Thursday, October 22, 2026

MỘC LAN HOA - TIỀN DUY DIỄN


Mộc lan hoa

Thành thượng phong quang oanh ngữ loạn.
Thành hạ yên ba xuân phách ngạn.
Lục dương phương thảo kỷ thời hưu,
Lệ nhãn sầu trường tiên dĩ đoạn.

Tình hoài tiệm biến thành suy vãn.
Loan kính chu nhan kinh ám hoán.
Tích niên đa bệnh yếm phương tôn,
Kim nhật phương tôn duy khủng thiển.


木蘭花 - 錢惟演

城上風光鶯語亂
城下煙波春拍岸
綠楊芳草幾時休
淚眼愁腸先已斷

情懷漸變成衰晚
鸞鏡朱顏驚暗換
昔年多病厭芳尊
今日芳尊惟恐淺


Mộc lan hoa 
(Dịch thơ: Châu Hải Đường)

Cảnh sắc trên thành oanh hót rối;
Khói sóng chân thành xuân vỗ gọi.
Cỏ thơm dương biếc thuở nào nguôi;
Mắt lệ lòng sầu đà đứt nhói.

Tâm tình dần đã nên già cỗi;
Thảng thốt soi gương nhan sắc đổi.
Thuở xưa nhiều bệnh rượu không ưa;
Nay rượu riêng hiềm sao ít ỏi!


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tiền Duy Diễn 錢惟演 (962-1034) tự Hy Thánh 希聖, người Lâm An (nay thuộc Hàng Châu, Chiết Giang), là một thi nhân và chính trị gia đời Bắc Tống. Ông là cháu đời thứ 14 của Tiền Thục 錢俶, lãnh tụ Tây Côn thể.

Nguồn: Thi Viện



VIẾT CHO AI?


Người cầm bút viết cho ai? Thì cho người đọc! Câu trả lời thật đơn giản. Tưởng không ai có thể nói điều gì khác hơn được. Nhưng vấn đề sẽ trở thành vô cùng phức tạp nếu chúng ta hỏi tiếp: Người đọc là ai?

Phức tạp vì thật ra không có cái gọi là người đọc chung chung và muôn thuở. Khái niệm "người đọc" chỉ là một cái gì rất mới, một sản phẩm của xã hội hiện đại, hơn nữa, ngay trong xã hội hiện đại, khái niệm "người đọc" cũng chỉ là một khái niệm hàm hồ, và vì tính chất hàm hồ ấy, nhiều người đã lợi dụng nó cho những trò chơi đầy gian lận.

Note: hình ảnh trong bài viết này là minh họa

Xin đừng quên là ở Việt Nam, trước thế kỷ 20, do sự kiểm soát của vua chúa quá nghiêm ngặt, do điều kiện kỹ thuật lạc hậu, do nền kinh tế nghèo nàn và cũng do nhiều yếu tố tâm lý và văn hoá khác, số lượng tác phẩm được khắc in rất hiếm. Có, nhưng hiếm. Cũng có cả trường hợp người ta mang tận sang Trung Quốc để thuê in nhưng trường hợp ấy lại càng hiếm. Hình thức tồn tại phổ biến nhất của các tác phẩm văn học, dù bằng chữ Nôm hay chữ Hán, là dưới dạng viết tay. Tất cả tác phẩm của những cây bút được xem là đại thụ của văn học Việt Nam thời trung đại, từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du, từ Đoàn Thị Điểm đến Hồ Xuân Hương, đều được viết tay. Những bản khắc in mà chúng ta sưu tầm được hiện nay thường xuất hiện rất muộn sau khi tác giả đã mất. Muộn có khi đến cả mấy thế kỷ.


Người ta làm gì với các bản viết tay ấy? Thường là để tặng bạn bè hoặc "để ở nhà thờ", tức là để cho con cháu chuyền cho nhau đọc. Hoạ hoằn cũng có trường hợp người ta dâng lên vua chúa, chắc là với hy vọng sẽ được lọt vào mắt xanh của vua chúa, từ đó, may ra, được trọng dụng hoặc được triều đình tài trợ cho việc khắc in. Nhưng dù thế nào đi nữa thì số người thực sự đọc các tác phẩm viết tay ấy cũng vô cùng ít ỏi. Ít ỏi đến độ không thành một "giới", như chữ "giới độc giả" chúng ta hiện đang dùng.

May mắn, phần nhiều những người đọc ít ỏi ấy lại là những người ưu tú trong xã hội thời bấy giờ. Do vị thế xã hội, chính trị và văn hoá của họ, những người đọc ấy có thể tác động đến quần chúng, những người chỉ nghe tác phẩm, hoặc thậm chí, chỉ nghe-nói-về-tác-phẩm, để tác phẩm ấy dần dần trở thành một thứ tài sản văn hoá của cả xã hội và của lịch sử. Có thể nói hầu hết những tác giả trung đại còn lưu danh đến ngày nay chủ yếu là nhờ sự "tiến cử" của số người đọc ít ỏi này. Chứ không phải là quần chúng. Chẳng có quần chúng nào được đọc những Ức Trai thi tập hay ngay cả Quốc âm thi tập lúc Nguyễn Trãi còn sống. Cũng chẳng có quần chúng nào được đọc những Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục hay ngay cả Truyện Kiều lúc sinh thời của Nguyễn Du. 

Một phần vì họ không biết chữ. Phần khác, ngay cả khi họ biết chữ, họ cũng không đọc được: không phải ai cũng có cơ hội cầm được trong tay những bản chép tay hiếm hoi ấy. Do đó, thời trung đại, quần chúng bao giờ cũng là những kẻ đến muộn, khi mọi giá trị đã được khẳng định một cách chắc chắn. Nói cách khác, quần chúng chỉ biết những tác giả ĐÃ nổi tiếng rồi mà thôi.


Độc giả, với tư cách một tầng lớp xã hội cũng như với tư cách một trong những thành tố quan trọng làm nên sinh hoạt văn học chỉ thực sự xuất hiện khi ngành báo chí và xuất bản đã phát triển. Khi thơ văn trở thành một thứ hàng hoá, người đọc mới có cơ hội làm một thứ khách tiêu thụ, những người, thứ nhất, có thói quen đọc sách khá đều đặn, ít nhất trong một thời gian nào đó; thứ hai, giữ một khoảng cách nhất định với tác giả, chỉ tiếp xúc với tác phẩm và, trong phần lớn các trường hợp, thưởng thức tác phẩm như một công trình nghệ thuật thuần tuý. Một tầng lớp độc giả như thế chỉ có thể thực sự ra đời tại Việt Nam vào đầu thế kỷ 20.

Trong mấy thập niên đầu, khối độc giả ấy tương đối thuần nhất. Trong khi chưa có những tài liệu xã hội học văn học cụ thể, chỉ dựa vào những kiến thức lịch sử và văn hoá chung chung, chúng ta cũng có thể hình dung đại khái diện mạo của tầng lớp độc giả mấy chục năm đầu tiên của thế kỷ 20, như độc giả của Tản Đà chẳng hạn, như sau: đại đa số đó là những công chức cấp trung từ quận, huyện lên đến tỉnh, thành; đó cũng là những trí thức đã học chữ Hán một thời gian rồi sau đó chuyển sang học tiếng Pháp và chữ quốc ngữ; những người ở buổi giao thời của hai nền văn hoá Đông và Tây. Họ có chút vốn Hán học đủ để có thể cảm thụ những tác phẩm được sáng tác theo hệ mỹ học của thơ Đường, thơ Tống; hơn nữa, để tự xem mình không phải chỉ là kẻ tiêu thụ mà còn là một thứ tri âm của tác giả, từ đó, dẫn đến những hành động liên tài đầy ưu ái như hành động của nhiều người đối với Tản Đà. Họ lại có chút vốn Tây học để dễ dàng đồng cảm và ủng hộ một số tìm tòi, từ phương diện thể loại đến phương diện ngôn ngữ và tư tưởng của các tác giả hiện đại như Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, v.v...


Độc giả thuộc thế hệ 1932-45 cũng tương đối thuần nhất. Hầu hết đó là những thị dân và trí thức. Dù thuộc giới nào thì họ cũng đều khá trẻ. Tôi cho đây là một sự may mắn lớn cho nhóm Tự Lực văn đoàn và phong trào Thơ Mới. Nói cách khác, theo tôi, lý do chính khiến nhóm Tự Lực văn đoàn và phong trào Thơ Mới thành công một cách dễ dàng và nhanh chóng trong việc đánh bại nền văn học cũ không phải chỉ ở tài năng của họ mà còn nhờ họ gặp được một tầng lớp độc giả lý tưởng. Đó là những người đang hăm hở với cái mới và đã từng ít nhiều được làm quen với cái mới qua các tác giả hiện thực và lãng mạn chủ nghĩa trong văn học Pháp thế kỷ 19 từ trong ghế nhà trường. Với một kiến thức văn học và một quan điểm mỹ học như thế, họ không hề có chút ngỡ ngàng gì khi tiếp cận với các tác phẩm được xem là cách mạng của các cây bút tiên phong thời bấy giờ ở Việt Nam. Họ yêu thích ngay cái vẻ lẳng lơ táo bạo của Thế Lữ, sự cuồng nhiệt mang dáng dấp Tây phương của Xuân Diệu, sự phê phán gay gắt của Nhất Linh và Khái Hưng đối với chế độ đại gia đình và lễ giáo phong kiến, lời kêu gọi theo mới, "hoàn toàn theo mới không chút do dự" của Hoàng Đạo, v.v...


Có thể nói các cây bút tiên phong thời 1932-45 không cần chinh phục độc giả: những người vốn là những độc giả của Hugo, của Lamartine, của Baudelaire trong các nhà trường trung học theo chương trình giáo dục của Pháp đã chờ đợi sẵn để làm những độc giả nhiệt thành của các cây bút Việt Nam. Sự đồng cảm gần như tức khắc giữa các tác giả và độc giả của họ thời 1932-45 là sự đồng cảm của những người học cùng một thầy, cùng được trang bị một số tiền đề văn hoá và thẩm mỹ khá giống nhau. Họ đã là những tri âm của nhau ngay cả trước khi động tác đọc được khởi sự.

Các thế hệ cầm bút sau này không còn bao giờ được hưởng những sự may mắn như thế nữa.

Như thế hệ nhà văn sau năm 1954 ở cả hai miền Nam và Bắc, chẳng hạn. Ở cả hai miền, sau năm 1954, chương trình giáo dục các cấp đều được Việt hoá. Sự thay đổi này là điều hoàn toàn hợp lý. Người ta không thể phản đối và cũng không nên tiếc nuối. Tuy nhiên, ngay cả khi rất mực hợp lý, sự thay đổi ấy cũng có cái giá của nó. Ví dụ, trong bộ môn văn học, tuy học sinh và sinh viên có cơ hội đào sâu hơn về văn học Việt Nam, nhưng kiến thức về văn học thế giới, cụ thể là văn học Pháp, sẽ mỏng hẳn đi. Hậu quả là, thứ nhất, học sinh và sinh viên - và cũng là người đọc nói chung - thường biết khá kỹ về văn học trong quá khứ nhưng lại rất lờ mờ và đầy hoang mang đối với nền văn học đương đại; thứ hai, từ đó, người đọc luôn luôn đi sau giới sáng tác, nhất là những người sáng tác có nhiều khát vọng cách tân, thích phiêu lưu vào các sự tìm tòi và thử nghiệm mới mẻ. Điều này, theo tôi, có thể là nguyên nhân chính làm cho một số cây bút tiên phong của Việt Nam trong nửa thế kỷ vừa qua cảm thấy khá lạc lõng và vì cảm giác lạc lõng ấy mà hầu hết, kẻ sớm người muộn, dần dần bỏ cuộc.


Độc giả Việt Nam sau năm 1954 không những bị đánh mất cơ hội song hành với những cây bút tiên phong mà còn bị phân hoá nghiêm trọng. Phân hoá về tuổi tác: nhờ các phong trào xoá nạn mù chữ, nhờ chính sách cưỡng bách giáo dục và nhờ hệ thống phát hành cũng như hệ thống thư viện được mở rộng, độc giả không còn dừng lại ở lứa tuổi thanh niên hay trung niên như thời 1932-45 mà xê xích từ chín, mười tuổi đến bảy, tám chục tuổi. Phân hoá về tầng lớp xã hội: cũng nhờ các yếu tố kể trên, độc giả văn học hiện nay không phải chỉ giới hạn ở thành thị và trong giới tiểu tư sản mà còn mở rộng đến nông thôn, lan xuống tận những thành phần bần cùng nhất. Ngoài ra, còn có sự phân hoá về văn hoá: xưa, chúng ta chỉ chịu ảnh hưởng văn hoá của Trung Hoa, sau, của Pháp; hiện nay, ngoài hai nền văn hoá ấy, một số không ít độc giả còn chịu ảnh hưởng của Nga, của các xứ Đông Âu và các quốc gia nói tiếng Anh, v.v...

Sự phân hoá trầm trọng ấy làm cho khái niệm "độc giả" trở thành rộng rãi đến độ vô nghĩa. Làm thế nào để chữ "độc giả" có thể bao gồm cả một em bé ngồi đọc truyện tranh với một ông lão miệt mài bên cạnh các trang sách Hán Nôm? một chị bán vải ngoài chợ khi nào rảnh thì đọc tiểu thuyết khi nào khách tới thì nhét cuốn tiểu thuyết xuống đít với một người để hết cả tâm hồn của mình vào âm vang của từng chữ, vào sự chuyển động của từng hình ảnh trong thơ? một người lâu lâu mới đọc một cuốn sách và cũng chỉ đọc một cách ơ hờ với một kẻ nghiền ngẫm cả hàng ngàn cuốn sách và mỗi lần đọc là một lần nghĩ ngợi, đào sâu, so sánh, cân nhắc? Tất cả hầu như chỉ giống nhau ở mỗi một động tác: đọc. Là hết. Còn cách đọc của họ, mục tiêu đọc của họ, những sự tương tác xuất hiện trong quá trình đọc của họ, mức độ cảm thụ của họ thì khác hẳn nhau.


Sự phân hoá của khái niệm độc giả cũng làm cho không người nào còn có thể hy vọng trở thành thần tượng của mọi độc giả được nữa. Không ai có thể làm thoả mãn mọi thị hiếu và mọi trình độ thẩm mỹ của khối đông đảo lên đến cả mấy chục triệu người gọi là "độc giả" Việt Nam hiện nay. Thành ra, trong thời đại hiện nay, nhà văn nào cũng là nhà văn của một giới độc giả nhất định: ví dụ, có người viết cho thiếu nhi; có người viết cho người lớn. Cho người lớn, có người nhắm vào những độc giả chỉ đọc để giết thì giờ; có người nhắm vào những độc giả đọc vì một nhu cầu thẩm mỹ.

Viết cho hạng độc giả thích những lý tưởng thẩm mỹ ổn định không khó. Những lý tưởng thẩm mỹ ấy đã thành quy phạm và khuôn sáo rồi. Người ta chỉ cần có chút tài hoa để mô phỏng một bậc thầy nào đó. Người đọc thích những câu thơ tình tứ và mộc mạc như ca dao ư? Thì họ mô phỏng theo thơ Nguyễn Bính. Người đọc thích những tiểu thuyết vạch trần những mặt trái xấu xa dơ dáy của hiện thực ư? Thì họ mô phỏng theo cách viết của Nguyễn Công Hoan hay Vũ Trọng Phụng. Vân vân. Cứ thế, để tiếp cận được với hạng độc giả này, người cầm bút phải quá giang các tác giả lớn thời trước.

Quá giang Nguyễn Du rồi quá giang Xuân Diệu. Quá giang Nhất Linh rồi quá giang Nam Cao. Có điều, con đường đến với hạng độc giả này cũng là con đường đi ngược về quá khứ. Về một thời đã qua.

Như vậy, người cầm bút không thể viết cho toàn thể người đọc, cho "độc giả" nói chung. Đó là điều bất khả. Người cầm bút cũng không nên ăn theo những độc giả của người khác. Đó là con đường rất ít tính sáng tạo. Người cầm bút chỉ có một con đường để lựa chọn: viết cho những độc giả của mình.

Nhưng những độc giả ấy ở đâu? Không ai biết chắc cả. Họ không có sẵn như một lực lượng. Họ rải rác đâu đó, nằm mai phục trong đám đông vô danh và vô hình. Họ được tập hợp một cách tự động và tự phát theo tín hiệu phát ra từ một tác giả nào đó mà họ cho là đồng điệu.


Lịch sử văn học, nhìn từ một góc độ nào đó, một phần là lịch sử vận động của các nhóm độc-giả-đồng-điệu như thế. Sự tồn tại của một tác phẩm lớn không phải chỉ là sự chiến thắng của một tài năng sáng tạo mà còn là sự chiến thắng của một hệ thẩm mỹ, và đồng thời là sự chiến thắng của một nhóm độc-giả-đồng-điệu nào đó.

Nguyễn Hưng Quốc

VÌ SAO BÁI PHẬT PHẢI THẮP HƯƠNG?

Mỗi dịp lễ tết, các ngôi chùa cổ trên những danh sơn thắng cảnh thường chật kín người. Trước chính điện trang nghiêm, vô số tín đồ thành kính cầm hương, thần sắc nghiêm cẩn, hướng về Phật và Bồ Tát để cầu nguyện.


Khung cảnh khói hương lượn lờ ấy đã trở nên quá quen thuộc. Nhưng có bao giờ trong khoảnh khắc nào đó bạn chợt nảy sinh một câu hỏi: vì sao bái Phật nhất định phải dùng hương? Một nén hương mảnh mai như vậy, rốt cuộc dựa vào điều gì mà trở thành phương tiện giao tiếp giữa con người và thần Phật?

Thật ra, đây không phải là phong tục riêng của Trung Hoa. Nhìn ra thế giới, từ Ba Tư cổ đại, Ai Cập cổ đại cho đến nền văn minh Maya bí ẩn… những nền văn minh cổ xưa sống ở các không gian địa lý hoàn toàn khác nhau lại không hẹn mà cùng chọn đốt hương liệu làm nghi thức quan trọng nhất để giao tiếp với thần linh.

Đó chỉ là một sự trùng hợp của lịch sử, hay tổ tiên loài người từng cùng phát hiện ra một bí mật nào đó của vũ trụ mà con người hiện đại đã lãng quên?

Khói hương lượn lờ: “Sứ giả” nối trời và đất

Người xưa nhìn thế giới với nhiều suy tư và tưởng tượng đầy chất triết lý. Họ cho rằng thần linh cư ngụ ở những tầng không gian vi tế trên cao, vô hình vô tướng. Con người sống trong thế giới vật chất, vậy làm thế nào để truyền đạt tâm ý đến thần linh?

Câu trả lời chính là “khói”.

Khi hương liệu cháy, vật chất hữu hình dần biến thành làn khói xanh mỏng nhẹ, bay lên không trung rồi tan vào vô hình. Quá trình từ hữu hình hóa thành vô hình, từ dưới bay lên trên ấy được xem như con đường nối liền “nhân gian” và “thiên giới”.

Làn khói ấy không chỉ tạo nên bầu không khí trang nghiêm mà còn được coi như một vật mang thông điệp. Khói bay tới đâu, lời cầu nguyện được cho là theo đó mà đến. Vì khói hương vô cùng mịn và vi tế, người xưa tin rằng nó có thể đi tới những không gian khác.

Chính vì vậy, hương được xem là “sứ giả” giữa con người và thần linh.

Mượn hương để tĩnh tâm: Từ “nghe hương” đến “hỏi lòng”

Ngoài ý nghĩa tượng trưng, việc đốt hương còn mang một tác dụng thực tế khá rõ ràng: thanh tịnh và an thần.

Nhiều loại hương liệu tự nhiên như trầm hương hay đàn hương vốn là dược liệu quý. Trong Bản Thảo Cương Mục từng ghi rằng chúng có tác dụng “thông khiếu khai bế, điều hòa khí mạch, an thần định chí”.

Trong cuộc sống ồn ào của trần thế, tâm con người thường nóng nảy và bất an. Khi bước vào chùa, thắp một nén hương, hương thơm thanh nhã lan tỏa khiến cơ thể dần thư giãn, những tạp niệm cũng theo đó mà lắng xuống.

Người xưa nói: “Hương khí dưỡng tính.”

Chỉ khi tâm thần an tĩnh, con người mới có thể nội tỉnh bản thân, cảm ngộ tạo hóa trời đất. Khói hương vi tế sẽ trực tiếp đến không gian khác, chính là thế giới vi diệu nơi thần linh ngự trị. Đồng thời, làn khói mờ mịt khiến tâm người lắng đọng, đạt đến trạng thái “tâm thanh tịnh”.


Nguồn gốc của hương: Ban đầu chỉ là “củi”

Nguồn gốc của hương gắn liền với một lịch sử văn minh rất lâu dài.

Trong dân gian có câu: “Mở cửa bảy việc: củi, gạo, dầu, muối, tương, giấm, trà.” Vì sao “củi” lại đứng đầu?

Bởi ở giai đoạn đầu của văn minh nhân loại, lửa chính là nền tảng của sự sống. Có củi mới có lửa; có lửa mới nấu chín thức ăn, xua đuổi thú dữ và mang lại ánh sáng.

Vì thế, hương sớm nhất thực ra chính là gỗ đang cháy. Người cổ đại kính sợ sức mạnh của lửa. Để tạ ơn trời đất, họ thường chất gỗ lại rồi đốt lên, tổ chức nghi lễ tế trời gọi là “liêu tế”.

Cho đến ngày nay, tại Thiên Đàn ở Bắc Kinh vẫn còn giữ “liêu lô”, lò dùng để đốt củi thông và bách khi tế trời. Ở Tây Tạng, người dân cũng đốt cành bách trong nghi lễ cúng thần núi, thậm chí còn tưới nước để tạo ra nhiều khói hơn.

Những nghi thức ấy có thể xem như “hóa thạch sống” còn sót lại của nghi lễ tế lửa thời thượng cổ.


Hương: Chính khí của trời đất

Khi văn minh phát triển, con người ngày càng chú trọng hơn đến việc lựa chọn nguyên liệu làm hương.

Trong Thần Nông Bản Thảo Kinh có một câu rất nổi tiếng:

“Hương giả, khí chi chính; chính khí thịnh, tắc trừ tà tị uế.”

Ý nói rằng hương khí chính là “chính khí” của trời đất. Khi chính khí mạnh mẽ thì có thể xua đuổi tà khí và uế khí.

Thực vật hấp thụ tinh hoa của trời đất, ánh sáng mặt trời và dưỡng chất từ đất mà sinh trưởng. Hương thơm của chúng được xem là sự kết tinh của năng lượng tự nhiên. Khi đốt lên, con người như đang giải phóng nguồn “chính khí” ấy.

Chữ “hương” trong giáp cốt văn có phần trên là “thử” (ngũ cốc), phía dưới là “cam” (ngọt ngon). Thuyết Văn Giải Tự giải thích rằng đó là mùi thơm dễ chịu.

Điều này cho thấy trong quan niệm của người xưa, hương khí cũng giống như lương thực, là nguồn năng lượng có thể nuôi dưỡng thân tâm và chữa lành con người

Từ chốn miếu đường đến đời sống thường nhật

Đến thời Xuân Thu – Chiến Quốc, nhiều tác phẩm như Thi Kinh hay Sở Từ đã ghi chép phong tục đeo hương thảo. Từ đó, hương dần bước ra khỏi đàn tế thần linh để đi vào đời sống, trở thành biểu tượng của việc “tu thân dưỡng tính”.

Đến thời Đường – Tống, văn hóa hương phát triển rực rỡ. Hương trở thành bạn đồng hành của văn nhân khi đọc sách, pha trà, cũng là nghi thức trang trọng trong các buổi thiết triều hay lễ thăng quan.


Khi ấy, người ta thường dùng hương hoàn, hương bánh hoặc hương bột, thưởng hương bằng cách đốt gián tiếp qua lửa.

Còn “hương que” là loại phổ biến nhất ngày nay, thực ra chỉ bắt đầu lan rộng từ thời Minh và Thanh. Người ta dùng keo thực vật kết dính bột hương thành dạng que, vừa tiện vận chuyển vừa dễ sử dụng.

Phát minh đơn giản ấy đã đưa hương từ chốn cung đình và miếu đường bước vào từng mái nhà bình dân. Từ đó, mỗi người đều có thể thắp một nén hương thanh, gửi gắm vào đó ước vọng về một cuộc sống tốt đẹp.

Tú Uyên biên dịch
Theo: vandieuhay

Wednesday, October 21, 2026

GIA TỘC TÔN TRUNG SƠN: TRĂM NĂM BỂ DÂU - KỲ 1: TỪ BẦN CỐ NÔNG TRỞ THÀNH VĨ NHÂN

Cách đây tròn 100 năm, tiếng pháo vang rền của cuộc cách mạng Tân Hợi khai sinh một kỷ nguyên mới của Trung Quốc. Tôn Trung Sơn là người tiên phong trong cuộc cách mạng đó và trong cuộc đấu tranh đầy cam go mấy chục năm liên tiếp, ông và gia tộc đã trải qua nhiều thăng trầm cùng với sự biến đổi của thời đại.

Tôn Trung Sơn

Theo sử sách ghi lại, tổ tiên của Tôn Trung Sơn là danh gia vọng tộc ở Trung Nguyên, cư trú tại Trần Lưu, Hà Nam (ngày nay là thành phố Khai Phong). Viễn tổ của Tôn Trung Sơn là Tôn Trác tự Huyền Kỷ từng giữ chức Tiết độ sứ lưỡng giang triều Đường. Con trai của ông là Tôn Lợi rất anh dũng thiện chiến, có công trong việc bình định "loạn Hoàng Sào" và được phong là Đông Bình Hầu, đóng quân tại huyện Kiền Hóa, châu Tiết Kiền (nay là Ninh Đô, Giang Tây).

Sau khi hết thời kỳ làm quan, Tôn Lợi đã về định cư tại Ninh Đô. Tôn Lợi chính là khởi tổ của gia tộc họ Tôn di cư tới vùng Giang Nam. Trong cuốn "Bát thập thuật lược" của Tôn Khoa có nói đến cháu nội của Tôn Lợi là Tôn Hữu Kính phải di cư xuống Phúc Kiến để tránh binh họa. Tôn Hữu Kính được cho là khởi tổ của gia tộc họ Tôn di cư xuống Phúc Kiến. Sau này gia tộc họ Tôn đã định cư tại Phúc Kiến 4 đời.

Đến năm Vĩnh Lạc, triều Minh, con cháu đời thứ 7 của Tôn Lợi là Tôn Hữu Tùng lại di cư từ Phúc Kiến tới huyện Tử Kim, tỉnh Quảng Đông ngày nay. Tôn Hữu Tùng được cho là khởi tổ của gia tộc họ Tôn di cư từ Phúc Kiến về Quảng Châu. Kể từ Tôn Hữu Tùng trở đi, trải qua 11 thế kỷ, đến thế hệ thứ 18 của Tôn Lợi là Tôn Đỉnh Tiêu, một nghĩa sĩ chống nhà Thanh, do khởi binh không thành cuối cùng những người trong gia tộc họ Tôn đã phải nhiều lần li tán khắp nơi. Con trai thứ của Tôn Đỉnh Tiêu là Tôn Liên Xương đã phải di cư về huyện Hương Sơn, lấy nghề cày cấy và chài lưới làm kế sinh nhai. Tôn Liên Xương là khởi tổ của gia tộc Tôn Trung Sơn định cư tại Hương Sơn.

Những người thuộc các thế hệ trước của Tôn Kính Hiền đều làm nghề canh tác trồng trọt, gia cảnh bần hàn, thuộc tầng lớp gia đình bần nông điển hình ở Trung Quốc. Đến thế hệ cha Tôn Trung Sơn là Tôn Đạt Thành, cuộc sống càng trở nên khó khăn gian khổ. Tôn Đạt Thành vừa làm nông nghiệp vừa làm canh phu, cuộc sống của gia đình rất kham khổ, thức ăn chính của cả gia đình chỉ là khoai tây.

Sinh năm 1866, tại thôn Thúy Hanh, cách thành phố Trung Sơn, tỉnh Quảng Đông khoảng 25 km, Tôn Trung Sơn tên thật là Tôn Văn, là con thứ 5 trong một gia đình có 6 anh chị em. Anh trai thứ hai và chị gái thứ 3 mất từ nhỏ. Anh cả là Tôn Mi, chị gái thứ 4 là Tôn Diệu Xuyến, em gái út là Tôn Thu Khởi.

Tôn Trung Sơn (thứ 4 hàng sau từ phải sang) chụp ảnh cùng gia đình ở Hương Sơn tháng 4/1901.

Ngay từ khi 6 tuổi Tôn Trung Sơn đã theo chị là Tôn Diệu Xuyến lên núi lấy củi, kiếm rau cho lợn. Khi lớn hơn một chút, Tôn Trung Sơn có thể làm được tất cả các việc nghề nông. Ngoài ra, hàng năm Tôn Trung Sơn còn phải đi chăn trâu thuê nhiều tháng để đổi công trâu về cày ruộng cho gia đình.

Sử sách ghi chép rằng, Tôn Trung Sơn thời thơ ấu có tính khí rất quật cường và tinh nghịch, thường trèo lên cây me để lấy tổ chim. Cậu bé thường dùng đá ném chính xác những con chim nhỏ. Chính vì vậy, người trong thôn đặt cho cậu biệt danh "đứa trẻ đá". Khi Tôn Trung Sơn ra đời, miền nam Trung Quốc vừa trải qua phong trào Thái Bình Thiên Quốc gây chấn động và có tiếng vang lớn.

Gia phả nhà Tôn Trung Sơn.

Sự tích của quân Thái Bình đã được lưu truyền khắp khu vực lưỡng quảng, đồng thời cũng trở thành chủ đề nóng của dân chúng địa phương. Tôn Trung Sơn rất thích nghe những câu chuyện về phong trào này và ông vô cùng ngưỡng mộ Hồng Tú Toàn. Tôn Trung Sơn thường tập hợp những đứa trẻ trong thôn cùng nhau chơi trò "thiên binh bắt chó nhà Thanh". Những đứa trẻ cùng nhau cầm gậy tạo thành một đoàn quân và phong Tôn Trung Sơn làm lãnh tụ và làm "Hồng Tú Toàn thứ hai" trong trò chơi.

Năm 1878, khi Tôn Trung Sơn 12 tuổi, được sự ủng hộ và trợ giúp của người anh cả Tôn Mi đang làm ăn tại Honolulu (Mỹ), ông đã tới Honolulu du học trong thời gian 5 năm. Sau khi được tiếp thu nền giáo dục phương Tây, ông không chỉ có những tiến bộ trong con đường học tập mà còn được mở rộng tầm mắt ra thế giới bên ngoài.

KỲ 2: XA NHÀ LÀM CÁCH MẠNG

Ngọc Thúy (tổng hợp)
Theo: baotintuc

NGỌC ĐÀI THỂ KỲ 11 - QUYỀN ĐỨC DƯ


Ngọc đài thể kỳ 11

Tạc dạ quần đới giải,
Kim triêu hỉ tử phi.
Diên hoa bất khả khí,
Mạc thị cảo châm quy.


玉臺體其十一

昨夜裙帶解
今朝蟢子飛
鉛華不可棄
莫是稿砧歸


Thể ngọc đài kỳ 11
(Dịch thơ: Nguyễn Minh)

Đêm qua bỗng tuột lỏng đai quần
Nay sáng nhện sa xuống trước sân
Son phấn mau mau tô điểm đẹp
Chẳng là điềm báo chàng về gần?


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Quyền Đức Dư 權德輿 (759-818) tự Tải Chi 載之, người Lược Dương, Thiên Thuỷ (nay là huyện Tân An, tỉnh Cam Túc, có thuyết nói là huyện Lược Dương, tỉnh Thiểm Tây), nhà ở Đan Dương, Giản Châu (nay là huyện Đan Dương, tỉnh Giang Tô). Ông từng làm quan đến Lễ bộ thị lang đồng Bình chương sự (Tể tướng), nhưng do không hợp với Lý Lâm Phủ 李林甫 nên bị biếm làm Tiết độ sứ Sơn nam tây đạo. Ông vốn nổi tiếng là người giỏi văn chương ngay từ hồi còn trẻ, ba tuổi đã biết tứ thanh, bốn tuổi biết làm thơ. Ông quán thông kinh thuật, tư thái phong lưu, cũng tự nhiên như thơ ông. Thơ ông nay còn truyền Quyền văn công tập 5 quyển. Toàn Đường thi biên thơ ông thành 1 quyển. Thơ ông nhiều nhưng không thực đặc sắc, ngoài một số ít bài nhạc phủ.

Nguồn: Thi Viện

HỌC NGƯỜI TRÍ TUỆ: NỚI LỎNG NẮM TAY, MỞ BÀN TAY, BUÔNG CHẤP NHẤT

Có câu rằng: “Tướng tùy tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển”, khi tâm yên bình, hết thảy đều gió yên sóng lặng; tâm rộng rãi, hết thảy mọi sự đều thuận lợi hanh thông; tâm buông xuống, niềm vui và hạnh phúc cũng theo nhau mà đến.


Sống ở đời, chúng ta càng chấp nhất thì càng làm thương tổn đến chính mình

Chúng ta nếu như không ràng buộc điều gì, thì cũng không có thứ gì khiến ta phiền muộn, niềm vui sẽ đến một cách rất tự nhiên.

Chúng ta nếu dũng cảm đối mặt với đau khổ, thì khổ đau cũng tự nhiên rời xa; ta không mê đắm trong dục vọng, thì áp lực cũng tự nhiên giảm bớt đi rất nhiều.

Tâm yên bình, hết thảy đều gió êm sóng lặng; tâm ngay chính, hết thảy đều thuận buồm xuôi gió; tâm buông xuống, niềm vui và hạnh phúc sẽ theo đến ngập tràn.

Nếu như bạn cảm thấy khó khăn, hãy mở lòng bàn tay của bạn. Trong đó nhìn thì không thấy gì, nhưng thực ra mọi thứ đều nằm ở đó.

Tư tưởng của chúng ta nằm ở nơi những vân tay, ước muốn của chúng ta nằm nơi đầu ngón tay, kinh nghiệm của chúng ta nằm ở những vất chai sần trên tay. Khi chúng ta ở thời điểm hoàn toàn không có gì, mới biết được bản thân mình tài phú có được bao nhiêu.


Thực sự buông bỏ gánh nặng, không cố chấp theo đuổi dục vọng, niềm vui mới có thể thuận theo đó mà đến. Sở dĩ con người cảm thấy áp lực và thống khổ, phần lớn là vì mê đắm trong dục vọng, chấp trước truy cầu. Đem mọi thứ ràng buộc trong tâm này buông xuống, hết thảy đều sẽ được giải quyết.

Mệt mỏi hay không mệt mỏi, phụ thuộc hoàn toàn vào chính chúng ta

Buông, đối với rất nhiều người mà nói là điều rất khó. Nhưng khó ấy, thực ra là do tự mình làm khó mình, luôn cố chấp, muốn nắm chắc hơn mà không chịu buông.

Khi chúng ta thực sự buông tay, bạn sẽ thông suốt, nắm chặt tay sẽ không bao giờ cầm được thứ gì khác nữa, mà buông tay ra lại có thể có được cả thế giới.


Nếu một ngày, bạn mất đi thứ mình yêu quý nhất, xin bạn hãy mở bàn tay của mình ra, buông đi quá khứ. Nếu như tay trái là quá khứ, tay phải là tương lai, như vậy ngay tại lúc này tương lai và quá khứ đã hợp cùng một chỗ.

Bỏ lại tất mọi thứ ở phía sau, đem hết thảy chuyện xưa cất vào trong quá khứ, đem hết thảy những xáo trộn trở về nơi bình lặng, mới có thể thực sự hiểu được ý nghĩa thâm sâu vi diệu của chữ “buông”, mới là một loại thành tựu uyên thâm rộng lớn.

Tuệ Tâm, theo Kannewyork

Tuesday, October 20, 2026

ĐƠN VỊ 731 VÀ NHỮNG TỘI ÁC KINH HOÀNG TRONG NHÀ MÁY TỬ THẦN - KỲ CUỐI: NHỮNG THÍ NGHIỆM KINH HOÀNG

Từ mổ xẻ người sống, thử nghiệm hóa chất và vũ khí cho đến phát tán mầm bệnh, những hoạt động này sau đó được quân đội Nhật Bản đưa vào thực chiến, gây ra cái chết của hàng trăm nghìn người.

Kỳ cuối: Những thí nghiệm kinh hoàng

Ảnh cận cảnh tòa nhà hình vuông của Đơn vị 731 năm 1940. Ảnh: Wikimedia Commons

Tù nhân bị cho nhiễm bệnh dịch hạch, bệnh than, bệnh tả, thương hàn, bệnh lậu và giang mai. Họ cũng bị đưa vào các thí nghiệm nhằm kiểm tra khả năng chịu đựng tình trạng mất nước và bỏng lạnh. Về cơ bản, tù nhân bị đặt vào những điều kiện mà quân đội Nhật Bản sẽ phải đối mặt khi hoạt động tại Đông Nam Á và vùng Viễn Đông của Liên Xô. Những thí nghiệm này mô phỏng điều kiện chiến đấu một cách thực tế hơn mức có thể tưởng tượng.

Chẳng hạn, các loại vũ khí như lựu đạn và bom được thử nghiệm trên tù nhân. Để xác định phương pháp điều trị tối ưu đối với vết thương do mảnh đạn, tù nhân bị trói vào các cọc rồi bom và lựu đạn được kích nổ ở những khoảng cách khác nhau. Những người chết được khám nghiệm tử thi, còn những người sống sót được điều trị, nhưng chỉ để tiếp tục bị giết trong thí nghiệm tiếp theo. Súng phun lửa cũng được thử nghiệm trên tù nhân.

Tù nhân, trong đó có cả trẻ sơ sinh được sinh ra trong trại, bị đưa ra ngoài trời lạnh và nhấn chìm trong nước băng giá. Hiếp dâm và cưỡng ép mang thai nhằm nghiên cứu tình trạng lây truyền bệnh giang mai và các bệnh nhiễm trùng khác từ mẹ sang con cũng là những hoạt động thường xuyên diễn ra tại đơn vị này.

Một nỗi kinh hoàng khác là việc mổ xẻ người sống, tức tiến hành phẫu thuật và giải phẫu thực nghiệm trên những người còn sống. Những thủ thuật này được thực hiện để nghiên cứu phản ứng của cơ thể trong các điều kiện khác nhau. Một nhân viên y tế Nhật Bản chứng kiến cảnh tượng kinh hoàng này và từng trực tiếp mổ một người còn sống cho biết: “Đối với các bác sĩ phẫu thuật, đó chỉ là một ngày làm việc bình thường”.

Ghê rợn không kém là khi các bác sĩ phẫu thuật cần một cơ quan cụ thể, chẳng hạn như não, họ sẽ ra lệnh cho lính canh tìm một tù nhân phù hợp. Lính canh dùng rìu đập vỡ đầu tù nhân, lấy não đưa cho các bác sĩ rồi chuyển thi thể đến lò hỏa táng.

Thi thể các nạn nhân trong các thí nghiệm của Đơn vị 731. Ảnh: FSB

Tù nhân còn bị bỏ đói trong thời gian dài, đưa vào buồng áp suất, dùng vật nặng nghiền nát, điện giật, chôn sống và thiêu sống. Tác động của phốt pho, phosgene, khí mù tạt và các chất hóa học khác dùng trong chiến tranh cũng được thử nghiệm trên tù nhân.

Tất cả những thí nghiệm vô nhân đạo này đều được ghi hình, cho thấy đây không phải những vụ việc đơn lẻ do một số kẻ tàn bạo gây ra mà là một quy trình thường lệ, được thiết lập và thực hiện có hệ thống. Đáng chú ý, một số bác sĩ sau này kinh hoàng kể lại những gì họ chứng kiến tại Đơn vị 731, trong khi những người khác không hề tỏ ra hối hận mà còn mô tả các thí nghiệm trên người sống trong những bài viết khoa học.

Càng kinh hoàng hơn là việc mổ bụng người sống và các thí nghiệm vô nhân đạo khác được thực hiện để phục vụ những quan chức cấp cao đến thăm Đơn vị 731 nhằm mục đích giải trí bệnh hoạn và vô nhân đạo.

Vũ khí được đưa vào thực chiến

Những hành vi của các bác sĩ tàn bạo tại Đơn vị 731 không chỉ diễn ra trong phòng thí nghiệm mà còn được quân đội Nhật Bản tích cực sử dụng tại Trung Quốc. Liên Xô lần đầu tiên đối mặt với vũ khí sinh học của Nhật Bản trong trận chiến với quân Nhật tại Khalkhin Gol năm 1939. Khi đó, quân đội Nhật Bản bí mật vận chuyển các ống chứa vi khuẩn thương hàn trên một đoàn tàu chở khách rồi đổ chúng xuống các con sông ở khu vực biên giới, qua đó gây ra một đợt bùng phát dịch bệnh trên lãnh thổ Liên Xô.

Sau đó, quân đội Nhật Bản tiến hành ít nhất 12 cuộc tấn công nhằm vào các thành phố của Trung Quốc. Cụ thể, máy bay bay thấp đã thả bọ chét nhiễm dịch hạch xuống các thành phố Ninh Ba và Trường Đức, gây ra các đợt bùng phát dịch bệnh khiến hàng chục nghìn dân thường thiệt mạng. Trong cuộc chiến tại Trung Quốc, quân đội Nhật Bản cũng làm nhiễm bẩn các cơ sở nông nghiệp, hồ chứa nước và giếng nước trên quy mô lớn. Họ còn thả thực phẩm và quần áo nhiễm mầm bệnh xuống những vùng lãnh thổ không do quân đội Nhật Bản kiểm soát dưới vỏ bọc viện trợ nhân đạo. Tiếp xúc với những vật nhiễm bệnh này dẫn đến lây nhiễm và tử vong. Theo nhiều ước tính, ít nhất 200.000 người Trung Quốc đã thiệt mạng do bệnh dịch hạch, bệnh tả và bệnh than do quân đội Nhật Bản phát tán.

Nhật Bản cũng lên kế hoạch tấn công Mỹ bằng vũ khí sinh học. Tháng 12/1944, Hải quân Nhật Bản bắt đầu nghiên cứu khả năng tấn công các thành phố tại California như Los Angeles, San Francisco và San Diego.

Theo kế hoạch, máy bay được phóng từ các tàu ngầm mang máy bay. Những máy bay này do các phi công cảm tử điều khiển và mang theo các loại vũ khí sinh học do Đơn vị 731 phát triển, trong đó có dịch hạch, bệnh tả và thương hàn. Các thủy thủ tàu ngầm sau đó cố tình tự lây nhiễm bệnh rồi đổ bộ lên bờ biển Mỹ.

Tuy nhiên, chiến dịch này ban đầu bị Tổng tham mưu trưởng Lục quân Đế quốc Nhật Bản Yoshijiro Umezu đình chỉ và sau đó bị hủy bỏ khi Nhật Bản đầu hàng.

Nỗ lực che giấu tội ác

Quân đội Nhật Bản cũng lên kế hoạch sử dụng vũ khí sinh học chống Liên Xô, nhưng thất bại nhanh chóng của Quân đội Quan Đông trước quân đội Liên Xô đã phá vỡ những kế hoạch này.

Nhận thấy thất bại hoàn toàn đang cận kề và tìm cách che đậy tội ác, quân đội Nhật Bản đã phá hủy các tòa nhà của Đơn vị 731 và các chi nhánh của đơn vị này, các phòng thí nghiệm, kho vũ khí sinh học tích trữ, tài liệu và kết quả thí nghiệm. Khoảng 300 tù nhân còn lại cùng 600 công nhân người Trung Quốc và Mãn Châu đã bị thủ tiêu.

Đây là cách làm phổ biến của quân đội Nhật Bản vào thời điểm đó. Ngày 9/8/1945, đúng ngày Liên Xô và Nhật Bản tuyên chiến với nhau, hiến binh Nhật Bản đã bắt giữ và hành quyết 19 công dân Liên Xô tại thành phố Hải Lạp Nhĩ. Khác với các tù nhân tại Đơn vị 731, những người này là dân thường và bị hành quyết vì bị coi là những cá nhân có khả năng không trung thành.

Vì vậy, khi các đơn vị Hồng quân đến địa điểm của Đơn vị 731 vài ngày sau đó, họ chỉ thấy trại trống không. Đến thời điểm đó, ít nhất 3.600 người đã chết trong những cuộc thí nghiệm kinh hoàng và hàng trăm nghìn người đã thiệt mạng do các loại vũ khí sinh học được phát triển tại đơn vị này.

Tuy nhiên, cái kết của nước Nhật quân phiệt không có nghĩa Đơn vị 731 bị lãng quên. Cả Liên Xô và Mỹ đều biết quân đội Nhật Bản đã tiến hành các thí nghiệm vô nhân đạo, nghiên cứu và sử dụng vũ khí sinh học. Đương nhiên, hai cường quốc đều muốn đạt được hai mục tiêu: thu thập những tài liệu có giá trị từ các bác sĩ Nhật Bản tàn bạo và trừng phạt những tội phạm chiến tranh.

Cụ thể hơn, Liên Xô là bên chủ yếu muốn trừng phạt những tội phạm chiến tranh vì các thí nghiệm của Đơn vị 731 cũng được tiến hành trên công dân Liên Xô.

Tuy nhiên, người Mỹ lại đánh giá tình hình theo cách khác. Mỹ cần tái thiết Nhật Bản thời hậu chiến, quốc gia khi đó nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Mỹ, vì vậy Hoàng đế Hirohito, người đã phê chuẩn việc thành lập Đơn vị 731, được miễn đưa ra xét xử tại tòa án xét xử tội phạm chiến tranh. Số phận của những nhân vật khác đứng sau việc thành lập Đơn vị 731 cũng khác nhau: Chikahiko, một trong những người bảo trợ Ishii, đã tự sát theo truyền thống samurai; người bảo trợ khác của Ishii là Sadao phải ngồi tù vài năm và được trả tự do vào năm 1956.

Số phận của Ishii đáng chú ý hơn nhiều. Không lâu trước khi quân đội Liên Xô chiếm Mãn Châu, Ishii sơ tán cùng phần lớn nhân viên và kho lưu trữ, trước tiên đến Triều Tiên rồi sau đó về Nhật Bản. Chính tại Nhật Bản, người Mỹ đã tìm thấy ông ta sau khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc.

Ban đầu, Ishii phủ nhận tiến hành các thí nghiệm trên người và sử dụng vũ khí sinh học, nhưng quân đội Mỹ đã đưa ra một đề nghị mà ông ta không thể từ chối: được miễn hoàn toàn truy tố để đổi lấy việc cung cấp toàn bộ dữ liệu về nghiên cứu vũ khí sinh học dựa trên các thí nghiệm trên người.

Kết quả là Ishii và các cộng sự đã chuẩn bị báo cáo về các thí nghiệm trên người và việc sử dụng vũ khí sinh học mà chính người Mỹ coi là “vô giá”. Sau đó, Ishii cùng các nhà khoa học Nhật Bản khác sống và làm việc bình yên dưới sự giám sát của Mỹ.

Trong khi Mỹ tìm cách che giấu thông tin về hoạt động của Đơn vị 731 nhiều nhất có thể, Liên Xô đã tổ chức một phiên tòa công khai tại Khabarovsk năm 1949. 12 chỉ huy cấp cao và các nhà khoa học của Đơn vị 731 cùng những đơn vị liên quan bị kết tội ác chiến tranh, phát triển và sử dụng vũ khí sinh học, sau đó chấp hành án tại các trại ở Siberia.

Nhật Bản thừa nhận sự tồn tại của Đơn vị 731 và những hoạt động kinh hoàng của đơn vị này một cách miễn cưỡng và chậm chạp. Các tài liệu lưu trữ ghi chép về 3.607 nhân sự của Đơn vị 731 chỉ được giải mật vào năm 2018.

Nhiều thành viên Đơn vị 731 đã sống lâu và bình yên, gây dựng sự nghiệp thành công trong các lĩnh vực khoa học, y học và kinh doanh.

Điều duy nhất có thể làm cho hàng nghìn người đã chết trong các trại của Đơn vị 731 và hàng trăm nghìn nạn nhân của vũ khí sinh học được phát triển tại đây là ghi nhớ những tội ác kinh hoàng do hệ thống vô nhân đạo này gây ra và ngăn chúng tái diễn.

Thùy Dương
Theo: baotintuc