Saturday, July 4, 2026

BƯỚC TỚI ĐÈO NGANG BÓNG XẾ TÀ - KỲ 4: MẬT ĐỘ THƠ CA NHIỀU NHẤT VIỆT NAM

Dường như khi đến đèo Ngang, không ai không nghĩ đến tuyệt tác thơ của Bà Huyện Thanh Quan khắc họa tinh tế nỗi cô đơn chống chếnh trước bức tranh thiên nhiên đượm buồn cung đèo lúc chiều tà cùng nỗi niềm yêu nước thương nhà của nữ sĩ.

Hoành Sơn Quan - chốt chặn quan trọng trên đường Thiên lý Bắc - Nam chụp đầu thế kỷ XX - Ảnh tư liệu

"Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà/ Cỏ cây chen đá lá chen hoa/ Lom khom dưới núi tiều vài chú/ Lác đác bên song chợ (rợ) mấy nhà…".

Nơi dừng chân Thánh Mẫu Liễu Hạnh

Không chỉ là một địa danh địa lý hay "yết hầu" quân sự hiểm yếu, đèo Ngang đã đi vào tâm thức người Việt như một chốn dừng chân đầy "ám ảnh" giữa mây ngàn và biển cả.

Ở đó mỗi phiến đá rêu phong, mỗi ngọn gió biển thổi từ Mũi Đao, Mũi Độc đều dường như mang theo hơi thở của những huyền thoại và tiếng lòng của các bậc đế vương, thi sĩ qua nhiều hệ tiếp nối.

Đèo Ngang chính là nốt trầm xao xuyến nhất trên con đường thiên lý Bắc - Nam, nơi cảm xúc văn chương và niềm tin tâm linh hòa quyện thành một không gian di sản đa lớp.

Bước chân xuống chân đèo Ngang phía xã Phú Trạch, tỉnh Quảng Trị, lữ khách sẽ gặp đền thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh - một không gian tâm linh linh thiêng đã tồn tại qua bao thế kỷ. Ngôi đền có tên chữ là Hoành Sơn Linh Từ, tọa lạc trong thế đất hài hòa giữa núi và nước: lưng tựa dãy Hoành Sơn hùng vĩ, mặt hướng ra hồ Quảng Đông phẳng lặng.

Trong tâm thức dân gian, đèo Ngang không chỉ là ranh giới hành chính mà còn là chốn dừng chân của Mẫu Liễu Hạnh - một trong "Tứ bất tử" của Việt tộc. Huyền thoại kể rằng công chúa Quỳnh Hoa vì nặng lòng trần thế đã nhiều lần giáng phàm để cứu độ chúng sinh.

Trong một lần giáng thế tại đèo Ngang, giữa vùng đất biên viễn vốn hoang vu và thưa thớt dấu chân người, bà đã hóa thân mở một quán nước bên đường thiên lý. Không chỉ bán nước, bà còn giúp dân trừ dịch bệnh, xua đuổi thú dữ và dạy cách trồng lúa, dệt vải.

Sự hiện diện của Mẫu trong ba năm lưu lại trần gian đã "thiêng hóa" vùng đất này, biến nơi đây từ miền "lam chướng nặng nề" thành chốn bình an, sầm uất cho lữ khách và người dân đi khai hoang, mở cõi.

Đúng như nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Bảo Đàn nhận xét, ngôi đền hiện lên với vẻ "trầm mặc, cổ kính... xen chút thâm u, huyền bí của chốn thần linh trong cảm nhận của người trần".

Hoành Sơn Linh Từ không chỉ là điểm tựa tinh thần cho khách bộ hành trước khi đối mặt với hành trình vượt đèo gian nan mà còn phản ánh sự giao thoa giữa quyền lực nhà nước và niềm tin dân gian trong việc kiến tạo không gian di sản.

"Mật độ thi ca" dày đặc

Năm 2000, trong quá trình mở rộng quốc lộ 1A qua đỉnh đèo Ngang, việc đào đắp của những người thợ làm xuất lộ tấm bia bằng đá thanh chạm khắc tuyệt hảo, nội dung văn bia khắc bài thơ Quá Hoành Sơn Quan của Nguyễn Hiến Tổ (Thiệu Trị).

Vị quân vương/thi sĩ, trong chuyến Bắc hành năm 1842, khi qua cung đèo mang dấu ấn đặc biệt với triều đại đã cảm hứng thành thơ ca ngợi vẻ đẹp và vị thế xung yếu của cửa ải.

Nhà vua cho khắc dựng bia đá làm văn vật lưu truyền hậu thế: "Hoành Sơn một dải núi ngăn đôi/ Uốn lượn nhấp nhô cạnh biển khơi/ Đồn trấn Bắc Nam chia dải cõi/ Ải nghiêm kim cổ trải bao đời…".

Thiệu Trị là một trong số muôn ức tao nhân kim cổ làm thơ về đèo Ngang và đây có lẽ là địa danh có mật độ thi ca dày đặc nhất trong dòng chảy văn học Việt Nam. Từ các bậc thiên tử đến giới văn nhân, hễ đặt chân đến "cổng trời" này đều không thể kìm lòng mà để lại những tuyệt bút, thành nên di sản hàng trăm bài thơ của lớp lớp tác giả.

Ngược dòng về thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông trong chuyến Nam chinh đã dừng ngựa tại đây và cảm tác bài thơ Xích mộ Hải môn lữ thứ (hay Di luân Hải môn lữ thứ).

Nhà vua nhìn thấy từ đỉnh Hoành Sơn cả một vùng di luân xa tít, nơi quyền lực của thiên tử được khẳng định qua tầm nhìn bao quát giang sơn: "Lênh đênh Xích mộ mơ màng/ Non xanh nước biếc xốn xang nhớ nhà...".

Đây không chỉ là thơ tả cảnh mà còn là ý thức về chủ quyền lãnh thổ của một vị minh quân vừa mở mang bờ cõi.

Đến thời Nguyễn, hình ảnh đèo Ngang trở nên bất hủ qua thơ Bà Huyện Thanh Quan. Với tác phẩm Qua đèo Ngang, nữ sĩ đã biến cảnh sắc thực tại thành một bức tranh tâm trạng đầy hoài cổ.

Dường như câu thơ "Dừng chân đứng lại trời non nước/ Một mảnh tình riêng ta với ta" đã trở thành tiếng lòng chung của người Việt, khắc họa sự nhỏ bé của con người trước vũ trụ bao la và nỗi niềm cố hương sâu thẳm.

Bên cạnh đó, khí phách của Cao Bá Quát cũng lộng gió trên đỉnh đèo qua những vần thơ phóng khoáng: "Sáng lên đứng Hoành Sơn/ Chiều xuống tắm Bàn Thạch/ Nhặt đá cầm trong tay/ Non sông chưa đầy vốc".

Hoành Sơn trong mắt các nhà Nho không chỉ là ranh giới địa lý mà còn là địa danh tâm linh, nơi hội tụ những trăn trở về thân phận và lẽ sống chết của dân tộc…

Dưới chân dãy Hoành Sơn có hàng loạt bãi biển tuyệt đẹp - Ảnh: Hội KHLS Hà Tĩnh cung cấp

Từ "cổng trời" triều đại đến "tọa độ lửa"

Lịch sử đèo Ngang không chỉ có mây bay và thơ phú, mà còn thấm đẫm mồ hôi và máu trong những cuộc kháng chiến vệ quốc. Bước sang thế kỷ 20, từ một quan ải hành chính của triều Nguyễn, Hoành Sơn Quan và đèo Ngang đã chuyển mình trở thành một "tọa độ lửa" khốc liệt trong chiến tranh.

Vì là con đường độc đạo nối liền hai miền, đèo Ngang trở thành trọng điểm ném bom của không quân Mỹ nhằm cắt đứt tuyến chi viện cho miền Nam.

Giữa làn mưa bom bão đạn, hàng ngàn thanh niên xung phong, công binh và bộ đội giao thông vận tải đã bám trụ kiên cường trên những vách đá granit để giữ vững mạch máu giao thông thông suốt.

Địa danh của thi ca khi ấy đã trở thành địa danh chiến tích hòa cùng hồn thơ của đèo Ngang để tạo nên sức mạnh bất khuất.

Trong các cuộc trao đổi thực địa, chúng tôi cảm nhận sâu sắc sự giao thoa văn hóa Việt - Chăm còn lặn sâu trong vùng di sản này.

Dù trải qua hàng ngàn năm Đại Việt hóa, nhưng trong phương ngữ và tập quán của người dân hai bên chân đèo vẫn còn phảng phất những âm hưởng cổ xưa của vùng đất từng là "biên giới động".

Đó là một vùng đệm văn hóa nơi ranh giới hành chính có thể chia đôi nhưng tình cảm và ký ức di sản luôn hòa làm một như câu ca dao: "Trèo đèo hai mái chân vân/ Lòng về Hà Tĩnh dạ ái ân Quảng Bình".

Đứng ở đèo Ngang hôm nay nhìn xuống đôi hầm đường bộ hiện đại xuyên qua lòng núi, ta thấy quá khứ và hiện tại đang quyện hòa vào nhau.

Đèo Ngang mãi mãi là một "ám ảnh văn hóa" đẹp đẽ, nơi lòng yêu nước không chỉ nằm ở những trận đánh mà còn nằm trong từng vần thơ, từng lời khấn nguyện và cả ý chí giữ gìn từng bậc đá cổ dẫn lên "cổng trời" ngàn năm.

"Hoành Sơn đã "dung thân" cho nhiều hơn thế: nó dung thân cho nỗi nhớ nhà của Nguyễn Du, cho khát vọng bá vương của Lê Thánh Tông, cho triết lý siêu thoát của Cao Bá Quát, cho tâm sự thế sự của Nguyễn Khuyến, cho niềm tin thống nhất của Vũ Tông Phan…

Mỗi lần vượt đèo, mỗi lần đối diện với dải núi chắn ngang trời ấy, các nhà Nho lại bộc lộ một lớp tâm tình mới, sâu hơn, quyết liệt hơn.

Nói cách khác, Hoành Sơn không chỉ là một địa danh địa lý mà còn là một địa danh tâm linh, nơi hội tụ của những trăn trở về bờ cõi, về thân phận, về lẽ sống chết của một dân tộc trong hành trình dựng nước và giữ nước", trích Hình tượng Hoành Sơn trong thơ văn trung đại - ThS Lê Công Anh, ThS Huỳnh Văn Thắng (giảng viên khoa ngữ văn Trường đại học Khoa học Huế).

-------------------------------

>> Kỳ tới: Mây mưa đánh đổi cuộc trăm năm

Thái Lộc / Theo: tuoitre



Friday, July 3, 2026

TOP 10 MÓN ĂN ẨM THỰC HÀ BẮC NỔI TIẾNG NHẤT

Hà Bắc nằm ở vị trí địa lý độc đáo bao quanh hai đô thị lớn là Bắc Kinh và Thiên Tân, đồng thời tiếp giáp với biển và núi cao, nơi đây đã hình thành nên một dòng chảy ẩm thực đa dạng với Top 10 món ăn ẩm thực Hà Bắc nổi tiếng nhất. Từ sự tinh tế của các món ăn tiến vua cho đến sự nồng hậu, đậm đà của các món ăn vùng bình nguyên.


Ẩm thực Hà Bắc, hay còn gọi là Ký Thái (冀菜), giữ một vị trí đặc biệt trong nền văn hóa ẩm thực đồ sộ của Trung Quốc. Khám phá các món ăn đặc sản dưới đây không chỉ là để thưởng thức hương vị, mà còn là cách để bạn hiểu thêm về đặc trưng ẩm thực Hà Bắc. Vậy mời bạn cùng studyinchina.io tìm hiểu về Top 10 món ăn ẩm thực Hà Bắc nổi tiếng nhất trong bài viết sau đây nhé.

Bánh mì cuộn thịt lừa

Nếu phải chọn một "đại sứ" cho Top 10 món ăn ẩm thực Hà Bắc nổi tiếng nhất, chắc chắn đó phải là Bánh mì cuộn thịt lừa (河北卷饼). Món ăn này có hai trường phái nổi tiếng nhất là Bảo Định (bánh tròn) và Hà Gian (bánh hình chữ nhật). Điểm nhấn của món ăn nằm ở sự đối lập về kết cấu: lớp vỏ bánh được nướng vàng giòn, bên trong là những lát thịt lừa thái mỏng, đậm đà gia vị.

Món ăn đại sứ của Hà Bắc

Điều làm nên sự đặc biệt của bánh mì cuộn thịt lừa chính là lớp vỏ bánh. Bột mì được nhào kỹ với tỷ lệ nước chuẩn xác, sau đó cán mỏng và tráng lên chảo nóng mà không cần dầu mỡ. Nhân truyền thống gồm trứng tráng thái chỉ, giá đỗ xào, dưa chuột thái sợi, hành lá và đặc biệt là sốt tương đen. Còn thịt lừa được ninh cùng hàng chục loại thảo mộc trong nhiều giờ, không chỉ loại bỏ mùi hăng mà còn giữ vị ngon của thịt.

Bạn có thể tìm thấy món Bánh mì cuộn thịt lừa ở bất kỳ góc phố nào tại các thành phố lớn của Hà Bắc như Thạch Gia Trang, Bảo Định hay Hàm Đan. Những gánh hàng rong ven đường hay các quán ăn sáng nhỏ gia đình thường là nơi giữ được hương vị truyền thống nhất. Người dân địa phương thường ăn kèm với một ly sữa đậu nành nóng hoặc cháo trắng để có bữa sáng hoàn hảo.

Cá sư tử vàng

Cá sư tử vàng (金毛狮子鱼) là một tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu của trường phái ẩm thực Thạch Gia Trang, đòi hỏi kỹ năng dùng dao thượng thừa. Món ăn này có nguồn gốc từ Thạch Gia Trang và gắn liền với giai thoại về vị đầu bếp tài ba đời Thanh. Ông đã lấy cảm hứng từ những pho tượng sư tử đá uy nghiêm trước cửa đền, miếu để sáng tạo ra món cá có hình dáng như bờm sư tử.

Món cá có hình dáng giống bờm sư tử

Nguyên liệu chính của Cá sư tử vàng là cá chép tươi, thường nặng từ 1,5-2kg. Công đoạn khó nhất là tạo hình - người đầu bếp phải dùng dao thái hàng trăm đường mỏng trên thân cá để tạo thành những sợi tơ mảnh dài nhưng vẫn đảm bảo phần da cá không bị đứt rời. Sau khi ướp gia vị, cá được phủ một lớp bột mỏng và chiên ngập dầu với kỹ thuật đặc biệt để những sợi tơ xòe ra như bờm sư tử thật.

Điểm đặc biệt của món ăn là lớp nước sốt chua ngọt được rưới đều lên trên. Món cá sư tử vàng thường xuất hiện trong các dịp lễ tết, tiệc cưới hay những buổi họp mặt quan trọng. Người Hà Bắc tin rằng hình ảnh sư tử uy nghi cùng màu vàng tượng trưng cho may mắn và phú quý sẽ mang đến điềm lành cho gia chủ. Vì vậy, món cá sư tử vàng luôn nằm trong top 10 món ăn ẩm thực Hà Bắc nổi tiếng nhất.

Lẩu gà Thương Châu

Lẩu gà Thương Châu (沧州火锅鸡) khác với các loại lẩu thông thường, Lẩu gà Thương Châu là sự giao thoa tinh tế giữa món gà om truyền thống và phong cách ăn lẩu hiện đại. Xuất phát từ những quán ăn nhỏ ven đường vào những năm 1980, món lẩu gà đã dần trở thành thương hiệu ẩm thực của cả vùng đất này. Và nằm trong top 10 món ăn ẩm thực Hà Bắc nổi tiếng nhất.

Thương hiệu lẩu gà Thương Châu

Khác với lẩu gà thông thường, lẩu gà Thương Châu có điểm đặc biệt ở phần nước dùng. Nước lẩu có màu đỏ cam đẹp mắt từ ớt và dầu điều, vị cay nồng nhưng không gắt. Gà thường được tẩm ướp cùng hạt tiêu, ớt khô và các loại gia vị đặc trưng của vùng Thương Châu trước khi đem hầm trong nồi gang. Khi ăn, thực khách thường thưởng thức thịt gà trước, sau đó mới thêm nước dùng vào để nhúng rau, nấm và mì.

Điểm nhấn không thể thiếu của món lẩu gà Thương Châu chính là bát nước chấm pha theo công thức riêng - sự kết hợp giữa dầu mè, tỏi băm, giấm đen và tương ớt. Đến Thương Châu vào những ngày đông giá lạnh, ngồi quanh nồi lẩu nghi ngút khói thưởng thức đặc sản, đó là trải nghiệm ẩm thực mà bất kỳ du khách nào cũng nên thử một lần.

Món hầm Lý Hồng Chương

Đặc sản tiếp theo trong top 10 món ăn ẩm thực Hà Bắc nổi tiếng nhất là món hầm Lý Hồng Chương (李鸿章大杂烩). Món ăn này mang trong mình câu chuyện lịch sử thú vị về vị đại thần Lý Hồng Chương triều nhà Thanh. Tương truyền trong một lần tiếp đón sứ thần nước ngoài, ông đã yêu cầu đầu bếp sáng tạo một món ăn kết hợp tinh hoa ẩm thực Trung Hoa, và món hầm mang tên ông ra đời từ đó.

Món hầm sử dụng nhiều nguyên liệu quý hiếm

Đây là một món hầm tổng hợp sử dụng nhiều nguyên liệu quý hiếm từ biển cả và núi rừng như hải sâm, bào ngư, vây cá mập, sò điệp, nấm đông cô, măng tây và gà ác. Tất cả được ninh nhừ trong nước dùng gà giàu collagen. Thời gian hầm thường kéo dài từ 8-10 giờ với lửa nhỏ. Các nguyên liệu được cho vào nồi theo thứ tự thời gian chín, đảm bảo mỗi loại đều đạt độ mềm chín tới.

Món hầm Lý Hồng Chương đạt đến sự cân bằng tuyệt đối về hương vị: Với vị ngọt từ hải sản, vị béo từ thịt và từ các loại nấm rừng. Mỗi thìa nước súp đều chứa đựng tinh túy của đất trời, thể hiện sự tinh xảo của ẩm thực cung đình xưa Trung Quốc.
 
Bánh mì kẹp thịt bò

Bánh mì kẹp thịt bò (河北牛肉汉堡) được coi là phiên bản "hamburger kiểu Trung". Tuy có vẻ ngoài tương tự bánh mì thịt lừa, nhưng Bánh mì kẹp thịt bò lại mang một sắc thái hương vị hoàn toàn khác biệt. Món ăn này thiên về vị đậm, thơm nồng mùi gia vị thảo mộc và là một nguồn năng lượng tuyệt vời cho những buổi sáng mùa đông lạnh giá tại vùng phía Bắc Trung Quốc.

Hamburger kiểu trung

Phần vỏ bánh mì kẹp thịt bò là loại bánh mì nướng đặc trưng vùng Bắc Trung Hoa. Bánh được nướng trên than hoa, tạo nên mùi thơm đặc trưng. Nhân bò là điểm nhấn với thịt bò được thái lát mỏng, ướp gia vị rồi xào nhanh trên lửa lớn cùng hành tây và ớt chuông. Khi ăn, người bán sẽ kẹp thêm rau sống, dưa chuột thái lát và đặc biệt là sốt tương đen tự pha chế.

Bánh mì kẹp thịt bò nổi tiếng bởi sự kết hợp hoàn hảo: vị ngọt của thịt bò, vị cay nhẹ của hành tây xào, vị tươi mát của rau và vị đậm đà của sốt, tất cả nằm gọn trong lớp vỏ bánh giòn. Đây là món ăn đường phố được giới trẻ đặc biệt yêu thích. Vì vậy, món bánh mì kẹp thịt bò luôn nằm trong top 10 món ăn ẩm thực Hà Bắc nổi tiếng nhất.

Bát đại Chính Định

Tại vùng đất cổ Chính Định, bộ thực đơn Bát đại Chính Định (正定八大碗) là linh hồn của các bữa tiệc truyền thống. Tám món ăn được đựng trong tám chiếc bát sứ đồng nhất, tượng trưng cho sự trọn vẹn và thịnh vượng. Bát đại Chính Định là một trong top 10 món ăn ẩm thực Hà Bắc nổi tiếng nhất.

Linh hồn của bữa tiệc truyền thống

Tám món bao gồm: Bốn món mặn thịt kho tàu, thịt viên hấp, chân giò hầm, sườn nấu đông. Và bốn món thanh: miến, đậu phụ nhồi thịt, nấm hầm xương, rau củ thập cẩm. Mỗi vùng miền lại có biến tấu riêng, nhưng các món ăn đều phải đảm bảo sự cân bằng âm dương, đủ chất đạm và chất xơ.

Điểm chung của các món trong Bát đại Chính Định là đều được chế biến bằng phương pháp hấp cách thủy. Nguyên liệu được ướp gia vị, xếp vào bát sứ, hấp trong nhiều giờ đến khi chín mềm, sau đó úp ngược ra đĩa lớn, nước sốt được nấu sệt lại rưới lên trên. Cách bày biện, trình tự ăn Bát đại Chính Định cũng đều mang những quy tắc riêng, thể hiện sự tôn trọng với thực khách và với truyền thống.

Món ăn này thường chỉ xuất hiện trong các bữa tiệc quan trọng như đám cưới, lễ mừng thọ hay tiếp đón khách quý. Thưởng thức Bát đại Chính Định không chỉ là ăn ngon mà còn là trải nghiệm văn hóa. Đây là minh chứng cho sự mộc mạc nhưng cầu kỳ trong cách thưởng thức ẩm thực của người dân Hà Bắc.

Mì cung đình Cảo Thành

Món ăn tiếp theo được mệnh danh là "loại mì có thể luồn qua lỗ kim" và đứng trong top 10 món ăn ẩm thực Hà Bắc nổi tiếng nhất. Mì cung đình Cảo Thành (藁城宫面) là đặc sản nổi tiếng của huyện Cảo Thành (Thạch Gia Trang). Theo sử sách, từ thời nhà Đường, loại mì này đã được tiến vua và trở thành món ăn yêu thích trong hoàng cung.

Món mì từng là vật phẩm tiến vua

Điều làm nên tên tuổi của mì cung đình Cảo Thành nằm ở quy trình sản xuất thủ công với 18 công đoạn, kéo dài trong 2 ngày. Bột mì được chọn lọc kỹ càng, nhào với nước theo tỷ lệ chuẩn xác, sau đó ủ trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm đặc biệt. Người thợ phải có tay nghề cao để kéo sợi mì mỏng như sợi tóc nhưng vẫn đảm bảo độ dai. Khi phơi khô, sợi mì có màu trắng ngà, bóng mượt để khi nấu không nát, không dính, sợi mì trong veo.

Nước dùng của mì cung đình Cảo Thành được ninh từ xương gà, giăm bông và nấm hương, trong vắt nhưng ngọt vị. Khi ăn, chỉ cần cho mì vào bát, chan nước dùng nóng hổi, rắc thêm hành lá và vài lát thịt gà. Đây là một món ăn tinh tế, xứng đáng với danh hiệu vật phẩm tiến vua từ thời nhà Minh và nhà Thanh.
 
Cá kho phủ họ Triệu

Cá kho phủ họ Triệu (赵府熏鱼) là niềm tự hào của vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời. Triệu Châu nổi tiếng với ngôi chùa và cây cầu đá cổ, và cũng là nơi sản sinh ra món cá kho trứ danh của phủ họ Triệu. Món ăn được lưu truyền trong gia tộc họ Triệu qua nhiều thế hệ, đến nay mới được phổ biến rộng rãi.

Điểm đặc biệt là kết hợp giữa kỹ thuật kho và hun khói

Nguyên liệu chính của Cá kho phủ họ Triệu là cá chép hoặc cá trắm cỏ tươi, được làm sạch, để nguyên con và ướp gia vị trong 2 giờ. Điểm đặc biệt là cá được kho trong nồi đất với lửa nhỏ liên tục 6-8 tiếng, cùng hỗn hợp gia vị bí truyền gồm tương đen, giấm đen, đường phèn, gừng, tỏi và các loại thảo mộc.

Điểm làm nên sự khác biệt của Cá kho phủ họ Triệu chính là sự kết hợp giữa kỹ thuật kho và hun khói nhẹ bằng các loại thảo mộc. Cá sau khi được kho trong nước tương đặc chế sẽ có màu nâu đẹp mắt. Hương thơm của gỗ và gia vị thấm sâu vào miếng thịt cá tạo nên một phong vị độc đáo, vừa có chút hoài cổ vừa rất đậm đà, bắt cơm.

Bánh nướng cờ vây Đường Sơn

Bánh nướng cờ vây Đường Sơn (唐山棋子烧饼) là "đặc sản quốc hồn" của vùng đất này. Bánh có hình tròn dẹt, đường kính chỉ khoảng 3-4cm. Nhìn từ xa, những chiếc bánh nướng này trông giống những quân cờ vây trên bàn cờ.

Đặc sản quốc hồn của Hà Bắc

Vỏ bánh được làm từ bột mì pha với mỡ lợn và nước đường, nhào kỹ rồi cán mỏng nhiều lần để tạo độ xốp. Nhân bánh có hai loại: nhân mặn (thịt lợn băm, mộc nhĩ, nấm hương) và nhân ngọt (đậu đỏ, vừng đen). Bánh được xếp lên khay, phết lòng đỏ trứng lên mặt, rắc vừng và nướng trong lò than hồng đến khi vàng ươm.

Dù kích thước khiêm tốn, nhưng mỗi chiếc Bánh nướng cờ vây Đường Sơn là một sự kỳ công về lớp vỏ. Khi ăn, ngon nhất là khi thưởng thức cùng trà xanh. Món ăn này nằm trong top 10 món ăn ẩm thực Hà Bắc nổi tiếng nhất. Và cũng là món quà được nhiều du khách mua về làm quà sau mỗi chuyến đi.
 
Trà hạnh nhân Thừa Đức

Đến với vùng đất nghỉ dưỡng của vua chúa ngày xưa - Thừa Đức, bạn không thể không thử một bát Trà hạnh nhân Thừa Đức (承德杏仁茶). Đây là món đồ uống bổ dưỡng được làm từ hạnh nhân dại vùng núi phía Bắc. Trà hạnh nhân từng là thức uống yêu thích của hoàng thân quốc thích trong những ngày hè oi bức.

Thức uống yêu thích của hoàng thất xưa

Hạnh nhân ở Thừa Đức có hương vị đặc trưng khác với các vùng khác thơm hơn, béo hơn và không bị đắng. Hạnh nhân được ngâm nước ấm để bóc vỏ, sau đó xay nhuyễn với nước theo tỷ lệ chuẩn xác. Hỗn hợp được lọc qua vải để loại bỏ bã, chỉ lấy phần nước cốt trắng. Nước cốt được nấu với đường phèn và một ít trà xanh ngon, khuấy đều tay đến khi sôi lăn tăn.

Kết quả chúng ta sẽ có một bát Trà hạnh nhân Thừa Đức có màu trắng ngà, thơm dịu mùi hạnh nhân và trà xanh. Vị béo ngậy, ngọt thanh, rất dễ uống. Không chỉ là món giải khát, trà hạnh nhân còn có tác dụng nhuận phổi, làm đẹp da. Đây là sự kết thúc hoàn hảo và nhẹ nhàng cho hành trình khám phá top 10 món ăn ẩm thực Hà Bắc nổi tiếng nhất.

Hành trình khám phá 10 món ăn đặc sắc của ẩm thực Hà Bắc đã mang đến cho chúng ta cái nhìn đa chiều về vùng đất giàu bản sắc này. Từ những món ăn dân dã đường phố như bánh mì cuộn, bánh mì kẹp thịt bò cho đến những món ăn cung đình xa hoa như món hầm Lý Hồng Chương, Bát đại Chính Định. Tất cả đều thể hiện sự tinh tế, công phu và chiều sâu văn hóa của ẩm thực nơi đây.

Theo: studyinchina



LÃO TƯỚNG HÀNH - VƯƠNG DUY


Lão tướng hành - Vương Duy

Thiếu niên thập ngũ nhị thập thì,
Bộ hành đoạt đắc Hồ mã kỵ.
Xạ sát trung sơn bạch ngạch hổ,
Khẳng sổ Nghiệp Hạ hoàng tu nhi.
Nhất thân chuyển chiến tam thiên lý,
Nhất kiếm tằng đương bách vạn sư.
Hán binh phấn tấn như phích lịch,
Lỗ kỵ băng đằng uý tật lê.
Vệ Thanh bất bại do thiên hạnh,
Lý Quảng vô công duyên số kỳ.
Tự tòng khí trí tiện suy hủ,
Thế sự tha đà thành bạch thủ.
Tích thì phi tiễn vô toàn mục,
Kim nhật thuỳ dương sinh tả trửu.
Lộ bàng thì mại Cố hầu qua,
Môn tiền học chủng tiên sinh liễu.
Thương mang cổ mộc liên cùng hạng,
Liêu lạc hàn sơn đối hư dũ.
Thệ lệnh Sơ Lặc xuất phi tuyền,
Bất tự Dĩnh Xuyên không sứ tửu.
Hạ Lan sơn hạ trận như vân,
Vũ hịch giao trì nhật tịch văn.
Tiết sứ Tam Hà mộ niên thiếu,
Chiếu thư ngũ đạo xuất tướng quân.
Thí phất thiết y như tuyết sắc,
Liêu trì bảo kiếm động tinh văn.
Nguyện đắc Yên cung xạ thiên tướng,
Sỉ lệnh Việt giáp minh ngô quân.
Mạc hiềm cựu nhật Vân Trung thủ,
Do kham nhất chiến thủ công huân.


老將行 - 王維

少年十五二十時
步行奪得胡馬騎
射殺中山白額虎
肯數鄴下黃須兒
一身轉戰三千里
一劍曾當百萬師
漢兵奮迅如霹靂
虜騎崩騰畏蒺藜
衛青不敗由天幸
李廣無功緣數奇
自從棄置便衰朽
世事蹉跎成白首
昔時飛箭無全目
今日垂楊生左肘
路傍時賣故侯瓜
門前學種先生柳
蒼茫古木連窮巷
寥落寒山對虛牖
誓令疏勒出飛泉
不似潁川空使酒
賀蘭山下陣如雲
羽檄交馳日夕聞
節使三河募年少
詔書五道出將軍
試拂鐵衣如雪色
聊持寶劍動星文
願得燕弓射天將
恥令越甲鳴吳軍
莫嫌舊日雲中守
猶堪一戰取功勳


Bài hát ông tướng già
(Dịch thơ: Nguyễn Minh)

Mười lăm tới hai mươi lúc trẻ
Đoạt ngựa Hồ chạy khoẻ như bay
Vào non bắn cọp chết ngay
Không thua Nghiệp Hạ tay “Hoàng tu nhi”
Thân chinh chiến đi ba ngàn dặm
Một thanh gươm ngăn vạn hùng binh
Hán quân tiến tựa lôi đình
Địch quân bỏ chạy vì kinh chông gài
Vệ chưa bại vì trời giúp đỡ
Lý công toi do số phận kỳ
Bị phế bỏ nên tàn suy
Tóc đà bạc trắng, đời thì chưa an
Ngày trước bắn không cần ngắm kỹ
Nay khuỷu tay như liễu yếu mềm
Bán dưa có lúc đường bên
Trước nhà cũng liễu như hiền tiên sinh
Ngụ trong ngõ hoang vu cùng tận
Giạt tới sườn núi lạnh ngắm trời
Suối khô Sơ Lặc khấn khơi
Dĩnh Xuyên không rượu sống đời quan liêm
Đất Hạ Lan vốn luôn chinh chiến
Ngựa quân thư chạy tiếm ngày đêm
Tam Hà tuyển lính đã êm
Chiếu vua năm đạo do ông điều hành
Thử phủi tấm chiến bào tuyết trắng
Hãy cầm thanh bảo kiếm thất tinh
Thêm cung Yên bắn địch binh
Trong lòng xấu hổ Việt quân làm càn
Không quan ngại đất Vân truyện cũ
Mong một lần tranh thủ lập công.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương Duy 王維 (699-759) tự là Ma Cật 摩詰, người huyện Kỳ (thuộc phủ Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây). Cha mất sớm, mẹ là một tín đồ thờ Phật suốt ba mươi năm nên Vương Duy chịu ảnh hưởng tư tưởng của đạo Phật. Ông tài hoa từ nhỏ, đàn hay, vẽ giỏi, chữ đẹp, văn chương xuất chúng. Năm 19 tuổi, Vương Duy đến Trường An, được Kỳ vương Lý Phạm mến tài, đỗ đầu kỳ thi của phủ Kinh Triệu. Năm 21 tuổi, thi đậu tiến sĩ, được bổ làm Ðại nhạc thừa rồi bị giáng làm Tham quân ở Tế Châu. Sau nhân Trương Cửu Linh làm Trung thư lệnh, ông được mời về làm Hữu thập di, Giám sát ngự sử, rồi thăng làm Lại bộ lang trung. Trong thời gian này, thanh danh của ông và em là Vương Tấn vang dậy Trường An. Sau đó đến lượt Trương Cửu Linh lại bị biếm, Vương Duy đi sứ ngoài biên ải và ở Lương Châu một thời gian.

Nguồn: Thi Viện



SÁCH LÀ NGƯỜI BẠN TỬ TẾ NHẤT: ĐỌC SÁCH CÀNG NHIỀU, PHÚC KHÍ CÀNG LỚN!

Người xưa thường rất coi trọng việc đọc sách. Về mặt lợi ích, chọn đúng sách thật sự rất có lợi cho việc nâng cao đời sống tinh thần của chúng ta.


1. Đọc sách khiến con người trở nên khôn ngoan hơn

Lợi ích đầu tiên của việc đọc sách tất nhiên là để nâng cao kiến thức. Nếu bạn không muốn sống như kiểu "ếch ngồi đáy giếng", thì bạn phải thu nạp thêm những kiến thức từ thế giới bên ngoài.

Nhưng không phải ai cũng có cơ hội đi du lịch hàng ngàn dặm đường. Vì vậy may mà có sách, có thể giúp họ ở một chỗ cố định vẫn có thể hiểu thêm về thế giới.

Có thể nói rằng, đọc sách chính là cách tiếp thu kiến thức thuận tiện và hiệu quả nhất.

Trong quyển sách "Khổ vui của việc đọc sách", Dương Giang có viết:

"Đọc sách giống như đến thăm nhà người ưu tú nhất thế giới. Muốn đến thăm người thầy bạn ngưỡng mộ hoặc một học giả nổi tiếng mà không cần phải chào hỏi trước, cũng không sợ làm phiền họ.

Mở sách ra, bạn đã có thể "vào nhà". Dù đến đó thường xuyên cũng không sao, bất cứ lúc nào bạn muốn đến. Hay muốn rời đi cũng có thể không cần nói lời tạm biệt..."


Đây là cách thu nhận kiến thức đơn giản nhưng sáng giá nhất!


2. Đọc sách làm người ta quên đi lo lắng.

Tống Thái Tông mỗi ngày đều đọc hai quyển sách lịch sử, nếu một ngày bận việc triều chính thì ngày hôm sau sẽ đọc gấp đôi.

Ông cho rằng: "Đọc sách không phải là gánh nặng, là sự hữu ích!"

Sau này, khi Tô Đông Pha bị giáng chức xuống Đan Châu, Hải Nam, Trung Quốc. Dù ở đây không có phòng, không có thịt, không có thuốc, chỉ có thể ăn khoai uống nước sống qua ngày. Nhưng ông vẫn nhất định cho con trai chép sách và đọc sách cùng mình.

Bạn nghĩ tại sao trong môi trường khắc nghiệt như thế, họ vẫn kiên trì với việc đọc sách?

Nhà thơ Nam Tống Vưu Mậu đã từng nói: "Đói thì đọc sách thay rượu thịt, lạnh thì đọc sách thay chăn lông, cô đơn thì đọc sách thay bạn bè,..."

Đọc sách được người trí tuệ xem như một loại thư giãn, họ thưởng thức nó trong thầm lặng.

Chỉ cần có sách, sẽ khiến họ quên đi mọi nhọc nhằn trên đời.


3. Đọc sách giúp thay đổi tính khí

Thức ăn dinh dưỡng có thể giúp cơ thể thêm cường tráng, đọc đúng sách có thể bảo vệ đời sống sức khỏe tinh thần của một người.

Thật ra khí chất của một người vốn dĩ rất khó thay đổi. Nhưng khi đọc sách, lại có thể thay đổi được nó. Người xưa còn tương truyền rằng đọc sách có thể giúp thay đổi xương cốt.

Lịch sử khiến con người rõ ràng mọi việc, thơ ca giúp họ sáng suốt, toán học giúp ta thấu đáo, và triết học khiến nhân sinh thêm sâu sắc.

Bạn thấy đấy, đọc sách chính là cách tốt nhất giúp trau dồi tâm trí một cách tinh tế.

Hoàng Đình Kiên từng nói: "Nếu con người không đọc sách, họ sẽ sống, chỉ là đang sống vô vị từng ngày."

Không đọc sách, có thể khiến đầu óc mơ hồ, con người trở nên tầm thường!

Nếu bạn siêng năng đọc sách, có thể giúp mài giũa tính tình, không còn dễ nóng nảy, cũng không còn quá để ý đến lời nói hay cái nhìn thị phi từ người khác nữa.


4. Đọc sách góp phần tạo nên gia đình hạnh phúc

Đọc sách không chỉ là nấc thang giúp bản thân tiến bộ, mà còn là khởi đầu để gia đình phát triển mạnh mẽ.

Trong thời kỳ Gia Khánh của nhà Thanh, có một câu đối đã được khắc lại trong thư phòng của Lễ bộ:

"Đọc sách truyền mười đời, thì phú quý nhất định không dưới ba đời..."

Đọc sách không phải lối thoát duy nhất, mà còn là lối thoát rất công bằng. Bởi vì nó không quan tâm đến tài năng, xuất thân, mà chỉ coi trọng sự chăm chỉ và cống hiến.

Tăng Quốc Phiên không có nhiều tài lẻ, xuất thân cũng từ gia đình nhà nông. Nhưng ông đã tự thay đổi số phận cả gia đình thông qua việc học của mình.

Sau này khi ra làm quan, Tăng Quốc Phiên nói với mọi người:

"Ông không hi vọng được vinh danh từ thế hệ này sang thế hệ khác, chỉ mong có người tài từ đời này sang đời khác."

Nghĩ như vậy, ông cũng đã làm như vậy. Dù ở xa nhưng ông chưa bao giờ quên việc viết thư về quê nhà đốc thúc em trai và các cháu trai học tập.

Đọc sách, không chỉ có thể giúp thay đổi số phận chính mình, mà còn thay đổi gia đình, thay đổi cả thế giới!

Cẩm Thi
Theo: Doanh nghiệp và tiếp thị

BƯỚC TỚI ĐÈO NGANG BÓNG XẾ TÀ - KỲ 3: "THIÊN HẠ ĐỆ NHẤT HÙNG QUAN" PHÍA BẮC

Đứng trước cửa ải Hoành Sơn Quan rêu phong hôm nay, tôi lật lại những trang Đại Nam thực lục và chợt nhận ra đây không chỉ là một cái cổng đá đơn thuần mà là hiện thân của một tư duy quản trị quốc gia cực kỳ chặt chẽ dưới thời Nguyễn.

Hình khắc Hoành Sơn Quan trên Huyền Đỉnh thuộc bảo vật Cửu Đỉnh trong Hoàng cung Huế - Ảnh: THÁI LỘC

Nếu Hải Vân Quan là "yết hầu" bảo vệ kinh đô từ phía nam, thì Hoành Sơn Quan chính là "cánh tay trái" kiên cường án ngữ cửa ngõ phía bắc kinh đô Huế một thời.

Phòng thủ từ xa cho đất kinh đô

Sau những thăng trầm thời phân tranh, khi vương triều Nguyễn chính thức thống nhất giang sơn vào năm 1802, đèo Ngang không còn là chiến tuyến chia cắt mà trở thành "yết hầu" hành chính và quân sự của quốc gia.

Ngược dòng thời gian về mùa xuân năm Quý Tỵ (1833), Nguyễn Thánh Tổ (Minh Mạng) - vị quân vương nổi tiếng với những cải cách hành chính và quân sự sâu rộng - đã ban một chỉ dụ quan trọng.

Sách Đại Nam thực lục ghi lời chia sẻ của nhà vua: "Trẫm nghĩ Quảng Bình phía nam gần kinh kỳ, phía bắc có Hoành Sơn, là nơi rất xung yếu, thành trì không thể không làm cho kiên cố". Từ tư duy phòng thủ từ xa, nhà vua quyết định thiết lập một cửa ải chính thức ngay trên đỉnh đèo Ngang.

Sử liệu triều Nguyễn chép tỉ mỉ: Triều đình đã huy động 300 biền binh từ hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh dưới sự chỉ huy trực tiếp của Thự thị lang Bộ Công Đoàn Văn Phú đi đắp thành, xây ải ở đèo Ngang.

Sách Đại Nam thực lục ghi: "Khi Phú đi, vua dụ bảo rằng: "Nay Nam, Bắc một nhà, bốn phương vô sự, trong có các cửa ải Quảng Bình, Vũ Thắng là nơi hiểm yếu đủ cậy rồi. Còn cửa ải Hoành Sơn này lập nên chỉ để xét hỏi quân gian, cũng là một đồn phân phòng đó thôi. Ngươi nên xét kỹ hình thế, trù tính việc làm, cốt sao đỡ tốn".

Khi ấy công việc của Bộ Công ở kinh đô quá tải, Đoàn Văn Phú được rút về, vua sai Trần Văn Tuân, Thự bố chính Quảng Bình, đảm trách công việc.

Đại Nam thực lục ghi kích thước công trình: "Cửa ải ở trên đỉnh núi, chung quanh xây tường bằng đá núi, dài 11 trượng 8 thước, cao 5 thước, đằng trước mở 1 cửa, bên tả bên hữu có tường ngăn, xây theo thế núi; bên tả dài 36 trượng, bên hữu dài 39 trượng; có chỗ cao 3, 4 thước, có chỗ cao 5, 6 thước không chừng. Trong dựng một trại lính 3 gian để làm chỗ biền binh đóng giữ".

Điều khiến các nhà nghiên cứu ngày nay kinh ngạc chính là tốc độ thi công: toàn bộ công trình kiên cố này được hoàn thành chỉ trong vòng vỏn vẹn một tháng.

Mục đích của việc dựng quan ải được Nguyễn Thánh Tổ căn dặn thuộc cấp rất rõ ràng, mang đậm tính giải mật về quản trị an ninh: "lập nên chỉ để xét hỏi quân gian".

"Xét hỏi quân gian" ở đây chính là chức năng kiểm soát an ninh đường thiên lý dẫn vào kinh đô, quản lý lữ khách, thu thuế và ngăn chặn mầm mống bất ổn từ phía bắc tràn vào vùng trực kỳ để bảo vệ ngai vàng. Sau khi hoàn thành, triều đình phái ngay một suất đội và 20 lính Quảng Bình đến đóng giữ, định lệ thay phiên hằng tháng...

Kiến trúc "tùy sơn tác thế"

Về mặt kiến trúc, Hoành Sơn Quan là một mẫu hình tiêu biểu cho kỹ thuật xây dựng quân sự triều Nguyễn. Theo khảo sát thực địa và đối chiếu thạch bản, cửa quan được xây dựng bằng "gạch vồ" - loại gạch đặc trưng thời Nguyễn với độ nung cao và những tảng đá núi tại chỗ.

Hệ thống vữa kết dính ở đây là một tuyệt chiêu công nghệ của người xưa: sử dụng hỗn hợp vôi, cát, mật mía và đặc biệt là cây dây tơ hồng (thổ ty đằng) được giã nát, tạo nên độ gắn kết cực kỳ bền bỉ trước khí hậu khắc nghiệt, gió biển và bão dông của dải đất miền Trung.

TS Trần Đình Hằng - Phân viện trưởng Phân viện Văn hóa, nghệ thuật, thể thao và du lịch miền Trung - nhấn mạnh vai trò của Hoành Sơn Quan như một "biểu tượng ký ức lịch sử", nơi kiến trúc nhân tạo hòa quyện hoàn hảo với địa thế núi rừng theo nguyên tắc "tùy sơn tác thế".

Cổng ải cao hơn 4m, chiều rộng lòng cổng 2,77m, phía trên vòm cổng có biển ngạch khắc ba chữ Hán lớn: Hoành Sơn Quan. Một chi tiết mang tính giải mật quân sự là cánh cửa gỗ của quan ải luôn mở vào phía trong (về phía Quảng Bình).

Các chuyên gia phân tích rằng thiết kế này giúp quân binh phòng thủ dễ dàng đóng sập cửa khi bị tấn công từ bên ngoài và cánh cổng sẽ trở thành một tấm chắn an toàn cho binh sĩ bên trong.

Hai bên cổng là hệ thống tường thành đá núi chạy dài hơn 30m, bám sát triền núi theo dạng bậc thang, tạo nên một trận đồ phòng thủ liên hoàn. Từ cung đèo phía Hà Tĩnh nhìn lên, những bậc thang đá cổ như những nấc thang dẫn thẳng lên "cổng trời", uy nghiêm giữa mây ngàn.

Từ hệ thống quan ải gồm cổng thành, lũy đá, bảo canh, lối đi lại… đến nay chỉ còn chiếc cổng Hoành Sơn Quan - Ảnh: THÁI LỘC

"Thuộc về quốc gia"

Trong sơ đồ địa chính trị thời bấy giờ, Hoành Sơn Quan không đứng đơn lẻ. Nguyễn Thánh Tổ đã thiết lập một hệ thống phòng thủ lưỡng đầu: Hoành Sơn Quan ở phía bắc và Hải Vân Quan ở phía nam. Đây được coi là hai "lá chắn kiên cố nhất trên trục lộ duy nhất dẫn vào thủ phủ Thuận Hóa - Phú Xuân.

Nếu Hải Vân Quan được xưng tụng là "Thiên hạ đệ nhất hùng quan" thì Hoành Sơn Quan, với vị thế trấn giữ vùng biên viễn khắc nghiệt, chính là cửa ngõ kiểm soát toàn bộ lưu thông từ Bắc Hà vào vùng lõi quyền lực của vương triều.

Tầm quan trọng của Hoành Sơn Quan còn được nâng lên cấp độ biểu tượng chủ quyền quốc gia tối cao. Năm 1837, khi vua Minh Mạng cho đúc Cửu Đỉnh - bảo vật tượng trưng cho sự vững bền của xã tắc đặt trước Thế Tổ Miếu - hình ảnh núi Hoành Sơn và cửa ải Hoành Sơn Quan nằm trong lòng nó đã được khắc trang trọng vào Huyền Đỉnh.

ThS Nguyễn Trí Sơn, chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Hà Tĩnh, khẳng định: "Di tích Hoành Sơn Quan xét về mặt lịch sử không thuộc riêng một tỉnh nào mà thuộc về quốc gia - triều Nguyễn". Đó là một mắt xích không thể tách rời trong chuỗi di sản phòng thủ miền Trung.

Mỗi viên gạch vồ, mỗi bậc đá ở đèo Ngang hôm nay vẫn còn đang kể tiếp câu chuyện về một thời đại mà cha ông ta đã dùng trí tuệ và mồ hôi để dựng lên những bức tường thành bằng đá và bằng cả lòng tự tôn dân tộc giữa mây trời vạn dặm.

"Hoành Sơn Quan không chỉ là nơi canh phòng đơn thuần mà còn là công cụ để triều đình thực thi quyền lực, kiểm soát dân cư, điều tiết hoạt động thương mại và duy trì ổn định xã hội trên tuyến giao thông chiến lược.

Đồng thời việc đặt một công trình quy mô tại vị trí hiểm yếu trên đèo Ngang phản ánh nhận thức sâu sắc của triều Nguyễn về tầm quan trọng của những nơi xung yếu trong công cuộc bảo vệ đất nước.

Trong bối cảnh giao thông đương thời chủ yếu dựa vào đường bộ và đường ven biển, những cửa ải như Hoành Sơn Quan giữ vai trò như lá chắn tự nhiên kết hợp với nhân tạo, vừa ngăn ngừa các mối đe dọa từ bên ngoài vừa kiểm soát hiệu quả các biến động từ bên trong.

Cũng cần nói trên rằng Hoành Sơn Quan ngoài chức năng quân sự thì còn hàm chứa giá trị thẩm mỹ và biểu tượng sâu sắc. Dòng chữ Hán khắc trên cổng không đơn thuần chức năng định danh của một công trình mà còn thể hiện quyền lực của triều đình trung ương, khẳng định sự hiện diện của nhà nước trên một vị trí chiến lược và cho thấy ý thức rõ ràng về quản lý lãnh thổ".

Nguyễn Hữu Phúc (Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế) và Nguyễn Đăng Mạnh (Trường ĐH Đông Á)

-------------------------------

Kỳ tới: Mật độ thơ ca nhiều... nhất Việt Nam

Thái Lộc / Theo: tuoitre



Thursday, July 2, 2026

PHẬT DẠY: TRÊN ĐỜI CÓ 3 KIỂU NGƯỜI SỐNG KHỔ NHẤT

Đời người, bất kể giàu nghèo sang hèn, ai cũng phải trải qua sinh – lão – bệnh – tử, chia ly với người thương, sống cùng điều oán hận, cầu mà không được, và những thứ mãi không buông xuống, đó chính là tám nỗi khổ của nhân sinh.


Tám nỗi khổ ấy, mỗi người trải nghiệm một cách khác nhau. Nhưng chính chúng cũng là sự thành tựu và rèn luyện. Sau khi đi qua những biến đổi vô thường của cuộc đời, con người mới học được cách thuận theo duyên, biết buông bỏ, sống tự tại an vui, trở về với bản chất chân thật của sinh mệnh.

Đã sống một đời, nên sống sao cho không còn nuối tiếc, sống cho hạnh phúc. Đức Phật nói rằng, trên thế gian có ba kiểu người sống khổ nhất. Hãy thử xem, có bạn trong đó không?

Một, người quá cố chấp

Người quá cố chấp, không biết linh hoạt dung hòa, thường vừa làm tổn thương người khác, vừa tự làm khổ chính mình.

Chấp vào ý kiến riêng là biểu hiện của tư duy cực đoan và hạn hẹp, không biết bao dung, không biết đặt mình vào vị trí của người khác, cũng không hiểu sự tiếp nhận và khiêm nhường.

Phật pháp dạy rằng khi đối nhân xử thế cần rộng lượng, chừa cho người khác một khoảng không; không so đo từng chút, không áp đặt quan điểm của mình lên người khác.

Dung hòa không phải là khéo léo giả tạo, mà là bao dung vạn vật; giữ lòng từ bi, tâm bình hòa và nội tâm mềm mại.

Không tranh cãi với kẻ tiểu nhân, không nghe chuyện thị phi. Người có trí tuệ là người biết khiêm tốn như thung lũng sâu, biết lắng nghe; có lỗi thì sửa, không lỗi thì tự khích lệ bản thân. Từ đó không ngừng mở rộng tầm nhìn, nâng cao cảnh giới tinh thần và hoàn thiện chính mình, đạt đến trạng thái thanh tịnh, tự tại và hoan hỷ.

Hai, người không biết đủ

Phật giáo khuyên con người siêng tu giới – định – tuệ, dập tắt tham – sân – si, nghĩa là phải biết “tri túc”, biết đủ.

Nếu một người lòng tham vô hạn, muốn quá nhiều, thì phúc báo và trí tuệ trong đời sẽ dần dần bị tiêu hao.

Dân gian có câu: “Lòng tham không đáy, rắn muốn nuốt voi.”

Dục vọng phình to khiến con người mãi không thỏa mãn, đó chính là nguồn gốc của khổ đau và phiền não. Biết đủ mới thật sự giàu có. Không biết đủ thì chỉ mãi vùng vẫy trong được – mất, cuối cùng vẫn chẳng nắm giữ được điều gì.

Đạo lớn vốn giản dị; biết đủ thì thường vui. Cảnh giới sống càng cao, đời sống càng đơn giản.

Một người cả đời mưu tính tranh đoạt quyền lợi và danh vọng, xét cho cùng lại là biểu hiện của mê muội. Con người cần nỗ lực để sống tốt hơn, nhưng điều quý giá nhất không phải tiền bạc hay quyền lực, mà là sự đủ đầy và an lạc trong nội tâm.

Trong Phật môn thường nói: “Làm điều thiện là niềm vui lớn nhất.”

Hạnh phúc thật sự không nằm ở việc bạn có bao nhiêu tiền, mà ở việc bạn biết đủ và vui sống đến đâu.

Ba, người không kính sợ nhân quả

Con người cần có lòng kính sợ. Phật giáo nói: “Họa phúc không có cửa riêng, chỉ do con người tự chiêu cảm; thiện ác báo ứng, luôn theo sát như hình với bóng.”

Người không tin nhân quả thường khó tự ràng buộc hành vi của mình, dễ gieo những nhân xấu và cuối cùng phải nhận quả xấu tương ứng. Vì vậy Phật pháp dạy rằng tu hành phải lấy nhân quả làm nền tảng: tích lũy việc thiện, kết duyên lành rộng khắp.

Có câu: “Người trí sợ nhân, kẻ phàm sợ quả.”

Người trí hiểu nhân quả nên cẩn trọng từ nguyên nhân, gieo hạt lành từ sớm; còn người bình thường chỉ sợ hậu quả khi tai họa đã xảy ra, rồi oán trời trách người.

Nhân quả không diễn kịch cùng ai. Thiện ác cuối cùng đều có báo, chỉ là đến sớm hay muộn.

Trong kinh Tam Thế Nhân Quả có nói: “Ai thật lòng tin nhân quả thì hướng đến cảnh giới an lạc; ai không tin nhân quả thì dễ rơi vào sa đọa. Nhân quả không phải không ai thấy, xa thì ứng nơi con cháu, gần thì ứng ngay nơi bản thân.”

Người tin sâu nhân quả, lấy giới luật làm thầy, giữ thân – khẩu – ý thanh tịnh, chính là người có trí tuệ và phúc báo lớn.


Ba kiểu người trên là những người sống khổ nhất.

Nếu đã lâu bạn không còn cảm thấy vui vẻ, hãy tự hỏi: mình đang khổ vì điều gì?

Không có phúc báo và trí tuệ, dù bôn ba đến đâu cũng chỉ là mệt mỏi. Muốn đời có phúc, trước hết phải có trí tuệ; học cách buông xuống, thuận theo nhân duyên, không chấp trước, không cưỡng cầu, biết đủ và biết an.

Đó mới là một đời sống an hòa và tốt lành.

Tú Uyên biên dịch
Theo: vandieuhay

NHẠN MÔN THÁI THỦ HÀNH - LÝ HẠ


Nhạn Môn thái thủ hành

Hắc vân áp thành thành dục tồi,
Giáp quang hướng nhật kim lân khai.
Giốc thanh mãn thiên thu sắc lý,
Tái thượng yên chi ngưng dạ tử.
Bán quyển hồng kỳ lâm Dịch thuỷ,
Sương trọng cổ hàn thanh bất khởi.
Báo quân Hoàng Kim đài thượng ý,
Đề huề Ngọc Long vi quân tử.


雁門太守行

黑雲壓城城欲摧
甲光向日金鱗開
角聲滿天秋色裡
塞上燕脂凝夜紫
半捲紅旗臨易水
霜重鼓寒聲不起
報君黃金臺上意
提攜玉龍為君死


Bài ca về thái thủ ở ải Nhạn Môn
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Mây đen về cuốn ngang thành. 
Lớp mây vẩy cá, long lanh nắng chiều. 
Tiếng thu se sắt cô liêu. 
Đêm nơi biên ải nhạn liều cánh bay. 
Cờ hồng Dịch Thủy lắt lay. 
Sương giăng trống dục, chẳng tày tiến quân. 
Hoàng Kim đài, nặng nghĩa ân.
Tay cầm kiếm báu xả thân đáp đền.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Thi quỷ Lý Hạ 李賀 (790-816) thuộc dòng dõi tôn thất nhà Đường, cực kỳ thông minh đĩnh ngộ, khi mới lên bảy đã biết làm thơ. Danh sĩ đương thời là Hàn Dũ nghe tiếng Hạ bèn cùng Hoàng Phủ Thực đến nhà. Hai người muốn thử tài nên bắt Hạ làm thơ. Hạ thản nhiên cầm bút viết ngay bài Cao hiên quá trình lên, hai ông xem xong đều kinh hoảng. Bài thơ Cao hiên quá có những câu vô cùng kỳ dị, nếu đúng là do một cậu bé làm ra như giai thoại được kể trong Thái bình ngự lãm thì hai nhà thơ đương thời có kinh tâm động phách cũng là điều dễ hiểu: “Điện tiền tác phú thanh ma không, Bút bổ tạo hoá thiên vô công” (Trước nhà, làm thơ trình, thanh âm của bài thơ chạm vào bầu trời, Ngọn bút bổ sung những chỗ khiếm khuyết bất toàn của tạo hoá một cách dễ dàng, không tốn chút công sức).

Theo tiểu truyện về Lý Hạ do Lý Thương Ẩn - một nhà thơ lớn thời Vãn Đường - viết, thì khi Lý hạ bệnh nặng, bỗng có một vị tiên mặc áo lụa đào, cưỡi con cù long màu đỏ, bay đến bên cửa, cầm một cuốn sách, chữ giống như chữ triện thời thái cổ, trao cho Lý Hạ và nói: “Thượng đế đã cho xây xong lầu Bạch Ngọc, xin mời ông lên gấp để viết cho bài ký” (Đế thành Bạch Ngọc lâu, lập quân chiêu vi ký). Lát sau Lý Hạ mất. Người nhà thấy hơi và khói thấp thoáng qua cửa sổ, và nghe tiếng xe đi trong tiếng sáo réo rắt. Trong lịch sử Đường thi, có lẽ chỉ có Thi Tiên Lý Bạch và Thi Quỷ Lý Hạ mới có huyền thoại chung quanh cái chết mà thôi. Một người nhảy xuống sông ôm trăng rồi cưỡi con kình ngư lên cõi thiên khung (tương truyền khi Lý Bạch nhảy xuống sông ôm trăng thì có con kình ngư tới đón và chở lên trời), một người được Thượng đế cho tiên nhân đem xe nhạc đến mời lên viết bài ký cho lầu Bạch Ngọc chốn thiên đình. Ai dám khẳng định điều đó là hoang đường không thực, khi mà cõi đời tự bản chất đã là sắc sắc không không?

Nguồn: Thi Viện