Wednesday, July 1, 2026

CA DAO HUẾ


“Cầu Trường Tiền sáu vài, mười hai nhịp
Em qua không kịp tội lắm anh ơi
Mấy lâu ni mang tiếng chịu lời
Có xa nhau chăng nữa, cũng tại ông trời mà xa.”

(Ca dao Huế)

BƯỚC TỚI ĐÈO NGANG BÓNG XẾ TÀ - KỲ 1: DẤU MÓC VĨ ĐẠI TRONG HÀNH TRÌNH MỞ CÕI

Đèo Ngang và Hoành Sơn Quan trên dãy Hoành Sơn - ranh giới giữa Hà Tĩnh và Quảng Trị - chiếm vị trí vô cùng đặc biệt trên dải đất hình chữ S của Việt Nam.

Hoành Sơn Quan những năm 1920 - Ảnh tư liệu

Khám phá ngọn núi nhô ra biển với những lớp trầm tích lịch sử - văn hóa đa tầng mở ra rất nhiều câu chuyện đặc sắc, thú vị đến lạ lùng...

Trên mọi miền đất nước mà tôi từng qua lại nhiều lần, không nơi nào gây xúc động mãnh liệt bằng đèo Ngang và Hoành Sơn Quan, mặc dù vật chất hiện hữu chỉ có cung đèo, chiếc cổng cổ và bậc đá lên xuống. Sự xúc động tột độ bởi nơi này chính là dấu mốc khởi đầu cho kỷ nguyên mở cõi của người Việt, một sự kiện mang tầm vóc vĩ đại bậc nhất của lịch sử dân tộc.

Ranh giới khắc nghiệt

Đứng trên đỉnh đèo Ngang vào một buổi chiều tà khi những làn sương mỏng bắt đầu bảng lảng vờn quanh những bậc đá cổ, tôi cảm nhận được một luồng gió mạnh mẽ thổi từ Biển Đông vỗ vào những vách núi dựng đứng.

Hoành Sơn không chỉ là một dãy núi, nó là một thực thể sống, một "hằng số địa lý" đã kiên cường án ngữ giữa dải đất miền Trung suốt hàng triệu năm, tạo nên một dấu gạch ngang hùng vĩ chia cắt hai vùng khí hậu, hai không gian lịch sử và từng là ranh giới của những nền văn minh đối lập.

Dãy Hoành Sơn là một nhánh của dãy Trường Sơn Bắc, đâm ngang ra tận Biển Đông với chiều dài khoảng 50km, tạo nên một "nút thắt" địa lý hiểm yếu bậc nhất, nơi dải đồng bằng miền Trung bị bóp nghẹt chỉ còn là một hành lang hẹp.

Hoành Sơn rộng khoảng 1.500km2, đỉnh núi cao nhất đạt 1.044m, đoạn đèo Ngang nhô ra biển cao 256m, dải núi khổng lồ bằng đá granit này chắn ngang con đường thiên lý Bắc - Nam suốt hàng trăm năm.

Đèo Ngang phân cách địa giới hành chính hai tỉnh Hà Tĩnh ở phía bắc và Quảng Trị ở phía nam; ngọn đèo cũng là ranh giới khí hậu giữa một bên là Hà Tĩnh thuộc khí hậu khu vực phía Bắc, một bên là Quảng Trị thuộc khí hậu khu vực Trung Trung Bộ.

Sự cực đoan và khắc nghiệt ở nơi này đã được cổ nhân ghi lại trong sách Ô châu cận lục: "Mạch núi ở Tổ Sơn dẫn đến, có thế rồng cuộn cọp ngồi, đồi cao ngăn chặn trập trùng, kéo dài ra tới biển, vách đứng cao vạn nhận, như bức trường thành án ngữ chặt vùng phương Nam".

Chính địa thế "trên liền núi cao, dưới giáp biển lớn" này đã biến đèo Ngang thành một điểm nghẽn tự nhiên mang tính chiến lược. Trước khi có hầm đường bộ hiện đại, bất kỳ ai muốn đi qua đây đều phải khuất phục trước sự hiểm trở của những dốc đá quanh co, nơi "một người giữ, muôn người khó qua".

"Cương giới động"

Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử ở Huế, Quảng Trị và Hà Tĩnh từng chia sẻ về những chuyến thực địa sâu trong dãy Hoành Sơn từ mấy chục năm trước nhằm tìm kiếm những dấu vết về lũy cổ Lâm Ấp hay lũy cổ Hoàn Vương được xem là biên giới Việt - Chăm từ thuở xa xưa.

Dù trong vô vàn khó khăn, hiểm nguy, các nhà nghiên cứu cho biết từng rất ngỡ ngàng và xúc động khi tìm thấy dấu tích và một số đoạn lũy đá xếp khan giữa rừng xanh ngút ngàn. Sau những chuyển thực địa, kết quả nghiên cứu cho rằng hệ thống lũy cổ Lâm Ấp/Hoàn Vương này nguyên xưa được xếp bằng các lớp đá núi chồng lên nhau một cách vững chãi, nhiều đoạn rộng từ 2-5m, chạy băng qua các đỉnh núi từ Xuân Sơn qua Thần Đầu đến Ngưu Sơn dài khoảng 30km.

Đây chính là minh chứng vật chất cho khái niệm "cương giới động" đầy biến động. Sử liệu Trung Hoa như Thủy kinh chú ghi nhận rằng vào năm 347, chúa Lâm Ấp là Phạm Văn đã xin lấy núi Hoành Sơn làm địa giới phía bắc của mình.

Kể từ đó, suốt nhiều thế kỷ Hoành Sơn trở thành vùng đệm tiếp xúc, nơi va chạm và giao thoa giữa không gian văn hóa Hán hóa phần nào ở phía bắc với vương quốc Lâm Ấp - Champa ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ ở phía nam.

Hoành Sơn trong giai đoạn này không phải là một đường biên giới tĩnh. Nó co giãn theo bước chân của những đoàn quân. Có lúc ảnh hưởng của Champa vượt dãy Hoành Sơn tiến ra tận Ái Châu, Hoan Châu.

Có lúc các triều đại phương Bắc lại tổ chức phản công để tái chiếm cứ điểm này. Hệ thống lũy đá cổ chính là biểu tượng của nỗ lực xác lập chủ quyền và kiểm soát không gian của các thế hệ cư dân cổ xưa vùng biên viễn.

Kiến trúc Hoành Sơn Quan được xây dựng năm 1833 thời Minh Mạng - Ảnh: Hội KHLS Hà Tĩnh cung cấp

Dấu ấn trọng đại của dân tộc

Bước ngoặt lịch sử làm thay đổi vĩnh viễn sứ mệnh của Hoành Sơn chính là sự kiện năm 1069. Trong cuộc Nam chinh năm ấy, đoàn quân của vua Lý Thánh Tông đã bắt được vua Chiêm Thành là Chế Củ (Rudravarman III) đưa về giam ở kinh thành Thăng Long.

Để được tha mạng và trở về nước, Chế Củ đã xin cắt ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh (đến khoảng Gio Linh, Quảng Trị ngày nay) dâng cho Đại Việt.

Sự kiện này không chỉ đơn thuần là một chiến thắng quân sự mà còn là cột mốc chính thức khởi đầu cho công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam của người Việt.

Từ một "biên giới đối đầu" đầy hiểm nguy, Hoành Sơn bắt đầu chuyển mình trở thành một "cửa ngõ chuyển tiếp". Khối núi đá granit chắn ngang trời ấy đã không còn là bức tường ngăn cách tuyệt đối mà trở thành bệ phóng mở ra một kỷ nguyên mở cõi rực rỡ và oai hùng của Việt tộc.

Dạo bước ngày nay, tôi bồi hồi bước trên những bậc đá cổ dẫn lên đỉnh đèo, tưởng nhớ đến 3 vạn dân phu mà Ngô Tử An đã dẫn dắt để mở đường bộ từ cửa biển Nam Giới đến châu Địa Lý vào năm 992 theo lệnh vua Lê Đại Hành.

Con đường vượt đèo Ngang ấy chính là huyết mạch đầu tiên để người Việt, văn hóa Việt theo chân những lưu dân người Việt đất phương Nam vượt dãy Hoành Sơn, hòa mình vào vùng đất mới ở phía Nam.

Sự chuyển dịch từ "cựu thổ" sang "tân thổ" - một vùng trời mới đã gieo vào lòng Hoành Sơn những trầm tích văn hóa đa tầng. Đó là nơi các dòng chảy văn hóa Việt - Chăm gặp gỡ, va chạm và thẩm thấu lẫn nhau, tạo nên một vùng di sản đa lớp, đa sắc rất đặc biệt.

Hoành Sơn - đèo Ngang từ đây không chỉ là ranh giới của địa lý mà đã trở thành mắt xích đầu tiên trong chuỗi xích vàng nối liền giang sơn, khẳng định bản lĩnh của một quốc gia luôn biết cách biến những hiểm trở thiên nhiên thành sức mạnh của sự thống nhất.

Hoành Sơn hôm nay vẫn lặng lẽ nhìn ra Biển Đông nhưng trong từng viên gạch đá của Hoành Sơn Quan hay những đoạn lũy đá xếp khan giữa rừng rậm, tiếng vọng của nghìn năm mở cõi vẫn còn rung động tâm can mỗi người lữ khách khi đặt chân đến "cổng trời" này...

"Từ những ghi chép sớm trong Thủy kinh chú cho đến các bộ địa chí, dư địa chí và chính sử như Ô châu cận lục, Phủ biên tạp lục, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh dư địa chí..., hình ảnh dãy Hoành Sơn được nhất quán mô tả là một dãy núi "chạy ngang ra biển", giữ vị trí địa thế hiểm yếu.

Các thư tịch cổ cho thấy nhận thức của người đương thời về Hoành Sơn không chỉ dừng lại ở mô tả địa mạo tự nhiên mà đã được nâng lên thành một quan niệm không gian mang tính lịch sử - chính trị rõ nét.

Trong tiến trình lịch sử dân tộc, dãy núi này từng là giới hạn phân định giữa Giao Châu với Lâm Ấp - Chiêm Thành; là tuyến kiểm soát giao thông huyết mạch theo trục Bắc - Nam" - trích Khảo cứu đèo Ngang - Hoành Sơn qua các tư liệu lịch sử, địa chí của Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Kiều Uyên.
-----------------------------

>> Kỳ tới: Gắn với vận mệnh một triều đại

Thái Lộc / Theo: tuoitre



Tuesday, June 30, 2026

10 MÓN ĂN ĐẶC SẢN TÂN CƯƠNG KHÔNG THỂ BỎ QUA

Tân Cương là vùng đất nổi tiếng nằm ở phía Tây Bắc Trung Quốc, nơi giao thoa giữa văn hóa Trung Hoa, Trung Á và Con đường Tơ lụa cổ đại. Không chỉ sở hữu cảnh quan hùng vĩ với sa mạc, núi tuyết và đồng cỏ rộng lớn, Tân Cương còn được xem là “thiên đường ẩm thực” với Top 10 món ăn đặc sản Tân Cương không thể bỏ qua.


Đặc biệt, nền ẩm thực của người Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương còn phản ánh lối sống du mục và văn hóa giao thương lâu đời trên Con đường Tơ lụa. Mời bạn cùng studyinchina.io khám phá Top 10 món ăn đặc sản Tân Cương không thể bỏ qua trong bài viết dưới đây nhé.

Gà Tân Cương (Đĩa gà lớn)

Món ăn đứng đầu Top 10 món ăn đặc sản Tân Cương không bỏ qua là Gà Tân Cương - Đĩa gà lớn (大盘鸡). Đây là món ăn “quốc túy” của vùng đất Tân Cương này. Cái tên “đĩa lớn” (大盘) xuất phát từ việc món ăn được bày trong chiếc đĩa khổng lồ, đủ để cả gia đình cùng ăn.

Món Gà Tân Cương bao gồm thịt gà, khoai tây cùng gia vị đặc trưng Tân Cương như tiểu hồi, hạt thì là và tương ớt. Gà được chặt miếng vừa ăn, xào săn với đường tạo màu, om cùng với khoai tây trong khoảng 20 phút. Điểm đặc biệt cuối cùng là rắc một lượng lớn ớt xanh và hạt tiêu Tứ Xuyên để tăng vị tê cay.

Gà đĩa lớn Tân Cương

Khi thưởng thức, thực khách sẽ cảm nhận đầu tiên là vị ngọt nhẹ từ đường thấm trong thịt gà, tiếp đến là vị cay nồng của ớt khô và tê nhẹ ở đầu lưỡi từ tiêu Tứ Xuyên. Sau khi ăn hết thịt, người ta đổ mì sợi kéo tay (拉条子) hoặc bẻ bánh Nang (馕) vào trộn đều với nước sốt còn lại.
 
Bánh mì nướng - Nang

Món đặc sản tiếp theo trong Top 10 món ăn đặc sản Tân Cương không thể bỏ qua là Bánh mì nướng - Nang (馕). Đây là loại bánh mì dẹt truyền thống của người Tân Cương, có thể nói là “linh hồn” trong bữa ăn của họ.

Nang được công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể năm 2015

Nang thường có hương vị thơm mùi lúa mì nguyên cám, vị mặn nhẹ. Nang có thể để được rất lâu nếu bảo quản nơi khô ráo, do đó từng là lương khô duy nhất cho các đoàn lữ hành đi xuyên sa mạc. Khi ăn, người Tân Cương thường bẻ nang chấm vào trà sữa mặn (atay chai) hoặc nước thịt cừu.

Trong mọi gia đình Tân Cương, Nang luôn có sẵn. Trước khi ăn, người ta thường bẻ Nang thành miếng nhỏ, chia cho mọi người, thể hiện sự sẻ chia. Vào dịp lễ, Nang được làm to hơn, trang trí hoa văn phức tạp. Nang Tân Cương còn được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Trung Quốc từ năm 2015.

Cơm Pilaf Tân Cương (Cơm bốc)

Cơm pilaf Tân Cương (抓饭) là món ăn nghi lễ và lương thực chính hàng trăm năm qua. Tên gọi “Cơm bốc” (抓饭) bắt nguồn từ tục lệ xa xưa: Khi người du mục dùng tay để bốc cơm ăn khi đi trên lưng ngựa. Ngày nay, món cơm này xuất hiện tỏng nhiều lễ hội, đám cưới và đăc biệt là Lễ Roz (Lễ Ramadan)

Cơm Pilaf là lương thực chính hàng trăm năm qua của người Tân Cương

Nguyên liệu chính của Cơm pilaf Tân Cương gồm: gạo tẻ hạt dài, thịt cừu non, cà rốt vàng và đỏ, hành tây, đôi khi có thêm nho khô hoặc mộc qua. Đầu tiên, thịt cừu được chiên vàng, sau đó cho hành tây và cà rốt thái sợi vào. Gạo được ngâm trước 30 phút, thêm nước (tỉ lệ 1:1,5) và nấu nhỏ lửa cho đến khi gạo chín, thấm mỡ cừu.

Ở Tân Cương, các nhà hàng thường bày món Cơm pilaf trong những nồi đồng to, múc ra đĩa cùng miếng thịt cừu lớn đặt trên đỉnh. Món này cũng là lựa chọn số một cho bữa sáng no năng lượng của người dân địa phương. Vì vậy, món Cơm pilaf Tân Cương luôn nằm trong Top 10 món ăn đặc sản Tân Cương không thể bỏ qua.

Xiên Thịt cừu nướng

Xiên thịt cừu nướng (羊肉串) là món ăn đường phố mang tính biểu tượng, có mặt ở khắp các con phố tại Trung Quốc và thế giới. Từ những quán vỉa hè ở Ürümqi đến các khu phố Hoa kiều ở nước ngoài, mùi khói cumin quyện với thịt nướng luôn gợi nhắc đến Tân Cương.

Thịt cừu nướng là món ăn quen thuộc tại Tân Cương

Xiên thịt cừu nướng Tân Cương có lớp ngoài hơi cháy xém, giòn nhẹ, bên trong mềm, màu hồng nhạt, giữ được độ ẩm. Cumin đóng vai trò chủ đạo, tạo mùi thơm đặc trưng, kết hợp với ớt cay nồng, tiêu tê nhẹ. Khi ăn, bạn có thể vắt thêm chanh hoặc chấm muối tiêu chanh.

Ở các chợ đêm Tân Cương, bạn sẽ thấy những lò nướng dài 2-3m xuất hiện liên tục. Khách hàng thường gọi vài chục xiên, ăn kèm với bánh mì nướng (馕) và bia địa phương. Xiên thịt cừu Tân Cương là món “phải thử” trong Top 10 món ăn đặc sản Tân Cương không thể bỏ qua.

Bánh bao nướng

Bánh bao nướng Tân Cương (烤包子) là món ăn cổ xưa có nguồn gốc từ văn hóa du mục Thổ Nhĩ Kỳ và đã du nhập vào Trung Quốc từ thời nhà Nguyên. Bánh có hình dáng như chiếc bánh bao nhưng được nướng thay vì hấp, vỏ giòn với nhân thịt cừu béo.

Bánh bao nướng nhân thịt cừu Tân Cương

Ở chợ đạo Hồi của Ürümqi, du khách sẽ thấy những hàng Bánh bao nướng Tân Cương xếp cao như núi, khách mua thường lấy giấy gói ăn tại chỗ, chấm cùng tương cà hoặc giấm ớt. Người địa phương thường ăn kèm với một bát trà nhạt hoặc sữa chua. Một số nhà hàng còn phục vụ Bánh bao nướng Tân Cương “khổng lồ”, là thử thách dành cho cho các thực khách có dạ dày lớn.

Lẩu bò Yak

Lẩu bò Yak (牦牛肉火锅) là đặc sản vùng cao Tân Cương, đặc biệt phổ biến ở các khu vực như Kashgar, Khotan và dãy núi Pamir, nơi người dân tộc Tajik, Uyghur chăn nuôi bò Yak (bò Tây Tạng). Bò Yak sống ở độ cao 3.000-5.000m, ăn cỏ thảo nguyên sạch, nên thịt rất chắc, ít mỡ, giàu đạm và omega-3.

Món không thể thiếu trong các đêm đông tại Tân Cương

Cách chế biến Lẩu bò Yak khá cầu kỳ. Đầu tiên, xương bò Yak được chặt khúc, hầm ít nhất 6-8 tiếng cùng với gừng, hành tây, táo tàu, kỷ tử, đẳng sâm và củ cải trắng. Các loại nhúng lẩu kèm gồm: nấm Tân Cương, khoai tây, miến dong, rau cải mèo, đậu phụ. Lẩu thường được nấu trong nồi đồng hoặc gang, nhúng tại bàn.

Nước Lẩu bò yak có vị thanh, ngọt mát, hậu vị đậm đà từ xương và thảo mộc. Điều khác biệt lớn là thịt yak không có mùi “bò” nồng, thay vào đó là vị ngọt sạch của thảo mộc. Người dân địa phương tin rằng nước lẩu nấu với xương yak có tác dụng bồi bổ gân cốt và tăng cường sinh lực.

Gà cay tê

Món tiếp theo trong Top 10 món ăn đặc sản Tân Cương không thể bỏ qua là món Gà cay tê (椒麻鸡). Món này có nguồn gốc từ thành phố Xương Cát, Tân Cương, xuất hiện khoảng 150 năm trước. Đây là món gà trộn lạnh với hương vị rất khác biệt: có vị cay nồng từ ớt, vừa tê từ tiêu Tứ Xuyên.

Gà trộn cay tê có hương vị khác biệt

Ở Tân Cương, Gà cay tê thường được bày trong đĩa lớn, rắc thêm vừng rang và lạc rang giã dập. Một biến tấu phổ biến là Gà cay tê trộn với mì lạnh, gọi là “Mì gà cay”. Tuy nhiên, công thức cơ bản gà trộn vẫn được người dân ưa chuộng nhất.

Món Gà cay tê thường được dùng làm món khai vị hoặc ăn với bánh Nang trong các quán nhậu. Món này giờ đây đã có mặt ở nhiều thành phố lớn Trung Quốc nhưng hương vị đúng chuẩn Tân Cương vẫn là phải có ớt khô Tân Cương và tiêu Tứ Xuyên rang thủ công.

Mì lạnh Tân Cương

Mì lạnh Tân Cương (凉皮) có nguồn gốc từ các cộng đồng Hồi giáo, sau đó được người Duy Ngô Nhĩ cải tiến. Khác với Mì lạnh Tứ Xuyên (thường nhiều dầu ớt và đậu phộng), Mì lạnh Tân Cương có vị chua cay hài hòa, thêm nhiều rau thơm và đặc biệt có mùi tiểu hồi.

Mì lạnh Tân Cương

Ở các chợ đêm Ürümqi, bạn sẽ thấy các quầy Mì lạnh Tân Cương với tô lớn để trộn, khách hàng gọi “một bát to, cho nhiều ớt”. Người ta ăn Mì lạnh kèm với xiên thịt nướng, hoặc Nang. Mì lạnh Tân Cương có khá nhiều biến tấu: mì lạnh trộn thịt bò yak khô xé, mì lạnh cuộn.

Canh thịt cừu

Canh thịt cừu (羊肉汤) là món “bình dân” nhưng “thần thánh” trong ẩm thực Tân Cương. Khác với Canh thịt cừu ở các vùng khác bởi cách ninh xương rất đơn giản. Người Tân Cương tin rằng canh thịt cừu là phương thuốc chữa cảm lạnh, mệt mỏi, và đặc biệt tốt cho phụ nữ sau sinh.

Canh thịt cừu có tác dụng bồi bổ sức khoẻ

Nguyên liệu chính của Canh thịt cừu gồm: thịt cừu non, xương ống cừu, hành tây, gừng, muối hạt Tân Cương, và một ít tiêu trắng. Nồi canh sẽ được ninh ít nhất 4-6 tiếng ở lửa liu riu, vớt bọt thường xuyên. Trước khi tắt bếp, cho thịt cừu thái miếng vừa ăn vào, ninh tiếp 30 phút cho thịt chín mềm.

Canh thịt cừu thường được phục vụ trong bát sứ lớn, kèm đĩa bánh Nang riêng. Ở vùng núi Pamir, người Tajik nấu canh cừu với sữa chua - gọi là “corbma”, tạo vị chua béo rất lạ. Vì vậy, Canh thịt cừu luôn nằm trong Top 10 món ăn đặc sản Tân Cương không thể bỏ qua.

Bánh ú sữa chua

Bánh ú sữa chua (酸奶粽子) là món tráng miệng đường phố độc đáo có xuất xứ từ miền Nam Tân Cương, đặc biệt ở Kashgar và Hotan. Khác với bánh ú ngọt truyền thống của người Hán, bánh ú Tân Cương được ăn kèm với sữa chua và siro.

Các nguyên liệu để làm Bánh ú sữa chua thường sẽ được làm thủ công và được chuẩn bị sẵn. Khi bạn mua một phần Bánh ú sữa chua, người bán sẽ cho vào bát bánh ú được bóc lá để nguyên hoặc cắt lát, chan sữa chua và rưới siro lên trên, cuối cùng rắc một ít vừng rang.

Bánh ú sữa chua là bánh ngọt được yêu thích

Trên các tuyến phố du lịch, bạn sẽ thấy xe đẩy nhỏ bán bánh ú sữa chua, người bán hàng thường trang trí bằng trái cây tươi (dâu tây, kiwi) và phô mai bột. Đây là món rẻ tiền (khoảng 5-10 tệ) nhưng đã gây được ấn tượng mạnh với du khách. Vì vậy, Bánh ú sữa chua luôn nằm trong Top 10 món ăn đặc sản Tân Cương không thể bỏ qua.

Ẩm thực Tân Cương là sự kết hợp độc đáo giữa văn hóa Trung Hoa và Trung Á, mang đến những món ăn có hương vị vô cùng riêng biệt. Nếu có cơ hội du lịch Tân Cương, đừng quên dành thời gian khám phá nền ẩm thực độc đáo nơi đây để cảm nhận trọn vẹn vẻ đẹp văn hóa và con người vùng đất rộng lớn này.

Theo: studyinchina



HẬU DU - ĐỖ PHỦ


Hậu du - Đỗ Phủ

Tự ức tân du xứ,
Kiều liên tái độ thì.
Giang sơn như hữu đãi,
Hoa liễu cánh vô tư.
Dã nhuận yên quang bạc,
Sa huyên nhật sắc trì.
Khách sầu toàn vi giảm,
Xá thử phục hà chi?

Bài thơ này được làm khi tác giả nhiều lần đi vãn cảnh chùa Tu Giác ở tây nam Thành Đô, vì vậy mới nói "chơi lần sau".


後遊 - 杜甫

寺憶新遊處
橋憐再渡時
江山如有待
花柳更無私
野潤煙光薄
沙暄日色遲
客愁全為減
舍此復何之


Chơi lần sau
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Chùa này đã đã tới chơi. 
Cầu kia thương quá, ta thời đã qua. 
Giang sơn biệt đãi mình ta. 
Cánh hoa nhành liễu thật là vô tư. 
Hoa đùa nội cỏ êm ru. 
Bờ sa cát vắng chiều thu úa dần. 
Lãng du khách bỗng tần ngần. 
Có lên cất bước, dừng chân chốn này ?


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Phủ 杜甫 (12/2/712 - 770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo Đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.

Nguồn: Thi Viện



ƯỚC MƠ XA XỈ VỀ SỰ GIẢN DỊ

Thời gian sau khi tốt nghiệp đại học và quyết định quay về Hà Nội đối với tôi là một quãng thời gian khá khó khăn. Điều tôi hoang mang nhất, và cho đến giờ vẫn là lý do khiến tôi xách va li rời xa khỏi nơi này, không phải là sợ nghèo, sợ bẩn, sợ thất nghiệp, mà là không “theo kịp” lối sống thủ đô.


Tôi có những người bạn bằng tuổi mà giàu khủng khiếp, hàng hiệu chất đầy tủ, du lịch khắp nẻo thế giới, ăn uống tại vô số nhà hàng sang, và đặc biệt thay xe như thay áo.

Dù có thể rất cạn kiệt về tiền, sự sang chảnh luôn luôn được giữ vững. Tôi mới về, ít bạn bè, nên cố gắng tạo được mối quan hệ mới qua người này người khác – những mối quan hệ bắc cầu. Vô tình bữa ăn hôm đó là sinh nhật của một “người bạn bắc cầu”, trước khi đi tôi hỏi qua về sở thích của nàng kia để tiện mua quà. Bạn tôi nói “Thôi chẳng cần mua đâu, con bé đó phải hàng hiệu xịn nó mới dùng, không là nó vứt xó.” Tôi chưng hửng. Và gần như im lặng suốt quãng thời gian ngồi trên xe taxi trên đường đến điểm hẹn.


Hà Nội những ngày đó lạnh và buồn. Tôi thấy rõ ràng một cảm giác bị tách biệt, dù chẳng một ai đẩy mình ra xa. Những người bạn vẫn í ới vô tư gọi mỗi khi tụ tập. Tôi với mái tóc không nhuộm, khuôn mặt chỉ đánh chút son, mặc áo hoodie dày yêu thích mua trong hiệu sách của trường mùa đông năm ngoái, đi xe tay ga cũ xì của mẹ đứng giữa tụi bạn xúng xính Gucci, Hermes, tán gẫu trong quán café đắt đỏ nhất thành phố… và thấy bản thân mình không thuộc về không khí sang trọng kiểu vậy.

“Sự nghiện sang chảnh” đó len lỏi vào từng ý tưởng về việc chọn công việc hay bạn đời.

Những câu chuyện tôi được nghe không còn là niềm đam mê, hay sở thích của mỗi người về công việc mơ ước của họ nữa, thay vào đó là những đòi hỏi về mức lương trên trời hay sự sắp đặt nhẹ tênh từ phía gia đình. Những anh chàng mà các cô gái đang kể về, chỉ biết được loại xe anh đi, địa vị chức tước của bố mẹ anh, chứ tuyệt nhiên không một lần đề cập đến khuôn mặt, cá tính của mỗi người.


Tôi đến Sài Gòn sau đó, gặp nhiều người từ vô số vùng miền khác nhau giữa thành phố lớn xô bồ và đông đúc. Tôi làm việc với người Sài Gòn phóng khoáng, vô tình gặp những cô gái miền Tây nổi loạn nhưng chân thành, tôi cũng sống cùng khu với một gia đình người Hà Nội xưa, giản dị và chắt chiu, đến mẩu bút chì ngắn cũn vẫn bắt đứa con nít giữ lại viết bằng hết. Từ đó, tôi nghĩ về Hà Nội của tôi ngày hôm nay.


Người ta vẫn cứ nói “người Tràng An thanh lịch”, mà thanh lịch, nghe âm đã thấy hiện lên một nét đẹp rất sâu, rất đậm, không khoa trương, không khoe mẽ. Mà có lẽ vẻ đẹp ấy đã nằm lại ở ký ức rồi.

Mấy bữa nay thấy bạn bè đồng loạt chia sẻ bài viết về cuộc sống của một cô ca sĩ hạng A tại Hàn Quốc. Nữ hoàng sexy bậc nhất giới showbiz Hàn cưới một ông chồng không đẹp trai, không giàu có, và có một đám cưới không một chút cầu kỳ. Cặp đôi giản dị ấy giờ dành thời gian cho nhau tại một ngôi nhà nhỏ tại đảo Jeju, tự trồng rau cỏ để ăn và nuôi động vật. Người người nói về cô, nhà nhà nói về cô, và mơ ước có được cuộc sống giản dị như thế.


Tôi ngơ ngác. Ủa, nếu mơ ước như thế, thì sao những ngày Tết đến, ngày hè sang, hay những dịp được nghỉ phép, không làm một chuyến về quê với ông bà, nhà tranh vách đất, xung quanh có hàng đống đàn gà, đàn lợn đang chờ được cho ăn, chó mèo nằm phễnh khắp sân, chỉ đợi có người về dắt đi chơi, ruộng rau nứt nẻ cần được bón phân tưới nước…


có khác là bao những gì chị Lee Hyori đang làm đâu? Ấy, nhưng mà thế thì quê chết, làm gì có chỗ tập tành Yoga nắng chiếu xuyên cửa sổ, làm gì có bờ biển xào xạc bên tai như chỉ?


John Mason, nhà văn nổi tiếng với cuốn sách bán rất chạy có tựa đề “You were born an orginal. Don’t die a copy” (Bạn được sinh ra là một nguyên bản. Đừng chết như một phiên bản) để truyền cảm hứng cho mỗi cá nhân sống thật và sống hết mình. Cuộc sống giản dị là một cuộc sống tối giản nhất, bỏ qua những suy nghĩ toan tính về vật chất, tập trung thời gian và tâm trí để chú ý tới bản thân mình. Và nếu sự giản đơn cũng cần bắt chước, thì có lẽ, chúng ta đã lạc mất chính mình giữa cuộc đời.

16x9 Image

Hoàng Giang

Hoàng Giang sinh ra và lớn lên tại thủ đô Hà Nội, từng đi du học ngành truyền thông tại Mỹ, là cây bút tự do cho nhiều tờ báo dành cho giới trẻ trong và ngoài nước. 'Trong lòng Hà Nội' là suy nghĩ về những đổi thay của đất nước trong giai đoạn chuyển tiếp dưới góc nhìn khách quan và mới mẻ.


Hoàng Giang
Nguồn VOA

Monday, June 29, 2026

TẠI SAO TƯỢNG QUAN VŨ LUÔN NHẮM MẮT? CHUYÊN GIA: KHÔNG AI DÁM ĐỂ ÔNG MỞ MẮT

Quan Vũ là một nhân vật lịch sử nổi tiếng trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, ông trọng tình trọng nghĩa, được mệnh danh là “nhất phu đương quan, vạn phu mạc khai (một người giữ cửa quan, vạn người không mở được), có tài lập mưu trị địch. Đặc biệt, khía cạnh anh hùng và trung thành của ông được khắc họa nổi bật trong Tam Quốc Diễn Nghĩa.

Ảnh: soundofhope

Những câu chuyện như vượt qua 5 ải và chém chết 6 tướng, rượu ấm trảm Hoa Hùng, sức địch vạn người được lưu truyền rộng rãi, giành được sự ưu ái từ mọi người. Vì Quan Vũ có phẩm đức cao thượng, dũng cảm phi thường nên mọi người dần coi ông như một nhân vật thần thánh. Mặc dù ông đã thất bại trong việc hợp lực với Lưu Bị đả hạ giang sơn, kết thúc trong bi kịch và tiếc nuối, nhưng điều này cũng không ảnh hưởng đến sự mến mộ mà mọi người dành cho ông. Hơn nữa, mọi người còn tôn ông là hiện thân của lòng trung thành và là vị thần bảo vệ tài phú.

Là một trong những nhân vật được yêu thích nhất trong Tam Quốc, trong thời chiến loạn, Quan Vũ rời xa quê hương sau khi gặp được Lưu Bị và bắt đầu chinh phạt khắp nơi, sống cuộc sống không nơi cố định, có rất nhiều điển cố liên quan đến ông. Trong nhiều câu chuyện, hình tượng Quan Vũ được miêu tả thần kỳ, sức mạnh vô song, đến cả Tào Tháo cũng phải ưu ái. Đương nhiên, Tào Tháo thực sự là người trọng dụng nhân tài, hầu như tất cả những gì tốt đẹp ông đều giao cho Quan Vũ, theo lý mà nói thì Quan Vũ nên báo đáp lòng tốt của Tào Tháo, nhưng Quan Vũ không vì điều này mà ngã lòng. Ông đã chủ động trở về với Lưu Bị, phẩm chất này càng đáng khen ngợi hơn nữa.

Tượng điêu khắc Quan Vũ (Nguồn: soundofhope)

Chính vì điều này mà Quan Vũ ngày nay vẫn rất được mọi người mến mộ, người đời sau thích dùng các phương pháp khác nhau để tạo ra dung mạo của Quan Công, chẳng hạn như làm tượng và mặt dây chuyền bằng ngọc bích. Nhưng điều kỳ lạ là những hình tượng khắc họa Quan Vũ này có chung một điểm đặc biệt, đó là đôi mắt của ông luôn nhắm nghiền. Tại sao lại như vậy?

Lẽ nào hình ảnh Quan Vũ trong thực thế là như vậy sao? Đối với vấn đề này, chuyên gia cho biết: Không ai dám để mắt ông mở ra. Một trong những nguyên nhân là do Quan Vũ cả đời giết rất nhiều kẻ thù, sát khí trên thân quá mạnh, có câu nói “mở mắt ra liền giết”. Ví dụ, năm 200 sau Công nguyên, Tào Tháo và Viên Thiệu đang cầm quân ở Quan Độ, Quan Vũ nghe tin Nhan Lương dẫn quân vây thành, vừa mở mắt ra đã xin Tào Tháo đi đánh trận. Sau khi xác định được vị trí của Nhan Lương, Quan Vũ cầm đao nhảy lên lưng ngựa, xông qua ngàn quân vạn mã để chém đầu Nhan Lương.

Quan Vũ trảm Nhan Lương (Nguồn: soundofhope)

Người đời sau rất sợ thói quen của Quan Vũ nên không dám tạc tượng Quan Vũ trợn mắt ngoác mồm, cho đến nay đã trở thành ấn tượng cố hữu. Lý do thứ hai là không được hù dọa người thường, theo ghi chép trong lịch sử, đôi mắt của Quan Vũ là đôi mắt phượng màu đỏ, kết hợp với bộ râu dài và vẻ mặt nghiêm nghị, trông khá đáng sợ, đôi mắt hiện lên vẻ sát khí thù địch, không thích hợp để trưng bày nên mới để mắt nhắm lại, hoặc mắt hơi nheo. Khi phương pháp này lan rộng, nhiều thợ thủ công đã quen với việc tạc tượng Quan Vũ theo cách này.

Lan Chi biên dịch
Nguồn: soundofhope (Lý Tĩnh Nhu)

VÌ SAO TRUNG QUỐC KHÔNG XỬ TỬ HOÀNG TỘC CUỐI CÙNG NHƯ NGA VÀ PHÁP SAU CUỘC CÁCH MẠNG?

Nếu máy chém của Pháp và đội xử bắn của Nga nhằm xóa bỏ biểu tượng quân chủ bằng cái chết, thì Trung Quốc lại lựa chọn một phương thức khác: biến vị Thiên tử cuối cùng thành một người dân bình thường.

Ảnh minh hoạ.

Vì sao Trung Quốc không xử tử hoàng tộc cuối cùng như Nga và Pháp sau các cuộc cách mạng?

Lịch sử thế giới từng chứng kiến nhiều cuộc cách mạng kết thúc bằng máu của các vị quân vương. Tại Pháp, vua Louis XVI và hoàng hậu Marie Antoinette bị đưa lên máy chém sau Cách mạng Pháp năm 1789. Tại Nga, Sa hoàng Nicholas II cùng toàn bộ gia đình bị đội hành quyết của phe Bolshevik xử bắn năm 1918 nhằm chấm dứt mọi hy vọng phục hồi chế độ quân chủ.

Nhưng tại Trung Quốc, câu chuyện lại diễn ra hoàn toàn khác.

Vị hoàng đế cuối cùng của triều Thanh là Ái Tân Giác La Phổ Nghi không bị xử tử sau khi mất ngôi. Ông sống qua nhiều biến cố lịch sử, từ hoàng đế, tù nhân chiến tranh, đối tượng cải tạo chính trị cho đến một công dân bình thường của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Những năm cuối đời, Phổ Nghi làm nhân viên chăm sóc cây xanh tại Bắc Kinh, sau đó trở thành biên tập viên cho một cơ quan nghiên cứu lịch sử.

Tại sao Trung Quốc lại lựa chọn con đường khác hẳn Pháp và Nga?

Câu trả lời nằm ở hoàn cảnh đặc biệt của cuộc Cách mạng Tân Hợi năm 1911 cũng như những tính toán chính trị của các thế lực cầm quyền sau này.

Khi cuộc Cách mạng Tân Hợi bùng nổ vào năm 1911 dưới sự thúc đẩy của các nhà cách mạng do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, mục tiêu là lật đổ triều đại Mãn Thanh đã tồn tại gần 270 năm.

Tuy nhiên, khác với nước Pháp cuối thế kỷ XVIII hay nước Nga đầu thế kỷ XX, lực lượng cách mạng Trung Quốc khi đó chưa đủ sức mạnh quân sự để kiểm soát toàn bộ đất nước. Phần lớn quân đội hiện đại vẫn nằm trong tay Viên Thế Khải, người đứng đầu Bắc Dương quân.

Trong khi đó, triều đình nhà Thanh vẫn kiểm soát miền Bắc Trung Quốc và sở hữu nguồn lực đáng kể. Nếu tiếp tục chiến đấu đến cùng, nguy cơ xảy ra một cuộc nội chiến kéo dài là rất lớn.

Để tránh đất nước rơi vào hỗn loạn, các bên đã tiến hành đàm phán.

Kết quả là vào tháng 2/1912, hoàng đế Phổ Nghi chính thức thoái vị. Đổi lại, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ký với hoàng gia Thanh triều một thỏa thuận đặc biệt mang tên “Điều kiện ưu đãi dành cho hoàng thất Thanh”.

 Hình chụp Phổ Nghi năm 1922.

Theo đó, Phổ Nghi vẫn được giữ danh hiệu hoàng đế trên danh nghĩa, tiếp tục sinh sống trong Tử Cấm Thành, được giữ lại nhiều tài sản cá nhân và nhận một khoản trợ cấp hàng năm từ chính phủ.

Nói cách khác, nhà Thanh không bị tiêu diệt hoàn toàn bằng vũ lực mà rút lui thông qua một thỏa hiệp chính trị.

Đây là nguyên nhân đầu tiên khiến hoàng tộc Thanh không bị xử tử.

Tuy nhiên, sự bình yên ấy không kéo dài lâu.

Sau khi Viên Thế Khải qua đời năm 1916, Trung Quốc bước vào thời kỳ quân phiệt hỗn loạn. Các thế lực quân sự địa phương liên tục tranh giành quyền lực.

Năm 1924, quân phiệt Phùng Ngọc Tường tiến hành đảo chính tại Bắc Kinh và ra lệnh trục xuất Phổ Nghi khỏi Tử Cấm Thành.

Từ đây, vị cựu hoàng bắt đầu cuộc đời lưu vong.

Không chấp nhận thân phận đã mất quyền lực, Phổ Nghi luôn nuôi hy vọng khôi phục ngai vàng. Chính khát vọng này đã khiến ông trở thành công cụ trong tay người Nhật.

Phổ Nghi khi là Hoàng đế Mãn Châu Quốc.

Sau khi chiếm đóng Đông Bắc Trung Quốc năm 1931, Nhật Bản thành lập “Mãn Châu Quốc” và đưa Phổ Nghi lên làm quốc trưởng, sau đó là hoàng đế bù nhìn.

Trên danh nghĩa, ông là người đứng đầu quốc gia. Nhưng trên thực tế, mọi quyền lực đều nằm trong tay quân đội Nhật Bản.

Trong mắt nhiều người Trung Quốc, đây là hành động phản quốc.

Sau khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945, Phổ Nghi tìm cách chạy sang Nhật nhưng bị Hồng quân Liên Xô bắt giữ tại sân bay Thẩm Dương.

Ông bị đưa sang Liên Xô và trở thành nhân chứng trong các phiên tòa xét xử tội phạm chiến tranh Nhật Bản.

Năm 1950, Liên Xô trao trả Phổ Nghi cho chính quyền mới của Mao Trạch Đông.

Lúc này, nhiều người cho rằng số phận của vị hoàng đế cuối cùng đã được định đoạt.

Ông từng hợp tác với quân xâm lược Nhật Bản, từng là biểu tượng của chế độ phong kiến mà Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn xóa bỏ. Nếu bị xử tử, điều đó hoàn toàn không gây bất ngờ.

Thế nhưng Mao Trạch Đông lại có một cách nhìn khác.

Lãnh đạo Trung Quốc hiểu rằng một vị hoàng đế bị hành quyết sẽ trở thành biểu tượng tử vì đạo đối với những người hoài niệm quá khứ.

Ngược lại, nếu biến ông thành một công dân bình thường, chế độ mới sẽ giành được thắng lợi về mặt tư tưởng lớn hơn nhiều.

Mao từng cho rằng việc cải tạo một con người còn có giá trị hơn việc tiêu diệt họ.

Chính vì vậy, Phổ Nghi được đưa tới Trung tâm quản lý tội phạm chiến tranh Phủ Thuận ở tỉnh Liêu Ninh.

Phổ Nghi phải trải qua 10 năm trong trại cải tạo Phủ Thuận, tỉnh Liêu Ninh

Tại đây, ông trải qua gần 10 năm cải tạo.

Đối với người từng được hàng nghìn cung nữ và thái giám phục vụ từ nhỏ, cuộc sống mới là một cú sốc lớn.

Phổ Nghi phải học những việc mà người bình thường coi là hiển nhiên như tự buộc dây giày, tự giặt quần áo, tự dọn dẹp phòng ở và tham gia lao động tập thể.

Các cán bộ quản giáo không chỉ yêu cầu ông học tập chính trị mà còn buộc ông phải nhìn lại vai trò của bản thân trong lịch sử.

Quá trình này được chính quyền Trung Quốc coi là minh chứng cho khả năng “cải tạo con người” của hệ thống xã hội chủ nghĩa.

Năm 1959, nhân kỷ niệm 10 năm thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Mao Trạch Đông quyết định ân xá cho Phổ Nghi.

Sau khi được trả tự do, cựu hoàng sống như một công dân bình thường tại Bắc Kinh.

Ông làm việc tại Vườn Bách thảo Bắc Kinh với vai trò chăm sóc cây cối. Sau đó, ông chuyển sang làm biên tập viên cho Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc.

Phổ Nghi sau đó được giao cho Vườn bách thảo Bắc Kinh và ban đầu chịu trách nhiệm bán vé và sau đó trở thành người làm vườn.

Năm 1964, Phổ Nghi còn xuất bản cuốn hồi ký nổi tiếng “Nửa đời trước của tôi”, kể lại hành trình từ hoàng đế đến người dân thường.

Cuốn sách trở thành một trong những tư liệu quan trọng nhất về sự sụp đổ của triều Thanh và quá trình cải tạo của chính quyền cộng sản.

Thực tế, không chỉ Phổ Nghi mà phần lớn thành viên hoàng tộc Ái Tân Giác La cũng không bị xử tử.

Nhiều người đổi tên, hòa nhập vào xã hội mới và sống cuộc đời bình thường. Một số trở thành giáo viên, bác sĩ, kỹ sư hoặc nhà nghiên cứu.

Điều này trái ngược hoàn toàn với số phận của hoàng gia Romanov ở Nga hay triều Bourbon ở Pháp.

Sự khác biệt xuất phát từ bản chất của các cuộc cách mạng.

Tại Pháp, nhà vua bị xem là trung tâm của chế độ chuyên chế cần phải bị loại bỏ để nền cộng hòa có thể tồn tại.

Tại Nga, phe Bolshevik đang đối mặt với nội chiến nên việc xử tử Sa hoàng nhằm ngăn chặn mọi khả năng các lực lượng Bạch vệ sử dụng ông như một biểu tượng chính trị.

Trong khi đó, tại Trung Quốc, chế độ quân chủ đã sụp đổ thông qua thương lượng trước khi chính quyền cộng sản ra đời. Đến khi Mao Trạch Đông nắm quyền, Phổ Nghi đã không còn bất kỳ khả năng thực tế nào để khôi phục ngai vàng.

Phổ Nghi trong một buổi gặp gỡ Mao Trạch Đông.

Do đó, giữ ông sống và biến ông thành một công dân bình thường mang ý nghĩa tuyên truyền mạnh mẽ hơn nhiều so với việc hành quyết.

Nếu máy chém của Pháp và đội xử bắn của Nga nhằm xóa bỏ biểu tượng quân chủ bằng cái chết, thì Trung Quốc lại lựa chọn một phương thức khác: biến vị Thiên tử cuối cùng thành một người dân bình thường.

Theo nhiều nhà sử học, đó mới là đòn kết liễu triệt để nhất đối với chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm ở Trung Hoa. Bởi khi Phổ Nghi cầm chổi quét đường, chăm sóc cây xanh và sống như hàng triệu người khác, hào quang thiêng liêng của ngai vàng cũng hoàn toàn biến mất.

Bảo Minh / Theo: danviet