Thursday, March 19, 2026

CẶP CÁ LIỀN THÂN HIẾM Ở ĐÀI LOAN

Đôi khi có những cái không bình thường mình hay đổ thừa tạo hóa trớ trêu. Có những đột biến trong gene di truyền làm ra những bào thai quái dị , dinh vào nhau, dư tay, dư chân, dư đầu, dư đủ thứ, không lẽ là nhân quả, là những thề nguyền sống với nhau trọn đời rồi phản bội nên kiếp này phải dính vào nhau và một người chết đi thì người kia phải đi theo như những thề nguyền "sinh cùng ngày, chết cùng ngày" (但願同年同月同日生, 同年同月同日死).

Cặp cá liền thân trưng bày trong nhà hàng ở Đài Loan. Ảnh: Chinatimes.

Tôi đã thấy những tấm hình trong những tin tức khoa học người dính với nhau, thú vật dính vào nhau lúc sanh ra nhưng chưa thấy qua cá cũng dính vào nhau. Tình cờ hôm nay đọc qua được cái tin cũng có cá dính vào nhau nên share lên để mọi người cùng đọc. (LKH)

CẶP CÁ LIỀN THÂN HIẾM Ở ĐÀI LOAN

Chủ một nhà hàng ở Đài Loan trưng bày cặp cá Hoàng đế dính liền nhau để thu hút thực khách.

Chinatimes dẫn lời ông Vương Trí Thuân, chủ nhà hàng Hương Thảo, Đài Loan, cho biết, cặp cá của ông có đầu và bụng liền nhau, có chung hệ tiêu hóa và đều ăn mồi. Con phía trên to gấp đôi con phía dưới, và khỏe hơn, nắm quyền chủ động tìm chỗ ở, thức ăn.
 
Tuy nhiên, con phía trên có vẻ không để ý đến sự tồn tại của con phía dưới, thường xuyên bơi đến những chỗ nhiều chướng ngại vật, khiến con phía dưới nhiều lúc va đầu vào cây và đá.


Ông Vương từng nuôi hai cặp cá hai đầu khác. Tuy nhiên, theo lời ông, chúng đều chết và đang chuẩn bị được đem làm tiêu bản, chỉ còn mỗi cặp này sống sót được hơn một năm nay. Ông Vương nói nếu một con chết, con kia không bao lâu cũng chết theo.

Theo ông Vương, chú ông là chuyên gia nuôi cá cảnh, cứ hai ba năm lại cho ra đời một lứa cá liền thân.
 
Trương Văn Bỉnh, chuyên viên Viện Hải dương học Đài Loan cho biết, cá và người đều là động vật có xương sống, cá liền thân và em bé liền thân giống nhau, do noãn phân chia không hết, tỷ lệ này là 1:1 triệu. Tuy nhiên, ông chưa từng nhìn thấy cá biển hai đầu, có thể do ngoài tự nhiên, độ linh hoạt và sức đề kháng cá kém, khiến chúng khó sinh tồn.

Ông Trương cho rằng cá liền thân sinh sản trong môi trường nhân tạo tương đối an toàn, nên mới có thể sống lâu như vậy. Tuy nhiên, đây cũng là điều hiếm có.

Khâu Úc Văn, một chuyên viên khác thì đánh giá cặp cá này rất có thể chung mạch máu, tuy nhiên có nội tạng độc lập. Để xác định, phải chụp X-quang cá, nhưng có thể chúng sẽ chết.

Hồng Hạnh / Theo: VnExpress


台湾现腹部相连“连体鱼” 共游共食同进退

这对连体鱼上面的哥哥体型较大,约是下面弟弟的2倍,因此握有主导权,弟弟一直被拖着,因常年抢食不易,体型小且萎缩。《中国时报》

中新网1月7日电 据台湾《中国时报》报道,台湾屏东县一位香草主题馆的老板王致竣养了一对连体“皇冠六间鱼”,2条鱼腹部相连,共游共食同进退,成了店内活招牌。

王致竣说,他的舅舅养殖观赏鱼,大概每两三年会出现这种连体鱼,他很喜欢养奇奇怪怪的鱼,目前这一对已养一年多。

这对连体鱼上面的哥哥体型较大,约是下面弟弟的2倍,因此握有主导权;弟弟一直被拖着,因常年抢食不易,体型小且萎缩,整个身体弯成一圈像是“钟楼怪鱼”。王致竣说,连体鱼养分可相互供给,弟弟才不致于饿死。


台湾海洋生物博物馆副研究员张文炳说,鱼类和人类同为脊椎动物,连体鱼和连体婴一样是受精卵分裂不完全所造成,机率大概是数十万分之一。

张文炳说,没看过海水鱼有连体鱼的情形,可能是野外连体鱼因活动性和抵抗力差,不易存活。

该馆展示组主任张至维说,连体鱼在人工安全环境饲养才能活这么久,也算罕见。

《中国时报》



THỦY LÔI: VŨ KHÍ CÓ THỂ PHONG TỎA CẢ MỘT EO BIỂN

Dù thường ít được chú ý, thủy lôi lại là loại vũ khí gây thiệt hại cho tàu chiến nhiều nhất trong chiến tranh hải quân hiện đại.

Thủy lôi là thiết bị nổ đặt dưới nước, được thiết kế để phát hiện và phá hủy tàu thuyền đi qua (Ảnh: AI).

Theo các nghiên cứu về chiến tranh thủy lôi do National Academies Press công bố, kể từ sau Thế chiến II, các tàu chiến của Hải quân Mỹ chịu thiệt hại từ thủy lôi nhiều hơn so với tên lửa, máy bay hay tàu ngầm cộng lại.

"Vũ khí chờ đợi" có thể nằm yên dưới nước trong thời gian dài và chỉ kích hoạt khi phát hiện mục tiêu phù hợp.

Vũ khí giá rẻ nhưng hiệu quả chiến lược lớn

Một trong những yếu tố khiến thủy lôi trở thành công cụ chiến tranh hiệu quả là chi phí triển khai thấp nhưng tác động chiến thuật và chiến lược lại rất lớn.

Theo nghiên cứu của tạp chí Canadian Naval Review, giá của một thủy lôi dao động khoảng vài nghìn USD, trong khi một quả tên lửa chống hạm hiện đại có giá trên 1 triệu USD, còn ngư lôi hạng nặng có thể lên tới 3,5 triệu USD mỗi quả.

Ngoài mục tiêu phá hủy tàu chiến, thủy lôi được dùng để phong tỏa hoặc làm tê liệt các tuyến vận tải biển, buộc đối phương phải thay đổi tuyến hành trình, trì hoãn chiến dịch quân sự hoặc triển khai lực lượng lớn để rà phá bãi thủy lôi.


Trong thực tế, chỉ riêng việc nghi ngờ một khu vực có thủy lôi cũng có thể khiến tàu thương mại hoặc tàu quân sự phải tránh xa, gây gián đoạn đáng kể cho hoạt động hàng hải.

Theo Liên đoàn Các nhà khoa học Mỹ, thủy lôi là thiết bị nổ tự động đặt dưới nước, thường gồm ba thành phần chính: khối thuốc nổ, hệ thống cảm biến và cơ chế kích nổ.

Các loại thủy lôi hiện đại thường được thiết kế để kích hoạt khi phát hiện những dấu hiệu do tàu, thuyền tạo ra trong môi trường biển.

Một trong những phương thức phổ biến là cảm biến từ trường: khi một con tàu bằng kim loại di chuyển trên mặt biển, khối lượng kim loại lớn của nó sẽ làm biến đổi từ trường tự nhiên, từ đó kích hoạt vụ nổ.

Ngoài ra, nhiều hệ thống còn sử dụng cảm biến âm thanh: thiết bị thủy âm có thể nhận diện tiếng động đặc trưng từ động cơ, chân vịt hoặc dòng chảy của tàu, cho phép xác định mục tiêu trong một phạm vi nhất định.

Một số thủy lôi hiện đại cũng sử dụng cảm biến áp suất nước: khi một con tàu lớn di chuyển trên mặt biển, khối lượng của nó sẽ tạo ra sự thay đổi áp suất trong cột nước phía dưới, từ đó kích hoạt vụ nổ.

Sự kết hợp của nhiều loại cảm biến khác nhau giúp thủy lôi có thể xác định thời điểm kích nổ tối ưu, thường là ngay bên dưới thân tàu, vị trí dễ gây thiệt hại nhất đối với cấu trúc của phương tiện.

Cơ chế phá hủy tàu chiến

Một vụ nổ dưới nước do thủy lôi gây ra thường nguy hiểm hơn đáng kể so với các vụ nổ xảy ra trên mặt nước. Khi nổ, khối thuốc nổ sẽ tạo ra một bong bóng khí khổng lồ dưới nước rồi nhanh chóng giãn nở, tạo lực xung kích cực mạnh có thể làm biến dạng hoặc phá vỡ cấu trúc thân tàu.

Thủy lôi được xem là một trong những vũ khí nguy hiểm nhất đối với tàu chiến và tuyến hàng hải (Ảnh: Adobe Stock).

Áp lực từ vụ nổ có thể nâng con tàu lên, trong khoảnh khắc trước khi phần thân chịu lực bị gãy hoặc biến dạng nghiêm trọng. Vì vậy, ngay cả những tàu chiến lớn với kết cấu vỏ dày cũng có thể chịu thiệt hại nghiêm trọng chỉ từ một vụ nổ dưới đáy tàu.

Theo các nghiên cứu, nước khó nén hơn không khí hàng trăm lần, vì vậy sóng xung kích do vụ nổ tạo ra có thể lan truyền với cường độ rất lớn trong môi trường này.

Cụ thể, trong những mili giây đầu tiên sau khi phát nổ, sóng xung kích dưới nước có thể tạo ra áp lực lên tới hàng trăm megapascal (MPa).

Khi sóng xung kích đi qua thân tàu, áp suất giảm đột ngột khiến các bong bóng hơi hình thành và sụp đổ nhanh chóng, tạo ra các vi xung kích có khả năng làm hư hại bề mặt kim loại.

Đặc biệt, khả năng ẩn mình trong môi trường biển do không cần di chuyển và hầu như không phát ra tín hiệu rõ ràng khiến thiết bị nổ này có thể nằm yên dưới đáy biển hoặc lơ lửng trong cột nước trong thời gian dài trước khi được kích hoạt.

Trước mối đe dọa từ thủy lôi, nhiều quốc gia đã đầu tư vào các hệ thống chống thủy lôi (Mine Countermeasures – MCM), bao gồm các công nghệ phát hiện, nhận dạng và vô hiệu hóa thiết bị nổ dưới nước.

Các phương pháp hiện đại thường sử dụng sonar quét đáy biển để phát hiện vật thể nghi là thủy lôi, kết hợp với phương tiện lặn không người lái (UUV) để tiếp cận và khảo sát mục tiêu.

Trong nhiều trường hợp, các thiết bị nổ điều khiển từ xa cũng được triển khai để phá hủy thủy lôi từ khoảng cách an toàn.

Sự kết hợp của các công nghệ này giúp giảm đáng kể nguy cơ cho thủy thủ, đồng thời nâng cao khả năng phát hiện và xử lý các thiết bị nổ dưới nước.

Vụ nổ thủy lôi dưới nước có thể tạo sóng xung kích mạnh gây hư hại nghiêm trọng cho tàu chiến (Ảnh: Corbin Shea).

Tuy nhiên, ngay cả với các hệ thống hiện đại, việc rà phá một bãi thuỷ lôi vẫn có thể kéo dài nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần, đặc biệt tại các vùng biển nông hoặc khu vực có địa hình đáy biển phức tạp.

Dù công nghệ quân sự đã phát triển mạnh mẽ trong nhiều thập kỷ qua, thủy lôi vẫn được xem là một trong những mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh hàng hải toàn cầu.

Như Dân trí đã đưa tin Tổng thống Mỹ Donald Trump đề nghị Iran gỡ bỏ bất kỳ thủy lôi nào có thể đã được gài đặt tại eo biển Hormuz, hoặc sẽ phải đối mặt với "hậu quả chưa từng thấy".

Trước đó, quân đội Mỹ cho biết họ đã phá hủy nhiều tàu hải quân của Iran, trong đó có 16 tàu rải thủy lôi, gần eo biển Hormuz.

Mỹ phá hủy 16 tàu rải thủy lôi của Iran gần eo biển Hormuz

Trong bối cảnh các tuyến hàng hải quốc tế ngày càng giữ vai trò then chốt đối với thương mại và nguồn cung năng lượng toàn cầu, khả năng phát hiện, vô hiệu hóa và kiểm soát thủy lôi vẫn là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhiều lực lượng hải quân hiện đại.

Vũ Thanh Bình / Theo: Dân Trí
Link tham khảo:




KÝ TẢ TỈNH ĐỖ THẬP DI - SẦM THAM


Ký tả tỉnh Đỗ thập di

Liên bộ xu đan bệ,
Phân tào hạn Tử vi.
Hiểu tuỳ thiên trượng nhập,
Mộ nhạ ngự hương quy.
Bạch phát bi hoa lạc,
Thanh vân tiễn điểu phi.
Thánh triều vô khuyết sự,
Tự giác gián thư hy.

Đỗ thập di tức Đỗ Phủ. Theo tổ chức triều chính thời xưa, có Trung thư tỉnh và Môn hạ tỉnh. Trung thư tỉnh coi việc chính trị, tức là việc của chức tể tướng, ở bên hữu điện cho nên gọi là hữu tỉnh. Môn hạ tỉnh coi việc trong cung, và sát hạch mọi việc, ở bên tả điện cho nên gọi là tả tỉnh. Mỗi tỉnh có những chức thập di, bổ khuyết... để coi việc can ngăn vua. Sầm Tham làm hữu bổ khuyết, Đổ Phủ làm tả thập di.


寄左省杜拾遺

聯歩趨丹陛
分曹限紫微
曉隨天仗入
暮惹御香歸
白髮悲花落
青雲羨鳥飛
聖朝無闕事
自覺諫書稀


Gửi cho Đỗ thập di ở tả tỉnh
(Dịch thơ: Trần Trọng Kim)

Liền chân bước tới bệ rồng
Tử vi hạn giới ở trong phân tào
Sớm theo nghi trượng bước vào
Chiều về mang lấy ngạt ngào ngự hương
Hoa rơi tóc bạc càng thương
Mây xanh chim lượn dịu dàng đẹp thay
Thánh triều đâu có lầm sai
Dâng thư tự biết ít lời khuyên can


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Sầm Tham 岑參 (715-770) tổ tiên ở Nam Dương sau di cư tới Giang Lăng, dòng dõi của tể tướng Sầm Văn Bản 岑文本 (595-645), thi nhân đời Đường đại biểu cho thơ biên tái cùng với Cao Thích 高適. Tác phẩm có Sầm Gia Châu thi tập 岑嘉州詩集.

Nguồn: Thi Viện



HỌA PHÚC ĐỜI NGƯỜI QUA CUỘC ĐỐI THOẠI GIỮA TIỀU PHU VÀ NGƯ PHỦ

Phúc khí là gì? Tai họa là gì? Thật khó để nói về phúc họa chỉ trong một hai câu, nhưng hàng ngàn năm qua, vô số người vẫn luôn thảo luận về nó.


Trong cuốn “Ngư tiều vấn đối”, nhà Nho Thiệu Ung thời Bắc Tông đã thông qua cuộc đối thoại giữa tiều phu (người đốn củi) và ngư phủ (người đánh cá) để nói về phúc họa đời người. Dưới đây là 4 đoạn đối thoại rất đáng để cho chúng ta suy ngẫm.

1. Tai họa từ tham lam mà ra

Cuộc đối thoại thứ nhất:

Tiều phu đi ngang qua bờ sông, gặp ngư phủ và hỏi: “Lưỡi câu mà không móc mồi câu thì có câu cá được không?”

Ngư phủ nói: “Không thể”.

Tiều phu như có điều suy nghĩ: “Cá bị câu là bởi vì thích mồi câu; người câu cá là bởi vì muốn ăn cá. Cùng là ăn mà kết quả không giống nhau”.

(ảnh minh họa Sohu)

Đời người bận rộn phần nhiều là vì tiền bạc. Cần tiền để sinh sống, chăm lo cho gia đình, đây là dục vọng cơ bản nhất. Tuy nhiên rất nhiều người lại trở nên tham lam, thấy ‘mồi nhử’ là cắn câu ngay, kết quả là gặp tai họa. Nếu có thể tự do tự tại ở trong nước tìm thức ăn, tuy ăn không quá no, nhưng cũng không bị mắc bẫy, cũng sẽ không bị mất đi sinh mệnh.

2. Biết chừng mực mới giữ được phúc khí

Cuộc đối thoại thứ hai:

Tiều phu hỏi ngư phủ: “Tôi thường gánh 100 cân củi, nếu có thêm mười cân nữa thì tôi vẫn không bị sao, vì sao vậy?”

Ngư phủ nói: “Chuyện đốn củi thì tôi không biết. Nhưng tôi đánh cá, nếu không chịu ngừng lại, thì có nguy cơ bị chết chìm”.

Người tiều phu cho thêm 10 cân vào gánh củi mà vẫn thấy bình thường là vì chưa đạt tới giới hạn. Trong khi có người chỉ cần thêm một cọng rơm là sẽ gặp tai họa ngay, bởi vì người đó đã tới giới hạn rồi.

Dù bạn làm gì, quá mức thì đều sẽ gây hại. Nếu có thể nắm vững mức độ của bản thân thì sự tình đều sẽ thuận lợi. Biết đủ thường vui, lựa sức mà làm, phúc khí cũng theo đó mà ngày càng gia tăng.
 
3. Độ mình độ người

Cuộc đối thoại thứ ba:

Tiều phu hỏi: “Cá có thể ăn sống được không?”

Ngư phủ nói: “Nên nấu chín rồi hãy ăn. Mà muốn nấu chín thì lại phải dùng củi lửa”.

Rồi ngư phủ thở dài nói: “Mà đáng buồn là mọi người ăn cá lại quên mất tác dụng của củi lửa”.

(ảnh minh họa Sohu)

Vạn vật nương tựa vào nhau mà sống, có thể là thuận, mà cũng có thể là nghịch. Nhờ có người xấu mà người tốt mới trở nên nổi bật; nhờ làm việc tốt nên mới có cảm giác hạnh phúc của “tay lưu mùi hương”.

Việc thiện dù nhỏ thì cũng là một ngọn đèn giúp thắp sáng hy vọng cho người khác. Cổ nhân nói: “Độ kỷ độ nhân”, độ mình và cũng độ người, giúp người khác cũng chính là giúp bản thân mình.

Hơn nữa cũng phải học cách biết ơn, vì nhân quả đan xen phức tạp, khó có thể nhìn thấu ngọn nguồn của sự việc, biết ơn mọi thứ đến với bạn, dù tốt dù xấu, như thế mới không bị hao tổn phúc khí.
 
4. Tâm thái tốt thì phúc cũng sẽ tăng lên

Cuộc đối thoại thứ tư:

Tiều phu hỏi: “Tại sao người tốt ít mà người xấu thì quá nhiều?”

Ngư phủ đáp: “Ví như tiểu nhân gặp điều lành thì rất thống khổ, gặp điều dữ thì rất vui vẻ; quân tử gặp chuyện tốt thì đi làm, gặp chuyện xấu thì ngăn cản”.

Chính là gặp cùng một chuyện mà thái độ khác nhau, và từ đó mà hình thành tai họa hay phúc khí. Có người vì bỏ lỡ chuyến tàu mà vô cùng đau khổ, có người thì lại vui vẻ thoải mái, nhân cơ hội này mà ngắm nhìn phong cảnh một chút.

Phúc họa luân chuyển, nhưng trước tiên phải thay đổi tâm thái của bản thân, mở rộng tấm lòng, như thế mới có thể tìm thấy phúc ẩn trong họa.

Chân Chân / Theo: Sohu

HỌC THUYẾT BEGIN VÀ LỊCH SỬ "TỪ BẠN HÓA THÙ" GIỮA ISRAEL-IRAN

Từ chỗ Iran là trụ cột trong chiến lược “liên minh ngoại vi” giúp Israel phá thế cô lập thời lập quốc, hai nước sau đó coi đối phương là kẻ thù sống còn. Sự đảo chiều ấy bắt nguồn từ Cách mạng Hồi giáo Iran 1979, gắn chặt với một nguyên tắc an ninh cốt lõi của Israel là học thuyết Begin – quyết tâm không cho phép bất cứ đối thủ khu vực nào sở hữu vũ khí hạt nhân.


Học thuyết Begin và lịch sử “từ bạn hóa thù” giữa Israel-Iran

Khi Israel tuyên bố lập quốc năm 1948, quốc gia Do Thái non trẻ gần như bị bao vây bởi các nước Arab không công nhận tính chính danh của mình, vốn cho rằng sự xuất hiện của một nhà nước Do Thái ở khu vực là sự can dự của phương Tây nhằm chia cắt vùng Trung Đông.

Trong bối cảnh đó, Thủ tướng đầu tiên David Ben-Gurion theo đuổi chiến lược “liên minh ngoại vi” gồm các quốc gia không có xung đột trực tiếp với Israel, sẵn sàng coi Trung Đông là “bức tranh ghép của các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo” thay vì là vùng đất chỉ của người đạo Hồi.

Đại diện Iran xuất hiện tại buổi lễ Quốc khánh Israel năm 1950 sau khi công nhận chính thức Israel. Ảnh: GettyImages/GPO

Sau Thổ Nhĩ Kỳ, Iran là nước Hồi giáo thứ hai công nhận Israel năm 1950. Dưới thời Shah Mohammad Reza Pahlavi, Tehran và Tel Aviv tìm thấy lợi ích chung: cùng lo ngại chủ nghĩa dân tộc Arab và tham vọng khu vực của Iraq.

Quan hệ Iran-Israel sau này phát triển đồng pha với quan hệ Iran-Mỹ. Thập niên 1950, Mỹ phụ thuộc vào các mỏ dầu Trung Đông và Iran là một trong những nhà cung cấp chính. Hầu hết các mỏ dầu lớn của Iran khi đó có người Mỹ đứng sau.

Năm 1953, Thủ tướng dân cử của Iran Mohammad Mossadegh khiến Mỹ nổi giận bởi tuyên bố sẽ quốc hữu hóa các mỏ dầu. Thay vì thỏa hiệp, Mỹ quyết tâm lật đổ ông Mossadegh. CNN cho biết, theo tài liệu chính thức giải mật năm 2013, CIA đã đổ lượng tiền đáng kể vào Iran để khuấy động biểu tình, ủng hộ quân đội Iran tiếm quyền ông Mossadegh và sắp xếp để Shah (quốc vương) Mohammad Reza Pahlavi mở rộng quyền lực.

Dàn hợp xướng biểu diễn tại trường Alliance Israélite ở Tehran, nơi học tập của đông đảo người Do Thái trong thập niên 40-50 của thế kỷ 20. Ảnh: Alliance Israélite Universelle

Kế hoạch thành công, quan hệ Mỹ-Iran nhanh chóng "chạm đỉnh", trở thành tiền đề để Iran và Israel kết thân. Khoảng năm 1955, Israel nhập khẩu 40% nhu cầu dầu mỏ từ Iran. Cơ quan tình báo Mossad của Israel sau đó giúp huấn luyện lực lượng cảnh sát mật Savak của Shah Pahlavi.

Bước qua thập niên 60-70, Israel có nhiều nhà thầu và cố vấn quân sự cư trú tại Tehran. Số liệu của DW cho thấy, Iran từng là nơi có cộng đồng Do Thái lớn thứ hai bên ngoài Israel.

Nhưng, cuộc đảo chính do Mỹ sắp xếp ở Iran có hai mặt. Trong khi bộ phận nhỏ dân chúng ủng hộ Pahlavi coi Mỹ là bạn, nhiều người Iran phản đối sự can dự ngày càng sâu của Washington vào chính sách đối ngoại xa rời thế giới Hồi giáo của Shah Pahlavi.

Trong khủng hoảng suy thoái thập niên 1970, kinh tế Iran suy giảm. Hàng triệu người Iran xuống đường phản đối chế độ quân chủ do Mỹ hậu thuẫn. Năm 1979, Cách mạng Hồi giáo nổ ra trên khắp Iran. Shah Pahlavi bị lật đổ và phải rời bỏ đất nước, mở ra sự khởi đầu mới của nền Cộng hòa Hồi giáo ngày nay.

Biển người Iran đổ xuống đường trong Cách mạng Hồi giáo năm 1979. Ảnh: GettyImages

Khi chính quyền Cách mạng Hồi giáo do đại giáo chủ Ayatollah Khomeini nắm quyền lực, khác biệt về ý thức hệ đã đảo ngược chính sách đối ngoại của Iran. Ông Khomeini hủy bỏ mọi thỏa thuận hợp tác với Israel, phối hợp cùng các nước Arab khu vực chỉ trích Tel Aviv vì chiếm đóng lãnh thổ của người Palestine.

Năm 1980, vài tháng sau Cách mạng Hồi giáo, chiến tranh Iran-Iraq nổ ra. Dựa trên thực tế là Iran và Israel đều coi Iraq là kẻ thù, muốn ngăn Baghdad sở hữu vũ khí hủy diệt nên hai nước đã có những hợp tác bí mật. Thời điểm ấy, quan hệ giữa Mỹ và Iran tụt dốc mà quân đội Iran chủ yếu sử dụng vũ khí Mỹ (mua giai đoạn 1950-1970), nên họ cần tìm bên cung cấp phụ tùng tương thích. Hai bên bắt đầu hợp tác với việc Israel bán 250 lốp tiêm kích cho Iran.

Tuy nhiên, hợp tác bí mật chỉ giúp hai bên tránh công khai thực hiện các hành động thù địch chống lại bên kia. Khi Israel đưa quân vào miền Nam Lebanon năm 1982, ông Khomeini đã phái Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran đến Beirut của Lebanon hỗ trợ lực lượng dân quân Shiite địa phương (sau này phát triển thành Hezbollah).

Đến lúc "kẻ thù chung" Iraq suy yếu, chiến tranh Iran-Iraq kết thúc, Tehran và Tel Aviv công khai đối đầu. Bên cạnh đó, Palestine dần trở thành vấn đề chung của tất cả người Hồi giáo, còn Iran định hình họ là lãnh đạo của cộng đồng Shiite Trung Đông.

Israel lúc lập quốc là một nhà nước non trẻ cần Iran để trụ vững giữa Trung Đông đầy thù hằn. Nhưng 3 thập kỉ sau, sự khôn ngoan của người Do Thái và hậu thuẫn từ phương Tây biến Israel trở thành cường quốc quân sự với lãnh thổ kiểm soát thực tế mở rộng.

Sau chiến tranh Yom Kippur 1973, không nước Arab láng giềng nào có sức mạnh quân sự-tình báo ngang Israel. Trước áp lực của số đông, Israel còn "quân bài tẩy" là vũ khí hạt nhân - thứ họ chưa công khai, nhưng không phủ nhận.

New York Times cho biết, Chủ tịch Ủy ban Năng lượng nguyên tử Israel Ernst David Bergmann năm 1952 mô tả "bom hạt nhân sẽ đảm bảo chúng ta không bao giờ bị dắt như những con cừu đến lò mổ nữa". Israel bắt đầu xây dựng cơ sở phát triển vũ khí hạt nhân năm 1958 gần thị trấn Dimona ở phía Nam. Năm 1967, có thông tin Israel đã chế tạo được đầu nổ hạt nhân và năm 1973, các chuyên gia Mỹ đánh giá Israel có vũ khí hạt nhân hoàn chỉnh, theo New York Times.

Để duy trì khả năng răn đe tuyệt đối, Israel từ lâu coi việc bất cứ nước Arab đối thủ nào khác ở Trung Đông sở hữu vũ khí hạt nhân là mối nguy sống còn và sử dụng mọi phương thức để ngăn đối thủ đạt năng lực hạt nhân giống họ.

Theo DW, giai đoạn 1962-1963, khi có thông tin Ai Cập phát triển tên lửa đạn đạo, tình báo Mossad của Israel đã thực hiện chiến dịch Damocles, theo đó ám sát hoặc tấn công các nhà khoa học làm việc trong lĩnh vực hạt nhân của Ai Cập, bao gồm việc sử dụng bom thư, khiến chương trình vũ khí của Ai Cập đổ bể. Tháng 6/1981, dựa trên thông tin tình báo về khả năng Iraq sắp phát triển được vũ khí hạt nhân, Israel tiến hành chiến dịch Opera, dội bom vào lò phản ứng hạt nhân Osirak của Iraq gần Baghdad, sử dụng máy bay chiến đấu F-15 và F-16 do Mỹ cung cấp, khiến 10 binh sĩ Iraq và một kỹ sư người Pháp thiệt mạng.

Khu vực lò phản ứng Osirak của Iraq sau khi bị Israel ném bom năm 1981. Ảnh: Creative Commons

Mỹ nổi giận vì chiến dịch Opera, nhưng Thủ tướng Israel khi đó là Menachem Begin trả lời trên hãng CBSNews rằng: "Cuộc tấn công này là tiền lệ cho mọi chính phủ tương lai tại Israel. Mọi Thủ tướng Israel sẽ hành động, trong những hoàn cảnh tương tự, theo cách tương tự".

Nói cách khác, ông Begin đặt ra một tiêu chuẩn mới cho các nhà lãnh đạo Israel, đó là nếu cần và có thể tấn công phủ đầu đối thủ thì họ nên lựa chọn. Cuối cùng, cách tiếp cận này trở thành học thuyết Begin và được Israel sử dụng một lần nữa năm 2007, khi tấn công công trình xây dựng lò phản ứng hạt nhân ở Deir ez-Zour của Syria trong chiến dịch Orchard, đánh sập tham vọng hạt nhân của Syria. Sau cuộc tấn công, các thanh sát viên quốc tế đã tìm thấy dấu vết của uranium ở hiện trường.

Với Iran, Israel duy trì cách tiếp cận tương tự. Dù Iran khẳng định chương trình hạt nhân của họ chỉ phục vụ mục đích dân sự, song Israel luôn coi đó là mầm mống nguy hiểm. Khi chương trình hạt nhân của Iran đạt tiến bộ vào đầu thế kỷ 21, Israel được cho là đã bắt đầu các hoạt động nhắm vào Tehran. Tuy nhiên, do năng lực quân sự mạnh mẽ của Iran, Israel chưa thể tự mình thực hiện một cuộc tấn công quân sự phủ đầu.

Từ khoảng năm 2010, Israel bị cáo buộc sử dụng virus Stuxnet xâm nhập mạng máy tính cơ sở hạt nhân Natanz của Iran, làm hỏng 1.000 máy ly tâm làm giàu uranium. Năm 2015, Iran đã kí thỏa thuận hạt nhân với các cường quốc, nhưng Tel Aviv không tin nó ngăn triệt để khả năng Iran theo đuổi vũ khí hủy diệt.

Khói bốc lên ở Tehran sau một cuộc không kích ngày 1/3. Ảnh: Anadolu/GettyImages

Những năm qua, tình báo Israel cũng vướng cáo buộc đứng sau các cuộc ám sát nhắm vào giới tinh hoa và các nhà khoa học hạt nhân hàng đầu Iran. Ví dụ, năm 2012, Israel bị tố kích nổ bom khiến nhà khoa học hạt nhân Iran Mostafa Ahmadi-Roshan thiệt mạng. Năm 2021, Israel bị tố ám sát kiến trúc sư trưởng của chương trình hạt nhân Iran Mohsen Fakhrizadeh. Năm 2020, Iran nghi ngờ Israel đứng sau vụ nổ bí ẩn ở Natanz. Mỗi sự kiện nêu trên đều khoét sâu hơn mối thù hằn giữa hai nước.

Sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump nhậm chức nhiệm kỳ hai, sự ủng hộ mạnh mẽ từ Washington trở thành một phần lý do Tel Aviv quyết tâm kích hoạt học thuyết Begin nhằm xóa bỏ chương trình hạt nhân của Iran. Năm ngoái, Israel mở cuộc tấn công quân sự trực tiếp đầu tiên vào Iran, dẫn đến việc Tehran đáp trả mạnh mẽ. Cuộc xung đột kết thúc sau 12 ngày với sự can dự của Mỹ.

Và khi các cuộc đàm phán Iran-Mỹ không đạt kết quả, Tel Aviv và Washington từ ngày 28/2 khởi động chiến dịch quân sự chung chưa từng có nhắm vào Iran. Negar Mortazavi, chuyên gia cấp cao tại Trung tâm Chính sách Quốc tế ở Washington (Mỹ) nói với AlJazeera: “Đây rõ ràng là một cuộc chiến của Israel do Mỹ khởi động. Israel đã vận động Mỹ tấn công Iran suốt hai thập kỷ, và cuối cùng họ đã đạt được mục đích đó”.

Phùng Nguyễn / Theo: CAND
Link tham khảo:






Wednesday, March 18, 2026

TRÀO LƯU "CHINAMAXXING" Ở MỸ: CÚ HÍCH QUYỀN LỰC MỀM MỚI CỦA BẮC KINH

Từ TikTok đến thời trang đường phố, “Chinamaxxing” đang khiến một bộ phận giới trẻ Mỹ say mê văn hóa Trung Quốc. Trào lưu này được xem là tín hiệu mới cho sức hút quyền lực mềm của Bắc Kinh.

Du khách trong và ngoài nước trong trang phục truyền thống Trung Quốc tham quan Bảo tàng Cung điện ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Ảnh: VCG/Getty Images

Nếu bạn hay lướt mạng xã hội thời gian gần đây, chắc hẳn bạn đã chứng kiến trào lưu “Chinamaxxing” – với những video ghi lại cảnh những người trẻ Mỹ uống nước nóng, đi dép trong nhà, mặc chiếc áo khoác như thời Đường, theo phong cách truyền thống Trung Hoa.

Những nhà sáng tạo nội dung đùa rằng các thói quen này sẽ giúp bạn “trở thành người Trung Quốc”, phản ánh sự tò mò ngày càng tăng của phương Tây đối với văn hóa và thẩm mỹ Trung Quốc.

Một TikToker chú thích video của mình: “Morning routine as a new Chinese baddie” (Thói quen buổi sáng của một ‘gái Trung Quốc’ mới), trong đó anh thực hiện các bài tập dưỡng sinh truyền thống. Một video khác - đạt hơn 2,4 triệu lượt xem - cho thấy người sáng tạo nội dung đun táo làm trà trái cây, được giới thiệu là “bài thuốc cổ” tốt cho đường ruột.

Chúng ta từng chứng kiến làn sóng văn hóa châu Á vươn ra toàn cầu: K-drama, K-pop, K-beauty của Hàn Quốc; du lịch và hình ảnh Nhật Bản với đường phố sạch sẽ, tàu cao tốc hiện đại. Giờ đây, dường như đến lượt Trung Quốc.

Theo Tianyu Fang, nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Harvard, trong thời gian dài người ta cho rằng Trung Quốc không có nhiều “quyền lực mềm” như Hàn Quốc hay Nhật Bản. Nhưng vài tháng gần đây, điều đó đang thay đổi - từ game, phim ảnh Trung Quốc đến những món đồ nhỏ như Labubu, tất cả đang góp phần định hình lại trí tưởng tượng văn hóa về Trung Quốc ở Mỹ và phương Tây.

Tuy nhiên, làn sóng này khác biệt ở chỗ: Hàn Quốc và Nhật Bản là đồng minh dân chủ của Mỹ, trong khi Trung Quốc là một quốc gia khác về thể chế chính trị và đối thủ chiến lược lớn của Washington.

Sự thay đổi này cũng phản ánh biến chuyển trong tâm lý công chúng Mỹ. Chỉ vài năm trước, đại dịch Covid-19 làm bùng phát làn sóng thù ghét người gốc Á. Căng thẳng thương mại và địa chính trị cũng làm gia tăng tâm lý bài Trung.

Người biểu tình giơ tấm biển ghi "Chấm dứt sự thù ghét người châu Á" ở trung tâm thành phố Houston, Texas, ngày 20/3/2021. Ảnh: Getty Images

Trong bối cảnh đó, việc một bộ phận Gen Z Mỹ giờ đây hào hứng “trở thành người Trung Quốc” dường như là một cú quay ngoắt 180 độ.

Theo các chuyên gia, trào lưu này cho thấy những bất mãn sâu xa trong xã hội Mỹ – từ bất ổn chính trị, bạo lực súng đạn, chính sách siết nhập cư đến căng thẳng sắc tộc. Hình ảnh hào nhoáng của “giấc mơ Mỹ” phần nào phai nhạt, khiến giới trẻ tò mò về cuộc sống ở nơi khác.

Bên cạnh đó là yếu tố “tiếp xúc”. Mặc dù các sản phẩm của Trung Quốc từ lâu đã có mặt khắp nơi trên thế giới, nhưng ngày càng nhiều người Mỹ nhận thấy sự thống trị của Bắc Kinh trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong thế giới công nghệ đầy cạnh tranh.

Và ngày càng nhiều người nhận thấy điều đó đang định nghĩa lại hình ảnh về sự "ngầu" của họ.

Mỹ có đánh mất “chất ngầu”?

Đây không phải lần đầu Trung Quốc thu hút sự tò mò từ phương Tây. Những năm 2000, khi Trung Quốc mở cửa mạnh mẽ hơn, số người học tiếng Trung và du lịch, nhập cư giữa hai nước tăng vọt. Khi ấy, động lực chủ yếu là kinh tế.

Thập kỷ qua, Trung Quốc trở nên tự chủ hơn và khép kín hơn, đặc biệt trong thời kỳ Covid. Quan hệ Mỹ - Trung xấu đi khi Trung Quốc ngày càng tập trung quyền lực dưới thời Chủ tịch Tập Cận Bình.

Nhưng hiện nay, sự hấp dẫn dường như không chỉ đến từ tiền bạc, mà còn từ yếu tố “ngầu”.

Một nhóm du khách người Mỹ đến từ Minnesota xếp hàng vào Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Ảnh: South China Morning Post/Getty Images

Việc Trung Quốc mở cửa hậu Covid, nới lỏng thị thực và khuyến khích du lịch, cùng với làn sóng người Mỹ chuyển sang nền tảng Xiaohongshu (RedNote) khi TikTok bị đe dọa cấm, đã tạo ra sự giao thoa chưa từng có giữa hai cộng đồng mạng vốn tách biệt.

Trong khi đó, hình ảnh nước Mỹ trên trường quốc tế có dấu hiệu suy giảm. Chính sách nhập cư cứng rắn khiến sinh viên quốc tế chọn quốc gia khác; cắt giảm ngân sách nghiên cứu khiến nhà khoa học chuyển sang Trung Quốc; người Canada tẩy chay hàng Mỹ vì chiến tranh thương mại; và chính người Mỹ cũng rời bỏ đất nước.

Những video về đường chân trời ấn tượng của Trùng Khánh hay Thượng Hải - với nhà chọc trời rực ánh đèn, hệ thống giao thông ngoạn mục, đường phố sạch sẽ, mức tội phạm thấp - lan truyền mạnh mẽ trên mạng. Các clip về xe điện, năng lượng xanh và công nghệ tương lai cũng thu hút lượng xem lớn.

Dĩ nhiên, sự lãng mạn hóa này có phần đơn giản hóa thực tế. Giá nhà ở Trung Quốc thấp hơn Mỹ nhưng thu nhập trung bình cũng thấp hơn đáng kể. Cuộc sống tại Trung Quốc vẫn có nhiều thách thức. Tuy vậy, trên mạng xã hội, những hình ảnh ấy tạo nên sự đối lập hấp dẫn với cơ sở hạ tầng xuống cấp và chi phí sinh hoạt cao ở Mỹ.

Theo chuyên gia Fang, xu hướng này “nói nhiều hơn về cảm xúc của người Mỹ đối với nước Mỹ, hơn là cảm xúc của họ đối với Trung Quốc”.

Tương lai có phải là Trung Quốc?

Với lịch sử bài Trung lâu dài ở Mỹ và căng thẳng địa chính trị hiện nay, khó nói “Chinamaxxing” sẽ tồn tại bao lâu hay liệu nó có báo hiệu một tương lai ngày càng “Trung Quốc hóa”.

Trong nhiều năm, Bắc Kinh đã mở rộng quyền lực mềm và cứng ở châu Phi, Mỹ Latin, Đông Nam Á và các đảo Thái Bình Dương. Ở nhiều quốc gia, xe điện Trung Quốc, điện thoại Huawei hay Xiaomi rất phổ biến, nhưng lại ít thấy ở Mỹ do rào cản chính sách.

Nhiều người Mỹ dần nhận ra rằng Trung Quốc sản xuất những sản phẩm “khá tốt”, nhưng có độ trễ vì chúng không được phép phổ biến rộng rãi tại Mỹ.


Ngay cả một số đồng minh thân cận của Mỹ cũng tăng cường tiếp xúc với Bắc Kinh trong bối cảnh chính sách đối ngoại khó đoán của Washington.

Tuy nhiên, văn hóa mạng thay đổi rất nhanh. Với đa số người dùng, “Chinamaxxing” mang tính hài hước, mỉa mai nhiều hơn là nghiêm túc. Xu hướng này cũng vấp phải chỉ trích từ một số người trong cộng đồng Hoa kiều, cho rằng đó là tình trạng 'chiếm dụng văn hóa".

Dẫu vậy, trong khoảnh khắc ngắn ngủi, những trào lưu như thế có thể trở thành cây cầu kỹ thuật số giữa hai nền văn hóa thường bị chia rẽ bởi chính trị.

Thu Hằng / Báo Tin tức và Dân tộc
Link tham khảo:




DỮ ĐÔNG NGÔ SINH TƯƠNG NGỘ - VI TRANG


Dữ Đông Ngô sinh tương ngộ

Thập niên thân sự các như bình,
Bạch thủ tương phùng lệ mãn anh.
Lão khứ bất tri hoa hữu thái,
Loạn lai duy giác tửu đa tình.
Bần nghi lậu hạng xuân thiên thiểu,
Quý tưởng hào gia nguyệt tối minh.
Thả đối nhất tôn khai khẩu tiếu,
Vị suy ưng kiến Thái Giai bình.

Vi Trang cùng bạn lên Trường An ứng thi năm 880, gặp lúc kinh đô đang có loạn Hoàng Sào, phải lưu lạc mỗi người mỗi nơi. Mười năm sau đôi bên gặp lại tại Giang Nam, đầu đã bạc nhưng vẫn còn là hàn sĩ, nên làm bài bài này. Bốn năm sau Vi Trang mới đậu tiến sĩ nhưng đường công danh của ông thăng tiến rất nhanh, làm tới tể tướng nước Tiền Thục.


與東吳生相遇

十年身事各如萍
白首相逢淚滿纓
老去不知花有態
亂來唯覺酒多情
貧疑陋巷春偏少
貴想豪家月最明
且對一尊開口笑
未衰應見泰階平


Gặp lại khoá sinh đất Đông Ngô
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Mười năm bèo dạt mây trôi. 
Lệ vương vạt áo, mấy hồi gặp nhau. 
Tuổi già mái tóc phai màu. 
Ly tao loạn lạc, rượu sầu sao đang ?
Cảnh nghèo xuân cũng nhỡ nhàng. 
Phú gia trăng sáng mênh mang tầng lầu. 
Cười vui chén rượu bấy lâu. 
Chòm sao Bắc Đầu trên đầu xoay ngang.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vi Trang 韋莊 (khoảng 860-910) tự Đoan Kỷ 端已, nguyên đậu tiến sĩ đời Đường, đi sứ sang Thục rồi lưu lại Thục không về. Ông sinh hoạt rất giản dị khâm hoài khoát đạt. Tác phẩm của ông có Hoán hoa tập, Hoán hoa từ. Trong tập Luận từ tạp trước, Chu Tế có nói: “Từ của Đoan Kỷ thanh diễm tuyệt vời”.

Nguồn: Thi Viện