Thursday, August 13, 2026

PHẬT GIÁO CÓ SÙNG BÁI QUỶ THẦN HAY KHÔNG?

Thần mà Phật giáo nói, thông thường chiếm vị trí trung gian giữa loài Trời và loài quỷ. Quỷ có phúc đức lớn gọi là thần. Tùy tòng đi theo các loài Trời cũng thường thường là thần. Quỷ có các loài: Đa tài quỷ, thiểu tài quỷ, quỷ đói, đa tài đại phúc quỷ.

Thần mà Phật giáo nói cũng là chúng sinh ở cõi phàm.

Rất rõ ràng, một Phật tử chính tín chỉ sùng bái Phật, Pháp, Tăng, tức là Tam Bảo, tuyệt đối không sùng bái quỷ thần. Thế nhưng, Phật giáo chính tín không phủ định sự tồn tại của quỷ thần. Bởi vì quỷ và thần thuộc 2 cõi trong 6 cõi sống của chúng sinh nằm trong vòng sinh tử luân hồi. Do đó, thần của Phật giáo không phải là Thượng Đế của tôn giáo thần quyền, quỷ mà kinh Phật nói cũng không phải là ma quỷ của tôn giáo thần quyền.

Thần mà Phật giáo nói cũng là chúng sinh ở cõi phàm. Ma của Phật giáo nói là chúng sinh ở cõi Trời thứ sáu của Dục giới. Ma của Phật giáo đúng là ma. Quỷ của Phật giáo đúng là quỷ. Ma mà sách Phật nói có bốn loại: Thiên ma, ma ngũ uẩn, ma phiền não, ma chết. Trừ thiên ma ra, còn ba loại ma kia đều phát xuất từ sinh lý và tâm lý của con người.

Thần mà Phật giáo nói, thông thường chiếm vị trí trung gian giữa loài Trời và loài quỷ. Quỷ có phúc đức lớn gọi là thần. Tùy tòng đi theo các loài Trời cũng thường thường là thần. Quỷ có các loài: Đa tài quỷ, thiểu tài quỷ, quỷ đói, đa tài đại phúc quỷ (1). Các loại quỷ này, tuy ở cõi quỷ nhưng lại được hưởng phúc đức của loài Trời.

Thông thường loài thần thiện được Phật giáo cảm hóa và trở thành thần hộ pháp. Ảnh minh họa.

Các thần được dân gian sùng bái, hơn nữa nếu là loài quỷ có phúc đức lớn. Thần thì có thiên thần, không thần (thần ở trong hư không), địa thần. Cũng có thể phân loại: Thiên thần, súc thần (thần súc vật), quỷ thần, các loại thần do dân gian sùng bái như thần rắn, thần bò, thần linh thảo mộc, thần núi, thần sông v.v…, phần lớn đều là địa thần, súc thần hay quỷ thần.

Kinh Phật thường nói tới Bát bộ quỷ thần, tức là thiên thần, long thần (thần loài rồng), thần Dạ Xoa (gọi là phi không quỷ – quỷ bay trên không), Càn thát bà (thần nhạc trời), A Tu La, Ca Lâu La (chim cánh vàng), Khẩn na la (chim có giọng hót hay), Ma Hầu La Già (con trăn thần). Trong Bát bộ quỷ thần, có thần thiện, có thần ác.

Chính vì có sự hộ trì của thiện thần, mà ác thần, ác quỷ không dám xâm phạm đến những người đã quy y Tam Bảo.

Thông thường loài thần thiện được Phật giáo cảm hóa và trở thành thần hộ pháp. Vì vậy, Phật tử chính tín không sùng bái quỷ thần, nhưng giữ thái độ kính lễ đúng mức. Một Phật tử chính tín mà sùng bái quỷ thần thì có tội về nguyên tắc. Các thiện thần đều tự động gia hộ những người quy y Tam Bảo, cho nên họ nhất định không chịu tiếp nhận sự sùng bái của quỷ thần của Phật tử đã quy y Tam Bảo. Chính vì có sự hộ trì của thiện thần, mà ác thần, ác quỷ không dám xâm phạm đến những người đã quy y Tam Bảo.

(1) Tên các loài quỷ. Tài là tiền tài.

Hòa thượng Thánh Nghiêm

CHỊU ĐỰNG

Nhẫn nhục không phải là thái độ hèn nhát, mà đó là sự thực tập mở rộng dung lượng trái tim để chứa đựng được những khó khăn lớn.


Chấp nhận để đi tới

Khi nghe bác sĩ báo tin ta đã bị ung thư, thông thường ta sẽ hốt hoảng và gào khóc lên: "Ồ không, không thể như thế được. Tôi có làm gì đâu mà phải bị ung thư. Tại sao không phải là ai khác mà lại là tôi?". Ta còn tưởng là mình không thể sống nổi khi nhận được hung tin ấy. Nhưng rồi chừng vài tuần hay vài tháng sau, ta cũng học cách chấp nhận được sự thật mình đã bị ung thư. Dù phải cần có những phương thuốc thích hợp để chữa trị lâu dài nhưng tế bào ung thư đã chậm phát tán, vì ta đã tạo được năng lượng hòa thuận với chúng mà không ra sức kháng cự hay ghét bỏ nữa. Theo y khoa, tiến trình trị liệu đã bắt đầu xảy ra. Chấp nhận mình có bệnh là can đảm nhìn vào những khó khăn của cơ thể mình trong thực tại để kịp thời cứu giúp, chứ không phải là thái độ bỏ cuộc. Cũng vì chạy theo những tham vọng hay vì ý thức chủ quan mà ta đã để cho cơ thể mình xuống cấp trầm trọng. Đến khi nó không còn đủ sức để phục vụ cho ta nữa thì ta lại bực tức, trách móc và căm ghét nó. Đó là thái độ thiếu hiểu biết và thiếu tình thương với chính mình.

Có nhiều người tỏ ra rất tự tin khi tuyên bố: "Tôi không bao giờ chấp nhận thất bại". Đó là lời tuyên bố rất ngây thơ, vì không ai mà không từng thất bại dù họ đang rất thành công. Nên nhớ, những điều kiện đưa tới sự thành công có khi nằm ngoài tầm tay, ta không thể cưỡng ép nó đến với ta khi ta chưa tìm ra sự liên kết đúng đắn. Tất nhiên, cảm giác thất bại rất khó chịu. Ta vừa mất mát những gì mình đã hết lòng đầu tư, vừa suy giảm niềm tin vào bản thân, và vừa phải cố gắng tỏ ra bình thản trước mọi người. Nhưng tất cả sức ép đó đều do chính ta tạo ra. Nếu ta biết nhìn đúng đắn và khoáng đạt hơn về vị trí của mình và bản chất của đời sống, thì chắc chắn ta sẽ bớt ép uổng mình phải như thế này hay như thế kia. Như khi ta phạm lỗi, dù đã được người ấy tha thứ, nhưng ta lại không chấp nhận bản thân mình. Ta không thể nào tin nổi một người có hiểu biết và vững chãi như ta mà lại vướng vào lỗi lầm không đáng ấy, nên ta căm ghét và muốn trừng phạt nó. Cũng bởi vì ta áp đặt mình phải luôn hoàn hảo, trong khi bản thân còn rất nhiều chỗ yếu kém cần được ta nhìn nhận và chăm sóc. Chấp nhận yếu kém là trung thực với chính mình, là vượt qua được những thói quen đặt để hay sự đối phó không cần thiết.


Khi ta đã luyện tập được thói quen chấp nhận những yếu kém của chính mình, chấp nhận được những điều không như ý xảy ra theo nguyên tắc nhân quả và duyên sinh của cuộc sống, thì ta cũng sẽ dễ dàng chấp nhận những vụng về và lầm lỡ của kẻ khác. Nhìn lại, ta thấy phần lớn lý do không chấp nhận của ta cũng chỉ vì ta thấy người kia không còn gì hay ho để cho ta hưởng thụ, hoặc ta không muốn sự xấu xa của họ làm ảnh hưởng đến danh dự của mình. Chứ không phải vì ta muốn giúp họ cố gắng để tiến bộ hơn như ta giải thích. Nếu ta thật lòng vì cuộc đời họ thì sự chấp nhận kia không phải là thái độ dung dưỡng cho thói hư tật xấu. Trái lại, nó còn giúp họ có thêm niềm tin và nghị lực để vượt qua bản thân. Vì họ thấy mình vẫn còn giá trị trong mắt người thương và họ còn tin tưởng tình thương chân thật luôn vượt ra khỏi sự sòng phẳng. Nên dù ta có chấp nhận hay không chấp nhận thì sự thật vẫn cứ diễn ra theo tiến trình của nó. Nếu chọn lựa thái độ chấp nhận, không tiếp tục tránh né hay chống đối nữa, tức là ta đã bắt tay vào tiến trình tìm hiểu sự thật và tháo gỡ. Vấn đề dù vẫn còn đó, nhưng ta không còn thấy nặng nề và khó chịu nữa. Ta sẽ đủ kiên nhẫn tìm thêm điều kiện thích hợp để giúp nó được chuyển hóa.

Khả năng chịu đựng

Tùy vào nhận thức của mỗi người và thói quen luyện tập mà khả năng chấp nhận rất khác nhau. Có những vấn đề người khác chấp nhận một cách bình thường nhưng ta lại phản kháng kịch liệt, và ngược lại. Ngay cả chính ta cũng liên tục thay đổi mức độ chấp nhận. Có những điều tưởng chừng ta không bao giờ chấp nhận, nhưng bây giờ ta lại thấy cũng được; và có những điều ta đã từng chấp nhận một cách rất dễ dàng, nhưng sau này ta lại than chịu hết nổi. Khi chấp nhận được ta thường cho rằng tại đối tượng kia dễ thương; còn khi không chấp nhận được thì ta lại đổ thừa tại họ tăng thêm mức khó chịu. Chứ ta không hề nghĩ rằng chính cơ chế tâm thức của ta đã không còn giữ nguyên trạng thái ban đầu. Có thể nhận thức của ta đúng đắn hay lệch lạc hơn, trí tưởng tượng tạm dừng hoạt động hay phóng đại hơn, cảm xúc suy yếu hay mãnh liệt hơn, và những phiền não trong ta đã tan biến hay phát triển hơn. Vì vậy, ta đừng quá tin vào sự chấp nhận hay không chấp nhận hôm nay của mình. Dù ta đang rất ổn khi thực hiện một quyết định, nhưng với thời gian thì chính ta và đối phương cũng sẽ có những chuyển biến rất bất ngờ.


Ta nên biết rằng trái tim ta luôn có khả năng chứa đựng. Trong kinh Anguttara Nikaya, đức Phật từng đưa ra hình ảnh về sự chứa đựng rất hay. Giả sử có một người lấy một vốc muối bỏ vào trong tô nước thì tô nước ấy sẽ rất mặn, đến mức không thể uống được. Nhưng nếu họ cho vốc muối ấy xuống dòng sông, dù cho cả chục ký muối, thì nước của dòng sông vẫn uống được như thường. Nước của dòng sông uống được không phải vì nó không có chứa muối. Mà vì lượng nước quá mênh mông nên với số muối ấy thì chẳng có nghĩa lý gì cả. Ai mà không có những nỗi khổ niềm đau hay khó khăn, nhưng vấn đề là trái tim mỗi người có đủ lớn để chứa đựng nó hay không. Nếu trái tim ta nhỏ mà khó khăn bên ngoài quá lớn thì tất nhiên ta sẽ không thể nào chứa đựng nổi. Một người cha quyết định từ bỏ đứa con hư hỏng vì sợ nó làm ảnh hưởng những đứa con còn lại thì không hẳn đó là một quyết định sai. Nhưng thực chất ông đã thất bại. Tình thương của người cha vốn bao la như dòng sông thì tại sao không chịu nổi nắm muối bé nhỏ của con? Một trái tim thật sự rộng lớn thì đâu cần đòi hỏi gì thêm nơi đối tượng đang quá yếu ớt.

Ta thường hiểu lầm chữ nhẫn nhục có nghĩa là đè nén hay cắn răng chấp nhận. Trong khi ý nghĩa của nó rất hay và rất gần gũi: chịu đựng. Chịu có nghĩa là đồng ý chấp nhận; đựng có nghĩa là cái khả năng dung chứa. Chấp nhận mà không có khả năng dung chứa thì cũng như không. Dòng sông vì có cái dung lượng lớn hơn cái tô gấp chục ngàn lần, nên nó mới chứa đựng được nhiều muối. Thi hào Nguyễn Du cũng đã từng nói: "Có dung kẻ dưới mới là lượng trên". Người có khả năng dung chứa được kẻ khác, dù kẻ ấy có như thế nào cũng không bao giờ ghét bỏ hay loại trừ thì đó mới đích thực là người lớn, người bề trên. Cho nên, nhẫn nhục không phải là thái độ hèn nhát, mà đó là sự thực tập mở rộng dung lượng trái tim để chứa đựng được những khó khăn lớn. Ta không thể nói tội tình gì mình phải nhẫn nhục. Cuộc đời không phải lúc nào cũng thuận theo ý ta đâu. Nếu ta không chuẩn bị sẵn một dung lượng trái tim khá lớn, thì sẽ có lúc ta phải gục ngã trước hoàn cảnh hay đánh mất người thương vì khả năng chấp nhận quá yếu kém của mình.


Điều tuyệt diệu là trái tim ta có thể mở rộng tới mức vô cùng - vô lượng tâm - không có biên giới. Tâm ta có thể ôm trọn trời đất này và cả vũ trụ, nếu nó phá vỡ được ranh giới của cái tôi bé nhỏ. Nhưng chẳng cần phải đi hết cả thế gian này để trải lòng ra như biển như đất thì ta mới có thể ôm hết muôn loài. Chỉ cần có thể chấp nhận bất cứ một đối tượng nào đó, thấy họ chính là một phần thân trong bản thể vô ngã của mình, thì ta sẽ không thấy mình đang cố gắng chấp nhận gì cả. Chấp nhận mà như không chấp nhận. Có khả năng chấp nhận một cách tự nhiên như thế thì ta sẽ chấp nhận được tất cả mọi đối tượng. Đạt đến trình độ này là ta đã tìm thấy được con người chân thật vĩ đại của mình. Mọi vô thường biến hoại trên cuộc đời sẽ không còn đủ sức uy hiếp ta được nữa.

Nắm muối không hề mặn
Với lượng cả dòng sông
Lỗi lầm kia bé nhỏ
Với cõi lòng mênh mông.

Minh Niệm 
(Trích trong: Hiểu Về Trái Tim)

UỐNG TRÀ NGỘ ĐẠO, "10 ĐỨC" CỦA TRÀ

Uống trà dưỡng thân thể, nâng cao chí hướng (ảnh minh họa Adobestock)

Uống trà đã được nâng lên thành một nét đẹp văn hóa, người ta cũng tạo ra nhiều nghệ thuật uống trà khác nhau.

Trà đã được dùng từ rất xa xưa

Trà đã được dùng để làm thức uống cách nay chắc cũng khoảng 5 đến 6 ngàn năm. Trong cuốn “Trà kinh” của ‘thánh trà’ Lục Vũ có viết rằng: “Trà chi vi ẩm, phát hồ Thần Nông thị”. Đại ý là vào thời Thần Nông, trà và giá trị dược dụng của nó đã được phát hiện.

Vào thời Tây Chu, trà chủ yếu được dùng để tế lễ; đến thời Xuân Thu, lá trà tươi được mọi người coi như là thức ăn; vào thời Chiến Quốc, lá trà được coi như là dược phẩm trị bệnh. Bước sang thời Tần Hán, trà bắt đầu trở thành một loại ẩm thực phổ biến trong xã hội; hơn nữa nó là đồ trân quý dùng để tiếp khách. Vào thời Tây Hán, trà đã trở thành một trong những mặt hàng chính.

Trong hơn 300 năm, từ thời Tam Quốc đến Nam Bắc Triều, đặc biệt là thời Nam Bắc Triều, Phật Giáo thịnh hành, Phật gia dùng trà để giải trừ cơn buồn ngủ khi ngồi thiền; do đó trà thường được trồng ở các sơn cốc bên cạnh nhà chùa.

Trà đã được phát hiện và sử dụng từ thời xa xưa (ảnh minh họa Adobestock)

Uống trà giúp tỉnh táo

Vào thời Lục Triều, Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ đi sang Trung Quốc, ông phát thệ rằng sẽ ngồi 9 năm không ngủ để thiền định. Nghe nói rằng, Bồ Đề Đạt Ma đã thành công trong 3 năm đầu; nhưng về sau thì không chịu nổi và cuối cùng dần dần chìm vào giấc ngủ. Đạt Ma sau khi tỉnh dậy thì xấu hổ không thôi; ông liền cắt lấy mí mắt, ném đầy trên mặt đất. Không lâu sau, chỗ mí mắt ném xuống mọc lên một cái cây nhỏ, cành lá tươi tốt, sức sống dồi dào.

5 năm sau, khi Bồ Đề Đạt Ma thiền định đến năm cuối cùng, thì lại bị cơn buồn ngủ quấy nhiễu. Ông hái lá cây ở bên cạnh, sau khi ăn thì lập tức đầu não thanh tỉnh, tâm chí rõ ràng; nhờ vậy mới hoàn thành được thệ nguyện thiền định 9 năm. Những lá mà Đạt Ma ăn chính là cây trà sau này; đây là một trong những truyền thuyết về nguồn gốc của trà.

10 đức của trà

Trà giúp tỉnh táo, thanh tĩnh tâm hồn (ảnh minh họa Adobestock)

Vào thời nhà Đường, trà mới chính thức phổ biến rộng rãi trong nhân dân, từ việc được dùng để làm thuốc, dần dần nó trở thành một loại thức uống trong sinh hoạt hàng ngày; cũng dần dần hình thành kỹ nghệ thưởng thức trà rất phong phú, vừa tao nhã vừa bình dân.

Lưu Trinh Lượng vào thời nhà Đường đã tổng kết ’10 đức’ của trà: Giải uất khí, giải trừ cơn buồn ngủ, dưỡng sinh khí, trừ khí bệnh, dựng lập nhân nghĩa, tỏ lòng tôn kính, thưởng thức mùi vị, dưỡng thân thể, hành đạo, nâng cao chí hướng.

Danh tăng Minh Huệ ở Nhật Bản cũng tổng kết ra ’10 đức’ của trà: Chư thiên gia hộ, cha mẹ hiếu thuận nuôi dưỡng, ác ma hàng phục, giải trừ cơn ngủ, ngũ tạng điều hòa, trừ bệnh và tai họa, bạn bè hòa hợp, chính tâm tu thân, phiền não tiêu trừ, lúc lâm chung không loạn.

Uống trà ngộ đạo

Uống trà đã trở thành một nét đẹp văn hóa (ảnh minh họa Adobestock)

Trà từ một loại thức uống đơn thuần, đã dần dần hình thành nên một văn hóa uống trà độc đáo; nó cũng đại biểu cho việc theo đuổi một cảnh giới tinh thần thâm sâu hơn. Một người giỏi thưởng thức trà, cũng giống như Lục Vũ nói ở trong “Trà kinh”, phải là “Tinh hành kiệm đức chi nhân”. Đại ý là người biết thưởng thức trà thì đa số đều biết giữ mình trong sạch, thuần khiết, giữ vững hành vi thường ngày, coi trọng truyền thống, quý trọng tình thân.

Trà mang đặc tính của thiên nhiên là trong lành, tao nhã, nhàn hạ. Ngoài việc cảm thụ bằng giác quan, còn có thể tĩnh tâm, tĩnh thần, bồi dưỡng cảm xúc, trừ đi tạp niệm, tu thân dưỡng tính, uống trà ngộ đạo. Cái này cùng với lý niệm “thanh tĩnh, điềm đạm” của triết học phương Đông là rất tương hợp; cũng phù hợp với tư tưởng “tu hành tỉnh ngộ” của Phật Đạo Nho.

Vào thời cổ, Tề Thế Tổ, Lục Nạp và những người khác từng chủ trương dùng trà thay rượu. Vào thời Đường và Tống, rất nhiều văn nhân nho nhã như Bạch Cư Dị, Lý Bạch, Liễu Tống Nguyên, Lưu Vũ Tích, Lục Du, Âu Dương Tu, Tô Đông Pha… không chỉ yêu thích uống trà mà còn miêu tả và ca tụng trà trong các tác phẩm của mình.

‘Khách đến mời trà’ từ lâu đã thành một tập quán trong dân gian, chủ khách uống trà đàm luận nhân sinh đã trở thành một thú vui tao nhã.

Chân Chân / Theo: Epoch Times

MUỐN HIỂU THẤU MỘT NGƯỜI, HÃY QUAN SÁT HỌ VÀO THỜI ĐIỂM ĐẶC BIỆT NÀY

Trên đời có 2 thứ không thể nhìn trực tiếp, đó là mặt trời và lòng người (nguồn: songdep)

Tức giận chính là bài kiểm tra chính xác nhất đối với nhân cách thực sự của một người.

Nếu muốn hiểu rõ ai đó thì bạn nên quan sát họ vào lúc tức giận, bởi đó là lúc mà họ dễ bộc lộ ra bản tính thật của mình. Qua đó, chúng ta có thể thấy được nhân phẩm cũng như giáo dưỡng của họ.

Khi mới tốt nghiệp, tôi vào làm việc trong một công ty truyền thông văn hóa và quen biết Lý Tư. Cô ấy vào làm ở công ty sớm hơn tôi nhưng không hề có thói “ma cũ bắt nạt ma mới”, trái lại còn đối đãi với tôi vô cùng nhiệt tình, ở nhà làm cơm cũng thường hay mời tôi tới ăn cùng.

Những việc làm của cô ấy khiến tôi thấy rất cảm động và ngày càng cảm thấy quý mến cô ấy nhiều hơn. Thêm vào đó, vì tuổi tác chênh lệch cũng không quá lớn nên chúng tôi nhanh chóng thân thiết với nhau.

Sau này, công ty có một vị giám đốc nhân sự mới, vừa tới đã thiết lập những quy tắc mới, trong đó quy định đi làm muộn hoặc chơi điện thoại trong giờ làm việc thì sẽ bị phạt tiền.

Quy tắc mới được áp dụng ngày đầu tiên, Lý Tư đã bị phạt do dùng điện thoại trong giờ làm việc. Vì thế, trên đường tan làm về nhà, cô ấy cực kỳ tức giận, suốt cả đường đi đều mắng chửi vị nhân sự kia bằng đủ mọi lời khó nghe.

Tôi liền khuyên cô ấy bỏ qua đi bởi dù cô ấy có chửi mắng thêm nữa thì cũng không giải quyết được vấn đề gì. Ngược lại, cô ấy mắng người khác trên đường như vậy sẽ tự tổn hại tới hình tượng của chính mình.

Thật không ngờ, Lý Tư lại nổi cơn thịnh nộ với tôi và nói rằng cô ấy quen biết tôi là việc làm thật mù quáng. Cô ấy còn trách tôi đã không nói giúp cô ấy, lại còn đứng về phía vị nhân sự kia. Lúc ấy, tôi sững sờ cả người và cảm thấy Lý Tư đang đứng trước mặt mình thật quá xa lạ, trước nay chưa từng quen thân.

Có người nói rằng trên thế giới này có 2 thứ không thể nhìn trực tiếp, một là mặt trời và hai là lòng người. Bởi lẽ, ánh sáng của mặt trời quá chói mắt, còn lòng người thì khó lường. Nếu muốn nhìn thấu được một người, ngoại trừ chờ đợi theo thời gian thì chỉ còn cách quan sát họ vào lúc họ mất kiểm soát cảm xúc của mình.

Sự vui vẻ hay lương thiện có thể giả vờ, nhưng cơn giận dữ sẽ “đốt cháy” tất cả vỏ bọc giả tạo và phơi bày ra những điều sâu kín nhất trong nội tâm của mỗi người. Vì khi tức giận, người ta thường sẽ dễ mất lý trí, khả năng kiểm soát cũng như năng lực che đậy bản thân.

Khi tức giận chính là lúc tính cách chân thực nhất được bộc lộ (nguồn: charminton)

Người trở mặt khi tức giận thì lòng dạ hẹp hòi và chỉ biết nghĩ tới bản thân

Cuối năm ngoái, cả nhà cô chú tới nhà tôi cùng ăn bữa cơm tất niên. Ăn cơm xong, cô tôi liền cùng họ hàng ngồi chơi bài còn chú thì về nhà trước. Lúc sắp về, chú dặn cô khoảng 3 giờ thì hãy về nhà nhưng cô ngồi chơi mải miết đến mức quên cả thời gian.

Đến hơn 6 giờ, chú tôi liền gọi điện tới nhắc cô mau trở về. Cô nghe điện thoại xong liền bảo “Chồng em tức giận rồi”. Bố tôi nghe vậy liền lấy xe đưa cô ấy về ngay lập tức, tôi cũng đi theo hai người.

Lúc tôi mở cửa, chú đang quét dọn nhà, nhìn so với lúc bình thường cũng không khác gì. Thấy vậy, bố tôi liền nói: “Nghe nói chú tức giận, chỉ sợ hai người lại cãi nhau nên anh vội đưa cô về nhà ngay”.

Chú đáp: “Em thực sự giận rồi. Năm mới sắp đến, đâu thể cứ như ngày thường. Trong nhà có biết bao việc cần làm, vậy mà cô ấy lại quên. Để phạt cô ấy, em định một lát nữa sẽ không giúp cô ấy rửa rau nữa”.

Nghe vậy, tôi không khỏi nhìn chú ấy với một cặp mắt khác. Mọi người đều tức giận cả nhưng chú ấy vẫn có thể giữ được giáo dưỡng của mình.

Khi sự tu dưỡng và nhân phẩm của con người đạt tới một mức độ nhất định, họ sẽ không để những sự vật, sự việc bên ngoài khiến lòng mình “nổi sóng”, tức giận không thôi.

Vậy mà có người, một khi đã tức giận thì chỉ biết trút hết những bực dọc trong lòng mình, không mảy may chú ý tới cảm xúc của đối phương. Họ hành xử như vậy mà không biết việc làm đó chỉ giúp họ thoải mái và hả dạ trong chốc lát, nhưng mâu thuẫn của họ với người kia sẽ càng lớn, mối quan hệ cũng có nguy cơ bị phá vỡ.

Người thực sự có nhân phẩm tốt, có tu dưỡng ngay cả lúc tức giận nhất vẫn sẽ giữ được sự lễ phép cơ bản đối với người khác, xem xét sự việc dựa trên lý trí thay vì buông lời cay nghiệt. Những người này ngay cả lúc tức giận cũng không thay đổi quá nhiều so với khi bình thường, đồng thời không khiến người khác phải sợ hãi và thay đổi cách nhìn về mình.

Người có tu dưỡng sẽ luôn kiểm soát được cảm xúc dù trong tình huống nào (nguồn: Vbolg)

Người dù tức giận nhưng vẫn giữ được tu dưỡng của mình là người luôn chân thành

Có một câu chuyện kể rằng một vị lão hòa thượng trồng một chậu hoa lan. Ông chăm sóc cây rất tỉ mỉ, mỗi ngày đều nhổ cỏ, bắt sâu và tưới nước cho hoa. Dưới sự chăm sóc chu đáo của lão hòa thượng, cây hoa dần lớn lên và trổ hoa đẹp vô cùng.

Một lần, vì phải ra ngoài gặp bạn nên vị lão hòa thượng đã giao lại trách nhiệm chăm sóc chậu hoa lan cho một vị tiểu hòa thượng. Vị tiểu hòa thượng này học theo lão hòa thượng, cũng chăm cây hoa cẩn thận từng chút một.

Một ngày nọ, tiểu hòa thượng sau khi tưới nước cho hoa lan liền đặt nó lên bệ cửa sổ để đi làm việc. Chẳng ngờ, trời đổ mưa lớn, gió mạnh thổi khiến chậu hoa lan rơi xuống và vỡ tan.

Khi quay về, chú nhìn những cành lá bị bầm dập mà đau lòng nhưng cũng lo sợ lão hòa thượng lúc về biết chuyện sẽ nổi giận trách mắng. Mấy ngày sau, lão hòa thượng cuối cùng cũng trở về. Tiểu hòa thượng liền kể rõ đầu đuôi câu chuyện về cây hoa lan và chuẩn bị để nhận cơn thịnh nộ của lão hòa thượng.

Thế nhưng, lão hòa thượng lại không nói một lời nào cả. Tiểu hòa thượng thấy vậy thì bất ngờ lắm, liền hỏi ngay rằng tại sao ông không tức giận. Lão hòa thượng cười nhẹ rồi ôn tồn bảo “Ta trồng hoa lan đâu phải vì để tức giận đâu”.

Chỉ một câu đơn giản như vậy thôi nhưng lại cho chúng ta thấy được sự thông tuệ cũng như tấm lòng bao dung của lão hòa thượng. Ở đời, chuyện được và mất, đến và đi là chuyện thường tình. Việc gì đã xảy ra thì cũng xảy ra rồi, chúng ta có tức giận thì cũng chẳng thể quay ngược thời gian để ngăn cản được nữa, trái lại còn hại thân đủ đường. Vậy cớ sao không cho qua nhẹ nhàng để cuộc sống được thanh thản và an yên hơn?

Kết lại, trong mối quan hệ giữa người với người, ai cũng khó tránh được những lúc xô xát hay mâu thuẫn với nhau. Nhưng người dễ nổi cáu không phải kẻ bản lĩnh, người hiểu được cách khống chế cơn giận mới là người tài giỏi. Họ hiểu được khi tức giận cũng là lúc họ lấy lỗi lầm của mình hoặc của người khác để tự trừng phạt chính bản thân họ, rồi cũng chỉ phí công lại chẳng được lợi ích gì.

Nguồn: cafebiz

ỨNG DỤNG "VÔ VI" TRONG CUỘC SỐNG THƯỜNG NGÀY

Thuận theo tự nhiên để cuộc sống hạnh phúc hơn (ảnh: Universityhealthnews
)

Nhà tâm lý học người Mỹ tin rằng tư tưởng vô vi của Đạo gia có thể được ứng dụng trong cuộc sống và đem lại rất nhiều lợi ích tuyệt vời.

Trải qua hàng ngàn năm, tư tưởng vô vi của Đạo gia đã ảnh hưởng đến cách đối nhân xử thế của nhiều người. Ngay cả trong xã hội hiện đại ngày nay, tư tưởng vô vi vẫn giữ vững được vị trí của mình.

Tào Quân Hồng, một nhà tâm lý học người Mỹ gốc Hoa với 15 năm kinh nghiệm đã khuyên mọi người dùng thái độ vô vi để đối mặt với những vấn đề khác nhau trong cuộc sống thường ngày. Cô nói rằng, “Văn hóa phấn đấu” (hustle culture, một loại văn hóa khích lệ nhân viên làm việc quá thời gian) đã ảnh hưởng rất tiêu cực đến mọi người.

“Văn hóa phấn đấu” đang vắt kiệt sức của không ít bạn trẻ (ảnh: Aia)

Nhưng quan niệm vô vi của người xưa có thể giúp mọi người sống một cuộc sống cân bằng hơn, thành công hơn và có thể đạt được khát vọng của bản thân tốt hơn.

Tào Quân Hồng chia sẻ rằng, vô vi không có nghĩa là không làm gì hoặc chểnh mảng hay lười biếng, mà là để mọi thứ diễn ra tự nhiên, buông bỏ mong muốn kiểm soát mọi thứ. Vô vi nhấn mạnh vào hành động khi cần thiết, nhưng không thúc ép bản thân quá nhiều và tạo áp lực quá lớn cho chính mình.

Cô nói rằng, cô luôn ứng dụng vô vi trong công việc. Bởi vì, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, vô vi có thể giúp giảm căng thẳng và lo lắng, đồng thời, tăng sự hài lòng và hạnh phúc một cách tổng thể.

Dưới đây là một vài cách để có thể áp dụng vô vi trong cuộc sống hàng ngày:

1. Chấp nhận thực tế

Tào Quân Hồng lấy ví dụ, khi bạn đang tổ chức một bữa tiệc, tâm thái vô vi cho bạn biết rằng, mọi thứ có thể không như mong đợi, vì vậy đừng bận tâm quá nhiều đến từng chi tiết. 

Sẵn sàng chấp nhận rủi ro (ảnh: Careerlink)

Tương tự như vậy, trong công việc khi không được thăng chức như mong đợi, bạn nên xem nhẹ, ung dung tự tại. Tào Quân Hồng thích nói với bản thân: “Tôi không thể kiểm soát mọi thứ, nhưng bất kể điều gì xảy ra, tôi đều có thể tận dụng nó.“

2. Chấp nhận khuyết điểm

Cô nói rằng, hãy để mọi thứ phát triển theo cách tự nhiên và đừng vội vàng mong muốn gặt hái thành công; nên hiểu rằng không có việc gì trên thế gian là thập toàn thập mỹ cả.

Cô đề cập rằng, nếu bạn học một ngôn ngữ hoặc nhạc cụ mới lần đầu tiên, hãy sẵn sàng mắc lỗi. Bạn sẽ học hỏi được kinh nghiệm từ những sai lầm này.

3. Nhận thức chánh niệm

Tào Quân Hồng viết rằng, chánh niệm (mindfulness) có nghĩa là tập trung vào những suy nghĩ và cảm xúc trong thời điểm hiện tại mà không phán xét. 

Cẩn thận cảm nhận mọi thứ xung quanh, đó chính là một phần của chánh niệm (ảnh: Haycafe)

Bạn có thể ghi lại những chi tiết nhỏ xung quanh mình. Ví dụ, làn da cảm thấy thế nào khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời? Bạn cũng có thể chú ý lắng nghe âm thanh của thiên nhiên, chẳng hạn như tiếng chim hót líu lo và tiếng lá xào xạc, hoặc quan sát hình dạng và màu sắc của hoa.

Cô nói rằng, khi bạn tập trung vào những gì đang xảy ra trong thời điểm hiện tại một cách thân thiện và hiếu kỳ, bạn sẽ có thể đạt được trạng thái vô vi.

Uyển Nhi / Theo: Epoch Times

Wednesday, August 12, 2026

BỐN ĐIỀU ĐỨC PHẬT KHÔNG THỂ XOAY CHUYỂN ĐƯỢC

Chuyện kể rằng, một hôm Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dẫn các đệ tử của mình đi đến một vùng quê nhỏ. Sáng sớm hôm ấy, ánh nắng chan hòa, chim muông hót vang, hương thơm dìu dịu. Đức Phật cùng các đệ tử ngồi lại trên thảm cỏ bên bờ sông, cùng ngắm vạn vật đua chen sức sống.


Bỗng có một đệ tử cất tiếng hỏi Đức Phật Tất Đạt Đa: “Thưa Đức Thế Tôn, ngài có đầy thần thông và từ bi, cớ sao trên đời vẫn còn quá nhiều chúng sinh chịu khổ vậy?”.

Đức Phật thoáng nhìn người đệ tử, mỉm cười đầy từ bi rồi ôn tồn giảng: “Ta dẫu có thần thông lớn ngần nào nhưng cũng có bốn điều vẫn là không thể làm được”.

Các đệ tử vô cùng băn khoăn: “Thưa Đức Thế Tôn, đó là những việc gì ạ?”.

Đức Phật trầm ngâm một hồi, đoạn nói: “Bốn điều ấy chính là:”

1. Một là NHÂN QUẢ không thể đổi thay, người gieo nhân nào thì gặt quả ấy, không ai có thể nhận thay.

2. Hai là TRÍ TUỆ không thể cho, ai muốn có đều phải tự mình tu học.

3. Ba là PHẬT PHÁP không thể diễn tả, chỉ có thể dựa vào ngộ mà đắc được.

4. Bốn là KHÔNG CÓ NHÂN DUYÊN thì không thể độ, người không có duyên thì không bao giờ nghe được những lời ta giảng”.

Các đệ tử nghe xong ai nấy đều bừng ngộ.


Trên đời, có rất nhiều việc là không thể cưỡng cầu. Tất cả chỉ có thể dựa vào một chữ duyên mà thôi. Duyên chưa đủ thì không thể gặp, phận không có thì sao có thể ép buộc được đây?
Đời người ôi chỉ là giấc mộng, mộng tàn rồi thì ảo ảnh cũng vụt tan. Nhân sinh chẳng qua chỉ là một trường mộng ảo, người với người gặp gỡ chẳng phải cũng chỉ vì kết duyên từ muôn vạn kiếp đó sao?

Duyên phận không phải cầu là đến, không phải muốn là được. Chỉ là bạn có đủ thành tín hay không, có đủ thiện lương hay không, có đủ phúc phận hay không mà thôi.

Cũng giống như mưa trời tuy lớn nhưng cây không có rễ thì khó mà thấm nước.

Cửa Phật tuy rộng nhưng chẳng thể nào độ được người vô duyên.

Theo: quydaophatngaynay.org

PHONG LẠC ĐÌNH DU XUÂN KỲ 3 - ÂU DƯƠNG TU


Phong Lạc đình du xuân kỳ 3

Hồng thụ thanh sơn nhật dục tà,
Trường giao thảo sắc lục vô nha.
Du nhân bất quản xuân tương lão,
Lai vãng đình tiền đạp lạc hoa.


豐樂亭遊春其三

紅樹青山日欲斜
長郊草色綠無涯
遊人不管春將老
來往亭前踏落花


Chơi xuân ở đình Phong Lạc
(Dịch thơ: Đồng Thành)

Cây hồng núi biếc bóng chiều vơi,
Nội cỏ mênh mông xanh cuối trời.
Khách thưởng chẳng màng xuân sắp hết,
Trước đình dạo gót dẫm hoa rơi.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Âu Dương Tu 歐陽修 (1007-1072) tự Vĩnh Thúc 永叔, hiệu Tuý ông 醉翁, Lục Nhất cư sĩ 六一居士, thuỵ hiệu Văn Trung 文忠, người huyện Lư Lăng tỉnh Giang Tây, ông là một vị cổ văn gia, lịch sử học gia có tiếng, lại là một thi nhân tài tình phong phú. Ông hiện còn lại Lục nhất từ 3 quyển.

Nguồn: Thi Viện