Friday, October 30, 2026

NHỮNG THÍ NGHIỆM TRÊN NGƯỜI TÀN BẠO NHẤT CỦA PHÁT XÍT NHẬT THỜI THẾ CHIẾN II - PHẦN CUỐI

Sáu trong số những thí nghiệm kinh hoàng nhất đều là tác phẩm của Đơn vị 731, đơn vị nghiên cứu chiến tranh sinh học và hóa học tàn bạo của Quân đội Đế quốc Nhật Bản.

Thử nghiệm bệnh giang mai

Shiro Ishii, Chỉ huy Đơn vị 731. Ảnh: Wikimedia Commons

Bệnh hoa liễu đã trở thành cơn ác mộng của các quân đội kể từ thời Ai Cập cổ đại, và do đó, có lý do để quân đội Nhật Bản quan tâm đến các triệu chứng và cách điều trị bệnh giang mai.

Để tìm hiểu những gì cần biết, các bác sĩ tại Đơn vị 731 đã cho các tù nhân nhiễm căn bệnh này và không điều trị để quan sát diễn biến bệnh không bị gián đoạn. Tuy nhiên, một phương pháp điều trị hiện đại là chất hóa trị Salvarsan thỉnh thoảng được sử dụng trong khoảng thời gian vài tháng để quan sát các tác dụng phụ.

Để đảm bảo lây truyền căn bệnh này một cách hiệu quả, những nam tù nhân mắc bệnh giang mai được lệnh cưỡng hiếp cả tù nhân nữ và nam, những người này sau đó sẽ được theo dõi để xem căn bệnh này khởi phát ra sao. Nếu lần tiếp xúc đầu tiên không làm lây nhiễm thành công, chúng sẽ bắt nam tù nhân gây ra nhiều vụ cưỡng hiếp cho đến khi nạn nhân nhiễm bệnh.

Hiếp dâm và cưỡng bức mang thai

Cơ sở của Đơn vị 731 ở Harbin. Ảnh: Wikimedia Commones

Ngoài các thí nghiệm về bệnh giang mai, hiếp dâm đã trở thành một đặc điểm chung trong các thí nghiệm của Đơn vị 731.

Ví dụ, các nữ tù nhân trong độ tuổi sinh đẻ đôi khi bị cưỡng bức để có thể thực hiện các thí nghiệm về vũ khí và chấn thương đối với họ.

Sau khi bị mắc các bệnh khác nhau, tiếp xúc với vũ khí hóa học, hoặc bị thương do vật nặng đè, vết thương do đạn, mảnh đạn, các đối tượng mang thai được mổ phanh và nghiên cứu ảnh hưởng đến thai nhi.

Chiến tranh vi trùng

Toàn bộ nghiên cứu của Đơn vị 731 là nhằm hỗ trợ cho sứ mệnh lớn hơn của chúng. Vào năm 1939, chúng định phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt khủng khiếp để sử dụng chống lại người dân Trung Quốc và có lẽ là lực lượng Mỹ và Liên Xô nếu có cơ hội.

Để đạt được mục tiêu này, Đơn vị 731 đã gom hàng chục nghìn tù nhân tại một số cơ sở trên khắp Mãn Châu, nơi đã bị quân đội đế quốc chiếm đóng trong nhiều năm. Các tù nhân của các cơ sở này đã bị cho nhiễm một số mầm bệnh gây chết người nhất mà khoa học biết đến, chẳng hạn như Yersinia pestis, gây ra bệnh dịch hạch và bệnh dịch phổi, và bệnh sốt phát ban. Người Nhật hy vọng các mầm bệnh sẽ lây lan từ người này sang người khác sau khi được triển khai và làm giảm dân số các khu vực tranh chấp.

Để tạo ra những chủng gây chết người cao nhất có thể, các bác sĩ đã theo dõi bệnh nhân để xem quá trình khởi phát nhanh chóng của các triệu chứng và tiến triển. Những tù nhân sống sót sẽ bị bắn, còn những người ốm nhanh nhất sẽ bị cho chảy máu đến chết trên bàn trong nhà xác. Máu của họ được sử dụng để truyền bệnh cho các tù nhân khác để những người ốm yếu nhất sẽ bị chảy máu nhằm truyền chủng độc nhất sang thế hệ khác.

Các nhà nghiên cứu Đơn vị 731 thực hiện thí nghiệm vi khuẩn với tù nhân trẻ em. Ảnh: Xinhua

Một thành viên của Đơn vị 731 sau này kể lại rằng những tù nhân rất ốm yếu và không kháng cự sẽ được đặt trên phiến đá để luồn một dây vào động mạch cảnh của họ. Khi máu đã bị hút gần hết và tim quá yếu không thể bơm máu được nữa, một sĩ quan đi ủng da trèo lên bàn và dùng lực đủ mạnh để đè nát lồng ngực nạn nhân, từ đó một lượng máu khác sẽ phụt ra thùng chứa.

Khi trực khuẩn dịch hạch đã được nuôi đến mức đủ gây chết người, thế hệ tù nhân cuối cùng bị nhiễm bệnh đã tiếp xúc với số lượng lớn bọ chét, vật trung gian truyền bệnh của Y. pestis. Bọ chét sau đó được đóng gói trong đất và niêm phong bên trong vỏ bom đất sét.

Vào ngày 4/10/1940, các máy bay ném bom Nhật Bản đã triển khai những chiếc vỏ này, mỗi chiếc chở 30.000 con bọ chét từng hút máu một tù nhân sắp chết, bay trên ngôi làng Quzhou ở Trung Quốc và thả xuống. Sau đó, hầu như ai cũng bị bọ chét cắn đau đớn đỏ rát.

Theo lời người kể thời đó, trên 2.000 thường dân đã chết vì bệnh dịch sau cuộc tấn công này, và khoảng 1.000 người khác đã chết ở Yiwu gần đó sau khi bệnh dịch lan đến qua công nhân đường sắt ốm yếu. Các cuộc tấn công khác sử dụng bệnh than đã giết chết thêm khoảng 6.000 người trong khu vực.

Vào tháng 8/1945, sau khi thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản đều bị ném bom, Quân đội Liên Xô đã vào Mãn Châu và tiêu diệt hoàn toàn Quân đội Nhật Bản. Đơn vị 731 chính thức bị giải tán.

Hồ sơ của đơn vị này hầu hết đã bị đốt cháy, phá hủy toàn bộ thông tin mà nhóm đã cố gắng tạo ra trong 13 năm nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu chủ yếu quay trở lại cuộc sống thường dân ở Nhật Bản như thể chưa từng có chuyện gì xảy ra. Nhiều người trong số họ trở thành những thành viên nổi bật của các trường đại học.

Cho đến ngày nay, Nhật Bản chưa xin lỗi và Trung Quốc cũng không tha thứ cho vô số hành động tàn bạo mà quân Nhật gây ra từ năm 1931 đến năm 1945. Khi những nhân chứng cuối cùng của lịch sử này già đi và chết, có thể vấn đề sẽ không bao giờ được đề cập tới nữa.

Thùy Dương / Theo: baotintuc

Thursday, October 29, 2026

BẤT NGỜ NỔI TIẾNG VÌ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TỪ THỜI CÀN LONG

Hai gia đình hàng xóm ở Tây An tranh chấp ranh giới đất suốt nhiều năm qua, thậm chí kiện nhau ra tòa với bằng chứng là văn tự đất đai từ thời Càn Long.

Căn bếp cải tạo của gia đình họ Đỗ. Ảnh: SCMP

Tòa án quận Nhạn Tháp, thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, ngày 9/10 đã hòa giải thành công vụ tranh chấp đất đai kéo dài nhiều năm giữa hai gia đình hàng xóm họ Đỗ và họ Trương.

Tranh chấp bắt nguồn từ việc nhà họ Đỗ muốn sửa sang lại căn bếp và xây tường cao hơn, nhưng nhà họ Trương đã liên tục phản đối vì lo ngại ảnh hưởng đến ánh sáng và việc thoát nước. Mâu thuẫn này dẫn đến nhiều cuộc cãi vã và ẩu đả thường xuyên. Công an và ban quản lý thôn đã nỗ lực hòa giải hàng chục lần nhưng vẫn bế tắc.

Trong một buổi hòa giải, nhà họ Trương đã đưa ra bằng chứng khiến tất cả mọi người phải kinh ngạc: văn tự đất đai có từ năm Càn Long thứ 46 (1781) thời nhà Thanh (1644-1912).

Trên trang giấy đã ngả vàng và rách góc, nét mực viết tay được bảo quản tốt và vẫn đọc được rất rõ. Ông Trương cho biết đó là thỏa thuận giữa hai gia tộc để xác định ranh giới giữa hai ngôi nhà, được đánh dấu bằng một cây hồng trong sân. Nhà họ Trương tin rằng thỏa thuận này cần phải được các thế hệ sau tôn trọng.

Đến lúc này, chính quyền mới nhận ra rằng vụ tranh chấp giữa hai gia đình hàng xóm đã kéo dài hơn 200 năm. Trong suốt hai thế kỷ qua, các thế hệ nối tiếp của hai gia tộc đã liên tục xung đột về ranh giới, bao gồm cả một lần ngay sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949.

Văn tự đất đai từ năm 1781 mà nhà họ Trương đưa ra. Ảnh: iFeng

Trong quá trình hòa giải, thẩm phán kể cho hai hộ gia đình một điển tích thời nhà Thanh: Đại học sĩ thời Khang Hy Trương Anh từng viết thư khuyên gia đình mình nên nhường bước trong vụ tranh chấp đất đai với hàng xóm.

Trong thư, Trương Anh viết: "Nghìn dặm gửi thư chỉ vì tường/ Nhường người ba thước ngại gì vương/ Vạn Lý Trường Thành nay còn đó/ Nào thấy năm nao Tần Thủy Hoàng".

Gia đình Trương Anh sau đó tự nguyện lùi tường nhà mình lại ba thước. Nhà hàng xóm thấy vậy cũng làm theo, lùi tường của họ lại ba thước. Hai bức tường sau đó tạo thành một con hẻm rộng sáu thước, hiện nay đã trở thành một điểm thu hút khách du lịch ở Đồng Thành, tỉnh An Huy.

Điển tích "Hẻm 6 thước" đã góp phần khiến hai gia đình họ Đỗ và họ Trương ở Thiểm Tây xuôi lòng, đồng ý hợp tác. Chính quyền đo đạc tại hai ngôi nhà để xây dựng phương án cải tạo làm hài lòng cả hai bên. Cuối cùng, nhà họ Đỗ đã sửa sang xong căn bếp và nhà họ Trương cũng vui vẻ chấp nhận kết quả.

Thẩm phán đến tận nơi tranh chấp để tìm hiểu tình hình. Ảnh: iFeng

Câu chuyện tranh chấp đã gây xôn xao mạng xã hội Trung Quốc.

"Tình yêu không thể kéo dài 200 năm, nhưng kiện tụng thì có thể", một người bình luận.

"Mảnh đất họ ở chắc chắn phải có phong thủy rất tốt, giúp họ vượt qua mọi thăng trầm lịch sử mà vẫn có đủ tiền bạc và sức lực để đấu tranh với nhau", một người khác nhận xét.

Theo: Hồng Hạnh (SCMP, iFeng)
Link tham khảo:

BỒ TÁT MAN - ÁN KỶ ĐẠO


Bồ tát man

Ai tranh nhất lộng Tương giang khúc,
Thanh thanh tả tận Tương ba lục.
Tiêm chỉ thập tam huyền,
Tế tương u hận truyền.
Đương diên thu thuỷ mạn,
Ngọc trụ tà phi nhạn.
Đàn đáo đoạn trường thì,
Xuân sơn mi đại đê.


菩薩蠻

哀箏一弄湘江曲,
聲聲寫盡湘波綠。
纖指十三弦,
細將幽恨傳。
當筵秋水慢,
玉柱斜飛雁。
彈到斷腸時,
春山眉黛低。


Bồ tát man
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Cầm đàn, gẩy khúc Tương Giang.
Tiếng tơ lột tả, mênh mang sóng ngời.
Đàn huyền tay dạo lả lơi.
Mười ba dây hận, chơi vơi bao tình.
Chiếu đàn thu thủy thêm xinh.
Cần đàn ôm ấp dáng hình hạc bay.
Tiếng đàn đứt đoạn xưa nay.
Non xuân như họa, như bày nét mi.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Án Kỷ Đạo 晏幾道 (1050-1119) tự Thúc Nguyên 叔原, hiệu Tiểu Sơn 小山, từ nhân đời Bắc Tống, người Lâm Xuyên, Phủ Châu (nay thuộc Giang Tây). Ông là con thứ 7 của Án Thù 晏殊. Văn tứ của ông rất mới, tác phẩm của ông có tập Tiểu Sơn từ.

Nguồn: Thi Viện

BÍ MẬT ÍT AI BIẾT VỀ CHIẾC "MAI RÙA" NẰM BÊN TRONG CƠ THỂ LOÀI MỰC NANG

Dưới đáy biển, có một sinh vật sở hữu khả năng đổi màu chớp nhoáng, tạo hoa văn phức tạp và đánh lừa con mồi bằng những màn ngụy trang đáng kinh ngạc.

Ảnh: fish-alert.com

Mực nang thuộc nhóm động vật chân đầu, cùng họ hàng với mực ống và bạch tuộc. Hơn 90 loài mực nang sinh sống ở các vùng biển nhiệt đới và ôn đới, phần lớn quanh những khu vực đáy cát, bùn hoặc đá. Dù có thân mềm, chúng là những kẻ săn mồi tinh vi, sở hữu đôi mắt phát triển, hệ thần kinh phức tạp và một trong những cơ chế ngụy trang ấn tượng nhất thế giới động vật.

Vũ khí nổi bật nhất của mực nang là lớp da có khả năng đổi màu gần như tức thì. Những tế bào sắc tố gọi là chromatophore chứa các túi sắc tố li ti, được điều khiển bởi cơ và hệ thần kinh. Khi các cơ co lại, túi sắc tố mở rộng, làm màu sắc hiện rõ; khi chúng giãn ra, màu sắc thu hẹp hoặc biến mất. Các cấu trúc phản xạ ánh sáng khác dưới da còn tạo ra những sắc thái óng ánh, giúp cơ thể biến đổi thành nhiều hoa văn phức tạp.


Điều kỳ lạ là mực nang không chỉ đổi màu để hòa lẫn với môi trường. Chúng còn có thể biến đổi bề mặt cơ thể, tạo những phần lồi giống rong biển, đá hoặc san hô. Nghiên cứu công bố năm 2025 ghi nhận mực nang vây rộng (Sepia latimanus) sử dụng nhiều kiểu trình diễn thị giác khi săn cua, bao gồm bắt chước lá và san hô, nhằm tiếp cận con mồi mà ít bị phát hiện hơn.

Trong số các loài nổi bật, mực nang thường (Sepia officinalis) phân bố ở Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, được nghiên cứu nhiều về hành vi và khả năng học hỏi. Mực nang khổng lồ Australia (Ascarosepion apama, thường được gọi là Sepia apama trong tài liệu cũ) có thể dài tới khoảng một mét tính cả các xúc tu, đồng thời nổi tiếng với những cuộc tụ tập sinh sản quy mô lớn. Một số loài mực nang nhỏ hơn lại có màu sắc rực rỡ, tạo nên vẻ ngoài chẳng khác nào sinh vật ngoài hành tinh.


Mực nang có tám tay và hai xúc tu dài chuyên dùng để bắt mồi. Chúng thường phóng hai xúc tu ra rất nhanh để tóm lấy cá hoặc giáp xác, sau đó đưa con mồi về phía miệng có chiếc mỏ cứng. Khi gặp nguy hiểm, chúng có thể phun mực tạo màn che để đánh lạc hướng kẻ săn đuổi, rồi dùng lực đẩy nước qua phễu để lao đi.

Một đặc điểm khác ít người biết là bên trong cơ thể mực nang có mai nang — cấu trúc vỏ giàu calcium carbonate, gồm nhiều khoang nhỏ giúp điều chỉnh độ nổi. Đây không phải bộ xương ngoài như vỏ sò, mà là một cấu trúc nằm bên trong cơ thể. Mai nang còn được sử dụng trong đời sống con người, chẳng hạn làm nguồn bổ sung khoáng cho chim nuôi hoặc dùng trong một số hoạt động thủ công.

Ảnh: Wikimedia Commons

Điều khiến mực nang trở thành đối tượng nghiên cứu hấp dẫn không chỉ là vẻ đẹp của chúng, mà còn là khả năng xử lý thông tin thị giác và điều khiển cơ thể cực kỳ linh hoạt. Dù không nhìn thế giới bằng cách giống con người, chúng vẫn có thể điều chỉnh hoa văn để phù hợp với nền đáy biển. Mỗi lần mực nang biến đổi màu sắc, đó không đơn thuần là một màn trình diễn, mà là kết quả của sự phối hợp tinh vi giữa giác quan, thần kinh và cơ bắp - một thành tựu tiến hóa đã được mài giũa qua hàng triệu năm.

Thanh Bình (t/h) / Theo: Kiến Thức



VÌ SAO KHI ĐANG THẮNG QUÂN THANH NHƯ CHẺ TRE, NGÔ TAM QUẾ LẠI DỪNG LẠI?

Khi cuộc nổi dậy nổ ra, Ngô Tam Quế đã 62 tuổi. Theo cách lý giải của đời sau, ông lúc ấy muốn giữ gìn những gì đang có, hy vọng có thể kết thúc chiến tranh trong thế thắng, thay vì tiếp tục mạo hiểm mở rộng chiến trường.

Quân nổi dậy của Ngô Tam Quế lần lượt đánh chiếm Thường Đức, Lễ Châu, Trường Sa và những địa phương khác, qua đó hoàn toàn kiểm soát tỉnh Hồ Nam.

Vì sao khi đang thắng quân Thanh như chẻ tre, Ngô Tam Quế lại dừng lại?

Tháng 11/1673, Bình Tây vương Ngô Tam Quế phát động cuộc nổi dậy ở Vân Nam, mở đầu cuộc chiến tranh được lịch sử gọi là “Loạn Tam Phiên”. Trong giai đoạn đầu, do triều đình nhà Thanh chưa chuẩn bị đầy đủ, còn Ngô Tam Quế đã âm thầm mưu tính từ lâu, quân nổi dậy liên tiếp giành chiến thắng. Họ gần như không tốn sức đã chiếm được Quý Châu, sau đó lần lượt kiểm soát Hồ Nam, Tứ Xuyên và nhiều vùng đất khác, tiến sát bờ nam sông Trường Giang. Thế nhưng, điều khiến người ta bất ngờ là Ngô Tam Quế lại không vượt sông tiến lên phía Bắc. Chuyện gì đã xảy ra?

Những ngày đầu nổi dậy, Ngô Tam Quế giành được thắng lợi hết sức thuận lợi, có thể nói là thế như chẻ tre. Quân nổi dậy đi đến đâu, quan lại và tướng lĩnh ở các phủ, châu, huyện hoặc bỏ trốn, hoặc đầu hàng. Quân Thanh hễ giao chiến là nhanh chóng tan rã, thậm chí “quan binh quân Thanh thuộc lực lượng Lục kỳ ở Hồ Nam phần lớn đều theo giặc”.

Tháng 2 năm Khang Hi thứ 13 (1674), quân nổi dậy của Ngô Tam Quế lần lượt đánh chiếm Thường Đức, Lễ Châu, Trường Sa và những địa phương khác, qua đó hoàn toàn kiểm soát tỉnh Hồ Nam. Lúc này, ông hoàn toàn có thể thừa thắng vượt sông Trường Giang, tiến quân lên phía Bắc để mở rộng chiến quả. Thế nhưng, Ngô Tam Quế lại cho quân dừng chân suốt mấy tháng, không tận dụng thời cơ để vượt sông.

Trong khoảng thời gian đó, triều đình nhà Thanh tranh thủ tập trung lực lượng lớn, tăng cường phòng thủ khu vực bờ bắc Trường Giang. Hai bên dần hình thành thế đối đầu, khiến Ngô Tam Quế đánh mất thời cơ thuận lợi nhất. Tình thế sau đó ngày càng bất lợi cho quân nổi dậy.

Vậy tại sao Ngô Tam Quế lại đưa ra quyết định bị xem là sai lầm như vậy? Vào thời điểm ấy, nhiều tướng lĩnh dưới quyền ông đều chủ trương vượt sông tiến lên phía Bắc, nhưng đề xuất này lại bị chính Ngô Tam Quế bác bỏ. Nguyên nhân là ông vẫn nuôi hy vọng có thể đàm phán hòa bình với triều đình nhà Thanh.

Ngô Tam Quế cùng mưu sĩ Phương Quang Sâm cho rằng quân nổi dậy đang chiếm ưu thế, hoàn toàn có thể tận dụng tình thế thuận lợi trên chiến trường để đưa ra điều kiện với Hoàng đế Khang Hi.

Sau khi phát động cuộc nổi dậy, Ngô Tam Quế vẫn đối xử tương đối tử tế với hai sứ giả của nhà Thanh là Thị lang Bộ Lại Chiết Nhĩ Khẳng và Hàn lâm học sĩ Phó Đạt Lễ. Sau khi chiếm được Thường Đức, ông cho hai người mang thư do mình viết đến gặp Hoàng đế Khang Hi.

Trong bức thư, giọng điệu của Ngô Tam Quế hết sức ngạo mạn. Ông tuyên bố mình đã thu phục được một phần ba lãnh thổ của nhà Minh, sau đó đưa ra ba yêu cầu với triều đình nhà Thanh.

Nếu phía nhà Thanh chấp thuận những điều kiện này, hai bên có thể chấm dứt chiến sự. Vậy những yêu cầu của Ngô Tam Quế là gì?

Hoàng đế Khang Hi.

Thứ nhất, dựa vào những vùng đất hiện đang kiểm soát, Ngô Tam Quế muốn đàm phán với nhà Thanh để thực hiện cục diện “chia đôi thiên hạ, lấy Trường Giang làm ranh giới cai trị”.

Thứ hai, ông yêu cầu Hoàng đế Khang Hi thả con trai và các cháu nội của mình.

Từ thời Thuận Trị, con trai trưởng của Ngô Tam Quế là Ngô Ứng Hùng đã kết hôn với Hòa Thạc Kiến Ninh Trưởng công chúa, con gái của Hoàng Thái Cực. Sau đó, Ngô Ứng Hùng sống tại Bắc Kinh với tư cách con tin và sinh được mấy người con trai.

Ngô Tam Quế luôn canh cánh trong lòng về số phận của con cháu đang sống ở Bắc Kinh. Vì thế, ông muốn lợi dụng ưu thế quân sự hiện tại để gây sức ép, buộc Hoàng đế Khang Hi trả tự do cho họ.

Chính vì hai nguyên nhân này, Ngô Tam Quế mới quyết định tạm dừng tiến quân, chờ đợi phản hồi từ phía Khang Hi.

Tuy nhiên, kết quả lại khiến ông vô cùng thất vọng. Bức thư không những không cứu được tính mạng của con cháu ông mà còn trở thành “lá bùa đòi mạng”.

Sau khi đọc thư của Ngô Tam Quế, Hoàng đế Khang Hi lập tức ban chiếu:

“Gần đây, sau khi xem tấu chương của Ngô Tam Quế, trẫm nhận thấy lời lẽ trong đó hết sức ngang ngược, hắn còn dám tùy tiện đưa ra những yêu cầu vô lý. Nay xử tử Ngô Ứng Hùng và con trai hắn là Ngô Thế Lâm bằng hình phạt thắt cổ; những người con còn nhỏ tuổi khác đều được miễn chết và sung vào quan phủ.”

Thông qua việc xử tử Ngô Ứng Hùng, Khang Hi muốn tuyên bố với thiên hạ quyết tâm dẹp loạn của triều đình. Ông đồng thời ra chiếu chỉ bác bỏ đề nghị nghị hòa của Ngô Tam Quế, yêu cầu đối phương chỉ có con đường “trói mình quy hàng”.

Khi nhận được tin con cháu bị giết, Ngô Tam Quế không khỏi rơi nước mắt. Ông thậm chí phải thừa nhận: “Ngày hôm nay, ta đã cưỡi lên lưng hổ rồi”, nghĩa là đã lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, không còn đường lui và buộc phải tiếp tục chiến đấu.

Con người khi tuổi cao thường trở nên thận trọng, thậm chí bảo thủ hơn. Khi cuộc nổi dậy nổ ra, Ngô Tam Quế đã 62 tuổi.

Ngô Tam Quế từng trải qua nhiều trận mạc, nhưng đến lúc này, ông đã già và không còn sự quyết đoán, táo bạo như thời trai trẻ.

Con người khi tuổi cao thường trở nên thận trọng, thậm chí bảo thủ hơn. Khi cuộc nổi dậy nổ ra, Ngô Tam Quế đã 62 tuổi. Theo cách lý giải của đời sau, ông lúc ấy muốn giữ gìn những gì đang có, hy vọng có thể kết thúc chiến tranh trong thế thắng, thay vì tiếp tục mạo hiểm mở rộng chiến trường.

Thế nhưng, chính tâm lý ấy lại khiến ông trở nên do dự, bó buộc trong các quyết định và bỏ lỡ thời cơ quân sự quan trọng.

Cuộc đời vốn là như vậy: cơ hội một khi đã bỏ lỡ thì rất khó quay trở lại. Sau khi Ngô Tam Quế đánh mất thời cơ giành thắng lợi quyết định, cán cân chiến tranh dần nghiêng về phía nhà Thanh. Trải qua nhiều năm nỗ lực, Hoàng đế Khang Hi cuối cùng đã hoàn toàn dẹp yên cuộc nổi dậy của “Loạn Tam Phiên”.

Trong tình thế rất khó khăn, năm 1678, Ngô Tam Quế vẫn xưng làm Hoàng đế, lập ra nhà Đại Chu (大周), thủ đô tại Hành Dương, Hồ Nam. Nhưng chỉ được 5 tháng thì chết vào ngày 2 tháng 10 năm 1678, ông thọ 66 tuổi.

Cháu của ông là Ngô Thế Phiên nối ngôi nhưng thế lực đã rất suy yếu. Năm 1681, quân nhà Thanh tấn công và chiếm được Vân Nam, Thế Phiên phải tự tử. Cuộc nổi dậy của "Tam phiên" đến đây thì bị dập tắt.

Minh Tuấn / Theo: Dân Việt

Wednesday, October 28, 2026

NHỮNG THÍ NGHIỆM TRÊN NGƯỜI TÀN BẠO NHẤT CỦA PHÁT XÍT NHẬT THỜI THẾ CHIẾN II - PHẦN 1

Sáu trong số những thí nghiệm kinh hoàng nhất đều là tác phẩm của Đơn vị 731, đơn vị nghiên cứu chiến tranh sinh học và hóa học tàn bạo của Quân đội Đế quốc Nhật Bản.

Người của Đơn vị 731 thử nghiệm vi khuẩn trên tù nhân ở Trung Quốc. Ảnh: Xinhua

Theo trang ATI, trong số tất cả các khu vực từng diễn ra Thế chiến thứ hai, không có khu vực nào hoạt động lâu như khu vực mà sau này được gọi là trường Thái Bình Dương. Trên thực tế, Nhật Bản đã bắt đầu chiến tranh bằng cách tấn công người Mãn Châu năm 1931 và nước này đã xâm lược Trung Quốc vào năm 1937.

Những xáo trộn và biến động mà những cuộc xâm lược này gây ra đã làm rung chuyển Trung Quốc, gây ra cuộc nội chiến và nạn đói có lẽ đã giết chết nhiều người hơn số người đang sống ở Canada và Australia cộng lại.

Trong số tất cả những sự phẫn nộ mà Đế quốc Nhật Bản đã gây ra cho người dân Trung Quốc trong cuộc chiếm đóng tàn bạo này, có lẽ không có gì lớn hơn lòng căm thù Đơn vị 731 của người Nhật.

Cho dù ban đầu chỉ đơn thuần là một cơ quan nghiên cứu và y tế công cộng, nhưng Đơn vị 731 cuối cùng đã phát triển thành một “dây chuyền lắp ráp” các bệnh tật được dùng làm vũ khí, mà nếu được triển khai đầy đủ, có thể giết chết tất cả mọi người trên Trái đất vài lần. Tất nhiên, tất cả những “tiến bộ” này đều được xây dựng trên nỗi đau tột cùng của các tù nhân, những người bị giữ làm vật thí nghiệm và lồng ấp bệnh tật cho đến khi Đơn vị 731 tan rã vào cuối chiến tranh.

Trong một danh sách dài những hành động tàn bạo, có sáu chương trình đặc biệt nổi bật trong lịch sử đẫm máu của Đơn vị 731:

Thí nghiệm tê cóng

Bàn tay tê cóng của một người Trung Quốc sau thí nghiệm tại Đơn vị 731. Ảnh: Xinhua

Yoshimura Hisato, một nhà sinh lý học thuộc Đơn vị 731, đặc biệt quan tâm đến vấn đề hạ thân nhiệt. Hisato thường xuyên ngâm chân tay của tù nhân trong một bồn nước chứa đầy đá lạnh và giữ chân tay tù nhân trong đó cho đến khi cánh tay và chân đông cứng lại, có một lớp băng phủ trên da. Theo lời kể của một nhân chứng, các chi phát ra âm thanh như ván gỗ khi bị gậy đập vào.

Sau đó, Hisato đã thử các phương pháp khác nhau để làm ấm lại nhanh chóng phần phụ đã đông lạnh. Đôi khi, hắn ta làm điều này bằng cách ngâm chân tay tù nhân vào nước nóng, đôi khi để chân tay tù nhân gần ngọn lửa, hoặc những lần khác hắn để mặc đối tượng không được điều trị qua đêm để xem mất bao lâu thì máu của người đó tan ra.

Giải phẫu sinh thể tù nhân còn tỉnh táo

Một bác sĩ Đơn vị 731 giải phẫu bệnh nhân. Ảnh: Xinhua

Đơn vị 731 ban đầu là một đơn vị nghiên cứu, chuyên tìm hiểu ảnh hưởng của bệnh tật và thương tật đến khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang. Các bác sĩ trong đơn vị đã đưa nghiên cứu này đi xa hơn một chút so với giới hạn thông thường của đạo đức y tế bằng cách quan sát thương tích và diễn biến bệnh tật trên những bệnh nhân còn sống.

Lúc đầu, những bệnh nhân này là tình nguyện viên từ quân đội, nhưng khi các thí nghiệm đạt đến giới hạn chịu đựng và khi nguồn tình nguyện viên cạn kiệt, đơn vị này chuyển sang nghiên cứu về tù binh và tù nhân thường dân Trung Quốc.

Đơnvị 731 không có khái niệm gọi là giới hạn. Trong khoảng thời gian này, Đơn vị 731 bắt đầu gọi các đối tượng nghiên cứu tù nhân là “khúc gỗ”, hay “Maruta” trong tiếng Nhật.

Phương pháp nghiên cứu trong các thí nghiệm này rất man rợ.

Ví dụ, giải phẫu sinh thể là hoạt động cắt xẻo cơ thể người, không gây mê, để nghiên cứu hoạt động của các hệ thống sống. Hàng nghìn đàn ông và phụ nữ, hầu hết là tù nhân cộng sản Trung Quốc cũng như trẻ em và nông dân cao tuổi, bị cho nhiễm các bệnh như tả và dịch hạch. Sau đó, bác sĩ mổ lấy nội tạng của họ để kiểm tra trước khi chết để nghiên cứu ảnh hưởng của căn bệnh này trên nội tạng chưa bị phân hủy.

Các đối tượng bị cắt cụt tứ chi và được gắn lại vào phần bên kia của cơ thể. Những người khác thì bị đập nát hoặc đông cứng chi, hoặc bị cắt hệ thống tuần hoàn để quân Nhật quan sát diễn tiến của tình trạng hoại tử.

Cuối cùng, khi cơ thể của một tù nhân đã được sử dụng hết, họ thường sẽ bị bắn hoặc giết bằng cách tiêm thuốc gây chết người, mặc dù một số có thể đã bị chôn sống. Không một tù nhân nào trong số các tù nhân Trung Quốc, Mông Cổ, Hàn Quốc hoặc Nga được giao cho Đơn vị 731 còn sống sót sau khi bị giam giữ.

Kiểm tra vũ khí

Quân đội Nhật Bản rất quan tâm tới hiệu quả của các loại vũ khí khác nhau. Để xác định hiệu quả, Đơn vị 731 tập hợp các tù nhân lại với nhau trên một trường bắn và cho họ phát nổ từ các phạm vi khác nhau bằng nhiều loại vũ khí của Nhật Bản, chẳng hạn như súng lục Nambu 8mm, súng trường bắn tỉa, súng máy và lựu đạn. Các đặc điểm vết thương và độ sâu thâm nhập của vũ khí sau đó được so sánh trên cơ thể của các tù nhân đã chết và hấp hối.

Lính Nhật dùng cơ thể tù nhân để tập đâm lưỡi lê. Ảnh: AP

Lưỡi lê, kiếm và dao cũng được nghiên cứu theo cách này, mặc dù các tù nhân thường bị buộc lại trong các thí nghiệm này.

Súng phun lửa cũng đã được thử nghiệm, trên cả vùng da có quần áo và lộ ra ngoài. Ngoài ra, các phòng hơi ngạt đã được thiết lập tại các cơ sở của đơn vị và các đối tượng thử nghiệm bị phơi nhiễm khí độc thần kinh và chất gây phồng rộp.

Chúng thả các vật nặng lên các tù nhân để nghiên cứu vết thương do đè bẹp. Các đối tượng bị nhốt và không có thức ăn và nước uống để tìm hiểu xem con người có thể tồn tại bao lâu nếu nhịn đói khát. Các nạn nhân chỉ được phép uống nước biển, hoặc được tiêm máu nhóm khác hoặc máu động vật để nghiên cứu truyền máu và quá trình đông máu.

Trong khi đó, thí nghiệm tiếp xúc với tia X kéo dài đã làm vô sinh và giết chết hàng nghìn người tham gia nghiên cứu. Họ còn phải chịu tình trạng bỏng khủng khiếp khi các tấm phát xạ bị tính toán sai hoặc được giữ quá gần với núm vú, bộ phận sinh dục hoặc khuôn mặt của đối tượng.

Để nghiên cứu tác động của trọng lực cao đối với phi công và lính dù rơi xuống, các nhân viên của Đơn vị 731 đã chất người vào các máy ly tâm lớn và quay họ với tốc độ ngày càng cao cho đến khi họ bất tỉnh và/hoặc chết. Điều này thường xảy khi trọng lực vào khoảng 10 đến 15. Trẻ nhỏ cho thấy khả năng chịu đựng các lực gia tốc thấp hơn.


Thùy Dương
Theo: baotintuc

CHÍNH KHÍ CA - VĂN THIÊN TƯỜNG


Chính khí ca

Thiên địa hữu chính khí,
Tạp nhiên phú lưu hình.
Hạ tắc vi hà nhạc,
Thượng tắc vi nhật tinh.
Ư nhân viết hạo nhiên,
Bái hồ tắc thương minh.
Hoàng lộ đương thanh di,
Hàm hoà thổ minh đình.
Thời cùng tiết nãi hiện,
Nhất nhất thuỳ đan thanh.
Tại Tề thái sử giản,
Tại Tấn Đổng Hồ bút.
Tại Tần Trương Lương chuỳ,
Tại Hán Tô Vũ tiết.
Vi Nghiêm tướng quân đầu,
Vi Kê thị trung huyết.
Vi Trương Tuy Dương xỉ,
Vi Nhan Thường Sơn thiệt.
Hoặc vi Liêu Đông mạo,
Thanh tháo lệ băng tuyết.
Hoặc vi “Xuất sư biểu”,
Quỷ thần khấp tráng liệt.
Hoặc vi độ giang tiếp,
Khảng khái thôn Hồ Hiệt.
Hoặc vi kích tặc hốt,
Nghịch thụ đầu phá liệt.
Thị khí sở bàng bạc,
Lẫm liệt vạn cổ tồn.
Đương kỳ quán nhật nguyệt,
Sinh tử an túc luân.
Địa duy lại dĩ lập,
Thiên trụ lại dĩ tôn.
Tam cương thực hệ mệnh,
Đạo nghĩa vi chi căn.
Ta dư cấu dương cửu,
Lệ dã thực bất lực.
Sở tù anh kỳ quan,
Truyền xa tống cùng bắc.
Đỉnh hoạch cam như di,
Cầu chi bất khả đắc.
Âm phòng khuých quỷ hoả,
Xuân viện bí thiên hắc.
Ngưu ký đồng nhất tạo,
Kê thê phượng hoàng thực.
Nhất triêu mông vụ lộ,
Phân tác câu trung tích.
Như thử tái hàn thử,
Bách lệ tự tích dịch.
Ai tai thư như trường,
Vi ngã an lạc quốc.
Khởi hữu tha mậu xảo,
Âm dương bất năng tặc.
Cố thử cảnh cảnh tại,
Ngưỡng thị phù vân bạch.
Du du ngã tâm bi,
Thương thiên hạt hữu cực.
Triết nhân nhật dĩ viễn,
Điển hình tại túc tích.
Phong thiềm triển thư độc,
Cổ đạo chiếu nhan sắc.

Bài này tuyển từ Văn Sơn tiên sinh toàn tập quyển 4, bản Gia Tĩnh đời Minh. Nguyên bài thơ này có tiểu dẫn “Ta bị nhốt ở Bắc Đình, trong một căn nhà bằng đất. Nhà rộng tám thước sâu xuống lòng đất bốn tầm, có mỗi một cánh cửa thấp nhỏ, khoảng trống hẹp, ẩm thấp và tối tăm. Vào ngày hè, các mùi bốc lên nồng nặc, gồm mấy thứ khí hơi nước, khí đất, hơi nóng của mặt trời, hơi lửa, khí của gạo và uế khí, vẫn không bị các bệnh dịch xâm hại đến, và ta sống ở nơi này đã hai năm rồi, không sao cả. Đó là có sự nuôi dưỡng bên trong mới được như vậy, chắc các ngươi cũng chẳng biết nguồn nuôi dưỡng đó từ đâu? Mạnh Tử nói ‘Ta biết bồi bổ hạo khí của ta’. Ở đây có bẩy khí, ta có một khí, một địch lại bẩy ta còn lo gì nữa. Huống hạo khí là chính khí vậy, nên làm bài Chính khí ca.”


正氣歌 - 文天祥

天地有正氣,
雜然賦流形。
下則為河岳,
上則為日星。
於人曰浩然,
沛乎塞蒼冥。
皇路當清夷,
含和吐明庭。
時窮節乃見,
一一垂丹青。
在齊太史簡,
在晉董狐筆。
在秦張良椎,
在漢蘇武節。
為嚴將軍頭,
為嵇侍中血。
為張睢陽齒,
為顏常山舌。
或為遼東帽,
清操厲冰雪。
或為出師表,
鬼神泣壯烈。
或為渡江楫,
慷慨吞胡羯。
或為擊賊笏,
逆豎頭破裂。
是氣所磅礡,
凜烈萬古存。
當其貫日月,
生死安足論。
地維賴以立,
天柱賴以尊。
三綱實系命,
道義為之根。
嗟予遘陽九,
隸也實不力。
楚囚纓其冠,
傳車送窮北。
鼎鑊甘如飴,
求之不可得。
陰房闃鬼火,
春院閟天黑。
牛驥同一皂,
雞棲鳳凰食。
一朝蒙霧露,
分作溝中瘠。
如此再寒暑,
百沴自僻易。
哀哉沮洳場,
為我安樂國。
豈有他謬巧,
陰陽不能賊。
顧此耿耿在,
仰視浮雲白。
悠悠我心悲,
蒼天曷有極!
哲人日已遠,
典刑在夙昔。
風簷展書讀,
古道照顏色。


Bài hát chính khí
(Dịch thơ: Nguyễn Văn Thọ)

Anh hoa chính khí đất trời
Khoác hình vật chất khắp nơi vẫy vùng.
Tràn mặt đất tuôn sông kết núi,
Vút trời mây chói lói trăng sao
Trần ai lẩn bóng anh hào,
Muôn ngàn khí phách rạt rào tầng xanh.
Thuở non nước thanh bình khắp chốn,
Nét đan thanh chóng lộn bệ rồng.
Sơn hà gặp buổi lao lung,
Càng cao tiết ngọc, càng bừng vẻ son.
Tề Thái Sử mất còn mấy độ,
Thẻ tre kia há sợ gươm ai.
Đổng Hồ múa bút mấy hồi,
Làm cho Tấn tặc tơi bời ruột gan.
Trương Lương xót nỗi Hàn khói lửa,
Dùi đồng vung, nghiêng ngửa Tần vương.
Ngọn cờ Tô Vũ phong sương,
Càng băng giá cảnh, càng hương sắc lòng.
Đầu Nghiêm tướng dường đồng, dường thép,
Máu Kê quân nhuốm hết long bào.
Trương Tuần răng cứng cát sao,
Thành đồng đà nát, lòng đào khôn thay.
Lưỡi Thường Sơn nào hay lắt léo,
Mũ Quảng Minh che nẻo Liêu Đông.
Xuất sư biểu ấy hào hùng,
Ngọc vàng rộn rã nát lòng thần minh.
Dòng nước Hiệt lênh đênh bỡ ngỡ,
Thề cùng sông: «an rợ mới về!
Hốt ngà có lúc cũng ghê,
Cho đầu soán chúa ê chề tóc tang.
Linh khí ấy chứa chan muôn thuở,
Rực trần ai, tở mở trăng sao.
Khí thiêng đượm máu hùng hào,
Phù sinh nhẹ tựa hồng mao sá gì.
Giây buộc đất nó xe cho vững,
Cột chống trời nó dựng cho cao.
Cương thường đạo nghĩa trước sau,
Mối giường then chốt quán thâu một mình.
Ta lỡ bước điêu linh tù túng,
Vì ba quân lấp lửng ươn hèn.
Thân tù dạ lỏng khoá then,
Một xe đầy ải, băng miền heo may.
Đời luân lạc tỉnh say mấy độ,
Vạc dầu sôi mà ngó như sương.
Ngục tù khoá kín ánh dương,
Phòng giam trời vắng tối dường than tro.
Long câu giữa trâu bò len lỏi,
Phượng hoàng kia phận gửi đàn gà.
Một mai gió lạnh sương mờ,
Mấy hồi run rét, xác xơ thân tàn.
Cậy tuế nguyệt thổi tan chướng khí,
Nhờ dương quang đượm vẻ an khương.
Nhớp nhơ là chốn tù trường,
Mà ta khinh khoát coi dường Bồng Lai.
Ta vốn chẳng có tài phép lớn,
Nhưng trần ai khôn bận lòng ta.
Lòng ta Chính Khí chói loà,
Âm dương điên đảo khôn mờ tấc son.
Trời lồng lộng mây tuôn sóng bạc,
Động lòng sầu man mác trời mây.
Biển trời bát ngát chơi vơi,
Con thuyền dĩ vãng, bóng người xa xưa.
Người xưa quá, tinh hoa vẫn đó,
Tinh hoa còn rạng rỡ tờ mây.
Đạo xưa vầng sáng đâu đây,
Linh lung vầng sáng toả đầy dung quang.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Văn Thiên Tường 文天祥 (1236-1282) vốn tên là Vân Tôn 雲孫, tự Tống Thuỵ 宋瑞, Lý Thiện 履善, hiệu Văn Sơn 文山. Thiên Tường là tên bạn đặt cho lúc ông 20 tuổi đến Giang Tây thi cống sĩ. Nguyên quán ở Thành Đô, sau đổi qua Lư Lăng.

Ông sống vào thời đất nước ông bị Mông Cổ xâm lấn. Năm 1271, Hốt Tất Liệt cử binh đánh Nam Tống. Hai thành Tương Dương và Phàn Thành bị vây chặt, thủ đô Lâm An bị uy hiếp. Ông mộ binh được vạn người, kéo về bảo vệ Lâm An. Khi quân Mông Cổ đến đánh Lâm An, quan quân triều đình bỏ chạy, ông đảm nhận chức sứ giả đến trại quân Nguyên đàm phán. Không ngờ ông bị bắt, nhưng sau trốn được chạy về nam mộ binh đánh tiếp cùng với Trương Thế Kiệt, Lục Tú Phu. Nhưng sau cùng lực lượng không đối chọi nổi, ông bị bắt đem về Đại Đô (Bắc Kinh). Hốt Tất Liệt đã chiêu hàng nhưng ông quyết không đầu hàng, cuối cùng bị xử trảm tại đây năm 47 tuổi.

Nguồn: Thi Viện