Thursday, August 13, 2026

ỨNG DỤNG "VÔ VI" TRONG CUỘC SỐNG THƯỜNG NGÀY

Thuận theo tự nhiên để cuộc sống hạnh phúc hơn (ảnh: Universityhealthnews
)

Nhà tâm lý học người Mỹ tin rằng tư tưởng vô vi của Đạo gia có thể được ứng dụng trong cuộc sống và đem lại rất nhiều lợi ích tuyệt vời.

Trải qua hàng ngàn năm, tư tưởng vô vi của Đạo gia đã ảnh hưởng đến cách đối nhân xử thế của nhiều người. Ngay cả trong xã hội hiện đại ngày nay, tư tưởng vô vi vẫn giữ vững được vị trí của mình.

Tào Quân Hồng, một nhà tâm lý học người Mỹ gốc Hoa với 15 năm kinh nghiệm đã khuyên mọi người dùng thái độ vô vi để đối mặt với những vấn đề khác nhau trong cuộc sống thường ngày. Cô nói rằng, “Văn hóa phấn đấu” (hustle culture, một loại văn hóa khích lệ nhân viên làm việc quá thời gian) đã ảnh hưởng rất tiêu cực đến mọi người.

“Văn hóa phấn đấu” đang vắt kiệt sức của không ít bạn trẻ (ảnh: Aia)

Nhưng quan niệm vô vi của người xưa có thể giúp mọi người sống một cuộc sống cân bằng hơn, thành công hơn và có thể đạt được khát vọng của bản thân tốt hơn.

Tào Quân Hồng chia sẻ rằng, vô vi không có nghĩa là không làm gì hoặc chểnh mảng hay lười biếng, mà là để mọi thứ diễn ra tự nhiên, buông bỏ mong muốn kiểm soát mọi thứ. Vô vi nhấn mạnh vào hành động khi cần thiết, nhưng không thúc ép bản thân quá nhiều và tạo áp lực quá lớn cho chính mình.

Cô nói rằng, cô luôn ứng dụng vô vi trong công việc. Bởi vì, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, vô vi có thể giúp giảm căng thẳng và lo lắng, đồng thời, tăng sự hài lòng và hạnh phúc một cách tổng thể.

Dưới đây là một vài cách để có thể áp dụng vô vi trong cuộc sống hàng ngày:

1. Chấp nhận thực tế

Tào Quân Hồng lấy ví dụ, khi bạn đang tổ chức một bữa tiệc, tâm thái vô vi cho bạn biết rằng, mọi thứ có thể không như mong đợi, vì vậy đừng bận tâm quá nhiều đến từng chi tiết. 

Sẵn sàng chấp nhận rủi ro (ảnh: Careerlink)

Tương tự như vậy, trong công việc khi không được thăng chức như mong đợi, bạn nên xem nhẹ, ung dung tự tại. Tào Quân Hồng thích nói với bản thân: “Tôi không thể kiểm soát mọi thứ, nhưng bất kể điều gì xảy ra, tôi đều có thể tận dụng nó.“

2. Chấp nhận khuyết điểm

Cô nói rằng, hãy để mọi thứ phát triển theo cách tự nhiên và đừng vội vàng mong muốn gặt hái thành công; nên hiểu rằng không có việc gì trên thế gian là thập toàn thập mỹ cả.

Cô đề cập rằng, nếu bạn học một ngôn ngữ hoặc nhạc cụ mới lần đầu tiên, hãy sẵn sàng mắc lỗi. Bạn sẽ học hỏi được kinh nghiệm từ những sai lầm này.

3. Nhận thức chánh niệm

Tào Quân Hồng viết rằng, chánh niệm (mindfulness) có nghĩa là tập trung vào những suy nghĩ và cảm xúc trong thời điểm hiện tại mà không phán xét. 

Cẩn thận cảm nhận mọi thứ xung quanh, đó chính là một phần của chánh niệm (ảnh: Haycafe)

Bạn có thể ghi lại những chi tiết nhỏ xung quanh mình. Ví dụ, làn da cảm thấy thế nào khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời? Bạn cũng có thể chú ý lắng nghe âm thanh của thiên nhiên, chẳng hạn như tiếng chim hót líu lo và tiếng lá xào xạc, hoặc quan sát hình dạng và màu sắc của hoa.

Cô nói rằng, khi bạn tập trung vào những gì đang xảy ra trong thời điểm hiện tại một cách thân thiện và hiếu kỳ, bạn sẽ có thể đạt được trạng thái vô vi.

Uyển Nhi / Theo: Epoch Times

Wednesday, August 12, 2026

BỐN ĐIỀU ĐỨC PHẬT KHÔNG THỂ XOAY CHUYỂN ĐƯỢC

Chuyện kể rằng, một hôm Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dẫn các đệ tử của mình đi đến một vùng quê nhỏ. Sáng sớm hôm ấy, ánh nắng chan hòa, chim muông hót vang, hương thơm dìu dịu. Đức Phật cùng các đệ tử ngồi lại trên thảm cỏ bên bờ sông, cùng ngắm vạn vật đua chen sức sống.


Bỗng có một đệ tử cất tiếng hỏi Đức Phật Tất Đạt Đa: “Thưa Đức Thế Tôn, ngài có đầy thần thông và từ bi, cớ sao trên đời vẫn còn quá nhiều chúng sinh chịu khổ vậy?”.

Đức Phật thoáng nhìn người đệ tử, mỉm cười đầy từ bi rồi ôn tồn giảng: “Ta dẫu có thần thông lớn ngần nào nhưng cũng có bốn điều vẫn là không thể làm được”.

Các đệ tử vô cùng băn khoăn: “Thưa Đức Thế Tôn, đó là những việc gì ạ?”.

Đức Phật trầm ngâm một hồi, đoạn nói: “Bốn điều ấy chính là:”

1. Một là NHÂN QUẢ không thể đổi thay, người gieo nhân nào thì gặt quả ấy, không ai có thể nhận thay.

2. Hai là TRÍ TUỆ không thể cho, ai muốn có đều phải tự mình tu học.

3. Ba là PHẬT PHÁP không thể diễn tả, chỉ có thể dựa vào ngộ mà đắc được.

4. Bốn là KHÔNG CÓ NHÂN DUYÊN thì không thể độ, người không có duyên thì không bao giờ nghe được những lời ta giảng”.

Các đệ tử nghe xong ai nấy đều bừng ngộ.


Trên đời, có rất nhiều việc là không thể cưỡng cầu. Tất cả chỉ có thể dựa vào một chữ duyên mà thôi. Duyên chưa đủ thì không thể gặp, phận không có thì sao có thể ép buộc được đây?
Đời người ôi chỉ là giấc mộng, mộng tàn rồi thì ảo ảnh cũng vụt tan. Nhân sinh chẳng qua chỉ là một trường mộng ảo, người với người gặp gỡ chẳng phải cũng chỉ vì kết duyên từ muôn vạn kiếp đó sao?

Duyên phận không phải cầu là đến, không phải muốn là được. Chỉ là bạn có đủ thành tín hay không, có đủ thiện lương hay không, có đủ phúc phận hay không mà thôi.

Cũng giống như mưa trời tuy lớn nhưng cây không có rễ thì khó mà thấm nước.

Cửa Phật tuy rộng nhưng chẳng thể nào độ được người vô duyên.

Theo: quydaophatngaynay.org

PHONG LẠC ĐÌNH DU XUÂN KỲ 3 - ÂU DƯƠNG TU


Phong Lạc đình du xuân kỳ 3

Hồng thụ thanh sơn nhật dục tà,
Trường giao thảo sắc lục vô nha.
Du nhân bất quản xuân tương lão,
Lai vãng đình tiền đạp lạc hoa.


豐樂亭遊春其三

紅樹青山日欲斜
長郊草色綠無涯
遊人不管春將老
來往亭前踏落花


Chơi xuân ở đình Phong Lạc
(Dịch thơ: Đồng Thành)

Cây hồng núi biếc bóng chiều vơi,
Nội cỏ mênh mông xanh cuối trời.
Khách thưởng chẳng màng xuân sắp hết,
Trước đình dạo gót dẫm hoa rơi.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Âu Dương Tu 歐陽修 (1007-1072) tự Vĩnh Thúc 永叔, hiệu Tuý ông 醉翁, Lục Nhất cư sĩ 六一居士, thuỵ hiệu Văn Trung 文忠, người huyện Lư Lăng tỉnh Giang Tây, ông là một vị cổ văn gia, lịch sử học gia có tiếng, lại là một thi nhân tài tình phong phú. Ông hiện còn lại Lục nhất từ 3 quyển.

Nguồn: Thi Viện



VẬN MỆNH CỦA DÂN TỘC VIỆT CHÚNG TA ĐÃ TỪNG ĐƯỢC QUYẾT ĐỊNH BỞI NHỮNG ĐIỀU "NHỎ NHOI" NHƯ THẾ

Vâng, khá “nhỏ nhoi” bởi chỉ là những câu nói. Nhưng, những câu nói này thường xuất hiện trong những biến cố lớn, có ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự tồn tại của giang sơn xã tắc, cũng như góp phần định hình nên cương giới lãnh thổ của nước Việt Nam hiện đại.


“Ngồi im đợi giặc, không bằng đem quân ra trước để chặn thế mạnh của giặc”

Khi vua Lý Thánh Tông mất, vua Lý Nhân Tông lên nối ngôi mới 7 tuổi, nhà Tống cho rằng đây là cơ hội tốt để tiến đánh Đại Việt.

Triều đình nhận được tin từ Khu Mật Viện báo quân Tống chuẩn bị kế hoạch đánh Đại Việt, quân lương tập trung ở Ung Châu. Lý Thường Kiệt nghĩ rằng phải tiến đánh Ung Châu trước khi quân Tống tiến sang. Ông tâu với Vua cùng Thái hậu rằng: “Ngồi im đợi giặc, không bằng đem quân ra trước để chặn thế mạnh của giặc”.

Đi kèm với câu nói tiếng này chính là trận đánh vào Ung Châu nổi tiếng trong sử Việt và sử Trung Quốc. Tiến đánh Ung Châu được xem là một trong những chiến công hiển hách nhất trong sử Việt nhằm phá hủy lương thực cũng như các nhu yếu phẩm nhằm chuẩn bị đánh Đại Việt của quân Tống.

Tượng Lý Thường Kiệt trong Đại Nam Quốc Tự.

Lấy tấn công trước để phòng thủ, quân Đại Việt chiếm nhiều Châu Trại trên đất Tống như Khâm Châu, Liêm Châu, Lộc Châu, Bạch Châu, Ung Châu. Quân Tống đại bại, hàng chục tướng nhà Tống bị tử trận. Vết đen duy nhất trong cuộc chiến này chính là việc Lý Thường Kiệt bị nhìn nhận là đã thảm sát thành Ung Châu.

“Xin bệ hạ chém đầu thần trước đã rồi hẵng hàng”

Năm 1285, đại quân Mông Cổ dồn dập từ phía Bắc tiến đánh Đại Việt; quân của Toa Đô bị sa lầy ở Chiêm Thành cũng từ phía nam đánh ngược lên. Đại Việt 2 đầu thọ địch, trước thế giặc mạnh phải rút lui.

Vận nước như nghìn cân treo sợi tóc, vua Trần hội họp Triều đình trong hoàn cảnh vừa rút lui trước thế mạnh của quân Mông Cổ, khuôn mặt tai cũng lo âu, không nhìn thấy niềm tin. Vua Trần thấy thế trong lòng có phần chán nản liền nói một câu: “Hay là nên hàng”, Trần Quốc Tuấn đã khẳng khái nói ngay: “Xin bệ hạ chém đầu thần trước đã rồi hẵng hàng”.

Tượng Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn ở Nam Định.

Câu nói của Trần Quốc Tuấn vang lên như sấm khiến mọi ánh mắt của triều đình đều dồn cả vào ông, gửi gắm vào đó niềm tin và sự trông cậy, vực dậy niềm tin vào sự chiến thắng cho các tướng. Quả nhiên Trần Quốc Tuấn bằng tài thao lược của mình dần dần lấy lại thế trận, rồi chủ động tấn công đánh bại đại quân Mông Cổ.

Ba câu nói quyết định cuộc cờ đất nước

Khi cuộc chiến Nam – Bắc Triều bước vào giai đoạn ác liệt, Mạc Mậu Hợp liền đến hỏi trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm về thế cuộc.

Trạng Trình đáp rằng: “Cao Bằng tuy tiểu, khả diên sổ thế”, nghĩa là ngày sau nước có việc, đất Cao Bằng tuy nhỏ, cũng giữ được phúc đến vài đời. 7 năm sau vua Mạc bị quân Trịnh đánh bật khỏi Thăng Long, nhớ lời dặn cụ trạng liền về đất Cao Bằng, quả nhiên giữ thêm được 96 năm nữa.

Tại Đàng Ngoài Chúa Trịnh nắm hết mọi quyền hành, vua Lê lúc này chỉ là bù nhìn. Chúa Trịnh muốn cướp ngôi vua Lê, nên tìm đến Nguyễn Bỉnh Khiêm để hỏi. Cụ trạng Trình lại nói rằng: “Lê tồn, Trịnh tại; Lê bại, Trịnh vong” khiến chúa Trịnh dù rất muốn nhưng cũng không dám cướp ngôi vua Lê. Quả nhiên sau này khi nhà Lê mất thì chúa Trịnh cũng bị diệt.

Năm 1545 Nguyễn Kim bị đầu độc rồi chết bất ngờ, con rể là Trịnh Kiểm tạm thời lên thay nắm quyền quân đội, sau đó thì Trịnh Kiểm phải trao quyền lại cho con cả của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông.

Tuy nhiên sau đó Nguyễn Uông đột nhiên chết không rõ nguyên nhân, em của Nguyễn Uông là Nguyễn Hoàng (tức con thứ của Nguyễn Kim) linh cảm đây là âm mưu diệt cỏ tận gốc của Trịnh Kiểm, nên nội vã đến tìm gặp cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm xin chỉ dạy.

Cụ trạng Trình đáp rằng: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, nghĩa là tới dãy Hoành Sơn có thể tính kế dung thân lâu dài.

Dãy Hoành Sơn thuộc địa phận Thuận Hóa. Nguyễn Hoàng liền nhờ chị ruột là Ngọc Bảo (tức vợ Trịnh Kiểm) xin anh rể cho mình được trấn thủ ở Thuận Hóa. Trịnh Kiểm cho rằng Thuận Hóa xa xôi, đất đai cằn cỗi, để Nguyễn Hoàng đi sẽ yên tâm hơn, không có ai tranh giành với mình nên đồng ý cho Nguyễn Hoàng đi trấn thủ luôn cả vùng đất cực nam bấy giờ là Thuận Hóa và Quảng Nam, lệ mỗi năm phải nộp thuế là 400 cân bạc, 500 tấm lụa.

Tháng 10/1558, Nguyễn Hoàng cùng gia quyến đến Thuận Hóa giúp dân khai khẩn vùng này, đánh bại quân Chiêm Thành xâm lược, các đời chúa Nguyễn khai khẩn về phương nam, mở rộng dần lãnh thổ.

Đúng 200 năm sau, trải qua 8 đời Chúa Nguyễn đến năm 1758, lãnh thổ Đàng Trong đã vô cùng rộng lớn, trải dài hết vùng đất Nam bộ đến tận vùng cực nam, định hình cho nước Việt Nam ngày nay. Tất cả điều này đều bắt đầu từ một câu nói ngắn gọn của trạng Trình.

Trần Hưng

HÀM NGHỈA CỦA "NGÔN TRUYỀN, THÂN GIÁO" TRONG VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

Cha mẹ chính là những người thầy đầu tiên của con trong cuộc đời. Giáo dục trong gia đình chú trọng vào “ngôn truyền thân giáo”.

Hàm nghĩa của "Ngôn truyền thân giáo" trong văn hóa truyền thống (ảnh minh họa: Vạn Điều Hay)

Thế nào là “ngôn truyền thân giáo”?

“Ngôn truyền” có nghĩa là cha mẹ dùng lời nói để truyền giảng những kiến thức, đạo lý, hành trang cho con trưởng thành. “Thân giáo” là cha mẹ lấy chính bản thân để làm tấm gương giáo dục con; bằng những suy nghĩ, hành động, lời nói tử tế và sự thiện lương mà giáo dục con cái nên người.

Giáo dục trong gia đình có ý nghĩa quan trọng với cả cuộc đời một đứa trẻ. Ngày nay rất nhiều truyền thống về giáo dục trong gia đình đã bị mai một.

Nói về giáo dục, đa số người ta thường chú trọng đến giảng dạy kiến thức, kỹ năng, dùng giáo viên để giải quyết các vấn đề mà quên đi cái gốc của giáo dục. Giáo dục khởi nguồn từ gia đình, lấy gia đình làm gốc. Trồng cây trước tiên phải ươm giống, thành tài trước tiên phải giáo dục thành người. Mà gia đình chính là trường học đầu tiên của con, cũng là khởi nguồn của giáo dục.

Cách giáo dục con cái của danh thần Phạm Trọng Yêm

Thời Bắc Tống có một danh thần tên là Phạm Trọng Yêm, cả đời thanh bần, phẩm hạnh xuất chúng. Ông vô cùng chú trọng việc giáo dục con cái, thiết lập gia phong, ngôn truyền thân giáo.

“Lo trước vui sau, cần kiệm liêm khiết quản giáo gia đình, tuân thủ quy củ, giữ chí lớn, lấy tĩnh dưỡng đức”.

Lời nói và việc làm của ông đã trở thành cái gốc của gia phong trong gia đình. Ông thiết lập những quy tắc của gia tộc, giáo huấn trong gia đình. Nghiêm khắc dạy dỗ con cháu, phẩm hạnh cao thượng của ông được hậu thế muôn đời kính ngưỡng.
 
Dạy con sự lương thiện bác ái

Phạm Trọng Yêm thường dạy các con rằng: “Cứu người gặp nạn là bổn phận làm người”.

(ảnh minh họa: Vạn Điều Hay)

Một lần ông nói con trai thứ là Thuần Nhân, dùng thuyền mang 500 đấu lúa mì tới Tô Châu cứu tế họ tộc. Khi đi qua Đan Dương, anh nghe thấy tiếng khóc bi thảm từ chiếc thuyền gần đó.

Thuần Nhân lần theo tiếng khóc, bước lên thuyền hỏi thăm, biết được là Thạch Mạn Khanh đang hộ tống linh cữu thân nhân về quê an táng; trên đường trở về thì tiền và lương thực đều hết.

Thạch Mạn Khanh, là nhà văn, nhà thơ thời Bắc Tống, từng làm đến chức Thái tử trung doãn, Bí các hiệu lý. Vì ông là một vị quan liêm khiết, nên gia cảnh bần hàn.

Thuần nhân nhận ra Thạch tiên sinh, liền đồng cảm và quyết định tặng 500 đấu mì cho ông. Thạch Mạn Khanh cảm kích không thôi, tiết lộ rằng gia đình ông có ba người chết chưa an táng được. Thuần Nhân rộng lượng, quyết đoán, liền để lại thuyền và đồ đạc có giá trị cho Thạch tiên sinh và đi bộ trở về .

Phạm Trọng Yêm thấy con trai về, liền hỏi: “Con đã giao xong lúa mì chưa?”

Thuần Nhân kể lại sự việc gặp Thạch Mạn Khanh. Phạm Trọng Yêm vội nói: “Sao con không đem lúa mì cho ông ấy?”

Thuần Nhân đáp: “Con đã đưa hết lúa mì cho ngài ấy rồi. Nhưng con thấy an táng ba người thân một lúc như vậy thì không đủ”.

Trọng Yêm lại nói: “Sao con không đưa luôn thuyền cho ông ấy”.

“Vâng, con đã để lại thuyền và đồ đạc cho ngài ấy, nên mới đi bộ trở về ạ”. Thuần nhân lễ phép thưa cha.

Phạm Trọng Yêm mừng rỡ: “Tốt lắm! Không hổ danh là con trai của ta”.

Ăn uống đạm bạc, cần kiệm siêng năng

Khi mãn nhiệm chức quản lý quân đội Quảng Đức, ông chỉ còn một con ngựa, sau đó còn phải bán ngựa mà lấy lộ phí trở về nhà.

Sau này vì lập được công lớn ở biên cương, nên được triều đình ban thưởng rất nhiều vàng bạc. Nhưng ông lại chia hết cho thuộc hạ cấp dưới, không giữ lại cho mình dù chỉ một xu.

Phạm Trọng Yêm thân là trọng thần có địa vị, nhưng nếu nhà không có khách, thì bữa cơm chỉ có một món mặn; cơm ăn áo mặc của vợ con cơ bản đều là tự túc.
 
Lo trước cái lo của thiên hạ

“Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ), là câu nói nổi tiếng của Phạm Trọng Yêm trong tác phẩm Nhạc Dương lâu ký.

Có điển tích kể rằng, Phạm Trọng Yêm từng mua một khu nhà vườn, dự định chuyển tới đó ở. Thầy địa lý nói rằng nơi đây phong thủy cực tốt, ắt sẽ không ngừng có người làm quan. Phạm Trọng Yêm nghe xong nói: “Nếu đã là vậy, thay vì một nhà hiển quý, chi bằng để lại cho thư sinh trong vùng Giang Tô, nếu có thể tới đây thụ nhận giáo dục, vậy mỗi người họ đều có thể hiển quý”. Vì thế nơi này đã được sửa lại thành trường học.

Một lần Phạm Trọng Yêm gọi con cháu tới mà nói: “Lúc nghèo khó, cuộc sống khó khăn, ta lo lắng cung dưỡng phụ mẫu, phu nhân của ta phải tự mình kiếm củi nấu cơm. Khi đã làm quan, thụ hưởng bổng lộc, ta thường lo lắng cho những kẻ hay oán hận, những người không biết tiết kiệm mà tham hưởng phú quý”.

Thụ nhận sự giáo dục đức hạnh của cha, bốn người con trai của ông sau này đều thành đạt, đều tài năng và đức độ. Mỗi người đều theo tâm nguyện của cha mình, trở thành những vị quan thanh liêm, phụng sự cho quốc gia và dân chúng.

Dưới sự giáo dục của Phạm Trọng Yêm, con cháu họ Phạm hưng thịnh nhiều đời (ảnh mịnh họa: Minh Chân Tướng)

Phạm Trọng Yêm từng nhận xét về các con rằng: “Thuần Nhân là người có chí, Thuần Lễ có tĩnh khí, Thuần Túy thì mưu lược giỏi”.

Sở dĩ gia tộc của Phạm trọng Yêm có thể hưng thịnh suốt 8 trăm năm mà không suy bại, là do ảnh hưởng bởi sự giáo dục, ngôn truyền thân giáo của ông.

Chân Mỹ / Theo: Sound Of Hope

Tuesday, August 11, 2026

LƯU BỊ LÀM RƠI ĐŨA KHI NGHE TIẾNG SẤM: NGHỆ THUẬT GIẤU MÌNH KHI CÒN Ở THẾ YẾU

Được đối thủ mạnh hơn mình gấp bội đánh giá đúng năng lực, tưởng là một lời khen, đôi khi lại là bản án tử hình treo lơ lửng. Lưu Bị hiểu điều đó chỉ trong tích tắc, và phản xạ đánh rơi một chiếc đũa đã cứu cả sự nghiệp sau này của ông.


Câu nói khiến một chiếc đũa rơi xuống đất

Sau một trận thua, Lưu Bị tạm nương nhờ Tào Tháo tại Hứa Đô, trong lòng vẫn mang tham vọng khôi phục nhà Hán và đã bí mật tham gia một âm mưu ám sát Tào Tháo cùng vài đại thần khác. Biết mình đang bị theo dõi, ông chọn cách tự đóng vai một người tầm thường, hằng ngày chỉ lo trồng rau sau vườn, tuyệt nhiên không để lộ bất kỳ dấu hiệu nào của chí lớn.

Một hôm, nhân lúc mơ trên cây vừa chín, Tào Tháo mời Lưu Bị đến uống rượu ngắm cảnh, rồi bắt đầu bàn luận xem ai mới thực sự xứng đáng là anh hùng trong thiên hạ lúc bấy giờ. Lưu Bị lần lượt nêu tên hết người này đến người khác, ai cũng bị Tào Tháo gạt đi vì lý do này hay lý do khác. Cuối cùng, Tào Tháo chỉ thẳng vào Lưu Bị rồi chỉ vào chính mình, nói một câu khiến cả bàn tiệc lặng đi: anh hùng trong thiên hạ bây giờ, chỉ có sứ quân và ta mà thôi.

Lưu Bị đang cầm đũa, giật mình đến mức đánh rơi luôn xuống đất. Đúng lúc đó trời nổ một tiếng sấm lớn. Ông nhanh trí cúi xuống nhặt đũa, phân bua rằng mình vốn nhát gan, sợ sấm sét đến mức làm rơi cả đồ ăn trên tay. Tào Tháo bật cười, từ đó càng thêm phần khinh thường, cho rằng một người sợ cả tiếng sấm không đáng để bận tâm đề phòng. Nhờ vậy, sự nghi kỵ tạm thời được gỡ bỏ, và không lâu sau, Lưu Bị tìm được cớ dẫn quân đi đánh Viên Thuật, thoát hẳn khỏi tầm kiểm soát của Tào Tháo.


Được đánh giá đúng, khi còn yếu thế, là một mối nguy

Điều thú vị nhất trong khoảnh khắc này không phải việc Lưu Bị nói dối giỏi. Điều thú vị là Tào Tháo đã hoàn toàn đúng. Trong cả một danh sách dài những nhân vật quyền lực thời bấy giờ, ông chọn ra chính xác người duy nhất sau này thực sự trở thành một thế lực ngang hàng mình. Đánh giá của Tào Tháo về năng lực và tham vọng của Lưu Bị không hề sai một chút nào.

Chính vì đúng đến vậy, nó suýt trở thành một bản án. Khi một người đang ở thế yếu tuyệt đối, sống dưới sự giám sát của một đối thủ nắm toàn quyền sinh sát, việc bị đánh giá chính xác về tiềm năng của mình không phải một lời khen đáng tự hào, mà là tín hiệu báo động cần phản ứng ngay lập tức. Vấn đề không nằm ở việc có năng lực hay không. Vấn đề nằm ở việc ai đang có quyền quyết định số phận của mình lại vừa nhận ra năng lực đó tồn tại.


Một cử chỉ nhỏ đủ sức thay đổi cả một nhận thức

Cái khiến phản xạ của Lưu Bị đáng chú ý về mặt chiến lược không phải việc ông nói dối, mà là tốc độ và sự tinh tế của lời nói dối đó. Ông không cố gắng thanh minh mình không có tham vọng, một hành động chắc chắn sẽ càng khiến Tào Tháo nghi ngờ hơn. Ông chọn một lý do hoàn toàn không liên quan đến câu chuyện đang bàn - nỗi sợ tiếng sấm - để chuyển hướng toàn bộ sự chú ý từ một câu hỏi nguy hiểm sang một chi tiết vô hại và có phần buồn cười.

Chỉ bằng một cử chỉ nhỏ đúng thời điểm, ông thay đổi hoàn toàn cách Tào Tháo nhìn nhận về mình, từ một mối đe dọa tiềm tàng đáng theo dõi sát sao, thành một kẻ nhút nhát không đáng bận tâm. Đây là minh chứng cho việc nhận thức của người có quyền lực về một người dưới quyền mình đôi khi dễ thay đổi hơn nhiều so với thực tế năng lực của người đó, và đôi khi chính điều đó lại quyết định sự sống còn nhiều hơn cả năng lực thực sự.

Biết khi nào nên chứng minh và khi nào nên giấu đi

Phần lớn các câu chuyện về nơi làm việc thường khuyến khích thể hiện năng lực, chủ động khẳng định giá trị bản thân. Câu chuyện luận anh hùng là một trường hợp ngoại lệ đáng ghi nhớ: khi đang ở thế yếu tuyệt đối trước một người có toàn quyền quyết định số phận mình, và mối quan hệ đó chưa đủ tin cậy để đảm bảo an toàn, việc chủ động hạ thấp mức độ đe dọa mà mình thể hiện ra ngoài có thể là lựa chọn khôn ngoan hơn nhiều so với việc chứng minh giá trị bản thân.

Điều thứ hai, dành cho người đang ở vị trí quyền lực: nói ra một nhận định chính xác về năng lực hoặc tham vọng của người dưới quyền, đặc biệt trước đông người, có thể vô tình đẩy người đó vào trạng thái phải phòng vệ khẩn cấp theo những cách khó lường trước. Đôi khi im lặng quan sát mang lại nhiều thông tin hơn là công khai nói ra điều mình đã nhận ra.


Không lâu sau bữa tiệc đó, Lưu Bị rời khỏi Hứa Đô và không bao giờ quay lại dưới trướng Tào Tháo nữa. Có lẽ nếu hôm đó ông phản ứng chậm hơn một nhịp, hoặc không có tiếng sấm nào vang lên đúng lúc, lịch sử Tam Quốc đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác. Bao nhiêu người hôm nay đang ở thế yếu trước một đối thủ hoặc một cấp trên quá tinh tường, và có kịp một phản xạ đủ nhanh khi thời khắc đó xảy đến?

Q.L. / Theo: cafebiz

MỘT SỚM MAI VỀ - TƯỜNG LINH


Một sớm mai về
thơ Tường Linh

Một sớm mai về
Ngày vui thứ nhất
Ta đi chân đất
Mặc áo vải thô
Dẫm lá tre khô
Rụng đầy lối sỏi
Ta cười ta nói
Ta hát nghêu ngao
Bước thấp bước cao
Qua bờ ruộng nhỏ
Mẹ già ta đó
Hái mướp bên rào
Áo nâu thủa nào
Thêm nhiều mụn vá
Cần chi Mẹ à

Một sớm mai về
Thằng bé nhà quê
Thoát tầm lửa đạn
Đầu ngày nắng sáng
Nhà ai chung vườn
Khói bếp mến thương
Thơm xôi nếp mới
Chia xa vời vợi

Một sớm mai về
Tắm nước sông quê
Ngàn đời chẳng đục
Ta buông cần trúc
Bờ cỏ êm ngồi
Con giếc thả mồi
Con rô đớp bóng
Đài sen sương đọng
Hồ lộng màu thu
Trên ngọn mù u
Có đôi chim gáy
Trong chòm lau sậy
Tiếng quốc u oa
Dưới bóng đa già
Cút côi quán nước
Nằm trên cỏ mượt
Ta nhẩm vần thơ
Giấc mơ choàng tỉnh
Ngày ấy… bao giờ?

TƯỜNG LINH

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng phổ nhạc thành bài hát cùng tên.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Nhà thơ Tường Linh có tên khai sinh Nguyễn Linh, sinh ngày 12-12-1931 tại làng Trung Phước, huyện Quế Sơn (nay là Quế Trung, Nông Sơn), tỉnh Quảng Nam. Ông xa quê từ năm 1954, ra sống ở Huế, Quảng Trị. Đến năm 1956 thì vào ở hẳn tại Sài Gòn cho đến nay. Trước năm 1975 ông làm báo tại Sài Gòn, từng có thời gian phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng hoà.

Tường Linh sáng tác nhiều từ những năm 1950, nổi tiếng với những bài thơ về tình yêu quê hương đất nước. Ông thuộc lớp các thi sĩ Quảng Nam xuất hiện vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp. Bài thơ Chị Điện Hoà (1950) và Năm cụm núi quê hương (1954) của ông được nhiều người thuộc lòng, mãi cho đến nay. Đó là loại thơ kể chuyện, rất phù hợp với điều kiện lịch sử - xã hội vào thời điểm ấy. Năm 2011 Tường Linh đã thực hiện một tuyển tập thơ dày 672 trang do Nhà xuất bản Văn học phát hành với sự giúp đỡ của một số thân hữu.

Nguồn: Thi Viện