Thursday, October 8, 2026

SAO CỨ MỖI ĐỘ THU VỀ TA LẠI THẤY XAO XUYẾN LẠ, THẤY THỜI GIAN QUÁ VÔ TÌNH

Năm nào cũng có mùa thu, mà sao lần nào thu tới, thu đi đều khiến lòng người xuyến xao, bồi hồi đến kỳ lạ. Thu đẹp mà, nắng nhẹ mỏng như tơ, sương giăng giăng lững lờ, heo may lùa khe khẽ, lá khởi sắc vàng khô… Vậy sao thu vẫn buồn, đọng lại trong ta những chênh vênh, tiếc nhớ.


Bởi thu là dấu ấn gợi nhắc nhân sinh vô thường của tạo hóa. Một năm có bốn mùa, thì xuân thu là thi vị nhất. Nhưng xuân hướng tới tương lai thì thu lại hồi tưởng quá khứ. Như đời người Xuân – Hạ – Thu – Đông, sinh trưởng, phát triển rực rỡ, tiếc nuối rồi đi vào giai đoạn cuối thâm trầm. Thu là cái thời điểm hồi tưởng ấy, bởi trong mùa thu, cả sắc, hương của đất trời đều như nhắc nhớ về những gì đã qua.

Nào là nắng, là gió, cứ nhè nhẹ mơn man, không gay gắt, dữ dội để người phải gồng mình mà chống đỡ, che chắn. Nắng thu lung linh, để người đủ nhận ra, cũng là nắng đó, nhưng không bỏng rát. Như ta đến lúc trưởng thành, đối với cùng một thử thách của cuộc đời, cùng một điều có thể trước đây ta thấy thật khó chịu và phiền phức, thì nay chỉ đủ làm ta mỉm cười và thấy nó cũng tốt ra sao.

Gió thu nhè nhẹ, man mát se se, không ồn ào vội vã, nhưng cũng đủ làm lá phải lìa cành. Bởi lá đến lúc phải rời cây thì rời thôi, gió chỉ là một cái cớ. Trong thu, điều gì cũng là đã tới độ, vừa phải và nhẹ nhàng. Cũng giống như đời người, điều gì có thể có thì đều đã có, điều gì không thể có thì cũng không ham hố đấu tranh như xưa, chỉ còn là một niềm tiếc nhớ.

Sắc thu không rực rỡ như xuân, mà nhuốm màu sầu muộn, lá vàng sậm hoặc đỏ au, ghi dấu năm tháng tàn phai, xưa cũ. Bởi:

“Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh” 
(Đoàn Phú Tứ)

Thu sang man mác một màu quá khứ. (Ảnh: blogspot.com)

Hương của mùa thu cũng nhẹ nhàng, xao xuyến mênh mang. Là hương cốm mới, hương lúa chín, hương sen cuối mùa…

Trong cái thứ sắc hương như thế, sao người có thể không nao lòng vì thu. Thế nên dù thu đẹp lắm, lòng người vẫn có chút chững lại, vương vấn. Chắc cũng vì thế mà chữ “sầu” (愁- sầu bi, buồn bã) là gồm chữ “thu” (秋 – mùa thu) và chữ “tâm” (心 – tim). Một cảm giác của mùa thu vương ở trong tim, đó là u sầu vậy.

Thu dù buồn man mác nhưng là lẽ tất nhiên của tạo hóa, một phần không thể thiếu của bốn mùa xoay vần. Đời người cũng vậy, đâu có ai tránh được khoảng thời gian hối tiếc, giao thời, chuẩn bị cho những hành trình mới của sinh mệnh. Dù có là kẻ anh hùng tung hoành thiên hạ, người một thân đầy công danh hiển hách, hay bậc quyền thế một thời uy vũ, thì cũng không thể tránh khỏi cái mùa thu của cuộc đời, không thể tránh khỏi vận mệnh và quy luật của vũ trụ. Có thành (sinh thành) thì sẽ có trụ (trụ vững), hoại (hủy hoại, hỏng dần) và diệt (diệt vong).

Mùa thu như một sự nhắc nhở của đất trời, rằng vạn vật trong vũ trụ này đều phải tuân theo một quy luật bất biến. Con người dù hiển hách đến mấy, cũng phải khiêm nhường trước tạo hóa và chấp nhận sự vô thường này. Thế nên, sớm hiểu được nó, để đừng tự biến mình thành kẻ ngốc chạy theo những ảo ảnh, dục vọng, một đời tham sân si, để rồi đến cuối đoạn đường lại chẳng thể mang theo những gì mình đã tranh đua để đạt được.

“Nào những ai
Kê vàng tỉnh mộng
Tóc bạc thương thân
Vèo trông lá rụng đầy sân
Công danh phù thế có ngần ấy thôi” 
(Cảm Thu, Tiễn Thu – Tản Đà).

Xưa Khổng Tử đi chơi tới một nơi sơn dã trong tiết thu lành lạnh, trời thu xanh lồng lộng. Nghe nói Chu Công cũng từng tới nơi đây. Nhìn về xa, trong cảnh thu chợt lòng nghĩ tới Chu Công, Khổng Tử bỗng thương cảm vô hạn: “Người đi không trở lại, không gian thu mênh mông!”.

Sau đó Khổng Tử và Tử Lộ đi tới bờ sông, cũng lại tức cảnh sinh tình: “Dòng sông cuộn chảy suốt ngày đêm miệt mài không nghỉ, vạn vật trong vũ trụ lẽ nào lại không giống như vậy!”.


Tác giả Lý Hoa Anh trong cuốn sách về trí tuệ Khổng Tử đã bàn về câu chuyện đó: “Thời gian thực sự là kẻ đa tình nhưng cũng vô tình! Bạn xem câu: “Trường Giang cuồn cuộn chảy về đông, dòng nước xóa đi các sự tích anh hùng; thất bại, thị phi bỗng chốc biến hư không”. Đây chẳng phải là quá vô tình sao? Nhưng “Non xanh vẫn còn đó như ngày nào, mặt trời nhuộm đỏ trời chiều bao độ” thì đây chẳng phải là quá đa tình sao?…

Thời gian đa tình hay vô tình thì đều để con người nhớ rằng mình nhỏ bé biết bao trước thế lực vĩ đại của tạo hóa. Chúng ta không được lựa chọn mình sinh ra như thế nào, nhưng được lựa chọn mình sẽ sống ra sao, và cái việc sống ra sao lại sẽ quyết định sẽ chết như thế nào và đi tiếp nữa trên hành trình mới ra sao. Hãy sống khiêm nhường và biết đủ, bởi dù thế nào thì bạn cũng sẽ không chạy thoát khỏi một lực quản vô hình chi phối đời bạn.

“Sơn thu vân vật lãnh,
Xứng ngã thanh luy nhan.
Nhân sinh vô kỷ hà,
Tâm hữu thiên tải ưu,
Thân vô nhất nhật nhàn”

Dịch Nghĩa:

“Núi mùa thu mây và mọi vật đều lạnh,
Thiệt xứng với nét mặt xanh gầy của ta.
Đời người có gì đâu.
Lòng có mối lo ngàn năm,
Thân không có được một ngày nhàn nhã” 
(Núi thu – Bạch Cư Dị).


Thế đấy, làm người sinh ra hỏi mấy ai không bao giờ có mối lo trong lòng, hỏi mấy ai có thể vui sướng quá ba ngày liên tiếp. Bàn tay chẳng thể nắm chặt từ sáng tới tối, thu chẳng thể không tới, đời người chẳng thể lúc nào cũng theo ý mình. Tự hỏi, rằng nên tranh tranh đấu đấu hay thuận theo dòng chảy cuộc đời, lợi dụng sức nước chảy mà trôi cho tới bến cuối. Dụng lực của tạo hóa để thành tựu bản thân chẳng phải là dễ dàng, đỡ tốn sức, tổn tâm hơn hay sao.

Đời cho ta điều gì thì ta trân quý và tận dụng điều đó, biến cái khó khăn thành sức mạnh để tu dưỡng thân, tâm. Đến mùa thu của cuộc đời, đã là kẻ tự tại, thanh nhàn. Lúc đó, nhìn lá vàng rơi sẽ không thương cảm, tiếc nuối, mà vẫn mỉm cười vì hiểu lẽ nhân sinh, đó là cái lúc lá phải rơi, là để cho cây chuẩn bị vượt qua cái lạnh giá để hồi sinh trở lại vào mùa xuân tới. Tương lai sẽ vẫn tới, một chu kỳ mới lại vận hành.

Cây cỏ vô tình, có lúc phải điêu linh, nhưng người là sinh mệnh có linh hơn mọi vật. Vậy mà, cũng “Trăm lo làm động lòng, vạn sự làm khổ thân; hễ có động thì tinh thần phải lung lay; huống hồ còn nghĩ chuyện quá sức mình, lo chuyện quá tài trí của mình, thì mặt đang hồng hào biến thành cây khô, tóc đang đen biến thành trắng xóa âu cũng là chuyện đương nhiên” – Âu Dương Tu. Thế nên nghĩ nhiều mà làm gì, tính toán nhiều mà làm chi, sao biết việc gì là quá sức mình đây, chi bằng hãy thong dong tự tại. Bởi Xuân Hạ Thu Đông… rồi lại Xuân.

An Nhiên / Theo: vandieuhay

Wednesday, October 7, 2026

VUA LÊ NHÂN TÔNG TÀI ĐỨC THƯƠNG DÂN VÌ SAO PHẢI CHẾT THẢM KHI VỪA 18 TUỔI?

Cái chết của vị vua hiền đức Lê Nhân Tông và thân mẫu trong chính biến năm 1459 khiến các quan văn võ nuốt hận ngậm đau, trăm họ xót thương, than trách thế sự bất công khi để người tốt phải chịu tang thương ai oán. Nhưng đây cũng có thể là một kết cục khó tránh khỏi của nhân quả tất báo…


Một đấng minh quân tài đức vẹn toàn

Vua Lê Nhân Tông (Lê Bang Cơ) là vị hoàng đế thứ ba của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, được vua Lê Thái Tông lập làm hoàng tử chỉ 6 tháng sau khi sinh.

Sử sách mô tả Lê Nhân Tông là vị hoàng đế đức độ, coi trọng Nho học, không đam mê tửu sắc, và biết nghe can gián. Nước Đại Việt dưới thời trị vì của ông đã giữ được sự ổn định cao, kinh tế và giáo dục có sự đổi mới mạnh mẽ, đường xá, cầu cống được xây mới, nông nghiệp phát triển. Dưới thời trị vị của ông, đại quân của nhà Lê còn đánh bại vua Chiêm Bí Cai và sáp nhập xứ Bồn Man vào Đại Việt, mở mang bờ cõi.

Vua giảm sưu thuế, ban thưởng cho công thần, tiêu diệt thảo khấu, loạn đảng, bình định ngoại bang… khiến triều thần kính nể, nhân dân no ấm, đất nước phồn vinh. Ông còn độ lượng với các công thần khai quốc nhưng lỡ có tội và bị xử tử trước đây, ra nhiều chiếu chỉ biểu dương công lao của họ, hoặc trả lại của cải, ruộng đất cho con cháu họ. Tuy nhiên, ông vẫn chưa minh oan được cho vụ án oan sai thảm khốc của Nguyễn Trãi.

Có thể nói Lê Nhân Tông là một trong những vị minh quân hiếm có trong lịch sử phong kiến Việt Nam, ông là vị vua tài đức vẹn toàn và rất được lòng dân. Tuy nhiên, vị vua nhân đức này lại bị chính anh cùng cha khác mẹ của mình là Lạng Sơn Vương – Lê Nghi Dân sát hại trong binh biến đoạt ngôi vị năm 1459 khiến bá quan và dân chúng không khỏi xót thương, oán thán.

Ngày 3 tháng 10 năm Kỷ Mão (tức 28 tháng 10 năm 1459), Nghi Dân mua chuộc được cấm vệ quân, đang đêm cùng các thủ hạ bắc thang vào tận trong cung cấm giết Nhân Tông. Hôm sau, Hoàng thái hậu cũng bị hại, lúc đó bà 38 tuổi.


Nhìn bề mặt, đây là một sự vụ tranh quyền đoạt vị, huynh đệ tương tàn, cũng quả là một sự việc bất công, một sự việc khiến người ta cảm thấy dường như Đấng tạo hóa chưa công bằng. Nhưng suy xét kĩ hơn, sự việc này không thực sự như vậy, nó rất có thể là chuyện nhân quả báo ứng từ vụ án oan Lệ Chi Viên.

Thảm án Lệ Chi Viên

Lệ Chi Viên là vụ án oan nổi tiếng lịch sử liên quan đến việc phụ hoàng của vua Lê Nhân Tông là Lê Thái Tông đột ngột qua đời vào năm 1442 tại nhà đại thần Nguyễn Trãi ở Lệ Chi Viên khi mới 20 tuổi.

Ngày 27 tháng 7 âm lịch năm 1442, vua Thái Tông đi tuần về miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh. Nguyễn Trãi mời vua ngự ở chùa Côn Sơn. Đến ngày 4 tháng 8 âm lịch vua đi chơi ở “Lệ Chi viên” (vườn Vải), xã Đại Lại, ven sông Thiên Đức thì bất ngờ băng hà. Ngay lập tức, Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ bị vu cáo tội giết vua, phải chịu tru di tam tộc.

Về sau này, vua Lê Thánh Tông đã đứng ra minh oan cho Nguyễn Trãi và chính sử ghi nhận cái chết của vua Lê Thái Tông là do đột tử. Nhưng một số nhà nghiên cứu cho rằng: một vị vua tuổi đời còn rất trẻ, trước đó còn thân chinh đi đánh dẹp lân bang có thể trúng gió đột tử là rất không hợp lý. Đây rõ ràng hơn là một âm mưu ám sát. Dã sử ghi lại rằng:

Trước khi mất, vua Lê Thái Tông đã truất ngôi thái tử của Lê Nghi Dân do mẹ ông là Dương phi kiêu căng, không giữ phép tắc, rồi vua lại phong cho Bang Cơ – con của bà phi Nguyễn Thị Anh lên làm thái tử. Thời điểm này, một bà phi khác là Ngô Thị Ngọc Dao (mẹ vua Lê Thánh Tông) mang thai, Nguyễn Thị Anh đã tìm cách hãm hại khiến bà Ngọc Dao bị giam ở lãnh cung. Tuy nhiên Nguyễn Trãi và hiền thê Nguyễn Thị Lộ lại hết lòng bảo vệ, xin vua tha cho bà Ngô Thị Ngọc Dao.

Ảnh Nguyễn Trãi. Nguồn ảnh: ko.wikipedia

Cùng với hiền thê của mình, Nguyễn Trãi đã đưa bà Ngọc Dao tá túc tại chùa Huy Văn (nay ở đường Chùa Bộc, Hà Nội) và hạ sinh hoàng tử Tư Thành ở đây vào ngày 20 tháng 7 năm Nhâm Tuất (dương lịch 24-8-1442). Sau đó, Nguyễn Trãi thu xếp mẹ con bà Ngọc Dao ra trú ở vùng An Bang (nay là Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh), nơi ông trị nhậm với cương vị Ngự sử Đông Bắc đạo.

Việc làm của Nguyễn Trãi khiến ông trở thành cái gai trong mắt hoàng hậu Nguyễn Thị Anh.

Hơn nữa lúc bấy giờ, có nhiều lời đồn đại rằng Bang Cơ không phải là con của vua Thái Tông, vì thời gian từ khi Nguyễn Thị Anh vào cung đến khi hạ sinh Bang Cơ chỉ có 6 tháng. Các nhà nghiên cứu lịch sử đã tìm được cuốn gia phả họ Đinh là “Ngọc phả họ Đinh” của thái sư Đinh Liệt, trong có chép bài thơ nói về chuyện này:

茸新六个月開花,
不識何人寶種多.
主靠送胎為靈藥,
舊瓶新酒盛醫科.

Dịch nghĩa là:

Nhung tân lục cá nguyệt khai hoa,
Bất thức hà nhân chủng bảo đa.
Chủ kháo Tống khai vi linh dược,
Cựu binh tân tửu thịnh y khoa.

“Nhung tân” đọc lái là Nhân Tông, tức ý chỉ thái tử Bang Cơ, “Thịnh Y” tức là Thị Anh (tất nhiên đây chỉ là giải nghĩa phiên âm sang tiếng Việt, còn cách đọc chính xác phải là phát âm tiếng Hán). Bài thơ trên được dịch như sau:

Nhân Tông sáu tháng đã ra hoa
Dòng máu ai đây quý báu à?
Núp bóng Thái Tông làm linh dược
Thị Anh dùng ngón đổi dòng cha

Việc này, ngoài vợ chồng Nguyễn Trãi, Đinh Phúc và Đinh Thắng, còn có vài đại thần khác có thể đã biết như Thái sư Đinh Liệt, Thái uý Trịnh (Lê) Khả và con là Trịnh (Lê) Quát, Tư khấu Trịnh Khắc Phục và con là Phò mã Đô uý Trịnh Bá Nhai. Có thể vì nguyên nhân đó mà đã trở thành mầm mống tai vạ sau này cho Nguyễn Trãi và gia tộc của của ông.

Khi nhà vua Lê Thái Tông đi tuần miền Đông, duyệt binh ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón vua về ngự ở Côn Sơn. Nguyễn Thị Anh lo sợ Nguyễn Trãi sẽ tiết lộ chuyện động trời với vua Thái Tông, gốc gác của thái tử bị tiết lộ, khiến con mất ngôi báu, bản thân và gia tộc phải chịu tội đại hình… nên Nguyễn Thị Anh rắp tâm tìm cách giết vua Lê Thái Tông để đổ oan cho Nguyễn Trãi. Một mũi tên trúng nhiều mục đích: Diệt trừ hậu họa, đoạt ngôi báu cho con và giành lấy quyền lực nhiếp chính do thái tử chưa đầy 2 tuổi.

Nhân Quả tất có báo ứng

Nếu những gì dã sử ghi chép là chính xác, ở lăng kính của ‘Luật Nhân Quả’ nhà Phật, thì cái chết của vua Lê Nhân Tông là nghiệp quả luân báo, khó có thể tránh khỏi. Mẹ ông là bà Nguyễn Thị Anh vì muốn giữ vương vị cho con trai và quyền lực cho bản thân mà rắp tâm giết chồng, sát hại trung thần, còn khiến thân nhân quyến thuộc 3 đời nhà Nguyễn Trãi chịu án oan sai thảm khốc. Ác nghiệp đó quả thực to lớn vô biên, không sớm thì muộn cũng sẽ nhận báo ứng. Và quả thực, 17 năm sau, cả hai mẹ con Nguyễn Thị Anh đều bị sát hại một cách tàn độc trong nội cung.

Lê Nhân Tông (Ảnh minh họa)

Dù vua Lê Nhân Tông hiền đức, thương dân nhưng nhân quả tất báo, có nợ ắt phải hoàn trả. Chúng ta không thể nhìn bề ngoài mà trách cứ Thiên địa, Tạo hóa bất công. Thần Phật vốn công minh, tuyệt đối không thiên vị, đó là quy luật của đất trời.

Những chuyện nhân quả báo ứng như trên trong suốt chiều dài lịch sử nhiều không tính đếm. Bài học xưa, người Do Thái thông minh, chăm chỉ nhưng vì rắp tâm hãm hại Chúa Jesus, khiến Ngài phải chịu cảnh bị đóng đinh trên thập tự giá, mà tộc người Do Thái phải chịu cảnh lưu bạt suốt hơn 2000 năm, thời Thế chiến II còn bị Hitler thảm sát, mãi tới năm 1947 mới có được một mảnh đất an cư.

Đăng Dũng biên tập
Nguồn: ĐKN (Hoài Anh)

VẬN MỆNH CON NGƯỜI: SỐ PHẬN AN BÀI HAY DO MÌNH LỰA CHỌN?

Vận mệnh luôn là câu hỏi khiến con người trăn trở. Hoàn cảnh tạo giới hạn, nhưng cách lựa chọn, hành động và thay đổi bản thân mới quyết định hướng đi lâu dài.


Từ xa xưa, “vận mệnh” đã là một trong những vấn đề được con người quan tâm. Người ta muốn biết vì sao có người sinh ra trong thuận lợi, có người phải trải qua nhiều khó khăn, vì sao cùng đứng trước một cơ hội, mỗi người lại có một kết quả khác nhau.

Theo cổ nhân, “mệnh” và “vận” thường được nhìn nhận là hai khái niệm có liên quan nhưng không hoàn toàn giống nhau. “Mệnh” thiên về những điều con người được trao từ đầu, còn “vận” gắn với sự biến chuyển của hoàn cảnh và thời gian. Vì vậy, vận mệnh không nhất thiết là một đường thẳng đã được định sẵn.

Một cách hiểu khác cho rằng vận mệnh chính là quá trình một con người đi qua cuộc đời trong những điều kiện cụ thể. Hoàn cảnh gia đình, thời đại, giáo dục, năng lực, các mối quan hệ và những quyết định cá nhân đều có thể tác động đến quá trình ấy.

Quan niệm này giúp nhìn vận mệnh thực tế hơn. Con người không thể lựa chọn nơi mình sinh ra, gia đình hay những biến cố đã xảy ra trong quá khứ. Nhưng con người vẫn có thể lựa chọn cách phản ứng trước những điều đó.

Vận mệnh luôn là câu hỏi khiến con người trăn trở. Ảnh: @Meta AI.

Hoàn cảnh có thể ảnh hưởng nhưng không quyết định tất cả

Không ai bắt đầu cuộc đời từ cùng một vị trí. Có người có điều kiện học tập tốt, có người phải sớm mưu sinh. Có người nhận được sự hỗ trợ từ gia đình, có người phải tự tìm đường đi. Những khác biệt đó chắc chắn ảnh hưởng đến cơ hội của mỗi người. Tuy nhiên, nếu coi tất cả kết quả đều đã được định sẵn thì con người sẽ dễ đánh mất khả năng chủ động.

Vận mệnh có thể được hiểu như xu hướng phát triển của một quá trình sống trong những điều kiện nhất định, chứ không nhất thiết là một sự sắp đặt thần bí, bất biến. Cách tiếp cận này đặt con người trở lại vị trí chủ thể của cuộc đời mình.

Một người có thể xuất phát chậm hơn người khác nhưng vẫn có khả năng thay đổi bằng học tập, lao động và lựa chọn phù hợp. Ngược lại, một người có nhiều lợi thế ban đầu cũng có thể đánh mất cơ hội nếu lựa chọn sai hoặc ngừng nỗ lực. Vì vậy, xuất phát điểm và kết quả cuối cùng không phải lúc nào cũng là một đường thẳng.

Mỗi ngày, con người đều đưa ra hàng loạt lựa chọn. Ảnh: @Meta AI.

Lựa chọn tạo nên hướng đi của cuộc đời

Mỗi ngày, con người đều đưa ra hàng loạt lựa chọn. Có quyết định rất nhỏ, chẳng hạn cách sử dụng thời gian; cũng có quyết định ảnh hưởng nhiều năm, như chọn nghề nghiệp, bạn đời, nơi sinh sống hoặc cách đầu tư cho bản thân.

Những lựa chọn riêng lẻ có thể không tạo ra thay đổi lớn ngay lập tức. Nhưng khi lặp lại trong thời gian dài, chúng hình thành thói quen. Thói quen tạo nên cách sống, còn cách sống ảnh hưởng đến kết quả của cuộc đời. Đây cũng là lý do nhiều quan niệm về vận mệnh nhấn mạnh vai trò của hành động.

Không nên phó mặc cuộc đời cho “số phận”

Một trong những rủi ro lớn nhất của tư tưởng định mệnh là khiến con người trở nên thụ động. Khi gặp thất bại, nếu tất cả đều được giải thích bằng “số đã định”, con người có thể bỏ qua nguyên nhân thực tế. Họ không còn đặt câu hỏi mình đã lựa chọn thế nào, thiếu kỹ năng gì hoặc có thể sửa điều gì. Trong khi đó, việc nhìn thẳng vào nguyên nhân giúp con người có cơ hội điều chỉnh.

Thất bại trong công việc có thể xuất phát từ thiếu kinh nghiệm. Một mối quan hệ đổ vỡ có thể liên quan đến cách giao tiếp. Khó khăn tài chính có thể bắt nguồn từ thói quen chi tiêu hoặc thiếu kế hoạch. Những vấn đề này không thể giải quyết chỉ bằng việc chờ “đổi vận”.

Cuộc sống luôn tồn tại những yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát. Ảnh: @Meta AI.

Chủ động không có nghĩa là kiểm soát được mọi thứ

Khẳng định con người có thể tác động đến vận mệnh không đồng nghĩa với việc cho rằng chỉ cần cố gắng là chắc chắn đạt được mọi mục tiêu.

Cuộc sống luôn tồn tại những yếu tố nằm ngoài khả năng kiểm soát. Biến động kinh tế, hoàn cảnh gia đình, sức khỏe, thiên tai, những quyết định của người khác hay những sự kiện bất ngờ đều có thể làm thay đổi kế hoạch. Vì vậy, một cách nhìn cân bằng hơn là phân biệt giữa điều có thể kiểm soát và điều không thể kiểm soát.

Con người không kiểm soát được việc một cơ hội có xuất hiện hay không, nhưng có thể chuẩn bị năng lực để nắm bắt cơ hội khi nó đến.

Không thể quyết định người khác đối xử với mình thế nào, nhưng có thể lựa chọn cách phản ứng. Không thể thay đổi quá khứ, nhưng có thể quyết định cách sử dụng bài học từ quá khứ. Chính khoảng cách giữa hoàn cảnh và phản ứng ấy tạo ra không gian để con người thay đổi cuộc đời.

Một người có thể gặp khó khăn ở giai đoạn này nhưng thuận lợi hơn ở giai đoạn khác. Một công việc từng phù hợp có thể trở nên không còn phù hợp sau vài năm. Một mối quan hệ từng quan trọng cũng có thể thay đổi theo thời gian. Điều đó cho thấy cuộc đời không đứng yên. Do đó, thay vì chỉ hỏi “số phận của tôi là gì?”, con người có thể đặt một câu hỏi thực tế hơn: “Trong hoàn cảnh hiện tại, tôi có thể làm gì để tạo ra kết quả tốt hơn?”.

Thiên Đăng (t/h) / Theo: kienthuc.net

HỌA CÚC - TRỊNH TƯ TIẾU


Hoạ cúc

Hoa khai bất tịnh bách hoa tùng,
Độc lập sơ ly thú vị cùng.
Ninh khả chi đầu bão hương tử,
Hà tằng xuy lạc bắc phong trung.


畫菊 - 鄭思肖

花開不並百花叢
獨立疏籬趣未窮
寧可枝頭抱香死
何曾吹落北風中


Vẽ cúc
(Dịch thơ: Trần Trọng San)

Hoa nở chẳng cùng trăm giống khác,
Rào thưa riêng đứng, thú dường bao.
Đầu cành thà chịu ôm hương chết,
Chẳng rụng vào trong gió bắc nào!


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Trịnh Tư Tiếu 鄭思肖 (1241-1318) nguyên tên là Thiếu Nhân 少因, sau đổi tên thành Tư Tiếu 思肖, tự Ức Ông 憶翁, hiệu Sở Nam 所南, quê ở Liên Giang (nay thuộc Phúc Kiến), là thi nhân nổi danh cuối triều Tống. Ông từng là thái học sinh, đỗ khoa Bác học hoằng từ. Khi nhà Nam Tống mất, ông về Tô Châu ở ẩn tại chùa. Tác phẩm có Sở Nam tiên sinh văn tập 所南先生文集, Tâm sử 心史 7 quyển. Ngoài thơ, Trịnh Tư Tiếu còn giỏi vẽ.

Nguồn: Thi Viện



BÍ MẬT THÚ VỊ VỀ CÂY MỒNG TƠI, LOẠI RAU QUEN THUỘC TRONG BỮA CƠM VIỆT

Từ thân mọng nước, lá nhớt đến những quả tím đen, mồng tơi ẩn chứa nhiều đặc điểm thực vật học ít người biết.

Ảnh: infobae

Mồng tơi (Basella alba) là một trong những loại rau quen thuộc trong bữa cơm của người Việt. Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ thực vật học, đây không phải là một loại rau lá thông thường mà là một dây leo mọng nước, thuộc họ Mồng tơi (Basellaceae). Loài này có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới châu Á và hiện được trồng rộng rãi ở nhiều khu vực nhiệt đới trên thế giới.

Thân mồng tơi mềm, nhẵn và mọng nước, có thể dài tới khoảng 10 m nếu gặp điều kiện thích hợp. Thân có thể màu xanh hoặc đỏ tím, thường quấn quanh giàn, hàng rào hay những cây khác để vươn lên. Lá dày, bóng, mọng nước và có hình trứng hoặc hình trái tim, thường dài khoảng 5–15 cm. Chính những chiếc lá xanh mướt này là phần được sử dụng phổ biến nhất làm rau.

Ảnh: fitoagricola

Một đặc điểm dễ nhận ra khi nấu mồng tơi là chất nhớt tiết ra từ lá và thân. Đây là đặc tính tự nhiên của cây, liên quan đến các chất nhầy trong mô thực vật. Khi nấu canh, chất này tạo nên độ sánh và cảm giác trơn đặc trưng mà nhiều người Việt rất quen thuộc. Lá và ngọn non có thể được dùng trong nhiều món ăn, từ canh mồng tơi nấu cua, tôm đến các món xào.

Mồng tơi cũng có một “đời sống” khá thú vị sau khi được trồng. Những bông hoa rất nhỏ thường mọc thành cụm dài ở kẽ lá. Sau khi thụ phấn, cây tạo ra những quả mọng nhỏ, khi chín thường chuyển sang màu tím đen. Lớp thịt bao quanh quả chứa sắc tố có thể tạo màu đỏ tím và từng được sử dụng làm chất tạo màu tự nhiên.

Ảnh: socfindoconservation.co

Điều đáng chú ý là Basella alba có khả năng phát triển rất nhanh trong điều kiện ấm áp, nhiều ánh sáng và đủ ẩm. Vì vậy, mồng tơi đặc biệt phù hợp với khí hậu nhiệt đới. Một cây có thể nhanh chóng phủ kín giàn chỉ trong thời gian tương đối ngắn. Khi thân tiếp xúc với đất ẩm, cây còn có khả năng hình thành rễ, giúp nó tiếp tục lan rộng.

Tên tiếng Anh của mồng tơi cũng khá thú vị: Malabar spinach, hay “rau bina Malabar”. Dù được gọi là spinach, mồng tơi hoàn toàn không thuộc chi Spinacia – chi của rau bina thật sự. Hai loại rau chỉ có điểm tương đồng ở việc đều được sử dụng làm rau lá.

Từ một dây leo bình dị thường xuất hiện bên những giàn rau gia đình, mồng tơi vì thế lại ẩn chứa một thế giới thực vật khá phong phú: thân mọng nước, lá nhớt, hoa nhỏ, quả tím đen và khả năng sinh trưởng mạnh trong khí hậu nóng ẩm. Một loại rau quen thuộc trong bát canh hàng ngày thực chất là một loài thực vật nhiệt đới đặc biệt thích nghi với cuộc sống dưới ánh nắng.

Thanh Bình (t/h) / Theo: kienthuc.net



TẠI SAO VIỆC "THẤY RỒI MỚI TIN" KHÔNG ĐÁNG TIN CẬY?

Quan niệm “thấy rồi mới tin” rất phổ biến trong xã hội ngày nay, nhưng những điều bạn tận mắt nhìn thấy cũng chưa chắc đã là sự thật.

Có một câu chuyện cười về điển cố “không thấy nên cho là sạch”.

Trước đây, có hai vị tú tài sau khi uống rượu tranh luận với nhau, một người nói rằng vạn vật trên đời có thể rửa sạch bằng nước, trong khi người kia lại nói rằng vạn vật trên đời chỉ vì mắt không thấy nên cho là sạch.

Hai người tranh luận đến mặt đỏ tía tai, quả thực là bất phân thắng bại, nên đi đến nhờ hương thân (người có học thức ở địa phương) phân định. Hơn nữa, một người còn đặt tiền cược, nếu ai thua sẽ phải nộp một nửa tài sản và vợ của mình cho bên kia. Vị hương thân cũng tin rằng vạn vật trên đời đều có thể được rửa sạch bằng nước, nên vị tú tài nói “mắt không thấy nên cho là sạch” đã thua cuộc.

Vị tú tài thua cuộc vẻ mặt buồn bã ủ rũ trở về nhà. Vợ anh là Vương Thị vội chạy đến hỏi chuyện gì đã xảy ra, nghe được lời tú tài nói, người vợ đã bật khóc nức nở.

2 vị tú tài uống rượu tranh luận với nhau (ảnh minh họa Saigonxua)

Nhưng Vương Thị là người thông minh, sau khi khóc, cô liền nghĩ ra cách giải quyết. Thế là, cô nói: “Tướng công, tuy chàng đã đánh mất thiếp vào tay người khác, nhưng thiếp đi cũng phải đi cho đàng hoàng. Trưa mai chàng hãy đi mời các hương thân đến ăn một bữa cơm nhé!” 

Giữa trưa ngày hôm sau, các vị hương thân đều xuất hiện tại nhà vị tú tài thua cuộc, trong đó có cả vị tú tài đã thắng cuộc.

Lúc vào tiệc, sau khi mọi người đã uống được 3 ly rượu, Vương Thị đột nhiên đi ra khỏi phòng, trên tay cầm một cái bô. Chỉ thấy cô đặt bô ở cửa ra vào, dùng nước sạch lau bô 3 lần, sau đó dùng khăn lau sạch bên trong và bên ngoài bô, cuối cùng điềm tĩnh mang bô vào bếp.

Mọi người thấy vậy đều cau mày, hứng thú ăn uống đột nhiên giảm sút rất nhiều.

Một lúc sau thì cơm được mang lên. Chỉ thấy Vương Thị ngang nhiên bước ra cầm theo chiếc bô vừa mới lau sạch, đặt bô lên bàn, mở nắp bô ra và nói: “Mọi người, mời dùng cơm!” Mọi người có mặt ngơ ngác nhìn nhau, không nói nên lời.

Tuy nhiên, khi nhìn vào trong bô, bên trong quả thực là cơm trắng nóng hôi hổi. Vị tú tài thắng cuộc chợt hiểu ra, nói:“Ta thua rồi, không phải nước có thể tẩy sạch, mà là vì mắt không thấy nên cho là sạch”.

Qua câu chuyện thú vị này, chúng ta có thể thấy rằng, vì mắt không thấy nên cho là sạch, nếu những người đang ăn không nhìn thấy chiếc bô được mang thẳng lên bàn thì họ vẫn ăn rất vui vẻ, không chừng còn nghĩ rằng nó rất thơm ngon.

Vương Thị vốn là người thông minh, nên nghĩ ra biện pháp (ảnh minh họa Pinterest)

Nếu Vương Thị không bưng chiếc bô ra cho mọi người xem mà chỉ bưng chén cơm ra cho khách thì họ sẽ không cho rằng cơm không sạch, như vậy nhất định sẽ ăn cơm như bình thường.

Con người chính là như vậy, vô cùng tin tưởng vào những điều mắt mình nhìn thấy, chứ không phải là phân tích chân tướng của sự việc, hơn nữa, con người cũng quen với việc tự lừa dối bản thân.

Trên thực tế, mắt không thấy nên cho là sạch, nhìn ở một góc độ nào đó, chính là một loại tâm lý trốn chạy, không dám đối mặt với hiện thực. Ngoài ra, “mắt không thấy nên cho là sạch” và “thấy rồi mới tin” dường như đều có chỗ giống nhau, cả hai đều tin quá nhiều vào những gì tận mắt nhìn thấy.

Nhiều khi những điều nhìn thấy chưa chắc đã là sự thật, bạn có thể chỉ nhìn thấy bề ngoài hoặc là chỉ nhìn thấy một nửa sự thật mà thôi.

Theo: Vision Times

Tuesday, October 6, 2026

ĐẠO LÝ TU LUYỆN ĐẰNG SAU CÂU CHUYỆN "SƯ TỬ HÀ ĐÔNG"

Thành ngữ “Sư tử Hà Đông” cũng như câu chuyện đằng sau nó đã quá nổi tiếng, được biết đến rộng rãi, thậm chí đã đi vào lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân. Nhưng phải chăng đó chỉ là chuyện phiếm dân gian, châm biếm thói dữ tợn, ghen tuông của các bà vợ? Hay thực ra đằng sau còn ẩn chứa đạo lý uyên thâm nào đó?

Đạo lý tu luyện đằng sau câu chuyện “Sư tử Hà Đông”. (Tranh từ truyện ngụ ngôn Aesop)

Câu chuyện “Sư tử Hà Đông”

Vào thời Bắc Tống ở Trung Quốc, ở vùng Vĩnh Gia có người tên Trần Tháo, tự là Quý Thường, về sau lấy hiệu là Long Khâu cư sỹ. Lúc nhỏ, Trần Tháo thích chơi trò đấu kiếm, lớn lên thường lân la tìm gặp các khách giang hồ học võ nghệ. Khi đứng tuổi, ông bỗng thay đổi tính nết, chán cuộc sống giang hồ và muốn bước vào chốn văn chương, chữ nghĩa. Thế nhưng, do tài non trí đoản nên chẳng đâu vào đâu, quá nửa đời người mà công chưa thành, danh chưa toại.

Trần Quý Thường bất đắc chí, quay về sống ẩn dật rồi lấy vợ, sớm hôm vui thú ruộng vườn, tự nhận là cư sỹ nghiên cứu Phật pháp, Đạo lý. Thế nhưng, anh em bạn hữu – trong đó có thi hào Tô Đông Pha – vẫn thường xuyên lui tới cùng giải khuây bên chén rượu cuộc trà. Các cuộc vui như thế thường có sự xuất hiện của các ca nương xinh tươi, hát hay, múa đẹp. Thói đời tài tử giai nhân vẫn hay dập dìu như vậy.

Thấy thế, vợ Trần Quý Thường là Liễu Nguyệt Nga rất không bằng lòng. Lần nọ, bà cầm gậy vụt mạnh vào tường, vừa vụt vừa la mắng, quát tháo ầm ĩ. Khách khứa cùng hết thảy ca nữ thấy vậy thì vội vã rút lui. Còn Trần Quý Thường thì sợ đến đờ cả người.

Nghe tin, Tô Đông Pha làm bài thơ đùa:

Long Khâu cư sĩ diệc khả liên
Đàm không thuyết hữu dạ bất miên
Hốt văn Hà Đông sư tử hống
Trụ trượng lạc thủ tâm mang nhiên

Tạm dịch:

Long Khâu cư sĩ đáng thương thay
Luận đàm Phật Pháp mấy canh chầy
Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống
Bàng hoàng run sợ gậy rời tay

Biểu tượng và đạo lý đằng sau

Tương truyền kiếp trước của Tô Đông Pha là Hòa thượng Ngũ Giới, vì không vượt được ải nữ sắc, cảm thấy quá xấu hổ bèn tọa hóa mà đi đầu thai. Nhưng đến đời Tô Đông Pha thì vẫn chưa bỏ được cái nết ham vui, thậm chí ban đầu ông tìm đến Phật, Đạo cũng chỉ là để thỏa cái tính ham tìm tòi, nghiên cứu mà thôi. Tất nhiên đó cũng là thói chung của giới sĩ phu, trí thức – một phần thì hướng thượng, một phần thì vẫn đầy dính mắc, chấp trước.

Tô Đông Pha. Nguồn: Wikimedia, phạm vi công cộng.

Ngay trên bề mặt câu chữ bài thơ hài hước kia của Tô Đông Pha đã có những điều liên quan đến nhà Phật. Họ Liễu có đất tổ là Hà Đông, nên Liễu Nguyệt Nga được gọi là sư tử đất Hà Đông. “Sư tử hống” là chữ của nhà Phật, ví lời nói sang sảng uy nghiêm có thể trấn áp tà ác của các vị Bồ Tát, Phật như tiếng rống của sư tử, khiến các loài thú khác phải im lặng. Phật dạy người tu luyện phải dũng mãnh tinh tấn như hùng sư, trong chùa còn có “Đại Hùng Bảo Điện”, rất nhiều Bồ Tát, Thần Tiên cũng cưỡi sư tử.

Trần Quý Thường vẫn nhận là cư sĩ ngưỡng mộ Phật Pháp nên Tô Đông Pha bèn dùng chữ ấy để trêu. Ngoài ra, nhà thơ còn có ý đối sư tử với rồng: Long Khâu (hiệu của Trần Quý Thường) có nghĩa là Gò Rồng. Nam nhi ôm chí lớn vẫn thường ví von mình như rồng, gặp thời thì là rồng trên mây, không gặp thời thì là rồng ở ẩn. Con rồng đã bất đắc chí phải sống ẩn trong gò, lại còn không biết đường tinh tấn, chỉ chơi bời vô tích sự, thì bị hùng sư mắng cũng không oan. Liễu Nguyệt Nga vợ Trần Quý Thường, ở đây có khác nào thần thú hộ pháp, nghiêm khắc cảnh tỉnh đức lang quân.

Liễu (chữ Hán: 柳) là một họ người, đồng thời cũng có nghĩa là cây liễu, vốn là một biểu tượng tốt lành trong tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa. Cành, lá của cây liễu thon dài, mềm mại, đem cành lá ấy mà nhúng vào nước để rẩy thì được rất nhiều, rất đều và rất xa.

Bồ Tát Quán Âm dùng cành liễu rảy nước cam lồ từ Tịnh bình cứu khổ cứu nạn chúng sinh. (Tranh Thái Hạnh – zhengjian)

Bồ Tát Quán Âm của Phật gia dùng cành dương liễu để rảy nước cam lồ trong bình tịnh thủy, phổ độ chúng sinh. Thái Ất Thiên Tôn của Đạo gia cũng dùng cành dương liễu để rảy nước quỳnh tương trong chén ngọc, cứu khổ sinh linh.

Kinh Quán Đỉnh của Phật giáo có ghi lại câu chuyện Tỳ kheo Kiến Thiện Đề cắm cành liễu xuống đất liền mọc thành cây, dưới tàng cây có nước suối chảy ra, người dân bẻ cành cây, nhúng nước suối đem về nhà rảy lên người bệnh thì họ đều khỏe lại, cảm thấy thanh sạch, sảng khoái.

Quả thực, theo khoa học, cây liễu là loài cây mang dược tính quý báu. Cả cành, lá, hoa, quả đều có thể sử dụng để giải độc, tiêu viêm, thanh nhiệt.

Với nội hàm trừ tà, tiêu tai như vậy, cây liễu đã đi vào đời sống sinh hoạt xã hội, có địa vị cao trong văn hóa. Người Trung Quốc còn gọi cây liễu là “quỷ bố mộc” – “loài cây làm quỷ khiếp sợ”, mỗi khi đến Tiết Thanh minh thì trồng liễu bên mộ tổ tiên.

Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn. Nguồn: Phạm vi công cộng.

Người xưa có câu: “Cố ý trồng hoa, hoa chẳng nở; Vô tình cắm liễu, liễu lên xanh”, ẩn chứa nhiều tầng đạo lý sâu sắc. Hoa, tượng trưng cho nhan sắc đời người, sớm nở tối tàn, đã thế còn phải đôn đáo nâng niu săn sóc; liễu, vốn là pháp khí nơi Thần Phật, sức sống bền bỉ, không đòi hỏi gì nhiều. Con người mang nhân tâm, tình ý vô thường mà làm việc thì thường việc không thành, tự chuốc phiền não; nhưng buông bỏ nhân tâm, thuận theo tự nhiên, hướng đến Thần Phật, tâm linh, thường hằng, thì sẽ an lạc, tốt đẹp.

Quay trở lại câu chuyện sư tử Hà Đông. Cái tên Trần Quý Thường, tuy bề mặt chữ nghĩa không có gì đặc biệt, nhưng theo sự hài âm của tiếng Hán, lại gợi lên hàm ý “ở trong cõi trần, quý tiếc những điều thường nhân”, còn cái tên Liễu Nguyệt Nga thì theo sự hài âm tiếng Hán mang ý nghĩa “liễu giải được nữ sắc Tiên nữ Nguyệt Nga – Hằng Nga), thế nên nó mang lại cảm giác cao khiết, hướng thượng, Thần Tiên hơn hẳn.

Vậy nên mới nói, cái lý đằng sau, cái lý tu luyện là khác biệt, thậm chí ngược hẳn với biểu hiện bề mặt chốn nhân gian. Người phụ nữ lo toan nấu nướng giặt giũ cho chồng con, có khác gì cành liễu rắc rẩy nước mát; người đó thấy chồng con sai quấy, có trách mắng, thì cũng như Hộ Pháp nhắc nhở quy chính nhân tâm quay về với Đạo. Lấy được người như thế, chẳng những không được chán ghét mà còn phải thấy vui.

Do đó có thơ rằng:

“Chưa tu ngỡ vợ như quỷ sứ
Học Phật nhìn lại hóa hùng sư”

Hữu Đức / Theo: vandieuhay