Thursday, August 20, 2026

THƯ HỘC BÀN NGÀY XƯA - GUITARIST HỮU THỌ (SÁNG TÁC & HÒA ÂM)

Hôm nay nghe bài hát "Thư hộc bàn ngày xưa", sáng tác và hòa âm của anh bạn Guitarist Hữu Thọ làm tôi xúc động nhớ đến một thời học sinh của hơn nửa thế kỷ trước.

Ảnh cắt từ video clip của Guitarist Hữu Thọ

Thời trung học đệ nhất cấp (lớp 6 đến lớp 9) tôi học ở trường Bồ Đề (Cần Thơ) rồi thi vào trường Nông Lâm Súc Cần Thơ học tiếp trung học đệ nhị cấp (lớp 10 đến lớp 12). Thời đó ngoài những môn học phổ thông, tụi tôi còn phải học thêm những chuyên môn tùy ngành (Nông - Súc - Công Thôn. NLS Cần Thơ không có ngành Lâm) và nhất là thực hành nông trại. Đồng phục thì màu áo nâu có vẻ trầm buồn nên không nhiều nữ sinh như trường phổ thông khác.

Lúc đó đệ nhị cấp học buổi sáng, đệ nhất cấp học buổi chiều. Lớp tụi tôi học buổi sáng, chiều thì thực hành nông trại. Năm lớp 11, tôi hay viết những đoãn văn vu vơ hay vài câu thơ để trong hộc bàn cho người nào đó ngồi cùng chổ buổi chiều đọc để làm quen. Vậy đó mà khoảng hơn tuần sau, nhận được tấm giấy nhỏ cũng viết một vài câu vu vơ.

Rồi mấy tấm giấy nhỏ trong học bàn lại được tiếp tục qua qua lại lại. Đến khoảng nửa học kỳ sau, lớp chúng tôi đổi lại buổi chiều. Có một hôm, thấy có mấy cô gái nhỏ đứng ở cửa sổ lớp nhìn vào, chỉ chỉ về phía tôi rồi cười và chạy mất.

Ảnh cắt từ video clip của Guitarist Hữu Thọ

Mấy hôm sau đó, tôi nhận được một tấm giấy nhỏ nhét trong hộc bản "Em là H....còn anh tên gì?", tôi cho thằng bạn kế bên xem, nó cười rồi bảo trả lời đi. "Anh tên H, chào em.". Thư hộc bàn vẫn qua lại, ít hơn nhưng có lần em mời tôi và thằng bạn ngồi bên đến nhà dự sinh nhật em, quen nhiều tôi vẫn xem như em gái và chắc chắn không hề là tình yêu như câu chuyện của Guitarist Hữu Thọ. Năm sau tôi ít liên lạc hơn vì là năm thi, sau tú tài tôi vào đại học Nông Nghiệp Cần Thơ và gần như chẳng còn liên lạc nhau nữa.

Xem qua thì chẳng có gì, chẳng có tình yêu, chỉ có bạn bè và tuổi trẻ nhưng là dư âm của tuổi học trò. 

TB: Cuối cùng không muốn nhìn cũng phải nói: "Thư hộc bàn" ít nhất là một kỷ niệm của riêng tôi vì tôi có để một lá thư trong hộc bàn của cô bạn cùng học lớp luyện thi Tú Tài buổi tối ở trường Ngọc Phú (lúc đó thầy Nguyễn Xuân Vũ là hiệu trưởng, sau 1975 lại là đồng nghiệp), tôi được trả lời, và rồi quen nhau..... nhưng sau 1975 thì không còn gặp lại em nữa. Mấy tuần trước thằng bạn từ Mỹ qua có nhắc lại chuyện ngày xưa. Không biết bây giờ gặp lại có nhìn ra nhau không dù sao ai nấy đều đã quá "cổ lai hy" rồi.

Bây giờ mời các bạn nghe ca khúc "Thư hộc bàn ngày xưa" sáng tác của Guitarist Hữu Thọ. Ai có để thư trong hộc bàn ngày xưa thì chắc thấm thía hơn.

(LKH)



SỰ THẬT VỀ CÁI CHẾT CÔ ĐỘC Ở TUỔI 49 CỦA NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU

Nam Phương hoàng hậu có nghi lễ đăng quang hoành tráng nhất cuối cùng lại chết cô đơn nơi xứ người, chồng và con đều không có mặt.

Hai con tem cổ có in hình Nam Phương hoàng hậu.

Sự thật về cái chết cô độc ở tuổi 49 của Nam Phương hoàng hậu

Trong lịch sử Việt Nam, Nam Phương hoàng hậu đặc biệt không chỉ vì sau bà, vĩnh viễn không còn người phụ nữ nào được phong danh hiệu này nữa, mà còn vì trong suốt sự tồn tại của vương triều Nguyễn, bà là người phụ nữ duy nhất được phong hậu khi còn sống.

Dòng bài này có sử dụng tư liệu từ các nguồn: Hồi ký “Một nửa đời hư” (Vương Hồng Sển); Kể chuyện vua quan nhà Nguyễn (Phạm Khắc Hòe); Hỏi chuyện đời bà “thứ phi” Mộng Điệp với Cựu hoàng Bảo Đại (Nguyễn Đắc Xuân); Chuyện nội cung cựu hoàng Bảo Đại (Nguyễn Đắc Xuân).

Những năm cuối đời và cái chết của hoàng hậu Nam Phương

Tháng 3/1946, ông cố vấn Vĩnh Thụy, tức cựu hoàng Bảo Đại, bỏ đất nước vừa giành được độc lập, bỏ mẹ già, vợ trẻ, con dại, bỏ lăng tẩm tiên vương… “trốn” sang Hong Kong cùng kỹ nữ Lý Lệ Hà. Tháng 12/1946, tình hình chính trị và quân sự giữa Việt và Pháp rất căng thẳng, chiến tranh tới gần. Cựu hoàng hậu Nam Phương một nách 5 con sống trong cung An Định trong khi mẹ chồng cũng đã tản cư, cảm thấy hoang mang và tuyệt vọng.

Những đắn đo trước khi rời Tổ quốc

Chồng đã quay lưng với đất nước, bà Nam Phương cảm thấy như đứng trước ngã ba đường. Ở lại Huế thì nay mai chiến sự nổ ra, khó tránh hòn tên mũi đạn, đi tản cư về nông thôn thì sợ các con mình quen nếp sống vương giả, không hòa nhập được. Còn nếu đưa các con vào trú ẩn trong trại lính Pháp thì sẽ mang tiếng liếm gót giày thực dân, thanh danh vĩnh viễn không còn, một mai khó lên ngôi như bà vẫn hy vọng.

Tính đi tính lại, người phụ nữ thông minh chọn giải pháp đưa các con vào nương nhờ nhà thờ dòng Chúa cứu thế, nơi thuộc quyền quản lý của các linh mục Canada, một nước trung lập, không ngả về Mỹ hay Pháp. Cuộc sống ở đây khá kham khổ so với sinh hoạt trước kia của họ, sáng sáng các hoàng tử, công chúa phải tự đi tìm nước rót vào ca để rửa mặt.

Súng bắt đầu nổ ở Huế vài tuần và bà Nam Phương rất lo vì tu viện có thể bị tấn công, nhưng chạy vào trại lính Pháp cũng không ổn vì bà từng gửi ra bạn bè quốc tế một bức thông điệp lên án Pháp tái chiếm Nam Bộ. Bản thân các linh mục trong nhà dòng cũng cảm thấy lo sợ mình sẽ bị liên lụy, đã nói khéo với cựu hoàng hậu và bà quyết định đưa các con sang Pháp tản cư.

Năm 1947, bà đưa các con sang Pháp, nơi gia đình bà có rất nhiều bất động sản lớn. Từ đó, bà không lần nào trở lại Tổ quốc, nơi bà từng là mẫu nghi thiên hạ nữa, ngay cả khi Bảo Đại được Pháp đưa về nước làm quốc trưởng, bà cũng không về.


Cuộc sống trên đất Pháp

Thời gian đầu, mẹ con cựu hoàng hậu sống ở lâu đài Thorenc tại Cannes. Bà Nam Phương gửi các con vào trường trung học Couvent des Oiseaux, nơi bà từng học thời con gái. Hằng ngày, ngoài việc chăm sóc con cái, bà thường đọc sách báo hoặc chăm sóc hoa lá trong vườn, buổi tối thì chơi piano cho các con nghe. Những ngày lễ, mấy mẹ con cùng ra phố xem phim hoặc mua sắm.

Nam Phương hoàng hậu sành thời trang và có gu ăn mặc thanh lịch, tinh tế. Bà rất thích mua đồ của nhãn hiệu Christian Dior và Balmin, màu tím nhạt được bà ưa chuộng nhất. Về gu nghệ thuật, bà treo tranh của của Renoir, Buffet trong nhà. Cũng như thời tuổi trẻ, Nam Phương thích thể thao, nhất là các môn quần vợt, bóng bàn, golf.

Âm hưởng chung trong cuộc sống của cựu hoàng hậu là cô đơn. Bảo Đại thỉnh thoảng mới về Pháp, và đôi khi bà cũng cùng chồng tới casino xem ông đánh bạc. Những lần đó, nếu thắng bạc, ông vua mất ngôi sẽ tặng hết tiền cho vợ để mua sắm thời trang. Tuy nhiên, cái niềm vui ở bên chồng quá ít ỏi, nhất là từ sau năm 1955, Bảo Đại bị Ngô Đình Diệm lật, ông ta chán đời bỏ đi chơi tứ xứ, các con thì đã lớn, như chim bay đi…

Về sau, Nam Phương rời Cannes, dọn về một bất động sản khác của bố mẹ bà mua cho từ trước, đó là lâu đài Domain de la Perche ở vùng quê Chabrignac, cách Paris chừng 400 – 500 km. Lâu đài có rừng bao quanh gồm 32 phòng, 7 phòng tắm, 5 phòng khách... và một vườn hồng tuyệt đẹp. Trang trại lớn với 160 mẫu đất, một đàn bò gần trăm con. Lâu đài cách nhà dân khá xa, hàng xóm ít qua lại. Có lẽ bà hoàng xa xứ chọn nơi yên tĩnh này để nội tâm được bình ổn, sống kiểu nửa tu hành trong những năm cuối đời.

Cho dù không còn là hoàng hậu, cho dù hồi ở Việt Nam đã hiến rất nhiều vàng cho nhà nước, nhưng trong cuộc sống xa xứ, bà chưa bao giờ phải chịu thiếu thốn. Cho đến cuối đời, bà vẫn sống trong nhung lụa nhờ gia đình cự phú của mình. Bố mẹ hoàng hậu, ông bà Nguyễn Hữu Hào, đã mua cho con gái cả một chung cư lớn tại Neuilly và một chung cư ở đại lộ Opera (Pháp), cùng nhiều nhà đất ở Maroc, Congo…

Tuy nhiên, trái ngược với ông chồng lúc nào cũng cần tiền để tiêu xài xa hoa, với bà Nam Phương, tiền không giúp mua được niềm vui. Thứ bà cần không thể có được, vì vậy hoàng hậu cam phận sống lặng lẽ trong trang trại Charbrignac, bất động sản duy nhất bà giữ lại cho riêng mình, sau khi chia hết cho các con. Có lẽ sự cô đơn và nỗi đau buồn cho cuộc đời tuy vàng son mà bất hạnh của mình khiến hoàng hậu lưu vong mắc bệnh tim.

Trong những năm sống ở Charbrignac, Nam Phương rất ít ra ngoài giao lưu. Thi thoảng lắm bà mới lên Paris thăm các con, còn các hoàng tử, công chúa cũng chỉ về thăm mẹ ít ngày những dịp hè. Bảo Đại thì rất hiếm khi về đây, may lắm chỉ ghé qua năm một hai lần, rồi lại đi ngay. Lần về lâu nhất của ông là đám cưới của con gái, công chúa Phương Liên, cũng chỉ kéo dài vài ngày.

Mặc dù tư tưởng ảnh hưởng nhiều của phương Tây, vợ chồng coi như ly thân và nhan sắc vẫn mặn mà nhưng bà không bao giờ lấp khoảng trống trong lòng mình bằng một người đàn ông khác. Bà luôn một mình.

Hoàng hậu ngoài 20, đã có hai con: Con trai cả Bảo Long và con gái

Chết trong cô độc ở tuổi 49

Bệnh tim của hoàng hậu Nam Phương ngày càng nặng, nhiều khi khiến bà khó thở. Vào ngày 14/9/1963, sau khi ra ngoài chơi, bà đi tắm và sau đó cảm thấy đau cổ, sốt. Bác sĩ đến khám, cho biết bà chỉ viêm họng nhẹ. Nhưng rồi triệu chứng khó thở xuất hiện. Những người hầu cuống cuồng chạy đi tìm bác sĩ khác cách đó cả chục cây số. Nhưng cơn khó thở mỗi lúc một tăng, bác sĩ chưa đến kịp thì bà đã qua đời. Lúc đó, không chỉ ông chồng bạc tình đang bận ăn chơi ở miền nam nước Pháp mà cả những đứa con cũng đều học và làm việc tại Paris, không ai có mặt, chỉ có hai người hầu ở bên.

Đám tang hoàng hậu Nam Phương ngày 15/9/1963 không có Bảo Đại, người lúc đó đang đi chơi xa với bà Mộng Điệp. Khi công chúa Phương Liên được tin mẹ chết đã lập tức đánh điện tín báo cho cha, nhưng ông đã vắng nhà nên không nhận được.

Nếu như 29 năm trước, cô thiếu nữ Nguyễn Hữu Thị Lan đã có một đám cưới trọng thể, linh đình nhất, với sự chúc tụng của toàn thể quần thần, thì lúc này, tang lễ của hoàng hậu lưu vong Nam Phương diễn ra lặng lẽ, đơn giản, ngoài 5 đứa con ra không có một người họ hàng nào khác, về quan chức Pháp thì có hai quận trưởng của Brive la Gaillarde và Chabrignac. Tuy nhiên, đến viếng bà Nam Phương có một vị khách đặc biệt: Công chúa Như Lý, con gái ông vua lưu đày Hàm Nghi. Công chúa Như Lý sống không xa nơi ở của bà Nam Phương nhưng không bao giờ qua lại, chỉ đến tiễn đưa khi hoàng hậu đã trút hơi thở cuối cùng.

Nơi yên nghỉ của Nam Phương hoàng hậu tại Pháp

Mộ của hoàng hậu Nam Phương hiện vẫn nằm nghĩa trang công giáo tại Chabrignac, trên bia có dòng chữ tiếng Pháp: “Nơi đây an nghỉ của bà Hoàng hậu Việt Nam - bà Jeanne-Mariette Nguyễn Hữu Hào, 4/12/1914 - 15/9/1963), mặt sau ghi dòng chữ Hán: “Đại Nam Nam Phương Hoàng hậu chi mộ”.

H. Lê / Theo: Thời Trang Vàng

KHI THẾ GIỚI "MUỐN SỐNG NHƯ NGƯỜI BẢN ĐỊA TRUNG QUỐC"

Kỳ nghỉ lễ Quốc tế Lao động 2026 đánh dấu bước ngoặt của du lịch Trung Quốc khi ghi nhận sự bùng nổ kỷ lục với hơn 2,25 triệu lượt khách xuất nhập cảnh mỗi ngày. Xu hướng du lịch đã dịch chuyển mạnh mẽ từ tham quan danh thắng thuần túy sang "kinh tế trải nghiệm", nơi khách quốc tế khao khát hòa mình vào đời sống bản địa qua những hoạt động như đi nhà tắm công cộng, thăm xưởng sản xuất xe điện hay chế tác thủ công truyền thống.


Kỳ nghỉ lễ Quốc tế Lao động vừa qua tại Trung Quốc chứng kiến một sự bùng nổ chưa từng có tại quốc gia tỷ dân. Không còn gói gọn trong những hành trình tham quan cưỡi ngựa xem hoa, du lịch Trung Quốc 2026 đã thực sự bước sang một chương mới: kỷ nguyên của kinh tế trải nghiệm.

Cả thế giới đổ xô "đi làm người Trung Quốc"

Theo số liệu mới nhất từ Cục Quản lý Xuất nhập cảnh Quốc gia, trung bình mỗi ngày có khoảng 2,25 triệu lượt người qua lại biên giới, có những thời điểm cao chót vót vượt ngưỡng 2,4 triệu lượt. Một con số thống kê gây kinh ngạc khác là các sản phẩm du lịch inbound Trung Quốc (đón khách quốc tế) đã tăng trưởng tới 364% so với tháng trước. Điều gì đã tạo nên sức hút ma thuật này?

Trào lưu "sống như người bản địa" đang trở thành chìa khóa giúp ngành du lịch Trung Quốc phát triển

Câu trả lời nằm ở cụm từ "trở thành người Trung Quốc" - một trào lưu đang làm mưa làm gió trên các nền tảng mạng xã hội quốc tế. Du khách giờ đây không còn thỏa mãn với việc chỉ đứng từ xa chiêm ngưỡng Vạn Lý Trường Thành hay Tử Cấm Thành. Họ muốn hòa vào nhịp sống thường nhật của người dân bản địa. Những trải nghiệm tưởng chừng rất đỗi bình thường như đi nhà tắm công cộng mở cửa 24/24h, thử liệu pháp y học cổ truyền, hay ăn lẩu lúc nửa đêm trong các không gian spa sang trọng bỗng chốc trở thành những sản phẩm du lịch "hot" hơn bao giờ hết.

Chính sách miễn thị thực Trung Quốc mở rộng cho hàng chục quốc gia, kết hợp với hệ thống hoàn thuế và thanh toán di động siêu tốc, đã dỡ bỏ những rào cản cuối cùng. Du khách từ các thị trường nguồn như Úc hay Hàn Quốc đang đổ xô đến đây để tìm kiếm chiều sâu văn hóa thay vì kiểu du lịch "lướt qua" của thập kỷ trước.

Trung Quốc không còn chỉ có "Vạn Lý Trường Thành"

Một xu hướng đáng chú ý trong năm 2026 là sự dịch chuyển không gian du lịch từ các siêu đô thị sang những thành phố hạng hai, hạng ba. Những địa danh mang tính chân thực, ít bị thương mại hóa đang lên ngôi. Tại Trịnh Châu, những khu phố được cải tạo từ nhà máy hóa dầu cũ thu hút hàng chục nghìn lượt khách ngay ngày đầu lễ. Thậm chí, những "tour du lịch công nghiệp" tham quan nhà máy sản xuất xe điện (EV) hay các công ty máy bay không người lái (UAV) luôn trong tình trạng cháy vé chỉ sau vài phút mở bán.

Tại tỉnh Phúc Kiến, những tòa Phúc Kiến Thổ Lâu của người Khách Gia vẫn giữ vững sức hút nhưng với một diện mạo mới mẻ hơn. Sự xuất hiện của các khu chợ di sản văn hóa phi vật thể và các sản phẩm sáng tạo như bưu thiếp âm thanh hay mô hình tích hợp chip NFC đã kéo gần khoảng cách giữa truyền thống và giới trẻ.

Công đoạn chế tác mực tàu thủ công tại xưởng mực Lão Hồ Khai Văn (tỉnh An Huy)

Du khách tham quan Phúc Kiến Thổ Lâu, nơi các giá trị văn hóa truyền thống của người Khách Gia

Hay tại An Huy, tiếng búa giã mực tại xưởng mực Lão Hồ Khai Văn không còn là âm thanh của một ngành nghề mai một. Nó đã trở thành giai điệu thu hút hàng nghìn lượt khách quốc tế mỗi ngày đến để tự tay trải nghiệm quy trình chế tác mực tàu thủ công. Sự "thay da đổi thịt" của các khu phố cổ như Lão Trì Khẩu, nơi nhà máy cũ biến thành quán trà và không gian nghệ thuật, đang mở ra hướng đi bền vững cho việc bảo tồn di sản gắn liền với phát triển kinh tế.

Trái ngược với vẻ thư thái của khách quốc tế, bức tranh du lịch nội địa Trung Quốc trong kỳ nghỉ 1/5 lại "vội vã" hơn. Chỉ trong ngày đầu tiên, đã có hơn 344 triệu lượt di chuyển trong nước. Hình ảnh dòng người chen chúc, xếp hàng dài từ chân núi lên đến đỉnh tại các danh thắng nổi tiếng đã trở thành "đặc sản" khó quên.

Những trải nghiệm "sống như người Trung Quốc" của du khách

Áp lực lên hạ tầng là có thật. Công suất cáp treo và các dịch vụ an ninh dù được nâng cấp liên tục vẫn khó lòng đáp ứng dòng người khổng lồ. Nhiều du khách phải đánh đổi hàng giờ chờ đợi mệt mỏi chỉ để đổi lấy vài phút đứng trên đỉnh cao chinh phục. Thế nhưng, sức hút của những hành trình leo núi vẫn không hề suy giảm. Đó là khao khát được "thoát ly" khỏi nhịp sống văn phòng, là nhu cầu chinh phục và tìm về với thiên nhiên, dù đôi khi hành trình ấy giống một cuộc hành quân hơn là nghỉ dưỡng.

Sự bùng nổ của du lịch đại chúng đang đặt ra bài toán hóc búa cho các nhà quản lý về khả năng chịu tải của điểm đến. Ngành du lịch Trung Quốc tăng trưởng gần 10% trong năm qua, vượt xa mức trung bình toàn cầu, đưa quốc gia này tiến gần hơn đến vị thế nền kinh tế du lịch số một thế giới. Tuy nhiên, để duy trì sức hút, Trung Quốc cần cân bằng giữa việc đón tiếp lượng khách khổng lồ và việc bảo tồn những giá trị nguyên bản, không để sự chen lấn làm bào mòn cảm xúc của lữ khách.

Khánh Linh / Travellive+

Wednesday, August 19, 2026

TRONG TÌNH YÊU, KHI KHÔNG TÌM ĐƯỢC MỐI NÀO NGON HƠN, NGƯỜI TA GỌI ĐÓ LÀ CHUNG THỦY?


Khi bạn đã có một cam kết dài lâu với một người, đừng tự cho phép mình đi tìm sự hoàn hảo ở người khác

Số tự nhiên nào là lớn nhất? Không có. Ai là người phù hợp nhất với bạn? Rất khó trả lời bởi luôn có một số lớn hơn số a, và luôn có một người ngoài kia tốt hơn sự lựa chọn của bạn. Và phải chăng, khi không tìm được mối nào ngon hơn, người ta gọi là "chung thuỷ"?

Trong bộ phim Before We Go (2014), Captain America, à không, nhân vật của Chris Evan đã từng nói: "Khi cô đã đính ước với một người, đừng cho phép bản thân mình đi tìm sự hoàn hảo ở người khác".

Nhưng đời không như là phim. Trên đời đúng là không có ai hoàn hảo, nhưng rõ ràng tồn tại những người ở gần mức hoàn hảo hơn người khác. Và chúng ta vẫn luôn bị hấp dẫn bởi những người như thế, những mối "ngon hơn" như thế. Một khi đã xuất hiện người khác khiến ta mộng mơ về tương lai rồi, mọi bất cập của hiện thực bỗng nhiên hiện ra rõ rệt hơn bao giờ hết, thúc đẩy ta "có mới nới cũ".

Bạn đã bao giờ nghe đến câu nói "Tình nhân nhãn lý xuất Tây Thi", ngụ ý: trong mắt kẻ si tình, người tình luôn đẹp nhất. Câu nói trên không chỉ đề cập đến ngoại hình mà còn là tính cách, lối sống. Khi mới yêu, não bộ chúng ta tự động bỏ qua những nhược điểm của đối phương và chỉ tiếp cận những ưu điểm, khiến cho người ta yêu trở nên hoàn hảo, vĩ đại, không tì vết, không thể thay thế.

Thế nhưng, con người ta, theo quy luật tự nhiên, phải ngày càng trưởng thành, thông minh, lí trí và bớt sống theo cảm tính hơn. Khi cảm xúc phai nhạt dần theo thời gian và nhường chỗ cho lí trí, những nhược điểm của đối phương mà não bộ trước đây từng bỏ qua, đột nhiên xuất hiện trở lại. Bạn sẽ dần dần nhận ra người yêu bạn lười biếng, sân si, bốc đồng và ti tỉ những tính xấu khác. Tuy nhiên, nếu mọi thứ vẫn còn nằm trong giới hạn chịu đựng của bạn, bạn sẽ tặc lưỡi cho qua và nghĩ "trên đời này chẳng có ai hoàn hảo cả, đã yêu nhau thì nên chấp nhận cả những tính xấu của nhau".

Đó là khi bạn chưa gặp ai "hoàn hảo" hơn mà thôi.

Nếu không có những cuộc phát kiến địa lý từ thế kỉ 15, có lẽ người Trung Quốc vẫn nghĩ sông Trường Giang của họ dài nhất thế giới. Nếu không tiếp xúc với những con người mới, có lẽ ta vẫn nghĩ người tình đang ngày đêm bỏ bê cảm xúc của ta là người tốt nhất trên đời.


Thế rồi một ngày kia, "mối ngon hơn" xuất hiện trong cuộc đời bạn, gợi lại cho bạn những cảm xúc hồi hộp, hưng phấn, tò mò, thích thú như thuở ban đầu với người cũ. Đến lúc đó, một cách rất tự nhiên, mọi động lực và sự cố gắng của bản thân bạn để chịu đựng những nhược điểm của người cũ bỗng tan biến như một làn khói.

Người yêu trước đây bỗng hiện ra trong mắt bạn nguyên vẹn là một con người cũ kĩ, nhàm chán với tất cả những tật xấu mà bạn đã chịu đựng bấy lâu nay: lười biếng, sân si, bốc đồng, vô tâm.

"Sao mắt em to thế, mũi em thô thế, lông mày em rậm rạp thế?", người tình trong mắt hoá Tây Thi đâu rồi? Khi đã hết yêu rồi, Tây Thi ngày nào sẽ hoá thành Thị Nở đầy nhược điểm. Những nhược điểm đó trước giờ vẫn ở đó, chẳng qua là khi yêu, não bộ bạn giấu chúng đi. Hết yêu rồi, chính bộ não lại đem tất thảy những thói hư tật xấu đó ra trưng bày một cách rõ rệt nhất trước mặt bạn như ngầm quyết định thay con tim rằng: đã đến lúc phải dừng lại.

Bạn đã từng chạy xe 20km dưới mưa để đưa người thương đi ăn lẩu. Nhưng đó là khi bạn chỉ có một người thương. Khi xuất hiện một cô gái khác, bạn cũng thương, và cô gái đó chỉ ở cách bạn 5km, tự bạn sẽ thấy mệt mỏi vì "yêu xa" và khoảng cách bỗng dưng trở thành một vấn đề vô cùng to tát. Không còn gấp gáp, không còn khẩn trương, những cuộc hẹn cũng thưa dần, những câu chuyện cũng từ đó mà nhạt dần, báo hiệu cho một kết thúc đang tới.

Bạn sẽ thấy hối tiếc những ngày tháng xưa vô cùng, khi bạn còn đủ kiên nhẫn mà chịu đựng những góc khuất không hoàn hảo của người cũ. Bạn nhắn tin, người đó không trả lời. Bạn nuốt giận vào lòng để nhắn thêm một tin nữa, vì lúc đó họ còn quan trọng với bạn, bạn vẫn còn quan tâm. Bạn từng đợi người yêu trang điểm, thay quần áo đến nửa tiếng đồng hồ mà vẫn vui vẻ niềm nở, vì lúc đó chưa có ai xinh đẹp hơn, khẩn trương hơn, nhanh nhẹn hơn xuất hiện trong đời bạn. Khi một người tốt hơn xuất hiện, tự khắc chúng ta sẽ không còn kiên nhẫn với nhau nữa.


Khi tình yêu vốn đã hàm chứa nhiều lục đục, sự xuất hiện của "mối ngon hơn" chỉ là chất xúc tác của đổ vỡ. Trong bất kì một mối quan hệ nào cũng tồn tại một người luôn phải hạ mình để bao dung cho những khuyết điểm của người còn lại. Và khi "mối ngon hơn" xuất hiện, nhắc nhở bạn rằng "bạn có giá hơn thế, xứng đáng với những điều tốt đẹp hơn thế", tự khắc bạn sẽ thấy không cần phải hạ mình nữa.

Sẽ lại có người khen bạn xinh xắn, dễ thương, thú vị. Sẽ lại có một người trả lời tin nhắn của bác với tốc độ tên lửa. Sẽ lại có người dịu dàng, ân cần, dành nhiều thời gian và sự quan tâm hơn cho bạn. Sẽ có người không quản đường sá xa xôi, mưa gió sấm chớp để đưa đón bạn. Gặp một người ân cần như thế, bạn sẽ cảm thấy bản thân mình đáng yêu hơn, đáng được tôn trọng hơn. Những lời cay đắng "sao em trẻ con thế, sao em nông cạn thế?" sẽ được thay bằng những mật ngọt rót tai "anh thích sự nhí nhảnh, sôi nổi, vô tư của em".

Bạn có chắc rằng đây là người tốt hơn không? Bạn có chắc rằng những tình cảm nồng nhiệt mà bạn nhận được từ "mối ngon hơn" sẽ lâu bền hơn không, hay đây chỉ là giai đoạn 1 của vòng lặp vĩnh cửu "cả thèm chóng chán" và "mối ngon hơn" thực chất là phiên bản 2.0 của người yêu cũ - người mà bạn đã từ bỏ?

Rất có thể, những âu yếm ân cần phút ban đầu chỉ là lời chót lưỡi đầu môi, thốt ra từ những con người đang bị cảm xúc đánh lừa. Chính bạn và "mối ngon hơn", với tất cả những háo hức cho một mối quan hệ mới và nóng lòng được thoát khỏi mớ bòng bong cũ, một lần nữa bị sự mù quáng thuở ban đầu che mắt.

Khi tất cả những ảo tưởng phút ban đầu trôi qua, liệu hai bạn còn can đảm và kiên nhẫn để đi cùng nhau tới cuối đời, hay lại có những "mối ngon hơn" xuất hiện, lại đổ vỡ, lại chia xa, lại tự an ủi mình rằng tất cả những va vấp ngổn ngang đó chính là tuổi trẻ?


Biết đâu "mối ngon hơn" cũng đầy những khuyết điểm mà bạn (tạm thời) chưa nhìn thấy. Và biết đâu người đó đối tốt với bạn cũng chỉ vì đang ngụp lặn trong ảo giác "tình nhân nhãn lý xuất Tây Thi"? Tôi không nói bạn cứ phải ngụp lặn mãi trong một mối quan hệ khiến bạn buồn bã, khổ sở. Tôi chỉ khuyên bạn rằng hãy kiên nhẫn và chớ có vội vàng liêu xiêu trước một bóng hình khác. Cuộc đời này vô thường lắm, "mối ngon nhất" suy cho cùng là người đi với ta đến hết đời. Mà trên chặng đường ấy, cứ thấy chiếc xe nào nhanh hơn là bạn lại náo nức đòi trèo lên, thì khó mà tìm được mối ngon nhất lắm. Bởi núi cao còn có núi cao hơn, mối ngon rồi sẽ có mối ngon hơn.

Chưa tìm được mối nào ngon hơn, người ta gọi là "chung thuỷ"? Người trẻ đang ngày càng hạ thấp giá trị của hai tiếng "chung thuỷ" thiêng liêng.

"Chung" là cuối, "thuỷ" là đầu. Trong tình yêu và trong đời sống vợ chồng chúng ta thường nhắc tới cái từ "chung thủy". Hiểu nôm na là có đầu có cuối, đi từ đầu đến cuối. Ý các cụ là hãy sống từ lúc bắt đầu gặp nhau cho tới tận lúc cuối đời. Nếu người đó rời bỏ bạn chỉ vì kiếm được "mối ngon hơn", họ vốn trước giờ chưa bao giờ chung thuỷ. Cũng như bạn, khi bạn kiên nhẫn và chịu đựng một mối quan hệ độc hại chỉ vì chưa có ai thay thế, đó cũng không phải là chung thuỷ.

Tất cả chỉ là sự tạm bợ thôi. Mà 2018 rồi, đừng tạm bợ nữa.

Theo Kenh14

TÂN MÙI THẤT TỊCH - LÝ THƯƠNG ẨN


Tân Mùi thất tịch

Khủng thị tiên gia hiếu biệt ly,
Cố giao thiều đệ tác giai kỳ.
Do lai bích lạc Ngân Hà bạn,
Khả yếu kim phong ngọc lộ thì.
Thanh lậu tiệm di tương vọng cửu,
Vi vân vị tiếp quá lai trì.
Khởi năng vô ý thù ô thước,
Duy dữ tri thù khất xảo ty.


辛未七夕 - 李商隱

恐是仙家好別離
故教迢遞作佳期
由來碧落銀河畔
可要金風玉露時
清漏漸移相望久
微雲未接過來遲
豈能無意酬烏鵲
惟與蜘蛛乞巧絲


Ngày thất tịch năm Tân Mùi
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Non tiên bày cảnh chia ly.
Xa xăm cách trở, mấy khi xum vầy.
Ngân Hà tít tắp tầng mây.
Sương thu móc ngọc, chốn đây đợi chờ.
Giọt đồng canh điểm bơ vơ.
Ánh mây chưa nối, đôi bờ còn xa.
Bắc cầu ô thước mà qua.
Đừng dăng tơ nhện, khéo mà làm chi ?.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Thương Ẩn 李商隱 (813-858) tự Nghĩa Sơn 義山, hiệu Ngọc khê sinh 玉谿生, người Hà Nội, Hoài Châu (nay là Tầm Dương, phủ Hoài Khánh, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ sa sút. Thuở thiếu thời giỏi văn thơ, được giao du với các con của tể tướng Lệnh Hồ Sở 令狐楚, trong đó có Lệnh Hồ Đào 令狐綯. Bấy giờ trong triều có hai phe đối nghịch nhau, tranh quyền đoạt lợi, một phe là Ngưu Tăng Nhụ 牛僧孺, phe kia là Lý Đức Dụ 李德裕, hầu hết quan lại đều bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp ấy. Sở theo phe Ngưu. Năm Lý Thương Ẩn mười bảy tuổi (829), Sở tiến cử làm tuần quan mạc phủ. Năm hai mươi lăm tuổi (837), ông lại được Lệnh Hồ Đào khen ngợi, nâng đỡ nên đỗ tiến sĩ năm Khai Thành thứ 2. Năm sau ông được Vương Mậu Nguyên 王茂元, tiết độ sứ Hà Dương mến tài, dùng làm thư ký và gả con gái cho. Chẳng may, Vương thuộc phe Lý Đức Dụ khiến ông trở thành kẻ vong ân bội nghĩa, xảo quyệt vô hạnh trong mắt Lệnh Hồ Đào. Vương Mậu Nguyên chết, rồi Lý Đức Dụ thất thế, ông đến kinh sư nhưng không được làm gì cả. Sau nhờ Trịnh Á vận động, ông được làm chức quan sát phán quan. Trịnh Á bị biếm ra Lĩnh Biểu, ông cũng đi theo. Ba năm sau ông lại trở về, làm huyện tào tại Kinh Triệu. Ông nhiều lần đưa thư, dâng thơ cho Lệnh Hồ Đào để phân trần và xin tiến dẫn, nhưng vẫn bị lạnh nhạt. Tiết độ sứ Đông Thục là Liễu Trọng Hĩnh dùng ông làm tiết độ phán quan, kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Liễu bị bãi quan, ông cũng mất chức. Như thế là ông mắc kẹt giữa hai phái, chưa hề được đắc chí trên hoạn lộ, cứ bôn tẩu khắp nơi: Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Từ Châu nương nhờ hết người này đến người khác, long đong khốn khổ. Cuối cùng ông về đất Oanh Dương thuộc Trịnh Châu rồi bệnh chết năm 46 tuổi.

Nguồn: Thi Viện



QUAN NIỆM "CÔ HỒN" BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU

Tháng 7 âm lịch từ lâu đã gắn liền với tên gọi "Tháng Cô hồn" cùng vô số kiêng kỵ dân gian khiến không ít người e sợ. Tuy nhiên, dưới góc nhìn tôn giáo và tín ngưỡng, đây không phải thời điểm của những điềm xấu hay sự quấy phá âm linh, mà là mùa của lòng từ bi, sự xá tội và đạo hiếu hy sinh cao đẹp.

Tam Quan Đại Đế, là những vị tối cao ngự trị cõi càn khôn trong thần phả Đạo giáo, bao gồm Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan.

Cứ mỗi độ đến tháng 7 âm lịch, không khí linh thiêng của "Tháng Cô hồn" lại trùm lên đời sống tâm linh của người Việt. Cùng một khoảng thời gian, người Việt vừa tất bật chuẩn bị mâm cúng chúng sinh, vừa thành kính lên chùa dự đại lễ Vu Lan báo hiếu. Sự đan xen giữa quan niệm dân gian về "Tháng Cô hồn" và nghi lễ Phật giáo không phải là điều ngẫu nhiên, mà là kết quả của một quá trình giao thoa lịch sử, tôn giáo sâu sắc qua hàng ngàn năm.

Nguồn gốc "Tháng Cô hồn"

Để hiểu vì sao tháng 7 âm lịch lại mang danh "Tháng Cô hồn", cần ngược dòng lịch sử về thời kỳ trước khi Phật giáo du nhập sâu rộng vào Trung Quốc. Thời bấy giờ, tư tưởng Đạo giáo tu tiên giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tâm linh, lấy các vị thánh tiên cai quản Trời - Đất - Chúng sinh làm gốc rễ, đứng đầu là Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Theo quan niệm Đạo giáo, vũ trụ được cai quản bởi Tam Quan Đại Đế, tương ứng với 3 ngày lễ lớn trong năm:

Tết Thượng Nguyên (15/1 âm lịch): Ngày sinh của Thiên Quan Tứ Phúc Đại Đế. Dân gian lập bàn thờ khấn vọng ngài để cầu mong một năm bình an, đón nhận phúc lộc.

Tết Trung Nguyên (15/7 âm lịch): Ngày sinh của Địa Quan Xá Tội Đại Đế. Đây là thời điểm ngài mở lòng từ bi xét giảm tội nghiệt cho các phần âm linh dưới địa ngục.

Tết Hạ Nguyên (15/10 âm lịch): Ngày sinh của Thủy Quan Giải Nguy Đại Đế, vị thần giải trừ tai ách, nguy hại cho chúng sinh.

Tương truyền, trong tháng 7 âm lịch, Diêm Vương ban lệnh mở Quỷ Môn Quan để các cô hồn, ma quỷ chịu tội được thoát khỏi cảnh giam cầm, quay về trần thế. Các âm linh này phải trở về trước giờ Tý (12 - 1 giờ đêm) của ngày rằm tháng 7. Xuất phát từ thực tế đó, dân gian sắm sửa lễ vật cúng chúng sinh vào ngày 14/7 để bố thí cho những vong linh đói khát.

Hành động "thí thực" này ban đầu xuất phát từ lòng thương hại và mong cầu bình an cho gia đạo, dần trở thành một tập tục quen thuộc. Tại Việt Nam, tư tưởng Tam quan Đại Đế của Đạo giáo cũng tìm thấy sự tương đồng với tín ngưỡng thờ Tứ phủ (Thiên - Địa - Thủy - Nhạc) và Đức Vua Cha, tạo nên một lớp văn hóa tâm linh đồng điệu.

Nhiều người thường lo sợ rằng Quỷ Môn Quan mở ra đồng nghĩa với việc vô số ma quỷ tràn lên quấy phá trần gian. Tuy nhiên, cõi âm hay cõi dương đều có phẩm trật, quy tắc quản lý chặt chẽ từ trung ương đến địa phương dưới sự cai quản của thánh thần. Việc các âm linh được xá tội trở về trong các ngày 13, 14 và 15 tháng 7 hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của chư vị cõi âm. Quan niệm ma quỷ tự do phá phách trần thế là một sự hiểu lầm của dân gian.

Sự dung hòa với Phật giáo

Dưới thời Lương Vũ Đế (502 – 549) – vị "Hoàng đế Hòa thượng" nổi tiếng 4 lần xả thân làm hòa thượng tại chùa Đồng Thái, Phật giáo và Đạo giáo tại Trung Quốc đã có sự giao thoa, dung hòa mạnh mẽ. Tết Trung Nguyên của Đạo giáo và ngày lễ Vu Lan của Phật giáo từ đó gắn liền làm một.

Ngày rằm tháng 7 trong Phật giáo ghi dấu triết lý nhân văn sâu sắc qua kinh điển Vu Lan Bồn, gắn liền với câu chuyện của vị Đại Tôn giả Mục Kiền Liên – vị đại đệ tử thần thông bậc nhất của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Sau khi đắc quả A La Hán, nhờ dùng thiên nhãn, Tôn giả Mục Kiền Liên đau đớn thấy mẹ mình là bà Thanh Đề vì gieo nhiều ác nghiệp khi còn sống nên bị đọa vào kiếp quỷ đói dưới địa ngục. Thân hình bà chỉ còn da bọc xương, bụng to như núi nhưng cổ họng nhỏ như xâu kim, không thể ăn uống. Thương mẹ, Tôn giả dâng bát cơm đầy xuống âm phủ, nhưng thức ăn vừa đưa đến miệng mẹ liền hóa thành tro bụi.

Bất lực, Tôn giả về bái kiến Đức Phật. Đức Phật dạy rằng: "Cha mẹ ngươi tội lỗi quá sâu nặng, một mình ngươi không đủ sức cứu độ, mà phải nhờ đến uy lực của tăng chúng mười phương".

Đức Phật chỉ dạy, từ rằm tháng 4 đến rằm tháng 7 là thời gian chư tăng an cư lập hạ, tinh tiến tu hành. Ngày rằm tháng 7 là ngày chư Phật hoan hỷ vì có nhiều vị tu hành đắc quả. Vào ngày này, nếu làm lễ cúng dường cơm chay lên chư tăng mười phương, nhờ lực đại từ đại bi và công đức tu hành của chư tăng hợp lại thì mới có thể giải thoát cho cha mẹ khỏi cảnh khổ quỷ đói, thậm chí khiến cửu huyền thất tổ được hưởng phúc trên chư thiên.

Mục Kiền Liên Tôn giả làm theo lời Phật dạy và quả nhiên cứu được mẹ siêu thoát. Từ đó, ngày rằm tháng 7 trở thành ngày lễ Vu Lan báo hiếu, thời điểm để người làm con hướng về tổ tiên, cha mẹ bằng tất cả sự kính ngưỡng và lòng biết ơn.

Ban thờ Tam quan đại đế tại chùa Linh Tiên Quán xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Đây là ngôi chùa mang phong cách đạo giáo ở miền Bắc. Ảnh Diệu Hỷ - Tạp chí Nghiên cứu Phật học

Như vậy, từ nét nghĩa Đạo giáo về sự xá tội của Địa Quan Đại Đế cho đến triết lý hiếu đạo và công đức cúng dường của Phật giáo, tháng 7 âm lịch hoàn toàn không phải là khoảng thời gian "xui xẻo" như những thói quen mê tín dị đoan thổi phồng.

Ngược lại, đây là khoảng thời gian đặc biệt để con người thực hành những điều thiện lành. Người xưa từng dạy: Người sống ngay thẳng, tâm không tà, biết kính trên nhường dưới và siêng năng làm điều thiện thì tự thân đã tỏa ra năng lượng an lành, tích tụ phúc đức lớn lao.

Thay vì sống trong nỗi sợ hãi mơ hồ về những điều vô hình hay bị bủa vây bởi những kiêng kỵ vô căn cứ, điều quan trọng nhất cần giữ trong tháng 7 âm lịch chính là một chính niệm sáng suốt, một thiện tâm trong sáng và một ứng xử hòa ái. Khi tâm ta hướng về cái thiện, lòng biết ơn và sự sẻ chia, thì bất kỳ thời khắc nào trong năm cũng đều là khoảng thời gian gieo mầm may mắn và bình an.

Phạm Tuấn / Theo: Dân Việt

Tuesday, August 18, 2026

TẠI SAO VUA BẢO ĐẠI LIÊN TỤC PHẢN BỘI NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU?

Nam Phương hoàng hậu không phải không biết những mối quan hệ ngoài luồng của Bảo Đại và bà không dễ chấp nhận ngay điều này.

Cung An Định khoảng những năm 20 thế kỷ trước. Ảnh tư liệu.

Tại sao Vua Bảo Đại liên tục phản bội Nam Phương hoàng hậu?

Nằm ở phía nam kinh thành Huế, bên bờ sông An Cựu, cung An Định nguyên là tiềm để (nhà ở của hoàng tử trước khi lên ngôi) của Phụng Hóa công Nguyễn Phúc Bửu Đảo (vua Khải Định). Tại đây, mùa thu, năm Quý Sửu (1913) hoàng tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại) chào đời.

Nơi khởi phát những điềm lành

Sau khi lên ngôi, năm 1917 vua Khải Định đã dùng tiền riêng để xây dựng lại nơi này theo lối kiến trúc hiện đại. Vì nghĩ rằng đây là đất phát nên vua đã cho xây Lầu Khải Tường (khởi phát điềm lành). Sau khi công trình này hoàn thành, vua đã ban cho hoàng tử Vĩnh Thụy.

Sách Khải định chính yếu cho biết: Năm Khải Định thứ 4 [1919] chuẩn đem Lầu Khải tường ban cho Trưởng hoàng tử. Vua phê rằng: “Hồi Trung hưng, trẫm làm hoàng tử ở mãi tại một biệt điện. Đến năm Nhâm Dần chiếu theo phủ lệ mới có cơ ngơi này. Mùa hạ năm Bính Thìn đăng quang, tới năm Đinh Tỵ nhận tiền Thượng lộc mới nhân nền đó thuê thợ cho xây dựng, sang mùa đông năm Mậu Ngọ thì hoàn thành, vì nghĩ nơi đó là nơi đất phát mới đặt là lầu Khải Tường [...]. Nay ban lầu ấy cho Hoàng tử trưởng Vĩnh Thụy làm tài sản riêng vĩnh viễn để tỏ lòng ưu ái […]”.

Chân dung Nam Phương hoàng hậu. Ảnh tư liệu

Năm Khải Định thứ 5 [1920]. Mùa hạ, tháng 4, vua chế lời Dẫn cung An Định: “Cung An Định vốn là tiềm để của trẫm hồi mới chưa lên ngôi. Khi trẫm còn là phiên thần tự đặt cho tên là Dinh An Định. Chính tại đây vào mùa thu năm Quý Sửu Hoàng tử trưởng ra đời. Mùa hạ năm Bính Thìn đăng quang, vì nghĩ đấy là nơi đất phát nên xuất tiền lộc xây dựng ra thành lầu, mùa xuân năm Mậu Ngọ thì hoàn thành, đổi lại thành cung, vẫn lấy tên cũ gọi là An Định, còn lầu trên đặt là Khải tường. Mọi thứ vàng bạc châu báu cùng các đồ đạc trong lầu đều mua hoặc chế tạo bằng tiền lộc riêng của trẫm. Ở các nơi khác đều như thế cả, là bởi trẫm chuẩn bị sẵn cho Hoàng tử trưởng sau này […]. Việc trời khó lường nên con người phải phòng bị, âu cũng là nghĩ mai sau Hoàng trưởng tử không được như trẫm bây giờ, nên mới phải lo trước như thế […]”.

Vì được coi là nơi khởi phát những điều lành, nên sau khi được tấn phong (1922), cung An Định trở thành tiềm để của Đông cung thái tử Vĩnh Thụy. Khi vua Vĩnh Thụy nối ngôi, nơi đây còn là địa điểm tổ chức những sự kiện, buổi lễ quan trọng của của hoàng gia, có thể kể đến lễ Thiên xuân của Đông cung Thái tử Bảo Long. Châu bản triều Nguyễn ngày 13 tháng 11 năm Bảo Đại 18 (1943) cho biết ngày lễ Thiên xuân của Đông cung Thái tử Bảo Long cũng từng tổ chức tại đây. Bản tấu của Bộ Lễ nghi Công tác, phần cuối viết: “Thần bộ phụng chiếu năm ngoái lễ ấy phụng chuẩn làm tại cung An Định, năm nay nên làm tại Nội hay tại cung An Định”…

Nơi khởi phát buồn đau, chia ly

Được xem là nơi khởi phát những điềm lành, nhưng từ khi Bảo Đại thoái vị, Nam Phương cùng các con và Đức Từ Cung dọn về đây sinh sống, cung An Định lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác, đó là nơi khởi phát (bắt đầu) những ngày tháng buồn đau, chia ly, hoặc là nơi “an bài” theo “định mệnh” của hoàng hậu cuối cùng của triều Nguyễn.

Trong sách Nam Phương hoàng hậu cuối cùng của vương quốc An Nam, tác giả Lý Nhân Phan Thứ Lang cho biết, cung An Định nằm bên bờ sông An Cựu - một nhánh của sông Hương với một màu nước có “một chút gì trúc trắc”, tựa như mối tình chợt đổi màu theo nắng mưa mà ca dao ghi lại:

Núi Ngự Bình trước tròn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Vì thầy mẹ bên anh lắng đục tìm trong
Nên duyên nợ chàng thiếp cứ long đong rứa hoài…

Được xây dựng bên một dòng sông như thế, nên cung An Định dường như cũng “đẫm buồn” theo và là nơi hoàng hậu Nam Phương đã nhiều lần rơi nước mắt.

Bảo Đại nổi tiếng là người đào hoa. Ảnh tư liệu.

Những giọt lệ đầu tiên của Nam Phương được ông Phạm Khắc Hòe (nguyên tổng lý văn phòng của hoàng đế) chứng kiến trong ngày cựu hoàng Bảo Đại chia tay gia đình ra Hà Nội làm cố vấn theo lời mời của Chính phủ. Vào 6 giờ sáng 2/9, ông Phạm Khắc Hòe cùng Bộ trưởng Lê Văn Hiến đến cung An Định. Xe của hai ông đã vào đậu ngay trước phòng khách mà trong cung vẫn tối mò mò, im phăng phắc - chỉ nghe có tiếng gõ mõ niệm Phật từ trên lầu vọng xuống.

Một lúc sau, Nam Phương trong sắc phục màu xanh da trời, từ trong nhà đi ra cùng con trai là Bảo Long và ba con gái là Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung. Cựu hoàng Bảo Đại “tới hôn vợ, hôn các con với những lời âu yếm bằng tiếng Pháp, đây là lần đầu tiên trong đời mình, ông Vĩnh Thụy đi xa mà không ai tiễn đưa ngoài vợ con”.

Nam Phương với sắc mặt buồn “đưa tay trái lên cổ sửa lại sợi dây vàng đeo thánh giá lấp trong áo, tay phải cầm mùi xoa lau nước mắt” trong tiếng mõ tụng kinh của bà Từ Cung (mẹ Bảo Đại) từ “trên lầu vọng xuống đều đều buồn bã”. Cựu hoàng “khóe mắt hơi ướt, nhưng miệng vẫn mỉm cười, bế Phương Dung lên hôn một lần nữa, rồi bỗng nói to: Thôi đi”. Bà Nam Phương mở to mắt “nhìn theo như muốn níu ông chồng lại, nhưng ông này không quay lại”…

Ngay sau khi ra Hà Nội, Bảo Đại liên tiếp có các mối quan hệ tình ái ngoài luồng. Ông quan hệ kiểu già nhân ngãi non vợ chồng với Mộng Điệp. Bất chấp mọi dị nghị, ông công khai quan hệ với vũ nữ Lý Lệ Hà...

Nam Phương bắt đầu sống những ngày tháng buồn đau, chia ly tại cung An Định cùng với Đức Từ Cung (trước đây mỗi người một cung riêng). Quan hệ giữa hai người vốn không êm thấm gì, không chỉ là giữa mẹ chồng và nàng dâu, mà do hoàn cảnh tính cách hoàn toàn khác hẳn nhau. Bà Từ Cung xuất thân trong một gia đình nghèo khó, đến mức phải bán con làm hầu gái cho một bà chúa, sau đó được lấy sang hầu hạ bên dinh ông Bửu Đảo, rồi vì may mắn có thai với ông chủ mà thành mẹ vua. Trong khi đó, Nam Phương lại sinh ra trong một gia đình nhung lụa, được học hành đến nơi đến chốn, ngay ngày cưới đã được tấn phong là hoàng hậu…

Nam Phương hoàng hậu cùng các con ở Huế. Ảnh tư liệu.

Nam Phương không phải không biết những mối quan hệ ngoài luồng của Bảo Đại và bà không dễ chấp nhận ngay điều này. Trong lần ông Nguyễn Khắc Hòe nhận lời đem thư của Bảo Đại về Cung An Định, bà đã gặng hỏi ông rất nhiều về mối quan hệ giữa Bảo Đại và Lý Lệ Hà, với vẻ mặt đượm buồn và những giọt nước mắt.

Nhưng Nam Phương quá nề nếp và kiêu hãnh (lá thư gửi Lý Lệ Hà phần nào nói nên điều đó), nên bà đã không cố gắng giành giật lại chồng bằng những chiêu thức mà bà không cho là xứng đáng với mình. Chính vì thế tình cảm vợ chồng giữa bà và Bảo Đại ngày càng một xa cách và không thể vãn hồi được.

Hơi nặng tai, Nam Phương sống âm thầm trong cung An Định và gồng mình để nuôi dạy, giữ gìn con cái. Năm 1947, bà đưa các con sang Pháp định cư và sống những tháng còn lại trên đất khách.

H. Lê / Theo: Thời Trang Vàng