Monday, June 8, 2026

GIA ĐÌNH - NƠI TỔN THƯƠNG VÀ THA THỨ LUÔN SONG HÀNH


Nhà ông Tám Hên có một cái lệ bất thành văn, là không ai nói lời xin lỗi.


Cái tiệm tạp hóa nhỏ của ông nằm lọt thỏm trong con hẻm ở Gò Vấp, bán đủ thứ từ chai nước mắm tới cây kim sợi chỉ. Ông Tám là người khó tánh, cả đời lam lũ, mặt mày lúc nào cũng đăm đăm. Ông ít khi cười, nói chuyện với con cái cũng chỉ toàn câu ra lệnh. Con trai ổng, thằng Long, thì ngược lại. Nó hai mươi mấy tuổi, mới đi làm, đầu óc lúc nào cũng bay bổng, hay có mấy ý tưởng mà ông Tám cho là “tào lao mía lao”.
Thành ra, nhà ông không ngày nào là không có chuyện

“Long! Mày coi lại cái kệ hàng coi! Mày xếp vầy ma nó mua!”

“Thì con đang tính đặt cái kệ mới trên mạng nè ba, cho nó gọn gàng, chuyên nghiệp.”

“Chuyên nghiệp cái gì! Tốn tiền! Mày làm như cái nhà này giàu lắm vậy!”

“Trời ơi ba! Thời buổi giờ phải vậy người ta mới ghé chứ!”

Cuộc nói chuyện lúc nào cũng kết thúc bằng tiếng thở dài của má thằng Long và sự im lặng nặng nề của hai cha con. Không ai xin lỗi ai. Sáng hôm sau, mọi chuyện lại như cũ. Ông Tám vẫn càu nhàu.

Thằng Long vẫn lầm lì. Họ cứ làm tổn thương nhau bằng những lời nói vô tình, rồi lại tự cho mình cái quyền được tha thứ một cách hiển nhiên, vì họ là gia đình. Gia đình mà, có gì đâu mà phải khách sáo. Họ nghĩ vậy.

Đỉnh điểm là cái hôm thằng Long tự ý dùng tiền lương của mình đi đăng ký một khóa học pha chế. Nó muốn mở thêm một xe cà phê nhỏ trước tiệm tạp hóa để kiếm thêm thu nhập. Nó nghĩ đó là một ý tưởng tốt. Nhưng khi nó hồ hởi khoe với ba nó, thứ nó nhận lại là một gáo nước lạnh.

Ông Tám đập bàn, mắt long lên: “Mày có hỏi tao một tiếng nào chưa? Mày nghĩ mày đủ lông đủ cánh rồi hả? Cái tiệm này là mồ hôi nước mắt của tao cả đời, không phải chỗ cho mày muốn làm gì thì làm!”.

Thằng Long, bị chạm vào lòng tự ái, cũng gân cổ lên cãi: “Con cũng muốn phụ ba, muốn cái nhà này khá lên thôi! Sao ba không bao giờ chịu nghe con nói? Hay ba sợ con giỏi hơn ba?”.

Câu nói cuối cùng như một nhát dao. Mặt ông Tám sầm lại. Ông không nói thêm một lời nào, lẳng lặng quay lưng bỏ vào trong. Cái bóng lưng của ông hôm đó sao mà nó nặng nề đến thế.

Từ hôm đó, hai cha con không nói với nhau nửa lời. Họ sống chung một nhà mà như hai người xa lạ. Không khí trong nhà đặc quánh lại, đến cả tiếng thở cũng nghe mệt mỏi. Má thằng Long lủi thủi dọn bữa cơm, chỉ có tiếng chén đũa va vào nhau. Bà nhìn chồng, nhìn con, đôi mắt lúc nào cũng như sắp khóc.

Thằng Long thấy khó chịu, nhưng cái tôi của nó quá lớn. Nó nghĩ nó không sai. Nhưng mỗi lần nhìn thấy ba nó lụi cụi một mình dọn hàng, tấm lưng còng xuống, mái tóc thêm nhiều sợi bạc, lòng nó lại nhói lên. Nó nhớ lại câu nói của mình. Nó biết mình đã sai. Nhưng lời xin lỗi sao mà nó nghẹn lại ở cổ họng.

Khó nói quá. Ba nó chắc cũng hiểu mà, cần gì phải nói ra.

Ảnh minh họa

Rồi một tối, má nó lên cơn đau tim, phải nhập viện gấp

Cái tin đó như một tiếng sét đánh ngang tai hai cha con. Mọi giận hờn, tự ái, cố chấp bỗng dưng tan biến hết. Chỉ còn lại nỗi sợ hãi tột cùng. Họ vội vã đưa bà vào bệnh viện.

Trong hành lang bệnh viện lạnh lẽo, trắng toát, hai cha con ngồi cạnh nhau trên hàng ghế chờ. Im lặng. Nhưng sự im lặng lần này không phải là sự hận thù, mà là sự hối hận và lo lắng đến tột độ.

Thằng Long nhìn ba nó. Lần đầu tiên nó thấy ba nó bất lực. Người đàn ông cả đời gồng gánh, mạnh mẽ như cây cổ thụ, giờ ngồi đó, hai tay ôm lấy mặt, bờ vai run lên. Không có tiếng khóc, nhưng thằng Long biết, ba nó đang tan vỡ từ bên trong.

Nó khẽ đặt tay lên vai ba. Nó thấy vai ba giật nảy mình.

Nó hít một hơi thật sâu, cái lời mà nó đã giữ trong lòng mấy tuần nay, cuối cùng cũng bật ra được, dù giọng nó run run, khản đặc:

“Ba… Con xin lỗi.” Chỉ ba chữ.

Ông Tám không ngẩng mặt lên. Ông chỉ lắc đầu, giọng nghẹn ngào: “Lỗi của tao. Lỗi tại tao hết…”.

Hai người đàn ông không nhìn nhau, nhưng họ biết, họ đã tha thứ cho nhau. Lời xin lỗi muộn màng đó không chỉ dành cho những chuyện đã qua, mà còn cho cả những lần họ làm tổn thương nhau trong quá khứ mà chưa một lần nói ra.

Khi má nó tỉnh lại, thấy hai cha con ngồi cạnh giường, bà mỉm cười yếu ớt. Bà không biết chuyện gì đã xảy ra, nhưng bà cảm nhận được, không khí đã khác, lòng bà như trút đi cục tạ vậy.

Sau một tuần, má nó được về nhà. Tối đó, sau bữa cơm, thằng Long lẳng lặng gọt một dĩa trái cây, hai tay bưng ra mời ba nó.

“Dạ, con mời ba ăn trái cây.”

Ông Tám đang xem ti vi, ngẩng lên nhìn con trai, rồi nhìn dĩa lê trắng muốt, được gọt khéo léo. Ông “ừ” một tiếng, cầm lấy một miếng.

“Mua đâu mà ngọt bây.” Ông nói, mắt vẫn dán vào màn hình.

Thằng Long đứng đó, mỉm cười. Nó biết, đó là cách ba nó nói: “Cảm ơn con”.

Gia đình là một nơi kỳ lạ. Là nơi ta làm tổn thương nhau nhiều nhất bằng những lời nói vô tình, vì ta nghĩ người thân sẽ luôn ở đó và tha thứ. Nhưng cũng chính vì vậy, đó là nơi cần những lời xin lỗi chân thành nhất.

Không phải để khách sáo, mà để cho nhau biết rằng, dù có chuyện gì xảy ra, ta vẫn thương yêu và trân trọng nhau. Một lời xin lỗi, một lời cảm ơn đúng lúc, đôi khi có thể hàn gắn lại những vết nứt mà ta cứ ngỡ là “lẽ đương nhiên” nó phải tự lành.

Nguyên Tác An Hậu
Theo: vandieuhay

"BIẾT THÌ NÓI LÀ BIẾT, KHÔNG BIẾT THÌ NÓI LÀ KHÔNG BIẾT, ĐÓ MỚI LÀ BIẾT" - BÀI HỌC TRÌ TUỆ TỪ KHỔNG TỬ

Khổng Tử nói: “Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, đó mới là biết”. Nghe qua, tưởng chừng chỉ là một lời khuyên về cách trả lời khi có ai hỏi. Nhưng nếu suy ngẫm kỹ, đây là triết lý sống vô cùng thực tế và minh triết, dạy con người cách đối diện với tri thức, với bản thân và với cuộc đời.


Khiêm tốn là cội nguồn của trí tuệ

Con người ta thường dễ rơi vào chiếc bẫy của sự ảo tưởng tri thức. Có chút hiểu biết, ta dễ cho rằng mình đã thông tỏ tất cả. Thực tế, tri thức của nhân loại là biển rộng, còn cái ta biết chỉ như giọt nước nhỏ nhoi. Người càng học rộng, hiểu sâu, lại càng nhận ra mình ít ỏi.

Khổng Tử muốn nhắc nhở: khiêm tốn là dấu hiệu của trí tuệ. Thừa nhận “không biết” không phải là sự kém cỏi, mà chính là sự can đảm, là khởi đầu cho hành trình tìm hiểu thêm.

Thành thật với chính mình

Xã hội nhiều khi tạo áp lực khiến con người sợ hãi khi phải thừa nhận mình “không biết”. Ai cũng muốn tỏ ra am hiểu, ai cũng ngại bị coi thường. Nhưng chính sự giả vờ ấy lại khiến ta dậm chân tại chỗ.

Như Khổng Tử nói: “Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, đó mới là biết”. Chỉ khi dám đối diện với sự thiếu sót của bản thân, ta mới thật sự học hỏi và trưởng thành. Người thành thật với chính mình không cần khoác vỏ bọc hiểu biết giả tạo, bởi họ biết rằng giá trị thật không nằm ở lời nói suông, mà ở sự cầu thị và tiến bộ mỗi ngày.


Trí tuệ của sự thẳng thắn

Trong giao tiếp, không gì đáng quý hơn sự thẳng thắn. Người nói “tôi không biết” không phải vì họ kém, mà vì họ tôn trọng sự thật. Chính sự minh bạch ấy khiến người khác tin cậy, từ đó mà mở ra những cơ hội hợp tác, học hỏi lẫn nhau.

Ngược lại, kẻ luôn tỏ ra “biết tuốt” lại dễ mất uy tín khi sự thật phơi bày. Sự khôn ngoan giả tạo có thể qua mặt người khác một lần, nhưng không thể tồn tại lâu dài.

Khổng Tử bằng câu nói ngắn gọn đã chỉ ra một chân lý lớn: Trí tuệ không nằm ở việc biết nhiều, mà ở việc biết rõ mình đang ở đâu.

Người biết thừa nhận giới hạn của bản thân, ấy chính là người thật sự sáng suốt. Bởi khi ta dám nói “không biết”, cũng là lúc cánh cửa tri thức mới mở ra.

Và trên hành trình nhân sinh, giữ cho mình sự khiêm cung, thành thật và cầu thị chính là cách để mỗi người không ngừng tiến bộ, vững vàng và tỏa sáng.

Theo: Sống Đẹp

TẶNG BIỆT KỲ 2 - ĐỖ MỤC


Tặng biệt kỳ 2

Đa tình khước tự tổng vô tình,
Duy giác tôn tiền tiếu bất thành.
Lạp chúc hữu tâm hoàn tích biệt,
Thế nhân thuỳ lệ đáo thiên minh.


贈別其二 - 杜牧

多情卻似總無情
唯覺樽前笑不成
蠟燭有心還惜別
替人垂淚到天明
Tặng lúc chia tay kỳ 2
(Dịch thơ: Trần Trọng Kim)

Đa tình mà tựa vô tình
Chỉ hay trước mặt buồn tênh không cười
Có lòng sáp vẫn ngậm ngùi
Thay người tuông lệ ngắn dài suốt đêm


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng. Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng tong, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thư ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn).

Nguồn: Thi Viện



LỜI RU... KHỞI NGUỒN CỦA TÌNH NGƯỜI VÀ ĐẠO LÝ VIỆT

Từ bao đời nay, lời ru đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt. Đó không chỉ là âm nhạc đầu đời của mỗi con người, mà còn là một cách dạy dỗ, nuôi dưỡng tâm hồn bằng tình thương và đạo lý. Dù ở Bắc, Trung hay Nam, mỗi vùng đất đều có điệu ru riêng, mang màu sắc khác nhau nhưng cùng chung một cội nguồn: gieo mầm nhân nghĩa trong lòng người.

Lời ru… khởi nguồn của tình người và đạo lý Việt

Ở miền Bắc, lời ru thường dịu dàng, tha thiết. Trong những câu hát mộc mạc, mẹ dạy con đạo lý làm người:

“Ầu ơ… Gió mùa thu mẹ ru con ngủ,
Năm canh chày mẹ thức đủ vừa năm.”

Giọng ru Bắc Bộ nhẹ nhàng như dòng sông quê, thấm dần vào tiềm thức đứa trẻ, để rồi lớn lên, con người ta tự nhiên biết kính trên nhường dưới, biết giữ nghĩa tình.

Ảnh minh họa.

Miền Trung với khí hậu khắc nghiệt, cuộc sống nhiều vất vả, lời ru lại man mác buồn, sâu lắng. Người mẹ xứ Huế đưa con vào giấc ngủ bằng tiếng hát nửa như vỗ về, nửa như gửi gắm nỗi niềm:

“Ru em, em théc cho muồi,
Để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu.
Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh,
Chợ Dinh bán áo con trai,
Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.”

Trong cái man mác ấy là cả tấm lòng chịu thương chịu khó, vừa dạy con biết nhẫn nại, vừa khơi gợi tình cảm thủy chung, nghĩa tình bền chặt.

Ảnh minh họa.

Miền Nam thì khác. Lời ru ở đây ngọt ngào, mộc mạc như gió đồng hương lúa. Những câu ru Nam Bộ thường gần gũi, chan chứa tình thương:

“Ầu ơ… Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi.
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con đi trường học, mẹ đi trường đời.”

Âm điệu ấm áp ấy làm cho tình cảm gia đình thêm gắn bó, nhắc con cái nhớ trọn đạo hiếu, sống thật tình nghĩa giữa đời thường.

Dù mang sắc thái khác nhau, nhưng lời ru ở cả ba miền đều gặp nhau ở một điểm: dùng tình cảm để dưỡng nuôi đạo lý. Không có sự ép buộc, không có lời răn dạy khô khan, mà chỉ bằng giai điệu dịu dàng, đạo lý đã thấm vào lòng trẻ nhỏ một cách tự nhiên. Từ đó, lời ru trở thành gốc rễ nhân cách, làm nên bản sắc nhân văn của người Việt.

Ảnh minh họa.

Ngày nay, trong nhịp sống hiện đại, ít còn nghe thấy những lời ru quanh vành nôi. Tiếng ti vi, điện thoại, loa đài đã lấn át. Nhưng khi lời ru vắng bóng, chúng ta cũng đánh mất đi một phương thức giáo dục tinh tế nhất, một sợi dây nối kết các thế hệ. Xã hội hôm nay, hơn bao giờ hết, cần tìm lại giá trị ấy, không chỉ để trẻ thơ có giấc ngủ êm, mà còn để con người còn giữ được gốc nhân nghĩa, còn biết sống yêu thương và gìn giữ cội nguồn.

Bởi lẽ, lời ru không chỉ dành cho trẻ con. Nó còn là tiếng vọng nhắc nhở người lớn chúng ta: hãy sống hiền hòa, nhân ái, đừng quên rằng chính từ những khúc hát “ầu ơ” mộc mạc ngày nào, ta đã học được cách làm người bắt đầu từ tình thương, để rồi lớn lên thành nhân nghĩa.

Khai Tâm biên tập
Theo: vandieuhay

DẶM DÀI HỦ TIẾU - KỲ 5: HỦ TIẾU MÌ GIA - TRUYỀN ĐỜI HƯƠNG VỊ NGƯỜI HOA

Cha tôi nói ăn hủ tiếu mà chưa thưởng thức của người Hoa nấu cũng giống như ăn phở mà không phân biệt nổi phở Sài Gòn và Hà Nội khác nhau thế nào.

Xe hủ tiếu bán dạo trên đường phố Sài Gòn trước năm 1975 - Ảnh: tư liệu

"Hồi xưa cuối tuần cha tôi hay dắt các con đi ăn quán xá. Lần này ông cho ăn quán sang thì lần sau ăn bình dân vỉa hè để biết với người ta. Riêng món hủ tiếu, ông cho chúng tôi ăn nhiều nơi, từ các quán người Việt nổi tiếng ở trung tâm Sài Gòn như khu chợ Bến Thành, đường Tôn Thất Đạm, Hàm Nghi đến các cửa tiệm lâu đời của người Hoa ở Chợ Lớn.

Cha tôi nói ăn hủ tiếu mà chưa thưởng thức của người Hoa nấu cũng giống như ăn phở mà không phân biệt nổi phở Sài Gòn và Hà Nội khác nhau thế nào", bà Trần Thị Hiền (78 tuổi, ở phường Bảy Hiền, TP.HCM) vui vẻ nhắc nhớ ký ức ẩm thực của mình.

Ký ức hủ tiếu Sài Gòn trước 1975

Rất thạo địa chỉ hàng quán và món ăn ngon ở Sài Gòn cả trước và sau năm 1975 nhưng bà Hiền không phải dân cố cựu TP phương Nam này. Năm 1954, chị em bà cùng cha mẹ từ Hà Nội xuống Hải Phòng rồi lên tàu vào Nam.

Cha mẹ bà giỏi buôn bán, nên con cái thường xuyên được thưởng thức món ngon vật lạ. Đó là những ngày cuối tuần trước năm 1975, cha bà hay chở vợ con trên chiếc Vespa lên bến Bạch Đằng hóng gió, ngắm tàu bè rồi thưởng thức các món ăn ở khu trung tâm.

Riêng món hủ tiếu, bà Hiền nhiều kỷ niệm với các quán xá người Hoa quanh khu vực ngã sáu Nguyễn Tri Phương và đường Châu Văn Liêm, Nguyễn Trãi...

Cha bà sành ăn, thường nói với vợ con: "Ăn hủ tiếu mà không thưởng thức đủ kiểu Nam Vang, Mỹ Tho, Sa Đéc và đặc biệt là của người Hoa thì chưa thể nói đã nếm trọn vẹn món ngon. Bởi gốc gác hủ tiếu là của lưu dân người Hoa phiêu dạt sang xứ sở này".

Bà Hiền kể hồi đó mình không hiểu lắm ý cha nhưng thật sự thích những quán của người Hoa như Hải Ký trên đường Nguyễn Tri Phương mà cha con bà đã ngồi mòn ghế từ trước 1975. Quán này có món hủ tiếu thập cẩm rất đậm đà với thịt xá xíu, lòng heo, tôm, cá, mực…

"Hồi đó toàn tôm sông, con nào cũng to cỡ nửa cổ tay người lớn. Thịt heo thì chưa nuôi công nghiệp nên rất thơm. Ăn sáng một tô hủ tiếu thập cẩm no luôn cả ngày", bà Hiền kể chị em mình thích quán người Hoa vì họ thường bán nhiều món.

Hôm nào bà không ăn hủ tiếu, có thể gọi hủ tiếu mì hay hoành thánh, sủi cảo…

Thật ra, các quán hủ tiếu của người Hoa ở Sài Gòn cũng có nhiều "trường phái" khác nhau, thậm chí cùng một món ăn nhưng người treo bảng hủ tiếu, người lại ghi hủ tíu với lý lẽ rất riêng.

Sanh thời, cụ Vương Hồng Sển có đoạn kể tưng tửng thú vị về món này trong cuốn Sài Gòn tạp pí lù:

"Lại nhắc đến tô hủ tíu của chú Ba Tàu. Hỏi chú chệc Tiều (Triều Châu), chú sửa cục thuốc xỉa qua bên môi và cắt nghĩa: Củi viết ra Hán tự là quế, tíu muốn dịch là tiểu hay thiểu (nhỏ) đều nghe không thông nhưng không dám đảm bảo là chắc và củi tíu là bánh bột cọng nhỏ, nếu theo điệu Tiều.

Gia vị, tôm tươi, chả cá, gan heo, bao tử luộc ram lại gọi là phá lấu. Chút ít thịt gà, thì gọi củi tíu cá gà hoặc vài miếng thịt heo thì gọi củi tíu thịt.

Nhưng đó là củi tíu Tiều, sau đó ta chế lại và gọi củi tíu Nam Vang hoặc củi tíu Mỹ Tho tùy nơi bày chế và nay có thêm món mì Quảng (không nên lầm với tô mì Quảng Đông vì đây là mì bình dân do dân "ngũ Quảng" của ta nhập cảng vào Sài Gòn cũng gần đây thôi) và đã nhắc thì phải nói luôn, củi tíu Tiều khi do tay bếp Quảng Đông nấu, thì đã thay hương vị và đổi luôn danh từ để gọi hủ tiếu - cắt giải nghĩa rồi.

Tô hủ tíu Quảng Đông chỉ thay thế chả cá bằng miếng bánh chiên tép tươi... Không phải đợi đến quán sang đắt giá mới có thức ngon, khi ngon mấy gánh dạo bán "hủ tíu cá gà", một cắc một tô ăn vẫn thích thú…".

Nhưng đó là ký ức của cụ Vương Hồng Sển, một nhà sưu tầm cổ vật, nhà nghiên cứu, cây bút khả kính đã đi vào lịch sử Sài Gòn và đất phương Nam.

Ở thập niên thứ ba thế kỷ 21, thực khách trẻ thời nay như người viết bài này hơi ngơ ngác với chuyện xưa kể lại của cụ Sển nhưng vẫn rất dễ dàng tìm thấy sự đa dạng và độc đáo của hủ tiếu người Hoa đang được bán khắp nơi chứ không riêng gì khu vực Chợ Lớn, quận 5 cũ.

Xe hủ tiếu mì của người Hoa với nhiều hình vẽ màu sắc trang trí - Ảnh tư liệu

Sự độc đáo truyền đời

Bà cụ Hiền đã chỉ cho tôi một cách đơn giản để nhận biết quán người Hoa là cứ nhìn vào xe hủ tiếu hay khu vực bếp của họ.

Nếu như xe hủ tiếu người Việt thường làm đơn giản với vật liệu nhôm, kính hoặc inox, gỗ phẳng phiu và nếu có bày biện thì thực dụng mớ hành tỏi và đĩa tôm thịt để bỏ vào tô hủ tiếu, thì của người Hoa chú trọng trang trí nhiều màu sắc và họa tiết hơn.

Phần kính thường được cắt hình lượn sóng nhẹ nhàng cùng các hình vẽ, ký tự nhiều màu sắc với tông màu đậm như xanh, đỏ, nâu, vàng làm chủ đạo.

Đặc biệt, các quán có thể mang nhiều tên khác nhau nhưng chữ cuối thường là ký hoặc gia như các quán Hải Ký, Huỳnh Ký, Minh Ký, Lâm Ký… mà cha con bà Hiền đã trở thành thực khách quen thuộc từ trước năm 1975.

Nhiều nơi còn ghi đầy đủ thêm như Hủ tiếu mì gia để cố ý nhấn mạnh uy tín quán ngon được truyền đời lâu năm.

Tuy nhiên, bảng hiệu hay hình thức trang trí xe hủ tiếu, quán xá dẫu sao cũng chỉ là bề ngoài. Điều tinh túy nhất chính là sự khác biệt trên tô hủ tiếu.

Tôi có người bạn Hải Lý đã định cư Canada 30 năm, cả đời chỉ có 15 năm tuổi thơ sống tại quê hương nhưng mỗi lần về Việt Nam đều tranh thủ thưởng thức bằng được món hủ tiếu mì xá xíu mà chị nói vui là "đi xa cứ nhớ đến là chảy nước miếng".

Thường thì về nước, chị cùng gia đình vào tận các quán khu Chợ Lớn để được thưởng thức đúng "món ngon chánh hiệu".

Có nửa dòng máu Hoa kiều và nửa Việt trong người, mẹ con chị Lý định cư ở Montréal, Québec, Canada, nơi cũng nhiều quán ăn người Hoa nhưng chị nói vẫn không thể nào ngon bằng ăn uống ở ngay Chợ Lớn, Sài Gòn.

"Như món thịt xá xíu, tôi từng ghi chép kỹ cách chế biến của ông chủ quán người Tiều ở đường Nguyễn Trãi để sang Canada tự làm cho gia đình thưởng thức cuối tuần mà sao vẫn không thể ngon bằng", chị tâm sự.

Về cơ bản thì làm món thịt kiểu Quảng Đông này đâu có gì quá cầu kỳ. Chị chọn miếng nạc vai heo ngon rồi ướp xì dầu, ngũ vị hương, bột màu điều, tương đen, rượu, tương, chao… và xỏ ghim nướng để thái mỏng ăn cùng hủ tiếu mì.

Có lần chị bỏ cả ngày cuối tuần cố công làm món này cho ngon nhưng cha mẹ chị vẫn cười nói "còn thua xa tay nghề mấy ông bà khu Chợ Lớn". Chị kể các chủ quán đều vui vẻ chỉ bày bí quyết chế biến nhưng hình như chị chưa lĩnh hội hết được hay có gì đó họ chưa chỉ hết…

Với những người sành ăn, hủ tiếu người Hoa luôn có nét rất riêng về nồi nước lèo và gia vị. Chị Lý kể từng được cho xem nồi nước lèo có vị ngọt chủ đạo từ xương ống heo hầm nhiều giờ và tôm, mực khô nên "độ ngọt rất sâu, đậm".

Tuy nhiên, nhìn thì đơn giản như vậy chứ không phải ai nấu cũng được. Tô hủ tiếu bày lên bàn ăn có thêm hương vị xì dầu cùng giấm đỏ, xí muội, sa tế, tương ớt và chất mỡ tự làm rất riêng biệt.

Tất nhiên, như chuyện xưa kể lại của cụ Vương Hồng Sển hay gu ẩm thực của thực khách, mỗi kiểu hủ tiếu đều có nét độc đáo riêng và cuốn hút khách hạp khẩu vị.

Người thích hủ tiếu của người Hoa Chợ Lớn, người mê hủ tiếu Nam Vang, Mỹ Tho, Sa Đéc, thậm chí là tô hủ tiếu gõ rất bình dân thời nay mà đã làm nên danh tiếng tay nghề người Quảng Ngãi.

Độc đáo hủ tiếu hồ

Đây là "trường phái" hủ tiếu của người Tiều (Triều Châu), Trung Quốc đem đến Sài Gòn và được chế biến độc đáo rất riêng. Nước lèo thường được nấu hơi sánh nhờ bột năng, hủ tiếu cũng không phải loại cọng nhỏ dài phổ biến mà là những miếng nên cũng có thể gọi là bánh hủ tiếu khá lạ.

Đặc biệt, phần thịt heo hay tôm, cá thường được hủ tiếu hồ thay bằng lòng heo, lỗ tai được ướp nhiều gia vị cầu kỳ như kiểu phá lấu. Ngoài ra, sự khác lạ của hủ tiếu hồ còn là ăn kèm cải chua tạo nên hương vị rất riêng.

Thực khách lần đầu nếm món này có ý kiến khác nhau nhưng người nào đã ăn nhiều sẽ nhớ mãi.

*****************

>> Kỳ tới: Về Sa Đéc, thưởng thức hủ tiếu lừng danh

Thùy Chi / Theo: tuoitre

Sunday, June 7, 2026

EUROVISION: BULGARI LẦN ĐẦU TIÊN GIÀNH NGÔI QUÁN QUÂN VỚI CA KHÚC BANGARANGA TRÀN ĐẦY NĂNG LƯỢNG

Ca sĩ người Bulgari Dara giành chiến thắng tại vòng chung kết cuộc thi Eurovision lần thứ 70 hôm qua, 16/05/2026, tại Vienna, Áo, với bài hát tràn đầy năng lượng « Bangaranga ».

Ca sĩ Dara, đại diện cho Bulgari, chiến thắng cuộc thi Eurovision Song Contest 2026 trong đêm chung kết tại Vienna, Áo, ngày 17/05/2026. © Lisa Leutner / Reuters

Theo AFP, nữ ca sĩ 27 tuổi người Bulgari, tên thật là Darina Yotova, đã chinh phục cả ban giám khảo và công chúng từ 148 quốc gia, với tổng số điểm là 516 với bài hát ngợi ca không khí hội hè và tự do. Tên bài hát « Bangaranga », trong tiếng Jamaica, có nghĩa là nổi loạn. Toàn bộ khán phòng đã cùng nhau nhảy theo màn trình diễn của Dara.

Trả lời báo giới, ca sĩ người Bulgari nói : « Chúng tôi muốn mang đến với công chúng một điều gì đó mới mẻ và độc đáo, một điều gì đó bất ngờ, một hình ảnh mới cho Eurovision ». Nữ ca sĩ quán quân Eurovision lần thứ 70 cho biết thêm, « khi chúng ta gỡ bỏ mặt nạ, ngừng nỗ lực tìm kiếm sự hoàn hảo, thì đó là lúc chúng ta có thể sống thật với chính mình. »

Giải nhì Eurovision: "Michelle" - Ca sĩ Noam Bettan (Israel)

Về nhì cuộc thi năm nay là ca sĩ Israel, Noam Bettan, với nhạc phẩm « Michelle », được trình bày một phần bằng tiếng Pháp. Tiết mục của ca sĩ Israel được 343 điểm, thua xa người về đầu.

Năm quốc gia – Tây Ban Nha, Ireland, Hà Lan, Slovenia và Iceland - tẩy chay cuộc thi năm nay tại Vienna, một điều chưa từng có trong tiền lệ, vì không chấp nhận sự có mặt của Israel, quốc gia bị lên án về cuộc chiến tranh tại dải Gaza. Hơn một nghìn nghệ sĩ quốc tế cũng đã kêu gọi tẩy chay cuộc thi năm nay để phản đối sự tham gia của Israel.

Vào lúc diễn ra vòng chung kết Eurovision, đài truyền hình công Tây Ban Nha RTVE đã chiếu một biểu ngữ màu đen với thông điệp, « Eurovision là một cuộc thi, nhưng không phải là nhân quyền. Đừng thờ ơ ! Hòa bình và công lý cho Palestine ! ».

Giải ba Eurovision: "Choke Me" - Ca sĩ Alexandra Capitanescu (Rumani)

Thí sinh đến từ Rumani, Alexandra Capitanescu, 22 tuổi, giành vị trí thứ ba nhờ màn trình diễn đầy cuốn hút với ca khúc rock « Choke Me ». Cặp đôi từ Phần Lan, Linda Lampenius và Pete Parkonnen, từng được hy vọng giành ngôi quán quân rốt cuộc chỉ giành được vị trí thứ sáu. Ca sĩ Pháp Monroe 17 tuổi và bài « Regarde! », một kết hợp giữa nhạc pop và opera Pháp, từng được coi là ứng cử viên cho top ba, xếp hạng thứ 11. « Regarde ! » được ban giám khảo ủng hộ nhiệt liệt, nhưng ngược lại nhận được rất ít điểm từ khán giả.

Cuộc thi Eurovision năm nay được khoảng 160 triệu khán giả truyền hình theo dõi, xấp xỉ hồi năm ngoái. Bulgari, quốc gia vùng Balkan với 6,5 triệu dân, vốn không tham gia Eurovision từ 3 năm qua vì không có điều kiện về tài chính, nhờ chiến thắng của Dara với « Bangaranga », sẽ được đăng cai Eurovison năm tới.

Trọng Thành
Theo: RFI Tiếng Việt (17/05/2026)

Giải nhất Eurovision: "Bangaranga" - Ca sĩ Dara (Bulgari)


TẢO THU SƠN TRUNG TÁC - VƯƠNG DUY


Tảo thu sơn trung tác

Vô tài bất cảm luỵ minh thì,
Tư hướng Đông Khê thủ cố ly.
Bất yếm Thượng Bình hôn giá tảo,
Khước hiềm Đào lệnh khứ quan trì.
Thảo đường cung hưởng lâm thu cấp,
Sơn lý thiền thanh bạc mộ bi.
Tịch mịch sài môn nhân bất đáo,
Không lâm độc dữ bạch vân kỳ.


早秋山中作

無才不敢累明時
思向東溪守故籬
不厭尚平婚嫁早
卻嫌陶令去官遲
草堂蛩響臨秋急
山裏蟬聲薄暮悲
寂寞柴門人不到
空林獨與白雲期


Làm buổi sáng sớm 
mùa thu trong núi
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Bất tài chẳng lụy cho đời. 
Đông Khê chốn cũ, thảnh thơi cảnh già. 
Thượng Bình dâu rể một nhà. 
Đào Tiềm treo ấn, được đà từ quan. 
Nhà tranh dế vẫn ca vang. 
Ve kêu khe núi, chiều càng buồn thêm. 
Cửa tre vắng lặng êm đềm. 
Rừng sâu ai tới, bên thềm mây trôi.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương Duy 王維 (699-759) tự là Ma Cật 摩詰, người huyện Kỳ (thuộc phủ Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây). Cha mất sớm, mẹ là một tín đồ thờ Phật suốt ba mươi năm nên Vương Duy chịu ảnh hưởng tư tưởng của đạo Phật. Ông tài hoa từ nhỏ, đàn hay, vẽ giỏi, chữ đẹp, văn chương xuất chúng. Năm 19 tuổi, Vương Duy đến Trường An, được Kỳ vương Lý Phạm mến tài, đỗ đầu kỳ thi của phủ Kinh Triệu. Năm 21 tuổi, thi đậu tiến sĩ, được bổ làm Ðại nhạc thừa rồi bị giáng làm Tham quân ở Tế Châu. Sau nhân Trương Cửu Linh làm Trung thư lệnh, ông được mời về làm Hữu thập di, Giám sát ngự sử, rồi thăng làm Lại bộ lang trung. Trong thời gian này, thanh danh của ông và em là Vương Tấn vang dậy Trường An. Sau đó đến lượt Trương Cửu Linh lại bị biếm, Vương Duy đi sứ ngoài biên ải và ở Lương Châu một thời gian.

Nguồn: Thi Viện