Sunday, October 25, 2026

CON SỐ 13 CÓ NHIỀU ĐIỀU BÍ ẨN GÌ LIÊN QUAN ĐẾN VUA BẢO ĐẠI?

Không chỉ là vị vua thứ 13 của triều Nguyễn, vua Bảo Đại còn gắn với con số 13 qua nhiều dấu mốc trong cuộc đời. Những sự trùng hợp này khiến cuộc đời vị vua cuối cùng của Việt Nam càng trở nên đặc biệt.

Cuộc đời vua Bảo Đại gắn liền với con số 13.

Con số 13 có nhiều điều bí ẩn gì liên quan đến vua Bảo Đại?

Cuộc đời của Bảo Đại - vị vua cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam luôn là chủ đề thu hút sự tò mò của nhiều thế hệ. Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, tức vua Bảo Đại, chào đời vào ngày 22/10/1913 (tức 23/9 năm Quý Sửu) tại kinh thành Huế. Ông là con trai của vua Khải Định và bà Hoàng Thị Cúc - người sau này được sắc phong là Thái hậu Từ Cung.

Ngày 8/1/1926, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy được triều đình tôn lên ngôi, lấy niên hiệu Bảo Đại. Ông trở thành vị vua thứ 13, đồng thời là vị vua cuối cùng của triều Nguyễn.

Tháng 8/1945, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị. Sự kiện ông rời khỏi ngai vàng cũng là sự kết thúc của chế độ quân chủ tại Việt Nam.

Bên cạnh vai trò lịch sử, cuộc đời Bảo Đại còn được nhắc đến bởi lối sống phương Tây, những thú vui xa hoa và chuyện tình cảm với nhiều người phụ nữ. Đặc biệt, nhiều dấu mốc trong cuộc đời ông được cho là có sự trùng hợp với con số 13.

1. Sinh vào năm 1913

Sự liên hệ đầu tiên nằm ngay trong năm sinh của vua Bảo Đại. Ông chào đời ngày 22/10/1913, năm Quý Sửu, tại Huế.

Từ nhỏ, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã được lựa chọn làm người kế vị vua Khải Định. Ngày 28/4/1922, khi chưa tròn 9 tuổi, ông được xác lập làm Đông cung Hoàng Thái tử.

Vua Bảo Đại mặc lễ phục trong dịp tấn phong Đông cung Hoàng Thái tử.

Sau khi được lập làm Đông cung Hoàng Thái tử, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy được đưa sang Pháp học tập dưới sự chăm sóc của vợ chồng cựu Khâm sứ Trung Kỳ Jean François Eugène Charles. Ông lần lượt theo học tại Lycée Condorcet và sau này là Trường Khoa học Chính trị Paris (Sciences Po). Quãng thời gian gần 10 năm học tập tại Pháp đã góp phần hình thành phong cách sống và tư duy mang đậm ảnh hưởng phương Tây của vị vua cuối cùng triều Nguyễn.

2. Lên ngôi khi được tính là 13 tuổi

Ngày 6/11/1925, vua Khải Định qua đời. Hoàng thái tử Vĩnh Thụy từ Pháp trở về nước chịu tang và chuẩn bị kế vị.

Ngày 8/1/1926, triều đình tổ chức lễ tôn Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy lên ngôi, lấy niên hiệu Bảo Đại. Tính theo tuổi dương lịch, khi đó ông mới hơn 12 tuổi. Tuy nhiên, theo cách tính tuổi truyền thống của người Việt, ông được xem là 13 tuổi.

Hoàng tử Vĩnh Thụy, tới Pháp năm 1922

Sau lễ đăng quang, Bảo Đại không lập tức trực tiếp điều hành triều chính. Chỉ khoảng 2 tháng sau, ông trở lại Pháp tiếp tục việc học, đến năm 1932 mới về nước, bắt đầu trị vì.

Vua Bảo Đại ngồi trên ngai vàng trong Điện Thái Hòa.

3. Vị vua thứ 13 của triều Nguyễn

Bảo Đại là vị vua thứ 13 của triều Nguyễn, vương triều được thành lập khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802.

Các vị vua của triều Nguyễn lần lượt gồm Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại.


Với lễ đăng quang vào đầu năm 1926, Bảo Đại vừa trở thành vị vua thứ 13, vừa là người cuối cùng ngồi trên ngai vàng của triều Nguyễn.

4. Có 13 năm trực tiếp chấp chính

Nếu tính từ khi lên ngôi vào năm 1926 đến lúc thoái vị năm 1945, Bảo Đại giữ ngôi vua trong khoảng 19 năm. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 1926 đến năm 1932, ông chủ yếu học tập tại Pháp. Việc triều chính trong nước do Hội đồng Phụ chính điều hành dưới sự chi phối của chính quyền bảo hộ Pháp.

Đến tháng 9/1932, Bảo Đại mới trở về Huế và chính thức nắm quyền điều hành triều đình. Từ thời điểm đó đến khi thoái vị vào tháng 8/1945 là gần 13 năm.


Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chiều 30/8/1945, lễ thoái vị của vua Bảo Đại được tổ chức tại Ngọ Môn (Huế). Sau khi đọc Chiếu thoái vị, ông trao ấn vàng "Hoàng đế chi bảo" cùng thanh kiếm vàng nạm ngọc của hoàng triều cho Chính phủ Cách mạng lâm thời dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chấm dứt chế độ quân chủ kéo dài hàng thế kỷ.

Câu nói thường được nhắc lại gắn với thời khắc này là: "Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước nô lệ".

5. Có 13 người con được ghi nhận

Năm 1934, vua Bảo Đại kết hôn với bà Nguyễn Hữu Thị Lan. Ngay sau lễ cưới, bà được tấn phong làm Nam Phương Hoàng hậu. Vua Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu có 5 người con gồm Hoàng thái tử Bảo Long, Công chúa Phương Mai, Công chúa Phương Liên, Công chúa Phương Dung và Hoàng tử Bảo Thăng.

Vua Bảo Đại có 13 người con được ghi nhận, trong đó 5 người con với Hoàng hậu Nam Phương.

Dù cuộc hôn nhân với Nam Phương Hoàng hậu được tổ chức long trọng, Bảo Đại sau đó vẫn có quan hệ với nhiều người phụ nữ. Những cái tên thường được nhắc đến gồm bà Bùi Mộng Điệp, bà Lê Thị Phi Ánh, Lý Lệ Hà và một số phụ nữ mang quốc tịch nước ngoài.

Theo các tài liệu ghi lại thì vua Bảo Đại có tổng cộng 13 người con, gồm cả con với Nam Phương Hoàng hậu và những người con ngoài hôn nhân.

6. Giai thoại được hạ huyệt vào lúc 13 giờ

Những năm cuối đời, cựu hoàng Bảo Đại sống tại Pháp. Ông qua đời ngày 31/7/1997 tại Bệnh viện Quân y Val-de-Grâce ở Paris, hưởng thọ 83 tuổi.

Tang lễ được tổ chức vào ngày 6/8/1997. Sau nghi thức tại nhà thờ Saint-Pierre-de-Chaillot, linh cữu của ông được đưa đến an táng tại nghĩa trang Passy, thuộc quận 16 của Paris.

Mộ của cựu hoàng Bảo Đại tại nghĩa trang Passy trên đồi Trocadéro, thành phố Paris.

Một số bài viết kể rằng vào thời điểm chuẩn bị hạ huyệt, trời Paris bất ngờ đổ mưa khiến nước tràn vào phần mộ. Sau khi mọi người xử lý xong, đồng hồ vừa chỉ 13 giờ và linh cữu được hạ xuống vào thời điểm đó.

T. Trà / Theo: Thời Trang Vàng



Saturday, October 24, 2026

GIA TỘC TÔN TRUNG SƠN: TRĂM NĂM BỂ DÂU - KỲ CUỐI: SỐ PHẬN LONG ĐONG CỦA CÁC HẬU DUỆ HỌ TÔN

Tôn Trung Sơn suốt đời bôn ba lận đận, hậu duệ của ông cũng phiêu bạt khắp nơi trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cho dù họ ở nào trên Trái Đất, họ đều có khả năng kế thừa huyết mạch và tinh thần tổ tiên của gia tộc họ Tôn, làm người lương thiện thật thà, cần cù chịu khó trong công việc, tạo ra những kỳ tích trong cuộc sống mang nhiều sắc thái khác nhau.

Ba anh em Tôn Uyển, Tôn Khoa và Tôn Diễm.

Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, người con trai của ông là Tôn Khoa không còn được Quốc Dân Đảng trọng dụng. Tôn Khoa có ý muốn tới Mỹ, song đương cục Đài Loan đã lấy nhiều lý do không cấp hộ chiếu cho Tôn Khoa, vì thế Tôn Khoa không còn cách nào khác phải ở lại Hương Cảng. Phải đến mùa thu năm 1950, Tôn Khoa mới được phép đưa phu nhân Trần Thục Anh qua Ấn Độ, Hy Lạp và tới Pháp định cư. Cuộc sống phiêu bạt của gia đình Tôn Khoa kéo dài suốt tới năm 1965 cho tới khi trở về Đài Loan (Trung Quốc).

Hai người con của Tôn Khoa là Tôn Trị Bình và Tôn Trị Cường đều được sinh ra ở Mỹ khi Tôn Khoa lưu học tại Đại học Chicago. Cũng giống như người cha của mình, hai anh em đã được tiếp thu và hun đúc bằng nền văn hóa Đông Tây, học thức đều rất rộng. Tôn Trị Bình và Tôn Trị Cường cũng có thời gian theo học tại trường bồi dưỡng hải ngoại ở Bắc Kinh, là nơi lựa chọn con của những người làm cách mạng cho bồi dưỡng học tập tại trường sau đó cho đi học ở nước ngoài.

Lúc mới nhập trường, anh em Tôn Trị Bình và Tôn Trị Cường không hiểu tiếng phổ thông, vì thế gặp rất nhiều khó khăn trong học tập. Tuy nhiên, nhờ thông minh và cần cù, hai anh em đã nhanh chóng khắc phục được trở ngại về ngôn ngữ và thích ứng với môi trường học tập. Trước kháng chiến, Tôn Trị Bình học tập tại Đại học St. John Thượng Hải, trong khi đó Tôn Trị Cường học tại Đại học Kim Lăng, Nam Kinh. Sau đó, hai anh em cùng tới Mỹ du học và đều đạt được bằng thạc sĩ kinh tế chính trị học, Đại học Chicago, Mỹ. Sau khi Quốc Dân Đảng chạy khỏi Đại lục tới Đài Loan, hai anh em Tôn Trị Bình và Tôn Trị Cường đã định cư tại Mỹ.

Tôn Khoa và Tôn Trung Sơn năm 1910.

Đến cuối đời, hai anh em Tôn Trị Bình và Tôn Trị Cường ở vào hoàn cảnh rất khó khăn, đi đâu cũng bị giới báo chí đeo bám. Đến cuối những năm 1990, một bài báo đăng trên tờ "Tự Lập buổi tối" đã tiết lộ tin tức liên quan đến Tôn Trị Cường. Tôn Trị Cường "vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn đã viết thư xin Lý Đăng Huy thay đổi sự đãi ngộ". Báo "Tân Hoa Ma Cao" của Ma Cao (Trung Quốc) đưa tin, Tôn Trị Bình nhận thấy tiền đồ chính trị không có hy vọng đã chuyển sang công việc kinh doanh và đã sở hữu nhiều cổ phiếu có giá trị lớn, cuộc sống tương đối sung túc. Năm 1980, Tôn Trị Bình đã chuyển về định cư tại Hương Cảng.

Con cái của Tôn Trị Bình và Tôn Trị Cường đều định cư tại hải ngoại. Cuối cùng gia tộc họ Tôn chỉ có một mình Tôn Trị Cường sống tại Đài Loan (Trung Quốc). Do hoàn cảnh kinh tế vô cùng khó khăn, để tiện cho việc chữa trị bệnh tật, Tôn Trị Cường đã từng có một thời gian dài thuê nhà ở gần Bệnh viện đa khoa Vinh Dân, Đài Bắc.

Trong suốt cuộc đời, Tôn Trị Cường đã hai lần trở về Đại lục vào các năm 1992 và 1993. Tôn Trị Cường không những trở về quê hương thôn Thúy Hanh để thăm viếng nơi ở cũ của ông nội, mà còn đi du lịch Bắc Kinh, Thượng Hải, Vũ Hán và Quảng Châu... Mùa hè năm 2001, lúc đó sức khỏe đã yếu nhiều, nhưng Tôn Trị Cường vẫn đi Mỹ tham gia buổi lễ tốt nghiệp cử nhân của con trai Tôn Quốc Thăng. Tuy nhiên, điều không mong đợi đã xảy ra, vào ngày 4/7/2001 Tôn Trị Cường lâm bệnh và đột ngột qua đời, thọ 86 tuổi.

Tôn Khoa và vợ thời trẻ.

Hậu duệ của Tôn Trung Sơn ngoài chi của con trai Tôn Khoa, còn có chi của con gái Tôn Uyển. Năm 1914, tại Mỹ, Tôn Uyển đã kết hôn với Vương Bác Thu, một nhân sĩ của Đồng minh Hội, và sinh được một con gái là Vương Nhương Huệ và một con trai là Vương Hoằng Chi. Sau này Tôn Uyển chia tay với Vương Bác Thu. Năm 1921, tại Ma Cao, Tôn Uyển lại kết hôn với Đới Ân Trại người Quảng Đông, và sinh được một con gái tên Đới Thành Công, và một con trai tên Đới Vĩnh Phong.

Do thương cảm với sự bất hạnh trong hôn nhân của con gái, Tôn Trung Sơn rất yêu thương những đứa cháu ngoại của mình. Tên Thành Công và Vĩnh Phong đều do Tôn Trung Sơn đặt cho. "Thành Công" có ý nghĩa là sự thành công của cuộc cách mạng do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, đồng thời cũng có nghĩa là hy vọng cháu ngoại của mình có thể mưu thành sự nghiệp. Vĩnh Phong là để tưởng nhớ đến Vu Vĩnh Phong đã chỉ huy tàu thuyền chống lại đội quân phản loạn khi Tôn Trung Sơn gặp nạn tại Quảng Châu.

Gia tộc họ Tôn đã trải qua lịch sử trăm năm đầy bể dâu, đến nay vẫn duy trì và phát triển mạnh mẽ. Mặc dù vẫn còn một số người gặp nhiều sóng gió trong cuộc sống, thế nhưng có một điều bất biến là họ luôn kính trọng và hoài niệm về Tôn Trung Sơn, và vô cùng trân trọng tình cảm máu thịt này. Đồng thời, dường như mỗi người trong gia tộc họ Tôn đều không khoa trương trước ánh hào quang của tổ tiên, và luôn ghi nhớ tâm niệm một điều: “Làm một người dân bình thường, giản đơn và bình dị”.

Ngọc Thúy (Tổng hợp)
Theo: baotintuc

GIANG THÔN THU VỌNG - BÙI TÔNG HOAN


Giang thôn thu vọng

Phi y độc tự lập giang thiên,
Thu sắc thuỳ tương đáo nhãn biên.
Lữ nhạn hàng hàng qua biệt phố,
Khách phàm điểm điểm lạc tình thiên.
Khê đầu Phật tự y hồng diệp,
Trúc ngoại nhân gia cách đạm yên.
Nhật mộ thuỳ tri ngưng trữ xứ,
Lục vân ám dã khán phong niên.


江村秋望

披衣獨自立江阡
秋色誰將到眼邊
旅雁行行過別浦
客帆點點落晴天
溪頭佛寺依紅葉
竹外人家隔淡煙
日暮誰知凝佇處
綠雲暗野看豐年


Mùa thu ở xóm chài ngóng ra xa
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Phất phơ một bóng ven sông.
Thu vàng một dải, mắt trông mịt mờ.
Bến bờ cánh nhạn bơ vơ.
Cánh buồm giăng mắc, hững hờ trời xanh.
Mái chùa ngói đỏ vây quanh.
Dặng tre khóm trúc an lành khói quê.
Cuối chiều ngắm cảnh mải mê.
Lúa vàng mây biếc tràn trề yên vui !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bùi Tông Hoan 裴宗驩 (có sách chép là Bùi Tông Quán 裴宗瓘) hiệu Thuỷ Hiên, chưa rõ năm sinh năm mất, quê quán và hành trạng như thế nào. Chỉ biết ông làm quan dưới thời Trần Anh Tông (1293-1314). Thơ ông tuy còn lại rất ít nhưng cũng cho thấy một cái nhìn khoẻ khoắn và tích cực của một người biết gắn bó với sự nghiệp của thời đại mình.

Nguồn: Thi Viện

TUYỆT THẾ GIAI NHÂN HAY HỒNG NHAN HỌA THỦY? VỊ CÔNG CHÚA NÀY ĐÃ CƯỚI LIÊN TIẾP 6 VỊ HOÀNG ĐẾ

Thời xưa, một hoàng đế thường có rất nhiều phi tần, hậu cung có 3000 mỹ nữ. Trong lịch sử, có một mỹ nhân xinh đẹp tuyệt thế xuất thân trong thời loạn lạc, được gả cho sáu vị vương đế, nàng chính là Tiêu hoàng hậu của Tùy Dương Đế.

Tiêu Thị (Tiêu hoàng hậu), cũng được gọi là Tiêu Mỹ Nương trong bộ phim cổ trang “Tùy Đường diễn nghĩa” (Ảnh: Baidu)

Khi Tiêu Thị được sinh ra, một thầy bói nổi tiếng lúc bấy giờ là Viên Thiên Cương đã kinh ngạc trước dung mạo của nàng, tính toán kỹ lưỡng ngày sinh của cô, cuối cùng đưa ra kết luận bát tự: “Mẫu nghi thiên hạ, mệnh đới đào hoa”. Từ năm 12 tuổi, nàng đã trở thành vương phi của triều Tùy và Tấn, sau đó nàng bắt đầu bị buộc phải thay đổi danh tính liên tục, làm hoàng hậu của Tùy Dương Đế, làm thục phi của Vũ Văn Hóa Cập, sủng thiếp của Đậu Kiến Đức, phi tần 2 đời vua Thổ Nhĩ Kỳ và cuối cùng trở thành Chiêu Nghi của Đường Thái Tông Lý Thế Dân.

Tiêu Thị là con gái của Tiêu Vị, hoàng đế nam triều Lương Hiếu Minh. Tiêu Thị sinh vào tháng 2, vốn được coi là tháng âm khí cực mạnh thời đó, tục lệ thời bấy giờ cho rằng đứa trẻ sinh vào tháng 2 là xui xẻo nên được giao cho người chú nuôi nấng. Chưa đầy một năm sau, chú và thím đều qua đời. Sau đó Tiêu Thị lại được một người chú khác nuôi dưỡng.

Tiêu Thị (Tiêu hoàng hậu), cũng được gọi là Tiêu Mỹ Nương trong bộ phim cổ trang “Tùy Đường diễn nghĩa”, kết hôn với Dương Quảng (Ảnh: Baidu)

Tiêu Thị xuất thân vương thất, thuở thiếu thời xinh đẹp tuyệt trần, học giỏi, nho nhã, thông minh. Sau khi nhà Tùy thành lập, Tùy Văn Đế đã chọn một phi tần cho con trai mình là Dương Quảng, Tiêu Thị nổi bật trong số nhiều danh nữ ở phía nam sông Dương Tử và trở thành phi tần của Dương Quảng.

Sau khi Tiêu Thị được gả cho Dương Quảng, hai người yêu thương và sống với nhau hòa thuận, sinh ra ba người con trai và một người con gái. Trong triều chính, Tiêu Thị cũng nhờ vào trí thông minh và tài năng của mình để hỗ trợ chồng chiếm được vị trí kế vị, trở thành Tùy Dương Đế, lấy niên hiệu là Đại Nghiệp, Tiêu Thị được lập hoàng hậu.

Tùy Dương Đế Dương Quảng (Ảnh: Baidu)

Tùy Dương Đế là hoàng đế có tham vọng lớn trong lịch sử Trung Quốc, quyết tâm trở thành “Thiên cổ nhất đế”! Mười bốn năm trị vì, ông đào sông Đại Vận, chinh phạt Cao Lệ, gánh nặng đè lên người dân quá nặng nề khiến dân chúng nổi dậy khởi nghĩa. Năm Đại Chính thứ 14, nhà Tùy đại loạn, tướng quân Vũ Văn Hóa Cập tạo phản, giết chết Tùy Dương Đế, độc chiếm Tiêu Thị.

Vũ Văn Hóa Cập tự xưng đế, lấy quốc hiệu là Hứa, niên hiệu là Thiên Thọ. Đáng tiếc là Thiên Thọ Đế trị vì chưa được 1 năm thì đã bị Đậu Kiến Đức đánh bại và giết chết. Tiêu Thị lại bị Đậu Kiến Đức chiếm lấy. Lúc đó, Nghĩa Thành công chúa là vợ của vua Thổ Nhĩ Kỳ Xứ La Khả Hãn, em dâu của Tiêu Thị và là em họ của Dương Quảng, biết Tiêu Thị đang ở chỗ của Đậu Kiến Đức nên đã cử sứ giả đi đòi người. Lực lượng của Thổ Nhĩ Kỳ lúc này rất hùng mạnh nên Đậu Kiến Đức không dám từ chối. Vì vậy Tiêu Thị đã đến Thổ Nhĩ Kỳ và kết hôn liên tiếp với cha con Đại Khả Hãn.

Đường Thái Tông Lý Thế Dân (Ảnh: Baidu)

Sau khi Lý Thế Dân thành lập triều đại nhà Đường, ông đã đánh bại người Thổ Nhĩ Kỳ và giành lại Tiêu Thị. Lúc này Tiêu Thị đã 48 tuổi, tuy nhiên dung nhan vẫn còn như xưa, được Lý Thế Dân thu vào hậu cung, phong làm Chiêu Nghi. Tiêu Thị đã trải qua 18 năm yên bình trong hậu cung của Lý Thế Dân và đột ngột qua đời ở tuổi 67. Sau đó Lý Thế Dân đã chôn cất Tiêu Hoàng Hậu trong lăng mộ của Dương Quảng, bia mộ để tên Mẫn Hoàng Hậu.

Nguồn: aboluowang (Lý Vận)
Lan Chi biên dịch / Theo: vandieuhay

"KẺ THÙ" CỦA GIẤC NGỦ NGON?

“Tôi uống cà phê, mà tối có bị mất ngủ đâu?”. “Uống bia rượu vào là tôi ngủ ngon hơn hẳn”. Cafe, rượu bia và các chất kích thích khác từ lâu đã trở thành một phần của cuộc sống. Nhưng ít ai ngờ rằng, chính những người đồng hành với cuộc sống này lại chính là nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ ban đêm cũng như sức khoẻ dài lâu. Hãy cùng Ru9 tìm hiểu về tác động của chúng đến giấc ngủ nhé !


1. Ảnh hưởng đến giấc ngủ từ góc độ chuyên gia

Cà phê

Cà phê từ lâu đã trở thành thức uống “bắt đầu ngày mới”. Theo báo cáo của BMI research, người Việt tiêu thụ trung bình khoảng 1,5 kg cà phê (tức khoảng 75 ly cà phê) một năm. Trong cà phê chứa hàm lượng lớn caffein, là chất gây kích thích thần kinh trung ương. Bên cạnh nguồn năng lượng mà cà phê mang lại thì việc tiêu thụ lượng lớn caffeine mỗi ngày còn mang đến những tác dụng phụ đáng kể. Khi caffein vào ống tiêu hoá sẽ không bị phân huỷ mà nhanh chóng thấm qua niệm mạc ruột vào máu kích thích dạ dày tăng tiết axit gây tiêu chảy. Khi lên tới não caffeine gây tăng tiết norepinephrin làm tăng kích thích tim dẫn đến cảm giác bồn chồn, căng thẳng và gây mất ngủ.


Laura Cipullo, một chuyên gia dinh dưỡng người Mỹ, từng chia sẻ trên CNBC về thời điểm hoàn hảo để uống cà phê trong ngày. Bà chỉ ra rằng: “Khi chúng ta mới thức dậy, nồng độ hormone cortisol – còn gọi là hormone stress – trong cơ thể là rất lớn. Bạn sẽ cảm thấy lo lắng, mệt mỏi vì chúng. Nhưng nếu uống cafe ngay lúc này, hiệu quả của cortisol sẽ chỉ tăng lên và khiến bạn thấy mệt mỏi hơn sau đó. Thời điểm chuẩn nhất sẽ là sau đó vài giờ, mà cụ thể là trong khoảng 9 – 11h sáng.” Đồng thời, hãy tránh uống vào khung giờ buổi chiều hoặc tối muộn. Cipullo cho biết dù công dụng của cafe chỉ đạt mức tối đa trong vòng 30 – 60 phút sau khi uống, thì caffeine có thể ở lại trong hệ tuần hoàn và giữ cho chúng ta tỉnh táo trong vòng 6h kế tiếp.

Rượu, bia.

Việc uống rượu bia vào cuối tuần cũng trở thành thói quen của dân văn phòng. Thậm chí nhiều người cho rằng bia rượu giúp họ đi ngủ dễ dàng hơn. Thật vậy, rượu bia có thể khiến bạn chìm vào giấc ngủ nhanh chóng, nhưng lại khiến bạn thức giấc giữa đêm, cảm thấy mệt mỏi, uể oải.


Irshaad Ebrahim, Giám đốc y tế tại Trung tâm Giấc ngủ London, cho biết tác động trước mắt và ngắn hạn của rượu bia là giảm thời gian cần thiết của giấc ngủ, gây mất ngủ, ngủ không sâu giấc bởi ngủ trong lúc say rượu có thể khiến nhịp tim và hệ thống thần kinh hoạt động nhiều hơn so với bình thường. Bên cạnh đó, đồ uống có cồn còn là chất lợi tiểu, kích thích cơ thể giải phóng các chất lỏng. Rượu bia cũng có thể làm giãn nở các mạch máu trên da, gây tăng nhịp tim dẫn đến đổ mồ hôi nhiều hơn bình thường, khiến bạn khát nước.

Nước tăng lực và nước có gas

Khi nói đến những thứ ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ, chúng ta thường bỏ qua tác động của nước có gas, nhưng đây cũng là một sát thủ âm thầm đấy. Loại đồ uống này ảnh hưởng tới hệ tiêu hóa, sản sinh ra khí CO2, gây trướng bụng và đầy hơi. Nước ngọt cũng tăng nguy cơ thừa cân béo phì, đe dọa sức khỏe răng miệng. Khi uống vào ban đêm sẽ kích thích đi tiểu nhiều dẫn đến mất ngủ, ảnh hưởng sức khỏe.


2. Để giấc ngủ vẫn ngon

Nếu không thể từ chối lời mời của đồng nghiệp hay cơn “thèm” của bản thân thì bạn có thể tham khảo chuỗi lời khuyên sau đây để việc đi ngủ trở nên dễ dàng hơn.

Bước 1: Tạo ra một môi trường hoàn toàn yên tĩnh

Đang trong trạng thái hưng phấn vì chất kích thích tốt nhất bạn nên tạo ra một môi trường hoàn toàn thoải mái yên tĩnh, nghĩa là không internet, TV hay điện thoại di động. Một đĩa nhạc hòa tấu nhẹ nhàng với âm thanh thiên nhiên như tiếng mưa, thác nước, hay tiếng chim hót sẽ làm dịu nhẹ trạng thái hưng phấn nơi não bộ. Một bộ đôi gối và nệm êm ái sẽ rất cần thiết trong bước này đó.

Bước 2: Tập thể dục nhẹ nhàng

Tập thể dục thường xuyên sẽ giúp cho bạn có một giấc ngủ khỏe khoắn hơn. Thực hiện một vài động tác nhẹ nhàng trước khi ngủ sẽ giúp kích thích sản sinh ra serotonin, một loại hormone ru ngủ. Lý tưởng nhất là tản bộ quanh nhà hay một vào động tác yoga trên chính chiếc giường của bạn.


Bước 3: Uống 1 ly sữa ấm

Ngay sau bài thể dục nhẹ nhàng trên, hãy uống 1 ly sữa ấm. Sữa là nguồn tryptophan dồi dào, là một loại amino acid chuyển hóa thành serotonin và chuyển ngược thành melatonin. Đây là những chất quan trọng giúp hình thành giấc ngủ ngon.

Bước 4: Chủ động thư giãn đầu óc

Đôi khi chính sự lo lắng về tình trạng mất ngủ của bạn sẽ làm cho những bước trên trở thành vô ích. Đầu tiên, phải tránh lo lắng về điều này. Đừng nhìn đồng hồ và nhẩm tính xem mình đã thiếu ngủ được bao lâu rồi. Nhắm mắt tưởng tượng những khung cảnh thật thư giãn như thác nước hay bãi biển. Tập trung vào những âm thanh đó sẽ dẫn bạn vào trong giấc mơ lúc nào không hay.

Cà phê hay các chất kích thích vẫn nên dùng trong một số trường hợp cần thiết. Thế nhưng, hãy dùng thật đúng cách, đúng thời điểm để không ảnh hưởng đến sức khỏe và giấc ngủ nhé.

Theo: Ru9

Friday, October 23, 2026

GIA TỘC TÔN TRUNG SƠN: TRĂM NĂM BỂ DÂU - KỲ 3: GẮN BÓ CẢ CUỘC ĐỜI VỚI TỐNG KHÁNH LINH

Sau khi thất bại trong “cuộc cách mạng thứ hai” chống lại tên phản bội Viên Thế Khải, Tôn Trung Sơn và nhiều đồng chí của mình đã phải sống lưu vong tại Nhật Bản. Người bạn thân thiết của Tôn Trung Sơn là Tống Diệu Như, một thương gia giàu có nhưng rất có cảm tình với đảng cách mạng, đã hỗ trợ ông rất nhiều trong thời gian hoạt động tại Nhật Bản. Lúc đó người con gái lớn của Tống Diệu Như là Tống Ái Linh làm thư ký tiếng Anh cho Tôn Trung Sơn, người con gái thứ hai là Tống Khánh Linh vẫn đang lưu học tại Mỹ.

Tôn Trung Sơn và Tống Khánh Linh trong ngày cưới.

Theo chuyên gia nghiên cứu Phạm Phương Trấn, Tôn Trung Sơn và Tống Diệu Như là những người bạn cơ đốc giáo, có mối quan hệ rất tốt đẹp. Khi còn nhỏ Tống Khánh Linh nhiều lần gặp mặt Tôn Trung Sơn và rất sùng bái Tôn Trung Sơn. Cô mang hy vọng cháy bỏng được theo Tôn Trung Sơn tham gia cách mạng.

Tháng 9/1914, Tống Ái Linh kết hôn với Tôn Tường Hi, vì thế đã không thể đảm nhận vai trò thư ký tiếng Anh cho Tôn Trung Sơn. Lúc đó Tống Khánh Linh liền chủ động đề xuất đảm nhận công việc này. Kể từ đây đã nảy sinh tình yêu bền chặt keo sơn giữa hai người đồng chí cùng chung chí hướng.

Năm 1915, Tôn Trung Sơn kết hôn với Tống Khánh Linh. Khi đó ông 49 tuổi, hơn người vợ mới cưới 27 tuổi, thậm chí người con cả của Tôn Trung Sơn là Tôn Khoa cũng lớn hơn Tống Khánh Linh 2 tuổi. Sự khác biệt lớn về tuổi tác không được chấp nhận theo quan niệm lúc đó, hơn nữa Tôn Trung Sơn còn có vợ con ở quê nhà. Gia đình họ Tống đã kiên quyết phản đối cuộc hôn phối này, thậm chí đã giam lỏng Tống Khánh Linh trong nhà.

Tuy nhiên, Tôn Trung Sơn và Tống Khánh Linh vẫn không lay động và quyết tâm với tình yêu của mình. Tháng 9/1915, trước sự phản đối của nhiều người, Tôn Trung Sơn đã yêu cầu li hôn với Lư Mộ Trinh. Lư Mộ Trinh khảng khái bày tỏ: "Tôn tiên sinh đã bôn ba hải ngoại làm cách mạng, ngang dọc khắp nơi, tinh thần và thể xác đều đã rất mệt mỏi. Hiện nay có người chăm sóc lo liệu cuộc sống cho ông, tôi can tâm tình nguyện li hôn với ông". Câu nói này của Lư Mộ Trinh đã xua đi rất nhiều tin đồn hoài nghi về Tôn Trung Sơn.

Lăng mộ Tôn Trung Sơn ở Nam Kinh.

Sau khi kết hôn, Tống Khánh Linh luôn bên cạnh Tôn Trung Sơn và dốc toàn tâm toàn lực ủng hộ Tôn Trung Sơn về công việc, cuộc sống và tinh thần. Năm 1916, Viên Thế Khải xưng đế bất thành. Tôn Trung Sơn và Tống Khánh Linh từ Nhật Bản trở về Thượng Hải, tiếp tục lãnh đạo cách mạng. Một năm sau đó, Tôn Trung Sơn xuống Quảng Châu đảm nhận chức đại nguyên soái và triển khai "Phong trào hộ pháp", tuy nhiên đã bị tập đoàn quân phiệt và giới chính khách phản bội, vì thế Tôn Trung Sơn phẫn nộ từ chức trở về Thượng Hải.

Năm 1921, Tôn Trung Sơn lại một lần nữa tới Quảng Châu đảm nhận chức đại tổng thống và triển khai "Phong trào hộ pháp" lần thứ hai. Tuy nhiên, do có chính kiến khác biệt với lãnh tụ quân chính Quảng Châu lúc đó là Trần Quýnh Minh, vì thế Trần Quýnh Minh đã khởi binh và gây ra sự kiện pháo kích vào phủ tổng thống.

Trước khi bị pháo kích, Tôn Trung Sơn và Tống Khánh Linh đã nhận được mật báo, hai người kiên quyết nhường nhau đi trước, tự mình ở lại để đối phó. Khi hai người vẫn chưa quyết định được ai nên đi trước, Tống Khánh Linh đã nói một câu khiến Tôn Trung Sơn không thể không rời đi trước: "Trung Quốc có thể không có em, tuy nhiên không thể không có anh!".

Sau khi Tôn Trung Sơn tháo chạy an toàn, cuộc pháo kích bắt đầu. Tống Khánh Linh thập tử nhất sinh, cuối cùng đã thoát khỏi trận pháo kích. Tuy nhiên, Tống Khánh Linh đang mang thai, do quá căng thẳng và mệt mỏi, đã bị sảy thai. Đây là lần đầu tiên và cũng là duy nhất Tống Khánh Linh mang thai. Từ đó trở đi, lòng bao dung và tinh thần đại nghĩa của Tống Khánh Linh đã làm thay đổi quan điểm của rất nhiều người trong Quốc Dân Đảng vốn trước kia từng phản đối cuộc hôn nhân của bà với Tôn Trung Sơn. Kể từ đó sự uy nghiêm của bà đã được nâng cao rất nhiều.

Sau sự kiện khởi binh của Trần Quýnh Minh, Tôn Trung Sơn bắt đầu xem xét khả năng hợp tác với Đảng Cộng sản. Tháng 1/1923, Tôn Trung Sơn và đại diện toàn quyền chính phủ Liên Xô gặp nhau tại Thượng Hải, chính thức thảo luận về sự hợp tác với Đảng Cộng sản. Tháng 1/1924, trong đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Quốc Dân Đảng Trung Quốc, Tôn Trung Sơn đã tuyên bố thực hiện 3 chính sách lớn "liên Nga, liên cộng và giúp đỡ nông dân", tiếp nhận sự trợ giúp của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Liên Xô, cải tổ Quốc Dân Đảng.

Tháng 1/1925, Tôn Trung Sơn được chẩn đoán là mắc bệnh ung thư gan. Trong thời gian này, Tống Khánh Linh luôn túc trực bên cạnh Tôn Trung Sơn. Mặc dù thần chí không còn minh mẫn, tuy nhiên Tôn Trung Sơn vẫn nói với Tống Khánh Linh: "Em không được đau khổ, tất cả những gì của anh tức là của em". Tống Khánh Linh khóc và trả lời rằng: "Em chỉ yêu một mình anh, ngoài ra không yêu bất cứ thứ gì khác".

Ngày 12/3/1925, Tôn Trung Sơn qua đời ở tuổi 59. Tống Khánh Linh tuân theo ý nguyện của Tôn Trung Sơn đã mai táng ông tại Chung Sơn (núi Chuông), Nam Kinh, lăng mộ được gọi là "lăng Trung Sơn".

Nhà tưởng niệm Tôn Trung Sơn ở Quảng Châu (Nguồn ảnh: Internet)

Tháng 11/1956, để tưởng nhớ Tôn Trung Sơn, chính phủ Trung Quốc đã cho xây dựng nhà tưởng niệm di tích lịch sử Tôn Trung Sơn tại thôn Thúy Hanh và nhà triển lãm dân cư thôn Thúy Hanh. Đến cuối những năm 1980, để bảo tồn và thể hiện phong cảnh diện mạo của thôn Thúy Hanh, chính quyền địa phương đã trưng dụng một số ngôi nhà cổ và mở rộng quy mô nhà tưởng niệm. Đến nay, thôn Thúy Hanh không còn hậu duệ mang họ Tôn chính gốc.


MỘNG THIÊN - LÝ HẠ


Mộng thiên - Lý Hạ

Lão thố hàn thiềm khấp thiên sắc,
Vân lâu bán khai Bích tà bạch.
Ngọc luân loát lộ thấp đoàn quang,
Loan bội tương phùng quế hương mạch.
Hoàng trần thanh thuỷ tam sơn hạ,
Canh biến thiên niên như tẩu mã.
Dao vọng Tề Châu cửu điểm yên,
Nhất hoằng hải thuỷ bôi trung tả.


夢天 - 李賀

老兔寒蟾泣天色
雲樓半開壁斜白
玉輪軋露濕團光
鸞佩相逢桂香陌
黃塵清水三山下
更變千年如走馬
遙望齊州九點煙
一泓海水杯中瀉


Mộng lên trời
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Cóc vàng thỏ ngọc dong chơi.
Tầng mây cao vút, sáp phơi sắc ngà.
Ngậm vành trăng ngọc sương sa.
Tiên loan sánh bước, đậm đà quế hương.
Non tiên chẳng vướng bụi hường.
Bóng câu qua cửa, chuyện thường đổi thay.
Tề Châu mờ mịt khói bay.
Biển sâu thâu trọn, chén này trùng dương.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Thi quỷ Lý Hạ 李賀 (790-816) thuộc dòng dõi tôn thất nhà Đường, cực kỳ thông minh đĩnh ngộ, khi mới lên bảy đã biết làm thơ. Danh sĩ đương thời là Hàn Dũ nghe tiếng Hạ bèn cùng Hoàng Phủ Thực đến nhà. Hai người muốn thử tài nên bắt Hạ làm thơ. Hạ thản nhiên cầm bút viết ngay bài Cao hiên quá trình lên, hai ông xem xong đều kinh hoảng. Bài thơ Cao hiên quá có những câu vô cùng kỳ dị, nếu đúng là do một cậu bé làm ra như giai thoại được kể trong Thái bình ngự lãm thì hai nhà thơ đương thời có kinh tâm động phách cũng là điều dễ hiểu: “Điện tiền tác phú thanh ma không, Bút bổ tạo hoá thiên vô công” (Trước nhà, làm thơ trình, thanh âm của bài thơ chạm vào bầu trời, Ngọn bút bổ sung những chỗ khiếm khuyết bất toàn của tạo hoá một cách dễ dàng, không tốn chút công sức).

Theo tiểu truyện về Lý Hạ do Lý Thương Ẩn - một nhà thơ lớn thời Vãn Đường - viết, thì khi Lý hạ bệnh nặng, bỗng có một vị tiên mặc áo lụa đào, cưỡi con cù long màu đỏ, bay đến bên cửa, cầm một cuốn sách, chữ giống như chữ triện thời thái cổ, trao cho Lý Hạ và nói: “Thượng đế đã cho xây xong lầu Bạch Ngọc, xin mời ông lên gấp để viết cho bài ký” (Đế thành Bạch Ngọc lâu, lập quân chiêu vi ký). Lát sau Lý Hạ mất. Người nhà thấy hơi và khói thấp thoáng qua cửa sổ, và nghe tiếng xe đi trong tiếng sáo réo rắt. Trong lịch sử Đường thi, có lẽ chỉ có Thi Tiên Lý Bạch và Thi Quỷ Lý Hạ mới có huyền thoại chung quanh cái chết mà thôi. Một người nhảy xuống sông ôm trăng rồi cưỡi con kình ngư lên cõi thiên khung (tương truyền khi Lý Bạch nhảy xuống sông ôm trăng thì có con kình ngư tới đón và chở lên trời), một người được Thượng đế cho tiên nhân đem xe nhạc đến mời lên viết bài ký cho lầu Bạch Ngọc chốn thiên đình. Ai dám khẳng định điều đó là hoang đường không thực, khi mà cõi đời tự bản chất đã là sắc sắc không không?

Nguồn: Thi Viện