”.

Họ liền quỳ xuống lạy vì sợ bị quả báo làm xáo trộn lãnh thổ của tổ tiên. Sau khi những người Nhật này bái lạy xong, họ kính cẩn rời đi, từ đó không bao giờ quay lại. Sau chiến tranh, Thủ tướng Nhật Bản lúc bấy giờ là Tsutomu Hata còn đặc biệt đến thăm ngôi làng này để quỳ lạy Từ Phúc.

Từ Phúc (Nguồn: soundofhope)

Cựu thủ tướng Nhật Bản Hata Tsutomu luôn tự xưng mình là hậu duệ của Từ Phúc và tự hào về điều này, thậm chí ông đã tham gia nhiều lễ hội và sự kiện tưởng nhớ về Từ Phúc. Năm 2007, Trung Quốc tổ chức “Lễ hội Từ Phúc lần thứ 7 tại Cám Du”, trong dịp này, Hata Tsutomu cũng tự mình đến tham dự và bày tỏ rằng ông rất sẵn lòng tham gia các sự kiện này, trong tương lai nếu có bất kỳ sự kiện nào liên quan đến Từ Phúc, ông nhất định sẽ đến.

Thực tế không chỉ có Hata Tsutomu, hiện nay nhiều người Nhật Bản cũng tự xưng là hậu duệ của Từ Phúc, có những nhóm người Nhật Bản đến Trung Quốc để tìm hiểu về nguồn gốc tổ tiên của họ. Mặc dù chúng ta không biết họ có phải là hậu duệ của Từ Phúc hay không, nhưng chắc chắn rằng Trung Quốc đã có tác động sâu sắc và lâu dài đối với Nhật Bản. Ngày 28 tháng 11 hàng năm là một ngày quan trọng để người Nhật Bản tưởng nhớ Từ Phúc. Ông vẫn là vị Thần được người dân Nhật Bản tôn kính.

Nguồn: Soundofhope (Quách Hiểu)
Lan Chi biên dịch / Theo: vandieuhay

THẬN KHỎE ĐẾN ĐÂU, CƠ THỂ KHỎE ĐẾN ĐÓ

Tiến sĩ Đông y chia sẻ 3 bí quyết bổ thận: Thận khỏe đến đâu, cơ thể khỏe đến đó


Thận khỏe thì các bộ phận trên cơ thể mới "bền". Đây là lời khuyên của chuyên gia về cách chăm sóc thận hiệu quả. Mỗi người cần phải làm cho được ít nhất 3 việc để thận luôn khỏe.

Tại sao nói tuổi thọ con người phụ thuộc vào sức khỏe của thận?

Theo các nghiên cứu Đông y cho thấy, tuổi thọ của mỗi người dài hay ngắn đều có sự liên quan mật thiết đến sức khỏe của thận.

Tinh thận khỏe chính là cốt lõi của sự sống. Nếu tinh lực này được sử dụng một cách khoa học thì sẽ dùng được lâu dài, nghĩa là tuổi thọ sẽ cao. Điều này là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến tuổi thọ của mỗi người.

Trong cuốn sách "Cách loại bỏ lạnh ra khỏi cơ thể" của Tiến sĩ Vương Trường Tùng (chuyên gia Đông y nổi tiếng Đài Loan) viết rằng, tuổi thọ con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố, được chia thành 2 nhóm là do "trời sinh" và do "nhân sinh" hay còn gọi là khách quan và chủ quan.

Nhóm nguyên nhân trời sinh như gen di truyền, bản thân mắc các bệnh mãn tính như cao huyết áp, tiểu đường, ung thư hoặc có thể chất yếu ớt.

Nhóm nguyên nhân "nhân sinh" là các yếu tố cá nhân như thói quen ăn uống, cảm xúc tâm lý, môi trường sống, tác động của môi trường làm việc đến sức khoẻ.

Nếu bạn thuộc nhóm không có bệnh trời sinh, nhưng thói quen sinh hoạt, lối sống không lành mạnh cũng có thể dẫn đến tuổi thọ thấp. Ngược lại, nếu bạn thuộc nhóm mắc bệnh trời sinh, nhưng cách chăm sóc bản thân tốt thì tuổi thọ vẫn có cơ hội cải thiện hơn rất nhiều.

Đông y cho rằng, thận giống như là nơi dự trữ năng lượng sống của con người, nếu năng lượng dồi dào, sử dụng tiết kiệm, thì sẽ dùng được lâu dài. Ngược lại, nếu năng lượng ít, sử dụng thiếu khoa học, thì sẽ nhanh cạn kiệt, cuộc sống sẽ ngắn lại.

Tinh khí trong thận đến từ 2 nguồn: Một là thừa hưởng bẩm sinh từ cha mẹ để lại. Hai là do lối sống sau khi được sinh ra, ngũ tạng vận hành sẽ tạo nên tinh khí. Nếu con người biết tự bổ sung tinh khí này, thì sức sống có thể được kéo dài hơn.


Làm gì để bổ sung tinh khí, nâng cao sức khỏe của thận?

1. Đại tiểu tiện thông suốt

Đông y cho rằng, đại tiểu tiện là việc "đầu ra" của thận. Việc này thực hiện tốt thì thận sẽ hoạt động trơn tru. Khi đại tiểu tiện không thông, cơ thể sẽ tích tụ độc tố, làm cho toàn bộ cơ thể mệt mỏi, buồn chán, từ đó trực tiếp làm tổn thương thận. Các dấu hiệu dễ nhận thấy nhất là đau lưng, mệt mỏi, buồn nôn.

Khi thận hư tổn, cũng dễ dẫn đến khó tiêu hóa, khó đại tiểu tiện, thậm chí cảm thấy chóng mặt hoa mắt khi đi ngoài, ngồi lâu cũng không hoàn thành việc đại tiện.

Ngoài ra, có người bị các triệu chứng đi ngoài phân lỏng, khó tiêu hóa, đau đầu gối, đau lưng, chóng mặt, ù tai. Vì vậy, duy trì được việc đại tiểu tiện trơn tru cũng là một cách chăm sóc thận.

Đối với bệnh nhân bị suy thận, chức năng thận kém, cần thực hiện việc thải độc tố trong thận ra ngoài. Nếu bị táo bón, có thể áp dụng các giải pháp như xoa bóp vùng bụng và thận, chế độ ăn uống nhuận tràng, lựa chọn các thực phẩm dễ tiêu hóa để bài tiết thải độc nhanh chóng.

Nếu dùng thuốc Đông y, có thể uống thêm nhục thung dung có tác dụng bổ thận, nhuận tràng thông tiện.

2. Uống nước dưỡng thận

Nước là nguồn sống của con người, chúng tồn tại ở khắp nơi trên cơ thể, nếu thiếu nước thì cơ thể sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nước giúp cơ thể trao đổi chất và thực hiện thuận lợi quy trình tự thải độc. Thiếu nước sẽ là gánh nặng cho thận. Vì vậy, uống đủ nước là giải pháp quan trọng để bảo vệ thận.

Khi uống nước, cần chú ý 3 điều quan trọng, một là không chờ khát mới uống, chủ động uống đủ nước. Hai là nên uống nước ấm, hạn chế nước lạnh, nước đá. Ba là không nên uống đồ uống có ga, nước ngọt hoặc các món lạnh.

Theo TS Tùng, chúng ta không thể thay đổi gen di truyền hay yếu tố khách quan, mà chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi yếu tố chủ quan bằng chế độ ăn uống phù hợp, thói quen sinh hoạt lành mạnh, bổ sung đủ máu, làm ấm lá lách và dạ dày, nuôi dưỡng thận đúng cách là có thể đủ điều kiện để sống thọ.

3. Ăn uống đúng cách

Ngoài việc duy trì chế độ ăn uống cân bằng, mỗi người đều nên lựa chọn thực đơn ăn uống bổ thận hiệu quả.

Những món ăn tốt nhất cho thận là các thực phẩm màu đen như gạo lứt, lúa mạch đen, đậu đen, mè đen, nấm hương, mộc nhĩ, hải sâm đen, rong biển, tảo bẹ, dâu tằm, xương gà ác…

Những thực phẩm màu đen thường có nhiều tác dụng trong việc phòng ngừa các gốc tự do, chất chống oxy hoá, hạ lipidemic, mỹ phẩm, chống lại sự hình thành các khối u...

Những thực phẩm nên ưu tiên ăn nhiều hơn

- Hạt dẻ

Người xưa xem hạt dẻ và "vua của muôn loài" trong giới trái cây tự nhiên. Thậm chí ở Mỹ còn gọi hạt dẻ là "quả nhân sâm".


Những người bị đau lưng mỏi gối, ăn uống không ngon miệng, đi tiểu nhiều, tiêu chảy mãn tính thì ăn hạt dẻ có tác dụng giảm nhẹ tình trạng bệnh.

Dược vương nổi tiếng Trung Hoa, Tôn Tư Mạc từng nói rằng, hạt dẻ chính là "quả dành cho thận", đặc biệt tốt cho người yếu thận.

- Tôm

Tôm có hương vị thơm ngon, vừa ngọt vừa mặn, có tác dụng tốt trong việc bổ thận tráng dương, giúp tinh lực dồi dào. Nam giới thường xuyên ăn tôm có thể giúp cho khả năng tình dục được cải thiện đáng kể.


Dân gian có câu nói nổi tiếng "Nam tôm Nữ cua" hay là "đắt như tôm tươi" là với hàm ý như vậy. Tôm có nhiều loại, bạn có thể ăn loại nào cũng tốt, giúp người ốm yếu bồi bổ sức khỏe. Người chân tay yếu ớt, cơ thể suy nhược, khả năng tình dục hạn chế, chán ăn… thì đều nên ăn tôm hàng ngày.

- Hàu

Là hải sản có nhiều nguyên tố vi lượng, tính lạnh nhẹ, có thể ích dương bổ âm, bổ thận sinh tinh, có tác dụng tốt đối với nhóm người bị di tinh, tinh trùng yếu, bất lực, đổ mồ hôi đêm, nhịp tim đập nhanh và các triệu chứng khác.


- Trứng chim cút

Trứng chim cút được xem là một loại thuốc bổ tốt, có vai trò mạnh mẽ trong việc bổ thận tráng dương, tăng khả năng tình dục, giúp xương cốt chắc khỏe.

- Cá ngựa

Cá ngựa tính ấm, có tác dụng bổ thận tráng dương, người mắc chứng thiếu thận dương có thể ăn bổ sung để khắc phục hạn chế. Đặc biệt phù hợp với người mắc chứng bất lực, vô sinh, hen suyễn. Chế biến cá ngựa bằng cách phơi khô, nghiền thành bột và pha với rượu để uống, mỗi lần không quá 1-2g.


- Lá hẹ

Hẹ không chỉ là thực phẩm gia vị, mà Đông y còn xem đây là một vị thuốc quý với nhiều tác dụng. Nhóm người nên ăn hẹ gồm người cần bổ thận, điều trị đái dầm, đa niệu, liệt dương, mộng tinh, thuyên tắc mạch.

Trong lá hẹ có tinh dầu và cellulose nhiều hơn, có thể làm tăng khả năng vận động của dạ dày-ruột, có thể điều trị táo bón thông thường, phòng ngừa ung thư đại trực tràng.

Ngoài ra, một số thực phẩm có tác dụng tốt cho thận còn có táo, lạc, hạt thông, hạt hướng dương, quả óc chó, vải, thịt cừu và rong biển.

Vân Hồng
Theo: Trí Thức Trẻ