Wednesday, August 19, 2026

TÂN MÙI THẤT TỊCH - LÝ THƯƠNG ẨN


Tân Mùi thất tịch

Khủng thị tiên gia hiếu biệt ly,
Cố giao thiều đệ tác giai kỳ.
Do lai bích lạc Ngân Hà bạn,
Khả yếu kim phong ngọc lộ thì.
Thanh lậu tiệm di tương vọng cửu,
Vi vân vị tiếp quá lai trì.
Khởi năng vô ý thù ô thước,
Duy dữ tri thù khất xảo ty.


辛未七夕 - 李商隱

恐是仙家好別離
故教迢遞作佳期
由來碧落銀河畔
可要金風玉露時
清漏漸移相望久
微雲未接過來遲
豈能無意酬烏鵲
惟與蜘蛛乞巧絲


Ngày thất tịch năm Tân Mùi
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Non tiên bày cảnh chia ly.
Xa xăm cách trở, mấy khi xum vầy.
Ngân Hà tít tắp tầng mây.
Sương thu móc ngọc, chốn đây đợi chờ.
Giọt đồng canh điểm bơ vơ.
Ánh mây chưa nối, đôi bờ còn xa.
Bắc cầu ô thước mà qua.
Đừng dăng tơ nhện, khéo mà làm chi ?.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Thương Ẩn 李商隱 (813-858) tự Nghĩa Sơn 義山, hiệu Ngọc khê sinh 玉谿生, người Hà Nội, Hoài Châu (nay là Tầm Dương, phủ Hoài Khánh, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ sa sút. Thuở thiếu thời giỏi văn thơ, được giao du với các con của tể tướng Lệnh Hồ Sở 令狐楚, trong đó có Lệnh Hồ Đào 令狐綯. Bấy giờ trong triều có hai phe đối nghịch nhau, tranh quyền đoạt lợi, một phe là Ngưu Tăng Nhụ 牛僧孺, phe kia là Lý Đức Dụ 李德裕, hầu hết quan lại đều bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp ấy. Sở theo phe Ngưu. Năm Lý Thương Ẩn mười bảy tuổi (829), Sở tiến cử làm tuần quan mạc phủ. Năm hai mươi lăm tuổi (837), ông lại được Lệnh Hồ Đào khen ngợi, nâng đỡ nên đỗ tiến sĩ năm Khai Thành thứ 2. Năm sau ông được Vương Mậu Nguyên 王茂元, tiết độ sứ Hà Dương mến tài, dùng làm thư ký và gả con gái cho. Chẳng may, Vương thuộc phe Lý Đức Dụ khiến ông trở thành kẻ vong ân bội nghĩa, xảo quyệt vô hạnh trong mắt Lệnh Hồ Đào. Vương Mậu Nguyên chết, rồi Lý Đức Dụ thất thế, ông đến kinh sư nhưng không được làm gì cả. Sau nhờ Trịnh Á vận động, ông được làm chức quan sát phán quan. Trịnh Á bị biếm ra Lĩnh Biểu, ông cũng đi theo. Ba năm sau ông lại trở về, làm huyện tào tại Kinh Triệu. Ông nhiều lần đưa thư, dâng thơ cho Lệnh Hồ Đào để phân trần và xin tiến dẫn, nhưng vẫn bị lạnh nhạt. Tiết độ sứ Đông Thục là Liễu Trọng Hĩnh dùng ông làm tiết độ phán quan, kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Liễu bị bãi quan, ông cũng mất chức. Như thế là ông mắc kẹt giữa hai phái, chưa hề được đắc chí trên hoạn lộ, cứ bôn tẩu khắp nơi: Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Từ Châu nương nhờ hết người này đến người khác, long đong khốn khổ. Cuối cùng ông về đất Oanh Dương thuộc Trịnh Châu rồi bệnh chết năm 46 tuổi.

Nguồn: Thi Viện



QUAN NIỆM "CÔ HỒN" BẮT NGUỒN TỪ ĐÂU

Tháng 7 âm lịch từ lâu đã gắn liền với tên gọi "Tháng Cô hồn" cùng vô số kiêng kỵ dân gian khiến không ít người e sợ. Tuy nhiên, dưới góc nhìn tôn giáo và tín ngưỡng, đây không phải thời điểm của những điềm xấu hay sự quấy phá âm linh, mà là mùa của lòng từ bi, sự xá tội và đạo hiếu hy sinh cao đẹp.

Tam Quan Đại Đế, là những vị tối cao ngự trị cõi càn khôn trong thần phả Đạo giáo, bao gồm Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan.

Cứ mỗi độ đến tháng 7 âm lịch, không khí linh thiêng của "Tháng Cô hồn" lại trùm lên đời sống tâm linh của người Việt. Cùng một khoảng thời gian, người Việt vừa tất bật chuẩn bị mâm cúng chúng sinh, vừa thành kính lên chùa dự đại lễ Vu Lan báo hiếu. Sự đan xen giữa quan niệm dân gian về "Tháng Cô hồn" và nghi lễ Phật giáo không phải là điều ngẫu nhiên, mà là kết quả của một quá trình giao thoa lịch sử, tôn giáo sâu sắc qua hàng ngàn năm.

Nguồn gốc "Tháng Cô hồn"

Để hiểu vì sao tháng 7 âm lịch lại mang danh "Tháng Cô hồn", cần ngược dòng lịch sử về thời kỳ trước khi Phật giáo du nhập sâu rộng vào Trung Quốc. Thời bấy giờ, tư tưởng Đạo giáo tu tiên giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tâm linh, lấy các vị thánh tiên cai quản Trời - Đất - Chúng sinh làm gốc rễ, đứng đầu là Ngọc Hoàng Thượng Đế.

Theo quan niệm Đạo giáo, vũ trụ được cai quản bởi Tam Quan Đại Đế, tương ứng với 3 ngày lễ lớn trong năm:

Tết Thượng Nguyên (15/1 âm lịch): Ngày sinh của Thiên Quan Tứ Phúc Đại Đế. Dân gian lập bàn thờ khấn vọng ngài để cầu mong một năm bình an, đón nhận phúc lộc.

Tết Trung Nguyên (15/7 âm lịch): Ngày sinh của Địa Quan Xá Tội Đại Đế. Đây là thời điểm ngài mở lòng từ bi xét giảm tội nghiệt cho các phần âm linh dưới địa ngục.

Tết Hạ Nguyên (15/10 âm lịch): Ngày sinh của Thủy Quan Giải Nguy Đại Đế, vị thần giải trừ tai ách, nguy hại cho chúng sinh.

Tương truyền, trong tháng 7 âm lịch, Diêm Vương ban lệnh mở Quỷ Môn Quan để các cô hồn, ma quỷ chịu tội được thoát khỏi cảnh giam cầm, quay về trần thế. Các âm linh này phải trở về trước giờ Tý (12 - 1 giờ đêm) của ngày rằm tháng 7. Xuất phát từ thực tế đó, dân gian sắm sửa lễ vật cúng chúng sinh vào ngày 14/7 để bố thí cho những vong linh đói khát.

Hành động "thí thực" này ban đầu xuất phát từ lòng thương hại và mong cầu bình an cho gia đạo, dần trở thành một tập tục quen thuộc. Tại Việt Nam, tư tưởng Tam quan Đại Đế của Đạo giáo cũng tìm thấy sự tương đồng với tín ngưỡng thờ Tứ phủ (Thiên - Địa - Thủy - Nhạc) và Đức Vua Cha, tạo nên một lớp văn hóa tâm linh đồng điệu.

Nhiều người thường lo sợ rằng Quỷ Môn Quan mở ra đồng nghĩa với việc vô số ma quỷ tràn lên quấy phá trần gian. Tuy nhiên, cõi âm hay cõi dương đều có phẩm trật, quy tắc quản lý chặt chẽ từ trung ương đến địa phương dưới sự cai quản của thánh thần. Việc các âm linh được xá tội trở về trong các ngày 13, 14 và 15 tháng 7 hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của chư vị cõi âm. Quan niệm ma quỷ tự do phá phách trần thế là một sự hiểu lầm của dân gian.

Sự dung hòa với Phật giáo

Dưới thời Lương Vũ Đế (502 – 549) – vị "Hoàng đế Hòa thượng" nổi tiếng 4 lần xả thân làm hòa thượng tại chùa Đồng Thái, Phật giáo và Đạo giáo tại Trung Quốc đã có sự giao thoa, dung hòa mạnh mẽ. Tết Trung Nguyên của Đạo giáo và ngày lễ Vu Lan của Phật giáo từ đó gắn liền làm một.

Ngày rằm tháng 7 trong Phật giáo ghi dấu triết lý nhân văn sâu sắc qua kinh điển Vu Lan Bồn, gắn liền với câu chuyện của vị Đại Tôn giả Mục Kiền Liên – vị đại đệ tử thần thông bậc nhất của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Sau khi đắc quả A La Hán, nhờ dùng thiên nhãn, Tôn giả Mục Kiền Liên đau đớn thấy mẹ mình là bà Thanh Đề vì gieo nhiều ác nghiệp khi còn sống nên bị đọa vào kiếp quỷ đói dưới địa ngục. Thân hình bà chỉ còn da bọc xương, bụng to như núi nhưng cổ họng nhỏ như xâu kim, không thể ăn uống. Thương mẹ, Tôn giả dâng bát cơm đầy xuống âm phủ, nhưng thức ăn vừa đưa đến miệng mẹ liền hóa thành tro bụi.

Bất lực, Tôn giả về bái kiến Đức Phật. Đức Phật dạy rằng: "Cha mẹ ngươi tội lỗi quá sâu nặng, một mình ngươi không đủ sức cứu độ, mà phải nhờ đến uy lực của tăng chúng mười phương".

Đức Phật chỉ dạy, từ rằm tháng 4 đến rằm tháng 7 là thời gian chư tăng an cư lập hạ, tinh tiến tu hành. Ngày rằm tháng 7 là ngày chư Phật hoan hỷ vì có nhiều vị tu hành đắc quả. Vào ngày này, nếu làm lễ cúng dường cơm chay lên chư tăng mười phương, nhờ lực đại từ đại bi và công đức tu hành của chư tăng hợp lại thì mới có thể giải thoát cho cha mẹ khỏi cảnh khổ quỷ đói, thậm chí khiến cửu huyền thất tổ được hưởng phúc trên chư thiên.

Mục Kiền Liên Tôn giả làm theo lời Phật dạy và quả nhiên cứu được mẹ siêu thoát. Từ đó, ngày rằm tháng 7 trở thành ngày lễ Vu Lan báo hiếu, thời điểm để người làm con hướng về tổ tiên, cha mẹ bằng tất cả sự kính ngưỡng và lòng biết ơn.

Ban thờ Tam quan đại đế tại chùa Linh Tiên Quán xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Đây là ngôi chùa mang phong cách đạo giáo ở miền Bắc. Ảnh Diệu Hỷ - Tạp chí Nghiên cứu Phật học

Như vậy, từ nét nghĩa Đạo giáo về sự xá tội của Địa Quan Đại Đế cho đến triết lý hiếu đạo và công đức cúng dường của Phật giáo, tháng 7 âm lịch hoàn toàn không phải là khoảng thời gian "xui xẻo" như những thói quen mê tín dị đoan thổi phồng.

Ngược lại, đây là khoảng thời gian đặc biệt để con người thực hành những điều thiện lành. Người xưa từng dạy: Người sống ngay thẳng, tâm không tà, biết kính trên nhường dưới và siêng năng làm điều thiện thì tự thân đã tỏa ra năng lượng an lành, tích tụ phúc đức lớn lao.

Thay vì sống trong nỗi sợ hãi mơ hồ về những điều vô hình hay bị bủa vây bởi những kiêng kỵ vô căn cứ, điều quan trọng nhất cần giữ trong tháng 7 âm lịch chính là một chính niệm sáng suốt, một thiện tâm trong sáng và một ứng xử hòa ái. Khi tâm ta hướng về cái thiện, lòng biết ơn và sự sẻ chia, thì bất kỳ thời khắc nào trong năm cũng đều là khoảng thời gian gieo mầm may mắn và bình an.

Phạm Tuấn / Theo: Dân Việt

Tuesday, August 18, 2026

TẠI SAO VUA BẢO ĐẠI LIÊN TỤC PHẢN BỘI NAM PHƯƠNG HOÀNG HẬU?

Nam Phương hoàng hậu không phải không biết những mối quan hệ ngoài luồng của Bảo Đại và bà không dễ chấp nhận ngay điều này.

Cung An Định khoảng những năm 20 thế kỷ trước. Ảnh tư liệu.

Tại sao Vua Bảo Đại liên tục phản bội Nam Phương hoàng hậu?

Nằm ở phía nam kinh thành Huế, bên bờ sông An Cựu, cung An Định nguyên là tiềm để (nhà ở của hoàng tử trước khi lên ngôi) của Phụng Hóa công Nguyễn Phúc Bửu Đảo (vua Khải Định). Tại đây, mùa thu, năm Quý Sửu (1913) hoàng tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại) chào đời.

Nơi khởi phát những điềm lành

Sau khi lên ngôi, năm 1917 vua Khải Định đã dùng tiền riêng để xây dựng lại nơi này theo lối kiến trúc hiện đại. Vì nghĩ rằng đây là đất phát nên vua đã cho xây Lầu Khải Tường (khởi phát điềm lành). Sau khi công trình này hoàn thành, vua đã ban cho hoàng tử Vĩnh Thụy.

Sách Khải định chính yếu cho biết: Năm Khải Định thứ 4 [1919] chuẩn đem Lầu Khải tường ban cho Trưởng hoàng tử. Vua phê rằng: “Hồi Trung hưng, trẫm làm hoàng tử ở mãi tại một biệt điện. Đến năm Nhâm Dần chiếu theo phủ lệ mới có cơ ngơi này. Mùa hạ năm Bính Thìn đăng quang, tới năm Đinh Tỵ nhận tiền Thượng lộc mới nhân nền đó thuê thợ cho xây dựng, sang mùa đông năm Mậu Ngọ thì hoàn thành, vì nghĩ nơi đó là nơi đất phát mới đặt là lầu Khải Tường [...]. Nay ban lầu ấy cho Hoàng tử trưởng Vĩnh Thụy làm tài sản riêng vĩnh viễn để tỏ lòng ưu ái […]”.

Chân dung Nam Phương hoàng hậu. Ảnh tư liệu

Năm Khải Định thứ 5 [1920]. Mùa hạ, tháng 4, vua chế lời Dẫn cung An Định: “Cung An Định vốn là tiềm để của trẫm hồi mới chưa lên ngôi. Khi trẫm còn là phiên thần tự đặt cho tên là Dinh An Định. Chính tại đây vào mùa thu năm Quý Sửu Hoàng tử trưởng ra đời. Mùa hạ năm Bính Thìn đăng quang, vì nghĩ đấy là nơi đất phát nên xuất tiền lộc xây dựng ra thành lầu, mùa xuân năm Mậu Ngọ thì hoàn thành, đổi lại thành cung, vẫn lấy tên cũ gọi là An Định, còn lầu trên đặt là Khải tường. Mọi thứ vàng bạc châu báu cùng các đồ đạc trong lầu đều mua hoặc chế tạo bằng tiền lộc riêng của trẫm. Ở các nơi khác đều như thế cả, là bởi trẫm chuẩn bị sẵn cho Hoàng tử trưởng sau này […]. Việc trời khó lường nên con người phải phòng bị, âu cũng là nghĩ mai sau Hoàng trưởng tử không được như trẫm bây giờ, nên mới phải lo trước như thế […]”.

Vì được coi là nơi khởi phát những điều lành, nên sau khi được tấn phong (1922), cung An Định trở thành tiềm để của Đông cung thái tử Vĩnh Thụy. Khi vua Vĩnh Thụy nối ngôi, nơi đây còn là địa điểm tổ chức những sự kiện, buổi lễ quan trọng của của hoàng gia, có thể kể đến lễ Thiên xuân của Đông cung Thái tử Bảo Long. Châu bản triều Nguyễn ngày 13 tháng 11 năm Bảo Đại 18 (1943) cho biết ngày lễ Thiên xuân của Đông cung Thái tử Bảo Long cũng từng tổ chức tại đây. Bản tấu của Bộ Lễ nghi Công tác, phần cuối viết: “Thần bộ phụng chiếu năm ngoái lễ ấy phụng chuẩn làm tại cung An Định, năm nay nên làm tại Nội hay tại cung An Định”…

Nơi khởi phát buồn đau, chia ly

Được xem là nơi khởi phát những điềm lành, nhưng từ khi Bảo Đại thoái vị, Nam Phương cùng các con và Đức Từ Cung dọn về đây sinh sống, cung An Định lại mang một ý nghĩa hoàn toàn khác, đó là nơi khởi phát (bắt đầu) những ngày tháng buồn đau, chia ly, hoặc là nơi “an bài” theo “định mệnh” của hoàng hậu cuối cùng của triều Nguyễn.

Trong sách Nam Phương hoàng hậu cuối cùng của vương quốc An Nam, tác giả Lý Nhân Phan Thứ Lang cho biết, cung An Định nằm bên bờ sông An Cựu - một nhánh của sông Hương với một màu nước có “một chút gì trúc trắc”, tựa như mối tình chợt đổi màu theo nắng mưa mà ca dao ghi lại:

Núi Ngự Bình trước tròn sau méo
Sông An Cựu nắng đục mưa trong
Vì thầy mẹ bên anh lắng đục tìm trong
Nên duyên nợ chàng thiếp cứ long đong rứa hoài…

Được xây dựng bên một dòng sông như thế, nên cung An Định dường như cũng “đẫm buồn” theo và là nơi hoàng hậu Nam Phương đã nhiều lần rơi nước mắt.

Bảo Đại nổi tiếng là người đào hoa. Ảnh tư liệu.

Những giọt lệ đầu tiên của Nam Phương được ông Phạm Khắc Hòe (nguyên tổng lý văn phòng của hoàng đế) chứng kiến trong ngày cựu hoàng Bảo Đại chia tay gia đình ra Hà Nội làm cố vấn theo lời mời của Chính phủ. Vào 6 giờ sáng 2/9, ông Phạm Khắc Hòe cùng Bộ trưởng Lê Văn Hiến đến cung An Định. Xe của hai ông đã vào đậu ngay trước phòng khách mà trong cung vẫn tối mò mò, im phăng phắc - chỉ nghe có tiếng gõ mõ niệm Phật từ trên lầu vọng xuống.

Một lúc sau, Nam Phương trong sắc phục màu xanh da trời, từ trong nhà đi ra cùng con trai là Bảo Long và ba con gái là Phương Mai, Phương Liên, Phương Dung. Cựu hoàng Bảo Đại “tới hôn vợ, hôn các con với những lời âu yếm bằng tiếng Pháp, đây là lần đầu tiên trong đời mình, ông Vĩnh Thụy đi xa mà không ai tiễn đưa ngoài vợ con”.

Nam Phương với sắc mặt buồn “đưa tay trái lên cổ sửa lại sợi dây vàng đeo thánh giá lấp trong áo, tay phải cầm mùi xoa lau nước mắt” trong tiếng mõ tụng kinh của bà Từ Cung (mẹ Bảo Đại) từ “trên lầu vọng xuống đều đều buồn bã”. Cựu hoàng “khóe mắt hơi ướt, nhưng miệng vẫn mỉm cười, bế Phương Dung lên hôn một lần nữa, rồi bỗng nói to: Thôi đi”. Bà Nam Phương mở to mắt “nhìn theo như muốn níu ông chồng lại, nhưng ông này không quay lại”…

Ngay sau khi ra Hà Nội, Bảo Đại liên tiếp có các mối quan hệ tình ái ngoài luồng. Ông quan hệ kiểu già nhân ngãi non vợ chồng với Mộng Điệp. Bất chấp mọi dị nghị, ông công khai quan hệ với vũ nữ Lý Lệ Hà...

Nam Phương bắt đầu sống những ngày tháng buồn đau, chia ly tại cung An Định cùng với Đức Từ Cung (trước đây mỗi người một cung riêng). Quan hệ giữa hai người vốn không êm thấm gì, không chỉ là giữa mẹ chồng và nàng dâu, mà do hoàn cảnh tính cách hoàn toàn khác hẳn nhau. Bà Từ Cung xuất thân trong một gia đình nghèo khó, đến mức phải bán con làm hầu gái cho một bà chúa, sau đó được lấy sang hầu hạ bên dinh ông Bửu Đảo, rồi vì may mắn có thai với ông chủ mà thành mẹ vua. Trong khi đó, Nam Phương lại sinh ra trong một gia đình nhung lụa, được học hành đến nơi đến chốn, ngay ngày cưới đã được tấn phong là hoàng hậu…

Nam Phương hoàng hậu cùng các con ở Huế. Ảnh tư liệu.

Nam Phương không phải không biết những mối quan hệ ngoài luồng của Bảo Đại và bà không dễ chấp nhận ngay điều này. Trong lần ông Nguyễn Khắc Hòe nhận lời đem thư của Bảo Đại về Cung An Định, bà đã gặng hỏi ông rất nhiều về mối quan hệ giữa Bảo Đại và Lý Lệ Hà, với vẻ mặt đượm buồn và những giọt nước mắt.

Nhưng Nam Phương quá nề nếp và kiêu hãnh (lá thư gửi Lý Lệ Hà phần nào nói nên điều đó), nên bà đã không cố gắng giành giật lại chồng bằng những chiêu thức mà bà không cho là xứng đáng với mình. Chính vì thế tình cảm vợ chồng giữa bà và Bảo Đại ngày càng một xa cách và không thể vãn hồi được.

Hơi nặng tai, Nam Phương sống âm thầm trong cung An Định và gồng mình để nuôi dạy, giữ gìn con cái. Năm 1947, bà đưa các con sang Pháp định cư và sống những tháng còn lại trên đất khách.

H. Lê / Theo: Thời Trang Vàng

CÓ NHỮNG LÚC CẢM THẤY THÙ GHÉT CUỘC ĐỜI

Tất cả những gì chung quanh trên cuộc đời này như chẳng còn ý nghĩa gì nữa! Có những lúc bạn cảm thấy thù ghét cuộc đời, muốn buông xuôi tất cả. Dù có muốn thừa nhận hay không thì cuộc đời cũng đầy rẫy chuyện khó khăn, đau khổ, mệt mỏi, chán chường và thất vọng… Vậy chúng ta làm sao để thật sự sống cuộc sống có ý nghĩa, vượt qua những trở ngại để không còn cảm thấy thù ghét cuộc đời?


Đừng bao giờ than vãn trước một việc đã rồi, hãy nhìn thẳng vào vấn đề và tự hỏi mình có thể làm được gì. Hãy tin vào các giá trị tinh thần, tin vào chính mình. Với sự tin tưởng đó, chúng ta có thể bỏ qua quá khứ và dũng cảm đón nhận những thử thách của cuộc đời để tiến về phía trước. Tinh thần tin tưởng vào tương lai tốt đẹp sẽ luôn cho phép ta chiến thắng. Mỗi bước đi của niềm tin và hy vọng sẽ mở ra một chương mới trong cuộc đời chúng ta.


Chúng ta thường bị tác động bởi lời nói và ý kiến của người khác. Vì vậy, để sự bình yên trở về với tâm trí, chúng ta cần cuộc hành trình hướng nội. Cuộc hành trình này giúp chúng ta lấy lại sự quân bình và không lãng phí sức lực. “Đừng mong đợi thế giới sáng sủa hơn nếu bạn không tháo bỏ đôi kính đen” (S.Enliot). Nếu không, sự quá khích của tâm trí sẽ tạo nên sự rối loạn về tình cảm, thần kinh và thể chất. Sự rối loạn này dẫn đến mệt mỏi, căng thẳng, cảm giác bất ổn, sợ hãi và cảm thấy thù ghét mọi sự trên đời.


Dù người ta có nói với bạn điều gì đi nữa, hãy tin rằng cuộc sống là điều kỳ diệu và đẹp đẽ. Cuộc sống cũng giống một con đường, khi bạn đang bước trên những khổ đau thì đó chính là lúc bạn buộc phải "vượt dốc" trong hành trình của đời mình. Nhưng cuộc sống không luôn dành cho ta những nỗi buồn mà còn đó là những niềm vui. Tất cả chỉ là ở nhận thức của bạn, khi bạn biết điều gì tức là bạn cảm nhận được nó. Có thể không phải lúc nào bạn cũng giải thích hoặc truyền đạt được điều bạn nhận biết, nhưng nó có bên trong con người bạn: sự khôn ngoan, lương tri, tâm trí… sẽ cung cấp cho bạn giải pháp hoặc hướng dẫn bạn, nếu bạn chịu nghe theo.


Khi bạn chấp nhận thực tế rằng: cuộc sống vẫn diễn ra bình thường, là một chuỗi những sự việc không phải lúc nào cũng hoàn hảo và êm đẹp như mình muốn, thì bạn sẽ tự giải phóng mình khỏi rất nhiều chuyện bực bội, căng thẳng, u sầu.

Bạn nghĩ xem, tâm trạng ảnh hưởng rất mạnh đến ta như thế nào. Khi phấn khởi, bạn cảm thấy an tâm hưởng thụ cuộc đời. Dù gặp rắc rối nhưng đang lúc có tâm trạng tốt thì bạn vẫn cảm thấy khá tự tin là mình có thể giải quyết được. Vậy mà, khi bị xuống tinh thần bạn có nghĩ như vậy được đâu! Bạn cảm thấy bất mãn, giận dữ, thù ghét…, cuộc đời dường như hết chịu nổi, ngay cả bản thân mình bạn còn không yêu thích được thì còn nói chi đến ai khác.


Nhưng, “Hãy quên đi những giờ phút thiếu thốn, chỉ đừng quên những gì mà thời khắc đó đã dạy cho bạn” (A.Ricardo). Bởi vì, không ai được miễn nhiễm khỏi xã hội loài người. Vì cùng với những món quà hạnh phúc của cuộc sống luôn có những phiền muộn, rắc rối và đau khổ đi cùng. Không ai thoát khỏi những điều hoàn toàn không thể tránh được đó, không hề có ngoại lệ.


Vì thế, khi xuống tinh thần, khi cảm thấy chán ghét, bạn hãy kiên nhẫn đừng cố phản ứng hộc tốc ngay. Thường là sau đó tâm trạng của bạn sẽ bắt đầu thay đổi, trở về với bản tính thật của bạn. Luyện tính kiên nhẫn hơi mất công nhưng nó rất hữu hiệu, bạn sẽ hưởng thụ cuộc sống nhiều hơn khi bạn hướng sự chú ý của mình vào phần lớn những điều tốt đẹp của cuộc đời thay vì cứ bận lòng với những chuyện bực bội, phiền phức mà bạn cho là chán ghét đó.

(Sưu tầm trên mạng)

TÔI CƯỚI VỢ

Hồi học lớp đệ tứ (lớp 9 bây giờ), tôi có đọc đâu đó truyện ngắn tựa là "Lấy vợ miền quê", của tác giả nào tôi quên. Tôi rất khoái truyện ngắn nầy và định bụng lớn lên mình cũng “lấy vợ miền quê” như tác giả kia.


Nói thì hơi xấu hổ, vừa đậu Tú Tài phần hai, lúc đó tôi mới 18 tuổi tây, tức 19 tuổi ta, mà tôi đã... "muốn vợ"! Con trai mà “muốn" chuyện gì thì thường vòi vĩnh với mẹ, như chiếc xe đạp, đồng hồ, quần áo mới, kể cả chiếc solex cáu cạnh tôi đang chạy, mà chỉ hàng “thiếu gia”... ở tỉnh như tôi mới có.

Những thứ đó tôi đều manh dạn nói với mẹ, và lần nào cũng vậy, mẹ tôi không cần suy nghĩ mà “ô kê” liền. Còn cái vụ "muốn vợ" nầy, tôi có miệng mà chẳng thốt nên lời! Tôi định bụng lúc nào mẹ vui và khi chỉ có hai mẹ con ở nhà thì tôi "tâm sự" liền. Mẹ lúc nào lại không vui!
Vả lại tôi là con một trong gia dình, chỉ cần ba tôi đi uống cà phê hay đi đâu đó thì có biết bao nhiêu dịp… may!

Thế mà khi thấy mẹ ngồi, tôi vừa xề lại thì bao dũng khí đã tiêu tan!

Bao lần như vậy, dường như bà để ý, giọng ngọt ngào cố hữu:

- Gì đó con trai cưng? Muốn gì nữa phải không?

Lúc đó tôi chỉ cần một “gờ-ram” dũng khí, thêm một tiếng "vợ" sau tiếng "muốn" của me tôi thì đòn cân cục diện đâu lại vào đấy rồi.

Đàng nầy tôi lại nhút nhát, rụt rè! – Điều nầy, vốn không phải là bản tính của tôi:

- Dạ... có "muốn" gì đâu mẹ!

Trả lời xong tôi thấy ấm ức, giận mình sao quá yếu gan! Thì may thay, vợ chồng anh hai Trân tới chơi. Anh với tôi là chú bác ruột tôi. Hai Trân là con trai trưởng của bác hai, còn cha tôi đến thứ chín, nên ảnh nhỏ hơn cha tôi chẳng bao nhiêu. Anh rất vui tính, cởi mở, lẹ làng, sốt sắng. Cái gì cũng chịu hoạch toẹt, không chịu úp úp mở mở, nên có khi hơi lố lố. Vậy mà tôi lại quý mến anh ở điểm nầy nhất, mới lạ!

Chưa chào hỏi mẹ tôi, anh nhìn tôi bôm bốp:

- Đậu (Tú Tài ) rồi hả mậy? Là người lớn rồi, cưới vợ được rồi đó nghen!

Thuở đó đậu Tú Tài cũng oai lắm, kiếm việc làm dễ như chơi. Trong thân tộc có người đậu tú tài là niềm hãnh diện chung. Nghe anh nói, tôi khoái chí tử, nhưng cũng làm bộ:

- Mới bây lớn mà có vợ gì anh ơi!

- Sao lại “bây lớn"? Hồi tao cỡ mầy là con cu biết gáy rồi. Mầy hỏi chú chín....

Chị hai thúc mạnh vào hông chồng:

- Nói bậy không hà! Thím chín kìa!.. Chú nó còn nhỏ...

- Nhỏ nhỏ cái gì? Cỡ tuổi nó tôi có con rồi!

Tôi mỉm cười, thấy thích anh lạ! Anh hai quay sang mẹ tôi:

- Thím chín! Em lớn rồi nghen thím. “Nam đại bất hôn như liệt mã vô cương” đó thím. Em nó đẹp trai, học giỏi, nhà giàu, mà thím không chịu cưới vợ cho nó là có ngày có người bồng cháu nội về cho thím nuôi đó!

Chị hai nạt:

- Nói bậy không hà! Cái tật không bỏ!

Anh hai nói chuyện thường chêm vào mấy câu chữ nho, những lần đó tôi cũng bực mình, vì có câu tôi cũng không hiểu nghĩa rõ ràng.

Câu anh vừa nói tôi hiểu, xem ra nó cũng hay đó chứ! Còn chị hai, là người phụ nữ nết na, đẹp lại hiền, hay kìm chế chồng những khi anh quá trớn. Đặc biệt lần nầy tôi lại thấy chị hơi… quá trớn! 

Mẹ mỉm cười:

- Biết nó chịu không mà cưới?

Tim tôi đập thình thịch. Không ngờ diễn tiến lại thuận lợi như vậy. Mẹ nói thế tức là nếu tôi "chịu" thì mẹ cưới chứ gì? Ôi con đường... cưới vợ sao mà hanh thông như vậy!

Anh hai quyết liệt:

- Sao lại hổng chịu thím? Hỏng lẽ nó muốn vợ nó lại la làng lên sao?

Hồi trước con muốn vợ, con cũng đâu dám nói cho má con mà phải nhờ chú chín mở hơi giùm. Thím quên rồi sao?

Quay qua tôi, anh dịu giọng:

- Nè cưng, anh hai hỏi thiệt nghen, cưng có muốn cưới vợ không?

Phải nói là nhờ anh hai mà lòng tôi tràn dũng khí. Tôi quyết không bỏ lỡ cơ hội. Chỉ cần tôi nói một tiếng "muốn" là bài toán có đáp số ngay, và bao nhiêu đè nén trong lòng bấy lâu chắc chắn giờ đây tan biến!

Nhưng như vậy xem phàm phu quá! Tôi cười cười, đợi cho mọi người chờ một lát, thần khẩu xui tôi phát ra một câu quá tuyệt vời:


Note: hình trong bài này là minh họa

- Thì hồi trước anh hai sao thì giờ em vậy thôi!

Mọi nghười cười rần và mang ý nghĩa khác nhau. Tôi cười cho... đở mắc cở. Chị hai cười xòa góp phần vui; anh hai cười ngất, cười sặc sụa của người thích chí; còn mẹ thì cười hiền hòa, sung sướng, lấy tay áo chậm hai khóe mắt rưng rưng. Tôi thấy thương mẹ vô cùng, sà vào lòng mẹ. Dù là một cậu tú, nhưng với mẹ, tôi vẫn thường thích mẹ vuốt ve như thuở lên ba. Mẹ vò tóc tôi, nói với anh chị hai:

- Bây thấy hôn? Nó làm còn như nhỏ lắm vậy!

Mẹ hỏi tôi:

- Bộ con có để ý bạn gái nào ở trường hả?

Tôi lắc đầu. Mẹ bảo:

- Vậy thì mẹ biết ai mà cưới cho con?

Anh hai nhanh nhẩu:

- Thì làm mai! Hồi trước chú chín cũng vậy, con cũng vậy. Có ai thương yêu ai trước đâu? (liếc sang chị hai) Chừng về ở chung cũng khoái thấy mồ...

Anh phủi bàn tay chị hai định nhéo vào hông anh:

- Vậy chớ hỏng phải sao?

Rồi quay sang tôi, anh lại ngọt ngào và xôm tụ:

- Nè, bây giờ em chưa quen ai phải không? E hèm! Hồi trước anh cũng vậy thôi. Có sao? Nhưng em phải cho thím chín và anh chị hai đây biết mẫu người em ưng thế nào thì ở đây mới kiếm cho em được chứ! Thí dụ, hồi trước anh ra tiêu chuẩn là phải vừa đẹp, vừa hiền, vừa có chút học vấn.

Em thấy hôn, chị hai đúng bon tiêu chuẩn đó, Anh thấy là khoái liền.

Hề hề…!

Tôi thấy mặt chị hai đỏ lên vì sung sướng:

- Nói không biết mắc cở....

Sẵn đà, tôi tiếp:

- Mà phải ở miệt vườn nữa em mới chịu.

Anh hai có vẻ cụt hứng, còn mẹ thì có vẻ vui:

- Phải đó à bây, con gái ở vườn nó nết na, thùy mị, giỏi giang.

Anh hai cười. lại xông xáo:

- Trúng tủ bả rồi! Mà cũng dễ thôi! Thím bán tạp hóa lớn, mối mang miệt vườn biết bao nhiêu, nhờ họ mối lái giùm.

Chị hai:

- Sao hăng hái dữ! Mai mốt anh hai chịu lạy đó nghen!

- Tất nhiên! tất nhiên!

Thói thường người ta tin tưởng vào những gì mình hy vọng, và sợ mất những gì mình có. Mẹ đã xong rồi, còn ba thì sao? Ba thường hay chìu ý mẹ dù đôi khi ý mẹ có đôi chút ông chẳng hài lòng, nhưng đó là những việc nhỏ đời thường, còn đây là "hôn nhân đại sự", liệu ba có còn chìu mẹ hay không?

Ngày hôm sau, tôi thấy ba có vẻ khác khác - vậy là mẹ nói với ba rồi!

Ba ít nói, có chiều nghĩ ngợi. Khi giáp mặt tôi, ba mỉm cười khó hiểu. Phúc hay là họa đây!
Rồi ngày tôi chờ đợi cũng đến. “Phái đoàn” gồm ba mẹ, anh chị hai và tất nhiên có vai chánh là tôi. Thật khó tả được bao cảm xúc bồn chồn lo lắng, hồi hộp, đủ thứ lộn xộn trong lòng tôi. Mẹ tôi cứ dặn dò đủ mọi việc, hết chuyện nọ tới chuyện kia, đến nỗi khó mà nhớ hết; còn anh hai thì cứ lải nhải bên tai "bình tỉnh, bình tỉnh, đừng có run". Nhà ông nhạc tôi (tạm gọi vậy) ở xã Ngũ Hiệp, cách thành phố Mỹ Tho 30 cây số về hướng tây. Chợ Ngũ Hiệp nằm bên kia sông, muốn qua phải nhờ một phà nhỏ.



Từ chợ, theo lời bà mai, chúng tôi phải đi bộ thêm gần ngàn mét nữa. Nghe vậy anh hai nói với tôi:

- Như vậy là "vườn trong vườn" rồi phải không cưng? Tiêu chuẩn một đạt hai trăm phần trăm rồi hén!

Chị hai cau mặt:

- Cái ông nầy lúc nào cũng đùa được.

Thật vậy, đây là vùng trù phú đất đai, cây lành trái ngọt. không biết cơ man nào là cây trái quả mọng trĩu cành! Cam, bưởi, sa bô, dừa, vú sữa, nhãn, chôm chôm... nhất là sầu riêng cây nào cây nấy chân tay đeo đầy nghẹt quả, theo gió thơm lừng. Bà mai chỉ tay về căn nhà ngói kiểu xưa (kiểu "chữ đinh") nói:

- Nhà đó đó.

Tất cả dừng lại “hội ý”. Mẹ khẩn trương thấy rõ, lại dặn dò:

- Nhớ những gì mẹ dặn nghen con!”

- Dạ!

Anh hai cũng thì thào:

- Nhà cất kiểu nầy mà gặp ông già củ tỏi thì mệt lắm à nghen!

Chị hai nạt nhỏ:

- Ông lo cái miệng ông đó. Vô đó nói bậy đi!

Bà mai vô trước, mẹ sửa lại áo quần tôi chưa xong thì có người ra mời vào. Giờ phút nầy tôi càng thấy tình mẫu tử bao la như thế nào. Mẹ hồi hộp như sắp bước vào nơi hang hùm nọc rắn không bằng, lại điệp khúc "Nhớ nghe con!" lại phát ra!

Vừa vào cổng, tôi bị hốt hồn vì hơn hai chục cặp mắt, đủ hạng tuổi, nhiều nhất là trẻ em chăm chú vào tôi, một bà trạc tuổi mẹ có lẽ thông cảm được điều ấy, bèn rầy đám nhỏ:

- Nè, mấy đứa làm gì tụ tập lại đây dữ vậy? Có đi hết không?

Đám trẻ tản đi vài bước rồi bẽn lẽn đứng nhìn. Phòng khách được bài trí hai bàn. Bàn giữa gồm ba mẹ tôi, bà mai, ông bà nhạc và hai vị cao niên. Bàn bên có anh chị hai tôi và bốn người bên gái cùng trang lứa.

Phần tôi nghe lời mẹ là không được ngồi, mà đứng sau ghế cha mẹ, hai tay xếp lại để dưới bụng (nếu đã mời trà xong), tư thế y như lính hầu ở phủ huyện, hay các thái giám ở cung đình hầu hạ đức vua!

Theo cách nói chuyện… lại có dịp đứng trước nhạc phụ mẫu; tôi biết ông bà là người cởi mở, dễ tính. Câu chuyện của hai "sui" càng lâu càng khởi sắc tốt đẹp. Dần dà khách khí không còn, mà như đã quen nhau từ trước vậy.

Bỗng Ông nhạc gọi:

- Con hai đâu, châm trà mới đi con!

Một tiếng "dạ" thảnh thót không kém Điêu Thuyền thời Tam Quốc từ nhà dưới vọng lên làm tim tôi rộn ràng. “Phái đoàn” nhà trai ai cũng hồi hộp chờ đợi. Bởi ai cũng biết bảo “châm trà” chẳng qua là lời nói khéo cho con mình ra chào để nhà trai “coi mắt” đó thôi!



Mẹ quay lại nhìn tôi mỉm cười, thầm bảo ”hãy xem kỹ vì thời gian không lâu”. Tôi chưa kip mỉm cười với mẹ thì rèm hoa lay động, một kiều nữ vận bộ bà ba, không phấn không son mà má phấn môi hồng.Tóc dài phủ long gọn gàng bởi chiếc kẹp vàng có đính bông hồng chói lọi. Thoạt trông, tôi giật nẩy người, đến nỗi bố vợ nhìn thấy. Đợi giai nhân chăm trà xong, ông vội bảo:

- À quên nữa, cháu qua bên ngồi uống nước, hay cứ ra ngoài dạo cho thoải mái.

Mẹ lại quay ra tôi, nhướng mày, thầm bảo “hãy đi đi con”, vì thực ra, ông nhạc cũng ngầm ý cho tôi và vợ tôi gặp nhau để “tìm hiểu”, dù thời lượng ít oi, nhưng nếu tri túc ắt tiện túc mà thôi! Mọi sự đều được người lớn sắp xếp có bài có bản và, có màn có lớp hẳn hoi!

Không khí bên ngoài thực thoải mái. Nhiều loại cây trái lớn nhỏ thi nhau che rợp ánh mặt trời làm mát rượi cả một không gian rộng. Vài tia sáng yếu ớt cố gắng chen vào đất tạo thành những đóm trắng lưa thưa đây đó tựa rãi hoa. Mùi sầu riêng thơm lừng. Hàng sa-pô thẳng tắp trái nặng sai oằn. Mấy nhánh ổi cho trái bóng láng no tròn, rục mềm rơi rụng tứ tung, tỏa hương thơm bát ngát. Chim hót líu lo, bướm vờn thẳng cánh.

Đàn ong tranh nhau hút mật của trăm ngàn hoa đủ sắc đủ màu. Rõ ràng là vùng đất lành thừa mứa cây lành trái ngọt.

Bên sau một giọng êm đềm:

- Biết người ta ưng hay không mà dám đi hỏi vậy?

Tôi quay lại, thì ra là vợ tôi, (tạm gọi vậy), mà cũng là Vi, người đã làm tôi kinh ngạc đến đánh thót cả người khi nãy!



Vi là bạn học cùng lớp với tôi hồi năm đệ tứ. Hồi đó lớp đệ tứ được xem là cái “móc” của sự chia tay. Bởi con trai, nếu thi rớt thì cha mẹ thường cho nghỉ để học nghề, còn thi đậu (cấp bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp) thì cũng mỗi người một hướng đi: Vào sư phạm hoặc gành nghề nào đó, hoặc học tiếp ba năm nữa để lấy Tú Tài rồi lên đai học. Con gái thì ít người được học đến chốn đến nơi. Rớt hay đậu cũng th ường bị cha mẹ cho nghỉ mà lo phụ việc nhà, viện lẽ con gái “học cao” khó có chồng! Vi cũng nằm trong số phận nầy. Bởi vậy cuối năm đệ tứ, chúng tôi thường trao nhau lưu bút, mọi người đều nắn nót tuồng chữ cho trang mình thường tặng cả ảnh, dán vào giữa trang viết, dưới đề:

"Thương nhau mới tặng ảnh nầy,
Để làm kỷ niệm những ngày xa nhau'
Dù cho ảnh có phai màu,
Cũng đừng xé bỏ mà đau lòng người!”

Không biết bốn câu thơ ấy là của tác giả nào, sáng tác tự bao giờ, mà đến nay, thỉnh thoảng tôi lại thấy sau bức ảnh ”tặng nhau” của các em cũng có đề như vậy.

Hơi lạc đề, nhưng nói thêm cho vui: Hồi đó tôi cũng có quyển lưu bút, tất nhiên khi ai nhận thì cũng nắn nót từng chữ và giữ sạch sẽ như nói ở trên. Khi tôi đưa cho thằng Nhứt, ngày sau nó trả (thường thì vậy), nó viết vào trang đôi mấy chữ tổ bố: “Lưu niệm làm cái xê bình phương gì?", rồi láu cá ký tên giáp cả hai trang giấy!

Tôi xem giận run. Cự nó. Nó cười: “Để sau nầy mầy nhớ tao”.

Tôi nghe cũng xìu lòng. Quả thật, đến giờ, nó là người tôi nhớ nhất. 

Và đến ngày cuối, chúng tôi tổ chức tiệc liên hoan cuối khóa tại lớp.

Văn nghệ xung quanh các bài hát về “mùa chia tay”, “tạm biệt”, “nỗi buồn hoa phượng”... Tôi có sở trường ngâm thơ, ngâm hai bài thơ Đường luật, bài đầu của thầy H.C, giáo sư sử địa, bài nầy tôi chỉ nhớ hai câu cuối:

“Rồi đây nếu chẳng sau mùa phượng,
Tất cũng mai kia ở chợ đời!”

Và bài họa của tôi:

"Việc cũ, ngàn sau vẫn đổi dời.
Chút tình tâm huyết nói sao vơi?
Luyến lưu kẻ ở đôi dòng lệ,
Tiếc nhớ người đi một góc trời
Chín tháng vui buồn trong một lớp,
Vài giây ly biệt rẽ ngàn khơi,
Đường mây một kẻ hanh thông bước,
Một kẻ lang thang giữa chợ đời!
(Thơ Kha Tiệm Ly)



Đám con gái mắt đỏ hoe, có đứa khóc thành tiếng. Chúng tôi lai tặng quà lưu niệm cho các bạn “nghỉ luôn”. Tôi tặng Vi cái kẹp tóc bằng vàng 14 (tôi là... “thiếu gia” mà! Vàng hồi đó rẻ lắm, đàn bà con gái chẳng thấy ai đeo, có đeo thì cũng sơ sài, đeo nhiều mắc cở, bị coi là “quê”; không thấy ai đeo cục cục như giờ. Vi tặng lại cho tôi cây bút Pilot nắp vàng, loại cao cấp nhất thời ấy.
 
- Sao không trả lời?

Vi nghiêm trang như thuở nào, tôi hơi chột dạ:

- Thật lòng tôi không ngờ mình đi hỏi cưới Vi. Đã bao năm rồi, vả lại lúc đó mình còn nhỏ cả mà!

- Bộ mấy năm qua không nhớ chút gì về Vi sao?

- Vẫn nhớ về người bạn nhỏ hiền lành, nhiều nước mắt.

Vi vừa đưa tay rút cây viết trên túi áo tôi, vừa nói:

- Xin lỗi nghe, cho Vi mượn.

Rồi xoay cán viết, nhìn những dòng chữ khắc trên ấy, Vi có vẻ xúc động:

- Vẫn còn giữ của Vi à?

Tôi không đáp, nhìn hai rèm mi chơm chớp, tôi thấy Vi đẹp não nùng.

Tôi nắm lấy tay Vi:

- Không ngờ lại gặp lại Vi. Chẳng phải không có duyên số hay sao? Vi đồng ý nhé!

Vi tủm tỉm cười:

- Nếu em không ưng thì sao?

- Thì anh về, nhưng xin gởi trái tim anh lại.

Lại cười:
- Rõ là thi sĩ! Em đã đồng ý từ khi bà mai nói chuyện với ba mẹ, đâu phải đến bây giờ.

- Không biết mặt làm sao ưng?

Vi kéo mái tóc về phía trước ngực:

- Khờ quá đi! Mọi người ở đây ai không biết con trai một của tiệm tạp hóa Vạn Phát, chứ em thì rành lắm. Vị “công tử” ấy còn tặng cho em chiếc kẹp xinh đẹp nầy nữa phải không?

Trên đường về, mẹ luôn miệng với ba:

- Con nhỏ xem nết na và lịch sự  ghê ông há?".

Lại lo ngại:

- Hổng biết nó có ưng thằng con trai cưng tôi không nữa?”

Nãy giờ tôi lặng thinh, nhớ lại những lời nói của Vi mà thấy lòng hân hoan lạ. Nhưng thấy mẹ cứ lo lắng mãi, tôi mói nói:

- Chắc ăn rồi mẹ ơi! Mẹ đừng lo!

Mẹ nghi ngờ. Anh hai nói:

- Hồi nãy ngoài vườn tụi nó nói chuyện, chỉ cần khi về, đá lông nheo một cái là kể như xong. Thím lo gì!

Ba châm vào:

- Hồi trước bả cũng vậy, sao bả mau quên quá!

Không biết mẹ đánh hay phủi bụi cho ba::

- Cha già mất nết!

oOo



Thế là chậm lắm khoảng một tuần, mươi ngày tôi đều đến tham nhạc gia, nhạc mẫu. Ba mẹ vợ tôi đều nhân hậu, nghiêm khắc với con cái nhưng xem chừng ”dễ” với thằng rể tương lai.

Trước khi đi, ba tôi dặn. Con đến đó thấy cái gì làm được thì làm, chứ đừng lấy mắt ngó là không được! Ngày xưa trước khi cưới, phải làm rể ba năm: Chẻ củi, vác lúa, cày bừa, làm đủ thứ nặng nhọc, chứ chẳng phải chơi đâu!

Nhưng tôi biết cái gì mà làm, mà phụ? Lần đầu đến, tôi thấy ba vợ tôi đang chài cá, thấy tôi sựng rựng, ông hiểu ý, nói:

- Con đứng chơi, ba vãi vài chài nữa ba vô.

Thế coi sao được! Đợi mỗi khi ba kéo chài lên, tôi phụ gỡ cá, mà có được đâu! Tôi đụng tới con nào thì con ấy giãy rồn rột, rách cả tay, có khi phóng lại xuống mương; trong lúc ông bỏ vào giỏ lia lịa như bỏ đá vào vậy!

Một lần thì thấy ông đang chiết nhánh cây, cái nầy tôi càng mù tịt, nhưng cũng có việc làm là... đưa dây cho ba tôi cột “bầu”; cái công việc không cần người phụ tá!

Ba vợ tôi rất điệu đời, ông thường bảo vợ tôi dắt tôi ra vườn xem có “cái gì nó thích thì hái nó ăn”. Tôi biết ba tạo điều kiện cho chúng tôi chuyện trò. Ông dư hiểu, bởi nói tiếng là thăm cha mẹ vợ, nhưng chủ yếu của chàng rể tương lai nào cũng là thăm... vợ cho đở nhớ mà thôi.



Nếu không, tại sao mỗi lần đến thăm mà cha mẹ vợ đi vắng thì chàng rể lại hớn hở trong lòng!?

Vườn nhà vợ tôi đủ loại cây nên có trái quanh năm, chúng chen chút nhau nên chỉ cách hơn mười thước là không thấy dáng người. Tôi có cảm tưởng như hoàng tử gặp công chúa trong rừng vậy! Đến hàng dừa tơ, quày ôn trĩu trái màu vang rực, sai oằn đụng tới mép mương, Vi đưa tôi dao,
bảo:

- Chặt dừa uống nhé!

- Trái nào đây?

- Thì tùy chọn

Khổ sở lắm tôi mới đem được hai trái dừa rời quày được. Dùng dao chặt phần đầu có cuống. Dao bén ngót mà tôi phạt năm bảy nhát liền mà vỏ dừa chỉ dập dập, trầy trầy, tung mấy miếng văm! Vi cười khoe hai hàm răng đều như hạt bắp:

- Để nô tì giúp cho, thưa công tử!

Giành lấy dao, Vi chỉ phập ba nhát nhẹ nhàng mà vỏ dừa tách ra từng mảng lớn, nhát thứ tư, nhẹ hơn, chạm vào gáo, Vi thuần thục lách nhẹ lưỡi dao, để lộ phần “cái” trắng bóc mịn màng, bao quanh phần nước sóng sánh trong veo! Một tay đưa dừa cho tôi, tay kia chỉ chỉ vào trái dừa bảo:

- Chặt dừa phải chặt đầu lớn nầy nầy, Lưỡi dao phải để hơi xiêng. Ai đời ở trên bổ xuống... 90 độ. Làm sao đứt được?

Lợi dụng tôi nắm lấy cổ tay tròn trịa mịn màng của Vi, ghé mũi xuống hít một hơi dài. Vi vẫn để yên nhưng bặm môi:

- Có thấy con dao ở đây không thì bảo?

Rồi cùng cười, tôi hít mũi chọc:

- Còn ngọt hơn cả nước dừa!

Đến địa phận chuyên canh sầu riêng. Ôi! hàng hàng thẳng tắp. Không biết cơ man nào là trái đậu trên cành! Toòng teng nhỏ to đủ cở, lủng la, lủng lẳng tầng thấp tầng cao, xem vô cùng ngoạn mục. Tôi hỏi:

- Nghe nói sầu riêng chỉ rụng về đêm, phải không?

- Sao lạ vậy?

- Thì ... trời khiến để đừng bể đầu người!

Vi cười ngoặt ngoẽo:

- Sao trái dừa vẫn rụng ban ngày? Bộ trái dừa không làm bể được đầu người? Chủ vườn nòi vậy để cho mấy thằng ăn trộm không dám lẻn vào đó thôi!

Rồi chỉ vào phía trước, bảo:

- Có hai trái rụng kìa! Anh lại lượm đi! Coi chừng nó "bịch" một cái là hết có vợ đo.o..ó!

Tôi nhìn lên, thấy hàng trăm trái lòng thòng, gai tua tủa, giống như những quả chùy của các võ tướng ngày xưa. Nói dại, nếu nó mà"phịch" xuống một cái như lời Vi nói thì dù không bể đầu, thì mặt mũi chắc cũng khó coi! Dợm chạy đi, bỗng luồng gió quái ác từ đâu lùa tới, bèn chột dạ, tôi dừng lại. Vi cười ngất:

- Coi vậy mà cũng sợ mất vợ hén!

Tôi chữa thẹn:

- Vậy chớ vợ như Tây Thi thì chết sao dành!

Má Vi càng đỏ thêm, nắm tay lại giá giá vào tôi:

- Cái tật nịnh.......

Tôi vừa dặt hai trái sầu riêng xuống thì Vi bảo:

- Tách ra đi!

Nói đoạn lại bờ rào tìm hái những nhánh bông. tôi lui cui lấy dao chặt phình phịch vào đầu lớn trái sầu riêng, dao cũng để xiêng một góc mà xem ra vỏ sầu riêng còn dai hơn cả vỏ dừa. Thật tình, sầu riêng tôi ăn có hàng trăm nhưng mỗi lần đều được mẹ bóc sẵn bỏ vào tủ lạnh, nên có biết gì đâu!

Tôi lật qua, lật lại, chợt nhớ tới cái vỏ sầu riêng mẹ bóc xong đâu có trầy trụa, hay mất một góc đàng đầu trái, mà xem ra nó còn nguyên vẹn giống như một chiếc xuồng! Tôi sửa lại rồi dùng dao bổ theo chiều dọc, cũng chẳng ăn thua! Mệt, tôi định gọi cầu cứu, thì Vi đã đứng sát bên tôi bụm miệng cười tự lúc nào...

Rõ ràng là Vi biết tôi không làm được mà cố chọc chơi! Bèn ngồi xuống, lấy dao, vừa làm vừa dạy đời:

- Hồi nãy em bảo công tử “tách” ra chứ có bảo “chặt” đâu mà làm như bửa củi vậy? Đây nè, chỗ nầy lúc nào cũng có một khe hở. Chỉ cần để mũi dao vào đây rồi dùng đòn bẩy Ạc-Shi-Met là xong. Làm rể kiểu nầy mất vợ như chơi.

Tôi bá lấy cổ Vi:

- Giỏi quá, để anh thưởng cho một cái.

Vi nhắm mắt, lắc đầu quầy quậy:

- H..ô..ông..!

Đợi khi tôi “chụt” xong, Vi mới mở mắt ra, chỉ tay vào vỏ sầu riêng, nói:

- Cái vỏ sầu riêng nầy mà vô mặt thì còn hơn té thùng đinh nữa đó!

Lần nào cũng có chuyện tương tự như vậy, thử hỏi sao tôi không khoái về thăm... ông bà nhạc?

Gần tới ngày cưới, tội nghiệp Vi gầy thấy rõ. Sau nầy tôi mới biết, là con gái trưởng trong gia đình, Vi lo lắng sắp xếp mọi thứ, lại nghĩ tới ngày theo chồng, xa mẹ bỏ em nên đủ thứ tình cảm ray rức trong lòng. Vậy mà trò chuyện với tôi một hồi, mặt hoa lại rạng rỡ, nói nhỏ cho tôi vừa nghe, như một chuyện gì quan trong lắm:

- Làm rể mà lỏng nhỏng không động móng tay, cứ đeo sát con gái người ta hoài không sợ bà con họ nói sao?

Ba vợ tôi thường bảo tôi: “Con ở chợ không quen việc ở vườn. Con cứ về thăm, khỏi làm gì hết, đừng ngại, cứ coi như ở nhà con”.

Tôi đem lời nầy nói cho vợ nghe, rồi châm thêm:

- Vậy chứ anh có việc gì để làm?

- Em chỉ cho. Gần tới ngày cưới rồi, phải có củi để nấu chứ! Hay là anh chịu khó ra chẻ một mớ....

- Ở đâu?

Vi chỉ tay về một hàng củi được chất ngay ngắn từng ô một, dài chừng... vài chục mét, khúc nào khúc nấy cở bắp đùi... voi. Tôi chột dạ:

- Chẻ hết sao?

Vi làm mặt nghiêm:

- Ừa!... thì tới đâu hay tới đó! Ngày còn dài mà!....

Tôi xách búa đi mà tác phong rời rã như Hạng Võ tại bến Ô Giang! Nhưng muốn ăn phải lăn vào bếp, muốn cưới được vợ thì phải bửa củi, cày bừa… Thì ra lời ba tôi nói chẳng sai, bằng chứng là tôi cũng không ngoại lệ!

Tôi cởi áo sơ mi máng trên cành bưởi, còn lại chiếc áo thun ba lỗ trắng tinh, vốn là mô đen của con nhà giàu mới có áo lót bên trong. Dù là “công tử”, nhưng tôi thường tập tạ nên bắp thịt coi cũng ngon lành.

Tôi đếm thầm: Một, hai, “phập!”; một, hai “phập!” Có cái “phập” làm củi vỡ ra, có cái “phập” thì búa lại dính khắn vào củi, gỡ ra cũng tróc vải trầy vi! Khi độ mệt đã choáng váng mặt mày, nhưng còn đủ để nhận được tiếng ông nhạc ở sau lưng:

- Bây làm cái gì vậy?

Tôi quay lại chào ông bà vừa đi xóm về, rồi trả lời với giọng điệu của người vừa lập nên công trạng:

- Dạ, vợ con biểu chẻ củi để khi đám cưới có mà xài!

- Thôi, thôi! Bây “bị” nó rồi! Đi vô! Đi vô uống nước con!

- Dạ, để con chẻ thêm một mớ nữa, ba!

- Củi nầy ba để bán cho lò bánh mì, đâu cần chẻ! Còn củi dùng cho đám cưới thì để trong nhà kho kia, có xài mười đám cũng không hết!

Bà nhạc lắc đầu:

- Cái con nhỏ nầy…

Vào nhà bà nhạc rầy Vi:

- Chồng của mầy nó không quen làm việc nặng. Xúi dại rũi nó trợt chân trợt cẳng thì sao?



Bà nhạc dùng tiếng “chồng mầy” tôi thấy ấm áp lạ lùng! Còn vợ tôi thì chúm chím cười, còn liếc qua tôi với ánh mắt còn bén hơn... lưỡi búa, lại chu đôi môi đỏ ao chế nhạo.

Thế là bao mệt mỏi trong tôi biến mất tiêu!

Phải nói trong đời thường, về sự thông minh, lúc nào vợ cũng hơn tôi một phép. Khi về làm dâu vợ tôi đã chứng minh đầy đủ điều đó. Ngoài sự hiếu thảo với cha mẹ chồng, vợ tôi còn nhiều đức tính như hân hậu, cần kiệm...

Thuở đó, ở thành phố “nhà giàu” mới có tủ lạnh (ti vi chưa có), còn dưới quê thì tuyệt đối không, bởi có điện đâu mà xài! Nên những ngày đầu, tủ lạnh đối với vợ tôi là một phát minh khoa học lớn lao, nó đủ công năng, nên có cái gì cũng “thồn” vô trong đó. Có lần mẹ tôi mở tủ lạnh, rồi nói với vợ tôi:

- Tô mắm nêm nầy, con đừng có để vào đây, nếu không tất cả cái gì trong nầy đều có mùi mắm nêm hết.

Chỉ chờ có dịp nầy, tôi cười hí hí:

- Trái cây mà có mùi mắm nêm ăn càng ngon chứ sao mẹ?

Mẹ cười, còn vợ tôi cứ đem cái sở trường là bắn nửa mắt vào tôi.

Tôi khoái chí, nói theo kiểu đá banh thì “gỡ” được một, nhưng dường như chỉ có một mà thôi!

Khi con chúng tôi đã lớn, tuổi có thể về quê thăm ngoại một mình, thế mà một tối cả nhà xem ti vi, không phải nhằm đoạn hài mà vợ tôi cười ngất. Con hỏi, “sao tự nhiên mẹ cười?” Một lát vợ tôi mới trả lời được:

- Mẹ thấy bộ tướng ông thái giám đứng khúm núm kia giống"mấy thằng cha“ lần đầu coi mắt vợ quá!” Hi! Hi!

Biết bị xỏ ngọt nhưng tôi biết gì hơn ngoài làm...thinh! May sao đến chương trình quảng cáo, quảng cáo tủ lạnh, tôi nói tỉnh bơ:

- Tủ lanh đời mới coi bộ tốt à nghen! Nó tự khử mùi, dù “mấy con mẹ” ở vườn có để mắm nêm vô đó cũng không sợ hôi. Ha! Ha!...

Tức thì vành tai tôi bị kéo ra cả thước, tiếp theo là một giọng tru tréo, muốn nổi da gà:

- Trời..u.u..i! Chuyện cũ nhắc hoài! Nhắc hoài!

Vậy đó, “chuyện xưa” thì vợ tội nhắc được, còn “chuyện cũ” tôi nhắc thì như bị muốn nhai xương!

Có vợ miệt vườn, miệt quê là vậy đó!

Thái Quốc Mưu

CHỪA LẠI ĐƯỜNG LUI CHO NGƯỜI KHÁC LÀ THIỆN ĐÃI BẢN THÂN MÌNH

Cổ nhân luôn coi trọng việc tu dưỡng đạo đức và phẩm hạnh (ảnh: Vandieuhay)

Nhân vô thập toàn, trên đời này không có ai là hoàn hảo không chút khuyết điểm. Vậy nên khi bạn có thể khoan dung chừa lại cho người khác đường lui thì con đường nhân sinh của bạn sẽ ngày càng rộng mở.

Người xưa lấy “Nhân, lễ, nghĩa, trí, tín” làm tiêu chuẩn để đánh giá đạo đức của một người. Đây cũng là nguyên tắc để điều chỉnh các mối quan hệ giữa người với người trong xã hội cho phù hợp với luân thường đạo lý. Trong đó, “nhân” tức là lòng nhân từ, nhân ái, được xếp lên hàng đầu. Người có lòng nhân sẽ biết suy nghĩ cho người khác, dùng tấm lòng khoan dung độ lượng để đối đãi với mọi người xung quanh.

1. Chừa cho người khác đường lui

Khi bạn có thể đặt mình vào vị trí của người khác để suy nghĩ, lo lắng cho nỗi lo của người khác và vui vẻ với niềm vui của họ, thì bạn sẽ dần dần cảm nhận được ý nghĩa của cuộc sống không nằm ở việc có được mà là cho đi.

Chừa lại cho người khác đường lui thì con đường nhân sinh tự nhiên sẽ rộng mở (ảnh: 360doc)

Lương thiện thực sự là biết cách quan tâm đến cảm giác của người khác và bảo vệ lòng tự tôn của họ. Trong đối nhân xử thế, khi bạn có thể đặt mình vào vị trí của đối phương thì các mối quan hệ của bạn tự nhiên sẽ trở nên hài hoà.

Hoàng đế Chu Nguyên Chương của nhà Minh rất thích câu cá. Một ngày nọ, ông đã mời nội các thủ phủ Giải Tấn cùng mình đi câu cá trong Vườn Thượng Uyển. Giải Tấn rất giỏi câu cá, chẳng mấy chốc đã câu được vài con cá và cảm thấy rất vui vẻ. Còn Chu Nguyên Chương câu một hồi lâu cũng không bắt được con cá nào, liền cau mày không vui.

Giải Tấn sớm cảm nhận thấy sự không hài lòng của Chu Nguyên Chương, ông lo sợ rằng bản thân để lộ tài năng mà gây ra tai hoạ. Vì vậy, ông cung kính nói với Chu Nguyên Chương rằng: “Bệ hạ, những con cá kia rất thông thái và rất tuân theo quy tắc”. Chu Nguyên Chương hỏi: “Khanh nói vậy là sao?”. Giải Tấn liền ngâm 1 bài thơ: “Số xích ti luân lạc thuỷ trung; Kim câu phao hạ ẩn vô tung; Phàm ngư bất cảm triêu thiên tử; Vạn tuế quân vương chỉ điếu long”.

Giải Tấn giải thích rằng: “Cá là vật phàm, không dám gặp mặt Thiên tử. Chỉ có rồng mới có thể xứng gặp được Thiên tử mà thôi!” Bài thơ này đã giúp cho Chu Nguyên Chương giữ được thể diện và lòng tự trọng. Sau đó, Chu Nguyên Chương đã đổi giận làm vui và xua tan đi nỗi buồn trong lòng.

Giải Tấn biết cách giữ chừng mực và đặt mình vào vị trí của người khác. Ông không chỉ để lại đường lui cho Chu Nguyên Chương, mà còn giúp bản thân mình thoát khỏi sự trừng phạt. Trong “Thái Căn Đàm” có viết: “Lộ kinh trách xử, Lưu nhất bộ dữ nhân hành; Tư vị nùng xứ, Giảm tam phân nhượng nhân thường”. (Tạm dịch: “Đường hẹp nhường 1 bước cho người khác đi; Vị đậm đà bớt 3 phần cho người khác nếm”).
 
2. Nhường lại danh tiếng cho người khác hưởng

Phạm Trọng Yêm vào thời Bắc Tống đã mua một ngôi nhà ở Tô Châu và dự định xây dựng một nơi để ở. Ông mời thầy phong thuỷ giúp mình quy hoạch. Thầy phong thuỷ nói với ông rằng: “Phong thủy của ngôi nhà này rất tốt, sau này nhất định sẽ xuất hiện quan lại quyền quý”. Sau khi nghe điều này, Phạm Trọng Yêm đã tặng ngôi nhà và xây dựng nó thành một trường học ở Tô Châu.

Ông cảm thấy phong thủy của ngôi nhà quá tốt, nên ông không muốn độc chiếm tất cả. Thế là, ông liền chia sẻ vận khí tốt này với người dân Tô Châu, để có thêm nhiều học giả được đề tên bảng vàng. Sau khi Phạm Trọng Yêm hiến đất để mở trường học, tin này đã được lưu truyền khắp Tô Châu, nhờ đó đã giúp đề cao văn hóa và đạo đức tại nơi này. Sau đó, Tô Châu đã liên tiếp xuất hiện 38 vị Trạng Nguyên. Con số này nhiều hơn 5 lần so với trước đây, và ngôi trường này đã trở thành một “Trạng Nguyên Chi Phủ” thực sự.

Sau đó, Tô Châu còn xuất hiện hơn 100 viện sĩ và trở thành quê hương của các viện sĩ. Phạm Trọng Yêm nhờ có tấm lòng “dung chứa cả thiên hạ” mà đã thành tựu được rất nhiều vị học giả. Chính tấm lòng rộng lớn độ lượng của ông đã giúp cho gia tộc họ Phạm thịnh vượng trong suốt 800 năm.

Tục ngữ có câu “súng bắn chim đầu đàn“, có nghĩa là không nên thể hiện bản thân quá nhiều, nếu không sẽ dễ chuốc lấy tai họa. Đó là một phép ẩn dụ rằng những người dẫn đầu dễ bị nhắm vào nhất, những người càng để lộ tài năng thì càng dễ gặp phải thương tổn.

Tục ngữ có câu “súng bắn chim đầu đàn”, những người càng để lộ tài năng thì càng dễ gặp phải thương tổn (ảnh: 360doc)

Vì vậy, nếu bạn chiếm hết danh tiếng, bộc lộ hết tài năng sẽ chỉ làm mất lòng người khác, bị người khác xa lánh và đánh mất tất cả. Người càng hàm dưỡng thì càng biết cách ẩn giấu tài năng và khiêm tốn, đồng thời họ có thể nhường lại ánh hào quang cho người khác. Trong cuộc sống, nếu có thể thiện đãi và đối xử tử tế với người khác, bạn mới có thể sống hài hòa với mọi người.

3. Nhường lại lợi ích cho người khác nhận

Người xưa thường nói rằng: “Nếu bạn có thể chịu khổ thì bạn có thể trở thành người có lý tưởng. Nếu bạn có thể chịu tổn hại thì không phải là một kẻ ngốc mà là người có tu dưỡng“.

Có câu nói: Chịu khổ là phúc, có mất thì có được. Khi bạn có thể nhường lại lợi ích cho người khác, thì bạn mới có thể thu phục được lòng người và nhận được sự tôn trọng thực sự của người khác.

Nếu bạn có thể chịu tổn hại thì không phải là một kẻ ngốc mà là người có tu dưỡng (ảnh: 360doc)

Lý Gia Thành bắt đầu kinh doanh từ năm 14 tuổi. Nhờ đó, ông có sự nhạy bén trong thương trường, ông sẽ không chạy theo lợi nhuận trước mắt, hơn nữa còn giữ lại một số lợi ích cho người khác hưởng. Con trai của ông, Lý Trạch Giai từng nói rằng: “Cha tôi nói với tôi rằng khi làm ăn với người khác, nếu bạn được 7 hoặc 8 phần lợi ích, thì chúng ta chỉ nên lấy 6 phần”.

Napoleon từng nói: “Biết cách suy nghĩ từ vị trí của người khác, có thể nhìn và suy nghĩ vấn đề từ góc độ của người khác và thực sự có thể giúp người khác giải quyết vấn đề, thì thế giới là của bạn”.

Nếu bạn có thể chia sẻ cho người khác hưởng lợi thì có thể giúp bạn cải thiện các mối quan hệ và trải đường cho thành công của bạn sau này. Nhượng lại lợi ích cho người khác hưởng là một loại trí tuệ của người có tu dưỡng, cũng là thể hiện của một người có tấm lòng bao dung rộng lớn. Nếu bạn có thể nhường cho người khác 3 phần lợi ích, bạn có thể giành được nhiều cơ hội phát triển hơn sau này cho chính mình.

Chừa lại đường lui cho người khác, không phải là nhu nhược, mà là tu dưỡng; Nhường lại danh tiếng cho người khác, không phải là bất tài, mà là phẩm đức; Nhường lại lợi ích cho người khác, không phải là ngu xuẩn, mà là trí huệ. Trên đường đời, nếu bạn có thể để cho người khác 3 phần thì con đường càng vững vàng, khoan dung cho người 3 điểm thì vạn sự càng hanh thông.

Uyển Nhi / Theo: 360 doc

CHÚNG TA ĐẾN THẾ GIAN CHỈ ĐỂ "SINH RA, LÀM VIỆC, GIÀ ĐI RỒI MẤT" THÔI SAO?

Thiền sư Hồng Di từng nói: “Cuộc đời chỉ có khoảng 30.000 ngày, chỉ là một thân xác mượn tạm. Cuộc sống không phải là bất diệt. Khi thời gian đến, những người sinh ra để già đi sẽ già đi, và những người sinh ra để ra đi sẽ ra đi.

Chúng ta đến thế gian chỉ để “sinh ra, làm việc, già đi rồi mất” thôi sao?

Cuối cùng, chúng ta đều tay trắng, không có bạn hay tôi, và chúng ta chẳng mang theo gì cả. Chúng ta đều chỉ là những người qua đường trong thời gian, vậy tại sao phải bám víu vào bất cứ điều gì? Sau khi đã cố gắng hết sức, chúng ta có thể chấp nhận được mất mát và được tự do, an yên.”

Ba mươi nghìn ngày. Nghe thì dài, nhưng thực ra chỉ đủ để chứng kiến hoa xuân nở rồi tàn, trăng thu tròn rồi khuyết. Thân xác chúng ta chẳng khác gì một quán trọ trần gian. Linh hồn là lữ khách dừng chân một chút rồi lại lên đường.

Chúng ta sinh ra với hai bàn tay trắng, và khi rời đi cũng chẳng mang theo được gì ngoài những gì đã trải nghiệm. Mọi thứ mà ta từng gọi là “của mình” như: nhà cửa, xe cộ, tiền bạc, danh vọng, thậm chí cả những mối quan hệ; cuối cùng đều trở về với cát bụi, hoặc thuộc về người khác.

Vậy tại sao chúng ta lại sống như thể mình có quyền sở hữu và kiểm soát chúng?

Vài năm trước, một vị hòa thượng từng nói với một người trẻ: “Khi trong lòng con cảm thấy mình thiếu thốn, thì con mãi mãi là một người nghèo. Nhưng khi trong lòng con cảm thấy đủ đầy, thì mọi thứ trên thế giới này đều là của con.”

Lúc ấy anh không hiểu. Không tiền, không nhà, không xe, làm sao có thể cảm thấy đủ đầy?

Cho đến gần đây anh mới thấm. “Đủ đầy trong tâm” không phải là sở hữu nhiều, mà là nhận ra rằng mình vốn chẳng sở hữu gì cả, cũng chẳng cần phải sở hữu.

Chiếc xe kia đang chạy ngoài đường, ngôi nhà kia đang có người ở, số tiền kia đang lưu thông trong xã hội… tất cả đều đang được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ. Chúng chưa từng thuộc về ai mãi mãi.

Nếu nghĩ như vậy, thì mọi thứ trên đời đều đang “là của mình” theo một cách khác: mình không nắm giữ, không kiểm soát, nhưng vẫn được hưởng thụ sự tồn tại của chúng trong khoảnh khắc hiện tại. Đó mới là sự đủ đầy thật sự, đủ đầy vì không còn cảm giác thiếu thốn, không còn sợ mất mát.

Chúng ta thường dành cả đời để gầy dựng: sinh ra, lớn lên, học hành, lập nghiệp, xây dựng gia đình, rồi cố gắng tích cóp để hưởng thụ tuổi già. Cứ như thể đó là toàn bộ ý nghĩa của việc đến thế gian này.

Nhưng nếu sống chỉ để hoàn thành chuỗi công việc ấy rồi lặng lẽ ra đi, thì liệu chúng ta đến đây để làm gì? Phải chăng chỉ để trải qua một vòng luân chuyển của sinh – trụ – diệt, rồi để lại phía sau những thứ mình từng ôm chặt?

Thân xác chúng ta chẳng khác gì một quán trọ trần gian. Linh hồn là lữ khách dừng chân một chút rồi lại lên đường.

Thật ra, có những người đã sống trọn vẹn cả hai nửa của đời người, để rồi nhận ra điều gì mới là đáng quý nhất. Giống như thiền sư Hồng Di, ông đã dành nửa cuộc đời sống xa hoa và nửa còn lại sống đời tu hành. Từ một chàng trai trẻ hào hoa, ông đã từ bỏ những phù phiếm trần tục và tìm kiếm sự bình an nội tâm. Ông dạy chúng ta rằng:

Sự viên mãn lớn nhất trong cuộc sống không phải là sở hữu bao nhiêu của cải, mà là sự bình an trong tâm hồn.

Vì sinh mệnh hữu hạn, nên mỗi khoảnh khắc đều quý giá. Vì không gì là của mình, nên ta được giải thoát khỏi gánh nặng phải giữ, phải kiểm soát, phải thắng thua. Tự do thật sự không đến từ việc sở hữu nhiều hơn, mà đến từ việc buông bỏ quyền sở hữu trong tâm. Khi không còn xem bất cứ điều gì là “của mình”, ta không còn sợ mất. Khi không còn cố kiểm soát kết quả, ta được nhẹ nhàng sau mỗi nỗ lực.

Lão Tử nói: “Điều thiện tối cao giống như nước. Nước mang lại lợi ích cho vạn vật mà không cần nỗ lực.”

Đào Uyên Minh: “Hái hoa cúc bên hàng rào phía đông, ta thảnh thơi ngắm nhìn Nam Sơn.”

Họ không sở hữu hoa, không sở hữu núi, nhưng họ được trọn vẹn khoảnh khắc ấy. Cũng như chúng ta: có thể dốc hết sức cho công việc, cho tình cảm, cho ước mơ, nhưng đừng biến chúng thành xiềng xích. Được thì vui, mất thì bình thản. Vì rốt cuộc, không có gì từng thật sự thuộc về ta.

Ba mươi nghìn ngày không dài cũng không ngắn. Đủ để ta học cách cảm thấy đủ đầy ngay cả khi tay trắng. Đủ để ta sống tự do giữa quán trọ trần gian, không bám víu, không sợ hãi. Và đủ để, khi giờ phút ra đi đến gần, ta có thể mỉm cười mà nói rằng: cuộc hành trình này, dù ngắn ngủi, cũng đã không vô ích.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay