Monday, June 1, 2026

VÌ SAO TẦN THỦY HOÀNG PHÁI TỪ PHÚC ĐI TÌM THUỐC TRƯỜNG SINH BẤT LÃO?

Truyền thuyết Từ Phúc vượt biển khởi nguyên từ việc Tần Thủy Hoàng cầu tìm thuốc trường sinh bất tử, sai phương sĩ Từ Phúc xuất hải cầu tiên, về sau trở thành câu chuyện ông sang tận Nhật Bản. Vậy rốt cuộc Tần Thủy Hoàng vì sao lại khát cầu thuốc trường sinh? Nguồn gốc bắt đầu từ một việc kỳ lạ.

Để có được thuốc trường sinh bất lão, Tần Thủy Hoàng đã cử nhà giả kim Từ Phúc đi tìm kiếm những vị tiên. (Nguồn ảnh: Hình minh họa vẽ tay của Winnie Wang/China View)

Một cây cỏ bất tử có thể cứu sống hàng ngàn người, Tần Thủy Hoàng đã phái Từ Phúc vượt biển sang phương Đông để tìm kiếm

Khi ấy ở Tây Vực nước Đại Uyển có rất nhiều người chết oan uổng bất ngờ, thi thể ngổn ngang trên đường. Có loài chim tha một loại cỏ phủ lên mặt người chết, tức thì họ sống lại. Quan lại tâu lên Tần Thủy Hoàng, nhà vua liền sai người đem loại cỏ ấy hỏi đạo sĩ ẩn cư là Quỷ Cốc tiên sinh.

Quỷ Cốc đáp: Đó là bất tử thảo sinh trưởng nơi ruộng ngọc ở Tổ Châu giữa Đông Hải, còn gọi là Dưỡng Thần Chi, lá tựa như cỏ bồn, một cây có thể cứu sống cả ngàn người.

Nghe vậy, Tần Thủy Hoàng lập tức lệnh cho Từ Phúc mang theo ba nghìn đồng nam, ba nghìn đồng nữ, lên thuyền vượt biển đi tìm.

Ghi chép trong Sử Ký

《Sử Ký》là bộ sách sớm nhất ghi lại chuyện Từ Phúc vượt biển. Sử gia Tư Mã Thiên chỉ dùng vài câu ngắn gọn khái quát cả cuộc đời ông, để lại cho hậu thế một ẩn đố nghìn năm chưa giải.

Trong 《Tần Thủy Hoàng bản kỷ》chép rằng, năm thứ 28 (219 TCN):

“Người đất Tề là Từ Thị dâng tấu, nói trong biển có ba thần sơn: Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu, có tiên nhân cư ngụ. Xin cho trai giới, đem đồng nam đồng nữ đi tìm. Vậy nên Tần Thủy Hoàng phái Từ Thị dẫn hàng nghìn đồng nam đồng nữ ra biển cầu tiên.”

Nhưng do cơ duyên chưa đến, chuyến đi ấy Từ Phúc không tìm được tiên sơn.

Trong văn có ghi “Từ Thị”, tức chính là Từ Phúc mà đời sau quen gọi. Ông người đất Lang Nha, nước Tề (nay là Cán Nguyên, Giang Tô), phương sĩ nổi tiếng đời Tần, học vấn uyên thâm, am tường y học, thiên văn, hàng hải; lại nhân từ giúp dân, được kính trọng nơi ven biển. Tương truyền Từ Phúc là đệ tử cuối cùng của Quỷ Cốc tử, từng học bế cốc, khí công, tu tiên, lại thông cả võ nghệ. Có thuyết nói ông xuất núi vào khoảng Tần Thủy Hoàng mới lên ngôi, Lý Tư làm tể tướng.

Từ Phúc dong buồm về phía đông để tìm kiếm hòn đảo bất tử Bồng Lai. (Nguồn ảnh: Hình minh họa vẽ tay của Winnie Wang/China View)

Lần xuất hải thứ hai

Năm thứ 37 (210 TCN), Tần Thủy Hoàng Đông tuần tới Lang Nha. Từ Phúc tâu rằng: “Thuốc tiên Bồng Lai có thể cầu được, nhưng trong biển có cá kình lớn, nên chẳng thể lấy.” Ông xin tăng phái cung thủ để đối phó cá kình. Vua thuận theo, sai bắn chết một con cá lớn. Sau đó, Từ Phúc lại dẫn “ba nghìn đồng nam, ba nghìn đồng nữ”, cùng “bách công” và cung nỏ, đem theo “ngũ cốc giống” ra khơi.

Nhưng Tần Thủy Hoàng chưa kịp chờ Từ Phúc trở về thì đã băng hà. 《Sử Ký》chỉ chép việc Từ Phúc ra biển, mà không hề ghi ông sang Nhật Bản hay hậu sự ra sao. Vậy Từ Phúc rốt cuộc đi đâu?

Từ Phúc Đông độ tìm tiên đảo Bồng Lai

Sau khi Từ Phúc vượt biển, có văn hiến tiếp tục chép.

Trong 《Hoài Nam Hành Sơn liệt truyện》 ghi: “Từ Phúc gặp bình nguyên quảng trạch, dừng lại, không về nữa.” Khi ấy chưa rõ nơi ấy ở đâu. Mãi đến thời Hậu Chu (951–960), tăng nhân Nghĩa Sở chùa Khai Nguyên (Tế Châu, Sơn Đông) soạn 《Nghĩa Sở lục thiếp》 mới lần đầu hé lộ:

“Nhật Bản quốc, cũng gọi Oa quốc, ở giữa Đông Hải. Đời Tần, Từ Phúc đem năm trăm đồng nam, năm trăm đồng nữ đến dừng ở quốc này. Người nơi đó nay dáng mạo như người Trường An… Lại về phía đông bắc hơn nghìn dặm có núi tên Phú Sĩ, cũng gọi Bồng Lai… Từ Phúc dừng ở đây, gọi là Bồng Lai, con cháu đến nay đều xưng họ Tần.”

Đây là lần đầu tiên trong cổ tịch Trung Hoa liên hệ Từ Phúc vượt biển với Nhật Bản.

Có học giả khảo chứng rằng ghi chép ấy của Nghĩa Sở vốn do nghe truyền từ cao tăng Nhật Bản là Khoan Phụ (927 tới Trung Hoa, pháp hiệu Hoằng Thuận đại sư).

Từ đó, Tống đại Âu Dương Tu trong bài 《Nhật Bản đao ca》 lại viết:

“Tiên tổ Từ Phúc lừa dân Tần, hái thuốc lâu ngày, đồng tử hóa già. Bách công ngũ chủng cùng chung cư, đến nay khí cụ đều tinh xảo.”

Lời thơ một lần nữa khẳng định thuyết Từ Phúc sang Nhật, khiến câu chuyện được xác lập.

Nhật Bản sớm nhất ghi “Từ Phúc vượt biển cầu tiên” là 《Kim Tích Vật Ngữ》 (thế kỷ 11, do vương công Nguyên Long Quốc biên soạn). Nhưng sách này chưa nói Từ Phúc đến Nhật. Mãi đến năm 1339, Nam triều đại thần Bắc Phác Thân Phòng soạn 《Thần Hoàng chính thống ký》 mới minh xác: “Năm 45 Ất Mão, Tần Thủy Hoàng đăng vị. Vua vì cầu tiên, tìm thuốc trường sinh ở Nhật Bản. Nhật Bản cầu di thư của ngũ đế tam vương, vua liền dâng cả.” Đây là lần đầu Nhật Bản chính thức thừa nhận truyền thuyết Từ Phúc.

Từ Phúc trong ký ức Nhật Bản

Tại tỉnh Tát Gia (Saga), đền Kim Lập thờ ba vị thần: Thần ngũ cốc, Thủy thần, và Từ Phúc – với Từ Phúc là chính thần. Nơi này còn lưu giữ bức “Từ Phúc độ hải duyên khởi đồ” trên lụa, là trọng điểm văn vật của thành phố Saga. Trong đó có cảnh Từ Phúc lên bờ, nên truyền rằng nơi ấy chính là chỗ ông đặt chân.

Từ Phúc về già ẩn cư núi Kim Lập, tự hiệu “Bắc Sơn chi ông”. Một đêm mộng thấy suối phun trong vắt, hôm sau quả nhiên đào được suối khoáng, nước tinh khiết giàu khoáng chất, chữa bệnh ngoài da và bỏng rất hiệu nghiệm, được gọi “Hạc Linh chi tuyền”, nay là danh thắng Nhật Bản. Ở thị trấn Chư Phú, giáp ranh Saga và Phúc Cương, còn có bia đá “Từ Phúc đăng lục địa”, bên cạnh có “Từ Phúc tẩy thủ chi tỉnh”. Ngoài ra nhiều nơi khác ở Nhật cũng có miếu thờ Từ Phúc.

Tranh khắc họa thuyền buồm của Từ Phúc. (Nguồn ảnh: Wikipedia)

Truyền thuyết Từ Phúc thành tiên ở hải ngoại

Theo 《Liệt tiên toàn truyện》 và 《Thái bình quảng ký》, thời Đường Khai Nguyên có một thư sinh mắc quái bệnh: nửa thân teo tóp đen sì, ngự y cũng không đoán ra. Nghe nói ngoài biển có thần tiên, chàng quyết đi tìm, đem theo một người hầu, xuất phát từ Đăng Châu.

Sau hơn mười ngày lênh đênh, họ tới một đảo hoang, thấy hàng trăm người đang bái lạy một vị lão ông tóc bạc ngồi trên sàng lớn. Hỏi ra mới biết đó chính là Từ Phúc.

Khi dân chúng tản đi, thư sinh đến yết kiến, thưa bệnh tình. Từ Phúc bảo: “Ngươi mắc bệnh tất tử, nhưng vẫn có thể cứu.” Ông cho một bát cơm, thư sinh ăn vài miếng mà như đã ăn mấy bát, no căng. Lại cho uống rượu trong chiếc chén nhỏ, mới nhấp đã say. Hôm sau, Từ Phúc cho vài viên hắc dược, chàng uống vào liền tả ra mấy thăng nước đen, bệnh liền khỏi. Thư sinh xin ở lại phụng sự.

Từ Phúc bảo: “Ngươi vốn có quan vị, chẳng hợp trú nơi này. Lát nữa sẽ có gió đông đưa ngươi về.” Ông lại trao một túi thuốc chữa bách bệnh, chỉ một muỗng nhỏ là khỏi. Quả nhiên thư sinh trở về Đăng Châu, dâng thuốc vào cung, Đường Huyền Tông cho bệnh nhân dùng, ai uống cũng lành.

Trong 《Thái bình quảng ký》 còn chép: Khi Thẩm Hy đất Thục đắc đạo thành tiên, Thái Thượng Lão Quân phái Từ Phúc làm sứ giả, ngồi xe bạch hổ, cùng Độ Thế quân Tư Mã Sinh cưỡi xe rồng, Thị lang Bạc Diên Chi cưỡi xe hươu trắng, xuống nhân gian tiếp Thẩm Hy. Khi ấy mọi người mới biết Từ Phúc đã đắc đạo thành tiên.

Khai Tâm / Theo: vandieuhay

Sunday, May 31, 2026

CHUYỆN MA CÓ THẬT TỪ BÁC SĨ MẮT CỦA 8 ĐỜI TỔNG THỐNG MỸ - KỲ 1

Ngay khi chuyển đến ngôi nhà cổ, các thành viên trong gia đình đều cảm nhận rõ có ai đó, hay thứ gì đó theo sát họ, như đang cố tóm lấy họ. Buổi đêm họ thường bị đánh thức bởi tiếng chân lên cầu thang, tiếng đồ gỗ bị kéo kin kít trên sàn... Đó là câu chuyện "ma" có thật từ bệnh nhân của bác sĩ danh tiếng Wilmer.

Bác sĩ nhãn khoa William Wilmer.

William Wilmer là một trong những bác sĩ mắt nổi tiếng nhất ở thủ đô Washington, Mỹ vào đầu những năm 1900. Trong số các bệnh nhân của ông có 8 vị Tổng thống Mỹ, từ William McKinley cho đến Franklin Roosevelt. Ông cũng từng chữa mắt cho nhà hàng không nổi tiếng Charles Lindberg, trùm báo chí New York Joseph Pulitzer và vô số những nhân vật danh tiếng khác. Nhưng có lẽ điều khiến ông nổi tiếng hơn cả là câu chuyện mà ông tiết lộ với tạp chí Nhãn khoa Hoa Kỳ vào năm 1921, sau này được in thành một cuốn truyện ma.

Đó là câu chuyện có thật của một bệnh nhân mà bác sĩ Wilmer đã điều trị. Khi kể lại câu chuyện này, ông chỉ nhắc tới nhân vật chính với cái tên “Mrs. H” (Bà H) để bảo vệ quyền riêng tư của người đó.

Chuyện xảy ra vào năm 1912 rất nhanh sau khi “bà H” và gia đình bắt đầu chuyển tới một ngôi nhà cổ rộng lớn chưa có người ở trong suốt 10 năm. Ngôi nhà không có điện, chỉ được thắp sáng bằng đèn đốt và sưởi ấm bằng một lò sưởi cũ kỹ đặt dưới hầm.

NGÔI NHÀ CỔ VÀ NHỮNG NGƯỜI... KHÔNG TỒN TẠI

Ngôi nhà cổ u sầu đã nhanh chóng phát tỏa ảnh hưởng kỳ lạ lên các cư dân mới của nó.

Ban đầu, bà H. nhận thấy sự yên tĩnh chế ngự hoàn toàn nơi này. Phần lớn sàn nhà được phủ một lớp thảm dày, gần như hút mọi âm thanh của những người phục vụ trong gia đình. Nhưng không được bao lâu, bà bắt đầu bị làm phiền bởi tiếng chân ầm ĩ của những người… không có mặt tại đó, hoặc ít nhất là những người đang tàng hình trước con mắt bà.

“Một buổi sáng, tôi nghe thấy tiếng bước chân trong căn phòng ngay trên đầu”, bà H. kể lại. “Tôi chạy vội lên gác, nhưng thật kinh ngạc, căn phòng trống không. Tôi đi sang phòng kế bên rồi tất cả các phòng trên tầng đó, rồi lên cả tầng trên nữa, nhưng tuyệt nhiên không có ai cả”.

Ngôi nhà cổ được xây từ thế kỷ 18. Ảnh minh họa

Quyền năng kỳ lạ đó của ngôi nhà dường như lớn dần theo thời gian. Chẳng bao lâu cả gia đình bắt đầu cảm nhận những cơn đau đầu và kiệt sức. Mỗi khi họ ngả lưng xuống giường mong nghỉ ngơi lấy lại sức lực thì những cơn đau đầu và tình trạng mệt mỏi càng nặng nề hơn. Tất cả bọn trẻ cũng đều bị ảnh hưởng. Trông chúng nhợt nhạt, thường ốm mệt, ăn gì cũng không ngon.

Không nơi nào trong ngôi nhà cho các chủ nhân mới của nó một chỗ ẩn náu khỏi những thứ vô hình đang xiết lấy họ: Khi ngồi trong phòng ăn, ông H. cảm giác có sự hiện diện vô hình của ai đó đứng ngay sau, ông xoay ghế nhìn ra sảnh để xem có ai đang lén đùa giỡn, nhưng không một bóng người. Bọn trẻ thì không còn thích thú với phòng chơi đùa của chúng trên tầng thượng của ngôi nhà. Thay vì chơi cưỡi ngựa hay các món đồ chơi khác ở phòng đó, chúng xin được chơi ngay trong phòng ngủ.

Đến tháng 12, bà H. và các con thấy khó chịu đến mức bà quyết định đưa cả nhà đi nghỉ ít ngày, ông H. ở lại nhà.

Kỳ nghỉ thật hữu ích với bà và bọn trẻ, nhưng ông H. tội nghiệp ở nhà thì khổ sở hơn bao giờ hết. Những âm thanh lạ lùng và không thể lý giải nổi liên tục quấy phá giấc ngủ đêm, khiến ông hầu như không nghỉ ngơi được phút nào.

Ảnh minh họa

“Mỗi đêm vài lần ông ấy bị đánh thức bởi tiếng chuông cửa, nhưng khi ra cả cửa trước lẫn cửa sau, thì chẳng thấy ai cả. Có đêm ông bật tỉnh khi nghe thấy tiếng xe cứu hỏa hụ còi trên phố và dừng gần nhà. Ông ấy lao đến cửa sổ nhưng nhìn ra thì đường phố vẫn hoàn toàn yên ắng, không bóng người”, bà H kể.

Đầu tháng 1 năm sau đó, bà H và các con trở về, nhưng họ lại đối diện với những phiền toái kỳ lạ trong nhà mình. Bọn trẻ thường xuyên bị lạnh dù cửa đóng và lò sưởi bật. Các triệu chứng mà chúng gánh chịu dường như chỉ giảm bớt khi bọn trẻ tới trường, rồi lại bị quấy rầy khi chúng về nhà.

Giống như chồng, bà H. cũng thường bị đánh thức giữa đêm bởi những âm thanh lạ - tiếng cửa cót két, tiếng nồi chảo quăng loảng xoảng trong bếp, tiếng bước chân nặng chịch lên cầu thang ngay sau bức tường phòng ngủ của bà, trong khi chẳng có cầu thang nào ở đó.

Những người giúp việc gia đình cũng không thoát khỏi bầu không khí ma quái của ngôi nhà. Ban ngày họ thường cảm thấy có ai đó, hay thứ gì đó theo ngay sau, như đang cố với hoặc tóm lấy họ; buổi đêm thì bị đánh thức bởi tiếng đồ sứ va đập, tiếng chân lên cầu thang, tiếng đồ gỗ bị kéo kin kít trên sàn hay tiếng sập cửa.

Xem Kỳ cuối: RỒI "THỨ ĐÓ" XUẤT HIỆN

Phan Long / Theo: Báo Tin Tức

THẨM VIÊN - LỤC DU


Thẩm viên - Lục Du

Mộng đoạn hương tiêu tứ thập niên,
Thẩm viên liễu lão bất xuy miên.
Thử thân hành tác Kê sơn thổ,
Do điếu di tung nhất huyễn nhiên.


沈園 - 陸遊 

夢斷香消四十年
沈園柳老不吹綿
此身行作稽山土
猶吊遺蹤一泫然


Vườn Thẩm
(Dịch thơ: mailang)

Liễu già, tơ chẳng buông dây,
Bốn mươi năm mộng, hương bay còn gì!
Núi Kê thân gửi có khi,
Cũng còn nhỏ lệ khóc vì dấu xưa.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lục Du 陸遊 (1125-1209) tự Vụ Quan 務観, hiệu Phóng Ông 放翁, người Sơn Âm, Việt Châu (nay thuộc Nhạn Môn đạo, tỉnh Sơn Tây), thời Nam Tống. Ông đã trải các chức quan Tri châu, Tri phủ, Quốc sử biên tu, và là một vị thi nhân ái quốc. Sống vào thời kỳ hai hai triều Tống - Kim đánh nhau, Lục Du trở thành một người rất trăn trở vì mất nước. Khi đó người Nữ Chân (vương triều Kim) đã đánh chiếm xuống phía nam, đất nước chia năm xẻ bảy, dân tình ly tán loạn lạc. Ông đã từng vào đất Nam Trịnh (Tứ Xuyên hiện nay) theo phong trào chống Kim, đã từng mặc giáp cưỡi ngựa vượt qua sông Vị cùng những toán kỵ mã yêu nước, ban đêm đột kích quân Kim nhiều lần. Ông có Kiếm nam từ chuyên tập lưu truyền đến nay.

Nhưng thời tuổi trẻ ông đã bị một bi kịch về chuyện hôn phối. Năm 20 tuổi ông kết hôn với người em cô cậu tên Đường Uyển 唐婉. Mẹ Lục Du không thích Đường Uyển và cũng không tán thành cuộc hôn nhân này, đã cưỡng ép chia cách họ. Mười năm sau hai người gặp lại nhau ở Thẩm Viên, Lục Du viết lên tường một bài từ rất bi phẫn là Thoa đầu phụng 釵頭鳳. Không lâu sau, Đường Uyển chết, Lục Du vẫn còn lưu luyến mãi, viết bài thơ tình nổi tiếng Thẩm viên 沈園 được truyền tụng đến nay.

Nguồn: Thi Viện



LÃO HÒA THƯỢNG DÙNG MỘT BÁT MÌ CHỮA LÀNH TÂM OÁN HẬN CỦA TIỂU HÒA THƯỢNG

Chiều hôm ấy, sau khi xong giờ tụng kinh, tiểu hòa thượng theo sư phụ trở về thiền phòng. Không biết vị thí chủ nào vừa mang đến ít mì chay. Sư phụ nấu hai bát, hơi nóng bốc lên nghi ngút rồi đặt lên bàn. Ngoài cửa, gió chiều lướt qua rừng trúc xào xạc, trong phòng ánh nến lay động, soi rõ hai bát mì còn nghi ngút khói.


Tiểu hòa thượng ngồi trước bát mì, nhưng mãi vẫn không ăn nổi. Một cục nghẹn trong lòng khiến cậu nuốt không trôi.

Cuối cùng, cậu đặt đũa xuống, hỏi:

“Thưa sư phụ, những người làm toàn chuyện xấu… thật sự sẽ gặp báo ứng sao?”

Sư phụ không trả lời ngay. Ông cúi đầu húp một ngụm mì. Âm thanh ấy vang lên rõ ràng trong căn phòng yên tĩnh. Nhai chậm rãi xong, ông mới ngẩng đầu, nhẹ nhàng nói:

“Con chờ báo ứng lâu quá, mì cũng nguội rồi.”

Tiểu hòa thượng sững người, cau mày:

“Nhưng… họ thật sự rất xấu! Chẳng lẽ cứ vậy mà bỏ qua sao?”

Sư phụ đặt đũa xuống, lau khóe miệng, ánh mắt bình thản nhìn cậu:

“Con nghĩ ông trời nợ con một sự công bằng, nhưng thật ra là con đang nợ chính mình một bữa ăn bình yên.”

Tiểu hòa thượng như bị đóng băng.

Ánh trăng xuyên qua cửa sổ, rơi xuống chiếc bàn nhỏ. Cậu nhìn bát mì, vài cọng rau vẫn nổi trên mặt nước, nhưng hơi nóng đã vơi đi nhiều.

Sư phụ chậm rãi nói:

“Người xưa nói: ‘Không tranh đúng sai để sống cùng thế tục’. Không phải bảo con mất đi thiện ác đúng sai, mà là đừng để đúng sai trói buộc tâm mình. Những kẻ làm điều ác đã gieo nhân rồi, quả báo đến hay không chỉ là vấn đề thời gian. Nhưng con thì sao? Con đã sống những ngày qua như thế nào?”

Tiểu hòa thượng cúi đầu nhìn bát mì của mình.

Sư phụ hỏi:

“Con biết vì sao mì phải ăn lúc còn nóng không?”

“Vì… nguội rồi sẽ không ngon nữa?” — cậu đáp dè dặt.

Sư phụ mỉm cười:

“Vì ngay lúc này nó đang nóng. Dù nước dùng có ngon đến đâu, nguội đi cũng thành hương vị khác. Đời người cũng vậy. Mỗi khoảnh khắc đều có nhiệt độ riêng của nó. Nếu con cứ chăm chăm nhìn sổ nợ của người khác, đến khi tỉnh ra, cuộc đời mình đã nguội lạnh từ lâu.”

Ông lại húp một ngụm mì, rồi nói tiếp:

“Trời đất có lưới lớn, tuy thưa mà không lọt. Con không cần phải canh giữ nhân quả thay cho trời. Cứ mãi chờ người khác ngã xuống giống như đứng canh một cái giếng khô, chưa thấy ai rơi xuống thì chính mình đã chết khát trước.”

Tim tiểu hòa thượng chấn động.

Đúng vậy. Dạo gần đây, cậu luôn nghĩ về người dưới núi từng bắt nạt mình, nghĩ vì sao kẻ đó vẫn sống tốt, vì sao ông trời chưa trừng phạt họ. Nhưng những ngày ấy, bản thân cậu sống ra sao?

Tụng kinh thì tâm không yên, ngồi thiền không tĩnh, nhìn gì cũng thấy phiền lòng. Cậu tưởng mình đang chờ công bằng, nhưng thật ra đang dùng lỗi lầm của người khác để trừng phạt chính mình.

“Nhưng con… thật sự nuốt không trôi cơn giận này…” — giọng cậu run nhẹ.

Sư phụ chỉ vào bát mì:

“Khí phải xả, nhưng không phải xả như vậy. Con nhìn xem, mì của con sắp nhão rồi. Oán hận giống như con đổ nước thiu vào bát canh, phá hỏng hương vị vốn có. Điều bị hủy hoại không phải phần của người khác, mà là phần của con.”

Giọng ông dịu lại:

“Nhân quả sẽ đến, nhưng không cần con quản. Trời đất có nhịp điệu riêng của nó, con can thiệp được sao? Kinh Kim Cang nói: ‘Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm.’ Trong lòng còn chỗ cho oán hận thì không sinh ra được tâm thanh tịnh. Con chỉ cần làm tốt việc của mình, phần còn lại hãy giao cho nhân duyên.”

Tiểu hòa thượng nhìn sư phụ. Ông đã ăn gần hết bát mì, gương mặt an nhiên.


Sư phụ nói lời cuối:

“Hãy nhớ, bát mì trước mặt con đang nóng, đáng để con ăn khi nó còn nóng. Cuộc đời con cũng vậy, đáng để tiếp tục sống cho trọn vẹn. Đừng để việc xấu của người khác làm lỡ mất hương vị cuộc đời mình.”

Tiểu hòa thượng hít sâu, cầm đũa lên, cuối cùng cũng ăn một miếng.

Mì vẫn còn ấm, nước dùng thanh ngọt. Lúc ấy cậu mới nhận ra mình đã rất lâu rồi chưa từng ăn một bữa cơm thật sự bình yên.

Ăn xong, cậu đứng dậy rửa bát. Gió đêm thổi mát hơn, mang theo hương hoa quế tràn vào sân. Sư phụ đứng dưới hiên nhìn trăng, rồi nói:

“Hãy đem sự chú tâm trở về với chính mình, đó là bài học làm người.”

Từ ngày hôm đó, tiểu hòa thượng dần hiểu ra:

Đời người nhiều khi không phải đang chờ một kết quả, mà là học cách sống cùng hiện tại. Những người từng làm tổn thương ta rồi sẽ có nhân quả của họ; còn ta, chỉ cần sống tốt từng ngày của mình.

Bởi tu hành không nằm ở người khác, mà ở việc ta có thể buông tha cho chính mình hay không, để cuộc đời một lần nữa có lại hơi ấm.

Giống như bát mì ấy, ăn khi còn nóng, mới là sự tôn trọng dành cho thức ăn, cho thời gian, và cho chính sinh mệnh.

Tú Uyên biên dịch
Theo: Vision Times

Saturday, May 30, 2026

BÍ ẨN HỆ THỐNG HẦM VÀNG HÀNG TRĂM TỈ ĐÔ CÙA VIÊN TƯỚNG NHẬT BẢN

Tướng Yamashita được giao nhiệm vụ tổ chức kế hoạch đào hầm ngầm và tìm các hang động để giấu toàn bộ số vàng bạc châu báu cướp bóc được từ các nước châu Á, tập kết ở Philippines.

Tướng phát xít Nhật Yamashita (trái) bị áp giải khỏi tòa sau khi lĩnh án treo cổ vào ngày 31/12/1945

Kho vàng của người Aztec hay Inca thì đã quá nổi tiếng rồi, nhưng còn kho vàng được cho là trị giá hàng tỉ USD của viên tướng Yamashita thì có thể nhiều người còn chưa nghe đến.

Có một thực tế rõ ràng là quân đội Nhật Bản đã từng cướp bóc rất nhiều tại các quốc gia thuộc địa ở châu Á trong những năm trước và trong Thế chiến thứ hai. Có thông tin cho rằng họ thành lập cả một đội đặc nhiệm chuyên cướp bóc.

Việc chở những hàng hóa cướp bóc vượt biển trở về Nhật Bản đòi hỏi những nỗ lực lớn, đặc biệt là trong những năm chiến tranh với quân Đồng minh. Philippines được chọn làm nơi tập kết các kho báu cướp được trước khi được chất lên tàu trong hành trình vượt biển về Nhật Bản.

Tuy nhiên, các lực lượng Mỹ đã trở thành mối đe dọa lớn khi họ bắt đầu đánh chìm một loạt tàu Nhật ngoài biển khơi. Hoàng gia Nhật đã quyết định buộc phải giấu kho báu còn lại tại Philippines, và đó là nơi viên tướng Yamashita được cử đến.

Tướng Yamashita ra hàng quân đội Mỹ tại Philippines.

Yamashita được giao nhiệm vụ tổ chức và thực hiện các kế hoạch đào hầm ngầm và tìm các hang động để giấu toàn bộ số vàng bạc châu báu. Lính Nhật và các tù binh chiến tranh cũng như nhân công bản địa được huy động đào hầm và chuyển kho báu xuống các hang động. Trong hệ thống cất giấu kho báu này có một đường hầm lớn tại thung lũng Cagayan, Philippines. Được dán nhãn đường hầm số 8, đây là một trong 175 đường hầm được đào trên khắp các hòn đảo Philippine bị quân đội Nhật chiếm đóng. Những đường hầm đó được cho là chứa những kho báu lên tới hàng trăm tỉ USD gồm vàng, châu ngọc và những pho tượng vô giá.

Đích thân Hoàng tử Takeda của Hoàng gia Nhật đã giúp cố vấn và xây dựng các đường hầm để cất giấu kho báu. Họ gọi chiến dịch này là “Hoa Lily Vàng”, theo một bài thơ của Nhật hoàng Hirohito.

Có một câu chuyện đồn đại rằng, vào một đêm đầu tháng 6/1945, khi cuộc chiến giữa Nhật với Mỹ đã đi vào giai đoạn cuối, Hoàng tử Takeda dẫn toàn bộ 175 người của ông xuống boongke trong đường hầm số 8 để ăn mừng thắng lợi mới nhất. Sau vài tiếng uống rượu và hát hò, Takeda và Yamashita lặng lẽ rời đi.

Hoàng tử Nhật Bản Takeda.

Cửa hầm sau đó được gài thuốc nổ đánh sập và bít kín. Những người bên trong, gồm cả tùy tùng và lao động nô lệ, bị bỏ lại đến chết. Takeda quay trở lại Nhật trên một chiếc tàu ngầm, còn Yamashita dẫn đội quân của mình lên phía bắc Philippines chiến đấu với quân Mỹ trước khi đầu hàng vào ngày 2/9/1945.

Có nhiều giả thuyết về những điều đã xảy ra với số vàng của Yamashita qua nhiều năm tháng.

Một giả thuyết cho rằng, cựu độc tài Philippines Ferdinand Marcos đã tìm ra kho báu và giữ nó làm của riêng. Ông ta đã tiến hành kiểm soát rất chặt chẽ hoạt động tìm kiếm và khai quật kho báu trong những chuyến đi của mình. Một trong những chuyến đi như vậy được dẫn đầu bởi Rogelio Roxas.

Năm 1971 chính Roxas tuyên bố đã phát hiện kho vàng lớn trong một hang động. Ông đã đệ đơn kiện Marcos và vợ ra tòa án với cáo buộc rằng, chỉ có Marcos biết phát hiện của ông. Roxas cho rằng mình đã bị bắt giữ, đánh đập, còn số vàng thì bị người của Marcos tịch thu. Tòa án tại bang Hawaii, nơi Roxas đệ đơn kiện, cuối cùng đã ra phán quyết ủng hộ Roxas, tuyên bố rằng có đủ bằng chứng cho thấy ông đã thực sự phát hiện số vàng bị tước đoạt và tuyên Marcos phải đền bù 6 triệu USD.

Rogelio Roxas chụp hình với một tượng Phật bằng vàng mà ông cho là tìm được trong hang động.

Các nhà nghiên cứu và sử gia khác thì cho rằng Mỹ đã được tiết lộ vị trí của hầu hết các kho báu để đổi lại việc không truy tố các thành viên Hoàng gia Nhật vì tội ác chiến tranh.

Ngoài ra còn xuất hiện câu chuyện mơ hồ về việc một đại úy trẻ của Cục Tình báo chiến lược Mỹ (OSS) là Edward Lansdale và một chuyên gia về tra tấn người Mỹ gốc Philippines đã khai thác người lái xe của tướng Yamashita và lần đến được 12 kho báu ở phía bắc Manilla. Những gì họ tìm thấy bên trong thực sự gây choáng váng. Từng hàng từng hàng những thanh vàng xếp cao hơn đầu người; hàng tấn bạch kim và những bình sứ chứa đầu châu báu, kim cương... Trong 2 năm sau đó, người Mỹ được cho là đã đưa các kho báu ra khỏi những hầm ngầm ở Philippines và bí mật gửi tại trên 170 ngân hàng trên khắp thế giới.

Căn phòng chất đầy vàng được cho là được quân đội Mỹ tìm ra tại Philippines dù chưa được kiểm chứng.

Tuy nhiên, ngay cả khi xuất hiện những bằng chứng của Roxas, câu chuyện về phát hiện của quân đội Mỹ, vẫn có nhiều nghi ngờ về sự tồn tại của kho báu Yamashita, hoặc quy mô của nó. Những người này tranh cãi rằng, nếu một số lượng vàng lớn như vậy được cất giấu, sẽ có nhiều hơn nữa những câu chuyện về việc phát hiện ra nó. Nhưng trên thực tế lại hầu như không có bằng chứng bất cứ số vàng nào được tìm thấy ngoài những tuyên bố đầy mâu thuẫn của các tay săn vàng hay những người bản địa Philippines.

Vì thế kho báu của Yamashita ngày càng mang màu sắc huyền thoại, giống như thành phố vàng đã mất El Dorado của người Inca hay Hầm tiền Đảo Sồi, địa điểm chôn vùi kho báu của thuyền trưởng Kidd.

Mặc dù vậy vẫn có nhiều tay săn kho báu dành cả đời để truy tìm kho vàng Yamashita với hy vọng chỉ cần phát hiện một phần nhỏ của kho báu đã ẩn giấu quá lâu.

Thu Hằng / Theo: Báo Tin tức

Click vào để xem trực tiếp trên YouTube.


TUỔI TRUNG NIÊN AN NHÀN, ĐẦY ĐỦ: ĐỪNG NHẪN NẠI, KHÔNG HẰN HỌC, CHỚ CHỜ ĐỢI, THÔI TẰN TIỆN

Đến tuổi trung niên, quan trọng ở 4 chữ "Đừng"


1. Đừng kìm nén khi tức giận

Người xưa nói: "Lùi một bước biển rộng trời cao, nhẫn một chút sóng yên gió lặng".

Người biết bao dung, nhẫn nhịn thường có các mối quan hệ xã hội tốt đẹp, có lối suy nghĩ toàn diện và thường dễ dàng thành công trong sự nghiệp.

Nhưng nếu xét từ góc độ dưỡng sinh, nếu chỉ luôn nhẫn nhịn không phải là chuyện tốt.

Một cư dân mạng tên Thu Trang khi đi khám đã được chẩn đoán phát hiện khối u trên vùng ngực. Ấy vậy mà đơn thuốc bác sĩ kê cho cô ấy là "Gặp phải bất cứ chuyện gì cũng không được cam chịu kìm nén mà phải bộc phát ra".

Thì ra, sau khi sinh đứa thứ hai, mẹ chồng đã đến nhà cô giúp trông trẻ nhưng vì quan niệm nuôi dạy con cái khác biệt nên Thu Trang thường xuyên bị mẹ chồng trách móc.

Bất bình mà không thể nói, kìm nén lâu ngày khiến cơ thể của cô nhanh chóng rơi vào vùng đỏ.

Y học cổ truyền cho rằng "Trạng thái u uất sẽ khiến khí lưu đình trệ, khí lưu đình trệ là căn nguyên của mọi bệnh tật."

Một cán bộ đầu ngành nọ hỏi Giáo sư Lê Mẫn rằng: "Tôi không hút thuốc, không uống rượu, tại sao vẫn bị ung thư phổi".

Giáo sư lý giải: khi bạn phải kiềm chế và nhẫn nhịn quá lâu, cảm xúc tiêu cực tích tụ mà không được giải phóng chính là nguyên nhân dẫn đến bệnh tật.

Người đến tuổi trung niên nhìn bên ngoài tuy chững chạc, vững vàng nhưng thực ra tâm hồn bên trong đã bị cuộc đời mài mòn thủng lỗ chỗ.

Lúc này, nếu không biết cách điều chỉnh bản thân hợp lý, cơ thể sẽ tuyên bố "đình công".

Khi gặp phải chuyện khiến mình bực tức, nên từ chối thì hãy từ chối, đừng vì thể diện mà nghẹn cục tức vào người.

Mỗi ngày cố gắng tham gia các hoạt động thể dục thể thao nhiều hơn, để mồ hôi cuốn đi những căng thẳng và không vui.

Vì có một tâm trạng tốt, mới có một sức khỏe tốt.


2. Đừng căm hờn khi bạn tức giận

Một triết gia đã nói: "Không phải ai đó làm bạn thấy bực bội, mà là bạn lấy cử chỉ hành động của họ làm lý do để bực bội".

Việc căm ghét người khác và tự trừng phạt bản thân vì những lỗi lầm của người khác là điều rất không khôn ngoan.

Có một người phụ nữ nọ nhất quyết kết hôn với người mình thích bất chấp sự phản đối của gia đình.

Nhưng chẳng bao lâu sau khi kết hôn, chồng cô đã bộc lộ bản tính.

Trong thời gian cô mang thai, hắn ta ra ngoài ngoại tình, về đến nhà không phải nhậu nhẹt, thì cũng kiếm chuyện cãi vã đòi ly hôn.

Sau khi sinh con, hai người ly hôn với nhau.

Nhưng, lòng căm thù đàn ông của người phụ nữ không vì thế biến biến mất, mà ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Cô ta thường xuyên mất kiểm soát cảm xúc, đi khắp nơi than phiền, mất ngủ triền miên, cuối cùng cơ thể ngày càng sa sút.

Theo nguyên lý về "phản lực" trong vật lý, khi bạn đánh ai đó, tay của bạn cũng sẽ bị lực tác động lại gây thương tổn.

Cuộc sống cũng giống vậy, bạn càng oán giận điều gì, thì càng bị giam cầm bởi chính điều ấy.

Wilde có nói: "Tôi phải tha thứ cho một số người vì bản thân mình. Vì một người không thể luôn khư khư giữ lấy một con rắn độc trong ngực mình, không thể mỗi đêm đều tỉnh dậy và tự trồng thêm cây gai vào khu vườn tâm hồn mình. "

Sự căm hận là lồng giam, sự tha thứ là chìa khóa duy nhất.

Nếu không có cách nào để tha thứ, thì cứ nói "Thôi kệ vậy" với chính mình.

Ăn miếng trả miếng, thì người chịu tổn thương cuối cùng cũng là bản thân mình.

Trong cuộc đời này, con người ta sẽ luôn gặp phải nhiều chuyện ngược xuôi, gặp người tốt, kẻ xấu.

Nếu mọi điều ấy đều khiến bạn tính toán, bạn sẽ bị mắc kẹt trong đầm lầy của hận thù, khó có thể thoát ra.

Chỉ đến tuổi trung niên ta mới nhận ra rằng sức lực và thời gian của mỗi người đều có hạn.

Hãy buông bỏ mọi muộn phiền trong quá khứ, làm những chuyện ý nghĩa và yêu thương những người xứng đáng, để có một cuộc sống hạnh phúc.


3. Đừng chờ đợi tình yêu

Trong bộ phim Hàn Quốc "I Love You", Kim Wan Shik là một người bất cần đời, chỉ có vợ mới chịu được tính xấu của anh ta. Khi vợ anh ta bị chẩn đoán mắc ung thư giai đoạn cuối, anh mới hối hận và tự trách mình bình thường đã không quan tâm vợ chu đáo.

Đợi đến khi anh ta muốn bù đắp thì ông trời đã không cho cơ hội.

Trước khi lâm chung, nhìn thấy người khác uống sữa, vợ anh cũng thèm muốn uống một ngụm, Kim Wan Shik vội vàng đi mua nhưng bác sĩ lại ngăn cản.

Anh chỉ biết an ủi vợ rằng: "Em sắp khỏe lại rồi, lúc đấy ngày nào anh cũng mua sữa cho em uống".

Nhưng đáng tiếc, vợ anh ta đã không qua khỏi.

Kim Wan Shik rơi vào cảnh tự trách bản thân sâu sắc, về sau anh ta đi giao sữa để bù đắp nuối tiếc cho vợ.

Những người thân, bạn bè yêu quý là một phần cuộc sống của chúng ta. Họ đến với một sứ mệnh, và sẽ chỉ ở bên ta trong một đoạn đường đời. Khi sứ mệnh kết thúc, duyên phận đã hết, là lúc họ sẽ rời đi.

Bạn luôn nghĩ rằng tương lai còn dài nhưng không biết rằng cuộc đời vốn vô thường.

Khi đến tuổi trung niên, người bạn quen biết ngày càng ít đi, người quyết định chia tay bạn lại càng nhiều lên.

Bạn không biết người mình yêu thương bên cạnh sẽ đột nhiên biến mất ở ngã tư nào của đường đời, cuối cùng tất cả còn sót lại sẽ chỉ là những hồi ức.

Cuộc đời ngắn ngủi, thay vì để lại nhiều điều tiếc nuối, hãy học cách trân trọng nhiều hơn.

Như là về nhà thường xuyên hơn để trò chuyện với bố mẹ, quan tâm đến những người thân xung quanh hơn và chơi với con nhiều hơn.

Cảm xúc không phải là thứ nên chờ đợi. Hãy thử yêu hết mình trong khi tình yêu vẫn còn, thì cuộc sống này chắc chắn sẽ thú vị và bớt những đau thương.


4. Đừng tiết kiệm tiền

Gia Cát Lượng từng nói: "Thanh đạm để tu thân, cần kiệm để dưỡng đức".

Tiết kiệm là một đức tính tốt, nhưng quá tiết kiệm sẽ khiến bạn tự làm khó chính mình.

Một cư dân mạng chia sẻ:

Để tiết kiệm tiền hơn, bà nội chỉ ăn thức ăn thừa mỗi ngày.

Cô cháu gái dù cố gắng thuyết phục: "Đừng ăn bà ơi, đồ có mùi chua rồi".

Nhưng bà nhất quyết không nghe, cuối cùng ăn hỏng cả bụng và bà bị đưa đến bệnh viện cấp cứu.

Tính mạng đã được cứu lại, nhưng phải chi một khoản viện phí không hề nhỏ.

Cô cháu gái chỉ vào chai nước đang truyền và nói: "Bà xem nè, chai nước truyền này đủ để bà ăn bao nhiêu bữa đây ạ?"

Bà cuối cùng cũng hiểu ra, nếu chỉ chăm chăm nhìn vào cái lợi trước mắt, nhất định sẽ phải chịu lỗ lớn, gửi tiền tiết kiệm để có lãi thực ra cũng là một loại khấu chi, sớm muộn chúng ta cũng phải trả lại.

Giống với định luật bảo toàn năng lượng của thế giới, số tiền bạn tiết kiệm được rồi cũng sẽ được chi ra dưới hình thức khác, và thứ mất đi sẽ chỉ nhiều hơn chứ không ít hơn.

Cái gì cũng vậy, vật cực tất phản.

Quá tiết kiệm vẻ như đang tiết kiệm tiền bạc nhưng thực tế thì đang hao phí sức khỏe, giáo dục và tình thân - những thứ mà không một số tiền nào có thể mua được.

Có một câu thoại kinh điển trong tiểu phẩm "Tiền không thiếu": "Bạn có biết điều đau khổ nhất của một người là gì không? Khi người đó chết đi mà chưa tiêu hết được tiền."

Nếu quá coi trọng tiền bạc, bạn rất dễ trở thành nô lệ của đồng tiền. Chỉ có xem tiền bạc như một công cụ, bạn mới có thể tận hưởng được niềm vui trong cuộc sống.

Khi đến tuổi trung niên, tiền củi gạo dầu muối lúc nào cũng phải lo nghĩ. Cảm giác nguy cơ khiến chúng ta phải tiết kiệm nhiều hơn, chúng ta luôn cảm thấy càng tiết kiệm được nhiều thì càng cảm thấy an toàn.

Nhưng chúng ta lại không biết rằng tiền trong tài khoản chỉ là những con số chồng lên nhau, và chỉ khi chi tiêu chúng mới là tiền thực sự.

Cuộc sống càng khó khăn thì càng phải sống thật tốt, trân trọng những gì đang có và yêu quý bản thân mình hơn.

Đình Trọng / Theo: Doang Nghiệp & Tiếp Thị

THƯỜNG TRÀ - LƯU VŨ TÍCH


Thường trà - Lưu Vũ Tích

Sinh phách phương tùng ưng chủy nha,
Lão lang phong ký trích tiên gia.
Kim tiêu cánh hữu tương giang nguyệt,
Chiếu xuất phi phi mãn uyển hoa.




生拍芳叢鷹嘴芽
老郎封寄謪仙家
今宵更有湘江月
照出霏霏滿碗花


Thưởng trà
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Móc câu nức tiếng danh trà. 
Lão Lang gửi biếu, Tiên gia đáp lời. 
Sông Tương trăng sáng rạng ngời. 
Lung linh soi tỏ, chén thời ngát hoa.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lưu Vũ Tích 劉禹錫 (772-842) tự Mộng Đắc 夢得, người Bành Thành (nay là huyện Đông Sơn, tỉnh Giang Tô) đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), làm giám sát ngự sử đời Đức Tông. Thời Thuận Tông cùng tham dự vào những chủ trương chính trị tiến bộ cùng Vương Thúc Vân, Liễu Tông Nguyên, sau Vương Thúc Văn bị bọn cường quyền gièm pha, ông cũng bị đổi thành Lãng Châu thứ sử. Ông làm từ hay dùng tục ngữ địa phương, Bạch Cư Dị từng gọi ông là thi hào. Tác phẩm có Lưu Vũ Tích tập.

Nguồn: Thi Viện