Wednesday, September 9, 2026

TẠI SAO VỊ TĂNG NHÂN KHÔNG THỂ HỌC THUỘC HAI CUỐN KINH PHẬT CUỐI CÙNG?

Tại sao vị tăng nhân không thể học thuộc hai cuốn Kinh Phật cuối cùng? (ảnh Adobe Stock)

Có câu nói rằng: “Thân người khó được, Phật pháp khó tìm”, kiếp này may mắn có thể biết đến Kinh Phật mà thành người tu luyện, cũng là nhờ kiếp trước biết hành thiện nên kiếp này mới nhận được quả lành.

Không thể học thuộc hai cuốn Kinh Phật cuối cùng

Cách đây rất lâu, trên đỉnh núi Kim Phong có một tăng nhân tên là Chuyển Thừa. Ông sinh ra tại Yamato, Nhật Bản, bẩm sinh vốn cực kỳ thô bạo; tính khí thất thường dễ cáu giận. Tuy nhiên từ nhỏ đã thích đọc kinh Phật; ham thích tới mức không muốn rời tay, ngày đêm đọc thuộc. Ông nuôi ý chí muốn học thuộc tất cả các cuốn kinh Phật.

Ông kiên trì học thuộc Kinh Phật, sáu cuốn đầu ông đều đã học thuộc nằm lòng. Nhưng có một điều kỳ lạ là hai quyển sau cùng ông lại không có nguyện vọng muốn học thuộc.

Ngày nọ, trong lòng ông đột nhiên nghĩ: “Mình nên học thuộc nốt quyển kinh số bảy và số tám; như vậy mới lưu giữ được hết bộ kinh ở trong tâm”.

Từ khi ông phát nguyện học thuộc cho tới mấy năm sau cũng không thể thực hiện được. Vị tăng nhân không tin bản thân không thể làm được việc này; vì vậy ngày đêm cố gắng học thuộc từng chữ từng chữ; nhưng kết quả vẫn không cách nào nhớ nổi.

Trong lòng mang đầy sự nghi ngờ, ông tới tham bái Bồ Tát. Ông ẩn cư chín mươi ngày; ngày ngày cúng dường Bồ Tát; mỗi đêm lễ Phật 3000 lần; cầu mong có thể học thuộc hai cuốn kinh văn đó.
 
Nhờ tâm thành kính mà được Thần báo mộng

Khi thời gian ẩn cư sắp kết thúc, ông nằm mơ một giấc mơ kỳ lạ. Trong mơ ông nhìn thấy một người đội mũ quan rồng; hình dáng giống như quỷ dữ; trên cổ đeo một chuỗi trang sức bằng ngọc; trong tay cầm Kim cương chử (Chày kim cương – một trong những biểu tượng quan trọng của Phật giáo. Đây là pháp khí thường được Thần hộ pháp cầm trên tay); chân đứng trên đài hoa sen; có người theo hầu, hướng về phía ông mà nói: “Vì nhân duyên của ông không đủ, nên không được đọc thuộc quyển kinh thứ bảy và tám”.

Chày kim cương – một trong những biểu tượng quan trọng của Phật giáo. Đây là pháp khí thường được Thần hộ pháp cầm trên tay (ảnh Epochtimes)

Người này tiếp tục nói: “Kiếp trước ông từng là một con rắn lớn, dài hai trượng (gần 7m), thường chiếm giữ trạm dịch trong núi ở quận Ako. Khi đó, vừa đúng lúc có bậc thánh nhân đi qua và dừng tại đó nghỉ đêm. Ông ở trên nóc nhà nghĩ thầm: ‘Rất lâu rồi mình không ăn gì, vừa đúng lúc đói bụng; thật khó mà có người nghỉ đêm tại đây, mình có thể ăn thịt hắn cho đỡ đói’”.

“Vị thánh nhân cảm nhận được có con rắn lớn đang muốn ăn thịt mình, bèn rửa tay súc miệng, miệng niệm kinh Phật. Không ngờ, sau khi nghe kinh, rắn không còn muốn ăn thịt người nữa; nhắm mắt lại nhất tâm lắng nghe. Khi đọc tới cuốn thứ sáu thì trời sáng và vị thánh nhân rời đi”.

Giải khai khúc mắc trong tâm

Người kia lại tiếp tục nói: “Con rắn lớn đó chính là ông. Vì năm đó ông lắng nghe Phật Pháp; áp chế được ý niệm muốn hại người, do đó thoát khỏi kiếp nạn và có thể chuyển sinh thành người. Hơn nữa, kiếp này lại có thể được xuất gia. Bởi ông chưa từng nghe đọc quyển kinh số bảy và tám, vì vậy không thể ghi nhớ được.

Ngoài ra, do đặc tính của rắn vẫn chưa hoàn toàn hết, vẫn thô bạo và dễ cáu giận nên ông không thể học thuộc được. Sau này ông nhất định cần phải tinh tấn hơn; loại bỏ những thói quen xấu thì tương lai mới có thể thoát khỏi sinh tử luân hồi”.


Nghe tới đây, tăng nhân tỉnh mộng; từ đó tu Phật càng thêm dũng mãnh tinh tấn.

Nguyên nhân kiếp này có thể tu hành

Vị tăng nhân có vóc dáng giống như trâu cũng là do mối nhân duyên từ kiếp trước (ảnh Adobe Stock)

Thuở xưa, tại tỉnh Ōmi (nay là quận Shiga), Nhật Bản, có vị tăng nhân tên là Yorizane, năm lên 9 tuổi đã vào chùa Kim Thắng để tu hành. Ông có trí nhớ rất tốt, chỉ cần nghe các tăng nhân tụng kinh là có thể đọc thuộc theo.

Mỗi ngày, ông đều đọc thuộc Kinh Phật ba lần; quanh năm không ngừng cố gắng; cuối cùng trở thành bậc trưởng lão có trí huệ. Tuy nhiên, những lời ông nói thường khác biệt với mọi người, vóc dáng như trâu, miệng còn hơi méo, mặt hơi vẹo.

Yorizane cảm thấy xấu hổ vì điều này và không ngừng than thở: “Nhất định kiếp trước mình đã làm việc ác nên bị quả báo; kiếp này nếu không hối cải, tương lai sẽ ra sao đây”.

Tấm lòng chân thành cảm động trời xanh

Sự chân thành của ông đã cảm động tới trời xanh. Trong thời gian ông ở ẩn suy nghĩ 6 ngày thì có một giấc mơ kỳ lạ. Có một vị tăng nhân tới nói với ông: “Kiếp trước ông là một con trâu không có mũi; được nuôi dưỡng ở nhà quận trưởng quận Echi, tỉnh Ōmi. Lần nọ, quận trưởng để trâu vận chuyển tám cuốn kinh Phật về chùa trên núi; con trâu đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc”.

“Vì công đức chuyển Kinh Phật, nên kiếp này ông được chuyển sinh làm người và có thể tu Phật pháp; hơn nữa còn có thể hiểu được sâu sắc. Tuy nhiên, nghiệp của ông chưa tận, vì vậy miệng của ông mới giống như con trâu. Tiếp tục tinh tấn tu hành, ông nhất định có thể thoát khỏi luân hồi sinh tử”.


Yorizane tỉnh giấc và cảm thấy vô cùng xúc động, càng cố gắng tu luyện tinh tấn hơn. Trước khi lâm chung, ông còn tĩnh lặng niệm kinh Phật; cuối cùng rời khỏi thế gian một cách nhẹ nhàng, thọ 79 tuổi.

Thân người khó được, Phật Pháp khó tìm (ảnh Adobe Stock)

Tìm lại cuốn Kinh Phật bị mất

Vào thời đại Thiên hoàng Shōmu, tại một quận của tỉnh Kawachi có một cô gái tên là Toshijo; từ nhỏ tư chất thông minh, tâm trong sáng thanh tịnh; tôn kính Phật pháp. Ở nhà cô thường tụng niệm kinh Phật, hầu như ai cũng thích nghe cô tụng kinh.

Cô có sở thích sao chép Kinh Phật, trong nhà có rất nhiều quyển do cô sao chép. Tuy nhiên có ba bộ kinh Phật đột nhiên biến mất và cô nghĩ có lẽ bị người ta lấy cắp.

Một đêm nọ, cô đột nhiên qua đời mà không bị bệnh tật gì. Linh hồn cô được đưa xuống dưới âm phủ và đi tới chỗ Diêm Vương. Thấy cô tới, Diêm Vương lập tức đứng dậy và mời cô ngồi xuống, sau đó nói: “Ta nghe nói giọng cô niệm kinh rất hay, nên cố ý mời cô tới; muốn được tận tai nghe thấy tiếng cô tụng kinh”.

Toshijo liền tụng kinh cho Diêm Vương nghe. Sau khi nghe xong, Diêm Vương đứng dậy quỳ xuống và nói: “Thật sự làm cho người ta rất cảm động”. Ba ngày sau, ông chuẩn bị đưa cô gái trở về.

Tại đại điện của Diêm vương, cô gái nhìn thấy ba vị mặc áo cà sa màu vàng, sáng chói lọi. Ba người nói với cô: “Đã lâu rồi không gặp cô, chúng tôi rất nhớ mong; giờ gặp nhau nơi này, cảm thấy rất vui mừng. Giờ cô hãy quay về, ba ngày sau, chúng ta sẽ gặp nhau trên phố phía Đông thành Nara”. Nói rồi ba người biến mất. Toshijo không biết họ là ai và trong tâm đầy nghi hoặc.

Lúc này tại dương gian thì Toshijo cũng vừa sống lại.
 
Sự an bài hoàn hảo của Diêm Vương

Ba ngày sau, cô tới phố phía Đông thành Nara đợi ba người mặc áo cà sa vàng; nhưng đợi mãi không thấy họ đến. Khi đang chuẩn bị rời đi thì có một người quần áo xộc xệch từ chợ ở cửa Đông đi tới chợ trung tâm, và lớn tiếng rao: “Ai mua kinh Phật không? Tôi bán kinh Phật đây”.

Toshijo muốn mua nên gọi người bán lại xem và phát hiện ra đó là ba cuốn kinh Phật do cô sao chép mà bị mất.

Người bán Kinh Phật còn đòi 500 đồng mới chịu bán cho cô. Toshijo biết người trước mặt là kẻ trộm đồ, cũng không tính toán, trả lại đúng số tiền và thầm nghĩ, “có lẽ đây là nợ nghiệp kiếp trước của mình với họ”.

Sau khi mua Kinh Phật, cô chợt tỉnh ngộ và nghĩ lại, ba người mặc áo cà sa màu vàng sáng chói kia chính là ba cuốn Kinh Phật. Cô không khỏi cảm ơn sự sắp đặt tài tình khéo léo của Diêm Vương.

Người thế gian sau khi nghe được câu chuyện này thì càng tôn kính Toshijo, cũng càng tín ngưỡng Phật Pháp hơn.

Có câu nói rằng: “Thân người khó được, Phật pháp khó tìm”, kiếp này may mắn có thể nghe được Phật Pháp mà thành người tu luyện, cũng là nhờ kiếp trước biết hành thiện nên kiếp này mới nhận được quả lành. Người tu luyện cần nỗ lực tinh tấn tự cố gắng; có thủy có chung để không phụ mối nhân duyên này.

Thanh Mai / Theo: Epoch Times

TÔN NGỘ KHÔNG BỊ GIAM 500 NĂM DƯỚI NGŨ HÀNH SƠN, ẨN Ý THÂM SÂU ĐẰNG SAU LÀ GÌ?

Nếu như Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân là tuyệt thế kỳ thư vĩ đại nhất trong “Tứ đại danh tác”, thì bộ phim cùng tên của đạo diễn Dương Khiết cũng xứng đáng được tôn vinh là tác phẩm bất hủ nhất của điện ảnh Trung Hoa.

Ảnh chụp màn hình phim Tây Du ký 1986.

Làm nên thành công ấy phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của các nhạc khúc trong phim. Và trong những nhạc khúc bất hủ ấy, có một bài hát, mà dẫu chỉ xuất hiện trong một phân cảnh nhỏ của phim, nhưng lại khiến lòng người mãi bồi hồi da diết. Đó chính là bài hát kể lại tâm sự của Tôn Ngộ Không suốt 500 năm bị đè dưới Ngũ Hành Sơn. Không hào tráng như ca khúc mở đầu “Đường chúng ta đi”, không tươi vui ngộ nghĩnh như “Ngộ Không trộm đào”, lại không ngọt ngào trong sáng như “Tình nhi nữ”, vậy mà “500 năm bãi bể nương dâu” cứ vương vấn mãi trong lòng người xem.

Có một điều đặc biệt là, dù được biểu diễn bằng giọng nam hay giọng nữ, có ca từ hay giai điệu không lời, trên nền của nhạc cụ hiện đại hay dân gian, và cho dù người nghe có hiểu ý nghĩa của bài hát hay không, thì tất cả chúng ta đều có thể cảm nhận được một điều gì đó rất da diết, rất mênh mang, một cảm xúc nào đó thật khó diễn tả bằng câu chữ, tựa như lời nhắn nhủ chạm tới tận sâu thẳm sinh mệnh con người.

Vì sao lại như vậy?

Nếu chỉ tìm trên bề mặt câu chữ, khó có thể tìm ra ý vị sâu xa mà bài hát muốn nhắn gửi tới người đọc. Đó là bởi bài hát ấy gắn liền với cuộc đời của Tôn Ngộ Không, từ khi thác sinh từ tảng đá, trở thành Tề Thiên Đại Thánh tung hoành ngang dọc giữa đất trời, sau phạm tội đại náo Thiên Cung mà bị đè dưới chân núi Ngũ Hành, nhớ về quá khứ huy hoàng tiêu diêu tự tại để rồi xót xa cho hiện tại đã an bài… Bởi lấy cảm hứng từ nguyên tác Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, mà một cách tự nhiên, “500 năm bãi bể nương dâu” cũng mang trong nó cái phần hồn, phần thần mà Ngô Thừa Ân muốn gửi gắm.

Bởi vậy, hãy cùng trở về với nguyên tác Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân trước khi nghe lại bài hát, bạn sẽ khám phá ra những ý vị thâm sâu đằng sau giai điệu ấy.

Tôn Ngộ Không sinh ra từ tảng đá, hấp thụ linh khí của đất trời

Mở đầu Tây Du Ký kể về thời thiên địa còn hỗn độn, đất trời còn mờ mịt chưa phân. Rồi Bàn Cổ khai thiên lập địa, Tam Hoàng trị thế, Ngũ Đế định ra nhân luân. Đây là nói về việc nhân loại đã khởi đầu như thế nào.

Tiếp đó là sự ra đời kỳ lạ của Tôn Ngộ Không. Ngộ Không sinh ra từ tảng đá trên ngọn Hoa Quả Sơn – ngọn núi này vô cùng đặc biệt, được miêu tả là “mạch tổ của mười châu, là tay long của ba đảo bỏ lại, tự mở giữa trong đục mà đứng lên, phân rõ mờ mịt mà tạo thành, thật là một dãy núi quý, đẹp”.

Còn nói về tảng đá, đây cũng không phải đá bình thường, mà là “đá tiên” mang tinh khí của tạo hoá: cao 3 trượng 6 thước 5 tấc, hợp với vòng giời 365 độ; vây tròn 2 trượng 4 thước, hợp với lịch chính 24 khí, trên có 9 khiếu 8 lỗ tương ứng với 9 cung 8 quẻ. Tả rằng:

“Có lẽ từ khi sinh ra, tấm đá cảm thụ linh hoa của trời đất, của mặt trời, mặt trăng nên mới linh thông được. Trong tấm đá lại có một tiên thai. Một hôm tấm đá nứt ra, sinh một trứng đá, to bằng quả cầu lớn, gặp gió hoá ra con khỉ đá, đủ mặt, mũi, chân, tay. Con khỉ đá liền học cào, học chạy, vái lạy bốn phương, hai mắt có hào quang sáng rực lên tận trời, làm kinh động đến Ngọc Hoàng Thượng Đế”.[1]

Như vậy, Tôn Ngộ Không là được Thiên Địa hoá dục mà thành, sinh ra đã mang sẵn tinh hoa của đất trời, tuyệt nhiên không phải là con khỉ tầm thường nơi trần thế. Điều này cũng phù hợp với cách nhìn nhận của Phật gia về sinh mệnh con người:

Phật gia giảng rằng con người là do Thần tạo ra, bản mệnh chân chính của con người thuộc về nơi thượng giới.

Vậy vì sao con người lại có mặt trên Trái Đất này? Ấy là bởi qua tháng năm dài đằng đẵng, các sinh mệnh không còn giữ được bản tính thuần khiết như thuở ban đầu nên mới rơi rớt xuống đến đây. Đó cũng là điều mà các tôn giáo và các nền văn hoá cổ xưa đều nhìn nhận. Thánh Kinh chép rằng, Thiên Chúa Giê-hô-va tạo ra người đàn ông đặt tên là Adam, sau lại tạo ra người đàn bà đặt tên là Eva. Còn trong huyền sử Hy Lạp, hai anh em thần Prometheus và Epimetheus đã phỏng theo hình dáng của các vị thần mà tạo ra loài người. Tại phương Đông, sau khi Bàn Cổ khai thiên lập địa, thần Nữ Oa đã du ngoạn khắp đó đây giữa trời và đất. Và khi bay lượn dọc theo sông Hoàng Hà, Nữ Oa cúi đầu thấy bóng dáng xinh đẹp của mình mà bất giác vui mừng. Bà quyết định dùng bùn đất dưới sông nặn một người theo hình dạng của thần.

Đại náo Thiên Cung, Đại Thánh bị giam dưới Ngũ Hành

Ngộ Không có xuất thân cao quý như vậy nên căn cơ cũng rất phi phàm. Bởi vậy mà Ngộ Không là người duy nhất trong chúng đệ tử được Bồ Đề Tổ Sư bí mật trao truyền cho tiên đạo.

Ở đây cũng cần nói thêm rằng, Đạo gia khác với Phật gia ở chỗ: Phật gia chú trọng tu “Thiện”, nên giảng phổ độ chúng sinh. Nhưng Đạo gia thì không như vậy, Đạo gia giảng “Chân”, chú trọng thanh tu độc tu, vì vậy mà sư phụ dù có thu nhận bao nhiêu đồ đệ thì trong đó chỉ có một đệ tử được chân truyền.

Trong truyện cũng viết, vào đêm khi truyền đạo pháp cho Ngộ Không, Tổ Sư Bồ Đề đã ngâm bài kệ rằng:

“Chữ Đạo rất diệu huyền,
Tu đâu phải chuyện bỡn
Gặp người tốt mới truyền
Nếu không thành nói uổng
Miệng mỏi lưỡi khô phiền!”

Vì biết Ngộ Không là trời đất sinh ra, là người căn cơ phi phàm, nên Bồ Đề Tổ Sư mới bí mật truyền cho phép trường sinh màu nhiệm, sau lại dạy cho 72 phép thần thông biến hoá.

Tôn Ngộ Không và Bồ Đề Tổ sư (cảnh trong phim Tây Du Ký 1986).

Kể từ sau khi tu học nơi Bồ Đề Tổ Sư, Ngộ Không đã có thể đi mây về gió, chứng đắc tiên quả, không chỉ chấn nhiếp các quỷ thần khắp bốn bể nghìn non mà còn kinh động tới thần tiên trên thượng giới.

Thế nhưng, khi càng trở nên thần thông quảng đại, càng được chúng thần kính nể, thì Ngộ Không lại càng trở nên kiêu ngạo hống hách: chê Bật Mã Ôn là chức quan quèn nên tự dựng cờ xưng vương “Tề Thiên Đại Thánh”, ở trên Thiên Đình mà náo loạn thiên cung, trộm đào tiên, uống ngự tửu, lấy cắp tiên đan, giao đấu với Na Tra, đại chiến Nhị Lang Thần, sau cùng lại giở thói ngông cuồng trước mặt Phật Tổ và đòi Ngọc Hoàng Đại Đế phải nhường ngôi cho mình.

Nếu so sánh với Ngộ Không thuở mới tầm sư học đạo thì quả là khác xa. Lúc ấy, đứng trước mặt Tổ Sư Bồ Đề, Ngộ Không từng giới thiệu rằng: “Con không có tính gì cả. Người ta chửi con, con cũng không giận. Người ta đánh con, con cũng không thù, chỉ lễ phép với người ta mà thôi.” Vậy mà giờ đây, khi đứng trước Phật Tổ thì Ngộ Không lại ngang nhiên tuyên bố rằng:

“Luyện được trường sinh nhiều phép thuật
Học tài biến hoá rộng vô biên
Chỉ hiềm hạ giới còn eo hẹp
Lập chí lên trời chiếm Cửu Thiên
Bảo Điện lẽ đâu Trời ở mãi
Nhân gian vua chúa vẫn chia truyền
Ngươi tài làm chủ, nhường ta chứ?
Thế mới anh hùng dám đứng lên.”

Ở đây, có thể thấy rằng kiếp nạn 500 năm dưới Ngũ Hành Sơn không chỉ là báo ứng cho tội danh ‘đại náo Thiên Cung’, mà nguyên nhân sâu xa hơn, chính là do tâm tính Ngộ Không đã rơi rớt xuống phía dưới, không giữ được bản tính thuần thiện lúc ban đầu.

Phật gia giảng rằng, sinh mệnh chân chính của con người là được sinh ra trên thiên giới. Nhưng hễ tâm tính biến đổi không còn tốt nữa, cũng tức là tạo nghiệp, cá nhân ấy sẽ mang nặng tâm phàm mà rơi rớt xuống phía dưới. Không chỉ riêng Tôn Ngộ Không mà từ lai lịch của các nhân vật trong Tây Du Ký chúng ta cũng có thể thấy điều đó: Đường Tăng vốn là Kim Thiền Tử, là đệ tử thứ hai của Phật Thích Ca Mâu Ni, chỉ vì khinh mạn Phật Pháp mà bị đày xuống hạ giới, rốt cuộc phải tu luyện lại từ đầu. Còn Trư Bát Giới thì trêu ghẹo Hằng Nga, Sa Ngộ Tĩnh lỡ tay làm vỡ chén lưu ly, Tiểu Bạch Long phóng hoả đốt viên minh châu – đó đều là tội nghiệp khiến họ bị tước bỏ thần vị, và phải mang thân phàm mà tu luyện mới có thể quay trở về.

Vậy nói đến đây, ta có thể hiểu được ẩn ý của cái tên “Ngũ Hành Sơn”. Đạo gia giảng về âm dương ngũ hành, coi Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ là 5 yếu tố cấu thành nên vạn vật. Nhưng “ngũ hành” dẫu sao vẫn chỉ là vật chất của tam giới chứ không phải nơi thượng giới. Bởi vậy, Ngộ Không bị đè dưới núi Ngũ Hành cũng chính là bị chôn vùi nơi trần thế, bị khống chế trong cái thân xác phàm mà không thể tự tại, tiêu dao…

Tu luyện là để quay trở về

“500 năm bãi bể nương dâu
Tảng đá cứng đã phủ xanh rêu,
phủ xanh rêu…

Chỉ một trái tim người chưa chết
Nhìn lại quá khứ tiêu diêu tự tại,
tiêu diêu tự tại…”

Người ta nói, con người đến nơi trần thế là phải chịu kiếp luân hồi. Luân hồi nghĩa là đời này là người, nhưng đời sau có thể là thực vật, động vật, thậm chí là vật vô giác vô tri. Cũng giống như biển xanh qua tháng năm đằng đẵng mà biến thành ruộng cạn, dẫu kiếp này là anh hùng hào kiệt, là bậc công tử vương tôn, thì ai còn biết rằng kiếp sau có được mang thân người hay không? Vậy mới nói, đời người là bể khổ, hạnh phúc dẫu có cũng chỉ là niềm vui thoáng qua, huy hoàng cả một đời cũng chỉ như ánh đèn loé lên trong phút chốc.

Đời người là bể khổ, khổ nhưng cũng là mê. Con người sống trong mê nên mới chìm đắm trong danh lợi vật chất mà quên mất bản nguyện của mình là phải quay trở về.

Đạo gia giảng rằng, con người đến thế gian không phải vì để làm người, mà là để phản bổn quy chân, quay trở về Thiên giới.

Ở đây không phải chúng ta đang nói điều huyền hoặc, cũng không phải nói chuyện hoang đường, mà là đứng từ góc độ Phật gia và Đạo gia để hiểu về tác phẩm của người tu hành. Ta biết rằng, Ngô Thừa Ân là bậc đại sĩ am hiểu cả Phật và Đạo. Ông viết Tây Du Ký không phải để kể những chuyện thần tiên quỷ quái mua vui cho người đời, mà là thông qua câu chuyện thỉnh kinh của Đường Tam Tạng mà gửi vào đó cả thiên cơ rộng lớn.

Câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào để trở về? Đó chính là tu luyện! Vì tu luyện, mà qua mỗi lần văn minh xuất hiện lại có Đại Giác Giả hạ thế độ nhân. Những bậc giác giả như Giê-su, Lão Tử, Thích Ca Mâu Ni, đã khai sáng cho nhân loại một con đường tu luyện. Nhưng tu luyện không phải là vứt bỏ hết thảy mọi vật chất, không phải là chối bỏ người thân, cũng không phải là chui vào hang động trong núi, cách xa khỏi nơi xã hội con người — âu đó chỉ là phương pháp của một vài pháp môn trong quá khứ, chứ không phải là bản chất của tu hành. Mà bản chất của tu hành thực sự, chính là buông bỏ tâm phàm, cuối cùng đạt tới cảnh giới của bậc trí giả.

Giống như trong hồi 85, khi Ngộ Không nói với Đường Tăng rằng: “Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu, Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu. Nhân nhân hữu cá Linh Sơn tháp, Hảo hướng Linh Sơn tháp hạ tu.” (Phật ở Linh Sơn lọ phải cầu, Linh Sơn trước mắt lại tìm đâu! Ai ai cũng có Linh Sơn tháp, tu ở Linh Sơn đạo rất mầu), Đường Tăng đã trả lời: “Đồ đệ ạ, ta há không biết sao? Nếu theo bốn câu ấy, dù thiên kinh vạn quyển cũng chỉ là tu tâm.”

Tu luyện là thần thánh, tu luyện là thiêng liêng, vậy mà người đời hễ nghe đến “tu luyện” lại lắc đầu coi như điều u mê ngu muội. ‘Thân người khó được, Phật Pháp khó tìm’ [2], nếu bỏ lỡ cơ duyên vạn cổ này thì sẽ là điều ân hận nhất của sinh mệnh. Bởi vậy, khổ thơ cuối cùng của bài hát kết thúc bằng một câu hỏi, giống như lời nhắc nhở cho mỗi chúng ta:

“Đã phí hoài năm tháng,
Mang theo bao hoài bão.
Vì sao mà, vì sao mà,
Ta lại chịu sự an bài này?”

Chú thích:

[1] Ngoài lời bài hát, các trích dẫn trong bài viết lấy từ bản dịch Tây Du Ký của dịch giả Thuỵ Đình, NXB Văn Học (2015)

[2] Trong nguyên tác là: “Nhân thân nan đắc, Trung thổ nan sinh, chính Pháp nan ngộ; toàn thử tam giả, hạnh mạc đại yên” nghĩa là: Thân người khó được, Trung thổ khó sinh, chính Pháp khó gặp; nếu được cả ba điều, thì may mắn lắm thay!

Theo: ĐKN



Tuesday, September 8, 2026

LÊN MÁY BAY CỦA VIỆT NAM PHẢI NÓI TIẾNG ANH ĐỂ ĐƯỢC PHỤC VỤ TỐT HƠN

Bốn năm trước, khi chuẩn bị ra sân bay để từ Đức về Việt Nam, tôi được người tiễn – một Việt kiều định cư ở Đức – dặn đi dặn lại: “Lên máy bay của Việt Nam phải nói tiếng Anh nhé, nhớ đấy!”.


Tôi cự nự, chẳng lẽ mình là người Việt lại đi nói tiếng Anh với người Việt. Chị bảo không riêng gì em, ai chị cũng dặn. Chỉ có nói tiếng Anh mới được phục vụ tử tế.

Chị kể, hồi đầu hai vợ chồng mới làm ăn bên Đức, mỗi khi về Việt Nam phấn khởi quá, cứ thật thà tuôn trào tiếng Việt nên bị phục vụ kém hơn người nước ngoài. “Họ không cười với mình”, chị bảo, “Xin chăn thì họ bảo hết chăn, nhưng ông nước ngoài xin thì họ lại đem ra”. Chị mách nước tôi kinh nghiệm quý báu: “Tiếng Anh tiếng Đức nói nhiều vào”.

Trong bữa cơm với một vài gia đình Việt kiều, tôi nghe họ kể nỗi khổ đi máy bay về Việt Nam. Nào là phục vụ không chu đáo, coi thường khách Việt nhưng lại ngoan ngoãn với khách Tây, vòi vĩnh; chuyện máy bay trễ chuyến, chuyện hành lý thất lạc, mất mát; nhân viên không biết cười, kiệm lời với khách nhưng buôn chuyện với nhau thì rôm rả…

Nhưng ở chiều ngược lại, hàng xóm cạnh nhà tôi là một tiếp viên hàng không xinh đẹp. Cô tâm sự đã trót yêu nghề rồi nên không bỏ chứ “nghề này rất cực”.

Có lần, cô hỏi hành khách: “Chị dùng mì bò hay cơm heo?”. Vị khách cong môi: “Chị dùng cơm người, không dùng cơm heo”. Sau đó, bà ta phê bình tiếp viên một thôi một hồi trước các hành khách khác khiến cô xấu hổ, phải xin lỗi miết. Cô phải viết bản tường trình, bị trừ lương vì khách mách lãnh đạo.


Nhiều lần, cô bị khách nam nhìn khiếm nhã, nói lời thiếu tế nhị, bị họ đòi xin số điện thoại, tất nhiên cô không thể đưa, rồi bị đối xử rất thô thiển. Có người cố tình gạt tay để cà phê đổ vào quần áo rồi vặn vẹo tiếp viên. Đen đủi cho cô nhất là chồng ghen. Anh không chịu nổi việc vợ thường xuyên trang điểm thật đẹp rồi ra khỏi nhà đi làm lúc 5 giờ sáng và thường vắng nhà ban đêm, gia đình họ đổ vỡ. Nhà chồng gán cho cô đủ tiếng xấu vì làm tiếp viên.

Có khoảng 3.700 tiếp viên hàng không đang làm việc cho 3 hãng trên bầu trời Việt Nam. Người hàng xóm của tôi không phải trường hợp quá đặc biệt. Trong ngành rất nhiều người không giữ được hôn nhân lần đầu, một lãnh đạo cấp trung của hãng hàng không đó giải thích cho tôi. Chị bảo, nghề này là nghề phục vụ, nhưng thay vì làm việc trong nhà hàng, khách sạn thì ở trên máy bay.

Họ phải di chuyển và làm việc bất kể giờ giấc, đòi hỏi phải có sức khỏe trong khi phải gìn giữ hình thức và hy sinh nhiều về cuộc sống cá nhân. Vì thế, riêng trong ngành hàng không, chính sách cho phép tiếp viên có thể nghỉ hưu từ 50 tuổi và không cần bất cứ điều kiện gì.

Cứ 10 người Việt Nam thì có 2 người từng đi máy bay. Tỷ lệ này rất thấp so với thế giới và thấp gần nhất khu vực Đông Nam Á, theo một báo cáo ngành hàng không của công ty nghiên cứu VIRAC. Nhưng đó cũng chính là lực đẩy rất mạnh. Từ vị trí vùng trũng, chỉ ba năm trở lại đây, các hãng hàng không không ngừng sắm thêm máy bay khiến Việt Nam trở thành một trong những thị trường mua bán máy bay và tuyển dụng nhân sự cho ngành nhộn nhịp.

Ở Việt Nam, từ năm 2011 đến 2017 tổng lưu lượng khách của thị trường đã tăng 2,6 lần lên 61,2 triệu lượt. Dự báo thị trường đạt 74,5 triệu lượt khách vào năm 2020 – khi dân số khoảng 98 triệu.


Nhưng đi kèm với tốc độ phát triển ấy là các câu hỏi chưa lời đáp về kỹ năng vận hành bay và văn hóa hàng không. Tính ba tháng đầu năm 2018, trung bình mỗi tháng ở Việt Nam có khoảng 3.000 chuyến bay sai giờ. Và hiển nhiên, là những videoclip về hành xử vô lý ở sân bay, từ cả phía nhà cung cấp lẫn người tiêu dùng, ngày càng tăng và dễ trở thành hiện tượng mạng.

Tư duy dịch vụ hàng không nếu chỉ đơn thuần là hô khẩu hiệu, với quảng cáo bông sen nở và giấc ngủ ngon có lẽ là chưa đủ. Người đi máy bay chờ sự cách tân trong vận hành chuyến bay và nét mặt nhân viên để họ tin hãng hàng không đó đã là một “người chơi” toàn cầu.

Chất lượng dịch vụ hàng không tất nhiên cũng không đến từ một phía nhà cung cấp. Cơm heo hay mì bò sẽ không trở thành nghiêm trọng nếu chúng được phục vụ cho một hành khách văn minh.

“Tham gia hàng không chưa bao giờ dễ như bây giờ” – ông chủ của một hãng hàng không mới tuyên bố, kèm khẳng định sẽ cho bay luôn 20 chiếc trong năm nay. Nhưng những thứ dễ tăng trưởng, chưa bao giờ dễ tạo ra sự cân bằng.

(Lưu ý: Bài viết chỉ thể hiện quan điểm cá nhân của người viết)

Theo Vnexpress

Monday, September 7, 2026

KHÁCH KHÍ LÀ MỘT LOẠI ‘BỆNH ĐỘC’ NGUY HIỂM, KHÔNG TRỊ SẼ TỔN HẠI CHÍNH MÌNH

“Khách khí” đôi lúc không có nghĩa là tốt, bạn cần biết từ chối đúng lúc, giúp đỡ người đúng chỗ. Như vậy sẽ không tự mang đến phiền toái cho mình, làm rạn nứt đi các mối quan hệ một cách không đáng.


Từ xa xưa, cổ nhân luôn chú trọng đến đạo lý giữa người với người, bất luận là trong những lời giáo huấn hay những điển cố được lưu truyền, đều dạy chúng ta phải biết khiêm nhường, nghĩ đến người trước rồi mới đến mình.

Thận trọng từ lời nói đến hành động, không tranh không giành với người khác, đã trở thành quy tắc ngầm trong cách đối nhân xử thế của chúng ta. Trong đó có một loại quy tắc ngầm gọi là “khách khí”.

Những người thuộc loại hay ‘khách khí’ này thường được cho là người hiền lành, họ đa số bản tính lương thiện, không nỡ làm tổn thương người khác, luôn đứng ở góc độ của đối phương để cân nhắc vấn đề và luôn nhận những oan ức, khó khăn về mình, đem lại lợi ích và niềm vui cho người khác. Bất cứ chuyện gì cũng không thể cự tuyệt, ngại phải nói đến chữ “không”.

1. Người khác không ngại nói, vậy bạn ngại gì mà không từ chối?

Có một loại người khi tìm người khác giúp đỡ đều thẳng thắn yêu cầu, cũng không cân nhắc là điều đó có thể gây phiền toái hoặc khó xử cho bạn hay không, mà chỉ nghĩ đến cảm nhận của bản thân mình, cho rằng bạn giúp họ là lẽ thường tình, còn không giúp họ là tội ác; bạn giúp họ là lẽ đương nhiên, bạn không giúp họ thì trở thành vô tình vô nghĩa. Thật tình lại không biết rằng, sống trên đời không ai nợ ai, vậy thì tôi giúp bạn là tình nghĩa, không giúp bạn cũng chẳng có gì là sai.

Mấy ngày trước, nhận được điện thoại của Tùng đã lâu không liên lạc, vậy mà câu nói đầu tiên cậu ta chỉ là: “Tiệm XX là của họ hàng nhà ông mở à? Bạn học của tôi hôm nay đến, lấy giá rẻ chút nhé”. Cái khẩu khí này có chỗ nào giống như muốn tìm tôi giúp đỡ chứ? Mà rõ ràng đây giống như mệnh lệnh.

Tôi bất đắc dĩ phải gọi điện cho họ hàng, sắp xếp thỏa đáng, rồi gọi điện báo cho Tùng. Tôi vừa nói xong, nào ngờ cậu ta liền dập máy mà ngay cả một câu cảm ơn cũng không có. Lúc đó trong tâm tôi cảm thấy vô cùng khó chịu, tức giận vì chính mình quá nể nang mà không dám từ chối, không chỉ thiệt hại tiền bạc mà quan trọng là ngay cả một lời cảm ơn cũng không nhận được.

Người không biết cảm ơn, lâu dần sẽ xem sự giúp đỡ của người khác đối với mình là đương nhiên, sự khách khí của bạn chỉ khích lệ cho lòng tham vô đáy của họ. Đối với loại người này bạn không cần phải cân nhắc chuyện tình cảm, mà cần phải quả quyết từ chối, cương quyết nói “không”.

2. Khách khí chính là chết nhục nhã vì sĩ diện

Còn có một loại người, tự nhận là có mối quan hệ tốt với bạn, họ tìm đến bạn để được giúp đỡ, thậm chí người nhà của họ cũng tìm bạn khi họ cần giúp đỡ. Vì tình nghĩa bạn đành phải miễn cưỡng chấp nhận, không ngờ đối phương lại được voi đòi tiên, biến bạn trở thành công cụ đắc lực cho họ khai thác. Bạn bè họ hàng của anh ta, đồng nghiệp, người thân, thậm chí cả cô bảy, dì tám cũng đều được anh ta mang đi nhờ vả.

Anh ta khoe khoang khắp nơi rằng có mối quan hệ thân thiết với bạn, nên rất nhiều việc có thể giải quyết dễ dàng mà không cần đến phí tổn. Nhưng thật tình không biết, trong mỗi lần giúp đỡ của bạn lại ẩn chứa bao nhiêu điều muốn nói nhưng lại thôi.

Nam chính là loại người như vậy. Khi đó tôi còn phụ trách bộ phận bán hàng, anh ấy mua một chiếc xe và nhờ tôi giúp đỡ. Tôi xác định không thể chối từ. Nhưng không lâu sau đó, anh ấy lại đưa người thân đi mua xe hơi, tiếp theo là đồng nghiệp, sau đó là đồng nghiệp của đồng nghiệp, bạn của đồng nghiệp, có lúc còn đưa cả những người không liên quan tới, thật là đủ các thể loại.

Khách khí chính là chết nhục nhã vì sĩ diện. (Ảnh: Pinterest)

Dù là ai đến cũng đều thi nhau cò kè mặc cả, còn dùng đến chiêu bài tình nghĩa, hận là tôi không thể tặng luôn cho anh ta một chiếc xe. Bởi vì ngại tình cảm với Nam, lần nào tôi cũng phải mang vẻ mặt tươi cười, nhưng trong tâm phải suy xét từng li từng tí.

Nhưng buồn cười chính là, Nam không nghĩ rằng những việc đó mang đến phiền phức cho tôi, còn khoe khoang rằng đã giúp tôi kinh doanh, nhiều lần còn muốn tôi mời cơm để cảm ơn anh ta. Tôi thật sự bàng hoàng không nói nên lời.

Cuối cùng có một lần Nam đưa một người bạn đến mua xe, bởi vì tôi không thể đáp ứng yêu cầu quá đáng của anh ta. Từ đó, tôi giống như kẻ đại nghịch bất đạo, có người thân mà không nhận. Nam và tôi dần dần nảy sinh hiềm khích, tình bạn tốt đều cứ thế lần lượt bị sự khách khí của tôi phá hoại, tình nghĩa nhiều năm dần dần ngày càng xa cách.

3. Từ chối người khác không phải là sai, đừng để sự khách khí làm hại bạn

Lúc lên đại học, tôi có quen biết một người bạn và mối quan hệ giữa chúng tôi khá tốt. Một lần người bạn đó nói mẹ mình đang mắc bệnh, nên muốn vay tiền tôi. Bởi không nỡ từ chối, và thật sự muốn giúp đỡ bạn, dù lúc đó tôi vẫn là một sinh viên nghèo, nhưng vẫn lấy tiền sinh hoạt của ba mẹ cho để cứu giúp mẹ của bạn.

Giúp đỡ bạn trong lúc khó khăn là đúng, nhưng khi mọi chuyện ổn rồi, tôi lại ngại hỏi bạn trả tiền cho tôi lại thành ra sai, cũng chỉ bởi hai chữ ” khách khí” và ái ngại mà tự gây khó khăn cho mình.

Rồi những ngày sau đó, bởi vì không dám nói với ba mẹ chuyện tôi dùng phí sinh hoạt cho người ta mượn. Đến lúc đói kém, “giật gấu vá vai” một ngày ba bữa tôi cũng phải tính toán tỉ mỉ, mức sống của tôi cứ thế ngày một thấp xuống, lúc đó mới thật sự cảm nhận được đồng tiền đã làm khó một anh hùng hảo hán.

Nhưng ai ngờ, qua nửa năm, chuyện trả tiền vẫn bặt vô âm tín, mấy lần nhìn thấy cô ấy tôi định hỏi, nhưng bởi vì ngại nói, buột miệng rồi lại nuốt vào, sau đó thì không còn có cơ hội nữa rồi.

Chẳng phải người ta đều nói là những vấn đề cần dùng tiền giải quyết thì không phải là vấn đề hay sao? Nhưng xem ra có thể dùng tiền để kiểm nghiệm tình cảm xem đâu mới là tình cảm chân thành.

Linh từng nói có nhiều cách để phá hoại tình cảm, nhưng loại cuồng phong bão táp có thể nhổ tận gốc tình cảm chính là cho mượn tiền. Trong cuộc sống có bao nhiêu lần vì mượn tiền mà dẫn đến mâu thuẫn, đều không phải bắt đầu vì ngại từ chối hay sao?

4. Khách khí chính là giúp người khác làm chính mình buồn bực

Khi bạn và một người bằng hữu lấy phiếu giường nằm, bạn may mắn lấy được phiếu giường dưới, nên có thể thong thả nghỉ ngơi. Nhưng người chị nằm giường trên lại nói: “Em gái, chị lên xuống bất tiện, em còn trẻ, đi đứng nhanh nhẹn, hai chúng ta đổi chỗ nhé?” Bạn có thể không ngại ngùng mà nói em không đổi, em sợ độ cao, em giành được cái giường dưới này thật không dễ?

Khi bạn kết thúc một ngày làm việc bận rộn, cuối cùng có thể về nhà nghỉ ngơi. Đồng nghiệp lại đưa cho bạn một bản kế hoạch, cười rất thỏa mãn và luôn miệng khen ngợi bạn hành văn tốt. Bạn có thể không khách khí nói tôi mệt, tôi muốn về nhà và thực sự không muốn tăng ca? Nhưng bạn không thể, bởi vì bạn ngại, trong lòng bực tức nhưng chỉ có thể để tới lúc về nhà rồi mới từ từ hạ hỏa.

Bạn có thể không khách khí nói tôi mệt, tôi muốn về nhà và thực sự không muốn tăng ca? (Ảnh: Pinterest)

Lại có ví dụ khác, bạn mua được một quyển sách nổi tiếng nhưng số lượng có hạn, bạn coi như là báu vật trân quý. Có người bạn học đến nhà nói là mượn mấy ngày, mỗi ngày bạn đều luôn nghĩ khi nào sẽ lấy lại được quyển sách, nhưng bạn có thể không khách khí mà đi hỏi? Nhỡ may vì một chút chuyện ấy mà phá hoại đi tình bạn, vậy thì cái nào có lợi hơn?

Dưới ảnh hưởng của khái niệm đạo đức theo phong cách phương Đông, từ những việc nhỏ như nhường ghế trên xe công cộng, đến những việc lớn hơn như quyên góp từ thiện, có bao nhiêu người hiểu rằng tôi giúp bạn đó là tình cảm mà không giúp bạn cũng là đạo lý.

5. Khách khí là một loại bệnh, không trị sẽ hại người

Có lúc, bạn cho rằng sự khách khí là tốt cho người khác, nhưng không ngờ lại có khả năng đem đến tổn thương cho mình và đối phương. Khách khí trở thành con dao 2 lưỡi có thể làm tổn thương người khác và ngay cả chính bản thân mình.

Dù sao cũng đừng để sự khách khí trở thành vật cản trở cuộc sống của bạn, khắc phục tâm lý ngại ngùng, hãy ghi nhớ phương châm 16 chữ: “Phân rõ bạn bè, can đảm từ chối, coi trọng nguyên tắc, tùy sức mà làm”.

Quan hệ giữa người với người càng đơn giản càng tốt, những chuyện bất lực hãy thản nhiên mà từ chối, đơn giản nói “không”.

Tuệ Tâm / Theo: khoahoctamlinh

BÊN TRONG HẦM TRÚ ẨN BỎ HOANG, ĐƯỢC XÂY DỰNG ĐỂ CHỐNG LẠI THẢM HỌA HẠT NHÂN

Ở Croatia, có một căn cứ quân sự cũ với hầm trú ẩn được xây dựng để có thể giúp con người sống sót trong trường hợp xảy ra một vụ nổ bom hạt nhân.

Khu vực đường hầm lớn dẫn vào bên trong khu căn cứ Zeljava (Ảnh: GEO).

Nằm ở biên giới giữa Croatia với Bosnia và Herzegovina, hầm trú ẩn Zeljava là một trong những khu phức hợp quân sự lớn nhất châu Âu. Nó được quốc gia Nam Tư cũ xây dựng vào năm 1957 để chống chọi, bảo vệ con người trong trường hợp xảy ra một vụ nổ bom hạt nhân.

Hiện tại hầm trú ẩn và sân bay Zeljava đang bị bỏ hoang, nó được coi là những địa điểm nguy hiểm, do chúng chứa mìn. Song một số khách du lịch vẫn mạo hiểm tham quan địa điểm này nhằm tìm kiếm cảm giác mạnh.

Chống lại bom nguyên tử

Căn cứ không quân này được xây dựng với mật danh Objektav 505 hoặc Klek. Nó nằm sâu trong núi Gornja Plješevica.

Nhiều nguồn tin chỉ ra, địa điểm quân sự này là một trong những cơ sở hạ tầng đắt đỏ nhất ở Nam Tư cũ. 

Đường hầm nhỏ dẫn vào các phòng làm việc trong khu căn cứ quân sự Zeljava (Ảnh cắt từ clip).

Theo Total Croatia News, chi phí xây dựng khu căn cứ quân sự này ước tính khoảng 6 tỷ đô la. Nó chứa những công nghệ tiên tiến và những vũ khí có sức mạnh bậc nhất thời điểm đó.

Căn cứ quân sự này có 5 đường băng cất/hạ cánh và 3km đường hầm. Cấu trúc của nó được thiết kế đặc biệt, mục đích chống lại bom nguyên tử trong Chiến tranh Lạnh.

Các phương tiện truyền thông Croatia hé lộ, hầm Zeljava có đủ không gian để chứa gần 120 máy bay cùng phi hành đoàn cũng như cung cấp đủ nguồn điện, nước, nhiên liệu, thực phẩm và thuốc men.

Bên ngoài khu căn cứ quân sự Zeljava (Ảnh: GEO).

Do đó, nó cho phép quân đội tồn tại trong nhiều tháng trong trường hợp xảy ra một thảm họa hạt nhân. Tuy nhiên, bên ngoài Zeljava gần như bị phá hủy hoàn toàn sau sự tan rã của Nam Tư cũ vào năm 1992 và nó bị bỏ hoang trong Chiến tranh Serbia-Croatia.

Địa điểm du lịch mới?

Mặc dù phần lớn các tòa nhà bên ngoài đã bị phá hủy, nhưng cơ sở ngầm Klek gần như còn nguyên vẹn. Một số khu vực bên trong rơi vào tình trạng rất kém, tiềm ẩn nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào. 

Máy bay Douglas C-47 bị bỏ hoang trong khu căn cứ quân sự Zeljava (Ảnh: GEO).

Tuy nhiên, sở thích mạo hiểm dường như đã thúc đẩy nhiều nhà thám hiểm, ngày càng có nhiều khách du lịch mong muốn khám phá địa điểm độc đáo có bề dày lịch sử này.

Một trong những điểm tham quan thú vị nhất ở Zeljava là chiếc Douglas C-47 cũ, một chiếc máy bay được sử dụng rộng rãi trong Thế chiến thứ hai. Theo báo cáo của Total Croatia News, công ty hiện cung cấp các chuyến tham quan có hướng dẫn kéo dài một ngày để khám phá căn cứ không quân cũ với chi phí là 75 euro/người.

Khách du lịch sẽ được trải nghiệm và đắm mình vào một phần nhỏ trong lịch sử của Croatia.

Đoàn Trung Nam / Theo: Dân Trí

Sunday, September 6, 2026

"NGŨ ĐẠI DANH SỨ" NỔI TIẾNG TRIỀU ĐẠI NHÀ TỐNG

Ngũ đại danh sứ thời Tống đã chính thức khai sáng một kỷ nguyên mới trong thời đại đồ sứ. Trên thực tế, trước thời nhà Tống, hầu hết các dụng cụ nấu nướng hay trang trí đều được làm từ gốm, chỉ là những chủng loại khác nhau. Vì thế mới nói, ngũ đại danh sứ là sự xuất hiện đúng nghĩa của thời đại đồ sứ.


Khi nói đến ngũ đại danh sứ, bắt đầu từ hoàng thất Minh triều đã cất giữ cuốn “Tuyên Đức đinh di phổ”: Bên trong kho cất giữ nhữ, quan, ca, quân, định tên của 5 loại đồ sứ, kiểu dáng tao nhã, như một bức tranh. Trong “Ẩm lưu trai thuyết diêu” thời Thanh có nói: “Người hoa sáng tạo sứ gồm ba thời kỳ lớn: thời Tống, thời Minh, thời Thanh. Thời Tống có ngũ đại danh sứ bao gồm nhữ, quan, ca, quân, định. Cực kỳ trân quý.”

Văn hóa nghệ thuật nhà Tống trong xã hội Trung Hoa cổ đại được cho là có trình độ tuyệt hậu. Tống sứ trở thành nhân vật chính của nền văn hóa nhà Tống, nó được coi là một đóa hoa mỹ kỳ ba (kỳ ba: đặc sắc). Trong thương mại mậu dịch với nước ngoài, Tống sứ trở thành một thương hiệu hàng hóa nổi tiếng trên thị trường thế giới. Nhà Tống có sự phân chia khu vực đồ sứ, theo các lò nung phía bắc và phía nam hoặc phân theo quan sứ và dân sứ.

Nhữ sứ (Ảnh: npm.gov)

Quan sứ chính là những đồ sứ được dùng trong những người nắm quyền hành, quan chức của quốc gia, đặc biệt là hoàng thất sử dụng. Cái gọi là dân sứ cũng là chỉ dân gian làm đồ sứ. Quan sứ bất kể từ giá vốn đến kỹ thuật sản xuất, công nghệ tinh mỹ tuyệt luân đều được giữ bí mật, nó trở thành trân phẩm hiếm thế. Mà dân sứ lúc ấy sản xuất, người ta chủ yếu xem trọng giá trị sử dụng, sản xuất cần cân nhắc giá vốn, vật liệu không được chú trọng giống quan sứ, nhưng cũng không phải không có sản phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp. Phân theo màu sắc cũng như kỹ thuật nung, đồ sứ thời Tống gồm có năm loại: nhữ, quan, quân, ca, định.

Nhữ sứ

Nhữ sứ là sứ được dùng cho hoàng thất, thuộc về quan sứ, đó được chế tạo vào thời kỳ Tống Huy Tông, chỉ được sản xuất trong vòng 20 năm. Ngoài ra trong lúc đó cũng xuất hiện một loại sứ nổi tiếng ở dân gian, gọi là Nhữ Diêu sứ. Đây là đồ sứ nằm ở tỉnh Hà Nam, màu sắc chủ yếu có màu thiên thanh, thiên lam, hồng phấn nhạt, xanh nhạt v.v. Tầng của sứ mỏng mà oánh nhuận, rạng rỡ. Không có những sợi nhỏ hay hoa văn.

“Vũ quá thiên tình vân phá xử”
(mưa qua phá vỡ trời thanh)

“Thiên phong bích ba thúy sắc lai”
(ngàn đỉnh sóng biếc xanh tới)

Đó là hai câu thơ để miêu tả về vẻ đẹp của Nhữ sứ. Thế nhân xưng là “tự ngọc, phi ngọc, nhi thắng ngọc” (tựa như ngọc mà không phải ngọc, mà hơn cả ngọc).

Nhữ sứ (Ảnh: npm.gov)

Nhữ sứ (Ảnh: dw)

Quan sứ

Quan sứ trong ngũ đại danh sứ là một loại sứ dó quan phủ điều hành sản xuất. Cũng là một đồ sứ được sản xuất cho cung đình trong thời kỳ nhà Minh, nhà Thanh. Trong thời nhà Tống nó được phân thành hai đơn vị là Nam Tống quan sứ và Bắc Tống quan sứ. Thời Nguyên nó được gọi là “khu phủ sứ”, trong thời nhà Minh và nhà Thanh nó được đặt theo tên và năm của vị hoàng đế, chẳng hạn như “Tuyên Đức sứ”, “Thành Hóa sứ”, “Khang Hy sứ” v.v.

Quan sứ thời Tống nổi bật tinh tế, cổ khí dồi dào, được coi như một viên ngọc. Quan sứ chuyên dùng cho hoàng gia sử dụng, được ngự từ năm cuối Tống Huy Tông, quyền thần dòng dõi quý tộc cũng chỉ có thể ngắm từ xa than thở, có thể thấy mà không thể dùng. Vì thế mà nó quý phái và quý hiếm đến vậy.

Quan sứ (Ảnh: sns.91ddcc)

Quan sứ (Ảnh: blog.xuite)

Ca sứ

Màu sắc phôi đất của Ca sứ chủ yếu là màu đen, xám đen, xám nhạt hoặc thổ hoàng v.v.. Các men tất cả đều lấy màu sắc u tối, xanh xám làm chủ. Những khí vật thường được chế tạo là lô hườn, bình, chén, đĩa, đồ rửa bút lông. Ca sứ có phẩm chất tốt, chế tạo tinh xảo, cũng chủ yếu được đưa vào cung đình làm vật phẩm, khác xa với dân sứ.

Truyền lại rằng Ca sứ không được thấy khi khai quật mộ hoàng thất thời Tống, những người nghiên cứu cho rằng Ca sứ thuộc về sự sở hữu của các đại quan. Từ lâu nay mọi người chủ yếu căn cứ vào văn hiến ghi lại cùng những văn vật truyền đời mới tiến hành nghiên cứu. Họ tìm ra được hai lò nung sản xuất Ca sứ, một lò nung được phát hiện trên Quy Sơn, Hàng Châu, một lò thuộc lò nung của quan sứ trong nội cung.

Ca sứ (Ảnh: m.life)

Ca sứ (Ảnh: blog.91ddcc)

Quân sứ

Lò nung của Quân sứ nằm ở thành phố Vũ Châu, Hà Nam. Danh tiếng của nó được ví như “Dẫu có gia tài vạn quán không bằng Quân sứ một mảnh”. Đây là đồ sứ quốc bảo độc hữu tại Thần Hậu Trấn, Vũ Châu. Nó theo hình dáng phong cách cổ xưa, công nghệ tinh sảo, có sự kết hợp men sứ cùng màu sắc độc đáo, “hồ quang sơn sắc, vân hà sương lộ”, ngoài ra còn kết hợp với đồ hình nhân thú, hoa điểu, cá lặn vô cùng kỳ diệu ý vị.

Quân sứ (Ảnh: blog.sina)

Quân sứ (Ảnh: guwanch)

Quân sứ (Ảnh: guwanch)

Định sứ

Định sứ được nặn tại thôn Gian Tư, Khúc Dương, Hà Bắc, hay còn có tên cổ là Định Châu. Được chế đốt vào triều đại nhà Đường, đến thời nhà Tống mới thịnh vượng. Nó được biết đến với những đồ sứ trắng, kiêm với nung cháy men đen, trong văn học chia làm “hắc định”, “tử định” và “lục định”.

Khi ở thời Đường chủ yếu sản xuất chén, đến thời Tống mới phát triển thêm sản xuất đĩa, bình, hộp. Các loại bình Định sứ có phôi thai mỏng nhẹ nhưng khi nung đôt lên rất cứng rắn, sắc trắng noãn, không quá trong suốt.

Định sứ (Ảnh: xuehua)

Định sứ (Ảnh: blog.sina)

Các kỹ thuật trang trí chủ yếu là ấn hoa hoặc ấn bằng sơn kim. Việc in ấn chủ yếu bao gồm hoa, chủ yếu là hoa sen, hoa cúc, hoa mẫu đơn,… Ngoài ra còn có in động vật như chuồn chuồn, rồng và phượng hoàng, sư tử,… Hình ảnh là nghiêm ngặt và đối xứng, Định sứ men trăng in ấn cố định luôn được coi là một kho báu trong nghệ thuật sứ.

Vào đầu triều đại Bắc Tống, Định sứ được khắc hoa, cấu đồ và văn dạng đơn giản, những cánh hoa sen được trang trí chủ yếu. Các tác phẩm điêu khắc ở giữa và cuối triều đại Bắc Tống được trang trí tinh xảo và độc đáo. Sử dụng một công cụ giống như lược răng hoặc răng đôi, hình ảnh đối tượng bao gồm các đường chính sâu và nông và các đường phụ trợ được khắc, sống động và tự nhiên, với cảm giác lập thể rõ ràng.

Theo: sohu.com



BA LOẠI KHÍ CHẤT MÀ NGƯỜI CÓ ĐỨC LỚN ĐỀU CÓ

“Khí” là một loại năng lượng vô hình có thể ảnh hưởng đến vận mệnh, tâm trạng và thậm chí cả phản ứng của những người xung quanh đối với một người. Người xưa quan niệm, những người có Đức lớn thường toát ra ba loại “khí” đặc biệt.


Trong văn hóa phương Đông, chúng ta thường nghe đến từ “khí chất”. Nó không chỉ là biểu hiện bên ngoài của một người mà còn là sự phản ánh nội tâm và trạng thái tinh thần của người đó.

Nhiều người có Đức lớn, thường tỏa ra một loại “khí” đặc biệt. Loại khí này không phải là mê tín mà là một loại trí tuệ và phong thái sống, bắt nguồn từ cảnh giới bình yên và hành vi tốt đẹp của họ.

Hãy cùng tìm hiểu ba loại “khí” mà những người thực sự có Đức lớn thường có.

Hòa khí – Nguồn gốc của phúc lành

“Kinh Dịch” có câu: “Nhu nhược thắng cương cường”. Hòa khí là nguồn gốc của phúc khí. Những người thực sự có Đức lớn thường là những người ôn hòa, khoan dung và thân thiện.

Chính vì vậy, những người hòa nhã thường có nhiều người sẵn sàng giúp đỡ, nhận được sự ủng hộ của xã hội và gia đình. Và loại “hòa khí” chứa đựng năng lượng tích cực này chính là gốc rễ phúc báo của họ.

Trong cuộc sống, chúng ta có thể đã từng gặp những người lớn tuổi như vậy: Dù trải qua bao nhiêu sóng gió, họ vẫn luôn bình tĩnh, đối xử với mọi người nhẹ nhàng như gió xuân. Họ không bao giờ tiếc một nụ cười, không bao giờ phàn nàn về cuộc sống mà ngược lại thường mang đến cho người khác sự khích lệ và giúp đỡ.

Những người này thường có Đức rất lớn, đi đến đâu cũng gặp may mắn.


Chính khí – Nền tảng của phúc báo vững bền

Mạnh Tử từng nói: “Trời muốn giao trọng trách cho người nào, ắt phải làm cho họ khổ tâm, mỏi gân cốt, đói da thịt”.

Chỉ những người đã trải qua thử thách và kiên trì giữ vững Chính Đạo mới có thể nhận được sự bảo hộ của Trời cao. Và chính khí, chính là một trong những phẩm chất bên trong của những người này.

Nếu một người sống ngay thẳng, tốt bụng, hành động quang minh lỗi lạc, không mưu cầu lợi ích bất chính thì người đó có thể đứng vững trong giông bão, cuối cùng nhận được những món quà từ cuộc sống.

Phúc báo thực sự không phải là vận may nhất thời mà là Đức độ sâu dày tích lũy được nhờ chính khí.

Xung quanh chúng ta, luôn có những người hành động công bằng, lời nói chân thành, đối xử với mọi người chân thật. Trong lòng họ có một cảm giác công lý không thể lay chuyển, và trong mỗi lựa chọn, họ không bao giờ đi lệch khỏi niềm tin mà mình kiên trì.

Ngay cả khi đối mặt với cám dỗ, họ cũng không dễ dàng từ bỏ nguyên tắc của mình, luôn giữ tâm thái sáng suốt. Chính khí như vậy không chỉ giúp họ an lòng mà còn thu hút cho họ nhiều quý nhân và cơ hội hơn.


Tĩnh khí – Bí quyết thu hút vận may

“Tĩnh lấy tu thân, kiệm lấy dưỡng đức”. Đây là lối sống mà các nhà triết học phương Đông cổ đại đề xướng. Tĩnh khí là chỉ một người có thể giữ được sự bình tĩnh và tập trung trong nội tâm, tránh xa những xáo trộn và phù phiếm của thế tục.

Những người có Đức lớn thường tỏa ra một luồng tĩnh khí. Khí chất này là kết quả của quá trình chiêm nghiệm và cảm ngộ được sâu sắc quy luật của thế gian.

Tĩnh khí trong cuộc sống không phải là sự thụt lùi tiêu cực mà là một thái độ sống được lựa chọn chủ động.

Ví dụ, một số người ở độ tuổi trung niên dù sở hữu khối tài sản phong phú và địa vị xã hội nhưng họ không bao giờ vội vàng khoe khoang, luôn sống giản dị. Và họ có xu hướng quan tâm và giúp đỡ người khác theo cách riêng của mình hơn là quá quan tâm đến được mất của bản thân.

Phong thái ung dung tự tại này chính là nguyên nhân cơ bản khiến họ liên tục thu hút may mắn và phúc khí. Cũng bởi đời người trải qua rất nhiều thăng trầm nên mới càng lưu lại nhiều tĩnh khí.

Cổ ngữ có câu: “Tu tâm dưỡng tính”. Phúc Đức thực sự không phải từ trên trời rơi xuống mà bắt nguồn từ hòa khí, chính khí và tĩnh khí bên trong một người. Ba loại “khí” này không chỉ là trí tuệ sống mà còn là một sức hút vô hình, có thể giúp chúng ta tích lũy phúc Đức phi thường trong cuộc sống bình dị.

Dù ở trong hoàn cảnh nào, chỉ cần giữ được sự ôn hòa, ngay thẳng và tĩnh lặng trong tâm hồn thì vận may sẽ lặng lẽ đến. Những người sở hữu những “khí” này chắc chắn sẽ sống ngày càng thuận lợi, ngày càng tốt đẹp hơn trong những ngày tháng sắp tới.

Mong rằng bạn luôn giữ được hòa khí, chính khí và tĩnh khí trong tâm hồn, phúc khí luôn đồng hành, cuộc sống bình an trong những năm tháng sau này.

Theo: Diệp Anh
An Hậu Biên Tập