Wednesday, August 5, 2026

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGƯỜI ĐỌC NHIỀU SÁCH VÀ NGƯỜI KHÔNG ĐỌC SÁCH


Đọc nhiều tiểu thuyết, bạn sẽ nhìn thấy biết bao cuộc đời lên voi xuống chó, gặp bao mánh lới xâu xé bẩn thỉu, chứng kiến bao kiểu nhục dục đê hèn, cảm nhận được nỗi xót xa và không cam lòng, hiểu thế nào là bất lực, u ám. Bạn sẽ đọc được đủ loại chuyện trên thế gian này khiến bạn trầm luân trong chúng, và từ đây trở về sau dù bạn có đối diện chuyện gì đi chăng nữa, đều là những chuyện mà từ trong sâu thẳm trái tim bạn, bạn đã được trải nghiệm qua một lần.

Đọc nhiều sách lịch sử, bạn sẽ đọc được đủ loại quyền uy và biết bao cá thể nhỏ bé bị dòng nước lũ của số mệnh cuốn trôi. Bạn sẽ nhận ra con người nhỏ bé biết mấy còn cuộc đời thì luôn đầy những biến động.

Đọc nhiều sách triết học, bạn được chứng kiến sự hình thành của đủ kiểu giá trị quan, vô vàn những lời giải đáp cho những thắc mắc nhỏ nhặt nhất. Bạn sẽ phát hiện những gì mình luôn vững tin vào sự tồn tại của nó lại hóa ra chỉ là một tràng hư ảo, những điều bạn luôn chế nhạo là xuẩn ngốc lại uẩn chứa nhiều nội hàm cao siêu. Bạn không còn cố chấp với những gì đã từng luôn chấp nhất, dùng ánh mắt tư biện* để nhìn nhận thế giới nửa thực nửa giả này. (tư biện: chỉ đơn thuần suy nghĩ, không dựa vào kinh nghiệm thực tiễn)


Đọc nhiều sách về xã hội học, bạn lần nữa bắt gặp những chuyện vốn quen quá hóa thường, hóa ra đều có nguồn gốc đáng tìm hiểu. Bạn sẽ nhận thấy xã hội loài người chẳng qua chỉ là một bản phác thảo trong tưởng tượng. Bạn cũng sẽ tìm hiểu ra đằng sau những câu chuyện ấp áp lại thường ẩn chứa bao tính toán lạnh lùng, bạn là một phần tử trong cả một hệ thống, là cánh bèo trôi dạt giữa dòng đời.

Đọc nhiều sách về nhân học, bạn hiểu được hóa ra con người cũng chỉ là một loài động vật cực kì đặc biệt, rằng con người chúng ta kỳ thực cũng đâu cao quý đến vậy đâu. Nếu không sở hữu nét đặc thù, thì chúng ta chẳng qua chỉ là một lớp thú khoác lên mình cái áo của văn minh hiện đại.

Dịch bởi: Cao Đức Hiếu
Theo: langzen

Tuesday, August 4, 2026

ĐÀN ÔNG NÊN TIỂU ĐỨNG HAY TIỂU NGỒI?

Ngồi hay đứng? Đó là câu hỏi đang làm dấy lên cuộc tranh luận về cách nam giới đi tiểu.

Ảnh: Getty Images
 
Mặc dù chưa có bằng chứng y khoa đủ thuyết phục cho thấy tư thế ngồi khi đi tiểu mang lại lợi ích cho sức khỏe nam giới, nhưng dường như có sự đồng thuận rằng đây là cách đảm bảo vệ sinh nhất.

"Không có cách đi tiểu nào đúng hay sai, điều đó phụ thuộc vào từng cá nhân," Tiến sĩ Mary Garthwaite, Chủ tịch Hiệp hội Tiết niệu học Anh quốc, nói với BBC.

"Nhưng ngồi khi đi tiểu thực sự vệ sinh hơn, với điều kiện là nhà vệ sinh sạch sẽ."

Tiến sĩ Garthwaite cho biết thêm rằng đây cũng có thể là cách an toàn hơn đối với những người gặp khó khăn về khả năng vận động hoặc giữ thăng bằng. Tư thế ngồi cũng hữu ích trong những lần thức dậy giữa đêm và phải vội vào nhà vệ sinh.

Một nghiên cứu thường được trích dẫn là công trình nghiên cứu năm 2014 của Đại học Leiden ở Hà Lan. Một nhóm bác sĩ đã nghiên cứu xem tư thế của cơ thể ảnh hưởng như thế nào đến tốc độ dòng nước tiểu và thời gian đi tiểu – cũng như thời gian làm rỗng bàng quang.

Họ kết luận rằng thư thế ngồi giúp bàng quang được làm rỗng nhanh hơn và triệt để hơn ở những người đàn ông bị phì đại tuyến tiền liệt, nhưng lại "không thấy sự khác biệt" ở những người đàn ông khỏe mạnh.

Trên thực tế, tiểu đứng rất tiện lợi đối với hầu hết nam giới – bạn chỉ cần nhìn vào độ dài hàng chờ của nam và nữ ở trước cửa các nhà vệ sinh công cộng là có thể thấy.

Một nghiên cứu năm 2013 cho thấy khi nam giới đi tiểu đứng, các giọt nước tiểu siêu nhỏ có thể bắn xa đến mức ngay cả bàn chải đánh răng đặt cách bồn cầu một khoảng cũng không tránh khỏi. Ảnh: Getty Images

Tuy nhiên, tiểu đứng cũng làm tăng khả năng nước tiểu bắn ra ngoài, gây khó chịu cho những người sử dụng sau.

Và không chỉ là bắn trúng bệ ngồi hay sàn nhà. Một nhóm kỹ sư cơ khí Mỹ phát hiện vào năm 2013 rằng các giọt nước tiểu siêu nhỏ có thể "bắn ra ở góc và bắn được khoảng cách rất xa", đồng nghĩa với việc các vật dụng ở gần đó – kể cả bàn chải đánh răng – cũng có thể bị dính nước tiểu.

Trên thực tế, ở một số nền văn hóa, nam giới được khuyến khích ngồi khi đi tiểu. Chẳng hạn, trong đạo Hồi, điều này thậm chí còn được khuyến nghị như một phần của Sunnah, một bộ quy tắc ứng xử và truyền thống có từ thời Nhà tiên tri Muhammad.

Nhưng đối với đa số đàn ông, thói quen cũ thì khó bỏ, và đi tiểu đứng vẫn là cách tốt nhất để "giải quyết nỗi buồn".

Năm 2023, YouGov (một công ty quốc tế chuyên về nghiên cứu thị trường và phân tích dữ liệu trực tuyến) đã khảo sát nam giới tại 13 quốc gia về tư thế họ thường đi tiểu.

Kết quả cho thấy sự khác biệt rất lớn, ngay cả giữa các nước trong cùng một lục địa. Trong khi 40% đàn ông Đức cho biết họ luôn ngồi xuống khi đi tiểu, và chỉ 10% luôn đứng, thì tại Anh, các tỷ lệ này lần lượt ở mức 9% và 33%.

Điều thú vị là thói quen đi tiểu khi ngồi dường như phổ biến hơn ở Đức, một quốc gia mà việc gọi ai đó là "Sitzpinkler" (người đàn ông tiểu ngồi) có hàm ý chỉ hành vi không nam tính. Ở Brazil, có một câu nói dân gian cho rằng đi tiểu khi ngồi là "dành cho phụ nữ và loài ếch".

Ở nhiều quốc gia, nam giới vẫn thích đứng tiểu hơn. Ảnh: Getty Images

Liệu có phải đàn ông phải chống lại một đặc điểm tiến hóa nào đó để thay đổi cách đi tiểu của họ?

Theo Tiến sĩ Robert Dunbar, chuyên gia hàng đầu về tâm lý học tiến hóa của Đại học Oxford, Anh, không phải thế.

"Không có bằng chứng [tiến hóa] nào giải thích tại sao đàn ông lại đi tiểu đứng," ông nói.

Như vậy, một lý do thường được viện dẫn để phản đối việc ngồi đã không còn cơ sở.

"Sự thật là một số người đàn ông thấy thoải mái hơn khi tiểu đứng, số khác lại thấy thoải mái hơn khi tiểu ngồi," Tiến sĩ Garthwaite nói thêm.

Khi chưa có khuyến nghị y khoa rõ ràng, việc chọn tư thế đi tiểu vẫn sẽ là lựa chọn cá nhân của đàn ông trên khắp thế giới – trừ khi họ được "thuyết phục" ngồi xuống bởi áp lực từ bạn đời, người thân, hoặc những tấm biển lịch sự trong nhà vệ sinh (một nét khá đặc trưng ở Đức).

Nhưng nếu bạn vẫn chọn đứng, ít nhất hãy cố gắng ngắm cho thật chuẩn.

Fernando Duarte
Vai trò,Theo: BBC World Service

CHIẾU KÍNH KIẾN BẠCH PHÁT - TRƯƠNG CỬU LINH


CHIẾU KÍNH KIẾN BẠCH PHÁT
 
Túc tích thanh vân chí,
Tha đà bạch phát niên.
Thuỳ tri minh kính lý,
Hình ảnh tự tương liên.


照鏡見白髮 

宿昔青雲志
蹉跎白髮年
誰知明鏡裏
形影自相憐


Soi gương thấy tóc bạc
(Người dịch: Nguyễn Minh.)

Nhớ thuở xưa chí trên mây biếc
Tháng ngày qua nay tóc trắng phau
Ai hay trong kính trông nhau
Người và hình ảnh chia sầu đắng cay


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Trương Cửu Linh 張九齡 (678-740) tự Tử Thọ 子壽, người Thiều Châu (tỉnh Quảng Đông), đỗ tiến sĩ năm 707 (đời Đường Trung Tông), được bổ làm Tả thập di, trong năm Khai Nguyên đời Đường Huyền Tông làm đến chức Trung thư lệnh. Về sau, ông làm chức Thượng thư hữu thừa, rồi bị bãi chức vì không hợp với Tể tướng Lý Lâm Phủ và mếch lòng vua.

Nguồn: Thi Viện

CÂU CHUYỆN CHO MƯỢN Ô NGÀY MƯA: TỪ BI PHẢI CÓ UY NGHIÊM

Có người không chịu làm gì mà cứ chờ đợi sự giúp đỡ của người thiện lương, không ngừng lợi dụng người tốt, tuy nhiên từ bi cũng phải có uy nghiêm.

Sự lương thiện không nên bị lợi dụng, mỗi người đều cần tự tìm 'chiếc ô' của đời mình (ảnh minh họa Youtube)

Thiền sư Hoàng Nghiệt là một vị cao tăng nổi tiếng thời nhà Đường. Sau khi về già ông đã thành lập chùa Quảng Giao ở núi Kính Đình, tỉnh An Huy.

Một hôm, thiền sư dẫn một tiểu đồ đệ ra ngoài có công việc. Bởi vì trên trời có mây đen nên thiền sư bảo đồ đệ mang theo 2 chiếc ô. Khi sư phụ và đồ đệ đi ngang qua một thị trấn nhỏ, cảm thấy hơi đói bụng, nên bước vào một quán ăn ven đường và gọi 2 bát canh đậu hũ. Trong lúc ăn, thiền sư tình cờ nghe được ông chủ nói với một chàng trai: “Nhìn trời có vẻ sắp mưa rồi, sao cậu ra ngoài mà không mang theo ô vậy?” 

Chàng trai cười khúc khích nói: “Mang theo ô là gánh nặng. Trên đời ai cũng có sự lương thiện. Chỉ cần người khác mang ô, họ đều sẽ sẵn sàng chia sẻ một nửa chiếc ô để che mưa cho tôi, cho nên tôi không cần mang theo ô”. Chàng trai nói xong liền thoải mái lên đường.

Sau khi thiền sư Hoàng Nghiệt và đệ tử ăn canh đậu hũ xong, họ tiếp tục lên đường. Không lâu sau, trời bắt đầu mưa, thiền sư Hoàng Nghiệt và đệ tử đã có chuẩn bị từ trước, cầm ô tiếp tục lên đường.

(ảnh minh họa Playgroundai)

Không lâu sau, 2 người đi ngang qua một ngôi nhà tranh, cửa của ngôi nhà đã khóa chặt, nhưng bên dưới mái hiên có một chàng trai đang trú mưa. Chàng trai gọi lớn thiền sư: “Thiền sư, Phật Pháp giảng phổ độ chúng sinh, ông có thể chia sẻ một nửa chiếc ô để giúp tôi che mưa, độ tôi một đoạn đường được không?”

Thiền sư nhìn kỹ hơn và thấy rằng đó là chàng trai trẻ trong quán ăn vừa rồi. Đệ tử của thiền sư đang cầm ô muốn đi tới, nhưng thiền sư gọi người đệ tử lại và nói với chàng trai: “Thầy trò tôi đang đi dưới mưa, còn cậu thì trú dưới mái hiên. Ngoài trời đang mưa. Nhưng dưới mái hiên không có mưa, tại sao còn cần chúng tôi độ cậu?”

Chàng trai nghe vậy, cười lớn, bước ra khỏi mái hiên và nói: “Bây giờ tôi cũng đang ở trong mưa, ông nhất định có thể độ tôi rồi phải không?”

Thiền sư nói: “Chúng tôi vẫn không thể độ cậu được. Tuy rằng chúng ta đều ở trong mưa, nhưng chúng tôi không bị mưa ướt vì ô đang cứu chúng tôi. Cậu bị mưa ướt vì cậu không mang ô. Nếu cậu muốn có ô để che thì cậu không nên tìm người, mà cần đi tìm ô!”

Nói xong, thiền sư dắt đồ đệ của mình bước đi. Đi được vài bước, tiểu đệ tử khó hiểu hỏi thiền sư: “Sư phụ, người xuất gia có lòng từ bi, nhưng sao người không để con giúp anh ấy?”

(ảnh minh họa Playgroundai)

Thiền sư mỉm cười nói: “Con không nhìn ra sao? Ta đã cho cậu ấy sự giúp đỡ lớn nhất rồi. Mặc dù ta từ chối cậu ấy, nhưng thực ra ta đã dạy cậu ấy một bài học, mọi chuyện chỉ có thể dựa vào chính mình, không thể trông cậy hay lợi dụng sự lương thiện của người khác. Chúng ta quả thực nên có lòng từ bi, nhưng chúng ta cũng cần duy trì sự uy nghiêm của lương thiện”. Tiểu đệ tử lúc này mới tỉnh ngộ và gật đầu.

Người thiện lương tấm lòng rộng rãi, thường không tính toán gì mà giúp đỡ người khác, nhưng cũng cần phải có trí huệ để không bị người khác lợi dụng.

Uyển Nhi / Theo: Vision Times

Monday, August 3, 2026

VỤ ĐÁNH BOM KHÁCH SẠN KING DAVID: BƯỚC NGOẶC LỊCH SỬ CỦA ISRAEL

Ngày 22/7/1946, một vụ nổ làm rung chuyển Khách sạn King David ở Jerusalem đã cướp đi sinh mạng của 91 người và trở thành một trong những sự kiện gây tranh cãi nhất trong lịch sử Trung Đông hiện đại.

Khách sạn King David sau vụ đánh bom ngày 22/7/1946. Ảnh: Wikimedia Commons

Vụ đánh bom khách sạn King David: Bước ngoặt lịch sử của Israel

8 thập kỷ đã trôi qua, vụ đánh bom vẫn được nhìn nhận theo nhiều góc độ trái ngược: Với một bên là hành động khủng bố đẫm máu, với bên khác là một phần của cuộc đấu tranh giành độc lập, góp phần thúc đẩy sự chấm dứt chế độ ủy trị của Anh tại Palestine và mở đường cho sự ra đời của Nhà nước Israel.

Khi Chiến tranh Thế giới thứ hai kết thúc vào tháng 5/1945, cộng đồng Do Thái tại Palestine kỳ vọng Chính phủ Anh sẽ bãi bỏ "Sách Trắng" năm 1939, văn kiện hạn chế nghiêm ngặt việc người Do Thái nhập cư vào Palestine.

Tuy nhiên, London vẫn duy trì chính sách này bất chấp hàng trăm nghìn người Do Thái sống sót sau thảm họa diệt chủng Holocaust đang tìm kiếm nơi định cư. Điều đó khiến phong trào phục quốc Do Thái ngày càng bất mãn với chính quyền Anh.

Tháng 9/1945, ba tổ chức vũ trang Do Thái gồm Haganah, Irgun và Lehi lần đầu tiên gác lại bất đồng để thành lập Phong trào Kháng chiến Do Thái Thống nhất, tiến hành hàng loạt chiến dịch phá hoại nhằm gây sức ép buộc Anh từ bỏ chính sách hạn chế nhập cư.

Trong gần một năm, các nhóm này liên tục đánh phá đường sắt, đồn cảnh sát, giải cứu người Do Thái bị giam giữ tại trại Atlit và tấn công nhiều cơ sở của chính quyền Anh.

Đỉnh điểm của cuộc đối đầu xảy ra ngày 29/6/1946 khi Anh phát động Chiến dịch Agatha, huy động khoảng 25.000 binh sĩ khám xét trụ sở Cơ quan Do Thái, bắt giữ gần 2.700 người, trong đó có nhiều lãnh đạo chính trị hàng đầu. Chiến dịch này được cộng đồng Do Thái gọi là "Ngày thứ Bảy đen tối".

Trong quá trình khám xét, quân Anh thu giữ nhiều tài liệu liên quan đến các hoạt động bí mật của phong trào kháng chiến và chuyển toàn bộ về Ban Thư ký Chính quyền Ủy trị Anh đặt tại cánh phía Nam của Khách sạn King David. Động thái này khiến khách sạn trở thành mục tiêu ưu tiên của tổ chức Irgun.


Trưa ngày 22/7/1946, một xe tải chở sữa tiến vào khách sạn King David. Ít ai biết bên trong những thùng sữa là khoảng 300 kg thuốc nổ.

Các thành viên Irgun khống chế nhân viên nhà bếp rồi đưa 7 thùng thuốc nổ xuống tầng hầm. Mỗi thùng đều được dán cảnh báo bằng tiếng Anh, tiếng Hebrew và tiếng Arab.

Sau khi rút khỏi hiện trường, một nữ liên lạc viên trẻ của Irgun liên tiếp gọi điện tới khách sạn, Lãnh sự quán Pháp và tòa soạn báo The Palestine Post để cảnh báo rằng bom đã được cài và yêu cầu sơ tán ngay lập tức. Khoảng 25 phút sau, lúc 12 giờ 37 phút, các khối thuốc nổ phát nổ. Toàn bộ cánh phía Nam của khách sạn sáu tầng sụp đổ.

Theo số liệu chính thức, có 91 người thiệt mạng, bao gồm 41 người Arab, 28 người Anh, 17 người Do Thái và 5 người mang quốc tịch khác, cùng với hơn 40 người bị thương. Đây là một trong những vụ tấn công đẫm máu nhất tại Palestine dưới thời Anh cai trị.

Ngay sau vụ nổ, Irgun khẳng định họ đã nhiều lần cảnh báo để khách sạn sơ tán. Lãnh đạo tổ chức Menachem Begin, người sau này trở thành Thủ tướng Israel, cho rằng giới chức Anh đã phớt lờ cảnh báo. Tuy nhiên, phía Anh bác bỏ hoàn toàn cáo buộc này.

Các nghiên cứu lịch sử sau đó cho thấy thực sự đã có cuộc gọi điện thoại cảnh báo, nhưng người quản lý khách sạn cho rằng đây chỉ là trò đùa vì trước đó Jerusalem từng nhiều lần nhận các cuộc gọi dọa đánh bom giả. Thông tin cảnh báo vì thế không được chuyển đầy đủ tới giới chức phụ trách.

Dù vậy, việc Irgun đặt bom tại một địa điểm có đông dân thường vẫn gây làn sóng phản đối dữ dội. Ngay cả Haganah, tổ chức từng phối hợp với Irgun chống Anh, cũng lên án vụ tấn công.

Lãnh đạo phong trào phục quốc Chaim Weizmann, người sau này trở thành Tổng thống đầu tiên của Israel, đã rút lại sự ủng hộ trước khi chiến dịch diễn ra.

Hai giáo sĩ trưởng của cộng đồng Do Thái cũng gọi đây là hành động trái với giáo lý Do Thái và coi việc coi thường sinh mạng con người là không thể chấp nhận.

Theo nhiều nhà sử học, vụ đánh bom Khách sạn King David đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ giữa chính quyền Anh và cộng đồng Do Thái tại Palestine.

Sau vụ việc, Anh tăng cường trấn áp các tổ chức Do Thái, bắt giữ thêm nhiều lãnh đạo Haganah và áp đặt lệnh giới nghiêm trên diện rộng. Đồng thời, liên minh giữa Haganah với Irgun và Lehi cũng tan rã.

Haganah chuyển trọng tâm sang tổ chức đưa người Do Thái nhập cư trái phép vào Palestine, trong khi Irgun và Lehi tiếp tục chiến dịch vũ trang chống chính quyền Anh.

Nhà sử học Benny Morris cho rằng chuỗi các vụ tấn công do Irgun và Lehi tiến hành, đặc biệt là vụ đánh bom Khách sạn King David, đã khiến Chính phủ Anh đi đến kết luận rằng việc tiếp tục duy trì quyền kiểm soát Palestine là không khả thi.

Tháng 2/1947, Ngoại trưởng Anh khi đó Ernest Bevin tuyên bố đưa vấn đề Palestine ra Liên hợp quốc giải quyết. Chưa đầy một năm sau, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết chia Palestine thành hai nhà nước Do Thái và Arab. Ngày 14/5/1948, David Ben-Gurion tuyên bố thành lập Nhà nước Israel.

Cho đến nay, câu hỏi liệu vụ đánh bom Khách sạn King David là một hành động khủng bố hay một phần của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vẫn chưa có câu trả lời thống nhất.

Theo Benny Morris, xét trên phương diện khiến hàng chục dân thường thiệt mạng, đây rõ ràng là một hành động khủng bố. Tuy nhiên, Irgun luôn lập luận rằng họ đang chống lại một chính quyền chiếm đóng và đã tìm cách giảm thương vong bằng việc phát đi cảnh báo trước.

Quan điểm này vẫn là chủ đề gây tranh cãi trong giới nghiên cứu lịch sử cũng như trong dư luận Israel và quốc tế.

Bảng tưởng niệm bên ngoài Khách sạn King David ghi vụ đánh bom năm 1946 khiến 91 người thiệt mạng. Ảnh: Wikimedia Commons

Ngày nay, Khách sạn King David vẫn là một trong những khách sạn nổi tiếng nhất Israel. Bên ngoài tòa nhà có các bảng tưởng niệm ghi lại vụ đánh bom, nhưng nội dung trên những tấm biển này từng gây tranh cãi ngoại giao giữa Israel và Anh do cách diễn giải khác nhau về trách nhiệm đối với thảm kịch.

Sau nhiều lần chỉnh sửa, dòng chữ hiện nay chỉ ghi rằng vụ nổ khiến 91 người thiệt mạng, đồng thời nhấn mạnh đây là điều mà Irgun "lấy làm tiếc".

Tám mươi năm sau vụ nổ, ký ức về Khách sạn King David có thể đã phai nhạt trong nhận thức của nhiều người Israel, nhưng đối với các nhà sử học, đây vẫn là một cột mốc không thể bỏ qua khi nghiên cứu những năm cuối của chế độ Ủy trị Anh tại Palestine.

Sự kiện này vừa phản ánh tính chất khốc liệt của cuộc xung đột, vừa cho thấy con đường dẫn tới sự ra đời của Nhà nước Israel không chỉ được quyết định trên bàn đàm phán mà còn được định hình bởi những biến cố bạo lực để lại hệ quả lâu dài cho toàn bộ khu vực Trung Đông.

Thanh Bình / Theo: TTXVN
Link tham khảo:




LÃO TỬ DẠY: LÀM NGƯỜI MINH TRÍ THÌ PHẢI BIẾT THỦ NGU, THỦ TĨNH, THỦ NHU

Lão Tử là một danh nhân thời Xuân Thu, ông đã đúc kết tinh hoa và đạo học của đời mình mà viết cuốn “Đạo Đức Kinh” lưu lại hậu thế. Tác phẩm vô cùng ngắn gọn, hàm súc ấy lại đề cập đến những vấn đề không tầm thường chút nào. Lão Tử khuyên người ta phải biết tu thân dưỡng tính, sống thuận theo tự nhiên, chất phác, không tranh giành…


Tu dưỡng thân tâm, buông bỏ dục vọng, theo Lão Tử chính là cách để đạt đến cảnh giới cao trong Đại Đạo. Muốn trường sinh bất lão, khỏe mạnh an vui thì phải biết “vô vi”. Vô vi không phải là phó mặc, không hành động mà là thuận theo Đạo, theo tự nhiên. Lão Tử dạy người ta làm người minh trí thì phải biết đến tam thủ sau đây:

1. Thủ ngu

“Quân tử thịnh đức dung mạo như ngu” (Người quân tử có đức hạnh đủ lớn nhưng dung mạo như kẻ ngu si đần độn).

Triết học của Lão Tử là triết học coi trọng sự khiêm tốn với chủ trương “Hòa quang đồng trần” (Hòa ánh sáng lẫn với thế tục). Người thực sự thông minh là người không để người khác thấy được tài năng xuất chúng của mình một cách dễ dàng mà là ẩn giấu nó bên trong.

Trong tác phẩm Sử Ký có ghi, tuổi trẻ của Khổng Tử đi bái kiến Lão Tử, Lão Tử đã nói một câu kinh điển nổi tiếng: “Lương cổ thâm tàng nhược hư, quân tử thịnh đức dung mạo nhược ngu”. Ý rằng bậc cao nhân thì không khoa trương về bản sự của mình, cũng như một thương nhân giỏi có đầu óc thanh tỉnh thì luôn biết cất giữ hàng hóa của mình không cho đạo tặc bên ngoài biết. Khoa trương bản thân cũng như khoe khoang hàng hóa của mình sẽ chỉ dẫn đến sự chú ý của người khác, tự rước hoạ vào thân.

Một người quân tử có đầy đủ phẩm hạnh sẽ luôn hiểu được đạo lý, biết ẩn giấu bản sự của mình vào trong. Còn bề ngoài thì lại khiến cho người khác giống như một người ngốc nghếch khờ khạo. Nguyên nhân bởi người thông minh thường dễ nhận sự đố kỵ, công kích từ người khác.


Lão Tử nói với Khổng Tử rằng phải vứt đi cái khí kiêu ngạo và tâm tham dục của bản thân, có như vậy mới có thể trở thành bậc Thánh nhân. Đây cũng giống như câu nói: “Đại trí nhược ngu” (Người thông minh thì như kẻ khờ khạo), hay như: “Hữu nhược vô, thực nhược hư” (có như không, thực như hư).

2. Thủ tĩnh

Lão Tử nói: “Thục năng trọc dĩ trừng? Tĩnh chi từ thanh” (Ai có thể làm nước đục trong trở lại ngoài cách tĩnh lại từ từ). Như vậy, mỗi khi đối diện với đại sự ắt phải có tĩnh khí.

Một ly nước dơ bẩn chỉ có cách lắng đọng lại từ từ mới có thể khiến nó dần trong trở lại. Tâm người cũng lại như vậy, khi tâm người không thể tĩnh lại mà quan sát mọi việc thì sẽ chẳng thể nhìn thấu được vạn sự thế nhân.

Trong cuốn Đạo Đức Kinh có viết: “Tĩnh vi táo quân” nghĩa là tĩnh chính là chủ thể chỉ huy sự vận động. Tĩnh có thể khắc phục tính khí nóng nảy, manh động của con người, giúp con người dần dần hồi phục được lý trí của mình. Một người có tính khí trầm tĩnh và một người có tính khí ồn ào ở với nhau, ắt người có tĩnh khí sẽ luôn chiếm ưu thế thượng phong.


Thời cổ đại, trên mũ của hoàng thượng luôn có một chuỗi rèm hạt ngọc đằng trước, mục đích của nó cũng chính là thông qua bức rèm ngọc nhỏ này giúp hoàng thượng có được tĩnh khí, không hành xử vội vàng.

Tăng Quốc Phiên từng nói: “Tâm tĩnh tắc thể sát tinh, khắc trị diệc tỉnh lực”, ý ở đây có nghĩa là chỉ có người có tâm tĩnh mới có thể suy xét kỹ càng vấn đề, phát hiện vấn đề và xử lý những vấn đề tinh vi. Làm được như vậy có thể giúp nâng cao hiệu quả công việc, giảm thiểu tối đa thời gian và sức lực.

3. Thủ nhu

Làm người cần phải thủ nhu, bởi vì mềm mỏng thắng cương cường.

Tương truyền khi mừng thọ Lão Tử 80 tuổi, có rất nhiều người đến chúc mừng, mọi người đều hồ hởi hỏi bí quyết trường sinh của ông. Lão Tử không nói lời nào mà chỉ mở to miệng cho mọi người xem, mọi người thấy vậy đều không hiểu hàm ý làm sao? Lão Tử mới giải thích: “Răng cứng nhưng nay đã chẳng còn, mềm mỏng như lưỡi lại còn như nguyên. Đây chính là đạo lý mềm mỏng thắng cương cường”.

Lão Tử ca ngợi và yêu quý nước, phụ nữ và trẻ em, chính là vì ông nhìn thấy được sức mạnh của sự mềm mỏng. Mềm mỏng chính là đại trí huệ của sinh mệnh, cũng như một cái cây khô thì rất dễ bị gió làm cho gãy, tuy nhiên cây còn sống biết thuận theo chiều gió mà lay chuyển thì lại chẳng hề gì. Đạo lý làm người và cây cũng lại như thế, những thứ có sinh mệnh thì đều mang một thân thể mềm, chết rồi thì liền biến thành cứng.


Nước chảy đá mòn, nước kia tuy mềm nhưng xuyên thủng được đá. Vậy nên mềm mỏng chính là đại sức mạnh, trên đời này không có thứ gì có thể mềm hơn nước và lại có thể mạnh hơn nước, nước có thể khắc chế được những thứ cứng rắn nhất trên đời.

“Binh vô thường hình, thủy vô thường thế”, vì những thứ mềm mỏng có thể dễ dàng uyển chuyển biến hóa cho nên có thể thích ứng với vạn sự. Còn thứ cứng rắn lại khó có thể biến hóa. Đây cũng là điều trong binh pháp Tôn Tử: “Vô hình thắng hữu hình”.

Cuộc sống vốn dĩ rất giản đơn, bậc cao nhân có trí huệ thì đều biết chọn cho mình một cuộc sống trí huệ đơn giản nhất.

Minh Vũ biên dịch
Theo Sound of Hope

CẦN THIẾT - NGUYÊN SA


Cần thiết
thơ Nguyên Sa

Không có anh lấy ai đưa em đi học về
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa
Những lúc em cười trong đêm khuya
Lấy ai nhìn những đường răng em trắng
Đôi mắt sáng là hành tinh lóng lánh
Lúc sương mờ ai thở để sương tan
Ai cầm tay cho đỏ má hồng em
Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc...

Không có anh nhỡ một mai em khóc
Ánh thu buồn trong mắt sẽ hao đi
Tóc sẽ dài thêm mớ tóc buồn thơ

Không có anh thì ai ve vuốt
Không có anh lấy ai cười trong mắt
Ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong
Ai cầm tay mà dắt mùa xuân
Nghe đường máu run từng cành lộc biếc

Không có anh nhỡ ngày mai em chết
Thượng đế hỏi anh sao tóc em buồn
Sao tay gầy, sao đôi mắt héo hon
Anh sẽ phải cúi đầu đi về địa ngục...

NGUYÊN SA

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc thành bài hát Nếu vắng anh. - Nhac sĩ Ngô Thụy Miên phổ nhạc thành bài hát cùng tên.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Nguyên Sa (1/3/1932 - 18/4/1998) tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn Việt Nam nổi tiếng từ thập niên 1950, với những tác phẩm nổi danh như Áo lụa Hà Đông, Paris có gì lạ không em, Tuổi mười ba, Tháng sáu trời mưa, v.v...

Tổ tiên Nguyên Sa gốc ở Thuận Hoá (Huế), ông cố ông là Thượng thư Trần Trạm, giữ chức Hiệp tá Đại học sĩ trong triều đình thời Tự Đức, đến đời ông nội mới ra Hà Nội. Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, gia đình ông tản cư đi Hà Đông. Tại đây, ông bị Việt Minh bắt giam khi mới 15 tuổi. Hồi cư về Hà Nội, gia đình cho ông qua Pháp du học vào năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài ở Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Đại học Sorbonne. Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này. Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thuý Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà về nước. Năm 1975, ông di tản đi Pháp. Ba năm sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và ở California từ đó cho tới ngày qua đời.

Nguồn: Thi Viện