Monday, June 22, 2026

CHINH PHỤC NHỮNG VÌ SAO - KỲ 9: SỰ THẬT CỜ MỸ ĐƯỢC CẮM TRÊN MẶT TRĂNG THẾ NÀO?

Giờ phút lịch sử của nước Mỹ cũng như toàn thể nhân loại bắt đầu vào sáng 16-7-1969 ở Mũi Kennedy, bang Florida. Khoảng 650 triệu người đã theo dõi chuyến bay trọng đại qua truyền hình.

Phi hành gia trên chuyến bay vũ trụ Apollo 11: Neil Armstrong, Michael Collins và Edwin “buzz” Aldrin (từ trái sang) - Ảnh: NASA

Trong cuộc đua kỷ nguyên vũ trụ, hai phi hành gia Mỹ Neil Armstrong, Buzz Aldrin đã đi vào lịch sử khi lần đầu in dấu chân loài người trên Mặt trăng.

Trước đó, cả hai siêu cường Liên Xô - Mỹ đều đã phóng nhiều tàu không người lái và có người lái thăm dò nhưng chưa có ai chạm được vào "chị Hằng".

Ngày lịch sử của kỷ nguyên vũ trụ

Dẫn đầu là Liên Xô trong chương trình phóng các tàu Luna. Mỹ sau bi kịch mất mát ba phi hành gia với Apollo 1, đã thành công với các chuyến bay sau đó.

Chín phi hành gia Mỹ đã bay trên các tàu từ Appllo 7 đến Apollo 10 tới "chị Hằng" nhưng chưa thực hiện đổ bộ. Trong đó, William Anders, Frank Borman, Jim Lovell là những người Mỹ trên Apollo 8 lần đầu bay quanh Mặt trăng.

Đặc biệt, ba phi hành gia Mỹ trên chuyến bay Apollo 10 đã diễn tập cuộc đổ bộ đầu tiên và là thử nghiệm cuối cùng cho chuyến bay vũ trụ lịch sử của Apollo 11 với Neil Armstrong, Buzz Aldrin.

Tài liệu lịch sử NASA ghi cụ thể rằng: "Mục tiêu chính của Apollo 11 là hoàn thành mục tiêu quốc gia do Tổng thống John F. Kennedy đặt ra vào ngày 25-5-1961: thực hiện cuộc đổ bộ có người lái lên Mặt trăng và trở về Trái đất".

Giờ phút lịch sử của nước Mỹ cũng như toàn thể nhân loại bắt đầu vào sáng 16-7-1969 ở Mũi Kennedy, bang Florida. Đúng 9h32 sáng giờ ET (giờ miền đông nước Mỹ), phi thuyền Apollo 11 được lệnh cất cánh, chở theo ba phi hành gia Neil Armstrong, Michael Collins và Edwin "buzz" Aldrin. Chỉ huy đội bay là Armstrong, phi công mô đun chỉ huy là Collins và phi công mô đun hạ cánh Mặt trăng là Aldrin.

Khoảng 650 triệu người đã theo dõi chuyến bay trọng đại này qua truyền hình. Hơn 1 triệu người Mỹ, trong đó có Phó tổng thống Spiro Agnew, cựu Tổng thống Lyndon Johnson và Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, tướng William Westmoreland đến xem trực tiếp gần bãi phóng.

Apollo cất cánh hoàn hảo lên bầu trời trong xanh bằng lực đẩy của siêu tên lửa hạng nặng Saturn V từ bệ phóng 39A. Toàn bộ tên lửa và khoang phi thuyền dài tới 110,6m và nặng hơn 3.000 tấn.

Theo NASA, chuyến bay Apollo 11 đã khởi hành chính xác đến mức ba trong số lần hiệu chỉnh đường bay không cần thiết phải thực hiện.

Armstrong vui vẻ thốt lên: "Con tàu Saturn này đã cho chúng ta một chuyến đi tuyệt vời... Thật đẹp!". Các phi hành gia mở nhạc để thư giãn, trong đó có những bài nhạc đồng quê vui tươi của quê hương họ.

Tầng thứ ba của tên lửa Saturn V được kích hoạt để đưa phi hành đoàn bắt đầu hành trình dài 376.400km đến Mặt trăng. Các phi hành gia đã thực hiện lần truyền hình màu đầu tiên về Trái đất từ tàu Apollo 11 giai đoạn bay ngang Mặt trăng.

Sang ngày 18-7, Armstrong và Aldrin đã mặc bộ đồ bảo hộ vũ trụ để đi qua đường hầm kết nối sang kiểm tra mô đun hạ cánh xuống Mặt trăng mang tên Eagle (chim đại bàng) và thực hiện buổi truyền hình trực tiếp thứ hai.

Phi hành gia Aldrin đứng cạnh quốc kỳ Mỹ cắm trên Mặt trăng trong chuyến bay Apollo 11 năm 1969 - Ảnh: NASA

Đại bàng hạ cánh

100 giờ 12 phút sau khi phóng, khoang tàu Eagle tách rời để chuẩn bị đáp xuống Mặt trăng. Lúc 102 giờ 33 phút, quá trình hạ cánh có động cơ được thực hiện với động cơ giảm tốc hoạt động. Sau tám phút, Armstrong và Aldrin trong khoang Eagle ở độ cao khoảng 8km trên bề mặt "chị Hằng". Riêng Collins ở lại khoang chỉ huy, đây là yêu cầu bắt buộc phải có phi công ở lại tàu.

Đây là thời điểm hồi hộp nhất với NASA và người theo dõi truyền hình từ mặt đất, còn phi hành gia không có thời gian để suy nghĩ điều đó. Động cơ hãm tiếp tục cung cấp lực đẩy giảm tốc cho đến khoảng 102 giờ 45 phút kể từ khi bắt đầu nhiệm vụ.

Từ đây, Armstrong đã điều khiển một phần việc hạ cánh bằng tay. Eagle đáp an toàn xuống khu vực mang tên Biển Yên Tĩnh cách điểm hạ cánh dự kiến khoảng 1,2km và sớm hơn gần 1 phút rưỡi so kế hoạch bay, tức lúc 20h17 giờ UTC ngày 20-7-1969. Armstrong phải điều khiển khoang đáp tránh miệng hố nhiều đá gồ ghề có thể không an toàn lúc hạ cánh.

Armstrong gọi về trạm chỉ huy chuyến bay dưới Trái đất: "Houston, căn cứ Tranquility. Eagle đã hạ cánh". Trước đó, máy tính đã cảnh báo 5 lần nhưng Trung tâm Điều khiển nhiệm vụ từ mặt đất đều cho rằng an toàn và việc đáp xuống được tiếp tục.

Khoảng hai giờ rưỡi trước khi phi hành gia bước chân ra Mặt trăng, Aldrin đã gọi về Trái đất - tổ ấm của toàn thể nhân loại: "Đây là phi công LM (khoang đáp Eagle). Tôi muốn nhân cơ hội này thỉnh cầu bất kỳ người nào đang lắng nghe, dù bạn là ai hay ở đâu đi chăng nữa, hãy tạm ngừng trong giây lát để chiêm ngưỡng những sự kiện đã xảy ra trong ít tiếng vừa qua và bày tỏ lòng biết ơn theo cách của riêng mình". Sự thật, đây là lần đầu tiên loài người trải qua sự kiện vĩ đại này trong kỷ nguyên vũ trụ.

Trong bài viết lịch sử Tổng quan về sứ mệnh Apollo 11, tác giả Sarah A. Loff đã ghi lại: "Bốn giờ sau đó, Armstrong bước ra khỏi tàu Eagle và triển khai máy quay truyền hình để truyền tải sự kiện về Trái đất. Khoảng 109 giờ 42 phút sau khi phóng, ông bước chân lên Mặt trăng. Khoảng 20 phút sau, Aldrin theo sau.

Máy quay sau đó được đặt trên giá ba chân cách tàu đổ bộ Mặt trăng khoảng 9m. Nửa giờ sau, Tổng thống Nixon đã nói chuyện với các phi hành gia qua điện thoại.

Những huy chương kỷ niệm mang tên ba phi hành gia Apollo 1 thiệt mạng trong vụ hỏa hoạn trên bệ phóng và hai nhà du hành vũ trụ khác cũng qua đời trong các tai nạn đã được đặt trên bề mặt Mặt trăng. Một đĩa silicon đường kính một inch rưỡi chứa những thông điệp thiện chí siêu nhỏ từ 73 quốc gia và tên của các nhà lãnh đạo quốc hội và NASA cũng được giữ lại...".

Sau khi lấy mẫu đất đá Mặt trăng cho vào túi, trước ống kính truyền hình, Armstrong và Aldrin thực hiện việc trang trọng nhất là cắm quốc kỳ Mỹ.

Sau này, Alrin đã kể lại: "Trong số những việc phải làm trên Mặt trăng, việc mà tôi muốn thực hiện trôi chảy nhất chính là dựng lá cờ Mỹ lên đó".

Ban đầu, các phi hành gia hơi gặp khó khăn với cây thanh lồng nhau và họ chỉ có thể cắm nó xuống dưới bề mặt cứng khoảng 5cm. Sở dĩ nhìn qua hình người ta thấy lá cờ như luôn tung bay dù Mặt trăng không có gió, vì cây cắm cờ được thiết kế thêm thanh ngang trên đầu để có thể giương căng phần lá cờ theo chiều ngang mà không để nó bị rủ xuống.

Sau đó, hai phi hành gia tiến hành chụp hình cho nhau lúc chào cờ. Tổng thống Richard Nixon đã vui vẻ nói chuyện với họ qua đường truyền vô tuyến: "Tôi không thể diễn tả hết niềm tự hào nơi chúng tôi về những gì mà các anh đã làm. Đối với mỗi người Mỹ, đây hẳn phải là ngày đáng tự hào nhất trong đời. Và tôi tin rằng mọi người trên khắp thế giới cũng sẽ cùng với người Mỹ công nhận chiến tích to lớn này. Nhờ các anh, bầu trời đã trở thành một phần của thế giới loài người".

Armstrong đáp lời: "Cảm ơn Ngài tổng thống. Đây quả là một vinh dự và đặc ân lớn lao khi chúng tôi có mặt tại nơi này".

Armstrong cùng Aldrin đã ở trên bề mặt Mặt trăng trong 21 giờ 36 phút. Động cơ tầng cất cánh được kích hoạt lúc 124 giờ 22 phút sau giờ khởi hành.

Quy trình trở về Trái đất của Apollo 11 được bắt đầu vào ngày 24-7-1969. Sau hành trình vũ trụ dài 195 giờ 18 phút 35 giây, khoang đáp đã hạ cánh xuống Thái Bình Dương và được người trên tàu cứu hộ USS Hornet chào đón trong niềm vui chưa từng có.

Phi hành gia Neil Armstrong đã nói câu lịch sử khi đi bộ trên Mặt trăng: "Đây là bước chân nhỏ của một người, nhưng là bước tiến khổng lồ của toàn nhân loại".

>> Kỳ tới: Tìm câu trả lời loài người có đơn độc trong vũ trụ?

Thùy Chi / Theo: tuoitre

Sunday, June 21, 2026

DUYÊN PHẬN - GẶP RỒI, CHƯA CHẮC LÀ PHÚC. MẤT RỒI, CHƯA CHẮC LÀ HỌA

Trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, “duyên” và “phận” là hai chữ mà người xưa hay dùng để giải thích những sự gặp gỡ, gắn bó hay xa rời trong cuộc đời. Người ta tin rằng, mỗi mối quan hệ đều do duyên định, mỗi cuộc hội ngộ đều là kết quả của nhân quả đời trước. Nếu không có duyên, dù có đứng đối diện nhau cũng như người xa lạ. Nếu có duyên, thì dù xa cách nghìn trùng, cũng có ngày gặp gỡ.


Tôi từng nghĩ duyên phận là điều đẹp đẽ, như thể mỗi người bước vào đời ta đều mang theo món quà nào đó. Nhưng sống thêm vài năm, va vấp vài lần, tôi mới hiểu: không phải duyên nào cũng lành, không phải cứ gặp nhau là điều tốt, và càng không phải cứ muốn giữ lấy một người là sẽ giữ được.

Duyên được phân thành nhiều loại, thiện duyên, ác duyên, oán duyên, nợ duyên, thậm chí là duyên chưa trả xong từ nhiều đời. Điều này nghe tưởng xa xôi, nhưng nếu tĩnh tâm nhìn lại đời mình, ai cũng từng trải qua đủ dạng duyên ấy.

Có người đến khiến ta mỉm cười, đó là thiện duyên.

Có người đến khiến ta khổ tâm, tổn thương, nhưng vẫn không buông được ấy, là ác duyên.

Có người làm tổn thương ta rồi ra đi, để lại một nút thắt trong tim, đó là oán duyên.

Có người mình yêu thương thật lòng, nhưng cả đời vẫn chẳng thể ở cạnh nhau đó là nợ duyên.

Người xưa không vội nhìn một mối quan hệ bằng hình thức: “Họ có tốt không?, họ có giàu không?”, mà nhìn bằng trí huệ: “Duyên này lành hay dữ? Đến để đưa mình lên, hay kéo mình xuống?”.

Có duyên đến như ngọn gió mát, nhưng cũng có duyên như cơn bão ngầm, cuốn phăng hết sự bình yên mà mình vốn có. Vậy nên, có duyên chưa chắc là phúc. Mà không duyên, đôi khi chưa chắc là họa.

Chúng ta hay nghĩ rằng mình làm chủ đời mình, có thể chọn ai mình yêu, giữ ai ở lại, tránh ai ra đi.

Nhưng, duyên là thứ đến từ nhân quả, không thể cưỡng cầu. Khi một người cố cải biến duyên phận, níu một người không thuộc về mình, cưỡng ép một việc chưa đúng thời điểm, chẳng khác nào trói chặt chính mình vào sợi dây đau khổ, càng vùng vẫy, càng bị trói chặt hơn. Cuối cùng, người khổ nhất lại là bản thân. Chẳng phải vô minh sao?

Tôi từng thấy một người phụ nữ sống hơn 20 năm trong cuộc hôn nhân đầy tổn thương. Bà cố chịu đựng, cố gắng thay đổi chồng, sửa tính con, giữ lấy một gia đình đã mục rữa. Khi tôi hỏi: “Sao không buông?”, bà nói: “Vì mình nghĩ cho con, vì gia đình, thế này thế kia”.

Nhưng tôi thấy rõ trong mắt bà là một nỗi sợ: sợ mất, sợ đổi thay, sợ cô đơn, hơn là một niềm tin vào nhân quả. Cái bà bám vào không phải là duyên, mà là chấp.

Duyên phận không phải là thứ để cưỡng cầu. Cưỡng duyên, là nghịch thiên. Mà nghịch thiên, thường phải trả giá.

Trong “Liễu Phàm Tứ Huấn”, Viên Liễu Phàm có nói: “Người biết mệnh, không oán trời; người giữ đức, không cầu phúc.“ Nghĩa là người hiểu rõ luật duyên phận, thì sẽ sống trong thuận tự nhiên, không truy cầu danh lợi, không níu giữ người không còn duyên với mình. 


Vậy ta nên làm gì trước duyên?

Không phải buông xuôi, mà là tùy duyên, tức làm hết lòng, nhưng không cưỡng cầu kết quả.

Cái gì nên giữ, thì giữ bằng Thiện tâm, không giữ bằng nỗi sợ mất. Cái gì nên buông, thì buông bằng trí tuệ, không buông trong giận hờn. Một người từng làm mình tổn thương, nếu là ác duyên, thì buông đi là giải thoát. Còn nếu là thiện duyên chưa chín, thì thời gian sẽ làm nó đơm hoa trở lại, nếu nó thật sự là của bạn, nếu bạn có phúc phận đủ đầy.

Có người hỏi tôi: “Sao có những kẻ ác lại gặp toàn người tốt yêu thương họ, còn người hiền lành lại hay bị phụ bạc, lẽ nào vật chất quyết định ý thức?”

Tôi chỉ nói: đời này chỉ là một trường đoạn ngắn của dòng nhân quả dài miên man. Có người hôm nay trả nợ cũ. Có người hôm nay hưởng phúc đã gieo. Đừng vội kết luận khi mọi thứ chưa kết thúc. Thứ gì bạn thấy trước mắt chỉ là kết quả nhất thời. Tương lai thế nào còn phải chờ xem.

Thiện duyên, ác duyên, đều là nhân quả nối nhau, không phải ngẫu nhiên, cũng không phải bất công.


Và cuối cùng, ta vẫn có một điều có thể làm: tu tâm, tích đức, để tự cải hóa chính mình.

Khi nội tâm thay đổi, trường duyên quanh ta cũng sẽ thay đổi. Một người tu tâm hướng thiện, tự khắc sẽ ít gặp oán duyên, nhiều gặp thiện duyên. Như hoa sen vươn lên khỏi bùn lầy, sạch sẽ, nhẹ nhàng, không dính bụi trần.

Duyên, không giữ được thì buông.
Phận, không cải được thì thuận.
Người, không thể thay đổi thì tự quay về sửa mình.
Việc, không như ý thì xem như là bài học.


Đời người chỉ dài bằng một cái chớp mắt trong cõi luân hồi. Gặp ai, yêu ai, mất ai, không gì là ngẫu nhiên. Hiểu được vậy, tâm sẽ an. Biết cảm ân thiện duyên, biết hóa giải ác duyên, và biết bước tiếp không nặng lòng, đó mới là trí tuệ thật sự, không bám víu… Đời tự khắc bình an.

Nguyên Tác An Hậu
Theo: vandieuhay

HÁN CUNG XUÂN (SƠ TỰ NAM TRỊNH LAI THÀNH ĐÔ TÁC) - LỤC DU


Hán cung xuân (Sơ tự 
Nam Trịnh lai Thành Đô tác)

Vũ tiễn điêu cung,
Ức hô ưng cổ luỹ,
Tiệt hổ bình xuyên.
Xuy già mộ quy,
Dã trướng tuyết áp thanh chiên.
Lâm ly tuý mặc,
Khán long xà,
Phi lạc man tiên.
Nhân ngộ hứa,
Thi tình tướng lược,
Nhất thì tài khí siêu nhiên.

Hà sự hựu tác nam lai,
Khán trùng dương dược thị,
Nguyên tịch đăng sơn.
Hoa thì vạn nhân lạc xứ,
Khi mạo thuỳ tiên.
Văn ca cảm cựu,
Thượng thì thì,
Lưu thế tôn tiền.
Quân ký thủ,
Phong hầu sự tại,
Công danh bất tín do thiên.

Năm 1173, Lục Du vào Thục, kiên trì chống Kim. Có thời gian ông đi theo việc quân ngũ. Ít lâu sau, ông lại từ Nam Trịnh trở về Thành Đô làm những việc nhàn rỗi. Bài này đoạn đầu tác giả nhớ thời ở Nam Trịnh, đoạn sau tả nỗi buồn với nét sinh hoạt thái bình ở Thành Đô, không đả động gì đến việc chống giặc.


漢宮春-初自
南鄭來成都作

羽箭雕弓,
憶呼鷹古壘,
截虎平川。
吹笳暮歸,
野帳雪壓青氈。
淋漓醉墨,
看龍蛇、
飛落蠻箋。
人誤許,
詩情將略,
一時才氣超然。

何事又作南來,
看重陽藥市,
元夕燈山。
花時萬人樂處,
攲帽垂鞭。
聞歌感舊,
尚時時、
流涕樽前。
君記取,
封侯事在,
功名不信由天。


Hán cung xuân - Mới từ 
Nam Trịnh về Thành Đô làm
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Đeo cung, tên gắn lông chim. 
Thành xưa lũy cũ, tầm nhìn chim ưng. 
Bình Xuyên giết hổ đã từng. 
Tù và thúc giục, lưng chừng chiều buông. 
Ngoài thềm dấu tuyết còn vương. 
Say sưa nét bút ta dường chưa quên. 
Giấy hoa ai họa nét tiên. 
Rồng bay phượng múa mà nên hình hài. 
Có tài, ai ngợi chi tài !. 
Tài thơ binh lược, dùi mài mài ai hay ?. 
Chiêu hiền đãi sĩ bấy nay. 
Phương Nam công việc lại quay trở về. 
Nguyên tiêu đèn đuốc mải mê. 
Trùng dương chợ thuốc dễ bề bỏ qua ?. 
Muôn người lạc giữa muôn hoa. 
Buông roi thúc ngựa mũ đà lệch ngang. 
Lời ca chuyện cũ xốn xang. 
Ngồi bên chén rượu đôi hàng lệ rơi. 
Phong hầu quyết chí tới nơi. 
Công danh há tự ông trời ban cho ?.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lục Du 陸遊 (1125-1209) tự Vụ Quan 務観, hiệu Phóng Ông 放翁, người Sơn Âm, Việt Châu (nay thuộc Nhạn Môn đạo, tỉnh Sơn Tây), thời Nam Tống. Ông đã trải các chức quan Tri châu, Tri phủ, Quốc sử biên tu, và là một vị thi nhân ái quốc. Sống vào thời kỳ hai hai triều Tống - Kim đánh nhau, Lục Du trở thành một người rất trăn trở vì mất nước. Khi đó người Nữ Chân (vương triều Kim) đã đánh chiếm xuống phía nam, đất nước chia năm xẻ bảy, dân tình ly tán loạn lạc. Ông đã từng vào đất Nam Trịnh (Tứ Xuyên hiện nay) theo phong trào chống Kim, đã từng mặc giáp cưỡi ngựa vượt qua sông Vị cùng những toán kỵ mã yêu nước, ban đêm đột kích quân Kim nhiều lần. Ông có Kiếm nam từ chuyên tập lưu truyền đến nay.

Nguồn: Thi Viện



CỔ NHÂN NÓI: "KHÔNG NÊN TÍCH TRỮ 4 THỨ NÀY TRONG NHÀ, CÀNG TÍCH TRỮ THÌ CÀNG NGHÈO ĐI"

Trong “Đạo Đức Kinh”, Lão Tử giảng: “Vật tráng tắc lão”, tức là vật lớn mạnh thì ắt già. Lớn mạnh quá mức là trái Đạo, trái Đạo sẽ mất sớm. Cho nên, việc gì cũng vậy, quá độ thì không bằng phù hợp, có chừng mực. Hoa chưa nở hết, trăng chưa tròn, biết dừng đúng lúc mới là tốt nhất.


Trong cuộc sống cũng không nên tích trữ quá nhiều, nếu không có thể gây ra những tác động tiêu cực không ngờ.

Dưới đây là “bốn điều” không nên tích trữ quá nhiều, bởi nó không chỉ đề cập đến sự tích lũy vật chất mà còn chạm đến lối sống và tâm lý của chúng ta ở mức độ sâu sắc hơn.

1. Những thứ không cần thiết

Trong bài thơ “Lậu Thất Minh”, tác giả Lưu Vũ Tích viết: “Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh. Thủy bất tại thâm, hữu long tắc linh”. Tạm dịch: Núi không nhất thiết phải cao, có Tiên ở là sẽ nổi danh. Sông không nhất định phải sâu, có Rồng ở là có linh khí.

Sự sang trọng của môi trường không nằm ở sự tích lũy vật chất mà ở trạng thái bên trong.

Những thứ vô dụng trong nhà, không chỉ chiếm không gian vật chất mà còn hạn chế quyền tự do tinh thần.

Nỗi ám ảnh của con người đối với những món đồ vô dụng thực chất là nỗi hoài niệm về quá khứ và nỗi sợ hãi về tương lai, điều mà vô hình chung không thể nhận ra, đây chính là xây dựng một “nhà tù tinh thần”.

Nhà văn hiện đại Thoreau đã viết trong “Walden”: “Tôi sẵn sàng lao sâu vào cuộc sống, sống một cuộc đời vững chắc và giản dị” , anh theo đuổi tinh thần dồi dào là minh chứng cho sự giàu có bên trong, đến từ việc sống một cuộc sống giản dị.

Điều này phản ánh lý tưởng sống mục vụ của nhà thơ cổ Đào Uyên Minh, người “hái cúc dưới hàng rào phía đông, thong thả ngắm núi phía nam”, thể hiện thẩm mỹ cuộc sống giản dị kéo dài thời gian và không gian.

Có câu nói rằng: “Mọi thứ trở nên quý giá hơn khi chúng hiếm hoi, và tình yêu trở nên tử tế hơn khi chúng ta già đi”. Câu nói này không chỉ áp dụng cho những món đồ quý hiếm mà còn phản ánh sự theo đuổi thế giới tâm linh của con người.

Cuốn sách bán chạy nhất hiện đại “Chủ nghĩa tối giản” đề cập: “Sở hữu ít hơn, sống nhiều hơn”. Quan niệm này phù hợp với lời dạy của Khổng Tử: “Ăn tiết kiệm và uống nước, uốn cong cánh tay và gối, và bạn hãy tận hưởng nó”.

Khi buông bỏ sự bám víu vào vật chất, chúng ta có thể tìm được nơi bình yên trong thế giới hỗn loạn.

Từ xưa đến nay, từ Đông sang Tây, dù là trí tuệ trong thơ ca, tục ngữ cổ hay những hiểu biết sâu sắc của văn học hiện đại, tất cả đều mách bảo chúng ta rằng: giảm bớt những thứ vô dụng không chỉ là sự sắp xếp môi trường sống mà còn là sự thanh lọc thế giới tâm linh.

Người xưa vẫn nói: “Lưu thuỷ bất hủ, hộ xu bất lâu, động dã”, nghĩa là: Nước chảy không hôi thối, chốt cửa không bị mối mọt đó là do luôn động. Chỉ khi không ngừng loại bỏ cái cũ và đón nhận cái mới thì cuộc sống của chúng ta mới như dòng suối chảy, trong lành, tràn đầy sức sống, không ngừng tiến về phía trước và chào đón mọi khởi đầu mới.

Không tích trữ những thứ vô dụng sẽ giúp cuộc sống của bạn thoải mái và ý nghĩa hơn (nguồn: phunutoday)

2. Thức ăn dư thừa

Trong “Châu Tử Gia Huấn” có câu: “Nhất chúc nhất phạn, đương tư lai xứ bất dị; Bán ty bán lũ, hằng niệm vật lực duy nan”, ý rằng một bát cháo, một hạt cơm, nên nghĩ kiếm được không dễ; nửa tấm vải, nửa sợi vải, phải nhớ làm ra rất khó. Câu này nhắc nhở chúng ta hãy trân trọng từng hạt lương thực, bởi vì chúng đều là hiện thân của mồ hôi lao động vất vả.

Ở Ai Cập cổ đại, người ta tôn kính thần Osiris, vị thần là biểu tượng của nông nghiệp và mùa màng. Lễ hội Thu hoạch hàng năm không chỉ là một lễ kỷ niệm mà còn là sự trân trọng và tạ ơn đối với lương thực.

Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Socrates từng nói: “Sự hài lòng là tài sản tự nhiên, sự xa xỉ là nghèo đói giả tạo”. Câu cách ngôn xuyên không gian và thời gian này cũng cảnh báo chúng ta không nên phung phí quá mức, để không rơi vào tình trạng nghèo đói gấp đôi về tinh thần và vật chất.

Trong “Trăm bản tình ca”, nhà văn hiện đại Pablo Neruda đã miêu tả vẻ đẹp của cuộc sống bình dị bằng ngôn ngữ thơ: “Tình yêu ở những ngày bình thường, không quanh bàn tiệc giàu có”.

Trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cuốn “The Omnivore’s Dilemma” của nhà văn Mỹ Michael Pollan khám phá các vấn đề dư thừa và lãng phí trong ngành công nghiệp thực phẩm hiện đại, kêu gọi mọi người quay về với thiên nhiên, tiêu dùng hợp lý và giảm áp lực lên môi trường.

Có một câu nói trong Kinh Dịch cổ của Trung Quốc: “Ăn uống tiết kiệm để giữ gìn sức khỏe”. Seneca, triết gia La Mã cổ đại ở phương Tây đã từng nói: “Không phải thức ăn bạn ăn mà chính thức ăn bạn tiêu hóa mới khiến bạn khỏe mạnh”. Cả hai đều nhấn mạnh sự khôn ngoan của việc ăn uống hợp lý và tránh lãng phí từ những quan điểm văn hóa khác nhau.

Với tốc độ ngày càng nhanh của cuộc sống hiện đại và sự phát triển của văn hóa, chúng ta nên cảnh giác hơn về việc đóng gói quá nhiều thực phẩm và bộ đồ ăn dùng một lần. Những điều này đã làm trầm trọng thêm gánh nặng môi trường và đi ngược lại những lời dạy cổ xưa về việc “tiết kiệm nuôi dưỡng đức hạnh”.

3. Cảm xúc tiêu cực

Nhà tâm lý học người Mỹ Daniel Goleman đã nhấn mạnh trong cuốn sách “Trí tuệ cảm xúc”: “Trí tuệ cảm xúc là một trong những yếu tố then chốt quyết định sự thành công và hạnh phúc của chúng ta”. Ông đã chỉ ra qua nghiên cứu khoa học rằng việc quản lý cảm xúc hiệu quả không chỉ có thể cải thiện cá nhân mà còn cải thiện xã hội, đồng thời nâng cao khả năng phục hồi nội tâm, giúp chúng ta đương đầu tốt hơn với những thách thức, áp lực trong cuộc sống.

“Một nụ cười khiến bạn thêm mười tuổi, một nỗi buồn khiến đầu bạn bạc đi”. Câu tục ngữ dân gian Trung Quốc này minh họa một cách sinh động tác động sinh lý của những cảm xúc tích cực và cảm xúc tiêu cực đối với con người. Nó khuyến khích chúng ta duy trì thái độ lạc quan khi đối mặt với những khó khăn, thử thách của cuộc sống, bởi sự thay đổi trong tâm lý thường có thể mang lại những tác động tích cực không ngờ.

Trong “To the Lighthouse”, nhà văn người Anh Virginia Woolf đã miêu tả một cách tinh tế những biến động trong thế giới nội tâm của các nhân vật, cho thấy những thay đổi tinh tế trong cảm xúc có thể ảnh hưởng sâu sắc đến quỹ đạo cuộc sống của một cá nhân như thế nào.

Cô viết: “Nếu một người có thể gột rửa những muộn phiền trong lòng, thì người đó có thể nghe thấy tiếng nói tinh tế nhất của cuộc sống”. Câu nói này truyền cảm hứng cho chúng ta rằng bằng cách dọn sạch cỏ dại trong lòng, chúng ta có thể cảm nhận sâu sắc hơn vẻ đẹp của cuộc sống, từ đó thúc đẩy sự chuyển hóa tích cực của cảm xúc.

Trong những câu chuyện Phật giáo từ Ấn Độ cổ đại, Đức Phật đã dạy con người đối mặt với những cơn bão cảm xúc bên trong bằng lòng từ bi và chính niệm. Có một câu nói nổi tiếng trong “Dhammapada”: “Nếu tâm trí hòa hợp, con đường có thể đạt được”. Nó nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hòa hợp tinh thần trong việc đạt được sự bình an và trí tuệ nội tâm. Điều này trùng hợp với phương pháp thiền chính niệm được ủng hộ trong tâm lý học hiện đại, giúp đạt được sự tự điều chỉnh và giải phóng cảm xúc bằng cách quan sát cảm xúc của một người thay vì bị chúng kiểm soát.

Một ví dụ khác là tác phẩm “Anna Karenina” của nhà văn Nga Leo Tolstoy bộc lộ sâu sắc sự ghen tị và bất mãn dần dần gặm nhấm trái tim nhân vật chính, cuối cùng dẫn đến bi kịch. Câu chuyện này cảnh báo chúng ta rằng những cảm xúc tồi tệ giống như những dòng nước ngầm bị ẩn giấu, nếu không được giải thoát, chúng có thể biến thành một dòng chảy không thể kiểm soát được.

Hãy vứt bỏ những cảm xúc tiêu cực, bởi chúng sẽ ăn mòn ý chí của bạn (nguồn: ngoisao)

4. Nợ

“Đừng để chiếc ví của bạn trở thành khu vườn khốn khổ sau nhà, đầy những hối tiếc đã mua”. Phiên bản hiện đại của câu cách ngôn này lặp lại câu nói cổ điển của Shakespeare: “Người đi vay trở thành nô lệ của chủ nợ”.

Trong “Gulliver’s Travels”, Swift sử dụng phép ẩn dụ phóng đại của Lilliput để mô tả một cách ẩn dụ khoản nợ quá mức như bị trói buộc bởi vô số sợi chỉ mỏng manh và dần mất đi tự do.

Sự kết hợp giữa những nền văn học này và trí tuệ dân gian đều cảnh báo chúng ta rằng nợ nần là xiềng xích của tự do và cần phải thận trọng.

Tục ngữ phương tây có câu nói: “Tiền không phải là gốc rễ của mọi tội ác, mà là lòng tham”.

Việc giữ một cái đầu tỉnh táo khi đối mặt với những cám dỗ vật chất và nhận ra ranh giới giữa nhu cầu và mong muốn thực sự là chìa khóa để tránh bội chi và tích lũy nợ nần.

Hiện tượng chú chim trong “Truyện ngụ ngôn của Aesop” đã bán lông của mình để kiếm tiền ngay lập tức đã cảnh báo chúng ta rằng chủ nghĩa khoái lạc thiển cận cuối cùng sẽ khiến con người mất khả năng bay. Vì vậy, thiết lập quan điểm đúng đắn về tiền bạc, học cách trì hoãn sự hài lòng và lập kế hoạch cho tương lai là những con đường khôn ngoan dẫn đến tự do tài chính.

Cổ ngữ có câu: “Thủy tích thạch xuyên”, nghĩa là nước nhỏ giọt liên tục, có thể xuyên qua đá, chỉ cần kiên trì thì sức mạnh nhỏ cũng đạt được những thành tựu khó khăn.

Câu này không chỉ áp dụng cho sự cần cù, kiên trì mà còn áp dụng cho việc quản lý tài chính. Cũng giống như hình ảnh kẻ keo kiệt được nhà văn Pháp Balzac khắc họa trong “Eugénie Grandet”, tuy cực đoan nhưng nó cũng phản ánh rằng việc tích lũy của cải cần có thời gian và sự kiên nhẫn.

Chỉ bằng cách tiết kiệm từng chút một và đầu tư khôn ngoan, bạn mới có thể tối đa hóa giá trị của từng đồng xu, mới có thể dần dần xây dựng được một nền phòng thủ tài chính vững chắc.

Khổng Tử đã nói trong Luận ngữ rằng: “Người quân tử yêu tiền và kiếm tiền một cách đúng đắn”.

Bằng cách này, nền tảng kinh tế của gia đình có thể vững chắc và cuộc sống có thể tràn ngập nhiều khả năng và màu sắc hơn.

Tục ngữ Kinh thánh có câu: “Gia đình là bến đỗ của tâm hồn và là điểm khởi đầu của những giấc mơ”. Một gia đình đầm ấm, hòa thuận không thể tách rời sự nỗ lực chung của mỗi thành viên. Bằng cách tránh tích trữ quá nhiều những món đồ vô dụng, thức ăn dư thừa, cảm xúc tiêu cực và nợ nần, chúng ta có thể tạo ra một môi trường gia đình trong lành, lành mạnh, tích cực và ổn định hơn.

Người xưa đã nói: “Sự đơn giản thì có được, sự phức tạp thì mất đi”. Trên bình diện vật chất và tinh thần, chỉ khi học cách đơn giản hóa và buông bỏ thì chúng ta mới có được nhiều hạnh phúc và tự do hơn. Chúng ta hãy bắt đầu ngay hôm nay để thực hành trí tuệ “Bốn điều không nên” và cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình tốt đẹp hơn.

“Mọi việc sẽ thịnh vượng khi gia đình hòa thuận”. Một gia đình hòa thuận là nền tảng của sự ổn định xã hội và là nguồn gốc của hạnh phúc cá nhân. Bằng việc tuân thủ nguyên tắc “không tích trữ trong nhà”, chúng ta không chỉ tổ chức không gian vật chất thoáng mát mà còn hình thành tâm lý và lối sống lành mạnh.

Trong quá trình này, chúng ta đều có thể tìm thấy điểm cân bằng của riêng mình và đạt được sự phát triển chung của cá nhân và gia đình. Chúng ta hãy cùng nhau tạo nên một ngôi nhà tràn ngập tình yêu thương và sự hòa hợp.

Thùy Dung biên tập
Nguồn: sohu

Saturday, June 20, 2026

CHINH PHỤC NHỮNG VÌ SAO - KỲ 8: PHI THUYỀN APOLLO VÀ THẢM KỊCH ĐẦU TIÊN

Từ cuối thập niên 1950, Liên Xô và Mỹ bước vào cuộc đua không gian, với các chương trình Luna, Pioneer và Apollo hướng tới mục tiêu chinh phục Mặt trăng.

Hình minh họa về tàu vũ trụ không người lái Pioneer 10 bay qua sao Mộc - Ảnh: NASA

Là hai siêu cường duy nhất trên thế giới chạy đua vào kỷ nguyên vũ trụ từ cuối thập niên 50 của thế kỷ 20, trong lúc Liên Xô thực hiện chương trình Luna vượt ra khỏi quỹ đạo Trái đất để khám phá Mặt trăng, thì Mỹ cũng tập trung đầu tư cho chương trình Pioneer và sau đó là Apollo.

Giai đoạn đầu, Liên Xô dẫn trước bởi các vụ phóng tàu Luna không người lái thám thính Mặt trăng, nhưng sau đó chính Mỹ mới là quốc gia thành công đưa phi hành gia của mình đổ bộ xuống "chị Hằng".

Chương trình Người tiên phong

Theo nguồn lịch sử Cơ quan Hàng không và Vũ trụ quốc gia Mỹ (NASA), chương trình không gian Pioneer (người tiên phong) là chuỗi hoạt động phóng tàu vũ trụ sớm đến Mặt trăng và quỹ đạo các hành tinh từ năm 1958 - 1969. Đây là nỗ lực của Mỹ nhằm cạnh tranh vị thế dẫn đầu vào kỷ nguyên vũ trụ trong thời kỳ hai siêu cường Liên Xô - Mỹ đối đầu Chiến tranh lạnh.

Ban đầu, các vụ phóng tàu Pioneer tập trung nhiệm vụ khám phá Mặt trăng, sau đó các vụ phóng tiếp theo nhằm nghiên cứu liên hành tinh. Một số nỗ lực đầu tiên bị thất bại nhưng đóng góp nền tảng kỹ thuật cho các vụ phóng thành công sau đó cùng các thông tin mới mẻ về bức xạ vũ trụ, gió mặt trời và khả năng sinh tồn của phi hành gia trên không gian.

Cùng tên gọi Pioneer được đánh số thứ tự từ 1 - 13, nhưng chương trình này của NASA được thiết lập bốn nhóm tàu vũ trụ riêng biệt dành cho các chuyến bay lên Mặt trăng và liên hành tinh. Vụ phóng đầu tiên của Mỹ với mục đích tiếp cận Mặt Trăng thực hiện ngày 17-8-1958.

Phi thuyền được thiết lập bay theo quỹ đạo quanh Mặt trăng và mang theo máy quay phim, máy dò vi thiên thạch, máy đo từ trường. Tổng thống Dwight D. Eisenhower và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Neil H. McElroy rất ủng hộ các dự án phóng sớm này. Nếu hoàn thành, chương trình vũ trụ Mỹ sẽ "vượt mặt" Liên Xô.

Tuy nhiên, khoa học vũ trụ Mỹ đã kém may mắn với vụ phóng này. Tên lửa bất ngờ phát nổ chỉ 74 giây sau khi rời mặt đất, và sứ mệnh thất bại được đặt tên Pioneer 0 (lẽ ra Pioneer 1). Sử dụng lực đẩy của tên lửa đạn đạo tầm trung Thor có thể mang đầu đạt hạt nhân, phi thuyền được phóng lúc 12:18:00 GMT ngày 17-8-1958.

Chương trình bay thiết lập tàu đến quỹ đạo Mặt trăng ở cao độ 29.000km và sẽ bay trên đây khoảng hai tuần để thực hiện các nhiệm vụ khoa học, trong đó chụp ảnh phần tối Mặt trăng.

Sau khi cất cánh đến độ cao 15,2km, tên lửa đẩy Thor bất ngờ phát nổ tầng tầng thứ ba ở giây thứ 73,6. Trước ồn ào của dư luận và báo giới, một số quan chức Mỹ nói đây là vụ phóng thử nghiệm nên "không ngạc nhiên trước thất bại này".

Đến 11-10-1958, Mỹ lại phóng Pioneer 1. Phi thuyền không người lái đạt độ cao 115.000km thì bị sự cố trong quá trình tách tầng thứ ba của tên lửa. Nó không đủ vận tốc đến quỹ đạo Mặt trăng và bị rơi. Tuy nhiên, đến thời điểm đó, con tàu vũ trụ này của người Mỹ đã bay xa Trái đất hơn bất kỳ vật thể nhân tạo nào trước đó...

Chấp nhận xem thất bại là thử nghiệm, Mỹ lại phóng Pioneer 2 (ngày 8-11-1958) và Pioneer 3 (ngày 6-12-1958). Tuy nhiên, hai phi thuyền này cũng chỉ bay được đến cao độ 1.550km và 107.500km, vì tầng thứ ba của tên lửa không hoạt động với Pioneer 2 và ngừng hoạt động sớm với Pioneer 3. Điều đặc biệt là gần một tháng sau, Liên Xô phóng tàu thăm dò Luna 1 thành công vào ngày 2-1-1959 sau khi cũng trải qua một số thất bại không được công bố. Như vậy, Liên Xô lại một lần nữa dẫn trước Mỹ trong chương trình khám phá Mặt trăng.

Tiếp tục cuộc đua, ngày 3-3-1959, Mỹ phóng thành công Pioneer 4. Tàu bay cách Mặt trăng 59.000km và được theo dõi đến không gian sâu 650.000km cách Trái đất. Tuy nhiên sang ngày 2-9 cùng năm, tàu Luna 2 của Liên Xô đã trở thành vật thể đầu tiên của nhân loại chạm được vào Mặt trăng. Mỹ coi như chậm chân sau Liên Xô trong cuộc đua chạm vào dung nhan "chị Hằng", ít nhất là ở giai đoạn đầu này. Sau đó, Mỹ vẫn tiếp tục chương trình Pioneer nhưng chuyển hướng bay xa hơn để nghiên cứu các quỹ đạo Mặt trời, sao Hỏa, sao Kim.

Tàu Pioneer 5 phóng ngày 11-3-1960 và được theo dõi thành công đến khoảng cách 44 triệu km trong không gian sâu. Chưa có vật thể nào của loài người bay được xa như vậy vào thời điểm đó.

Ngày 27-1-1967, phi hành gia Gus Grissom, Ed White và Roger Chaffee (từ trái sang phải) chuẩn bị cho chuyến bay Apollo có người lái đầu tiên - Ảnh: NASA

Apollo và nỗ lực của Mỹ lên Mặt trăng

Ngoài chương trình vũ trụ Pioneer, thập niên 60 của thế kỷ trước NASA được sự hỗ trợ nguồn lực từ chính phủ và quốc hội Mỹ còn đầu tư phát triển chương Apollo khám phá Mặt trăng. Cũng gặp những thất bại, đặc biệt là mất mát phi hành gia nhưng cuối cùng NASA đã thành công rực rỡ.

Và cho đến nay, Mỹ vẫn tự hào là siêu cường duy nhất đưa được 12 người lên Mặt trăng, dù cuộc đua khám phá vũ trụ này còn sự tham gia của châu Âu, Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc trong vài thập niên gần đây.

Phi hành gia Neil Armstrong, một trong hai người Mỹ đầu tiên in dấu chân mình và cắm cờ Mỹ trên "chị Hằng" vào năm 1969, đã nói câu đi vào lịch sử: "Đó là bước chân nhỏ của một người, nhưng là bước tiến khổng lồ của toàn nhân loại".

Thật ra, ngay từ đầu chương trình phóng Apollo có người lái, Mỹ đã chịu một thảm kịch bi thương như chính báo chí Mỹ viết sự thất bại này làm cho người dân họ phải đổ lệ.

Tài liệu lịch sử NASA ghi lại nỗi đau của ngành khoa học vũ trụ Mỹ ngày 27-1-1967: "Khi phi hành đoàn Apollo đầu tiên là Gus Grissom, Ed White và Roger Chaffee đang tiến hành mô phỏng trên bệ phóng ở Florida thì đám cháy bất ngờ bùng phát trong khoang tàu. Trong môi trường 100% oxy mà NASA đang sử dụng lúc bấy giờ, ngọn lửa lan nhanh và giết chết cả ba người. Thảm họa này đã khiến NASA phải xem xét lại tất cả khía cạnh của chương trình và sửa đổi nhiều hệ thống của tàu vũ trụ".

Trang National air and space museum viết lại tỉ mỉ: "Quy trình thoát hiểm khẩn cấp yêu cầu tối thiểu 90 giây. Nhưng trên thực tế, phi hành đoàn chưa bao giờ hoàn thành các thao tác trong thời gian tối thiểu đó. Grissom phải hạ tựa đầu của White xuống để White có thể với tay lên trên và ra phía sau vai trái để kích hoạt một thiết bị kiểu bánh răng cóc, thiết bị này sẽ mở chốt đầu tiên trong một loạt các chốt. Theo một nguồn tin, White thực sự đã xoay được một phần của cần gạt trước khi bị khói làm ngạt thở.

Các kỹ thuật viên tàu vũ trụ chạy về phía khoang Apollo đang được niêm phong, nhưng trước khi họ kịp đến nơi, khoang điều khiển đã bị vỡ. Ngọn lửa và những đám khói đen dày đặc bốc lên, bao trùm căn phòng. Giờ đây, một mối nguy hiểm mới xuất hiện. Nhiều người lo sợ rằng ngọn lửa có thể kích hoạt hệ thống thoát hiểm khi phóng trên đỉnh Apollo.

Điều này, đến lượt nó, có thể gây cháy toàn bộ cấu trúc dịch vụ. Bản năng mách bảo mọi người phải thoát ra ngoài càng sớm càng tốt. Nhiều người đã làm vậy, nhưng những người khác cố gắng cứu các phi hành gia. Sức nóng dữ dội và khói dày đặc đã đẩy từng người một lùi lại, nhưng cuối cùng họ đã thành công. Thật không may, đã quá muộn".

Trước đó vào tháng 3-1965, phi hành gia Gus Grissom như đã tiên tri ngày định mệnh: "Nếu chúng tôi chết, chúng tôi muốn mọi người chấp nhận điều đó. Chúng tôi đang tham gia vào một công việc đầy rủi ro và chúng tôi hy vọng rằng nếu có bất cứ điều gì xảy ra với chúng tôi, nó sẽ không làm chậm trễ chương trình. Chinh phục không gian đáng để đánh đổi cả tính mạng".

Cả ba phi hành gia thiệt mạng trong nhiệm vụ Apollo 1 đều là phi công xuất sắc. Đặc biệt, Gus Grissom và Ed White đã có kinh nghiệm bay vũ trụ. Grissom là người Mỹ thứ hai bay vào vũ trụ năm 1961 sau Alan Shepard. Còn White đã đi bộ ngoài không gian trong 20 phút ngày 3-6-1965 bên ngoài tàu Gemini IV.

>> Kỳ tới: Sự thật cờ Mỹ được cắm trên Mặt trăng thế nào?

Thùy Chi / Theo: tuoitre

SƠN ĐÔNG - VẺ ĐẸP CHỐN THẦN TIÊN TRUNG QUỐC

Sơn Đông là tỉnh có lịch sử lâu dài và văn hóa phong phú. Các nhà sáng lập tư tưởng Nho giáo như Khổng Tử và Mạnh Tử, nhà sáng lập tư tưởng Mặc gia là Mặc Tử, các nhà quân sự nổi tiếng như Tôn Tử, Tôn Tẫn, Ngô Khởi đều được sinh ra ở Sơn Đông. Vậy chúng ta hãy cùng tìm hiểu Sơn Đông có gì đặc biệt cùng QTEDU nhé!


Vị trí địa lý tỉnh Sơn Đông

Ở một nửa phía Tây, Sơn Đông giáp với các tỉnh khác tại Trung Quốc, từ bắc xuống nam lần lượt là: Hà Bắc; Hà Nam; An Huy và Giang Tô. Ở trung bộ, địa hình Sơn Đông cao đột ngột với đỉnh Thái Sơn là điểm cao nhất trên địa bàn.

Bán đảo Sơn Đông giáp với Hoàng Hải. Cách bán đảo Liêu Đông qua eo biển Bột Hải, bảo vệ Bắc Kinh-Thiên Tân và Bột Hải, đối diện với bán đảo Triều Tiên qua Hoàng Hải, đông nam bán đảo là vùng biển Hoàng Hải rộng lớn.

Bản đồ tỉnh Sơn Đông

Khoảng cách trên bộ giữa Sơn Đông và Thượng Hải là 1346 km. Trong khi đường chim bay là 1346 km. Bạn có thể mất khoảng 2 và 24 giờ để đi lại giữa Sơn Đông và Thượng Hải tùy thuộc vào phương tiện vận tải bạn chọn.

Khí hậu tỉnh Sơn Đông

Sơn Đông có khí hậu ôn hòa. Sơn Đông nằm ở vùng chuyển giao giữa khí hậu cận nhiệt đới ẩm và khí hậu lục địa ẩm với bốn mùa phân biệt.

Mùa hè nóng và mưa nhiều (ngoại trừ một vài khu vực ven biển):

Mùa xuân tại Sơn Đông

Trong khi mùa đông lạnh và khô. Nhiệt độ trung bình của Sơn Đông là −5 đến 1 °C (23 đến 34 °F) vào tháng 1 và 24 đến 28 °C (75 đến 82 °F) vào tháng 7. Lượng mưa bình quân là 550 đến 950 milimét (22 đến 37 in), phần lớn là vào những tháng mùa hè, do ảnh hưởng của gió mùa.

Mùa hè tại Sơn Đông

Các đại điểm du lịch nổi tiếng

Bến cảng Zhanqiao

Thanh Đảo vốn là một thành phố cảng sầm uất, nhộn nhịp. Chính vì vậy khi đến với thành phố Thanh Đảo bạn không nên bỏ qua cơ hội được khám phá bến cảng Zhanqiao. Bến cảng Zhangqiao được xây dựng từ năm 1893.


Trước đây bến cảng này từng là một trong những cảng biến sầm uất nhất của Trung Quốc. Và ngày nay, bến cảng Zhanqiao vẫn luôn là một địa điểm du lịch nổi tiếng tại Trung Quốc, thu hút rất đông du khách mỗi ngày.


Công viên Tiểu Ngư Sơn

Tại Công viên Tiểu Ngư Sơn, du khách có thể tìm được những địa điểm ngắm cảnh tuyệt vời nhất với tầm nhìn toàn cảnh khu vịnh và những danh thắng nổi tiếng của thành phố.


Công viên nằm cách mực nước biển khoảng 60 mét và chỉ cách Bãi tắm Đệ Nhất chỉ một đoạn ngắn đi bộ.

Công viên Tiểu Ngư Sơn


Quảng trường ngày 4 tháng 5

Quảng trường này được xây dựng vào năm 1997 nhằm kỷ niệm tầm quan trọng của thành phố trong “Phong trào thứ tư” – một phong trào yêu nước chống đế quốc phong kiến được sinh viên khởi xướng vào năm 1919.

Quảng trường ngày 4 tháng 5

Được bao phủ bởi khu vực rộng lớn lên đến 10ha. Quảng trường ngày 4 tháng 5 nằm đối mặt với tòa nhà văn phòng của chính quyền thành phố này. Công trình này ra đời với mục đích khuyến khích lòng yêu nước của người dân nơi đây và chính là một trong những điểm đến du khách không nên bỏ lỡ khi đặt chân đến Thanh Đảo.


Thái Sơn

Nằm ở phía Bắc thành phố Thái An thuộc tỉnh Sơn Đông. Núi Thái Sơn là một ngọn núi mang ý nghĩa văn hoá và lịch sử lâu đời.


Theo như sử sách ghi chép thì các Hoàng đế đều thường xuyên lên núi để tế lễ và thiền tịnh từ hơn 1000 năm trước công nguyên. Và do có vị trí đối mặt về phía Đông nên núi Thái Sơn được nhiều du khách chọn làm nơi ngắm mặt trời mọc khi đi du lịch Trung Quốc.


Nhà thờ tin lành Thanh Đảo


Một trong những điểm đến mà bất cứ ai khi đến du lịch Thanh Đảo cũng không thể nào bỏ qua được đó chính là nhà thờ Tin Lành Thanh Đảo.

Đây là một công trình kiến trúc cổ kính và lâu đời đã được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 20 bởi người Đức. Nhà thờ Tin Lành Thanh Đảo được xây dựng theo phong cách kiến trúc đặc trưng của Châu Âu, với những chi tiết chạm khắc, trang trí vô cùng tinh xảo.


HỒ THIÊN NGA LÀNG YANDUJIAO

Từ đầu mùa xuân đến đầu mùa hè hàng năm, hàng nghìn cánh chim thiên nga di cư từ Mông Cổ và cao nguyên Siberia lại bay về làng Yandujiao, tỉnh Sơn Đông để tránh rét.


Thiên nga là loài chim nước lớn nhất và đẹp nhất. Cảnh tượng hàng nghìn con thiên nga trắng thảnh thơi bơi lội trên mặt hồ xanh biếc là một cảnh tượng không thể quên được nếu ai đó đã từng một lần được mục sở thị. Tuyệt đẹp, duyên dáng (dù khá lớn) và trắng muốt, loài chim này thu hút sự ngưỡng mộ của mọi người từ khắp nơi đổ về Sơn Đông. Đặc biệt, thiên nga ở đây rất dễ gần, một số con còn để người dân địa phương lại gần và chơi đùa cùng chúng.


Trang viên Mou

Trang viên Mou là một khu nhà quý tộc thời xưa ở thành phố Qixia, tỉnh Sơn Đông. Công trình này được xây dưới thời vua Ung Chính. Trang viên có diện tích lớn nhất so với các trang viên còn lại trong khu vực.


Đặc biệt, khi ghé thăm trang viên Mou thì bạn sẽ thấy được sự kết hợp hoàn hảo giữa văn hoá kiến trúc với văn hoá dân gian. Nhiều nhà khoa học Trung Quốc cũng đã mô tả nơi đây như là một hoá thạch sống về cấu trúc trang viên cổ xưa của đất nước.


Hồ Đại Minh

Nằm ngay trung tâm thành phố Tế Nam, hồ Đại Minh là một điểm tham quan nổi tiếng ở Sơn Đông mà bạn nên ghé xem. Hồ được cung cấp nước bởi nhiều dòng suối tự chảy trên vách núi đá vôi nên luôn giữ được mực nước ổn định trong suốt cả năm. Vào mùa hè, những bông hoa Sen nở đầy khắp mặt hồ Đại Minh tạo nên bức tranh thiên nhiên rực rỡ.


Món ăn nổi tiếng tại tỉnh Sơn Đông

Đậu phụ Nhất Phẩm


Trong ẩm thực Sơn Đông, món đậu phụ Nhất Phẩm là món đậu phụ thượng hạng, cao cấp nhất. Người đầu bếp phải chọn ra loại đậu phụ có cốt vừa ăn, thơm và phải dày. Kế đó, các loại nguyên liệu như sò điệp, hải sâm, măng, thịt lợn, rau củ,… được om chín tới, dậy mùi. Chúng được nhồi vào giữa miếng đậu phụ rồi thả vào hầm trong nước gà.


Ốc kho – món quà đến từ lưu vực sông Hoàng Hà

Có thể nói ẩm thực Sơn Đông được thừa hưởng nhiều sản vật đến từ sông Hoàng Hà – cái nôi của nền văn minh Trung Hoa. Từ hàng nghìn năm trước người dân địa phương đã đánh bắt thủy sản trên sông để cải thiện bữa ăn. Những món ăn này được tiếp nối qua nhiều thế hệ và dần đạt đến độ hoàn hảo. Một trong số đó chính là món ốc kho dân dã.


Theo chia sẻ của người dân bản địa, ốc sống tại khu vực sông Hoàng Hà to và ngọt thịt hơn hẳn ốc sống cả các vùng nước khác. Ốc này sau khi đánh bắt được nên chế biến ngay thành món ăn thì mới tươi, ăn vào mới ngon miệng. Các đầu bếp vùng Sơn Đông không tách thịt ốc ra mà kho nguyên con. Khi ăn thực khách tự lọc lấy thịt ốc ăn cùng ớt tươi và nước sốt sánh mịn.


Cá chép chua ngọt – từng là thương hiệu của ẩm thực Sơn Đông

Cá chép cũng là một trong những sản vật nổi tiếng của vùng Sơn Đông. Những con cá chép này thường khá to, có lượng mỡ vừa phải. Người dân Sơn Đông xưa thường đem cá chép chế biến trong nước sốt chua ngọt để ăn chung với cơm trắng. Điểm đặc biệt của món ăn này chính là cá chép phải để nguyên con. Thông thường cá sẽ được chiên vàng trước khi đun cùng nước sốt pha theo tỷ lệ bí mật.


Gà hầm Đức Châu

Món gà hầm này được làm khá công phu và vẫn được thực hiện khá giống với đại đa số món ăn trong ẩm thực Sơn Đông là làm chín nguyên con. Thịt gà sẽ được hầm chung với mật ong, một chút đường và rau thì là trong nhiều giờ đồng hồ. Thịt gà sau khi hầm sẽ chín mềm, thịt mà tự tách được xương ra lại càng ngon.


Soup sữa ức gà – Sự kết hợp độc đáo, đầy bất ngờ

Có thể nói món soup sữa là một trong những nét riêng của ẩm thực Sơn Đông mà không vùng nào khác có được. Để làm món ăn này, người đầu bếp phải khéo léo chọn ra ức gà dày thịt cùng mã thầy ngon thì nấu ra mới đúng vị. Hai nguyên liệu trên sẽ được tẩm ướp hỗn hợp gia vị địa phương rồi nấu chín đến khi hơi sền sệt thì đổ nước và sữa hầm liên tục trong nhiều giờ.


Khi món ăn đã hoàn thành, chúng ta sẽ có những bát soup nóng hổi với mùi thơm khó cưỡng. Món ăn này là sự kết hợp nhuẫn nhuyễn giữa vị ngọt béo của sữa, cái thanh mát đặc trưng của mã thầy cùng thịt gà chín mềm vừa ăn. Nếu sử dụng món soup này đều đặn thì sức khỏe sẽ được cải thiện và nâng cao.


Thành Phố Tế Nam- Thủ phủ của tỉnh Sơn Đông

Tế Nam là một thành phố nằm ở khu vực phía Tây Bắc của tỉnh Sơn Đông và cũng được xem như là thủ phủ của tỉnh này. Thành phố Tế Nam nằm cách trung tâm thủ đô Bắc Kinh khoảng 400 km về phía Nam. Diện tích của Tế Nam là 8177 km2 với dân số khoảng hơn 7 triệu người. Nơi đây không chỉ nổi tiếng bởi nó là quê hương của Khổng Tử mà còn hấp dẫn bởi cảnh quan thiên nhiên hùng vỹ, tươi đẹp. Phía Nam của thành phố là dãy núi Taisan – một trong 5 ngọn núi linh thiêng nhất của Đạo giáo Trung Quốc. Phía Bắc là dòng sông Hoàng Hà huyền thoại.


Khu vực Tế Nam nổi tiếng là vùng đất của sông suối, chùa chiền.

Núi Thiên Phật

Núi Thiên Phật cách Nam Giao khoảng 500 m về hướng Tây. Vòng qua vách núi sau chùa, du khách sẽ được chiêm ngưỡng trên 60 tượng Phật từ đời Tuỳ. Đó là những tác phẩm điêu khắc đặc sắc, tinh tế và sống động như thật. Phía dưới sườn núi là các động Cực Lạc, Long Tuyền, Kiềm Lâu. Cách núi Thiên Phật khoảng 3 km về hướng Bắc, du khách sẽ đến công viên Báo Đột Tuyền. Một bên là nguồn suối trong lành, một bên là lầu vàng gác tía, cảnh vật đẹp tựa tranh vẽ.


Báo Đột Tuyền

Được phong là “thiên hạ đệ nhất tuyền”, Tế Nam nổi tiếng về suối. Báo Đột Tuyền xưa có tên là Hạm Tuyền, đã trên 2.600 năm lịch sử.


Suốt bốn màu trong năm, nước suối ổn định ở nhiệt độ trên, dưới 18 độ C, cho nước uống trực tiếp, không cần xử lý. Ở phía Tây của suối là Quan Lan Đình . Suối được xây dựng từ năm Thiên Thuận thứ 5 (đời Minh). Ở phía Đông là Bồng Lai Xã, hay còn gọi là Vọng Hạc Đình Trà Xã, được xây sát bờ suối. Hai vị hoàng đế Khang Hy và Càn Long từng đến đây tĩnh toạ và thưởng thức nguồn suối mát lành. Tương truyền, sau khi uống nước lấy từ Báo Đột Tuyền, hoàng đế liền cho thay toàn bộ nước suối Ngọc Tuyền ở Bắc Kinh mang theo trong chuyến Nam tuần. Vì thế mới có câu: “Chưa uống nước Báo Đột xem như bạn chưa du lịch Tế Nam”.


Các trường đại học nổi tiếng tại Sơn Đông

Đại học Thanh Đảo


Xếp hạng 401-500 trên thế giới trong Bảng xếp hạng học thuật các trường đại học toàn cầu năm 2019 và 2020 vào năm 2019 và 2020. Đồng thời được xếp hạng trong số 100 trường đại học hàng đầu của Trung Quốc vào năm 2021.


Đại học Đặc biệt Thanh Đảo được thành lập vào năm 1909. Trong hơn 100 năm, ngôi trường đã truyền dạy kiến ​​thức uyên thâm, ươm mầm tài năng bằng những bậc thầy, đáp ứng nhu cầu của đất nước.

Đại học Sư phạm Sơn Đông

Đại học Sư phạm Sơn Đông tọa lạc tại thành phố Tế Nam, Sơn Đông. Là trường đại học được Bộ giáo dục và Chính quyền Nhân dân tỉnh Sơn Đông đồng sáng lập. Trường là một trong những trường đại học đầu tiên được Bộ giáo dục phê duyệt tuyển sinh quốc tế. Từ năm 1983, trường đã chào đón, giáo dục hơn 7000 sinh viên quốc tế dài hạn và ngắn hạn từ hơn 60 quốc gia trên toàn thế giới. Năm 2018, trường đã giành được 71 dự án do Quỹ khoa học tự nhiên quốc gia tài trợ.


Đại học Sơn Đông

Đại học Sơn Đông là một trong những trường đại học ở Tế Nam có uy tín hàng đầu tại Trung Quốc. Được thành lập vào năm 1901. Đây là trường đại học quốc gia thứ hai của Trung Quốc được thành lập trong nước, sau Đại học Metropolitan. Đại học Sơn Đông vinh sự được Bộ Giáo Dục phê duyệt như một “trường đại học tổng trọng điểm quốc gia.”


Đại học Sơn Đông có diện tích 3,849 km vuông, trực thuộc Tế Nam, Sơn Đông, bao gồm 31 trường cao đẳng và một trường đại học. Trường có tổng cộng 104 chương trình đại học văn bằng; 209 chương trình thạc sĩ; 127 chương trình cấp bằng tiến sĩ; 15 trạm di động nghiên cứu tiến sĩ. Ngoài ra, Đại học Sơn Đông có 7 chương trình thạc sĩ chuyên. Số sinh viên lên đến khoảng 95.000, trong đó hơn 40.978 sinh viên chính quy . Từ năm 1980, Đại học Sơn Đông đã nhận được hơn 10.000 sinh viên đến từ hơn 60 quốc gia.

Đại học Tế Nam


Đại học Tế Nam (Jinan University) là một trong top các trường thuộc dự án 211 của chính phủ Trung Quốc. Đại học Tế Nam cũng là một trong những trường đại học ở Tế Nam lâu đời nhất của quốc gia rộng lớn này.

Đại học Tế Nam được thành lập từ năm 1906. Đến nay cung cấp 89 chương trình hệ đại học; 38 chương trình hệ thạc sĩ; 15 chương trình hệ tiến sĩ; 24 chương trình đào tạo giáo sư bao gồm có có 28 trường cao đẳng trực thuộc 62 khoa.

Các trường trực thuộc gồm trường Quốc tế; Nghệ thuật tự do; Ngoại ngữ; Du lịch và truyền thông; Cao đẳng Nghệ thuật; Kinh tế; Quản lý; Luật, Cao đẳng khoa học và kỹ thuật; Trường Y; Cao đẳng khoa học và công nghệ thông tin; Cao đẳng khoa học và công nghệ đời sống; Cao đẳng dược; Cao đẳng ngôn ngữ và văn hóa ngôn ngữ; Trường nhân văn; Dịch thuật; Cao đẳng điện và thông tin.

Phương tiện di chuyển tại Sơn Đông

Máy bay

Sơn Đông có rất nhiều sân bay lớn: Sân bay quốc tế Diêu Tường Tế Nam ( cách trung tâm thành phố khoảng 24km), Sân bay quốc tế Lưu Đình Thanh Đảo ( cách trung tâm thành phố khoảng 22km). Đây là 2 sân bay có nhiều chuyến bay từ trong nước hạ cánh và giá vé tốt hơn nhiều so với các sân bay khác. Hơn nữa, 2 sân bay này cách trung tâm thành phố không xa (khoảng hơn 20 km) sẽ giúp bạn dễ dàng và tiện di chuyển hơn.


Xe bus

Xe bus là phương tiện di chuyển phổ biến, gần gũi nhất với người dân Trung Quốc. Bạn sẽ dễ dàng bắt gặp phương tiện di chuyển này trên khắp các con phố lớn nhỏ. Giá vé khá rẻ. Dao động 2 – 3 tệ/ lượt đi. Bạn có thể làm vé theo tháng để tiết kiệm chi phí hơn. Và điều đặc biệt là xe bus ở Trung Quốc không có người phụ bán vé xe như ta thường thấy ở xe bus Việt Nam. Mà chúng ta sẽ bỏ tiền vào một thùng tiền cạnh ghế lái xe hoặc có thể quét mã để thanh toán. Ở Trung Quốc thường dùng ví điện tử Alipay để thanh toán mọi thứ.


Xe taxi

Cũng giống như Việt Nam, ở Trung Quốc xe taxi là một trong những phương tiện di chuyển phổ biến. Việc gọi xe cũng rất đơn giản. Bạn hoàn toàn có thể gọi xe trực tiếp ngay trên đường hoặc thông qua app gọi xe phổ biến là DiDi (tượng tự Grap của Việt Nam). Giá xe taxi cũng khá hợp lý. Chỉ khoảng từ 10-12 tệ cho 3km đầu tiên. Những kilomet sau giá sẽ giảm dần xuống.


Xe đạp công cộng

Giá thành của mỗi lượt sử dụng xe đạp công cộng cũng vô cùng phải chăng. Chỉ 3 tệ (khoảng 10000 vnđ) cho một lượt dùng xe. Nếu bạn sử dụng nhiều, bạn hoàn toàn có thể mua vé tháng. Giá vé tháng chỉ từ 11-15 tệ (khoảng 35000 – 50000 vnđ) một tháng. Rất phù hợp với các bạn du học sinh.


Theo: Tiếng Trung QTEDU