Sunday, June 28, 2026

MIỆT THỨ CÓ CÒN XA LẮC XA LƠ - KỲ 3: CUỘC ĐỔI THAY CHẦM CHẬM TRÊN QUÊ HƯƠNG SƠN NAM

Ông già Sơn Nam, nhà văn và nhà Nam Bộ học đáng kính, nếu giờ còn sống mà trở về Miệt Thứ - U Minh chắc ngạc nhiên dữ thần.

Cảnh đẹp trù phú ở Miệt Thứ Mười Một ngày nay - Ảnh: QUỐC VIỆT

Chuyện ông ghi rẻo đất cuối nước dù hào sảng, dễ sống vẫn bàng bạc cảnh nghèo khắp cùng. Người quê thời ông nếu các cô không chèo xuồng ba lá ra chợ đầu kinh bán mua rổ khoai, chén xôi chè nước cốt dừa thì cũng ngoi ngóp kiếm con cá con cua dưới rừng tràm, hái đọt rau choại, cỏ trai để bén lửa nồi cơm.

Hiếm hoi ai đó chăn nuôi thì mần siêng dữ cũng chỉ đào cái ao đìa nhỏ cho cá rút xuống mùa nắng, thả lan con heo sau nhà, bầy vịt bờ kinh... Nhưng cảnh này giờ đã khác rồi.

Đời sống dân Miệt Thứ tụi tui đổi thay nhưng hành trình này chậm hơn các nơi khác. Bởi làng quê heo hút, đường sá xa xôi, phải giang đò lụy xe, chỉ đến khi các bến phà Mỹ Thuận, Tắc Cậu, Vàm Cống có cầu bắc qua thì sự đổi thay mới nhanh chóng.
Anh PHẠM DUY TÂN

Bước ngoặt sau năm 1975

Còn nhớ hồi mùa mưa năm 2024, tôi có mấy ngày dừng chân ở huyện U Minh Thượng (nay là xã thuộc tỉnh An Giang), vùng giáp ranh Miệt Thứ của Kiên Giang với Cà Mau. Anh Phạm Duy Tân, phó Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, vui vẻ tiếp tôi và nói anh cũng là người hâm mộ "ông già Nam Bộ" Sơn Nam. Tân sinh năm 1980 ở xã Thạnh Yên ngay trung tâm U Minh Thượng.

Đời ông, đời cha phát tràm, cấy lúa, bắt cá kiếm miếng ăn, tuổi thơ anh Tân cũng theo bước mưu sinh dưới tán rừng tràm. Học xong, Tân vào luôn ngành nông nghiệp, không rời nông dân và hột lúa, củ khoai, ao cá, vuông tôm vùng ranh Miệt Thứ, nên có thể nói anh chính là chứng nhân xứ sở này.

"Dân bưng biền nghèo khổ mà được trời cho sản vật nên không đến nỗi thắt ngặt miếng ăn thì đến đời tôi vẫn còn trải. Những gì ông già Sơn Nam kể đều trúng y chang" - anh Tân kể chuyện quê mình có bước ngoặt sau chiến tranh. Ngày hòa bình, dân ly hương từng phải đi lánh bom đạn chạy về, rồi dân kinh tế mới được đưa xuống và đây cũng là một trong những vùng dân vượt biên tứ xứ về nằm chờ lên tàu hướng Rạch Sỏi - Tắc Cậu.

Cũng như tình hình cả nước hồi đó, cảnh nghèo khắp cùng Miệt Thứ vì ruộng đồng chưa được khai hoang nhiều, đa phần đất đai phèn lợ, nhiễm mặn, năng suất lúa rất thấp.

"Ông trời thương cho Miệt Thứ con cá đen nhiều nhóc dưới rừng tràm, con cua con ba khía lềnh khênh dưới bãi biển nhưng không cho đất tốt nên cá cua thì dư mà cơm thì thiếu.

Ngặt nữa là hồi đó cá mú có thừa mứa đổ đầy lu nuôi rộng trong nhà cũng đâu bán được cho ai. Bởi đường sá quá cách trở, phải giang đò lụy xe, làm sao đem về các thành phố lớn được nên người dân không kiếm đâu ra tiền" - anh Tân nhớ lại những năm suốt thập niên 1980 bước sang thập niên 1990...

Ngày tháng đó dân quê xứ này thừa miếng ăn chim trời cá nước nhưng lại hụt gạo, thiếu tiền. Con nít nhiều đứa thất học, đứa nào học lên nổi lớp 9 đã rỡ ràng tía má, thậm chí mới vô lớp 5 cũng được khoe ở bàn trà, cuộc nhậu. Học trò ngồi vỏ lãi lên trường huyện, học cấp III là "chuyện đại sự" với cả dòng họ.

Ông Huỳnh Thanh Tâm, 70 tuổi, người dân nhiều đời ở xã An Minh Bắc, huyện U Minh Thượng, kể cảnh nghèo ở Miệt Thứ - U Minh bận đó "ngộ dữ thần thiên địa", vừa đổ miếng ăn mà vừa thiếu miếng ăn, con cá lóc bự cùm tay chỉ ăn phần đầu với bộ lòng, còn khúc thân liệng bỏ nhưng mà thèm chảy nước miếng thịt heo.

Trong ký ức như còn đọng mùi sình lầy của ông già Tâm, dân xứ này hồi đó toàn ở nhà lá, vách đất, loe hoe vài nhà ai đó có cây gỗ lắp ghép tạm bợ đã là "nhà cây bảnh gồi", chỉ bên các chợ Miệt Thứ Ba, Thứ Bảy, Thứ Mười Một mới lưa thưa nhà xây cấp 4. Xứ U Minh Thượng một thời toàn rừng tràm tối đen cả kinh rạch bên dưới, con cá thì nhiều nhưng con người chỉ loe hoe ở vài chòm.

Lai rai kể chuyện xưa bên chiếu rượu, ông Bảy Tâm rót cho tôi ly rượu đế rồi nói bận đó dân xứ này nghèo tiền đến nỗi rượu gạo cũng phải mua ký nợ cả năm, vậy mà vẫn không có tiền để trả, các ông phải vác giạ lúa vốn đã khan hiếm đến nhà bà bán rượu để không bị rầy rà lùm xùm.

Người trẻ bây giờ nghe "cái nốp" thì tròn xoe mắt không biết là cái gì, nhưng đến những năm 1980 ở Miệt Thứ vẫn còn nhiều người phải lấy tấm nốp đan bằng cỏ bàng, cỏ cói này làm mềm đắp ngủ.

"Tụi tui còn phải đi mượn của nhau cả cái cục đá lửa nhỏ xíu để gắn vô hộp quẹt. Cha mẹ già bị bệnh, con cái chèo xuồng rã tay ra chợ đầu kinh mà chỉ dám nợ mua một, hai viên thuốc hạ sốt rẻ mạt"- ông già Bảy Tâm kể chuyện xưa...

Chợ Thạnh Yên ở U Minh Thượng, nơi một thời thưa thớt bóng dân giờ đã nhiều tiệm vàng - Ảnh: QUỐC VIỆT

Cuộc đổi thay bắt đầu chầm chậm

Thời cuộc dần đổi thay, khoảng đến giữa thập niên 1990 dân Miệt Thứ - U Minh bắt đầu đơ đỡ hơn dù nhiều gia cảnh vẫn chưa thể hết thắt ngặt. Chính con tôm được khởi nuôi đã giúp người dân dần có đồng ra đồng vô dù vẫn còn rất eo hẹp. Cuộc chuyển đổi sinh kế và đời sống diễn ra chầm chậm mất cỡ mười năm mới bắt đầu nhanh hơn từ khoảng giữa thập niên 2000.

"Cỡ bận đó dân Miệt Thứ đã rộ nuôi con tôm, con cua rồi. Xe hàng vẫn còn phải qua phà Tắc Cậu, Vàm Cống nhưng đã đi nhanh hơn nhờ đường sá được sửa sang, mở mang. Hồi xưa tụi tui mần được mớ cá, thau tôm chỉ biết đem ra chợ đầu kinh bán rẻ mạt để mong mua lại được miếng thịt heo ăn cho đỡ thèm hay mua khúc vải cho bà xã may bộ đồ Tết cho sắp nhỏ ngó ưng mắt.

Nhưng đến giai đoạn sau năm 2000, sản vật của tụi tui đã được xe đông lạnh chở lên thành phố. Thương lái không qua phà Tắc Cậu, đi đường Rạch Sỏi - Sài Gòn thì cũng chạy được hướng Cà Mau lên Cần Thơ...

Tiền bạc bán được của tụi tui không phải để mua miếng thịt nữa mà dành dụm mua cái xe máy hay lợp mái tôn cái nhà cho khỏi dột, lát cái nền gạch cho đỡ sình lầy" - ông già Bảy Tâm rề rà chuyện xóm ấp quê mình cách đây ngót nghét 30 năm với cuộc đổi thay chầm chậm.

Sinh sau ông Tâm xa lắc, anh cán bộ nông nghiệp Phạm Duy Tân cũng đã ba đời lội kinh bắt cá, vào rừng hái đọt choại nên rành rẽ cuộc đổi thay ở quê mình. Thiệt ra, ông nội anh Tân là dân gốc Nam Định nhưng đã di cư vào Miệt Thứ từ trước năm 1954 rồi mới sinh ra ba anh Tân nên giờ họ đã trở thành "người Miệt Thứ chánh hiệu"...

Câu chuyện đổi thay ở quê hương nhà văn Sơn Nam được anh Tân kể bằng chính sự lập nghiệp khó khăn và lần hồi đỡ dần của nhà mình: "Tui nghe kể lại ông nội tui vào đây mới lên xuồng bông đám cưới với cô gái Miệt Thứ. Xứ này ngày xưa vắng vẻ dữ lắm. Ông bà nội tui ở xóm Thạnh Yên, U Minh Thượng, mới chỉ có vài mái nhà gần nhau cho nghe được tiếng người đỡ buồn. Hồi ông nội tui khẩn hoang, cấy mớ lúa chỉ mong có đủ gạo cơm cháo qua ngày, còn hụt thì bắt cá, săn rắn, lượm rùa nhiều binh thiên để ăn trừ bữa".

Ông bà nội anh Tân sinh được bốn người con, bận nhỏ họ phải cực công chăm sóc nhưng lớn lên có thêm sức người khẩn hoang, mở rộng dần diện tích ruộng lúa. Từ cày một vụ, sang những năm 1990 họ bắt đầu làm hai vụ. Năng suất lúa Miệt Thứ vẫn thấp nhưng những nông dân nhiều đời như họ nhanh chóng theo được mô hình "con tôm ôm cây lúa". Ruộng lúa sau thu hoạch chính là đồng nuôi tôm.

Cuộc sống gia đình anh Tân bắt đầu dễ thở dần cũng như nhiều nhà Miệt Thứ khác. Đó cũng là khi điện được kéo về xóm ấp, lộ bê tông được nối nhau. Đêm đêm cảnh quê Miệt Thứ đã sáng ánh đèn điện thay ngọn đèn mù u leo lét và tiếng trai gái trẻ trung hát karaoke đã át giọng mấy ông già ngồi nhậu khề khà bài Dạ cổ hoài lang, Tình anh bán chiếu buồn hiu hắt một thủa...

Mặc dù sản vật tự nhiên ngày nay đã giảm hẳn, Miệt Thứ vẫn rất nhiều thủy hải sản đánh bắt lẫn nuôi trồng - Ảnh: QUỐC VIỆT

Nông dân nuôi tôm ở Miệt Thứ U Minh Thượng chở tôm từ trong đồng ra bán cho thương lái đậu xe sẵn ngoài quốc lộ 63 - Ảnh: QUỐC VIỆT

Trung tâm U MInh Thượng đang được đô thị hóa, ngày xưa nơi này chỉ là xóm nhỏ giữa tràm - Ảnh: QUỐC VIỆT

Quốc lộ 63 thông suốt cả vùng Miệt Thứ - Ảnh: QUỐC VIỆT

************

Về Miệt Thứ ngày nay người ta có nhiều món ngon để lưu luyến. Và sản vật xứ quê hương từng một thời heo hút này đã ra được tận chợ nước ngoài.

>> Kỳ cuối: Mâm cua lột, tôm càng đổi đời Miệt Thứ

Quốc Việt / Theo: tuoitre

Saturday, June 27, 2026

THAY VÌ THAY ĐỔI NGƯỜI KHÁC, HÃY CHỌN THAY ĐỔI CHÍNH MÌNH

Có câu nói rằng: “Những trải nghiệm trong cuộc sống sẽ dạy chúng ta điều gì đó. Nhiều khi, trải nghiệm quý giá nhất trong cuộc đời là nhìn thấy một thế giới rộng lớn hơn, khung cảnh tươi đẹp hơn bằng cách thay đổi chính mình”.


Hãy tự nhủ rằng chỉ thông qua sự thay đổi, bạn mới có thể thực sự cứu được chính mình.

Nếu chỉ muốn thay đổi người khác, đặt kỳ vọng cao vào người khác mà chưa bao giờ nghĩ đến việc thay đổi bản thân thì bạn sẽ không thể hạnh phúc. Cuối cùng, bạn sẽ càng trở nên thất vọng và khốn khổ vì cuộc đời ngày càng thất bại.

Nguyên nhân khiến một người không thành công cũng rất đơn giản, đó là vì người đó dành nhiều thời gian và sức lực quý giá của mình cho những điều vô nghĩa.

Cuối cùng, họ ngày càng có ít thứ để đầu tư vào bản thân, cuộc sống của họ nói chung ngày càng thất bại và ngày càng trở nên kém cỏi. Cuối cùng, họ ngày càng thích phàn nàn về cuộc sống.
 
Thay đổi bản thân tốt hơn thay đổi người khác

Những người thích thay đổi người khác sẽ gặp phải đau đớn, rắc rối, thất vọng và bất bình.

Những người thay đổi người khác thực chất là những người lười biếng và tự cho mình là đúng, thậm chí còn nghĩ rằng mình có thể thay đổi được người khác.

Trên thực tế, kiểu người này cho rằng việc thay đổi người khác sẽ dễ dàng hơn. Họ nói rằng có thể làm mọi việc chỉ trong một hoặc hai câu, bề ngoài họ rất nhiệt tình và những gì họ nói đều có lý. Nhưng thực tế, họ vẫn giảng cho người khác những điều mà bản thân họ không thể làm được.

Cuối cùng, họ không những không thể trưởng thành mà còn bị nhiều người chán ghét hơn.

Có câu nói rằng: “Mọi người đến thế giới này đều có một sứ mệnh. Nếu nó không được giải quyết, nó sẽ xảy ra lần nữa trong cuộc sống tương lai. Sự việc không thực sự hoàn thành cho đến khi bạn hiểu, vượt qua và giải quyết nó”.

Những người thực sự minh bạch, đều đang cố gắng khiến bản thân trở nên độc lập hơn và sống rõ ràng hơn.

Nói cách khác, nếu bạn luôn đặt sự chủ động trong cuộc sống và kỳ vọng của mình vào cuộc sống của người khác thì chẳng phải sẽ có nhiều yếu tố rủi ro hay sao? Vì vậy, người trưởng thành sẽ tiếp tục khám phá và trải nghiệm trong cuộc sống của chính mình.

Hơn nữa, dù gặp khó khăn, căng thẳng đến đâu, bạn hãy cố gắng vượt qua nó. Cuối cùng, khi bạn vượt qua, quyết tâm và buông bỏ, khung cảnh cuộc sống và điều kiện sống của bạn sẽ ngày càng tốt đẹp hơn.

Thay đổi bản thân, bạn mới có cuộc đời thực sự hạnh phúc (nguồn: sohu)

Khi bạn thực sự muốn thay đổi bản thân, cả thế giới sẽ nhường chỗ cho bạn

Khi con người sống đến một độ tuổi nhất định, họ sẽ ngày càng hiểu rõ hơn những sở thích của mình là gì. Để rồi, họ có thể ở lại lặng lẽ và tận hưởng bình yên trong thế giới nhỏ bé của riêng mình.

Họ sẽ dành nhiều thời gian và năng lượng hơn cho việc trải nghiệm những điều nhỏ nhặt bình thường trong cuộc sống và hạnh phúc gia đình. Bởi vì sau khi trải nghiệm càng nhiều chuyện, bạn sẽ hiểu lòng người vốn mâu thuẫn và phức tạp. Vì vậy, thật ngốc nghếch khi cố gắng thay đổi người khác. Thay vì thay đổi người khác, hãy học cách thay đổi chính mình.

Hơn nữa thay đổi bản thân cũng vô cùng khó khăn. Tuy nhiên, chỉ cần bạn thực sự dựa vào chính mình thì bạn có thể vượt qua được. Khi đó, bạn sẽ cảm thấy mình sẽ ngày càng thoải mái và bình tĩnh hơn khi đối mặt với khó khăn. Bởi vì bạn có kinh nghiệm và sự tự tin nên ngay cả khi gặp phải vấn đề tương tự, bạn cũng có thể bình tĩnh đối mặt và dũng cảm giải quyết.

Vì vậy, đừng bao giờ đánh giá thấp khả năng của mình chứ đừng nói đến việc lãng phí khả năng thích ứng mạnh mẽ của mình. Bởi khi bạn thực sự muốn thay đổi bản thân, cả thế giới sẽ nhường chỗ cho bạn.

Cuối cùng, mỗi ngày đều sẽ có sự tiến bộ và trưởng thành. Hơn nữa, ngay cả khi gặp phải thử thách, khó khăn, bạn cũng sẽ dựa vào chính mình để dũng cảm đối mặt và xử lý chúng một cách quyết tâm.

Sự thay đổi này là sự trưởng thành về mặt tinh thần, bằng cách này, tầm nhìn của bạn dần dần mở ra và lớn hơn.

Cuối cùng, khi bạn trở nên giỏi hơn và mạnh mẽ hơn, bạn sẽ có khả năng, sự tự tin, trí tuệ và sức mạnh để giải quyết mọi vấn đề.

Khi bạn muốn thay đổi bản thân, cả thế giới sẽ nhường chỗ cho bạn (nguồn: hoaonline24h)

Suốt quãng đời còn lại, hãy thay đổi bản thân theo thời gian

Người thông minh sẽ thay đổi bản thân mình mãi mãi. Chỉ có những kẻ thua cuộc mới luôn muốn thay đổi người khác.

Người sống với năng lượng tích cực luôn lạc quan và dũng cảm tiến về phía trước. Bởi vì họ hiểu rằng cuộc đời chỉ có một lần để trải nghiệm. Nếu không biết trân trọng, không biết hoàn thiện bản thân, thậm chí cứ làm những điều sai trái thì sẽ lãng phí thời gian và sức lực của mình.

Một cuộc sống thực sự tốt đẹp phải dựa vào sức mạnh tích cực, dũng cảm và quyết tâm của chính mình để không ngừng trau dồi và trưởng thành trong cuộc sống.

Như ai đó đã nói: “Một số bài học trong cuộc sống thách thức chúng ta hết lần này đến lần khác, như những bài thi bù, cho đến khi bạn vượt qua”.

Khi bạn thực sự có thể dũng cảm đối mặt với nó, hãy bình tĩnh chấp nhận và kiên trì chịu đựng. Khi đó, mỗi ngày trong cuộc sống của bạn sẽ tốt hơn, bình yên hơn và hạnh phúc hơn.

Thùy Dung biên tập
Nguồn: sohu

TÚC VU SƠN HẠ - LÝ BẠCH


Túc Vu sơn hạ - Lý Bạch

Tạc dạ Vu sơn hạ,
Viên thanh mộng lý trường.
Đào hoa phi lục thuỷ,
Tam nguyệt há Cù Đường.
Vũ sắc phong xuy khứ,
Nam hành phất Sở vương.
Cao Khâu hoài Tống Ngọc,
Phỏng cổ nhất triêm thường.


宿巫山下 - 李白

昨夜巫山下
猿聲夢裏長
桃花飛綠水
三月下瞿塘
雨色風吹去
南行拂楚王
高丘懷宋玉
訪古一沾裳


Nghỉ đêm dưới núi Vu
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Đêm qua ngủ lại Vu Sơn. 
Đâu đây tiếng vượn, chập chờn giấc mơ. 
Đào hoa theo nước hững hờ. 
Cù Đường trăng sáng, bất ngờ đẹp sao. 
Sắc mưa, mầu gió ào ào. 
Sở Vương Nam tiến, khi nào đưa binh?. 
Gò cao Tống Ngọc hi sinh. 
Chuyện xưa nhắc lại, khóc mình dở dang.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi “chống kiếm viễn du”, đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn “ẩm tửu hàm ca” (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một “văn nhân ngự dụng” nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Nguồn: Thi Viện



KHÁM PHÁ ẨM THỰC NAM KINH

Nam Kinh là một trong những thành phố có lịch sử lâu đời và nền ẩm thực đặc sắc bậc nhất Trung Quốc. Không quá cay nồng như Tứ Xuyên hay đậm vị dầu mỡ như nhiều vùng phía Bắc, món ăn Nam Kinh mang hương vị thanh nhẹ, tinh tế nhưng vẫn đủ sức khiến du khách nhớ mãi. Hãy cùng khám phá ẩm thực Nam Kinh (Trung Quốc) qua bài viết sau đây nhé.


Đôi nét về ẩm thực Nam Kinh

Là cố đô của nhiều triều đại phong kiến Trung Hoa, Nam Kinh không chỉ nổi tiếng với các công trình lịch sử mà còn sở hữu nền văn hóa ẩm thực phong phú. Thành phố này thuộc tỉnh Giang Tô - nơi được xem là cái nôi của trường phái ẩm thực Tô Thái nổi tiếng. Vì vậy, món ăn tại Nam Kinh thường mang phong cách thanh đạm, chú trọng độ tươi của nguyên liệu và sự hài hòa trong hương vị.

Ẩm thực Nam Kinh

Người Nam Kinh đặc biệt yêu thích các món chế biến từ vịt. Thậm chí nơi đây còn được gọi vui là “thành phố của vịt” bởi số lượng món ăn làm từ vịt vô cùng đa dạng. Ngoài ra, các món mì, bánh hấp, canh hầm hay đồ ăn đường phố cũng góp phần tạo nên bản sắc riêng cho ẩm thực địa phương.

Khác với nhiều thành phố hiện đại phát triển nhanh của Trung Quốc, Nam Kinh vẫn giữ được khá nhiều nét sinh hoạt truyền thống. Điều này thể hiện rõ trong cách người dân ăn uống, lựa chọn nguyên liệu và gìn giữ công thức nấu ăn cổ truyền qua nhiều thế hệ.

Những món ăn nổi tiếng nhất ở Nam Kinh

Dưới đây là một số nhưng món ăn tiêu biểu của Nam Kinh.

Vịt muối Nam Kinh

Nhắc đến ẩm thực Nam Kinh, món đầu tiên được nhiều người nhớ tới chính là vịt muối. Đây là món ăn có lịch sử hàng trăm năm và gần như trở thành biểu tượng ẩm thực của thành phố.

Vịt muối Nam Kinh

Vịt sau khi được làm sạch sẽ trải qua công đoạn ướp muối cùng nhiều loại gia vị truyền thống trước khi luộc chín. Thành phẩm có lớp da trắng ngà đẹp mắt, phần thịt mềm nhưng không bở, vị mặn vừa phải và mùi thơm đặc trưng.

Điểm đặc biệt của vịt muối Nam Kinh nằm ở sự thanh nhẹ. Món ăn không quá nhiều dầu mỡ, giữ được độ ngọt tự nhiên của thịt vịt nên rất dễ ăn. Người dân địa phương thường dùng món này trong các bữa cơm gia đình hoặc làm quà biếu cho khách phương xa.

Bún tiết vịt

Bún tiết vịt là món ăn dân dã nhưng cực kỳ phổ biến tại Nam Kinh. Một tô đầy đủ thường có nước dùng ninh từ xương vịt, tiết vịt, thịt vịt thái lát, bún cùng một số loại rau thơm.

Bún tiết vịt Nam Kinh

Nước dùng của món này có vị đậm đà nhưng không quá béo. Tiết vịt mềm, không tanh, kết hợp với thịt vịt dai nhẹ tạo nên hương vị rất đặc trưng. Trong những ngày trời lạnh, đây là món ăn được nhiều người dân lựa chọn cho bữa sáng hoặc bữa tối.

Điều khiến du khách thích thú là mỗi quán ăn tại Nam Kinh đều có bí quyết nấu nước dùng riêng. Vì vậy dù cùng là bún tiết vịt nhưng hương vị giữa các quán vẫn có sự khác biệt nhất định.

Tiểu long bao Nam Kinh

Tiểu long bao là món bánh nổi tiếng ở nhiều địa phương Trung Quốc, nhưng phiên bản tại Nam Kinh vẫn mang những nét riêng biệt. Bánh có lớp vỏ mỏng, bên trong là phần nhân thịt cùng nước súp nóng hổi.


Khi ăn, người ta thường cắn nhẹ một góc bánh để hút phần nước dùng bên trong trước, sau đó mới thưởng thức cả chiếc bánh. Chính phần nước súp đậm vị này là yếu tố tạo nên sức hút đặc biệt cho món ăn.

Người Nam Kinh thường ăn tiểu long bao vào buổi sáng cùng trà nóng hoặc sữa đậu nành. Đây cũng là món ăn xuất hiện rất nhiều trong các khu phố ẩm thực và chợ đêm của thành phố.

Đậu phụ thối chiên

Đậu phụ thối là món ăn gây tò mò với rất nhiều du khách quốc tế bởi mùi hương khá đặc trưng. Tuy nhiên, nếu vượt qua được cảm giác ban đầu, nhiều người lại bị chinh phục bởi hương vị của món ăn này.


Đậu phụ được lên men rồi đem chiên vàng giòn. Bên ngoài giòn rụm nhưng bên trong vẫn mềm, khi ăn thường dùng kèm tương ớt hoặc nước sốt cay nhẹ. Mùi vị béo thơm đặc biệt khiến món ăn trở thành một trong những món ăn vặt phổ biến nhất ở Nam Kinh.

Tại các khu phố đêm, du khách có thể dễ dàng bắt gặp những quầy hàng bán đậu phụ thối luôn đông khách. Đây cũng là món ăn phản ánh rõ nét văn hóa ẩm thực đường phố Trung Quốc.

Bánh mè chiên

Bánh mè chiên là món ăn vặt quen thuộc với người dân Nam Kinh. Bánh có lớp vỏ phủ đầy mè trắng, được chiên vàng thơm hấp dẫn.

Bánh mè chiên Nam Kinh

Phần nhân bên trong thường làm từ đậu đỏ, mè đen hoặc đường nâu. Khi ăn có vị ngọt nhẹ, lớp vỏ giòn bên ngoài hòa cùng phần nhân mềm dẻo bên trong tạo cảm giác rất thú vị.

Món bánh này thường được bán tại các khu phố cổ hoặc chợ truyền thống. Dù không phải món ăn cầu kỳ nhưng lại gắn liền với tuổi thơ của nhiều người dân địa phương.

Canh vịt hầm

Canh vịt hầm là món ăn thể hiện rõ nét phong cách ẩm thực thanh đạm của Nam Kinh. Nước dùng được ninh trong nhiều giờ cùng các loại thảo mộc và gia vị truyền thống nên có vị ngọt tự nhiên, dễ ăn.

Người dân nơi đây tin rằng món canh này giúp bồi bổ cơ thể, đặc biệt phù hợp vào mùa đông hoặc những ngày thời tiết chuyển lạnh. Một số quán còn cho thêm miến hoặc nấm để tăng hương vị.


Không quá cầu kỳ trong cách trình bày nhưng canh vịt hầm vẫn được xem là món ăn mang đậm nét truyền thống của thành phố.

Mì da cá

Mì da cá là món ăn khá độc đáo của Nam Kinh. Phần da cá được chế biến kỹ để loại bỏ mùi tanh, sau đó nấu cùng nước dùng nóng và mì sợi.

Điểm hấp dẫn của món ăn nằm ở phần nước dùng thanh ngọt cùng độ dai giòn đặc trưng của da cá. Đây là món ăn được nhiều người lựa chọn vào mùa lạnh vì vừa ngon miệng vừa tạo cảm giác ấm bụng.

Dù không nổi tiếng bằng vịt muối hay tiểu long bao nhưng mì da cá vẫn là món ăn mang đậm dấu ấn địa phương.

Bánh gạo ngọt Nam Kinh

Bánh gạo ngọt là món tráng miệng truyền thống thường xuất hiện trong các dịp lễ tết hoặc sum họp gia đình. Bánh được làm từ gạo nếp nên có độ dẻo mềm đặc trưng.

Một số loại bánh còn được thêm táo đỏ, đậu đỏ hoặc đường nâu để tăng hương vị. Món ăn mang vị ngọt nhẹ, không quá gắt nên phù hợp với khẩu vị của nhiều người.

Trong văn hóa Trung Hoa, bánh gạo còn tượng trưng cho sự đủ đầy và may mắn. Vì vậy đây là món ăn có ý nghĩa đặc biệt trong đời sống của người dân Nam Kinh.

Bánh gạo ngọt Nam Kinh

Những khu ẩm thực nổi tiếng tại Nam Kinh

Miếu Phu Tử là khu vực nổi tiếng bậc nhất dành cho những ai muốn khám phá ẩm thực Nam Kinh. Nơi đây tập trung rất nhiều quán ăn truyền thống, hàng rong và cửa tiệm bán đặc sản địa phương. Du khách có thể thưởng thức hàng chục món ăn khác nhau chỉ trong một buổi dạo phố.

Ngoài ra, khu phố cổ là nơi du khách có thể cảm nhận rõ nhịp sống truyền thống của người dân địa phương. Những con đường lát đá, cửa hàng lâu năm và các quán ăn gia truyền tạo nên nét hấp dẫn rất riêng.


Tại đây, du khách không chỉ được thưởng thức món ngon mà còn có cơ hội tìm hiểu thêm về văn hóa và lịch sử của thành phố. Nhiều quán ăn đã tồn tại hàng chục năm, thậm chí qua nhiều thế hệ vẫn giữ nguyên công thức chế biến truyền thống.

Các khu chợ đêm tại Nam Kinh cũng là nơi lý tưởng để thưởng thức các món ăn đường phố với mức giá khá hợp lý. Từ bánh nướng, xiên que, đậu phụ thối cho đến các món tráng miệng truyền thống, du khách có thể dễ dàng tìm thấy đủ loại món ăn hấp dẫn. Không khí nhộn nhịp của chợ đêm cũng giúp hành trình khám phá ẩm thực trở nên thú vị hơn.

Theo: studyinchina.io

MIỆT THỨ CÓ CÒN XA LẮC XA LƠ - KỲ 2: XỨ GÌ " DƯỚI SÔNG CÁ LỘI, TRÊN BỜ CỌP THA"

"Thỉnh thoảng dân bắt rắn, bắt lươn dùng chĩa mà xom, phát hiện vài lỗ trống, bên dưới đầy lươn và xương người nát bấy, nhưng tóc còn nguyên vẹn. Mộ của người đến U Minh, sống nghèo túng rồi mất từ xa xưa".

Chợ Thứ Bảy, quê hương nhà văn Sơn Nam, giờ đã có nhiều tiệm vàng - Ảnh: QUỐC VIỆT

Liệu Sơn Nam có quá lời trong hồi ký viết về quê hương chôn nhau cắt rốn của mình, rẻo đất thấp cuối nước Miệt Thứ - U Minh?

Xứ nghèo nhưng không thắt ngặt miếng ăn

Mỗi lần rong ruổi về Miệt Thứ, tỉnh Kiên Giang cũ, tôi hay tìm dấu nhà văn Sơn Nam. Những chuyện "ông già Nam Bộ" kể giờ đem ra nhắc lại có người gật gù, có người "biết chết liền".

Quê hương ông nay đã đổi thay nhiều quá. Kinh rạch trời cho và sức người đào đắp vẫn còn đó nhưng thủy lộ của những chiếc xuồng ba lá chèo tay thời Sơn Nam còn bận quần xà lỏn đi lượm trứng chim cò đã qua rồi.

Dưới kinh ghe xuồng giờ vẫn ngược xuôi nhưng đã rền rĩ tiếng động cơ. Trên bờ xe cộ tấp nập mà phần lớn có đường xe hơi vào tận xóm ấp.

Chợ quê nhà Sơn Nam ở miệt Thứ Bảy xã Đông Thái, huyện An Biên, Kiên Giang (nay là xã thuộc tỉnh An Giang) có nhiều tiệm vàng "bự tổ chảng". Nhìn mấy cô bán vé số ghé tiệm vàng mua vòng ximen đeo rực cùm tay mà thương "ông già Nam Bộ" chỉ nhớ đặng chuyện chợ xưa có cô bán bánh trái, xôi chè nước cốt dừa...

Lần tôi về Miệt Thứ gần đây nhứt là hồi mùa mưa năm 2024. Buổi sáng phê pháo với dân địa phương ở chợ Thứ Ba bên kinh Xẻo Rô, ông già Thà Văn Thắt (73 tuổi) nghe tôi kể lời Sơn Nam, liền trả lời "ổng biên hơi dăn dẻ nhưng hổng hề trật lất đâu".

Ý ông già Miệt Thứ nói Sơn Nam văn vẻ nhưng viết đúng. Quê tía má ông Tám Thắt miệt núi Sập, An Giang nhưng đã lên xuồng xuôi kinh Vĩnh Tế về Hà Tiên, rồi quành sang Miệt Thứ ở An Biên ngụ cư trải mấy đời.

Chuyện xứ này thời Pháp, ông nghe tía má kể lại. Còn đời ông cũng nếm trải đủ chiến tranh, loạn ly, đói kém rồi lần hồi đổi thay, phát triển như nay.

"Tui dân trôi sông lạc chợ, nứt mắt trong chiến tranh, chỉ học lụp bụp mấy con chữ hiếm hoi như hột cơm nguội sót đít nồi thời đói rã họng, làm gì được đọc sách ông Sơn Nam. Nhưng chuyện ông già xưa kể mà cậu nhắc đều trúng hết đó" - ông Tám Thắt kể Miệt Thứ này hồi xưa ngộ lắm, nói "đói thấy bà cố" luôn cũng đúng, mà nói sướng cũng hổng trật chìa đi đâu.

Lý do đầu tiên, phần đa người xứ này là dân nghèo trôi dạt về. Người bồng bế con cái xuôi dòng Cái Lớn, vô Xẻo Rô tìm đất hứa, người chạy giặc, kẻ trốn nợ, muốn tìm đời tự do chỗ đất rộng người thưa như tía má ông nên hầu hết gốc gác đều nghèo rớt.

Miệt Thứ Bảy, quê hương nhà văn Sơn Nam - Ảnh: QUỐC VIỆT

Thêm nữa, mới tầm vài chục năm trước đất và con nước phèn lợ xứ này vẫn hổng thuận cho mần ruộng. Ai hồi đó cày công đất cấy lúa được 10-20 giạ đã là trúng, còn thất bát xác xơ 5-7 giạ hổng hiếm.

"Vậy đó nên đời tụi tui hồi xửa xưa được mùa thì bưng chén cơm đầy, thất vụ thì lót bụng chén cơm hụt, thậm chí nhiều bữa má phải cắp rá đi mượn gạo hàng xóm cũng có gì lạ đâu" - ông Nguyễn Văn Năm (74 tuổi), biệt danh Năm Lửa, ngồi bên góp chuyện ngày tháng cũ.

Trong cảnh đó, dân nghèo kẻ đến, người đi khỏi xứ này là thường tình. Những nấm mả đất thiếu người coi sóc để lâu thành mả lạng (sạt mất nấm đất bên trên) khiến người sau cầm chĩa đi xom con lươn, con lịch, mò hang bắt con cá trê, con rắn, vô tình gặp xương cốt như ông Sơn Nam kể là có thực.

Miệt Thứ giờ có đường xá thuận lợi, nhưng người dân vẫn dùng thủy lộ truyền thống - Ảnh: QUỐC VIỆT

Nhưng chuyện hơi kỳ dị này cũng rất hiếm hoi, đâu phải dễ đụng ở miệt một thời như hoang địa, dân lưa thưa lớt thớt, mồ mả đâu ra mà đầy để dễ mò cá lại trúng xương người.

"Ông già Nam Bộ" Sơn Nam đã "dăn dẻ" phóng thêm chuyện có thực, như tía má ngày xưa kể chuyện ma bên ngọn đèn mù u leo lét để sắp nhỏ sợ mà bớt lêu lổng.

Tuy nhiên, các ông già Tám Thắt, Năm Lửa mấy đời lội sình Miệt Thứ này cũng không quên thêm lời rằng nhà văn Sơn Nam đã viết chính xác sản vật quê hương.

"Xứ này hồi xưa bữa đầy bữa hụt hột cơm, chứ thừa mứa miếng ăn từ chim trời cá nước, rắn rùa luẩn quẩn bu kín gốc cây.

Thủa nhỏ tụi tui thèm thịt heo mà phát ngán miếng ngon nhứt là phần má, phần ruột cá lóc, còn thịt rắn, thịt chim ăn không kịp phải dằm muối xả phơi khô, còn con rùa nhỏ nhứt cũng phải bự hai gang tay mới thèm chụm lửa làm món..." - ông Năm Lửa góp chuyện đến con chó con mèo Miệt Thứ ngày xưa cũng ngán cá mú ê hề chứ nói chi người ta.

Kinh xáng Xẻo Rô xuôi dọc Miệt Thứ - Ảnh: QUỐC VIỆT

Sản vật trời cho và tánh người hào sảng

Thời nay nhắc câu "dưới sông cá lội, trên bờ cọp tha" ở dải đất cuối nước U Minh - Miệt Thứ, người trẻ tròn xoe mắt cự "mấy cha ỷ lớn nói dóc như bác Ba Phi".

Nhưng cỡ tuổi ngoài 70 người ông Tám Thắt, Năm Lửa thì tin sái cổ chuyện này, dù đến đời họ cũng chỉ được nghe lời ông nội bà ngoại hay tía má truyền lại.

Ông Sơn Nam viết hồi ký kể hồi đó bên bờ sông Cái Lớn ở đoạn Tắc Cậu, cửa ngõ vào Miệt Thứ có miễu thờ Cậu (con bà Chúa Xứ). "Phía sau miếu mấy năm trước dân làm rẫy đã săn được con cọp.

Dân cất nhà xúm xít, hàng cây bần cổ thụ gốc to, nghiêng ngửa trên đất bồi, bầy khỉ rừng quy tụ, miệng la chót chét, hái trái bần còn xanh ném xuống mấy chiếc ghe đang đậu lại nấu cơm...".

Thêm lời Sơn Nam, các ông già Miệt Thứ thì kể tía má hay lấy cọp beo, rắn rết ra làm chuyện bên bàn trà, cuộc rượu. Tầm đầu thế kỷ 20, tàu máy người Pháp đã chạy động sông Cái Lớn nhưng đêm đêm cọp rừng vẫn về xóm vồ heo, tha nghé.

Trẻ em chơi diều bên bờ kinh xáng Xẻo Rô ở Miệt Thứ Ba - Ảnh: QUỐC VIỆT

Người Cao Miên (Campuchia) về miệt này lập xóm, làm thuốc bí truyền xua cọp nhưng không ăn thua, phải đợi đến khi trai tráng đặt hầm bẫy mới vắng dần bóng ông ba mươi.

Khoảng đến những năm 1940, chuyện "trên bờ cọp tha" ở U Minh - Miệt Thứ chỉ còn trong lời kể nhưng cảnh "dưới sông cá lội" thì vẫn lềnh khênh như dân địa phương hay nói "gì chứ cá mú xứ tui nhiều binh thiên".

Hồi ký Sơn Nam dành nhiều đoạn kể về con cá xứ này như tía má ông từng lo thằng con không đặng đường ăn học thì chỉ ở rừng tràm lặn ngụp bắt con cá lóc mà kiếm sống, đầu óc luẩn quẩn vượt đâu khỏi kinh rạch...

Đến đoạn gặt lúa ở quê mình, "ông già Nam Bộ" còn tả cảnh chim trời cá nước ê hề. "Chim trời bay lượn đủ loại vì gần biển, dưới chân người gặt thỉnh thoảng gặp rùa, rắn, lươn đang cựa quậy".

Miếu thờ Ông Hổ ở Miệt Thứ, nơi từng một thời "dưới sông cá lội, trên rừng cọp tha" - Ảnh: QUỐC VIỆT

Trong khi Sơn Nam kể cá nhiều chết rục xương dưới gốc cây thì những người già như ông Tám Thắt, Năm Lửa vẫn nhớ sau năm 1975 có chuyện du kích vác súng đi bắn cá dưới kinh.

Ban đêm họ đội đèn bình ắc quy trên đầu, đi soi gặp cá lóc cỡ một, hai ký vẫn không thèm ngó, phải thấy con cỡ năm, bảy ký bự bằng bắp đùi người lớn mới nã một phát đạn chính xác vào đầu. Vậy mà dân nhậu chỉ ăn mỗi bộ lòng, cả con cá bự chà bá thẩy cho vì quá ngán.

Mà kể đâu xa, đầu những năm 1990 Miệt Thứ vẫn lềnh cá. Sáng sáng các chợ Thứ Ba, Thứ Bảy, Thứ Chín Rưỡi, Thứ Mười Một chỉ toàn mùi cá là cá.

Các loại cá đen thì cá lóc, cá trê, cá rô và lươn, rắn dưới kinh rạch, rừng tràm bắt lên, cá biển cũng gần sát đó được ngư dân chở vô. Giá rẻ như cho, người ta không chỉ bán ký mà còn bán mớ, bán thau, gặp ai mặt ưng ưng thì liệng tặng thêm vài con đặng "ăn cho vui".

Dân Miệt Thứ - U Minh bao đời nghèo nhưng tính cách hào sảng một phần cũng từ đời sống chim trời cá nước lềnh khênh này...

Kể chuyện sản vật trời cho ở Miệt Thứ, anh Trang Minh Tú - nguyên Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện An Biên cũ - tâm sự đời mình sinh sau năm 1975 vẫn trải nghiệm cảnh dân nghèo nhưng không thắt ngặt miếng ăn.

"Hồi tui đi học chỉ cần thả đại vài tay lưới bén xuống con kinh trước nhà cũng dư cá ăn. Mùa nắng cá rút xuống ao, xuống đìa đầy nhóc, chỉ có lấy thau mà xúc cho đỡ mệt.

Mấy cái hố bom chiến tranh còn sót lại qua tầm sau Tết là niềm vui cho đám học trò hè nhau đi tát để bắt cá. Dân ăn ngán miệng, đem cá phơi khô, làm mắm rồi cho heo ăn...".

*****************

Từ những năm 2000, Miệt Thứ dần đổi thay với vuông tôm, ruộng lúa và các con lộ ngày càng mở rộng. Ai đó hát câu "bông bần rụng trắng bờ sông, lấy chồng xa xứ khó mong ngày về" là chuyện xửa xưa rồi...

>> Kỳ 3: Cuộc đổi thay chầm chậm trên quê hương Sơn Nam

Quốc Việt / Theo: tuoitre



Friday, June 26, 2026

AI CŨNG CHO MÌNH LÀ THIỆN, VẬY LÀM SAO ĐỂ NHẬN RA CHÂN THIỆN?

Con người thường dễ tự cho mình là người tốt. Đó là phản xạ tự nhiên của bản ngã: muốn được chấp nhận, muốn thấy mình là đúng, là Thiện, là tử tế. Có người lấy sự cẩn thận, chu đáo làm tiêu chuẩn của cái Thiện. Có người lấy lòng vị tha, giúp đỡ người khác làm chuẩn. Cũng có người lấy sự tuân thủ luật pháp, đạo đức xã hội để cho rằng mình Thiện.


Nhưng…”đó là cái Thiện trong nhận thức cá nhân”, nó không phản ánh được bản chất sâu thẳm của nội tâm.

Kẻ vô minh cũng tự thấy mình đúng, thấy mình làm điều tốt. Kẻ chà đạp người khác đôi khi vẫn tự cho rằng “tôi chỉ đang dạy họ nên người”. Người thao túng người khác cũng có thể nghĩ: “tôi đang làm điều cần thiết để bảo vệ lẽ phải”. Ai cũng có một lý do cho nhận thức và hành vi của mình, dù bất kể người ngoài nhìn vào có đúng hay không.

Vậy rốt cuộc cái Chân Thiện ở đâu?

Thiện không nằm ở hành vi, mà nằm ở động cơ và trạng thái nội tâm

Cái Thiện đích thực không thể giả tạo, vì nó là một trạng thái của tâm. Một người có thể tặng tiền, giúp người, nói lời ngọt ngào… nhưng nếu trong lòng còn mong cầu báo đáp, còn cảm giác mình “hơn người”, còn muốn người khác biết ơn, thì đó vẫn chưa phải là Thiện.

Cái Thiện thật sự đến từ nội tâm thanh thản, không phân biệt, không tranh giành, không phán xét. Và theo nhận thức hạn hẹp của tôi, người Chân Thiện sẽ có một số biểu hiện dưới đây:

Ảnh Pinterest

1. Trạng thái an nhiên trước “thuận nghịch”

Một người thật sự sống thiện sẽ không vì sự việc tốt đẹp mà quá vui mừng, cũng không vì nghịch cảnh mà khổ đau, oán thán người khác. Vì họ đã nhìn thấy sự vô thường của cuộc đời, và chấp nhận mọi thứ như một phần cần có trong hành trình trưởng thành của đời họ.

Khi tâm đủ Thiện, mọi biến cố bên ngoài trở thành cơ hội nội soi. Dù bị hiểu lầm, họ không vội biện minh. Dù bị thiệt thòi, họ vẫn giữ được lòng trong sáng.

2. Cái nhìn thiện lương với người và đời

Người thiện thật sự không dễ dàng đánh giá người khác. Họ có thể nhìn thấy lỗi sai, nhưng trước tiên, họ nhìn thấy hoàn cảnh, nỗi khổ, và sự vô minh của người kia. Cái nhìn đó khiến họ không kết luận vội, không phán xét, mà âm thầm cầu mong người kia thức tỉnh và chuyển hóa. Họ sẽ không bị dẫn động bởi cái sai của người khác.

Thậm chí, người thiện thật sự còn tự hỏi bản thân trước khi nhìn lỗi người khác: “Liệu mình có từng vô minh giống họ không?”, “Liệu mình có từng phạm sai lầm như vậy không?”. Và từ đó, tâm sinh ra khiêm cung, không ngạo mạn.

3. Không cần đúng, cũng không cần thắng

Người Chân Thiện không cần đúng trong mọi cuộc tranh luận, và cũng không cần phải hơn ai trong mọi tình huống. Dù bị hiểu lầm, họ vẫn giữ lòng tin vào Thiện niệm. Dù bị tổn thương, họ vẫn không nói lời cay nghiệt.

Vì họ hiểu rằng: cái đúng bên ngoài không quý bằng cái tĩnh lặng bên trong. Nếu phải chọn giữa thắng người khác và giữ được tâm lành, họ chọn giữ được tâm lành.

4. Biết so mình với bậc Thánh Nhân, không so với người khác

Một người sống Thiện không so mình với hàng xóm, với đồng nghiệp, hay người xung quanh. Họ không cần phải hơn ai cả. Nhưng họ thường so nội tâm mình với những bậc Thánh nhân, như Khổng Tử, Thích Ca, Lão Tử, Đức Chúa Vv… hay những bậc chân tu âm thầm ẩn dật trong nhân gian.

Và mỗi lần soi chiếu như thế, họ thấy mình còn rất nhỏ, còn nhiều sân si, còn đầy vọng niệm. Chính sự nhận ra khoảng cách ấy khiến họ khiêm cung, thuần hậu, và không bao giờ dám tự nhận mình là Thiện tuyệt đối.

Vậy, làm sao biết mình có Thiện hay không?

Có thể, bạn sẽ không thể “biết” bằng lý trí. Nhưng bạn có thể cảm nhận được khi bạn tĩnh tâm, qua cách bạn phản ứng với người khác, qua những lúc bạn chịu oan ức mà vẫn giữ được lòng sáng.

Ảnh Pinterest

Bạn sẽ biết mình đang hướng về Thiện khi:
  • Bạn không còn thích chứng minh bản thân đúng.

  • Bạn không còn cảm thấy sung sướng khi người khác sai.

  • Bạn thấy bình thường khi bị chỉ trích và còn cảm ơn nếu lời ấy giúp mình tốt lên.

  • Bạn sẵn lòng chịu phần thiệt mà không đòi hỏi đền bù.

  • Bạn có thể nghĩ tốt cho một người vừa khiến bạn tổn thương.

Thiện không phải là một chiếc áo đẹp mặc vào để được khen. Thiện cũng không phải là một tiêu chuẩn để áp đặt bản thân lên người khác. “Tôi Thiện hơn bạn nên tôi tốt hơn bạn”, hoàn toàn không điều đó, đó chỉ là Ngụy Thiện.

Thiện là một hành trình chậm rãi, kiên trì, và đầy tỉnh thức

Người thật sự Thiện sẽ không cần nói: “Tôi là người tốt”. Bởi ánh mắt, khí chất và sự hiện diện của họ đã là câu trả lời. Nhẹ nhàng, âm thầm, như mùi hương lan ra từ một đóa hoa.

Trước nhất là không thẹn với Trời Đất, sau nữa không thẹn với người khác, cuối đến mới là không thẹn với chính mình.

Nguyên Tác An Hậu
Theo: vandieuhay

TÂY HỒ VÃN QUY HỒI VỌNG CÔ SƠN TỰ TẶNG CHƯ KHÁCH - BẠCH CƯ DỊ


Tây hồ vãn quy hồi vọng 
cô sơn tự tặng chư khách

Liễu hồ, Tùng đảo, Liên Hoa tự,
Vãn động quy kiêu xuất đạo trường.
Lô quất tử đê sơn vũ trọng,
Bính lư diệp chiến thuỷ phong lương.
Yên ba đạm đãng dao không bích,
Lâu điện sâm si ỷ tịch dương.
Đáo ngạn thỉnh quân hồi thủ vọng:
Bồng Lai cung tại thuỷ trung ương.


西湖晚歸回望
孤山寺贈諸客

柳湖松島蓮花寺
晚動歸橈出道場
盧橘子低山雨重
拼櫚葉戰水風涼
煙波淡蕩搖空碧
樓殿參差倚夕陽
到岸請君回首望
蓬萊宮在水中央


Chiều từ Tây Hồ về ngắm chùa 
trên núi cô, làm tặng chư khách
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Liên hoa, Hồ Liễu. Đảo Tùng. 
Đạo tràng rời bến, ung dung một chiều. 
Mưa rừng cành quất liêu xiêu. 
Gió sông mát lạnh, tiêu điều tàn cây. 
Yên ba khói sóng tầng mây. 
Bóng chiều cung điện, còn bầy sân si. 
Xin người ngoành lại chớ đi. 
Bồng lai một chốn, người đi không về.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, 15 bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.

Nguồn: Thi Viện