Thursday, February 19, 2026

NHỮNG ĐỊA ĐIỂM BẠN KHÔNG NÊN BỎ QUA KHI ĐẾN NAM KINH

Nổi bật trong số tứ đại cố đô lừng lẫy của Trung Quốc, Nam Kinh không chỉ là một cái tên, mà còn là bản hùng ca lịch sử được dệt nên từ những trang vàng son của thời gian. Nơi đây từng là kinh đô của sáu triều đại phong kiến rực rỡ, chứng kiến biết bao biến động, thăng trầm của các vương triều, từ sự hưng thịnh đến suy vong, định hình nên bản sắc văn hóa và chính trị của một quốc gia rộng lớn.


Đến với Nam Kinh là đặt chân vào một không gian cổ kính, trầm mặc, nơi thời gian dường như ngưng đọng trên những lăng tẩm, đền đài và chùa miếu hàng trăm, nghìn năm tuổi. Để cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp đa sắc của thành phố, du khách nên khởi hành vào khoảng tháng 9 hoặc tháng 10, khi Nam Kinh vừa chớm vào Thu. Nếu vẫn chưa biết bắt đầu từ đâu, những gợi ý dưới đây sẽ là kim chỉ nam lý tưởng cho hành trình khám phá Nam Kinh đầy hấp dẫn của bạn.

Sông Tần Hoài, "huyết mạch" văn hoá của cố đô

Trải dài hơn 110km, sông Tần Hoài được xem là huyết mạch và biểu tượng văn hóa – lịch sử không thể tách rời của Nam Kinh. Dòng sông này đẹp tựa một bức tranh thủy mặc sống động, nơi những chiếc thuyền sơn êm ả trôi giữa dòng, phản chiếu ánh đèn lung linh từ những hàng quán tấp nập và các di tích cổ kính nằm dọc hai bên bờ. Khi màn đêm buông xuống, Tần Hoài càng trở nên quyến rũ bội phần trong những ánh đèn huyền ảo và âm nhạc truyền thống vang vọng, đưa du khách vào một không gian lãng mạn, đầy hoài niệm.

Sông Tần Hoài trải dài hơn 110km, được xem là huyết mạch và biểu tượng văn hóa – lịch sử của Nam Kinh

Nếu muốn cảm nhận trọn vẹn nét duyên dáng của dòng sông, một chuyến du thuyền nhẹ nhàng sẽ là lựa chọn lý tưởng. Hành trình này không chỉ đưa bạn đi qua những công trình kiến trúc ấn tượng, mà còn giúp bạn hòa mình vào nếp sống thường nhật của người dân địa phương, đồng thời chiêm ngưỡng bức tranh toàn cảnh tuyệt đẹp của vùng đất cố đô.


Núi Tử Kim Sơn: "Rồng" uốn lượn giữa mây trời

Nằm về phía Đông huyện Tuyên Vũ, thành phố Nam Kinh, núi Tử Kim Sơn hiện lên như một con rồng oai nghiêm đang uốn lượn giữa nền trời xanh thẳm. Ngọn núi này sở hữu một hệ sinh thái động – thực vật phong phú cùng ba đỉnh chính mang hình dáng độc đáo, tạo nên một cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ. Đặc biệt, vào những buổi bình minh hay hoàng hôn, đỉnh núi thường được bao phủ bởi lớp mây tím và vàng huyền ảo, tạo nên khung cảnh tuyệt đẹp tựa chốn thần tiên giữa lòng hạ giới. Thêm vào đó, xung quanh Tử Kim Sơn còn có hơn 200 di tích và danh thắng lớn nhỏ, hình thành một quần thể văn hóa – lịch sử đa dạng và đặc sắc, mời gọi du khách khám phá.

Núi Tử Kim Sơn với vẻ đẹp cổ kính

Minh Hiếu Lăng, nơi an nghỉ của vị hoàng đến khai triều

Minh Hiếu Lăng là nơi yên nghỉ của hoàng đế sáng lập triều Minh Chu Nguyên Chương cùng hoàng hậu Mã Thị. Lăng mộ được khởi công xây dựng từ năm 1381 và hoàn thành vào năm 1405, được xem là một trong những lăng tẩm hoàng gia quy mô nhất lịch sử Trung Hoa với tổng diện tích lên đến 1,7 triệu m².

Đây được coi là một trong những lăng mộ hoàng đế vĩ đại nhất Trung Quốc

Tổng thể kiến trúc Minh Hiếu Lăng được chia thành hai phần rõ rệt. Phần đầu là Thần Đạo, kéo dài từ cổng vào đến cổng vòm Hạ Mã Phương, với điểm nhấn là hàng tượng đá tạc hình các loài sư tử, voi, ngựa, lạc đà – mang ý nghĩa trấn giữ và bảo vệ giấc ngủ ngàn thu của hoàng tộc. Phần thứ hai là các tòa nhà chính, đồng thời là nơi đặt lăng mộ của hoàng đế và hoàng hậu. Vào mùa Thu, bên cạnh vẻ uy nghiêm và tĩnh lặng vốn có, nơi đây còn khoác lên mình nét trữ tình, thơ mộng với hoa mộc tê bung nở dịu dàng và lá cây ngả sắc vàng nhuộm kín cả một góc trời, tạo nên một khung cảnh vừa trang trọng vừa lãng mạn.


Lăng Tôn Trung Sơn: Biểu tượng của cách mạng dân chủ

Lăng Tôn Trung Sơn là nơi yên nghỉ của Tôn Trung Sơn – nhà lãnh đạo tiên phong của phong trào cách mạng dân chủ Trung Quốc đầu thế kỷ XX. Công trình trải rộng trên diện tích hơn 80.000m², gây ấn tượng bởi kiến trúc độc đáo theo trục đối xứng và gồm nhiều hạng mục như quảng trường, cổng đá, đường mộ, cửa lăng, đình bia, tế đường và mộ thất.

Với những ai yêu thích lịch sử Trung Hoa, lăng Tôn Trung Sơn là điểm dừng chân không thể bỏ qua trong hành trình du ngoạn Nam Kinh


Với những ai yêu thích lịch sử Trung Hoa, lăng Tôn Trung Sơn là điểm dừng chân không thể bỏ qua trong hành trình du ngoạn Nam Kinh. Xung quanh lăng còn có nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như biệt phủ của vợ chồng Tưởng Giới Thạch, Mỹ Linh Cung hay phủ Tổng thống của chính phủ Dân quốc xưa, góp phần giúp bạn hiểu rõ hơn về các nhân vật quan trọng và giai đoạn then chốt trong tiến trình hiện đại hóa của Trung Quốc.

Cầu Sông Dương Tử Nam Kinh: Ký tích kiến trúc hiện đại

Cầu sông Dương Tử Nam Kinh dài 6.772m, nổi bật với thiết kế hai tầng đảm nhiệm chức năng kép: vừa là đường cao tốc vừa là cầu đường sắt. Đây là cây cầu thứ ba được xây dựng bắc qua sông Dương Tử và cũng là cây cầu đường sắt hai tầng đầu tiên do người Trung Quốc tự thiết kế, thi công mà không cần đến bất kỳ sự hỗ trợ kỹ thuật nào từ nước ngoài.

Biểu tượng kiến trúc hiện đại


Dừng chân tại cây cầu biểu tượng này, bạn sẽ có dịp phóng tầm mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp của dòng sông Dương Tử huyền thoại khi chảy qua thành phố Nam Kinh, cũng như cảm nhận rõ nét nhịp sống đô thị thường nhật của người dân nơi đây, một sự kết nối hoàn hảo giữa lịch sử và hiện đại.

Khánh Linh (t/h)
Theo: travelline+


Wednesday, February 18, 2026

KHÔNG AI ĐI QUA ĐỜI TA MÀ KHÔNG CÓ LÝ DO

Vì có duyên nên đi cùng nhau trên một chuyến bay, một chuyến tàu; vì có duyên nên trở thành bạn bè hoặc yêu nhau... Và vì vô duyên nên "bước qua nhau", "lạc mất nhau", hoặc không có cơ hội kết nối với nhau, không thể gặp lại.


Đêm qua tôi đọc một câu chuyện về một duyên may tình bạn. Vì tình cờ đổi chỗ cho cụ già muốn được ngồi gần cửa sổ, một vị khách có duyên gặp gỡ, nói chuyện rồi kết bạn với vị khách ở ghế bên cạnh. Cuộc trò chuyện tưởng chừng chỉ dừng lại trong phạm vi thời gian 2 tiếng của chuyến bay ấy, không ngờ lại bắt đầu cho một tình bạn sau này - dù hai người sinh sống ở hai đất nước khác, vốn dĩ không nghĩ sẽ có ngày gặp lại...

Câu chuyện đẹp khiến người đọc cảm nhận sự thật ngọt ngào về cái gọi là "duyên may" trong đời. "Không ai đi ngang qua đời ta mà không có lý do" - tôi chợt nhớ đến câu nói tôi vẫn tựa vào để tin rằng mỗi cuộc hội ngộ hoặc chia ly trong cuộc đời mình cũng chỉ gói gọn trong một chữ "duyên".

Vì có duyên nên đi cùng nhau trên một chuyến bay, một chuyến tàu; vì có duyên nên trở thành bạn bè, hoặc yêu nhau... Và vì vô duyên nên "bước qua nhau", "lạc mất nhau", hoặc đến một thời điểm nào đó cũng không có cơ hội kết nối với nhau, không thể gặp lại.


Hành trình cùng nhau ngắn hay dài, mối quan hệ bền vững hay chỉ bên cạnh được một đoạn ngắn rồi chia tay, thì cũng vì chữ duyên ấy mà thôi.

Cuộc đời chúng ta gặp nhau là do duyên...

Hôm trước trò chuyện với một người bạn, chúng tôi đã chia sẻ với nhau về điều bất ngờ của chữ "duyên" trong đời. Chị kể, hồi tiểu học, còn nhỏ xíu, lại ở quê nghèo nên chị không nghĩ gì xa xôi về việc mình sẽ thích gì, học gì khi trưởng thành. Mùa hè năm ấy, tình cờ có người cùng làng học đại học trên phố về quê làm đồ án tốt nghiệp.

"Nhìn chú say mê cắt cắt dán dán, vẽ vẽ phun màu, tôi nhận ra mình rất thích sáng tạo như vậy. Đến giờ nhớ lại, tôi vẫn thấy đó là một cái duyên lớn từ cuộc gặp tình cờ, chú ấy đã vô tình đánh thức niềm đam mê và giúp đứa trẻ biết nó thật sự thích điều gì" - chị chia sẻ.

Lớn lên, chị đã làm đúng điều ấp ủ từ nhỏ, còn "chú sinh viên" làm đồ án tốt nghiệp thì không có cơ hội gặp lại. Có lẽ "chú" cũng không biết mình đã vô tình giúp một đứa trẻ con thấy được cả tương lai của nó.

Nhân duyên là điều khó biết trước. Bởi thế người đời vẫn thường nói: "Vạn sự tùy duyên". Chữ duyên ấm áp để người với người xa lạ mà lại gặp nhau, tương trợ, kết bạn. Có người anh nghệ sĩ từng kể với tôi rằng, trong lần đi làm từ thiện phố núi, chẳng may ôtô hỏng giữa đường. Đất lạ, lại là đoạn đường vắng thưa người, đang không biết tính sao thì anh gặp được đúng người sửa xe tình cờ trên đường về nhà.

Rồi cuộc trò chuyện trong lúc chờ xe được sửa, anh biết được người thợ ấy gia cảnh rất nghèo, rất phù hợp với mục đích xây nhà tặng đồng bào nghèo anh đang thực hiện.

Duyên may của anh, và cũng là duyên lành của người thợ sửa xe ấy. Một kết thúc có hậu cho cuộc gặp tưởng chừng rất đỗi tình cờ ấy. Có thể lý giải là gì, nếu chẳng phải cũng vì chữ "duyên"?

Những duyên may đến làm ấm áp cuộc đời của mỗi người - Ảnh minh họa

Có những lúc nhìn lại và ngẫm về những chặng đường đã qua, tôi hiểu cuộc đời mình đầy những duyên may như vậy. Những tình cờ này dẫn dắt tiếp những tình cờ khác, mà hóa ra tất cả đều như những viên gạch cùng góp nên hành trình cuộc đời. Tôi luôn cảm thấy biết ơn vì điều ấy, những người đã gặp, những việc vô tình đến, dù tốt hay xấu, dù lớn hay nhỏ thì tất cả đều là một chuỗi của những kết nối "nhân duyên".

Chắc chắn ai trong đời cũng sẽ có lúc cảm nhận được điều này: người ta gặp lần đầu không hiểu lý do gì họ không thích ta (và ngược lại), ta có thể trò chuyện với người này hàng giờ nhưng với người khác thì ngồi xuống năm phút thôi đã không biết nói chuyện gì với nhau. Người ta thương lại không thương ta (và ngược lại)...

Có rất nhiều người luôn giữ trong lòng cảm giác buồn bã (hoặc khó chịu, ấm ức) khi thấy người này người kia đối xử không tốt với mình (thật ra mình cũng sẽ có lúc như vậy với những người khác).

Nhưng điều gì cũng có lý do của nó hết. Hiểu được như vậy để đón nhận và chấp nhận mọi điều trong tâm thế chủ động thì mọi cảm giác sẽ nhẹ nhàng, dễ chịu. Chữ "duyên" vẫn luôn dẫn lối cuộc đời của mỗi người đi theo những cách mà chúng ta chẳng thể hình dung, cũng không thể mong đợi.

Gặp nhau là do duyên, đoạn tuyệt cũng là do hết duyên mà thôi

Chúng ta gặp được nhau trong đời là duyên. Những đi được cùng nhau đoạn đường/đoạn đời ngắn hay dài thì còn phải tùy vào "duyên phận" của nhau nữa. Những mối quan hệ dù thân hay sơ, đến một lúc nào đó không còn kết nối/bên cạnh nhau được nữa, thì cũng là do chúng ta đã hết duyên với nhau rồi. Nghĩ được vậy, lòng sẽ thôi chất vấn, bớt hồ nghi và được xoa dịu.

"Mọi thứ đều do duyên" - câu nói đơn giản này nhưng thật ra lại chính là sức mạnh lý giải cho mọi đứt gãy/tan vỡ mối quan hệ của đời người...

Lục Diệp / Theo: PNO

NHẠC NGOẠI LỜI VIỆT: GIAI THOẠI TÌNH KHÚC "TRỌN ĐỜI BÊN ANH"

Hiếm khi nào, một bài hát tiếng Ý đoạt cùng lúc hai giải thưởng lớn tại châu Âu, để rồi trở thành một trong những ca khúc ăn khách nhất thị trường quốc tế. Đó là trường hợp của nhạc phẩm « Non ho l'età » (per amarti) hiểu theo nghĩa chưa đến tuổi yêu người, từng được phóng tác sang tiếng Việt thành nhạc phẩm « Trọn đời bên anh ».

Ca sĩ Ý Gigliola Cinquetti, đại diện nước Ý tham dự Liên hoan ca nhạc Eurovision Song năm 1964, với ca khúc « Non ho l'età ». © Wikipedia

Do hai nhạc sĩ Nicola Salerno và Mario Panzeri đồng sáng tác, nhạc phẩm « Non ho l'età (per amarti) » từng được đưa đi tranh giải tại liên hoan ca khúc tiếng Ý, tổ chức tại thành phố Sanremo vào năm 1964. Vào thời bấy giờ, bài hát được cô ca sĩ Gigliola Cinquetti, khi đó mới 16 tuổi, trình diễn trực tiếp trên sân khấu đài truyền hình Ý (RAI). Còn phiên bản tiếng Pháp "Je suis à toi" (Em thuộc về anh) do ca sĩ người Ý gốc Bỉ Patricia Carli viết lời và ghi âm.

Theo thông lệ, người đoạt giải nhất liên hoan ca khúc tiếng Ý San Remo (còn được gọi là Festival della Canzone Italiana ra đời vào năm 1951) thường được quyền ưu tiên đại diện chonước Ý nhân cuộc thi hát truyền hình châu Âu Eurovision Song Contest diễn ra vài tháng sau đó. Bất ngờ thay, bài hát tiếngÝ « Non ho l'età » giành lấy thêm giải đầu cuộc thi hát châu Âu cùng năm (1964) ở Copenhagen, thủ đô Đan Mạch.

Ca sĩ người Ý Gigliola Cinquetti trở thành người thắng giải trẻ tuổi nhất trong lịch sử cuộc thi, mở đường cho nhiều giọng ca trẻ khác như France Gall đoạt giải Eurovision một năm sau (1965) với nhạc phẩm « Poupée de cire, poupée de son » (Búp bê không tình yêu). Mãi đến năm 1986, kỷ lục này mới được cô ca sĩ người Bỉ Sandra Kim phá vỡ do cô đoạt giải Eurovision với nhạc phẩm "J'aime la vie" ở tuổi13.

Click để nghe: Je suis à toi - Patricia Carli (1964)

Gần đây hơn, chi có nhóm nhạc rock người Ý Maneskin mới lặp lại thành tích này vào năm 2021, khi giành lấy cùng lúc giải nhất tại liên hoan San Remo và tại cuộc thi hát Eurovision.

Nhờ hai giải thưởng này, nhạc phẩm « Non ho l'età » (per amarti) sau đó đã đứng đầu bảng xếp hạng ở nhiều nước châu Âu. Bài hát được chuyển lời sang 10 ngôn ngữ khác nhau. Phiên bản tiếng Anh là « This is my prayer ». Bài này sau đó được ông hoàng Elvis ghi âm với một tựa đề khác là « Please don't stop loving me ».

Riêng trong tiếng Pháp, Patricia Carli (đồng tác giả sau này của bài Mưa trên biển vắng) ghi âm bản nhạc này trong tiếng Pháp với tựa đề « Je suis à toi » (Em thuộc về Anh). Có lẽ cũng vì Patricia là người gốc Ý cho nên trong sự nghiệp ca hát, cô thường hay chọn phóng tác những lời ca gần gũi nhất với mình.

Click để nghe: "Trọn đời bên anh - Ngọc Lan"

Còn trong tiếng Việt, bản nhạc từng được nữ ca sĩ Julie đặt thêm lời thành giai điệu « Trọn đời bên anh » chủ yếu dựa vào phiên bản tiếng Pháp hơn là nguyên tác tiếngÝ. Dù gì đi nữa, hiếm khi nào một giai điệu tiếng

Ý lại thành công rực rỡ như vậy, trong nửa thế kỷ gần đây, số bài hát đoạt cả hai giải thưởng này, có thể được đếm trên đầu ngón tay.

Tuấn Thảo
Theo: RFI Tiếng Việt



NHỮNG LÃNH THỔ MỸ MUA TRONG SUỐT LỊCH SỬ ĐỂ HÌNH THÀNH MỘT CƯỜNG QUỐC NHƯ NGÀY NAY

Trong khi Tổng thống Donald Trump vẫn đang nhắm đến việc kiểm soát Greenland - một vùng lãnh thổ bán tự trị của Đan Mạch ở Bắc Cực - các nhà sử học đã suy ngẫm về lịch sử bành trướng của Hoa Kỳ thông qua việc mua đất.

Nguồn hình ảnh: Getty Images

Trước đây, "cũng như với Greenland, Washington tuyên bố cần phải chiếm những vùng lãnh thổ này trước khi chúng rơi vào tay các cường quốc khác", Jay Sexton, một nhà sử học tại Đại học Missouri, cho biết.

Ông Trump khẳng định Hoa Kỳ cần phải "sở hữu" Greenland vì an ninh, và mặc dù có lúc ông nói rằng ông sẵn sàng làm điều đó "bằng các biện pháp cứng rắn", giờ đây ông nói rằng ông muốn "đàm phán ngay lập tức" và "sẽ không sử dụng vũ lực".

Chúng ta sẽ xem xét một số thương vụ mua đất quan trọng nhất của Hoa Kỳ trong hai thế kỷ qua khi quốc gia này mở rộng biên giới.


Thương vụ Louisiana (1803)

Quyết định của Tổng thống Thomas Jefferson mua lại lãnh thổ Louisiana từ Pháp năm 1803 là một bước ngoặt mang tính lịch sử đối với Hoa Kỳ.

Bao gồm hơn 2.000.000 km² đất liền, vụ mua Louisiana đánh dấu một bước ngoặt quan trọng đối với quốc gia non trẻ này và quá trình chuyển mình thành một cường quốc lục địa đang trỗi dậy.

Thuộc địa Louisiana là lãnh thổ lớn nhất của Pháp ở Bắc Mỹ.

Nhưng các cuộc nổi dậy liên tiếp của nô lệ trên đảo Saint Domingue (nay là Haiti) do Pháp kiểm soát, cùng với mối đe dọa chiến tranh với Anh, đã thúc đẩy nhà lãnh đạo Pháp Napoleon Bonaparte bán vùng đất này cho Hoa Kỳ.

Vào thời điểm đó, Louisiana cũng rộng lớn hơn nhiều so với bang Louisiana ngày nay, bao gồm những khu vực hiện thuộc 15 bang nằm giữa sông Mississippi và dãy Rocky.

Việc sở hữu vùng đất này là chìa khóa cho tham vọng bành trướng về phía Tây của Jefferson, điều ông tin là tương lai của Hoa Kỳ.

Chính phủ Mỹ và Pháp đã đạt được thỏa thuận vào tháng 11/1803, theo đó Mỹ trả 15 triệu đô la cho Louisiana, tương đương với hơn 400 triệu đô la theo giá trị hiện nay.

Thương vụ khổng lồ này cũng gần như đã tăng gấp đôi diện tích của quốc gia non trẻ này.

Vụ nhượng đất của Mexico (1848)

Đến những năm 1840, phần lớn công chúng Mỹ tin chắc rằng "vận mệnh hiển nhiên" của họ là mở rộng về phía tây đến bờ biển Thái Bình Dương.

Và cuối cùng, họ đã đạt được điều đó bằng cách chiếm lãnh thổ của Mexico.

Chiến tranh và các cuộc thâu tóm lãnh thổ đã làm cho nước Mỹ giàu có hơn trong suốt lịch sử. Nguồn hình ảnh,Getty Images.

Một trong những người ủng hộ nhiệt thành nhất việc mở rộng biên giới của Mỹ là Tổng thống James K. Polk.

Sau lễ nhậm chức năm 1845, ông phải đối mặt với một cuộc tranh chấp kéo dài về quyền kiểm soát Texas, vùng đất đã giành được độc lập từ Mexico năm 1836.

Washington sáp nhập Texas vào năm 1845 và vùng đất này trở thành một bang của Mỹ.

Năm sau, sau một cuộc đụng độ giữa quân đội Mỹ và Mexico, Quốc hội đã thông qua tuyên bố chiến tranh với Mexico, nhưng nguyên nhân của cuộc xung đột còn sâu xa hơn.

Theo nhà sử học Jay Sexton: "Hoa Kỳ đã thể hiện sự quan tâm đến California, khi đó thuộc về Mexico và là một trong những khu vực kinh tế năng động nhất ở Mỹ, với các cảng nước sâu rất được thèm muốn để giao thương với châu Á."

Nhưng Sexton giải thích, không chính phủ Mexico nào có thể đồng ý bán California mà vẫn hi vọng tiếp tục nắm quyền.

Chiến thắng trong cuộc chiến chống Mexico năm 1848 đã cho phép Hoa Kỳ mở rộng lãnh thổ bằng cách chiếm lãnh thổ của nước láng giềng phía nam. Nguồn hình ảnh: Getty Images.

Sau khi Mỹ giành chiến thắng trong cuộc chiến, hai quốc gia đã ký Hiệp ước Guadalupe Hidalgo năm 1848.

Washington cuối cùng đã trả 15 triệu đô la, tương đương khoảng 615 triệu đô la theo giá trị hiện nay, cho vùng đất được nhượng lại.

Vùng đất này bao gồm California, Nevada và Utah ngày nay, cũng như một phần của Arizona, Colorado, New Mexico và Wyoming.

Nhưng, như Sexton chỉ ra, phía Mexico sẽ không sẵn lòng bán nếu họ không thua trận.

"Đó là một thương vụ dưới họng súng," ông nói.

Tổng cộng, Mexico đã nhượng lại hơn một nửa lãnh thổ trước chiến tranh của mình, trong khi Mỹ giành được thêm gần 1.360.000 km vuông.

Thương vụ La Mesilla (1853)

Mặc dù Chiến tranh Mexico-Mỹ kết thúc năm 1848, căng thẳng giữa hai quốc gia vẫn tiếp diễn.

Trong một thỏa thuận được hoàn tất năm 1854, hai chính phủ đã đồng ý bán một dải đất nhỏ thuộc lãnh thổ Mexico ở phía nam, sau này trở thành một phần của Arizona và New Mexico.

Được biết đến ở Mexico với tên gọi Venta de la Mesilla và ở Hoa Kỳ với tên gọi Gadsden Purchase, thỏa thuận này một phần xuất phát từ việc Mỹ muốn xây dựng tuyến đường sắt xuyên lục địa và một phần là do những khó khăn kinh tế mà chính phủ Mexico phải đối mặt.

Chính phủ Mỹ cuối cùng đã trả 10 triệu đô la, tương đương gần 421 triệu đô la theo giá trị hiện nay, cho gần 76.900 km vuông đất.

Vùng đất này sau đó trở thành biên giới phía nam của Hoa Kỳ ngày nay.

Mua Alaska từ Nga (1867)

Nhiều người không hiểu quyết tâm của Ngoại trưởng William Seward trong việc mua lại vùng lãnh thổ Alaska xa xôi ở Bắc Cực từ Đế quốc Nga năm 1867.

Seward tin rằng vùng đất này có giá trị chiến lược to lớn, vì nó sẽ ngăn chặn Anh can thiệp vào Bắc Mỹ và sẽ giúp Mỹ tiếp cận các ngư trường giàu có ở Thái Bình Dương.

Về phía Nga, họ cho rằng mình đang loại bỏ một lãnh thổ ít giá trị, tốn kém chi phí quản lý và dễ bị tổn thương trước một cuộc tấn công tiềm tàng từ Vương quốc Anh - đối thủ chính của họ vào thời điểm đó.

Cũng giống như việc ông Trump đang cố gắng làm với Greenland, Hoa Kỳ đã thành công trong việc giành được lãnh thổ Bắc Cực với Alaska. Nguồn hình ảnh: Al Drago / Getty

Khi Seward đạt được thỏa thuận mua lại 1.554.000 km2 đất từ ​​Nga với giá 7,2 triệu đô la, tương đương khoảng 158 triệu đô la theo giá trị hiện nay, thỏa thuận này đã không được công chúng Mỹ đón nhận nồng nhiệt.

"Sai lầm của Seward", như những người phản đối ông gọi thỏa thuận này, đã gây ra nhiều tranh cãi, với một số người tin rằng Mỹ đã mua một vùng đất vô dụng.

Bất chấp những lời chỉ trích, Quốc hội đã phê chuẩn thỏa thuận mua bán và Alaska trở thành một phần của Hoa Kỳ, mặc dù phải đến năm 1959 nơi này mới trở thành một tiểu bang.

Cuối cùng, khoản đầu tư của Seward vào Alaska đã được đền đáp bằng việc phát hiện ra vàng và các mỏ dầu lớn, và tiểu bang này cũng có thêm tầm quan trọng về quân sự trong Chiến tranh Lạnh.

Việc ký kết thỏa thuận mua Alaska từ Nga năm 1867 đã vấp phải nhiều chỉ trích ở Hoa Kỳ. Nguồn hình ảnh: Getty Images.

Thương vụ mua quần đảo Virgin thuộc Mỹ từ Đan Mạch (1917)

Lần gần đây nhất Mỹ mua một lãnh thổ là từ Đan Mạch.

Danish West Indies, như tên gọi khi đó, là một nhóm đảo ở vùng Caribe, vốn đã được các nhà hoạch định chiến lược Mỹ thèm muốn từ giữa thế kỷ 19.

Một lần nữa, William H. Seward coi vùng lãnh thổ này là một phần then chốt trong kế hoạch bành trướng một cách hòa bình của mình.

Trong các cuộc khảo sát, người dân Greenland nói rằng họ không muốn trở thành một phần lãnh thổ khác được mua lại để mở rộng lãnh thổ của Hoa Kỳ. Nguồn hình ảnh: Sean Gallup/Getty.

Cảng trên đảo Saint Thomas, một trong ba hòn đảo chính tạo nên Quần đảo Virgin thuộc Mỹ ngày nay, được đặc biệt quan tâm. Một phần vì bến cảng tại đây được coi là căn cứ lý tưởng để kiểm soát vùng biển Caribbean.

Cùng thời điểm đó, Đan Mạch bắt đầu giảm dần sự quan tâm với các hòn đảo này.

Trước đây, nước này đã phát triển các đồn điền mía đường lớn trên đất liền, sử dụng lao động là những người châu Phi bị bắt làm nô lệ được các thương nhân châu Âu đưa qua Đại Tây Dương.

Nhưng khi giá đường toàn cầu bắt đầu giảm, Đan Mạch cũng mất dần nhiệt tình trong việc duy trì các đồn điền đó.

Đến năm 1867, hai nước đạt được thỏa thuận ban đầu về việc bán hai hòn đảo với giá 7,5 triệu đô la, tương đương khoảng 164 triệu đô la theo giá trị hiện nay.

Tuy nhiên, thỏa thuận đó đã không được hoàn tất vì Quốc hội Mỹ từ chối phê chuẩn.

Khác với trường hợp Greenland, Đan Mạch đã đồng ý bán các hòn đảo này cho Hoa Kỳ. Nguồn hình ảnh: Getty Images.

Sự bùng nổ của Chiến tranh Thế giới thứ nhất và mối đe dọa từ tàu ngầm Đức đối với tàu chiến Mỹ đã khơi lại sự quan tâm của Washington, vì họ lo sợ Đức sẽ xâm lược Đan Mạch và kiểm soát các hòn đảo cũng như cảng Saint Thomas có giá trị chiến lược.

Theo trang web của Bộ Ngoại giao Mỹ, Ngoại trưởng của Tổng thống Woodrow Wilson đã cảnh báo Đan Mạch rằng, nếu nước này từ chối bán lãnh thổ, Mỹ có thể chiếm đóng các hòn đảo để ngăn chặn việc chúng có thể bị chiếm giữ.

Đối với Astrid Andersen, một nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện Nghiên cứu Quốc tế Đan Mạch, thật khó để không nhìn thấy những điểm tương đồng giữa những gì đã xảy ra với Quần đảo Virgin thuộc Mỹ và những gì chúng ta đang chứng kiến ​​ngày nay.

"Có những âm hưởng giống với những gì chúng ta đang nghe về Greenland hiện nay, bởi vì điều mà Hoa Kỳ muốn nói là: 'Hoặc các ông bán nó cho chúng tôi, hoặc chúng tôi sẽ xâm lược nó'", Andersen nói.

Đến năm 1917, hai bên đã đạt được thỏa thuận, theo đó các đảo vùng Caribe sẽ được bán cho Hoa Kỳ với giá 25 triệu đô la, tương đương với khoảng 630 triệu đô la theo giá trị hiện nay.

Trong khuôn khổ thỏa thuận đó, Hoa Kỳ cũng đồng ý không phản đối việc Đan Mạch "mở rộng ảnh hưởng chính trị và kinh tế của mình trên toàn bộ Greenland".

Guillermo D. Olmo
BBC News Mundo

Tuesday, February 17, 2026

CỔ HUẤN: "NAM NHÂN TÂM KHOAN CÓ TÀI KHÍ, NỮ NHÂN TÂM THIỆN CÓ PHÚC KHÍ"

Tâm rộng một tấc, đường rộng một trượng; tâm thiện một tấc, ôm giữ phước lành. Trái tim càng rộng, thế giới càng nhỏ, đường càng rộng, của cải càng lớn. Nhân hậu có đức trong tâm, có đức thì phúc khí tự nhiều.


Tài khí tựa như dòng nước ngầm dưới giếng, tâm rộng chính là nguồn nước sống. Phúc khí giống như hương thơm của mùa hè, lòng tốt là đất màu mỡ.

1. Nam nhân tâm khoan có tài khí

Do sự khác biệt tâm lý và thể chất giữa nam giới và nữ giới, trách nhiệm xã hội và vai trò xã hội của họ cũng khác nhau. Phụ nữ thì tinh tế, nhạy cảm bên trong, còn nam giới thì thường thoáng hơn.

Yêu cầu của xã hội đối với nam giới và nữ giới là khác nhau, nam giới làm việc chăm chỉ trong xã hội, cần tâm lý mạnh mẽ hơn. Người xưa nói: “Đại trượng phu có thể khuất có thể duỗi”, có thể khuất phục được chính là một loại biểu hiện của đại khí tâm khoan dung. Đối xử với thành tích không kiêu ngạo, đối mặt với thất bại không tự ti. Chỉ có nam nhân tâm khoan dung đại khí, không câu nệ tiểu tiết mới có thể làm ra thành tựu lớn.

Hợp tác mới có thể đạt được kết quả đôi bên cùng có lợi. Trong xã hội hiện đại, chỉ một mình thì không thể đạt được thành công, hợp tác cần có sự kết nối tốt và mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau. Tiểu khí, không có dung lượng dung nạp người, mọi việc tính toán chi li chỉ có thể đẩy bằng hữu ngày càng xa, tiến tới bỏ lỡ các loại cơ hội.

Tha thứ cho người khác, tâm rộng lượng chính là đang tích lũy tài khí của mình. Tài khí không tồn tại độc lập, nó có liên quan chặt chẽ đến khả năng và mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau. Khi năng lực ngang nhau, các mối quan hệ với nhau càng tốt thì tài lộc càng thịnh.

Trong công việc đừng vì những người và những thứ không xứng đáng mà lãng phí thời gian, lùi lại một bước biển rộng trời cao, cho người khác cơ hội cũng là cho mình cơ hội, tha thứ cho người khác chính là chừa cho mình một lối đi.

Trong cuộc sống gia đình, đàn ông cũng nên biết bao dung và quan tâm đến gia đình. Trong cuộc sống gia đình khó tránh khỏi thìa chạm vào mép nồi, nhượng bộ lẫn nhau một bước, thảnh thơi lòng người, gia đình hài hòa, có thể hòa khí sinh tài.

Cha mẹ và vợ đều có chỗ không dễ dàng, thân là nam tử phải làm cầu nối giao tiếp giữa cha mẹ và vợ. Nếu bạn thả lỏng tâm hồn thì nhịp cầu sẽ phát huy tốt vai trò của mình, cuộc sống gia đình sẽ tốt đẹp hơn. Cuộc sống gia đình có tốt đẹp, hậu phương có vững chắc thì mình mới có thể tiến lên tốt hơn.


2. Nữ nhân tâm thiện có phúc khí

Một người có phúc khí hay không đều phụ thuộc vào lòng người đó có tốt hay không. Tâm thiện tự có trời phù hộ, tâm ác tất có trời thu.

Với những suy nghĩ tử tế trong trái tim, lòng tốt với người khác và không bao giờ quên chữ nhân từ, bạn có thể tự đi trên con đường của mình, sống tốt cuộc sống của mình và làm cho cuộc sống của bạn ngày càng tốt đẹp hơn.

So với nam giới, phụ nữ dễ bị soi mói và cạnh tranh hơn trong công việc xã hội. Để có được chỗ đứng vững chắc trong công việc, trước hết bạn phải có một trái tim tốt. Trong công việc có thể giúp đỡ người khác một cách thích hợp, một chút thiện chí của bạn có thể tích lũy phúc báo cho bạn trong tương lai.

Đừng nghĩ đến việc đầu cơ trục lợi trong công việc mà khiến người khác đâm sau lưng, những hành động nhỏ nhặt của bạn sẽ bị quả báo về sau. Như người xưa có câu: “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”. Điều này đúng trong cuộc sống và trong công việc cũng vậy.

Người phụ nữ chiếm một vị trí rất quan trọng trong gia đình, đóng vai trò là trạm cung cấp và lớp cách nhiệt cho một gia đình. Khi một người phụ nữ có lòng tốt, vợ chồng, mẹ chồng con dâu hòa thuận thì gia đình sẽ tự nhiên có phúc.

Con cái là tương lai của gia đình và là một trong những nguồn phúc lành của một gia đình. Là một người mẹ, người phụ nữ có ảnh hưởng rất lớn đến con mình, lòng tốt và ý xấu của người mẹ thường ảnh hưởng đến tính cách và quan điểm của đứa trẻ. Người mẹ xử lý tốt, đứa trẻ tự nhiên có thể học hỏi; người mẹ có tâm trí không chính xác, đứa trẻ cũng sẽ đi theo con đường lệch lạc. Một khi đứa trẻ đi theo con đường lệch lạc, phúc khí của gia đình này sẽ không còn.

Trái tim rộng hơn một chút, bạn bè nhiều hơn một chút, gia đình êm ấm hơn một chút, công việc tự nhiên thuận lợi hơn, tài khí cũng tương đối vượng. Tâm thiện hơn một chút, giúp đỡ nhiều hơn một chút, phàn nàn ít hơn một chút, cuộc sống tự nhiên đẹp hơn một chút, phúc khí cũng tăng một chút.

Kỳ Mai biên dịch
Triệu Lệ Dĩnh – aboluowang

HOÁN KHÊ SA (SƠN HẠ LAN NHA ĐOẢN TẨM KHÊ) - TÔ THỨC


Hoán khê sa 
(Sơn hạ lan nha đoản tẩm khê)

Sơn hạ lan nha đoản tẩm khê,
Tùng gian sa lộ tịnh vô nê,
Tiêu tiêu mộ vũ tử quy đề.

Thuỳ đạo nhân sinh vô tái thiểu,
Môn tiền lưu thuỷ thượng năng tê,
Hưu tương bạch phát xướng hoàng kê.

Bài từ này được Tô Thức làm khi chơi tại chùa Thanh Tuyền 清泉 ở huyện Kỳ Thuỷ (nay là huyện Hy Thuỷ, tỉnh Hồ Bắc, cách Hoàng Châu không xa) thời kì ông bị biếm đến Hoàng Châu. Trong Đông Pha chí lâm 東坡誌林 có nói: “Phía đông nam Hoàng Châu 30 dặm là Sa hồ, còn gọi là Loa Sư điếm. Ta mua khoảnh ruộng ở nơi đó, nhân đến xem ruộng mà mắc bệnh. Nghe nói Bàng An Thường 龐安常 người Ma Kiều giỏi về y nhưng tai điếc, liền tìm đến xin chữa trị. Bệnh khỏi, cùng với ông ta đến chơi chùa Thanh Tuyền. Chùa ở huyện Kỳ Thuỷ, ngoài Quách Môn khoảng 2 dặm, có suối rửa bút của Vương Dật Thiếu 王逸少 (tức Vương Duy), nước cực ngọt, chảy xuống khe Lan, nước khe chảy về tây. Nên ta viết bài ca.” Bài ca nói ở đây chính là bài từ này.

Hoàng Châu, năm Nguyên Phong thứ 5 (1082)


浣溪沙
(山下蘭芽短浸溪)

山下蘭芽短浸溪
松間沙路淨無泥
蕭蕭暮雨子規啼

誰道人生無再少
門前流水尚能西
休將白發唱黃雞


Hoán khê sa 
(Dưới núi chồi lan tưới nước trong)
(Dịch thơ: Nguyễn Xuân Tảo)

Dưới núi chồi lan tưới nước trong,
Đường đi không bụi giữa hàng thông,
Mưa chiều lất phất, tiếng quyên lồng.

Ai bảo đời người không trẻ lại,
Nước sông trước cửa chảy ngược dòng,
Bạc đầu hát khúc rạng trời đông.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tô Thức 蘇軾 (1037-1101) tự Tử Chiêm 子瞻, Hoà Trọng 和仲, hiệu Đông Pha cư sĩ 東坡居士, người đời thường gọi là Tô Đông Pha 蘇東坡, thuỵ Văn Trung 文忠, người My Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ông từng làm quan Thông phán, Thái thú. Cha là Tô Tuân, em là Tô Triệt, đều là các đại gia thi văn, đương thời người ta gọi là Tam Tô. Thái độ của ông rất hào sảng lạc quan, tuy ông làm quan thăng giáng nhiều lần, song ông không để ý, vẫn ưu du tự tại, đọc sách làm vui, ông là người giàu tình cảm, cho nên phản ánh tới từ của ông, vừa hào phóng lại vừa tình tứ. Ông là người có tài nhất trong số bát đại gia của Trung Hoa (từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII, gồm có Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên đời Đường, Âu Dương Tu, Tô Tuân (cha Tô Thức), Tô Thức, Tô Triệt (em Tô Thức), Vương An Thạch và Tăng Củng), khoáng đạt nhất, tư tưởng và tính tình cũng phức tạp nhất.

Nguồn: Thi Viện



THIÊN ĐẠO THÙ CẦN (天道酬勤)

Trong mọi hoạt động sống của người xưa, chữ Đạo luôn được đặt lên hàng đầu, Thiên Địa hữu Đạo, thương nhân lẫn học giả tri thức uyên thâm cũng đều phải có Đạo. Đạo đóng vai trò câu thúc ước chế phần xấu xa, bất thiện, làm nên nhân cách của con người.


THIÊN ĐẠO THÙ CẦN
天道酬勤

Câu nói “Thiên Đạo thù cần”, tức Đạo trời đền đáp người cần cù, trích từ Chu Dịch: “Thiên hành kiên, quân tử dĩ tự cường bất tức”, nghĩa là Trời hành theo đạo kiện toàn, người quân tử đi theo đạo không ngừng tự vươn lên. Và sách Thượng Thư cũng có viết: “Thiên Đạo thù cần”, nói rõ ràng chân lý nhân sinh chính là sự siêng năng xoay chuyển nghịch cảnh.

Tăng Quốc Phiên là một vị quan nổi tiếng của triều đại nhà Thanh trong thời kỳ “Đồng Trị Trung Hưng”, tư tưởng tu dưỡng của ông đã cổ vũ khích lệ cho hậu thế, nhưng tư chất bẩm sinh mà trời ban cho ông lại không cao. Thời thiếu niên ông ở nhà đọc sách, một tên trộm ẩn nấp trên xà ngang của nhà ông, hy vọng đợi Tăng Quốc Phiên sau khi đi ngủ sẽ trộm được vài thứ tốt. Tuy nhiên đợi mãi, Tăng vẫn không ngừng lật qua lật lại đọc bài văn đó. Tên trộm nổi giận, nhảy xuống và nói: “Với trình độ của nhà ngươi thì đọc được sách gì?”, lập tức đọc thuộc lòng một lượt những bài văn này, rồi nghênh ngang bỏ đi.

Tăng Quốc Phiên không vì vậy mà nản chí, ông càng thêm siêng năng hiếu học, cuối cùng trở thành một vị danh nhân nổi tiếng một thời, trong khi tên trộm thông minh kia cũng chỉ mãi vùi mình trong dòng sông dài lịch sử .

Theo: ĐKN


曾国藩是中国历史上最有影响的人物之一,然他小时候的天赋却不高。有一天在家读书,对一篇文章重复不知道多少遍了,还在朗读,因为,他还没有背下来。这时候他家来了一个贼,潜伏在他的屋檐下,希望等读书人睡觉之后捞点好处。可是等啊等,就是不见他睡觉,还是翻来复去地读那篇文章。贼人大怒,跳出来说,“这种水平读什么书?”然后将那文章背诵一遍,扬长而去!贼人是很聪明,至少比曾先生要聪明,但是他只能成为贼,而曾先生却成为毛泽东主席都钦佩的人:“近代最有大本夫源的人。”“勤能补拙是良训,一分辛苦一分才。”那贼的记忆力真好,听过几遍的文章都能背下来,而且很勇敢,见别人不睡觉居然可以跳出来“大怒”教训曾先生之后,还要背书,扬长而去。但是遗憾的是,他名不见经传,曾先生后来启用了一大批人才,按说这位贼人与曾先生有一面之交,大可去施展一二,可惜,他的天赋没有加上勤奋,变得不知所终。

(百度百科)