Sunday, October 18, 2026

KHIÊM CUNG LÀ CỬA ĐẠO, NGẠO MẠN LÀ NGUỒN HỌA

Cổ nhân dạy “khiêm giả, đức chi cội”, khiêm nhường là gốc của muôn hạnh, cung kính là chìa khóa mở ra cánh cửa minh triết. Kẻ biết cúi mình trước bậc hiền, biết lắng nghe lời can gián, ắt đắc được đạo lý sâu xa; kẻ tự mãn bịt tai, dẫu minh y trước mặt cũng khó giữ được thân an.


Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc, có bậc danh y Biển Thước, họ Tần, tên Việt Nhân. Thuở thiếu niên, ông chỉ là kẻ coi quán trọ, nhưng tâm tính cung kính, kính người như kính bậc thánh. Gặp lão giả Trường Tang Quân phong thái siêu phàm, ông mười năm lễ đãi không mỏi, giữ trọn lòng thành.

Thấy được đức khiêm cung ấy, Trường Tang Quân mới truyền bí dược và phương pháp tu luyện, dạy ông dùng sương mai hòa thuốc. Đủ ba mươi ngày, thị lực sáng tỏ, nhìn thấu lục phủ ngũ tạng.

Từ đó, Biển Thước hành y khắp thiên hạ, cứu người vô số, sáng lập chẩn mạch vọng văn vấn thiết, được xưng “thần y” lưu danh muôn đời.

Cùng thời đó có vua Tề Hoàn Công từng là bá chủ chư hầu, thuở trước nhờ Quản Trọng làm tể tướng, lấy nhân đức mà trị nên thiên hạ kính phục.

Trước khi mất, Quản Trọng khuyên phải tránh xa bọn Dịch Nha, Thụ Điêu, Khai Phương. Nhưng Hoàn Công quên vì mê tửu sắc, ăn chơi mà quên lời dặn, lại tin dùng bọn gian thần ấy. Từ đó, bọn nịnh thần ngày càng lộng hành, khinh nhờn vị quân vương đã suy yếu.

Hình ảnh minh hoạ

Từ bấy giờ Biển Thước nổi tiếng có tài cải tử hoàn sinh. Biển Thước đi chơi khắp thiên hạ, cứu được nhiều người lắm.

Một hôm đi đến đất Lâm Tri, vào yết kiến Tề Hoàn công, nói với Hoàn công rằng:

– Chúa công có bệnh ở thớ thịt; nếu không chữa thì thành ra bệnh nặng.

Hoàn công nói:

-Tôi chẳng có bệnh gì cả!

Biển Thước lui ra. Sau năm ngày lại vào yết kiến, nói với Tề Hoàn công rằng:

– Bệnh chúa công đã ở mạch máu, làm thế nào cũng phải chữa.

Hoàn công không trả lời. Sau năm ngày nữa lại vào yết kiến, nói với Hoàn công rằng:

-Bệnh chúa công đã ở trong ruột và dạ dày rồi, phải chữa ngay đi.

Hoàn công lại không trả lời. Biển Thước lui ra. Hoàn công than rằng:

– Tệ quá! Thầy thuốc chỉ nghề hay vẽ trò! Người ta không có bệnh mà cứ bảo là có bệnh?

Qua năm ngày nữa, Biển Thước lại vào yết kiến Tề Hoàn công, vừa trông thấy nét mặt Hoàn công đã vội lui ra mà bỏ chạy. Hoàn công sai người hỏi.

Biển Thước nói:

-Bây giờ bệnh chúa công đã vào đến tủy rồi! Bệnh ở da thịt còn xoa thuốc được, bệnh ở mạch máu thì còn tiêm thuốc được, bệnh ở ruột và dạ dày còn uống thuốc được, nay bệnh đã vào đến tủy thì dẫu trời cũng không chữa được nữa, bởi vậy tôi không nói mà lui ra.

Lại qua năm ngày nữa, Tề Hoàn Công quả nhiên ốm nặng, sai triệu Biển Thước. Người nhà Biển Thước nói:

Thầy tôi bỏ đi đã năm hôm rồi, Tề Hoàn Công hối hận vô cùng, cuối cùng phát bệnh mà chết.

Số phận trớ trêu, vị bá chủ một thời, vốn biết “mỹ vị khả dĩ vong quốc”, lại buông mình cho mỹ thực, mỹ sắc, để kẻ a dua mê hoặc, khước từ lời Quản Trọng và ba lần cảnh báo của Biển Thước.

Cuối cùng, ông chết đói khát, cô độc trong cung điện, đúng như dự ngôn của chính mình. Phải chăng kiếp số đã định, dẫu Biển Thước có tài cải tử hoàn sinh cũng không thể nghịch mệnh? Sự sống chết của sinh mệnh, suy cho cùng, có lẽ đã an bài từ thiên thượng.


Câu chuyện xưa cho ta thấy từ cậu bé trông quán trọ với tấm lòng khiêm nhường mà đắc y thuật thần diệu, Biển Thước lấy đức làm gốc, lấy tài cứu người, tiếng thơm truyền muôn thuở. Trái lại, Tề Hoàn Công ngạo mạn, không nghe lời khuyên nhủ của người hiền lại phóng túng, tự phụ, cuối cùng thân bại danh liệt.

Bài học xưa ấy không chỉ dành cho bậc đế vương Tề Hoàn Công, mà cũng gửi đến chúng ta hôm nay, dù trong các mối quan hệ gia đình hay trong công việc cũng vậy, người ở vị trí càng cao, nắm quyền lực hay giữ vai trò lãnh đạo, nếu giữ được tấm lòng khoáng đạt, biết trân trọng góp ý của cộng sự và bậc hiền tài, tự khắc sẽ như viên nam châm thu hút nhân tâm, được người đời kính phục, sự nghiệp bền lâu.


Người ở bậc dưới cũng vậy chỉ khi biết cung kính, thành tâm khuyên nhủ bề trên bằng lời chân thật, mới giúp đạo nghĩa lưu thông, tình người thêm vững bền.

Khổng Tử dạy “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư.” ba người đi cùng, ắt có người là thầy ta. Đời người nếu biết lấy khiêm cung làm cửa đạo, lắng nghe lời can gián, thuận theo thiên lý, ắt phúc thọ như suối nguồn không cạn. Còn kẻ tự cao bịt tai, coi thường thiện ý, dẫu gặp thần y cũng chỉ chuốc họa vào thân. Đó chính là đạo lý nghìn xưa, cũng là lời cảnh tỉnh cho muôn đời sau.

Tiểu Hoa biên tập
Theo: vandieuhay

Saturday, October 17, 2026

GIẢI MÃ BÍ ẨN VỀ HẠC ĐỈNH HỒNG - BÁT CANH ĐỘC CÀN LONG DÙNG ĐỂ BAN CHẾT CHO LỆNH PHI VỆ YẾN UYỂN

Trong tập cuối của bộ phim "Hậu cung Như Ý truyện", thứ giết chết nhân vật phản diện Lệnh phi Vệ Yến Uyển chính là một bát canh độc, được Càn Long ban cho có cái tên cực kỳ gây tò mò: Hạc Đỉnh Hồng. Vậy thực chất Hạc Đỉnh Hồng là gì?


Trong tập cuối của bộ phim "Hậu cung Như Ý truyện" khiến MXH Việt dậy sóng suốt 2 tháng vừa qua, Lệnh phi Vệ Yến Uyển - nhân vật ác nhất, bị ghét nhất cuối cùng cũng đã phải trả giá bằng một cái chết cực kỳ đau đớn. Và thứ giết chết nhân vật phản diện này chính là một bát canh độc, được Càn Long ban cho có cái tên cực kỳ gây tò mò: Hạc Đỉnh Hồng. Vậy Hạc Đỉnh Hồng thực chất là gì?


Hạc Đỉnh Hồng - chất độc không liên quan gì tới loài chim hạc

"Hậu cung Như Ý truyện" không phải là bộ phim đầu tiên có sự xuất hiện của cái tên Hạc Đỉnh Hồng, mà từ lâu, trong nhiều tiểu thuyết kiếm hiệp và phim chuyển thể truyền hình, Hạc Đỉnh Hồng đã có tham gia. Tất nhiên, dù xuất hiện trong bất kỳ bộ phim hay truyện tiểu thuyết nào đi chăng nữa, Hạc Đỉnh Hồng chỉ đảm nhận một nhiệm vụ duy nhất là… giết người. Thứ chất độc có cái tên hoa mỹ này được mô tả là cực độc, lỡ uống vào thì "Hoa Đà tái thế" cũng không thể nào cứu được.


Ban đầu, vừa nghe qua, nhiều người lầm tưởng Hạc Đỉnh Hồng là một chất độc có "chiết xuất" từ bộ phận bí ẩn nào đó của loài chim hạc. Sự thật hoàn toàn không phải vậy, chim hạc vốn là loài chim lành tính. Dù cho cả thịt chim, xương chim đều có thể tẩm ướp với thuốc nhưng tuyệt đối không có độc, ngược lại, những bài thuốc ấy còn được cho là đại bổ, tăng cường thể lực cho con người. Nhiều huyền sử và các câu chuyện truyền miệng khác thậm chí còn cho rằng não của chim hạc còn có tác dụng tăng cường thị lực, giúp con người có thể nhìn rõ trong đêm tối.


"Thân thế" thật sự của Hạc Đỉnh Hồng kịch độc

Theo nhiều sử liệu từ thời nhà Tống, được biết Hạc Đỉnh Hồng thực chất chính là hồng tì thạch, một loại đá có chứa chất kịch độc. Về sau, do nguồn gốc của loại đá này hay được tìm thấy ở khu vực Tín Châu (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc) nên được sách "Khai Bảo bản thảo" gọi lại thành tín thạch (thạch tín). Vâng! Thạch tín, một cái tên không còn xa lạ gì khi thường xuyên xuất hiện trong các vụ án giết người gây chấn động, từ phim ảnh cho đến ngoài đời.


Ngày nay, có lẽ như nhiều người Việt đã bị nhầm lẫn khi cho rằng thạch tín là một tên gọi khác của asen (cũng là một cái tên giết người "huyền thoại"). Trong khi đó, dù có liên quan nhưng cả thạch tín và asen đều có hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Asen là một một á kim gây ngộ độc và có nhiều dạng thù hình, còn thạch tín là tên gọi chung của những loại đá có chứa khoáng vật asen, tiêu biểu được biết đến nhiều nhất là asen trioxit (As2O3). Hạc Đỉnh Hồng được cho là làm từ loại đá có chứa khoáng vật asen trioxit này.


Tuy nhiên, nếu muốn hạ độc thủ nhanh hơn nữa, trước đó, người ta có thể gia công cẩn thận thạch tín chứa asen trioxit để thu về asen trioxit tinh khiết. Lúc này đây, thứ hợp chất tinh khiết này sẽ được gọi là Tì Sương - lại là một cái tên kịch độc quen thuộc khác, hay xuất hiện trong nhiều tác phẩm phim, truyện kiếm hiệp, cung đấu Trung Hoa.

Quay lại câu chuyện về cái chết của Lệnh phi Vệ Yến Uyển trong "Hậu cung Như Ý truyện", quả thật dựa vào những thông tin bên trên, có thể thấy rằng Càn Long đúng là "thâm hậu" khi ban chết cho Lệnh phi bằng Hạc Đỉnh Hồng để cái chết đến từ từ và chậm rãi, từ đó gây đau đớn hơn bội phần. Chứ không "nhẹ tay" mà dùng Tì Sương để cái chết đến thật mau lẹ.


Độc tố đáng sợ của asen và thạch tín: giết người chỉ với liều lượng bằng nửa hạt ngô

Từ thời thượng cổ, người ta đã dùng asen như một thứ vũ khí gây độc lợi hại chỉ vì chúng dễ tan trong nước và rất khó phát hiện. Tần suất xuất hiện của chúng chiếm tỷ lệ rất cao trong các vụ đầu độc tội phạm từ phong kiến đến nay. Theo "Từ điển Bách khoa Dược học" xuất bản năm 1999, asen độc gấp 4 lần thủy ngân, chỉ cần một lượng nhỏ asen bằng nửa hạt ngô hòa vào trong nước là đã có thể khiến một người tử vong ngay tức khắc.


Độc tố từ asen hay các khoáng vật có chứa hợp chất oxit asen có thể xâm nhập vào cơ thể theo 3 đường: hô hấp, da và tiêu hóa. Thường thấy rõ nhất và nhanh nhất là tiêu hóa. Liều lượng gây ngộ độc là 0,06g, liều lượng gây tử vong là 0,15g. Khi bị trúng độc, hệ tuần hoàn, hệ thần kinh của nạn nhân sẽ bị tác động tùy thuộc vào mức độ nhiễm độc tố nhiều hay ít.

Thông thường, nếu nhiễm độc cấp tính, các triệu chứng như khô miệng, khó nuốt, đau bụng dữ dội, buồn nôn, tiêu chảy, chuột rút và co giật sẽ xuất hiện, sau đó là tử vong trong vòng 24 giờ. Còn nhiễm độc mãn tính do tiếp xúc hay vô tình sử dụng asen với nồng độ thấp liên tục trong nhiều ngày sẽ khiến cơ thể sinh ra nhiều bệnh nguy hiểm như ung thư, kèm các triệu chứng như rụng tóc, buồn nôn, sút cân, giảm trí nhớ,...

(Nguồn: Zhihu, Mineralogical Tables, The Oncologist, Từ điển Bách khoa Dược học)

Toufu / Theo: afamily.vn

LIÊN QUÂN 8 NƯỚC KHÔNG THỂ HOÀN TOÀN THUỘC ĐỊA HÓA TRUNG QUỐC THỜI NHÀ THANH, VÌ SAO?

Quyền lực thực tế của Trung Quốc vào cuối triều Thanh không còn nằm trong tay chính quyền trung ương Mãn Thanh, mà nằm trong tay các tập đoàn quân sự và quân phiệt trên khắp cả nước, đặc biệt là tập đoàn Tương quân của Tăng Quốc Phiên. Tính toán riêng của họ là lợi dụng người nước ngoài để lật đổ chính quyền Mãn Thanh.

Liên quân 8 nước dễ dàng đánh bại triều đình Mãn Thanh năm 1900.

Trong lịch sử cận đại, mỗi khi nhắc đến các cuộc Chiến tranh Nha phiến, cuộc chiến Anh – Pháp hay sự kiện Liên quân Tám nước tiến vào Bắc Kinh năm 1900, nhiều người thường đặt ra một câu hỏi: Nếu các cường quốc châu Âu thực sự muốn, liệu họ có thể biến toàn bộ Trung Quốc thành một thuộc địa giống như Ấn Độ hay không?

Nhìn từ những thắng lợi quân sự áp đảo của phương Tây, câu trả lời dường như là "có". Tuy nhiên, nếu phân tích sâu hơn về quy mô dân số, địa lý, cơ cấu quyền lực và đặc điểm xã hội Trung Quốc cuối thời nhà Thanh, đáp án lại hoàn toàn khác. Điều ngăn cản châu Âu không phải là khả năng đánh thắng quân đội nhà Thanh, mà là chi phí khổng lồ để duy trì sự thống trị lâu dài.

Đánh bại triều đình nhà Thanh không đồng nghĩa với chinh phục Trung Quốc

Đến nửa sau thế kỷ XIX, chính quyền trung ương nhà Thanh đã suy yếu nghiêm trọng sau nhiều cuộc nổi dậy lớn như Thái Bình Thiên Quốc, Niệm quân hay các phong trào địa phương khác.

Trong mắt nhiều nhà quan sát phương Tây, triều đình ở Bắc Kinh chỉ còn giữ vai trò biểu tượng. Bộ máy trung ương tồn tại, nhưng quyền lực thực tế đã bị phân tán vào tay các lực lượng quân sự địa phương.

Chính vì vậy, việc các đạo quân phương Tây dễ dàng đánh bại quân Thanh trong Chiến tranh Nha phiến hay tiến vào Bắc Kinh không đồng nghĩa với việc họ đủ sức kiểm soát toàn bộ Trung Quốc.

Thực tế, lực lượng mà quân Anh, Pháp hay Liên quân Tám nước đối đầu chủ yếu là quân Bát Kỳ – đội quân từng lừng danh nhưng đến cuối thế kỷ XIX đã xuống cấp nghiêm trọng. Sau nhiều thập kỷ sống trong cảnh hòa bình, quân Bát Kỳ lơ là huấn luyện, kỷ luật suy giảm và sức chiến đấu không còn như trước.

Nói cách khác, phương Tây đánh bại một lực lượng đã suy yếu, chứ chưa từng phải đối đầu với toàn bộ tiềm lực quân sự của Trung Quốc.

Quyền lực thực sự nằm trong tay các quân phiệt địa phương

Một trong những đặc điểm quan trọng của Trung Quốc cuối thời Thanh là quân đội mạnh nhất không thuộc triều đình.

Sau cuộc đàn áp Thái Bình Thiên Quốc, các đội quân địa phương như Tương quân của Tăng Quốc Phiên, Hoài quân của Lý Hồng Chương hay các lực lượng sau này của Trương Chi Động, Viên Thế Khải mới là những thế lực nắm thực quyền.

Điều đáng chú ý là trong thời điểm quân Anh – Pháp tiến đánh Bắc Kinh năm 1860, khoảng 120.000 quân Tương của Tăng Quốc Phiên vẫn đóng ở Nam Kinh và hoàn toàn không được điều động ra bảo vệ kinh thành.

Điều này cho thấy triều đình không còn đủ khả năng điều khiển các lực lượng quân sự lớn trên cả nước.

Nếu chính quyền Mãn Thanh bị lật đổ, rất có thể một nhân vật như Tăng Quốc Phiên sẽ nổi lên giành quyền lực và lập nên một triều đại mới.

Dù nhiều tài liệu cho rằng Tăng Quốc Phiên luôn trung thành với nhà Thanh, cũng có quan điểm cho rằng ông từng nuôi tham vọng chính trị nhưng không muốn mang tiếng "bất trung", nên vẫn chờ thời cơ thích hợp.

Trong mọi trường hợp, nếu phương Tây trực tiếp xóa bỏ nhà Thanh, họ sẽ không lập tức làm chủ Trung Quốc mà phải đối đầu với các thế lực quân sự địa phương có hàng trăm nghìn binh sĩ.

Muốn cai trị Trung Quốc cần lực lượng khổng lồ

Một cách hình tượng, có thể chia thành ba cấp độ.

Nếu mục tiêu chỉ là đánh bại triều đình trung ương Mãn Thanh, khoảng vài chục nghìn quân với ưu thế vũ khí hiện đại đã đủ để giành thắng lợi trên chiến trường.

Nếu muốn buộc các chính quyền địa phương phải khuất phục, phương Tây sẽ cần lực lượng lớn hơn rất nhiều, có thể lên tới hàng trăm nghìn hoặc cả triệu quân.

Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương, Trương Chi Động hay Viên Thế Khải là những thế lực quân sự mạnh cuối thời nhà Thanh.

Nhưng nếu muốn trực tiếp cai trị toàn bộ lãnh thổ Trung Quốc, con số cần thiết sẽ tăng lên mức gần như không tưởng.

Nhiều giả thuyết cho rằng phải cần tới khoảng 10 triệu binh sĩ mới đủ để kiểm soát một đất nước rộng lớn với hàng trăm triệu dân.

Con số này phản ánh một thực tế đơn giản: chiếm được một thành phố rất khác với việc duy trì an ninh ở hàng nghìn huyện, hàng trăm phủ và vô số vùng nông thôn trải dài từ Mãn Châu đến Vân Nam, từ Tân Cương đến Quảng Đông.

Dân số là bài toán không lời giải

Cuối thế kỷ XIX, dân số Trung Quốc vào khoảng 400 triệu người, trong khi toàn bộ châu Âu chỉ hơn 300 triệu người.

Ngay cả khi các cường quốc châu Âu hợp sức, việc huy động hàng triệu quân viễn chinh đã là điều vô cùng khó khăn.

Quan trọng hơn, số quân ấy phải được vận chuyển bằng đường biển qua nửa vòng trái đất, bảo đảm lương thực, vũ khí, quân nhu, bệnh viện và hệ thống tiếp tế trong nhiều năm.

Đây là gánh nặng kinh tế mà ngay cả Đế quốc Anh – cường quốc hùng mạnh nhất thế giới khi đó – cũng khó có thể chịu nổi.

Lịch sử cho thấy nước Anh có thể kiểm soát Ấn Độ với số lượng binh sĩ Anh tương đối ít vì họ dựa chủ yếu vào lực lượng bản địa.

Tuy nhiên, mô hình này khó áp dụng tại Trung Quốc, nơi các lực lượng quân sự địa phương đều có tham vọng và lợi ích riêng.

Các quân phiệt có thể hợp tác, nhưng không chịu làm tay sai

Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương, Trương Chi Động hay Viên Thế Khải đều từng hợp tác với các nước phương Tây trong những lĩnh vực như mua vũ khí, thuê cố vấn quân sự hoặc phát triển công nghiệp.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa họ sẵn sàng trở thành công cụ của châu Âu.

Họ trước hết vẫn là những chính khách và tướng lĩnh Trung Quốc.

Nếu phương Tây tìm cách biến Trung Quốc thành thuộc địa, chính những lực lượng này nhiều khả năng sẽ trở thành trung tâm của phong trào kháng chiến.

Việc buộc họ phục tùng sẽ tiêu tốn nguồn lực khổng lồ, trong khi khả năng thành công lại không cao.

Người Trung Quốc không phải lúc nào cũng thờ ơ

Trong thời kỳ đầu Chiến tranh Nha phiến, nhiều sĩ quan Anh từng nhận xét rằng đa số dân chúng Trung Quốc dường như không quá quan tâm đến số phận triều đình.

Phong trào Nghĩa Hoà Đoàn lan rộng ở Trung Quốc cuối thời nhà Thanh.

Miễn là người nước ngoài không cướp bóc, không giết hại dân thường và giao thương công bằng, nhiều người vẫn sẵn sàng buôn bán hoặc hợp tác.

Điều này khiến phương Tây cho rằng người dân không có ý thức quốc gia mạnh mẽ và nhà Thanh chỉ duy trì quyền lực bằng bộ máy cai trị.

Nhưng phong trào Nghĩa Hòa Đoàn cuối thế kỷ XIX đã làm thay đổi hoàn toàn nhận thức đó.

Hàng chục nghìn nông dân bình thường đã đứng lên chống lại người nước ngoài với tinh thần quyết liệt.

Điều này khiến các cường quốc nhận ra rằng nếu xuất hiện một lực lượng đủ sức tổ chức và lãnh đạo quần chúng, việc cai trị Trung Quốc sẽ trở thành cơn ác mộng.

Giới hạn cuối cùng là văn hóa và tín ngưỡng

Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự bùng nổ của phong trào Nghĩa Hòa Đoàn là xung đột văn hóa.

Trong nửa cuối thế kỷ XIX, các giáo sĩ phương Tây tiến sâu vào nội địa, xây dựng nhà thờ và truyền bá Kitô giáo tới tận các vùng nông thôn.

Đối với nhiều người dân, đây là những người phương Tây mà họ tiếp xúc nhiều nhất.

Tuy nhiên, sự khác biệt về tín ngưỡng, tập quán và lối sống đã dẫn đến hàng loạt mâu thuẫn.

Trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, việc thờ cúng tổ tiên là một giá trị cốt lõi. Bất kỳ hành động nào bị xem là phủ nhận tổ tiên hay làm mai một truyền thống đều bị coi là điều không thể chấp nhận.

Chính vì vậy, nhiều người có thể không quá quan tâm ai ngồi trên ngai vàng ở Bắc Kinh, nhưng lại phản ứng rất mạnh khi cảm thấy văn hóa và tín ngưỡng của mình bị xâm phạm.

Đó cũng là lý do phong trào Nghĩa Hòa Đoàn nhanh chóng lan rộng và trở thành thách thức lớn đối với các cường quốc phương Tây.

Kết luận

Xét về sức mạnh quân sự, các nước châu Âu cuối thế kỷ XIX hoàn toàn có khả năng đánh bại triều đình Mãn Thanh trong những trận đánh quyết định. Tuy nhiên, đánh thắng một chính quyền không đồng nghĩa với việc kiểm soát cả một nền văn minh có hàng trăm triệu dân.

Địa bàn quá rộng, dân số quá đông, quyền lực phân tán vào các quân phiệt địa phương, chi phí hậu cần khổng lồ cùng nguy cơ bùng phát các phong trào kháng chiến khiến việc biến Trung Quốc thành một thuộc địa trực tiếp gần như không khả thi.

Thực tế lịch sử cũng phản ánh điều đó. Thay vì chinh phục toàn bộ Trung Quốc, các cường quốc phương Tây lựa chọn con đường ít tốn kém hơn: dùng các hiệp ước bất bình đẳng, mở các tô giới, kiểm soát thương mại, áp đặt ảnh hưởng về kinh tế và ngoại giao. Mô hình này giúp họ thu được lợi ích lớn mà không phải gánh vác chi phí khổng lồ của một cuộc cai trị trực tiếp đối với một trong những quốc gia đông dân nhất thế giới.

Bảo Minh / Theo: Dân Việt

TRÊN CỔ CÓ MỘT "TỬ HUYỆT", ĐỤNG NHẦM CÓ THỂ GÂY CHẾT NGƯỜI

Mát-xa là một cách thức giúp chúng ta thư giãn rất tốt. Lúc mệt mỏi chỉ cần mát-xa một lát là cơ thể sẽ nhẹ nhõm hơn rất nhiều. Nhưng hãy nhớ, nhất định đừng chạm vào động mạch cổ.

Mat-xa giúp thư giãn rất tốt, nhưng nhất định không nên chạm vào động mạch cổ. (Ảnh: NTDTV)

Vị trí của động mạch cổ

Động mạch cổ nằm ở vị trí chỗ đầu ngón tay ở trên hình, hai bên mỗi bên một cái. Nó gồm kết cấu vô cùng đặc thù của mạch máu, có thể cảm giác được sự thay đổi của huyết áp máu, dựa vào huyết áp máu để điều tiết nhịp đập của tim, tần suất co rút của mạch máu.

Tại sao nó là tử huyệt?

Nghiên cứu lâm sàng cho thấy: Nhấn mạnh vào hõm động mạch cổ sẽ dễ dàng khiến tim đập chậm lại, làm huyết áp hạ thấp, thậm chí có thể dẫn tới hôn mê, tim đột ngột ngừng đập, cho nên huyệt vị này cũng được gọi là “Tử huyệt”, vì vậy nên hạn chế động chạm vào vị trí này đến mức tối đa có thể.

Trong cơ thể con người có đến 409 huyệt vị, trừ “Tử huyệt” này ra, có 8 huyệt được coi như huyệt hoàng kim, có tác dụng dưỡng sinh phòng bệnh, thậm chí là cấp cứu.

1. Huyệt Minh Nhãn
Ví trí: Nằm ở đốt giữa ngón tay cái như ở trên hình. (Ảnh qua Bệnh Học)

Đề cao thị lực: Chơi điện thoại nhiều rất dễ giảm thị lực. Thường xuyên nhấn huyệt minh nhãn có thể cải thiện chứng mỏi mắt, khôi phục và nâng cao thị lực. Nhấn huyệt vị này mỗi ngày trước khi đi ngủ 5 phút là tốt nhất.

Phòng các bệnh về mắt: Đối với người bị viêm kết mạc cấp tính, người già bị viễn thị, bệnh đục tinh thể, thường xuyên nhấn huyệt vị này cũng sẽ có tác dụng hỗ trợ phục hồi rất tốt.

2. Huyệt Bách Hội
Vị trí: Nằm ở giữa đường nối 2 tai như trên hình. (Ảnh qua phapbao.org)

Tăng cường trí nhớ: Áp lực trong thời đại hiện nay là rất lớn, khiến trí nhớ người tra ngày càng kém hơn, thông qua việc thường xuyên nhấn huyệt Bách Hội, sức sống của tế bào não sẽ dần dần được nâng cao, giúp tăng cường khả năng ghi nhớ của não.

3. Huyệt Ấn Đường
Vị trí: Ở giữa hai lông mày như ở trên hình. (Ảnh qua SKVTY.com)

Giảm choáng váng đầu, đau đầu: Người thường xuyên thức đêm, ngủ chưa đủ giấc, sẽ cảm thấy đầu óc choáng váng hoặc khả năng tập trung giảm, mỗi ngày nhấn huyệt ấn đường 5 phút không chỉ giúp giảm đau đầu mà còn có thể cải thiện trí nhớ.

Ngoài ra việc thường xuyên mát-xa huyệt ấn đường còn làm giảm nếp nhăn xuất hiện trên mặt.

4. Huyệt Túc Tam Lý
Vị trí: Nằm ở phía ngoài bắp chân, từ đầu gối xuống khoảng 10 cm như trên hình. (Ảnh qua vatlytrilieu.vn)

Giảm béo: Vào mỗi buổi sáng, từ khoảng 7-9h là thời điểm dạ dày thịnh nhất, nhấn huyệt Túc Tam Lý khoảng 5 phút có thể thúc đẩy dạ dày co bóp, giúp quá trinh tiêu hao mỡ được gia tăng, có tác dụng giảm cân rất tốt. Ngoài ra thường xuyên nhấn vị trí này cũng có thể trừ bệnh phù chân.

5. Huyệt Hợp Cốc
Vị trí: Hợp Cốc chính là huyệt Hổ Khẩu, là huyệt dễ tìm thấy nhất.

Giảm đau răng: Khi bị đau răng, nhấn huyệt Hợp Cốc sẽ giúp giảm đau rõ rệt, ngoài ra nhấn huyệt vị này cũng có tác dụng giảm nhẹ sưng lợi, sưng amidan.

6. Huyệt Huyết Hải
Vị trí: Nằm ở má trong của đùi tại vị trí gần đầu gối. (Ảnh qua Facebook)

Nhấn vào Huyệt Huyết Hải có thể làm giảm dị ứng da và ngứa da.

7. Huyệt Dũng Tuyền
Vị trí: Nằm ở lòng bàn chân như ở trên hình vẽ. (Ảnh qua Huong Sen Healthcare Center)

Tăng nhanh quá trình bài tiết độc tố: Tác dụng trực tiếp nhất của việc thường xuyên nhấn huyệt Dũng Tuyền là thúc đẩy sự tuần hoàn của huyết dịch, lưu thông khí huyết, bài tiết những độc tố và vật chất có hại ra bên ngoài, còn có thể giảm bớt mệt nhọc, giúp ngủ sâu giấc hơn.

8. Huyệt Phong Trì
Vị trí: Huyệt Phong Trì nằm ngay sau gáy, ở chỗ lõm của bờ trong cơ ức đòn chũm và bờ ngoài cơ thang bám vào đáy hộp sọ. Cách xác định: lần bên dưới đáy hộp sọ có 2 hõm, đó chính là huyệt Phong Trì. (Ảnh qua Facebook)

Loại bỏ khí lạnh: Tối đi ngủ chăn đắp không tới vai, sẽ rất dễ bị cảm lạnh dẫn đến bị cúm hoặc hai vai đau nhức. Mát-xa Huyệt Phong Trì khoảng 10 phút, sẽ rất nhanh loại trừ gió lạnh ra khởi cơ thể, giúp kinh mạch khai thông trở lại, bạn sẽ thấy thoải mái dễ chịu hơn rất nhiều.

Tiêu trừ viêm mũi: Mát-xa Huyệt Phong Trì không chỉ có thể tiêu từ khí lạnh, mà đối với viêm mũi cũng có tác dụng rất tốt, kết hợp với ngải cứu thì hiệu quả lại càng tốt hơn nữa. Ngoài ra còn có tác dụng làm giảm sổ mũi, nghẹt mũi.

Lê Hiếu (Theo NTDTV)

Friday, October 16, 2026

VÌ SAO TỐNG TRIỀU ĐƯỢC COI LÀ TRIỀU ĐẠI "GIÀU NHƯNG KHÔNG MẠNH", CÓ KẾT CỤC BI THẢM NHẤT TRONG LỊCH SỬ?

Lưỡng Tống (Bắc Tống và Nam Tống) là triều đại vô cùng giàu có, được xem là triệu đại “xưa nay hiếm” trong lịch sử Trung Quốc. Thời Bắc Tống, thu nhập tài chính trong một năm của quốc gia từng đạt tới 150 triệu quán. Tuy nhiên, hậu thế thường dùng mấy chữ “giàu mà không mạnh” để hình dung về triều đại này.

Tống triều được coi "Giàu nhưng không mạnh", có kết cục bi thảm nhất trong lịch sử

Chúng ta biết rằng vào thời nhà Thanh, trải qua 130 năm tích luỹ của thời ‘Khang Càn thịnh thế’ (thời kỳ thịnh thế của vua Khang Hy, Càn Long), thu nhập tài chính của quốc gia trong một năm không quá 40 triệu lượng bạc trắng.

Đương nhiên một quán tiền đồng chưa chắc đã tương đương với một lượng bạc trắng, đồng thời thu nhập tài chính của quốc gia cũng không tương đương với tổng giá trị mà tất cả quốc dân sản xuất, nhưng Lưỡng Tống xác thực là vô cùng giàu có, thậm chí có thể nói là thời đại giàu có nhất trong các vương triều của Trung Quốc.

Nói đến Lưỡng Tống, chúng ta thường nghĩ tới thể thơ Tống từ, hình thức văn học này của thời Tống vô cùng phát triển. ‘Đường Tống bát đại gia’, tức 8 nhà văn học lớn thời Đường – Tống gồm: Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Âu Dương Tu, Tô Tuân, Tô Thức, Tô Triệt, Tăng Củng, Vương An Thạch.

Ngoài Hàn Dũ và Liễu Tông Nguyên thuộc triều Đường, thì 6 người còn lại xuất hiện vào triều Tống.

Thêm vào đó, khoa học kỹ thuật vào thời Tống cũng rất phát triển. Trong ‘Tứ đại phát minh’ gồm: Giấy, kỹ thuật in, la bàn và thuốc súng. Ngoại trừ kỹ thuật in xuất hiện vào thời Minh, thì 3 phát minh còn lại xuất hiện vào thời Tống.

Hơn nữa, chính trị thời Tống vô cùng thanh minh (trong sạch). Chúng ta biết rằng lịch sử các triều đại Trung Quốc thường thấy vài loại tình huống, ví dụ như: hoạn quan can chính, ngoại thích chuyên quyền, hoặc tàn sát lẫn nhau trong nội bộ tông thất. Những sự việc trên có rất ít vào thời Tống, thậm chí có thể nói là hoàn toàn không có.

Tống Thái Tổ đã từng hạ lệnh không giết ‘ngôn quan’ tức người can gián, cho nên toàn bộ bầu không khí chính trị thời Tống vô cùng khoan dung, những án oan thời ấy ít hơn nhiều so với triều đại khác. Đây là một vài ưu điểm nổi trội của thời Tống.

Đương nhiên thuận theo sự phát triển văn hoá, thì quân sự triều Tống có sự suy yếu.

Vấn đề thứ nhất: Nạn “nhũng binh”.

Để duy trì thể chế chính trị của mình, khi đất nước gặp phải thiên tai, các Hoàng đế Tống triều thường chiêu mộ thêm một lượng lớn binh sĩ.

Dưới thời Tống Thái Tổ, quân đội toàn quốc có 37.8 vạn người. Con số này đã tăng gấp đôi, lên tới gần 66,6 vạn người vào thời Tống Thái Tông.

Triều Tống giàu nhưng không mạnh – Ảnh: Minh họa

Đến khi Chân Tông tại vị, lượng binh sĩ của triều đại này đã tăng lên 91,2 vạn và chính thức chạm mốc 125,9 vạn dưới thời Tống Nhân Tông. Từ đó về sau, số lượng binh sĩ của Tống triều thường duy trì ở mức 110 vạn quân.

Đội quân khổng lồ này trở thành gánh nặng lớn đối với tài chính quốc gia lúc bấy giờ. Một học sĩ thời đại này từng đánh giá: “Mười phần thì có tới chín phần cung ứng cho quân đội, vậy mà vẫn không đủ vì số lượng binh lính quá nhiều.”

Vấn đề thứ hai: Võ tướng địa vị thấp, quân đội thiếu khả năng chiến đấu

Tống triều có lệ trọng dụng quan văn, việc cầm quân đôi khi còn được giao cho hoạn quan.Cũng theo đó, địa vị của võ tướng trong triều tương đối thấp và chịu nhiều thua thiệt.

Ngay cả những vị tướng kiệt xuất như Địch Thanh cũng không tránh khỏi việc bị tập đoàn quan văn đua nhau chèn ép.

Chủ tướng vô năng khiến cho vạn quân mất đi nhuệ khí. Đây là câu trả lời cho việc vì sao Tống triều sở hữu hàng chục vạn quân nhưng sức chiến đấu lại vô cùng kém cỏi.

Do đó, khi đối mặt với các vấn đề ngoại giao hay những cuộc xâm chiến từ bên ngoài, đại quân này vẫn không thể cứu vương triều thoát khỏi cảnh tận diệt.

Năm vị Hoàng đế nhà Tống không có con nối dõi

Tống Nhân Tông là vị Hoàng đế thứ tư của nhà Bắc Tống, tại vị 42 năm, là vị Hoàng đế cai trị lâu nhất trong lịch sử nhà Tống. Thực tế, không phải Tống Nhân Tông không có con trai, mà ông có ba người con trai nhưng cả ba đều chết yểu.

Thời gian Tống Nhân Tông tại vị rất dài, cho nên hậu cung phi tần của ông cũng rất nhiều, ông có tổng cộng 12 công chúa, nhưng lại không có Hoàng tử nào.

Người thứ hai là Hoàng đế Tống Triết Tông Triệu Hú. Tống Triết Tông là con trai của Tống Thần Tông, lên ngôi năm 9 tuổi, tại vị 15 năm, bệnh nặng qua đời năm 24 tuổi. Tống Triết Tông vốn có một vị Hoàng tử, nhưng không may mất sớm.

Coi trọng đối nội hơn ngoại cũng là nguyên nhân dẫn đến triều Tống diệt vong

Bởi vì Tống Triết Tông không có con nối dõi, cho nên sau khi ông mất, ngôi vị Hoàng đế đã được truyền lại cho các em trai ông, sau cùng ngôi vị Hoàng đế của Tống Triết Tông được truyền lại cho người em thứ 11 của ông là Triệu Cát, tức Tống Huy Tông.

Trong thời gian Tống Huy Tông trị vì, Bắc Tống hoàn toàn suy bại, cuối cùng dẫn đến loạn Tĩnh Khang, chấm dứt vương triều Bắc Tống.

Người đầu tiên được mệnh danh là “Trung Hưng chi chủ” – Tống Cao Tông Triệu Cấu. Ông là con trai thứ 9 của Tống Huy Tông, lên ngôi sau trận loạn Tĩnh Khang. Tống Cao Tông là vị Hoàng đế sống rất thọ, ông tại vị 35 năm, sau đó làm Thái Thượng hoàng 25 năm, nhưng chỉ có thể nhận con nuôi để truyền lại ngôi vị.

Triệu Cấu vốn cũng có một vị Hoàng tử, nhưng bất cẩn bị cung nữ dọa chết. Về sau, khi Triệu Cấu chạy trốn khỏi sự truy kích của quân nước Kim, lo lắng nhiều thành tật, sau dẫn đến mắc chứng vô sinh.

Vì để tiếp nối vương triều Nam Tống, có được sự ủng hộ của nhân dân, Triệu Cấu đã thu dưỡng hậu duệ của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận làm con trai, nuôi dưỡng thành người sau đó đem ngôi vị truyền lại cho con trai nuôi, cũng chính là Tống Hiếu Tông sau này.

Nối ngôi Tống Hiếu Tông là Tống Quang Tông, sau khi Tống Quang Tông thoái vị, đem hoàng vị truyền lại cho con trai mình là Triệu Khoách, tức Tống Ninh Tông.

Tống Ninh Tông cũng có 9 vị Hoàng tử nhưng tất cả đều chết yểu, không còn cách nào khác, Tống Ninh Tông buộc phải nhận con cháu trong tông thất nhà Tống làm con nuôi.

Sau khi Tống Ninh Tông qua đời, Sử Di Viễn câu kết với Dương Hoàng hậu, giả truyền thánh chỉ, phế Thái tử Triệu Hồng làm Tế vương, lập Nghi vương Triệu Qúy Thành làm Hoàng đế, hiệu là Tống Lý Tông.

Tống Lý Tông là vị Hoàng đế thứ 5 của Nam Tống, là cháu đời thứ chín của Triệu Đức Chiêu – con trai của Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dật.

Nếu như Sử Di Viễn không phát động chính biến thì Triệu Quý Đức cũng không có cơ hội để thừa kế ngôi vị. Chính vì thế, trong thời gian Tống Lý Tông trị vì đã mở rộng việc tuyển phi, muốn sinh được con nối dõi để kéo dài hoàng vị của bản thân. Kết quả chuyện không được như ý, Tống Lý Tông trị vì 40 năm, chỉ sinh được một vị Hoàng tử nhưng lại chết yểu.

Tống Lý Tông vì ích kỷ, mang lòng riêng, không muốn chọn con cháu trong tông thất nhà Tống có phẩm chất tốt làm người thừa kế, mà lại chọn cháu của mình để kế vị, cũng tức là Tống Độ Tông.

Nhưng Tống Độ Tông vốn đã kém cỏi, bẩm sinh đã có khuyết tật, trong thời gian trị vì lại chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, không lo nghĩ gì, cuối cùng dẫn đến kết cục nhà Nam Tống bị diệt vong.

Nguyệt Hòa biên tập
Theo: DKN/GDTT

THU TUYỀN - TIẾT ĐÀO


Thu tuyền - Tiết Đào

Lãnh sắc sơ trừng nhất đới yên,
U thanh dao tả thập ty huyền.
Trường lai chẩm thượng khiên tình tứ,
Bất sử sầu nhân bán dạ miên.


秋泉 - 薛濤

冷色初澄一帶烟
幽聲遥瀉十絲弦
長來枕上牽情思
不使愁人半夜眠


Suối thu
(Dịch thơ: Trang Y Hạ)

Sương mờ suối lạnh vừa tan
Nước trong thanh vắng tiếng đàn mười dây
Gối đầu trằn trọc ai đây
Nửa đêm chưa ngủ buồn lây lất buồn.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tiết Đào 薛濤 (768-831) tự Hồng Độ 洪度, người Trường An, thân phụ làm quan tại đất Thục nên nàng lưu ngụ ở đó. Nàng biết làm thơ từ thuở lên tám. Phụ thân mất khi đến tuổi cập kê, nổi tiếng tài thơ, lại có nhan sắc, nàng thường giao du với nhiều danh sĩ đương thời. Vi Cao, trấn thủ đất Thục, mời nàng đến hầu rượu làm thơ, muốn tiến cử làm hiệu thư lang, nhưng không được. Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị, Ngưu Tăng Nhụ, Lệnh Hồ Sở, Bùi Độ, Nghiêm Phụ, Trương Tịch, Lưu Vũ Tích, Đỗ Mục đều có thơ xướng hoạ với nàng. Khi ở Hoãn Hoa khê, nàng chế tạo một thứ giấy hoa thông, và một thứ giấy màu đỏ thẫm có vẽ năm sắc rất đẹp, gọi là Tiết Đào tiên. Lúc vãn niên, ở phường Bích Kê, nàng dựng lầu Ngâm Thi. Khi mất, được Đoàn Văn Xương (tức là danh sĩ đã làm bài bia Bình Hoài Tây thứ hai, sau khi bài của Hàn Dũ bị mài bỏ) soạn mộ chí.

Nguồn: Thi Viện



12 LOẠI THỰC PHẨM THƯỜNG XUYÊN KHIẾN NGƯỜI KHÁC NHẦM LẪN

Có những loại thực phẩm dù sở hữu vẻ ngoài y hệt nhau nhưng thực chất lại khác xa "một trời một vực".


Trên đời, chuyện thứ này giống với thứ kia vốn dĩ chẳng còn xa lạ gì. Ở cách chúng ta tận nửa vòng Trái Đất, biết đâu có một người sở hữu dáng vẻ và khuôn mặt gần "y như đúc" với mình thì sao? Trong thế giới đồ ăn thức uống cũng vậy, có nhiều loại thực phẩm sở hữu vẻ ngoài giống y hệt nhau nhưng bản chất lại hoàn toàn khác biệt. Nếu không tin, mời bạn xem qua vài trường hợp dưới đây sẽ rõ.

1. Nấm cóc (toadstool) và nấm thường (mushroom)

Toadstool (nấm cóc) cũng là từ dùng để chỉ các loại nấm, tuy nhiên chúng lại có phần nắp tròn bên trên, thường có độc và không ăn được. Trong khi đó, cây nấm (mushroom) lại có phần nắp hình vòm hơi cong xuống dưới. Ngoài ra, các cây nấm cóc còn được nhận biết bởi màu sắc và hoa văn sặc sỡ của nó.


2. Chuối táo quạ (plantain) và chuối thường (banana)

Chuối táo quạ còn được gọi là chuối tá quạ, chuối mễ. Chúng thường có vỏ màu xanh, cứng và kích thước to hơn chuối bình thường rất nhiều. Đặc biệt khi ăn, người ta thường phải luộc lên. Trong khi đó, trái chuối mà chúng ta hay ăn có vị ngọt, mềm và nhỏ hơn.


3. Mì sợi (noodle) và mì Ý (pasta)

Mì sợi và mì Ý khác nhau chủ yếu do nguyên liệu và cách chế biến. Mì bình thường mà chúng ta hay ăn được làm bằng bột mì, có dạng sợi dài. Trong khi đó, pasta là từ dùng để chỉ chung một loại thực phẩm truyền thống của nước Ý với hơn 310 loại cùng 1.300 tên gọi khác nhau. Trong đó, điển hình nhất là pasta dạng sợi (mì spaghetti, mì Ý) và pasta dạng ống (như nui của Việt Nam).


4. Mứt (jam) và thạch (jelly)

Sự khác biệt lớn nhất giữa mứt và thạch là lượng trái cây được sử dụng ban đầu để làm ra chúng. Thạch được tạo thành bằng cách nghiền nát các loại quả, tuy nhiên lại loại bỏ đi hầu hết phần xác rắn của vỏ, thịt hay hạt quả. Trong khi đó, mứt cũng được tạo thành bởi quá trình tương tự nhưng tất cả mọi nguyên liệu đều được giữ lại, tạo thành độ sánh nhất định.


5. Đào (peach) và đào trơn (nectarines)

Cách để dễ nhận biết 2 loại này là dựa vào lớp vỏ bên ngoài của chúng. Trong khi vỏ quả đào có một lớp phủ mờ, khiến chúng không bao giờ được mịn màng thì đào trơn lại hoàn toàn trái ngược, đúng như cái tên của nó.


6. Tôm thường (shrimp) và tôm thương phẩm (prawns)

Mặc dù có hương vị giống hệt nhau, thế nhưng 2 loại tôm này có những điểm khác biệt nhất định. "Shrimp" thường được người dân Mỹ và nhiều nước khắp thế giới sử dụng phổ biến, là thuật ngữ để chỉ tất cả các loại tôm nói chung, bao gồm cả những loại không ăn được. Trong khi đó, "Prawns" là loại tôm có kích thước lớn hơn với giá trị thương mại cao, thường được sử dụng ở các quốc gia thuộc Vương quốc Anh.


7. Đậu gà (chickpeas) và đậu nành (soybean)

Cả 2 loại đậu đều sở hữu vẻ ngoài khá giống nhau, rất giàu vitamin và các khoáng chất tốt cho cơ thể. Tuy nhiên, đậu nành thường không thể ăn sống, được người ta sử dụng làm ra món sữa. Còn đối với đậu gà, bạn có thể thưởng thức chúng theo nhiều cách khác nhau kể cả ăn sống.


8. Rau mùi (cilantro, coriander) và ngò Tây (parsley)

Với vẻ ngoài khá giống nhau, 2 loại rau này luôn bị nhiều người dân khắp thế giới nhầm lẫn. Rau mùi (ngò ta) đã quá quen thuộc trong ẩm thực Việt, chúng có phần lá khá cong và mùi hăng hơn, thường được sử dụng cả cây. Ngược lại, ngò Tây chỉ có thể ăn phần lá nhọn với mùi bớt nồng hơn loại kia.


9. Kem Ý (Gelato) và kem thường (ice cream)

Đều là kem, tuy nhiên Gelato là món tráng miệng có nguồn gốc từ nước Ý, thường ít béo hơn loại kem bình thường. Để làm Gelato, người ta thường sử dụng ít kem, nhiều sữa, đặc biệt không cần lòng đỏ trứng gà như "ice cream". Ngoài ra, kem Gelato khi ăn sẽ thấy lạnh hơn kem thường rất nhiều.


10. Khoai mỡ (yam) và khoai lang (sweet potatoes)

Trên thực tế, rất nhiều người dân trên thế giới không thể phân biệt nổi 2 loại củ này. Khoai mỡ thường có kích thước lớn hơn, lớp vỏ khá thô cứng và không thể bóc lột dễ dàng trừ khi đem nấu chín. Còn khoai lang thì mang vị ngọt, nhiều tinh bột cùng với lớp vỏ mịn hơn.


11. Bánh Cupcake và bánh Muffin

Cả bánh Cupcake và bánh Muffin đều có kích thước, hình dáng tương tự nhau, được chứa trong một chiếc ly giấy. Tuy nhiên nếu quan sát kỹ, bạn sẽ thấy bánh Cupcake thường được trang trí cầu kỳ với các loại kem tươi và topping đầy màu sắc bên trên. Trong khi đó, Muffin trông đơn giản hơn rất nhiều. Ngoài ra xét về tính chất, Cupcake là bánh bông lan, còn Muffin là dạng bánh mì, tức là chúng sử dụng nguyên liệu khác nhau.


12. (Cặp bổ sung thường gặp) Củ cải trắng và củ cải Turnip (hoặc súp lơ trắng/các loại củ tương tự): 

Dễ nhầm lẫn khi cắt lát trong chế biến món ăn

Nguồn & ảnh: Brightside