Sunday, November 8, 2026

NHỮNG GIẢI THƯỞNG KHOA HỌC DANH GIÁ BÊN CẠNH NOBEL

Không chỉ có Nobel, thế giới còn sở hữu hàng loạt giải thưởng khoa học danh giá khác, nơi tôn vinh những phát minh định hình tương lai, từ công nghệ lượng tử đến y học tiên phong.

Những giải thưởng về khoa học danh giá bên cạnh giải Nobel. Ảnh: New York Times.

Dù giải Nobel vẫn được xem là đỉnh cao vinh quang trong giới khoa học, thực tế, thế giới còn có hàng loạt giải thưởng danh giá khác vinh danh các công trình nghiên cứu vượt khỏi khuôn khổ ba hạng mục truyền thống: Y - Sinh, Vật lý và Hóa học.

Kể từ khi Alfred Nobel lập di chúc năm 1895, hệ thống giải thưởng mang tên ông vẫn giữ nguyên ba lĩnh vực khoa học kể trên. Dù nhiều lần có ý kiến đề xuất mở rộng để phản ánh tính liên ngành của khoa học hiện đại, các hạng mục Nobel vẫn chưa thay đổi.

Trong khi đó, thế giới đã chứng kiến sự ra đời của nhiều giải thưởng uy tín khác, tôn vinh các nhà khoa học, kỹ sư và học giả trong những lĩnh vực mà Nobel chưa bao phủ. Dưới đây là những giải thưởng được xem là “ngang tầm” hoặc “bổ sung” cho Nobel trong từng chuyên ngành.

Giải Abel cho Toán học

Ra đời năm 2002 và mang tên nhà toán học Na Uy Niels Henrik Abel, giải thưởng này do Viện Hàn lâm Khoa học và Văn học Na Uy trao tặng hàng năm, trị giá 7,5 triệu kroner (khoảng 750.000 USD).

Năm 2024, giáo sư Masaki Kashiwara (Đại học Kyoto, Nhật Bản) được vinh danh nhờ những đóng góp tiên phong kết hợp đại số, hình học và phương trình vi phân. Đến nay, chỉ một phụ nữ từng giành giải Abel là nhà toán học Karen Uhlenbeck (Đại học Texas) năm 2019.

Ông Luis Caffarelli đã giành Giải thưởng Abel năm 2023 vì những đóng góp quan trọng của ông cho lý thuyết chính quy cho các phương trình đạo hàm riêng phi tuyến. Ảnh: Albel Prize.

Một giải thưởng khác trong lĩnh vực này là Huy chương Fields, được trao bốn năm một lần cho các nhà toán học dưới 40 tuổi - thường được xem là “giải Nobel dành cho người trẻ”.

Giải Lasker cho Y học

Được trao từ năm 1945, Giải thưởng Lasker do Quỹ Lasker sáng lập nhằm tôn vinh các phát hiện nền tảng và tiến bộ y học giúp cải thiện sức khỏe con người. Mỗi giải trị giá 250.000 USD, bao gồm các hạng mục: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu lâm sàng, và thành tựu đặc biệt.

Riêng hạng mục phục vụ cộng đồng được trao hai năm một lần. Nhiều chủ nhân giải Lasker sau đó đã trở thành nhà Nobel thực thụ.

Năm nay, các nhà khoa học được vinh danh với công trình khám phá cấu trúc phức tạp của tế bào, các trạng thái mới của vật chất sinh học và liệu pháp điều trị xơ nang.

Giải Turing cho Khoa học Máy tính


Được Hiệp hội Máy tính Mỹ thành lập năm 1966, giải thưởng trị giá 1 triệu USD này tôn vinh những đóng góp nền tảng cho lĩnh vực điện toán - từ mật mã học đến trí tuệ nhân tạo.

Giải mang tên Alan Turing, cha đẻ của ngành khoa học máy tính hiện đại, và do Google tài trợ từ năm 2014.

Giài Turing 2019 được trao cho 3 nhà khoa học Yann LeCun, Geoffrey Hinton và Yoshua Bengio. Ảnh: New York Times.

Năm nay, hai nhà khoa học Andrew Barto (Đại học Massachusetts Amherst) và Richard Sutton (Đại học Alberta) được trao giải cho nghiên cứu đặt nền móng cho học tăng cường (reinforcement learning) – một trụ cột của AI ngày nay.

Giải Kavli

Giải Kavli được thành lập năm 2008 để tôn vinh các đột phá trong ba lĩnh vực: thiên văn vật lý, khoa học nano và thần kinh học. Mỗi giải trị giá 1 triệu USD, do Quỹ Kavli phối hợp với Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Na Uy cùng Viện Hàn lâm Khoa học và Văn học Na Uy tổ chức.

Năm 2024, các nhóm nghiên cứu được vinh danh với công trình về hành tinh ngoài hệ Mặt Trời, vật liệu nano sinh học, và cơ chế thần kinh giúp con người nhận diện khuôn mặt.

Giải Tyler về Thành tựu Môi trường

Được xem như “Giải Nobel của ngành môi trường”, giải Tyler ra đời năm 1973, trị giá 250.000 USD, trao cho các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách hoặc tổ chức có đóng góp bảo vệ Trái đất.

Năm 2025, nhà sinh thái học Argentina Sandra Díaz và nhà nhân học Brazil - Mỹ Eduardo Brondízio được vinh danh vì nghiên cứu mối liên hệ giữa đa dạng sinh học và sự tồn tại của loài người. Các chủ nhân trước đây gồm Jane Goodall - chuyên gia về tinh tinh, và Mario Molina, nhà hóa học đoạt giải Nobel nhờ phát hiện tác động hủy diệt tầng ozone của CFC.

Giải Vetlesen cho Địa chất học

Ra đời năm 1959, Giải Vetlesen được ví như “Nobel của khoa học Trái đất”. Mỗi ba năm, giải trao 250.000 USD cho những công trình tiên phong trong nghiên cứu địa chất, địa vật lý hoặc khí hậu học.

Giáo sư David Kohlstedt (Đại học Minnesota) là chủ nhân mới nhất, với nghiên cứu mô phỏng điều kiện vật lý - hóa học của lớp manti Trái đất, qua đó mở ra hiểu biết mới về cơ chế vận hành của hành tinh.

Giải Wolf cho Khoa học và Nghệ thuật

Mỗi năm, Quỹ Wolf tại Israel trao các giải thưởng 100.000 USD cho những đóng góp xuất sắc trong vật lý, hóa học, y học, toán học và nông nghiệp, cùng một giải riêng cho nghệ thuật (năm 2018, Paul McCartney từng được vinh danh).

Nhiều người xem giải Wolf như bước đệm của Nobel, nhưng giá trị của nó còn ở chỗ tôn vinh các nghiên cứu vượt khỏi biên giới truyền thống của Nobel.

Năm nay, giải được trao cho các công trình về kháng bệnh ở thực vật, xúc tác hóa học, từ trường và kháng thể người.

Giải Kyoto

Được sáng lập năm 1984 bởi doanh nhân Nhật Bản Kazuo Inamori, giải Kyoto ghi nhận các thành tựu xuất sắc trong ba lĩnh vực: công nghệ tiên tiến, khoa học cơ bản và nghệ thuật - triết học.

Nhà hóa học, nhà tiên phong công nghệ Ching Tang, Nhà vật lý thiên văn James Gunn và Đạo diễn sân khấu danh tiếng Ariane Mnouchkine trong lễ trao giải Giải Kyoto 2020. Ảnh: Kyoto Prize.

Mỗi giải trị giá 100 triệu yen (khoảng 670.000 USD). Năm 2025, Shun-ichi Amari (Đại học Teikyo) được trao giải công nghệ tiên tiến vì đặt nền móng lý thuyết cho trí tuệ nhân tạo, trong khi nhà sinh học Azim Surani (Đại học Cambridge) được vinh danh ở hạng mục khoa học cơ bản với nghiên cứu về vai trò của bộ gen cha mẹ trong quá trình phát triển của động vật có vú.

Giải Công nghệ Thiên niên kỷ (Millennium Technology Prize)

Ra đời tại Phần Lan năm 2004, giải thưởng trị giá 1 triệu euro được trao hai năm một lần cho những sáng tạo giúp nâng cao chất lượng sống và phát triển bền vững. Các công trình từng được vinh danh gồm pin mặt trời giá rẻ hay công nghệ giải trình tự ADN thế hệ mới.

Năm 2024, kỹ sư Bantval Jayant Baliga (Đại học Bang North Carolina) nhận giải nhờ phát minh thiết bị bán dẫn được ứng dụng rộng rãi toàn cầu.

Giải Draper cho Kỹ thuật

Do Viện Hàn lâm Kỹ thuật Quốc gia Hoa Kỳ trao từ năm 1989, giải Draper trị giá 500.000 USD tôn vinh các kỹ sư có phát minh nâng cao đáng kể chất lượng sống. Giải mang tên Charles Stark Draper, nhà sáng chế công nghệ định vị nổi tiếng.

Năm 2024, nhà vật lý Stuart Parkin (Viện Max Planck, Đức) giành giải nhờ phát triển công nghệ spintronic - nền tảng cho hệ thống lưu trữ đám mây dung lượng lớn.
Giải Ig Nobel - “Nobel ngược” cho nghiên cứu kỳ lạ

Khác với sự trang nghiêm của lễ Nobel tại Stockholm, Giải Ig Nobel lại nổi tiếng vì tính hài hước và tư duy độc đáo, tôn vinh các nghiên cứu “làm người ta cười – rồi khiến họ suy nghĩ”.

Thành lập năm 1991 bởi biên tập viên Marc Abrahams (tạp chí Annals of Improbable Research), giải được trao tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) trong bầu không khí sôi nổi với màn tung máy bay giấy, hát opera và bài giảng 24 giây.

Năm nay, một trong các công trình thắng giải là nghiên cứu cho thấy bò sơn sọc như ngựa vằn ít bị ruồi cắn hơn, và một công trình khác phân tích hành vi vật lý của món pasta Italy “cacio e pepe”. Điều thú vị là nhiều nhà Nobel thật vẫn vui vẻ tham gia trao giải tại sự kiện này mỗi năm.

Phương Linh / Zingnews

LÒNG THƯƠNG SINH VẬT TRONG THƠ XƯA: ĐỪNG BẮN CHIM TRÊN CÀNH

Ngày nay, nhiều người quan tâm bảo vệ động vật và bảo tồn các loài. Nhưng người xưa cũng có lòng yêu thương sinh vật. Không ít văn nhân bộc lộ tư tưởng ấy trong tác phẩm của mình. Bài viết của SecretChina lấy bài “Điểu” được nguồn ghi là của thi nhân đời Đường Bạch Cư Dị và bài “Họa mi điểu” của Âu Dương Tu, văn nhân đời Bắc Tống thúc đẩy phong trào cổ văn, làm ví dụ.


Đừng bắn chim trên cành

Bài “Điểu” gồm 28 chữ. Có thể hiểu bốn câu như sau:

Ai nói sinh mệnh muôn loài là nhỏ bé?
Cũng có thịt xương, cũng có lớp da.
Khuyên người đừng bắn chim trên cành,
Chim con trong tổ đang mong mẹ trở về.


Nhắc đến Bạch Cư Dị, mọi người thường nghĩ tới những tác phẩm nổi tiếng như “Trường hận ca”, “Tỳ bà hành”; bài “Điểu” ít được biết đến hơn. Theo tác giả bài viết, xét về giá trị văn học, bài thơ này không có nhiều nét đặc sắc về âm điệu, dùng từ bình dị và không được trau chuốt cầu kỳ. Tuy nhiên, nếu nhìn từ ý thức bảo vệ môi trường chứa trong đó, bài thơ có hình ảnh rất rõ ràng.

“Điểu” cũng giống những sáng tác khác của Bạch Cư Dị ở chỗ “bà lão cũng hiểu được”: người mới đọc có thể nắm ý nghĩa. Hai câu đầu nói sinh mệnh của động vật cũng như nhau, đều là thân thể bằng máu thịt.

Hai câu sau còn dễ hiểu hơn: thi nhân khuyên đừng bắn chim trên cành, bởi những con non còn ở trong tổ, mong chim mẹ trở về.


Tác giả bài viết nhận định dụng ý chính không phải buộc mọi người bỏ thịt, chuyển sang ăn chay, mà là mong con người đừng tùy tiện làm tổn thương sinh linh vô tội. Hình ảnh chim con chờ mẹ có lẽ nhằm khơi dậy sự đồng cảm. Từ xưa, tình mẹ luôn có thể nhanh chóng chạm đến lòng người, đánh thức lòng thương và khả năng đặt mình vào hoàn cảnh của người khác.

Bài viết nhìn nhận rằng phần lớn người xưa có tín ngưỡng. Dù tin Thần Phật hay tu Đạo, họ biết không nên tùy tiện sát hại sinh linh và cần giữ lòng từ thiện. Nhiều sách cổ kể về những người sát sinh quá nhiều rồi có kết cục không tốt. Theo tác giả, các câu chuyện báo ứng ấy khiến người đọc sợ hãi và giúp họ phần nào hiểu dụng ý của bài “Điểu”.

Theo cách lý giải của bài viết, Bạch Cư Dị không đơn thuần cổ vũ ăn chay. Ông tin có thần linh, nên cũng hiểu ý nghĩa của việc giữ thiện niệm và đối xử từ bi với mọi sinh linh.

Tiếng họa mi tự do trong rừng

Âu Dương Tu cũng thể hiện lòng yêu thương động vật trong “Họa mi điểu”. Bốn câu thơ có thể hiểu là:

Trăm điệu ngàn tiếng, tùy ý chuyển mình,
Hoa núi đỏ tím, cây cao cây thấp.
Lúc này mới biết tiếng chim bị nhốt trong lồng vàng,
Không bằng tiếng hót tự do giữa rừng.


Cũng như bài “Điểu”, tác phẩm này dễ hiểu ngay từ lần đọc đầu. Hai câu đầu tả chim họa mi cất tiếng hót nhiều cung bậc, tự do bay lượn cao thấp giữa cây và hoa trong núi. Hai câu sau cho biết lúc ấy người nghe mới nhận ra tiếng chim bị nhốt trong lồng vàng trước kia không thể sánh với tiếng hót thong dong trong rừng.


Bài viết cho biết Âu Dương Tu sáng tác “Họa mi điểu” vào năm Khánh Lịch thứ bảy, tức năm 1047. Tác phẩm còn có tên “Quận trai văn bách thiệt”. “Quận trai” chỉ công sở nơi ông ở khi bị giáng chức đến Trừ Châu, nay thuộc tỉnh An Huy. “Bách thiệt” được bài viết giải thích là một loại chim họa mi.

Từ nhan đề “Quận trai văn bách thiệt”, có thể thấy bài thơ được viết khi Âu Dương Tu ở công sở, nghe tiếng chim vui vẻ và xúc động mà cầm bút.

Trong bài “Thư tam tuyệt cú hậu”, Âu Dương Tu từng nói về dụng ý sáng tác và cho rằng bài thơ, cùng với “Trúc kê” của Mai Nghiêu Thần và “Vũ trung văn oanh” của Tô Thuấn Khâm viết trong thời kỳ ấy, đều là tác phẩm ngẫu hứng. Tuy nhiên, theo bài viết, chúng đồng thời gửi gắm một cách kín đáo nỗi cảm khái về cảnh ngộ của các tác giả.

Hiểu hoàn cảnh Âu Dương Tu sáng tác, người đọc có thể hiểu thêm tâm tình trong bài thơ.

Trở lại với lòng yêu thương động vật, tác giả cho rằng tín ngưỡng là nền tảng giúp tình thương của người xưa trở nên chân thực. Bài viết liên hệ những vụ ngược đãi động vật ngày nay với sự biến đổi của lòng người, suy giảm đạo đức và mất tín ngưỡng, khiến nhiều người xem nhẹ những câu chuyện thiện ác hữu báo trong sách cổ.

Theo quan điểm của tác giả, khôi phục lòng kính ngưỡng thần linh và thiện niệm với vạn vật có thể giúp xã hội trở nên hòa ái, ổn định hơn. Muốn thấy sự thay đổi ấy, mỗi người đều cần cùng nỗ lực.

Tuệ Minh / Theo: ĐKN

KY XUÂN - VƯƠNG BỘT


Ky xuân - Vương Bột

Khách tâm thiên lý quyện,
Xuân sự nhất triêu quy.
Hoàn thương bắc viên lý,
Trùng kiến lạc hoa phi.


羈春 - 王勃

客心千里倦
春事一朝歸
還傷北園裏
重見落花飛


Giữ Xuân
(Dịch thơ: Lê Nam Thắng)

Chán chường lòng khách dặm dài
Dáng xuân chỉ một sớm mai đã về
Chạnh buồn phương bắc nhớ quê
Khi nhìn thoáng thấy bốn bề hoa rơi


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương Bột 王勃 (649-675) tự Tử An 子安, người đất Long Môn. Sáu tuổi đã biết làm văn. Mười sáu, mười bảy tuổi nổi danh hạ bút nên vần.

Vương có thói quen, mỗi khi làm văn, mài mực sửa soạn nghiên bút rồi nằm đắp chăn ngủ. Khi tỉnh dậy, cầm ngay bút viết. Vương nổi tiếng là một thi sĩ cao danh thời Sơ Đường (618-713).

Khoảng 675-676, lúc 27-28 tuổi, Vương Bột bị đắm thuyền, chết đuối ở biển Nam Hải trên đường sang Giao Chỉ thăm cha.

Nguồn: Thi Viện

HÌNH PHẠT "THIẾP GIA QUAN" DƯỚI THỜI CHU NGYÊN CHƯƠNG: MỨC ĐỘ TÀN NHẪN ĐẾN ĐÂU?

Dưới thời Chu Nguyên Chương, nhiều cực hình khét tiếng từng khiến cả triều đình khiếp sợ, nhưng “Thiếp gia quan” vẫn được xem là một trong những hình phạt tàn nhẫn và ám ảnh nhất. Không chỉ gây đau đớn về thể xác, cực hình này còn phản ánh sự khắc nghiệt của luật pháp thời phong kiến nhà Minh.


Trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, Chu Nguyên Chương luôn là cái tên khiến hậu thế vừa kính nể vừa khiếp sợ. Ông được biết đến là vị Hoàng đế khai quốc của nhà Minh, người đã chấm dứt sự thống trị của triều Nguyên Mông và mở ra một thời kỳ mới cho Trung Quốc. Thế nhưng, đằng sau hình tượng của một vị vua tài giỏi và quyết đoán lại là một con người nổi tiếng đa nghi, lạnh lùng và sẵn sàng sử dụng những hình phạt tàn khốc nhất để củng cố ngai vàng.

Ít ai biết rằng, trước khi bước lên đỉnh cao quyền lực, cuộc đời của Chu Nguyên Chương từng trải qua những năm tháng cơ cực đến tận cùng. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo khó, ông từng phải đi chăn trâu thuê, sống lay lắt qua ngày. Nạn đói, chiến tranh và sự mục nát của quan lại cuối thời Nguyên đã khiến gia đình ông rơi vào cảnh tan tác. Cha mẹ cùng anh em lần lượt chết vì đói và bệnh tật, còn bản thân ông phải lưu lạc khắp nơi để kiếm miếng ăn. Chính quãng thời gian tận mắt chứng kiến cảnh dân chúng bị áp bức, quan lại tham ô bóc lột đã hình thành trong Chu Nguyên Chương sự căm ghét cực độ đối với tầng lớp quan tham.

Sau này, khi lãnh đạo nghĩa quân lật đổ nhà Nguyên và lên ngôi Hoàng đế, Chu Nguyên Chương hiểu rõ rằng điều đáng sợ nhất đối với một triều đại không chỉ là ngoại địch, mà còn là sự mục ruỗng từ bên trong. Ông cho rằng tham nhũng chính là “quốc nạn”, là căn nguyên khiến triều đình suy yếu, dân chúng lầm than và đất nước khó lòng hưng thịnh. Chính vì thế, ngay từ những năm đầu trị vì, Chu Nguyên Chương đã phát động hàng loạt chiến dịch thanh trừng quy mô lớn nhằm triệt tận gốc nạn tham quan ô lại.


Những đạo luật dưới thời Minh sơ nổi tiếng nghiêm khắc đến mức khiến bá quan văn võ luôn sống trong nơm nớp lo sợ. Theo quy định của triều đình, chỉ cần tham ô 10 lượng bạc đã bị xem là phạm pháp và phải chịu hình phạt nghiêm trị. Nếu số bạc tham ô vượt quá 60 lượng – tương đương một khoản tài sản khổng lồ thời bấy giờ, thì gần như chắc chắn phải đối mặt với án tử hình.

Điều đáng sợ nằm ở chỗ, Chu Nguyên Chương không chỉ xử tử đơn thuần mà còn nghĩ ra nhiều hình phạt có tính răn đe cực mạnh. Kẻ phạm tội nhẹ có thể bị lưu đày hoặc sung quân nơi biên ải lạnh giá. Người phạm trọng tội sẽ bị xử chém công khai trước dân chúng. Nhưng kinh hoàng hơn cả là những cực hình như lột da, rút gân hay treo xác thị chúng ngoài cổng thành để làm gương cho toàn thiên hạ.

Theo một số ghi chép lịch sử, những tấm da người sau khi bị lột thậm chí còn được nhồi rơm và đặt tại công đường như một lời cảnh cáo đối với các quan lại khác. Chỉ cần bước vào nha môn nhìn thấy cảnh tượng ấy, nhiều người đã sợ đến mức không dám nhận hối lộ dù chỉ một đồng bạc nhỏ.

Không dừng lại ở đó, Chu Nguyên Chương còn cho phép dân thường trực tiếp tố cáo quan tham. Bất kỳ ai phát hiện hành vi tham ô đều có thể báo quan hoặc gửi đơn thẳng lên triều đình. Những viên quan bị kết tội sẽ lập tức bị bắt giữ, áp giải về kinh thành và xét xử công khai. Chính sách này khiến toàn bộ bộ máy quan lại thời Minh sơ luôn chìm trong bầu không khí căng thẳng và sợ hãi.

Trong nhiều năm trị vì, Chu Nguyên Chương đã phát động không ít vụ án lớn nhằm thanh trừng những người bị nghi ngờ có ý đồ phản nghịch hoặc tham ô. Nổi tiếng nhất là các vụ án như Hồ Duy Dung hay Lam Ngọc, nơi hàng chục nghìn người bị liên lụy và xử tử. Chính điều này khiến hình ảnh của ông trong sử sách luôn gắn liền với sự tàn nhẫn và những cuộc thảm sát đẫm máu.

Tuy nhiên, điều khiến hậu thế rùng mình hơn cả không chỉ nằm ở những cuộc thanh trừng ấy, mà còn ở các phương thức tra tấn ghê rợn được sử dụng dưới thời nhà Minh. Trong số đó, “Thiếp gia quan” được xem là một trong những cực hình ám ảnh và tàn độc bậc nhất.


Tên gọi “Thiếp gia quan” nghe qua có vẻ kỳ lạ, nhưng nguồn gốc của nó lại xuất phát từ nghệ thuật hí khúc cổ đại Trung Hoa. Trong các buổi diễn xưa thường có màn khai lễ, nơi những diễn viên đeo mặt nạ thần linh để cầu phúc và xua đuổi tà khí. Loại mặt nạ ấy được gọi là “thiếp diện cụ”. Về sau, từ hình ảnh chiếc mặt nạ áp sát khuôn mặt ấy, người ta đã nghĩ ra một phương thức tra khảo đáng sợ bằng giấy và nước.

Khi thi hành cực hình, phạm nhân bị trói chặt tay chân vào ghế hoặc cột gỗ, đầu bị kéo ngửa ra phía sau để không thể vùng vẫy. Sau đó, người tra tấn lấy một tờ giấy mỏng phủ kín mặt nạn nhân rồi từ từ đổ nước lên trên. Chỉ trong chốc lát, lớp giấy ướt lập tức dính chặt vào da thịt, bịt kín mũi và miệng khiến người bị hành hình gần như không thể hít thở.


Ban đầu, tù nhân vẫn có thể cố gắng thở yếu ớt qua lớp giấy mỏng. Nhưng nếu họ không chịu khai nhận hoặc vẫn cố chống đối, người tra tấn sẽ tiếp tục phủ thêm lớp giấy thứ hai, thứ ba rồi thứ tư. Mỗi lớp giấy mới lại khiến không khí càng khó lọt qua hơn, tạo ra cảm giác ngạt thở kéo dài cực kỳ khủng khiếp.

Điều đáng sợ của “Thiếp gia quan” nằm ở chỗ nó không gây đau đớn dữ dội ngay lập tức như roi vọt hay đao kiếm, mà khiến nạn nhân chìm dần vào cảm giác tuyệt vọng khi sự sống bị bóp nghẹt từng chút một. Người bị tra tấn vẫn hoàn toàn tỉnh táo, cảm nhận rõ lồng ngực mình co thắt, hơi thở ngắn dần và não bộ rơi vào trạng thái hoảng loạn vì thiếu oxy. Cảm giác ấy được mô tả giống hệt như đang chết đuối giữa dòng nước sâu nhưng không có cách nào vùng thoát.

Theo nhiều tài liệu cổ, hầu hết nạn nhân sẽ tử vong sau khi lớp giấy thứ năm được phủ lên mặt. Khi hơi nước bốc hơi hết, những lớp giấy khô lại và in hằn lên khuôn mặt người chết thành các vết nhăn nhúm méo mó, trông chẳng khác nào một chiếc mặt nạ trắng phủ kín gương mặt. Cảnh tượng ấy khiến bất kỳ ai chứng kiến cũng phải ám ảnh.


Chính bởi sự tra tấn kéo dài về tâm lý lẫn thể xác, “Thiếp gia quan” thường được đánh giá là mức cực hình không kém gì lăng trì — hình phạt nổi tiếng với việc cắt từng phần cơ thể phạm nhân cho tới chết. Nếu lăng trì gây kinh hoàng bởi đau đớn thể xác, thì “Thiếp gia quan” lại gieo rắc nỗi sợ bằng cảm giác bị bóp nghẹt trong tuyệt vọng và bất lực hoàn toàn.

Dẫu vậy, đến nay vẫn có không ít tranh cãi xoay quanh mức độ xác thực của các ghi chép về cực hình này. Một số học giả cho rằng nhiều chi tiết đã bị cường điệu hóa qua truyền thuyết dân gian và các tác phẩm văn học đời sau nhằm khắc họa sự tàn bạo của triều Minh. Tuy nhiên, phần lớn đều đồng ý rằng dưới thời Chu Nguyên Chương, luật pháp và các hình thức tra khảo thực sự vô cùng hà khắc.

Dù thực hư của những ghi chép lịch sử về “Thiếp gia quan” vẫn còn gây nhiều tranh cãi, nhưng cực hình này đến nay vẫn được xem như biểu tượng cho mặt tối của quyền lực phong kiến Trung Hoa – nơi luật pháp và sự trừng phạt đôi khi bị đẩy tới mức khiến hậu thế phải rùng mình. Đằng sau những cung điện nguy nga, những triều đại hùng mạnh và các vị hoàng đế quyền uy là cả một giai đoạn lịch sử đầy khắc nghiệt, phản ánh rõ sự tàn bạo và nỗi ám ảnh quyền lực trong xã hội phong kiến xưa.

Thế nhưng, cũng chính những câu chuyện lịch sử ấy lại khiến Trung Quốc trở thành điểm đến đầy bí ẩn và cuốn hút đối với du khách yêu thích khám phá văn hóa phương Đông. Từ Tử Cấm Thành, Vạn Lý Trường Thành cho tới những dấu tích cổ xưa gắn liền với các triều đại huy hoàng, mỗi địa danh đều ẩn chứa những câu chuyện lịch sử ly kỳ kéo dài hàng nghìn năm.

Theo: vietviettourism

Saturday, November 7, 2026

"HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ" CỦA HẠ TRI CHƯƠNG

Hạ Tri Chương (659-744) là nhà thơ lỗi lạc buổi sơ Đường, ông chẳng những định hướng bước đầu, mà còn góp phần thúc đẩy thơ Đường phát triển vượt bực.


Sanh nhằm thạnh thế, Chương như rồng gặp mây, tha hồ bay nhẩy thỏa tang bồng. Tánh Chương lại lạc quan, phóng khoáng, nên thơ ông thênh thênh tự tại, luôn tìm được niềm vui ngay trong nỗi ưu phiền.

Chỗ thành công nhứt trong thơ ông, là nắm bắt được những cảm xúc chân thực của tình người. Tiêu biểu là hai bài “Hồi hương ngẫu thư”.

Trong hai bài nầy thì Bài một để lại ấn tượng sâu đậm, được tán thưởng hơn hết.

Tới nỗi nó vô luôn sách giáo khoa môn Văn (không rõ lớp mấy, chỉ biết sách cấp Hai) của Việt Nam ta. Mà ở xứ mình, thơ được đưa vô giáo khoa thư là kể như tiêu; chúng thả cửa phá cho tanh bành, đách còn ra đám ôn.

Bài “Hồi hương ngẫu thư” theo đó cũng được đám biên soạn giáo khoa lèo lái, nhồi nhét đủ kiểu chúng có thể tưởng tượng ra.

Mà thôi, bỏ qua tụi đó. Nói thêm một hồi nóng máu mất hay. Cứ bàn luôn vô bài cho đã cái nư!

* * *

《回鄉偶書》HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ

少小離家老大回 Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi
鄉音無改鬓毛衰 Hương âm vô cải, mấn mao tồi
兒童相見不相識 Nhi đồng tương kiến, bất tương thức
笑問客從何處來 Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai?

NGẪU HỨNG LÚC VỀ QUÊ

Ra đi từ nhỏ, tới già đầu mới về,
Giọng quê không đổi, nhưng tóc đã rụng xơ xác.
Đứa nhỏ gặp mình, không quen biết
Cười hỏi: Ông khách xứ nào tới đây?

Toàn bài tuôn một hơi đúng điệu ngẫu hứng. Giọng thơ chơn chất, giản dị, bao nhiêu ý tứ cứ lộ hết ra, tưởng khỏi phải nói gì thêm.


* * *

Vậy mà nhờ ơn đám soạn giáo khoa, lại thành ra có chỗ cần bàn.

Trước hết là “giọng quê”. Nói về cái giọng, người mình ai từng đọc thơ Đynh Trầm Ca hẳn không quên mấy câu nầy:

Quán cóc
bốn thằng
ngồi như mê
Có ai vừa nhắc
chuyện ngoài quê
Ai ca giọng Quảng
nghe thương thế
Bốn cốc hoài hương chảy ngược về

Chỉ vẳng nghe giọng quê thôi, đã đủ làm người xa xứ (không cứ dân Quảng Nôm) bồi hồi.

Thành thử câu “Hương âm vô cải, mấn mao tồi” (Giọng quê không đổi, dù tóc đã thưa), mới được cho là chất chứa buồn khổ lâm ly của đời người, lại trộn thêm tự hào quê hương chất ngất: Tuy trái đất xoay vần, đầu mình thành hai thứ tóc; nhưng hay quá là hay, vẫn còn giữ được giọng quê.

Tức là nhờ “tình yêu quê hương” mà giữ được giọng xưa, chưa tới nỗi mất gốc.

Nhưng thiệt ra, xa xứ lâu năm mà giữ được giọng quê, nào giờ chỉ có dân Bắc-năm-tư: Họ bỏ phiếu bằng chân, dọn nguyên làng vô Nam, rồi tụ lại quây quần sống chung thành giáo xứ, nhờ vậy vẫn giữ được giọng ngoài quê. Còn như mình ên trà trộn xứ người, đố ai khỏi lai giọng?

Vậy hổng lẽ ông thần nước mặn Hạ Tri Chương nói dóc?

Thưa rằng, ổng có dóc đâu, tại dân mình bàn láo thì có!

Bởi hai chữ “hương âm”, mình cứ đinh ninh đó là “giọng quê”, nhưng với dân Tàu lại mang nghĩa khác: Là thổ ngữ.

Nước Tàu minh mông, do nhiều xứ hợp thành. Mỗi xứ đều có thổ ngữ riêng. Như Hạ Tri Chương quê ở Hàng Châu thuộc tỉnh Chiết Giang, nên thổ ngữ là tiếng Ngô Việt.

Chương băm sáu tuổi đậu Trạng nguyên, từ đó làm quan, đi biền biệt một lèo tuốt Trường An, tới tám sáu tuổi mới cáo lão huờn hương.

Suốt năm chục năm hòa mình trong đám quan lại triều đình, ông buộc phải nói toàn tiếng Quan thoại, chẳng có dịp nào được nói tiếng quê mình.

Nghĩ mà coi, cảnh ông về lại Hàng Châu, được xổ tá lả thứ tiếng Ngô Việt xí xô xí xào cho hả sau chừng đó năm. Hỏi trong đời còn gì đã điếu bằng?

Còn “vô cải” đây nghĩa là “không quên”, chớ hổng phải “không đổi”[*].

Nên “hương âm vô cải” chính là “chưa quên, còn nói được tiếng mẹ đẻ”.

Tóm lại, đó là câu thơ sướng tê người, làm gì còn chỗ chứa nỗi buồn nào? Lại càng hổng huỡn tự hào quần què quần cụt gì đâu!

* * *


Kế đó là câu kết. Chú nhóc kia mắc gì chưa nói đã cười?

Chỗ nầy phải ngó qua tánh cách Hạ Tri Chương.

“Đường thư Văn uyển” chép: “Tri Chương tánh tình phóng khoáng, ưa cà rỡn, được nhiều người yêu mến”. Cả “Đường tài tử truyện” cũng thuật tương tợ. Đỗ Phủ còn tả kỹ hơn, trong “Ẩm trung Bát tiên ca” 飲中八仙歌:

知章騎馬似乘船 Tri Chương kỵ mã tự thừa thuyền
眼花落井水底眠 Nhãn hoa lạc tỉnh thủy đề miên

(Hạ Tri Chương cỡi ngựa cứ lắc lư như ngồi xuồng,
Lỡ hoa mắt lọt giếng cũng ngủ tỉnh bơ dưới đó).

Để kể thêm chuyện nầy, đặng biết Hạ Tri Chương phóng túng chịu chơi cỡ nào:

Năm Thiên Bảo nguyên niên (742), Lý Bạch tới Trường An. Bữa đó tình cờ y cụng trán Hạ Tri Chương. Chương vốn hâm mộ Bạch từ lâu, một hai đòi được nghe thơ. Bạch khoái chí ngâm luôn “Thục đạo nan”, làm Chương tròn mắt kinh ngạc: “Coi bộ anh hổng phải loài người, mà là thứ tiên thánh hạ phàm!”

Xong hai đứa kéo vô quán. Nhậu đã đời rồi, mới biết chẳng ai đem theo tiền. Hạ Tri Chương cởi luôn con rùa vàng ở thắt lưng đưa chủ quán đặng thế chân.

Rùa vàng đó là tín vật vua ban cho trọng thần. Vậy mà cha nội tháo ra đưa nhẹ te, oai còn hơn ngày nay đảng viên cầm thẻ đảng!

Chỗ đáng nói là, năm đó Lý Bạch mới bốn mốt, còn Hạ Tri Chương đã tám tư, tức là muốn đẻ tía Bạch còn được. Đã vậy một bên đường đường Quang lộc Đại phu tòng nhứt phẩm, còn bên kia chỉ thư sinh tay trắng.

Trở lại với chú nhóc trong “Hồi hương ngẫu thư”. Thời đó con nít thấy người lạ, thường là giơ đòn gánh thủ thế, hoặc nhát hơn, còn suỵt chó ngăn ngừa từ xa. Lấy đâu ra đứa nhỏ đã chẳng đề phòng thì chớ, còn tươi cười hỏi thăm nầy nọ?

Nếu đã biết tánh lão ngoan đồng kia, ắt sẽ đoán ra. Là khứa lão đã chọc cười thằng nhóc, khiến đôi bên vừa gặp liền bạn bè.

Vị đại quan cáo lão được vua ân cần làm thơ chúc mừng, có thái tử dẫn theo bá quan đưa tiễn. Vậy mà về quê cà rỡn với con nít. Hỏi đó là câu thơ vui hay buồn?

Một đời vẫy vùng phỉ chí, có gì làm buồn được Hạ Tri Chương?

Về quê chưa đầy năm thì ông mất, coi như thỏa nguyện…

_________

[*] Lấy thí dụ cho rõ hơn. Như Luận ngữ có câu:

“Phụ tại quan kỳ chí, phụ một quan kỳ hành; tam niên VÔ CẢI ư phụ chi đạo, khả vị hiếu hề” 父在觀其志,父沒觀其行;三年無改於父之道,可謂孝矣。Nghĩa là: Khi tía mình còn thì quan sát chí hướng ổng; chừng tía mất thì suy xét cách ổng hành sự. Ít nhứt ba năm sau khi tía mất, vẫn KHÔNG QUÊN lời ổng dạy, mới là có hiếu.

Quan sát chí hướng, suy xét cách hành xử của tía là để coi có gì đáng noi theo không; còn con số “ba năm” là cách nói gọn, tương đương quãng thời gian để tang cha, đồng nghĩa với “suốt đời”.

Lê Vĩnh Húy
Theo: saigonthapcam

TỪ TRÀ THỜI ĐƯỜNG, TỐNG ĐẾN CHAI TRÀ TRONG CỬA HÀNG TIỆN LỢI NHẬT BẢN

Hành trình của trà qua chùa Thiền, xã hội võ gia và trà đạo đã để lại dấu ấn trong đời sống Nhật Bản hôm nay.


Ở Nhật Bản, trà là thức uống quá đỗi quen thuộc. Trong tủ lạnh của cửa hàng tiện lợi, trà xanh, trà rang, trà gạo rang và trà ô long chiếm nhiều chỗ. Máy bán hàng tự động quanh năm có trà nóng lẫn trà lạnh. Tại nhà hàng, khách thường được mời một tách trà trước bữa ăn. Trà quen thuộc tới mức dường như chẳng cần giới thiệu. Nhưng những chai trà trên phố Nhật hôm nay có một lịch sử rất dài.

Trà từ Trung Quốc thời Đường đến Nhật Bản

Những ghi chép rõ ràng sớm nhất về việc uống trà ở Nhật có thể lần về thời Heian. Năm 815, Thiên hoàng Saga đi thăm vùng Ōmi; tại chùa Banshaku-ji, nhà sư Eichū dâng trà đã nấu cho ông. Sự việc được chép trong Nihon Kōki (Nhật Bản Hậu Kỷ).

Eichū từng học tập lâu năm tại Trung Quốc thời Đường. Lúc đó, sư tăng Nhật Bản và các đoàn sứ thần sang nhà Đường thường xuyên qua lại giữa hai nước, mang về kinh Phật, chế độ, kiến trúc và nếp sống. Thói quen uống trà cũng theo những cuộc giao lưu ấy đến Nhật.

Văn hóa trà của Trung Quốc thời Đường đã khá phát triển. Lá trà được chế biến thành bánh; khi uống, người ta nghiền rồi nấu. Trà kinh của Lục Vũ mô tả tỉ mỉ việc hái, chế biến trà, dụng cụ và cách uống. Bên cạnh nhu cầu giải khát, trà dần trở thành một tập quán văn hóa. Sang Nhật Bản, cách uống ấy chủ yếu lưu truyền trong cung đình và các ngôi chùa. Thiên hoàng Saga từng khuyến khích trồng trà ở một số vùng.

Dẫu vậy, việc uống trà thời Heian sơ kỳ chưa thành thói quen lâu bền của toàn xã hội Nhật. Khi các chuyến sứ sang Đường chấm dứt, ảnh hưởng văn hóa thời Đường suy giảm, phong khí uống trà ban đầu cũng lắng xuống. Phải vài thế kỷ sau trà mới lại được chú ý.

Nhà sư Eisai mang trà từ thời Tống trở về

Cuối thế kỷ 12, nhà sư Nhật Bản Eisai hai lần sang Trung Quốc thời Tống. Cách uống trà lúc ấy khác thời Đường. Người thời Tống chuộng điểm trà: nghiền trà thành bột, rót nước nóng rồi dùng chổi trà đánh lên. Cách pha matcha của Nhật ngày nay có quan hệ lịch sử mật thiết với truyền thống ấy.

Nhà sư Nhật Bản Myoan Eisai. Ảnh: Wiki

Năm 1191, Eisai trở về Nhật, mang theo hạt trà và truyền bá cách uống trà thời Tống. Ông tin trà có lợi cho việc dưỡng sinh. Năm 1214, khi tướng quân Mạc phủ Kamakura là Minamoto no Sanetomo không khỏe, Eisai dâng trà cùng tác phẩm Kissa Yōjōki (Khiết Trà Dưỡng Sinh Ký) do chính mình viết. Cuốn sách giới thiệu có hệ thống về công dụng, cách trồng và uống trà, giữ vị trí quan trọng trong lịch sử văn hóa trà Nhật Bản.

Sau Eisai, trà dần phát triển trong các chùa Thiền. Sư tăng Nhật Bản vẫn thường qua lại Trung Quốc và nhiều ngôi chùa duy trì quan hệ mật thiết với nước này. Trà dùng để đãi khách và trở thành một phần sinh hoạt trong chùa. Đồng thời, trà bước vào xã hội võ gia, rồi được nhiều tầng lớp khác biết đến.

Truyền thống trà Shizuoka

Sau khi Eisai mang hạt trà về, nhiều vùng Nhật Bản bắt đầu có thêm vườn trà. Trà Shizuoka nổi tiếng ngày nay cũng gắn với một câu chuyện từ thời Tống. Vùng Shizuoka khi ấy thuộc xứ Suruga, ở khoảng giữa tỉnh Shizuoka hiện nay. Thời Kamakura, nhà sư Shōichi Kokushi sinh tại Suruga sang Trung Quốc học đạo; khi trở về, ông đem theo hạt trà và trồng ở Ashikubo gần quê nhà.

Những cây trà từ Trung Quốc lớn lên trên đất Suruga. Ashikubo dần hình thành truyền thống trồng trà, để rồi lịch sử trà Shizuoka tiếp nối tới ngày nay. Câu chuyện về Shōichi Kokushi vẫn được địa phương lưu truyền, còn Ashikubo được xem là một nơi phát tích quan trọng của trà Shizuoka. Sau đó, trà tiếp tục phát triển trên khắp Nhật Bản, vượt ra ngoài chùa chiền và giới võ gia để đến với cuộc sống rộng hơn.


Từ uống trà đến trà hội

Đến thời Muromachi, trà không còn chỉ là thức uống trong chùa. Võ sĩ, quý tộc cung đình và cư dân đô thị bắt đầu tổ chức trà hội. Dụng cụ trà, thư họa từ Trung Quốc được coi trọng; ngoài việc uống, thưởng lãm đồ vật cũng trở thành một phần quan trọng của buổi trà. Văn hóa trà Nhật Bản dần tạo nét riêng.

Murata Jukō đề xướng phòng trà và dụng cụ giản dị; Takeno Jōō tiếp tục phát triển phong cách ấy. Đến thời Sen no Rikyū, hình thức trà đạo Nhật Bản hoàn thiện hơn. Phòng trà càng mộc mạc, đồ dùng không còn một mực chuộng vẻ hào nhoáng. Chủ nhà chuẩn bị trà, khách đón nhận, mỗi động tác trong trà hội đều có lễ pháp tương ứng. Văn hóa ấy về sau được gọi là wabi-cha. Nó vẫn mang dấu vết văn hóa trà Trung Quốc, đồng thời đã có bản sắc Nhật rõ rệt.


Một chén trà trong đời sống thường ngày

Trà tiếp tục phát triển tại nhiều địa phương và tầng lớp xã hội. Vườn trà Shizuoka mở rộng qua thời Edo và Minh Trị, dần tạo nên vùng sản xuất trà nổi tiếng hiện nay.

Ngày nay, cách người Nhật uống trà đã thay đổi nhiều. Trà đạo vẫn tồn tại, nhưng phần lớn lúc uống trà, người ta không cần phòng trà hay các nghi lễ phức tạp. Một chai trà xanh hay một tách trà rang đã thành thức uống hằng ngày: cửa hàng tiện lợi bày nhiều loại trà, máy bán tự động có trà nóng và lạnh, nhà hàng cũng thường phục vụ trà.

Từ cách uống ban đầu truyền sang Nhật thời Đường, phương pháp Eisai mang về từ thời Tống, đến trà đạo hình thành dần thời Muromachi, văn hóa trà Nhật Bản đã đi một chặng đường dài. Cây trà từ Trung Quốc bén rễ tại những vùng như Shizuoka, tạo nên vườn trà và truyền thống địa phương. Có loại trà Nhật hôm nay vẫn giữ nếp xưa, có loại đã hòa hẳn vào đời sống hiện đại.

Một chén trà có thể hiện diện trong phòng trà, cũng có thể nằm trên kệ cửa hàng tiện lợi. Đi qua nhiều thế kỷ và vùng đất, trà trở thành thức uống thường ngày của người Nhật và ký ức văn hóa riêng của nhiều địa phương.

Tuệ Minh / Theo: ĐKN
Link tham khảo:


HỌA MI ĐIỂU - ÂU DƯƠNG TU


Hoạ mi điểu

Bách chuyển thiên thanh tuỳ ý di,
Sơn hoa hồng tử, thụ cao đê.
Thuỷ tri toả hướng kim lung thính,
Bất cập lâm gian tự tại đề.


畫眉鳥

百囀千聲隨意移
山花紅紫樹高低
始知鎖向金籠聽
不及林間自在啼


Chim hoạ mi
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Bách thanh trầm bổng chẳng ngừng.
Muôn hồng nghìn tía trên từng cành cao.
Lồng son khóa kín tìm vào.
Trong rừng tự tại, khác nào khi xưa !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Âu Dương Tu 歐陽修 (1007-1072) tự Vĩnh Thúc 永叔, hiệu Tuý ông 醉翁, Lục Nhất cư sĩ 六一居士, thuỵ hiệu Văn Trung 文忠, người huyện Lư Lăng tỉnh Giang Tây, ông là một vị cổ văn gia, lịch sử học gia có tiếng, lại là một thi nhân tài tình phong phú. Ông hiện còn lại Lục nhất từ 3 quyển.

Nguồn: Thi Viện