Wednesday, May 27, 2026

DẦU MỎ, VŨ KHÍ ĐỊA CHÍNH TRỊ TỐI THƯỢNG - KỲ 5: KHÍ ĐỐT - VŨ KHÍ VÀ MỤC TIÊU

Vì sao Nga đã vũ khí hóa khí đốt hiệu quả hơn dầu mỏ trong cuộc đối đầu với châu Âu vì chiến tranh ở Ukraine? Và Qatar đã biến khí đốt thành bệ đỡ để vươn lên vị thế cường quốc khu vực như thế nào?

Các đường ống khí đốt thường qua những nơi hoang vu, trải khắp diện tích rộng lớn, khó bảo vệ nếu bị tấn công - Ảnh: Reuters

Khác biệt giữa dầu mỏ và khí đốt

Ngày 19-3, trong động thái đẩy cuộc chiến Mỹ - Israel chống lại Iran lên một nấc thang mới, Israel đã tấn công mỏ khí đốt South Pars tối quan trọng của Iran. Ngay sau đó Iran đáp trả với cuộc tấn công vào các cơ sở năng lượng khắp vùng Vịnh, bao gồm một cơ sở khí đốt ở Nhà máy Ras Laffan của Qatar rạng sáng 20-3.

Nói riêng về South Pars, đó là một phần trong mỏ khí đốt tự nhiên lớn nhất thế giới, trải rộng 9.700km2 và thuộc quyền khai thác chung của Iran và Qatar, đối diện với Iran lục địa qua vịnh Ba Tư.

Khoảng 1/3 mỏ này, tức khu vực South Pars thuộc về Iran, còn phần phía Qatar được gọi là North Field. Tổ hợp khí Ras Laffan nằm cách thủ đô Doha của Qatar 80km, có vai trò tối quan trọng với hoạt động kinh tế quốc tế, là cơ sở sản xuất khí hóa lỏng (LNG) lớn nhất thế giới, chiếm khoảng 20% nguồn cung toàn cầu, với khách hàng là các thị trường lớn nhất ở cả châu Á và châu Âu.

Nói ngắn gọn thì khác biệt lớn nhất nằm ở chỗ dầu mỏ là một thị trường toàn cầu, còn khí thiên nhiên thì không. Điều đó đồng nghĩa dầu mỏ là hàng hóa có thể thay thế dễ hơn nhiều so với khí đốt.

Ví dụ, sau khi cuộc chiến ở Ukraine bùng phát, châu Âu đã có thể nhanh chóng áp đặt lệnh cấm vận, giá trần, rồi cuối cùng ngừng mua dầu mỏ của Nga. Nhưng với khí đốt, sau hơn bốn năm chiến tranh, tới nay châu Âu vẫn phải nhập khẩu khoảng 15% từ Nga (dù đã giảm nhiều so với mức 45% trước chiến tranh).

Thương mại khí đốt mang tính khu vực chặt chẽ và chỉ một phần nhỏ sản lượng là thực sự có tính linh hoạt. Trong khi khoảng 80% dầu mỏ thương mại của thế giới được vận chuyển bằng đường biển (và 20% trong số đó là qua eo Hormuz), thì LNG thương mại ngoài đường ống hiện chỉ chiếm không tới một nửa tổng lượng khí giao dịch.

Công tác vận chuyển LNG dù bằng phương tiện gì đều phức tạp hơn nhiều so với dầu mỏ. Dòng chảy khí do đó giới hạn ở những nơi đã có sẵn cơ sở hạ tầng cực kỳ tốn kém, cực kỳ rộng lớn và do vậy cực kỳ dễ tổn thương. Tất cả giải thích tại sao khí đốt có thể được vũ khí hóa dễ dàng hơn và có nguy cơ gây ra thiệt hại cho đối thủ lớn hơn cả dầu mỏ.

Một ví dụ điển hình là ở châu Âu trong cuộc chiến Nga - Ukraine. Châu lục này vốn có lịch sử lâu dài phụ thuộc vào nguồn khí đốt từ Nga, với hệ thống đường ống thương mại rộng lớn được xây dựng ổn định qua nhiều thập niên.

Sau khi chiến tranh quy mô lớn nổ ra vào tháng 2-2022, Nga tính toán rằng châu Âu cần khí đốt của họ để duy trì điện và sưởi ấm và vì vậy đã sẵn sàng mạo hiểm một phần doanh thu để tìm kiếm kết quả mà họ mong muốn tại Ukraine. Với những diễn biến hiện giờ ở Trung Đông, có thể tin rằng Nga sẽ có thể sớm muốn đánh lại quân bài khí đốt.

Ngoài vận chuyển, lưu trữ là một bài toán khó khác với khí đốt. Khác với dầu mỏ, ngay cả những nền kinh tế lớn nhất cũng không có các chương trình dự trữ chiến lược thực sự có ý nghĩa cho khí thiên nhiên.

Thiếu kho dự trữ, thiếu các cơ chế hiệp ước phối hợp "xả kho" (như 400 triệu thùng dầu dự trữ được bán ra qua Cơ quan Năng lượng quốc tế mới đây), thiếu cả vùng đệm chiến lược về năng lực sản xuất dự phòng là tình trạng chung của cả các nước sản xuất lẫn nhập khẩu LNG.

Ở châu Âu, chỉ sau cuộc chiến Ukraine, EU mới áp quy định bắt buộc lưu trữ thương mại yêu cầu các kho khí đốt phải đầy 90% nhưng đây cũng chỉ là các biện pháp chắp vá.

Trên thực tế, Đức và Ý sở hữu gần một nửa tổng công suất lưu trữ khí đốt của EU, còn nhiều nước nhỏ khác hoàn toàn không có dự trữ. Nga chắc chắn sẽ không bỏ qua những diễn tiến này.

Tàu chở khí chuyên dụng Q-Max. Q là Qatar, Max là cực đại, tức tàu tải trọng lớn nhất với mặt hàng khí gần 162 triệu m3 - Ảnh: Wikipedia

Qatar: 2,5 triệu dân và 25 nghìn tỉ m3 khí

Nếu như Nga đã vũ khí hóa khí đốt với kết quả thành bại lẫn lộn, thì ở Trung Đông, Qatar đã dùng khí đốt để vươn lên vị thế cường quốc khu vực một cách ấn tượng.

Với 25 nghìn tỉ m3 khí đốt (TCM), đất nước Qatar nhỏ bé sở hữu trữ lượng lớn thứ ba thế giới, chỉ sau Nga (37,4 TCM) và Iran (32,1 TCM). Với sản lượng hiện giờ, tỉ lệ trữ lượng trên sản lượng của Qatar được ước tính ở mức

100-130, hầu hết tập trung ở mỏ North Field đã nói. Tuy nhiên, Qatar chỉ trở thành nước xuất khẩu LNG lớn nhất thế giới từ năm 2006.

Đầu những năm 1970, Doha vẫn nhìn nhận khí đốt không mấy thiện cảm. Họ thậm chí đốt bỏ khoảng 80% trong 6,13 tỉ m3 khối khí thiên nhiên đồng hành là phụ phẩm của quá trình khai thác dầu mỗi năm, tức mang tiền đốt bỏ theo đúng nghĩa đen. Nhưng khi nhận ra tình trạng lãng phí, Qatar bắt đầu quan tâm hơn đến khí đốt và kiên quyết giảm lượng khí phải đốt bỏ xuống còn 66% vào năm 1974 và chỉ còn dưới 5% vào năm 1979.

Nhưng giống như hầu hết các nước vùng Vịnh thời điểm đó, Qatar chưa thoát khỏi "lăng kính hẹp hòi" của nước sản xuất dầu mỏ. Đến giữa những năm 1980, trong khi nền kinh tế vẫn phụ thuộc nặng nề vào dầu mỏ, giá dầu giảm mạnh do Saudi Arabia mở rộng sản xuất ồ ạt. Thu nhập của Chính phủ Qatar từ dầu mỏ giảm từ 93% xuống còn 80%.

Sản lượng dầu cũng lao dốc không ngừng và đến khoảng năm 1987 chỉ còn một lượng ít ỏi khoảng 300.000 thùng mỗi ngày.

Chuyển đổi bây giờ là bắt buộc và quá trình xây dựng cả năng lực khai thác, chế biến, lẫn vận chuyển khí đốt suốt 40 năm tiếp theo không chỉ giúp Qatar trở nên cực kỳ giàu có mà còn là một cường quốc rất khác biệt trong khu vực toàn đại gia dầu mỏ. Năm 2019, họ thậm chí tuyên bố chính thức rời Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ.

Quyết định đó khiến Qatar giờ có vị thế độc lập và trung lập cực kỳ giá trị ở khu vực luôn bị giằng xé bởi xung đột phe phái này. Bất chấp quy mô nhỏ bé, Doha đã trở thành nhân tố nòng cốt trong quan hệ ngoại giao toàn cầu thế kỷ 21.

Click: The BIGGEST gasfield on the planet - North Field (Qatar) & South Pars (Iran)

Họ có mặt trong hầu hết các cuộc khủng hoảng địa chính trị và liên quốc gia khác nhau những năm gần đây ở đủ các vĩ độ. Từ đảm bảo thả công dân Mỹ ở Iran và Venezuela đến đàm phán trao lại trẻ em Ukraine bị Nga giữ, từ làm trung gian cho thỏa thuận giữa chính quyền Trump và Taliban để Mỹ rút quân khỏi Afghanistan đến hòa giải giữa Eritrea và Djibouti, từ đối thoại với Iran đến hỗ trợ nhân đạo ở Darfur, Qatar đều có mặt và đóng vai then chốt.

Để đạt được vị thế người trung gian toàn cầu đó, nguồn khí đốt xuất khẩu thu về hơn 100 tỉ đô la mỗi năm đã có vai trò quan trọng không kém mối quan hệ đặc biệt của Qatar với Mỹ. Kể từ năm 2001, Qatar là nơi đóng căn cứ không quân lớn nhất của Mỹ ở Trung Đông - Al Udeid, nơi có khoảng 10.000 quân nhân Mỹ đóng quân và có vai trò then chốt trong cuộc chiến của Mỹ với Iran hiện tại.

Nhưng Doha không chỉ thân Mỹ. Họ còn kiên định đóng vai trung lập và sẵn sàng đối thoại với tất cả các bên, bao gồm cả các nhóm chính trị - quân sự không chính danh như Taliban và Hamas.

Nhờ khí đốt, Qatar đã "sở hữu một nửa London, từ Harrods tới Canary Wharf" như lời nhà báo người Zimbabwe Hopewell Chin'ono và cho tới giờ họ đã sử dụng những của cải đó một cách khôn ngoan. Tuy nhiên, cuộc chiến ngày một leo thang ở Iran đặt ra câu hỏi cho Doha cũng như tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới về phương án B khả thi trong một cuộc khủng hoảng năng lượng.

Mỏ khí đốt North Field là khu vực khí ngưng tụ hỗn hợp nằm ở rìa vịnh Ba Tư, vắt qua biên giới trên biển giữa Iran và Qatar. Cấu trúc địa chất đặc biệt này vốn là một tầng tụ khí đã hình thành tự tận kỷ Permi (250 triệu năm trước) ở độ sâu khoảng 3.050m dưới mặt đất, chạy theo hướng bắc - nam xuyên suốt toàn bộ bán đảo.

Mỏ North Field có diện tích tương đương gần một nửa diện tích Qatar. Lúc mới được phát hiện vào năm 1971, North Field bị chính quyền Doha đánh giá là "một nỗi thất vọng" vì thiếu cơ sở hạ tầng khí thiên nhiên và khó khăn trong tìm thị trường xuất khẩu.

*******************

Tại sao Mỹ và phương Tây phải xây dựng các kho dự trữ dầu mỏ khổng lồ sau năm 1973? Kho dự trữ của Trung Quốc lớn đến mức nào và tầm quan trọng của dự trữ năng lượng đối với an ninh quốc gia.

>> Kỳ tới: Dự trữ chiến lược trong cuộc chiến năng lượng

Hải Minh / Theo: tuoitre
Link tham khảo:




Tuesday, May 26, 2026

KHÔNG MUỐN BON CHEN, TÔI CÓ ĐÁNG BỊ GỌI LÀ THẤT BẠI?

Xã hội ngày nay rất giỏi trong việc định nghĩa thành công cho người khác.

Không muốn bon chen, tôi có đáng bị gọi là thất bại?

Đến một độ tuổi nhất định, người ta mặc nhiên cho rằng bạn phải có một công việc ổn định, một mức thu nhập đáng nể, một căn nhà đủ rộng, một chiếc xe đủ đẹp, một gia đình đủ trọn vẹn. Nếu bước ra ngoài những khuôn mẫu ấy, rất dễ bạn sẽ bị gắn cho hai chữ “thất bại”.

Nhiều người sống cả đời trong sự mệt mỏi chỉ vì cố gắng chứng minh với thiên hạ rằng mình không phải là người thất bại.

Nhưng thật ra, thành công là gì?

Có một người đàn ông 35 tuổi từng nói rằng, trong mắt xã hội, anh là một kẻ thất bại. Anh học kỹ sư nhưng không làm đúng chuyên ngành, hiện chỉ làm những công việc freelance, part-time với thu nhập không cao, mỗi tháng chỉ vài chục đến vài trăm đô, vẫn sống cùng mẹ. Nhìn theo tiêu chuẩn phổ biến của xã hội, rõ ràng anh không phải hình mẫu của sự thành đạt.

Thế nhưng anh lại nói mình là người hạnh phúc nhất trên đời. Câu nói ấy nghe qua tưởng như một sự tự an ủi, nhưng càng nghe càng thấy đó là một sự tỉnh táo rất sâu.

Bởi năm hai mươi tuổi, anh từng trải qua một trận bệnh nặng. Chính khoảng thời gian ấy khiến anh hiểu ra một điều mà rất nhiều người khỏe mạnh thường quên mất: sức khỏe mới là tài sản lớn nhất của đời người.

Khi một người nằm trên giường bệnh, mọi thứ từng được xem là quan trọng như tiền bạc, địa vị, danh tiếng hay ánh mắt của người khác bỗng trở nên rất nhỏ bé. Lúc đó, điều người ta mong nhất không phải là thành công lớn lao, mà chỉ là được ăn ngon, ngủ yên, hít thở bình thường và sống thêm một ngày khỏe mạnh.

Ông bà ta có câu: “Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ.”

Ảnh: Internet

Con người thường chỉ thật sự trân trọng những điều bình thường nhất khi đã từng đứng trước nguy cơ đánh mất nó. Có người khi than áp lực cuộc sống thường được nghe một câu rất quen: “Thử vào bệnh viện đi rồi sẽ biết khổ thật sự là gì.”

Nghe có vẻ phũ phàng, nhưng không phải không có lý. Tôi từng thấy một cô gái mắc bệnh về hô hấp chia sẻ rằng: “Chỉ khi trải qua rồi mới biết, được thở bình thường thôi cũng đã là một loại hạnh phúc.”

Một hơi thở mà người khỏe mạnh xem là đương nhiên, với người bệnh lại là điều xa xỉ.

Cho nên, không phải ai sống chậm lại cũng là người thiếu chí tiến thủ. Không phải ai chọn cuộc sống giản dị cũng là người không biết phấn đấu. Nhiều khi, đó là lựa chọn của những người đã đi qua bệnh tật, đã chạm gần đến giới hạn sinh mệnh nên hiểu rõ mình thật sự cần gì. Họ không từ bỏ tương lai, họ chỉ không muốn đánh đổi hiện tại bằng những cuộc chạy đua vô tận.

Vấn đề là xã hội hiện đại rất khó cho phép con người giữ được sự tỉnh táo ấy.

Mỗi ngày, chúng ta bị bao quanh bởi vô số chuẩn mực được dựng lên từ mạng xã hội và quan niệm đám đông: bao nhiêu tuổi phải thành công, thế nào mới được gọi là giàu có, người đẹp phải sống ra sao, những món đồ nào nhất định phải sở hữu, những cột mốc nào bắt buộc phải đạt được.

Ban đầu, ai cũng nghĩ mình có chính kiến riêng. Nhưng khi ngày nào cũng nhìn thấy, cũng nghe thấy, cũng bị so sánh, lâu dần con người bắt đầu nghi ngờ chính mình. Ta vô thức lấy cuộc đời người khác làm bản thiết kế cho cuộc đời mình, rồi dùng những tiêu chuẩn ấy để tự kết luận rằng mình đang sống sai.

Đó là lý do rất nhiều người không thực sự bất hạnh vì thiếu thốn, mà bất hạnh vì luôn cảm thấy mình chưa đủ. Chưa đủ giỏi, chưa đủ đẹp, chưa đủ giàu và chưa đủ thành công.

Cái đáng sợ nhất không phải là nghèo vật chất, mà là nghèo cảm giác “đủ đầy”.

Khoa học tâm lý hiện đại gọi đây là “vòng xoáy thỏa mãn trì hoãn” — khi con người luôn tin rằng chỉ cần đạt thêm một mục tiêu nữa thì mình sẽ hạnh phúc. Nhưng khi đạt được rồi, niềm vui ấy rất ngắn ngủi, và ngay lập tức một mục tiêu khác lại xuất hiện.

Cứ như thế, cuộc đời trở thành một cuộc rượt đuổi không có điểm dừng.

Người xưa coi trọng chữ “tâm” hơn chữ “được”.

Phật gia nói rằng khổ đau phần lớn bắt nguồn từ chấp niệm, càng bám chặt vào cái mình muốn có, con người càng dễ bất an. Đạo gia nói về thuận theo tự nhiên, không cưỡng cầu. Nho gia nói về tu thân, bởi muốn an đời trước hết phải an lòng.

Ba con đường tưởng khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở một điểm:
Hạnh phúc không nằm ở việc có thêm bao nhiêu, mà nằm ở việc lòng mình còn đòi hỏi bao nhiêu.

Khi trong lòng luôn khởi lên những suy nghĩ như “phải có được nó”, “phải đạt bằng người ta”, “phải chứng minh cho người khác thấy”, thì rất có thể đó chính là những chỉ số khiến ta không bao giờ hạnh phúc. Vì hạnh phúc thật sự không phải là khi bạn có được tất cả, mà là khi có nó cũng được, không có nó cũng không sao.

Đó không phải là buông xuôi, mà là một trạng thái nội tâm bình hòa.

Bạn vẫn cố gắng, vẫn làm việc, vẫn tiến về phía trước, nhưng không còn sống trong sự hoảng loạn của thiếu thốn và so sánh. Bạn không bị cuộc đời kéo đi, mà tự mình chọn cách bước.

Mỗi người trên thế giới này đều là duy nhất. Mỗi người có một xuất phát điểm khác nhau, một sức khỏe khác nhau, một nỗi đau khác nhau, một giới hạn khác nhau. Không ai giống ai cả.

Vậy nên đem cuộc đời mình đi so với người khác vốn đã là một phép đo sai ngay từ đầu.

Ảnh minh họa: WK house

Ông bà ta vẫn nói: “Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh.” Không ở trong hoàn cảnh ấy, ta không thể hiểu hết nỗi khổ của người khác. Và cũng không ai có quyền dùng tiêu chuẩn của mình để phán xét cuộc đời người khác.

Người đàn ông 35 tuổi ấy chọn cho mình một triết lý rất đơn giản: mỗi ngày chỉ cần tốt hơn 1%, chỉ 1% thôi là đủ, phần còn lại dành để tận hưởng cuộc sống.

Nghe thì đơn giản, nhưng thật ra đó là một loại trí tuệ.

Bởi người trưởng thành nhất không phải là người chạy nhanh nhất, mà là người hiểu rõ điều gì đáng để mình chạy theo. Có những người sở hữu rất nhiều nhưng sống trong bất an. Cũng có những người chỉ có một cuộc sống bình dị nhưng tâm hồn lại vô cùng sung túc.

Thành công thật sự không phải là khiến bao nhiêu người ngưỡng mộ, mà là mỗi sáng thức dậy, bạn thấy lòng mình nhẹ nhõm, biết ơn vì còn được sống, còn được khỏe mạnh, còn có thể yêu thương và kết nối với cuộc đời.

Những năng lượng tích cực, sự thiện lành, lòng biết ơn, trạng thái cân bằng và bình an nội tâm mới chính là chìa khóa dẫn đến hạnh phúc, và cũng là con đường sâu xa nhất dẫn đến thành công.

Khi một con người biết xây dựng giá trị từ bên trong, biết sống tử tế với chính mình và với cuộc đời, thì đó mới là sự giàu có thật sự.

Suy cho cùng, giá trị của một đời người chưa bao giờ nằm ở việc bạn có bao nhiêu, mà nằm ở chỗ: với những gì mình đang có, bạn đã sống như thế nào.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

HẠ TÂN LANG (CỬU NHẬT) - LƯU KHẮC TRANG


Hạ tân lang - Cửu nhật

Trạm trạm trường không hắc.
Cánh na kham, tà phong tế vũ,
Loạn sầu như chức.
Lão nhãn bình sinh không tứ hải,
Lại hữu cao lâu bách xích.
Khán hạo đãng, thiên nhai thu sắc.
Bạch phát thư sinh thần châu lệ,
Tận thê lương bất hướng ngưu sơn trích.
Truy vãng sự,
Khứ vô tích.

Thiếu niên tự phụ lăng vân bút,
Đáo nhi kim, xuân hoa lạc tận,
Mãn hoài tiêu sắt.
Thường hận thế nhân tân ý thiểu,
Ái thuyết nam triều cuồng khách.
Bả phá mạo, niên niên niêm xuất.
Nhược đối hoàng hoa cô phụ tửu,
Phạ hoàng hoa dã tiếu nhân sầm tịch
Hồng khứ bắc,
Nhật tây nặc.


賀新郎 - 九日

湛湛長空黑
更那堪、斜風細雨
亂愁如織
老眼平生空四海
賴有高樓百尺
看浩蕩、千崖秋色
白髮書生神州淚
盡凄涼不向牛山滴
追往事
去無迹

少年自負凌雲筆
到而今、春華落盡
滿懷蕭瑟
常恨世人新意少
愛説南朝狂客
把破帽、年年拈出
若對黃花孤負酒
怕黃花也笑人岑寂
鴻去北
日西匿


Ngày Thu Than Vãn
(Dịch thơ: HHD)

Khung trời thăm thẳm tối đen,
Kham sao mưa bụi gió thêm đan sầu.
Mắt già bốn biển nhìn sâu,
Bình sinh nhờ có cao lâu mịt mù.

Trông xa ngàn núi sắc thu,
Thư sinh tóc bạc quốc thù lệ rơi.
Thê lương tấc dạ đầy vơi,
Chẳng vì tham sống như người ngày xưa.

Tìm dĩ vãng đã xa mờ,
Thiếu niên tự phụ văn thơ khuấy trời.
Niên hoa nay đã tả tơi,
Tâm hồn se sắt hận người thế gian.

Nghèo ý mới chỉ mơ màng,
Cuồng khách rơi mũ nói quàng bấy nay.
Đối hoàng hoa không chén đầy,
Sợ hoàng hoa lại diễu cười chê bai.

Người cô lẻ nỗi buồn dài,
Nhạn bay hướng bắc non đoài hoàng hôn.

Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lưu Khắc Trang 劉克莊 (1187-1269) tự Tiềm Phu 潛夫, hiệu Hậu Thôn cư sĩ 後村居士, người Bồ Dương (nay thuộc huyện Vĩnh Tế, tỉnh Sơn Tây). Ông bác học đa tài, tác phẩm của ông có Hậu Thôn đại toàn tập gồm 196 quyển, riêng về từ có tập Hậu Thôn biệt điệu. Ông là một chí sĩ bão phụ vĩ đại, lại vừa là một từ nhân hào phóng.

Theo: longhovinhlong



NGÀY PHẬT ĐẢN – TÍN PHẬT LÀ GÌ?

Ngày Phật Đản đến, lòng người dường như cũng dịu lại. Phố xá đông đúc, chùa chiền rộn ràng tiếng chuông, tiếng tụng. Dẫu cuộc sống có lo toan, vất vả, nhưng giây phút đứng trước tượng Phật, ai ai cũng thấy lòng mình có chút gì đó lắng lại, bình yên.


Người người đi chùa, người người cúng dường, hành hương, tụng kinh. Đó là một phần văn hóa tâm linh đáng trân quý, là niềm an trú cho biết bao người giữa đời sống chao đảo. Nhưng rồi, mọi thứ ngày càng đi vào hình thức, ta tự hỏi: Thế nào mới Tín Phật thật sự?
 
Tín, không phải là xin Phật cho, mà là tin Phật dạy đúng

Không ít người tìm đến Phật như một nơi để cầu xin: cầu bình an, cầu sức khỏe, cầu tài lộc, cầu con cái, cầu tình duyên. Điều đó vốn không phải cái sai gì lớn, bởi trong nỗi sợ và bất an của con người, niềm tin là nơi tựa vào.

Nhưng nếu, ta chỉ dừng lại ở mức độ đó, chỉ tin rằng Phật là đấng ban ơn, là quyền năng để xin xỏ, thì vô tình, ta đang biến niềm tin thành một hình thức giao dịch tâm linh. Mình dâng hoa trái, nhang đèn, công đức, rồi mong Phật “hồi đáp” theo ý mình.

Thế nhưng, Phật không phải là vị thần linh thưởng phạt. Phật là bậc Giác Ngộ, là người đã nhìn thấy rõ chân lý của vũ trụ, của sinh tử, của nhân quả. Phật không đến để ban cho chúng ta điều gì, mà đến để chỉ cho chúng ta thấy con đường giải thoát khỏi đau khổ. Con đường ấy, không ai đi giùm ai được.

Do đó, tín Phật, không phải là tin rằng Phật sẽ cho mình điều mình muốn, mà là tin rằng những lời Phật dạy về vô thường, về nhân quả, về từ bi, về buông bỏ… là đúng. Và từ đó, ta cam nguyện sống theo.


Tín nằm trong, từng hành vi của ta giữa đời

Có người đi đây đi đó, lễ bái trăm tượng, mà vẫn tham lam, sân si, nói lời cay độc, đối đãi với người thân thì không dễ chịu chút nào, ngoài mặt với thiên hạ thì… Vậy cái “tín” đó nằm ở đâu?

Cũng có người không hay đi chùa, không biết tụng kinh, nhưng sống chân thành, biết nhường nhịn, biết giúp người trong khó khăn, biết nhận lỗi khi sai, biết cười nhẹ khi bị tổn thương, không tranh đúng sai hơn thua… Người đó, Phật ở trong họ.

Phật từng dạy, Đại ý:

“Dù có đọc ngàn kinh điển, nếu không thực hành, thì chẳng ích gì. Nhưng nếu sống đúng với chân lý, dù không tụng một câu kinh, cũng là đệ tử ta.”

Vậy nên, tín Phật không đo bằng con số, mà đo bằng mỗi lần bạn chịu quay về với tâm mình, chịu sửa mình, chịu sống tử tế hơn. Đôi khi, chỉ cần im lặng khi tức giận, tha thứ cho một người khiến ta tổn thương, hay nở một nụ cười khi lòng không muốn, cũng là đã đi đúng lời Phật dạy rồi.

Tín không phải tránh khổ, mà là hiểu khổ để vượt qua

Phật không đến để giúp ta “né” khổ, mà để giúp ta hiểu khổ, và từ đó vượt lên khổ bằng trí tuệ và từ bi.

Một người tín Phật thật sự không phải là người luôn gặp may mắn, mà là người dù gặp nghịch cảnh vẫn giữ được tâm an, không trách Trời, không oán người, biết rằng tất cả đều có nhân duyên của nó, và trong mỗi nỗi đau đều có một bài học đang chờ mình trưởng thành.

Người tín Phật, càng tu, càng sống nhẹ nhàng, biết buông cái nên buông, giữ cái nên giữ. Không phải “sống trên mây”, không phải xa rời trần tục, mà là giữa bụi trần vẫn giữ được lòng trong.


Tín không phải nói ra, mà là sống ra

Giữa cuộc sống hôm nay, Phật đôi khi cũng trở thành một nhãn hiệu. Có người treo đầy tranh Phật, tượng Phật, nhưng không mở lòng lắng nghe cha mẹ, không biết cúi đầu khi sai, không dám nhường một lời cho người nghèo khó hơn mình.

Tín Phật không phải để người ta nhìn thấy, mà để mỗi khi mình nhìn lại mình, thấy mình đang tiến gần Phật hơn. Cái tiến ấy, đôi khi không ồn ào. Chỉ là hôm nay kiềm chế được một câu nói cay nghiệt, hôm nay không còn nóng giận như trước, hôm nay thấy người thành công mà lòng không ganh tị, hôm nay thấy ai làm lỗi thì khởi tâm thương, chứ không chê trách…

Phật đang đản sinh nơi đâu?

Phật Đản không chỉ là ngày lịch. Đó là ngày ta tự hỏi:

“Phật đã sinh, nhưng trong lòng mình đã sinh ra ánh sáng chưa? Hay vẫn còn tối tăm như cũ?”

Chỉ khi nào trong tim ta có sự thức tỉnh, không còn chạy theo hình thức, mà biết quay về sống thiện, sống thật, sống trí tuệ, thì khi ấy, Phật thật sự đản sinh trong lòng ta.

Và khi lòng người khắp nơi đều sinh ra ánh sáng ấy, thế giới này, dẫu vẫn còn khổ đau, vẫn sẽ có một con đường thoát khổ, nhẹ nhàng và bền vững hơn bất kỳ lời cầu xin nào.

Nguyên Tác An Hậu
Theo: vandieuhay

DẦU MỎ, VŨ KHÍ ĐỊA CHÍNH TRỊ TỐI THƯỢNG - KỲ 4: MỸ, LIÊN XÔ, CHIẾN TRANH LẠNH VÀ NHỮNG MỎ DẦU NÓNG

Năng lượng đã trở thành công cụ ý thức hệ và kinh tế then chốt trong cuộc đối đầu Mỹ - Liên Xô thời Chiến tranh lạnh như thế nào?

Tổng bí thư Liên Xô Leonid Brezhnev ôm hôn Tổng thống Mỹ Jimmy Carter ở Hội nghị thượng đỉnh Vienna năm 1979 - Ảnh: state.gov

Từ học thuyết Nixon đến học thuyết Carter

Vào giữa năm 1969 đã thấm đòn ở cuộc chiến tranh Việt Nam, chính quyền Nixon tuyên bố tương lai Mỹ sẽ kiềm chế không gửi quân đội ra nước ngoài nữa, mà thay vào đó sẽ cung cấp cho đồng minh "sự hỗ trợ để giúp họ tự giải quyết các vấn đề của chính mình". Học thuyết Nixon ra đời với mục tiêu nước Mỹ tránh được những Việt Nam tương lai.

Tuy có nguồn gốc từ chiến lược Việt Nam, học thuyết này cũng đã tác động sâu sắc đến chính sách Mỹ tại Trung Đông.

Đầu năm 1968, Anh thông báo rút các lực lượng quân sự còn lại của họ khỏi vịnh Ba Tư cuối năm 1971. Mỹ giờ chỉ còn đồng minh Iran để bảo vệ tuyến hàng hải huyết mạch này.

Phớt lờ cảnh báo từ phái bộ quân sự Mỹ tại Iran, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt với Liên Xô kỷ nguyên Chiến tranh lạnh, chính quyền Nixon giữa năm 1972 quyết định trao cho vua Shah Iran "tấm séc khống" để mua bất kỳ hệ thống vũ khí nào của Mỹ, chỉ trừ vũ khí hạt nhân.

Iran và Saudi Arabia trở thành hai trụ cột sống còn của Mỹ ở Trung Đông, khi năng lượng trở thành nỗi ám ảnh lớn nhất trong chính sách của Washington suốt những năm 1970 và 1980. Trong cuộc khủng hoảng dầu mỏ 1973 - 1974, Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) đã cắt giảm sản lượng mạnh, dẫn đến giá dầu tăng gấp 4 lần.

Tiếp đó, đối mặt cuộc cách mạng Hồi giáo ở Iran, sự kiện Liên Xô can thiệp quân sự vào Afghanistan (đều vào năm 1979), và tình trạng phụ thuộc ngày càng tăng của Mỹ vào dầu nhập khẩu, chính quyền Carter đã kết luận "Mỹ có những lợi ích sống còn ở khu vực Trung Đông, và Liên Xô trong so sánh tương quan thì không như vậy".

Để bảo vệ những lợi ích đó, Mỹ phải cải thiện "khả năng huy động quân sự nhanh chóng" và thiết lập sự hiện diện quân sự thường trực trong khu vực.

Ở Trung Đông, mục tiêu của Washington sẽ không phải là cân bằng quân sự với Liên Xô, mà là "một ưu thế quân sự rõ rệt". Triết thuyết của Carter, do đó chính là khởi nguồn cho hệ thống căn cứ quân sự dày đặc mà Mỹ đã kỳ công thiết lập qua nửa thế kỷ khắp khu vực quanh vịnh Ba Tư.

Ở Hội nghị thượng đỉnh Vienna tháng 6-1979, Carter nói với nhà lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev rằng một số khu vực trên thế giới như vịnh Ba Tư và bán đảo Ả Rập là nơi Mỹ và các đồng minh có "lợi ích sống còn tuyệt đối".

Ở những khu vực như vậy, điều thiết yếu là Liên Xô phải kiềm chế không đe dọa đến lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ.

Brezhnev đáp lại rằng Carter đừng đổ lỗi cho Liên Xô về những thay đổi đang diễn ra trên thế giới và phủ nhận cáo buộc Liên Xô đang tìm cách kiểm soát các quốc gia trong "cái gọi là khủng hoảng từ phía cung" (một khái niệm kinh tế thị trường không có chỗ đứng trong nền kinh tế kế hoạch hóa của Liên Xô). Ông cũng phản bác rằng toàn bộ học thuyết Carter chỉ là "một câu chuyện cổ tích".

Lính Mỹ trên xe tăng T-55 (do Liên Xô sản xuất) của Iraq trên cánh đồng dầu Kuwait đầu năm 1991 - Ảnh: Reddit

Liên Xô mạnh nhờ dầu và khó vì dầu

Brezhnev cũng phàn nàn về cách thức tùy tiện mà Mỹ tuyên bố những ngóc ngách xa xôi trên thế giới là lợi ích sống còn của họ. Tuy nhiên, nếu nhìn vào diễn biến sau đó của cuộc Chiến tranh lạnh, lý lẽ Washington không phải là vô căn cứ.

Ở Liên Xô, thống kê ghi nhận sự sụt giảm sản lượng dầu diễn ra trước sự sụt giảm GDP. Một số học giả như Douglas B. Reynolds, thậm chí lập luận rằng Liên Xô tan rã không phải do cuộc chạy đua vũ trang trong Chiến tranh lạnh với chính quyền Reagan hay do quản lý kinh tế yếu kém, mà chính là bởi một cuộc khủng hoảng dầu mỏ.

Khi sản lượng dầu đạt đỉnh vào nửa sau những năm 1980 và chỉ có suy giảm kể từ đó, Liên Xô mất đi nguồn lực then chốt để duy trì hoạt động kinh tế và quân sự của một siêu cường. Riêng những con số đã đủ sức thuyết phục.

Sản lượng dầu của Liên Xô giảm tới 50% trong khoảng từ năm 1988 - 1995, từ 12 triệu xuống còn 7 triệu thùng/ngày. (Dưới thời ông Putin, sản lượng đã quay trở lại mức 10 triệu thùng). Khi dầu cạn kiệt, sự ổn định quốc gia cũng biến mất.

Như nhận định của kinh tế gia thời Liên Xô và thủ tướng Nga sau này Yegor Gaidar vào năm 2007: Sự sụp đổ của Liên Xô "[là] một bài học cho những ai xây dựng chính sách dựa trên giả định giá dầu sẽ duy trì ở mức cao vĩnh viễn".

Tất nhiên, câu chuyện về những thăng trầm của quốc gia gắn với dầu mỏ ở Nga, và Liên Xô dài hơn thế nhiều. Giống như Mỹ, Nga là quốc gia tiên phong về dầu mỏ toàn cầu trong thế kỷ 19.

Khi mà các doanh nhân Mỹ như John D. Rockefeller biến vàng đen của Pennsylvania thành vàng thật vào những năm 1870, anh em nhà Nobel người Thụy Điển (chính là dòng họ Nobel nổi tiếng với các giải thưởng cho khoa học) cũng bắt đầu cắm những chiếc vòi hút xuống các cánh đồng dầu ở Baku thuộc Azerbaijan.


Nhưng Liên Xô chỉ thực sự trở thành siêu cường dầu mỏ từ sau Thế chiến 2, khi nền kinh tế hậu chiến tăng tốc để chế tạo xe hơi, máy kéo, máy bay phản lực MIG và những thành phố mênh mông trên nền tảng dầu mỏ.

Liên Xô cũng đầu tư nguồn năng lượng dư thừa vào giáo dục, khoa học, y tế, các chương trình không gian, và cả một tổ hợp công nghiệp - quân sự khổng lồ.

Dầu mỏ đồng thời là nền tảng cho chính sách đối ngoại. Dầu giá rẻ giúp Matxcơva duy trì hệ thống liên minh ở Đông Âu và trên toàn thế giới, đồng thời chi trả cho nhiều mặt hàng tiêu dùng nhập khẩu, bao gồm cả ngũ cốc thiết yếu.

Nguồn dầu mỏ dồi dào đã giúp Liên Xô vượt qua hai cú sốc giá dầu toàn cầu vào năm 1973 và 1981 không hề hấn gì, trong khi hầu hết phương Tây (bao gồm cả Mỹ) rơi vào suy thoái, nợ nần và phụ thuộc ngày càng nhiều vào dầu mỏ nước ngoài.

Nhưng giá dầu tăng vọt đồng thời cũng là một lời nguyền. Liên Xô bắt đầu chi tiêu thái quá, bán dầu để xây dựng thêm cơ sở hạ tầng tiêu thụ dầu, và lãng phí một lượng khổng lồ dầu mỏ, nhân lực và đồng rúp trong nỗ lực vô vọng ở Afghanistan.

Trợ cấp cho nhu cầu năng lượng của các nước đồng minh Triều Tiên, Đông Âu và Cuba là một yếu tố khác phải nói đến. Những năm 1980, dân châu Âu thuộc đủ mọi thành phần đổ xô đến Đông Berlin để đón những chuyến bay rẻ nhất đến Ấn Độ, tất cả nhờ trợ cấp nhiên liệu từ Liên Xô.

Giữa những năm 1980, sản lượng dầu của Liên Xô đạt đỉnh ở mức 12 triệu thùng/ngày. Sau đó, sản lượng dầu bắt đầu giảm.

Thêm một đòn đau nữa giáng xuống khi vào năm 1985, Saudi Arabia quyết định tăng mạnh sản lượng để giành lại vị thế trên thị trường thế giới.

Thay vì bán dầu với giá cố định, giá cả giờ sẽ dựa trên giá sản phẩm tinh chế trên thị trường, trừ đi biên lợi nhuận cố định cho hãng lọc dầu. Hệ thống mới này ưu tiên khối lượng hơn giá cả, và dẫn đến sự sụp đổ của giá dầu thế giới vào năm 1986.

Khi nguồn thu ngoại tệ mạnh tiêu tan, kế hoạch cải cách của Chính phủ Liên Xô mới dưới quyền Mikhail Gorbachev (nắm quyền từ tháng 3-1985) đi vào ngõ cụt. Gorbachev đã hy vọng sử dụng nguồn thu từ dầu mỏ để tài trợ cho quá trình hiện đại hóa công nghiệp và cải thiện mức sống, nhưng ông đã không thể tìm ra nguồn lực...

Ngay từ năm 1835, nhà tư tưởng lớn người Pháp Alexis de Tocqueville đã viết: "Một ngày nào đó, Nga và Mỹ theo một thiết kế bí mật của Thiên ý, sẽ nắm giữ trong tay họ mỗi bên một nửa vận mệnh của thế giới".

Những lời này có ý nghĩa tiên tri ở chỗ "thiết kế bí mật của Thiên ý" đó chính là vận may đặc biệt về dầu mỏ của hai siêu cường.

*****************

Vì sao Nga đã vũ khí hóa khí đốt hiệu quả hơn dầu mỏ trong cuộc đối đầu với châu Âu vì chiến tranh ở Ukraine?

>> Kỳ 5: Khí đốt - vũ khí và mục tiêu

Hải Minh / Theo: tuoitre
Link tham khảo:
https://responsiblestatecraft.org/2022/05/31/how-the-nixon-doctrine-blew-up-the-persian-gulf-and-undermined-us-security/




Monday, May 25, 2026

NHỮNG ĐỘNG VẬT TỰ ĂN THỊT MÌNH

Thế giới tự nhiên vốn dĩ tàn nhẫn. Không có cách gì tránh được thực tế đó. Một số sinh vật khiến cho các sinh vật khác chịu đủ mọi cực hình khốc hại để có cái ăn và để sinh sản hay thậm chí chỉ là để chơi đùa.

Chú gấu đen Á châu này (Ursus thibetanus) có lẽ đã bị mất chân trong một lần sập bẫy

Nhiều loài trong thế giới động vật là những loài ăn thịt đồng loại để sinh tồn hay để giữ vị trí thống trị.

Tuy nhiên còn có một hành vi thậm chí còn cực đoan hơn cả ăn thịt đồng loại. Một số động vật đôi khi còn có thể ăn chính các bộ phận cơ thể chúng. Hành vi kỳ lạ này được gọi là ‘tự ăn thịt mình’.

Để thoát hiểm

Chúng tôi hỏi độc giả rằng họ có từng nghe qua các động vật tự ăn thịt mình hay không. “Tôi không nghĩ rằng loài nào đó có thể cố tình ăn thịt cơ thể mình để duy trì sự sống. Đó là sự thất bại nếu sự sinh tồn lại phụ thuộc vào hành vi tuyệt vọng như vậy,” Selina Tick Konkin nói. “Tuy nhiên rất nhiều loài có thể gặm chân hoặc đuôi của mình để thoát khỏi cái bẫy.”

Điều này là có thật và được ghi chép lại rất rõ ràng. Chó, gấu và khỉ thường xuyên được thấy đã gặm phần da, cơ, gân và xương của phần chân bị dính bẫy để thoát khỏi bẫy.

Một con hổ không may ở Công viên Quốc gia Tesso Nilo ở miền trung đảo Sumatra được ghi lại hình ảnh bị mất một móng chân trước vào năm 2007. Rõ ràng nó đã nhai đi phần móng đó để thoát bẫy.

Tuy nhiên, những trường hợp này không thuộc về “tự ăn thịt mình”. Những con vật kể trên không ăn bộ phận cơ thể mình mà chúng chỉ loại bỏ những bộ phận đó đi.

Mặc dù hành động tự ăn thịt cực đoan như vậy nhưng nó có lý do rõ ràng. Suy cho cùng, mất đi một phần chi vẫn tốt hơn là mất cả mạng sống.

Tuy nhiên, những loài khác ăn các bộ phận cơ thể mình với những lý do dường như là hoàn toàn không thể hiểu được.

Một phần của vòng đời

Ấu trùng hải tiêu (Salpa maxima) có 'xương sống' nhìn được rõ rệt

William T. Terrell qua Facebook đã kể cho chúng tôi nghe về một trường hợp như vậy: “Loài hải tiêu (sea squirt) tự ăn não mình và hành vi này nằm trong vòng đời của chúng.”

Hải tiêu lúc đầu đời là những ấu trùng bơi lội dưới biển. Chúng trông giống những con nòng nọc tí hon. Mỗi ấu trùng bám vào một phiến đá hoặc một bề mặt nào khác và sau đó chúng không bao giờ di chuyển nữa.

Cũng giống như loài sâu bướm sống trên cạn, hải tiêu cũng trải qua quá trình biến hình và trở nên khác biệt đến mức khó có thể nhận ra. Con trưởng thành trông giống như những chiếc túi nhỏ phồng lên và chúng sinh tồn bằng cách lọc tìm thức ăn từ môi trường nước xung quanh.

Cách duy trì sự sống khác nhau có nghĩa là giai đoạn ấu trùng và giai đoạn trưởng thành của hải tiêu có khác biệt rất lớn bên trong cơ thể.

“Cơ thể ấu trùng có cấu trúc đơn giản với một dây thần kinh chạy dọc sống lưng gần giống như xương sống ở những động vật phức tạp hơn,” ông John Bishop thuộc Hiệp hội Sinh học Biển, cho biết. “Ở mặt trước của dây thần kinh này là một hạch các ‘bọng túi não’ và các cơ quan cảm ứng ánh sáng và trọng lực giúp chúng tìm được nơi để chúng làm nhà.”

Hầu hết những đặc điểm cơ thể này sẽ mất đi khi chúng trưởng thành.

Hải tiêu khi trưởng thành (Polycarpa aurata) sẽ tự mất đi 'xương sống' của chúng

“Một khi đã bám được vào bề mặt nào đó, con trưởng thành sẽ không cần đến các cơ quan cảm ứng, dây thần kinh và ngay cả đuôi nữa, do đó chúng sẽ ăn những bộ phận này,” Bishop nói. “Các bọng não được biến thành hạch thần kinh với chức năng nhằm giúp con trưởng thành giờ đã bất động một chỗ tìm thức ăn.”

Như vậy, việc hải tiêu ăn các bộ phận cơ thể thật ra cũng không phải là ghê gớm gì cho lắm như khi thoáng nghe. Chúng không hẳn là "ăn" hay "tiêu hoá" phần não đơn giản của mình, mà là "tái sử dụng" phần này để tạo ra những bộ phận cơ thể khác có ích hơn.

Rắn ăn đuôi

Tuy nhiên có những loài khét tiếng với hành vi ăn chính chiếc đuôi của mình.

“Các loài rắn ăn thịt loài rắn khác sẽ lầm tưởng chiếc đuôi của mình là con rắn khác và chúng sẽ tự ăn chiếc đuôi đó,” John Allen Gordon-Levitt Gerlach, viết. “Có một từ Hy Lạp để gọi hành vi này: ‘ouroboros’ và nó tượng trưng cho chu kỳ sinh tử.”

Chú rắn hổ mang chúa này (Ophiophagus hannah) đang ăn thịt một con rắn cái, nhưng liệu một con rắn có tự ăn đuôi của mình không?

Một người khác bình luận trên Facebook rằng con rắn của ông đã ăn hơn phân nửa cơ thể của nó và do đó nó đã bị chết ngạt.

Liệu một số loài rắn có ngốc đến nỗi chúng tưởng lầm bản thân là thức ăn?

“Đa số các loài rắn sử dụng chức năng cảm ứng nhiệt để phát hiện con mồi. Do đó đuôi của chúng không thể khiến chúng chú ý được,” Sally South thuộc Bảo tàng Nam Úc ở Adelaide, nói.

"Tuy nhiên một số ít loài rắn lại dùng đuôi để thu hút con mồi bằng cách vẫy đuôi nhanh. Một số loài thậm chí vẫy đuôi khi chúng chỉ cảm thấy kích động. Rắn có bộ não nhỏ và chúng thiên về phản xạ hơn là tự chủ trong hành động. Do đó hành động vẫy đuôi này có thể khiến chúng chú ý và nghĩ rằng đó là ‘con mồi’."

Tương tự, James B. Murphy thuộc Bảo tàng Smithsonia về Lịch sử Tự nhiên ở Adelaide ở Washington DC từng có một con rắn đang lột da và bắt đầu ăn phần da lột khi nó vẫn còn nằm trên thân gần đoạn đuôi. “Nó tiếp tục nuốt cơ thể mình từ phần đuôi cho đến khi tôi can thiệp.”

Ăn nhau thai

Murphy có một kiến giải tại sao loài rắn lại làm như vậy. “Mùi của con mồi trên cơ thể chúng, nhất là những con rắn thường xiết con mồi, có thể khiến rắn lầm tưởng là chúng đang nuốt mồi,” ông giải thích.

Nói cách khác, mặc dù loài rắn có thể tìm cách tự ăn mình từ lần này đến lần khác nhưng hành động này không hề chủ ý.

Vậy còn những loài gần hơn với con người thì sao? Các loài động vật hữu nhũ có bao giờ tự ăn thịt bản thân không?

“Các động vật tiêu hóa các bộ phận cơ thể chúng rất thường xuyên do nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn như thú mẹ (ví dụ như mèo) ăn nhau thai sau khi sinh con,” Charity Young viết trên Facebook.

Một con mèo nhà đang ăn nhau thai sau khi sinh con

Hành vi này là khá phổ biến. “Đa số các loài động vật hữu nhũ có nhau thai thường ăn nhau thai và nước ối của chúng trong khi sinh nở,” Cynthia W. Coyle ở Trường Y Feinberg thuộc Đại học Tây Bắc ở thành phố Chicago, bang Illinois, Hoa Kỳ, cho biết. “Có nhiều giả thiết giải thích tại sao điều này lại có ích cho chúng nhưng các giả thiết này không đúng với tất cả các loài.”

Mark Kristal thuộc Đại học Buffalo ở New York cho rằng hành động ăn nhau thai là để giúp giảm đau khi sinh nở.

Nghiên cứu của Kristal tập trung chủ yếu vào các loài gặm nhấm nhưng cũng tìm hiểu những loài có vú phức tạp hơn vốn đôi khi cũng ăn nhau thai.

Con người thì sao?

Trong một nghiên cứu hồi năm 2015, Coyle và đồng sự của bà đã tìm hiểu hành vi ăn nhau thai ở người và nhận thấy rằng đó là việc hiếm khi xảy ra. Đó cũng là một hiện tượng tương đối mới mặc dù một số bác sỹ và chuyên gia y tế khuyến khích hành động này như một điều tự nhiên và truyền thống.


“Chúng tôi không tìm thấy bất cứ tư liệu lịch sử nào được ghi chép lại trong các nền văn hóa khác nhau cho thấy người mẹ có hành động này,” Coyle cho biết. “Hành vi này dường như chỉ mới xuất hiện tương đối gần đây, chủ yếu trong nền văn hóa phương Tây.”

Bà cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy ăn nhau thai có ích về mặt sức khỏe cho con người.

“Những người cổ súy việc ăn nhau thai thường lấy dẫn chứng từ những nghiên cứu ở động vật để chứng minh cho lợi ích tương tự ở con người,” Coyle nói. “Tuy nhiên những lợi ích này, trong đó có việc ngăn ngừa trầm cảm và làm tăng sự chảy sữa và tăng cường năng lượng, chưa hề được nghiên cứu hay chứng minh ở động vật.”

Nếu Coyle đúng thì có nghĩa là hành vi ăn nhau thai ở người là những ví dụ hiếm hoi về việc động vật cố tình ăn một phần cơ thể mình. Tuy nhiên, khác với con báo bị mắc bẫy, có lẽ con người không có lý do cực kỳ hợp lý cho hành động này.

Rohan Mehra
BBC Earth
Link tiếng Anh:


XUẤT GIAO TẦM XUÂN - TÔ THỨC


Xuất giao tầm xuân

Đông phong vị khẳng nhập đông môn,
Tẩu mã hoàn tầm khứ tuế thôn.
Nhân tự thu hồng lai hữu tín,
Sự như xuân mộng liễu vô ngân.
Giang thành bạch tửu tam bôi nghiệm,
Dã lão thương nhan nhất tiếu ôn.
Dĩ ước niên niên vi thử hội,
Cố nhân bất dụng phú “Chiêu hồn”.

Năm Nguyên Phong thứ 5, bấy giờ tác giả vì vướng vào vụ án thơ Ô Đài, bị biếm về Hoàng Châu. Phan và Quách là Phan Ngạn và Quách Hưng Tôn làm nghề bán thuốc và rượu, là bạn mới của tác giả ở Hoàng Châu. Thành Nữ Vương tên thường gọi là thành Vĩnh An, cách Hoàng Châu về phía đông hơn 10 dặm.

Tên bài thơ này là "Chính nguyệt chấp nhật dữ Phan, Quách nhị sinh xuất giao tầm xuân, hốt ký khứ niên thị nhật đồng chí Nữ Vương thành tác thi, nãi hoạ tiền vận" (正月廿日與潘郭二生出郊尋春,忽記去年是日同至女王城作詩,乃和前韻)


出郊尋春

東風未肯入東門
走馬還尋去歲村
人似秋鴻來有信
事如春夢了無痕
江城白酒三杯釅
野老蒼顏一笑溫
已約年年為此會
故人不用賦招魂


Ra ngoài thành tìm xuân
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Gió xuân vừa tới cửa Đông.. 
Thôn xưa xóm cũ, cất công ngựa tìm. 
Bóng nhạn tăm cá mong tin. 
Việc như xuân mộng im lìm bấy lâu. 
Giang Thành buông chén rượu sầu. 
Lão quê gầy yếu, cười đâu ấm lòng. 
Hàng năm hẹn ước lại mong. 
"Chiêu hồn" đừng mượn, lại đong thêm buồn.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tô Thức 蘇軾 (1037-1101) tự Tử Chiêm 子瞻, Hoà Trọng 和仲, hiệu Đông Pha cư sĩ 東坡居士, người đời thường gọi là Tô Đông Pha 蘇東坡, thuỵ Văn Trung 文忠, người My Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ông từng làm quan Thông phán, Thái thú. Cha là Tô Tuân, em là Tô Triệt, đều là các đại gia thi văn, đương thời người ta gọi là Tam Tô.

Nguồn: Thi Viện