Saturday, August 15, 2026

GIAI ĐOẠN NÀO CỦA ĐỜI MÌNH LÀ ĐẸP NHẤT?


Có một chàng trai luôn lo lắng về tương lai của mình, anh tự hỏi không biết giai đoạn đẹp nhất của đời mình là thời gian sắp tới hay là những năm tháng đã qua. Một hôm anh trò chuyện với một cụ già tuổi đã gần 80 nhưng vẫn còn khỏe mạnh và lạc quan yêu đời, hai người trao đổi với nhau về những kinh nghiệm sống. Chàng trai hỏi ông cụ:

– Cụ có thể nói cho cháu biết thời gian nào là đẹp nhất trong đời cụ?

Cụ già vui vẻ trả lời:

– Khi tôi còn nhỏ, tôi được sống trong vòng tay yêu thương của cha mẹ, được cha mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc, dạy dỗ. Đây là thời gian đẹp nhất của cuộc đời tôi. Khi lớn lên, tôi được cha mẹ cho đến trường, ở đó có thầy cô và bạn bè, tôi được thầy cô truyền trao kiến thức, được học tập và vui chơi cùng bạn bè. Đó là thời gian đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Khi tôi nhận được việc làm, biết gánh vác trách nhiệm, được hưởng những thành quả từ sự nỗ lực của mình. Đây cũng là thời gian đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Khi tôi gặp vợ tôi, chúng tôi yêu nhau, cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Đó là thời gian đẹp nhất của cuộc đời tôi. Khi là một người cha, cảm nhận niềm hạnh phúc nhìn những đứa con của mình lớn lên. Đó là thời gian đẹp nhất của cuộc đời tôi. Bây giờ tôi đã gần 80 tuổi, tôi còn sức khỏe, tôi luôn cảm thấy vui vẻ và hạnh phúc, tôi vẫn yêu vợ và các con, sống hòa thuận với mọi người. Đây là thời gian đẹp nhất của cuộc đời tôi.

Theo: Cửa sổ tâm hồn


BÀI HỌC ĐẠO LÝ

Sau khi đã trải nghiệm đời sống thăng trầm dâu bễ rồi người ta thường quý cái tình cái nghĩa hơn. Bởi đó là những thứ mà đôi khi có nhiều danh phận và bạc tiền cũng không mua được.
Kế đó, khi đã chiêm nghiệm sâu sắc hơn, người ta bắt đầu trân quý cái sự an. Nói chung là an toàn tập. Khi mà bất an ở các phương diện thực phẩm, không khí, giao thông, sức khỏe, tài chính…đoanh vây thì được an trở nên vô cùng cấp thiết.

Thành ra, giai đoạn nào mà thân khỏe, tâm an, trí sáng thì khi đó là khoảng thời gian đẹp nhất, bình an nhất, hạnh phúc nhất.

QUẢNG TÁNH

VÌ SAO CON NGƯỜI KHÔNG THUẦN HÓA ĐƯỢC NGỰA VẰN?

Cùng họ nhà ngựa, cùng bốn vó khỏe và đủ sức kéo xe, nhưng lịch sử đã chọn ngựa trở thành bạn đồng hành của con người, còn ngựa vằn thì không.

Ngựa vằn rất khó thuần hóa - Ảnh: MARYLAND ZOO

Khoa học cho thấy câu trả lời không nằm ở những sọc của ngựa vằn, mà ở sinh học hành vi, phản ứng stress và cả áp lực tiến hóa của đồng cỏ châu Phi.
Vì sao ngựa vằn vẫn... "bướng"?

Trong lịch sử, từng có những nỗ lực cưỡi ngựa vằn, huấn luyện ngựa vằn kéo xe, thậm chí lai tạo với ngựa. Nhưng ngựa vằn chưa bao giờ trở thành vật nuôi phổ biến như ngựa hay lừa.

Theo một bài tổng quan khoa học đăng trên tạp chí Animals (2024), thuần hóa là một quá trình lâu dài đòi hỏi nhiều điều kiện cùng hội tụ như loài đó phải chịu được việc bị bắt giữ, nuôi nhốt, tiếp xúc gần với con người và quan trọng nhất là có thể thích nghi qua nhiều thế hệ dưới sự chọn lọc của con người.

Trong khi đó, ngựa vằn gặp trở ngại ở nhiều điểm trong chuỗi điều kiện này.

Một yếu tố then chốt được các nhà nghiên cứu nhấn mạnh là hiện tượng "tổn thương do stress khi bị bắt giữ". Đây là tình trạng một số động vật móng guốc có thể bị suy sụp sinh lý nghiêm trọng khi bị rượt đuổi hoặc nhốt giữ.

Theo bài viết trên trang Animals, mức độ dễ bị tổn thương do stress là yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực rõ rệt đến khả năng thuần hóa. Ngựa vằn, vốn tiến hóa trong môi trường có mật độ thú săn mồi cao ở châu Phi, giữ lại phản ứng cảnh giác và hoảng loạn rất mạnh.

Đó là bởi trong môi trường mà sư tử, linh cẩu hay báo luôn rình rập, những con phản ứng nhanh, giật mình mạnh và bỏ chạy tức thì có khả năng sống sót cao hơn.

Ngựa vằn đã tiến hóa để có thể thích ứng với cuộc sống hoang dã - Ảnh: LA ZOO

Qua hàng chục nghìn năm, đặc điểm này trở thành lợi thế tiến hóa, đặc biệt đúng với trường hợp của ngựa vằn.

Nhưng chính lợi thế ấy lại là rào cản đối với quá trình thuần hóa, vốn đòi hỏi động vật có thể chịu đựng việc bị kiểm soát và tiếp xúc lặp đi lặp lại với con người.

Chương trình Nature của PBS khi nói về tập tính ngựa vằn từng mô tả chúng là loài rất "căng thẳng", dễ phản ứng mạnh khi bị tiếp cận gần. Không ít trường hợp chấn thương do ngựa vằn cắn hoặc đá đã được ghi nhận trong thực tế.

Tuy nhiên vấn đề không chỉ nằm ở "tính khí". Thuần hóa không đồng nghĩa với việc một con ngựa vằn có thể được dạy dỗ.

Một con ngựa vằn riêng lẻ có thể được huấn luyện phần nào, nhưng để trở thành vật nuôi phổ biến, loài đó phải cho phép con người nhân giống và chọn lọc qua nhiều thế hệ mà không gây rủi ro quá lớn.

Giới nghiên cứu phân biệt rõ giữa "thuần tính" (một con trở nên hiền hơn) và "thuần hóa" (cả quần thể thay đổi về mặt di truyền và hành vi qua nhiều thế hệ). Theo tổng quan trên Animals, ngựa vằn không đáp ứng tốt những điều kiện nền tảng để tiến trình thuần hóa ở quy mô quần thể diễn ra bền vững.

Ngựa có thật sự thông minh?

Loài ngựa có khả năng ghi nhớ biểu cảm của con người - Ảnh: SCIENCE FOR HORSE LOVERS

Nếu ngựa vằn cho thấy giới hạn của thuần hóa, thì ngựa - loài đã đồng hành với con người hàng nghìn năm - lại ngày càng khiến các nhà khoa học nhìn nhận lại trí tuệ của chúng.

Năm 2018, một nghiên cứu công bố trên tạp chí Current Biology cho thấy ngựa có thể ghi nhớ biểu cảm cảm xúc của con người.

Trong thí nghiệm, ngựa được cho xem hình ảnh khuôn mặt người với biểu cảm vui hoặc giận. Nhiều giờ sau, khi gặp lại đúng người đó trong trạng thái trung tính, ngựa vẫn thể hiện phản ứng khác nhau tùy theo ký ức cảm xúc trước đó.

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng thiết kế thí nghiệm được kiểm soát để tránh việc con người vô tình phát tín hiệu cho ngựa.

Một nghiên cứu khác đăng trên Frontiers in Psychology năm 2020 tiếp tục đặt câu hỏi ngựa có thực sự nhận diện khuôn mặt người hay chỉ dựa vào những chi tiết như màu tóc, dáng người?

Kết quả cho thấy ngựa có khả năng xử lý khuôn mặt theo hướng tổng thể, tức không chỉ dựa vào một chi tiết đơn lẻ mà dựa vào cấu trúc chung của khuôn mặt.

Quá trình thuần hóa ngựa có thể liên quan nhiều đến khả năng tương tác xã hội của chúng - Ảnh: MASHABLE

Gần đây hơn, nghiên cứu công bố trên Applied Animal Behaviour Science (2024) cho thấy ngựa có thể học cách phân biệt các biểu cảm cảm xúc khác nhau của con người thông qua huấn luyện có thưởng.

Theo nhóm nghiên cứu, ngựa được huấn luyện trong môi trường kiểm soát với hình ảnh khuôn mặt thể hiện các cảm xúc khác nhau và được thưởng khi chọn đúng theo quy tắc. Khi thay đổi người trong ảnh hoặc góc chụp, ngựa vẫn duy trì khả năng phân loại.

Ở góc độ sinh học hành vi, những phát hiện này gợi ý rằng ngựa có hệ thống xử lý tín hiệu xã hội phát triển tương đối cao. Là loài sống bầy đàn, ngựa vốn phải nhạy cảm với trạng thái cảm xúc của những con khác để duy trì trật tự trong nhóm.

Quá trình thuần hóa kéo dài hàng nghìn năm có thể đã củng cố thêm khả năng đọc và phản ứng với tín hiệu của con người.

Theo các nhà nghiên cứu, đây là ví dụ điển hình cho thấy thuần hóa không dừng lại ở ngoại hình hay sức kéo, mà còn liên quan đến biến đổi về hành vi và khả năng tương tác xã hội.

Hoàng Thi / Theo: tuoitre

BÍ ẨN THÂN THẾ NGƯU MA VƯƠNG - KẺ KHIẾN TÔN NGỘ KHÔNG GỌI ĐẠI CA

Ngưu Ma Vương là một yêu quái hiếm hoi nhận được sự yêu mến của khán giả bởi pháp lực phi phàm. Tuy nhiên lai lịch và thân thế của nhân vật này lại là một bí ẩn, chẳng mấy ai biết đến.


Năng lực đáng sợ của Ngưu Ma Vương

Trong tập Ba lần lấy quạt Ba tiêu, thầy trò Đường Tăng đến dãy núi Hỏa Diệm Sơn. Ngọn núi này quanh năm bốc lửa, nước bình thường không thể dập tắt được, bèn nghĩ tới cách mượn quạt Ba Tiêu của Thiết Phiến Công chúa.

Trước đó, Ngộ Không đã bị Hồng Hài Nhi con trai của Thiết Phiến lừa bắt sư phụ. Không những vậy, Hồng Hài Nhi còn dùng Tam Muội Chân Hỏa thiêu Ngộ Không suýt mất mạng, phải nhờ tới sự trợ giúp của Quan Âm Bồ Tát mới hàng phục được.

Sự việc này bắt đầu gieo mầm ân oán giữa Ngộ Không và vợ chồng Ngưu Ma Vương.

Thiết Phiến Công Chúa căm hận Ngộ Không nên chẳng những không cho mượn mà còn thổi Ngộ Không bay tới tận thiền viện của Linh Cát Bồ Tát.

Ngộ Không dùng Định Phong Châu mượn của Linh Cát Bồ Tát tránh được sức mạnh quạt Ba Tiêu nên dùng mọi quỷ kế đa đoan đoạt lấy chiếc quạt ấy từ tay Thiết Phiến.

Ngưu Ma Vương thấy vợ bị làm nhục nên quyết một phen sống mái với Ngộ Không. Đây chính là ngọn nguồn của trận chiến hao tâm tổn lực nhất Tây Du Ký , cần sự góp sức của cả Tam Giới mới ngăn cản được.

Tôn Ngộ Không gây thù chuốc oán với vợ chồng Ngưu Ma Vương.

Ngưu Ma Vương không những sở hữu thực lực cường đại mà còn có sức mạnh đáng gờm. Ngộ Không liên thủ cùng Trư Bát Giới, Thổ Địa dẫn âm binh bao vây cũng không thể khống chế con trâu này.

Phải đến khi Phật Tổ phái Bát Đại Kim Cương, Ngọc Hoàng cử thiên binh thiên tướng tới giúp sức, các bên hợp lực tạo thành thiên la địa võng mới trấn áp nổi.

Trong Tây Du Ký, Tôn Ngộ Không là một nhân vật thần thông quảng đại, ngoại trừ Phật Tổ Như Lai và chư vị Bồ Tát pháp lực vô biên, thì những vị thần tiên hay yêu quái có thể đối đầu với Ngộ Không chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Một vài cái tên có thể kể đến rong cõi Tam giới đó là Nhị Lang Thần (cháu của Ngọc Hoàng), đại bàng Kim Sí Điểu (cậu của Phật Tổ Như Lai), Cửu Linh Nguyên Thánh (Thần thú của Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn) và cha con Ngưu Ma Vương.

Có thể thấy hầu hết những cái tên ấy đều thuộc dòng dõi chư tiên, nhưng cha con Ngưu Ma Vương với lai lịch bí hiểm lại lọt vào danh sách này.

Lai lịch bí ẩn của Ngưu Ma Vương

Trước khi Tôn Ngộ Không đại náo Thiên Cung đã cùng Ngưu Ma Vương kết nghĩa huynh đệ với sáu con yêu tinh khác, Ngưu Ma Vương làm đại ca hiệu xưng là Bình Thiên Đại Thánh.

72 phép biến hóa thần thông của Ngưu Ma Vương từ đâu mà có?

Bản thể y là một con khuê ngưu có thân hình to lớn, mình mặc áo giáp, tay cầm đinh ba và sở hữu pháp lực cao cường. Ngoài ra Ngưu Ma Vương cũng tu luyện 72 phép biến hóa thần thông như Tôn Ngộ Không.

Phép thuật chính đạo trong Tam giới gồm 36 phép thiên cang và 72 phép địa sát, phải khổ công rèn luyện và có tiên nhân đắc đạo chỉ điểm mới tu luyện được.

Từ thuở hỗn mang, chỉ những đấng sáng tạo như Hồng Quân lão tổ cùng với 3 người học trò mới biết đủ 108 phép thiên cang địa sát.

Tôn Ngộ Không luyện được 72 phép địa sát nhờ vào thiên phú và sự chỉ điểm của Bồ Đề Tổ Sư, Nhị Lang Thần là vãn bối của Nguyên Thủy Thiên Tôn. Vậy thì nhờ đâu mà Ngưu Ma Vương lại có thể luyện thành 72 phép?

Có một giả thuyết về thân thế của Ngưu Ma Vương được khán giả Trung Quốc tin tưởng: Ngưu ma Vương chính là thú cưỡi của Thông Thiên giáo chủ.

Linh Bảo Thiên Tôn tức Thông Thiên Giáo chủ là một trong 3 vị học trò của Hồng Quân lão tổ. Ngài có pháp lực vô biên, tay cầm tru tiên tứ kiếm, mình cưỡi khuê ngưu.

Sau khi thất bại trước hai vị sư huynh, ông được sư phụ đưa về cung Tử Tiêu nhưng con khuê ngưu thì bị thất lạc. Con khuê ngưu ấy có thể chính là Ngưu Ma Vương, trốn xuống trần gian làm yêu ma.


Suốt một thời gian dài đi theo phò tá Thông Thiên Giáo chủ, Ngưu Ma Vương nghe ông giảng đạo nên đã lĩnh ngộ được 72 phép thần thông quảng đại. Khi xuống trần, y tu thành chính quả sau đó cưới Thiết Phiến Công Chúa, một nữ nhân mang dòng dõi thần tiên.

Chính bởi xuất thân có phần cao quý như thế nên mặc dù một con yêu quái như Ngưu Ma Vương dám phá lệ trời cưới tiên nhân, không những không bị trời trừng phạt mà còn một lần được mời lên dự tiệc bàn đào.

Giả thuyết này là một trong những giả thuyết chính xác nhất lý giải về xuất thân của Ngưu Ma Vương.

Theo: Trí Thức Trẻ

Friday, August 14, 2026

HIỆU ỨNG DUNNING - KRUGER: NHẬN THỨC CÀNG THẤP CÀNG TỰ CHO LÀ MÌNH ĐÚNG

Nhận thức càng thấp càng tự cho là mình đúng (ảnh minh họa Psychologytoday)

Nhận thức càng thấp càng dễ cho là mình đúng mà phản đối ý kiến của người khác, trong tâm lý học gọi đây là “Hiệu ứng Dunning–Kruger”.

Có một câu chuyện như sau: Đã từng có một tên cướp tên là Wheeler. Anh ta đã cướp 2 ngân hàng ở Pittsburgh giữa ban ngày và không đeo mặt nạ hay có bất kỳ sự cải trang nào. Không mất nhiều thời gian để cảnh sát bắt giữ anh ta.

Khi bị bắt, anh ta vẫn còn bối rối hỏi cảnh sát: “Làm thế nào các anh tìm thấy tôi? Tôi rõ ràng đã bôi chất lỏng tàng hình lên mặt rồi mà!” Cảnh sát hỏi: “Chất lỏng tàng hình nào?” Tên cướp vô cùng nghiêm túc trả lời: “Nước chanh”. Hóa ra sau khi hắn biết dùng nước chanh để viết chữ trên giấy thì có thể làm cho chữ viết trở nên vô hình, anh ta ngu ngốc tin rằng nước chanh thoa lên mặt cũng có thể khiến mình tàng hình.

Tên cướp ngu ngốc này đã thu hút sự chú ý của giáo sư tâm lý học tại Đại học Cornell là David Dunning. Ông đã làm việc với nhóm của mình để tiến hành nghiên cứu thực nghiệm và phát hiện ra rằng: Trình độ nhận thức của một người càng thấp thì họ lại càng ít có khả năng nhận ra chính xác những khuyết điểm của mình và phân biệt rõ hành vi sai trái của bản thân. Đây chính là “Hiệu ứng Dunning–Kruger” nổi tiếng.

Trình độ nhận thức càng thấp càng tự cho mình là đúng

“Hiệu ứng Dunning–Kruger” giải thích rất rõ 4 giai đoạn nhận thức của con người:

Giai đoạn đầu tiên: Đỉnh cao sự ngu ngốc—không biết rằng mình không biết;

Giai đoạn thứ 2: Thung lũng tuyệt vọng — biết rằng mình không biết;

Giai đoạn thứ 3: Sườn dốc giác ngộ — biết rằng mình biết;

Giai đoạn thứ 4: Cao nguyên của sự bền vững — không biết rằng mình biết. 

Những người có trình độ nhận thức càng thấp càng tự cho là mình đúng (ảnh minh hoạ livescience)

Trong cuộc sống, hầu hết mọi người đều ở giai đoạn đầu tiên của trạng thái nhận thức, nhưng những người như vậy thường nghĩ rằng họ biết tất cả mọi thứ và tự cho mình là đúng.

Trong “Tống nhân dật sự hồi biên” có một câu chuyện như vậy: Kể rằng thời Nam Tống, có một quan huyện tên là Chung Nhược Ông, ông tự cho rằng chữ viết của mình rất đẹp, nên rất coi thường chữ viết của người khác và luôn muốn thay thế nó.

Đi đến đâu ông cũng thích châm chọc mỉa mai những chữ trên bức hoành, cố hết sức xóa bỏ những chữ gốc và viết lại dưới tên của chính mình. Tuy nhiên, chữ viết của ông thực sự rất xấu và mọi người xung quanh ông ấy đều gặp rắc rối vì điều đó.

Ông từng đi ngang qua một ngôi chùa trên núi ở Lư Lăng, nơi có một lầu gác cao rất nguy nga. Chung Nhược Ông và các quan viên cấp dưới cùng đi đến đó và đứng xung quanh phía dưới, nhìn bức hoành trên chùa có ghi “Định huệ chi các”, nhưng tên tác giả trên bức hoành rất mờ. Ông liền phê bình theo ý mình, còn nhờ một nhà sư dùng thang để gỡ bức hoành xuống.

Sau khi nhà sư lau sạch sẽ bức hoành, Chung Nhược Ông bước lại gần và thấy rằng nó thực sự được viết bởi Nhan Lỗ Công Nhan Chân Khanh, là người rất nổi tiếng về thư pháp.

Lúc này, ông xấu hổ quay đầu lại nói với quan viên cấp dưới: “Tại sao các ngươi không khắc những chữ đẹp như vậy lên bia đá?”. Thế là, sau khi trở về, ông lập tức sai người khắc chữ trên bức hoành vào một phiến đá. Nghe nói rằng sự việc này được người đời sau coi là một chuyện cười.

Trong cuộc sống, có rất nhiều người giống như Chung Nhược Ông, những người rõ ràng có nhận thức hạn chế nhưng lại cảm thấy tự mãn về bản thân. Người xưa có câu: “Núi cao còn có núi cao hơn, người giỏi ắt có người giỏi hơn”.

Trình độ nhận thức càng thấp càng cố chấp

Trang Tử nói: “Hạ trùng bất khả dĩ ngữ băng. Tỉnh để oa bất khả dĩ đàm thiên“. Có nghĩa: Trùng mùa hạ sao nói được băng tuyết, ếch đáy giếng sao bàn trời nổi. Đừng nói chuyện biển với ếch ngồi đáy giếng, nhận thức của nó chỉ lớn bằng đáy giếng, mà biển là điểm mù trong nhận thức của nó. Đừng nói về chuyện băng tuyết với trùng mùa hạ, vì trùng mùa hạ chưa bao giờ trải qua băng tuyết, và băng tuyết là điểm mù trong nhận thức của nó.

Những người có trình độ nhận thức thấp hơn có nhiều điểm mù nhận thức hơn. Ngược lại, họ ít có khả năng lắng nghe ý kiến ​​​​của người khác và mù quáng bám lấy nhận thức ​​​​của chính mình.

Một cư dân mạng đã chia sẻ câu chuyện như vậy: Trong một lần đi làm, một đồng nghiệp ở bộ phận kỹ thuật gọi điện cho anh nói rằng máy không hoạt động, chắc là máy bị hỏng, cần báo cáo. Anh nói với các đồng nghiệp của mình rằng việc máy không chạy không nhất thiết là do máy trục trặc và yêu cầu bên kia coi xem mã hóa của chương trình có vấn đề gì không. Sau đó, anh đã gọi cho cơ sở dữ liệu nền để xem và thấy rằng một dòng mã đã bị xóa.

Một người có trình độ nhận thức càng thấp thì càng cố chấp (ảnh minh họa Alodokter)

Sau khi tìm ra nguyên nhân, anh nhanh chóng nói với người đồng nghiệp của mình rằng đó là sự cố lập trình chứ không phải lỗi máy móc. Thật không ngờ, người đồng nghiệp hoàn toàn không nghe, gọi anh ta nửa tiếng, nhưng người đồng nghiệp này chỉ cho rằng máy hỏng.

Không tranh cãi thêm, anh gọi cho sếp của mình, người đã kiểm tra và xác nhận rằng đó là sự cố lập trình. Sự cố này cũng khiến anh hiểu rằng người đồng nghiệp kia bởi vì anh ta hoàn toàn không hiểu mã hóa máy là gì, mà chỉ hiểu sự cố máy móc nên mới cố chấp với suy nghĩ của mình.

Chúng ta thấy rằng, trình độ nhận thức của một người càng thấp thì cách nghĩ lại càng phiến diện, càng thiếu sức phán đoán và sẽ biểu hiện càng ngoan cố. Điều đáng buồn nhất là những người cứng đầu này không biết điểm hạn chế trong nhận thức của mình, họ chỉ bám lấy cách nghĩ ​​của riêng mình, dương dương tự đắc giống như ếch ngồi đáy giếng.

Kiên trì giữ chính kiến của bản thân tuy là đúng, nhưng nếu bạn không chịu lắng nghe và học hỏi, điều đó ngược lại sẽ cản trở sự tiến bộ và trưởng thành của chính bạn.
 
Phá vỡ “nhà tù tư duy” và đạt được sự phát triển bản thân

Triết gia Schopenhauer nói rằng: “Nhà tù lớn nhất trên thế giới là tâm trí con người“. Nếu một người không thể thoát ra khỏi quan niệm của chính mình thì người đó sẽ là “tù nhân” của suy nghĩ đó dù họ ở bất cứ đâu. Vì vậy, làm thế nào để phá giới hạn về nhận thức và thoát khỏi “nhà tù” của tư duy? Hãy xem xét ba điểm sau:
 
1. Học cách suy ngẫm

Nhiều người trong cuộc sống, bất cứ khi nào gặp phải vấn đề, họ thường thích phàn nàn hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh bên ngoài. Như mọi người đều biết, tự xét lại chính mình là bước đầu tiên để phát triển bản thân. Tăng Quốc Phiên lập chí muốn trở thành Thánh nhân, ông đã thông qua việc viết nhật ký để tự xét lại bản thân mỗi ngày. 

Học cách tự xét lại chính mình là bước đầu tiên để phát triển bản thân (ảnh minh họa Danviet)

Từ khi còn trẻ cho đến lúc về già, ông đều sống trong sự soi xét bản thân, không ngừng tu chỉnh hành vi và hoàn thiện những khuyết điểm trong tính cách, ví như sự nóng nảy, giả dối và khoa trương… Cuối cùng, nhờ nỗ lực không ngừng, ông đã hoàn toàn “thoát thai hoán cốt” và đạt đến cảnh giới cao nhất trong cuộc sống.

Như người ta vẫn nói, thuộc tính hướng nội sẽ phát triển hướng lên. Chỉ khi một người học cách hướng nội và từ bỏ những suy nghĩ tự cho mình là đúng, anh ta mới có thể nhận thức rõ chính mình và hoàn thiện bản thân mình tốt hơn.
 
2. Nâng cao nhận thức

Một mặt, nếu bạn muốn cải thiện nhận thức của mình, bạn phải duy trì “tâm thái chiếc cốc rỗng” và liên tục đặt lại bản thân về vị trí thấp nhất. Trong cuộc sống thực tế, có những người đã đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng họ nghĩ rằng họ có trình độ rất cao, họ kiêu ngạo tự mãn và không muốn tiến lên.

Người xưa có câu: “Mãn chiêu tổn khiêm thụ ích”, có nghĩa là khiêm nhường sẽ nhận được lợi ích, được cho thêm, tự mãn thì bị mất đi, chuốc lấy tổn hại. Chỉ khi từng thời khắc giữ được tấm lòng khiêm tốn, tích cực đón nhận những kiến thức mới mẻ, tiếp xúc với tri thức mới, lĩnh hội những điều mới, chúng ta mới có thể đề cao bản thân. 

Khi nghe chia sẻ kinh nghiệm, bạn cần biến nó thành tri thức của riêng mình để liên tục ứng dụng trong cuộc sống (ảnh minh họa Idntimes)

Mặt khác, bạn cần bồi dưỡng khả năng tư duy độc lập trong quá trình học tập. Sau khi có “đầu vào” của việc học, chúng ta cũng nên thử tìm “đầu ra” cho nó. Ví dụ, khi bạn đọc xong một cuốn sách hoặc nghe chia sẻ kinh nghiệm của người khác, bạn cần tiếp thu nó và biến nó thành tri thức của riêng mình để liên tục ứng dụng trong cuộc sống. Chỉ khi chúng ta không ngừng nâng cao tri thức, chúng ta mới có thể đột phá giới hạn của bản thân.

3. Học tập suốt đời

Có người hỏi rằng: “Tại sao lại nói rằng những sinh viên tốt nghiệp cùng một trường đại học có thể nới rộng khoảng cách rất lớn chỉ trong vài năm?” Có người cho rằng đó là do hoàn cảnh gia cảnh, và cũng có người cho rằng đó là do may mắn.

Trong số đó lại có người nói rằng: “Bởi vì tuy rằng học ở trường giống nhau, nhưng một số người đến lớp và sau giờ học, họ chơi game, xem phim truyền hình và đi mua sắm; Nhưng một số khác thì từ năm nhất đại học đã có kế hoạch trong cuộc sống của riêng họ. Chẳng hạn như học trong thư viện trong vài năm, sau đó tập trung vào thực hành vào xã hội, v.v.

Sau khi tốt nghiệp đại học, những người này cũng từng bước đi làm, nhóm đầu tiên vẫn chơi game, đi mua sắm và xem những đoạn video ngắn sau giờ làm việc. Trong khi những bạn học khác bắt đầu làm việc chăm chỉ ngay từ năm nhất, sau khi tốt nghiệp vài tháng họ đã có vốn đầu tư riêng và bắt đầu công việc kinh doanh của riêng mình….”


Những người có vẻ lợi hại này thực sự có một đặc điểm chung: Họ từng thời từng khắc đều chuẩn bị cho tương lai và họ luôn là người thực hành “học tập suốt đời”. Nhờ có tư duy cầu tiến này mà họ sẽ không bị thời đại đào thải.

Con người có hai lần tái sinh, một khi sinh ra và một khi thức tỉnh. Và sự thức tỉnh bắt đầu từ nhận thức của chính bạn. Phạm vi nhận thức của bạn xác định bạn có thể đi được bao xa.

Hy vọng rằng mọi người có thể thanh tỉnh nhận thức, phát hiện ra những khiếm khuyết của bản thân, thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của “Hiệu ứng Dunning–Kruger”, làm giàu nội hàm bản thân, nhận ra sự trưởng thành của mình và trở thành một con người luôn tràn đầy năng lượng.

Uyển Nhi / Theo: 360doc

GỬI NGƯỜI DƯỚI MỘ - ĐINH HÙNG


Gửi người dưới mộ
thơ Đinh Hùng

Trời cuối thu rồi - Em ở đâu?
Nằm bên đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! Đánh thức hồn ma dậy,
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu.

Em mộng về đâu?
Em mất về đâu?
Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu,
Đấy màu hương khói là màu mắt xưa.

Em đã về chưa?
Em sắp về chưa?
Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ,
Ta nằm rỏ lệ đọc thơ gọi hồn.

Em hãy cười lên vang cõi âm.
Khi trăng thu lạnh bước đi thầm.
Những hồn phiêu bạt bao năm trước.
Nay đã vào chung một chỗ nằm.

Cười lên em!
Khóc lên em!
Đâu trăng tình sử,
Nép áo trần duyên?
Gót sen tố nữ
Xôn xao đêm huyền.
Ta đi, lạc xứ thần tiên,
Hồn trùng dương hiện bóng thuyền U Minh.

Ta gởi bài thơ anh linh,
Hỏi người trong mộ có rùng mình?
Nắm xương khô lạnh còn ân ái?
Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình?

Hỡi hồn tuyết trinh!
Hỡi người tuyết trinh!
Mê em, ta thoát thân hình,
Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm.

Em có vui thêm?
Em có buồn thêm?
Ngồi bên cửa mộ,
Kể cho ta biết nỗi niềm.

Thần chết cười trong bộ ngực điên,
Ta nghe em thở tiếng ưu phiền.
Nỗi lòng xưa dậy tan Thanh Vắng.
Hơi đất mê người - Trăng hiện lên.

ĐINH HÙNG

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Anh Dũng phổ nhạc thành bài hát cùng tên.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đinh Hùng (3/7/1920 - 24/8/1967) người làng Phượng Dực, tỉnh Hà Đông cũ, nay là xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội. Ngoài việc ký tên thật Đinh Hùng, ông còn dùng bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết.

Nguồn: Thi Viện



4 LĂNG TẨM ĐẾ VƯƠNG ĐÁNG SỢ NHẤT TRUNG QUỐC

Đều là những ngôi mộ ngàn năm không ai dám xâm phạm, 4 lăng tẩm đế vương dưới đây sử hữu nhiều giai thoại kỳ lạ tới nỗi hậu thế phải dùng tới hai chữ “nghịch thiên” để hình dung.


Trong lịch sử phong kiến Trung Hoa, Hoàng đế được xem là những người nắm trong tay quyền lực và địa vị tối cao. Thế nhưng sự thực là dù cho có ở ngôi cửu ngũ chí tôn, họ cũng không thể đứng ngoài vòng tuần hoàn của sinh – lão – bệnh – tử.

Khác với quan niệm chết đi là “về với đất” của thường dân bách tính, các vị vua thời xưa cho rằng cái chết chỉ là sự khởi đầu cho một cuộc sống huy hoàng mới ở thế giới bên kia.

Cũng bởi vậy mà không ít bậc Thiên tử của Trung Quốc thời xưa đều đã huy động rất nhiều nhân lực và tài lực để xây dựng cho mình những nơi an nghỉ đồ sộ, bề thế.

Cho tới ngày nay, giai thoại về những câu chuyện ly kỳ xoay quanh các lăng tẩm đế vương Trung Hoa vẫn là đề tài rất được hậu thế quan tâm, chú ý.

Và trong số những ngôi mộ hoàng tộc ẩn chứa nhiều bí ẩn đó, 4 lăng mộ dưới đây được xem là nơi sở hữu nhiều điều kỳ lạ tới nỗi phải dùng tới hai chữ “nghịch thiên” để hình dung.

Vị trí thứ 4: Càn lăng của Võ Tắc Thiên

Một góc Càn lăng – nơi an táng Võ Tắc Thiên và Đường Cao Tông.

Nhìn lại suốt chiều dài của lịch sử Trung Hoa, không khó để nhận thấy hầu hết các vị vua dưới chế độ phong kiến tại đất nước này đều là nam Hoàng đế.

Thế nhưng vào thời nhà Đường, sử sách đã ghi nhận sự xuất hiện của vị Nữ đế. Đó chính là Võ Tắc Thiên – người sáng lập ra vương triều Võ Chu.

Sau khi kết thúc cuộc đời đầy thăng trầm của mình, Võ Tắc Thiên đã được hợp táng cùng chồng là Đường Cao Tông tại Càn lăng – khu lăng mộ tọa lạc tại huyện Càn, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc.

Nơi an nghỉ của đôi vợ chồng hiếm hoi đều ở ngôi đế vương này có quy mô hết sức đồ sộ với kiểu cách mô phỏng lại kiến trúc của kinh đô Trường An.

Điểm đáng nói hơn còn nằm ở chỗ, Càn lăng từng trải qua 17 lần cướp phá, trong đó lần quy mô nhất có tới 400.000 người tham gia. Nhưng dù xâm phạm nơi an nghỉ của Võ Tắc Thiên vì lý do gì, thì những kẻ này vẫn chưa bao giờ đạt được mục đích.

Nhiều giai thoại ly kỳ còn truyền lại rằng, lăng mộ này có khả năng “hô mưa gọi gió” để cản trở kẻ xâm phạm. Thậm chí ngay tới súng đạn và thuốc nổ cũng chẳng thể khiến cho cánh cửa vào địa cung có chút suy chuyển nào.

Bởi vậy trải qua nhiều thế kỷ, khu lăng mộ nói trên vẫn “thi gan cùng tuế nguyệt”. Địa cung chứa di thể của Võ Tắc Thiên cùng chồng và khối kho báu khổng lồ cũng chưa từng được mở ra.

Vị trí thứ 3: Thập Tam lăng nhà Minh

Thập Tam lăng – quần thể kiến trúc an táng 13 vị Hoàng đế nhà Minh.

Minh Thập Tam lăng là quần thể tập hợp các lăng mộ được xây dựng bởi chính các Hoàng đế thuộc triều đại nhà Minh trong lịch sử phong kiến Trung Hoa. Đây cũng là nơi an nghỉ của 13 vị vua trên tổng số 16 vị Hoàng đế thuộc vương triều này.

Vị trí tọa lạc của Thập Tam lăng ngày nay nằm tại Xương Bình, cách trung tâm Bắc Kinh khoảng 42 km về phía tây bắc. Quần thể kiến trúc nói trên cũng được đánh giá là khu lăng mộ bảo quản tốt nhất và chôn cất nhiều Hoàng đế nhất Trung Quốc.

Tương truyền rằng, quần thể lăng mười ba vua nhà Minh được xây dựng theo bố cục phong thủy hết sức chặt chẽ. Do đó nơi đây còn được tin là có thể hóa giải ma quỷ và phong tà từ phương Bắc xuống.

Không chỉ dừng lại ở đó, một trong những yếu tố khiến Thập Tam lăng lọt vào danh sách những ngôi mộ đế vương “nghịch thiên” nhất Trung Quốc chính là nhiều giai thoại tâm linh ly kỳ xoay quanh quần thể kiến trúc này. Trong số đó, nổi tiếng hơn cả phải kể tới “lời nguyền” lăng mộ của Hoàng đế Vạn Lịch.

Nơi an nghỉ của vị Hoàng đế này là một trong những ngôi mộ lớn nhất Thập Tam lăng, được khai quật vào năm 1956 do đội khảo cổ của Quách Mạt Nhược tiến hành.

Tuy nhiên không ít người tham gia cuộc khai quật ngày ấy đã liên tiếp gặp phải những chuyện xui xẻ: Vợ của Quách Mạt Nhược treo cổ tự tử chết trong nhà, 2 con trai của ông cũng mất mạng do tự sát, người chỉ huy công tác khai quật thì bất ngờ gặp tai nạn máy bay, người khởi xướng ý tưởng khai quật thì tự vẫn trong ngục…

Không chỉ dừng lại ở đó, một vài người dân địa phương cũng gặp phải những điều bất thường khi lấy gỗ quý từ quan tài của nhà vua về dùng. Nhiều người trong số họ và người thân đều phải chịu những cái chết đột ngột hoặc những tai nạn nghiêm trọng mà chẳng rõ nguyên nhân.

Hàng loạt giai thoại ly kỳ này đã khiến Thập Tam lăng nhà Minh trở thành nỗi ám ảnh của giới khảo cổ Trung Quốc.

Vị trí thứ 2: Lăng mộ Tần Thủy Hoàng

Cho tới ngày nay, lăng mộ Tần Thủy Hoàng vẫn là một bí ẩn lớn đối với hậu thế khi địa cung bên trong vẫn chưa được khai quật. (Ảnh minh họa: Nguồn Internet).

Được xây dựng ròng rã trong suốt 38 năm, lăng mộ Tần Thủy Hoàng từ lâu đã được biết tới là một trong những ngôi mộ đế vương nổi tiếng nhất Trung Quốc. Địa danh này nằm tại phía bắc núi Ly Sơn, thuộc huyện Lâm Đồng, thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây.

Mặc dù danh tiếng của lăng mộ và vị chủ nhân nằm bên trong từ sớm đã vang xa, thế nhưng sự thực là cho tới ngày nay, lăng Tần Thủy Hoàng vẫn chưa được khai quật hoàn toàn.

Có lẽ cũng bởi địa cung bên trong chưa từng được mở ra, nên nơi an nghỉ của vị vua được mệnh danh là “thiên cổ nhất đế” ấy vẫn tồn tại không ít những giai thoại rùng rợn, đáng sợ.

Nhiều người tin rằng, bên trong địa cung của lăng Tần Thủy Hoàng được bao quanh bởi một dòng sông thủy ngân khiến cho nơi đây trở nên “bất khả xâm phạm”.

Không chỉ vậy, có giai thoại còn truyền lại rằng lăng mộ này còn được thiết lập vô số những cạm bẫy nguy hiểm và có thể lấy mạng bất cứ kẻ nào cả gan quấy phá giấc ngủ của Hoàng đế.

Bên cạnh đó, những câu chuyện về tượng binh mã từng chôn người sống bên trong cùng hàng loạt đồn đoán đặt ra về kho báu khổng lồ của lăng Tần Thủy Hoàng đã khiến hậu thế càng dành nhiều sự quan tâm và chú ý đối với địa danh bí ẩn này.

Vị trí thứ nhất: Lăng mộ Hiên Viên Hoàng Đế

Mặc dù không sở hữu nhiều giai thoại ly kỳ, ám ảnh như những lăng tẩm nói trên, thế nhưng lăng của Hiên Viên Hoàng Đế cả mấy ngàn năm không ai dám xâm phạm vì 1 lý do xuất phát từ đức tin. (Ảnh: Nguồn Baidu).

Hoàng Đế (hay còn gọi là Hiên Viên Hoàng Đế) là một vị quân chủ huyền thoại, anh hùng văn hóa của nền văn minh Trung Hoa, và cũng được xem như thủy tổ của Hán tộc.

Hiên Viên Hoàng Đế cũng là người đứng đầu trong Ngũ đế của dân tộc Hoa Hạ từ thời viễn cổ. Lăng mộ của ông vì vậy cũng được tôn làm “Hoa Hạ đệ nhất lăng”.

Do được xem là một vị vua dường như chỉ tồn tại trong truyền thuyết, cho nên nơi an nghỉ của Hiên Viên Hoàng Đế thực chất là nơi thờ phụng của hậu nhân dựng nên. Lăng mộ của ông nằm tại núi Kiều Sơn (Hoàng Lăng – Thiểm Tây – Trung Quốc) được xây dựng từ thời nhà Hán.

Nơi đây còn được nhiều người ví von là “thế giới của loài cây bách” nhờ sở hữu một rừng bách bạt ngàn thuộc vào hàng lớn nhất Trung Quốc. Nhiều người cho rằng, rừng bách ở Kiều Sơn dường như mọc lên để che phủ riêng cho nơi an nghỉ của Hoàng Đế.

Có giai thoại còn truyền lại rằng, cây bách lớn nhất ở đền Hiên Viên dưới chân ngọn núi này cao tới hơn 19m, thân cây phải 8 người mới ôm xuể. Điều đáng nói hơn còn nằm ở chỗ, không ít người tin rằng cây bách lên tới mấy ngàn năm tuổi ấy vốn được trồng bởi chính tay Hoàng Đế – nhân vật dường như không chỉ tồn tại ở trong các huyền thoại.

Ngay cả khi chỉ là một địa danh để thờ phụng chứ không an táng di thể, thì lăng Hoàng Đế vẫn được xem là một nơi bất khả xâm phạm.

Từ cổ chí kim, đây đều là nơi được các vương triều cử hành đại tế. Trải qua nhiều triều đại, số lượng tài vật bên trong đã lên tới số lượng nhiều không đếm xuể.

Tuy nhiên giới mộ tặc từ xưa vốn đã không có kẻ nào dám cả gan đạo lăng Hoàng Đế. Bởi chủ nhân ngôi mộ này vốn được người Hoa xem như thủy tổ của chính họ.

Theo: Trần Quỳnh/Trí Thức Trẻ

Thursday, August 13, 2026

PHẬT GIÁO CÓ SÙNG BÁI QUỶ THẦN HAY KHÔNG?

Thần mà Phật giáo nói, thông thường chiếm vị trí trung gian giữa loài Trời và loài quỷ. Quỷ có phúc đức lớn gọi là thần. Tùy tòng đi theo các loài Trời cũng thường thường là thần. Quỷ có các loài: Đa tài quỷ, thiểu tài quỷ, quỷ đói, đa tài đại phúc quỷ.

Thần mà Phật giáo nói cũng là chúng sinh ở cõi phàm.

Rất rõ ràng, một Phật tử chính tín chỉ sùng bái Phật, Pháp, Tăng, tức là Tam Bảo, tuyệt đối không sùng bái quỷ thần. Thế nhưng, Phật giáo chính tín không phủ định sự tồn tại của quỷ thần. Bởi vì quỷ và thần thuộc 2 cõi trong 6 cõi sống của chúng sinh nằm trong vòng sinh tử luân hồi. Do đó, thần của Phật giáo không phải là Thượng Đế của tôn giáo thần quyền, quỷ mà kinh Phật nói cũng không phải là ma quỷ của tôn giáo thần quyền.

Thần mà Phật giáo nói cũng là chúng sinh ở cõi phàm. Ma của Phật giáo nói là chúng sinh ở cõi Trời thứ sáu của Dục giới. Ma của Phật giáo đúng là ma. Quỷ của Phật giáo đúng là quỷ. Ma mà sách Phật nói có bốn loại: Thiên ma, ma ngũ uẩn, ma phiền não, ma chết. Trừ thiên ma ra, còn ba loại ma kia đều phát xuất từ sinh lý và tâm lý của con người.

Thần mà Phật giáo nói, thông thường chiếm vị trí trung gian giữa loài Trời và loài quỷ. Quỷ có phúc đức lớn gọi là thần. Tùy tòng đi theo các loài Trời cũng thường thường là thần. Quỷ có các loài: Đa tài quỷ, thiểu tài quỷ, quỷ đói, đa tài đại phúc quỷ (1). Các loại quỷ này, tuy ở cõi quỷ nhưng lại được hưởng phúc đức của loài Trời.

Thông thường loài thần thiện được Phật giáo cảm hóa và trở thành thần hộ pháp. Ảnh minh họa.

Các thần được dân gian sùng bái, hơn nữa nếu là loài quỷ có phúc đức lớn. Thần thì có thiên thần, không thần (thần ở trong hư không), địa thần. Cũng có thể phân loại: Thiên thần, súc thần (thần súc vật), quỷ thần, các loại thần do dân gian sùng bái như thần rắn, thần bò, thần linh thảo mộc, thần núi, thần sông v.v…, phần lớn đều là địa thần, súc thần hay quỷ thần.

Kinh Phật thường nói tới Bát bộ quỷ thần, tức là thiên thần, long thần (thần loài rồng), thần Dạ Xoa (gọi là phi không quỷ – quỷ bay trên không), Càn thát bà (thần nhạc trời), A Tu La, Ca Lâu La (chim cánh vàng), Khẩn na la (chim có giọng hót hay), Ma Hầu La Già (con trăn thần). Trong Bát bộ quỷ thần, có thần thiện, có thần ác.

Chính vì có sự hộ trì của thiện thần, mà ác thần, ác quỷ không dám xâm phạm đến những người đã quy y Tam Bảo.

Thông thường loài thần thiện được Phật giáo cảm hóa và trở thành thần hộ pháp. Vì vậy, Phật tử chính tín không sùng bái quỷ thần, nhưng giữ thái độ kính lễ đúng mức. Một Phật tử chính tín mà sùng bái quỷ thần thì có tội về nguyên tắc. Các thiện thần đều tự động gia hộ những người quy y Tam Bảo, cho nên họ nhất định không chịu tiếp nhận sự sùng bái của quỷ thần của Phật tử đã quy y Tam Bảo. Chính vì có sự hộ trì của thiện thần, mà ác thần, ác quỷ không dám xâm phạm đến những người đã quy y Tam Bảo.

(1) Tên các loài quỷ. Tài là tiền tài.

Hòa thượng Thánh Nghiêm