Thursday, May 14, 2026

BIỆT PHẠM AN THÀNH - THẨM ƯỚC


Biệt Phạm An Thành

Sinh bình thiếu niên nhật,
Phân thủ dị tiền kỳ.
Cập nhĩ đồng suy mộ,
Phi phục biệt ly thì.
Vật ngôn nhất tôn tửu,
Minh nhật nan trùng trì.
Mộng trung bất thức lộ,
Hà dĩ uý tương tư.

Phạm An Thành tên là Phạm Tụ 范岫, tự Mậu Tân 懋賓, đời Tề (Nam Bắc triều) từng làm chức quan tại An Thành nên gọi là Phạm An Thành. Sử chép Thẩm Ước và Phạm Tụ là bạn thân, cả hai đều mất cha từ nhỏ, thân thế tương đồng, tâm tính cũng giống nhau. Đời Tống, hai người đều ở dưới trướng An Tây tướng quân Lưu Hưng Tông 劉興宗. Đời Tề, cả hai lại cùng là môn hạ của Cánh Lăng vương Tiểu Tử Lương 蕭子良.


彆范安成 - 沈約

生平少年日
分手易前期
及爾同衰暮
非復別離時
勿言一尊酒
明日難重持
夢中不識路
何以慰相思


Từ biệt Phạm An Thành
(Dịch thơ: Mạc Đình)

Lúc còn là niên thiếu 
Xa nhau dễ hẹn kỳ 
Bây giờ cùng già yếu 
Chia tay khác mọi khi 
Đừng nói chỉ một ly 
Mai khó có dịp này 
Trong mơ chẳng rõ lối 
Nhung nhớ làm sao khuây.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Thẩm Ước 沈約 (441-513) tự là Hưu Văn 休文, người Vũ Khang, Ngô Hưng (nay là Vũ Khang, Chiết Giang). Ông là văn học gia và sử học gia sống vào thời Vĩnh Minh (483-493), nước Tề đời Nam Bắc Triều, là tác giả sách Tứ thanh phổ. Một hôm vua Tề Vũ Đế hỏi: “Thế nào là bốn thanh?” Ông đáp ngay rằng: “Thiên tứ thánh triết”.

Nguồn: Thi Viện

TRÍ TUỆ NHÂN SINH: CÁCH ĐỐI DIỆN VỚI LỜI PHÊ PHÁN, CHỈ TRÍCH

Bất luận trong cuộc sống gặp phải điều gì thì đều có cách để giải quyết toàn vẹn. Vậy có những lúc vô duyên vô cớ bị người khác sỉ nhục nói xấu, thì nên phản ứng lại thế nào?

Trong kinh Phật có nói, con người phải gió thổi tám hướng cũng không động. (Ảnh: Faxingsj)

Đối với những lời phê phán, chỉ trích, nói xấu bôi nhọ, kiên trì án binh bất động

Có một câu thành ngữ là “Hô ngưu hô mã”, nghĩa là dù người khác có chửi bới, hay khen ngợi, cũng không buồn so đo. Thành ngữ này bắt nguồn từ một câu chuyện mà Trang Tử kể.

Có một người tự nhận mình là thông thái, tên là Sĩ Thành Khởi. Ông ta thường nghe mọi người khen ngợi Lão Tử có trí tuệ siêu nhiên vượt bậc, vậy là vượt chặng đường dài đến bái kiến Lão Tử.

Thấy nhà của Lão Tử bừa bộn như ổ chuột, thì tức giận nói: “Nghe mọi người nói ngài là thánh nhân trí tuệ cao siêu, ta băng qua mấy trăm dặm đường đến gặp ngài, không ngờ ngài chẳng khác gì con chuột!”.

Lão Tử nghe xong không hề có phản ứng. Sĩ Thành Khởi chửi xong liền bỏ đi. Hôm sau, ông ta cảm thấy mình có lỗi, bèn đến xin lỗi Lão Tử.


Lão Tử điềm nhiên nói: “Thánh nhân với không thánh nhân gì chứ, thứ danh hiệu ấy ta sớm đã vứt bỏ nó như chiếc giày rách rồi. Ta nếu đã đắc được đại Đạo, thì dù ngươi có chửi ta là trâu, là ngựa, là chuột, thì cũng có quan hệ gì chứ? Ta vẫn là ta”.

Người sống trên thế gian, khó tránh khỏi có lúc bị người khác tức giận, phê phán chỉ trích, thậm chí là vu khống bôi nhọ, nếu bạn vì thế mà tức giận, thì thật là không đáng!

Trong kinh Phật nói, con người phải gió thổi tám hướng cũng không động. Đối với sự phỉ báng của người khác, càng phản ứng kịch liệt thì càng không có hồi kết, chi bằng cứ án binh bất động, coi như nước đổ lá khoai!

Tâm thái “thuyền không” giảm bớt tranh chấp, đừng tự coi mình là trung tâm

Trang Tử đã từng nói đến một ví von khá thú vị là “thuyền không”. Nếu như bạn đang ngồi chèo thuyền, có một chiếc thuyền khác đi qua, người trên thuyền không giỏi chèo lái, đâm vào thuyền của bạn, lúc này rất có thể bạn sẽ tức giận.

Nhưng nếu trên chiếc thuyền đó không có người, là một chiếc thuyền trống không, gió thổi tới, liệu bạn có tức giận không?


Căn bệnh phổ biến của mọi người đó là quá đề cao bản thân, quá coi trọng chính mình, tự coi mình là cái rốn vũ trụ.

Quá coi trọng bản thân, sẽ dễ tranh chấp với mọi người, nếu như có tâm thái “thuyền không”, vậy thì cuộc đời sẽ bớt đi tranh giành, con người sẽ bớt tức tối nổi giận.

Có nhiều chuyện trong cuộc sống, chỉ dựa vào việc tức giận sẽ không giải quyết được vấn đề, thản đãng vứt bỏ, không tự cho mình là trung tâm, sẽ dễ dàng hóa giải mọi mâu thuẫn.

Đăng Dũng / Theo: vandieuhay

BẠN CHƯA TỪNG NGHE TÊN ÔNG ẤY, NHƯNG MỌI CON CHIP BẠN ĐANG DÙNG ĐỀU BẮT NGUỒN TỪ ĐÂY

Tính đến hiện tại, mọi con chip hiện đại – từ CPU trong laptop đến GPU trong data center – đều là hậu duệ kỹ thuật trực tiếp của công trình được cấp bằng sáng chế vào ngày 25/4/1961

Robert Noyce, dù ít khi được nhắc đến như Steve Jobs hay Bill Gates, vẫn là người góp phần thiết kế ra thế giới điện tử hiện đại, từ cấp độ vật lý.

Ngày 25 tháng 4 năm 1961, Văn phòng Sáng chế Hoa Kỳ chính thức cấp bằng sáng chế số 2,981,877 cho Robert Noyce, khi đó đang làm việc tại Fairchild Semiconductor, cho phát minh về vi mạch tích hợp sử dụng công nghệ silicon. Đây là cột mốc có vẻ kín tiếng, nhưng lại trở thành nền tảng cho toàn bộ ngành công nghiệp điện tử trong sáu thập kỷ tiếp theo – từ máy tính, điện thoại thông minh, đến vệ tinh và máy chủ AI.

Khái niệm vi mạch tích hợp (integrated circuit) – tức tích hợp nhiều bóng bán dẫn và linh kiện điện tử lên cùng một miếng silicon duy nhất – đã được đề xuất trước đó bởi Jack Kilby của Texas Instruments vào năm 1958. Kilby thực hiện thiết kế của mình trên chất nền germanium và được cấp bằng sáng chế năm 1960. Tuy nhiên, phiên bản của Noyce – sử dụng silicon, quy trình quang khắc (photolithography) và phương pháp liên kết kim loại hiệu quả hơn – mới là nền tảng phù hợp cho sản xuất hàng loạt.


Dù có tranh cãi pháp lý về việc ai là “cha đẻ thực sự” của vi mạch tích hợp, giới công nghiệp bán dẫn nhìn nhận rằng Kilby mở đường, còn Noyce đặt nền móng cho sản xuất quy mô lớn. Cũng nhờ phát minh này, Robert Noyce không chỉ trở thành nhân vật quan trọng tại Fairchild mà còn là đồng sáng lập Intel vào năm 1968 – nơi tiếp tục thương mại hóa các chip vi xử lý trên chính nền tảng IC mà ông từng đăng ký bản quyền.

Việc cấp bằng sáng chế cho Noyce không chỉ là một thủ tục pháp lý. Nó xác lập cơ sở để công nghệ vi mạch chuyển từ phòng thí nghiệm ra dây chuyền sản xuất, và mở đường cho sự bùng nổ của ngành điện tử hiện đại. Với vi mạch tích hợp, thiết bị điện tử không còn cồng kềnh, rườm rà hàng trăm linh kiện rời rạc, mà có thể được thu gọn vào các chip nhỏ như đầu ngón tay. Từ đó, máy tính cá nhân, thiết bị di động, đồng hồ thông minh, cảm biến, xe điện – tất cả đều trở nên khả thi.


Quan trọng hơn, phát minh này không chỉ tác động đến phần cứng. Nó thay đổi luôn cả tư duy thiết kế hệ thống, buộc các kỹ sư, nhà lập trình và nhà sản xuất phải nghĩ theo hướng tối ưu trên diện tích siêu nhỏ, dùng ít điện năng hơn và đạt hiệu suất cao hơn – chính là nguyên lý nền tảng cho mọi cuộc đua công nghệ suốt từ đó đến nay.

Tính đến hiện tại, mọi con chip hiện đại – từ CPU trong laptop đến GPU trong data center – đều là hậu duệ kỹ thuật trực tiếp của công trình được cấp bằng sáng chế vào ngày 25/4/1961. Và Robert Noyce, dù ít khi được nhắc đến như Steve Jobs hay Bill Gates, vẫn là người góp phần thiết kế ra thế giới điện tử hiện đại, từ cấp độ vật lý.

Ánh Viên / Theo: thanhnienviet

Wednesday, May 13, 2026

TỶ PHÚ ROCKERFELLER THẲNG THẮNG KHUYÊN 5 ĐIỀU: ĐỊA NGỤC VẪN CÓ ĐẦY NGƯỜI TỐT, ĐÔI KHI BẠN PHẢI CÓ LÒNG THAM ĐỂ SỞ HỮU NHỮNG ĐIỀU ĐẸP ĐẼ

Ông có 5 lời khuyên kinh điển được lưu truyền cho thế hệ sau giúp một người từ bình thường hoá phi thường.


John Davison Rockefeller Sr. là một doanh nhân, nhà từ thiện, tỷ phú người Mỹ. Ông được coi là người Mỹ giàu có nhất mọi thời đại. Có những thời điểm, ông là người giàu nhất đất nước, kiểm soát 90% tổng lượng dầu ở Mỹ vào thời kỳ đỉnh cao. Ông đã cách mạng hoá ngành dầu khí và thông qua các đổi mới công nghệ và công ty, công cụ giúp phổ biến rộng rãi và giảm đáng kể chi phí sản xuất dầu.

Rockefeller không chỉ là một doanh nhân thành đạt mà còn là một người cha dạy dỗ con rất tốt. Ông biết rằng không phải tiền bạc có thể mang lại cho đứa trẻ hạnh phúc suốt cuộc đời mà chính là một nhân cách hoàn chỉnh, một trái tim kiên cường và những thói quen sinh hoạt tốt.

Ông có 5 lời khuyên kinh điển được lưu truyền cho thế hệ sau. Đây được coi là bí quyết truyền đời, bạn có thể tham khảo để tới gần với thành công hơn.

1. Bạn nắm giữ hạt giống thành công trong tay

Những người có thể tiến lên trên thế giới này là những người biết tìm kiếm môi trường lý tưởng cho mình. Nếu không có được thì họ sẽ tự tạo ra.

Nhiều người luôn theo đuổi những điều tốt đẹp, tự tạo ra cơ hội cho mình. Thực tế là những cơ hội lý tưởng hiếm khi xuất hiện dễ dàng, nhưng thường có rất nhiều cơ hội kém lý tưởng. Mặc dù những cơ hội tương đối tốt vẫn có những khuyết điểm nhưng chắc chắn vẫn tốt hơn nhiều so với việc không có cơ hội nào cả.

2. Đừng để kẻ xấu cản trở bạn

Bạn phải chú ý đến môi trường của bạn. Hãy khiến môi trường phục vụ công việc của bạn. Những cách để môi trường giúp bạn thành công là: Đến gần hơn với những người tích cực và thành công. Ít tiếp cận những người tiêu cực. Nếu thường xuyên giao du với những kẻ tiêu cực, bản thân bạn cũng sẽ trở nên tiêu cực. Nếu giao tiếp với kiểu người nhỏ mọn, bạn sẽ hình thành nhiều thói quen xấu.


Mặt khác, thường xuyên bị ảnh hưởng bởi những người tài giỏi sẽ tự nhiên nâng cao trình độ tư duy của một người. Thường xuyên tiếp xúc với những người đầy tham vọng và thành công cũng sẽ giúp bạn phát triển tham vọng và hành động cần thiết để đạt được thành tựu.

3. Tận dụng tốt trí tuệ của mọi người

Tỷ phú Rockefeller không phủ nhận vai trò to lớn của người lãnh đạo nhưng chiến thắng chung phụ thuộc phần lớn vào tập thể. Ông cho rằng, mọi thành tựu đều dựa vào sức mạnh tập thể chứ không dựa vào cá nhân. Chỉ khi mọi người đều làm việc chăm chỉ thì chúng ta mới có thể tin tưởng và mong đợi điều kỳ diệu sẽ xảy ra.

4. Địa ngục đầy người tốt

Địa ngục đầy rẫy người tốt nhưng luôn có rất nhiều kẻ đạo đức giả. Nếu quan sát kỹ, bạn sẽ thấy rằng con người có một bản chất sâu xa: họ thích sự dối trá và sai lầm hơn là nhận ra sự thật. Trong cuộc sống và công việc, tình trạng này thường xuyên xảy ra.

Những ý kiến đúng ngay từ đầu luôn bị chế giễu và bỏ qua, sau khi xác minh được kết quả thì thiệt hại đã xảy ra. Những ý kiến đúng như vậy thường không được xem trọng. Con người đã quen với việc đắm mình trong bầu không khí giả tạo và nông cạn. Con người đã quen với việc tiếp nhận những tín hiệu khiến họ kiêu hãnh và thoải mái, đồng thời chặn đứng những thông tin khiến họ khó chịu.

5. Cần phải có lòng tham

Không có ai là không tham lam. Nếu bạn có một cây ô liu, bạn muốn có cả một cây ô liu. Vị tỷ phú chia sẻ, ông đã từng thấy những người không biết ăn bít tết, nhưng tôi chưa từng thấy ai không tham lam. Đặc biệt trong giới kinh doanh, đằng sau chủ nghĩa vị lợi và tôn thờ tiền bạc chỉ có một từ duy nhất - tham lam. Ông cho rằng trong tương lai, người không tham lam sẽ là người hiếm hoi trên Trái đất. Ai sẽ ngừng theo đuổi và sở hữu những thứ đẹp đẽ?


Trong mỗi người đều có lòng tham ẩn chứa. Lòng tham không hẳn là điều xấu, đôi khi nó tạo động lực giúp bạn thành công.

Ngày nay, sau hơn 100 năm và sáu thế hệ, gia tộc Rockefeller vẫn là một trong những gia đình giàu có nhất thế giới. Sở dĩ con cháu của Rockefeller có thể tiếp nối vinh quang và thành công của gia tộc cho đến ngày nay là nhờ sự giáo dục của gia đình mà họ được nhận từ khi còn nhỏ.

Theo: Toutiao

TÂY GIANG NGUYỆT - CHU ĐÔN NHO


Tây giang nguyệt

Nhật nhật thâm bôi tửu mãn,
Triều triều tiểu phố hoa khai.
Tự ca tự vũ tự khai hoài,
Thả hỷ vô câu vô ngại.
Thanh sử kỷ phiên xuân mộng,
Hoàng tuyền đa thiểu kỳ tài.
Bất tu kế giảo dữ an bài,
Lãnh thủ nhi kim hiện tại.


西江月- 朱敦儒

日日深杯酒滿
朝朝小圃花開
自歌自舞自開懷
且喜無拘無礙
青史幾番春夢
黃泉多少奇才
不須計較與安排
領取而今現在


Tây giang nguyệt
(Dịch thơ: Lý Phúc Điền)

Ngày ngày có chén rượu đầy
Trong vườn cũng có từng này hoa tươi
Tự ca tự múa cho vui
Mừng không còn chuyện bận tôi chút nào
Sử xanh là giấc chiêm bao
suối vàng đếm được hết sao anh tài
Thôi đừng tính toán nhọc người
Những gì trước mắt một vài vẫn hơn


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Chu Đôn Nho 朱敦儒 (1081-1159) tự Hy Chân 希真, người Lạc Dương, thiếu thời chí hạnh thanh cao, không chịu làm quan, về sau nhiều lần triều đình trưng triệu, mới ra làm quan một thời gian. Hai quyển Tiều ca của ông cho thấy rõ vẻ thanh đạm tiêu sơ trong tình tự bất mãn.

Nguồn: Thi Viện



TẠI SAO NHIỀU NHÀ KHOA HỌC CHO RẰNG KIẾN LÀ SINH VẬT TIẾN HÓA HOÀN HẢO NHẤT TRÊN TRÁI DẤT?

Một nghiên cứu gần đây từ các nhà khoa học đã tiết lộ những điều đáng ngạc nhiên về loài kiến. Không chỉ là sinh vật chăm chỉ và có tổ chức, kiến còn có thể là loài sinh vật tiến hóa hoàn hảo nhất trên Trái Đất.

Các nhà nghiên cứu cho rằng chúng vượt trội so với con người trong một số lĩnh vực như kỹ thuật xây dựng, nông nghiệp, và "chăn gia súc". Hệ thống xã hội của kiến không chỉ giúp chúng cạnh tranh tốt hơn trong việc sinh tồn mà còn tạo ra một nguồn gen phong phú, giúp chúng trở thành một phần không thể thiếu của hệ sinh thái.

Khi nhìn vào kết quả nghiên cứu này, không ít người đã liên tưởng đến sự tiến hóa và khả năng xã hội hóa của loài người. Việc so sánh hai loài, kiến và con người, mở ra nhiều góc nhìn thú vị về việc chúng ta có thể học hỏi từ thiên nhiên và đặc biệt là từ loài kiến.


Kiến từ lâu đã được biết đến với sự cần cù và trí thông minh, nhưng giờ đây, chúng còn được nhìn nhận như những kỹ sư "hoàn hảo" trong tự nhiên. Đặc biệt, hiệu suất và kỹ năng của chúng trong các lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp và chăn nuôi đã khiến nhiều nhà khoa học không khỏi ngưỡng mộ.

Kỹ thuật xây dựng

Kiến nổi tiếng với khả năng xây dựng tổ một cách hiệu quả và bền vững. Trong quá trình làm tổ, chúng sử dụng các chất do chính cơ thể tiết ra để kết dính các hạt đất lại với nhau. Tổ kiến, mặc dù có kích thước nhỏ bé, nhưng lại là một cấu trúc vô cùng phức tạp. Nó không chỉ là nơi trú ẩn mà còn đáp ứng đầy đủ nhu cầu sống của cả đàn kiến. Khả năng tạo ra những công trình kiên cố với "kỹ thuật tự nhiên" này khiến chúng được xem như những nhà thiết kế tài ba trong giới động vật.


Nông nghiệp của loài kiến

Không dừng lại ở việc xây dựng, kiến cũng có khả năng "canh tác nông nghiệp" rất đáng nể. Chúng trồng và chăm sóc một số loại nấm hoặc cây trồng xung quanh tổ để tạo nguồn thức ăn cho cả đàn. Những loại cây này được kiến quản lý và chăm sóc kỹ lưỡng, giống như con người trồng rau và chăm sóc mùa màng. Khi những chiếc lá hoặc nấm phát triển đủ lớn, chúng sẽ được sử dụng làm nguồn thức ăn phong phú cho cả đàn kiến. Đây có thể coi là một ví dụ rõ ràng về việc loài kiến biết cách tận dụng môi trường xung quanh để tự duy trì sự sống, mà không cần đến công cụ hay máy móc phức tạp.

Chăn nuôi gia súc: Sự khéo léo của loài kiến

Không chỉ biết trồng trọt, kiến còn có "kỹ năng chăn nuôi gia súc" không thua kém gì con người. Một số loài kiến "nuôi" rệp, không phải để ăn thịt mà để khai thác chất ngọt do rệp tiết ra. Để đảm bảo sự an toàn cho những con rệp này, kiến bảo vệ chúng khỏi các loài săn mồi và tạo môi trường thuận lợi cho chúng sinh sản. Điều này tương tự như việc con người nuôi gia súc và lấy sản phẩm từ chúng. Sự phối hợp hoàn hảo giữa loài kiến và những "đàn gia súc rệp" này là một trong những minh chứng rõ ràng về khả năng tổ chức và quản lý tài tình của loài kiến.


Qua nghiên cứu của các nhà khoa học, "gen hoàn hảo" của loài kiến đã mang lại nhiều cảm hứng cho con người, đặc biệt là về cách tổ chức xã hội và tiến hóa. Hệ thống xã hội của loài kiến không chỉ mạnh mẽ mà còn phát triển theo hướng cộng sinh, đồng thịnh vượng. Mỗi cá thể trong đàn đều có vai trò riêng, nhưng đều đặt lợi ích của cả đàn lên trên hết. Điều này giúp loài kiến dễ dàng thích nghi với môi trường và vượt qua các thử thách sinh tồn.

Ở một mức độ nào đó, loài người cũng là những "động vật xã hội". Chúng ta sống và làm việc theo hệ thống xã hội, và sự hợp tác giữa các cá nhân trong xã hội là yếu tố then chốt giúp con người tiến bộ. Tuy nhiên, khác với loài kiến, con người lại có sự khác biệt về di truyền và tính cách, điều này đôi khi khiến chúng ta khó đạt được mức độ tổ chức và đoàn kết cao như kiến. Tuy vậy, chính những khác biệt này lại là yếu tố giúp xã hội loài người phát triển đa dạng và phong phú hơn.


Bên cạnh các khía cạnh xã hội, loài kiến còn mang lại cho con người những bài học quý báu trong các lĩnh vực như xây dựng, nông nghiệp và chăn nuôi.

Cấu trúc tổ kiến với khả năng chống đỡ và tối ưu hóa không gian là nguồn cảm hứng lớn cho kiến trúc hiện đại. Các nhà khoa học và kỹ sư có thể học hỏi từ loài kiến để thiết kế những tòa nhà tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường và có khả năng chống chọi với các hiện tượng tự nhiên như gió bão, động đất.

Cách loài kiến trồng nấm hoặc "chăm sóc cây trồng" xung quanh tổ cũng gợi ý cho con người về mô hình nông nghiệp bền vững. Thay vì canh tác quy mô lớn và gây ảnh hưởng đến môi trường, chúng ta có thể học tập mô hình sản xuất nông nghiệp của kiến, nơi cây trồng được chăm sóc tự nhiên và không cần sự can thiệp quá mức của con người.

Kỹ năng chăn gia súc của kiến, thông qua việc nuôi rệp và bảo vệ chúng khỏi kẻ thù, cũng có thể truyền cảm hứng cho việc phát triển các mô hình chăn nuôi thân thiện với thiên nhiên. Thay vì nuôi gia súc trong môi trường công nghiệp, chúng ta có thể để chúng phát triển trong môi trường tự nhiên, từ đó tạo ra những sản phẩm lành mạnh hơn cho con người.


Sự tiến hóa và tổ chức xã hội của loài kiến đã mang lại rất nhiều bài học quý giá cho con người. Từ khả năng xây dựng, nông nghiệp cho đến chăn nuôi, kiến cho thấy sự khéo léo và hiệu quả vượt trội trong việc tận dụng nguồn lực thiên nhiên. Chúng không chỉ là những sinh vật nhỏ bé, mà còn là một phần quan trọng của hệ sinh thái toàn cầu. Con người, với trí tuệ và khả năng sáng tạo, có thể học hỏi từ loài kiến để phát triển các lĩnh vực khác nhau, đồng thời hiểu rõ hơn về quá trình tiến hóa sinh học và mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên.

Cuối cùng, loài kiến không chỉ là một biểu tượng của sự chăm chỉ, mà còn là một minh chứng cho sự tiến hóa hoàn hảo của tự nhiên. Sự hiểu biết sâu sắc về chúng có thể giúp con người xây dựng một xã hội bền vững, hài hòa hơn với thiên nhiên.

Đức Khương / Theo: kenh14

Tuesday, May 12, 2026

MỘT NGÀY KIỀM CHẾ BẢN THÂN THEO LỄ, THIÊN HẠ SẼ QUY VỀ NHÂN

Trong suốt hành trình giáo hóa, Khổng Tử chưa bao giờ đưa ra một định nghĩa cố định cho chữ “nhân” (仁), vì ông hiểu rằng “nhân” không phải là giáo điều, mà là đạo sống, là hơi thở của con người trong từng hoàn cảnh.


Mỗi học trò, mỗi vị quân tử đều có con đường riêng để đạt đến “nhân”, và Khổng Tử đã giảng giải tùy người, tùy thời để “nhân” không chỉ là lý tưởng xa vời mà chính là thực hành trong đời sống hằng ngày.

Với Khổng Tử, “nhân” chính là “trung” và “thứ”, lòng trung thực với bản thân và sự khoan dung với người khác. Như lời Tăng Tử sau này đúc kết: “Trung ư kỷ nhi thứ ư nhân”, giữ lòng mình ngay thẳng và đối với người thì lấy lòng mình mà suy lòng người. Đó là tinh hoa của đạo làm người.

Khổng Tử từng nói: “Cương nghị, mộc mạc, gần với nhân” nghĩa là người có tính cứng cỏi, chân thật, không giả tạo là người gần với “nhân” nhất. Ngược lại “kẻ khéo nói, đẹp lời, hiếm người có nhân”, vì sự hoa mỹ thường che giấu cái giả dối khiến người ta xa rời chân tâm. “Nhân đạo” vì thế không nằm trong lời nói cao xa mà ở chỗ chân thành, thiết thực, không phù phiếm, không trái đạo lý.

Một lần, Tử Cống hỏi:

“Thưa Thầy, nếu có người rộng rãi ban phát cho dân, giúp đỡ muôn người có phải là nhân không?”

Khổng Tử mỉm cười:

“Đó không chỉ là nhân mà là thánh! Ngay cả Nghiêu, Thuấn cũng khó làm được! Người nhân là muốn mình vững lập thì giúp người khác vững lập, muốn mình thông đạt thì giúp người khác thông đạt. Lấy bản thân làm gương, đó là phương cách của nhân.”

Ở đây, “nhân” không phải là hành vi to tát, mà là sự đồng cảm và sẻ chia. Khi ta giúp người khác đạt được điều ta mong muốn cho chính mình, khi ta biết soi người từ chính lòng mình ấy là nhân. Khổng Tử còn dạy: “Thợ muốn làm tốt việc, phải có dụng cụ sắc bén. Ở một nước, hãy phục vụ người hiền tài, kết bạn với kẻ nhân đức.” Nghĩa là, để trở nên nhân, ta phải nương tựa vào người hiền, vì người hiền chính là tấm gương phản chiếu bản tâm của mình.

Trong số các học trò, Nhan Uyên là người mà Khổng Tử đặc biệt quý trọng. Ông khen Nhan Uyên là “ba tháng không rời nhân”, lời khen mà không ai khác trong thiên hạ có được. Khi Nhan Uyên hỏi về “nhân”, Khổng Tử đáp:

“Kiềm chế bản thân, trở về với lễ là nhân. Một ngày kiềm chế bản thân theo lễ, thiên hạ sẽ quy về nhân. Nhân do mình, há do người sao?”


Một ngày kiềm chế bản thân ấy chính là khởi đầu của tu thân. Khi con người biết dừng lại trước cám dỗ, biết giữ lòng mình không vượt lễ, biết uốn lời nói, tiết hành vi, thì trật tự và hòa khí tự nhiên lan tỏa. “Một ngày” ấy tuy ngắn nhưng nếu ai cũng làm được, thì cả thiên hạ đều trở về nhân đạo. Khi Nhan Uyên xin lời dạy cụ thể, Khổng Tử chỉ nói:

“Không hợp lễ thì không nhìn, không nghe, không nói, không làm.”

Nhan Uyên đáp: “Dù tôi không thông minh, xin được thực hành lời này.”

Câu trả lời ấy cho thấy tinh thần thực hành đạo nhân qua lễ, không phải qua lời giảng hay triết lý.

Đến lượt Nhiễm Ung, người có tài trị quốc hỏi về nhân, Khổng Tử dạy:

“Ra ngoài như tiếp khách quý, sai khiến dân chúng như làm lễ lớn. Điều mình không muốn, đừng làm cho người. Ở nước không ai oán, ở nhà không ai trách.”

Đó là “nhân trong chính trị”, là đạo của người lãnh đạo biết kính trọng dân, hành xử cung kính và bao dung. Khi người cầm quyền biết kiềm chế bản thân giữ lễ thì thiên hạ tự nhiên yên ổn, không oán, không hận.

Từ những lời dạy ấy, ta có thể thấy:

“Nhân” của Khổng Tử không nằm ở lý thuyết cao siêu mà nằm ở sự tự chế. Biết tự chế là biết thắng được cái “dục”, giữ được cái “lễ” và nuôi dưỡng cái “nhân”. Đó là con đường tu thân của bậc quân tử từ sửa mình mà cảm hóa người, từ chính tâm mà bình trị thiên hạ.

Một ngày biết kiềm chế bản thân theo lễ, thiên hạ sẽ quy về nhân vì nhân không ở đâu xa. Nó bắt đầu từ ánh mắt biết kính trọng, từ lời nói biết dừng, từ hành vi biết nghĩ cho người khác. Khi mỗi người trở về với đạo lễ thì xã hội tự nhiên trở về với đạo nhân.

Và đó chính là chân lý mà Khổng Tử muốn gửi lại cho muôn đời:

Tu thân để lập nhân, lập nhân để trị thế. Chỉ một ngày biết giữ lễ, đã đủ để khởi đầu một đời nhân nghĩa

Mỹ Mỹ biên tập
Theo: vandieuhay