Saturday, April 18, 2026

CẦM 1 CHIẾC KHĂN TAY, ĐỨC PHẬT DẠY MÔN ĐỒ BÀI HỌC SÂU SẮC VỀ CÁCH ỨNG XỬ TRONG CUỘC SỐNG

Các môn đồ rất ngạc nhiên khi thấy hôm đó, không giống như mọi ngày, Đức Phật bỗng dưng mang theo một chiếc khăn tay.

Nguồn: kids.dadabhagwan

Trong một lần đi thuyết pháp, Đức Phật bỗng dưng mang theo một mảnh vải rất đẹp được may khéo léo ở các viền xung quanh. Nhìn kỹ thì đó là một chiếc khăn tay. Điều này khiến cho các môn đồ của Ngài vô cùng ngạc nhiên, vì bình thường, hầu như Ngài chẳng bao giờ cầm theo thứ gì như vậy. 

Thế rồi, trong khi Ngài thuyết pháp, Đức Phật chầm chậm dùng tay tạo ra nhiều nút thắt trên chiếc khăn. Sau khi thắt được khoảng 4, 5 nút, Ngài bỗng hỏi các môn đồ rằng: “Đây có còn là chiếc băng tay như lúc ban đầu mà ta đã mua nữa hay không? Hay nó đã biến thành một thứ khác?”.

Các môn đồ nhìn nhau chưa hiểu ý của Ngài. Song một người trong số họ đã mạnh dạn trả lời Đức Phật, rằng: “Thưa Đức Phật, đây vẫn là chiếc khăn mà Ngài đã mua, nhưng tình trạng của nó thì đã thay đổi rồi”.

Đức Phật gật đầu tỏ ý hài lòng trước câu hỏi, rồi lại hỏi tiếp: “Cái khăn thì vẫn là cái khăn mà thôi. Nhưng nếu ta muốn đưa nó trở về tình trạng như lúc ban đầu thì có được hay là không?”.

Lại một môn đồ khác xin phép được trả lời: “Thưa Đức Phật, tất nhiên điều đó là có thể rồi ạ, Ngài chỉ cần cởi các nút thắt đó ra là được thôi ạ”.

Đức Phật lại hỏi tiếp: “Vậy làm sao để mở các nút thắt này? Có phải cứ kéo cái khăn từ 2 phía thì các nút thắt này sẽ tự bung ra không?”.

Các môn đồ lại nhìn nhau. Quả thật lúc trước, họ vừa nghe Đức Phật nói nên thi thoảng mới nhìn tới bàn tay của Đức Phật, do đó, họ cũng không rõ Ngài đã thắt nó bằng cách nào. Chính vì thế, khi Đức Phật hỏi cách tháo nút thắt, không nhiều người tự tin đưa ra được câu trả lời.

Nguồn: kids.dadabhagwan

Cuối cùng, một môn đồ lại mạnh dạn trả lời Ngài rằng: “Thưa Đức Phật, nếu lúc trước chúng con chăm chú nhìn Ngài thắt nút, thì có lẽ bây giờ việc cởi nút thắt sẽ trở nên dễ dàng hơn, chứ mỗi nút lại được thắt theo một kiểu, nút thì thắt từ bên trái, nút lại thắt từ bên phải, nếu cứ kéo bừa chiếc khăn từ 2 phía thì có lẽ những nút thắt sẽ lại càng bị chặt hơn thôi ạ”. 

Đến lúc này, Đức Phật mới mỉm cười với các môn đồ và nói: “Đúng vậy. Đó cũng là những gì ta muốn nói với các con. Nhiều khi các con to tiếng với người thân, với bạn bè, chỉ vì muốn chứng minh mình đúng, các con đã không ngừng tạo nên những nút thắt như vậy và khiến chúng ngày càng bị thắt chặt hơn, khó tháo gỡ hơn trong các mối quan hệ như vậy.

Thế nhưng, chỉ cần các con đủ bình tĩnh để suy xét, tìm ra lý do đằng sau mỗi một nút thắt, không mong đợi gì ở người kia, sẵn sàng xóa bỏ mâu thuẫn thì các con sẽ dễ dàng cởi được mọi nút thắt trong mối quan hệ. Khi đó, mối quan hệ của các con sẽ có thể lại tốt đẹp như lúc ban đầu, cũng giống như chiếc khăn này.

Mỗi ngày trôi qua, hãy tìm cách tháo gỡ những nút thắt mà mình, hoặc vô tình, hoặc cố ý đã tạo ra, chứ đừng tìm cách tạo thêm những nút thắt trong cuộc sống nữa”.

Nguồn: soha

Lời bàn: Quả thật, chỉ bằng một phép so sánh đơn giản, Đức Phật đã có thể giúp cho nhiều người thấu tỏ được những vấn đề mà họ đang gặp phải.

Trong cuộc sống, nếu mỗi một mối quan hệ của chúng ta với một người khác được coi là một chiếc khăn tay, thì có lẽ, chúng ta sở hữu rất nhiều những chiếc khăn tay. Với mỗi người, chúng ta lại có những mâu thuẫn riêng, không ai giống ai, dù là với cha mẹ, vợ con, anh em, bạn bè, đồng nghiệp…

Những mối quan hệ này là thứ vô hình, nên nhiều khi những tranh cãi, mâu thuẫn ấy xảy ra, chúng ta không để ý, rồi khi chúng ngày một chất chồng, tạo nên vô số nút thắt, việc tháo gỡ sẽ trở nên vô cùng khó khăn.

Người thắt nút cũng chính là người biết cách cởi nút nhanh nhất. Do đó, chẳng ai khác ngoài chúng ta phải là người chủ động tháo gỡ những mâu thuẫn trong những mối quan hệ của mình.

Đừng bao giờ nghĩ những nút thắt đó sẽ bỗng dưng biến mất. Nếu không dùng thành ý của mình để cởi nó, nút thắt sẽ mãi còn đó, cũng như những vết sẹo, những tổn thương mà ta đã gây ra cho những người xung quanh.

Thanh Hương / Theo: soha

Friday, April 17, 2026

CỔ NHÂN GIẢNG: "DỤC TỐC BẤT ĐẠT", KỲ THẬT CÂU TIẾP THEO MỚI LÀ TINH HOA!

Bệnh chung của con người hiện đại có lẽ là quá vội vàng, chúng ta luôn luôn chạy đua với thời gian, tất cả mọi thứ phải nhanh chóng, như thể chậm một giây sẽ mất toàn bộ.


Ăn sáng phải nhanh, nếu không đi làm sẽ trễ giờ. Hẹn hò phải nhanh chóng, để trở lại làm thêm giờ. Du lịch cũng phải nhanh, cưỡi ngựa xem hoa tựa như ngắm chút cảnh quan, chụp ảnh và chụp hình tạm cho có…

Theo đuổi “nhanh” đang làm cho chúng ta bỏ lỡ nhiều điều tốt đẹp, khi chúng ta đang mải chạy theo bộn bề của cuộc sống, thì nó cũng đã dần dần rời bỏ chúng ta mà đi.

Như Khổng Tử nói: “Không muốn tốc, không thấy lợi ích nhỏ, dục tốc bất đạt, thấy lợi ích nhỏ thì đại sự không thành”.

Làm việc không thể chỉ mù quáng theo đuổi tốc, không thể vội vàng vì cái trước mắt, chỉ có dày công tích tài năng mới có thể đạt được, và điều kiện đầu tiên của sự thành công là tích lũy, dùng ít mà được nhiều, chậm mà lại nhanh.

Nguồn: aboluowang

“Dục tốc bất đạt” xuất phát từ “luận ngữ”, là một câu Khổng Tử nói với Tử Hạ.

Tử Hạ từng là một vị quan viên địa phương, hắn cảm thấy hoang mang về công việc và tương lai của mình, liền đi viếng thăm Khổng Tử, hy vọng có thể nhận được trợ giúp.

Khổng Tử sau khi nghe vấn đề của hắn, nói rằng: “Nếu đã chọn con đường chính trị, nên có một chút kiên nhẫn, phải biết nhìn xa trông rộng, vững bước cầu tiến, không thể vội vàng và muốn có lợi, nếu không cuối cùng chỉ có thể không đạt được tốc, thậm chí tất cả những nỗ lực phía trước đều thành kiếm củi ba năm thiêu một giờ”.

Tử Hạ sau khi nghe Khổng Tử dạy dỗ, bừng tỉnh đại ngộ, sau đó làm việc cần cù chăm chỉ, không còn sốt ruột nữa.

Những người theo đuổi “nhanh”, hầu hết đều không có kế hoạch ổn định lâu dài, muốn hoàn thành mục tiêu cũng rất khó, nếu muốn đi được vạn niên thuyền, phải hiểu được đạo lý “dục tốc bất đạt”.

Không muốn tốc, hợp thời mà động

Nguồn: aboluowang

Gặp phải chuyện nhanh chóng, dễ mắc sai lầm.

Triệu Dự đời nhà Minh đảm nhiệm thái thú Tùng Giang phủ, mỗi lần có người đến kiện tụng, sau khi hắn hiểu rõ sự tình, nếu cảm thấy không khẩn cấp, để cho bọn họ ngày mai trở lại.

Theo thời gian, người dân đều chê cười ông, dân gian lại lưu truyền câu tục ngữ “Tùng Giang Thái Thú ngày mai”.

Kỳ thật bọn họ không biết, những người đến kiện tụng, rất có thể chỉ là bởi vì nhất thời tức giận, qua một đêm có lẽ liền hết giận, hối hận.

“Ngày mai đến” lời này, là vì nghĩ cho người khác, cũng để lại cho mình một chút không gian suy nghĩ, khi không hiểu đầy đủ tình huống, không tùy tiện vọng động.

Vừa có thể cứu người sai lầm, còn có thể tránh cho chính mình bề bộn mà phạm sai lầm, phán đoán sai vụ án. Thận thủy thận trọng cuối cùng, thì không bại sự.

Dục tốc bất đạt, thế gian sự tình không có bề bộn dặm không phạm sai lầm, chỉ có tĩnh tâm lại, cẩn thận tìm cách, mới có thể ứng thời mà động.

Mưu tính sâu xa, chuyện tốt tất phải mài giũa nhiều

Nguồn: aboluowang

Trong lịch sử, có rất nhiều người nóng lòng cầu thành công, cũng có những người có mưu kế sâu xa, dùng chậm chế thắng người.

Gia Cát Lượng, khom người cày cấy ở Nam Dương, không vì đầy tham vọng của mình mà lựa chọn sớm leo lên võ đài chính trị. Còn Lưu Bị một lòng mưu cầu đại nghiệp, mặc dù thời gian rất quý giá, nhưng cũng không chọn từ bỏ khi lần đầu tiên bái kiến Gia Cát Lượng bị cản trở.

Lưu Bị và Gia Cát Lượng, họ biết rõ dục tốc bất đạt, ba lần đến mời, không chỉ thử thách sự kiên nhẫn của Lưu Bị, mà còn thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của Gia Cát Lượng, họ đều biết một người không kiên nhẫn, không coi trọng nhân tài, sẽ không đi được xa, càng không thành lập vương triều Thục Hán.

Chậm lại, là một loại trí tuệ, lấy tịnh chế động, mới là trí giả. Hiện tại, mọi thứ đang phát triển nhanh chóng, tất cả mọi người vội vàng, thường quên lý do để bắt đầu.

Những người đi quá nhanh, liền trở thành “dục tốc thì bất đạt” câu tiếp theo “thấy lợi ích nhỏ thì đại sự không thành”, cuối cùng thành kẻ vô tích sự. Chi bằng, chúng ta hãy cố gắng bắt đầu từ thời điểm hiện tại và làm chậm lại.

Chậm là sự dừng chân của những điều tốt đẹp trong cuộc sống, là tất cả mọi thứ bao gồm, không đấu tranh, không dữ tợn, không hoảng loạn.

Ổn mà tư tiến, chậm mà đầy hứa hẹn mới là cách đúng đắn để sống. Chỉ có chậm lại, mới có thể tâm thần yên ổn, góp ít thành nhiều, thu hoạch thành công. Dục tốc bất đạt, đột nhiên tiến vào thủ vong, trí giả tựa nho phong, phơ phất không thể gấp.

Kỳ Mai biên dịch
Vương Hòa – aboluowang

ĐỖ HỮU PHƯƠNG: ĐỆ NHỊ ĐẠI PHÚ SÀI GÒN XƯA GIÀU CÓ, SỐNG XA HOA CỞ NÀO?

Tổng đốc Phương tên thật Đỗ Hữu Phương, từng được xem là giàu có thứ hai tại Việt Nam trong tứ đại phú “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Trạch”.

Tổng đốc Phương. Ảnh: wikipedia

Đỗ Hữu Phương: Đệ nhị đại phú Sài Gòn xưa giàu có, sống xa hoa cỡ nào?

Đầu thế kỷ 20, với câu nói “Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định” người dân Sài Gòn đã mặc nhiên xếp Tổng đốc Phương là người giàu thứ hai trong tứ đại phú.

Tổng đốc Phương tên thật là Đỗ Hữu Phương. Ông sinh năm 1841 tại Chợ Đũi (Sài Gòn) trong một gia đình khá giả. Cha ông là Bá hộ Khiêm (gốc Minh Hương). Mẹ ông là con gái của một quan tri phủ ở Nam Kỳ gốc Quảng Nam. Đỗ Hữu Phương biết chữ Hán và nói được một ít tiếng Pháp.

Làm giàu từ bắt tay với Pháp

Theo tác giả Lý Nhân Phan Thứ Lang (sách Sài Gòn vang bóng), Đỗ Hữu Phương trở nên giàu có và quyền lực ở thời kỳ đó là vì cả gia đình ông đều phục vụ cho chính quyền thực dân Pháp tại Nam Kỳ.

Bắt tay với Pháp, Đỗ Hữu Phương được cất nhắc dần lên các chức vụ. Khi có địa vị và quyền lực, ông ta bắt đầu làm giàu bằng những ơn huệ, bổng lộc do Pháp ban, rồi sau đó gia nhập quốc tịch Pháp.

Đỗ Hữu Phương thời trẻ. Ảnh: Émile Gsell.

Tác giả sách Sài Gòn vang bóng cho biết, khi quân Pháp tiến đánh Gia Định (năm 1859), các nghĩa quân nổi lên, Đỗ Hữu Phương sợ bị giết nên đã chạy lên khu Bà Điểm (Hóc Môn) lánh thân và chờ thời. Đến khi thành Chí Hòa thất thủ (1861) quân Pháp làm chủ cả Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định, ông ta tìm cách ra hợp tác với người Pháp. Lúc đó, Phương nhờ cai tổng Phước ở Bình Điền đưa ra trình diện tham biện hạt Chợ Lớn Francis Garnier và được nhận làm cộng sự.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp (sách Sài Gòn - Chợ Lớn ký ức đô thị và con người) sau khi đã phá được đồn Chí Hòa, người Pháp đã tuyên bố Sài Gòn là cảng tự do mở cửa buôn bán với thế giới bên ngoài. Thương mại người Hoa ở Chợ Lớn đã bột phát giúp cộng đồng người Hoa và Minh Hương ở Sài Gòn - Chợ Lớn hồ hởi tham gia vào tình hình kinh tế mới.

Trong năm 1861 đầy biến động này, Đỗ Hữu Phương thấy được cơ hội mới, ông đã tiếp xúc và làm việc với người Pháp đang chân ướt chân ráo cố gắng tuyển dụng người nhằm thiết lập một nền hành chính rất sơ khai ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Ông được phong ngay chức trưởng khu Chợ Lớn (chef de quartier Cholon), sau thành huyện Chợ Lớn. Sau đó, ông tiếp tục được phong làm Đốc Phủ tỉnh Chợ Lớn (1872).

Theo tác giả Lý Nhân Phan Thứ Lang, nhờ chức này nên Đỗ Hữu Phương dễ dàng làm giàu bằng cách cấp môn bài buôn bán cho người Hoa và ưu tiên cho một số người Hoa xuất nhập cảng thực phẩm vào Nam Kỳ để bán với giá cắt cổ cho người Việt.

Mặt khác, Đỗ Hữu Phương còn có người vợ khôn lanh, biết giao thiệp rộng nên khách khứa tây, ta thuộc giới thượng lưu giàu có thường lui tới nhà ông ta dự tiệc tùng để bàn chuyện thương mại.

Nói về người vợ này của Đỗ Hữu Phương trong cuốn Sài Gòn năm xưa cụ Vương Hồng Sển viết: “Sự nghiệp [của ông Phương] trở nên đồ sộ nhứt nhì trong xứ, phần lớn do tay phu nhân Trần thị gây dựng. Bà giỏi tài đảm đang nội trợ, một tay quán xuyến trong ngoài, làm của đẻ thêm ra mãi”.

Ông Đỗ Hữu Phương cùng vợ và các con. Nguồn: wikipedia.

Dinh thự tráng lệ

Nói về độ giàu có của Đỗ Hữu Phương, Lý Nhân Phan Thứ Lang cho biết ông ta có trong tay 2.223 mẫu tây ruộng ở Miền Tây. Dinh thự của ông ở dọc kinh Xếp tráng lệ bậc nhất Sài Gòn, nhìn bề ngoài kiến trúc kiểu Tây, bên trong là phong cách Á Đông, bên trong dinh thự còn có cả nhà hát…

Con cái của Đỗ Hữu Phương đều thành đạt và danh giá xứ Đông Dương thời đó. Đỗ Hữu Châu được Pháp cho nhập học trường sĩ quan và lên đến chức đại tá trong quân đội Pháp. Đỗ Hữu Tài là Chánh án. Đỗ Hữu Vị gia nhập không quân bên Pháp và lên chức trung úy. Đỗ Hữu Sửu và Đỗ Hữu Thỉnh đều được Pháp trọng dụng và trở thành công chức cao cấp của Pháp. Đỗ Thị Chẩn lấy Hoàng Trọng Phu, tổng đốc Hà Đông. Đỗ Thị Dần lấy Lê Nhiếp, tổng đốc Hải Dương.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp, Đỗ Hữu Phương có cách sống xa hoa, hưởng thụ. Ông ta còn “Pháp hóa hơn cả người Pháp”.

Đỗ Hữu Phương thường lui đến những nơi xa hoa bậc nhất ở Sài Gòn như nhà hàng khách sạn Continental và Café de la Paix để gặp gỡ các bạn bè Pháp Việt thượng lưu tri thức.

Theo lời kể của bá tước Pirre Barthélemy (dẫn trong sách Sài Gòn - Chợ Lớn ký ức đô thị và con người), trong một lần ghé thăm dinh thự của Đỗ Hữu Phương, ông đã thấy tất cả sự giàu sang của một ngôi biệt thự trộn Á và Âu, riêng nội thất phải viết rất nhiều trang giấy.

Biệt thự kiểu Pháp của gia đình Tổng đốc Đỗ Hữu Phương.

Cũng theo bá tước Pirre Barthélemy thường thì ông Phương ăn đồ ăn Tây ở nhà, nhưng hôm đó ông đãi khách vài món An Nam và thêm vào các món ăn Tàu.

Sau bữa ăn, ông cho khách thử ống pip thuốc phiện và dẫn khách viếng thăm tòa nhà villa kiểu Âu của ông ta. “Một phòng tiếp khách lớn nằm ở giữa trung tâm tòa nhà. Ở giữa phòng khách này là một bàn đỡ một cặp ngà voi thật tuyệt đẹp. Chung quanh là các tủ kính chứa đầy các vật bằng ngọc thạch và các đồ mỹ nghệ đắt giá…”. Bá tước Pirre Barthélemy cho biết.

Còn Toàn quyền Paul Doumer trong cuốn hồi ký Xứ Đông Dương viết về Đỗ Hữu Phương như sau: “Quan phủ Chợ Lớn là ông Đỗ Hữu Phương, được tất cả những người sống ở Nam Kỳ hoặc chỉ qua Nam Kỳ biết tới. Hiện ông ta làm mang hàm Tổng đốc danh dự, cao hơn hàm khi tại vị...

Ông Phủ Chợ Lớn tiếp người châu Âu trong nhà mình, đãi họ bằng sâm panh và bánh quy bơ Nanté, luôn mồm không biết mệt mỏi giới thiệu các món ăn An Nam, tổ chức những buổi biểu diễn sân khấu An Nam theo yêu cầu của khách”.


Mặc dù bị người đời chê trách làm việc cho Pháp, nhưng Đỗ Hữu Phương cũng có một vài hoạt động mà tác giả Lý Nhân Phan Thứ Lang gọi là “coi được”. Đó là ông đề nghị Pháp xây dựng Trường nữ sinh bản xứ và một trường trung học dành cho nam…

Tổng đốc Phương. Ảnh: wikipedia

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đức Hiệp, Đỗ Hữu Phương đã đi qua Pháp 4 lần, viếng các thủ đô ở Âu châu và đi chuyến vòng quanh thế giới vào năm 1884. Trong danh sách các hành khách đi tàu Anadyr từ Sài Gòn đến Marseille ngày 29/4/1889, có tên ông cùng hai người con.

Ông về hưu năm 1897 và qua đời năm 1914. Pháp đã lấy tên ông đặt tên cho con đường lớn chỗ ông ở (nay là đường Châu Văn Liêm).

H. Anh / Theo: Theo Thời Trang Vàng

LAN HOA - TIẾT VÕNG


Lan hoa - Tiết Võng

Ngã ái u lan dị chúng phương,
Bất tương nhan sắc mị xuân dương.
Tây phong hàn lộ thâm lâm hạ,
Nhậm thị vô nhân dã tự hương.


蘭花 - 薛罔

我愛幽蘭異眾芳
不將顏色媚春陽
西風寒露深林下
任是無人也自香


Hoa Lan
(Dịch thơ: Tiếu Ngạo Nhân)

Ta mến hoa lan khác mọi loài
Chằng dùng nhan sắc dụ ban mai
Gió Tây sương lạnh trong rừng thẳm
Vẫn toả hương dù chẳng có ai.


Sơ lược tiểu sử tác giả:
Tiết Võng 薛罔 đời Minh.

Nguồn: Thi Viện


NGƯỜI XẤU MÀ TA NHÌN THẤY THỰC RA CHÍNH LÀ BẢN THÂN TA

Người khác giống như tấm gương phản chiếu của chính mình, điều ta thấy ở người khác thực ra chính là bản thân mình.


Trong sách “Liệt tử” có kể câu chuyện về một người hàng xóm bị nghi ngờ ăn trộm rìu.

Ngày xửa ngày xưa, có một người đàn ông bị mất một chiếc rìu, ông ta nghi ngờ rằng con trai của người hàng xóm đã đánh cắp nó, vì vậy ông đã bí mật theo dõi cậu ta. Ông nhìn thấy cách cậu đi bộ, trông giống như ăn cắp rìu; ông nhìn sắc mặt cậu biểu lộ ra, cũng giống như trộm rìu; ông nghe lời nói của cậu, càng giống như trộm rìu. Nhất ngôn nhất hành, nhất cử nhất động, đều giống như trộm rìu.

Không lâu sau, ông tìm thấy chiếc rìu của mình trong đống ngũ cốc. Lúc này, ông nhìn con trai hàng xóm, lời nói và hành động của cậu ta không giống kẻ ăn trộm rìu chút nào.

Vương Dương Minh nói: “Tâm ngoại vô vật”, đại ý là mọi thứ đều không ngoài nơi tâm.

Vạn vật đều ở trong lòng người, cái ta nhìn thấy thực ra chính là thế giới nội tâm của chính mình. Sự nghi ngờ sinh ra bóng tối. Trong lòng mình sinh quỷ, tự nhiên nhìn ai cũng giống quỷ.

Bậc thầy Chu Quý Ngân nói: “Những người xấu mà bạn nhìn thấy thực ra là chính bạn”. Vạn vật đều là hình chiếu của lòng người, nếu lòng người thay đổi “chất” thì ai cũng là người xấu.


Ở đời không có tốt xấu, chỉ có nhân quả

Lâm Ngữ Đường từng nói, trong Hồng Lâu Mộng, ông ghét Diệu Ngọc nhất. Bởi vì Diệu Ngọc là người giả tạo.

Cách phà trà của nàng rất cầu kỳ, không phải là “Tấn vương Khải Trân chơi” thì chính là “Tô Thức thưởng cho bí phủ”. Nàng pha trà phải dùng tuyết trên hoa mai, châm chọc Đại Ngọc là tục nhân, không phân biệt được nước mưa năm cũ với nước tuyết trên hoa mai. Giả mẫu và già Lưu đến uống trà, do không thích sự thô tục của già Lưu nên nàng đã không dùng chiếc cốc bà đã dùng qua nữa.

Một người sắc sảo như vậy trong cuộc sống rất có thể sẽ bị người khác chán ghét. Nhưng Tưởng Huân lại nói: “Ở đời không có tốt xấu, chỉ có nhân quả”.

Diệu Ngọc là con gái của một gia đình quan lại, từ nhỏ đã được giáo dục tốt. Nhưng gia đình sa sút, cô buộc phải xuất gia, mang tóc đi tu.

Diệu Ngọc được Giả phủ mời đến sống trong Đại Quan Viên. Nói là mời, nhưng thực tế nàng cũng là bị mua về. Đều là chim Hoàng yến trong khu vườn này, là vật phẩm để quý nhân thưởng ngoạn.

Đối với Diệu Ngọc mà nói, đây gần như là một kiểu hủy diệt tinh thần. Cô ấy không phải là một con nhím mà giống như một con trai ngọc. Đằng sau tất cả sự sắc sảo là một kiểu tự bảo vệ, và đằng sau sự tự phụ là một mặc cảm sâu sắc.

Khi chúng ta thực sự đặt mình vào hoàn cảnh, để hiểu một người. Chúng ta sẽ thấy rằng thật khó để đánh giá tốt hay xấu của một người, rất khó để nói thích hay không thích. Ai cũng có nhân quả của mình. Hầu hết chúng ta cảm thấy người khác không tốt, bởi vì sự hiểu biết của chính chúng ta chưa tới nơi.

Trong nhà Dương Giáng có một người làm, bà là một bà mẹ già, người xấu xí, nhưng lại có tư tưởng tự cao và thích soi mói vẻ ngoài của người khác. Còn thỉnh thoảng khấu trừ tiền ăn của Dương Giáng. Nhưng Dương Giáng không phàn nàn và cảm thấy rằng bà ấy không phải là người xấu, mà là một người đáng thương.

Chồng của bà ấy tốt nghiệp học viện quân sự, nhưng chồng bà đã lừa dối bà ba tuần sau khi kết hôn. Đối tượng ngoại tình rất đẹp, điều này khiến bà có chút căng thẳng về vấn đề ngoại hình. Con trai bà làm trong đoàn khảo sát địa chất nhưng mỗi lần gửi thư chỉ đòi tiền bà, có lần lấy của bà cả mấy tháng lương. Bà đã lớn tuổi như vậy, đứa con trai duy nhất có thể dựa vào vẫn còn dựa vào bà. Cắt giảm cơm ăn áo mặc vẫn chưa đủ nên bà chỉ có thể bù bằng tiền ăn. Bà ở trong nhà họ Dương mười một năm, Dương Giáng chưa từng nghĩ đến việc đổi người.

Mộc Tâm nói: “Tôi không biết nên tha thứ điều gì, tôi chân thành cảm thấy rằng mọi thứ trên thế giới đều có thể được tha thứ”.

Trên đời không có con người hoàn hảo, môi trường khác nhau tạo ra chúng ta khác nhau. Học cách đứng trên quan điểm của đối phương và quan tâm đến hoàn cảnh của người khác. Đổi vị trí nhiều hơn một chút, hiểu nhiều hơn một chút, tự nhiên thấy ai cũng vừa mắt.


Cảnh giới cao, nhìn hết thảy đều thuận mắt

Tô Thức lưu lạc nửa đời người, trải qua quan trường chìm nổi, lòng người hiểm ác. Ông làm quan bốn mươi năm, có quá nhiều người lừa gạt hãm hại ông. Nhưng ông nói: “Ta trên có thể bầu bạn cùng Ngọc Hoàng Đại Đế, dưới có thể bầu bạn cùng những đứa trẻ ăn mày ở viện Ty Điền. Trong mắt thấy thiên hạ không có người không tốt”.

Trong mắt Tô Thức không có người xấu. Cho dù người khác đối xử với ông như thế nào, ông luôn có thể hiểu và tha thứ.

Trong vụ án thơ Ô Đài, Tô Thức bị cầm tù. Một viên quản ngục đã đã tra tấn ông để buộc ông phải nhận tội. Sau đó, Tô Thức trở lại chức vụ ban đầu và trở thành một nhân vật nổi tiếng trong triều đình. Viên quản ngục đã tìm tới Tô Thức, hy vọng nhận được sự tha thứ của Tô Thức. Tô Thức thấy rằng anh ta biết xấu hổ, và biết rằng anh ta đã được sai khiến bởi một quan chức cấp trên vào thời điểm đó; vì vậy ông không truy cứu nữa.

Khi Tần Quán không cẩn thận tiết lộ cơ mật, hại Tô Thức bị giáng chức. Tô Thức cũng chỉ cảm thấy Tần Quán làm việc lỗ mãng, thậm chí còn viết thư an ủi Tần Quán.

Chương Đôn và Tô Thức quen biết nhau bốn mươi năm, Chương Đôn khi lên làm Tể tướng đã giáng Tô Thức đến Hải Nam, cố tình để ông chết ở một vùng đất xa lạ. Tô Thức cũng chỉ cảm thấy là tạo hóa trêu ngươi, mới để cho hai người đến cục diện hôm nay. Sau đó, Chương Đôn mất quyền lực, Tô Thức không chỉ tha thứ cho Chương Đôn mà còn gửi thuốc và lời chia buồn.

Tầng thứ của một người càng cao, trí tuệ càng cao, càng có thể hiểu người khác, bao dung người khác. Họ đặt mình vào hoàn cảnh của người khác, tha thứ cho lỗi lầm của người khác và tôn trọng sự khác biệt giữa con người với nhau.

Nhìn người không vừa mắt, là do mình tu dưỡng không đủ; cảnh giới cao, nhìn hết thảy đều thuận.

Nhà văn Tống Hàm đã kể một câu chuyện. Trên chuyến tàu, có một người đàn ông say đến mức đâm sầm vào hành khách, những người xung quanh nhìn anh ta say khướt đều tránh xa.

Một cô gái hỏi mẹ: “Anh ta có phải là người xấu không?”

Mẹ cô nói: “Không, anh ấy chỉ không vui thôi”. Lúc này, người mẹ nghĩ đến bản thân mình, nghĩ rằng mình cũng có tính nóng nảy và làm tổn thương những người xung quanh khi gặp khó khăn và thất bại.

Vì bạn hiểu nên bạn từ bi. Một người có cảnh giới cao, họ nhìn thấy thế giới, nhìn thấy tất cả chúng sinh và chính mình. Họ biết chiều rộng của bản chất con người, và biết rằng bản chất con người có những biểu hiện khác nhau trong những môi trường khác nhau, vì vậy họ không bao giờ dễ dàng đánh giá điều gì.


Đặt mình vào vị trí của người khác để thấu hiểu những khó khăn, vất vả của người khác, đồng thời cố gắng bao dung và chấp nhận mọi thứ mới là cách hành xử tốt nhất của một con người.

Như người xưa vẫn nói: “Những gì mắt thấy, tất cả đều là những điều trong tâm mình”.

Người khác giống như tấm gương phản chiếu của chính mình, điều ta thấy ở người khác chính là bản thân mình. Nhìn người khác không tốt là do bản thân tu dưỡng còn chưa đủ. Tu dưỡng tấm lòng bao dung, chỉ thấy nhân quả mà không phán xét, chỉ thương xót chứ không oán trách, đây cũng là một loại trí tuệ.

Bảo Châu biên dịch
Nguồn: Aboluowang

VĂN HÓA UỐNG TRÀ CỦA NGƯỜI TRUNG QUỐC KHÁC NHAU THEO TỪNG VÙNG MIỀN NHƯ THẾ NÀO?

Ở Trung Quốc, uống trà không đơn thuần là thói quen giải khát mà được xem như một phần của đời sống văn hoá kéo dài hàng nghìn năm. Điều thú vị là cùng một lá trà, nhưng khi đi qua từng vùng đất khác nhau, cách thưởng thức lại thay đổi hoàn toàn. Từ miền sông nước thanh nhã ở phía Nam, những thành phố nhộn nhịp ven biển, cho đến cao nguyên lạnh giá hay vùng đất phương Bắc khô lạnh, văn hoá uống trà phản ánh rõ tính cách con người, khí hậu và lối sống của mỗi địa phương. Vì vậy, chỉ cần nhìn cách người Trung Quốc uống trà, đôi khi cũng có thể đoán được họ đến từ đâu.


1. Giang Nam: Uống trà như một phần của đời sống thanh nhã

Khu vực Giang Nam, bao gồm các thành phố như Hàng Châu, Tô Châu và Thượng Hải được xem là cái nôi của văn hoá trà tinh tế Trung Quốc. Khí hậu ẩm, nhiều sương mù tạo điều kiện lý tưởng cho trà xanh phát triển, vì vậy người dân nơi đây thường chuộng những loại trà nhẹ, thanh và thiên về hương thơm tự nhiên.


Với người Giang Nam, uống trà không mang tính nghi lễ phức tạp mà là một thói quen sống. Buổi sáng pha một ly trà xanh, đặt cạnh cửa sổ, vừa uống vừa đọc sách hay trò chuyện đã trở thành hình ảnh quen thuộc. Trà ở đây đại diện cho tinh thần sống chậm, tao nhã và gần gũi với thiên nhiên của vùng sông nước phía Nam.

2. Phúc Kiến – Quảng Đông: Nghệ thuật Công Phu Trà

Tại các tỉnh ven biển phía Nam như Phúc Kiến và Quảng Đông, uống trà đã phát triển thành một nghệ thuật thực thụ. Người dân sử dụng bộ ấm nhỏ, chén nhỏ và pha trà nhiều lần liên tiếp trong thời gian ngắn, tạo nên hình thức nổi tiếng gọi là Công Phu Trà.


Ở đây, bàn trà chính là không gian giao tiếp xã hội. Bạn bè gặp nhau uống trà, gia đình tiếp khách bằng trà và nhiều cuộc làm ăn cũng bắt đầu từ một ấm trà nóng. Điều quan trọng không chỉ nằm ở vị trà mà còn ở sự tôn trọng và phép lịch sự thể hiện qua từng động tác pha trà.

3. Tây Nam Trung Quốc: Trà gắn với đời sống dân tộc

Các tỉnh vùng Tây Nam như Vân Nam và Tứ Xuyên sở hữu lịch sử trồng trà lâu đời cùng nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống. Tại đây, trà không chỉ là thức uống mà còn là một phần của văn hoá bản địa và sinh hoạt hàng ngày.


Ở Tứ Xuyên, quán trà gần như trở thành “phòng khách công cộng”, nơi người dân ngồi hàng giờ trò chuyện, chơi cờ hay nghe kể chuyện. Trong khi đó, Vân Nam nổi tiếng với trà Phổ Nhĩ, loại trà lên men có thể lưu trữ nhiều năm, phản ánh rõ truyền thống buôn bán và giao thương cổ xưa trên các tuyến trà mã đạo.

4. Miền Bắc Trung Quốc: Văn hoá trà đời thường và thực tế

Tại miền Bắc với những thành phố như Bắc Kinh hay Thiên Tân, khí hậu lạnh khiến cách uống trà mang tính thực dụng hơn. Người dân thường dùng cốc lớn có nắp, pha trà đậm và châm nước liên tục trong ngày thay vì thay lá trà mới.


Uống trà ở miền Bắc gắn liền với sinh hoạt cộng đồng. Các quán trà truyền thống là nơi người cao tuổi tụ tập trò chuyện, đọc báo hay đánh cờ. Trà vì thế trở thành chất kết nối xã hội, đơn giản nhưng gần gũi với đời sống thường nhật.

5. Cao nguyên Tây Tạng: Trà như nguồn năng lượng sinh tồn

Ở vùng cao nguyên Tây Tạng, văn hoá trà phát triển theo điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Người dân nơi đây uống trà bơ yak, loại trà đậm được nấu cùng bơ và muối, giúp giữ ấm cơ thể và bổ sung năng lượng trong môi trường lạnh giá, thiếu oxy.


Khác với sự thanh nhã của trà miền Nam, trà Tây Tạng mang ý nghĩa sinh tồn rõ rệt. Một bát trà nóng không chỉ để thưởng thức mà còn là nguồn dinh dưỡng thiết yếu trong đời sống hàng ngày của cư dân cao nguyên.

Sự đa dạng ấy khiến văn hoá trà Trung Quốc không tồn tại dưới một hình mẫu cố định mà là cả một hệ sinh thái văn hoá phong phú. Có nơi uống trà để thưởng hương vị tinh tế, có nơi xem trà là nghi lễ giao tiếp, cũng có vùng coi trà như nguồn năng lượng để thích nghi với thiên nhiên khắc nghiệt. Qua từng chén trà, người ta không chỉ cảm nhận hương vị của lá trà mà còn nhìn thấy nhịp sống, lịch sử và bản sắc riêng của từng vùng đất Trung Hoa. Chính vì thế, hành trình tìm hiểu trà cũng giống như một chuyến du lịch văn hoá thu nhỏ xuyên suốt đất nước rộng lớn này.

Theo: Du Lịch Hoàng Hà

Thursday, April 16, 2026

LOÀI CÁ "MÁU NÓNG" GIỮA ĐẠI DƯƠNG, SINH VẬT PHÁ VỠ QUI LUẬT TỰ NHIÊN

Giữa đại dương sâu thẳm lạnh giá, cá mặt trăng vây đỏ lấp lánh như một đốm lửa sống, thách thức mọi quy luật sinh tồn.

Ảnh: aquaportail.

Cá mặt trăng vây đỏ (Lampris guttatus) là một trong những loài cá biển kỳ lạ và ấn tượng nhất từng được con người phát hiện. Với thân hình tròn dẹt như một chiếc đĩa lớn, phủ bởi lớp vảy ánh kim chuyển sắc xanh, bạc và tím, cùng các vây đỏ rực nổi bật, loài cá này trông như bước ra từ một thế giới viễn tưởng hơn là đại dương thực.

Điểm đặc biệt khiến cá mặt trăng vây đỏ trở thành “ngôi sao” trong giới sinh học biển là khả năng điều hòa thân nhiệt – một đặc tính cực kỳ hiếm ở cá. Không giống hầu hết các loài cá là động vật biến nhiệt, cá mặt trăng vây đỏ có thể duy trì nhiệt độ cơ thể cao hơn môi trường xung quanh nhờ hệ thống trao đổi nhiệt trong mang và sự hoạt động liên tục của các cơ vây. Điều này cho phép nó bơi nhanh, phản xạ tốt và săn mồi hiệu quả ngay cả ở vùng nước lạnh sâu hàng trăm mét.

Ảnh: weather.

Khả năng “máu nóng” này mang lại lợi thế lớn trong việc săn mồi. Cá mặt trăng vây đỏ thường ăn mực, cá nhỏ và các sinh vật phù du lớn. Với đôi mắt lớn và nhạy, nó có thể phát hiện con mồi trong điều kiện ánh sáng yếu dưới đại dương sâu. Khi kết hợp với tốc độ bơi ổn định và sức bền cao, Lampris guttatus trở thành một kẻ săn mồi đáng gờm trong môi trường tưởng chừng khắc nghiệt.

Ảnh: The Guardian.

Không chỉ vậy, cấu trúc cơ thể của loài cá này cũng rất đặc biệt. Các vây ngực của nó hoạt động như đôi cánh, giúp nó “bay” trong nước với những chuyển động mềm mại nhưng mạnh mẽ. Lớp mỡ dày dưới da không chỉ giúp giữ nhiệt mà còn góp phần tạo nên hình dáng tròn đặc trưng, khiến nó khác biệt hoàn toàn so với các loài cá khác.


Dù phân bố rộng khắp các đại dương trên thế giới, cá mặt trăng vây đỏ hiếm khi được nhìn thấy gần bờ, khiến nó trở thành một sinh vật tương đối bí ẩn đối với con người. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu khoa học mới dần hé lộ những bí mật về sinh lý và hành vi của loài cá này, mở ra cái nhìn mới về sự đa dạng và khả năng thích nghi của sinh vật biển.

Theo: Kiến Thức
Link tham khảo: