Saturday, June 27, 2026

MIỆT THỨ CÓ CÒN XA LẮC XA LƠ - KỲ 2: XỨ GÌ " DƯỚI SÔNG CÁ LỘI, TRÊN BỜ CỌP THA"

"Thỉnh thoảng dân bắt rắn, bắt lươn dùng chĩa mà xom, phát hiện vài lỗ trống, bên dưới đầy lươn và xương người nát bấy, nhưng tóc còn nguyên vẹn. Mộ của người đến U Minh, sống nghèo túng rồi mất từ xa xưa".

Chợ Thứ Bảy, quê hương nhà văn Sơn Nam, giờ đã có nhiều tiệm vàng - Ảnh: QUỐC VIỆT

Liệu Sơn Nam có quá lời trong hồi ký viết về quê hương chôn nhau cắt rốn của mình, rẻo đất thấp cuối nước Miệt Thứ - U Minh?

Xứ nghèo nhưng không thắt ngặt miếng ăn

Mỗi lần rong ruổi về Miệt Thứ, tỉnh Kiên Giang cũ, tôi hay tìm dấu nhà văn Sơn Nam. Những chuyện "ông già Nam Bộ" kể giờ đem ra nhắc lại có người gật gù, có người "biết chết liền".

Quê hương ông nay đã đổi thay nhiều quá. Kinh rạch trời cho và sức người đào đắp vẫn còn đó nhưng thủy lộ của những chiếc xuồng ba lá chèo tay thời Sơn Nam còn bận quần xà lỏn đi lượm trứng chim cò đã qua rồi.

Dưới kinh ghe xuồng giờ vẫn ngược xuôi nhưng đã rền rĩ tiếng động cơ. Trên bờ xe cộ tấp nập mà phần lớn có đường xe hơi vào tận xóm ấp.

Chợ quê nhà Sơn Nam ở miệt Thứ Bảy xã Đông Thái, huyện An Biên, Kiên Giang (nay là xã thuộc tỉnh An Giang) có nhiều tiệm vàng "bự tổ chảng". Nhìn mấy cô bán vé số ghé tiệm vàng mua vòng ximen đeo rực cùm tay mà thương "ông già Nam Bộ" chỉ nhớ đặng chuyện chợ xưa có cô bán bánh trái, xôi chè nước cốt dừa...

Lần tôi về Miệt Thứ gần đây nhứt là hồi mùa mưa năm 2024. Buổi sáng phê pháo với dân địa phương ở chợ Thứ Ba bên kinh Xẻo Rô, ông già Thà Văn Thắt (73 tuổi) nghe tôi kể lời Sơn Nam, liền trả lời "ổng biên hơi dăn dẻ nhưng hổng hề trật lất đâu".

Ý ông già Miệt Thứ nói Sơn Nam văn vẻ nhưng viết đúng. Quê tía má ông Tám Thắt miệt núi Sập, An Giang nhưng đã lên xuồng xuôi kinh Vĩnh Tế về Hà Tiên, rồi quành sang Miệt Thứ ở An Biên ngụ cư trải mấy đời.

Chuyện xứ này thời Pháp, ông nghe tía má kể lại. Còn đời ông cũng nếm trải đủ chiến tranh, loạn ly, đói kém rồi lần hồi đổi thay, phát triển như nay.

"Tui dân trôi sông lạc chợ, nứt mắt trong chiến tranh, chỉ học lụp bụp mấy con chữ hiếm hoi như hột cơm nguội sót đít nồi thời đói rã họng, làm gì được đọc sách ông Sơn Nam. Nhưng chuyện ông già xưa kể mà cậu nhắc đều trúng hết đó" - ông Tám Thắt kể Miệt Thứ này hồi xưa ngộ lắm, nói "đói thấy bà cố" luôn cũng đúng, mà nói sướng cũng hổng trật chìa đi đâu.

Lý do đầu tiên, phần đa người xứ này là dân nghèo trôi dạt về. Người bồng bế con cái xuôi dòng Cái Lớn, vô Xẻo Rô tìm đất hứa, người chạy giặc, kẻ trốn nợ, muốn tìm đời tự do chỗ đất rộng người thưa như tía má ông nên hầu hết gốc gác đều nghèo rớt.

Miệt Thứ Bảy, quê hương nhà văn Sơn Nam - Ảnh: QUỐC VIỆT

Thêm nữa, mới tầm vài chục năm trước đất và con nước phèn lợ xứ này vẫn hổng thuận cho mần ruộng. Ai hồi đó cày công đất cấy lúa được 10-20 giạ đã là trúng, còn thất bát xác xơ 5-7 giạ hổng hiếm.

"Vậy đó nên đời tụi tui hồi xửa xưa được mùa thì bưng chén cơm đầy, thất vụ thì lót bụng chén cơm hụt, thậm chí nhiều bữa má phải cắp rá đi mượn gạo hàng xóm cũng có gì lạ đâu" - ông Nguyễn Văn Năm (74 tuổi), biệt danh Năm Lửa, ngồi bên góp chuyện ngày tháng cũ.

Trong cảnh đó, dân nghèo kẻ đến, người đi khỏi xứ này là thường tình. Những nấm mả đất thiếu người coi sóc để lâu thành mả lạng (sạt mất nấm đất bên trên) khiến người sau cầm chĩa đi xom con lươn, con lịch, mò hang bắt con cá trê, con rắn, vô tình gặp xương cốt như ông Sơn Nam kể là có thực.

Miệt Thứ giờ có đường xá thuận lợi, nhưng người dân vẫn dùng thủy lộ truyền thống - Ảnh: QUỐC VIỆT

Nhưng chuyện hơi kỳ dị này cũng rất hiếm hoi, đâu phải dễ đụng ở miệt một thời như hoang địa, dân lưa thưa lớt thớt, mồ mả đâu ra mà đầy để dễ mò cá lại trúng xương người.

"Ông già Nam Bộ" Sơn Nam đã "dăn dẻ" phóng thêm chuyện có thực, như tía má ngày xưa kể chuyện ma bên ngọn đèn mù u leo lét để sắp nhỏ sợ mà bớt lêu lổng.

Tuy nhiên, các ông già Tám Thắt, Năm Lửa mấy đời lội sình Miệt Thứ này cũng không quên thêm lời rằng nhà văn Sơn Nam đã viết chính xác sản vật quê hương.

"Xứ này hồi xưa bữa đầy bữa hụt hột cơm, chứ thừa mứa miếng ăn từ chim trời cá nước, rắn rùa luẩn quẩn bu kín gốc cây.

Thủa nhỏ tụi tui thèm thịt heo mà phát ngán miếng ngon nhứt là phần má, phần ruột cá lóc, còn thịt rắn, thịt chim ăn không kịp phải dằm muối xả phơi khô, còn con rùa nhỏ nhứt cũng phải bự hai gang tay mới thèm chụm lửa làm món..." - ông Năm Lửa góp chuyện đến con chó con mèo Miệt Thứ ngày xưa cũng ngán cá mú ê hề chứ nói chi người ta.

Kinh xáng Xẻo Rô xuôi dọc Miệt Thứ - Ảnh: QUỐC VIỆT

Sản vật trời cho và tánh người hào sảng

Thời nay nhắc câu "dưới sông cá lội, trên bờ cọp tha" ở dải đất cuối nước U Minh - Miệt Thứ, người trẻ tròn xoe mắt cự "mấy cha ỷ lớn nói dóc như bác Ba Phi".

Nhưng cỡ tuổi ngoài 70 người ông Tám Thắt, Năm Lửa thì tin sái cổ chuyện này, dù đến đời họ cũng chỉ được nghe lời ông nội bà ngoại hay tía má truyền lại.

Ông Sơn Nam viết hồi ký kể hồi đó bên bờ sông Cái Lớn ở đoạn Tắc Cậu, cửa ngõ vào Miệt Thứ có miễu thờ Cậu (con bà Chúa Xứ). "Phía sau miếu mấy năm trước dân làm rẫy đã săn được con cọp.

Dân cất nhà xúm xít, hàng cây bần cổ thụ gốc to, nghiêng ngửa trên đất bồi, bầy khỉ rừng quy tụ, miệng la chót chét, hái trái bần còn xanh ném xuống mấy chiếc ghe đang đậu lại nấu cơm...".

Thêm lời Sơn Nam, các ông già Miệt Thứ thì kể tía má hay lấy cọp beo, rắn rết ra làm chuyện bên bàn trà, cuộc rượu. Tầm đầu thế kỷ 20, tàu máy người Pháp đã chạy động sông Cái Lớn nhưng đêm đêm cọp rừng vẫn về xóm vồ heo, tha nghé.

Trẻ em chơi diều bên bờ kinh xáng Xẻo Rô ở Miệt Thứ Ba - Ảnh: QUỐC VIỆT

Người Cao Miên (Campuchia) về miệt này lập xóm, làm thuốc bí truyền xua cọp nhưng không ăn thua, phải đợi đến khi trai tráng đặt hầm bẫy mới vắng dần bóng ông ba mươi.

Khoảng đến những năm 1940, chuyện "trên bờ cọp tha" ở U Minh - Miệt Thứ chỉ còn trong lời kể nhưng cảnh "dưới sông cá lội" thì vẫn lềnh khênh như dân địa phương hay nói "gì chứ cá mú xứ tui nhiều binh thiên".

Hồi ký Sơn Nam dành nhiều đoạn kể về con cá xứ này như tía má ông từng lo thằng con không đặng đường ăn học thì chỉ ở rừng tràm lặn ngụp bắt con cá lóc mà kiếm sống, đầu óc luẩn quẩn vượt đâu khỏi kinh rạch...

Đến đoạn gặt lúa ở quê mình, "ông già Nam Bộ" còn tả cảnh chim trời cá nước ê hề. "Chim trời bay lượn đủ loại vì gần biển, dưới chân người gặt thỉnh thoảng gặp rùa, rắn, lươn đang cựa quậy".

Miếu thờ Ông Hổ ở Miệt Thứ, nơi từng một thời "dưới sông cá lội, trên rừng cọp tha" - Ảnh: QUỐC VIỆT

Trong khi Sơn Nam kể cá nhiều chết rục xương dưới gốc cây thì những người già như ông Tám Thắt, Năm Lửa vẫn nhớ sau năm 1975 có chuyện du kích vác súng đi bắn cá dưới kinh.

Ban đêm họ đội đèn bình ắc quy trên đầu, đi soi gặp cá lóc cỡ một, hai ký vẫn không thèm ngó, phải thấy con cỡ năm, bảy ký bự bằng bắp đùi người lớn mới nã một phát đạn chính xác vào đầu. Vậy mà dân nhậu chỉ ăn mỗi bộ lòng, cả con cá bự chà bá thẩy cho vì quá ngán.

Mà kể đâu xa, đầu những năm 1990 Miệt Thứ vẫn lềnh cá. Sáng sáng các chợ Thứ Ba, Thứ Bảy, Thứ Chín Rưỡi, Thứ Mười Một chỉ toàn mùi cá là cá.

Các loại cá đen thì cá lóc, cá trê, cá rô và lươn, rắn dưới kinh rạch, rừng tràm bắt lên, cá biển cũng gần sát đó được ngư dân chở vô. Giá rẻ như cho, người ta không chỉ bán ký mà còn bán mớ, bán thau, gặp ai mặt ưng ưng thì liệng tặng thêm vài con đặng "ăn cho vui".

Dân Miệt Thứ - U Minh bao đời nghèo nhưng tính cách hào sảng một phần cũng từ đời sống chim trời cá nước lềnh khênh này...

Kể chuyện sản vật trời cho ở Miệt Thứ, anh Trang Minh Tú - nguyên Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện An Biên cũ - tâm sự đời mình sinh sau năm 1975 vẫn trải nghiệm cảnh dân nghèo nhưng không thắt ngặt miếng ăn.

"Hồi tui đi học chỉ cần thả đại vài tay lưới bén xuống con kinh trước nhà cũng dư cá ăn. Mùa nắng cá rút xuống ao, xuống đìa đầy nhóc, chỉ có lấy thau mà xúc cho đỡ mệt.

Mấy cái hố bom chiến tranh còn sót lại qua tầm sau Tết là niềm vui cho đám học trò hè nhau đi tát để bắt cá. Dân ăn ngán miệng, đem cá phơi khô, làm mắm rồi cho heo ăn...".

*****************

Từ những năm 2000, Miệt Thứ dần đổi thay với vuông tôm, ruộng lúa và các con lộ ngày càng mở rộng. Ai đó hát câu "bông bần rụng trắng bờ sông, lấy chồng xa xứ khó mong ngày về" là chuyện xửa xưa rồi...

>> Kỳ 3: Cuộc đổi thay chầm chậm trên quê hương Sơn Nam
Quốc Việt / Theo: tuoitre



Friday, June 26, 2026

AI CŨNG CHO MÌNH LÀ THIỆN, VẬY LÀM SAO ĐỂ NHẬN RA CHÂN THIỆN?

Con người thường dễ tự cho mình là người tốt. Đó là phản xạ tự nhiên của bản ngã: muốn được chấp nhận, muốn thấy mình là đúng, là Thiện, là tử tế. Có người lấy sự cẩn thận, chu đáo làm tiêu chuẩn của cái Thiện. Có người lấy lòng vị tha, giúp đỡ người khác làm chuẩn. Cũng có người lấy sự tuân thủ luật pháp, đạo đức xã hội để cho rằng mình Thiện.


Nhưng…”đó là cái Thiện trong nhận thức cá nhân”, nó không phản ánh được bản chất sâu thẳm của nội tâm.

Kẻ vô minh cũng tự thấy mình đúng, thấy mình làm điều tốt. Kẻ chà đạp người khác đôi khi vẫn tự cho rằng “tôi chỉ đang dạy họ nên người”. Người thao túng người khác cũng có thể nghĩ: “tôi đang làm điều cần thiết để bảo vệ lẽ phải”. Ai cũng có một lý do cho nhận thức và hành vi của mình, dù bất kể người ngoài nhìn vào có đúng hay không.

Vậy rốt cuộc cái Chân Thiện ở đâu?

Thiện không nằm ở hành vi, mà nằm ở động cơ và trạng thái nội tâm

Cái Thiện đích thực không thể giả tạo, vì nó là một trạng thái của tâm. Một người có thể tặng tiền, giúp người, nói lời ngọt ngào… nhưng nếu trong lòng còn mong cầu báo đáp, còn cảm giác mình “hơn người”, còn muốn người khác biết ơn, thì đó vẫn chưa phải là Thiện.

Cái Thiện thật sự đến từ nội tâm thanh thản, không phân biệt, không tranh giành, không phán xét. Và theo nhận thức hạn hẹp của tôi, người Chân Thiện sẽ có một số biểu hiện dưới đây:

Ảnh Pinterest

1. Trạng thái an nhiên trước “thuận nghịch”

Một người thật sự sống thiện sẽ không vì sự việc tốt đẹp mà quá vui mừng, cũng không vì nghịch cảnh mà khổ đau, oán thán người khác. Vì họ đã nhìn thấy sự vô thường của cuộc đời, và chấp nhận mọi thứ như một phần cần có trong hành trình trưởng thành của đời họ.

Khi tâm đủ Thiện, mọi biến cố bên ngoài trở thành cơ hội nội soi. Dù bị hiểu lầm, họ không vội biện minh. Dù bị thiệt thòi, họ vẫn giữ được lòng trong sáng.

2. Cái nhìn thiện lương với người và đời

Người thiện thật sự không dễ dàng đánh giá người khác. Họ có thể nhìn thấy lỗi sai, nhưng trước tiên, họ nhìn thấy hoàn cảnh, nỗi khổ, và sự vô minh của người kia. Cái nhìn đó khiến họ không kết luận vội, không phán xét, mà âm thầm cầu mong người kia thức tỉnh và chuyển hóa. Họ sẽ không bị dẫn động bởi cái sai của người khác.

Thậm chí, người thiện thật sự còn tự hỏi bản thân trước khi nhìn lỗi người khác: “Liệu mình có từng vô minh giống họ không?”, “Liệu mình có từng phạm sai lầm như vậy không?”. Và từ đó, tâm sinh ra khiêm cung, không ngạo mạn.

3. Không cần đúng, cũng không cần thắng

Người Chân Thiện không cần đúng trong mọi cuộc tranh luận, và cũng không cần phải hơn ai trong mọi tình huống. Dù bị hiểu lầm, họ vẫn giữ lòng tin vào Thiện niệm. Dù bị tổn thương, họ vẫn không nói lời cay nghiệt.

Vì họ hiểu rằng: cái đúng bên ngoài không quý bằng cái tĩnh lặng bên trong. Nếu phải chọn giữa thắng người khác và giữ được tâm lành, họ chọn giữ được tâm lành.

4. Biết so mình với bậc Thánh Nhân, không so với người khác

Một người sống Thiện không so mình với hàng xóm, với đồng nghiệp, hay người xung quanh. Họ không cần phải hơn ai cả. Nhưng họ thường so nội tâm mình với những bậc Thánh nhân, như Khổng Tử, Thích Ca, Lão Tử, Đức Chúa Vv… hay những bậc chân tu âm thầm ẩn dật trong nhân gian.

Và mỗi lần soi chiếu như thế, họ thấy mình còn rất nhỏ, còn nhiều sân si, còn đầy vọng niệm. Chính sự nhận ra khoảng cách ấy khiến họ khiêm cung, thuần hậu, và không bao giờ dám tự nhận mình là Thiện tuyệt đối.

Vậy, làm sao biết mình có Thiện hay không?

Có thể, bạn sẽ không thể “biết” bằng lý trí. Nhưng bạn có thể cảm nhận được khi bạn tĩnh tâm, qua cách bạn phản ứng với người khác, qua những lúc bạn chịu oan ức mà vẫn giữ được lòng sáng.

Ảnh Pinterest

Bạn sẽ biết mình đang hướng về Thiện khi:
  • Bạn không còn thích chứng minh bản thân đúng.

  • Bạn không còn cảm thấy sung sướng khi người khác sai.

  • Bạn thấy bình thường khi bị chỉ trích và còn cảm ơn nếu lời ấy giúp mình tốt lên.

  • Bạn sẵn lòng chịu phần thiệt mà không đòi hỏi đền bù.

  • Bạn có thể nghĩ tốt cho một người vừa khiến bạn tổn thương.

Thiện không phải là một chiếc áo đẹp mặc vào để được khen. Thiện cũng không phải là một tiêu chuẩn để áp đặt bản thân lên người khác. “Tôi Thiện hơn bạn nên tôi tốt hơn bạn”, hoàn toàn không điều đó, đó chỉ là Ngụy Thiện.

Thiện là một hành trình chậm rãi, kiên trì, và đầy tỉnh thức

Người thật sự Thiện sẽ không cần nói: “Tôi là người tốt”. Bởi ánh mắt, khí chất và sự hiện diện của họ đã là câu trả lời. Nhẹ nhàng, âm thầm, như mùi hương lan ra từ một đóa hoa.

Trước nhất là không thẹn với Trời Đất, sau nữa không thẹn với người khác, cuối đến mới là không thẹn với chính mình.

Nguyên Tác An Hậu
Theo: vandieuhay

TÂY HỒ VÃN QUY HỒI VỌNG CÔ SƠN TỰ TẶNG CHƯ KHÁCH - BẠCH CƯ DỊ


Tây hồ vãn quy hồi vọng 
cô sơn tự tặng chư khách

Liễu hồ, Tùng đảo, Liên Hoa tự,
Vãn động quy kiêu xuất đạo trường.
Lô quất tử đê sơn vũ trọng,
Bính lư diệp chiến thuỷ phong lương.
Yên ba đạm đãng dao không bích,
Lâu điện sâm si ỷ tịch dương.
Đáo ngạn thỉnh quân hồi thủ vọng:
Bồng Lai cung tại thuỷ trung ương.


西湖晚歸回望
孤山寺贈諸客

柳湖松島蓮花寺
晚動歸橈出道場
盧橘子低山雨重
拼櫚葉戰水風涼
煙波淡蕩搖空碧
樓殿參差倚夕陽
到岸請君回首望
蓬萊宮在水中央


Chiều từ Tây Hồ về ngắm chùa 
trên núi cô, làm tặng chư khách
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Liên hoa, Hồ Liễu. Đảo Tùng. 
Đạo tràng rời bến, ung dung một chiều. 
Mưa rừng cành quất liêu xiêu. 
Gió sông mát lạnh, tiêu điều tàn cây. 
Yên ba khói sóng tầng mây. 
Bóng chiều cung điện, còn bầy sân si. 
Xin người ngoành lại chớ đi. 
Bồng lai một chốn, người đi không về.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, 15 bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.

Nguồn: Thi Viện



PHONG TRÀO NGHĨA HÒA ĐOÀN (1899-1901)

Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn hay còn gọi là Khởi nghĩa Nghĩa Hòa Đoàn là một phong trào bạo lực ở tại Bắc Bộ Trung Quốc (tháng 11 thuộc 1899 đến 7 tháng 9 năm 1901) do Nghĩa Hòa Đoàn khởi xướng, chống lại sự ảnh hưởng của thế lực nước ngoài trong các lĩnh vực giao thương, chính trị, văn hóa,..

Nghĩa quân Nghĩa Hoà Đoàn. Ảnh: Hình ảnh lịch sử.

Nghĩa Hòa Đoàn là gì và xảy ra ở đâu?

Nghĩa Hòa Đoàn là một tổ chức tôn giáo thần bí và đồng thời là một tổ chức chính trị đã lãnh đạo phong trào Nghĩa Hòa Đoàn do Chu Hồng Đăng lãnh đạo. Có thuyết cho rằng tổ chức này liên quan tới Bạch Liên giáo. Lực lượng nòng cốt của Nghĩa Hòa Đoàn bao gồm nhiều người giỏi võ nghệ. Do đó, Nghĩa Hòa Đoàn còn bị những người không ưa nó gọi bằng cái tên "quyền phỉ".

Sách giáo khoa trung học cơ sở của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gọi Nghĩa Hòa Đoàn là những "người yêu nước". Tuy nhiên, có không ít người mà chủ yếu là người nước ngoài lên án Nghĩa Hòa Đoàn và quy kết tổ chức này đã gây ra sự thảm sát hàng chục ngàn người mà phần lớn là người nước ngoài. Khẩu hiệu hành động của tổ chức này là "phù Thanh diệt Dương" nghĩa là "ủng hộ Thanh triều, tiêu diệt người Tây"...

Cuối đời Thanh, nhân dân Trung Quốc luôn luôn bị đế quốc nước ngoài ức hiếp khiến các cuộc nổi dậy như Nghĩa Hòa Đoàn không ngừng phát triển, các nước đế quốc quyết định đưa quân đàn áp. Năm 1900, Tướng quân Anh là E.H.Seymour chỉ huy liên quân 8 nước gồm Anh, Pháp, Đức, Ý, Mỹ, Nga, Nhật, Áo-Hung tiến đánh Bắc Kinh.

Tranh miêu tả binh lính Bát Quốc liên quan trong phong trào Nghĩa Hòa Đoàn.

Bị sự kháng cự của quân triều đình và Nghĩa Hòa Đoàn, Liên quân 8 nước ban đầu gặp khó khăn. Liên quân bèn điều 32 tàu chiến cùng hơn một vạn lính lên bờ tiếp ứng. Họ đưa tối hậu thư cho Trấn tổng binh Thiên Tân La Vinh Quang chỉ huy pháo đài Đại Cô: "Hạn định trong vòng hai ngày phải giao nộp pháo đài để liên quân kiểm soát". La Vinh Quang cự tuyệt yêu cầu vô lý của liên quân tám nước, và yêu cầu quân Thanh bảo vệ pháo đài lập tức có sự chuẩn bị. Liên quân 8 nước sợ "đêm dài lắm mộng" còn chưa tới thời gian quy định đã từ hai phía đồng thời tiến công pháo đài. Quân đóng giữ pháo đài cố gắng kháng cự, các chiến sĩ của Nghĩa Hòa Đoàn ở gần đó cũng phối hợp tác chiến. Qua gần bảy tiếng đồng hồ chiến đấu quyết liệt, ngày 21 tháng 5 (tức ngày 17 tháng 6 dương lịch), pháo đài thất thủ. Sau khi liên quân tám nước chiếm được pháo đài Đại Cô, trên dọc truyến đường sắt từ Đại Cô tới Thiên Tân, họ dán cáo thị: "Nếu có binh lính của Nghĩa Hòa Đoàn hay quân triều đình dám cản trở cuộc hành quân, chúng ta nhất định sẽ tăng cường sức mạnh, tiêu diệt tận sào huyệt". Điều này đã là sự uy hiếp lớn với quân Nghĩa Hòa Đoàn và quân của triều đình. Từ Hy Thái hậu nghĩ: Trước mắt giờ có hai kẻ thù, một là người ngoại quốc và một là Nghĩa Hòa Đoàn. Sự uy hiếp của người nước ngoài với chúng ta ngày càng lớn, còn sức ép của nghĩa quân cũng có hạn. Vì thế, bà triệu tập hội nghị Ngự tiền đại thần, quyết định tuyên chiến với Liên quân tám nước, trên thực tế, bà để cho quân Nghĩa Hòa Đoàn giao chiến, còn bản thân thì "tọa sơn quan hổ đấu".

Thái độ của quân Nghĩa Hòa Đoàn với quân Tây dương không giống thái độ của Từ Hy Thái hậu. Nghe nói quân Tây dương xâm phạm Thiên Tân, Nghĩa Hòa Đoàn đã vừa cho người phá hoại đường giao thông của kẻ địch và tiến hành chặn đánh vừa đưa quân tập kết về Thiên Tân chuẩn bị phòng thủ. Trương Đức Thành, Tào Phúc Điền, Dương Thọ Thần, Lưu Thập Cửu, Hàn Dĩ Lễ cùng các đại sư huynh, Lâm Hắc Nhi cùng đại sư muội đều cùng quân sĩ có mặt.

Lực lượng quân đội nhà Thanh vào cuối thế kỉ 19.

Liên quân trước hết đưa quân chiếm nhà ga Lão Long Đầu. Nhà ga nằm trên đường tới Bắc Kinh, lại bắc cầu phao nối với Tô giới Tử Trúc Lâm ở bờ bên kia sông để liên hệ với quân ở đó. Nghĩa Hòa Đoàn để bảo vệ Bắc Kinh và cản trở quân Tây dương tất nhiên phải quyết tâm giành lại khu vực này. Vì thế đã xảy ra những trận quyết chiến giữa hai bên ở đây.

Quân Nga đang chiếm nhà ga nhờ đại pháo chiến đấu rất ngoan cường. Tào Phúc Điền, Hàn Dĩ Lễ chỉ huy quân chống cự khiến cho đại pháo cũng mất tác dụng. Quân Tây dương xâm lược phải hoảng hồn kêu cứu, có nơi phải giương cờ trắng xin quân Thanh đình chiến. Quân Nghĩa Hòa Đoàn tiếp tục thừa thắng xông lên, tiêu diệt tới hơn năm trăm quân Nga, chiếm được nhà ga Lão Long Đầu và phần đất phía bắc.

Cũng lúc đó, Trương Đức Thành mang hơn năm nghìn quân Nghĩa Hòa Đoàn trong "Thiên hạ đệ nhất đoàn" từ trấn Độc Lưu tới tiến công mãnh liệt vào tô giới Trúc Lâm. Trong tô giới, liên quân chôn rất nhiều mìn để chờ quân Nghĩa Hòa Đoàn tiến vào. Trương Đức Thành cho người tìm mấy chục con trâu, đuôi trâu buộc rẻ tẩm dầu rồi châm lửa. Đàn trâu hoảng sợ lao về phía trước, đuôi trâu lửa bốc nghi ngút khiến trận địa náo loạn. Toàn bộ mìn do quân Tây dương chôn sẵn nổ inh tai nhức óc, "Địa lôi trận" của họ phá sản. Quân Nghĩa Hòa Đoàn xốc tới, tiêu diệt rất nhiều quân Tây Dương, sau đó cướp bóc, thiêu hủy nhiều nhà cửa. Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thiên Tân, một bộ phận quân triều đình cũng tích cực tham gia chiến đấu, có một số gia nhập quân Nghĩa Hòa Đoàn. Nhưng Bang biện Bắc dương quân vụ đại thần Tống Khánh đến Thiên Tân đã chỉ huy quân triều đình bao vây quân Nghĩa Hòa Đoàn. Đồng thời, cùng lúc đó, một lực lượng quân triều đình tiến hành tập kích từ phía sau làm hơn hai nghìn chiến sĩ Nghĩa Hòa Đoàn thương vong, phá hủy hoàn toàn các cứ điểm của quân Nghĩa Hòa Đoàn ở Thiên Tân. Vừa phải chiến đấu chống quân triều đình, vừa phải chiến đấu chống quân Tây dương, sau những hy sinh nặng nề, cuối cùng, ngày 17 tháng 6 (tức ngày 13 tháng 7 dương lịch), Thiên Tân rơi vào tay liên quân tám nước.

Tranh mô tả lính Anh và Nhật đang chiến đấu với quân đội Mãn Thanh trong trận Thiên Tân.

Sau đó, Liên quân 8 nước đã tiến hành cuộc thảm sát và cướp bóc ở Thiên Tân rồi tiến về phía Bắc Kinh. Từ Hy Thái hậu hoảng sợ, cử Vinh Lộc tới sứ quán của quân xâm lược cầu hòa, mang nhiều của ngon vật lạ tới thăm hỏi. Quân xâm lược không thèm chú ý, tiếp tục tiến về Bắc Kinh. Từ Hy Thái hậu đã hóa trang thành một phụ nữ nông dân mang theo Hoàng đế Quang Tự và các văn võ đại thần được một số người bảo vệ lặng lẽ tới Tây An. Các quý tộc và đại thần cũng đua nhau bỏ chạy. Thành Bắc Kinh chẳng mấy chốc rơi vào tình trạng hỗn loạn. Khi quân Nga cùng liên quân các nước tới Đông Tiện môn, quân Nghĩa Hòa Đoàn liều mạng chiến đấu, giết chết một tướng quân, hai quan thống binh và rất nhiều binh lính. Quân Nhật Bản dùng trang phục quân triều đình, giả làm quân của Tống Khánh cùng người Hán chui vào đội ngũ Nghĩa Hòa Đoàn tới trước cửa Triều Dương và Đông Trực gọi lính canh cửa Nghĩa Hòa Đoàn mở cổng. Quân Nghĩa Hòa Đoàn mắc mưu mở cổng thành. Ngày 20 tháng 7 (tức 14 tháng 8 dương lịch) liên quân tám nước tiến vào thành Bắc Kinh, sự kiện đó được gọi là Quốc nạn Canh Tý.

Trước hết, họ tập trung ở Đông Giao dân cảng, sau đó chia quân ra nhiều hướng, từ Thiên An Môn, Đông Hoa Môn cùng tiến đánh Hoàng cung. Quân Nghĩa Hòa Đoàn và một số vệ binh của Hoàng cung tiến hành những cuộc chiến đấu phòng ngự, họ dùng trường mâu, đại đao, gậy gộc và một số súng lấy được của liên quân để chống lại. Liên quân tám nước dùng các loại súng và pháo hiện đại tiến công, rất nhiều lính đã chết. Cuối cùng, họ đánh giáp lá cà với quân địch, dùng sức lực để chống lại sự xâm nhập của liên quân vào Hoàng cung. Qua ba ngày ba đêm chiến đấu, liên quân tám nước đã tiến được vào Hoàng cung, rồi chia Bắc Kinh làm nhiều khu vực khác nhau để chiếm đóng.

Tranh miêu tả liên quân các nước đang mổ xẻ con rồng Trung Hoa

Sau ba ngày tiến hành cuộc đại thảm sát, liên quân tám nước còn tiến hành cướp bóc bất kể trên đường phố, chùa chiền hay nhà riêng của dân chúng. Những kỳ trân dị bảo, những văn vật quý hiếm trong Cố Cung và Di Hòa Viên đều bị cướp sạch để bù cho thiệt hại của liên quân. "Vĩnh Lạc đại điển" và nhiều sách khác cũng bị đốt cháy hoặc cướp đoạt. Nhiều bảo vật, sách vở hiện nằm ở các viện bảo tàng, các thư viện ở New York, Paris, London,.…

Đến lúc này, triều đình nhà Thanh một lần nữa lại cử Lý Hồng Chương nghị hòa với quân xâm lược, chấp nhận "Nghị hòa đại cương" do liên quân đưa ra. Ngày 25 tháng 7 năm Quang Tự thứ 27 (ngày 7 tháng 9 năm 1901), lịch sử cận đại lại chứng kiến một Hiệp ước bán nước tủi nhục. Năm này theo âm lịch là năm Tân Sửu, cho nên Hiệp ước này được gọi là "Tân Sửu điều ước". Điều ước đã cho phép các nước đế quốc được đặt tuyến đường sắt từ Bắc Kinh tới Sơn Hải Quan và binh lính thuộc các sứ quán được đóng quân ở Bắc Kinh, phá hủy pháo đài Đại Cô và pháo đài nằm giữa Bắc Kinh và Thiên Tân, bồi thường 450.000 vạn lượng bạc. Đây là một biểu hiện mới thể hiện các nước đế quốc chủ nghĩa tiến thêm một bước trong việc khống chế Trung Quốc.

PV / Theo: danviet
Link tham khảo:

Thursday, June 25, 2026

MIỆT THỨ CÓ CÒN XA LẮC XA LƠ - KỲ 1: TÌM QUÊ SƠN NAM BẬN QUẦN ĐÙI, DÁ CÁ LIA THIA

Trên nẻo đường nghề nghiệp, tôi được đâu hơn mươi lần xuôi về Miệt Thứ, tỉnh Kiên Giang cũ. Chuyến thì tôi dừng chân lâu để trải cùng cuộc sống dân nghèo hào sảng, chuyến chỉ làm khách trọ nán chơi vài hôm rồi qua miệt U Minh Hạ, Cà Mau.

Cây cầu thứ 11, nơi đã phát triển thị tứ sầm uất ở Miệt Thứ - Ảnh: QUỐC VIỆT

"Trong khói sóng mênh mông /Có bóng người vô danh /Từ bên này sông Tiền/ Qua bên kia sông Hậu… Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng /Muỗi vắt nhiều hơn cỏ /Chướng khí mù như sương… /Thân không là lính thú /Sao chưa về cố hương…". Nhắc dải đất cuối nước Miệt Thứ - U Minh, nhiều người nghĩ đến bài thơ Sơn Nam.

Nhưng kể đâu chuyện xưa, mới cách đây vài chục năm đường về miệt dưới từng như hoang địa khắc nghiệt này vẫn xa lắc xa lơ, mà giờ đã đổi thay quá nhiều.

Trên nẻo đường nghề nghiệp, tôi được đâu hơn mươi lần xuôi về Miệt Thứ, tỉnh Kiên Giang cũ. Chuyến thì tôi dừng chân lâu để trải cùng cuộc sống dân nghèo hào sảng, chuyến chỉ làm khách trọ nán chơi vài hôm rồi qua miệt U Minh Hạ, Cà Mau. Tuy nhiên hầu như chuyến nào cũng đọng lại trong tôi những kỷ niệm khó quên.

Đường về Miệt Thứ

Ngày nay người xứ xa mến Sơn Nam, mê những câu thơ mộc mạc mà đượm tình ông viết "Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút/ Điệu hò… ơ theo nước chảy chan hòa", có nhiều đường tiện lợi để về thăm quê hương nhà văn.

Nhanh nhứt là ngồi máy bay đáp phi trường Rạch Giá hoặc Cà Mau. Ai đó nếu theo hướng bay Rạch Giá, chỉ ngồi xe thêm chưa đầy một tiếng đã nghe tiếng gà gáy ở Xẻo Bướm, Xẻo Rô cửa ngõ Miệt Thứ.

Đường xá giao thông về Miệt Thứ hiện nay đã rất tiện lợi - Ảnh: QUỐC VIỆT

Còn người bay Cà Mau thì phải thêm chuyến xe lâu hơn nhưng cũng chỉ tầm một tiếng già đã vào Vĩnh Thuận, ranh giới Miệt Thứ giáp Cà Mau. Kể ra tiện lợi dữ thần thiên địa, có gì xa lắc xa lơ đâu mà ông Sơn Nam bạc đầu vẫn da diết nhớ quê " Phong sương mấy độ qua đường phố/ Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê".

Tuy nhiên đó là thời nay trên trời có máy bay, dưới đất sẵn đường cao tốc. Mới tầm gần 30 năm trước, tôi về Miệt Thứ đâu dễ dàng vậy. Còn cà rà kể chuyện tận đời tía má, ông nội bà ngoại lại càng hun hút hơn nữa.

Nhớ mùa nước nổi năm 1997, tôi rong ruổi xe máy một mình tìm về quê hương ông già Sơn Nam ở Miệt Thứ, xã Đông Thái, huyện An Biên, Kiên Giang (nay là xã Đông Thái, tỉnh An Giang). 4h sáng tôi đã khởi hành từ ngã tư Bảy Hiền, Sài Gòn mà phải đến gần 19h tối thui không thấy mặt người mới đến nơi. Đoạn đường già 250km.

Quốc lộ 1A bận đó đang nâng cấp mù bụi nhưng thiệt ra mất thời gian nhứt là băng qua sông Tiền, sông Hậu và sông Cái Lớn rộng mênh mông ở ba bến phà Mỹ Thuận, Vàm Cống, Tắc Cậu đã đi vào ký ức thân thương bao đời người dân miền Tây.

Sản vật rau củ tươi ngon của Miệt Thứ bày bán tràn ngập chợ Thứ 3, trung tâm An Biên - Ảnh: QUỐC VIỆT

Đó là tôi chọn quẹo hướng quốc lộ 80 sau khi qua phà Mỹ Thuận để xuôi Sa Đéc - Lộ Tẻ - Rạch Sỏi về Miệt Thứ. Còn ai đi hướng Cần Thơ, Hậu Giang thì đi phà Cần Thơ mà vào quốc lộ 61, quốc lộ 63 về Minh Lương, Miệt Thứ...

Thời giờ hai cung đường này đều đã có phần dài đường cao tốc với những cây cầu dây văng đẹp như chiếc lược sừng cong cong của cô gái miền Tây.

Bận tôi đi chỉ có thể chọn những chuyến phà vượt trường giang mà hiếm hoi gặp may được đi sớm cũng mất nửa tiếng là nhanh, còn phải đợi vì bị kẹt phà thì một, hai tiếng là bình thường. Ai đó bị chậm trễ "đừng có làu bàu má la" như mấy cô miệt dưới này hay nói vui khi bạn trai gặp chuyện hổng vui trở mặt sưng sỉa.

Bến phà nào cũng ắp đầy kỷ niệm nhưng tôi nhớ mãi phà Tắc Cậu - Xẻo Rô qua sông Cái Lớn, Kiên Giang hay còn gọi là chuyến phà về Miệt Thứ, vì nó là "cánh cửa" cuối cùng mở ra vùng đất lạ lùng và hấp dẫn này.

Lần đó tôi đi gần cuối tháng 10-1997, tức chỉ còn ít ngày nữa xảy ra cơn bão Linda khủng khiếp làm chết hơn 3.000 người mà chủ yếu là ngư dân các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang… Trước cuồng phong, dòng Cái Lớn vẫn thơ mộng. Chuyến phà thép hơi tròng trành nhưng chẳng ai bận tâm. Trên mặt sông, nhiều con đò nhỏ nối đuôi chở cây trái, rau cỏ và cá tôm ê hề Miệt Thứ…

Miệt Thứ nhiều địa danh ngồ ngộ liên quan đến kinh rạch, cảnh vật địa phương - Ảnh: QUỐC VIỆT

Cảnh quê Sơn Nam

Lần đầu tôi về vùng đất này đã lận theo mấy cuốn sách của lão nhà văn Sơn Nam như "bạn chỉ đường" nhưng không thể nào tìm ra nơi chôn nhau cắt rốn "ông già Nam Bộ" quá nổi tiếng. Xã Đông Thái, huyện An Biên, Kiên Giang (tên trước sáp nhập) chính là quê hương cha mẹ sinh cậu bé Phạm Văn Tày (Sơn Nam) năm 1926, mà tôi hỏi thăm cả cán bộ địa phương lẫn người cao tuổi đều chỉ nhận được những cái lắc đầu.

An Biên, cửa ngõ vào Miệt Thứ, quê hương nhà văn Sơn Nam hiện nay đã xanh ngát ruộng vườn, không còn hoang vu như thời xưa ông kể - Ảnh: QUỐC VIỆT

Cuối thập niên 1990, Miệt Thứ vẫn còn "nghèo thấy bà cố luôn" như cách nói của chính bà con ở đây nhưng cũng đổi thay, phát triển hơn nhiều thời nhà văn Sơn Nam còn bận quần xà lỏn, đi đá cá lia thia hay lượm trứng chim cò với đám bạn quê xác xơ.

Nhà Nam Bộ học đáng kính này kể ông sinh ở vùng rừng tràm trầm thủy. "Ðây là khu vực thuộc huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang với con rạch Thứ Sáu, hệ thống rạch mà Gia Ðịnh Thành Thông Chí đời Gia Long đã mô tả.

Hơn chục con rạch ngắn, cong queo, bắt nguồn từ giữa rừng chảy ra biển, từ Ðông sang Tây, chẳng dính dấp gì đến con sông Hậu Giang. Mùa mưa, nước tràn vùng trũng, chịu ảnh hưởng hải triều, 24 giờ có hai lần lớn ròng, vì vậy nước dưới rạch như mãi lưu thông…

Bờ biển là bãi bùn hàng km, đầy cây mắm, cây giá, muỗi mòng bay ào ào ngày như đêm, bước xuống thì lún ngang đầu gối. Rừng cũng vậy, mãn năm sình lầy, dưới bùn lố nhố những gốc cây đã chết hoặc cây sậy, đế khá bén nhọn.

Ấy thế mà người dân đi chân đất, gần như chẳng bao giờ bị thương tích đáng kể… Chung quanh nhà, nơi tôi chào đời, đầy lau sậy, luôn luôn có muỗi lại còn ong rừng (gọi ong mật). Hừng sáng trẻ con dễ đói bụng, thường đi tìm đám lau sậy hoặc cây tạp mà gặp tổ ong mật, ổ còn nhỏ ni tấc cỡ cái bánh tráng (bánh đa). Vắt mật ong, uống tại chỗ gọi là ăn điểm tâm, lát sau ra về, lừng khừng như kẻ say rượu vì mật ong có rượu, gây khó chịu lúc đói bụng. Lắm khi trẻ con đi dạo trong đồng cỏ, thu hoạch được chút ít mật ong, đem lại tiệm quán đổi lấy vài viên kẹo…" (trích Hồi ký Sơn Nam).

Gần 80 năm với bao thời cuộc chiến tranh, đói kém, ly hương… đã diễn ra trên quê hương nhà văn Sơn Nam nhưng mùa mưa năm 1997 tôi về vẫn thấy man mác cảnh này. Đó cũng chính là đặc trưng Miệt Thứ, rẻo đất thấp ven biển chằng chịt kinh rạch tự nhiên lẫn con người tạo nên và um tùm rừng tràm, lau sậy, cỏ trai, đọt choại, cỏ bàng, cỏ năn.

Mãi đến gần năm 2000, sản vật tự nhiên vẫn ê hề khắp Miệt Thứ. Sau một ngày mần ăn ở bãi biển hay dưới tán rừng tràm, kinh rạch, trảng bưng, sáng sáng người dân đem rau rừng, mật ong, cá tôm, rắn rùa lên bán ở các chợ Thứ như Thứ Ba, Thứ Bảy, Thứ Chín Rưỡi, Thứ Mười Một…

Chợ quê này giờ đầy tiệm vàng, còn ngày đó chưa sầm uất nhưng cũng đã rộn rã động cơ tắc ráng, vỏ lãi lẫn tiếng ca cải lương vọng ra từ máy cassette xài bình ắc quy. Bài Em về Miệt Thứ của nhạc sĩ Hà Phương nghe giữa cảnh sông nước mà da diết: "Em yêu anh nên đành xa xứ/ Xuôi ghe chèo Miệt Thứ Cà Mau… /Sương khuya ướt đẫm giàn bầu/ Em về Miệt Thứ bỏ sầu cho ai"…

Người xứ xa đến Miệt Thứ hay tò mò cái tên ngồ ngộ này. Thiệt ra Thứ là tên các con kinh như "mặt tiền" ở đây để lưu dân ngày xưa tìm đến tụ cư lần hồi phát triển xóm ấp và địa danh Miệt Thứ cũng được miệng dân quen gọi từ đó.

Khách qua cầu Cái Bé, Cái Lớn đã đặt chân đến Miệt Thứ gồm các huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, U Minh Thượng, Kiên Giang (nay là các xã thuộc An Giang). Kinh Thứ Hai chào đón rồi đến kinh Thứ Ba, Thứ Tư và lần lượt đến kinh Thứ Mười Một. Theo quốc lộ 63 cặp bờ kinh xáng Xẻo Rô, khách băng qua các cây cầu cùng tên Thứ như tâm điểm của các xóm ấp, thị trấn.
------------------------------------

"Thỉnh thoảng dân bắt rắn, bắt lươn dùng chĩa mà xom, phát hiện vài lỗ trống, bên dưới đầy lươn và xương người nát bấy nhưng tóc còn nguyên vẹn. Mộ của người đến U Minh, sống nghèo túng rồi mất từ xa xưa". Liệu Sơn Nam có quá lời?

>> Kỳ tới: Dưới sông cá lội, trên bờ cọp tha

Quốc Việt / Theo: tuoitre



MÓN GÀ PHÁP XA XỈ NẤU TRONG BÀNG QUANG HEO

Tại Paris, món Poularde de Bresse en vessie (gà Bresse nấu trong bàng quang heo) là một trong những biểu tượng của ẩm thực thượng lưu nước Pháp.

Giống gà Bresse nổi tiếng với chất lượng thịt thượng hạng và giá bán đắt đỏ (Ảnh: The Peasant’s Daughter).

"Linh hồn" của món Poularde de Bresse en vessie chính là giống gà Bresse, chỉ được nuôi tại vùng Bresse, miền đông nước Pháp, với quy định nghiêm ngặt về diện tích chăn thả, chế độ ăn và thời gian nuôi.

Mỗi con gà phải có tối thiểu 10m² không gian ngoài trời, được ăn ngũ cốc và sữa, sau đó trải qua giai đoạn “vỗ béo” cuối cùng trong chuồng gỗ truyền thống.

Giống gà này được miêu tả là "nữ hoàng của các loài gà" nhờ chất thịt săn chắc nhưng mềm, lớp mỡ mịn và hương vị đậm đà đặc trưng. Gà Bresse nguyên con có thể đạt mức trên dưới 1 triệu đồng/kg và cao hơn vào mùa lễ.

Tổng thống Pháp nhiều thời kỳ được cho là thường chọn gà Bresse trong các quốc yến. Màu lông trắng, mào đỏ và chân xanh của gà Bresse còn được xem là trùng với 3 màu quốc kỳ Pháp - điều càng củng cố vị thế như “biểu tượng quốc gia” của giống gia cầm này.

Trong món Poularde de Bresse en vessie, con gà được nấu bên trong bàng quang heo nhằm giữ trọn tinh chất và hương vị của nguyên liệu khi nấu chín.

Bàng quang heo được buộc kín, phồng lên như một quả bóng trong quá trình chế biến (Ảnh: Épicure).

Trong phiên bản cổ điển, trước khi chuyển vào bọng heo, gà Bresse được nhồi các nguyên liệu cao cấp như nấm truffle và gan ngỗng để tạo độ phong phú về mùi vị và tăng độ béo ngậy. Sau đó, bọng heo được buộc kín và nấu trong nước dùng gà ở lửa nhỏ, khiến bọng phồng lên như quả bóng đầy hơi.

Khi món ăn được mang ra tới bàn, bọng heo được cắt mở ngay tại chỗ, tỏa ra một làn khói thơm thoang thoảng. Công đoạn này là một phần không thể thiếu của trải nghiệm fine dining (ẩm thực cao cấp).

Một trong những địa điểm nổi tiếng phục vụ Poularde de Bresse en vessie là nhà hàng Épicure tại khách sạn 5 sao Le Bristol Paris (Pháp).

Đầu bếp phục vụ món ăn tại bàn (Ảnh: Épicure).

Theo Tastytastic, Épicure là một trong những nhà hàng danh giá nhất thế giới với 3 sao Michelin. Nhà hàng cũng coi món này là “signature dish” (món đặc trưng) của mình, phục vụ trong thực đơn cao cấp.

Không chỉ tại Paris, món này còn từng xuất hiện ở các nhà hàng danh tiếng khác, như phiên bản demi-deuil (gà với nấm truffle kẹp dưới da) tại nhà hàng L’Auberge du Pont de Collonges của Paul Bocuse - đầu bếp huyền thoại Pháp.

Theo trang Mashed, món Poularde de Bresse en vessie tại Épicure được bán với giá khoảng 360 euro (khoảng 11 triệu đồng), phục vụ cho hai người.

Ái Vy / Theo: Dân Trí



ỨC GIANG NAM - HOÀNG PHỦ TÙNG


Ức Giang Nam

Lan tẫn lạc,
Bình thượng ám hồng tiêu.
Nhàn mộng Giang Nam mai thục nhật,
Dạ thuyền xuy địch vũ tiêu tiêu,
Nhân ngữ dịch biên kiều.


憶江南 - 皇甫松

蘭燼落
屏上暗紅蕉
閒夢江南梅熟日
夜船吹笛雨瀟瀟
人語驛邊橋


Ức Giang Nam
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Hắt hiu ngọn nến vừa tàn. 
Bình phong khuất lấp, hồng nhan bóng mờ. 
Giang Nam mộng chín hoa mơ. 
Vi vu tiếng sáo đợi chờ thuyền ai ?. 
Mưa đêm lất phất nhạt phai. 
Tiếng người cưới nói mé ngoài bến sông.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Hoàng Phủ Tùng 皇甫松 tự Tử Kỳ 子奇, tự hiệu Đàn loan tử 檀欒子, năm sinh mất không rõ, người Tân An, Mục Châu đời Vãn Đường, con của Hoàng Phủ Thục 皇甫湜 (tác gia). Trong Hoa gian tập gọi ông là “Hoàng Phủ tiên bối” cho thấy ông từng đỗ tiến sĩ nhưng chưa làm quan (đời Đường thường dùng “tiên bối” để chỉ người đỗ tiến sĩ nhưng chưa làm quan).

Nguồn: Thi Viện