Tuesday, October 13, 2026

VÌ SAO TỐNG CAO TÔNG PHẢI LIÊN TIẾP BAN RA 12 KIM BÀI MỚI CƯỠNG ÉP ĐƯỢC NHẠC PHI THU QUÂN? KẾT CỤC CỦA TRIỆU CẤU RA SAO?

Năm đó, chỉ trong một ngày Tống Cao Tông liên tiếp ban ra 12 kim bài, cưỡng ép Nhạc Phi thu quân, Nhạc Phi đành nhẫn chịu lui binh. Nhạc Phi từ chiến trường trở về, bị tước bỏ binh quyền, rồi bị nhốt vào ngục của phủ Lâm An, hàm oan mà chết.

Quân tử và tiểu nhân: Thái độ của mọi người khi Nhạc Phi bị hàm oan (Hình Nhạc Phi (Tác giả: Winnie Wang/ Secretchina)

Sách sử có chép lại: “Thiên hạ đều kêu oan cho ông, người nghe đều rơi lệ“. Việc Nhạc Phi bị nhốt trong ngục rồi bị hại chết, đối với vua dân nhà Nam Tống như một quả bom, đã làm đảo lộn triều đình và nhân gian. Một nhóm người đồng lòng dâng sớ, ngay chính trượng nghĩa, muốn giải oan cho Nhạc Phi; nhưng lại có một nhóm người quyết tâm đẩy ông vào chỗ chết.

Sáng sớm ngày 13 tháng 10 năm Thiệu Hưng thứ 11 (năm 1141), Nhạc Phi vừa bị bắt vào ngục, đã có quan viên dâng sớ kêu oan cho ông, như tiến sĩ Trí Giáp ở Phần Châu. Nhận được thư kêu oan của Trí Giáp, Tần Cối liền bắt giam Trí Giáp vào ngục, sau đó phạt đánh bằng trượng, lưu đày đến Viên Châu (nay thuộc khu Viên Châu, Nghi Xuân, Giang Tây).

Tình thế lúc ấy vô cùng nghiêm trọng, nên đứng ra bảo vệ lẽ phải hay im lặng để tự bảo vệ mình? Đến thời khắc khảo nghiệm nhân tính con người, những người liên quan sẽ lựa chọn đi con đường nào, sẽ chọn đứng về phía nào?

Sau khi Nhạc Phi bị giam trong nhà ngục, tình hình trong triều lúc ấy chỉ có thể dùng một câu để hình dung, chính là: “Nhạc Phi chết trong ngục, khi đó triều thần đều sợ tai họa, không ai dám cất lời”

Trong triều đình

Đại tướng quân Hàn Thế Trung, người đã bị tước binh quyền về nhà ẩn cư, phẫn nộ đến gặp Tần Cối chất vấn, Tần Cối trả lời: “Tuy không rõ, nhưng sự thể không cần có”.

Ý chính là nói, trong chuyện này, Nhạc Phi có tội hay không có tội đều không quan trọng, đây là ý của vị ở trên (Tống Cao Tông Triệu Cấu). Hàn Thế Trung nối giận nói: “Ba chữ ‘không cần có’ làm sao khiến cho thiên hạ chịu phục được”.

Để có thể dẹp yên dư luận, triều đình đem chuyện Nhạc Phi bị bắt vào ngục, công khai cho dân chúng. Không chỉ muốn hại chết Nhạc Phi, chúng còn muốn làm xấu thanh danh của ông, quy kết ông là phản thần nghịch đảng, gán cho ông là phần tử xấu.

Nhưng mọi người vốn đều không tin, hơn nữa còn kịch liệt phản đối. Quan Đại lý tự thừa Lý Nhược Phát và Hà Ngạn Dụ phụ trách thẩm án, không chịu phối hợp với ý của Tống Cao Tông Triệu Cấu, dẫn đầu giải tội cho Nhạc Phi. Họ đều cho rằng Nhạc Phi vô tội.

Triệu Cấu tức giận đập bàn, cho rằng hai người (Lý Nhược Phát và Hà Ngạn Du) chỉ một vụ án cũng không xử được, hai người cũng không cần làm quan nữa, liền miễn chức quan của hai người họ. Sau đó, Tống Cao Tông Triệu Cấu hy vọng Ngự sử Trung thừa Hà Chu sẽ buộc tội được Nhạc Phi.

Hà Chu vốn là người của Triệu Cấu, mang theo nhiệm vụ đến kết tội Nhạc Phi. Kết quả là trong khi thẩm vấn, Nhạc Phi cởi áo, để lộ ra bốn chữ xăm trên lưng “Trung quân ái quốc”, Hà Chú bắt đầu thay đổi lập trường, từ chối phán án: “Không được, nếu kết tội người này tôi sợ sẽ mang tội, ai muốn chịu thì tự chịu lấy”.

Mẹ của Nhạc Phi xăm chữ: Trung quân ái quốc (Nguồn hình: Đoàn Nghệ thuật Shen Yun)

Triệu Cấu lại nổi giận đập bàn. Sau đó Hà Chú bị miễn chức, giáng chức đến Huy Châu. Khu Mật Viện biên tu (quan sử) Hồ Thuyên, chỉ là một chức quan nhỏ bát phẩm. Sau khi Nhạc Phi bị bỏ ngục, ông không ngừng dâng sớ, kêu oan cho Nhạc Phi, còn xin xử trảm Tần Cối. Kết quả Hồ Thuyên bị giáng chức đến Hải Nam.

Còn có Tề An Quận Vương Triệu Sĩ Niễu, ông vốn là hoàng thân quốc thích. Triệu Sĩ Niễu đến trước mặt Tống Cao Tông Triệu Cấu để tranh luận phải trái, nói hết mọi chuyện, còn lấy tính mạng của bản thân và gia đình để bảo đảm cho Nhạc Phi, nói rằng: “Nếu Nhạc Phi có vấn đề gì, bệ hạ chém đầu cả trăm mạng trong nhà thần cũng được”.

Rất nhanh sau đó Triệu Sĩ Niễu cũng bị miễn chức, đày đến Kiến Châu.

Người dân chất vấn

Trong triều đình đấu lý chưa có hồi kết, từ trong nhân gian cũng truyền đến tiếng kêu oan cho Nhạc Phi. Lưu Duẫn Sanh là một trong số đó. Lưu Duẫn Sanh vốn là một người dân bình thường. Ông muốn nói với triều đình, để triều đình biết Nhạc Phi là trung thần.

Trong triều đình có rất nhiều người vì chuyện này mà bị giáng làm thứ dân hoặc lưu đày tha hương, một người dân nhỏ bé, lại dám chủ động dâng tấu, đúng là không biết trời cao đất dày.

Trung Hưng Tứ Tướng: từ trái sang: Nhạc Phi (thứ 2); Trương Tuấn (thứ 4); Hàn Thế Trung (thứ 5); Lưu Quang Thế (thứ 7). Tranh của Lưu Tùng Niên đời Nam Tống. (Miền công cộng)

Lưu Duẫn Sanh thuộc tầng lớp dân thường áo vải, vừa đệ trình đơn kiện không lâu, đã bị mang đi xử tử. Sử quan có chép lại tên của ông, trong chính sử còn lưu lại một câu: “Dân thường áo vải Lưu Duẫn Sanh dâng sớ kiện án oan cho Nhạc Phi, vì vậy mà bị xử tử.”

Lính canh ngục lương thiện

Thế nhưng, không phải ai cũng bị dọa sợ. Ngay sau lúc Nhạc phi bị hại, một người lính canh ngục tên là Ngỗi Thuận đã nhặt di thể của ông. Ngỗi Thuận chỉ là một lính canh ngục nhỏ bé, ở vị trí thấp nhất trong hệ thống quan lại.

Ngỗi Thuận đã chứng kiến toàn bộ quá trình Nhạc Phi bị bắt giam, tra tấn rồi xử tử. So với những người khác, Ngỗi Thuận càng thấu hiểu sâu sắc nỗi oan khuất của Nhạc Phi.

Ông cũng biết rằng nếu liên quan đến Nhạc Phi sẽ nguy hiểm biết bao. Một ngày nọ, thừa dịp đêm tối, Ngỗi Thuận tìm được di thể của Nhạc Phi, liền cõng trên lưng, đi vòng qua qua lính canh rồi trốn ra được khỏi thành.

Ông mang di thể của Nhạc Phi chôn ở bên đền Cửu Khúc Tùng. Để sau này có thể nhận ra, Ngỗi Thuận lấy chiếc vòng ngọc sinh thời Nhạc Phi đeo buộc vào dưới lưng ông, còn trồng trước mộ hai cây quýt.

Ngỗi Thuận trước khi chết đã nói việc này với con trai và căn dặn con: “Nhạc đại nhân cả đời anh hùng, cuối cùng lại chịu kết cục này, con nếu chết thì cũng phải truyền lại bí mật này cho các đời sau. Trời xanh có mắt, Nhạc tướng quân nhất định có ngày được minh oan”.

Hai mươi năm sau, tức năm Thiệu Hưng thứ 32 (năm 1162), Tống Hiếu Tông Triệu Thận lên ngôi, chuẩn bị thảo phạt quân Kim ở phương Bắc. Thuận theo lòng dân, Tống Hiếu Tông Triệu Thận giáng chỉ giải oan, rửa tội cho Nhạc Phi, ban thụy là Võ Mục, treo thưởng 500 quan bạc trắng tìm di cốt Nhạc Phi.

Con trai của Ngỗi Thuật đem chân tướng cha mình đã bí mật chôn Nhạc Phi bẩm báo cho quan phủ, lúc này di thể của Nhạc Phi mới lại được thấy ánh sáng mặt trời. Di cốt của Nhạc Phi được cải táng ở núi Thê Hà, hồ Tây Tử Hàng Châu, gọi là “Tống Nhạc Ngạc Vương mộ“. Nhạc Phi còn được lập miếu thờ ở Vũ Xương tỉnh Hồ Bắc, truy thụy hiệu là “Trung Liệt”.

Tống Hiếu Tông còn sửa lại “Tống sử” để người đời sau hiểu rõ, hậu thế sẽ đến trước mộ để tưởng nhớ ông. Nếu không có Ngỗi Thuận, phần mộ của Nhạc Phi ngày nay, có lẽ chỉ có quần áo và di vật của vị anh hùng dân tộc Nhạc Phi mà thôi.

Ngày nay ở quê hương Nhạc Phi, trong miếu Nhạc Phi huyện Thang Âm tỉnh Hà Nam, bên trái tượng Nhạc Phi ngồi là bức tượng toàn thân Ngỗi Thuận, đó là dân gian góp tiền xây dựng. Nhạc Phi trong lòng người dân Trung Quốc là một vị Võ Thánh, mà Ngỗi Thuận liều chết nghĩa khí chôn Nhạc Phi là mẫu mực của kẻ sỹ nhân nghĩa.

Cặp đôi quân thần gian tà

Năm đó, Triệu Cấu và Tần Cối, một đôi gian đế gian tướng này, vì mạng sống và hưởng lạc của mình, yên ổn một xó, không để ý gì đến cuộc sống của nhân dân, chủ động cầu hòa với nước Kim, xưng thần, nộp cống, để lấy lòng Hoàn Nhan Ngột Truật, đã sát hại Nhạc Phi tàn khốc.

Tháng 6 năm Thiệu Hưng thứ 25 (năm 1155), Tần Cối mọc một cái mụn độc khó hiểu trên cột sống, mấy ngày sau, đau đớn mà chết ở tuổi 65. Trước khi Tần Cối chết, Triệu Cấu đã cự tuyệt ý đồ đưa con nuôi Tần Cối là Tần Hy lên làm tể tướng, từ đó, bè đảng Tần Cối thất sủng, bị triều đình ghẻ lạnh, đẩy nhanh cái chết của Tần Cối.

Tần Cối. (Miền công cộng)

Năm Thành Hóa thứ 11 đời Minh (năm 1485), mộ Tần Cối bị kẻ trộm hủy hoại hoàn toàn, những kẻ trộm mộ lấy được hàng vạn các đồ vàng bạc. Kẻ trộm mộ sau khi bị quan phủ bắt được, quan địa phương có ý giảm nhẹ hình, gọi là “giảm hình phạt, để rõ cái ác của Tần Cối”, thực ra là quan phủ xúi giục kẻ trộm mộ. Con cháu đời sau Tần Cối phần lớn đổi sang họ Từ.

Sau khi Tần Cối chết, thân thể thật sự bị đọa địa ngục chịu tội, sau mấy trăm năm rồi, vào thời Dân Quốc, có người bị xuống địa ngục được hoàn dương trở về nói, Tần Cối vẫn ở dưới địa ngục chịu khổ.

Ngày 17 tháng 3 năm 1279, triều đình lưu vong Triệu Tống dưới sự truy đuổi đánh đến cùng của quân Nguyên Mông, trải qua trận Nhai Sơn hải chiến, quân Nguyên lấy ít thắng nhiều đánh bại quân Tống. Tả thừa tướng thời Tống Mạt Lục Tú Phu cõng tiểu hoàng đế Triệu Bỉnh vừa tròn 8 tuổi, dẫn hơn 800 người hoàng tộc họ Triệu nhảy xuống biển tự tử.

10 vạn quân dân nhà Nam Tống sau khi chiến bại cũng theo đó mà nhảy xuống biển tuẫn quốc, nhà Nam Tống do Triệu Cấu khai sáng yên ổn một chút thì từ đây đã bị tiêu diệt hoàn toàn.

Đại quân Nguyên Mông vừa mới đánh tan Lâm An xong, mấy tháng sau, Dương Liễn Chân Ca, tăng nhân Tây Vực, Tổng quản Phật giáo Giang Nam lúc đó đã chỉ thị cho nhóm người Tông Duẫn, với danh nghĩa báo thù, đào trộm phá hủy lăng mộ của nhóm người Triệu Cấu. Tất cả đào 101 ngôi lăng mộ họ Triệu, đem hài cốt dòng tộc họ Triệu vứt đầy núi rừng, trông thật thê thảm.

Dương Liễn Chân Ca còn đem thi hài họ Triệu trộn lẫn xương trâu ngựa, để vào trong tháp xây cao 13 trượng ở cố cung Lâm An, gọi là Trấn Bản, ý nghĩa là trấn trụ triều đình Nam Tống, ngăn chặn nó sống lại. Ngày nay lăng mộ nhà Nam Tống đã không còn tồn tại.

An Nhiên
Theo: NTDVN

Monday, October 12, 2026

HẠM ĐỘI KHỔNG LỒ CỦA TRỊNH HÒA ĐÃ ĐI ĐÂU SAU CHUYẾN HẢI TRÌNH CUỐI CÙNG?

Hơn 600 năm trước, những đoàn thuyền khổng lồ của Trung Quốc từng vượt Ấn Độ Dương, nhưng rồi biến mất trong một bước ngoặt lịch sử.


Từ năm 1405 đến 1433, đô đốc Trịnh Hòa dẫn đầu bảy chuyến hải trình lớn dưới triều Minh, đưa các hạm đội Trung Quốc đến Đông Nam Á, Ấn Độ, bán đảo Arab và bờ biển Đông Phi. Những đoàn thuyền này mang theo sứ thần, binh lính, thương nhân và hàng hóa, thể hiện sức mạnh hàng hải của đế chế Minh. Thế nhưng, sau chuyến đi cuối cùng, một câu hỏi vẫn khiến hậu thế tò mò: Điều gì đã xảy ra với hạm đội từng làm chủ những tuyến đường biển rộng lớn ấy?

Hạm đội của Trịnh Hòa không chỉ gồm những “thuyền bảo vật” nổi tiếng mà còn có nhiều loại tàu phục vụ các nhiệm vụ khác nhau, từ vận chuyển lương thực, chở ngựa đến hộ tống và tác chiến. Quy mô chính xác của các con tàu lớn vẫn là chủ đề tranh luận. Một số sử liệu ghi kích thước rất đồ sộ, nhưng các nghiên cứu hiện đại lưu ý rằng việc quy đổi đơn vị đo cổ và thiếu bằng chứng khảo cổ trực tiếp khiến những con số ấy cần được xem xét thận trọng.

Bước ngoặt xuất hiện sau khi hoàng đế Vĩnh Lạc qua đời năm 1424. Người kế vị là Hồng Hy chủ trương chấm dứt các chuyến đi tốn kém, dù chương trình được khôi phục dưới thời Tuyên Đức và dẫn đến chuyến hải trình thứ bảy, khởi hành năm 1431. Trịnh Hòa qua đời trong hoặc gần cuối chuyến đi cuối cùng, khoảng năm 1433. Sau đó, triều đình không còn duy trì những cuộc viễn chinh hàng hải quy mô tương tự.

Ảnh: welt

Dưới thời các hoàng đế tiếp theo, chính sách hàng hải thay đổi đáng kể. Năm 1435, triều đình bãi bỏ một số chức vụ quản lý tàu viễn dương, giải tán lực lượng liên quan và ra lệnh tháo dỡ hoặc cải biến nhiều tàu đi biển thành loại thuyền nhỏ hơn. Hoạt động vận chuyển lương thực bằng đường biển cũng dần nhường chỗ cho hệ thống kênh đào. Những con tàu từng vượt đại dương vì thế không còn được ưu tiên bảo dưỡng và sử dụng như trước.

Số phận cụ thể của từng con tàu vẫn chưa được xác định đầy đủ. Nhiều tàu có thể đã bị tháo dỡ, cải tạo hoặc xuống cấp theo thời gian. Không có bằng chứng chắc chắn cho giả thuyết phổ biến rằng toàn bộ hạm đội bị đốt cháy trong một chiến dịch duy nhất. Những câu chuyện về việc triều đình cố tình tiêu hủy mọi con tàu và hồ sơ hàng hải thường đơn giản hóa một quá trình suy giảm kéo dài, chịu tác động của chính sách, ngân sách và sự thay đổi ưu tiên chiến lược.

Ảnh: sinocultural

Sự kết thúc của các chuyến đi không có nghĩa hoạt động hàng hải Trung Quốc lập tức biến mất. Thương mại tư nhân vẫn tiếp tục, bất chấp những quy định hạn chế ở một số giai đoạn. Tuy nhiên, triều Minh không còn tổ chức những hạm đội viễn dương khổng lồ với mục tiêu ngoại giao và phô trương quyền lực như thời Trịnh Hòa.

Ngày nay, những chuyến đi của Trịnh Hòa vẫn là biểu tượng nổi bật của lịch sử hàng hải thế giới. Câu chuyện về hạm đội của ông cũng cho thấy một sự thật đáng suy ngẫm: sức mạnh kỹ thuật và hàng hải không tự bảo đảm sự tồn tại lâu dài của một chương trình lớn. Khi ưu tiên chính trị thay đổi, ngay cả những con tàu từng vượt đại dương cũng có thể dần biến mất khỏi lịch sử.

Thanh Bình (t/h) / Theo: kienthuc.net



THỜI XƯA VỢ CHỒNG XƯNG HÔ VỚI NHAU NHƯ THẾ NÀO?

Theo quan niệm của người xưa, “Đạo của bậc quân tử”, cũng như “đức hạnh” của người phụ nữ là những chuẩn tắc mà xã hội yêu cầu để tránh cho đạo đức con người không quá nhanh chóng xuống dốc.

(Ảnh minh họa)

Tuy nhiên, trong cuộc sống xã hội hiện đại ngày nay, các quan niệm đó đã có sự thay đổi ít nhiều. Vậy sự thay đổi đó đã và đang diễn ra như thế nào?

Chúng ta hãy cùng xem một trong những điểm khá nổi bậc, đó là sự thay đổi trong cách xưng hô vợ chồng theo thời gian.


Phụ nữ Trung Quốc cổ đại gọi chồng như thế nào?

Chúng ta biết rằng chữ Hán dựa trên một nền văn hóa vô cùng lâu đời. Thời cổ đại, người phụ nữ thường gọi chồng hoặc người yêu là “Lương nhân” và “Lang quân”, nghe rất nho nhã.

Đến thời nhà Tống, có sự dung hòa giữa văn hóa Nam Bắc, phụ nữ sẽ gọi một nửa của mình là “Quan nhân”. Còn ở trong cung đình thì sẽ gọi là “Quan gia”, sau này lại gọi thành “Tướng công.”

Điểm đặc biệt là địa vị của người chồng càng ngày càng được nâng cao. Đến thời cận đại, lại xuất hiện cách gọi là “Tiên sinh” và “Người yêu”.

Đến thời hiện đại, cách gọi chồng phổ biến nhất ở Trung Quốc hiện nay chính là “Lão công.” Nhưng thực ra, ở thời cổ đại, “Lão công” là dùng để chỉ Thái giám.

Vì vậy, có rất nhiều cách gọi chồng, nếu các chị em không muốn gọi chồng là “Lão công” thì có thể cách gọi cho phù hợp.

Mà lỡ chuyển cách xưng hô “Lão công” thành “Lão công công…” thì mau thay cách gọi đi nhé!

Cách xưng hô vợ chồng ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các cặp vợ chồng trẻ ngày nay thường xưng hô đơn giản là “anh, em”, dân dã hơn thì gọi nhau là “ông xã, bà xã”.

(Ảnh minh họa)

Lùi lại khoảng 30-40 năm trước, vợ chồng gọi nhau bằng “mình”. Mỗi lần xưng hô, gọi “mình ơi!…”, thể hiện tình cảm và sự gắn bó, tuy hai mà một. Ngày nay cách xưng hô “mình” vẫn tồn tại nhưng không phổ biến.

Thời Pháp thuộc, vợ chồng con nhà sang trọng, giàu có thường gọi nhau bằng “cậu mợ”, nhà thường dân thì gọi nhau là “anh chị”. Nếu có con rồi thì gọi nhau là “thầy em”, còn nhà thô tục thì gọi là “bố nó, mẹ nó”. Có vùng cả hai vợ chồng gọi nhau là “nhà ta, nhà tôi”.

Người xưa rất coi trọng tiếng gọi vợ chồng, tiếng gọi vừa thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau, cũng là nhắc nhở cả hai về nghĩa vợ chồng.

Trong hôn nhân thời xưa, vợ chồng cư xử với nhau quan trọng nhất là hai chữ “hòa thuận”. Dù chuyện gì xảy ra cũng cần “đóng cửa bảo nhau”, tìm cách dung hòa, giải quyết, chứ tuyệt đối không được vội vàng từ bỏ hoặc làm điều gì trái với đạo đức, lương tâm.

Người chồng trọng nhất là giữ nghĩa với vợ, người vợ trọng nhất là giữ tiết với chồng.

Xét về phẩm chất của người vợ, người vợ thời xưa phải đảm bảo đủ “tam tòng, tứ đức”. )Tam tòng: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử – Nghĩa là khi người đàn bà còn ở nhà thì theo cha mẹ khi đã lấy chồng thì theo chồng, khi chồng mất thì theo con. Tứ đức là: Công, dung, ngôn, hạnh.)

Công: là sự khéo của người phụ nữ, từ nữ công gia chánh như nấu ăn, may thêu, buôn bán, giỏi nữa thì biết tứ nghệ: cầm kỳ thi hoạ.

Dung: Chỉ “dung nhan”, đề cập đến vẻ đẹp hình thức của người phụ nữ. Đó là vẻ kín đáo, thùy mị, nết na, đảm đang,… như ca dao ca ngợi:

“Những người thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng vừa khéo nuôi con”.

Ngôn: Là những lời nói nhã nhặn, kín đáo, dễ nghe, nhỏ nhẹ, khoan thai, dịu dàng,… kèm theo đó là những cử chỉ phù hợp, cư xử đúng phép tắc, nói đúng chỗ, đúng lúc; thể hiện sự đoan trang, thanh lịch của người phụ nữ.


Hạnh: Đây là đức tính cuối cùng trong “tứ đức” của người phụ nữ và được xem là quan trọng nhất. Hạnh dùng để chỉ đạo đức, lòng chung thủy son sắt, lòng nhân hậu, giữ trọn nề nếp gia phong,… Đức hạnh đó của người phụ nữ được thể hiện qua các mối quan hệ với cha mẹ, con cái, vợ – chồng…Biết trên kính, dưới nhường, ở trong nhà chiều chồng thương con. Ra ngoài thì nhu mì chín chắn, không hợm hĩnh, không cay nghiệt với ai.

Nghĩa vụ của người chồng đối với vợ trong quan niệm thời xưa là phải ở cho đúng đắn, biết thương yêu vợ, biết quý trọng vợ, nhất là có tài trí, trở thành điểm tựa khiến cho vợ có được bảo vệ, nương nhờ.

Người xưa có câu “Phu phụ tương kính như tân”, nghĩa là vợ chồng quý nhau như khách, ngoài ra cũng có câu “phu phụ hòa nhi hậu gia đạo thành”, nghĩa là vợ chồng có hòa thuận thì mới nên gia đạo. Hai câu ấy đủ làm gương cho đạo vợ chồng.

Thiện Thành / Theo: Tinh Hoa

Sunday, October 11, 2026

THUẬT XEM TƯỚNG ĐOÁN TIỀN KIẾP - BẠN ĐẾN TỪ ĐÂU?

Từ các đạo trong lục đạo luân hồi chuyển sinh thành người, đều mang theo một số thói quen đặc trưng. Thông qua những thói quen này, chúng ta có thể phán đoán mình hoặc người khác từ đạo nào trong lục đạo đầu thai chuyển sinh.


Phật giáo giảng rằng, con người có đời trước đời sau, sống chết luân hồi không ngừng. Nhưng luân hồi chuyển thế không chỉ luân hồi trong đạo người, mà là “lục đạo luân hồi”. Lục đạo luân hồi có nghĩa là sinh mệnh sẽ được chuyển sinh trong lục đạo nội trong Tam giới. Lục đạo bao gồm: người Trời, Atula, người, súc sinh(súc vật), ác quỷ và địa ngục.

Chúng ta thường thấy hình thái sinh mệnh là người và súc sinh trong lục đạo, còn 4 loại hình thái sinh mệnh khác thì phải trong điều kiện đặc biệt mới có thể nhìn thấy.

Con người sau khi chết thăng lên cõi Trời hay tiếp tục đầu thai làm người, hoặc đọa địa ngục, ác quỷ, súc sinh, thì chủ yếu dựa vào đức (nghiệp thiện) và nghiệp lực (nghiệp ác) mà con người đã tích lũy trong nhiều đời. Từ các đạo trong lục đạo luân hồi chuyển sinh thành người, đều mang theo một số thói quen đặc trưng. Thông qua những thói quen này, chúng ta có thể phán đoán mình hoặc người khác từ đạo nào trong lục đạo đầu thai chuyển sinh.

Thân thể, tướng mạo của tất cả mọi người trong thế gian hết thảy đều là nhân quả. Thân hình tướng mạo, lời nói cử chỉ, hành vi hành động của con người thế gian, không ai là không có “thói quen”. Thói quen của mỗi người đều là có nguồn gốc, nhìn tướng mạo, ngôn hành, động tác của những người này là có thể biết được họ từ nơi nào trong lục đạo chuyển sinh đến thế gian con người.


Thói quen giống như mùi vị của tỏi, cho dù đã nghiền nát ra, xịt nước hoa lên, thì cũng khó tiêu trừ được. Vật tụ theo loài, con người cũng quần tụ theo thói quen, tạo ra cộng nghiệp.

Người từ trong địa ngục chuyển sinh nhân gian có các đặc trưng sau:

1) Giọng của họ rè và vỡ như lừa, la đang kêu, giọng rất lớn, gầm gào lại thô bạo, gấp gáp.

2) Những người này thường nói mà không giữ chữ tín, thường nói lời cuồng vọng, khiến người ta khó mà tin được. Họ giống như những người không có thân bằng cố hữu.

3) Những người này tướng mạo xấu xí, và không tôn kính thầy và bề trên, không tin chính Pháp.

4) Những người này bất hiếu bất nghĩa, không có tâm xấu hổ.

5) Họ thích những việc sát sinh, thường tạo rất nhiều nghiệp ác.

6) Họ thường đoản mệnh, không sống lâu.

7) Họ thấy việc thiện cũng khó phát tâm từ bi.

8) Loại người này chú định sau khi chết lại đọa vào trong 3 ác đạo.

Người từ đạo người chuyển sinh trở lại nhân gian có đặc điểm sau:


1) Những người này có cá tính hiền lương chính trực, thân cận bạn bè thiện, thường giữ chữ tín, có lòng trung thành và hiếu thuận.

2) Nếu có kẻ ác phỉ báng vu cáo họ, thì cuối cùng họ cũng sẽ không đối phó với người phỉ báng mình, bởi vì họ là người biết liêm sỉ, trung hậu thủ tín và có lòng khoan dung.

3) Họ thích thanh danh, trọng danh dự, là người khéo tay, có trí tuệ và được kính trọng. Họ có cái tâm biết xấu hổ, tâm tính dịu dàng, có lòng biết ơn và báo đáp đối với những người có ân huệ và chăm sóc mình.

4) Đối với sự dạy bảo của những người hiền, Thánh nhân, họ thuận theo mà không làm trái lại. Họ là người nhân từ, hiếu kính cha mẹ, tôn sư trọng đạo, cẩn thận kính trọng người bề trên, cấp trên.

5) Họ thấu hiểu người khác, làm việc có phương pháp, biết phân việc gấp việc thường, đối nhân xử thế có nguyên tắc, có chừng mực.

6) Họ khéo hòa hợp, thường vui và tin theo Đạo Pháp. Họ thích bố thí, thường hành thiện. Họ không thích mang nợ, không phụ bạc, phản bội người.

7) Họ có chút tiền tài thì thích làm việc thiện, dù có nghèo khổ vẫn làm việc thiện, giúp đỡ người khác, mong muốn người khác được yên vui, không muốn nhìn thấy việc người khác bị thống khổ.

Những người này với những hành vi như thế này thì chú định sau khi chết sẽ sinh ở cõi Trời, không bị đọa địa ngục, sau này lại chuyển sinh nhân gian, được sống vui vẻ, không phải chịu nhiều khổ cực, thường nhiều đời được thân người.

Người từ đạo súc sinh chuyển sinh nhân gian có những đặc điểm sau:


1) Những người này thần trí tối tăm, là người ngu xuẩn, ít trí tuệ, không có chừng mực, lười biếng.

2) Họ thường tham và ham ăn, đồ ăn gì cũng ăn, ăn tạp lại còn dương dương tự đắc là không cần để ý.

3) Những người này cá tính vừa bướng vừa dữ, nói chuyện rất lỗ mãng. Họ là người có sức lực, thường mang vác vật nặng.

4) Họ thích kết giao làm bạn tri kỷ với những người ngu si (tức người có cùng đặc tính súc sinh)

5) Họ thích nằm co chân.

6)Họ có thể nằm trên đất bất kỳ chỗ nào, bất kỳ lúc nào, cũng không tránh những thứ dơ bẩn. Họ thích để mình trần, không biết xấu hổ (có thể không mặc y phục thì sẽ không mặc, không có lòng xấu hổ)

7) Tâm thường giả dối và nói lời cuồng ngôn. Họ thường tùy tiện nói người khác, xúc xiểm, không chân thật (hay nói xấu người khác, gây chuyện thị phi, siểm nịnh, lòng dạ cong vẹo, không đáng tin cậy)

8) Họ thích mưu tính lấy tiền tài của người khác, thường thích chối nợ (tìm cách chối nợ, quỵt nợ). Những người này thấy việc thiện không thể phát tâm, không tin chính Pháp, thường gây ra tội thập ác bất thiện.

9) Loại người này đã lưu lạc trong ác đạo nhiều lần, trải qua vô lượng ức kiếp không được làm người, đời này khó có được tấm thân người, nhưng vẫn như thế, vì vậy chú định sau khi chết lại quay lại biển khổ, chuyển sinh trở lại đạo súc sinh.

Người từ quỷ giới chuyển sinh nhân gian có những đặc điểm sau:

1) Tướng mạo của những người này đen gầy, không tươi sáng.

2) Họ để tóc ngắn xấu, hình dạng xanh đỏ tím vàng, uốn cong, mũi rụt mắt lồi, mắt trắng nhìn thẳng. (mũi cong vẹo, mắt hung dữ, lộ lòng trắng, ánh mắt thẳng)

3) Họ thường cảm thấy đói khát, thường thích ăn. Họ có cá tinh tham lam bủn xỉn, đố kỵ ghen ghét.


4) Họ rất chấp trước tà kiến, nói xấu sau lưng người khác, bình phẩm tốt xấu, gây chuyện thị phi. Họ có lòng tham và tâm dâm, thích tích trữ tiền tài, của cải, không bố thí cho mọi người (cực kỳ keo kiệt)

5) Họ ghét những người thiện lương, không thích trông thấy việc thiện, chỉ tin vào việc tà. Khi nhìn thấy tiền bạc, của cải, họ sẽ khởi tâm động niệm, không tự chủ được muốn đi lấy.

6) Họ thường khởi lòng tham và trộm cắp, mãi mãi không biết hài lòng, nếu bị thiệt một chút thì tức giận oán hận khôn nguôi.

7) Họ giành được chút tiền tài hoặc chút lợi thì trong lòng vui sướng. Nếu không giành được tiền tài thì sinh lòng ganh ghét muốn làm hại người.

8) Những người này không muốn phát tâm, lại tin tà kiến, không tu thiện pháp, bất kính chính Pháp. (họ tin thờ cúng quỷ thần, tự nhận mang sứ mệnh, thường đến nơi thờ cúng, thích cúng bái, thích đến những miếu thờ cô hồn dã quỷ, thích hầu đồng thượng đồng để xem việc, quỳ lạy cầu xin sinh lợi phát tài). Những người này chú định sau khi chết sẽ đọa địa ngục, trải qua thời gian dài không đếm xuể lại từ địa ngục ra, lại sinh thân quỷ, cư như vậy chuyển sinh trong biển khổ không ngừng.

Người từ A tu la đầu sinh nhân gian có đặc điểm sau:


1) Họ cao ngạo tự đại, cái tâm ngã mạn cực kỳ mạnh mẽ, không tin chính Pháp lắm, đôi khi cũng có người vào cửa Đạo cửa Phật, động cơ cũng không thuần, tranh đấu, vì lợi ích mà phá hoại sự hòa hợp, làm tổn hại đồng môn.

2) Họ thích nổi giận (động tí là tức giận), thích tranh cãi, đấu tranh với người khác.

3) Họ có lòng dạ cực kỳ hẹp hòi, ghi nhớ oán hận, ghen ghét hành ác (rất thù dai nhớ lâu, oán hận tìm cách phục thù, nhất định hạ gục người ta mới thôi, căm ghét người khác, không thích gặp người tốt, tâm đố kỵ rất nặng, vì vậy thường sinh lòng ghen ghét)

4) Họ nói chuyện xu nịnh và không thật, giả tạo, dối trá. Chối nợ mắng chửi người.

5) Họ là người cao lớn khỏe mạnh, mắt trắng tròn, răng chìa và thưa, răng nhọn lộ ra ngoài, dũng mạnh có sức lực, trong tâm thường nghĩ chuyện chiến tranh đánh nhau, ví dụ thích trò chơi chiến tranh và sinh tồn nơi hoang dã.

Vì những nghiệp bất thiện này, họ chú định sau khi chết sẽ đọa địa ngục, sau đó lại tùy theo nghiệp báo chuyển sinh vào ác đạo, sau đó lại chuyển sinh trở lại đạo A tu la.

Người từ cõi Trời chuyển sinh nhân gian có những đặc điểm sau:


1) Nếu có người giữ giới tu thiện thì có thể được sinh cõi Trời, khi từ cõi Trời rớt xuống và sinh vào nhân gian, họ sẽ có tướng mạo trang nghiêm, có chính tín chính kiến, tướng mạo đẹp tốt, là người thông minh trí tuệ, yêu thích thanh tịnh.

2) Họ thích đeo đồ trang sức trên đầu, xông hương, yêu thích sạch sẽ, thích chọn người hiền lương kết giao.

3) Họ thường vui thích tán thán ca múa. Họ thường thích ở lầu cao, không thích ở dưới thấp, nhà thấp. Họ thường hay cười, không sân hận, có đức hạnh (tức giận có đạo lý), nói chuyện thường nói lời hay ý đẹp, nói lời thành khẩn, khiến người nghe đều vui thích tin tưởng. Họ nói lời không gây tổn thương người, có đại trí tuệ.

4) Họ thường thích ăn mặc đeo đội những thứ trang trọng. Họ có tâm thiện, vui lòng xuất gia, tu Đạo. Nếu có minh sư họ sẽ tinh tấn tu trì, học Phật tu Đạo, không thích danh lợi thế gian, chí cầu Đạo Pháp.

Những người này có trí tuệ, nhiều kiếp tu hành, khó mà đánh giá, đoán định được, Họ là người hiền lương, có phúc.

Có nhiều người sẽ không hoàn toàn giống một cõi nào đó ở trên, có thể là do người đó đã trải qua nhiều cõi chuyển sinh khác nhau, có kiếp được làm người, có kiếp làm súc sinh, có kiếp bị giáng hạ xuống địa ngục…

Trên đây là một số kiến giải để mọi người giả tham khảo. Nếu từ ác đạo chuyển sinh thì cũng chớ buồn chán, thất vọng. Phật gia giảng đại ý; được thân người nào có dễ chi, nhân thân nan đắc. Do đó chúng ta cần phải tận dụng thời gian ở kiếp người để tu luyện, đề cao tâm tính và cảnh giới, bởi vì chỉ con người mới có thể tu luyện, mới được phép nghe Pháp.

Nếu tu luyện tốt bạn có thể nhảy xuất ra khỏi tam giới vĩnh viễn không phải chịu cái khổ luân hồi. Còn kém hơn chút ít thì cũng có thể làm người. Hồi tâm quy chính, nhất tâm hướng thiện, tín ngưỡng và thực hành Phật Pháp là điều con người cần phải làm và nên làm nếu muốn được hạnh phúc.

An Nhiên / Theo: vandieuhay

Mời các bạn xem video clip này nhé:


TRÙNG CỬU HẬU KIẾN TÂN CÚC - TRỊNH GIẢI


Trùng cửu hậu kiến tân cúc

Niên niên thì tiết cúc sơ khai,
Mãn sáp hoa chi đảo tửu bôi.
Kim nhật thu phong khi bệnh khách,
Duy tương bạch phát thượng đầu lai.


重九後見新菊

年年時節菊初開
滿插花枝倒酒杯
今日秋風欺病客
惟將白髮上頭來


Sau trùng dương thấy cúc mới
(Dịch thơ: phanlang)

Cúc chớm nở hàng năm đúng tiết
Cài đầy hoa nghiêng chén vui chơi
Nay gió thu coi thường người bệnh
Chỉ đưa thêm tóc trắng lên đầu


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Trịnh Giải 鄭獬 (1022-1072) tự Nghị Phu 毅夫, người An Lục, An Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc). Niên hiệu Hoàng Hựu thứ 5 (1053), ông thi đỗ tiến sĩ hạng nhất, nhận chức thông phán ở Trần Châu. Vào thẳng Tập hiền viện, cuộc sống hằng ngày là biên soạn và chú giải. Thời vua Thần Tông, ông làm học sĩ Hàn lâm, quyền tri phủ Khai Phong. Bởi phản đối việc cải cách chính trị của Vương An Thạch, nên từ Thị độc học sĩ bị giáng làm tri phủ Hàng Châu. Về sau cáo bệnh xin từ quan và đề cử Hồng Khánh Cung lên thay. Ông giỏi về thơ, cách diễn đạt tự nhiên, chất phác, phong cách mạnh mẽ trong sáng. Ông cũng có tài làm từ, lời đẹp đẽ ý thâm trầm. Tác phẩm có Vân Khê tập 鄖溪集 (thơ), Hoa Am từ tuyển 花庵詞選 (từ).

Nguồn: Thi Viện

"THA ĐƯỢC CHO NGƯỜI CHỖ NÀO THÌ NÊN THA", VẾ TIẾP THEO LÀ GÌ?

Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn nhưng lại mang theo nội hàm bác đại tinh thâm đúc kết kinh nghiệm sống của người xưa qua hàng ngàn năm, phản ánh trong hầu hết các khía cạnh cuộc sống của chúng ta. Nó không chỉ giúp cho thế hệ sau ít phạm phải sai lầm trên đường đời mà còn giúp cho cuộc sống thêm ý vị, đặc sắc hơn…


Có một câu tục ngữ mà hầu như mọi người đều biết, đó là: ‘Tha được cho người chỗ nào thì nên tha’ (Đắc nhiêu nhân xử thả nhiêu nhân). Câu tục ngữ này còn có vế tiếp theo. Hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu về lai lịch và ý nghĩa của nó…

Tha được cho người chỗ nào thì nên tha

Trong “Tây khê tùng ngữ” của nhà văn Diêu Khoan thời nhà Tống có viết như sau: “Có một đạo sĩ khi đánh cờ luôn nhường người khác đi trước, tức là để người khác cầm quân cờ đi trước một bước, để họ chiếm ưu thế trên bàn cờ. Chữ “nhiêu” không chỉ mang theo nghĩa tha thứ mà trong hoàn cảnh chơi cờ vây thời cổ đại, nó còn mang theo nét nghĩa là nhường đi trước một bước. Vị đạo sĩ này cũng từng làm một bài thơ:

“Lạn kha chân quyết diệu thông thần,
Nhất cục tằng kinh kỷ độ xuân.
Tự xuất động lai vô địch thủ,
Đắc nhiêu nhân xử thả nhiêu nhân”

Tạm dịch:

Cờ vây chứa huyền diệu của Thần
Mỗi ván trải qua mấy mùa xuân
Có nước cờ đi không địch thủ:
Nhường được cho người mới cao thâm.

“Lạn kha” là tên gọi khác của cờ vây. Vị đạo sĩ này sau đó đã qua đời tại huyện Bao Tín, thuộc tỉnh Hà Nam Trung Quốc ngày nay. Trước khi mất, ông ủy thác việc lo hậu sự cho một ông lão trong làng. Vài năm sau, ông lão tuân theo di chúc thực hiện cải táng mộ vị đạo sĩ. Lúc mở quan tài ra, ông phát hiện thấy điều kỳ diệu, quan tài trống rỗng và chỉ có quần áo bên trong.


Hóa ra đạo sĩ là một người tu luyện đắc đạo, ông đã dùng thuật “thi giải” để rời đi. Thuật “thi giải” chính là, người tu luyện thành công trong Đạo gia thường sẽ dùng quần áo, gậy tre hoặc thanh gươm biến thành xác chết nằm trong quan tài, còn người thật đã trở thành Thần Tiên và rời đi.

Từ đó về sau, câu chuyện về vị đạo sĩ và bài thơ của ông được lưu truyền, dần dần câu thơ “nhiêu nhân xử thả nhiêu nhân” được tách ra và trở thành câu tục ngữ mang hàm ý khuyên nhủ con người ta nên bao dung, độ lượng, cảm thông đối với những sai lầm của người khác và mang ý tha thứ.
 
Đến lúc buông tay thì cần phải buông tay

Câu tục ngữ “Tha được cho người chỗ nào thì nên tha” còn có câu tiếp theo mà ít người biết, đồng thời còn khiến chúng ta liên tưởng tới những suy nghĩ sâu xa hơn. Câu tiếp theo chính là “Đến lúc buông tay thì cần phải buông tay”.

Buông xả, buông xả – có buông xả chúng ta mới hiểu được, đắc được càng nhiều thì chúng ta cũng mất đi càng nhiều. Khi chúng ta chuyên tâm làm việc, hao tổn không ít thời gian và mất đi thời gian nhàn rỗi, khi càng cố gắng kiếm thêm nhiều tiền, chúng ta sẽ mất đi thời gian ở bên gia đình.

Khi đến lúc phải buông tay thì đừng nên luyến tiếc, những gì đã mất cũng chưa hẳn sẽ vĩnh viễn mất, học cách mỉm cười với nỗi đau mất mát để chào đón một tương lai tốt đẹp hơn, đó mới là cái tinh túy của “đến lúc buông tay thì cần phải buông tay”.

Ảnh: Shutterstock.

Nhiều lúc chúng ta phải đối mặt với những vướng mắc về tình cảm, nếu cứ cố níu kéo thì chỉ khiến cho một bên chịu nhận tổn thương. Khi đối mặt với công việc đang làm, nếu như tâm trạng không vui, không hạnh phúc, chúng ta cũng nên buông tay để nghỉ ngơi một chút, học tập thêm một chút để chuẩn bị cho điểm xuất phát mới.

Nếu nói “tha được cho người chỗ nào thì nên tha” là biểu hiện của ý chí rộng lớn, thì câu “đến lúc buông tay thì cần phải buông tay” lại là biểu hiện của dũng khí. Khi đối diện với hoàn cảnh khó khăn trước mắt hoặc sự việc không đạt được như ý, nếu có thể lấy lùi để tiến thì hoàn cảnh sẽ chuyển biến tốt đẹp.
 
Lời kết

Hai câu tục ngữ trên muốn nhắn nhủ cho chúng ta một điều: nên kết thiện duyên, lấy lên được thì cũng buông xuống được, dùng tâm thái này để đối nhân xử thế thì mới có thể sống thoải mái hạnh phúc tại thế gian.

Làm người nên biết chừa lại cho mình một đường lui. Trên đời này không tồn tại sự yêu hận vô cớ, đều là do bản thân tự tay gieo xuống nhân quả thiện ác. Hy vọng mỗi người đều biết đối xử tốt với người khác, bỏ qua lỗi lầm của người khác, có như vậy, chúng ta cũng gặt hái được phúc khí.


Tuy nhiên, một người muốn đạt được cảnh giới bao dung tha thứ và buông xả thì cần có thời gian tu tâm dưỡng tĩnh lâu dài, gặp phải chuyện không như ý mà có thể nhìn xét lại sự việc một cách thấu đáo, mới có thể bình tâm và nhận thức cuộc sống một cách thanh tỉnh.

Những lời nhắc nhở chân thành của cổ nhân đã trở thành chuẩn tắc sống, cũng là phương pháp đối nhân xử thế cho các thế hệ sau. Đến hôm nay, những lời dạy này vẫn mang lại lợi ích không nhỏ cho chúng ta.

“Tha được cho người chỗ nào thì nên tha; đến lúc buông tay thì cần phải buông tay”, nhìn có vẻ đơn giản nhưng kỳ thực lại là đại trí tuệ cõi nhân sinh, là tuyệt phẩm tinh tế, đem lại dư vị ngọt ngào nơi miền nhân thế.

Theo: Bình Tâm – Vision Times
San San biên dịch

MỸ NHÂN KHIẾN TRIỀU ĐẠI NHÀ MINH VONG QUỐC

Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn chỉ huy quân đội Mãn Thanh đã thâm nhập được quan ải do tướng quân Ngô Tam Quế trấn giữ, khiến nhà Minh của người Hán bị mất nước. Tội lỗi đó bị quy về một mỹ nhân sắc nước hương trời: Trần Viên Viên.

Ảnh minh họa. Nguồn: tinhhoa

Một trong giai đoạn lịch sử buồn của người Hán là bị nhà Thanh đô hộ trong gần 300 năm, chính xác là từ 1644 khi đến 1912. Quân đội của nhà Thanh dưới sự lãnh đạo của Nhiếp chính vương Đa Nhĩ Cổn đã thâm nhập được quan ải, khiến nhà Minh của người Hán bị mất nước. Tội lỗi đó bị quy về người đẹp Trần Viên Viên.

Trần Viên Viên người Hình Châu, mồ côi mẹ sớm, cha lại buôn bán xa nên gửi con cho người dì. Người dì nuôi dạy Viên Viên giỏi cả cầm kỳ thi họa rồi đem bán cho… kỹ viện. Sách Đinh Văn Lục chép “Mỗi khi nhìn ai, người đối diện cũng đều phải luống cuống khi lỡ nhìn vào cặp mắt đẹp mê hồn của nàng. Mái tóc của Viên Viên dài óng và mượt mà như nước hồ thu, nước da trắng ngần như sứ, thân hình mảnh mai và mỏng manh như thuỷ tinh”.

Lúc đó trong triều, vua Sùng Trinh (vua cuối nhà Minh) đang sủng ái Điền Quý phi khiến Hoàng hậu không vui. Cha của Chu hoàng hậu thấy vậy bèn mua Viên Viên đưa vào cung tiến vua để dùng sắc trị sắc, khiến vua xa lìa Điền Quý phi, lấy lại quyền lực nơi hậu cung cho Chu hoàng hậu. Quả nhiên, Sùng Trinh có mới nới cũ chuyển sang sủng ái Trần Viên Viên.

Sau vì chính sự đảo lộn, giặc giã nổi như ong, vua Sùng Trinh nghe lời can gián các quan nên tự sửa mình bằng việc bỏ chốn phòng the, xa rời nữ sắc. Viên Viên vì thế bị đem trả lại cho cha của Hoàng hậu. Chu quốc trượng (cha hoàng hậu) sau đó đem Viên Viên gả cho viên kiêu tướng Ngô Tam Quế.

Dù Sùng Trinh đã chịu sửa sang chính sự nhưng đã quá muộn khi xã hội nhà Minh lúc ấy đã loạn to. Lý Tự Thành nổi lên khởi nghĩa xưng là Sấm vương với hàng chục vạn nông dân tham gia. Quân của Sấm vương đánh đến tận kinh thành nhà Minh khiến Sùng Trinh phải treo cổ tự vẫn.

Sấm vương nghe nói sắc đẹp của Trần Viên Viên nên rắp tâm chiếm đoạt. Ngô Tam Quế lúc này đang chỉ huy 10 vạn quân đang đóng ở Sơn Hải Quan đề chống quân Thanh. Khi nghe Bắc Kinh bị huy hiếp, Ngô Tam Quế liền dẫn binh về cứu nhưng giữa đường nghe tin kinh đô đã thất thủ, vua Sùng Trinh đã chết, lại nghe Lý Tự Thành dụ dỗ, nên Ngô Tam Quế đã định hàng.

Nguồn: tinhhoa

Ngay cả khi nghe tin cha bị Lý Tự Thành giam thì Ngô Tam Quế vẫn cho rằng đó chỉ cách để Sấm vương ép mình hàng.Nhưng khi hay ái thiếp của mình là Trần Viên Viên bị Tự Thành chiếm đoạt, ông nổi giận đổi ý, đến đầu hàng quân Thanh. Chính Ngô Tam Quế đã mở toang quan ải đưa quân Thanh đánh thẳng vào Bắc Kinh. Từ đây, nhà Thanh áp đặt nền cai trị với người Hán mãi cho đến khi Phổ Nghi thoái vị năm 1912.

Cũng vì chuyện Ngô Tam Quế dẫn quân Thanh nhập quan mà người Hán oán trách, căm thù, phỉ báng Trần Viên Viên, vì cho rằng nàng chính là nguyên nhân gây ra việc người Mãn đô hộ người Hán. Nhưng điều này là bất công vì nếu Sùng Trinh anh minh, Ngô Tam Quế tỉnh táo thì có 10 Trần Viên Viên cũng không giúp quân Thanh nhập quan được.

Kết cục sau đó của Trần Viên Viên không được rõ. Có tài liệu ghi là sau khi dẹp loạn Sấm vương, Trần Viên Viên đã được đoàn tụ với Ngô Tam Quế. Cũng có tài liệu ghi rằng nàng đã bị sát hại trong đám loạn binh khi Bắc Kinh thất thủ.

Ngoài ra, còn có kết cục được nhiều người kể là sau khi trở thành vương gia của nhà Thanh, Ngô Tam Quế lo ngại bị điều tiếng lấy phải kỹ nữ, nên đưa nàng lên sống cô đơn trên một ngôi chùa vắng ở Côn Sơn – Vân Nam. Cuối đời, Trần Viên Viên trở thành một vị đạo cô, nàng sống ẩn dật và chết một cách âm thầm trong cô quạnh.

An Nhiên
Theo: tinhhoa