Tuesday, July 7, 2026

VÌ SAO MẠNH TỬ LY HÔN VỢ LẠI BỊ COI LÀ "VÔ LỄ"?

Mạnh Tử khởi xướng tôn trọng “lễ”, ông nhấn mạnh vào việc tuân thủ lễ tiết giữa người với người. Tương truyền, có một lần, bởi vì tư thế ngồi của vợ ông không đoan chính mà Mạnh Tử có ý định muốn ly hôn với vợ mình.


Theo ghi chép, vợ của Mạnh Tử là Điền thị có lần một mình ở trong phòng liền tùy ý ngồi xuống nghỉ ngơi. Bất chợt, Mạnh Tử bước vào, nhìn thấy tướng ngồi sỗ sàng của vợ mình bèn lập tức rời đi.

Sau đó, vì vốn nổi tiếng là một người con hiếu thuận và tôn kính với mẹ nên Mạnh Tử đã tới thưa với mẹ của mình rằng: “Người phụ nữ này không hiểu lễ nghĩa, xin mẹ đồng ý để con ly hôn với nàng”.

Lão mẫu hỏi: “Tại sao vậy?”

Mạnh Tử thưa: “Nàng ta ngồi dạng cả hai chân!”

Lão mẫu lại hỏi: “Làm sao con biết?”

Mạnh Tử thưa: “Con vừa bước vào phòng liền nhìn thấy.”

Mẹ Mạnh Tử nghe thế, từ tốn bảo: “Đó là con không hiểu lễ nghĩa chứ không phải vợ của con không hiểu lễ nghĩa. ‘Lễ Kinh’ chẳng đã viết: trước khi bước vào cửa nên hỏi xem có ai đang ở trong phòng không. Trước khi bước vào phòng khách nên cất cao giọng chào hỏi để cho những người ở trong biết rằng có người tới. Bước vào trong phòng thì mắt nên nhìn xuống dưới, tránh nhìn việc riêng tư của người khác. Những điều được giảng trong ‘Lễ kinh’ này đều là để cho người ta có thời gian chuẩn bị trước khi tiếp đón người đến, tránh khỏi những lúng túng, xấu hổ không đáng có. Con thừa dịp người ta chưa kịp chuẩn bị đã vào phòng nghỉ ngơi của vợ, lúc vào phòng con cũng không đánh tiếng trước. Nàng vì không biết con vào, không có sự chuẩn bị nên mới để con nhìn thấy tướng ngồi không hợp lễ nghĩa. Con yêu cầu người khác tuân thủ lễ nghi, nhưng trước hết con cũng phải tôn trọng người khác. Lần này là con thất lễ vô lễ trước, sao có thể quay ngược lại trách cứ người khác được?”.

Nghe những lời thấu tình đạt lý của mẹ, Mạnh Tử tâm phục khẩu phục, tự cảm thấy vô cùng hổ thẹn và từ bỏ suy nghĩ ly hôn với vợ. 

Một phần của triều đại Nam Tống (tiểu sử) “Bản đồ của Công tước Ôn quốc Tấn phục quốc” của Lý Đường. 

Tư thế ngồi tùy tiện của vợ Mạnh Tử khi đang ở một mình trong phòng gọi là “ngồi dạng chân”. Chính là: đặt mông xuống đất, hai chân mở ra, đầu gối gập lại hướng lên trên, nhìn qua giống như một cái gầu hót rác. Tư thế này dưới thời Chu bị coi là tư thế không tôn trọng người khác. Một người vừa chú trọng lễ nghi vừa hành xử tuân thủ nguyên tắc như Mạnh Tử tất nhiên sẽ cảm thấy hành vi này của vợ mình là không thể chấp nhận được. May mắn thay, mẹ Mạnh Tử quả không hổ danh là người mẹ hiền đức và có phương pháp dạy con. Bà đã chỉ ra chỗ không hợp với quy định về lễ của con trai mình một cách thấu tình đạt lý, tránh cho Mạnh Tử một lần nguy cơ đổ vỡ hôn nhân.

Trung Quốc cổ đại chú trọng việc ‘ngồi có tư, đứng có thế’. Trong những trường hợp khác nhau, con người cần có tư thế và nét mặt khác nhau. Ngay cả giữa vợ chồng cũng có những lễ nghi sử dụng trong nhà. Thử nghĩ, nếu như trong cuộc sống thường ngày vợ chồng đều có thể dùng lễ để đối đãi với nhau, quả thực sẽ khiến cho mối quan hệ vợ chồng luôn giữ được “tương kính như tân” (tôn trọng nhau như khách). 

Bức tượng phụ nữ ngồi bằng gốm thời Tây Hán, trong bộ sưu tập của Bảo tàng tỉnh Giang Tô. 

Bức tượng nhỏ bằng đất nung một người phụ nữ đang ngồi trên ghế nắm tay nhau chào, thời Tây Hán, trong bộ sưu tập của Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan, New York. 

Tượng nữ bằng gốm thời Tây Hán, trong bộ sưu tập của Bảo tàng Nghệ thuật San Antonio, Texas, Mỹ. 

Ở hoàn cảnh bên ngoài trong những sinh hoạt cộng đồng, tư thế ngồi tiêu chuẩn nhất của người cổ đại gọi là kỵ tọa (ngồi quỳ) (cũng được gọi là chính tọa). Tức là, trước tiên quỳ xuống trên đất, sau đó đặt mông ngồi lên trên chân của mình, thân trên giữ thẳng, hai tay quy củ đặt ở đầu gối, mắt không liếc xéo. Từ thời Thương Chu cho đến thời Đường, người Trung Quốc vẫn luôn ngồi tư thế chính tọa như vậy trong những trường hợp chính thức, khí chất vô cùng đoan trang, tinh thần tràn đầy. Đáng tiếc, hiện nay tư thế ngồi loại này chỉ còn được lưu giữ ở một số khu vực như: Nhật Bản, Hàn Quốc, v.v…

Thời xưa Trung Quốc là một quốc gia lễ nghĩa – “không học lễ, không thể lập nên sự nghiệp”. Thế nhưng, người Trung Quốc hiện đại đã không còn hiểu được nội hàm bên trong của lễ. Mặc dù người ta ngày nay cũng chú trọng vào lễ độ, lễ nghi, trong giao tiếp sinh hoạt cũng là có qua có lại, v.v… nhưng những thứ đó đều đã bị làm cho sai lệch, trở thành một loại hình thức bề mặt.

Tuân thủ ‘Lễ’ yêu cầu người ta hiểu rõ nội hàm và đạo lý của lễ. Bản chất của ‘Lễ’ là chân thành, trong đó có: tôn trọng, hữu hảo, khiêm nhường, còn có cả quan tâm và chăm sóc.

“Người mà bất ‘Nhân’, còn nói gì đến ‘Lễ’?”. Nghĩa là: Một người không có lòng nhân ái thì tuân thủ theo lễ nghi có tác dụng gì? Lễ cần xuất phát từ nội tâm. Nếu như chỉ có lễ trên hình thức mà trong nội tâm không có lòng nhân ái, không có đức hạnh thì đó thực ra lại chính là vô lễ! Vậy nên, lễ không phải chỉ đơn giản là yêu cầu về sự lễ độ giữa người với người trong cuộc sống hằng ngày, hay những loại tư thế, động tác lễ tiết theo quy phạm. Lễ chú trọng tu thân. Trước tiên yêu cầu bản thân thực hiện theo ‘Lễ’, nhờ đó mới có thể cùng với người khác chung sống hòa thuận. Những ai không hiểu nội hàm của ‘Lễ’, không coi trọng tu dưỡng bản thân thì sẽ đi về phía đối nghịch với nhân ái, trang trọng và tôn kính.

Theo Epoch Times
Trường Lạc biên dịch / ĐKN

Monday, July 6, 2026

5 MÓN ĂN MÀ BẠN PHẢI THỬ KHI ĐI DU LỊCH ÚC

Nếu bạn có dự định du lịch Úc, thì nhất định không được bỏ qua những món ăn đặc trưng của Xứ Sở Chuột Túi.


Nếu bạn có dự định du lịch Úc, thì nhất định không được bỏ qua những món ăn đặc trưng của Xứ Sở Chuột Túi. Được thiên nhiên ưu đãi với nhiều loại khí hậu, từ vùng nhiệt đới ấm áp phía bắc đến các vùng phía nam mát mẻ hơn, có rất ít thực phẩm mà Úc không thể trồng trọt hoặc sản xuất. Và nhờ vào dân số đa văn hóa rộng lớn, hầu như không có món ăn nào không có trong thực đơn của người Úc. Các món ăn Úc mang đến nhiều sự kết hợp hương vị độc đáo.

1. Vegemite

Vegemite phết trên bánh mì nướng là món ăn sáng giàu Vitamin B, xuất hiện ở hầu hết các bữa sáng của người Úc. Tuy nhiên với người nước ngoài thì có nhiều ý kiến trái chiều về vị của Vegemite, có người đặc biệt thích Vegemite, cũng có người ghét Vegemite do mùi vị đặc trưng của nó.


Vegemite được làm từ chiết xuất men bia, gia vị và phụ gia thực vật còn sót lại. Kết cấu của nó dày, keo và đặc, tương tự như bơ đậu phộng, trong khi màu của nó từ đỏ sẫm đến nâu, gần như đen.

Đối với Vegemite phết trên bánh mì nướng, các lát bánh mì cần được nướng nóng. Sau đó, bơ được phết đều trên bánh mì nướng nóng để bơ tan chảy. Không nên phết Vegemite quá nhiều như bơ đậu phộng hoặc mứt trái cây, vì Vegemite cực kỳ mặn. Nó cần được phết lên bánh mì nướng và bơ thành một lớp mỏng mịn mà bạn có thể nhìn xuyên qua, khi đó Vegemite sẽ làm nổi bật hương vị gây nghiện vốn có.

2. Tim Tam

Arnott’s Tim Tams là món bánh sô cô la được yêu thích ở Úc. Ra mắt tại Úc vào năm 1964, loại bánh quy này bao gồm một lớp kem sô cô la mỏng được kẹp giữa hai bánh quy mỏng và được phủ một lớp sô cô la.


Ngày nay, Tim Tam có nhiều loại khác nhau được làm từ sô cô la đen, sô cô la trắng, caramel, và nhiều loại khác. Ngoài ra còn có cách thưởng thức thú vị được gọi là Tim Tam Slam, khi mọi người uống đồ uống nóng hoặc lạnh (cà phê, rượu vang, sô cô la nóng, Bailey’s) bằng Tim Tam. Đây thật sự là món gây nghiện với bất kì ai hảo ngọt.

3. Lamington

Lamington được làm từ bánh bông lan, cắt thành từng khối vuông, sau đó phủ sốt sô cô la và cơm dừa nạo sấy. Các biến thể khác bao gồm hai lớp và nhân kem hoặc mứt.

Lamington được thưởng thức hoàn hảo nhất khi kết hợp với một tách trà thơm ngon, hoặc có thể là một trong những loại cà phê nổi tiếng thế giới của Melbourne. Bạn có thể dễ dàng tìm thấy món bánh này tại bất kì tiệm bánh và quán cà phê nào.


4. Bánh nhân thịt

Bánh nhân thịt là một món ăn nhẹ phổ biến ở Úc. Hầu hết mọi cửa hàng góc phố, tiệm bánh và siêu thị đều có một tủ trưng bày với rất nhiều bánh nướng nhân thịt nóng hổi để bạn lựa chọn. Thậm chí còn có các cửa hàng bánh đặc sản!

Người Úc có nhiều loại bánh mặn khác nhau mà bạn có thể mua, tuy nhiên chúng thường được nhồi với thịt băm, nước thịt, nấm, hành tây và phô mai.


Bánh nhân thịt cũng là một món ăn nhẹ sau một đêm dài tiệc tùng. Sau khi uống rượu và khiêu vũ, bạn kết thúc đêm với một chiếc bánh thịt trên tay, ngồi trên vỉa hè chờ taxi về nhà.

Bánh nướng cũng có nhân súp lơ kết hợp phô mai dành cho những người ăn chay cần một bữa ăn nhẹ lúc nửa đêm.

5. Cá và khoai tây chiên

Không gì sánh được với cá tươi và khoai tây chiên, với chanh và một ít muối, khi bạn xuống bãi biển. Hãy thử món cá chẽm phổ biến của Úc, được đặt tên theo ngôn ngữ của thổ dân có nghĩa là ‘cá sông cỡ lớn’ hoặc nếm thử một số khoanh mực ống.


Theo: vietviettourism

KINH KỊCH - TINH HOA TRUNG HOA


Kinh kịch là một kho báu nghệ thuật của quốc gia Trung Quốc, và được gọi là "tinh hoa quốc gia" vì sự quyến rũ nghệ thuật vô hạn của nó. Hôm nay hãy cùng Viettourist tìm hiểu một chút về môn nghệ thuật này nhé.


Kinh kịch là một thể loại ca kịch của Trung Quốc hình thành và phát triển mạnh tại Bắc Kinh vào thời vua Càn Long của vương triều nhà Thanh, vào ngày 25 tháng 9 năm 1790 4 đoàn kịch lớn là Tam Khánh, Tứ Hỉ, Xuân Thai, Hòa Xuân đã đến Bắc Kinh kết hợp với Hán Kịch đến từ Hồ Bắc để biểu diễn nhân ngày sinh nhật 55 năm của vua Càn Long.


Kinh Kịch tức là kịch Bắc Kinh chính thức được hình thành khoảng 1840, lúc này các giọng hát cơ bản của thể loại này cũng đã có bước khởi đầu đầy đủ, đặc điểm ngôn ngữ kinh kịch cũng đã hình thành, các vai trò của nhân vật cũng đã xuất hiện những biến hóa mới.


Ban đầu, việc phân vai của diễn viên kinh kịch tương đối nghiêm khắc, gồm 7 lớp nhân vật: Sinh, Đán, Tịnh Mạt, Sửu, Vũ Hành, Lưu Hành (diễn viên áo rồng hay còn gọi là diễn viên quần chúng), sau này chỉ còn lại 4 phân vai là Sinh, Đán, Tịnh, Sửu.


Sinh tức là những vai nam trong kịch, Đán là nữ, Tịnh là những vai gian nịnh, Sửu là vai tượng trưng cho kẻ ác kẻ xấu.


Trong Kinh kịch thường hay có các màn nhào lộn, xiếc, và diễn trò và không có vị trí gì trong võ thuật Trung Hoa. Nhưng võ thuật Trung Hoa đã thâm nhập vào loại hình nghệ thuật này và góp sức làm giàu thêm cho khung cảnh Văn hóa Trung Hoa. Kinh Kịch sử dụng các bài hát và điệu nhảy để thực hiện các câu chuyện, đó là biểu hiện toàn diện của các lớp nghệ thuật khác nhau bao gồm văn học, âm nhạc, khiêu vũ, võ thuật, mỹ thuật và nhào lộn. Các tiết mục truyền thống là khoảng 1.300.


Có thể nói rằng Kinh kịch đã góp phần làm phong phú diện mạo của điện ảnh Hồng Kông và Trung Quốc hiện đại. Do đó có người cho rằng trong thể loại phim quyền cước của Hồng Kông có hai loại võ thuật là võ thuật thật sự của các võ sư và quyền sư tham gia diễn và võ thuật sân khấu của những diễn viên Kinh kịch chuyển sang.


Đã đến trung quốc và đến Bắc Kinh thì không thể bỏ lỡ những vở kinh kịch đặc sắc của đất nước này. Còn chừng chờ gì nữa hãy cùng Viettourist đến Bắc Kinh nghe Kinh Kịch nhé!


Theo: viettourist



Sunday, July 5, 2026

BƯỚC TỚI ĐÈO NGANG BÓNG XẾ TÀ - KỲ CUỐI: ĐỂ HOÀNH SƠN QUAN THOÁT CẢNH "CÔ ĐƠN"

"Hoành Sơn Quan" nằm ở khu vực tiếp giáp giữa Hà Tĩnh và Quảng Trị, tương đồng Hải Vân Quan tiếp giáp giữa Huế và Đà Nẵng.

Hoành Sơn Quan khoảng những năm đầu thế kỷ 20 - Ảnh tư liệu

Theo đó, hai địa phương nên có các chủ trương thống nhất, chủ động "bắt tay" phối hợp trong việc xây dựng hồ sơ khoa học, xác định rõ phạm vi khoanh vùng bảo vệ di tích, tạo cơ sở pháp lý để trình Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích cấp quốc gia.

Công việc này không chỉ là bước đi mang tính pháp lý ban đầu mà còn là nền tảng cho triển khai các chương trình bảo tồn một cách đồng bộ và lâu dài".

TS Phan Tiến Dũng, nguyên giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế, phát biểu như vậy tại hội thảo khoa học Hoành Sơn Quan - đèo Ngang những vấn đề lịch sử và văn hóa diễn ra tại UBND phường Hoành Sơn, Hà Tĩnh ngày 21-5-2026.

Di tích mang "thân phận kép"

TS Dũng từng cùng lãnh đạo ngành văn hóa Đà Nẵng bắt tay hợp tác để biến Hải Vân Quan - một di tích từng có cảnh tương tự Hoành Sơn Quan ngày nay, được phục nguyên hoàn hảo, được công nhận di tích cấp quốc gia, tiến tới di tích cấp quốc gia đặc biệt, trở thành một điểm sáng du lịch của Việt Nam.

Trong khi đó Hoành Sơn Quan đang nằm trong "điểm nghẽn". Chẳng phải ở kinh phí hay kỹ thuật trùng tu mà nằm ở một nghịch lý quản trị kéo dài hơn hai thập kỷ, kẹt cứng giữa những lằn ranh hành chính hiện đại.

ThS Nguyễn Trí Sơn, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Hà Tĩnh, đã thẳng thắn chỉ ra: "Hoành Sơn Quan hay như nhân dân địa phương quen gọi "cổng trời" là do vua Minh Mạng trực tiếp chỉ đạo xây dựng để "xét hỏi quân gian" như lời nhà vua từng nói và đây là di sản văn hóa quốc gia, không thuộc sở hữu địa phương Quảng Bình (nay là Quảng Trị) hay Hà Tĩnh".

Vậy mà công trình lại trong trạng thái "thân phận kép" đầy oái ăm: năm 2002, UBND tỉnh Quảng Bình xếp hạng Hoành Sơn Quan là di tích cấp tỉnh; đến năm 2005 UBND tỉnh Hà Tĩnh cũng ban hành quyết định tương tự cho chính công trình này.

Suốt 20 năm sau đó, do chưa thống nhất được cơ chế phối hợp và hồ sơ chung, Hoành Sơn Quan mãi lỡ hẹn với tấm bằng di tích cấp quốc gia.

TS Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao TP Huế, nhận định đầy trăn trở: "Một di tích có giá trị vượt khỏi địa giới hành chính lại bị kẹt trong logic quản lý theo ranh giới hành chính".

Hệ quả của sự "dùng dằng" này là di tích lâm vào cảnh "cha chung không ai khóc". Trong khi các cơ quan chuyên môn mải mê tranh luận về việc cổng mở ra hướng nào hay địa giới phân thủy lệch sang đâu thì di tích liên tục bị xâm hại.

Khu vực khoanh vùng bảo vệ bị lấn chiếm bởi mộ chí tư nhân; gạch đá bong tróc được trám vá tạm bợ bằng xi măng; những công trình tín ngưỡng tự phát mọc lên làm biến dạng không gian nguyên gốc.

Bài học từ Hải Vân Quan: từ "sở hữu" sang "đồng quản trị"

Tại bàn tròn thảo luận, các chuyên gia đều thống nhất rằng: Hoành Sơn Quan cần một "lối thoát" tương tự như mô hình Hải Vân Quan. TS Phan Tiến Dũng, người trực tiếp tham gia "gỡ nút thắt" cho Hải Vân Quan, chia sẻ: "Điểm cốt lõi không chỉ nằm ở vấn đề kỹ thuật mà trước hết là ở việc thay đổi tư duy, kiến tạo một cơ chế quản lý liên vùng có hiệu lực".

Hải Vân Quan từng trải qua giai đoạn hoang phế tương tự do tranh chấp quản lý giữa Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng. Bước ngoặt chỉ đến khi hai địa phương chấp nhận gạt bỏ tư duy sở hữu cục bộ để cùng lập hồ sơ di tích quốc gia, cùng đóng góp ngân sách theo nguyên tắc 50/50 và cùng phối hợp tái phục hồi dựa trên những cứ liệu khảo cổ học nghiêm túc.

Với Hoành Sơn Quan, giải pháp cấp bách hiện nay là Hà Tĩnh và Quảng Trị cần xây dựng một quy chế phối hợp quản lý thống nhất dưới sự điều phối của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch. Thay vì coi di tích là tài sản riêng, hai địa phương cần nhìn nhận đây là di sản chung của quốc gia để cùng chung tay bảo tồn.

Theo ThS Nguyễn Trí Sơn: "Hoành Sơn Quan là một di tích xứng đáng được xếp hạng quốc gia vì tầm quan trọng, ý nghĩa lịch sử, văn hóa và kiến trúc vốn có của nó.

Theo chúng tôi, lãnh đạo các cơ quan chuyên môn của hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị cần hợp tác và học hỏi kinh nghiệm của tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là TP Huế) và TP Đà Nẵng trong việc xếp hạng và tu bổ tôn tạo di tích Hải Vân Quan".

Việc nâng cấp Hoành Sơn Quan thành di tích cấp quốc gia là bước đi tất yếu để xác lập vị thế và huy động nguồn lực đầu tư xứng tầm. Như TS Phan Tiến Dũng khẳng định chỉ khi có sự đồng thuận cao về nhận thức, chúng ta mới có thể "đưa những giá trị của quá khứ trở về cộng hưởng, hòa vào cuộc sống hiện tại".

Hội thảo Hoành Sơn Quan - đèo Ngang những vấn đề lịch sử và văn hóa tại Hà Tĩnh ngày 21-5 đã mở ra hướng hai tỉnh “bắt tay” cùng lập hồ sơ di tích cấp quốc gia hướng tới cùng khai thác - Ảnh: T.LỘC

Đánh thức "cổng trời"

Nhìn về tương lai, Hoành Sơn Quan không thể chỉ là một điểm dừng chân tĩnh lặng trên đỉnh đèo. Các chuyên gia quản trị du lịch đã vẽ ra một viễn cảnh rực rỡ hơn thông qua chiến lược kinh tế sáng tạo. ThS Phan Thị Thúy Vân - Viện Nghiên cứu và phát triển TP Huế - đề xuất xây dựng một "Hành lang di sản Đông Dương" (Indo-China Heritage Corridor).

Trong không gian ấy, Hoành Sơn Quan sẽ được "số hóa" toàn diện. Du khách khi đặt chân đến đỉnh đèo có thể sử dụng công nghệ thực tế ảo (AR/VR) để chứng kiến hình ảnh những đoàn biền binh canh gác cửa ải hay lắng nghe những vần thơ ngự chế của Nguyễn Thánh Tổ (Thiệu Trị) vang vọng giữa mây trời. Một tour du lịch bộ hành (trekking) trên tuyến thiên lý cổ với hơn 1.000 bậc đá dẫn từ chân đèo, cạnh đền thờ Mẫu Liễu Hạnh lên đỉnh đèo Ngang sẽ là trải nghiệm văn hóa vô giá.

Sự kết nối liên vùng sẽ biến Hoành Sơn Quan thành cửa ngõ dẫn lối đến Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, sang khu dự trữ sinh quyển Hin Nam No của Lào qua cửa khẩu Cha Lo rồi vươn tới Nakhon Phanom (Thái Lan). Mô hình "Một hành trình - Ba quốc gia - Bốn di sản" hoàn toàn có thể trở thành hiện thực, đưa Hoành Sơn Quan thoát khỏi thân phận "cô đơn" để trở thành mắt xích vàng trên bản đồ du lịch quốc tế.

Tác giả Nguyễn Đức Lộc và Lê Thị Mai An - Bảo tàng Lịch sử TP Huế - cho rằng: "Khi di tích được bảo tồn đúng hướng và được "đánh thức" bằng những giá trị đương đại, Hoành Sơn Quan sẽ tiếp tục hiện diện không chỉ như một chứng nhân của quá khứ mà còn như một nguồn lực văn hóa - du lịch bền vững cho tương lai".

Rời đèo Ngang khi nắng chiều đang nhuộm đỏ những viên gạch vồ cổ kính, chúng tôi tin rằng ngày Hoành Sơn Quan thực sự "trở lại" không còn xa. Bởi giữ gìn những bậc đá, những cổng thành rêu phong ấy chính là giữ gìn biểu tượng của ý chí mở cõi và khát vọng thống nhất ngàn năm của dân tộc.

"Nhìn một cách rộng hơn, câu chuyện Hoành Sơn Quan nhắc chúng ta rằng nhiều di sản quý của đất nước không xuống cấp chỉ vì mưa nắng mà còn vì sự chậm trễ trong tư duy thể chế. Một cửa ải có tuổi đời gần hai thế kỷ, nằm ở nơi "núi đâm ngang ra biển", từng đi vào chính sử, thơ ca và ký ức dân tộc lẽ ra không thể mãi ở tình trạng lưng chừng danh phận.

Đã đến lúc cần một quyết tâm mới: xem Hoành Sơn Quan là di sản liên vùng, liên ký ức và liên trách nhiệm; bảo tồn bằng khoa học, quản trị bằng hợp tác, phát huy bằng tri thức và bằng một tầm nhìn văn hóa đúng nghĩa. Chỉ khi đó Hoành Sơn Quan mới thật sự thoát khỏi thân phận "cổng trời cô đơn" để trở lại đúng vị trí của mình trong bản đồ di sản Việt Nam" - TS Phan Thanh Hải, Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao TP Huế.

Thái lộc / Theo: tuoitre



U TỊCH ĐẠI SƯ

Vị tăng kia, không hiểu gì về Phật pháp cả, nhưng muốn đánh lừa tín đồ, tự xưng là "U Tịnh đại sư". Để dễ gạt người chung quanh, ông ta có mướn hai tổ sư có tài ngôn ngữ để trả lời hộ ông ta, phần ông ta thì cứ im lặng mãi cho đúng với danh xưng.


Ngày kia, hai tên sư bè lũ của ông đi vắng, có một tăng lữ phương xa đến viếng. Tăng lữ hỏi:

- Thưa đại sư, thế nào là Phật?

Không biết trả lời ra sao, ông ta hoảng hốt, nhìn dáo dác bốn bên để tìm hai tên đồng lõa, nhưng không thấy.

Tăng lữ hỏi tiếp:

- Thưa đại sư, thế nào là Pháp?

Ông ta bèn ngước mặt nhìn trời rồi lại cúi nhìn đất, van vái trời đất gỡ nạn cho ông ta.

Tăng lữ hỏi nữa: - Thế nào là Tăng?

Bấy giờ ông ta bí quá, liền nhắm nghiền đôi mắt lại.

Tăng lữ hỏi: - Thế nào là Hỉ Xả?

Tuyệt vọng, ông ta bèn mở rộng hai cánh tay, ra dấu đầu hàng. Tăng lữ sung sướng, ra về.

Dọc đường lại gắp hai tên sư đồng lõa của ông bịp nọ, Tăng lữ không ngớt ca ngợi vị "U Tịnh đại sư":

- Tôi đã hỏi Ngài: "Phật là gì?" thì Ngài nhìn bốn phương tám hướng để nói cho tôi biết rằng Phật ở khắp nơi, không nơi nào mà không có Phật. Tôi hỏi: "Pháp là gì?", thì Ngài nhìn trên cao dưới thấp, là ý Ngài muốn bảo với tôi rằng chân lý của Phật Pháp là tất cả không phân biệt cao thấp, thanh trọc. Để trả lời câu hỏi "Tăng là gì?", thì Ngài chỉ nhắm mắt lại, để nói cho tôi biết rằng kẻ nào nhắm mắt và ngủ một giấc say trong những chỗ thâm sơn cùng cốc là một bậc đại sư tăng. Rốt cùng, để trả lời câu chót của tôi "Thế nào là Hỉ Xả" thì Ngài mở rộng cánh tay để chỉ cho tôi biết đó là một ân huệ ban bố cho khắp cả mọi người biết tìm con đường sống... Thật là một bậc đại sư sáng suốt và lời giáo huấn của Ngài thật là vô cùng sâu thẳm! Khi hai anh sư nọ về đến nhà, ông "U Tịnh đại sư" rầy to:

- Các anh đi đâu? Hồi nãy có một tăng lữ phương xa đến cật vấn ta về Phật pháp, anh ấy hỏi dồn ta bí lối, suýt ta đã mất cả uy danh rồi còn gì!

Trích: Cái cười của thánh nhân
Thu Giang Nguyễn Duy Cần

BỒ TÁT MAN KỲ 1 (TIỂU SƠN TRÙNG ĐIỆP KIM MINH DIỆT) - ÔN ĐÌNH QUÂN


Bồ tát man kỳ 1

Tiểu sơn trùng điệp kim minh diệt,
Mấn vân dục độ hương tai tuyết.
Lãn khởi hoạ nga mi,
Lộng trang sơ tẩy trì.
Chiếu hoa tiền hậu kính,
Hoa diện giao tương ánh.
Tân thiếp tú la nhu,
Song song kim giá cô.


菩薩蠻其一

小山重疊金明滅
鬢雲欲度香腮雪
懶起畫娥眉
弄妝梳洗遲
照花前後鏡
花面交相映
新帖繡羅襦
雙雙金鷓鴣
Bồ tát man kỳ 1
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Tiểu Sơn trùng điệp nắng tà. 
Tóc mây má thắm, mặn mà thơm hương. 
Mi cong, biếng họa nét hường. 
Điểm tô son phấn, được nhường bỏ qua. 
Mặt người cứ ngỡ nét hoa. 
Gương đây hoa đấy, ngỡ ta ngắm mình. 
Tay thêu lụa đẹp thêm xinh. 
Thêu đôi én lượn, đẹp tình lứa đôi.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Ôn Đình Quân 溫庭筠 (812-870) vốn tên Kỳ 岐, tự Phi Khanh 飛卿, người Thái Nguyên đời Vãn Đường (nay thuộc tỉnh Sơn Tây), là cháu của tể tướng Ôn Ngạn Bác 溫彥博. Ông tinh thông âm nhạc, là một thi nhân tài tử mẫn tiệp, từ trẻ đã nổi danh thi từ nhưng thi không đỗ nên đi chu du đây đó. Từ của ông lời rất đẹp, phái Hoa gian liệt ông vào người đứng thứ nhất đời Đường. Tác phẩm của ông có Hán Nam chân cảo và Ác Lan tập, song đều tán lạc không còn.

Nguồn: Thi Viện




WITCHETTY GRUB - MÓN ĂN "GÂY SỐC" NHƯNG LÀ TINH HOA ẨM THỰC CỦA THÔ DÂN ÚC

Không phải cao lương mỹ vị, Witchetty Grub là minh chứng cho sự gắn bó sâu sắc giữa con người thổ dân Úc và thiên nhiên hoang dã. Từ một loài ấu trùng trong lòng đất, món ăn này đã trở thành biểu tượng ẩm thực độc đáo, lưu giữ tinh thần sinh tồn qua hàng nghìn năm.


Ẩn sâu trong những vùng hoang mạc rộng lớn và khắc nghiệt của nước Úc, nơi những dải đất đỏ trải dài đến tận chân trời, nơi nắng gió và sự khô cằn tạo nên một khung cảnh vừa hoang sơ vừa đầy thách thức, tồn tại một món ăn khiến bất kỳ ai lần đầu nghe đến cũng không khỏi tò mò xen lẫn cảm giác “e dè” ngay từ cái nhìn đầu tiên: Witchetty Grub. Đây là tên gọi của một loài ấu trùng bướm bản địa, sinh sống chủ yếu trong rễ và thân của các bụi cây thuộc vùng Outback – khu vực hoang dã rộng lớn được xem như “trái tim nguyên sơ” của nước Úc, nơi con người và thiên nhiên đã cùng tồn tại trong mối quan hệ đặc biệt suốt hàng chục nghìn năm.

Witchetty Grub có hình dáng khá đặc trưng: thân màu trắng sữa, mềm, béo tròn, thường dài khoảng 8-10cm, thậm chí có những cá thể lớn hơn đáng kể so với đuông dừa ở Việt Nam. Khi quan sát kỹ, có thể thấy cơ thể chúng gần như trong mờ, phần thân căng đầy dưỡng chất tích tụ từ môi trường sống bên trong lòng đất hoặc thân cây. Điều thú vị là vòng đời của loài ấu trùng này gắn chặt hoàn toàn với thiên nhiên bản địa. Chúng không sống tự do trên mặt đất mà ẩn sâu trong rễ cây hoặc thân gỗ mục, lấy chính phần gỗ, nhựa cây và rễ cây Witchetty làm nguồn thức ăn chính. Nhờ cơ chế sinh tồn đặc biệt đó, Witchetty Grub không chỉ tồn tại được trong điều kiện khắc nghiệt mà còn trở thành một phần không thể tách rời của hệ sinh thái sa mạc khô cằn nước Úc.


Trong khi nhiều nền văn hóa ẩm thực trên thế giới vẫn xem côn trùng là một điều xa lạ hoặc thậm chí gây e ngại, thì với thổ dân Úc – những cư dân bản địa đã sinh sống tại lục địa này từ hàng chục nghìn năm trước – Witchetty Grub lại mang ý nghĩa hoàn toàn khác. Đối với họ, đây không phải là một món ăn “lạ”, mà là một nguồn thực phẩm quen thuộc, gắn liền với đời sống sinh tồn và văn hóa truyền thống. Ở vùng Outback khắc nghiệt, nơi đất đai cằn cỗi, khí hậu khô nóng kéo dài và nguồn thực phẩm tự nhiên không dồi dào, con người buộc phải học cách thích nghi với mọi nguồn dinh dưỡng có thể tìm thấy. Chính trong bối cảnh đó, Witchetty Grub trở thành một phần quan trọng trong chế độ ăn uống, đồng thời là minh chứng rõ ràng cho sự am hiểu sâu sắc của người bản địa về thiên nhiên xung quanh.

Theo các nghiên cứu dinh dưỡng hiện đại, loại ấu trùng này chứa hàm lượng protein cao, cùng với đó là các chất béo có lợi như axit oleic – một dạng chất béo không bão hòa đơn tương tự Omega-3, vốn được đánh giá tốt cho sức khỏe tim mạch và cung cấp năng lượng bền vững. Nhờ giá trị dinh dưỡng dồi dào đó, Witchetty Grub từng được ví như một “nguồn năng lượng tự nhiên” quý giá, giúp thổ dân duy trì thể lực và sự sống trong điều kiện môi trường khắc nghiệt của sa mạc. Không chỉ đơn thuần là thức ăn, nó còn là một dạng “kho dự trữ năng lượng” mà thiên nhiên ban tặng cho con người nơi đây.


Cách tìm Witchetty Grub cũng là một phần thể hiện sự gắn bó lâu đời giữa con người bản địa và vùng đất của họ. Những người có kinh nghiệm thường quan sát rất kỹ dấu hiệu của các bụi cây Witchetty, từ hình dáng thân cây, độ ẩm của đất cho đến những thay đổi nhỏ trên bề mặt vỏ cây. Khi phát hiện dấu hiệu nghi ngờ, họ sẽ dùng các công cụ đơn giản để đào nhẹ lớp đất xung quanh hoặc tách thân cây để tìm kiếm bên trong. Nếu gặp đúng vị trí có ổ ấu trùng, có thể thu hoạch được số lượng khá lớn. Với người ngoài, đây có thể chỉ là một hành động săn tìm thực phẩm, nhưng với thổ dân, đó là cả một hệ thống kiến thức sinh tồn được tích lũy và truyền lại qua nhiều thế hệ, gắn liền với sự hiểu biết tinh tế về từng nhịp sống của thiên nhiên.

Về cách thưởng thức, truyền thống lâu đời nhất của thổ dân là ăn sống Witchetty Grub. Khi còn tươi, ấu trùng được đưa trực tiếp vào miệng, sau đó được nhai nhanh để cảm nhận trọn vẹn lớp dịch béo ngậy bên trong. Khoảnh khắc ấy thường được mô tả là khá “đặc biệt” đối với người lần đầu trải nghiệm: vừa bất ngờ, vừa lạ lẫm, nhưng lại là một phần tự nhiên trong văn hóa ẩm thực bản địa. Chính trải nghiệm mạnh về giác quan này khiến Witchetty Grub trở thành một món ăn khó quên, không chỉ vì hương vị mà còn vì cảm giác khác biệt so với mọi thực phẩm thông thường.


Tuy nhiên, ẩn sau vẻ ngoài khiến nhiều người e ngại lại là một hương vị được đánh giá khá thú vị. Một số người từng nếm thử mô tả rằng Witchetty Grub có vị béo rõ rệt, đậm và ngậy, hòa quyện với những tầng hương gợi nhớ đến thịt gà, tôm và thoảng chút vị hạt như hạnh nhân. Chính sự kết hợp tưởng chừng khó tin này lại tạo nên một trải nghiệm ẩm thực độc đáo, vừa hoang dã vừa tự nhiên, phản ánh đúng tinh thần của vùng đất mà nó sinh ra.


Ngày nay, Witchetty Grub không còn chỉ tồn tại trong phạm vi sinh hoạt truyền thống của thổ dân Úc mà đã dần trở thành một phần trong trải nghiệm ẩm thực độc lạ dành cho du khách. Một số nhà hàng hiện đại tại Úc đã đưa món ăn này vào thực đơn với nhiều cách chế biến khác nhau nhằm giảm bớt sự “gây sốc” ban đầu, đồng thời làm nổi bật hương vị tự nhiên của nguyên liệu. Ngoài cách ăn sống truyền thống, Witchetty Grub còn được nướng, chiên hoặc áp chảo, trong đó món nướng thường được nhắc đến nhiều nhất nhờ mùi thơm hấp dẫn và hương vị đậm đà hơn, dễ tiếp cận hơn với thực khách quốc tế.

Thậm chí, trong một số khu vực, Witchetty Grub còn được đóng gói và bán trong các hình thức thương mại hóa, giúp du khách có thể mang về trải nghiệm như một món đặc sản độc đáo của nước Úc. Điều này cho thấy sự chuyển mình thú vị của một món ăn từng gắn liền với sinh tồn, nay trở thành biểu tượng văn hóa – ẩm thực mang tính khám phá.


Từ một loài ấu trùng nhỏ bé ẩn mình trong lòng đất sa mạc, Witchetty Grub đã vượt qua ranh giới của một nguồn thực phẩm sinh tồn để trở thành một phần đặc sắc trong bức tranh văn hóa ẩm thực thổ dân Úc. Nó không chỉ phản ánh sự khắc nghiệt của thiên nhiên, mà còn thể hiện trí tuệ, sự thích nghi và khả năng sống hòa hợp với môi trường của con người nơi đây – một minh chứng sống động rằng ngay cả những gì tưởng chừng đơn giản nhất trong tự nhiên cũng có thể mang trong mình giá trị văn hóa sâu sắc và lâu đời.

Và nếu có dịp đặt chân đến nước Úc, đừng chỉ dừng lại ở việc chiêm ngưỡng những cảnh quan hùng vĩ hay những thành phố hiện đại, mà hãy thử một lần khám phá sâu hơn vào đời sống bản địa – nơi những câu chuyện như Witchetty Grub vẫn đang được gìn giữ như một phần ký ức sống của vùng đất này.

Theo: vietviettourism