Saturday, October 3, 2026

BÁT CA TÂY TẠNG

Bát ca Tây Tạng là một loại chuông rung ( chuông xoay) có thể tạo ra nhiều giai điệu phong phú, sâu sắc khi chơi. Bát ca còn được gọi là bát hát hoặc bát Himalaya. Các nhà sư từ lâu đã sử dụng bát hát Tây Tạng trong thực hành thiền định. Hiện nay một số dịch vụ chăm sóc sức khỏe (bao gồm cả các nhà trị liệu âm nhạc, trị liệu mát-xa và các nhà trị liệu yoga) sử dụng bát ca Tây Tạng trong khi điều trị.


Bát ca Tây Tạng, một công cụ thiền định âm nhạc cổ xưa vẫn được sử dụng trong các tu viện ngày nay, gần đây đã được kết hợp vào liệu pháp âm thanh và chữa bệnh toàn diện ở phương Tây.

Một chiếc bát ca Tây Tạng được cho là có khả năng làm dịu trái tim, làm trống rỗng tâm trí và giúp con người dễ tiếp cận với Phật pháp. Dưới ảnh hưởng của cách mạng văn hóa Trung Quốc, nhiều giá trị văn hóa và các văn vật bị phá hủy. Còn rất ít tài liệu được ghi lại về Bát ca Tây Tạng. Các vị Lạt ma già đã cố gắng lưu giữ những giá trị và kiến thức về công cụ “thần bí” này.

Sử dụng Bát ca Tây Tạng( chuông xoay) trong trị liệu sức khỏe hiện nay – Ảnh: Facebook của chuyên gia Dương Đạt – Sài Gòn

Bát ca Tây Tạng là gì

Mặc dù có người cho rằng ban đầu Bát ca Tây Tạng có thể được sử dụng để làm bát ăn xin của các nhà sư trong thời cổ đại, nhưng những chiếc bát thủ công truyền thống, còn được gọi là chuông đứng, được chế tác từ loại hợp kim dùng đúc chuông để mang lại âm thanh hoặc âm vang khi bị va đập hoặc cọ xát bằng vồ. Âm điệu thay đổi theo kích thước và chất lượng của bát, cũng như theo một số “tài khoản”, “số lượng đức hạnh” mà người chơi sở hữu sạu này.

Âm sắc của bát hát được tạo ra khi ma sát tạo ra bởi vồ làm cho kim loại dao động, giống như cách ly rượu vang sẽ vang lên âm thanh khi dùng ngón tay ướt cọ xát vành. Việc chà xát liên tục giúp âm sắc sống động, khi chạm vào cạnh sẽ làm âm sắc bị “bong” ra. Nếu bạn ngừng chơi, nhưng không làm gián đoạn âm thanh, âm vang sẽ tiếp tục và mất dần.

Một chiếc bát ca khi có nước, khi chơi sẽ làm cho nước nhảy theo. Một số người tin rằng nước trở nên tràn đầy sinh lực sau khi được sử dụng trong bát hát, và do đó có thể có các đặc tính chữa bệnh.

Các thí nghiệm với nước đã chỉ ra rằng vành bát thay đổi hình dạng không thể nhận thấy khi chơi, nó có thể hiển thị hình bầu dục hơn một chút hoặc có thể dịch chuyển qua lại. Bản thân nước trở nên tràn đầy năng lượng, làm cho các giọt nhỏ nhảy ra khỏi bề mặt. Thêm nước sẽ làm thay đổi tông màu của bát, và nước được cung cấp năng lượng có thể có lợi cho cả cây và người.


Những rung động âm thanh không chỉ được nghe mà còn được cảm nhận, và nhiều người tin rằng những chiếc bát hát có đặc tính chữa bệnh. Nhà ung thư học và giáo sư Mitchell Gaynor, thuộc Đại học Y Weill Cornell, bắt đầu sử dụng bát hát và các hình thức trị liệu âm thanh khác để chữa bệnh vào những năm 1990. Ông khẳng định rằng liệu pháp âm thanh làm giảm căng thẳng và cải thiện hệ thống miễn dịch, đưa bệnh nhân vào trạng thái thiền định giúp thúc đẩy quá trình chữa bệnh.

Lịch sử và truyền thống

Tuy chỉ mới du nhập vào phương Tây khoảng 30 năm trước nhưng bát ca Tây Tạng đã có lịch sử lên đến 5000 năm. Những chiếc bát đầu tiên có thể được làm từ kim loại có nguồn gốc từ thiên thạch. Những chiếc bát ngày nay được hình thành từ hợp kim của 5, 7, 9, hoặc thậm chí 12 kim loại, bao gồm đồng, đồng thau, đồng thau và thiếc, cũng như sắt và các thành phần khác của thiên thạch quý hiếm.

Những bát hát đầu tiên hiện được coi là thánh tích và được lưu giữ tại các Tu viện Drepung, Narthang và Sakya ở Tây Tạng. Những chiếc bát Narthang và Sakya dường như đã bị thất lạc, ngày nay chỉ còn lại di tích Drepung. Chiếc bát này được cho là chiếc bát ăn xin của Đức Phật thứ ba, tiền thân của Đức Phật Shakymuni. Lúc đó tất cả các nhà sư đều dùng bát hát để đi khất thực.

Sau đó, những viên xá lợi quý giá được Shakymuni sử dụng như một công cụ để giảng dạy Phật pháp của mình. Nhiều Lạt ma cấp cao đã đến để lắng nghe âm thanh được cho là để giảng dạy về khái niệm rộng lớn và hư không, và truyền thụ Tứ Diệu Đế . Theo truyền thuyết, những người có nghiệp âm tạo ra âm sắc thấp hơn khi họ chơi các bát hát ban đầu, trong khi những người có nghiệp tích cực tạo ra âm thanh thuần khiết.


Hàng ngàn Geshe tại Tu viện Drepung tiếp tục truyền thống thiền định về âm thanh của tiếng hát bát cho đến ngày nay.

Kể từ khi du nhập vào văn hóa phương Tây khoảng 30 năm trước, hát ca đã trở nên phổ biến trong nhiều ngành chữa bệnh toàn diện. Trong khi nhiều người mới bắt đầu tiếp cận bát hát như một công cụ thư giãn, mục đích thực tế của những chiếc bát này có thể sâu sắc hơn rất nhiều lần.

Nguồn: Vision Times
Link tham khảo:



Friday, October 2, 2026

VÌ SAO ẤN ĐỘ ÁP "CHÍNH SÁCH HAI GIÁ" ĐẮT ĐỎ VỚI KHÁCH NƯỚC NGOÀI TẠI TAJ MAHAL?

Bước vào Taj Mahal hay Pháo đài Amber, trong khi người dân Ấn Độ chỉ tốn vài chục rupee, du khách quốc tế phải chi ra số tiền gấp hàng chục lần cho cùng một lượt tham quan. Khoản chênh lệch đắt đỏ này không chỉ là câu chuyện riêng của Taj Mahal mà đã trở thành mô hình định giá phổ biến khắp Ấn Độ, đi kèm những đặc quyền và lưu ý riêng mà bất kỳ du khách nào cũng cần biết.

Đền Taj Mahal

Tại đền Taj Mahal, biểu tượng du lịch nổi tiếng nhất Ấn Độ ở bang Uttar Pradesh, một du khách đến từ châu Âu, Bắc Mỹ hay Đông Nam Á hiện phải trả 1.100 rupee cho vé vào cổng, cộng thêm 200 rupee nếu muốn bước vào khu lăng mộ chính, tổng cộng 1.300 rupee, tương đương khoảng 16 USD. Trong khi đó, người dân Ấn Độ chỉ mất 50 rupee cho vé cổng, tổng chi phí trọn gói chưa tới 250 rupee.

Mức chênh lệch lên tới 22 lần này không phải ngoại lệ mà đã trở thành mô hình định giá phổ biến tại hầu hết di sản được UNESCO công nhận trên khắp đất nước.

Đối với du khách thuộc các quốc gia thành viên Hiệp hội Hợp tác Khu vực Nam Á (SAARC) và nhóm BIMSTEC như Nepal, Bangladesh, Sri Lanka hay Thái Lan, mức phí trung gian được áp dụng là 540 rupee, tức khoảng 11 lần giá vé nội địa.

Đổi lại khoản chênh lệch này, khách quốc tế thường nhận thêm một số quyền lợi nhỏ như một chai nước uống 500ml, vỏ bọc giày dùng một lần và quyền di chuyển theo luồng ưu tiên, giúp rút ngắn thời gian xếp hàng qua cổng an ninh vào giờ cao điểm. Trẻ em dưới 15 tuổi, không phân biệt quốc tịch, được miễn phí hoàn toàn.

Taj Mahal không phải trường hợp duy nhất bởi chính sách hai giá lan rộng ra nhiều di sản khác. Vào tháng 1 năm nay, chính quyền bang Rajasthan lần đầu tiên sau 11 năm điều chỉnh biểu phí tham quan các di tích, bảo tàng và danh thắng trên địa bàn. Tại Pháo đài Amber, một trong những công trình kiến trúc quân sự nổi bật nhất thời kỳ Rajput, giá vé dành cho công dân Ấn Độ tăng gấp đôi lên 200 rupee, còn mức phí áp dụng cho khách nước ngoài tăng hơn ba lần, lên tới 1.000 rupee.

Lăng Humayun - nơi được coi là nguồn cảm hứng kiến trúc của đền Taj Mahal

Tại thủ đô New Delhi, Lăng Humayun, công trình được xem là nguồn cảm hứng kiến trúc trực tiếp cho Taj Mahal, hiện thu 600 rupee đối với du khách quốc tế, cao gấp 15 lần mức 40 rupee dành cho khách nội địa. Chính sách tương tự cũng được áp dụng tại quần thể hang động Ajanta và Ellora ở bang Maharashtra, hai di sản khảo cổ và nghệ thuật Phật giáo cổ đại nổi tiếng bậc nhất Nam Á.

Nhìn chung, khoảng cách giá vé giữa hai nhóm khách dao động từ 11 đến 22 lần tùy địa điểm, và xu hướng chung là mức phí dành cho khách nước ngoài tăng nhanh hơn đáng kể so với mức áp dụng cho người dân bản địa.

Một cựu quan chức cấp cao thuộc Cơ quan Khảo cổ Ấn Độ (ASI) lý giải rằng khoảng cách này không phản ánh sự bất công, mà xuất phát từ chênh lệch thu nhập giữa các nhóm du khách. Theo vị này, khách quốc tế nhìn chung có khả năng chi trả cao hơn đáng kể so với phần lớn người dân Ấn Độ, do đó việc thu thêm từ nhóm khách này giúp tạo nguồn thu bổ sung mà không ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận di sản văn hóa của chính người dân trong nước.

Được biết mức chênh lệch giá này nhằm mục đích tạo thêm nguồn thu từ khách nước ngoài

Số liệu vĩ mô phần nào minh chứng cho lập luận này: GDP bình quân đầu người của Ấn Độ hiện vào khoảng 2.800 USD, chỉ bằng khoảng một phần mười so với Nhật Bản, dù tổng quy mô GDP của hai nền kinh tế xấp xỉ nhau.

Cách lý giải tương tự cũng từng được Bộ Văn hóa Ấn Độ đưa ra từ năm 2016, khi cơ quan này khẳng định phần chênh lệch thu được từ du khách nước ngoài sẽ được tái đầu tư trở lại vào hạ tầng phục vụ tham quan, trong đó có việc phủ sóng Wi-Fi miễn phí tại các điểm di tích.

Trên thực tế, chính sách định giá phân biệt theo quốc tịch không phải điều hiếm gặp trên thế giới. Nhiều di sản UNESCO tại Ai Cập, Campuchia hay Indonesia cũng áp dụng mô hình hai giá tương tự, với lý do phổ biến là bảo đảm khả năng tiếp cận cho công dân trong nước đồng thời tối đa hóa nguồn thu từ thị trường khách quốc tế vốn có sức chi trả cao hơn.


Đối với những du khách nước ngoài đang lên kế hoạch đến Agra, một số kinh nghiệm thực tế đáng lưu ý để tối ưu chi phí và thời gian. Trước hết, nên đặt vé trực tuyến qua cổng thanh toán chính thức của ASI trước ít nhất một ngày, vừa tránh xếp hàng tại quầy vừa hạn chế rủi ro mua nhầm vé từ các đầu mối không chính thức bên ngoài cổng.

Vé vào khu lăng mộ chính nên mua kèm ngay từ đầu, bởi đây là phần trải nghiệm giá trị nhất, cho phép quan sát trực tiếp các cỗ quan tài cẩm thạch chạm khắc tinh xảo mà ảnh chụp từ xa không thể lột tả hết.

Về thời điểm, nên đến sớm ngay khi cổng mở lúc 6h sáng để tránh nắng gắt buổi trưa và đám đông cao điểm, đồng thời tận dụng ánh sáng dịu để chụp ảnh. Du khách nước ngoài bắt buộc phải mang theo hộ chiếu bản gốc để đối chiếu tại cổng an ninh, trong khi người dân Ấn Độ chỉ cần thẻ Aadhaar hoặc giấy tờ tùy thân hợp lệ.


Nếu di chuyển từ New Delhi, tuyến tàu cao tốc Gatimaan Express hoặc Shatabdi Express khứ hồi hạng ghế điều hòa là lựa chọn hợp lý về thời gian, trong khi tổng chi phí cho một chuyến tham quan trọn gói bao gồm vé vào cổng, hướng dẫn viên và di chuyển nội đô Agra thường dao động trong khoảng 20-25 USD mỗi người, một mức được xem là vẫn tương đối hợp lý so với nhiều di sản thế giới khác có quy mô tương đương.

Khánh Linh / Theo: travellive+

SƠN HÀNH - ĐỖ MỤC


SƠN HÀNH - ĐỖ MỤC

Viễn thướng hàn sơn thạch kính tà,
Bạch vân sinh xứ hữu nhân gia.
Đình xa toạ ái phong lâm vãn,
Sương diệp hồng ư nhị nguyệt hoa.


山行 - 杜牧

遠上寒山石徑斜
白雲生處有人家
停車坐愛楓林晚
霜葉紅於二月花


Đi đường núi 
(Dịch thơ: Nguyễn Phước Hậu)

Chênh vênh núi đá lạnh đường xa,
Mây trắng lửng lơ thoáng thấy nhà.
Ngồi ngắm rừng phong, xe đỗ lại,
Tháng hai sương lá đỏ hơn hoa.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng. Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng tong, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thơ ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm Trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn).

Nguồn: Thi Viện



LÃO TỬ: "VÌ KHÔNG TRANH VỚI AI, NÊN KHÔNG AI TRANH VỚI MÌNH"

Lão Tử từng có câu: “Vì không tranh với ai, nên không ai tranh với mình”. Sống trên đời, không thể tránh khỏi những lúc bất bình, buồn bực trong lòng. Nhưng không phải tất cả mọi việc đều xứng để chúng ta hao tâm tổn khí, tranh đua cao thấp.


Một người cứ suốt ngày so đo tính toán với những thứ nhỏ nhặt thì sẽ không tạo nên thành tựu gì lớn lao trong đời. Những người để mắt vào những chuyện lớn lao, không tranh không đấu với đời, nội tâm mới có thể bình thản, tường hòa.

Thế sự bao gian truân, trắc trở, nếu có thể học được ‘6 điều không tranh’ này, thì chính là lĩnh hội được một loại trí huệ, cũng là một kiểu tu hành trong cuộc sống.

Không tranh giành vận mệnh với ông Trời, đó là không ngoan

Cổ ngữ có câu: “Sinh tử hữu mệnh, phú quý tại thiên“, con người khi sinh ra đã có số mệnh được an bài từ trước.

Nhân sinh ngắn ngủi và vô thường, bất kể số mệnh ban tặng cho chúng ta điều gì trong cuộc sống, thì hãy học cách trân quý hết thảy điều đó.

Con người, nếu có thể coi nhẹ được và mất, sống thuận theo Thiên mệnh, thì đó mới chính là chìa khóa của hạnh phúc. Trong cái được thì có cái mất, trong cái mất cũng có cái được, không cưỡng cầu bất cứ điều gì trong cuộc sống, thãn đảng sống thuận theo tự nhiên, đó mới chính là thành quả to lớn nhất trong cuộc đời.

Không tranh giành vận mệnh với ông Trời không phải là chuyện gì đó xấu cả, cũng không phải thể hiện rằng, bạn ‘thỏa hiệp’ hay đầu hàng với số phận, sống thuận theo tự nhiên, không tranh với đất, không đấu với Trời, kì thực đó là một sự lựa chọn vô cùng khôn ngoan và trí huệ, bởi vì thái độ sống “tùy kì tự nhiên” mới là trạng thái tốt đẹp nhất của sinh mệnh.


Không tranh cãi với bố mẹ, đó là hiếu thuận

Có câu tục ngữ: “Bệnh từ miệng mà vào, họa từ miệng mà ra”.

Những người thực sự có tu dưỡng thì sẽ hiểu được ý nghĩa thực sự của việc ‘tu khẩu’, lời ăn tiếng nói hàng ngày có thể biểu lộ ra phẩm hạnh của bản thân, bởi vì một người thực sự có hàm dưỡng, sẽ không vì những chuyện nhỏ vặt vãnh mà tranh mà đấu, so đo tính toán những chuyện cỏn con.

Cha mẹ là người thân thiết nhất của chúng ta, khi chúng ta tranh cãi với cha mẹ, thì khi đó hãy nhớ rằng: “Nếu không có sự hy sinh thầm lặng của họ, thì chúng ta sẽ không có được như ngày hôm nay”.

Cuộc đời này đối với cha mẹ quả thật không hề dễ dàng, chúng ta vào mọi thời khắc cần phải tỏ lòng biết ơn đối với họ, hãy làm hết sức mình để báo đáp công ơn dưỡng dục của họ.

Không tranh cãi với cha mẹ, cũng là một kiểu hiếu thuận. Đối với bậc sinh thành, hãy nói những gì nên nói, không nói những gì không nên nói, tự bản thân hãy suy nghĩ cho rõ ràng. Quản tốt cái miệng của bản thân, đừng làm tổn thương cha mẹ của mình.

Một người có tu dưỡng sẽ hiểu được ý nghĩa của “đạo hiếu”, dù vinh hoa lợi lộc có nhiều đến đâu, nếu không hiếu thảo với cha mẹ, thì hết thảy chỉ là phù du mà thôi.

Không tranh cãi với chồng/vợ chuyện đúng sai, đó là sự thấu hiểu

Người trong một nhà, những chuyện tranh chấp thường là những chuyện đã xảy ra trong quá khứ, phàm là chuyện đã qua, chúng ta đều không thể thay đổi được kết cục, vậy thay vì tranh cãi tới lui, chi bằng cho nó trôi qua một cách êm đẹp đi.

Khi xảy ra mâu thuẫn với vợ/chồng, bạn giành phần thắng, thì tình cảm giữa hai vợ chồng cũng không còn sâu đậm, thâm chí còn có thể làm tổn thương đối phương, thậm chí là khiến hai bên cảm thấy khó chịu, có khi mấy ngày sau không biết phải mở lời như thế nào.

Khi tranh cãi với vợ/chồng, nếu bạn ‘nhường’ họ phần thắng, kì thực bạn cũng chẳng mất đi thứ gì, khi bạn khiến cho họ cảm thấy sự ấm áp và yêu thương, khoan dung và độ lượng, gia đình của bạn mới có thể hòa thuận, hạnh phúc.

Không tranh đấu với vợ/chồng, là một loại thấu hiểu, bởi vì hai người sống bên nhau trọn đời, cái duyên kết thành vợ chồng vốn dĩ đã là vô cùng trân quý, bởi vậy, hãy đối đãi với nhau bằng tất cả tấm chân tình, yêu thương và nhường nhịn lẫn nhau.

Không tranh giành lợi ích với bạn bè, là sự khoan dung

Cổ nhân có câu: “Người chết vì tiền, chim chết vì thức ăn”.

Câu nói này kì thực đã ‘chạm vào’ nội tâm của rất nhiều người. Rất nhiều người sống trên đời là vì lợi ích cá nhân thúc đẩy, nhiều lúc giống như cuốn vào hố sâu của dục vọng, vì tranh giành lợi ích mà không màng tranh đấu, dẫn đến sự tan vỡ của những mối quan hệ tình bạn chân thành.

Giữa bạn bè với nhau, quan trọng nhất là thấu hiểu và giúp đỡ lẫn nhau, chỉ cần sẵn sàng trao cho nhau tình cảm chân thành, nhường một chút lợi ích thì có nghĩa lý gì?

Nếu một người tâm lợi ích cá nhân của họ rất nặng, thì họ sẽ không cảm nhận được dư vị của tình người, sẽ tạo cho người khác cảm giác chán ghét. Không tranh giành lợi ích với bạn bè, không phải là không nhượng bộ, mà là một loại bao dung. Sống trên đời, có thể gặp nhau, tương phùng với nhau chính là một loại duyên phận, bởi vậy nhất định phải trân quý cái duyên này.


Không tranh danh tiếng với người khác, đó chính là ‘biết người, biết ta’

Lòng người tham danh lợi lộc là vô kể, nếu một người cứ luôn bị ràng buộc bởi danh lợi, thì không thể nào đường đường chính chính mà làm người, làm việc được.

Hầu hết ai cũng muốn có danh tiếng tốt, nhưng họ không hề biết rằng, dù cho danh tiếng có tốt đến mấy, thì cái danh tiếng đó cũng có thể trở thành cái ‘xiềng xích’ trói buộc chúng ta, như câu nói: ‘Đức không tương xứng, thì tất có ngày gặp họa’.

Hạnh phúc thực sự sẽ chỉ đến với những người coi danh lợi ‘nhẹ tựa lông hồng’, người không bị danh lợi, tiền tài trói buộc, đó mới chính là bậc trí giả chân chính. Khi con người tránh xa vòng xoáy mê hoặc của danh lợi, thì họ sẽ không vì danh lợi phù du nơi thế gian mà hao công tổn phí, họ biết dành công phu của mình vào những việc to lớn hơn, do vậy, vận mệnh tốt sẽ không tự mời mà đến, vận may ngày càng nhiều.

Thành công lớn nhất của một người, không phải là mù quáng tranh giành quyền lợi, danh vọng, mà là năng lực “hiểu biết về chính mình”. Không truy cầu, không tranh đấu, ngược lại sẽ đắc được ngày càng nhiều.

Bởi vậy, nhất định đừng vì danh lợi, dục vọng và ham muốn của bản thân mà tranh tranh, đấu đấu, điều này có thể trực tiếp thể hiện sự tu dưỡng cũng như phẩm hạnh của cá nhân bạn.

Trong cuộc sống có rất nhiều phiền não, phần lớn đều bắt nguồn từ cái ‘tranh’ này. Rất nhiều người, khi gặp phải những quan điểm trái chiều, thì nhất định cứ phải là tranh đấu kịch liệt, phân định thắng thua. Kì thực càng tranh đua càng nhiều, thì mất mát lại càng nhiều, cũng dễ khiến bản thân luôn trường kì rơi vào vũng lầy của những cảm xúc tiêu cực.

Bạn cần phải biết rằng, bộ dạng khi mà bạn tranh đấu thật rất khó coi, vẻ mặt của bạn khi hung dữ cùng vô cùng xấu xí. Con người sống trên đời, cần hiểu được đạo lý rằng: “Đắc được là cái phúc của bản thân, còn mất đi chính là số mệnh của chính mình”.

Thay vì suốt ngày hao tâm khổ tứ để tranh giành, hãy “lùi lại” một bước để thấy lòng người rộng lớn hơn.

Lan Hòa biên dịch
An Nhiên / Theo: vandieuhay

Thursday, October 1, 2026

TRONG HÔN NHÂN, THẮNG ĐƯỢC MỘT CUỘC TRANH CÃI CHƯA CHẮC ĐÃ GIỮ ĐƯỢC HẠNH PHÚC

Có những cuộc cãi vã trong hôn nhân không bắt đầu từ chuyện gì quá lớn, nhưng lại khiến người trong cuộc tổn thương suốt nhiều ngày. Đôi khi, điều khiến người vợ mệt mỏi không phải là bất đồng quan điểm với chồng, mà là cảm giác dù mình nói gì, giải thích ra sao, người kia vẫn nhất quyết phải giành phần thắng.


Khi một người luôn muốn đúng, còn người kia chỉ mong được lắng nghe, cuộc trò chuyện rất dễ biến thành cuộc đấu hơn thua, nơi tình cảm dần bị đẩy ra phía sau.

Trong đời sống vợ chồng, ai cũng có lúc nóng giận, có lúc nhìn nhận sự việc khác nhau. Nhưng một người trưởng thành sẽ hiểu rằng tranh luận không phải để chứng minh mình giỏi hơn, càng không phải để khiến người bạn đời phải cúi đầu nhận sai.

Nếu sau mỗi lần cãi vã, một người cảm thấy mình chiến thắng, còn người kia chỉ còn lại tủi thân, bất an và thất vọng, thì cuộc tranh luận ấy đã không còn giúp gia đình giải quyết vấn đề. Bởi điều cần giữ trong hôn nhân không phải là thể diện của một người, mà là sự tôn trọng giữa hai người.

Trước khi trách móc bạn đời, hãy tự hỏi mình đã thực sự lắng nghe chưa, lời nói của mình có làm tổn thương người kia không, và mình đang muốn giải quyết mâu thuẫn hay chỉ muốn chứng minh mình đúng.

Một người biết tự xét mình sẽ có cơ hội sửa đổi; một người chỉ luôn tìm lỗi ở đối phương rất dễ khiến mâu thuẫn kéo dài.

Người xưa nói: “Hòa vi quý” – lấy hòa làm quý.

Trong nhà, nếu lúc nào cũng phân định phải trái như ngoài đời, hòa khí sẽ mất dần. Cổ nhân ví vợ chồng như nước với lửa: quá nhiều nước thì dập tắt lửa, lửa quá mạnh thì đốt cháy nước.

Chỉ khi biết tiết chế, biết dừng lại đúng lúc thì mới giữ được sự cân bằng. Những người đàn ông luôn cố chấp hơn thua thường thiếu phẩm chất của “bậc trượng phu”, đó là sự bao dung và độ lượng. Họ biến gia đình thành nơi tranh chấp, thay vì là chốn bình yên để dựa vào.


Vì vậy, người vợ không nhất thiết phải theo đuổi đến cùng mọi cuộc tranh cãi. Khi cảm xúc đang dâng cao, biết dừng lại, giữ bình tĩnh và lựa chọn một thời điểm khác để nói chuyện có thể giúp tránh những lời nói khiến cả hai hối tiếc.

Đó không phải là thua cuộc, mà là không để cơn giận điều khiển hành động của mình. Người xưa coi trọng sự điềm đạm, bởi người làm chủ được lời nói và cảm xúc cũng là người có thể giữ được sự sáng suốt trước những biến động.

Nhưng biết nhường lời không có nghĩa là phải nhẫn nhịn mọi điều. Nếu người chồng thường xuyên hạ thấp, xúc phạm, kiểm soát hay phủ nhận cảm xúc của vợ, thì vấn đề không thể được giải quyết chỉ bằng việc người vợ học cách bình tĩnh hơn.

Hôn nhân không phải nơi một người có quyền áp đặt, còn người kia phải liên tục điều chỉnh bản thân để tránh làm đối phương tức giận. Sự nhường nhịn chỉ có ý nghĩa khi cả hai đều biết tôn trọng và có trách nhiệm với mối quan hệ.

Đạo gia đề cao sự mềm mỏng và thuận theo tự nhiên, trong ứng xử, mềm mỏng có thể giúp con người tránh đối đầu không cần thiết. Một người phụ nữ có thể nói chuyện nhẹ nhàng mà vẫn giữ vững nguyên tắc, có thể không tranh cãi trong lúc nóng giận nhưng vẫn thẳng thắn bày tỏ điều mình không chấp nhận.

Bình an thực sự không phải là cố tỏ ra không buồn, không giận trước mọi cách đối xử, mà là hiểu cảm xúc của mình và biết bảo vệ những giới hạn cần thiết.

Sau cùng, hạnh phúc gia đình không thể được xây dựng bằng những cuộc phân định ai đúng, ai sai liên miên. Người chồng cần học cách lắng nghe, người vợ cần biết làm chủ cảm xúc, và cả hai đều cần học cách nhận lỗi, sửa đổi.

Cổ nhân coi trọng chữ “hòa”, nhưng hòa thuận không phải là một người luôn nhún nhường để người kia được quyền quyết định tất cả. Đó là khi hai người có thể khác biệt mà vẫn tôn trọng nhau, có thể bất đồng mà không làm tổn thương nhau.

Bởi trong hôn nhân, điều đáng quý nhất không phải là thắng được người bạn đời, mà là sau mọi bất đồng, cả hai vẫn muốn cùng nhau giữ gìn mái nhà.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

NGƯỜI XƯA THƯỜNG NÓI "TAM THÊ, TỨ THIẾP", LÀ CHỈ TAM THÊ NÀO VÀ TỨ THIẾP GÌ?

Câu nói “Tam thê, tứ thiếp” lần đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm văn học “Kim Bình Mai” của triều đại nhà Minh, dùng để chỉ một người đàn ông có nhiều thê thiếp. Trên thực tế, “tam thê tứ thiếp” mà người xưa nhắc đến cũng có những ám chỉ cụ thể, vậy thì “tam thê, tứ thiếp” có nghĩa là gì?


1. “Tam thê” có nghĩa là gì?

“Tam thê” trong tam thê tứ thiếp chỉ chính thê, thiên thê và hạ thê.

Chính thê là người có địa vị cao nhất trong “ba vợ”. Khi một người đàn ông cưới chính thê, phải khiêng cô ấy vào cổng lớn bằng kiệu hoa tám người khiêng. Ngoài ra giữa chính thê và chồng đều có địa vị bình đẳng như nhau. Trong xã hội dân gian, người ta sẽ gọi chính thê là vợ kết tóc se tơ. Trong hoàng cung xưa, chính thê là hoàng hậu của hoàng đế và có địa vị rất tôn quý.

Trong xã hội cổ xưa quy định nam giới chỉ được lấy một chính thê, nếu lấy nhiều hơn một chính thê thì sẽ bị quan lại trừng phạt. Ngoài ra, chính thê không thể bị nam nhân ly hôn, mà cho dù không được sủng ái cũng không thể biến thành thê thiếp. Có thể thấy, thời xa xưa chính quyền cũng có những luật lệ, quy định đặc biệt để bảo vệ chính thê.

Ngoài chính thê ra còn có thiên thê cùng hạ thê. Địa vị của những thiên thê và hạ thê này trong gia đình thấp hơn so với những người chính thê và cao hơn những các thiếp. Đây là sự khác biệt rõ ràng nhất giữa vợ và thê thiếp.


2. “Tứ thiếp” là gì?

“Tứ thiếp” là chỉ lương thiếp, quý thiếp, tiện thiếp, bình thiếp.

Lương thiếp, địa vị trong nhà cao hơn các thiếp khác. Nam tử trước khi cưới lương thiếp vào nhà, đều sẽ viết văn thư nạp thiếp, cũng lấy đó làm bằng chứng. Đối với lương thiếp mà nói, mặc dù địa vị trong nhà thấp, nhưng cuộc sống an ổn nửa đời sau, đồng dạng có thể dựa vào văn thư nạp thiếp, được cuộc sống bảo đảm tương ứng.Quý thiếp, thường là người phụ nữ tùy giá từ nhà mẹ đẻ của chính thê, tuổi tác tương đối lớn, dựa vào quan hệ thân mật với chính thê, địa vị của họ trong gia đình cũng tương đối cao.

Tiện thiếp ám chỉ những người phụ nữ không có xuất thân đứng đắn. Những người làm thê thiếp thấp hèn thường là gái lầu xanh hoặc là kỹ nữ, đa số đều có dung mạo xuất chúng hoặc tài năng phi thường, sau khi được nam nhân sủng ái sẽ được nam nhân chuộc ra khỏi lầu xanh, từ đó mà sống ổn định sau khi kết hôn.

“Tứ thiếp” trong tam thê tứ thiếp chỉ chính lương thiếp, quý thiếp, tiện thiếp, bình thiếp. Ảnh: VnExpress

Bình thiếp, là thiếp thất bình thường, cũng là loại cuối cùng trong “Tứ thiếp”. Các bình thiếp vừa không có văn thư nạp thiếp của mình, cũng không có quan hệ thân mật với chính thê, thiên thê hoặc hạ thê trong nhà, càng không có dung mạo hoặc tài hoa hơn người, nhiệm vụ chủ yếu là vì trượng phu sinh con, truyền tục hương khói.

Chế độ đa thê thực chất là chế độ một vợ một chồng nhưng có nhiều thê thiếp

Một số đàn ông hiện đại có thể ghen tị với cuộc sống của đàn ông cổ đại vì họ có “ba vợ, bốn thê”. Trên thực tế, vào thời Ân Thương, chế độ một vợ một chồng đã trở thành xu hướng xã hội chủ đạo, và nhiều vị vua của triều đại Ân đã chọn chế độ một vợ một chồng. Có nhiều lý do dẫn đến chế độ một vợ một chồng và đa thê, nhưng mục đích chính của hôn nhân là gánh vác gia đình.

Vào thời nhà Chu, “chế độ thê thiếp” được bổ sung trên cơ sở tiếp nối của hệ thống Ân Thương, và quy định rõ ràng rằng chỉ có thể có một “chính thê”, còn lại là “thê tử”. Còn “nguyên phối” (phát thê) dùng để chỉ người chính thê, sau khi chính thê qua đời hoặc chính thê tái hôn sau khi ly hôn thì gọi là “kế thất” hoặc “điền phòng”.

Thiếp không được phép làm chính thê, cho dù là hoàng đế cũng phải tuân thủ quy tắc “một chính thê, những người khác đều chỉ là thiếp”. Lúc này mới xuất hiện sự khác biệt “thê tôn thiếp ti”, “con chính thê là con trai trưởng, con thiếp là thứ tử”, cùng với lý “chính thê chi tử vy đích tử, thiếp chi tử vy thứ tử“.


“Bình thê” (còn gọi là hựu xưng tịnh đích) là một người phụ nữ được một thương nhân kết hôn khi anh ta đang làm việc bên ngoài, tức là người vợ tồn tại đồng thời với chính thê. Mặc dù gọi là “thê tử”, nhưng về mặt pháp lý của nhà Minh và Thanh thì vẫn là thân phận “thiếp”.

Chế độ đa thê thực chất là chế độ có nhiều hơn một vợ (nhiều thê thiếp). Chỉ một số ít người lấy thê thiếp, chủ yếu là những người có địa vị xã hội cao, trong khi dân thường hiếm khi có cơ hội lấy thê thiếp. Vì vậy, lấy thê thiếp được coi là đặc quyền của những người có quyền lực trong xã hội cổ xưa.

Sen vàng biên tập
An Nhiên / Theo: vandieuhay

CẢNH GIÁC VỚI LOÀI ẾCH ĐẸP CHỨA ĐỘC CHẾT NGƯỜI

Được mệnh danh là loài sinh vật “độc” nhất thế giới, nọc độc của ếch phi tiêu khiến hệ thần kinh bị tê liệt, gây tê liệt các cơ và dẫn tới tử vong. Nọc của một con ếch phi tiêu vàng có thể giết chết gần 20 người đàn ông khỏe mạnh hoặc thậm chí 2 con voi đực châu Phi.


Nọc độc không chỉ là vũ khí tự về mà con dùng để tấn công, vô hiệu hóa con mồi trong thế giới động vật. Vượt qua vô vàn đối thủ "nặng ký", sinh vật bé nhỏ này lại chính là sinh vật sở hữu nọc độc đáng sợ nhất thế giới: Sinh vật có thể giết người nhanh nhất!

Đó chính là ếch phi tiêu độc (tên khoa học: Dendrobatidae) là một nhóm các loài ếch trong họ Dendrobatidae chuyên sống ở Trung và Nam Mỹ.

Sở dĩ chúng có tên như vậy vì nọc độc của chúng được thổ dân da đỏ sử dụng để tẩm vào phi tiêu khi săn bắn.

Đứng đầu là ếch phi tiêu vàng (Phyllobates terribilis) ở Colombia, là loài vật độc nhất hành tinh. Chất độc do nó tiết ra có thể giết chết từ 10-20 người đàn ông, hoặc 2 con voi đực Châu Phi.

Ếch phi tiêu vàng.

Da của chúng tiết ra batrachotoxin, một loại chất độc khiến hệ thần kinh bị tê liệt, gây tê liệt các cơ và dẫn tới tử vong. Nọc của một con ếch phi tiêu vàng có thể giết chết gần 20 người đàn ông khỏe mạnh hoặc thậm chí 2 con voi đực châu Phi.

Loài ếch này có bề ngoài khá rực rỡ và bắt mắt. Tuy nhiên, đừng để vẻ "bắt mắt" đó đánh lừa bởi vì chỉ cần một va chạm nhỏ với da của chúng, tim người có thể ngừng đập nhanh chóng.

So với các loài ếch phi tiêu khác như ếch phi tiêu đen hay ếch phi tiêu nhị sắc, ếch phi tiêu độc Kokoe (Phyllobates aurotaenia) thì độc tính của ếch phi tiêu vàng gấp rất nhiều lần. Điều đáng sợ hơn, nọc độc của chúng có thể tồn tại tới 1 năm!

Nếu lỡ tay chạm vào chúng, điều đó không có nghĩa là bạn có thể bị trúng độc qua da, bởi vì chúng chỉ bài tiết chất độc qua da khi cảm thấy bị đe dọa, tuy nhiên cũng không vì thế mà có thể chạm vào chúng thoải mái.

Tuy là loài ếch bé nhỏ có nọc độc có thể giết chết cả... voi, nhưng tổ tiên của chúng sống cách đây 40 tới 45 triệu năm lại không hề có độc. Sở dĩ chúng có thể tiết nọc độc là do chúng ăn vào các sinh vật có độc tính.

Nhỏ hơn ếch phi tiêu vàng một ít, ếch phi tiêu chân đen hay ếch phi tiêu nhị sắc (Phyllobates bicolor) ở miền tây Colombia giết chết người chỉ với 150 microgram độc tố. Nạn nhân bị trúng độc sẽ sốt, đau đớn, co giật, liệt hô hấp và cơ bắp, rồi chết.

Ếch phi tiêu độc Kokoe (Phyllobates aurotaenia) là ếch độc nhỏ nhất trong chi ếch độc phi tiêu. Chất độc loài ếch này có thể thấm qua vết thương, lỗ chân lông, làm cho nạn nhân đau đớn, sốt, co giật và tê liệt. Thổ dân Colombia thường dùng chất độc của nó để tẩm vào mũi tên săn bắn.

Ếch độc 3 màu (Epipedobates tricolor) chỉ ngắn hơn 1/2 inch nhưng chất độc của nó có thể dễ dàng giết chết động vật săn mồi và con người. Hiện loài ếch này bị đe dọa tuyệt chủng ở Ecuador vì nó đang bị khai thác để làm thuốc giảm đau epibatadine với công dụng mạnh gấp 200 lần morphine.

Ếch độc ba màu.

Tiếp đến, là ếch đốm đen (Ranitomeya variabilis) sống trên cây rừng nhiệt đới ở Ecuador và Peru, có chất độc tiết ra da có thể giết chết 5 người.

Ếch sọc lưng vàng (Phyllobates vittatus) là một trong 4 chi ếch phi tiêu độc nhất. Nhưng chứa ít độc tính hơn, có thể làm đau đớn, co giật nhẹ và thậm chí tê liệt trong một số trường hợp trúng độc.

Ếch phi tiêu độc sọc (Phyllobates lugubris) ở Trung Mỹ có lượng độc tố tương đối thấp từ 0-0,8 microgram nhưng vẫn có khả năng gây suy tim ở các động vật ăn thịt nó.

Tuy không độc chết người như các chi ếch phi tiêu khác, nhưng ếch phi tiêu lưng gù (Dendrobates Azureus) vẫn là loài ếch có độc tính nguy hiểm.

Ếch phi tiêu lưng gù.

Vẫn thuộc chi ếch phi tiêu độc nổi tiếng, ếch phi tiêu đỏ (Oophaga pumilio) có thể gây sưng và bỏng cho những ai trúng độc.

Ếch độc đỏ đen (Ranitomeya reticulatus) sống ở Peru có độc tính trung bình nhưng có thể giết chết các động vật như gà, làm người bị thương.

Là loài ếch phi tiêu độc lớn thứ 3 với chiều dài khoảng 2 inch, ếch độc nhuộm màu (Dendrobates tinctorius) có rất nhiều màu sắc khác nhau chứa chất độc để tự vệ. Nó được các bộ lạc sử dụng để tẩm mũi tên săn bắn.

Cuối cùng là loài ếch lá khổng lồ (Phyllomedusa bicolor), còn gọi là ếch khỉ, có độc tố nhẹ gây ra cảm giác đau, dạ dày nôn nao dẫn tới ảo giác khi trúng phải. Hiện chúng đang có nguy cơ tuyệt chủng do một số thành phần độc tính của nó có thể được sử dụng trong điều trị AIDS và ung thư.

Mặc dù biết đây là sinh vật cực độc, nhưng một số người vẫn chọn ếch phi tiêu độc để làm vật nuôi. Bởi vì chất độc của chúng đến từ những gì chúng ăn, nên người nuôi cũng có thể "vô hiệu hóa" một con ếch phi tiêu độc bằng cách cung cấp cho nó một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt, trong đó bao gồm côn trùng không độc.

Ngoài ra, sẽ an toàn để xử lý ếch phi tiêu độc nếu nó chỉ ăn những con bọ như ruồi giấm và dế.

Ngược lại, nếu chúng sống ở Hawaii hoặc British Columbia, Canada, ai nuôi ếch phi tiêu độc là phạm luật. Theo đó, luật này được thi hành để bảo vệ ếch phi tiêu độc, đồng thời bảo vệ cả con người.

Hiện nay, do nạn phá rừng, đặc biệt là các khu rừng nhiệt đới nên ếch phi tiêu độc có nguy cơ tuyệt chủng. Môi trường sống của chúng cũng đang bị thu hẹp.

Cách săn mồi độc đáo của loài ếch phi tiêu độc

Ếch phi tiêu độc có cách săn mồi rất độc đáo. (Ảnh: Smithsonian).

Thức ăn chính là bí mật ẩn đằng sau chất độc cực mạnh của ếch phi tiêu độc. Thế nhưng điều ngạc nhiên là loài ếch phi tiêu độc lại không dùng độc để săn mồi. Thay vào đó, chúng thường dụ con mồi đến bằng cách gõ ngón chân giữa thon dài xuống đất.

Các nhà khoa học cho rằng những nhịp gõ nhẹ này là cách để giả tiếng mưa nhằm lôi kéo côn trùng đang ẩn náu bước ra. Khi những côn trùng này ra ngoài, chúng sẽ rơi vào miệng ếch.

Ếch phi tiêu độc sẽ phóng chiếc lưỡi dài và dính rồi nuốt chửng con mồi. Đây cũng là bí quyết giúp chúng sở hữu chất độc cực mạnh.

Vì sao ếch phi tiêu độc không bị trúng độc?

Theo nhà nghiên cứu Fayal Abderemane-Ali tại Viện Nghiên cứu Tim mạch của Đại học California (Mỹ), những con ếch phi tiêu độc và các loài động vật có độc khác có 3 thủ thuật để ngăn chặn quá trình tự nhiễm độc.

Trong đó, thủ thuật phổ biến nhất giúp các loài vật có độc nhưng không bị trúng độc là liên quan tới một đột biến gene làm thay đổi một chút hình dạng của protein mục tiêu của độc tố để độc không thể liên kết với protein.

Chẳng hạn, loài ếch độc Dendrobates tinctorius azureus có mang một chất độc gọi là epibatidine. Đây là chất độc không gây nghiện nhưng rất mạnh. Theo một nghiên cứu vào năm 2017 được công bố trên tạp chí Science, những con ếch độc này đã tiến hoá sự thích nghi trong những thụ thể acetylcholine của chúng để làm thay đổi một chút hình dạng của những thụ thể đó, từ đó giúp chúng có khả năng kháng độc tố.

Thủ thuật thứ hai mà những kẻ săn mồi có độc thường sử dụng là khả năng loại bỏ hoàn toàn chất độc khỏi cơ thể. Đây chỉ là cách khác để động vật tránh bị nhiễm độc bởi những thứ mà chúng ăn.

Thủ thuật thứ ba được gọi là cô lập. Theo đó, động vật sẽ phát triển hệ thống lưu giữ độc tố ở trong cơ thể mà không gây ra bất kỳ vấn đề hay ảnh hưởng nào cho bản thân chúng.

Theo: khoahoc.tv