Monday, October 19, 2026

ĐƠN VỊ 731 VÀ NHỮNG TỘI ÁC KINH HOÀNG TRONG NHÀ MÁY TỬ THẦN - KỲ 1: Ý TƯỞNG HÌNH THÀNH NHÀ MÁY TỬ THẦN

Được thành lập bí mật trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, Đơn vị 731 của quân đội Nhật Bản đã tiến hành hàng loạt thí nghiệm vô nhân đạo trên tù nhân, phát triển và sử dụng vũ khí sinh học, khiến hàng nghìn người thiệt mạng trực tiếp và hàng trăm nghìn người trở thành nạn nhân của các loại vũ khí này.

Kỳ 1: Ý tưởng hình thành nhà máy tử thần

Lính Nhật Bản gần thủ đô Nam Kinh của Trung Quốc năm 1937. Ảnh: CORBIS

Theo đài RT (Nga), tất cả những điều đó diễn ra trong một phòng thí nghiệm quân sự của Nhật Bản gần thành phố Cáp Nhĩ Tân của Trung Quốc.

Năm 1926, Nhật Bản có vị hoàng đế mới là Hirohito. Nhật Bản vốn đã có tư tưởng cực hữu phát triển mạnh nay nhanh chóng chuyển sang chủ nghĩa quân phiệt cực đoan. Có hai nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.

Nhật Bản khi đó chi phối Đông Á và có ưu thế về kinh tế so với các nước láng giềng là Trung Quốc và Triều Tiên. Trong bối cảnh đó, giới tinh hoa Nhật Bản tìm cách mở rộng đáng kể phạm vi ảnh hưởng của nước này trong khu vực.

Bước đi đầu tiên trong quá trình bành trướng của Nhật Bản là Sự kiện Phụng Thiên năm 1931, khi Nhật Bản dựng lên cáo buộc Trung Quốc đánh bom một tuyến đường sắt. Sự việc trở thành cái cớ để quân đội Nhật Bản chiếm Mãn Châu (một khu vực lịch sử ở Đông Bắc Trung Quốc) và thành lập nhà nước bù nhìn Mãn Châu Quốc trên vùng đất này. Sau đó, Nhật Bản hy vọng có thể khuất phục những vùng lãnh thổ còn lại của Trung Quốc.

Nguyên nhân thứ hai dẫn đến chủ nghĩa quân phiệt cực đoan của Nhật Bản trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới là tư tưởng về vượt trội chủng tộc của người Nhật được nhà nước tuyên truyền.

Khác với Đức Quốc xã, hệ tư tưởng của Nhật Bản không được chính thức hóa thành học thuyết, nhưng nhận được sự ủng hộ của một bộ phận đáng kể trong xã hội Nhật Bản.

Một sự kiện điển hình cho thấy rõ tình hình Nhật Bản thời điểm đó xảy ra vào năm 1932.

Thủ tướng Nhật Bản có tư tưởng ôn hòa Tsuyoshi Inukai tìm cách hạn chế ảnh hưởng của quân đội đối với chính trị quốc gia, nhưng đã bị các sĩ quan Hải quân Đế quốc và những kẻ chủ mưu thuộc tổ chức cực hữu Liên minh Máu ám sát. Hoàng đế Hirohito khi đó nhận được bản kiến nghị có 350.000 chữ ký, trong đó một số được viết bằng máu, cùng 11 ngón tay bị chặt lìa. Các thành viên cực hữu đề nghị hy sinh mạng sống của mình để đổi lấy mạng sống của những kẻ chủ mưu. Kết quả là những kẻ ám sát chỉ phải nhận các mức án tù mang tính tượng trưng, còn quyền lực tại Nhật Bản hoàn toàn rơi vào tay quân đội.

Nhật Bản khi đó đang chuẩn bị bước đi đầu tiên vào cuộc chiến tranh thế giới mới sắp diễn ra.

Shiro Ishii, bác sĩ phẫu thuật thuộc Lục quân Đế quốc Nhật Bản, giai đoạn 1935-1938. Ảnh: Wikimedia Commons

Năm 1928, Shiro Ishii, một bác sĩ trẻ tài năng, nhà vi sinh vật học xuất sắc và tốt nghiệp Đại học Kyoto, đã đến châu Âu. Ông ta là một người khắc nghiệt và khép kín. Tại châu Âu giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, ông ta chính thức nghiên cứu các chất dùng trong chiến tranh hóa học và vi khuẩn học.

Ishii rút ra kết luận quan trọng: châu Âu, vốn bị tàn phá trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất do vũ khí hóa học và đại dịch cúm Tây Ban Nha, vô cùng lo sợ trước những căn bệnh và dịch nhiễm trùng mới. Nghị định thư Geneva năm 1925 cấm sử dụng vũ khí hóa học và sinh học trong chiến tranh. Từ đó, Ishii cho rằng vũ khí sinh học có thể trở thành công cụ khiến các chính phủ phương Tây mất ý chí chiến đấu.

Trở về Nhật Bản năm 1930 với những kiến thức này, Ishii tìm được những nhân vật quyền lực bảo trợ, gồm Bộ trưởng Chiến tranh theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan Sadao Araki và bác sĩ quân y trưởng của Nhật Bản Koizumi Chikahiko. Koizumi vốn quan tâm đến vũ khí hóa học từ Chiến tranh Thế giới thứ nhất và đặc biệt ấn tượng với việc sử dụng khí clo gần Ypres năm 1915 và hy vọng phát triển đầy đủ ý tưởng này với sự giúp đỡ của Ishii.

Năm 1933, hai người được hoàng gia phê chuẩn để bắt đầu dự án bí mật. Họ không chỉ lên kế hoạch phát triển vũ khí sinh học mà ngay từ đầu còn dự định thử nghiệm những vũ khí này trên người sống.

Đơn vị 731 được đặt tại Mãn Châu và điều này không phải không có lý do. Sau khi chiếm khu vực này, quân đội Nhật Bản gần như có quyền tiếp cận không giới hạn với người dân Trung Quốc, những người bị họ coi là nguồn tài nguyên miễn phí phục vụ các thí nghiệm vô nhân đạo.

Một nhóm nạn nhân khác của đơn vị này là công dân Liên Xô, chủ yếu là người Nga. Từ năm 1930, các nhóm phá hoại của Nhật Bản bắt đầu bắt giữ công dân Liên Xô tại các khu vực biên giới nhằm thu thập thông tin tình báo về tình hình Liên Xô.

Trong số các tù binh còn có những binh sĩ Hồng quân bị bắt trong các trận chiến tại hồ Khasan và sông Khalkhin Gol. Trong nhiều năm, những người này được cho là mất tích trong chiến đấu, nhưng trên thực tế họ đã bị đưa vào trại tập trung Hogoin. Nếu tù binh từ chối cung cấp thông tin về tình hình quân sự, chính trị hoặc kinh tế của Liên Xô, trước tiên họ sẽ bị tra tấn rồi đưa đến Đơn vị 731 để làm vật thí nghiệm.

Nhật Bản coi Trung Quốc và Liên Xô là những đối thủ chính trong Chiến tranh Thế giới thứ hai sắp diễn ra, vì vậy các bác sĩ Nhật Bản nghiên cứu việc sử dụng vũ khí sinh học trên người dân của hai nước này. Ước tính người Trung Quốc chiếm khoảng 70% số nạn nhân của Đơn vị 731, trong khi công dân Liên Xô cùng một số người Triều Tiên, Mãn Châu và Mông Cổ chiếm khoảng 30% còn lại.

Dự án ban đầu chỉ là phòng thí nghiệm bí mật quy mô nhỏ trong trại giam Zhongma. Tuy nhiên, sau khi một số tù nhân trốn thoát, người ta nhận thấy dự án cần được bảo vệ nghiêm ngặt hơn.

Dưới danh nghĩa “Tổng cục Cấp nước và Phòng chống dịch bệnh của Quân đội Quan Đông”, pháo đài thực sự đã được xây dựng tại Bình Phòng, ở vùng ngoại ô phía Nam thành phố Cáp Nhĩ Tân. Để lấy đất xây dựng, khoảng 300 ngôi nhà của nông dân đã bị phá bỏ, thay vào đó là các doanh trại, phòng thí nghiệm và một sân bay riêng. Tổng số nhân viên của đơn vị lên tới khoảng 3.000 người.

Tòa nhà trên khu đất từng là cơ sở sản xuất vũ khí sinh học của Đơn vị 731 tại Cáp Nhĩ Tân năm 2008. Ảnh: Wikimedia Commons

Khi Chiến tranh Thế giới thứ hai bùng nổ, các đơn vị tương tự cũng được thành lập tại những vùng lãnh thổ bị Nhật Bản chiếm đóng, trong đó có Singapore, Philippines, Indonesia, Myanmar và nhiều nơi khác. Các đơn vị này thuộc mạng lưới được gọi là Mạng lưới Ishii, có khoảng 10.000 người.

Đơn vị 731 được chia thành nhiều bộ phận chuyên trách: bộ phận nghiên cứu các loại virus và bệnh truyền nhiễm như dịch hạch, thương hàn, bệnh than và bệnh tả; bộ phận thiết kế bom để phát tán vũ khí sinh học; bộ phận thứ ba phụ trách sản xuất hàng loạt các mầm bệnh. Một bộ phận khác chịu trách nhiệm tiêu diệt và ghi sổ, cách gọi được dùng để chỉ những tù nhân bị đưa ra làm thí nghiệm vô nhân đạo.

Ban đầu, Đơn vị 731 tiến hành thí nghiệm trên tù binh, các du kích chống Nhật và tội phạm thông thường. Trước khi các bác sĩ tàn bạo bắt đầu thí nghiệm, những người này được cho ăn uống đầy đủ, gồm thịt, cá và đôi khi thậm chí cả rượu, nhằm bảo đảm họ có thể trạng tốt.

Đón đọc kỳ cuối: Những thí nghiệm kinh hoàng

Thùy Dương
Theo: baotintuc



Sunday, October 18, 2026

CÓ HAY KHÔNG VIỆC THÔI MIÊN CÓ THỀ ĐIỀU KHIỂN HÀNH ĐỘNG CỦA NGƯỜI KHÁC?

Có hay không việc thôi miên có thể điều khiển hành động của người khác?


Chắc mọi người cũng không còn quá xa lạ với thuật ngữ “thôi miên“. Không chỉ được truyền miệng ngoài đời mà nó còn xuất hiện khá nhiều trên những bộ phim, truyện tranh, các chương trình biểu diễn ảo thuật... Thôi miên ám chỉ khả năng điều khiển suy nghĩ của người khác, khiến họ làm mọi việc theo ý của mình. Người bị thôi miên dường như không còn khả năng kiểm soát bản thân, bộ não bị chi phối hoàn toàn bởi người khác. Đó vẫn là những gì mà các chương trình giải trí đã đem lại cho khán giả những khái niệm cơ bản về thuật thôi miên. Trong thực tế, vẫn còn nhiều bí ẩn về thôi miên mà nhiều người chưa biết đến. Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây nhé !

Khả năng điều khiển của thôi miên


Thuật thôi miên thực sự là một môn nghệ thuật kì lạ bởi khả năng điều khiển tâm trí của nó. Người bị thôi miên sẽ nghe hoàn toàn theo những lời các nhà thôi miên nói. Nhưng nhiều người lại không biết rằng có những người dễ bị thôi miên hơn người khác. Các nhà khoa học đã thực hiện một nghiên cứu cho thấy khả năng bị thôi miên của từng người là khác nhau. Nhóm tuổi dưới 12 tuổi thường dễ bị thôi miên hơn bởi chu trình xử lý của não bộ chưa được hoàn chỉnh. Trong khi đó có khoảng 20% người lớn rất khó bị thôi miên.

Chữa bệnh bằng thôi miên ( thôi miên y khoa )


Với khoa học, công dụng chính của thôi miên chính là khả năng chữa bệnh của nó hay còn gọi là thôi miên y khoa ( hypnotherapy). Thôi miên giúp người bệnh có thể thay đổi được nhiều hành vi xấu hoặc cũng có thể giúp họ quên đi những ký ức không đáng nhớ… Phương pháp này hướng đến một sự thay đổi vô thức trong bệnh nhân bằng cách đặt họ trong một trạng thái bị điều khiển hoàn toàn. Nhiều người vẫn không tin tưởng vào phương pháp chữa bệnh này nhưng một số khác lại coi đây là một công việc thực sự và còn coi nó là một phương hướng điều trị mới trong tương lai.

Thôi miên biểu diễn


Thực tế có hai loại thôi miên đó là thôi miên y khoa như đã đề cập ở trên và ở phần này là thôi miên biểu diễn ( stage hypnosis ). Đó là những gì mà chúng ta vẫn thường nhìn thấy ở các chương trình giải trí – nhà thôi miên sẽ điều khiển tâm trí của khán giả và bắt họ làm những hành động theo ý của mình. Đây thực sự được coi là một công cụ để giải trí bởi các nhà thôi miên biểu diễn này ngoài thôi miên họ còn sử dụng nhiều mánh ảo thuật khác và thường là sử dụng những người đã được lựa chọn trước để biểu diễn. Nó giúp kích thích đám đông và khiến họ cảm thấy trầm trồ, thích thú nhưng thực tế phương pháp này ít liên hệ với bản chất thực sự của thuật thôi miên.

Tự động thôi miên


Bạn có thể sẽ ngạc nhiên khi biết rằng chúng ta cũng có thể tự thôi miên chính mình mà không cần đến những nhà thôi miên, điều bạn cần là những kiến thức cần thiết. Có một phương pháp tạm gọi là tự động thôi miên hay tự thôi miên chính mình, cho phép bạn có thể sử dụng tiềm thức để tác động lên các hành vi của mình theo cách mà ý thức không kiểm soát được. Phương pháp này được phát hiện ra bởi một người có tên là Coue, tác giả của cuốn “Self-Mastery Through Conscious”, miêu tả một cách chi tiết làm cách nào mà chúng ta có thể tự đặt bản thân vào trạng thái bị thôi miên như những nhà thôi miên vẫn thường làm.

Kí ức


Trên phim ảnh hay những chương trình giải trí, thôi miên còn có thể khiến chúng ta quên đi một phần kí ức nào đó. Với khoa học, điều này cũng khá là chính xác nhưng chỉ khi người bị thôi miên thực sự muốn quên đi điều đó và nghe theo những chỉ dẫn của nhà thôi miên. Mặc dù những phần kí ức đó khi bị kích thích rất dễ dàng trở lại, nhưng chúng có thể bị ngăn cản bởi việc sử dụng tiềm thức của mỗi người. Thôi miên cũng có khả năng giúp phục hồi trí nhớ của người khác trong một trạng thái hoàn toàn vô thức. Nhiều người khi bị thôi miên nói rằng họ từng bị người ngoài hành tinh bắt cóc hay từng gặp quái vật… nhưng có rất ít hoặc không hề có những bằng chứng nào chứng minh những phần kí ức được phục hồi đó là sự kiện đã từng xảy ra hay do chính người bệnh đang buộc bản thân tin vào nó.

Lịch sử của thôi miên


Thuật thôi miên được cho là đã được sử dụng trong những năm 1800 như một hình thức gây mê hay còn được gọi là “hypnoanesthesia”. Tuy nhiên, quá khứ đã chỉ ra rằng thôi miên còn được sử dụng trong khoảng thời gian trước đó rất nhiều. Trong những phát hiện gần đây, người Ai Cập cổ đại hay người Hy Lạp đã thực hiện phương pháp này trong những nghi lễ từ cách đây khoảng 3000 năm trước.

Tự điều khiển bản thân


Khả năng khiến người khác hành động theo ý mình có lẽ là một trong những bí ẩn lớn nhất về thuật thôi miên. Tuy nhiên, như đã đề cập ở trên thôi miên là một trạng thái bị người khác tác động lên và có những người dễ bị tác động hơn những người khác. Trở thành một nhà trị liệu giỏi là điều đầu tiên mà nhà thôi miên cần. Theo đó, họ sẽ tạo niềm tin bằng cách nói chuyện với bạn và không để lộ rằng thực chất họ không thể điều khiển bắt bạn làm mọi việc theo ý muốn. Những hành động khi bạn đang ở trong trạng thái thôi miên là do bạn hoàn toàn tự nguyện làm, và họ không thể điều khiển bạn làm những việc trái đạo đức hay trái với niềm tin mà họ đã đưa ra cho bạn.

Có hay không ý thức trong khi bị thôi miên?


Nhiều người tin rằng người ta thường ngủ trong khi đang bị thôi miên nhưng thực tế không hẳn như vậy. Trong quá trình thôi miên, bạn không những đang tự kiểm soát những hành động của bản thân mà theo các nhà khoa học lúc đó bạn còn đang rất tỉnh táo. Bởi lúc đó bạn hoàn toàn có thể nghe được toàn bộ những điều nhà thôi miên nói nếu bạn thực sự muốn và cố gắng lắng nghe. Một nhà thôi miên dày dạn kinh nghiệm đã từng tự thôi miên để loại bỏ phản ứng đau của bản thân. Ông đã thử thực thực hiện điều này trong quá trình phẫu thuật. Nó quả thực hoạt động rất tốt và ông không hề cảm thấy đau đớn, nhưng để áp dụng rộng rãi chúng ta vẫn cần nhiều bằng chứng hơn nữa. Thật khó tin nếu ông ta chỉ đặt bản thân vào trạng thái ngủ khi đang phẫu thuật mà chắc chắn trong tâm trí ông đang có một quá trình đấu tranh tư tưởng ghê gớm.

THEO TRÍ THỨC TRẺ

LƯƠNG TÂM ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU ?

“Lương tâm là vô giá, làm người có thể để mất cái gì thì mất nhưng nhất thiết không được để mất lương tâm”


LƯƠNG TÂM ĐÁNG GIÁ BAO NHIÊU ?

Hà Tam là lái xe chở hàng hóa. Hôm nay, xe đang bon bon chạy trên đường bỗng nhiên “khực” một cái rồi dừng lại. Hỏng rồi! Hà Tam xuống xe đến bên vệ đường vác hai hòn đá to chặn bánh sau lại rồi chui vào gầm sửa xe.Khoảng hơn hai tiếng đồng hồ thì xong. Hà Tam lên xe nổ máy chuẩn bị đi tiếp. Đúng lúc đó có một ông lão chăn bò bên cạnh đường chạy đến đập đập tay vào cửa xe, nói rất to:

“Này anh lái xe, anh đánh rơi đồ kìa!”.

Ông lão vừa nói vừa chỉ chỉ về phía sau xe. Hà Tam đoán ông lão nhắc đến hai hòn đá chặn bánh sau xe mà mình vác ra lúc nãy. Hà Tam toét miệng cười, nói do vội đi nên quên mất. Nói vậy song anh ta vẫn cố ý nhấn ga cho xe chạy. Ông lão vừa đuổi theo vừa quát to:

“Anh làm người như thế à? Làm người phải có lương tâm chứ? Anh bỏ hai hòn đá to ở trên đường để cho người ta…”

Những lời trách cứ của ông lão chăn bò bị bỏ lại cùng đám bụi phía sau xe. Hà Tam cười thầm trong bụng: Lương tâm giá bao nhiêu tiền một cân? Chạy hơn trăm cây số vào thành phố, đến trạm kiểm tra của cảnh sát, Hà Tam hết sờ túi này lại nắn túi nọ, tìm mãi không thấy giấy phép lái xe đâu. Hà Tam thừ người ra:

Giấy phép lái xe rõ ràng là để trong chiếc ví da lúc nào cũng mang trong người, vậy sao lại tìm không thấy?

Cẩn thận nhớ lại, Hà Tam mới chắc là chiếc ví da đã bị rơi khi mình chui vào gầm xe sửa chữa. Đành phải để xe lại trạm cảnh sát, Hà Tam vội vã vẫy taxi quay lại chỗ sửa xe.

Khi quay lại chỗ sửa xe ban sáng, Hà Tam tìm khắp nơi không thấy cái ví cũng không thấy ông lão chăn bò đâu. Hai hòn đá chặn bánh xe đã được ai đó khuân vào để bên vệ đường. Trên hòn đá thấy dán mảnh giấy có mấy chữ xiêu xiêu vẹo vẹo:

“Muốn lấy lại giấy tờ thì phải vác hòn đá này lên trên đồi”.


Ôi mẹ ơi! Hòn đá vừa to vừa nặng, ngọn đồi trước mặt lại vừa cao vừa dốc, vác hòn đá này liệu có bò lên được trên đó không? Hà Tam kêu to lên:

“Đừng bắt ép người ta như thế! Cần bao nhiêu tiền cứ ra giá đi!”.

Khi Hà Tam vác hòn đá đến chân đồi thì thấy một cái mũ lá có kẹp một tờ giấy viết mấy chữ:

“Đừng nói đến tiền, xin mời lên đồi”.

Hà Tam tiếp tục đi, được một đoạn lại thấy cái mũ lá cũng có tờ giấy yêu cầu Hà Tam cứ vác đá lên đồi, các chuyện khác miễn bàn. Không còn cách nào khác, Hà Tam đành phải bê hòn đá vất vả từng bước bò lên.

Lên được đỉnh đồi thật không dễ gì. Vậy mà trên đó không thấy có người cũng không thấy giấy tờ lái xe, chỉ thấy có tờ giấy dán trên một thân cây yêu cầu Hà Tam vác hòn đá theo hướng chỉ dẫn đi xuống phía dưới.

Xuống được dưới chân đồi vẫn không thấy giấy tờ, ngoài một tờ giấy yêu cầu Hà Tam vác hòn đá đi ngược trở lên. Cứ như thế theo hướng chỉ dẫn trên các tờ giấy, Hà Tam vác hòn đá đi qua mấy quả đồi nhỏ, mệt tưởng chết, cuối cùng mới thấy cái ví da của mình đặt trên một nấm mồ đất trơ trọi. Giấy tờ đủ cả, tiền bạc không thiếu một xu. Dưới cái ví tiền còn có một tờ giấy viết:

“Cái ví này là do tôi nhặt được, bây giờ nó đã trở về với chủ của nó. Anh có biết vì sao tôi lại bắt anh vác hòn đá đi một quãng đường xa đến trước nấm mồ này không? Đây là mộ của con trai tôi. Một đêm hai năm trước, nó đi xe máy về nhà, vấp phải hòn đá của một kẻ nào đó không có lương tâm bỏ ở trên đường, bị ngã mà chết. Tôi đưa anh đến tận mồ của con trai tôi là mong anh hiểu rõ một đạo lý:

“Lương tâm là vô giá, làm người có thể để mất cái gì thì mất nhưng nhất thiết không được để mất lương tâm”


Theo: trithucvn

KHÔNG NHẤT THIẾT LÚC NÀO CŨNG PHẢI LÀ NGƯỜI CHIẾN THẮNG.


Những người luôn có khuynh hướng quá cạnh tranh với người khác hay những người lúc nào cũng muốn chiến thắng đều luôn cảm thấy bị thua thiệt và không bao giờ cảm thấy hạnh phúc trọn vẹn cho dù kết quả có thế nào đi nữa.

Nếu thất bại, họ sẽ hết sức thất vọng, còn nếu chiến thắng thì đối với họ, đó là chuyện hiển nhiên và cũng chẳng có gì đáng để vui mừng cả.


Có một điều mà những người như vậy không nhận ra là: niềm vui thật sự chỉ có được khi bản thân mỗi người vượt qua được chính mình của ngày hôm qua chứ không phải là vượt hơn người khác.

(Sưu tầm trên mạng)

KHIÊM CUNG LÀ CỬA ĐẠO, NGẠO MẠN LÀ NGUỒN HỌA

Cổ nhân dạy “khiêm giả, đức chi cội”, khiêm nhường là gốc của muôn hạnh, cung kính là chìa khóa mở ra cánh cửa minh triết. Kẻ biết cúi mình trước bậc hiền, biết lắng nghe lời can gián, ắt đắc được đạo lý sâu xa; kẻ tự mãn bịt tai, dẫu minh y trước mặt cũng khó giữ được thân an.


Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, có bậc danh y Biển Thước, họ Tần, tên Việt Nhân. Thuở thiếu niên, ông chỉ là kẻ coi quán trọ, nhưng tâm tính cung kính, kính người như kính bậc thánh. Gặp lão giả Trường Tang Quân phong thái siêu phàm, ông mười năm lễ đãi không mỏi, giữ trọn lòng thành.

Thấy được đức khiêm cung ấy, Trường Tang Quân mới truyền bí dược và phương pháp tu luyện, dạy ông dùng sương mai hòa thuốc. Đủ ba mươi ngày, thị lực sáng tỏ, nhìn thấu lục phủ ngũ tạng.

Từ đó, Biển Thước hành y khắp thiên hạ, cứu người vô số, sáng lập chẩn mạch vọng văn vấn thiết, được xưng “thần y” lưu danh muôn đời.

Cùng thời đó có vua Tề Hoàn Công từng là bá chủ chư hầu, thuở trước nhờ Quản Trọng làm tể tướng, lấy nhân đức mà trị nên thiên hạ kính phục.

Trước khi mất, Quản Trọng khuyên phải tránh xa bọn Dịch Nha, Thụ Điêu, Khai Phương. Nhưng Hoàn Công quên vì mê tửu sắc, ăn chơi mà quên lời dặn, lại tin dùng bọn gian thần ấy. Từ đó, bọn nịnh thần ngày càng lộng hành, khinh nhờn vị quân vương đã suy yếu.

Hình ảnh minh hoạ

Từ bấy giờ Biển Thước nổi tiếng có tài cải tử hoàn sinh. Biển Thước đi chơi khắp thiên hạ, cứu được nhiều người lắm.

Một hôm đi đến đất Lâm Tri, vào yết kiến Tề Hoàn công, nói với Hoàn công rằng:

– Chúa công có bệnh ở thớ thịt; nếu không chữa thì thành ra bệnh nặng.

Hoàn công nói:

-Tôi chẳng có bệnh gì cả!

Biển Thước lui ra. Sau năm ngày lại vào yết kiến, nói với Tề Hoàn công rằng:

– Bệnh chúa công đã ở mạch máu, làm thế nào cũng phải chữa.

Hoàn công không trả lời. Sau năm ngày nữa lại vào yết kiến, nói với Hoàn công rằng:

-Bệnh chúa công đã ở trong ruột và dạ dày rồi, phải chữa ngay đi.

Hoàn công lại không trả lời. Biển Thước lui ra. Hoàn công than rằng:

– Tệ quá! Thầy thuốc chỉ nghề hay vẽ trò! Người ta không có bệnh mà cứ bảo là có bệnh?

Qua năm ngày nữa, Biển Thước lại vào yết kiến Tề Hoàn công, vừa trông thấy nét mặt Hoàn công đã vội lui ra mà bỏ chạy. Hoàn công sai người hỏi.

Biển Thước nói:

-Bây giờ bệnh chúa công đã vào đến tủy rồi! Bệnh ở da thịt còn xoa thuốc được, bệnh ở mạch máu thì còn tiêm thuốc được, bệnh ở ruột và dạ dày còn uống thuốc được, nay bệnh đã vào đến tủy thì dẫu trời cũng không chữa được nữa, bởi vậy tôi không nói mà lui ra.

Lại qua năm ngày nữa, Tề Hoàn Công quả nhiên ốm nặng, sai triệu Biển Thước. Người nhà Biển Thước nói:

Thầy tôi bỏ đi đã năm hôm rồi, Tề Hoàn Công hối hận vô cùng, cuối cùng phát bệnh mà chết.

Số phận trớ trêu, vị bá chủ một thời, vốn biết “mỹ vị khả dĩ vong quốc”, lại buông mình cho mỹ thực, mỹ sắc, để kẻ a dua mê hoặc, khước từ lời Quản Trọng và ba lần cảnh báo của Biển Thước.

Cuối cùng, ông chết đói khát, cô độc trong cung điện, đúng như dự ngôn của chính mình. Phải chăng kiếp số đã định, dẫu Biển Thước có tài cải tử hoàn sinh cũng không thể nghịch mệnh? Sự sống chết của sinh mệnh, suy cho cùng, có lẽ đã an bài từ thiên thượng.


Câu chuyện xưa cho ta thấy từ cậu bé trông quán trọ với tấm lòng khiêm nhường mà đắc y thuật thần diệu, Biển Thước lấy đức làm gốc, lấy tài cứu người, tiếng thơm truyền muôn thuở. Trái lại, Tề Hoàn Công ngạo mạn, không nghe lời khuyên nhủ của người hiền lại phóng túng, tự phụ, cuối cùng thân bại danh liệt.

Bài học xưa ấy không chỉ dành cho bậc đế vương Tề Hoàn Công, mà cũng gửi đến chúng ta hôm nay, dù trong các mối quan hệ gia đình hay trong công việc cũng vậy, người ở vị trí càng cao, nắm quyền lực hay giữ vai trò lãnh đạo, nếu giữ được tấm lòng khoáng đạt, biết trân trọng góp ý của cộng sự và bậc hiền tài, tự khắc sẽ như viên nam châm thu hút nhân tâm, được người đời kính phục, sự nghiệp bền lâu.


Người ở bậc dưới cũng vậy chỉ khi biết cung kính, thành tâm khuyên nhủ bề trên bằng lời chân thật, mới giúp đạo nghĩa lưu thông, tình người thêm vững bền.

Khổng Tử dạy “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư.” ba người đi cùng, ắt có người là thầy ta. Đời người nếu biết lấy khiêm cung làm cửa đạo, lắng nghe lời can gián, thuận theo thiên lý, ắt phúc thọ như suối nguồn không cạn. Còn kẻ tự cao bịt tai, coi thường thiện ý, dẫu gặp thần y cũng chỉ chuốc họa vào thân. Đó chính là đạo lý nghìn xưa, cũng là lời cảnh tỉnh cho muôn đời sau.

Tiểu Hoa biên tập
Theo: vandieuhay

Saturday, October 17, 2026

GIẢI MÃ BÍ ẨN VỀ HẠC ĐỈNH HỒNG - BÁT CANH ĐỘC CÀN LONG DÙNG ĐỂ BAN CHẾT CHO LỆNH PHI VỆ YẾN UYỂN

Trong tập cuối của bộ phim "Hậu cung Như Ý truyện", thứ giết chết nhân vật phản diện Lệnh phi Vệ Yến Uyển chính là một bát canh độc, được Càn Long ban cho có cái tên cực kỳ gây tò mò: Hạc Đỉnh Hồng. Vậy thực chất Hạc Đỉnh Hồng là gì?


Trong tập cuối của bộ phim "Hậu cung Như Ý truyện" khiến MXH Việt dậy sóng suốt 2 tháng vừa qua, Lệnh phi Vệ Yến Uyển - nhân vật ác nhất, bị ghét nhất cuối cùng cũng đã phải trả giá bằng một cái chết cực kỳ đau đớn. Và thứ giết chết nhân vật phản diện này chính là một bát canh độc, được Càn Long ban cho có cái tên cực kỳ gây tò mò: Hạc Đỉnh Hồng. Vậy Hạc Đỉnh Hồng thực chất là gì?


Hạc Đỉnh Hồng - chất độc không liên quan gì tới loài chim hạc

"Hậu cung Như Ý truyện" không phải là bộ phim đầu tiên có sự xuất hiện của cái tên Hạc Đỉnh Hồng, mà từ lâu, trong nhiều tiểu thuyết kiếm hiệp và phim chuyển thể truyền hình, Hạc Đỉnh Hồng đã có tham gia. Tất nhiên, dù xuất hiện trong bất kỳ bộ phim hay truyện tiểu thuyết nào đi chăng nữa, Hạc Đỉnh Hồng chỉ đảm nhận một nhiệm vụ duy nhất là… giết người. Thứ chất độc có cái tên hoa mỹ này được mô tả là cực độc, lỡ uống vào thì "Hoa Đà tái thế" cũng không thể nào cứu được.


Ban đầu, vừa nghe qua, nhiều người lầm tưởng Hạc Đỉnh Hồng là một chất độc có "chiết xuất" từ bộ phận bí ẩn nào đó của loài chim hạc. Sự thật hoàn toàn không phải vậy, chim hạc vốn là loài chim lành tính. Dù cho cả thịt chim, xương chim đều có thể tẩm ướp với thuốc nhưng tuyệt đối không có độc, ngược lại, những bài thuốc ấy còn được cho là đại bổ, tăng cường thể lực cho con người. Nhiều huyền sử và các câu chuyện truyền miệng khác thậm chí còn cho rằng não của chim hạc còn có tác dụng tăng cường thị lực, giúp con người có thể nhìn rõ trong đêm tối.


"Thân thế" thật sự của Hạc Đỉnh Hồng kịch độc

Theo nhiều sử liệu từ thời nhà Tống, được biết Hạc Đỉnh Hồng thực chất chính là hồng tì thạch, một loại đá có chứa chất kịch độc. Về sau, do nguồn gốc của loại đá này hay được tìm thấy ở khu vực Tín Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc) nên được sách "Khai Bảo bản thảo" gọi lại thành tín thạch (thạch tín). Vâng! Thạch tín, một cái tên không còn xa lạ gì khi thường xuyên xuất hiện trong các vụ án giết người gây chấn động, từ phim ảnh cho đến ngoài đời.


Ngày nay, có lẽ như nhiều người Việt đã bị nhầm lẫn khi cho rằng thạch tín là một tên gọi khác của asen (cũng là một cái tên giết người "huyền thoại"). Trong khi đó, dù có liên quan nhưng cả thạch tín và asen đều có hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Asen là một một á kim gây ngộ độc và có nhiều dạng thù hình, còn thạch tín là tên gọi chung của những loại đá có chứa khoáng vật asen, tiêu biểu được biết đến nhiều nhất là asen trioxit (As2O3). Hạc Đỉnh Hồng được cho là làm từ loại đá có chứa khoáng vật asen trioxit này.


Tuy nhiên, nếu muốn hạ độc thủ nhanh hơn nữa, trước đó, người ta có thể gia công cẩn thận thạch tín chứa asen trioxit để thu về asen trioxit tinh khiết. Lúc này đây, thứ hợp chất tinh khiết này sẽ được gọi là Tì Sương - lại là một cái tên kịch độc quen thuộc khác, hay xuất hiện trong nhiều tác phẩm phim, truyện kiếm hiệp, cung đấu Trung Hoa.

Quay lại câu chuyện về cái chết của Lệnh phi Vệ Yến Uyển trong "Hậu cung Như Ý truyện", quả thật dựa vào những thông tin bên trên, có thể thấy rằng Càn Long đúng là "thâm hậu" khi ban chết cho Lệnh phi bằng Hạc Đỉnh Hồng để cái chết đến từ từ và chậm rãi, từ đó gây đau đớn hơn bội phần. Chứ không "nhẹ tay" mà dùng Tì Sương để cái chết đến thật mau lẹ.


Độc tố đáng sợ của asen và thạch tín: giết người chỉ với liều lượng bằng nửa hạt ngô

Từ thời thượng cổ, người ta đã dùng asen như một thứ vũ khí gây độc lợi hại chỉ vì chúng dễ tan trong nước và rất khó phát hiện. Tần suất xuất hiện của chúng chiếm tỷ lệ rất cao trong các vụ đầu độc tội phạm từ phong kiến đến nay. Theo "Từ điển Bách khoa Dược học" xuất bản năm 1999, asen độc gấp 4 lần thủy ngân, chỉ cần một lượng nhỏ asen bằng nửa hạt ngô hòa vào trong nước là đã có thể khiến một người tử vong ngay tức khắc.


Độc tố từ asen hay các khoáng vật có chứa hợp chất oxit asen có thể xâm nhập vào cơ thể theo 3 đường: hô hấp, da và tiêu hóa. Thường thấy rõ nhất và nhanh nhất là tiêu hóa. Liều lượng gây ngộ độc là 0,06g, liều lượng gây tử vong là 0,15g. Khi bị trúng độc, hệ tuần hoàn, hệ thần kinh của nạn nhân sẽ bị tác động tùy thuộc vào mức độ nhiễm độc tố nhiều hay ít.

Thông thường, nếu nhiễm độc cấp tính, các triệu chứng như khô miệng, khó nuốt, đau bụng dữ dội, buồn nôn, tiêu chảy, chuột rút và co giật sẽ xuất hiện, sau đó là tử vong trong vòng 24 giờ. Còn nhiễm độc mãn tính do tiếp xúc hay vô tình sử dụng asen với nồng độ thấp liên tục trong nhiều ngày sẽ khiến cơ thể sinh ra nhiều bệnh nguy hiểm như ung thư, kèm các triệu chứng như rụng tóc, buồn nôn, sút cân, giảm trí nhớ,...

(Nguồn: Zhihu, Mineralogical Tables, The Oncologist, Từ điển Bách khoa Dược học)

Toufu / Theo: afamily.vn

LIÊN QUÂN 8 NƯỚC KHÔNG THỂ HOÀN TOÀN THUỘC ĐỊA HÓA TRUNG QUỐC THỜI NHÀ THANH, VÌ SAO?

Quyền lực thực tế của Trung Quốc vào cuối triều Thanh không còn nằm trong tay chính quyền trung ương Mãn Thanh, mà nằm trong tay các tập đoàn quân sự và quân phiệt trên khắp cả nước, đặc biệt là tập đoàn Tương quân của Tăng Quốc Phiên. Tính toán riêng của họ là lợi dụng người nước ngoài để lật đổ chính quyền Mãn Thanh.

Liên quân 8 nước dễ dàng đánh bại triều đình Mãn Thanh năm 1900.

Trong lịch sử cận đại, mỗi khi nhắc đến các cuộc Chiến tranh Nha phiến, cuộc chiến Anh – Pháp hay sự kiện Liên quân Tám nước tiến vào Bắc Kinh năm 1900, nhiều người thường đặt ra một câu hỏi: Nếu các cường quốc châu Âu thực sự muốn, liệu họ có thể biến toàn bộ Trung Quốc thành một thuộc địa giống như Ấn Độ hay không?

Nhìn từ những thắng lợi quân sự áp đảo của phương Tây, câu trả lời dường như là "có". Tuy nhiên, nếu phân tích sâu hơn về quy mô dân số, địa lý, cơ cấu quyền lực và đặc điểm xã hội Trung Quốc cuối thời nhà Thanh, đáp án lại hoàn toàn khác. Điều ngăn cản châu Âu không phải là khả năng đánh thắng quân đội nhà Thanh, mà là chi phí khổng lồ để duy trì sự thống trị lâu dài.

Đánh bại triều đình nhà Thanh không đồng nghĩa với chinh phục Trung Quốc

Đến nửa sau thế kỷ XIX, chính quyền trung ương nhà Thanh đã suy yếu nghiêm trọng sau nhiều cuộc nổi dậy lớn như Thái Bình Thiên Quốc, Niệm quân hay các phong trào địa phương khác.

Trong mắt nhiều nhà quan sát phương Tây, triều đình ở Bắc Kinh chỉ còn giữ vai trò biểu tượng. Bộ máy trung ương tồn tại, nhưng quyền lực thực tế đã bị phân tán vào tay các lực lượng quân sự địa phương.

Chính vì vậy, việc các đạo quân phương Tây dễ dàng đánh bại quân Thanh trong Chiến tranh Nha phiến hay tiến vào Bắc Kinh không đồng nghĩa với việc họ đủ sức kiểm soát toàn bộ Trung Quốc.

Thực tế, lực lượng mà quân Anh, Pháp hay Liên quân Tám nước đối đầu chủ yếu là quân Bát Kỳ – đội quân từng lừng danh nhưng đến cuối thế kỷ XIX đã xuống cấp nghiêm trọng. Sau nhiều thập kỷ sống trong cảnh hòa bình, quân Bát Kỳ lơ là huấn luyện, kỷ luật suy giảm và sức chiến đấu không còn như trước.

Nói cách khác, phương Tây đánh bại một lực lượng đã suy yếu, chứ chưa từng phải đối đầu với toàn bộ tiềm lực quân sự của Trung Quốc.

Quyền lực thực sự nằm trong tay các quân phiệt địa phương

Một trong những đặc điểm quan trọng của Trung Quốc cuối thời Thanh là quân đội mạnh nhất không thuộc triều đình.

Sau cuộc đàn áp Thái Bình Thiên Quốc, các đội quân địa phương như Tương quân của Tăng Quốc Phiên, Hoài quân của Lý Hồng Chương hay các lực lượng sau này của Trương Chi Động, Viên Thế Khải mới là những thế lực nắm thực quyền.

Điều đáng chú ý là trong thời điểm quân Anh – Pháp tiến đánh Bắc Kinh năm 1860, khoảng 120.000 quân Tương của Tăng Quốc Phiên vẫn đóng ở Nam Kinh và hoàn toàn không được điều động ra bảo vệ kinh thành.

Điều này cho thấy triều đình không còn đủ khả năng điều khiển các lực lượng quân sự lớn trên cả nước.

Nếu chính quyền Mãn Thanh bị lật đổ, rất có thể một nhân vật như Tăng Quốc Phiên sẽ nổi lên giành quyền lực và lập nên một triều đại mới.

Dù nhiều tài liệu cho rằng Tăng Quốc Phiên luôn trung thành với nhà Thanh, cũng có quan điểm cho rằng ông từng nuôi tham vọng chính trị nhưng không muốn mang tiếng "bất trung", nên vẫn chờ thời cơ thích hợp.

Trong mọi trường hợp, nếu phương Tây trực tiếp xóa bỏ nhà Thanh, họ sẽ không lập tức làm chủ Trung Quốc mà phải đối đầu với các thế lực quân sự địa phương có hàng trăm nghìn binh sĩ.

Muốn cai trị Trung Quốc cần lực lượng khổng lồ

Một cách hình tượng, có thể chia thành ba cấp độ.

Nếu mục tiêu chỉ là đánh bại triều đình trung ương Mãn Thanh, khoảng vài chục nghìn quân với ưu thế vũ khí hiện đại đã đủ để giành thắng lợi trên chiến trường.

Nếu muốn buộc các chính quyền địa phương phải khuất phục, phương Tây sẽ cần lực lượng lớn hơn rất nhiều, có thể lên tới hàng trăm nghìn hoặc cả triệu quân.

Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương, Trương Chi Động hay Viên Thế Khải là những thế lực quân sự mạnh cuối thời nhà Thanh.

Nhưng nếu muốn trực tiếp cai trị toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, con số cần thiết sẽ tăng lên mức gần như không tưởng.

Nhiều giả thuyết cho rằng phải cần tới khoảng 10 triệu binh sĩ mới đủ để kiểm soát một đất nước rộng lớn với hàng trăm triệu dân.

Con số này phản ánh một thực tế đơn giản: chiếm được một thành phố rất khác với việc duy trì an ninh ở hàng nghìn huyện, hàng trăm phủ và vô số vùng nông thôn trải dài từ Mãn Châu đến Vân Nam, từ Tân Cương đến Quảng Đông.

Dân số là bài toán không lời giải

Cuối thế kỷ XIX, dân số Trung Quốc vào khoảng 400 triệu người, trong khi toàn bộ châu Âu chỉ hơn 300 triệu người.

Ngay cả khi các cường quốc châu Âu hợp sức, việc huy động hàng triệu quân viễn chinh đã là điều vô cùng khó khăn.

Quan trọng hơn, số quân ấy phải được vận chuyển bằng đường biển qua nửa vòng trái đất, bảo đảm lương thực, vũ khí, quân nhu, bệnh viện và hệ thống tiếp tế trong nhiều năm.

Đây là gánh nặng kinh tế mà ngay cả Đế quốc Anh – cường quốc hùng mạnh nhất thế giới khi đó – cũng khó có thể chịu nổi.

Lịch sử cho thấy nước Anh có thể kiểm soát Ấn Độ với số lượng binh sĩ Anh tương đối ít vì họ dựa chủ yếu vào lực lượng bản địa.

Tuy nhiên, mô hình này khó áp dụng tại Trung Quốc, nơi các lực lượng quân sự địa phương đều có tham vọng và lợi ích riêng.

Các quân phiệt có thể hợp tác, nhưng không chịu làm tay sai

Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương, Trương Chi Động hay Viên Thế Khải đều từng hợp tác với các nước phương Tây trong những lĩnh vực như mua vũ khí, thuê cố vấn quân sự hoặc phát triển công nghiệp.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa họ sẵn sàng trở thành công cụ của châu Âu.

Họ trước hết vẫn là những chính khách và tướng lĩnh Trung Quốc.

Nếu phương Tây tìm cách biến Trung Quốc thành thuộc địa, chính những lực lượng này nhiều khả năng sẽ trở thành trung tâm của phong trào kháng chiến.

Việc buộc họ phục tùng sẽ tiêu tốn nguồn lực khổng lồ, trong khi khả năng thành công lại không cao.

Người Trung Quốc không phải lúc nào cũng thờ ơ

Trong thời kỳ đầu Chiến tranh Nha phiến, nhiều sĩ quan Anh từng nhận xét rằng đa số dân chúng Trung Quốc dường như không quá quan tâm đến số phận triều đình.

Phong trào Nghĩa Hoà Đoàn lan rộng ở Trung Quốc cuối thời nhà Thanh.

Miễn là người nước ngoài không cướp bóc, không giết hại dân thường và giao thương công bằng, nhiều người vẫn sẵn sàng buôn bán hoặc hợp tác.

Điều này khiến phương Tây cho rằng người dân không có ý thức quốc gia mạnh mẽ và nhà Thanh chỉ duy trì quyền lực bằng bộ máy cai trị.

Nhưng phong trào Nghĩa Hòa Đoàn cuối thế kỷ XIX đã làm thay đổi hoàn toàn nhận thức đó.

Hàng chục nghìn nông dân bình thường đã đứng lên chống lại người nước ngoài với tinh thần quyết liệt.

Điều này khiến các cường quốc nhận ra rằng nếu xuất hiện một lực lượng đủ sức tổ chức và lãnh đạo quần chúng, việc cai trị Trung Quốc sẽ trở thành cơn ác mộng.

Giới hạn cuối cùng là văn hóa và tín ngưỡng

Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự bùng nổ của phong trào Nghĩa Hòa Đoàn là xung đột văn hóa.

Trong nửa cuối thế kỷ XIX, các giáo sĩ phương Tây tiến sâu vào nội địa, xây dựng nhà thờ và truyền bá Kitô giáo tới tận các vùng nông thôn.

Đối với nhiều người dân, đây là những người phương Tây mà họ tiếp xúc nhiều nhất.

Tuy nhiên, sự khác biệt về tín ngưỡng, tập quán và lối sống đã dẫn đến hàng loạt mâu thuẫn.

Trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, việc thờ cúng tổ tiên là một giá trị cốt lõi. Bất kỳ hành động nào bị xem là phủ nhận tổ tiên hay làm mai một truyền thống đều bị coi là điều không thể chấp nhận.

Chính vì vậy, nhiều người có thể không quá quan tâm ai ngồi trên ngai vàng ở Bắc Kinh, nhưng lại phản ứng rất mạnh khi cảm thấy văn hóa và tín ngưỡng của mình bị xâm phạm.

Đó cũng là lý do phong trào Nghĩa Hòa Đoàn nhanh chóng lan rộng và trở thành thách thức lớn đối với các cường quốc phương Tây.

Kết luận

Xét về sức mạnh quân sự, các nước châu Âu cuối thế kỷ XIX hoàn toàn có khả năng đánh bại triều đình Mãn Thanh trong những trận đánh quyết định. Tuy nhiên, đánh thắng một chính quyền không đồng nghĩa với việc kiểm soát cả một nền văn minh có hàng trăm triệu dân.

Địa bàn quá rộng, dân số quá đông, quyền lực phân tán vào các quân phiệt địa phương, chi phí hậu cần khổng lồ cùng nguy cơ bùng phát các phong trào kháng chiến khiến việc biến Trung Quốc thành một thuộc địa trực tiếp gần như không khả thi.

Thực tế lịch sử cũng phản ánh điều đó. Thay vì chinh phục toàn bộ Trung Quốc, các cường quốc phương Tây lựa chọn con đường ít tốn kém hơn: dùng các hiệp ước bất bình đẳng, mở các tô giới, kiểm soát thương mại, áp đặt ảnh hưởng về kinh tế và ngoại giao. Mô hình này giúp họ thu được lợi ích lớn mà không phải gánh vác chi phí khổng lồ của một cuộc cai trị trực tiếp đối với một trong những quốc gia đông dân nhất thế giới.

Bảo Minh / Theo: Dân Việt