Monday, August 10, 2026

ĐỪNG BAO GIỜ NGHĨ RẰNG MÌNH THÔNG MINH HƠN NGƯỜI KHÁC

Một anh tài xế xe tải làm công việc thường ngày giao hàng cho một bệnh viện tâm thần, đang đậu xe bên cạnh một ống cống nước. Lúc chuẩn bị rời bệnh viện, anh nhận thấy có một bánh xe bị xì hơi. Anh kích chiếc xe tải lên và tháo bánh xe xì hơi để thay vào đó một bánh xe dự phòng.


Lúc sắp sửa gắn bánh xe mới vào, đột nhiên anh làm rơi cả bốn chiếc bù lon xuống ống cống nước. Anh không thể nào vớt những chiếc bù lon ra khỏi ống cống được, và bắt đầu hoảng lên vì không biết phải làm gì.

Ngay lúc đó, một bệnh nhân đi ngang qua và hỏi anh tài xế tại sao trông anh có vẻ hốt hoảng như vậy. Người tài xế tự nghĩ, “mình mà còn không làm được huống gì cái gã điên này, nên để gã ta đi cho khuất mắt”. Người tài xế xe tải nói sơ qua tình hình và đưa một cái nhìn thất vọng.

Người bệnh nhân cười anh tài xế và nói:

“Chỉ mỗi cái việc đơn giản như vậy mà anh còn không cách nào làm được. Không lạ gì anh sinh ra chỉ làm cái nghề tài xế xe tải để sống”.

Người tài xế lấy làm ngạc nhiên khi nghe lời nhận xét như vậy từ một gã tâm thần.
“Đây là cái anh có thể làm”, gã tâm thần nói.

“Tháo một cái bù lon từ mỗi trong ba bánh xe kia và gắn vô cái bánh xe này. Rồi lái xe xuống cửa tiệm gần nhất và thay những cái bù lon còn thiếu vô. Đơn giản quá phải không anh bạn?”


Người tài xế quá cảm kích với lối giải quyết nhanh chóng này liền hỏi người bệnh:
“Anh quá giỏi và thông minh như vậy sao lại có mặt ở cái bệnh viện tâm thần này nhỉ?”.

Người bệnh trả lời:

“Anh bạn ạ! Tôi ở đây bởi vì tôi khùng chứ không phải tôi ngu”.

Chẳng có gì ngạc nhiên, nhiều người ngày nay giữ quan niệm giống người tài xế, nghĩ rằng người khác toàn là kẻ ngu hơn mình một cái đầu.

Bởi vậy, các bạn ạ, mặc dầu chúng ta được học hành tử tế và thông minh, nhưng cứ nhìn xem, có thể nhiều gã quanh nhà và công sở có đầu óc có vẻ hơi “tưng tửng” một chút, vậy mà lại có thể chỉ cho chúng ta cách giải quyết vấn đề nhanh chóng. Bởi sự khôn ngoan đã bị cái tôi quá lớn của chúng ta đè bẹp dí.

Bruce Phan, theo TMG Corp

Sunday, August 9, 2026

BÀI CHÒI: NGHỆ THUẬT HỒN NHIÊN

Nghệ thuật dân gian nào mà chả hồn nhiên, vì nó đều được thể hiện và đồng sáng tạo bởi những nghệ nhân dân gian, những người nông dân hồn nhiên từ bản chất, ngày xưa chỉ quen ở bên trong lũy tre làng. Nhưng có lẽ trong nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, thì bài chòi và hô bài chòi là nghệ thuật hồn nhiên bậc nhất. Vì sao như vậy ?

Khung cảnh một Hội đánh bài chòi.

Bài chòi và hô bài chòi là một trò chơi, một trò chơi văn nghệ nhằm giúp gây hưng phấn, vui thú, giải tỏa cho cả người trực tiếp chơi lẫn người xem. Một trò chơi, thì trước hết nó phải mang những đặc tính của trò chơi, nghĩa là phải thật sự hồn nhiên, hài hước và vô vị lợi. Trò chơi bài chòi được tổ chức vào những ngày đầu Xuân nên lại càng phơi phới những tươi vui. Đó là trò chơi có thưởng, có dùng những quân bài, nhưng không phải là trò đánh bạc. Không có chuyện sát phạt, ăn thua nhau về tiền hay vật dụng thưởng qui ra tiền, mà ở đây, chơi là chính, vui là chính, thưởng thức nghệ thuật là chính, thông qua những điệu hô chòi trầm bổng, nhịp nhàng, du dương mà người lĩnh xướng có tên là anh hiệu thể hiện. Anh hiệu-nghệ sĩ ẩn danh-chính là nhân vật trung tâm của bài chòi. Đó là một nghệ sĩ dân gian diễn xướng những bài bản có sẵn lẫn những sáng tạo tức thời mang tính ngẫu hứng,những bài thơ ứng tác đậm dấu ấn cá nhân. Có thể nói, anh hiệu chính là một nhà thơ dân gian, một người ngày xưa ít nhiều có học trong làng, dù dở dang. Và nhất là có năng khiếu đặt vè, hát thơ, sáng tác và nhất là ứng tác rất linh hoạt những bài vè hay thơ lục bát, lục bát biến thể một cách trực tiếp, hài hước, tươi vui, nhuần nhị. Có thể ngày xưa mỗi tổng hay mỗi làng đều có những anh hiệu như thế, họ vừa là nghệ sĩ bình dân vừa là tinh hoa văn nghệ của làng. Tôi nghĩ, có thể họ cũng được miễn những công việc tạp dịch trong làng, nhất là những khi làng có việc. Vì việc lớn nhất của họ mỗi độ Xuân về là làm anh hiệu, là hô bài chòi, phục vụ dân làng và bá tánh. Thế cũng là đủ. Sự hồn nhiên của nghệ thuật bài chòi bắt đầu từ anh hiệu, còn sự hồn nhiên dí dỏm thông minh của anh hiệu lại bắt đầu từ nhân dân. Thế còn nghệ thuật bài chòi ở miền Trung Việt Nam, nó khởi lên từ hồi nào?

Nhà âm nhạc học người Pháp tên là G.L.Bouvier đã đến Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX để nghiên cứu về các thể loại âm nhạc ở nước ta, ông Bouvier cho rằng: “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm 1470 Nam tiến, người Việt ra sức khẩn hoang từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cho tới Bình Thuận, đặc biệt đã thành công trong việc xây dựng kinh tế, văn hóa và đời sống vùng châu thổ ở Bình Định và Phú Yên rất phì nhiêu. Trong số đó, có nhiều người từ nhiều địa phương có truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú và đa dạng, có điều kiện kết hợp nhanh chóng với nền văn hóa dân gian của địa phương, một số làn điệu dân ca, Hò, Lý, Hò chèo thuyền, Hò giã gạo, Hò đi cấy… còn giữ được bản sắc ban đầu, đồng thời phát triển, sáng tạo ra các làn điệu mới.” (Theo lời dẫn của nhạc sĩ La Nhiên trong “Quê hương điệu hát Bài Chòi, Sài Gòn” 1974. Dẫn lại theo nhà nghiên cứu Trần Hồng).

Đông đảo người dân và du khách thưởng thức nghệ thuật trình diễn Bài chòi.

Như thế, nghệ thuật bài chòi có lẽ thịnh nhất ngay từ thời Trấn quốc công Bùi Tá Hán (nửa đầu thế kỷ 16) lãnh đạo người Việt cùng người bản địa khai phá và canh tân miền Trung. Nó có thể theo chân những binh lính và lưu dân người Việt vào lập nghiệp ở miền này, nhưng đối tượng phục vụ của nó gồm cả người dân Việt và người dân Chàm. Đây có thể coi là một hình thức nghệ thuật diễn xướng đậm chất Việt, nhưng được thử thách và tồn tại ở ngay mảnh đất mà ban đầu, nghệ thuật của người Chàm giữ vị trí quan trọng. Lý do để nghệ thuật bài chòi có được chỗ đứng vững vàng trong sinh hoạt cộng đồng Việt-Chàm nằm ở ngay tính hồn nhiên và dân chủ của nó. Sức lan tỏa và thuyết phục của nó ở chỗ nó không phân biệt, nó bình đẳng với mọi người chơi và mọi người nghe. Tuồng hát bội ban đầu chỉ biểu diễn ở cung đình hay ở các nhà quan lớn, dành cho những đối tượng người xem chọn lọc. Về sau mới hướng về phục vụ cả dân chúng. Còn bài chòi, ngay từ đầu đối tượng phục vụ của nó đã là lính, là dân, là bất cứ ai ham thích trò chơi này, không phân biệt. Với cư dân nông nghiệp Việt Nam, mùa xuân là mùa lễ hội, mùa của sự thăng hoa và tinh thần dân chủ. Đó cũng là mùa của bài chòi. Ta thử nghe một đoạn bài chòi xem nhé:

“ Chỗ này là chỗ vui chơi
Có trống nẫu nhịp, có cây kèn nẫu thổi ò í e…
Có rượu rồi lại có chè
Cô cứ gác chân tréo ngoảy ngồi nghe hô bài(…)
Tôi bưng khay rượu nạm vàng
Chúc mừng năm mới an khang xóm làng…”

Cô gái “gác chân tréo ngoảy”, cái động tác ấy mới hồn nhiên và dân chủ làm sao! Và cũng dễ thương biết chừng nào! Ngay tên những con bài cũng đã nói lên tính bình dân và dân chủ rất rõ. Như câu hô thai (hô đố) Nhứt Nọc này:

“Tay cầm sào chống lái
Mắt liếc bãi lều tranh
Ở đây đưa rước bộ hành
Thuyền nan một chiếc tử sanh trọn bề
Trải qua bãi bạc gành nghê
Tứ mùa chèo chống đôi bề sóng xao
Thú vui ngang dọc một sào
Ngồi trong tịnh viện kẻ gào người kêu
Tiếng ai văng vẳng kêu đò

Mau mau nhổ nọc chèo qua rước người.”

Người nghe tinh ý biết ngay câu thai (đố) ấy ứng với con bài Nhứt Nọc. Đúng là đố vui có thưởng! Nhưng trên đường giải đố, người nghe đã được hưởng trọn vẹn một đoạn hô chòi rất hay, nó là tâm sự của một anh chèo đò, mà cũng là những câu thơ sinh động vẽ nên cảnh sông nước ngày xưa.

Nghệ thuật bài chòi trên đường hoàn thiện mình đã thu hút vào nó những làn điệu dân ca, những điệu lý có nguồn gốc từ âm nhạc Chàm. Nhưng tiêu chí để thu hút của nó vẫn là sự hồn nhiên. Trong bài chòi, cho đến nay còn giữ một số làn điệu dân ca có bản sắc ban đầu, như các điệu lý, điệu hò: lý con sáo, lý ngựa ô, lý quét nhà… hò chèo thuyền, hò cấy lúa, hò giã gạo…Toàn là những điệu lý điệu hò mộc mạc đúng như tên gọi của chúng.

Cùng với sự hồn nhiên, điểm thu hút đặc biệt của bài chòi là tính hài hước. Cái này là “độc quyền” của các anh hiệu. Những anh hiệu nào càng có những câu hô thai hài hước, thậm chí có những câu thơ ứng tác chọc cười có duyên nhất là những anh hiệu “ăn khách” nhất, được bà con hưởng ứng nhiều nhất, ủng hộ nhiều nhất. Và những câu hô thai ấy, dù không được ghi ra giấy, vẫn lưu lại lâu bền trong trí nhớ của những người dân chơi hay nghe bài chòi. Ở đây có thể coi bài chòi là một dòng văn học dân gian truyền miệng, một kiểu “trình diễn thơ” độc đáo mà bây giờ khó có nhà thơ “mô-đéc” nào theo kịp trong khả năng thu hút công chúng.

Hồn nhiên và hài hước, đó không chỉ là bí quyết trường thọ của bài chòi, mà còn là bí quyết trường thọ của văn học, của thơ ca. Sự tương tác với công chúng ở bài chòi đã đạt tới đỉnh cao, và nó tạo ra một từ trường đồng sáng tạo mà văn học nghệ thuật hiện đại luôn ao ước.

Mãi mãi, bài chòi thuộc về nhân dân.

Thanh Thảo / Theo: vanhienplus

ĐỪNG GHEN TỊ VỚI CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI KHÁC

(ảnh minh họa Pinterest)

Bạn ghen tị và ngưỡng mộ cuộc sống của người khác, nhưng có người lại đang hâm mộ cuộc sống của bạn, đừng tìm hạnh phúc ở đâu xa, nó đang ở ngay bên cạnh bạn.

Dường như những kỳ vọng tốt đẹp trong quá khứ đã bị thực tế làm phai mờ, chỉ để lại trong lòng đầy nỗi phiền lo. Kỳ thực, đời người mười việc thì tám, chín việc không như ý, khó ai có thể sống cả đời suôn sẻ; những rắc rối của chúng ta thường đến từ việc không ngừng so sánh và không biết đủ.

Nhìn vào hào quang của người khác, chúng ta luôn thấy bản thân mình thật ảm đạm, tăm tối; chúng ta ngưỡng mộ cuộc sống của người khác thuận buồm xuôi gió, còn bản thân mình thì vô vàn khó khăn. Chúng ta tán thưởng người ngoài, xoi mói chính mình, và luôn khiến cho bản thân không được hạnh phúc.

Cũng như nhà văn Fyodor Dostoyevsky nói: “Con người sở dĩ bất hạnh là vì anh ta không biết rằng mình hạnh phúc, thế thôi!” Vì vậy, hãy nghĩ thoáng một chút, phiền não sẽ ít đi; trong tâm biết đủ, hạnh phúc tự nhiên sẽ nhiều hơn.

Bạn ngưỡng mộ cuộc sống của người khác, nhưng có người lại đang ngưỡng mộ cuộc sống của bạn (ảnh minh họa Pinterest)

Bộ phim ngắn đoạt giải Oscar “The Neighbor’s Window” (tạm dịch: Khung cửa sổ nhà hàng xóm) kể về một câu chuyện như sau: Một cặp vợ chồng trung niên đã kết hôn được nhiều năm, họ từ sớm đã mất đi những cảm xúc dạt dào thuở ban đầu bởi vì những thứ vụn vặt của đời thường. Họ đã nhìn qua nhà hàng xóm từ ô cửa sổ nhà mình, cặp vợ chồng trẻ bên đó lúc nào cũng ân ái, ngọt ngào.

Nhìn sự hạnh phúc của hàng xóm, nghĩ lại cuộc sống với đủ thứ lo toan vụn vặt của mình, người vợ càng thêm tủi hờn.

Cho đến một ngày nọ, người vợ gặp được cô gái bên nhà hàng xóm, thì mới biết được chồng của cô mắc bệnh nan y, cho nên họ mới bỏ qua tất cả mọi thứ, hết mực yêu thương nhau trong những ngày ngắn ngủi còn lại.

Cô gái nghẹn ngào nói: “Chồng em bị bệnh nặng, em thường nhìn thấy anh chị và 3 đứa con vui vẻ hòa thuận, cùng nhau ăn cơm, cùng nhau vui đùa…”

Người vợ nghe xong vô cùng kinh ngạc, hóa ra những rắc rối mà cô vướng vào bấy lâu nay lại là niềm hạnh phúc mà người khác không thể có được.

(ảnh: IMDB)

Người vợ trở về nhà, nhìn thấy 3 đứa con khả ái và người chồng đang bận rộn với việc trong nhà, cuộc sống tuy bình thường nhưng hạnh phúc mỹ mãn, thật đúng là “ở trong hạnh phúc mà không biết đó là hạnh phúc”.

Cuộc sống là vậy, chúng ta thường đánh giá thấp ý nghĩa của sự bình thường, trong tâm cứ hướng về thứ gì đó ở nơi xa xăm, để rồi tự tìm phiền não cho mình. Chúng ta cứ mãi nhìn lên và ngưỡng mộ hạnh phúc của người khác, nhưng khi quay đầu lại thì chợt nhận ra, chúng ta lại đang được người khác ngưỡng mộ.

Cuộc đời ai cũng có buồn vui lẫn lộn, không có ai cả đời đều là hạnh phúc mà không có chút phiền não nào. Mỗi người đều ở một vị trí khác nhau, mưu cầu hạnh phúc cũng khác nhau, mỗi người đều có những lo lắng và buồn phiền riêng, và mỗi người đều có niềm vui và niềm hạnh phúc riêng.

Nhà văn Mạc Ngôn từng nói:

“Con người khi đến với thế giới này, sẽ luôn có rất nhiều điều không như ý, cũng sẽ có rất nhiều điều không công bằng; sẽ có rất nhiều mất mát, cũng sẽ có rất nhiều ước ao.

Bạn hâm mộ tự do của tôi, tôi hâm mộ sự ràng buộc của bạn; bạn ước ao xe của tôi, tôi thèm muốn căn nhà của bạn; bạn ngưỡng mộ công việc của tôi, tôi ghen tị vì bạn luôn có thời gian để nghỉ ngơi.”

Hãy trân trọng những thứ bản thân mình đang có (ảnh minh họa Pinterest)

Chúng ta hay nói tùy duyên, vậy tùy duyên là trạng thái như thế nào? Ít ra chúng ta cũng nên bằng lòng với những gì chúng ta đang có ở hiện tại, tin rằng đó là những thứ phù hợp nhất với chúng ta.

Con người trải qua nhiều chuyện, cuối cùng sẽ học được cách chấp nhận bản thân, học được cách mỉm cười để đối diện với cuộc sống, giữ nhịp điệu cho riêng mình, không cần phải hòa vào đám đông, đó mới là một cuộc đời đáng sống.

Thế gian vốn vô sự, là do con người tự tìm phiền não. Vậy nên, đã đi qua những năm tháng tươi xanh, phải hiểu được rằng ‘biết đủ thường vui’; đã gặp qua bao người với muôn hình muôn vẻ, phải học được cách trân trọng bản thân; sau khi ngắm cảnh phồn hoa, phải biết quý trọng những thứ mà mình đang có.

Hạnh phúc không cần điều kiện gì cả, lúc nào nó cũng có đầy đủ ở trong bạn, chỉ là bạn có muốn chấp nhận nó hay không.

Chân Chân / Theo: Zhihu

CÔ HÁI MƠ - NGUYỄN BÍNH


Cô hái mơ
thơ Nguyễn Bính

Thơ thẩn đường chiều một khách thơ,
Say nhìn xa rặng núi xanh lơ,
Khí trời lặng lẽ và trong trẻo,
Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ.

Hỡi cô con gái hái mơ già!
Cô chửa về ư? Đường thì xa,
Mà ánh trời hôm dần một tắt,
Hay cô ở lại về cùng ta?

Nhà ta ở dưới gốc cây dương,
Cách động Hương Sơn nửa dặm đường,
Có suối nước trong tuôn róc rách,
Có hoa bên suối ngát đưa hương.

Cô hái mơ ơi!
Chả giả lời nhau lấy một lời,
Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng,
Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi.

NGUYỄN BÍNH - 1937

Đây là bài thơ đầu tiên của Nguyễn Bính gửi đăng báo, trên Tiểu thuyết thứ năm. Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát cùng tên (năm 1942). Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm cũng đã phổ nhạc bài thơ này.

"Cô hái mơ" - Nhac: Phạm Duy - Ca sĩ: Duy Quang

Sơ lược tiểu sử tác giả:

Nguyễn Bính (13/2/1918 - 20/1/1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh tại làng Thiện Vinh, huyện Vụ Bảng, tỉnh Nam Định. Ông mồ côi mẹ từ nhỏ, tự học ở nhà, bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi, được giải khuyến khích thơ của nhóm Tự lực văn đoàn năm 1937 với tập thơ Tâm hồn tôi.

Ông tham gia kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, tập kết ra Bắc năm 1954, làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam, Ty văn hoá thông tin Nam Hà. Năm 1958, Nguyễn Bính làm chủ bút báo Trăm hoa. Nhiều tài liệu ghi ông mất ngày 20-1-1966 (tức ngày 29 Tết - không có ngày 30) tại Hà Nội. Tuy nhiên nhà văn Vũ Bão cho biết ông qua đời tại nhà riêng của một người bạn tên là Đỗ Văn Hứa, hiệu Tân Thanh, tại thôn Mạc Hạ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Nguồn: Thi Viện

"Cô hái mơ" - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Ca sĩ: Vũ Khanh


CUỘC ĐỜI U TỐI ÍT AI BIẾT CỦA NÀNG MONA LISA ĐỜI THẬT

Bức chân dung nàng Mona Lisa không chỉ là tác phẩm tiêu biểu cho cuộc đời danh họa Leonardo da Vinci mà còn là một tuyệt tác huyền thoại của lịch sử hội họa. Sau hàng trăm năm, nụ cười đầy mơ hồ trên môi nàng Mona Lisa vẫn được hậu thế bàn luận, phân tích. Thế nhưng, không phải ai cũng biết về cuộc đời thực tế bên ngoài bức họa của quý bà người Ý này.

Bức họa Mona Lisa. (Ảnh: I.T)

Cuộc hôn nhân u buồn

Người mẫu của bức tranh nàng Mona Lisa là Lisa Gherardini, sau đổi thành Lisa del Giocondo theo họ chồng. Bà sinh vào ngày 15/6/1479 ở Florence, Ý, là con cả trong một gia đình gốc quý tộc nhưng đã mất dần quyền lực lẫn sự giàu có.

Khi ấy, các thiếu nữ thường được gả đi sớm cho các người đàn ông lớn tuổi. Năm 1495, khi 16 tuổi, Lisa được gả cho Francesco del Giocondo – một thương gia giàu có 30 tuổi. Cô gái tuổi trăng tròn Lisa Gherardini nhờ cuộc hôn nhân này mà được nâng cao địa vị, bắt đầu cuộc sống của một phụ nữ tầng lớp thượng lưu nhưng gặp không ít sự kiện đau buồn.

Sau khi kết hôn, cô nhanh chóng mang thai và sinh được 6 người con trong vòng 10 năm. Trong số đó chỉ có 4 người con sống đến tuổi trưởng thành. Con gái thứ hai tên Piera của Lisa qua đời năm lên 2 tuổi còn một người con khác chết khi vừa lọt lòng.

Thông tin bê bối nhất trong gia đình của Lisa là về “sở thích” buôn bán, nuôi nô lệ của chồng cô. Suốt nhiều đời liền, gia đình Francesco có truyền thống làm công việc tội lỗi này. Trong cuốn Mona Lisa: The People and The Painting (tạm dịch: Nàng Mona Lisa: Những con người và Bức họa), 2 tác giả Martin Kemp và Giuseppe Pallanti miêu tả: “Kể từ khi còn nhỏ, Francesco đã sống cạnh với những nữ nô lệ do cha ông mua về, và sau khi người cha qua đời, trách nhiệm của ông là mua nô lệ mới. Thi thoảng ông lại mua về nhiều nô lệ hơn cần thiết”.

Các nhà lịch sử học cũng đưa ra thông tin rằng cuộc hôn nhân của Lisa và chồng không quá hạnh phúc. Tiêu biểu là sự kiện Lisa từng bị 2 người đàn ông quý tộc bạn của chồng mình gạ gẫm, tán tỉnh. Lisa đã ra sức từ chối họ. Còn về phía Francesco, thay vì nổi giận với 2 gã đàn ông có ý định chiếm đoạt vợ mình, ông lại lo sợ sự từ chối của Lisa ảnh hưởng xấu tới mối quan hệ với họ. Vì 2 người này rất có thế lực, sau lùm xùm, Francesco đã tìm đến nhà họ để khẳng định sự ủng hộ của mình và cam đoan rằng mối quan hệ giữa đôi bên vẫn thân thiện. Sự yếu đuối và hèn hạ của Francesco đã bị đối phương mỉa mai lại.

Tác giả Martin Kemp cũng miêu tả Lisa là một người phụ nữ bị chồng kiểm soát, như nhiều phụ nữ thời bấy giờ. Sự giàu có của chồng đã giữ chặt Lisa trong “một tủ quần áo và hàng đống quần áo ấn tượng”, mặc dù người xem không thể thấy điều này trong bức tranh về cô.

Mô hình 3D của nàng Lisa được bảo tàng Louvre tái dựng.

Mối duyên với Leonardo da Vinci và bức họa tuyệt tác

Người ta không rõ bằng cách nào họa sĩ Leonardo da Vinci liên hệ được với Lisa, nhưng giữa họ có một mối liên hệ là cha của ông Leonardo là luật sư và chồng của Lisa là một khách hàng của ông. Cũng có nhiều nghiên cứu cho thấy gia đình Lisa chính là hàng xóm sống cùng khu với cha của họa sĩ. Năm 1503, danh họa bắt đầu vẽ bức chân dung của người phụ nữ 24 tuổi sau này sẽ trở thành kiệt tác nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của mình.

Danh họa Leonardo da Vinci.

Nhiều khả năng Francesco là người đã thuê Leonardo da Vinci – người lúc ấy vẫn là một họa sĩ không tiếng tăm vẽ chân dung cho vợ mình. Cũng như nhiều gia đình giàu có ở Florence, mỗi khi gia đình có sự kiện trọng đại, vợ chồng Lisa lại mời các họa sĩ tới vẽ chân dung kỷ niệm. Năm 1503 là khi Lisa đang mang thai đứa con thứ 3 của mình và mới chuyển đến nhà mới, gia đình đã mời Leonardo da Vinci tới để vẽ chân dung kỷ niệm.

Bức tranh Mona Lisa sau đó được vẽ trong suốt 16 năm, kể từ khi Lisa còn là một phu nhân trẻ cho đến khi bước vào tuổi trung niên. Và tác phẩm hội họa đỉnh cao này thực chất chưa bao giờ được hoàn thành, vì nó đã bị bỏ dở dang vào năm 1519, khi Da Vinci qua đời. Ông cũng không bao giờ trao bức tranh này cho khách hàng mà đã mang nó đến Pháp năm 1517.

Vào những năm tuổi già, Lisa đã sống trong tu viện. Bà qua đời ngày 14/7/1542, thọ 63 tuổi. Khi cả người vẽ lẫn người mẫu đều đã qua đời, bức chân dung Mona Lisa còn dang dở lúc ấy không có danh tiếng gì và không được ai biết đến. Mãi vài thế kỷ sau, nàng Lisa – một người phụ nữ quý tộc bình thường trong hàng triệu phụ nữ của thế kỷ 16 mới đột nhiên trở nên nổi tiếng.

Năm 1550, bằng cách nào đó mà bức chân dung của nàng Mona Lisa lại lọt vào trong bộ sưu tập tranh của Vua Francis I ở nước Pháp. Nó từng vài lần được trưng bày trong bảo tàng Louvre. Năm 1800, Napoleon tỏ vẻ rất thích bức họa này nên đã đem về treo trong phòng ngủ. Ông trả lại nó cho bảo tàng 4 năm sau đó.

Thời gian trôi qua, tiếng đồn về vẻ đẹp của bức tranh lan rộng và bí ẩn về nụ cười nàng Mona Lisa khiến người ta mãi thắc mắc, trầm tư. Nụ cười của nàng Mona Lisa đã khiến hàng triệu người trên thế giới bị mê hoặc nhưng vĩnh viễn sẽ không ai hiểu được bí mật đằng sau nụ cười đó là gì.

Bức tranh Mona Lisa hiện thuộc sở hữu của Chính phủ Pháp, được trưng bày tại bảo tàng Louvre

Ngày nay, nằm trong lớp kính chống đạn ở một vị trí trang trọng trên tường bảo tàng Louvre, Mona Lisa chính là bức tranh giá trị lớn nhất thế giới. Nụ cười bí hiểm của nàng đã thu hút hàng triệu du khách tới tham quan bảo tàng mỗi năm. Theo thống kê, có tới 80% du khách ghé thăm viện bảo tàng này hằng năm chỉ để được ngắm nụ cười của Mona Lisa.

Theo: doanhnghiep&tiepthi

NGHIÊN CỨU CHỈ RA: NGƯỜI HAY SĂM SOI LỖI CHÍNH TẢ CÓ VẤN ĐỀ VỀ TÍNH CÁCH

Nếu là một người thường xuyên khó chịu với lỗi chính tả của người khác, xin chia buồn, các nhà khoa học dường như đang có tin xấu dành cho bạn…


Trong một nghiên cứu của trường đại học Michigan, 83 người tham gia được yêu cầu đọc một email phản hồi cho quảng cáo tìm bạn ở ghép. Những email này có thể không chứa lỗi sai hoặc sửa để có những lỗi sai chính tả. Chẳng hạn như “mkae” thay vì “make”, “abuot” thay vì “about”. Hoặc lỗi ngữ pháp như “to/too,” “it’s/its,” hay “your/you’re”.

Cuối thí nghiệm, người tham gia được hỏi liệu họ có nhận ra lỗi chính tả hay ngữ pháp trong các mail trả lời không. Nếu người tham gia trả lời “Có”, họ sẽ chỉ ra các lỗi sai khiến họ khó chịu như thế nào. Tiếp đó, các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm ra mối liên kết giữa đặc tính nhạy cảm với lỗi sai chính tả với tính cách của người tham gia. Tình nguyện viên được yêu cầu hoàn thành bài trắc nghiệm tính cách Big Five (bài trắc nghiệm xác định mức độ của 5 loại tính cách: hướng ngoại, tận tâm, sẵn sàng trải nghiệm, dễ chịu, tâm lý bất ổn). Họ cũng được yêu cầu đoán xem người viết email là người như thế nào bằng cách đoán xem họ thông minh đến đâu, thân thiện ra sao với một thang điểm cho trước.

Kết quả nhận được cho thấy, những người khó chịu với các lỗi chính tả và ngữ pháp mà họ đọc được thường có tính cách “kém dễ chịu” hơn so với những người bỏ qua lỗi này. Những người như thế thường được đánh giá là ít cởi mở hơn, thường xuyên nhìn nhận về sai lầm của người khác tiêu cực hơn. Thêm vào đó, những người tính cách khó chịu thường nhạy cảm với lỗi ngữ pháp, trong khi những người ít cởi mở lại hay nhạy cảm với lỗi chính tả.

Mặc dù nghiên cứu chỉ được thực hiện với 83 người và không thể đại diện cho số đông, nhưng kết quả trên cũng đã phần nào phản ánh sự liên hệ giữa tính cách con người với sự diễn giải ngôn ngữ. Nếu bạn thường xuyên săm soi lỗi chính tả hoặc ngữ pháp, bạn có tránh khỏi thói quen phán xét những sai lầm khác của mọi người?


Tôi là một giáo viên, và theo như đánh giá của học sinh thì dù tôi là một người quá nghiêm khắc. Tôi thường xuyên trừ rất nhiều điểm mỗi khi các em mắc lỗi chính tả hoặc lỗi ngữ pháp. Thậm chí tôi còn không chấm bài nếu bài viết phạm quá nhiều lỗi. Các em đều cảm thấy rất áp lực và nặng nề khi đến giờ của tôi.

Tôi không nhận ra vấn đề đó. Tôi cho rằng việc nghiêm khắc và yêu cầu các em chỉnh từng lỗi nhỏ trong mỗi bài viết sẽ tốt hơn cho chúng. Điều đó sẽ rèn luyện đức tính cẩn thận và giúp chúng ghi nhớ tốt hơn để không tái phạm lỗi nữa. Tuy nhiên, phương pháp của tôi đã phản tác dụng. Các em không có sự tiến bộ nào đáng kể. Ngược lại, chúng còn tỏ ra chán nản và không muốn phối hợp.

Không chỉ vậy, trong nhiều năm liền, cuộc sống của tôi trở nên khá áp lực và căng thẳng. Tôi thường có cảm giác không hài lòng về cuộc sống, những người xung quanh và cả bản thân mình. Tôi luôn nhìn ra những khuyết điểm của người khác, thấy tiêu cực với cuộc sống. Đặc biệt, suy nghĩ “Tôi không đủ tốt” khiến tôi luôn có cảm giác nặng nề.

Thật may mắn, người bạn thân đã giới thiệu cho tôi một khóa thiền định. Tôi bắt đầu thực hành thiền mỗi ngày và sống theo những nguyên lý Phật gia. Tôi nhận ra, thói quen săm soi lỗi chính tả một cách thái quá của tôi xuất phát từ việc thường xuyên phán xét người khác. Đó là biểu hiện khi người ta không hài lòng và khó chịu với bản thân. Cuối cùng, họ đã đẩy những năng lượng xấu đó sang cho người khác một cách vô thức.

Tôi học cách “dễ dãi” hơn với những khuyết điểm của người khác và bản thân. Các bài viết sai chính tả của học sinh không còn khiến tôi khó chịu như trước nữa. Tôi có thể nhắc nhở các em về lỗi của chúng với một tâm trạng thoải mái và không cần trừ điểm. Chỉ trong một thời gian ngắn, các em đã có tiến bộ đáng kể, và cuộc sống của tôi cũng an nhiên hơn bội phần!

Hải Dương / Theo: ĐKN

Saturday, August 8, 2026

"VỢ CHỒNG LÀ DUYÊN, CON CÁI LÀ NỢ", HIỂU THẤU ĐIỀU NÀY ĐỂ SỐNG AN NHIÊN

Thường nghe nói “Vợ chồng là duyên, con cái là nợ, không có duyên không gặp, không có nợ không đến”, vì vậy cũng đừng quá cố chấp, mọi thứ cứ để thuận theo tự nhiên là được rồi.

Vợ chồng là duyên, con cái là nợ, không có duyên không gặp, không có nợ không đến (ảnh Zhihu)
 
Con trai đoản mệnh làm cha mẹ thương tiếc khôn nguôi

Trong cuốn “Canh tỵ biên” của Lục Xán vào thời nhà Minh đã ghi lại một câu chuyện như sau: Ở thôn Lục Mộ, Trường Châu có một người tên là Đới Khách, làm nghề buôn bán ngói; công việc làm ăn cũng không đến nỗi tệ, cơm no áo ấm.

Anh chỉ có một người con trai nên rất nuông chiều; sống phóng túng, muốn làm gì thì làm. Không ngờ con trai anh năm 16 tuổi mắc bệnh hiểm nghèo, dùng trăm nghìn phương thuốc cũng không có tác dụng; nằm liệt trên giường nửa năm rồi cũng qua đời. Hai vợ chồng vô cùng đau khổ, làm đám tang rất lớn; lại mời hòa thượng, đạo sĩ đến ngày đêm tụng kinh siêu độ. Tiền bạc tích góp trong nhà cũng vì việc ma chay mà dùng gần hết; nhưng họ vẫn mãi thương nhớ người con trai của mình mà khóc lóc không thôi.

Một ngày nọ, có một bà lão đi thuyền đến thôn Lục Mộ, tới thăm hỏi hai vợ chồng Đới Thị; nhìn thấy hai vợ chồng quá đau thương mới khuyên nhủ: “Sinh tử là lẽ thường tình, hà tất phải bi thương như vậy. Xem ra hai ngươi yêu mến con trai như vậy, tình sâu khó dứt; ta muốn cho các ngươi gặp mặt nhau một chút, để xem sẽ thế nào?”.

Hai vợ chồng cứ mãi đau khổ về cái chết của người con (ảnh SOH)

Vợ chồng Đới Thị lau nước mắt nói: “Con trai đã qua đời lâu như vậy, âm dương cách biệt làm sao mà gặp lại được? Nếu có thể gặp được như lời bà nói thì quả thật vô cùng biết ơn!”.

Vợ chồng là duyên, con cái là nợ

Bà lão nói với họ: “Chuyện này dễ thôi”. Vợ chồng Đới Thị vui mừng nắm tay bà lão. Bà lão nói: “Ta dẫn hai ngươi đến nơi này, các ngươi tự nhiên sẽ gặp được con trai của mình. Nhưng không cần phải hai vợ chồng đều đi, một người đi là được rồi”. Đới Khách rất mừng, liền để cho vợ cùng bà lão lên thuyền. Bà lão nói vợ Đới Khách nhắm mắt lại và không được tùy tiện mở ra nhìn lén.

Sau đó thuyền lao đi rất nhanh, chỉ một lát sau đã đến một khu phố ồn ào náo nhiệt. Bà lão xuống thuyền và dẫn theo vợ của Đới Khách. Từ xa có thể nhìn thấy con trai của nàng đang đứng ở trong một tiệm gạo.

Người con trai cũng rất vui mừng khi thấy mẹ của mình; cậu lập tức chạy ra gặp mẹ và nói: “Con ở tiệm gạo này làm công, trong tâm lúc nào cũng nhớ thương cha mẹ; đang lúc muốn gặp thì mẹ đã tới rồi. Mẹ chờ một lát, con đi thông báo cho ông chủ; nói ông ấy đến chào mẹ”. Nói xong thì quay người chạy vào trong nhà. Bà lão lập tức nói vợ Đới Khách lên thuyền; lại để cho nàng đội một cái mũ thật rộng và khoác áo choàng vào; nấp ở trên thuyền để xem tình huống đang diễn ra ở tiệm gạo.

Nhìn rõ mối duyên nợ, nỗi đau khổ cũng nguôi ngoai (ảnh SOH)

Hợp tan cũng là duyên nợ, hiểu thấu để sống an nhiên

Một lúc sau, người con trai bước ra, cách ăn mặc rất đáng sợ, nhìn giống như quỷ đầu bò; nhìn quanh một lượt không thấy ai liền chửi: “Đồ súc sinh chạy đi đâu rồi? Bà ta thiếu nợ ta 20 năm, chỉ mới trả được 16 năm, còn thiếu 4 năm nữa! Hôm nay bà ấy dám đến đây, ta phải gọi người bắt bà ta lại; tiếc là ta chậm chân lại để cho bà ta chạy mất rồi”. Nói xong tức giận đi vào trong nhà. Vợ của Đới Khách ngồi trên thuyền không dám thở mạnh, bà lão nói với nàng rằng: “Ngươi nhìn thấy rồi đó, đây chính là con trai của ngươi!”

Vợ Đới Khách ngồi trên thuyền trở về nhà và kể lại tất cả mọi chuyện cho chồng nghe. Từ đó nỗi đau buồn của hai vợ chồng mới nguôi ngoai. Về sau khi họ thử đi tìm bà lão và chiếc thuyền đó thì không thấy tăm hơi đâu nữa.

Vẫn thường nghe nói “cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể, con nuôi cha mẹ kể tháng kể ngày”, tình huống này dường như rất phổ biến trong xã hội. Qua câu chuyện ở trên thì có lẽ chúng ta cũng hiểu được một phần nào nguyên nhân, tất cả cũng đều là do duyên nợ tạo thành.

Chân Chân / Theo: Sound of hope