Tuesday, November 3, 2026

ẨM TRUNG BÁT TIÊN CA - ĐỖ PHỦ


Ẩm trung bát tiên ca

Tri Chương kỵ mã tự thừa thuyền,
Nhãn hoa lạc tỉnh thuỷ để miên.
Nhữ Dương tam đấu thuỷ triều thiên.
Đạo phùng khúc xa khẩu lưu diên.
Hận bất di phong hướng Tửu Tuyền.
Tả tướng nhật hứng phí vạn tiền,
Ẩm như trường kình hấp bách xuyên.
Hàm bôi lạc thánh xưng tị hiền.
Tông Chi tiêu sái mỹ thiếu niên,
Cử trường bạch nhãn vọng thanh thiên,
Hiệu như ngọc thụ lâm phong tiền.
Tô Tấn trường trai tú Phật tiền,
Tuý trung vãng vãng ái đào thiền.
Lý Bạch nhất đấu thi bách thiên,
Trường An thị thượng tửu gia miên.
Thiên tử hô lai bất thướng thuyền.
Tự xưng thần thị tửu trung tiên.
Trương Húc tam bôi thảo thánh truyền,
Thoát mạo lộ đỉnh vương công tiền.
Huy hào lạc chỉ như vân yên.
Tiêu Toại ngũ đẩu phương trác nhiên,
Cao đàm hùng biện kinh tứ diên.

(Năm 744)
Tại Trường An, Lý Bạch kết bạn với Hạ Tri Chương, Thôi Tông Chi, Vương Tiến, Tô Tấn, Trương Húc, Tiêu Toại, Lý Thích Chi, gọi là Tửu trung bát tiên (tám vị tiên trong rượu).


飲中八仙歌

知章騎馬似乘船,
眼花落井水底眠。
汝陽三斗始朝天,
道逢麹車口流涎。
恨不移封向酒泉,
左相日興費萬錢。
飲如長鯨吸百川,
銜杯樂聖稱避賢。
宗之瀟灑美少年,
舉觴白眼望青天。
皎如玉樹臨風前,
蘇晉長齋繡佛前。
醉中往往愛逃禪,
李白一斗詩百篇。
長安市上酒家眠,
天子呼來不上船。
自稱臣是酒中仙,
張旭三杯草聖傳。
脫帽露頂王公前,
揮毫落紙如雲煙。
焦遂五斗方卓然,
高談雄辨驚四筵。


Bài ca tám vị tiên trong uống rượu
(Dịch thơ: Anh Nguyên)

Tri Chương đi ngựa như thuyền,
Giếng khô, say rớt ngồi yên ngủ khì.
Nhữ chầu, ba đấu mới đi,
Giữa đường gặp rượu, dãi thì chẩy ra,
Tửu Tuyền, hận chẳng bổ qua.
Hứng lên, tả tướng chi ra vạn tiền,
Như kình, sông nước uống liền,
Nâng ly vui thánh, ai hiền lánh xa.
Tông Chi tuổi trẻ, tài hoa,
Chén nâng, mắt hướng trời xa mỗi ngày,
Đẹp như cây ngọc gió lay.
Ông Tô thờ Phật ăn chay tháng ngày,
Trốn thiền khi đã uống say.
Lý ngồi, một đấu, làm ngay trăm bài,
Trường An, quán rượu ngủ dài,
Thuyền, vua cho gọi, nằm hoài không lên,
Tự xưng làng rượu, là tiên.
Ông Trương ba chén, chữ, truyền thánh nhân,
Trước vương, bỏ mũ chẳng cần,
Bút vung trên giấy, mây vần, khói bay.
Tiêu, năm đấu, nói thật hay,
Cao siêu đàm đạo, mê say mọi người...


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Phủ 杜甫 (12/2/712 - 770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo Đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.

Nguồn: Thi Viện



TẠI SAO YÊN VƯƠNG CHU ĐỆ LẠI MUA 500 CON NGỖNG LỚN VỀ NUÔI TRONG VƯƠNG PHỦ TRƯỚC KHI CHIÊU BINH?

Là một thiên tài quân sự, Yên vương Chu Đệ nhận lệnh của Hoàng đế Chu Nguyên Chương chinh phạt phương bắc, lập được rất nhiều công trạng. Sau khi tiên đế băng hà, vì bị hoàng đế đương triều ép vào đường cùng, ông đã giả điên nhằm kéo dài thời gian luyện binh khí, chờ ngày giao chiến. Bởi vậy, người đời sau có được một câu chuyện thú vị về ông, trước khi dấy binh, Chu Đệ mua 500 con ngỗng lớn về nuôi ở vương phủ.

(ảnh minh họa: Cafebiz).

Bối cảnh triều đại nhà Minh

Sau cuộc nổi dậy nông dân vào năm 1368, Chu Nguyên Chương khởi nghĩa thành công. Ông xưng đế, sáng lập triều đại nhà Minh. Kể từ đây, lịch sử Trung Hoa cổ đại bước sang một chương mới. Để củng cố quyền lực, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương đưa ra các biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt đối với các đại thần. Đồng thời, ông phong vương và phân chia lãnh thổ cho các con trai cai quản. Chủ ý là, khi kinh thành loạn lạc, phiên vương từ khắp nơi có thể dẫn binh về kinh giải nguy.

Vua và các hoàng tử nhà Minh (ảnh: Static).

Minh Thái Tổ đã sớm lập trưởng tử là Chu Tiêu lên làm thái tử, chờ ngày kế vị. Nhưng không may, thái tử đã qua đời trước cả vua cha. Trải qua nhiều lần cân nhắc, Minh Thái Tổ quyết định truyền ngôi cho con trai thứ của Chu Tiêu là Chu Doãn Văn. Sau khi, Chu Nguyên Chương băng hà, Chu Doãn Văn đăng cơ, lấy hiệu là Minh Huệ Đế.

Chu Doãn Văn lên ngôi khi tuổi còn trẻ. Ông nắm giữ toàn quyền triều chính, nhưng không có uy tín trong quân đội. Nghe theo ý kiến ​​​​của các cận thần thân tín, Minh Huệ Đế đã bãi bỏ chính sách phong vương, thu lại binh quyền và quyền cai quản lãnh thổ của các vương gia.

Đầu tiên, Chu vương Chu Túc bị giáng xuống làm thường dân. Ông cùng gia đình bị đày đến Vân Nam không thể trở lại kinh thành. Một năm sau đó, Mân vương Chu Tiện bị phế bỏ tước vị, đày đến Phúc Kiến. Tương vương Chu Bách cũng buộc phải tự sát. Đó là những tín hiệu đáng ngại cho sự an nguy của Yên vương Chu Đệ – vị vương uy tín và hùng mạnh nhất nhà Minh. Bởi vậy, ông đã sớm có kế hoạch thoát khỏi sự thanh trừng của Minh Huệ Đế.

Yên vương Chu Đệ

Nói về Yên Vương, ông là con trai thứ tư của Hoàng đế Chu Nguyên Chương với Hoàng hậu Từ Hiếu Cao. Khi cai quản Bắc Bình, ông thường dành thời gian quan tâm đến đời sống của người dân nên được họ yêu mến, ủng hộ. Không chỉ đức độ, ông còn có tài thiên phú về quân sự. Chu Đệ từng dẫn quân chinh phạt phương bắc, hạ bệ Bắc Nguyên Thái Uy Nại Nhi Bộ Hoa, bắt được rất nhiều tướng lĩnh nhà Nguyên, thu được vô số cừu ngựa làm chiến lợi phẩm.

(ảnh: tourtrungquoc).

Chu Nguyên Chương từng khen: “Người khai phá sa mạc là Yên vương, trẫm không cần lo lắng về việc tiến lên phía bắc”. Kỳ thực, sau khi Chu Tiêu qua đời, ban đầu Minh Thái Tổ đã chọn Chu Đệ kế vị. Văn võ bá quan trong triều không ai phản đối. Tuy nhiên, một vị quan đứng ra khuyên Minh Thái Tổ rằng:

“Việc cháu trai của hoàng đế kế vị là chính đáng, và đó là tuân theo lễ nghĩa thông thường. Nếu Yên vương Chu Đệ được lập thái tử, thì Tần Mẫn vương và Tấn Cung vương, những người lớn hơn Yên vương sẽ làm gì? Nếu con trai của Thái tử Chu Tiêu thực sự quyết tâm trở thành người kế vị thì điều gì sẽ xảy ra? Trong tương lai, với tính cách nhân từ của Chu Doãn Văn, những vị hoàng thúc lại hiếu chiến thì chuyện gì sẽ xảy ra?” Bởi vậy, mới có chuyện, Chu Nguyên Chương không truyền ngôi cho con mà truyền cho cháu.

Vào năm 1399, Minh Huệ Đế Chu Doãn Văn cử người thân tín là Trương Bỉnh đến Bắc Bình làm quan Bố chính sứ nhằm phân chia một phần quyền lực vốn thuộc về Yên vương Chu Đệ. Đồng thời, ông cử hai tướng quân Tạ Quý và Trương Tín tới nắm giữ một phần binh quyền binh lính Bắc Bình. Lãnh thổ Bắc Bình dần bị triều đình cai quản, Chu Đệ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thu mình trong vương phủ.
 
Mở màn của ‘tĩnh nan chi biến’

Yên vương Chu Đệ giống Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương ở điểm, ông cũng kính tin Thần Phật. Yên vương theo hòa thượng Diêu Quảng Hiếu tu học. Ngoài thông thạo kinh Phật, vị hòa thượng này còn biết bói toán, thiên văn, y thuật, binh pháp, v.v. Có thể nói, ông là một một tu sĩ rất hoàn hảo. Dưới sự dẫn dắt của Diêu Quảng Hiếu, nội trong phủ, Yên vương đã cho người bí mật xây dựng một đội quân hùng mạnh. Nhưng tính về số lượng, họ không thể chống lại quân đội đông đảo của triều đình. 

Yên vương Chu Đệ tham kiến hòa thượng Diêu Quảng Hiếu (ảnh: Soundofhope).

Để Chu Doãn Văn buông lỏng cảnh giác, Chu Đệ dùng chiêu giả điên. Ông bắt đầu mặc quần áo rách rưới ra đường; quát tháo mọi người; nói năng không mạch lạc; lúc đói bụng thì xông vào tửu quán giành ăn đồ của người ta. Ông cũng thường xuyên ngủ ngoài đường. Đặc biệt Yên vương còn mua 500 con ngỗng lớn về nuôi ở một khu đất trống trong vương phủ. Những con ngỗng ngày ngày kêu inh ỏi, ai nấy đều cho rằng, Chu Đệ thực sự đã điên thật rồi.

Nhưng, dưới vỏ bọc điên điên khùng khùng, Yên vương Chu Đệ đang tập trung làm theo kế sách của hòa thượng Diêu Quảng Hiếu. Dưới khu đất bầy ngỗng sinh sống, Chu Đệ cho người xây dựng một kho vũ khí quy mô lớn. Binh lính của ông tranh thủ thời gian, ngày đêm chế tạo vũ khí, luyện tập võ nghệ. Vì tiếng kêu của hàng trăm con ngỗng đủ lớn, mọi âm thanh khác đều bị lấn át, họ không phải lo lắng về việc bị phát hiện. Bằng cách này, quân đội của Yên vương được trang bị tốt với hàng chục nghìn khí giới.

Ngoài ra, nhiều người cho rằng, việc nuôi 500 con ngỗng mất rất nhiều lương thực. Chu Đệ có thể mượn cớ nuôi ngỗng để nuôi quân và giết ngỗng lấy thịt. Những thanh niên vận chuyển thức ăn cho ngỗng đều cường tráng, họ đường đường chính chính đi vào vương phủ, việc chiêu mộ binh lính cũng thuận lợi. Đây quả là một cao kiến.

Tuy nhiên, quan khâm sai của Minh Huệ Đế đã chứng kiến được cảnh tượng này. Các quan lại theo phe hoàng đế ở Bắc Bình cũng cảm thấy, chứng điên loạn của Yên vương rất bất thường nên vội vàng báo cáo về kinh thành. Lúc này, Chu Doãn Văn không thể ngồi yên được nữa, ông chỉ thị cho Trương Bình và Tạ Quý bắt giữ Chu Đệ và toàn bộ gia quyến.

Không ngờ, Chu Đệ ra lệnh cho thuộc hạ mở cổng mời họ vào phủ. Nhưng sau khi vào thì không có ai trở ra nữa. Theo lệnh của Yên vương, quân đội được huy động. Đội quân triều đình mặc dù đông đảo, nhưng vì mất người chỉ huy nên không phải là đối thủ của Yên vương. Chín cổng thành Bắc Bình nhanh chóng bị ông chiếm giữ.

Quân đội nhà Minh (ảnh: Nghiencuulichsu).

Để có lý do thích hợp dấy binh, Chu Đệ lấy danh nghĩa “thanh quân trắc, tĩnh quốc nan” nghĩa là cứu giá quân vương khỏi sự thao túng của bọn quan lại lộng quyền để tiến quân về Nam Kinh. Trận chiến này được sử sách ghi là ‘tĩnh nan chi biến’.

Quân đội triều đình chịu sự chỉ huy của lão tướng Cảnh Bỉnh Văn, nhưng các chiến thuật của ông đều không cầm cự nổi tinh thần chiến đấu của đội quân Yên vương; cho nên, Cảnh Bỉnh Văn phải giao lại binh quyền cho Lý Cảnh Long.

Vị tướng quân này, mặc dù là con trai của một vị tướng nổi tiếng, nhưng ông ta chỉ thừa kế tước vị mà không có được kinh nghiệm chiến đấu. Lý Cảnh Long nhanh chóng bị quân đội dày dặn kinh nghiệm nơi thao trường của Yên vương đánh bại.

Chu Đệ chiến thắng nhiều trận liên tiếp. Ông dần chiếm Từ Châu, Tô Châu, Cao Hựu, Dương Châu, cuối cùng tiến thẳng đến Nam Kinh. Lúc này, trấn thủ Nam Kinh là Lý Cảnh Long vốn đã bại trận trước đó, thấy triều đình đã tàn, bèn mở cửa thành đầu hàng. Minh Huệ Đế được cho là đã phóng hỏa cung điện và tự thiêu mình trong đó; cũng có quan điểm cho rằng, ông đã trốn khỏi cung trước khi Chu Đệ kéo quân đến.

Yên vương thắng trận, lên làm hoàng đế lấy hiệu là Minh Thành Tổ, thay đổi niên hiệu thành Vĩnh Lạc. Ông cho dời đô về Bắc Bình và đổi tên thành Bắc Kinh.

Minh Thành Tổ Chu Đệ

Sau khi đăng cơ, Minh Thành Tổ nhanh chóng ổn định triều chính. Về quân sự, như đã trình bày ở trên, Chu Đệ là một thiên tài điều binh khiển tướng. Ngay cả khi đã làm hoàng đế, nhiều lần Minh Thành Tổ vẫn đích thân dẫn quân chính phạt phía bắc, mở rộng lãnh thổ. Dưới thời của Minh Thành Tổ, nhà Nguyên đã trở thành một nước chư Hầu của nhà Minh.

Minh Thành Tổ (ảnh: Wikipedia).

Về mặt chính trị, ông tiếp tục phát triển các chính sách cai trị của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Về văn hóa, ông thành lập nội các, cho người biên soạn ‘bách khoa toàn thư’ với tên gọi “Vĩnh Lạc đại điển”. Trong đó lưu trữ các tác phẩm văn học kinh điển và văn hóa truyền thống Trung Hoa. Điều này có tác động sâu sắc đến sự phát triển văn hóa – lịch sử sau này. Về đối ngoại, Minh Thành Tổ cử người đi sứ sang Tây Dương quảng bá nền văn minh Đông phương, tạo lập uy tín quốc gia; làm tiền đề cho sự phát triển toàn diện Trung Nguyên vào thời nhà Đường.

Dưới thời kỳ trị vì của Minh Thành Tổ Chu Đệ, thiên hạ thái bình, nhân dân no ấm, nên thời kỳ của ông còn được gọi là thời kỳ “Vĩnh Lạc thịnh thế” (thời kỳ thịnh vượng). Ông được tôn vinh là một trong ba vị vua kiệt xuất nhất triều đại nhà Minh và là một những vị vua kiệt xuất nhất lịch sử Trung Quốc.

Nguồn: Soundofhope (Lý Tĩnh Nhu).
An Nhiên / Theo: vandieuhay

QUÂN TỬ KHÔNG ĐẤU VỚI TIỂU NHÂN

Quân tử không đấu với tiểu nhân, ác nhân tất có ác nhân trị

Có câu: “Quân tử không đấu với tiểu nhân, ác nhân tự có ác nhân trị”. Là vì quân tử không đấu nổi tiểu nhân chăng? Bậc trí tuệ chỉ liếc mắt nhìn là hiểu ra đạo lý.


Thường nghe nói “cẩu cẩu cắn người” hoặc là “chó cắn chó”, nào có ai nói… “người cắn chó” bao giờ!

Tất nhiên, con người sao có thể xếp ngang hàng với động vật được? Đạo lý này ai ai cũng hiểu.

Tục ngữ có câu: “Quân tử không đấu với tiểu nhân, ác nhân tự có ác nhân trị”. Là vì quân tử đấu không nổi tiểu nhân chăng? Bậc trí tuệ chỉ liếc mắt nhìn là hiểu ra đạo lý.

Người quân tử trọng đạo nghĩa, được mọi người tôn sùng. Kẻ tiểu nhân trọng lợi ích cá nhân, bị mọi người khinh ghét. Là quân tử, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào thì sẽ luôn giữ vững đạo nghĩa mà làm việc, tuân theo lời dạy của Thánh nhân mà làm người.

Thế nào là quân tử, thế nào là tiểu nhân?

Trong Trinh Quán Chính Yếu giải thích rằng: “Quân tử, tiểu nhân vốn vô thường, làm điều tốt là quân tử, làm điều xấu là tiểu nhân”. Nếu hỏi ai là quân tử, thì chính là người khi gặp việc bất lợi vẫn có thể chịu thiệt thòi. Nếu hỏi ai là tiểu nhân, thì chính là người gặp sự việc thì tham luyến lợi ích.

Kẻ tiểu nhân tâm địa hẹp hòi, trong lòng thường có điều mờ ám, vĩnh viễn bất an. (Ảnh minh họa nguồn: youtube)

Chúng ta đã nghe rất nhiều đạo lý phân biệt kẻ tiểu nhân, nhưng thường khó tránh khỏi việc tranh đấu với họ. Trong cuộc sống cũng như vậy, phân biệt đúng sai thì dễ, nhưng phạt ác khen thiện lại là điều khó làm.

Khổng Tử nói: “Người làm điều thiện thì Trời lấy phúc mà bồi hoàn, kẻ làm điều bất thiện thì Trời lấy họa mà trả lại”. Trong Tăng Quảng Hiền Văn cũng viết: “Kẻ ác người sợ nhưng Trời không sợ, người hiền người khinh nhưng Trời chẳng khinh”.

Kẻ ác người sợ, Trời không sợ

Tiểu nhân cũng được sinh ra trong trời đất, sao có thể khiến họ biến mất đây? Điều ấy là không thể.

Vậy thì liều mình đấu với tiểu nhân đến cùng, hoặc dùng cái ác để ‘một mất một còn’ với họ, đó có phải là hành động sáng suốt hay không? Hiển nhiên không phải!

Đối đãi với tiểu nhân thì cách tốt nhất là: Không chấp nhặt với họ.

Tranh cãi với người không cùng cảnh giới là việc phí thời gian vô ích. (Ảnh minh họa nguồn: youtube)

Có người nói vui rằng: “Bị chó cắn cũng không thể cắn lại”. Đạo lý cũng tương tự như thế: Khi bị tiểu nhân tính kế, nếu chúng ta cũng mưu tính lại thì sao có thể phân biệt mình với tiểu nhân đây?

Tục ngữ có câu: “Quân tử không đấu với tiểu nhân, ác nhân tự có ác nhân trị”. Nếu tiểu nhân nham hiểm mưu mô, thì trời đất rộng lớn này tất yếu cũng luôn có người trừng trị họ.

Cho dù tiểu nhân có xảo quyệt đến đâu, cũng sẽ không tránh khỏi chế ước của pháp luật và sự lên án của đạo đức lương tri. Chính là nói mọi vật đều có yếu điểm, luôn tồn tại điều khắc chế với nó. Mọi việc trên thế gian vốn là do nhân quả mà tuần hoàn.

Thời cổ có hai vị cao tăng, một vị là Hoán Hàn Sơn, vị còn lại tên là Hoán Thập Đắc.

Hàn Sơn tu hành giữa người thường, thường hay gặp những lời nhục mạ và bị ác nhân đối xử thô bạo một cách vô cớ. Một ngày hòa thượng Hàn Sơn hỏi hòa thượng Thập Đắc rằng: “Thế gian có người phỉ báng ta, bắt nạt ta, làm nhục ta, cười nhạo ta, xem thường ta, khinh dễ ta, rẻ rúng ta, dối lừa ta… Làm thế nào để trị họ?”.

Thập Đắc đáp: “Chỉ cần nhẫn với họ, nhường nhịn họ, bỏ qua cho họ, tránh họ, chịu đựng họ, thành kính với họ, không truy cứu họ… qua một thời gian thì xem họ thế nào”.

Chúng ta làm bất cứ việc gì, cuối cùng thì vẫn nên tin rằng: Làm nhiều việc bất nghĩa ắt sẽ tự hại mình. Việc xấu nếu làm nhiều thì cái bất lương sớm hay muộn cũng bị mọi người thấy rõ. Đồng thời nên học cách hòa giải mọi việc, chớ để lãng phí sinh mệnh quý báu của mình mà vướng víu với tiểu nhân.

Kẻ thiện người khinh, Trời chẳng khinh

Vì sao quân tử không nên đấu với tiểu nhân?

Là vì:

Quân tử ở nơi sáng, tiểu nhân ở nơi tối.
Quân tử thuyết đạo lý, tiểu nhân nói tà lý.
Quân tử ngôn hành nhất trí, tiểu nhân bằng mặt không bằng lòng.
Quân tử nghiêm khắc với bản thân, tiểu nhân bàn mưu tính kế với người khác.
Quân tử lo nghĩ cho đại cục, tiểu nhân vì cá nhân mà bỏ qua tập thể.
Quân tử lòng dạ thoáng đãng, tiểu nhân bụng dạ hẹp hòi.
Quân tử làm việc đến nơi đến chốn, tiểu nhân làm việc trống rỗng hư không.

Người quân tử cho dù gặp cảnh khốn cùng hay tuyệt lộ thì vẫn ung dung đĩnh đạc, kiên trì với nguyên tắc làm người của mình. (Ảnh minh họa nguồn: youtube)

Tục ngữ có câu: “Ruồi không cắn được vỏ trứng”. Quân tử giữ thân đoan chính, nghĩa là làm việc chính, ngồi ngay ngắn, không làm việc xấu hổ với trời đất, hành vi tư tưởng không hổ thẹn với bản thân. Trước một bậc chính nhân quân tử như thế, tiểu nhân không có mánh khoé nào, cũng tìm không được sơ hở để thực hiện ý đồ.

Người đang làm, Trời đang nhìn

Người tốt thường phải chịu thiệt thòi nhưng đạo Trời vốn công bình, lẽ đời tự có trả có vay. Người khác thiếu nợ bạn, Trời sẽ hoàn trả cho bạn. Người khác xử tệ với bạn, Trời sẽ bồi thường cho bạn.

Tăng Tử từng nói: “Người làm điều thiện, phúc tuy chưa đến mà họa đã rời xa”. Thiện lương của mỗi người là lá bùa hộ thân cho chính mình. Từ bỏ ác tâm chính là không kích động điều bất thiện, trừ bỏ ham muốn bản thân và rời xa thị phi.

Phẩm đức của quân tử giống như mặt trời, chiếu sáng những nơi tối tăm trên thế gian, không chỉ chiếu sáng người khác mà còn sưởi ấm bản thân mình.

Khổng Tử nói: “Người quân tử yêu cầu chính là bản thân, kẻ tiểu nhân yêu cầu chính là mọi người”. (Ảnh minh họa nguồn: youtube)

Gieo nhân ác gặp ác báo, gieo nhân thiện được thiện quả. Thiện niệm trong tâm hễ khởi lên, phúc báo theo đó lần lượt đến. Phúc báo không ở đâu xa mà ở sự tu dưỡng nội tâm và hành vi của chúng ta mà thôi.

Mạn Vũ
Theo Soundofhope.com

THAY ĐỔI BẢN THÂN LÀ THẦN, THAY ĐỔI NGƯỜI KHÁC LÀ BỆNH THẦN KINH

Có câu: “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”, tính cách và thói quen của một người là thứ rất khó để thay đổi. Không thể thay đổi được người khác, phương pháp thông minh nhất chính là thay đổi chính mình.


Khi chúng ta được sinh ra, tất cả chúng ta đều giống như những trang giấy trắng. Kinh nghiệm sống tích lũy theo cùng năm tháng. Chúng ta có tính cách, dần hiểu chuyện nhân tình thế thái. Khi còn trẻ, tinh thần nhiệt huyết, luôn muốn làm hài lòng tất cả mọi người, muốn mọi người công nhận mình, cố gắng thay đổi quan điểm của người khác.

Sau nhiều trải nghiệm, chúng ta dần hiểu ra: Thay đổi bản thân là Thần, thay đổi người khác là bệnh thần kinh. Thay vì cố gắng thay đổi người khác, hãy tập trung để hiểu chính mình.

1. Tâm mỗi người khác nhau, đừng ép buộc người khác thay đổi

Người với người, nền tảng giáo dục khác nhau, kinh nghiệm và mối quan hệ bạn bè khác nhau, chắc chắn có những mức độ tư duy khác nhau. Vì vậy, cách nhìn nhận sự việc, cách giải quyết vấn đề sẽ có những chỗ bất đồng. Nếu bạn ép buộc thay đổi thì chắc chắn sẽ gây ra xung đột. Con người là khác nhau, đừng ép buộc.


Thật khó để thay đổi một con người, thật mệt mỏi khi cưỡng ép thay đổi một cá nhân.

Hãy học cách tôn trọng, cho nhau một chút không gian, nhường chỗ cho cảm xúc riêng tư, thay vì đòi hỏi quá nhiều gây ra xung đột.

Để mối quan hệ không đi vào bế tắc, tình cảm không phai nhạt, nên điều chỉnh trạng thái cảm xúc của bản thân tốt hơn, cảm thông và khoan dung hơn.

2. Bất kỳ việc gì thì cũng tìm nguyên nhân từ chính mình

Mối quan hệ giữa người với người thường xảy ra tranh chấp, xung đột. Lý do không phải là người khác, mà là chính mình luôn đặt mình lên hàng đầu, không quan tâm đến cảm xúc của người khác. Khi vấn đề phát sinh thì trốn tránh trách nhiệm, đổ hết lỗi cho người khác.

Bất kỳ việc gì thì cũng tìm nguyên nhân từ chính mình, đừng đổ lỗi cho người khác một cách mù quáng.


Chủ động thay đổi, phá vỡ bế tắc, thì sẽ không có mong muốn thay đổi người khác nữa. Khi tâm trạng của bạn thay đổi, yêu cầu đối với người khác cũng sẽ thay đổi, mâu thuẫn dù lớn đến đâu cũng có thể giải quyết dễ dàng.

3. Thay vì phàn nàn, hãy thay đổi bản thân

Người hạnh phúc thì không phàn nàn, người phàn nàn sẽ không hạnh phúc. Phàn nàn là cách vô ích nhất, nó cũng là chất độc mạnh nhất.

Người phàn nàn trong một thời gian dài, sẽ sinh ra chán nản, nội tâm u tối, mất nhiệt tình, không quan tâm đến cuộc sống. Sống cuộc sống buồn tẻ, mệt mỏi.

Trong thế giới này, nhiều tình huống rất khó để chúng ta làm khác đi, có nhiều thứ chúng ta không thể thay đổi. Thay vì phàn nàn, tốt hơn là im lặng và làm mọi việc. Thực hiện thay đổi bằng hành động để thích nghi với môi trường mới, cải thiện các kỹ năng và điều chỉnh tâm lý của bản thân.


Khi bạn thay đổi chính mình, thế giới cũng thay đổi. Bạn sẽ thấy: Niềm vui hiển hiện ở khắp mọi nơi, hạnh phúc ở ngay bên mình.

Trong cuộc sống này, thay đổi bản thân là Thần, thay đổi người khác là bệnh thần kinh.

Thay đổi người khác là khởi đầu của khổ đau, thay đổi bản thân là khởi đầu của hạnh phúc.

Thường rất khó để thay đổi người khác, thay đổi bản thân dễ dàng hơn nhiều.

Vì vậy, hãy ngừng lãng phí thời gian của bạn để cố gắng thay đổi người khác.

Làm việc của riêng bạn, không ép buộc bất cứ điều gì, làm cho mình hạnh phúc. Đó là điều tuyệt vời nhất!

Nguồn: ntdvn.
Nguyên Anh biên dịch

VÌ SAO CHỈ VỚI 30,000 NGƯỜI, DÂN TỘC SA ĐÀ (沙陀族) CÓ THỂ LẬP NÊN 4 TRIỀU ĐẠI Ở TRUNG HOA ?

Chỉ với khoảng 30.000 người, dân tộc Sa Đà đã dựng nên bốn triều đại, nhiều lần thay đổi cục diện Trung Nguyên và trở thành một trong những hiện tượng kỳ lạ nhất của thời Ngũ Đại Thập Quốc.


Vì sao chỉ với 30.000 người, dân tộc Sa Đà (沙陀族) có thể lập nên 4 triều đại ở Trung Hoa?

Đã từng có rất nhiều dân tộc du mục tung hoành trên thảo nguyên Á – Âu rồi dần biến mất trong dòng chảy lịch sử. Người Tiên Ti hòa nhập vào dân tộc Hán sau thời Tùy – Đường, người Đảng Hạng lập nên Tây Hạ rồi cũng bị xóa sổ, người Khiết Đan từng xây dựng đế quốc Liêu hùng mạnh nhưng cuối cùng cũng tan biến. Thế nhưng, có một dân tộc còn bí ẩn hơn cả. Họ chỉ có khoảng 30.000 người, nhưng lại liên tiếp dựng nên bốn vương triều ở Trung Nguyên, thống trị vùng đất đông dân nhất thế giới suốt 56 năm. Điều kỳ lạ hơn là sau khi hoàn thành sứ mệnh lịch sử ấy, dân tộc này gần như biến mất không dấu vết.

Đó chính là người Sa Đà.

Nếu chỉ nhìn vào quy mô dân số, thật khó tin một bộ tộc chưa đầy 30.000 người lại có thể nhiều lần trở thành chủ nhân của thiên hạ, giữa một Trung Quốc có tới hàng chục triệu người Hán. Thế nhưng lịch sử thời Ngũ Đại Thập Quốc đã chứng minh điều tưởng như không thể ấy là sự thật.

Khi tiến vào Trung Nguyên, dân tộc Sa Đà chỉ có khoảng 30.000 người.

Người Sa Đà vốn là một nhánh của người Đột Quyết. Ban đầu, họ sinh sống ở vùng sa mạc và thảo nguyên phía tây bắc Trung Quốc ngày nay. Chính vì cư trú tại vùng đất nhiều cát sỏi nên được gọi là "Sa Đà", nghĩa là "đồi cát". Cuộc sống du mục khiến họ từ nhỏ đã quen với cưỡi ngựa, bắn cung và chinh chiến. Mỗi người đàn ông gần như đều là một chiến binh thực thụ.

Nhưng nếu chỉ có sức chiến đấu thì chưa đủ để lập quốc. Điều khiến người Sa Đà thay đổi vận mệnh lại bắt nguồn từ những biến động lớn của khu vực Trung Á.

Vào thế kỷ VIII, cuộc chiến kéo dài giữa Thổ Phồn (Tây Tạng) và Hồi Hột liên tục lan rộng, khiến vùng đất của người Sa Đà bị chiến tranh tàn phá. Để tránh họa diệt tộc, họ buộc phải đưa cả bộ lạc di cư về phía đông, tìm nơi nương tựa dưới quyền triều Đường.

Đây được xem là bước ngoặt đầu tiên trong lịch sử dân tộc này.

May mắn cho người Sa Đà là nhà Đường lúc ấy lại có chính sách vô cùng cởi mở với các dân tộc phương Bắc. Không giống nhiều triều đại khác luôn coi người du mục là "dị tộc", các hoàng đế nhà Đường lại chủ trương đoàn kết các sắc tộc.

Bản thân hoàng thất nhà Đường cũng có quan hệ huyết thống với người Tiên Ti. Bà nội của Đường Thái Tông Lý Thế Dân là người Tiên Ti, Hoàng hậu Trưởng Tôn cũng mang dòng máu Tiên Ti. Chính vì vậy, Đường Thái Tông từng nổi tiếng với câu nói:

"Từ xưa người ta đều trọng người Hoa, khinh người Di Địch, nhưng trẫm đối xử với tất cả như nhau”.

Nhờ chính sách ấy, người Sa Đà không chỉ được phép định cư trong lãnh thổ nhà Đường mà còn được trao ruộng đất, chức tước và nhiều đặc quyền khác. Các thủ lĩnh Sa Đà lần lượt trở thành tướng lĩnh của triều đình.

Tuy nhiên, nguyên nhân quan trọng nhất giúp người Sa Đà từng bước nắm quyền lực lại nằm ở sự suy yếu của chính nhà Đường.

Dân tộc Sa Đà đã lập nên 4 triều đại tại Trung Nguyên.

Thời kỳ đầu, nhà Đường áp dụng chế độ phủ binh. Binh sĩ vừa cày ruộng vừa luyện quân, mọi lực lượng đều nằm dưới quyền triều đình. Vì thế, các tướng lĩnh rất khó xây dựng quân đội riêng.

Nhưng sau loạn An Sử, cục diện thay đổi hoàn toàn.

Để đối phó với các cuộc nổi dậy và sức ép từ các dân tộc phương Bắc, triều đình buộc phải trao quyền ngày càng lớn cho các Tiết độ sứ. Họ không chỉ nắm quân đội mà còn quản lý cả đất đai, tài chính, thuế khóa và dân cư.

Chẳng bao lâu sau, các Tiết độ sứ biến thành những "ông vua con", sở hữu quân đội riêng và gần như không còn chịu sự kiểm soát của triều đình.

Đó chính là mảnh đất màu mỡ để những võ tướng xuất thân từ người Sa Đà vươn lên.

Khác với tầng lớp quý tộc người Hán vốn coi trọng môn phiệt và huyết thống, các võ tướng Sa Đà xuất thân bình dân, không bị ràng buộc bởi tư tưởng Nho giáo. Trong suy nghĩ của họ, thiên hạ thuộc về người mạnh nhất.

Tinh thần ấy được thể hiện đúng với câu nói nổi tiếng: "Vương hầu tướng lĩnh chẳng lẽ sinh ra đã cao quý?"

Sau khi nhà Đường sụp đổ, Trung Quốc bước vào thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc đầy hỗn loạn. Các phiên trấn cát cứ liên tục tranh giành thiên hạ. Chính trong hoàn cảnh ấy, sức mạnh quân sự của người Sa Đà được phát huy tối đa.

Người đầu tiên lập nên triều đại là Lý Tồn Úc, con trai của danh tướng Lý Khắc Dụng. Năm 923, ông tiêu diệt Hậu Lương, thành lập Hậu Đường, mở đầu thời kỳ người Sa Đà thống trị Trung Nguyên.

Sau Hậu Đường, đến lượt Thạch Kính Đường, vốn cũng là người Sa Đà, liên minh với người Khiết Đan để lật đổ Hậu Đường và lập nên Hậu Tấn. Dù phải đánh đổi bằng việc cắt nhượng "Yên Vân thập lục châu", Thạch Kính Đường vẫn trở thành hoàng đế.

Sự biến mất của người Sa Đà vẫn còn là một bí ẩn.

Không lâu sau, Lưu Tri Viễn, một tướng lĩnh Sa Đà khác, lại lật đổ Hậu Tấn để lập ra Hậu Hán.

Cuối cùng, khi Hậu Hán diệt vong, Lưu Sùng rút về Thái Nguyên và thành lập Bắc Hán, chính quyền cuối cùng của người Sa Đà.

Từ năm 923 đến năm 979, bốn chính quyền này lần lượt tồn tại, giúp người Sa Đà cai trị Trung Nguyên trong suốt 56 năm.

Điều đáng chú ý là suốt khoảng thời gian ấy, dân số người Sa Đà vẫn vô cùng ít ỏi. Họ không thể thống trị bằng số lượng mà chủ yếu dựa vào việc nắm quân đội, kiểm soát các Tiết độ sứ và thu phục tầng lớp quan lại người Hán để điều hành đất nước.

Thế nhưng, chính ưu thế ấy cũng trở thành điểm yếu chí mạng.

Sau nhiều thế hệ sống tại Trung Nguyên, người Sa Đà dần kết hôn với người Hán, sử dụng tiếng Hán, tiếp nhận văn hóa Hán và từng bước đánh mất bản sắc dân tộc. Trong khi đó, triều Bắc Tống ngày càng lớn mạnh.

Năm 979, quân Tống tiêu diệt Bắc Hán, chấm dứt hoàn toàn thời kỳ các triều đại Sa Đà.

Kể từ đó, cái tên Sa Đà gần như biến mất khỏi lịch sử. Họ không bị tiêu diệt hoàn toàn, mà dần hòa nhập vào cộng đồng người Hán và các dân tộc khác, để rồi biến mất như một dân tộc độc lập.

Lịch sử Trung Hoa có rất nhiều dân tộc từng lập quốc, nhưng hiếm có dân tộc nào để lại dấu ấn đặc biệt như người Sa Đà. Chỉ với khoảng 30.000 người, họ đã dựng nên bốn triều đại, nhiều lần thay đổi cục diện Trung Nguyên và trở thành một trong những hiện tượng kỳ lạ nhất của thời Ngũ Đại Thập Quốc. Sự trỗi dậy của họ không phải nhờ dân số đông đảo, mà là kết quả của sức mạnh quân sự, khả năng nắm bắt thời cơ và đặc biệt là sự hỗn loạn kéo dài sau khi nhà Đường sụp đổ. Chính thời thế đã tạo nên những anh hùng, và cũng chính thời thế đã khiến một dân tộc từng làm chủ thiên hạ cuối cùng tan biến vào dòng chảy lịch sử.

Minh Tuấn / Theo: Dân Việt
Link tham khảo:



Monday, November 2, 2026

VĂN DẠ CHÂM - BẠCH CƯ DỊ


Văn dạ châm

Thuỳ gia tư phụ thu đảo bạch,
Nguyệt khổ phong thê châm chử bi.
Bát nguyệt cửu nguyệt chính trường dạ,
Thiên thanh vạn thanh vô liễu thì.
Ưng đáo thiên minh đầu tận bạch,
Nhất thanh thiêm đắc nhất hành ty.


聞夜砧 - 白居易

誰家思婦秋搗帛
月苦風淒砧杵悲
八月九月正長夜
千聲萬聲無了時
應到天明頭盡白
一聲添得一莖絲


Nghe tiếng chày đêm
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Nhớ chàng giặt lụa canh thâu. 
Trăng tàn gió lặng, thêm sầu chày đêm. 
Sáng trăng, đêm cũng dài thêm. 
Tiếng chày mải miết, tay mềm chưa buông. 
Sáng ra tóc bạc như sương. 
Chày buông một tiếng, sợi vương bạc đầu.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, 15 bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.

Nguồn: Thi Viện

VĂN HÓA MŨ CHÂU ÂU: NÉT THANH LỊCH VÀ LỄ NGHI TRÊN PHỐ XƯA

Từ mũ quả dưa của quý ông đến những chiếc mũ vành rộng của quý bà, phục sức trên phố châu Âu xưa còn gắn với lễ nghi, cách chào hỏi và sự tôn trọng giữa người với người.


Nếu quay ngược thời gian hơn một thế kỷ và xem những bức ảnh châu Âu thuở ấy, điều đầu tiên đập vào mắt có lẽ là khung cảnh độc đáo tạo nên bởi vô số chiếc mũ: trên phố London, nhân viên ngân hàng đội mũ quả dưa cứng cáp, vội vã bước đi; trước quán cà phê Vienna, những quý ông gặp nhau khẽ ngả mũ chào; trên đại lộ rợp cây ở Paris, mũ của các quý bà lộng lẫy và nổi bật, với vành rộng trang trí lông vũ, hoa và ruy băng. Nhìn từ xa, cả con phố tựa như một khu vườn đang chậm rãi chuyển động.

Trong các đô thị châu Âu thời ấy, ra ngoài không đội mũ gần như bị xem là ăn mặc chưa chỉnh tề. Mũ không chỉ để giữ ấm hoặc làm đẹp, mà còn trở thành một phần lễ nghi xã hội. Ngay cả người lao động bình thường cũng thường đội mũ phẳng hay mũ vải. Dù là mũ lễ sang trọng hay chiếc mũ giản dị, người ta thường qua phục sức và cử chỉ để thể hiện thân phận cùng sự giáo dưỡng; chiếc mũ là một trong những dấu hiệu dễ nhận thấy nhất.

Mỗi kiểu mũ, một dáng vẻ đời sống

Trên đường phố London hay Paris phồn hoa, kiểu mũ thường gợi ra vai trò xã hội khác nhau. Nhân viên ngân hàng và thương nhân hay đội mũ quả dưa cứng, vành ngay ngắn, đường nét đơn giản, trông nghiêm chỉnh và lịch thiệp. Công nhân và thợ thủ công thường chọn mũ phẳng hoặc mũ vải, đôi khi đội hơi lệch, vừa thuận tiện làm việc vừa tự nhiên, thoải mái.

Trong giới văn hóa ở Paris và Vienna, một số họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ lại thích mũ beret mềm hoặc mũ nỉ vành hơi rủ, mang vẻ phóng khoáng, không câu nệ.


Nếu mũ nam giới thường tượng trưng cho thân phận và nghề nghiệp, thì mũ phụ nữ thể hiện thời trang và thẩm mỹ. Một chiếc mũ thường là phần quan trọng nhất trong trang phục của quý bà. Nhiều người thậm chí chọn mũ trước rồi mới quyết định hôm ấy mặc gì.

Bởi vậy, tại Paris xuất hiện đông đảo thợ chuyên làm mũ nữ, gọi là milliner. Công việc của họ không chỉ là chế tác mũ, mà gần với công việc của nhà thiết kế thời trang. Mỗi mùa mới, tạp chí giới thiệu các kiểu mũ mới nhất, còn cửa kính bách hóa trưng bày những mẫu đang thịnh hành.

Với nhiều phụ nữ, chiếc mũ mới không chỉ có nghĩa là hợp mốt, mà còn là hòa vào đời sống đô thị và dòng chảy thời trang. Phố xá, công viên và quán cà phê vừa là nơi thư giãn, vừa là sân khấu thể hiện gu thẩm mỹ. Người ta dạo bước, trò chuyện và vô tình quan sát phục trang của nhau, tất nhiên bao gồm cả những chiếc mũ.

Chiếc trâm cài nhỏ và câu chuyện giữa phố đông

Mũ nữ thời ấy thường rất rộng nên phải dùng những chiếc trâm dài để cố định vào búi tóc. Có chiếc dài tới 20–30 cm, vừa giữ chắc mũ vừa là một phần của phục sức. Trâm thường bằng kim loại, đầu trên trang trí ngọc trai, pha lê hay những món đồ nhỏ tinh xảo.

Điều thú vị là ngoài công dụng giữ mũ, những chiếc trâm ấy đôi khi còn trở thành vật phụ nữ mang theo để tự vệ. Theo bài viết, báo chí London và Paris đầu thế kỷ XX thỉnh thoảng đưa tin về việc trâm cài mũ gây thương tích: trên xe điện hoặc đường phố đông đúc, trâm quá dài có thể vô tình đâm vào người bên cạnh. Một số thành phố thậm chí từng bàn đến việc giới hạn chiều dài trâm.

Những câu chuyện nhỏ, sinh động ấy phần nào cho thấy văn hóa đội mũ phổ biến đến đâu: ngay cả một chiếc trâm bé nhỏ cũng có thể thu hút sự chú ý của cả đô thị.


Ngả mũ để thể hiện sự tôn trọng

Văn hóa mũ gắn sâu vào phép ứng xử thường nhật. Một động tác bỏ mũ đơn giản có thể biểu đạt sự tôn kính, lịch sự, thậm chí lời xin lỗi.

Khi các quý ông tình cờ gặp nhau trên phố, nếu chỉ quen sơ, họ thường khẽ nâng vành mũ và gật đầu. Gặp người quen hoặc một phụ nữ, họ thường bỏ hẳn mũ, kết hợp hơi cúi đầu để chào cho đúng phép.

Khi bước vào quán cà phê hay nhà hát, bỏ mũ là quy tắc được ngầm hiểu. Theo tác giả, điều đó vừa thể hiện phép lịch sự khi chuyển từ ngoài trời vào trong nhà, vừa là sự tôn trọng diễn viên, đồng thời tránh để vành mũ rộng che tầm nhìn của khán giả ngồi sau.

Nâng vành mũ, bỏ mũ, đội lại: những động tác nhỏ lặp đi lặp lại trên đường phố đã tạo nên một khung cảnh ứng xử thanh lịch của xã hội phương Tây.

Một chiếc mũ nhỏ phản chiếu diện mạo đời sống đô thị châu Âu hơn trăm năm trước. Thời đại thay đổi, mũ không còn là vật bắt buộc mỗi khi ra ngoài. Nhưng lễ nghi, sự văn minh và lòng tôn trọng người khác cùng trật tự xã hội chứa đựng trong đó không nên vì thế biến mất.

Sự thanh lịch và đúng mực ấy vẫn là một gợi ý đẹp cho cách con người chung sống hòa thuận, tôn trọng nhau trong xã hội hiện đại, đáng được các thế hệ sau tiếp nối.

Cao Lị – Sound of Hope
Theo: ĐKN