Saturday, September 26, 2026

BẠN CÓ TIN RẰNG TRƯỚC KHI XẢY RA TAI HỌA, ÔNG TRỜI ĐÃ LUÔN CẢNH BÁO BẠN?

Người xưa có câu rất đáng suy ngẫm: “Đại họa thường có dấu hiệu trước.” Có người tin đó là điềm báo, có người gọi là linh cảm, có người cho rằng chỉ là sự trùng hợp. Nhưng nếu nhìn theo góc độ tâm linh và nhân quả, có những chuyện xảy ra trong đời thật sự rất lạ. Nó không đến một lần rồi thôi, mà cứ liên tiếp xuất hiện, giống như đang nhắc nhở: “Chậm lại đi, đừng bước tiếp nữa.”


Có một người phụ nữ từng nhắc nhở một người chị vào ngày 29. Khi thấy một nạn sắp đến, cô vẫn nhắc nhở. Hôm đó cô bảo người chị sắp gặp một chuyện lớn, nếu cẩn thận thì lớn có thể hóa nhỏ, nhỏ thì coi như không có. Người chị nghe xong cũng gật đầu đồng ý sẽ cẩn thận hơn.

Tâm linh không phải là ma quỷ hù dọa. Nó nằm ngay trong những việc rất bình thường của đời sống. Buổi sáng xe tự nhiên hết xăng vì hôm trước quên đổ. Con nhỏ bình thường ngủ ngoan bỗng đòi mẹ ở nhà thêm chút. Chồng bất ngờ nhờ chạy mua đồ trước khi đi làm. Tất cả đều có thể là một lời cảnh báo. Chỉ cần chậm lại một chút là thoát được. Trường hợp của người chị ấy cũng vậy.

Sáng hôm đó, xe đề mãi không lên. Người chị bực bội, cố gắng rồi vẫn đi làm. Trên đường, xe của anh Grab lại bị bể bánh, xịt lốp luôn. Lần thứ hai trễ giờ, người chị vẫn không dừng, leo lên chiếc xe khác tiếp tục. Đến nơi làm, đúng lúc trần nhà rớt xuống. May mắn tấm trần chỉ xẹt qua vai, rách một mảng nhỏ. Nếu nó xui rủi rớt xuống đầu, có lẽ hậu quả sẽ khác hoàn toàn.

Người phụ nữ ấy từng nói: Không có gì xảy ra ngẫu nhiên, nên thuận theo chứ không cố gắng chống lại. Việc làm quan trọng, có gia đình con cái cần nuôi, nhưng khi đã trễ thì trễ. Hối thúc để kịp giờ đôi khi lại đẩy mình vào chỗ nguy hiểm hơn. Người chị ấy vẫn còn may mắn vì phước còn che chở. Ông bà đã gánh một đoạn. Nhưng trời đã cảnh báo quá rõ ràng, mà vẫn không chịu nhìn ra.

Nhiều người đọc cũng chia sẻ những trải nghiệm tương tự. Một người viết: “Nói đúng nè! Nhiều khi xâu chuỗi lại những việc mình làm là có nha! Em cũng tâm linh kiểu vậy! Bữa đi xe máy em cũng định chở con gái theo mà sao hôm đó lại cho nó ở nhà, kiểu gì đó không muốn chở theo. Đúng y chang, ra đường xe tông, hên là bị nhẹ thôi! Lúc đó thầm cảm ơn ông bà tổ tiên che chở.”

Người khác kể: “Bữa chạy xe, bo cua rẽ ngã tư, không thấy được ông bác lớn tuổi đi ngược chiều. May mắn có chú chó chạy ra nên giảm ga. Nhờ chú chó không là va vào ông bác rồi.”

Còn một người chia sẻ câu chuyện khi đi cùng với mẹ: “Mấy năm trước em với mẹ chạy xe máy về ngoại chơi, vừa dắt xe chạy được 50m thì bể bánh. Gắng chạy kiếm chỗ vá, vá xong đi tiếp được 5-600m bể tiếp, rồi dắt bộ đi vá nữa. Đi tiếp 1km lại bị. Mẹ thấy vậy nói thôi vá xong về luôn đi, kiểu này đi không được rồi.”

Có người nhớ lại đêm tăng ca đến 11 giờ: “Bình thường em hay đi về một con đường, nhưng hôm đó suy nghĩ thế nào lại đi đường khác. Đến nhà thấy mọi người bảo anh trai em nghe tin vừa có vụ tai nạn ở đoạn đường em hay đi nên chạy xe đi xem có phải em không. Thật là các cụ gánh còng lưng.”


Khi mọi chuyện thuận, người ta gọi là may mắn. Khi bắt đầu trục trặc, lại nghĩ mình đang xui. Nhưng rất ít người chịu nghĩ rằng cái gọi là “xui” ấy đang cứu mình. Theo góc nhìn tâm linh, có người gọi đó là “điềm báo” đã ứng. Có người nói phước còn lớn nên tai họa lớn hóa nhỏ.

“Phúc đức có thể cứu người trong lúc nguy nan.”

Người xưa coi trọng hai chữ “biết điềm”. Biết điềm không phải chuyện gì cũng nhìn thấy ma quỷ, cũng không phải cứ chim bay vào nhà, gương vỡ là lập tức sợ hãi. Tâm linh nếu càng tin mà càng sợ thì càng dễ lạc. Cái đáng quý là nhìn thấy sự bất thường rồi biết điều chỉnh hành vi của mình. Điềm báo đôi khi không nằm trong giấc mơ kỳ lạ. Nó nằm ngay trong đời sống hàng ngày: một chuyến đi liên tục gặp trục trặc, một cuộc hẹn bị hủy, một người thân bất ngờ gọi ở lại, một đứa trẻ sáng hôm đó cứ ôm chân không cho mẹ đi.

Đạo gia có câu “Họa hề phúc chi sở ỷ.” Trong họa có khi lại ẩn chứa phúc.

Một chuyện làm mình trễ giờ có thể giúp tránh tai nạn. Một công việc thất bại có thể kéo mình ra khỏi nơi không còn phù hợp. Nếu một ngày mọi thứ liên tục không thuận, đừng vội nổi giận. Có thể đó chỉ là sự cố bình thường. Nhưng cũng có thể cuộc đời đang cho mình một cơ hội để quay đầu.

Điềm báo đáng sợ nhất không phải là mình không nhìn thấy. Mà là nó đã nhắc hết lần này đến lần khác, nhưng vì tham công, tiếc tiền, sợ mất cơ hội hay quá cố chấp, mình vẫn cứ bước tiếp. Có những lần chậm lại chỉ mất một giờ. Có những lần chậm lại mất một ngày. Nhưng cũng có những lần chậm một bước, chính là tránh được một kiếp nạn.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

KỶ NGUYÊN CỦA ĐỒNG HỒ TAM GIÁC ĐÃ ĐẾN?

Sau hàng thập kỷ thống trị, đồng hồ tròn đang nhường chỗ cho những thiết kế góc cạnh hơn. Đồng hồ tam giác bắt đầu được các thương hiệu và giới chơi đồng hồ chú ý.


Phần lớn đồng hồ hiện nay vẫn sử dụng bộ vỏ và mặt số hình tròn. Kiểu dáng này phù hợp với cấu trúc bộ máy, thuận tiện trong chế tác và nằm vừa vặn trên cổ tay, theo GQ Magazine.

Tuy nhiên, những thiết kế góc cạnh đang xuất hiện thường xuyên hơn trong những năm gần đây. Harry Styles từng đeo Cartier Tank Louis, trong khi Connor Storrie xuất hiện tại show Saint Laurent với Jaeger-LeCoultre Reverso. Trên thảm đỏ, đồng hồ vuông và chữ nhật cũng dần trở thành hình ảnh quen thuộc.

Sau hình vuông và chữ nhật, hình tam giác đang được chú ý như một hướng đi khác. Những mẫu đồng hồ này có ba cạnh, tỷ lệ khác thường và tạo ra cách đeo khác biệt so với kiểu vỏ truyền thống.

Vì sao đồng hồ tam giác khó phổ biến?

Ý tưởng về đồng hồ tam giác không mới. Hamilton Ventura, do nhà thiết kế công nghiệp người Mỹ Richard Arbib thực hiện, ra mắt năm 1957 và trở thành chiếc đồng hồ đeo tay chạy điện đầu tiên trên thế giới. Thiết kế mang dáng vẻ tương lai khi đó vẫn giữ được nét đặc trưng sau gần 70 năm. Elvis Presley từng đeo Ventura trong Blue Hawaii, góp phần đưa mẫu đồng hồ này trở thành một biểu tượng của Hamilton.

Cũng trong giai đoạn này, Gilbert Albert thiết kế một mẫu Patek Philippe với bộ vỏ tam giác bằng vàng 18 karat. Kiểu dáng khác thường khiến đồng hồ được sản xuất với số lượng rất ít. Theo chuyên gia Meighan Johnson, một thiết kế hướng đến tương lai sẽ trở thành khoản đầu tư đáng kể khi được chế tác bằng vàng 18 karat.

Đồng hồ tam giác A1 Prehistoric tái hiện vẻ đẹp của những công cụ sơ khai của con người, lấy cảm hứng từ các mũi tên và rìu đá được chế tác thủ công (bên trên) và mẫu Hamilton Ventura phổ biến trên thị trường (bên dưới). Ảnh: @anomawatch/Instagram; Hamilton Ventura.

Dù từng xuất hiện ở những thương hiệu danh tiếng, đồng hồ tam giác chưa bao giờ trở thành một dòng sản phẩm phổ biến. Lý do nằm một phần ở chính hình dáng này.

Andrew Morgan, nhà sáng lập Andrew Morgan Watches, chia sẻ với GQ Magzine đồng hồ chữ nhật thiên về hình thức, còn đồng hồ tròn phù hợp hơn với yêu cầu về công năng. Hình tròn cũng có tính đối xứng, dễ sản xuất, tương thích với bộ máy và nằm vừa vặn trên cổ tay.

Đồng hồ vuông và chữ nhật không tạo ra quá nhiều thay đổi về mặt cấu trúc. Các trục ngang và dọc mang lại trật tự rõ ràng, như ở Cartier Tank hay Jaeger-LeCoultre Reverso.

Elvis Presley từng đeo Ventura trong Blue Hawaii, góp phần đưa mẫu đồng hồ này trở thành một biểu tượng của Hamilton. Ảnh: Elvis Presley.

Trong khi đó, hình tam giác đặt ra nhiều bài toán hơn. Phần đỉnh nhọn tạo hướng nhìn rõ rệt và ảnh hưởng đến cách đồng hồ nằm trên cổ tay. Nhà sản xuất phải tính toán lại cách gắn dây, bố trí mặt số và xử lý khả năng kín nước ở các góc.

Thời điểm những mẫu tam giác đầu tiên xuất hiện cũng không thuận lợi. Cuối thập niên 1950, phong cách ăn mặc của nam giới bắt đầu chuyển sang sự thoải mái, với áo phông, denim và đồng hồ thể thao bằng thép. Theo Morgan, một chiếc đồng hồ tam giác khi đó khó tìm được vị trí trong xu hướng này.

Những thiết kế tiên phong vì thế không phát triển thành một dòng sản phẩm phổ biến. Hamilton Ventura trở thành ngoại lệ, trong khi những mẫu Patek Philippe do Gilbert Albert thiết kế vẫn rất hiếm. Theo tạp chí Hairsping, đồng hồ tam giác thời điểm đó gần với một vật thể nghệ thuật hơn là công cụ, trong khi ngành đồng hồ chủ yếu tập trung vào chức năng.

Đồng hồ khác biệt

Thị trường hiện nay có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho những thiết kế như vậy. Điện thoại thông minh đã đảm nhận phần lớn nhu cầu xem giờ. Điện thoại có thể tự động điều chỉnh múi giờ, cập nhật thời tiết và cung cấp nhiều tiện ích khác. Khi chức năng xem giờ không còn là lý do duy nhất để đeo đồng hồ, thiết kế có thêm vai trò trong quyết định mua hàng.

Meighan Johnson từng nhắc đến lo ngại điện thoại sẽ đe dọa ngành đồng hồ. Thực tế, thiết bị này lại giúp đồng hồ bớt phụ thuộc vào công năng thuần túy. Người dùng có thể lựa chọn một chiếc đồng hồ vì kiểu dáng, chất liệu hoặc dấu ấn cá nhân.

Thế hệ người chơi mới hình thành trong thời kỳ đại dịch cũng góp phần thúc đẩy sự thay đổi. Sau nhiều năm quen thuộc với đồng hồ thể thao bằng thép và mặt số tròn, họ bắt đầu tìm kiếm những thiết kế khác biệt hơn. Những mẫu có hình dáng đặc biệt của Cartier, Piaget, Audemars Piguet và Patek Philippe cũng thu hút sự chú ý tại các phiên đấu giá.

Sau thời kỳ đồng hồ thể thao được săn đón mạnh, người chơi đang tìm lại tính cá nhân trong lựa chọn của mình. Một số thiết kế mới vì thế tập trung nhiều hơn vào hình dáng và cách tạo dấu ấn thị giác.

Đồng hồ Nectere Eclipse (2026) của Nectere (bên trên) và Patek Philippe ref. 3412 ra mắt cuối thập niên 1950 (bên dưới). Ảnh: Nectere; @paddle_waves/Instagram.

Cách người chơi đánh giá đồng hồ cũng đang thay đổi. Các cuộc thảo luận trước đây thường xoay quanh thông số kỹ thuật, tính năng phức tạp, độ hoàn thiện, nguồn gốc và vị thế thương hiệu. Bên cạnh những yếu tố này, thị trường vẫn có nhu cầu đối với những chiếc đồng hồ có ngôn ngữ thiết kế rõ ràng.

Các thương hiệu độc lập đang tạo thêm không gian cho những thử nghiệm như vậy. Meighan Johnson nhắc đến Dennison và Toledano & Chan như những ví dụ cho thấy các thương hiệu nhỏ có thể đưa thiết kế tiên phong đến gần người chơi hơn. Quy mô gọn hơn cũng giúp họ linh hoạt hơn khi thử nghiệm những hình dáng khác thường.

Tuy nhiên, hình tam giác tự thân không tạo nên một chiếc đồng hồ tốt. Mặt số phải được thiết kế dựa trên hình dáng của vỏ, thay vì đưa bố cục tròn quen thuộc vào bên trong. Kim, núm chỉnh giờ, bộ máy và dây đeo cũng cần được tính toán để tạo thành một tổng thể thống nhất.

Đó cũng là thách thức lớn nhất của kiểu dáng này. Khi hình tam giác vốn đã tạo ra sự khác biệt, mỗi chi tiết cần được xử lý vừa đủ để thiết kế nổi bật mà không mất đi sự cân bằng.

Sau nhiều thập niên quen thuộc với đồng hồ tròn, vuông và chữ nhật, những thiết kế tam giác đang có thêm cơ hội xuất hiện. Với sự thay đổi trong nhu cầu của người chơi và khả năng thử nghiệm của các thương hiệu độc lập, đây có thể là một trong những hướng đi tiếp theo của thiết kế đồng hồ.

Thư Vũ / Theo: Zingnews

BÁT NGUYỆT THẬP NGŨ NHẬT DẠ CẤM TRUNG ĐỘC TRỰC ĐỐI NGUYỆT ỨC NGUYÊN CỪU - BẠCH CƯ DỊ


Bát nguyệt thập ngũ nhật 
dạ cấm trung độc trực 
đối nguyệt ức Nguyên Cửu

Ngân đài kim khuyết tịch trầm trầm,
Độc túc tương tư tại hàn lâm.
Tam ngũ dạ trung tân nguyệt sắc,
Nhị thiên lý ngoại cố nhân tâm.
Chử cung đông diện yên ba lãnh,
Dục điện tây đầu chung lậu thâm.
Do khủng thanh quang bất đồng kiến,
Giang lăng ty thấp túc thu âm.


八月十五日夜禁中
獨直對月憶元九

銀臺金闕夕沉沉
獨宿相思在翰林
三五夜中新月色
二千里外故人心
渚宮東面煙波冷
浴殿西頭鐘漏深
猶恐清光不同見
江陵卑濕足秋陰


Rằm tháng tám, ngày đêm 
một mình trực trong cung 
trước trăng nhớ Nguyên Cửu
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Lầu son gác tía về đêm.
Một mình nhớ bạn, bên thềm Hàn lâm.
Đêm dằm, trăng sáng thanh khâm.
Cách hai vạn dặm, cố nhân ngóng hoài.
Đông cung sương lạnh, khói phai.
Giọt đồng thánh thót, điểm dài Dục Tây.
Ánh trăng còn sáng đâu đây.
Giang Lăng mát mẻ, đã bầy vẻ thu.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ.

Nguồn: Thi Viện

TẠI SAO LÒNG LỢN BÁN ĐẦY NGOÀI CHỢ CÒN LÒNG BÒ THÌ KHÔNG? CHÚNG ĐÃ ĐI ĐÂU?

Bạn có bao giờ thắc mắc tại sao lòng lợn được bán tràn lan ngoài chợ, trong khi lòng bò lại cực hiếm?

Lòng lợn bán ở khắp nơi

Nếu đi chợ, bạn có thể dễ dàng bắt gặp những quầy bán lòng lợn, từ lòng non, lòng già đến dạ dày, tim, gan… nhưng lại khá khó tìm thấy lòng bò được bày bán phổ biến. Rất nhiều người thắc mắc, rút cuộc lòng bò đã đi đâu?

Lòng bò không hề bị bỏ đi

Trước hết, lòng bò không phải loại nội tạng bị bỏ đi sau khi giết mổ. Phần lớn nội tạng bò có giá trị sử dụng rất cao và vẫn được đưa vào chế biến thực phẩm. Tuy nhiên, khác với lòng lợn, chúng thường không xuất hiện rộng rãi tại các sạp chợ dân sinh.

Nguyên nhân nằm ở khâu giết mổ, sơ chế và phân phối. Nội tạng bò có kích thước lớn, nhiều bộ phận khá dày và cần làm sạch kỹ. Vì vậy, thay vì chia nhỏ rồi đưa ra chợ bán trực tiếp, chúng thường được thu gom và xử lý theo những kênh riêng.

Lòng bò khó sơ chế hơn lòng lợn

Đây là một lý do quan trọng khiến lòng bò ít được bán phổ biến. Đường ruột của bò dài và có cấu tạo phức tạp, trong khi dạ dày bò gồm nhiều phần như dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế. Việc làm sạch những bộ phận này phức tạp và rất tốn thời gian.

Đặc biệt, bò là động vật nhai lại nên hệ tiêu hóa chứa nhiều thức ăn thực vật đã lên men. Nếu không được xử lý nhanh và đúng cách, nội tạng dễ có mùi đặc trưng. Người bán ở chợ dân sinh vì thế thường không muốn nhập loại hàng cần nhiều thời gian sơ chế nhưng lượng khách mua không ổn định.

Nội tạng bò thường được thu gom ngay tại nơi giết mổ

Lòng bò chính là mỹ vị của nhiều nhà hàng, quán lẩu nướng. Do đó, đầu tư của nội tạng bò gần như đã được hẹn trước đầu ra. Giá thành của món ăn này cũng không hề rẻ, nếu không muốn nói là đắt đỏ.

Vì thế, người tiêu dùng có thể ít nhìn thấy lòng bò ở chợ nhưng điều đó không có nghĩa nguồn cung ít. Chúng có thể đã được đưa vào các kênh tiêu thụ khác trước khi đến chợ dân sinh.

Lòng bò nhập vào nhà hàng là chủ yếu

Một số phần của lòng bò được bán dưới tên món ăn

Nhiều người thực tế vẫn ăn lòng bò thường xuyên nhưng không để ý rằng chúng được bán dưới dạng món ăn thay vì bán nguyên liệu. Chẳng hạn, sách bò, lá lách, lá sách, khăn lông, gân, dạ dày bò thường xuất hiện trong các quán phở, quán bò, quán lẩu hoặc nhà hàng.

Đặc biệt, sách bò và các phần dạ dày bò có thể được sơ chế rồi cung cấp trực tiếp cho nhà hàng. Vì vậy, thay vì nhìn thấy một quầy chuyên bán "lòng bò" như với lòng lợn, người tiêu dùng thường bắt gặp chúng dưới dạng nguyên liệu đã được phân loại hoặc món ăn hoàn chỉnh. Sách bò sau khi chế biển ăn rất thơm ngon, thường là đồ hết đầu tiên.

Nhu cầu của thị trường cũng quyết định nơi bán

Lòng lợn có lợi thế là nhiều bộ phận dễ chia nhỏ, dễ bán theo từng phần và có lượng người mua khá ổn định. Trong khi đó, lòng bò thường có kích thước lớn, giá thành và công sơ chế cao hơn, nên không phải sạp chợ nào cũng muốn nhập về.

Những người có nhu cầu mua lòng bò thường tìm đến cơ sở giết mổ, cửa hàng chuyên nội tạng, đầu mối thực phẩm hoặc đặt mua từ nhà cung cấp. Đây cũng là lý do khiến mặt hàng này ít xuất hiện ở những khu chợ thông thường.


Vậy cuối cùng, lòng bò đã đi đâu?

Thực tế, phần lớn không biến mất và cũng không phải đều bị vứt bỏ. Sau khi giết mổ, nội tạng bò được phân loại: phần có giá trị thực phẩm được làm sạch, sơ chế rồi đưa đến nhà hàng, cơ sở chế biến, đầu mối hoặc các kênh bán hàng chuyên biệt; những phần không phù hợp để làm thực phẩm có thể được xử lý theo quy định.

Do đó, nếu bạn thấy lòng lợn được bày bán đầy chợ còn lòng bò "mất hút", nguyên nhân chủ yếu nằm ở đặc điểm hệ tiêu hóa của bò, công đoạn sơ chế phức tạp hơn và cách tổ chức chuỗi phân phối khác nhau, chứ không phải vì lòng bò không được sử dụng.

Dương Thụy / Theo: giaitri.thoibaovhnt

NÚI THÁI SƠN - ĐIỂM ĐẾN HUYỀN THOẠI GẮN LIỀN VỚI CÂU CA DAO NỔI TIẾNG

Núi Thái Sơn được xem như biểu tượng của tín ngưỡng Trung Quốc cổ đại và cả đương đại, được người Trung Hoa tôn xưng là “Hoa Hạ thần sơn”.


Ngọn núi biểu tượng trong văn hóa Á Đông

Chắc hẳn trong chúng ta ai cũng từng được nghe câu ca dao: “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Câu ca dao này được ông bà truyền từ lâu đời để giáo dục công sinh thành của bậc cha mẹ đối với con cái. Vậy nguồn gốc của núi Thái Sơn từ đâu mà được ví von cao như công cha? Hãy cùng khám phá ngọn núi Thái Sơn trong bài viết sau đây.


Núi Thái Sơn nằm ở phía tây tỉnh Sơn Đông. Ngọn núi này có độ cao dao động từ 150m đến 1.545m với điểm cao nhất là đỉnh Ngọc Hoàng. Theo các ghi chép lịch sử, núi Thái Sơn là một nơi linh thiêng được các hoàng đế viếng thăm để cúng tế và thiền định từ thời nhà Chu trước năm 1.000 TCN. Tổng cộng có 72 hoàng đế đã được ghi nhận là đã đến đây.


Núi Thái Sơn còn được xem như biểu tượng của nền văn minh, tín ngưỡng Trung Quốc cổ đại và cả đương đại. Ngọn núi này còn được người Trung Hoa tôn xưng là “Hoa Hạ thần sơn”. Ngọn núi này được lấy làm cảm hứng sáng tác của rất nhiều nhà văn, nhà thơ. Họ đến đây để sáng tác văn thơ, vẽ tranh và chụp ảnh.

Hành trình chinh phục vẻ đẹp thiên nhiên

Hành trình chinh phục núi Thái Sơn khoảng 7.200 bước với 6.293 bậc thang chính dẫn lên đỉnh núi, qua 11 cổng, 14 cổng vòm, 14 quán và 4 vọng lâu. Tổng cộng có 22 ngôi đền, 97 tàn tích, 819 phiến đá và 1.018 bức tường đá và vách đá tại Thái Sơn. Cũng chính vì con đường khó khăn để chinh phục ngọn núi này, mà ông bà đã dùng để ví như công lao to lớn của cha mẹ.


Địa hình có núi non trập trùng, vách đá dựng đứng, rừng cây cổ thụ cứng cáp xanh tươi, những thác nước trong vắt tựa như những dòng suối ngọc chảy giữa đất trời lung linh huyền ảo. Đứng trên đỉnh của ngọn Ngọc Hoàng sẽ thấy thế núi trùng điệp dưới chân. Từ trên núi, du khách sẽ có cơ hội chiêm ngưỡng sông Hoàng Hà lấp lánh ánh vàng, những đám mây lãng đãng trên đỉnh núi và phủ khắp Thái Sơn.


Ngoài ra, ngọn núi này còn có hệ động thực vật phong phú. Thảm thực vật tại đây chiếm đến 79,9% diện tích với 989 loài, trong đó có 433 loài thân gỗ và phần còn lại là cây thân thảo với 462 loài dược liệu. Động vật có hơn 200 loài, trong đó có đến 122 loài chim. Núi Thái Sơn đã được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên và văn hóa thế giới năm 1987.


Theo: Ivivu



Friday, September 25, 2026

SÀI GÒN: KÝ ỨC KHÔNG THỂ THAY TÊN

Trong di sản âm nhạc gắn liền với ký ức của người miền Nam Việt Nam, cái tên Sài Gòn có một vị trí đặc biệt, và hiếm có thành phố nào lại có một ca khúc như mở ra thời kỳ thịnh vượng của mình, rồi cũng có một ca khúc như khép lại cả một thời đại bằng lời từ biệt, cất lời chia tay thảng thốt.

Đường phố Sài Gòn năm 1972. Nguồn ảnh: Getty Images

Ai đã biết đến dòng nhạc vàng, ắt phải biết đến Sài Gòn của Y Vân (bài hát thường bị gọi nhầm là Sài Gòn đẹp lắm). Bài hát ẩn trong các ca từ là niềm tự hào về việc lựa chọn nơi sống, hòa mình vào cuộc sống và tự gắn nó với đời của các thế hệ đã đến, đã an sinh và thuộc về. Còn Sài Gòn ơi vĩnh biệt của Nam Lộc là một lời chào từ giã da diết với kỷ niệm, và cũng là lời chào, khép lại một đoạn đời, thời gian của tự do, của tuổi trẻ và những điều yêu dấu.

Điều thú vị là Sài Gòn được viết đầu năm 1965, còn Sài Gòn ơi vĩnh biệt của Nam Lộc được sáng tác vào cuối năm 1975. Mốc thời gian này như cánh cửa mở và đóng chuỗi hoài niệm của biết bao người Việt xa xứ, cũng như ở lại.

Nếu nghe được sự tự hào, niềm vui rộn ràng của Y Vân rồi kết thúc bằng hy vọng và những lời hứa như di ngôn "tôi vẫn không bao giờ quên" của Nam Lộc, ngàn lời nói cũng không thể bằng một thoáng ngậm ngùi.

Năm 1976, khi Sài Gòn đổi tên, việc chuyển đổi ký hiệu địa lý đột nhiên khiến cái tên Sài Gòn bật lên trong câu nói, câu hát nhiều đến lạ kỳ. Người ta đếm được rất nhiều những bài hát gắn với cái tên Sài Gòn bùng phát trong suốt nhiều năm, được ngân nga hát lại ở mọi nơi, kể cả với người đang sống trong nước. Sài Gòn niềm nhớ không tên (Nguyễn Đình Toàn), Đêm nhớ về Sài Gòn (Trầm Tử Thiêng), Cho thành phố mất tên (Phạm Đình Chương)…

Mỗi bài hát như tiếng chuông nhỏ, ngân khẽ trong giấc ngủ, mà lại xoáy vào tim, khiến người thức dậy có thể thấy mắt mình đã ướt tự bao giờ.

Chị bạn sống ở Philadelphia kể rằng, có những ngày mới đến Mỹ, lái xe một mình vào trời chập choạng tối, nghe giai điệu Đêm nhớ về Sài Gòn cất lên, chị phải tấp xe vào lề vì mắt nhòa lệ.

Lần ghé thăm Nguyễn Đình Toàn, ông giới thiệu bản làm mới ca khúc Nước mắt cho Sài Gòn của mình, đột nhiên ông bỗng lặng im khi nghe lại những câu hát về thành phố hôm qua. Không ai dám hỏi hay nói gì. Lúc sau, ông như sực tỉnh, cười nhẹ, nói: "Tôi nhớ những con đường mình đi ngày xưa." Không ai biết con đường đó tên gì, nhưng chắc chắn, ắt phải là một con đường ở nơi ấy, Sài Gòn.

Với nhiều người miền Nam, đặc biệt là những ai đã sống qua giai đoạn trước 1975 rồi rời quê hương sau đó, Sài Gòn không đơn thuần là một thành phố đã đổi tên trên bản đồ. Đó là nơi giữ lại nhịp thở hồn nhiên của tuổi trẻ (Biết đến thuở nào, Tùng Giang), những giấc mơ hoang dại trong buổi súng đạn ập đến rền vang (Vết thù trên lưng ngựa hoang, Ngọc Chánh, Phạm Duy), có cả những nỗi cô đơn phố thị thấm đẫm chủ nghĩa hiện sinh (Đêm dài, Nguyễn Trung Cang).

Sài Gòn hiện lên trong từng câu hát, đôi khi không gọi tên nhưng hiện ra với những con phố, những quán cà phê, những buổi chiều mưa. Đó là cuộc sống hồn nhiên đang có, tận hưởng và rồi bàng hoàng khi mọi thứ không còn.

Những điều ấy, không chỉ trong kỷ niệm riêng của từng người mà còn trong ký ức chung của cả một thế hệ với đường Duy Tân cây dài bóng mát, với Sài Gòn không ngủ, tiếng gõ mì vang trong đêm, len giữa ánh đèn neon và tiếng xe cộ chập chờn.

Đường phố Sài Gòn năm 1970. Nguồn ảnh: Getty Images

Âm nhạc ở Sài Gòn phát triển từ 1954 đến 1975, đã gắn chặt người miền Nam với nhịp thở của đời mình, và rồi sau đó, chính sự tìm nghe, ủng hộ của một số lượng lớn người Việt không chấp nhận lìa xa quá khứ đã khiến nền âm nhạc của người Việt hải ngoại ra đời.

Bản thân âm điệu cũ, dòng nhạc cũ, văn hóa quen thuộc vang lên, gợi lại, khiến người nghe lại muốn níu vào đời mình thêm chút nữa, để giữ lại những điều đẹp nhất.

Các trung tâm băng nhạc hải ngoại như Trung tâm Asia, Thúy Nga Paris, Làng Văn ngoài chuyện thương mãi, đột nhiên lại có thêm vai trò là gìn giữ, xiển dương một di sản vàng son độc đáo đã có.

Trong nửa thế kỷ, vô hình trung các trung tâm này đã nuôi dưỡng tình yêu với Sài Gòn qua vô số lần thu âm, cùng của ca sĩ Sài Gòn một thời, như Khánh Ly, Elvis Phương, Tuấn Ngọc, mỗi con người, mỗi nơi như thế đã giữ lại từng phần của Sài Gòn trong trái tim người. Ngay cả tiếng hát, thanh âm của họ cũng trở thành ký ức bất tử của đô thành.

Từ trái qua: các giọng ca Elvis Phương, Khánh Ly, Tuấn Ngọc luôn bền bỉ hơn nửa thế kỷ qua. Nguồn ảnh: Thúy Nga-Paris By Night

Đã có nhận định rằng âm nhạc của người Việt hải ngoại sau năm 1975 không chỉ là nghệ thuật giải trí mà là chiếc cầu nối tinh thần, là liều thuốc chữa lành nỗi đau thực tế. Nó xoa dịu nỗi đau mất mát, nỗi nhớ quê hương, và gìn giữ bản sắc văn hóa cho cộng đồng người Việt trên toàn thế giới.

Trong một bài nói chuyện về âm nhạc Việt ở hải ngoại sau 1975, phát thanh vào năm 2014, đài RFA đã có thống kê không chính thức là ước tính khoảng 1.000 bài hát mới được ra đời, nhưng số bài ngụ ý, hay nhắc tên Sài Gòn có thể chiếm đến hơn 20%.

Âm nhạc của thời Việt Nam Cộng hòa, được sản sinh từ Sài Gòn, nếu nhìn lại, quả thực đã trở thành một không gian tinh thần, tồn tại song song, bất biến, nơi mà thời gian dường như ngừng lại ở khoảnh khắc trước ngày thôi tiếng súng. Người ta có thể nghe, và trở về thăm mọi nơi trong trí tưởng, đi trên những con đường quen thuộc. Âm nhạc giúp cho Sài Gòn bất diệt trong ký ức, trong những câu chuyện kể lại cho con cháu.

Với thế hệ đầu, có thể đó là nỗi buồn từ chuyện đời mất mát trực tiếp; còn với thế hệ sau, âm nhạc Sài Gòn dần trở thành một di sản tinh thần được truyền lại, là một lời nhắc nhở về cội nguồn.

Nhiều người trẻ sinh sau năm 1975, thậm chí sinh ở nước ngoài, chưa từng đặt chân đến Sài Gòn của những ngày tháng cũ, vẫn có thể hình dung về nơi chốn ấy qua âm nhạc.

Và mãi về sau, đối với các thế hệ mới, Sài Gòn trước năm 1975 sẽ không đến với bài lịch sử chính trị bắt buộc buồn chán, mà luôn bắt đầu bằng một giai điệu ngọt ngào.

Đường phố Sài Gòn năm 1962. Nguồn ảnh: Getty Images

Ngày tháng trôi đi, không có gì là vĩnh cửu. Một cái tên có thể không còn trên bản đồ hành chính, nhưng đi cùng với âm nhạc, cái tên Sài Gòn đã bất tử như những bài học giáo khoa không cần được cho phép, luôn khơi gợi trí tò mò của thế hệ mới khi nghe.

Những gì được tìm thấy qua những câu hát về Sài Gòn là một điều bất biến, không có quyền lực nào tước đoạt được.

Trong lịch sử thế giới không thiếu những thành phố đổi tên. Nhưng Sài Gòn là một trường hợp đặc biệt, nó được hát nhiều hơn cả khi không còn, thậm chí còn chuyển tải ký ức của hàng triệu con người về sau.

Bởi Sài Gòn đã đẹp lắm trong trái tim người, đã được hát lên đầy kiêu hãnh, nên dù có phải hát lời vĩnh biệt, thì đó cũng chỉ là cảm giác phút giây nghẹn lời, cho ai đang mang một tình yêu quá lớn.

Đó là lý do vì sao, dù nửa thế kỷ đã trôi qua, cái tên Sài Gòn vẫn sống – không phải trên các ghi chú bắt buộc, mà trong từng câu hát, từng giọt nước mắt rơi xuống, và những điều thì thầm kể lại, khi nghe lại một giai điệu như không bao giờ cũ.

Đường phố Sài Gòn năm 1962. Nguồn ảnh: Getty Images

Có thể chúng ta sẽ còn nghe những mô tả đầy tranh cãi về Sài Gòn và giá trị của nó, nhưng sau những ồn ào đó, thật khó để lên tiếng ngược chiều với từng câu hát làm rung động ký ức của muôn người.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh
Gửi cho BBC từ Sài Gòn
Theo: BBC Tiếng Việt (06/07/2026)



TRUNG THU NGUYỆT - BẠCH CƯ DỊ


Trung thu nguyệt

Vạn lý thanh quang bất khả ti,
Thiêm sầu ích hận nhiễu thiên nhi.
Thuỳ nhân lũng ngoại cửu chinh thú,
Hà xứ đình tiền tân biệt ly.
Thất sủng cố cơ quy viện dạ,
Một phiên lão tướng thướng lâu thì.
Chiếu tha kỷ hứa nhân trường đoạn,
Ngọc thố ngân thiềm viễn bất tri.


中秋月 - 白居易

萬里清光不可思
添愁益恨繞天涯
誰人隴外久征戍
何處庭前新別離
失寵故姬歸院夜
沒蕃老將上樓時
照他幾許人腸斷
玉兔銀蟾遠不知


Trăng trung thu
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Trăng soi vạn dặm muôn trùng.
Trời buông sầu hận, lạnh lùng nhân gian.
Ai người lính thú quan san.
Biệt ly xa cách, hàng ngàn nhớ mong.
Thất sủng cung nữ nặng lòng.
Lầu trên bại tướng, long đong phận già.
Đoạn trường đứt ruột mình ta.
Cóc vàng thỏ ngọc có mà biết đâu ?


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ.

Nguồn: Thi Viện