Tuesday, June 2, 2026

DẶM DÀI HỦ TIẾU - KỲ 1: NHỮNG QUÁN HỦ TIẾU ĐỜI NGƯỜI

Kể chuyện hủ tiếu thì khó biết bắt đầu từ đâu và kết thúc thế nào cho vẹn tròn. Bởi cùng với phở, tô hủ tiếu xưa nay đã trở thành những món ngon quá đỗi quen thuộc với người Việt.

Hủ tiếu mì xá xíu, món ngon từ thời ông Giang Hon đứng bán hơn 80 năm trước - Ảnh: MINH KỲ

Đặc biệt là dân Sài Gòn và phương Nam, hủ tiếu lại càng phổ biến từ bữa ăn sáng đến ăn khuya để rồi sinh ra đủ "trường phái" đặc trưng như hủ tiếu Sài Gòn, hủ tiếu Nam Vang, hủ tiếu người Hoa Chợ Lớn, hủ tiếu Sa Đéc, Mỹ Tho ...

Xin mời bạn đọc lang thang cùng dặm dài hủ tiếu. Và dặm dài ở đây xin hiểu là cả dòng thời gian lịch sử xưa nay cùng những quán ăn, nơi chốn thơm lừng món ngon.

Sợi hủ tiếu mềm dai, giá trụng giòn sần sật. Thịt heo ngọt mềm, quá đỗi là ngon. Rau hẹ thơm nồng vô cùng sảng khoái. Húp muỗng nước lèo ngọt thanh, đậm đà hương vị... Nhưng càng thú vị hơn nữa khi nhiều thực khách đã ăn riết như tri kỷ của chủ quán suốt cả đời người.

Quán chú Cẩu ba đời ở chợ Tân Định

Sách Địa chí văn hóa TP.HCM chép chợ Tân Định (phường Tân Định, TP.HCM) xây dựng vào năm 1926. Ngôi chợ vừa được UBND TP.HCM xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp TP.

Đây là điểm tham quan yêu thích của du khách trong và ngoài nước, đặc biệt là những Việt kiều trở về tìm lại các món ngon quê hương. Bản thân tôi lần nào về Sài Gòn dù bận rộn đến đâu cũng tranh thủ một vài lần la cà quán xá nơi bạc màu xưa cũ này.

Lần này thì kỹ sư xây dựng Võ Tấn Đạt (42 tuổi, quê Quảng Ngãi) làm việc cho công ty xây dựng người Nhật trụ sở gần đấy dẫn tôi ghé chợ ăn hủ tiếu người Hoa. Thuở trước nhiều người Hoa bán hủ tiếu quanh chợ Tân Định và cả Sài Gòn - Chợ Lớn. Họ mở quán bán cố định hay đóng xe hủ tiếu mưu sinh trên hè phố hoặc trong hẻm nhỏ thị thành.

Chúng tôi vào tiệm hủ tiếu người Hoa nằm trong chợ, phía bên đường Nguyễn Hữu Cầu có từ hơn 80 năm trước. Anh Giang Vỹ Thanh (42 tuổi, ở phường Tân Định, TP.HCM) đang bận rộn nấu hủ tiếu cho khách. Anh chính là thế hệ thứ ba trong gia đình mưu sinh bên xe hủ tiếu ở ngôi chợ nhộn nhịp trăm năm.

Hơn 80 năm trước, cụ nội Thanh là ông Giang Hon cùng người làng rời quê nhà Quảng Đông tránh khói lửa chiến tranh. Họ vượt biển đến Sài thành tìm kế sinh nhai. Ban đầu ông Hon bán hủ tiếu thuê cho người cùng quê sang định cư trước đó.

Vài năm sau ông kết hôn với cô gái gốc Hoa, con chủ lò hủ tiếu nơi thị thành. Vợ chồng ông thuê người đóng xe hủ tiếu gắn biển hiệu Giang Lâm Ký và cùng nhau mưu sinh tại ngôi chợ Tân Định tấp nập kẻ bán - người mua.

Bấy giờ, ông bà bán hủ tiếu xá xíu, mì xá xíu cho khách từ khắp nơi đến đây buôn bán. Nhiều người ngợi khen, nhất là xá xíu (thịt heo quay xuất phát từ Quảng Đông, Trung Quốc). Cuối thập niên 1980, ông giao xe hủ tiếu cho con trai Giang Cẩu sau gần 50 năm nhọc nhằn mưu sinh.

Từ đó nhiều người gọi là quán chú Cẩu bán những món ăn đậm đà hương vị. Thuở nhỏ, Giang Vỹ Thanh, con ông Cẩu, thường phụ giúp cha mẹ sau giờ học trên giảng đường. Rồi đến ngày anh thay cha nấu hủ tiếu phục vụ thực khách, dù anh đã tốt nghiệp ngành điện tử viễn thông.

Chừng 2h sáng, Thanh vào chợ mua thực phẩm và cùng mẹ, em trai, người giúp việc cặm cụi chế biến. Sớm mai anh lúi húi nấu cho khách những tô hủ tiếu xá xíu, hủ tiếu mì xá xíu, hủ tiếu mì cá, hoành thánh mì... với dư vị khó phai.

Tôi chậm rãi thưởng thức tô hủ tiếu mì xá xíu nóng hổi tỏa hương thơm dịu với giá 45.000 đồng. Những sợi mì và hủ tiếu dai mềm, xá xíu ngọt lịm tỏa hương thơm đặc trưng. Muỗng nước lèo hầm xương heo khiến tôi khựng lại trong giây lát. Vị ngọt từ xương hòa với mặn quyện lẫn chua, cay của gia vị thấm vào từng tế bào vị giác.

Ngơi tay giây lát, Thanh nhìn thực khách ăn ngon lành và nở nụ cười mãn nguyện. Nhiều lúc anh vui vẻ khi gặp lại khách quen. "Có nhiều khách ăn hủ tiếu từ thời ông nội đứng bán rồi đến ba và giờ đến em.

Nhiều người ra nước ngoài sinh sống khi trở về Sài Gòn tìm đến đây ăn hủ tiếu như để tìm lại ký ức của mình. Có hai khách hàng là vợ chồng người Hàn Quốc đến đây ăn khi mới cưới nhau. Giờ họ có bốn con vẫn thường ghé lại đây ăn hủ tiếu khi sang Việt Nam", Thanh tâm sự.

Quán của Giang Vỹ Thanh, cháu nội ông Giang Hon, ngày nay vẫn bình dân và có nhiều thực khách thân thiết - Ảnh: MINH KỲ

Hủ tiếu Sài Gòn sang Nhật

Mê mẩn vị ngon hủ tiếu Sài Gòn, tôi còn may mắn được bạn bè dẫn thưởng thức nhiều nơi. Và quán hủ tiếu tại số 1 đường Thành Mỹ, phường Tân Hòa là điểm đến của nhiều người suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Chủ quán, bà Võ Thị Thẳng (quê Quảng Ngãi) cùng chồng rời quê hương thuở còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Ban đầu, bà Thẳng giúp việc cho chị chồng rồi được giao hẳn quán hủ tiếu để kiếm tiền trang trải cuộc sống.

Ở tuổi 76, bà vẫn luôn tay bên xe hủ tiếu. Bà cho rau giá cùng sợi hủ tiếu vào vợt rồi trụng trong nước sôi sùng sục. Tiếp đến bà giật mạnh chiếc vợt lên cao cho giá và hủ tiếu ráo nước trước khi đổ ra tô. Người phụ nữ giúp việc đón lấy tô rồi cho ít nước mỡ cùng muỗng nhỏ nước nêm rồi dùng đũa đảo đều, hơi nóng cùng hương thơm tỏa ra xung quanh.

Bà cho xương, giò, thịt, bò viên, hoành thánh, phèo hay dạ dày heo vào tô tùy theo yêu cầu của khách. Sau đó bà cho thêm xà lách ngắt ngắn cùng rau hẹ rồi múc nước lèo vào tô, rắc ít tiêu xay nhuyễn và hành phi, hương thơm nồng nàn lan theo gió vờn trên con phố nhỏ. "Ở đây tôi bán hủ tiếu bò viên, hủ tiếu mì hoành thánh, hủ tiếu xương, hủ tiếu giò, hủ tiếu khô, hủ tiếu thập cẩm, tùy gu ăn của khách...", bà vui vẻ nói.

Người phụ quán niềm nở đặt tô hủ tiếu mì thịt nóng hổi tỏa hương thơm lên bàn cho khách. Tôi nhẹ tay vắt nước cốt chanh và gắp vài lát ớt cay vào tô rồi chậm rãi thưởng thức. Sợi hủ tiếu mềm dai, giá trụng giòn sần sật qua răng.

Miếng thịt cả nạc lẫn mỡ béo và ngọt mềm. Rau hẹ thơm nồng vô cùng sảng khoái. Húp muỗng nước lèo với vị ngọt thanh từ xương thịt lẫn vị chua từ chanh quyện với cay của tiêu ớt nơi đầu lưỡi...

Đời mẹ chưa ngơi tay bán, lại đến đời con đưa món ngon hủ tiếu đi xa. 20 năm trước, con gái út của bà Thẳng là chị Huỳnh Thị Kim Liêu xuất khẩu lao động tại Nhật Bản rồi sánh duyên với chàng trai xứ sở phù tang. Chị nấu các món ăn Việt như hủ tiếu chiêu đãi gia đình chồng và được khen ngợi hết lời.

Thế rồi chị nghĩ cần phải quảng bá ẩm thực Việt đến với đất nước của chồng. Thế là chị cùng người bạn thuê mặt bằng mở quán bán món ăn Việt ở thành phố Nishio, tỉnh Aichi. Nhiều người Nhật thưởng thức phở, hủ tiếu, bún bò, bánh mì, bánh cuốn... tại quán gật gù khen ngon. Bà con Việt kiều cư ngụ trong vùng và khu vực lân cận cũng tìm đến quán để được ăn lại những món quê hương.

Nhiều người xuýt xoa khen ngon khi ăn tô hủ tiếu đậm đà hương vị do chính tay chị nấu. "Từ nhỏ tôi đã thường phụ mẹ bán hủ tiếu nên thạo cách thức chế biến. Qua bên này tôi tìm mua những thứ cần thiết để nấu theo cách của mẹ để khách ăn ngon miệng...", chị Liêu tâm sự rồi lại bận bịu làm hai tô hủ tiếu Việt cho đôi vợ chồng người Nhật.

Bí quyết nước lèo

Bà Thẳng cùng con gái và bốn người giúp việc luôn kỹ lưỡng trong chế biến. Nước lèo là yếu tố quan trọng nhất quyết định tô hủ tiếu ngon hay dở nên được chăm chút cẩn thận. Xương heo luộc qua nước sôi rồi vớt ra rửa sạch trước khi cho vào thùng nấu nước lèo.

Họ còn dùng muối hạt và chanh chà xát để rửa sạch, khử mùi phèo cùng bao tử heo, sau đó mới ướp gia vị rồi cho vào luộc trong thùng nước lèo đang sôi sùng sục trên bếp. Họ gọt thêm củ cải trắng và củ sắn rồi xắt lát cho vào thùng nên nước lèo có vị ngọt thanh sau nhiều giờ nấu.

*************

>> Kỳ tới: Ăn hủ tiếu nay nhớ hủ tiếu xưa

Minh Kỳ / Theo: tuoitre

VÌ SAO NGƯỜI XƯA THƯỜNG KHUYÊN NÊN SỐNG THUẬN THEO MỆNH?

Trong cuộc đời, ai ai cũng mong muốn được thuận buồm xuôi gió, có vận khí tốt, có phúc khí, tiền tài dư đủ, gia đình hòa thuận, khỏe mạnh và trường thọ. Nhưng bao nhiêu người có thể được như ý?

(Hình minh họa: Qua sohu.com)

Văn hóa truyền thống cho rằng vận mệnh của con người là đã được Thượng Thiên an bài từ trước. Bởi vậy, con người phải kính Trời biết mệnh, chỉ có tích đức thủ đức mới có thể có phúc báo. Nhắc tới Lữ Mông Chính, chắc hẳn rất nhiều người đã nghe qua tên của ông. Ông là danh thần thời Bắc Tống, là một người độ lượng, hiền hậu, thật thà chất phác. Mỗi khi gặp chuyện sai trái, ông đều dám lên tiếng với thái độ khiêm tốn, khoan dung.

Lữ Mông Chính từ nhỏ đã mồ côi cha mẹ, sống cuộc sống lưu lạc, ăn xin. Ông còn bị người người xa lánh và khinh bỉ. Nhưng Lữ Mông Chính là người thông minh, lương thiện. Dù sống trong hoàn cảnh khốn khổ ấy nhưng ông chưa từng buông tha mục đích theo đuổi của mình. Ông dành rất nhiều thời gian để đọc sách, kinh thư cổ.

Một lần, Lữ Mông Chính đến một ngôi chùa cổ xin ăn và xin ngủ nhờ. Hơn nữa, ông còn mong muốn được ở lại chùa đọc sách học tập. Nhưng chỉ một thời gian sau, một số hòa thượng trong chùa sinh lòng ghét bỏ ông. Trước đây, họ thường gõ chuông trước, ăn cơm sau, nhưng hiện tại họ bắt đầu ăn cơm trước và gõ chuông sau khiến Lữ Mông Chính mỗi lần đến ăn đều không còn thứ gì. Cứ như vậy, ông thường xuyên nhịn đói học tập đọc sách.

Về sau, Lữ Mông Chính thi đỗ trạng nguyên, làm quan lớn trong triều ình. Địa vị của ông khi ấy chỉ ở dưới một người, đứng trên vạn người. Lúc này, ông viết ra và lưu truyền cuốn thiên cổ “Lữ Mông Chính châm ngôn”. Ông làm Tể tướng suốt 3 đời vua. Người đời ca ngợi ông tài đức nhưng ông lại cho rằng hết thảy những gì ông có được đều là do Thiên thượng an bài.

Ông từng làm một bài văn vần tên là “Phá diêu phú” trong đó đưa ra rất nhiều ví dụ về những câu chuyện nổi tiếng trong lịch sử, lấy đó để khuyên người đời. Ông nói rằng, hết thảy mọi sự trong thế gian này đều do Thiên thượng nắm trong tay, người ta cần phải hiểu Thiên mệnh, bất cứ việc gì cũng nên thuận theo tự nhiên, còn những việc cướp đoạt và tranh đấu vô nghĩa kia chẳng thể nào thay đổi được điều gì. Ông cũng lấy thiên văn chương ấy để giảng dạy cho Thái tử. Thời niên thiếu, Thái tử vô cùng kiêu ngạo không coi ai ra gì, nhưng sau khi xem xong tự nhiên thay đổi thái độ, trở nên khiêm tốn hơn rất nhiều.

(Ảnh minh họa: Nguồn qua kknews)

Trong “Phá diêu phú”, Lữ Mông Chính viết: Trời có mưa gió bất trắc khó lường, con người có những chuyện họa phúc bất ngờ. Con rết có trăm chân nhưng chạy không kịp con rắn. Gà trống có đôi cánh, nhưng bay không hơn gì con vịt. Con ngựa đi ngàn dặm đường, nhưng không có người cưỡi thì chẳng thể tự đi đến được. Người ta dù có chí khí ngút trời, nhưng vận số chưa đến thì cũng không làm nổi việc gì.

Có câu nói rằng: Con người sống ở thế gian, nếu được giàu sang phú quý cũng không thể phóng túng dâm đãng, dù nghèo khổ cũng không thể thay đổi chí hướng. Dù văn chương nổi tiếng hơn người, Khổng Tử cũng có lần bần cùng khốn khổ ở nước Trần. Dù võ lược siêu quần, Thái Công Khương Tử Nha cũng có lúc phải câu cá chờ thời ở sông Vị. Nhan Uyên nào phải là người hung ác, nhưng cũng chết sớm. Kẻ cướp đâu phải là người lương thiện, mà lại sống lâu?

Vua Nghiêu là một vị Thánh vương sáng suốt, lại sinh ra đứa con không ra gì. Cổ Tẩu (cha của Vua Thuấn) là kẻ ngu muội và ngoan cố nhưng lại sinh ra người con rất hiếu thảo. Trương Lương vốn là thường dân áo vải, nhưng gặp được Tiêu Hà mà trở thành quan huyện. Yến Tử, thân hình cao chưa đầy 5 thước mà được phong làm Tể Tướng nước Tề. Khổng Minh sống trong túp lều tranh, mà có thể làm Quân sư cho nhà Thục Hán.

Sở Vương tuy hùng mạnh, nhưng cuối cùng phải tự vẫn ở sông Ô giang. Hán Vương tuy yếu thế, mà lại có được giang sơn vạn dặm. Lý Quảng có oai phong bắn được hổ dữ, nhưng đến già vẫn không được phong tước. Phùng Đường có tài cưỡi rồng, mà suốt đời không có cơ hội. Hàn Tín khi chưa gặp thời, nghèo đến độ thường ngày không có đủ ba bữa cơm ăn, nhưng khi vận may đến, thì lưng đeo ngọc ấn dài 3 thước, một khi số mạng suy sụp thì cũng phải chết vào tay một người phụ nữ.

Có người trước nghèo khổ rồi sau lại giàu có, có người lúc còn trẻ yếu đuối mà về già lại khỏe mạnh. Có người bụng đầy văn chương, đến già cũng không thi đỗ, có người tài nghệ và học vấn nông cạn nhưng lại thi đỗ từ lúc còn thiếu niên. Cung nữ trong hoàng cung, gặp vận không may thì cũng thành kỹ nữ và hầu thiếp, gái lầu xanh gặp thời thế lại trở thành phu nhân quý phái. Mỹ nữ lại lấy người ngu xuẩn làm chồng, khôi ngô tuấn tú lại lấy người thô xấu làm vợ.

(Hình minh họa: Qua kknews.cc)

Rồng chưa gặp thời, cũng lặn cùng đám cá đám rùa, người quân tử khi thất thế cũng phải chắp tay dưới kẻ tiểu nhân. Khi nghèo khó áo quần rách nát, vẫn phải bảo tồn tác phong nghi lễ, khi gặp phải chuyện buồn, vẫn phải giữ cho tâm bình tĩnh. Thời thế chưa đến, chỉ nên an phận nghèo, nếu tâm chân thành không lừa dối, tất nhiên sẽ có ngày được mở mày mở mặt. Người quân tử ban đầu nghèo khổ, nhưng vẫn có cốt cách phong thái trời cho, kẻ tiểu nhân bất chợt giàu sang, thì vẫn cứ là người thấp kém.

Trời chưa gặp thời, thì mặt Trời mặt trăng không tỏa sáng, Đất chưa gặp thời, thì cây cỏ không sinh sôi. Nước không gặp thời, thì sóng gió sẽ nổi lên. Con người không gặp thời thì vận may không đến. Phúc và lộc của con người, trong số mạng đã được an bài định sẵn, giàu sang phú quý có ai mà chẳng muốn? Người ta nếu không theo căn cơ Bát tự, có thể nào làm quan làm tướng được không?

Về bản thân mình, ông cũng viết: Trước kia ta cư ngụ ở Lạc Dương, xin ăn của các nhà sư, tối ngủ trong một hốc đá đục bên sườn núi, quần áo không đủ che thân, thức ăn không đủ no lòng, người trên thì khinh ghét, kẻ dưới thì chán ngán. Đời sống của ta bần tiện, chẳng phải vì ta không tốt. Bây giờ ta ở chốn triều đình, làm quan đến cực phẩm, ở địa vị Tam Công, địa vị chỉ khom lưng dưới một người mà đứng trên cả ngàn vạn người, có quyền quất roi phạt trăm quan, có quyền chém kẻ nào không tốt. Quần áo có gấm vóc ngàn rương, thức ăn hàng trăm món ngon vật lạ, hễ ra ngoài là có tráng sĩ cầm côn bảo vệ, khi về nhà là có giai nhân hầu rượu, người trên yêu mến ta, kẻ dưới ủng hộ ta. Đời sống của ta phú quý, chẳng phải vì tài năng của ta, mà đó là thời của ta! Cũng là vận của ta! Cũng là Mệnh của ta!


Bởi vậy, con người sống trên thế gian, phú quý không thể dùng đến tận cùng, bần tiện không thể tự lừa dối bản thân, bởi vì Trời Đất tuần hoàn, xoay vần mãi mãi!

Theo: trithucvn

ĐỖ CÔNG BỘ THỤC TRUNG LY TỊCH - LÝ THƯƠNG ẨN


Đỗ Công bộ Thục trung ly tịch

Nhân sinh hà xứ bất ly quần?
Thế lộ can qua tích tạm phân.
Tuyết Lĩnh vị quy thiên ngoại sứ,
Tùng Châu do trú điện tiền quân.
Toạ trung tuý khách diên tỉnh khách,
Giang thượng tình vân tạp vũ vân.
Mỹ tửu Thành Đô kham tống lão,
Đương lô nhưng thị Trác Văn Quân.


杜工部蜀中離席

人生何處不離群
世路干戈惜暫分
雪嶺未歸天外使
松州猶駐殿前軍
座中醉客延醒客
江上晴雲雜雨雲
美酒成都堪送老
當壚仍是卓文君


Tiệc rượu chia tay 
với Đỗ Phủ ở đất Thục
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Nhân sinh thế sự hợp tan. 
Đường đời xa cách, chẳng bàn can qua. 
Sứ thần Tuyết Lĩnh còn xa. 
Tùng Châu tiền điện, xem ra quân về. 
Tiệc say khách tỉnh,khách mê. 
Trên sông mưa gió, dầm dề gió mưa. 
Rượu ngon uống mấy cho vừa. 
Văn Quân quán rượu say sưa mặc lòng.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Thương Ẩn 李商隱 (813-858) tự Nghĩa Sơn 義山, hiệu Ngọc khê sinh 玉谿生, người Hà Nội, Hoài Châu (nay là Tầm Dương, phủ Hoài Khánh, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ sa sút. Thuở thiếu thời giỏi văn thơ, được giao du với các con của tể tướng Lệnh Hồ Sở 令狐楚, trong đó có Lệnh Hồ Đào 令狐綯. Bấy giờ trong triều có hai phe đối nghịch nhau, tranh quyền đoạt lợi, một phe là Ngưu Tăng Nhụ 牛僧孺, phe kia là Lý Đức Dụ 李德裕, hầu hết quan lại đều bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp ấy. Sở theo phe Ngưu. Năm Lý Thương Ẩn mười bảy tuổi (829), Sở tiến cử làm tuần quan mạc phủ. Năm hai mươi lăm tuổi (837), ông lại được Lệnh Hồ Đào khen ngợi, nâng đỡ nên đỗ tiến sĩ năm Khai Thành thứ 2. Năm sau ông được Vương Mậu Nguyên 王茂元, tiết độ sứ Hà Dương mến tài, dùng làm thư ký và gả con gái cho. Chẳng may, Vương thuộc phe Lý Đức Dụ khiến ông trở thành kẻ vong ân bội nghĩa, xảo quyệt vô hạnh trong mắt Lệnh Hồ Đào. Vương Mậu Nguyên chết, rồi Lý Đức Dụ thất thế, ông đến kinh sư nhưng không được làm gì cả. Sau nhờ Trịnh Á vận động, ông được làm chức quan sát phán quan. Trịnh Á bị biếm ra Lĩnh Biểu, ông cũng đi theo. Ba năm sau ông lại trở về, làm huyện tào tại Kinh Triệu. Ông nhiều lần đưa thư, dâng thơ cho Lệnh Hồ Đào để phân trần và xin tiến dẫn, nhưng vẫn bị lạnh nhạt. Tiết độ sứ Đông Thục là Liễu Trọng Hĩnh dùng ông làm tiết độ phán quan, kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Liễu bị bãi quan, ông cũng mất chức. Như thế là ông mắc kẹt giữa hai phái, chưa hề được đắc chí trên hoạn lộ, cứ bôn tẩu khắp nơi: Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Từ Châu nương nhờ hết người này đến người khác, long đong khốn khổ. Cuối cùng ông về đất Oanh Dương thuộc Trịnh Châu rồi bệnh chết năm 46 tuổi.

Nguồn: Thi Viện



MỖI VẾT CẮT ĐỀU ĐỂ LẠI SẸO, DÙ BẠN CÓ BÔI THUỐC GÌ ĐI NỮA

Có những vết thương nhìn thấy được, rồi theo thời gian sẽ liền da. Nhưng cũng có những vết thương không nằm trên da thịt, mà ở trong lòng – nơi không có loại thuốc nào chạm tới được.

Mỗi vết cắt đều để lại sẹo, dù bạn có bôi thuốc gì đi nữa

Con người ta thường nghĩ rằng, chỉ cần một lời xin lỗi chân thành là đủ để xóa đi tất cả. Nhưng thật ra, lời xin lỗi không có phép màu như vậy. Nó không thể làm thời gian quay ngược, không thể khiến những gì đã xảy ra biến mất. Nó chỉ là một sự thừa nhận – rằng bạn đã hiểu, đã thấy, đã nhận ra mình từng làm tổn thương người khác.

Và đôi khi, điều đó là chưa đủ.

Bởi vì người bị tổn thương không chỉ đau ở khoảnh khắc ấy. Cái đau còn kéo dài rất lâu sau đó, len lỏi vào từng suy nghĩ, từng phản ứng, từng cách họ nhìn nhận lại con người và các mối quan hệ xung quanh. Một câu nói vô tình, một hành động thiếu suy nghĩ… có thể trở thành cái gai nhỏ, nằm im nhưng không bao giờ biến mất hoàn toàn.

Người ta có thể tha thứ, nhưng không phải lúc nào cũng quên. Tha thứ là để lòng mình nhẹ đi, không phải để phủ nhận rằng mình đã từng đau.

Người ta có thể tha thứ, nhưng không phải lúc nào cũng quên. Ảnh internet.

Có những người sau khi nói lời xin lỗi, liền mong đối phương “bỏ qua đi”, “đừng để bụng nữa”. Nhưng họ quên rằng, vết thương không phải là thứ có thể đóng lại chỉ bằng ý muốn. Nó cần thời gian. Và đôi khi, nó cần cả khoảng cách.

Cũng có những người chọn im lặng, không phải vì họ không còn đau, mà vì họ hiểu rằng có nói thêm cũng không thay đổi được điều gì. Họ tự học cách sống chung với vết sẹo của mình, như một phần ký ức không thể xóa.

Nhưng điều đáng suy ngẫm nhất không nằm ở vết thương, mà ở cách chúng ta tạo ra nó.

Một lời nói có thể làm ấm lòng người khác, nhưng cũng có thể khiến họ tổn thương rất sâu. Một hành động có thể cứu vãn một mối quan hệ, nhưng cũng có thể khiến nó rạn vỡ không thể hàn gắn. Trong lúc nóng giận, con người thường dễ buông ra những điều mà sau này chính mình cũng phải hối hận.

Chỉ là, không phải lúc nào cũng có cơ hội để sửa sai.

Điều đáng suy ngẫm nhất không nằm ở vết thương, mà ở cách chúng ta tạo ra nó. Ảnh internet.

Vì vậy, trước khi nói một lời, trước khi làm một việc, có lẽ điều quan trọng nhất không phải là “mình có đúng không”, mà là “điều này có làm người khác đau không”.

Lời xin lỗi, suy cho cùng, vẫn rất cần thiết. Nó thể hiện sự dũng cảm và trách nhiệm. Nhưng nếu có thể, hãy cố gắng để mình ít phải nói lời xin lỗi nhất – không phải vì kiêu ngạo, mà vì đã cẩn trọng hơn trong từng lời nói, suy nghĩ và hành động.

Bởi vì trên đời này, có những vết thương dù đã lành… vẫn mang theo dấu tích suốt cả một đời.

Khai Tâm biên tập
Theo: vandieuhay

Monday, June 1, 2026

CHUYỆN MA CÓ THẬT TỪ BÁC SĨ MẮT CỦA 8 ĐỜI TỔNG THỐNG MỸ - KỲ CUỐI

Theo lời kể của bác sĩ William Wilmer, mọi người trong gia đình bà H đều nghe thấy những âm thanh khó hiểu, cảm giác sự hiện diện vô hình nhưng không ai thực sự thấy bất cứ con ma nào cho đến tận tháng 1/1913.

Ảnh minh hoạ.

RỒI "THỨ ĐÓ" XUẤT HIỆN

Bà H. thấy đầu tiên. “Một hôm, giữa buổi sáng, tôi đi từ phòng vẽ sang phòng ăn, và kinh hoàng thấy từ phía cuối phòng ăn tiến lại gần tôi một người phụ nữ lạ, tóc sẫm màu, mặc toàn đồ đen. Khi tôi từ từ bước vào phòng để đối diện bà ta, thì người đó biến mất. Chuyện đó xảy ra 3 lần”.

Sau đó, một đêm chị giúp việc cũng bị đánh thức, hoảng hồn nhìn thấy một ông già và một phụ nữ trẻ ngồi ngay dưới chân giường, chằm chằm nhìn chị ta. Chị giúp việc sợ quá, người đông cứng trên giường cho đến khi bị một bàn tay vô hình đập nhẹ vào vai khiến chị nhảy dựng người. Ngay khi đó, hai người lạ biến mất.

Một tối, ông bà H đi xem opera, để các con ở nhà với người giúp việc. Khoảng 8 rưỡi tối, cậu con trai út của họ tỉnh giấc, la hét hoảng loạn trong phòng vì thấy bóng ma một người đàn ông béo, to lớn. Sau đó cậu bé được đưa sang phòng của chị vú em, rồi lại bị đánh thức vào rạng sáng vì ai đó, hay cái gì đó rất nặng đè lên ngực khiến cậu khó thở.

Ông bà H. cũng chẳng khá hơn. Xem opera xong, họ về nhà lên giường nghỉ ngơi thì ông H bị đánh thức bởi cảm giác có những ngón tay ma quái đang xiết lấy cổ họng. Ông cũng vẫn nghe thấy tiếng chuông cửa buổi đêm và giờ thì họ chắc chắn có âm thanh của những người lạ đi lại khắp nhà. Nhưng mỗi lần ông trở dậy đi kiểm tra thì đều không thấy ai cả.

Nếu chỉ một người đã nhìn hoặc nghe thấy những điều kỳ dị trong nhà, thì lời họ kể có thể dễ dàng bị bác bỏ rằng đó chỉ là do ảo ảnh, hay tưởng tượng quá mức. Nhưng đến lúc này thì người nào trong ngôi nhà bà H. cũng nghe thấy, cảm thấy thậm chí nhìn thấy người lạ đó.

Khi liên hệ với chủ cũ, gia đình bà H. biết rằng những hiện tượng kỳ lạ đó cũng đã xảy ra với họ trong nhiều năm. “Chủ cũ ngôi nhà cũng trải qua chuyện y hệt như chúng tôi”, bà H. kể.

Hé lộ đầu tiên về điều đang thực sự xảy ra cuối cùng đã lộ diện vào cuối tháng 1/1913 sau khi ông H. kể lại những chuyện đáng sợ trong nhà mình với người anh trai. Người anh nhớ lại một bài báo mà ông đọc từ lâu, mô tả chuyện một gia đình bị ám bởi những âm thanh, hình ảnh tương tự. Ông cho rằng có thể gia đình em trai đang bị đầu độc.

Ảnh minh hoạ.

Đầu độc? Những con ma đang đầu độc họ?

Không, người anh ông H. giải thích: Bài báo mà ông đọc nói rằng gia đình đó có một lò sưởi bị lỗi, thải ra một lượng lớn khí carbon monoxide (công thức hóa học là CO) vào ngôi nhà, và mọi triệu chứng mà các thành viên gia đình gặp phải - bao gồm suy kiệt, mệt mỏi, đau ốm, thấy âm thanh và các hình ảnh lạ, cảm giác bị theo dõi, bị động chạm bởi người nào đó, kể cả việc cây cối chết – đều liên quan đến hiện tượng ngộ độc carbon monoxide.

Người anh khuyên họ đến gặp bác sĩ.

Hôm sau đó, khi tới nhà bà H để kiểm tra, ông bác sĩ đi một vòng quanh nhà. Ngay khi kiểm tra tầng hầm cũ kỹ thì mối nghi ngờ của ông cũng như của anh trai ông H. đã được khẳng định. Người bác sĩ phát hiện chiếc lò sưởi cũ ở trong tình trạng rất tệ, bộ phận đốt bị hỏng, khói thay vì bốc lên ống khói lại đẩy khí carbon monoxide vào khắp các phòng. Ông khuyên bà H. không cho các con ngủ trong nhà nữa, bởi nếu cứ tiếp tục như vậy, có thể đến một buổi sáng chúng sẽ không thức dậy nữa.

Không giống như hầu hết những chuyện ma khác, câu chuyện này kết thúc cực kỳ có hậu. Gia đình bà H nghe lời bác sĩ chuyển ra khỏi căn nhà trong khi chờ sửa lò sưởi. Khi họ quay trở về, thì những "con ma" đều biến mất.

Cả thế giới hầu như đã thay đổi kể từ năm 1912, duy có một thứ thì không. Ngộ độc carbon monoxide vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây ra những cái chết do tai nạn ngộ độc ở Bắc Mỹ. Nguyên nhân là vì khí độc chết người carbon monoxide không mùi không vị, không gây kích thích đường thở. Do đó rất khó để phát hiện ta đang bị ngộ độc khí này, trong khi chỉ với nồng độ 400 phần triệu (ppm) cũng có thể gây tử vong. Thường thì dấu hiệu đầu tiên là người nhiễm độc bị suy nhược cơ thể, mất tỉnh táo nhận thức.

Dần dần những câu chuyện “ma” carbon monoxide được biết đến nhiều hơn. Một ấn phẩm vào năm 2005 của Tạp chí Y học khẩn cấp Hoa Kỳ đăng bài báo mô tả trường hợp một phụ nữ 23 tuổi bị đột quỵ trong khi đang tắm vì nhìn thấy “ma”. Thủ phạm hóa ra là chiếc bình nóng lạnh đun bằng gas mới do lắp đặt không đúng đã thải khí carbon monoxide vào nhà cô gái.

Phan Long / Theo: Báo Tin Tức

NHÌN THEO TRỤC TRUNG TÂM BẮC KINH ĐỂ HIỂU GIẤC MƠ THIÊN HẠ CỦA VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG

Giữa một thủ đô đã quá quen thuộc với những biểu tượng như Tử Cấm Thành, Thiên Đàn hay Vạn Lý Trường Thành, việc Trục trung tâm Bắc Kinh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào tháng 8/2024 khiến nhiều người bất ngờ. Bởi đó không phải một công trình đơn lẻ, mà là đường trục đã tạo nên cấu trúc và linh hồn của kinh đô Trung Hoa suốt nhiều thế kỷ.


Vài tháng sau thời điểm Bắc Kinh có thêm di sản mới, tôi trở lại thành phố này ngay sau một hành trình qua nước Ý, quốc gia sở hữu số lượng di sản UNESCO nhiều nhất thế giới. Từ Bologna, Siena, Verona đến Rome, mỗi đô thị hiện ra như một lớp trầm tích của thương mại, tôn giáo, nghệ thuật và đời sống công dân châu Âu. Có lẽ chính sự đối lập ấy khiến cảm giác đứng trên đỉnh Cảnh Sơn nhìn xuống Bắc Kinh lần này trở nên đặc biệt hơn.

Từ trên cao, trục thẳng ấy hiện ra gần như vô tận, xuyên qua mái ngói vàng của Tử Cấm Thành, đi qua quảng trường Thiên An Môn rồi tiếp tục xuôi về phương Nam. Bắc Kinh không còn giống một đô thị thông thường. Thành phố ấy hiện ra như một thế giới được sắp đặt theo một trật tự tuyệt đối, nơi quyền lực, nghi lễ và tư tưởng thiên hạ cùng hội tụ trên một đường trục kéo dài xuyên suốt lịch sử.

Tử Cấm Thành nằm trên Trục trung tâm Bắc Kinh - Ảnh: CGTN

Khoảnh khắc ấy khiến tôi nhận ra rằng Đông và Tây từng theo đuổi hai mô hình văn minh rất khác nhau, và sự khác biệt ấy đôi khi bắt đầu ngay từ cách họ kiến tạo kinh đô.

Thành phố được xây như một trật tự vũ trụ

Đi dọc Trục trung tâm Bắc Kinh (Beijing Central Axis), điều dễ nhận ra nhất là cảm giác về sự trật tự gần như tuyệt đối. Từ cổng thành, quảng trường, điện đài cho đến những lớp không gian nối tiếp nhau, tất cả đều được sắp đặt cân xứng với một chủ ý rất rõ ràng. Thành phố này không phát triển theo kiểu mở rộng tự nhiên như nhiều đô thị châu Âu, mà được kiến tạo như một mô hình thu nhỏ của vũ trụ theo tư duy Phương Đông cổ đại.

Trong quan niệm truyền thống của Trung Hoa, hoàng đế là Thiên tử, người nhận thiên mệnh để cai trị thiên hạ. Vì thế, kinh đô không thể được xây dựng tùy hứng. Nó phải phản ánh sự hòa hợp giữa trời, đất và con người. Trục Bắc Nam trở thành xương sống thiêng liêng của toàn bộ đô thành, còn hoàng cung nằm ở vị trí trung tâm như trái tim của thiên hạ. Càng tiến gần khu vực quyền lực, không gian càng trở nên rộng lớn, uy nghiêm và giàu tính nghi lễ.

Tử Cấm Thành vì thế không đơn thuần là nơi ở của hoàng đế. Đó là trung tâm của một trật tự chính trị và tinh thần mà toàn bộ đế chế hướng về. Ngay cả cách bố trí sân điện, cổng thành hay những khoảng trống rộng lớn trong kiến trúc cũng nhằm tạo ra cảm giác về sự ổn định, vĩnh cửu và quyền lực tuyệt đối.

Tháp Trống (Cổ Lâu) và Tháp Chuông (Chung Lâu) nằm ở phía Bắc của Trục trung tâm Bắc Kinh - Ảnh: CGTN

Khi đặt cạnh các đô thị Ý, sự khác biệt ấy càng hiện rõ. Bologna lớn lên cùng truyền thống đại học lâu đời của châu Âu. Verona mang vẻ đẹp mềm mại của đời sống thị dân Trung cổ. Siena phản ánh niềm tự hào của một cộng đồng thành bang, còn Rome giống như một lớp địa tầng lịch sử nơi La Mã cổ đại, Kitô giáo và hiện đại cùng chồng lấp lên nhau.

Nếu kinh đô Phương Đông thường được kiến tạo như trung tâm tuyệt đối của quyền lực và trật tự vũ trụ, thì các đô thị Ý thời Trung cổ lại phát triển trong mạng lưới cạnh tranh giữa các thành bang, giáo quyền và giới quý tộc. Quyền lực ở Phương Tây không luôn tập trung tuyệt đối vào một trung tâm duy nhất, mà thường tồn tại dưới dạng đa cực với những đô thị mang vai trò riêng về tài chính, thương mại, quân sự hay tôn giáo. Chính sự khác biệt trong cách tổ chức quyền lực ấy đã tạo nên hai diện mạo đô thị hoàn toàn khác nhau giữa Bắc Kinh và châu Âu.

Nếu các thành phố Ý phản chiếu thế giới của con người với những biến động lịch sử và đời sống xã hội đa dạng, thì Bắc Kinh lại phản chiếu một trật tự mang tính thiên mệnh, nơi quyền lực được đặt vào trung tâm của toàn bộ không gian sống.

Trong khi các kinh đô Phương Đông thường xoay quanh trục quyền lực hoàng gia, nhiều đô thị châu Âu được định hình bởi những quảng trường và nhà thờ lớn như Duomo di Milano ở Milan, Ý - Ảnh: Nguyễn Hoàng Bảo

Piazza del Campo ở Siena, Ý, nơi tinh thần đô thị Trung cổ châu Âu vẫn hiện diện qua cấu trúc mở, phi đối xứng và đời sống công cộng kéo dài suốt nhiều thế kỷ - Ảnh: Nguyễn Hoàng Bảo

Giấc mơ thiên hạ của Phương Đông

Điều khiến Trục trung tâm Bắc Kinh trở nên đặc biệt không chỉ nằm ở chiều dài gần 8 km hay số lượng công trình lịch sử trải dọc theo nó, mà nằm ở hệ tư tưởng phía sau toàn bộ cấu trúc ấy. Trong tư duy chính trị Phương Đông, đặc biệt dưới ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, khái niệm “thiên hạ” luôn lớn hơn khái niệm quốc gia theo nghĩa hiện đại. Hoàng đế không chỉ cai trị một lãnh thổ hữu hạn, mà cai trị “mọi nơi dưới bầu trời”.

Vì vậy, thiên hạ cần có một trung tâm, và trung tâm ấy phải mang tính ổn định tuyệt đối. Ngay cả tên gọi “Trung Quốc” cũng phản ánh tư tưởng đó, như một vùng đất trung tâm của văn minh mà từ đó các vòng trật tự được mở rộng dần ra xung quanh. Trục trung tâm Bắc Kinh vì thế không chỉ là quy hoạch đô thị, mà còn là tuyên ngôn về vị trí trung tâm của quyền lực và văn minh Trung Hoa.

Trong quan niệm phong thủy Á Đông, nhiều học giả cũng xem trục Bắc - Nam của Bắc Kinh như “long mạch” của kinh đô, nơi địa thế, quyền lực và thiên mệnh được kết nối trên cùng một đường trục xuyên suốt thành phố. Dù mang nhiều ý nghĩa biểu tượng hơn là khoa học quy hoạch hiện đại, cách nhìn ấy cho thấy người xưa chưa bao giờ xem kinh đô chỉ là nơi để ở, mà là không gian phản chiếu trật tự của cả trời đất.

Vĩnh Định Môn nằm ở phía Nam của Trục trung tâm Bắc Kinh - Ảnh: CGTN

Chính tư duy này đã ảnh hưởng mạnh đến kiến trúc và mô hình kinh đô ở nhiều quốc gia Đông Á. Từ kinh thành Huế của Việt Nam đến Kyoto của Nhật Bản hay Gyeongju của Hàn Quốc, người ta đều thấy dấu vết của tư tưởng trục trung tâm, phong thủy, thiên mệnh và sự hòa hợp giữa quyền lực với tự nhiên. Đó là cách Phương Đông hình dung về một nhà nước lý tưởng, nơi trật tự chính trị phải đồng thời phản ánh trật tự của vũ trụ.

Trong khi đó, châu Âu phong kiến lại phát triển theo một hướng khác. Không gian quyền lực được chia sẻ giữa các lãnh chúa, các thành bang, giới quý tộc và giáo hội, khiến cấu trúc đô thị mang tính hữu cơ và linh hoạt hơn nhiều. Chính sự phân tán ấy đã góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy nghệ thuật, khoa học và tinh thần cá nhân phát triển mạnh mẽ. Nếu Bắc Kinh đại diện cho mô hình “thiên hạ quy tâm”, thì các đô thị Ý lại phản ánh tinh thần đa trung tâm của Phương Tây, nơi quyền lực và văn hóa luôn vận động trong trạng thái phân tán và đối thoại lẫn nhau.

Phố đi bộ Tiền Môn nằm trên Trục trung tâm Bắc Kinh - Ảnh: CGTN

Di sản như tấm gương của một nền văn minh

Điều đáng giá nhất của Trục trung tâm Bắc Kinh nằm ở chỗ nó giúp con người hôm nay hiểu rằng thành phố trong quá khứ chưa bao giờ chỉ là nơi để cư trú. Đối với các nền văn minh lớn, đô thị luôn là nơi phản chiếu triết học, niềm tin và tham vọng của cả một thời đại.

Việc UNESCO công nhận Trục trung tâm Bắc Kinh vì thế không đơn thuần là công nhận một quần thể kiến trúc cổ. Đó còn là sự ghi nhận dành cho một mô hình tư duy từng ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ Đông Á trong suốt nhiều thế kỷ. Giữa thời đại mà nhiều đô thị hiện đại đang dần giống nhau bởi kính, thép và bê tông, những di sản như thế càng trở nên quan trọng vì chúng nhắc con người nhớ rằng kiến trúc từng là cách các nền văn minh đối thoại với vũ trụ và định nghĩa vị trí của mình trong thế giới.

Tác giả đang đứng trước Tử Cấm Thành, trái tim của Trục trung Tâm Bắc Kinh - Ảnh: NVCC

Chiều muộn hôm rời Bắc Kinh, tôi quay lại quảng trường Thiên An Môn lần cuối. Trục trung tâm vẫn kéo dài thẳng tắp trong ánh sáng nhạt cuối ngày, tạo nên cảm giác nghiêm cẩn và tĩnh lặng rất khác với những quảng trường náo nhiệt ở châu Âu.

Bắc Kinh chưa bao giờ chỉ muốn trở thành một kinh đô. Thành phố ấy được tạo dựng như trung tâm của thiên hạ, nơi mọi đường trục cuối cùng đều dẫn về quyền lực, trật tự và giấc mơ vĩnh cửu của một nền văn minh.

Nguyễn Hoàng Bảo / Travellive+



HÀNH HƯƠNG TỬ - TRƯƠNG TIÊN


Hành hương tử - Trương Tiên

Vũ tuyết ca vân,
Nhàn đạm trang quân.
Lam khê thuỷ,
Thâm nhiễm khinh quần.
Tửu hương huân kiểm,
Phấn sắc sinh xuân.
Cánh xảo đàm thoại,
Mỹ tình tính,
Hảo tinh thần.

Giang không vô bạn,
Lăng ba hà xứ.
Nguyệt kiều biên,
Thanh liễu chu môn.
Đoạn chung tàn giốc,
Hựu tống hoàng hôn.
Nại tâm trung sự,
Nhãn trung lệ,
Ý trung nhân.

Người đời thích câu kết trong bài từ này của Trương Tiên nên còn gọi ông là Trương Tam Trung.


行香子 - 張先

舞雪歌雲。
閑淡妝勻。
藍溪水、
深染輕裙。
酒香醺臉,
粉色生春。
更巧談話,
美情性,
好精神。

江空無畔,
凌波何處,
月橋邊、
青柳朱門。
斷鍾殘角,
又送黃昏。
奈心中事,
眼中淚,
意中人。


Hành hương tử
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Mây ca, tuyết múa rộn ràng. 
Thong dong trang điểm, nhẹ nhàng xiêm y. 
Khê Lam nước biếc xanh rì. 
Quần thoa nhẹ bước, người đi phiêu bồng. 
Hương say, thoảng chén rượu nồng. 
Sắc xuân tô điểm, cất công đợi chờ. 
Đôi lời tản mạn vu vơ. 
Mỹ nhân xinh đẹp bây giờ nơi đâu ?. 
Tinh thần, cốt cách hảo cầu !. 
Sông dài hiu quạnh, bạn bầu cùng ai ?. 
Ba Lăng sóng nước ai hoài. 
Bên kia Kiều Nguyệt, liễu phai sắc nồng. 
Chuông chùa đứt đoạn thinh không. 
Lầu son gốc liễu ai trồng thắm xanh. 
Hoàng hôn đã dục xuống nhanh. 
Bao nhiêu tâm sự để dành cho nhau. 
Người đi cho mắt lệ đau. 
Trung nhân hữu ý, mai sau tìm về !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Trương Tiên 張先 (990-1078) tự Tử Dã 子野, người Ngô Hưng, tỉnh Chiết Giang, từng làm quan lang trung. Từ của ông phong cách khá cao, nổi danh ngang với Liễu Vĩnh. Trong Bạch Vũ trai từ thoại, từ của ông được nhận định vừa hàm súc, vừa phát việt. Tác phẩm của ông có An lục tập và An lục từ.

Nguồn: Thi Viện