Friday, September 11, 2026

CÓ MỘT LOẠI TỔN THƯƠNG GỌI LÀ LÃNH ĐẠM

Điều đáng sợ nhất khi hai người ở bên nhau không phải là cãi nhau không hồi kết. Điều thực sự đáng sợ chính là sự lãnh đạm, có mà như không, ngày ngày bên nhau nhưng lại xem nhau như không tồn tại.


Thực tế, còn cãi nghĩa là còn quan tâm để ý, lãnh đạm chính là dấu chấm hết của tình cảm.

Nếu như có một ai đó nổi cáu với bạn, điều đó có nghĩa là bạn còn quan trọng với họ. Một ai đó suốt ngày lải nhải bên tai bạn, điều đó có nghĩa họ đang quan tâm bạn. Một người chủ động làm phiền bạn chính là vì trong lòng họ có bạn. Nếu như một ngày, họ thực sự không còn nổi cáu, không còn lải nhải bên tai, không còn tức giận, yên tĩnh đến lạ thường, bạn làm gì cũng mặc kệ… Khi ấy, bạn chẳng còn là gì trong họ, yêu thương đã chết, ấm áp chẳng còn, điều còn lại chỉ là khoảng không trống vắng.

Người thực sự để ý bạn là người có tình cảm với bạn. Bạn làm gì, nói gì, nhất cử nhất động của bạn đều có thể khiến họ chú ý. Có những lúc bạn làm cho họ lo lắng, phẫn nộ, oán hờn, tất cả điều này đều chỉ nói lên rằng: trong lòng họ, bạn vô cùng quan trọng.


Đợi khi người ấy trầm tư yên lặng, lãnh đạm thờ ơ, vậy cũng có nghĩa là khi ấy trong lòng họ, bạn chẳng còn là gì nữa cả.

Có một loại thất vọng gọi là nhìn không thấy, có một loại tổn thương bạn không biết, cãi nhau lớn cỡ nào cũng không sợ, dùng lời cay đắng cỡ nào cũng không sao. Đừng để người quan tâm bạn trở thành lãnh đạm, yên lặng là vỏ ngoài của tuyệt vọng. Đừng để người yêu thương bạn trở lên tổn thương băng giá, hai người gần nhau nhưng khoảng cách quá dài…

Theo cmoney.tw
Tác giả: Ken
Biên dịch: Minh Vũ

NĂM THỜI KHẮC QUAN TRỌNG GIÚP TA NHẬN BIẾT AI NGƯỜI QUÂN TỬ, AI KẺ TIỂU NHÂN?

Từ xưa đến nay, chúng ta đều được khuyên rằng, nên tránh kết giao với kẻ tiểu nhân. Nhưng giữa đủ loại người trên thế gian, làm cách nào để phân biệt được? Thực ra, muốn biết một người là quân tử hay tiểu nhân, chỉ cần nhìn vào tâm thái của họ trong 5 thời khắc quan trọng này.


1. Quan sát phẩm hạnh khi đứng giữa lợi ích

Người xưa thường nói, muốn nhìn rõ phẩm hạnh đạo đức của một người, cứ nhìn vào thái độ của họ trong những khoảnh khắc liên quan đến lợi ích.

Người quân tử có thể tạo ra tiền tài, nhưng để có tiền tài thì chỉ làm những việc đạo nghĩa, không thể vì không có tiền mà vượt quá ranh giới làm người.

Nhưng với kẻ tiểu nhân, đối mặt với khoảnh khắc cám dỗ về lợi ích vô cùng lớn, khi nhìn thấy tiền họ liền sáng mắt, sẽ không tiếc việc bán đứng bạn bè hay người thân, thậm chí là kéo người thân thiết nhất của mình xuống nước. Thực tế họ là những kẻ không biết xấu hổ.

Nhìn rõ một người, là phải nhìn vào thái độ của người đó với tiền bạc, thái độ với lợi ích, liệu họ có vượt qua được ranh giới và lương tâm làm người của mình hay không.

2. Quan sát thái độ trong thời khắc đói và mệt

Người xưa thường nói, muốn biết một người tinh thần và thể lực thế nào, hãy xem trạng thái của họ lúc sức tàn lực kiệt, đói khổ và vất vả.

Một người lúc sức lực dồi dào, mạnh như rồng như hổ thì ý chí sự nghiệp cũng mạnh mẽ, tinh thần đầy đủ, tràn ngập ý chí phấn đấu, cho dù làm gì cũng đều tràn đầy sự tin tưởng. Do đó, khi họ mệt mỏi, thì nghỉ ngơi một chút cũng là hợp lý và cần thiết.

Nhưng nếu vì quá mệt mà đánh mất đi sự lạc quan, mặc kệ không làm nữa, không còn sự kiên trì và nghị lực nữa, thì đó không phải là điều một người quân tử nên làm, cũng không phải là điều người thành công nên làm.


3. Quan sát sự độ lượng trong thời khắc vui vẻ và bực bội

Người xưa cũng nói rằng, để quan sát sức chịu đựng và sự độ lượng của một người, thì phải xem biểu hiện của họ trong lúc vui vẻ và bực bội.

Với tiểu nhân, khi họ vui vẻ thì dễ dàng trở nên hí hửng đắc ý, cao ngạo tự mãn, xem thường người khác.

Còn khi bực bội, họ dễ dàng bực tức phiền não, nhìn thấy ai đang làm gì cũng không vừa mắt, trút mọi bực bội lên người yếu thế hơn, thậm chí còn trút giận lên vợ và con cái. Đây chính là những người không có tiền đồ.

Nhưng nội tâm của một người quân tử thì khác, họ thường bình thản không chút lo lắng, đối với mọi xáo trộn trong cuộc đời đều phân định rạch ròi, thấu suốt suy xét và đưa ra quyết định.

4. Quan sát sự tu dưỡng của một người trong thời khắc phồn hoa

Sự tu dưỡng của một người còn được phản ánh vào lúc họ đối mặt với phồn hoa đô hội, khi đó hãy quan sát xem họ đối nhân xử thế như thế nào?

Sự mê hoặc trên thế giới này là rất nhiều, dù là bất cứ ai, đều sẽ có nhược điểm của riêng mình, một khi bị người khác lợi dụng, thì rất dễ bị lôi xuống nước.

Tiểu nhân thường đắm chìm trong sự hoan lạc nhất thời, hôm nay có rượu thì hôm nay say, trước giờ chưa từng nghĩ về tương lai của bản thân.


Nhưng người quân tử lại có thể kháng cự được sự mê hoặc, trong lòng họ có lý tưởng, trong mắt họ có cốt cách, sẽ không dễ để bản thân đắm chìm trong những thú vui dung tục ấy. Họ yêu thích và làm chủ cuộc đời và những thứ vây quanh mình.

5. Quan sát sự bình tĩnh vào thời khắc kinh hãi

Để quan sát sự bình tĩnh của một người, thì hãy xem biểu hiện của họ khi đối mặt với những chuyện kinh hãi ngoài ý muốn.

Khi xảy ra chuyện ngoài ý muốn, biểu hiện nội tâm của con người là thứ chân thật nhất. Nếu quá bối rối có nghĩa là trong lòng họ không có chủ kiến, tương lai khi làm việc lớn, khó mà bảo đảm người đó không bỏ rơi bạn.

Người giữ được sự bình tĩnh là khi “Thái Sơn có sập, cũng không đổi sắc”, là người có chủ kiến, có mưu lược, có đủ tốc độ để phản ứng, suy nghĩ vì đại cục, đó mới là người thật sự làm nên chuyện lớn.

Chúc Di / Theo: Tinh Hoa

Thursday, September 10, 2026

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT TRƯỚC KHI ĂN MÓN CÁ NÓC CHẾT NGƯỜI

Chán ngán những món ăn thông thường và muốn một bữa ăn thách thức ư? Cá nóc có thể là món thích hợp cho bạn. Nhưng cần cảnh báo: Nó có thể cắn lại bạn!

Cá nóc là loài cá nổi tiếng vì khả năng giết người, nếu nó không được chế biến đúng cách. Vậy, hãy tìm ra cách ăn bữa ăn cá nóc chết người này như thế nào, mà không bị chết, theo Lonely Planet’s Book Of Everything.


Cá nóc

– Cá nóc (the Fugu – theo hai chữ Hoa có nghĩa là ‘sông’ và ‘con lợn’, còn được gọi là pufferfish, blowfish hay globefish, bỡi vì tự nó có thể phù ra, để làm nó có dáng vẻ to hơn đối với các kẻ thù dưới biển.

– Tuy nhiên con cá này cũng hiếm khi cần phải thổi hơi cho to thêm, bỡi vì nó đã có một chất độc có thể giết người – một cơ chế phòng vệ tự nhiên nữa để xua đuổi những quái thú ăn thịt.

– Chất độc, tetrodotoxin, được phát hiện ở da, xương, buồng trứng, ruột và đặc biệt là gan.


Thực phẩm

– Cá nóc từ lâu đã là một món đặc sản ở Nhật Bản, và hiện nay có khoảng 3.800 nhà hàng fugu ở nước này.

– Sự chế biến fugu được quản lý chặt chẽ theo luật, các đầu bếp phải trải qua một khóa huấn luyện công phu trong nhiều năm để được chứng nhận cho phép chế biến cá phục vụ con người. Vào cuối khóa huấn luyện, có một bài thi trong đó người đầu bếp tự chế biến món ăn cho mình – và ăn nó.


– Ở các nhà hàng, fugu thường được ăn sống, trong món sashimi, cắt thành những lát mỏng. Ý kiến thường lẫn lộn về mùi vị, một số nói nó giống như thịt gà, nhưng nó cơ cấu thịt tinh tế và nhiều gelatine.

– Nếu bạn muốn tự đặt hàng, chắc chắn bạn phải xem giấy chứng nhận của đầu bếp trước.


Chất độc

– Nếu cá được chế biến đúng cách, thịt cá có thể được ăn an toàn. Thậm chí có thể ăn các bộ phận của các cơ quan nôi tạng nếu chúng được rửa sạch sẽ. tuy nhiên, ở Nhật Bản, đa số các bộ phận có thể gây chết người, như gan, sẽ không được bán, và toàn bộ con cá bị cấm ở Âu Châu.

– Một số người thích ăn cá với một số ít chất độc còn lại trong đó. Họ cảm giác một ít vết chích ở môi, và hiệu ứng này hấp dẫn người ta. Nhưng đó là một cách nguy hiểm, vì nếu có quá nhiều chất độc, người ăn sẽ gặp phải một điều gì đó tệ hại hơn rất nhiều.

– Tetrodotoxin không băng qua vách não, vì thế nạn nhân vẫn còn tỉnh táo trong khi hệ thống thần kinh trung ương suy giảm chức năng, đầu tiên tạo ra chóng mặt và lời nói khó khăn, sau đó tê liệt cơ. Điều này có thể dẫn tới ngạt thở, và có thể gây chết (không có thuốc chống chất độc cá nóc)


Và …

– Bằng cách hạn chế ăn cá này, một số công ty thực phẩm đang sản xuất một loại cá nóc không có chất độc ở các ao nuôi.

– Cũng như các nhà hàng ở Nhật Bản, có những nước khác mà bạn có thể ăn món cá nóc, gồm cả Mỹ và Nam Triều Tiên (Cá được phát hiện hầu hết các nơi trên thế giới). Sự hồi hộp khi ăn một món gì đó có thể giết chết bạn rõ ràng là có tính gây nghiện.


– Nếu bạn muốn có một món quà lưu niệm Nhật Bản hơi rùng rợn một chút, đèn lồng làm từ da sạch của cá nóc. Bạn cũng có thể mua đồ chơi làm từ da cá nóc và ví không thấm nước.

Theo: Biển và Người


Wednesday, September 9, 2026

ĐÂY LÀ SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGƯỜI CÓ GIÁO DƯỠNG VỚI NGƯỜI GIÀU SANG MÀ KHÔNG CÓ TƯ CHẤT

Cùng một món ăn, cùng một tình huống, nhưng mỗi người khác nhau lại có cách hành xử khác nhau, kết quả nhận được cũng hoàn toàn cách biệt. Điều đó cũng phản ánh như thế nào là một người có giáo dưỡng?


Bữa ăn ngon miệng với ‘món bánh phở’

Hồi Thái Khang Vĩnh còn bé, có một lần, mẹ dẫn cậu đi đến một gia đình giàu có chơi. Đến bữa ăn cơm, bà chủ nhà lấy những món ăn cao lương mỹ vị có trong nhà như bào ngư vi cá mang ra khoản đãi mọi người. Lúc ấy, Thái Khang Vĩnh đang còn nhỏ, lần đầu tiên được ăn món vi cá cho nên rất ngạc nhiên hỏi mẹ: “Đây là món gì vậy mẹ, ăn thật ngon?”.

Bà chủ nhà nghe vậy cười cười trả lời: “Đây là bánh phở”, nói rồi bà còn tự lấy thêm một chén nữa cho Thái Khang Vĩnh và nói: “Ăn ngon như vậy thì ăn nhiều thêm chút nhé!”.

Sau này, khi Thái Khang Vĩnh nổi tiếng, được rất nhiều người mời dùng cơm. Ông phát hiện, mỗi bữa cơm được mời mà có dùng nguyên liệu quý hiếm nấu ăn, thì chủ nhân bữa cơm đó thường giới thiệu cặn kẽ với ông. Ví như: “Đây là thịt bò Kobe, loại bò này mỗi ngày đều được chăm sóc đặc biệt, được người massage, được nghe âm nhạc, thật hiếm có, mỗi cân phải tốn mấy ngàn đô ấy”.

Cuối cùng ông nhận thấy rằng: “Sự khác biệt giữa người có tiền mà có giáo dưỡng với người giàu sang mà không có tư chất chính là: Người có giáo dưỡng lấy đồ ngon ra chiêu đãi người, là phát từ nội tâm mong muốn khách ăn được ngon miệng, muốn khách được cao hứng, vui vẻ. Còn người không có giáo dưỡng, họ chỉ muốn người khác nhận nhân tình của họ mà thôi, không thực lòng đãi người”.

Có giáo dưỡng hay không, chính là nhìn xem họ có để ý cảm nhận của người khác hay không, có suy nghĩ thay người khác hay không.

‘Tên của tôi không quan trọng’ – Sự khác biệt giữa 2 vị giáo sư

Nhớ có một lần nghe thính giảng, người đến nghe giảng không nhiều lắm, đến cuối buổi là phần hỏi đáp. Có một sinh viên đặt xong câu hỏi, vị giảng viên hỏi sinh viên đó tên là gì. Sinh viên này giới thiệu tên của mình nhưng vị giảng viên kia nghe không rõ nên hỏi lại thêm lần nữa. Sinh viên kia liền nói: “Không sao, sẽ không mấy ai để ý đâu, tên của tôi không quan trọng”. Vị giảng viên kia chỉ cười gượng một cái, cũng không hề hỏi lại, mà tiếp tục trả lời các câu hỏi. Buổi thính giảng kết thúc với không mấy ấn tượng.

Lại một vị giáo sư khác của đại học Oxford đến đại học Bắc Đại thính giảng, cũng đến phần hỏi đáp cuối buổi. Một sinh viên nêu câu hỏi xong, giáo sư hỏi sinh viên tên gọi là gì, sinh viên nói lên tên của mình nhưng vị giáo sư kia không nghe rõ, nên hỏi lại lần nữa. Sinh viên bèn nói: “Không sao, tên tôi không quan trọng, sẽ không ai chú ý đâu”.

Vị giáo sư nghiêm túc nhìn người sinh viên nọ rồi nói: “Nhưng tôi để ý, với tôi nó rất quan trọng”.

Khoảnh khắc vị giáo sư nói xong câu đó, dưới hội trường đột nhiên nổi lên từng đợt vỗ tay vang dội như sấm, tất cả mọi người đều nhìn vị giáo sư bằng ánh mắt mến phục. Sau đó người sinh viên kia từng chữ từng chữ đánh vần tên của mình một cách rõ ràng cho giáo sư nghe. Vị giáo sư trả lời câu hỏi xong lại gọi đúng tên người sinh viên kia làm cho anh vô cùng cảm động.

Nguồn: Pinterest

Tình huống xảy ra là giống nhau, nhưng mỗi người lại có cách xử sự khác nhau, dẫn đến hiệu quả cũng khác nhau.

Người biết tôn trọng người khác, sẽ biết suy nghĩ vì người khác, hơn nữa hành xử cũng hết sức nhân văn.

Như thế cũng hiểu vì sao khóa giảng của vị giảng viên thứ nhất không mấy người đến nghe, và cũng có thể hiểu được nguyên nhân vị giáo sư kia trở thành giáo sư của đại học Oxford.

Từ nhỏ mẹ có ảnh hưởng tới tôi rất sâu sắc

Tôi còn nhớ rõ một lần sắp ăn cơm, có một người ăn xin đi vào nhà chúng tôi. Mẹ vào nhà lấy một ít tiền ra cho, nhưng người ăn xin lại không cần tiền, mà mắt cứ nhìn lên bàn cơm của chúng tôi rồi nuốt nước miếng. Lúc này mẹ mới hiểu ra rồi bảo người ăn xin ngồi xuống ghế, ý bảo người này cùng ngồi ăn chung với chúng tôi. Nhưng người ăn xin không chịu ngồi bởi vì e sợ áo quần bẩn thỉu của mình sẽ dây bẩn ghế của nhà chúng tôi. Mẹ lại an ủi người ấy rằng không sao cả, ghế có bẩn thì lau đi là được. Nhưng người ăn xin vẫn khăng khăng không chịu ngồi, không còn cách nào khác, mẹ đành phải cho cơm và thức ăn vào một cái tô lớn rồi đưa cho người ăn xin, người ấy nhận lấy tô cơm, ngồi xổm ở một góc hiên rồi ăn nuốt ngấu nghiến.

Mẹ nhìn vậy không nỡ nên mang một cái ghế nhỏ đến, lại còn lấy một tờ giấy lót lên trên rồi bảo người ăn xin ngồi ghế. Người ăn xin nhận lấy ghế, lúc nhận lấy ghế, tôi rõ ràng nhìn thấy hai hàng nước mắt từ trên gương mặt bẩn thỉu của người ấy thi nhau chảy xuống. Người ăn xin vừa ăn vừa khóc, nước mắt đều rơi xuống trong bát cơm. Người ăn xin nói mình là người ở Hà Nam, từ Hà Nam đến Hồ Nam đã đi hơn nửa năm. Thường ngày đi nhà người khác xin ăn đều bị người ta xua đuổi, càng đừng nói đến được mời ăn cơm và lại còn được tôn trọng như vậy, là chưa từng được gặp qua. Điều này làm cho ông chợt nhớ đến nhà mình, cho nên nhất thời không nhịn được, mới khóc lên như thế.

Thừa dịp lúc người ăn xin ăn cơm, mẹ tôi cầm số tiền lúc nãy lén bỏ vào trong túi của ông ấy. Trước khi rời đi, người ăn xin tặng cho tôi một cái trống lắc còn rất mới. Cho đến nay tôi vẫn còn không hiểu vì sao người ăn xin lại luôn mang cái trống lắc đó bên người. Cái trống lắc ấy đã làm bạn cùng tôi suốt cả thời ấu thơ.

Bởi vì mẹ biết tôn trọng người khác, cho nên luôn đặt mình ở vị trí của người khác mà suy nghĩ. Bởi vậy mẹ đều được mọi người hàng xóm láng giềng xung quanh tôn kính, nếu mọi người có mâu thuẫn với nhau cũng tới nhờ mẹ tôi phân giải, mà mẹ cũng sẽ thực tâm hết sức hòa giải.

Mẹ thường giáo dục chúng tôi rằng:

Đi đến nhà người khác, nếu chủ nhà không mời mọc thì không được tự ý đi vào phòng ngủ của họ, không nên tự tiện ngồi lên giường của người khác.

Ngưới khác mượn dao kéo, thì không được chỉ mũi dao vào người khác.

Ăn cơm thì không nên chỉ chọn ăn món mình thích, khi đóng cửa mà phía sau còn có người đi đến thì phải nhớ vịn cửa.

Mẹ nói những việc này chủ yếu là giáo dục chúng tôi phải biết tôn trọng người khác, biết đặt mình vào vị trí đối phương mà suy nghĩ. Mà những câu răn dạy này có ảnh hưởng vô cùng lớn đến cuộc đời của tôi.

Nguồn: Pinterest

***

Bạch Cư Dị đã từng nói một câu rất có đạo lý đối nhân xử thế rằng “Dĩ tâm độ tâm, dĩ thân quan thân”. Bản thân mình muốn được người khác tôn trọng, thì trước hết chính mình cần hiểu coi trọng người khác. Người có giáo dưỡng, thường là người biết tôn trọng người khác, là người biết để ý đến cảm nhận của người khác. Đây cũng là điều chúng ta thường hay nói lấy người làm gốc, cái gì cũng vì người khác mà suy nghĩ.

Người có giáo dưỡng sẽ thật tâm đối đãi với mỗi người, dụng tâm mà xử lý mọi chuyện, lấy đức thu phục lòng người, sẽ được người khác tôn trọng.

Người có giáo dưỡng sẽ kiên quyết giữ gìn sự giáo dưỡng, thời thời khắc khắc đều nhắc nhở chính mình duy trì thành thói quen, cũng như chùm chìa khóa không thể bỏ quên, cũng như những chậu hoa mỗi ngày đều phải tưới nước. Sự giáo dưỡng cũng giống như hơi thở thường ngày, cũng như việc giơ tay nhấc chân tự nhiên vậy.

Minh Phúc / Theo: ĐKN

TẠI SAO VỊ TĂNG NHÂN KHÔNG THỂ HỌC THUỘC HAI CUỐN KINH PHẬT CUỐI CÙNG?

Tại sao vị tăng nhân không thể học thuộc hai cuốn Kinh Phật cuối cùng? (ảnh Adobe Stock)

Có câu nói rằng: “Thân người khó được, Phật pháp khó tìm”, kiếp này may mắn có thể biết đến Kinh Phật mà thành người tu luyện, cũng là nhờ kiếp trước biết hành thiện nên kiếp này mới nhận được quả lành.

Không thể học thuộc hai cuốn Kinh Phật cuối cùng

Cách đây rất lâu, trên đỉnh núi Kim Phong có một tăng nhân tên là Chuyển Thừa. Ông sinh ra tại Yamato, Nhật Bản, bẩm sinh vốn cực kỳ thô bạo; tính khí thất thường dễ cáu giận. Tuy nhiên từ nhỏ đã thích đọc kinh Phật; ham thích tới mức không muốn rời tay, ngày đêm đọc thuộc. Ông nuôi ý chí muốn học thuộc tất cả các cuốn kinh Phật.

Ông kiên trì học thuộc Kinh Phật, sáu cuốn đầu ông đều đã học thuộc nằm lòng. Nhưng có một điều kỳ lạ là hai quyển sau cùng ông lại không có nguyện vọng muốn học thuộc.

Ngày nọ, trong lòng ông đột nhiên nghĩ: “Mình nên học thuộc nốt quyển kinh số bảy và số tám; như vậy mới lưu giữ được hết bộ kinh ở trong tâm”.

Từ khi ông phát nguyện học thuộc cho tới mấy năm sau cũng không thể thực hiện được. Vị tăng nhân không tin bản thân không thể làm được việc này; vì vậy ngày đêm cố gắng học thuộc từng chữ từng chữ; nhưng kết quả vẫn không cách nào nhớ nổi.

Trong lòng mang đầy sự nghi ngờ, ông tới tham bái Bồ Tát. Ông ẩn cư chín mươi ngày; ngày ngày cúng dường Bồ Tát; mỗi đêm lễ Phật 3000 lần; cầu mong có thể học thuộc hai cuốn kinh văn đó.
 
Nhờ tâm thành kính mà được Thần báo mộng

Khi thời gian ẩn cư sắp kết thúc, ông nằm mơ một giấc mơ kỳ lạ. Trong mơ ông nhìn thấy một người đội mũ quan rồng; hình dáng giống như quỷ dữ; trên cổ đeo một chuỗi trang sức bằng ngọc; trong tay cầm Kim cương chử (Chày kim cương – một trong những biểu tượng quan trọng của Phật giáo. Đây là pháp khí thường được Thần hộ pháp cầm trên tay); chân đứng trên đài hoa sen; có người theo hầu, hướng về phía ông mà nói: “Vì nhân duyên của ông không đủ, nên không được đọc thuộc quyển kinh thứ bảy và tám”.

Chày kim cương – một trong những biểu tượng quan trọng của Phật giáo. Đây là pháp khí thường được Thần hộ pháp cầm trên tay (ảnh Epochtimes)

Người này tiếp tục nói: “Kiếp trước ông từng là một con rắn lớn, dài hai trượng (gần 7m), thường chiếm giữ trạm dịch trong núi ở quận Ako. Khi đó, vừa đúng lúc có bậc thánh nhân đi qua và dừng tại đó nghỉ đêm. Ông ở trên nóc nhà nghĩ thầm: ‘Rất lâu rồi mình không ăn gì, vừa đúng lúc đói bụng; thật khó mà có người nghỉ đêm tại đây, mình có thể ăn thịt hắn cho đỡ đói’”.

“Vị thánh nhân cảm nhận được có con rắn lớn đang muốn ăn thịt mình, bèn rửa tay súc miệng, miệng niệm kinh Phật. Không ngờ, sau khi nghe kinh, rắn không còn muốn ăn thịt người nữa; nhắm mắt lại nhất tâm lắng nghe. Khi đọc tới cuốn thứ sáu thì trời sáng và vị thánh nhân rời đi”.

Giải khai khúc mắc trong tâm

Người kia lại tiếp tục nói: “Con rắn lớn đó chính là ông. Vì năm đó ông lắng nghe Phật Pháp; áp chế được ý niệm muốn hại người, do đó thoát khỏi kiếp nạn và có thể chuyển sinh thành người. Hơn nữa, kiếp này lại có thể được xuất gia. Bởi ông chưa từng nghe đọc quyển kinh số bảy và tám, vì vậy không thể ghi nhớ được.

Ngoài ra, do đặc tính của rắn vẫn chưa hoàn toàn hết, vẫn thô bạo và dễ cáu giận nên ông không thể học thuộc được. Sau này ông nhất định cần phải tinh tấn hơn; loại bỏ những thói quen xấu thì tương lai mới có thể thoát khỏi sinh tử luân hồi”.


Nghe tới đây, tăng nhân tỉnh mộng; từ đó tu Phật càng thêm dũng mãnh tinh tấn.

Nguyên nhân kiếp này có thể tu hành

Vị tăng nhân có vóc dáng giống như trâu cũng là do mối nhân duyên từ kiếp trước (ảnh Adobe Stock)

Thuở xưa, tại tỉnh Ōmi (nay là quận Shiga), Nhật Bản, có vị tăng nhân tên là Yorizane, năm lên 9 tuổi đã vào chùa Kim Thắng để tu hành. Ông có trí nhớ rất tốt, chỉ cần nghe các tăng nhân tụng kinh là có thể đọc thuộc theo.

Mỗi ngày, ông đều đọc thuộc Kinh Phật ba lần; quanh năm không ngừng cố gắng; cuối cùng trở thành bậc trưởng lão có trí huệ. Tuy nhiên, những lời ông nói thường khác biệt với mọi người, vóc dáng như trâu, miệng còn hơi méo, mặt hơi vẹo.

Yorizane cảm thấy xấu hổ vì điều này và không ngừng than thở: “Nhất định kiếp trước mình đã làm việc ác nên bị quả báo; kiếp này nếu không hối cải, tương lai sẽ ra sao đây”.

Tấm lòng chân thành cảm động trời xanh

Sự chân thành của ông đã cảm động tới trời xanh. Trong thời gian ông ở ẩn suy nghĩ 6 ngày thì có một giấc mơ kỳ lạ. Có một vị tăng nhân tới nói với ông: “Kiếp trước ông là một con trâu không có mũi; được nuôi dưỡng ở nhà quận trưởng quận Echi, tỉnh Ōmi. Lần nọ, quận trưởng để trâu vận chuyển tám cuốn kinh Phật về chùa trên núi; con trâu đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc”.

“Vì công đức chuyển Kinh Phật, nên kiếp này ông được chuyển sinh làm người và có thể tu Phật pháp; hơn nữa còn có thể hiểu được sâu sắc. Tuy nhiên, nghiệp của ông chưa tận, vì vậy miệng của ông mới giống như con trâu. Tiếp tục tinh tấn tu hành, ông nhất định có thể thoát khỏi luân hồi sinh tử”.


Yorizane tỉnh giấc và cảm thấy vô cùng xúc động, càng cố gắng tu luyện tinh tấn hơn. Trước khi lâm chung, ông còn tĩnh lặng niệm kinh Phật; cuối cùng rời khỏi thế gian một cách nhẹ nhàng, thọ 79 tuổi.

Thân người khó được, Phật Pháp khó tìm (ảnh Adobe Stock)

Tìm lại cuốn Kinh Phật bị mất

Vào thời đại Thiên hoàng Shōmu, tại một quận của tỉnh Kawachi có một cô gái tên là Toshijo; từ nhỏ tư chất thông minh, tâm trong sáng thanh tịnh; tôn kính Phật pháp. Ở nhà cô thường tụng niệm kinh Phật, hầu như ai cũng thích nghe cô tụng kinh.

Cô có sở thích sao chép Kinh Phật, trong nhà có rất nhiều quyển do cô sao chép. Tuy nhiên có ba bộ kinh Phật đột nhiên biến mất và cô nghĩ có lẽ bị người ta lấy cắp.

Một đêm nọ, cô đột nhiên qua đời mà không bị bệnh tật gì. Linh hồn cô được đưa xuống dưới âm phủ và đi tới chỗ Diêm Vương. Thấy cô tới, Diêm Vương lập tức đứng dậy và mời cô ngồi xuống, sau đó nói: “Ta nghe nói giọng cô niệm kinh rất hay, nên cố ý mời cô tới; muốn được tận tai nghe thấy tiếng cô tụng kinh”.

Toshijo liền tụng kinh cho Diêm Vương nghe. Sau khi nghe xong, Diêm Vương đứng dậy quỳ xuống và nói: “Thật sự làm cho người ta rất cảm động”. Ba ngày sau, ông chuẩn bị đưa cô gái trở về.

Tại đại điện của Diêm vương, cô gái nhìn thấy ba vị mặc áo cà sa màu vàng, sáng chói lọi. Ba người nói với cô: “Đã lâu rồi không gặp cô, chúng tôi rất nhớ mong; giờ gặp nhau nơi này, cảm thấy rất vui mừng. Giờ cô hãy quay về, ba ngày sau, chúng ta sẽ gặp nhau trên phố phía Đông thành Nara”. Nói rồi ba người biến mất. Toshijo không biết họ là ai và trong tâm đầy nghi hoặc.

Lúc này tại dương gian thì Toshijo cũng vừa sống lại.
 
Sự an bài hoàn hảo của Diêm Vương

Ba ngày sau, cô tới phố phía Đông thành Nara đợi ba người mặc áo cà sa vàng; nhưng đợi mãi không thấy họ đến. Khi đang chuẩn bị rời đi thì có một người quần áo xộc xệch từ chợ ở cửa Đông đi tới chợ trung tâm, và lớn tiếng rao: “Ai mua kinh Phật không? Tôi bán kinh Phật đây”.

Toshijo muốn mua nên gọi người bán lại xem và phát hiện ra đó là ba cuốn kinh Phật do cô sao chép mà bị mất.

Người bán Kinh Phật còn đòi 500 đồng mới chịu bán cho cô. Toshijo biết người trước mặt là kẻ trộm đồ, cũng không tính toán, trả lại đúng số tiền và thầm nghĩ, “có lẽ đây là nợ nghiệp kiếp trước của mình với họ”.

Sau khi mua Kinh Phật, cô chợt tỉnh ngộ và nghĩ lại, ba người mặc áo cà sa màu vàng sáng chói kia chính là ba cuốn Kinh Phật. Cô không khỏi cảm ơn sự sắp đặt tài tình khéo léo của Diêm Vương.

Người thế gian sau khi nghe được câu chuyện này thì càng tôn kính Toshijo, cũng càng tín ngưỡng Phật Pháp hơn.

Có câu nói rằng: “Thân người khó được, Phật pháp khó tìm”, kiếp này may mắn có thể nghe được Phật Pháp mà thành người tu luyện, cũng là nhờ kiếp trước biết hành thiện nên kiếp này mới nhận được quả lành. Người tu luyện cần nỗ lực tinh tấn tự cố gắng; có thủy có chung để không phụ mối nhân duyên này.

Thanh Mai / Theo: Epoch Times

TÔN NGỘ KHÔNG BỊ GIAM 500 NĂM DƯỚI NGŨ HÀNH SƠN, ẨN Ý THÂM SÂU ĐẰNG SAU LÀ GÌ?

Nếu như Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân là tuyệt thế kỳ thư vĩ đại nhất trong “Tứ đại danh tác”, thì bộ phim cùng tên của đạo diễn Dương Khiết cũng xứng đáng được tôn vinh là tác phẩm bất hủ nhất của điện ảnh Trung Hoa.

Ảnh chụp màn hình phim Tây Du ký 1986.

Làm nên thành công ấy phải kể đến sự đóng góp không nhỏ của các nhạc khúc trong phim. Và trong những nhạc khúc bất hủ ấy, có một bài hát, mà dẫu chỉ xuất hiện trong một phân cảnh nhỏ của phim, nhưng lại khiến lòng người mãi bồi hồi da diết. Đó chính là bài hát kể lại tâm sự của Tôn Ngộ Không suốt 500 năm bị đè dưới Ngũ Hành Sơn. Không hào tráng như ca khúc mở đầu “Đường chúng ta đi”, không tươi vui ngộ nghĩnh như “Ngộ Không trộm đào”, lại không ngọt ngào trong sáng như “Tình nhi nữ”, vậy mà “500 năm bãi bể nương dâu” cứ vương vấn mãi trong lòng người xem.

Có một điều đặc biệt là, dù được biểu diễn bằng giọng nam hay giọng nữ, có ca từ hay giai điệu không lời, trên nền của nhạc cụ hiện đại hay dân gian, và cho dù người nghe có hiểu ý nghĩa của bài hát hay không, thì tất cả chúng ta đều có thể cảm nhận được một điều gì đó rất da diết, rất mênh mang, một cảm xúc nào đó thật khó diễn tả bằng câu chữ, tựa như lời nhắn nhủ chạm tới tận sâu thẳm sinh mệnh con người.

Vì sao lại như vậy?

Nếu chỉ tìm trên bề mặt câu chữ, khó có thể tìm ra ý vị sâu xa mà bài hát muốn nhắn gửi tới người đọc. Đó là bởi bài hát ấy gắn liền với cuộc đời của Tôn Ngộ Không, từ khi thác sinh từ tảng đá, trở thành Tề Thiên Đại Thánh tung hoành ngang dọc giữa đất trời, sau phạm tội đại náo Thiên Cung mà bị đè dưới chân núi Ngũ Hành, nhớ về quá khứ huy hoàng tiêu diêu tự tại để rồi xót xa cho hiện tại đã an bài… Bởi lấy cảm hứng từ nguyên tác Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, mà một cách tự nhiên, “500 năm bãi bể nương dâu” cũng mang trong nó cái phần hồn, phần thần mà Ngô Thừa Ân muốn gửi gắm.

Bởi vậy, hãy cùng trở về với nguyên tác Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân trước khi nghe lại bài hát, bạn sẽ khám phá ra những ý vị thâm sâu đằng sau giai điệu ấy.

Tôn Ngộ Không sinh ra từ tảng đá, hấp thụ linh khí của đất trời

Mở đầu Tây Du Ký kể về thời thiên địa còn hỗn độn, đất trời còn mờ mịt chưa phân. Rồi Bàn Cổ khai thiên lập địa, Tam Hoàng trị thế, Ngũ Đế định ra nhân luân. Đây là nói về việc nhân loại đã khởi đầu như thế nào.

Tiếp đó là sự ra đời kỳ lạ của Tôn Ngộ Không. Ngộ Không sinh ra từ tảng đá trên ngọn Hoa Quả Sơn – ngọn núi này vô cùng đặc biệt, được miêu tả là “mạch tổ của mười châu, là tay long của ba đảo bỏ lại, tự mở giữa trong đục mà đứng lên, phân rõ mờ mịt mà tạo thành, thật là một dãy núi quý, đẹp”.

Còn nói về tảng đá, đây cũng không phải đá bình thường, mà là “đá tiên” mang tinh khí của tạo hoá: cao 3 trượng 6 thước 5 tấc, hợp với vòng giời 365 độ; vây tròn 2 trượng 4 thước, hợp với lịch chính 24 khí, trên có 9 khiếu 8 lỗ tương ứng với 9 cung 8 quẻ. Tả rằng:

“Có lẽ từ khi sinh ra, tấm đá cảm thụ linh hoa của trời đất, của mặt trời, mặt trăng nên mới linh thông được. Trong tấm đá lại có một tiên thai. Một hôm tấm đá nứt ra, sinh một trứng đá, to bằng quả cầu lớn, gặp gió hoá ra con khỉ đá, đủ mặt, mũi, chân, tay. Con khỉ đá liền học cào, học chạy, vái lạy bốn phương, hai mắt có hào quang sáng rực lên tận trời, làm kinh động đến Ngọc Hoàng Thượng Đế”.[1]

Như vậy, Tôn Ngộ Không là được Thiên Địa hoá dục mà thành, sinh ra đã mang sẵn tinh hoa của đất trời, tuyệt nhiên không phải là con khỉ tầm thường nơi trần thế. Điều này cũng phù hợp với cách nhìn nhận của Phật gia về sinh mệnh con người:

Phật gia giảng rằng con người là do Thần tạo ra, bản mệnh chân chính của con người thuộc về nơi thượng giới.

Vậy vì sao con người lại có mặt trên Trái Đất này? Ấy là bởi qua tháng năm dài đằng đẵng, các sinh mệnh không còn giữ được bản tính thuần khiết như thuở ban đầu nên mới rơi rớt xuống đến đây. Đó cũng là điều mà các tôn giáo và các nền văn hoá cổ xưa đều nhìn nhận. Thánh Kinh chép rằng, Thiên Chúa Giê-hô-va tạo ra người đàn ông đặt tên là Adam, sau lại tạo ra người đàn bà đặt tên là Eva. Còn trong huyền sử Hy Lạp, hai anh em thần Prometheus và Epimetheus đã phỏng theo hình dáng của các vị thần mà tạo ra loài người. Tại phương Đông, sau khi Bàn Cổ khai thiên lập địa, thần Nữ Oa đã du ngoạn khắp đó đây giữa trời và đất. Và khi bay lượn dọc theo sông Hoàng Hà, Nữ Oa cúi đầu thấy bóng dáng xinh đẹp của mình mà bất giác vui mừng. Bà quyết định dùng bùn đất dưới sông nặn một người theo hình dạng của thần.

Đại náo Thiên Cung, Đại Thánh bị giam dưới Ngũ Hành

Ngộ Không có xuất thân cao quý như vậy nên căn cơ cũng rất phi phàm. Bởi vậy mà Ngộ Không là người duy nhất trong chúng đệ tử được Bồ Đề Tổ Sư bí mật trao truyền cho tiên đạo.

Ở đây cũng cần nói thêm rằng, Đạo gia khác với Phật gia ở chỗ: Phật gia chú trọng tu “Thiện”, nên giảng phổ độ chúng sinh. Nhưng Đạo gia thì không như vậy, Đạo gia giảng “Chân”, chú trọng thanh tu độc tu, vì vậy mà sư phụ dù có thu nhận bao nhiêu đồ đệ thì trong đó chỉ có một đệ tử được chân truyền.

Trong truyện cũng viết, vào đêm khi truyền đạo pháp cho Ngộ Không, Tổ Sư Bồ Đề đã ngâm bài kệ rằng:

“Chữ Đạo rất diệu huyền,
Tu đâu phải chuyện bỡn
Gặp người tốt mới truyền
Nếu không thành nói uổng
Miệng mỏi lưỡi khô phiền!”

Vì biết Ngộ Không là trời đất sinh ra, là người căn cơ phi phàm, nên Bồ Đề Tổ Sư mới bí mật truyền cho phép trường sinh màu nhiệm, sau lại dạy cho 72 phép thần thông biến hoá.

Tôn Ngộ Không và Bồ Đề Tổ sư (cảnh trong phim Tây Du Ký 1986).

Kể từ sau khi tu học nơi Bồ Đề Tổ Sư, Ngộ Không đã có thể đi mây về gió, chứng đắc tiên quả, không chỉ chấn nhiếp các quỷ thần khắp bốn bể nghìn non mà còn kinh động tới thần tiên trên thượng giới.

Thế nhưng, khi càng trở nên thần thông quảng đại, càng được chúng thần kính nể, thì Ngộ Không lại càng trở nên kiêu ngạo hống hách: chê Bật Mã Ôn là chức quan quèn nên tự dựng cờ xưng vương “Tề Thiên Đại Thánh”, ở trên Thiên Đình mà náo loạn thiên cung, trộm đào tiên, uống ngự tửu, lấy cắp tiên đan, giao đấu với Na Tra, đại chiến Nhị Lang Thần, sau cùng lại giở thói ngông cuồng trước mặt Phật Tổ và đòi Ngọc Hoàng Đại Đế phải nhường ngôi cho mình.

Nếu so sánh với Ngộ Không thuở mới tầm sư học đạo thì quả là khác xa. Lúc ấy, đứng trước mặt Tổ Sư Bồ Đề, Ngộ Không từng giới thiệu rằng: “Con không có tính gì cả. Người ta chửi con, con cũng không giận. Người ta đánh con, con cũng không thù, chỉ lễ phép với người ta mà thôi.” Vậy mà giờ đây, khi đứng trước Phật Tổ thì Ngộ Không lại ngang nhiên tuyên bố rằng:

“Luyện được trường sinh nhiều phép thuật
Học tài biến hoá rộng vô biên
Chỉ hiềm hạ giới còn eo hẹp
Lập chí lên trời chiếm Cửu Thiên
Bảo Điện lẽ đâu Trời ở mãi
Nhân gian vua chúa vẫn chia truyền
Ngươi tài làm chủ, nhường ta chứ?
Thế mới anh hùng dám đứng lên.”

Ở đây, có thể thấy rằng kiếp nạn 500 năm dưới Ngũ Hành Sơn không chỉ là báo ứng cho tội danh ‘đại náo Thiên Cung’, mà nguyên nhân sâu xa hơn, chính là do tâm tính Ngộ Không đã rơi rớt xuống phía dưới, không giữ được bản tính thuần thiện lúc ban đầu.

Phật gia giảng rằng, sinh mệnh chân chính của con người là được sinh ra trên thiên giới. Nhưng hễ tâm tính biến đổi không còn tốt nữa, cũng tức là tạo nghiệp, cá nhân ấy sẽ mang nặng tâm phàm mà rơi rớt xuống phía dưới. Không chỉ riêng Tôn Ngộ Không mà từ lai lịch của các nhân vật trong Tây Du Ký chúng ta cũng có thể thấy điều đó: Đường Tăng vốn là Kim Thiền Tử, là đệ tử thứ hai của Phật Thích Ca Mâu Ni, chỉ vì khinh mạn Phật Pháp mà bị đày xuống hạ giới, rốt cuộc phải tu luyện lại từ đầu. Còn Trư Bát Giới thì trêu ghẹo Hằng Nga, Sa Ngộ Tĩnh lỡ tay làm vỡ chén lưu ly, Tiểu Bạch Long phóng hoả đốt viên minh châu – đó đều là tội nghiệp khiến họ bị tước bỏ thần vị, và phải mang thân phàm mà tu luyện mới có thể quay trở về.

Vậy nói đến đây, ta có thể hiểu được ẩn ý của cái tên “Ngũ Hành Sơn”. Đạo gia giảng về âm dương ngũ hành, coi Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ là 5 yếu tố cấu thành nên vạn vật. Nhưng “ngũ hành” dẫu sao vẫn chỉ là vật chất của tam giới chứ không phải nơi thượng giới. Bởi vậy, Ngộ Không bị đè dưới núi Ngũ Hành cũng chính là bị chôn vùi nơi trần thế, bị khống chế trong cái thân xác phàm mà không thể tự tại, tiêu dao…

Tu luyện là để quay trở về

“500 năm bãi bể nương dâu
Tảng đá cứng đã phủ xanh rêu,
phủ xanh rêu…

Chỉ một trái tim người chưa chết
Nhìn lại quá khứ tiêu diêu tự tại,
tiêu diêu tự tại…”

Người ta nói, con người đến nơi trần thế là phải chịu kiếp luân hồi. Luân hồi nghĩa là đời này là người, nhưng đời sau có thể là thực vật, động vật, thậm chí là vật vô giác vô tri. Cũng giống như biển xanh qua tháng năm đằng đẵng mà biến thành ruộng cạn, dẫu kiếp này là anh hùng hào kiệt, là bậc công tử vương tôn, thì ai còn biết rằng kiếp sau có được mang thân người hay không? Vậy mới nói, đời người là bể khổ, hạnh phúc dẫu có cũng chỉ là niềm vui thoáng qua, huy hoàng cả một đời cũng chỉ như ánh đèn loé lên trong phút chốc.

Đời người là bể khổ, khổ nhưng cũng là mê. Con người sống trong mê nên mới chìm đắm trong danh lợi vật chất mà quên mất bản nguyện của mình là phải quay trở về.

Đạo gia giảng rằng, con người đến thế gian không phải vì để làm người, mà là để phản bổn quy chân, quay trở về Thiên giới.

Ở đây không phải chúng ta đang nói điều huyền hoặc, cũng không phải nói chuyện hoang đường, mà là đứng từ góc độ Phật gia và Đạo gia để hiểu về tác phẩm của người tu hành. Ta biết rằng, Ngô Thừa Ân là bậc đại sĩ am hiểu cả Phật và Đạo. Ông viết Tây Du Ký không phải để kể những chuyện thần tiên quỷ quái mua vui cho người đời, mà là thông qua câu chuyện thỉnh kinh của Đường Tam Tạng mà gửi vào đó cả thiên cơ rộng lớn.

Câu hỏi đặt ra là: Làm thế nào để trở về? Đó chính là tu luyện! Vì tu luyện, mà qua mỗi lần văn minh xuất hiện lại có Đại Giác Giả hạ thế độ nhân. Những bậc giác giả như Giê-su, Lão Tử, Thích Ca Mâu Ni, đã khai sáng cho nhân loại một con đường tu luyện. Nhưng tu luyện không phải là vứt bỏ hết thảy mọi vật chất, không phải là chối bỏ người thân, cũng không phải là chui vào hang động trong núi, cách xa khỏi nơi xã hội con người — âu đó chỉ là phương pháp của một vài pháp môn trong quá khứ, chứ không phải là bản chất của tu hành. Mà bản chất của tu hành thực sự, chính là buông bỏ tâm phàm, cuối cùng đạt tới cảnh giới của bậc trí giả.

Giống như trong hồi 85, khi Ngộ Không nói với Đường Tăng rằng: “Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu, Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu. Nhân nhân hữu cá Linh Sơn tháp, Hảo hướng Linh Sơn tháp hạ tu.” (Phật ở Linh Sơn lọ phải cầu, Linh Sơn trước mắt lại tìm đâu! Ai ai cũng có Linh Sơn tháp, tu ở Linh Sơn đạo rất mầu), Đường Tăng đã trả lời: “Đồ đệ ạ, ta há không biết sao? Nếu theo bốn câu ấy, dù thiên kinh vạn quyển cũng chỉ là tu tâm.”

Tu luyện là thần thánh, tu luyện là thiêng liêng, vậy mà người đời hễ nghe đến “tu luyện” lại lắc đầu coi như điều u mê ngu muội. ‘Thân người khó được, Phật Pháp khó tìm’ [2], nếu bỏ lỡ cơ duyên vạn cổ này thì sẽ là điều ân hận nhất của sinh mệnh. Bởi vậy, khổ thơ cuối cùng của bài hát kết thúc bằng một câu hỏi, giống như lời nhắc nhở cho mỗi chúng ta:

“Đã phí hoài năm tháng,
Mang theo bao hoài bão.
Vì sao mà, vì sao mà,
Ta lại chịu sự an bài này?”

Chú thích:

[1] Ngoài lời bài hát, các trích dẫn trong bài viết lấy từ bản dịch Tây Du Ký của dịch giả Thuỵ Đình, NXB Văn Học (2015)

[2] Trong nguyên tác là: “Nhân thân nan đắc, Trung thổ nan sinh, chính Pháp nan ngộ; toàn thử tam giả, hạnh mạc đại yên” nghĩa là: Thân người khó được, Trung thổ khó sinh, chính Pháp khó gặp; nếu được cả ba điều, thì may mắn lắm thay!

Theo: ĐKN



Tuesday, September 8, 2026

LÊN MÁY BAY CỦA VIỆT NAM PHẢI NÓI TIẾNG ANH ĐỂ ĐƯỢC PHỤC VỤ TỐT HƠN

Bốn năm trước, khi chuẩn bị ra sân bay để từ Đức về Việt Nam, tôi được người tiễn – một Việt kiều định cư ở Đức – dặn đi dặn lại: “Lên máy bay của Việt Nam phải nói tiếng Anh nhé, nhớ đấy!”.


Tôi cự nự, chẳng lẽ mình là người Việt lại đi nói tiếng Anh với người Việt. Chị bảo không riêng gì em, ai chị cũng dặn. Chỉ có nói tiếng Anh mới được phục vụ tử tế.

Chị kể, hồi đầu hai vợ chồng mới làm ăn bên Đức, mỗi khi về Việt Nam phấn khởi quá, cứ thật thà tuôn trào tiếng Việt nên bị phục vụ kém hơn người nước ngoài. “Họ không cười với mình”, chị bảo, “Xin chăn thì họ bảo hết chăn, nhưng ông nước ngoài xin thì họ lại đem ra”. Chị mách nước tôi kinh nghiệm quý báu: “Tiếng Anh tiếng Đức nói nhiều vào”.

Trong bữa cơm với một vài gia đình Việt kiều, tôi nghe họ kể nỗi khổ đi máy bay về Việt Nam. Nào là phục vụ không chu đáo, coi thường khách Việt nhưng lại ngoan ngoãn với khách Tây, vòi vĩnh; chuyện máy bay trễ chuyến, chuyện hành lý thất lạc, mất mát; nhân viên không biết cười, kiệm lời với khách nhưng buôn chuyện với nhau thì rôm rả…

Nhưng ở chiều ngược lại, hàng xóm cạnh nhà tôi là một tiếp viên hàng không xinh đẹp. Cô tâm sự đã trót yêu nghề rồi nên không bỏ chứ “nghề này rất cực”.

Có lần, cô hỏi hành khách: “Chị dùng mì bò hay cơm heo?”. Vị khách cong môi: “Chị dùng cơm người, không dùng cơm heo”. Sau đó, bà ta phê bình tiếp viên một thôi một hồi trước các hành khách khác khiến cô xấu hổ, phải xin lỗi miết. Cô phải viết bản tường trình, bị trừ lương vì khách mách lãnh đạo.


Nhiều lần, cô bị khách nam nhìn khiếm nhã, nói lời thiếu tế nhị, bị họ đòi xin số điện thoại, tất nhiên cô không thể đưa, rồi bị đối xử rất thô thiển. Có người cố tình gạt tay để cà phê đổ vào quần áo rồi vặn vẹo tiếp viên. Đen đủi cho cô nhất là chồng ghen. Anh không chịu nổi việc vợ thường xuyên trang điểm thật đẹp rồi ra khỏi nhà đi làm lúc 5 giờ sáng và thường vắng nhà ban đêm, gia đình họ đổ vỡ. Nhà chồng gán cho cô đủ tiếng xấu vì làm tiếp viên.

Có khoảng 3.700 tiếp viên hàng không đang làm việc cho 3 hãng trên bầu trời Việt Nam. Người hàng xóm của tôi không phải trường hợp quá đặc biệt. Trong ngành rất nhiều người không giữ được hôn nhân lần đầu, một lãnh đạo cấp trung của hãng hàng không đó giải thích cho tôi. Chị bảo, nghề này là nghề phục vụ, nhưng thay vì làm việc trong nhà hàng, khách sạn thì ở trên máy bay.

Họ phải di chuyển và làm việc bất kể giờ giấc, đòi hỏi phải có sức khỏe trong khi phải gìn giữ hình thức và hy sinh nhiều về cuộc sống cá nhân. Vì thế, riêng trong ngành hàng không, chính sách cho phép tiếp viên có thể nghỉ hưu từ 50 tuổi và không cần bất cứ điều kiện gì.

Cứ 10 người Việt Nam thì có 2 người từng đi máy bay. Tỷ lệ này rất thấp so với thế giới và thấp gần nhất khu vực Đông Nam Á, theo một báo cáo ngành hàng không của công ty nghiên cứu VIRAC. Nhưng đó cũng chính là lực đẩy rất mạnh. Từ vị trí vùng trũng, chỉ ba năm trở lại đây, các hãng hàng không không ngừng sắm thêm máy bay khiến Việt Nam trở thành một trong những thị trường mua bán máy bay và tuyển dụng nhân sự cho ngành nhộn nhịp.

Ở Việt Nam, từ năm 2011 đến 2017 tổng lưu lượng khách của thị trường đã tăng 2,6 lần lên 61,2 triệu lượt. Dự báo thị trường đạt 74,5 triệu lượt khách vào năm 2020 – khi dân số khoảng 98 triệu.


Nhưng đi kèm với tốc độ phát triển ấy là các câu hỏi chưa lời đáp về kỹ năng vận hành bay và văn hóa hàng không. Tính ba tháng đầu năm 2018, trung bình mỗi tháng ở Việt Nam có khoảng 3.000 chuyến bay sai giờ. Và hiển nhiên, là những videoclip về hành xử vô lý ở sân bay, từ cả phía nhà cung cấp lẫn người tiêu dùng, ngày càng tăng và dễ trở thành hiện tượng mạng.

Tư duy dịch vụ hàng không nếu chỉ đơn thuần là hô khẩu hiệu, với quảng cáo bông sen nở và giấc ngủ ngon có lẽ là chưa đủ. Người đi máy bay chờ sự cách tân trong vận hành chuyến bay và nét mặt nhân viên để họ tin hãng hàng không đó đã là một “người chơi” toàn cầu.

Chất lượng dịch vụ hàng không tất nhiên cũng không đến từ một phía nhà cung cấp. Cơm heo hay mì bò sẽ không trở thành nghiêm trọng nếu chúng được phục vụ cho một hành khách văn minh.

“Tham gia hàng không chưa bao giờ dễ như bây giờ” – ông chủ của một hãng hàng không mới tuyên bố, kèm khẳng định sẽ cho bay luôn 20 chiếc trong năm nay. Nhưng những thứ dễ tăng trưởng, chưa bao giờ dễ tạo ra sự cân bằng.

(Lưu ý: Bài viết chỉ thể hiện quan điểm cá nhân của người viết)

Theo Vnexpress