Friday, October 9, 2026

CÀNG VỀ GIÀ, NHIỀU CẶP VỢ CHỒNG CÀNG HAY CÃI NHAU: NGƯỜI KHÔN NGOAN THƯỜNG LÀM 6 ĐIỀU NÀY THAY VÌ HƠN THUA

Sau nhiều năm chung sống, không ít cặp vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn nhiều hơn khi bước vào tuổi nghỉ hưu. Theo các chuyên gia tâm lý, nguyên nhân thường không nằm ở những chuyện lớn mà xuất phát từ áp lực cuộc sống, thay đổi vai trò và cách ứng xử hằng ngày. Muốn sống bình yên bên nhau, đôi khi chỉ cần cùng thực hiện 6 điều tưởng như rất nhỏ dưới đây.


Không phải tiền bạc hay bệnh tật, những điều nhỏ trong cuộc sống hằng ngày mới là nguyên nhân khiến nhiều cặp vợ chồng tuổi già thường xuyên cãi vã. Chỉ cần cùng thay đổi 6 thói quen, cuộc sống sau nghỉ hưu có thể bình yên hơn rất nhiều.

6 điều giúp vợ chồng tuổi già sống hòa thuận, tránh cãi vã sau nghỉ hưu

Minh bạch chuyện tiền bạc để cả hai đều yên tâm

Nghỉ hưu đồng nghĩa với việc nguồn thu nhập chủ yếu đến từ lương hưu hoặc khoản tích lũy. Vì vậy, việc công khai các khoản thu, chi và cùng nhau bàn bạc kế hoạch tài chính sẽ giúp tránh những hiểu lầm không đáng có.

Thay vì giấu giếm tiền riêng hoặc tranh cãi vì những khoản chi nhỏ, hai người nên thống nhất cách sử dụng tiền để cả hai đều cảm thấy được tôn trọng và có cảm giác an toàn.

Đừng so sánh với người khác

Lương hưu hay điều kiện kinh tế của mỗi gia đình đều khác nhau. Việc đem mình hoặc bạn đời ra so sánh với hàng xóm, bạn bè chỉ khiến tâm lý nặng nề hơn.

Ở tuổi xế chiều, biết hài lòng với những gì mình đang có và tránh mang chuyện thiên hạ về nhà là cách giúp vợ chồng giữ được sự bình yên.


Học cách buông bỏ chuyện cũ

Một trong những nguyên nhân khiến nhiều cặp vợ chồng lớn tuổi thường xuyên cãi vã là liên tục nhắc lại những chuyện đã xảy ra từ nhiều năm trước.

Những sai lầm cũ không thể thay đổi, nhưng sự bao dung ở hiện tại lại có thể giúp cả hai sống nhẹ nhõm hơn. Thay vì nhớ những lần làm tổn thương nhau, hãy nhớ những lúc cùng vượt qua khó khăn, chăm sóc nhau khi đau ốm và cùng nuôi dạy con cái.

Dành thời gian trò chuyện mỗi ngày

Sau khi nghỉ hưu, nhiều người dành hàng giờ trước tivi hoặc điện thoại mà quên mất người bạn đời đang ở ngay bên cạnh.

Một buổi đi dạo sau bữa tối, cùng đi chợ, chăm cây hay đơn giản là trò chuyện về những việc diễn ra trong ngày sẽ giúp duy trì sự kết nối và giảm cảm giác xa cách.

Đôi khi chính những câu chuyện rất bình thường lại là chất keo giữ gìn hạnh phúc lâu dài.

Không can thiệp quá sâu vào chuyện của con cái

Khi con cái xảy ra mâu thuẫn, cha mẹ thường có xu hướng đứng về phía con mình. Tuy nhiên, điều này dễ khiến xung đột trở nên phức tạp hơn.

Ở tuổi nghỉ hưu, cha mẹ nên tôn trọng cuộc sống riêng của các con, chỉ đưa ra lời khuyên khi được hỏi và hạn chế đứng về một phía. Giữ khoảng cách hợp lý cũng là cách bảo vệ sự bình yên của chính mình.


Đừng để chiến tranh lạnh kéo dài

Không có cặp vợ chồng nào tránh được bất đồng. Điều quan trọng không phải là ai đúng ai sai mà là ai sẵn sàng làm hòa trước.

Một lời hỏi han, một cử chỉ quan tâm hay chủ động mở lời sau khi cả hai bình tĩnh lại thường có giá trị hơn việc giữ cái tôi quá lâu. Khi tuổi tác ngày một nhiều, thời gian dành cho nhau cũng trở nên quý giá hơn.

Điều quý giá nhất ở tuổi già là được bình yên bên nhau

Sau nhiều năm đồng hành, điều vợ chồng cần không phải là phân thắng thua trong từng cuộc tranh cãi mà là cùng nhau xây dựng cảm giác an toàn, tin tưởng và thấu hiểu.

Biết nhường nhịn đúng lúc, chia sẻ nhiều hơn và bớt chấp nhặt những điều nhỏ nhặt sẽ giúp những năm tháng nghỉ hưu trở nên nhẹ nhàng, hạnh phúc hơn. Bởi với nhiều người, người bạn đời chính là chỗ dựa quý giá nhất khi bước vào tuổi xế chiều.

Hà Anh / Theo: GĐXH

Thursday, October 8, 2026

SỰ THẬT THÚ VỊ ÍT NGƯỜI BIẾT VỀ LOẠI CÂY CHO QUẢ ĐẶC TRƯNG MÙA THU VIỆT NAM

Những quả hồng rực rỡ treo trên cành trơ lá khiến cây hồng trở thành biểu tượng đặc biệt của mùa thu ở các quốc gia phương Đông.

Ảnh: decodujardin

Cây hồng (Diospyros kaki) thuộc họ Thị (Ebenaceae), là một loài cây ăn quả có nguồn gốc tự nhiên trải dài từ Assam (Ấn Độ) đến miền trung và nam Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan. Ngày nay, cây được trồng rộng rãi ở nhiều vùng ôn đới và cận nhiệt đới, đặc biệt tại Đông Á.

Hồng là cây gỗ nhỏ hoặc cây bụi lớn, có thể sống nhiều năm. Lá thường hình bầu dục, xanh đậm vào mùa sinh trưởng rồi chuyển màu trước khi rụng. Đến mùa quả chín, những trái hồng tròn hoặc hơi thuôn nổi bật trên nền cành lá thưa thớt, tạo nên một khung cảnh rất đặc trưng của mùa thu.

Ảnh: datviettour.com

Điều đặc biệt nhất ở quả hồng là cảm giác “chát” mà nhiều người từng trải nghiệm. Một số giống hồng chứa hàm lượng tannin hòa tan cao khi còn xanh. Chính những hợp chất này tạo ra cảm giác se và khô miệng. Khi quả chín, tannin được chuyển hóa hoặc trở nên ít cảm nhận hơn, khiến thịt quả mềm và ngọt

Quả hồng có thể được chia thành những nhóm giống ăn giòn, ít chát và những giống cần chín mềm mới ngon. Không chỉ ăn tươi, hồng còn được phơi hoặc sấy khô. Trong quá trình này, nước dần bay hơi, đường và hương vị được cô đặc, tạo nên lớp thịt dẻo ngọt đặc trưng. Ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc và Việt Nam, hồng khô từ lâu đã trở thành một sản phẩm truyền thống gắn với mùa thu và mùa đông.

Ảnh: reia

Ở Việt Nam, cây hồng đặc biệt thích hợp với những vùng có mùa đông tương đối lạnh. Một số địa phương ở Tây Nguyên và vùng núi phía Bắc đã hình thành nghề trồng và chế biến hồng lâu đời, trong đó kỹ thuật hồng treo gió tạo ra những quả hồng dẻo, ngọt và có lớp đường kết tinh bên ngoài.

Có lẽ vẻ đẹp của cây hồng nằm ở sự tương phản: mùa hè là tán lá xanh mát, còn khi thu sang, những quả màu cam lại nổi bật giữa những cành cây ngày càng trơ trụi. Một loài cây quen thuộc vì thế vừa là cây ăn quả, vừa trở thành hình ảnh gợi nhớ về mùa thu trong văn hóa Đông Á.

Thanh Bình (t/h) / Theo: kienthuc.net



THỤC TRUNG CỬU NHẬT - VƯƠNG BỘT


Thục trung cửu nhật

Cửu nguyệt cửu nhật Vọng Hương đài,
Tha tịch, tha hương tống khách bôi.
Nhân tình dĩ yếm Nam Trung khổ,
Hồng nhạn na tòng Bắc địa lai?

Bài này viết về tâm trạng khi bị biếm trích ở đất Nam Trung (Ba Thục, tức tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc), chừng như Vương Bột muốn ly khai khỏi phương bắc. Mặc dù Vương Bột không trực tiếp viết về Giao Châu, nhưng trong bày này dường như có phảng phất nỗi niềm về Giao Châu.


蜀中九日 - 王勃

九月九日望鄉臺
他席他鄉送客杯
人情已厭南中苦
鴻雁那從北地來


Ngày mùng chín ở đất Thục
(Dịch thơ: Anh Nguyễn)

Vọng Hương, trùng cửu, lên đài,
Quê người, chiếu lạ, tiễn ai ly đầy.
Nam Trung, chán khổ nơi này,
Chim hồng cõi bắc đến đây làm gì?!...


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương Bột 王勃 (649-675) tự Tử An 子安, người đất Long Môn. Sáu tuổi đã biết làm văn. Mười sáu, mười bảy tuổi nổi danh hạ bút nên vần.

Vương có thói quen, mỗi khi làm văn, mài mực sửa soạn nghiên bút rồi nằm đắp chăn ngủ. Khi tỉnh dậy, cầm ngay bút viết. Vương nổi tiếng là một thi sĩ cao danh thời Sơ Đường (618-713).

Khoảng 675-676, lúc 27-28 tuổi, Vương Bột bị đắm thuyền, chết đuối ở biển Nam Hải trên đường sang Giao Chỉ thăm cha.

Nguồn: Thi Viện

SAO CỨ MỖI ĐỘ THU VỀ TA LẠI THẤY XAO XUYẾN LẠ, THẤY THỜI GIAN QUÁ VÔ TÌNH

Năm nào cũng có mùa thu, mà sao lần nào thu tới, thu đi đều khiến lòng người xuyến xao, bồi hồi đến kỳ lạ. Thu đẹp mà, nắng nhẹ mỏng như tơ, sương giăng giăng lững lờ, heo may lùa khe khẽ, lá khởi sắc vàng khô… Vậy sao thu vẫn buồn, đọng lại trong ta những chênh vênh, tiếc nhớ.


Bởi thu là dấu ấn gợi nhắc nhân sinh vô thường của tạo hóa. Một năm có bốn mùa, thì xuân thu là thi vị nhất. Nhưng xuân hướng tới tương lai thì thu lại hồi tưởng quá khứ. Như đời người Xuân – Hạ – Thu – Đông, sinh trưởng, phát triển rực rỡ, tiếc nuối rồi đi vào giai đoạn cuối thâm trầm. Thu là cái thời điểm hồi tưởng ấy, bởi trong mùa thu, cả sắc, hương của đất trời đều như nhắc nhớ về những gì đã qua.

Nào là nắng, là gió, cứ nhè nhẹ mơn man, không gay gắt, dữ dội để người phải gồng mình mà chống đỡ, che chắn. Nắng thu lung linh, để người đủ nhận ra, cũng là nắng đó, nhưng không bỏng rát. Như ta đến lúc trưởng thành, đối với cùng một thử thách của cuộc đời, cùng một điều có thể trước đây ta thấy thật khó chịu và phiền phức, thì nay chỉ đủ làm ta mỉm cười và thấy nó cũng tốt ra sao.

Gió thu nhè nhẹ, man mát se se, không ồn ào vội vã, nhưng cũng đủ làm lá phải lìa cành. Bởi lá đến lúc phải rời cây thì rời thôi, gió chỉ là một cái cớ. Trong thu, điều gì cũng là đã tới độ, vừa phải và nhẹ nhàng. Cũng giống như đời người, điều gì có thể có thì đều đã có, điều gì không thể có thì cũng không ham hố đấu tranh như xưa, chỉ còn là một niềm tiếc nhớ.

Sắc thu không rực rỡ như xuân, mà nhuốm màu sầu muộn, lá vàng sậm hoặc đỏ au, ghi dấu năm tháng tàn phai, xưa cũ. Bởi:

“Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh” 
(Đoàn Phú Tứ)

Thu sang man mác một màu quá khứ. (Ảnh: blogspot.com)

Hương của mùa thu cũng nhẹ nhàng, xao xuyến mênh mang. Là hương cốm mới, hương lúa chín, hương sen cuối mùa…

Trong cái thứ sắc hương như thế, sao người có thể không nao lòng vì thu. Thế nên dù thu đẹp lắm, lòng người vẫn có chút chững lại, vương vấn. Chắc cũng vì thế mà chữ “sầu” (愁- sầu bi, buồn bã) là gồm chữ “thu” (秋 – mùa thu) và chữ “tâm” (心 – tim). Một cảm giác của mùa thu vương ở trong tim, đó là u sầu vậy.

Thu dù buồn man mác nhưng là lẽ tất nhiên của tạo hóa, một phần không thể thiếu của bốn mùa xoay vần. Đời người cũng vậy, đâu có ai tránh được khoảng thời gian hối tiếc, giao thời, chuẩn bị cho những hành trình mới của sinh mệnh. Dù có là kẻ anh hùng tung hoành thiên hạ, người một thân đầy công danh hiển hách, hay bậc quyền thế một thời uy vũ, thì cũng không thể tránh khỏi cái mùa thu của cuộc đời, không thể tránh khỏi vận mệnh và quy luật của vũ trụ. Có thành (sinh thành) thì sẽ có trụ (trụ vững), hoại (hủy hoại, hỏng dần) và diệt (diệt vong).

Mùa thu như một sự nhắc nhở của đất trời, rằng vạn vật trong vũ trụ này đều phải tuân theo một quy luật bất biến. Con người dù hiển hách đến mấy, cũng phải khiêm nhường trước tạo hóa và chấp nhận sự vô thường này. Thế nên, sớm hiểu được nó, để đừng tự biến mình thành kẻ ngốc chạy theo những ảo ảnh, dục vọng, một đời tham sân si, để rồi đến cuối đoạn đường lại chẳng thể mang theo những gì mình đã tranh đua để đạt được.

“Nào những ai
Kê vàng tỉnh mộng
Tóc bạc thương thân
Vèo trông lá rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi” 
(Cảm Thu, Tiễn Thu – Tản Đà).

Xưa Khổng Tử đi chơi tới một nơi sơn dã trong tiết thu lành lạnh, trời thu xanh lồng lộng. Nghe nói Chu Công cũng từng tới nơi đây. Nhìn về xa, trong cảnh thu chợt lòng nghĩ tới Chu Công, Khổng Tử bỗng thương cảm vô hạn: “Người đi không trở lại, không gian thu mênh mông!”.

Sau đó Khổng Tử và Tử Lộ đi tới bờ sông, cũng lại tức cảnh sinh tình: “Dòng sông cuộn chảy suốt ngày đêm miệt mài không nghỉ, vạn vật trong vũ trụ lẽ nào lại không giống như vậy!”.


Tác giả Lý Hoa Anh trong cuốn sách về trí tuệ Khổng Tử đã bàn về câu chuyện đó: “Thời gian thực sự là kẻ đa tình nhưng cũng vô tình! Bạn xem câu: “Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông, dòng nước xóa đi các sự tích anh hùng; thất bại, thị phi bỗng chốc biến hư không”. Đây chẳng phải là quá vô tình sao? Nhưng “Non xanh vẫn còn đó như ngày nào, mặt trời nhuộm đỏ trời chiều bao độ” thì đây chẳng phải là quá đa tình sao?…

Thời gian đa tình hay vô tình thì đều để con người nhớ rằng mình nhỏ bé biết bao trước thế lực vĩ đại của tạo hóa. Chúng ta không được lựa chọn mình sinh ra như thế nào, nhưng được lựa chọn mình sẽ sống ra sao, và cái việc sống ra sao lại sẽ quyết định sẽ chết như thế nào và đi tiếp nữa trên hành trình mới ra sao. Hãy sống khiêm nhường và biết đủ, bởi dù thế nào thì bạn cũng sẽ không chạy thoát khỏi một lực quản vô hình chi phối đời bạn.

“Sơn thu vân vật lãnh,
Xứng ngã thanh luy nhan.
Nhân sinh vô kỷ hà,
Tâm hữu thiên tải ưu,
Thân vô nhất nhật nhàn”

Dịch Nghĩa:

“Núi mùa thu mây và mọi vật đều lạnh,
Thiệt xứng với nét mặt xanh gầy của ta.
Đời người có gì đâu.
Lòng có mối lo ngàn năm,
Thân không có được một ngày nhàn nhã” 
(Núi thu – Bạch Cư Dị).


Thế đấy, làm người sinh ra hỏi mấy ai không bao giờ có mối lo trong lòng, hỏi mấy ai có thể vui sướng quá ba ngày liên tiếp. Bàn tay chẳng thể nắm chặt từ sáng tới tối, thu chẳng thể không tới, đời người chẳng thể lúc nào cũng theo ý mình. Tự hỏi, rằng nên tranh tranh đấu đấu hay thuận theo dòng chảy cuộc đời, lợi dụng sức nước chảy mà trôi cho tới bến cuối. Dụng lực của tạo hóa để thành tựu bản thân chẳng phải là dễ dàng, đỡ tốn sức, tổn tâm hơn hay sao.

Đời cho ta điều gì thì ta trân quý và tận dụng điều đó, biến cái khó khăn thành sức mạnh để tu dưỡng thân, tâm. Đến mùa thu của cuộc đời, đã là kẻ tự tại, thanh nhàn. Lúc đó, nhìn lá vàng rơi sẽ không thương cảm, tiếc nuối, mà vẫn mỉm cười vì hiểu lẽ nhân sinh, đó là cái lúc lá phải rơi, là để cho cây chuẩn bị vượt qua cái lạnh giá để hồi sinh trở lại vào mùa xuân tới. Tương lai sẽ vẫn tới, một chu kỳ mới lại vận hành.

Cây cỏ vô tình, có lúc phải điêu linh, nhưng người là sinh mệnh có linh hơn mọi vật. Vậy mà, cũng “Trăm lo làm động lòng, vạn sự làm khổ thân; hễ có động thì tinh thần phải lung lay; huống hồ còn nghĩ chuyện quá sức mình, lo chuyện quá tài trí của mình, thì mặt đang hồng hào biến thành cây khô, tóc đang đen biến thành trắng xóa âu cũng là chuyện đương nhiên” – Âu Dương Tu. Thế nên nghĩ nhiều mà làm gì, tính toán nhiều mà làm chi, sao biết việc gì là quá sức mình đây, chi bằng hãy thong dong tự tại. Bởi Xuân Hạ Thu Đông… rồi lại Xuân.

An Nhiên / Theo: vandieuhay

Wednesday, October 7, 2026

VUA LÊ NHÂN TÔNG TÀI ĐỨC THƯƠNG DÂN VÌ SAO PHẢI CHẾT THẢM KHI VỪA 18 TUỔI?

Cái chết của vị vua hiền đức Lê Nhân Tông và thân mẫu trong chính biến năm 1459 khiến các quan văn võ nuốt hận ngậm đau, trăm họ xót thương, than trách thế sự bất công khi để người tốt phải chịu tang thương ai oán. Nhưng đây cũng có thể là một kết cục khó tránh khỏi của nhân quả tất báo…


Một đấng minh quân tài đức vẹn toàn

Vua Lê Nhân Tông (Lê Bang Cơ) là vị hoàng đế thứ ba của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, được vua Lê Thái Tông lập làm hoàng tử chỉ 6 tháng sau khi sinh.

Sử sách mô tả Lê Nhân Tông là vị hoàng đế đức độ, coi trọng Nho học, không đam mê tửu sắc, và biết nghe can gián. Nước Đại Việt dưới thời trị vì của ông đã giữ được sự ổn định cao, kinh tế và giáo dục có sự đổi mới mạnh mẽ, đường xá, cầu cống được xây mới, nông nghiệp phát triển. Dưới thời trị vị của ông, đại quân của nhà Lê còn đánh bại vua Chiêm Bí Cai và sáp nhập xứ Bồn Man vào Đại Việt, mở mang bờ cõi.

Vua giảm sưu thuế, ban thưởng cho công thần, tiêu diệt thảo khấu, loạn đảng, bình định ngoại bang… khiến triều thần kính nể, nhân dân no ấm, đất nước phồn vinh. Ông còn độ lượng với các công thần khai quốc nhưng lỡ có tội và bị xử tử trước đây, ra nhiều chiếu chỉ biểu dương công lao của họ, hoặc trả lại của cải, ruộng đất cho con cháu họ. Tuy nhiên, ông vẫn chưa minh oan được cho vụ án oan sai thảm khốc của Nguyễn Trãi.

Có thể nói Lê Nhân Tông là một trong những vị minh quân hiếm có trong lịch sử phong kiến Việt Nam, ông là vị vua tài đức vẹn toàn và rất được lòng dân. Tuy nhiên, vị vua nhân đức này lại bị chính anh cùng cha khác mẹ của mình là Lạng Sơn Vương – Lê Nghi Dân sát hại trong binh biến đoạt ngôi vị năm 1459 khiến bá quan và dân chúng không khỏi xót thương, oán thán.

Ngày 3 tháng 10 năm Kỷ Mão (tức 28 tháng 10 năm 1459), Nghi Dân mua chuộc được cấm vệ quân, đang đêm cùng các thủ hạ bắc thang vào tận trong cung cấm giết Nhân Tông. Hôm sau, Hoàng thái hậu cũng bị hại, lúc đó bà 38 tuổi.


Nhìn bề mặt, đây là một sự vụ tranh quyền đoạt vị, huynh đệ tương tàn, cũng quả là một sự việc bất công, một sự việc khiến người ta cảm thấy dường như Đấng tạo hóa chưa công bằng. Nhưng suy xét kĩ hơn, sự việc này không thực sự như vậy, nó rất có thể là chuyện nhân quả báo ứng từ vụ án oan Lệ Chi Viên.

Thảm án Lệ Chi Viên

Lệ Chi Viên là vụ án oan nổi tiếng lịch sử liên quan đến việc phụ hoàng của vua Lê Nhân Tông là Lê Thái Tông đột ngột qua đời vào năm 1442 tại nhà đại thần Nguyễn Trãi ở Lệ Chi Viên khi mới 20 tuổi.

Ngày 27 tháng 7 âm lịch năm 1442, vua Thái Tông đi tuần về miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh. Nguyễn Trãi mời vua ngự ở chùa Côn Sơn. Đến ngày 4 tháng 8 âm lịch vua đi chơi ở “Lệ Chi viên” (vườn Vải), xã Đại Lại, ven sông Thiên Đức thì bất ngờ băng hà. Ngay lập tức, Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ bị vu cáo tội giết vua, phải chịu tru di tam tộc.

Về sau này, vua Lê Thánh Tông đã đứng ra minh oan cho Nguyễn Trãi và chính sử ghi nhận cái chết của vua Lê Thái Tông là do đột tử. Nhưng một số nhà nghiên cứu cho rằng: một vị vua tuổi đời còn rất trẻ, trước đó còn thân chinh đi đánh dẹp lân bang có thể trúng gió đột tử là rất không hợp lý. Đây rõ ràng hơn là một âm mưu ám sát. Dã sử ghi lại rằng:

Trước khi mất, vua Lê Thái Tông đã truất ngôi thái tử của Lê Nghi Dân do mẹ ông là Dương phi kiêu căng, không giữ phép tắc, rồi vua lại phong cho Bang Cơ – con của bà phi Nguyễn Thị Anh lên làm thái tử. Thời điểm này, một bà phi khác là Ngô Thị Ngọc Dao (mẹ vua Lê Thánh Tông) mang thai, Nguyễn Thị Anh đã tìm cách hãm hại khiến bà Ngọc Dao bị giam ở lãnh cung. Tuy nhiên Nguyễn Trãi và hiền thê Nguyễn Thị Lộ lại hết lòng bảo vệ, xin vua tha cho bà Ngô Thị Ngọc Dao.

Ảnh Nguyễn Trãi. Nguồn ảnh: ko.wikipedia

Cùng với hiền thê của mình, Nguyễn Trãi đã đưa bà Ngọc Dao tá túc tại chùa Huy Văn (nay ở đường Chùa Bộc, Hà Nội) và hạ sinh hoàng tử Tư Thành ở đây vào ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (dương lịch 24-8-1442). Sau đó, Nguyễn Trãi thu xếp mẹ con bà Ngọc Dao ra trú ở vùng An Bang (nay là Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh), nơi ông trị nhậm với cương vị Ngự sử Đông Bắc đạo.

Việc làm của Nguyễn Trãi khiến ông trở thành cái gai trong mắt hoàng hậu Nguyễn Thị Anh.

Hơn nữa lúc bấy giờ, có nhiều lời đồn đại rằng Bang Cơ không phải là con của vua Thái Tông, vì thời gian từ khi Nguyễn Thị Anh vào cung đến khi hạ sinh Bang Cơ chỉ có 6 tháng. Các nhà nghiên cứu lịch sử đã tìm được cuốn gia phả họ Đinh là “Ngọc phả họ Đinh” của thái sư Đinh Liệt, trong có chép bài thơ nói về chuyện này:

茸新六个月開花,
不識何人寶種多.
主靠送胎為靈藥,
舊瓶新酒盛醫科.

Dịch nghĩa là:

Nhung tân lục cá nguyệt khai hoa,
Bất thức hà nhân chủng bảo đa.
Chủ kháo Tống khai vi linh dược,
Cựu binh tân tửu thịnh y khoa.

“Nhung tân” đọc lái là Nhân Tông, tức ý chỉ thái tử Bang Cơ, “Thịnh Y” tức là Thị Anh (tất nhiên đây chỉ là giải nghĩa phiên âm sang tiếng Việt, còn cách đọc chính xác phải là phát âm tiếng Hán). Bài thơ trên được dịch như sau:

Nhân Tông sáu tháng đã ra hoa
Dòng máu ai đây quý báu à?
Núp bóng Thái Tông làm linh dược
Thị Anh dùng ngón đổi dòng cha

Việc này, ngoài vợ chồng Nguyễn Trãi, Đinh Phúc và Đinh Thắng, còn có vài đại thần khác có thể đã biết như Thái sư Đinh Liệt, Thái uý Trịnh (Lê) Khả và con là Trịnh (Lê) Quát, Tư khấu Trịnh Khắc Phục và con là Phò mã Đô uý Trịnh Bá Nhai. Có thể vì nguyên nhân đó mà đã trở thành mầm mống tai vạ sau này cho Nguyễn Trãi và gia tộc của của ông.

Khi nhà vua Lê Thái Tông đi tuần miền Đông, duyệt binh ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón vua về ngự ở Côn Sơn. Nguyễn Thị Anh lo sợ Nguyễn Trãi sẽ tiết lộ chuyện động trời với vua Thái Tông, gốc gác của thái tử bị tiết lộ, khiến con mất ngôi báu, bản thân và gia tộc phải chịu tội đại hình… nên Nguyễn Thị Anh rắp tâm tìm cách giết vua Lê Thái Tông để đổ oan cho Nguyễn Trãi. Một mũi tên trúng nhiều mục đích: Diệt trừ hậu họa, đoạt ngôi báu cho con và giành lấy quyền lực nhiếp chính do thái tử chưa đầy 2 tuổi.

Nhân Quả tất có báo ứng

Nếu những gì dã sử ghi chép là chính xác, ở lăng kính của ‘Luật Nhân Quả’ nhà Phật, thì cái chết của vua Lê Nhân Tông là nghiệp quả luân báo, khó có thể tránh khỏi. Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Anh vì muốn giữ vương vị cho con trai và quyền lực cho bản thân mà rắp tâm giết chồng, sát hại trung thần, còn khiến thân nhân quyến thuộc 3 đời nhà Nguyễn Trãi chịu án oan sai thảm khốc. Ác nghiệp đó quả thực to lớn vô biên, không sớm thì muộn cũng sẽ nhận báo ứng. Và quả thực, 17 năm sau, cả hai mẹ con Nguyễn Thị Anh đều bị sát hại một cách tàn độc trong nội cung.

Lê Nhân Tông (Ảnh minh họa)

Dù vua Lê Nhân Tông hiền đức, thương dân nhưng nhân quả tất báo, có nợ ắt phải hoàn trả. Chúng ta không thể nhìn bề ngoài mà trách cứ Thiên địa, Tạo hóa bất công. Thần Phật vốn công minh, tuyệt đối không thiên vị, đó là quy luật của đất trời.

Những chuyện nhân quả báo ứng như trên trong suốt chiều dài lịch sử nhiều không tính đếm. Bài học xưa, người Do Thái thông minh, chăm chỉ nhưng vì rắp tâm hãm hại Chúa Jesus, khiến Ngài phải chịu cảnh bị đóng đinh trên thập tự giá, mà tộc người Do Thái phải chịu cảnh lưu bạt suốt hơn 2000 năm, thời Thế chiến II còn bị Hitler thảm sát, mãi tới năm 1947 mới có được một mảnh đất an cư.

Đăng Dũng biên tập
Nguồn: ĐKN (Hoài Anh)

VẬN MỆNH CON NGƯỜI: SỐ PHẬN AN BÀI HAY DO MÌNH LỰA CHỌN?

Vận mệnh luôn là câu hỏi khiến con người trăn trở. Hoàn cảnh tạo giới hạn, nhưng cách lựa chọn, hành động và thay đổi bản thân mới quyết định hướng đi lâu dài.


Từ xa xưa, “vận mệnh” đã là một trong những vấn đề được con người quan tâm. Người ta muốn biết vì sao có người sinh ra trong thuận lợi, có người phải trải qua nhiều khó khăn, vì sao cùng đứng trước một cơ hội, mỗi người lại có một kết quả khác nhau.

Theo cổ nhân, “mệnh” và “vận” thường được nhìn nhận là hai khái niệm có liên quan nhưng không hoàn toàn giống nhau. “Mệnh” thiên về những điều con người được trao từ đầu, còn “vận” gắn với sự biến chuyển của hoàn cảnh và thời gian. Vì vậy, vận mệnh không nhất thiết là một đường thẳng đã được định sẵn.

Một cách hiểu khác cho rằng vận mệnh chính là quá trình một con người đi qua cuộc đời trong những điều kiện cụ thể. Hoàn cảnh gia đình, thời đại, giáo dục, năng lực, các mối quan hệ và những quyết định cá nhân đều có thể tác động đến quá trình ấy.

Quan niệm này giúp nhìn vận mệnh thực tế hơn. Con người không thể lựa chọn nơi mình sinh ra, gia đình hay những biến cố đã xảy ra trong quá khứ. Nhưng con người vẫn có thể lựa chọn cách phản ứng trước những điều đó.

Vận mệnh luôn là câu hỏi khiến con người trăn trở. Ảnh: @Meta AI.

Hoàn cảnh có thể ảnh hưởng nhưng không quyết định tất cả

Không ai bắt đầu cuộc đời từ cùng một vị trí. Có người có điều kiện học tập tốt, có người phải sớm mưu sinh. Có người nhận được sự hỗ trợ từ gia đình, có người phải tự tìm đường đi. Những khác biệt đó chắc chắn ảnh hưởng đến cơ hội của mỗi người. Tuy nhiên, nếu coi tất cả kết quả đều đã được định sẵn thì con người sẽ dễ đánh mất khả năng chủ động.

Vận mệnh có thể được hiểu như xu hướng phát triển của một quá trình sống trong những điều kiện nhất định, chứ không nhất thiết là một sự sắp đặt thần bí, bất biến. Cách tiếp cận này đặt con người trở lại vị trí chủ thể của cuộc đời mình.

Một người có thể xuất phát chậm hơn người khác nhưng vẫn có khả năng thay đổi bằng học tập, lao động và lựa chọn phù hợp. Ngược lại, một người có nhiều lợi thế ban đầu cũng có thể đánh mất cơ hội nếu lựa chọn sai hoặc ngừng nỗ lực. Vì vậy, xuất phát điểm và kết quả cuối cùng không phải lúc nào cũng là một đường thẳng.

Mỗi ngày, con người đều đưa ra hàng loạt lựa chọn. Ảnh: @Meta AI.

Lựa chọn tạo nên hướng đi của cuộc đời

Mỗi ngày, con người đều đưa ra hàng loạt lựa chọn. Có quyết định rất nhỏ, chẳng hạn cách sử dụng thời gian; cũng có quyết định ảnh hưởng nhiều năm, như chọn nghề nghiệp, bạn đời, nơi sinh sống hoặc cách đầu tư cho bản thân.

Những lựa chọn riêng lẻ có thể không tạo ra thay đổi lớn ngay lập tức. Nhưng khi lặp lại trong thời gian dài, chúng hình thành thói quen. Thói quen tạo nên cách sống, còn cách sống ảnh hưởng đến kết quả của cuộc đời. Đây cũng là lý do nhiều quan niệm về vận mệnh nhấn mạnh vai trò của hành động.

Không nên phó mặc cuộc đời cho “số phận”

Một trong những rủi ro lớn nhất của tư tưởng định mệnh là khiến con người trở nên thụ động. Khi gặp thất bại, nếu tất cả đều được giải thích bằng “số đã định”, con người có thể bỏ qua nguyên nhân thực tế. Họ không còn đặt câu hỏi mình đã lựa chọn thế nào, thiếu kỹ năng gì hoặc có thể sửa điều gì. Trong khi đó, việc nhìn thẳng vào nguyên nhân giúp con người có cơ hội điều chỉnh.

Thất bại trong công việc có thể xuất phát từ thiếu kinh nghiệm. Một mối quan hệ đổ vỡ có thể liên quan đến cách giao tiếp. Khó khăn tài chính có thể bắt nguồn từ thói quen chi tiêu hoặc thiếu kế hoạch. Những vấn đề này không thể giải quyết chỉ bằng việc chờ “đổi vận”.

Cuộc sống luôn tồn tại những yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát. Ảnh: @Meta AI.

Chủ động không có nghĩa là kiểm soát được mọi thứ

Khẳng định con người có thể tác động đến vận mệnh không đồng nghĩa với việc cho rằng chỉ cần cố gắng là chắc chắn đạt được mọi mục tiêu.

Cuộc sống luôn tồn tại những yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát. Biến động kinh tế, hoàn cảnh gia đình, sức khỏe, thiên tai, những quyết định của người khác hay những sự kiện bất ngờ đều có thể làm thay đổi kế hoạch. Vì vậy, một cách nhìn cân bằng hơn là phân biệt giữa điều có thể kiểm soát và điều không thể kiểm soát.

Con người không kiểm soát được việc một cơ hội có xuất hiện hay không, nhưng có thể chuẩn bị năng lực để nắm bắt cơ hội khi nó đến.

Không thể quyết định người khác đối xử với mình thế nào, nhưng có thể lựa chọn cách phản ứng. Không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể quyết định cách sử dụng bài học từ quá khứ. Chính khoảng cách giữa hoàn cảnh và phản ứng ấy tạo ra không gian để con người thay đổi cuộc đời.

Một người có thể gặp khó khăn ở giai đoạn này nhưng thuận lợi hơn ở giai đoạn khác. Một công việc từng phù hợp có thể trở nên không còn phù hợp sau vài năm. Một mối quan hệ từng quan trọng cũng có thể thay đổi theo thời gian. Điều đó cho thấy cuộc đời không đứng yên. Do đó, thay vì chỉ hỏi “số phận của tôi là gì?”, con người có thể đặt một câu hỏi thực tế hơn: “Trong hoàn cảnh hiện tại, tôi có thể làm gì để tạo ra kết quả tốt hơn?”.

Thiên Đăng (t/h) / Theo: kienthuc.net

HỌA CÚC - TRỊNH TƯ TIẾU


Hoạ cúc

Hoa khai bất tịnh bách hoa tùng,
Độc lập sơ ly thú vị cùng.
Ninh khả chi đầu bão hương tử,
Hà tằng xuy lạc bắc phong trung.


畫菊 - 鄭思肖

花開不並百花叢
獨立疏籬趣未窮
寧可枝頭抱香死
何曾吹落北風中


Vẽ cúc
(Dịch thơ: Trần Trọng San)

Hoa nở chẳng cùng trăm giống khác,
Rào thưa riêng đứng, thú dường bao.
Đầu cành thà chịu ôm hương chết,
Chẳng rụng vào trong gió bắc nào!


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Trịnh Tư Tiếu 鄭思肖 (1241-1318) nguyên tên là Thiếu Nhân 少因, sau đổi tên thành Tư Tiếu 思肖, tự Ức Ông 憶翁, hiệu Sở Nam 所南, quê ở Liên Giang (nay thuộc Phúc Kiến), là thi nhân nổi danh cuối triều Tống. Ông từng là thái học sinh, đỗ khoa Bác học hoằng từ. Khi nhà Nam Tống mất, ông về Tô Châu ở ẩn tại chùa. Tác phẩm có Sở Nam tiên sinh văn tập 所南先生文集, Tâm sử 心史 7 quyển. Ngoài thơ, Trịnh Tư Tiếu còn giỏi vẽ.

Nguồn: Thi Viện