Friday, June 19, 2026

CHINH PHỤC NHỮNG VÌ SAO - KỲ 6: PHI HÀNH GIA MỸ ALAN SHEPARD - NGƯỜI THỨ HAI LÊN VŨ TRỤ

24 ngày sau khi Liên Xô sử dụng tên lửa R-7 phóng tàu Vostos 1 đưa Gagarin lên quỹ đạo), Mỹ đã thực hiện thành công chuyến bay vũ trụ có người lái đầu tiên của mình là phi hành gia Alan Shepard trên con tàu mang tên Sao Thủy - Mercury.

Alan Shepard trong khoang tàu - Ảnh: NASA

Trong cuộc đua vào kỷ nguyên vũ trụ với Liên Xô, siêu cường Mỹ bị chậm giai đoạn đầu. Theo lịch sử Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA), ngày 25-5-1961 John F. Kennedy tuyên bố trước phiên họp chung đặc biệt của quốc hội về mục tiêu đầy tham vọng đưa người Mỹ an toàn lên Mặt trăng rồi trở về trước cuối thập niên này. Tổng thống Mỹ thứ 35 có áp lực phải vượt Liên Xô trong hành trình chinh phục vũ trụ.

Cuộc đua đưa người lên vũ trụ

Theo các sử gia NASA như Roger D. Launius, sở dĩ Mỹ lúc này đã có sự tự tin mạnh mẽ vì vừa phóng thành công phi hành gia Alan Shepard trong dự án Mercury (Sao Thủy). Mốc điểm chương trình đưa người lên vũ trụ của hai siêu cường bắt đầu từ năm 1958.

Trước đó, cả Liên Xô và Mỹ đều đã phóng thành công các vệ tinh không người lái Sputnik và Explorer lên quỹ đạo. Các vụ phóng tiếp theo thử nghiệm đưa sinh vật Trái đất lên không gian (Liên Xô phóng chó, Mỹ phóng tinh tinh) đã thành công, mặc dù cũng có vụ thất bại làm các "phi hành gia" không biết nói này phải hy sinh để con người thực hiện giấc mơ chạm đến những vì sao.

Ngày 5-5-1961 (tức 24 ngày sau khi Liên Xô sử dụng tên lửa R-7 phóng tàu Vostos 1 đưa Gagarin lên quỹ đạo), Mỹ đã thực hiện thành công chuyến bay vũ trụ có người lái đầu tiên của mình là phi hành gia Alan Shepard trên con tàu mang tên Sao Thủy - Mercury được đẩy bằng một biến thể cải tiến của tên lửa Redstone.

Nếu tính cụ thể ngày tháng kể từ khi quyết định dự án đưa lên vũ trụ, Liên Xô và Mỹ chỉ mất hơn hai năm. Tuy nhiên, cả hai siêu cường đều đã thực hiện hàng chục vụ phóng thử nghiệm. Đặc biệt, hai nền tảng tên lửa của Mỹ và Liên Xô đều có những phần kỹ thuật được phát triển từ chính tên lửa V-2 của Đức thời Thế chiến 2.

Tuyển chọn phi công

Nguồn tài liệu lịch sử của NASA ghi lại ngày 7-10-1958, họ đã công bố Mercury - dự án lớn đầu tiên của mình ngay sau khi NASA bắt đầu hoạt động. Dự án có ba mục tiêu quan trọng là phóng tàu vũ trụ có người lái vào quỹ đạo quanh Trái đất, kiểm tra khả năng con người trên không gian để có thể tiếp tục các chuyến bay xa hơn và đưa phi hành gia về Trái đất an toàn.

Xác định con người là phần quan trọng cốt lõi của dự án này, việc tuyển chọn và huấn luyện phi hành gia được bắt đầu sớm ngay từ tháng 1-1959. Có 508 hồ sơ được thẩm định mà đa phần là các phi công quân sự, phi công thử nghiệm tài năng đã trải nhiều giờ bay.

"Ngày 9-4-1959, NASA chính thức giới thiệu với quốc gia và thế giới bảy phi hành gia Mercury của mình. Sự kiện diễn ra tại phòng khiêu vũ của khách sạn Dolley Madison House trên quảng trường Lafayette ở Washington, D.C., nơi khi đó là trụ sở đầu tiên của cơ quan vũ trụ mới thành lập.

Các phi hành gia ngồi quanh một chiếc bàn dài trên một sân khấu tạm thời và Giám đốc NASA T. Keith Glennan đã giới thiệu họ theo thứ tự bảng chữ cái: "Malcolm S. Carpenter, Leroy G. Cooper, John H. Glenn, Virgil I. Grissom, Walter M. Schirra, Alan B. Shepard và Donald K. Slayton... những phi hành gia Mercury của quốc gia!".

Sau một buổi chụp ảnh ngắn, trong 90 phút tiếp theo các phi hành gia mới đã trả lời nhiều câu hỏi từ các phóng viên có mặt trong phòng khiêu vũ.

Đối với hầu hết họ, đây là một trải nghiệm mới vì trước đó họ ít có cơ hội tiếp xúc với giới truyền thông trong công việc trước đây của mình với tư cách là phi công thử nghiệm.

Khi sự kiện kết thúc, họ nhận ra rằng cuộc sống của họ đã thay đổi mãi mãi, và sự chú ý của công chúng sẽ trở thành một phần công việc của họ, cũng quan trọng như việc huấn luyện và bay vào vũ trụ", đây là một đoạn trích trong bài "60 năm trước: NASA giới thiệu các phi hành gia Mercury 7" trên trang lịch sử NASA.

Mặc dù còn mới mẻ và chưa hề có kinh nghiệm, việc tuyển chọn phi hành gia của NASA vẫn diễn ra rất khắt khe. Ban đầu hồ sơ có những người làm các ngành nghề chịu áp lực rủi ro cao nhưng sau đó NASA cùng với sự đồng thuận của chính tổng thống Mỹ đã ưu tiên chọn phi công quân sự bay thử nghiệm.

Từ hơn 500 người, chọn 110 người, sau đó còn 32 người và cuối cùng còn bảy người. Họ đã xuất sắc vượt qua các vòng kiểm tra nghiêm ngặt. Riêng bảy người cuối cùng đã vượt qua cuộc kiểm tra y tế chuyên sâu kéo dài một tuần tại Phòng khám Lovelace ở New Mexico và thêm một tuần kiểm tra thể lực cùng tâm lý chịu đựng gian khổ.

Trong buổi chính thức ra mắt với thế giới ngày 9-4-1959 tại văn phòng NASA ở quảng trường Lafayette, Washington, D.C, cả bảy phi hành gia đều cười rất tươi và giơ tay khi được hỏi có tự tin bay vào vũ trụ và trở về hay không, thậm chí có người còn giơ cả hai tay.

Trong đó, Alan Shepard (1923-1998) là sĩ quan không hải quân, từng tham chiến Thế chiến 2 và từ năm 1950 là phi công quân sự bay thử nghiệm dày dạn. Ông chính là chọn lựa cuối cùng trong ba người được chọn cho chuyến bay đầu tiên.

Phi thuyền Mercury - Redstone 3 trước giờ phóng - Ảnh: NASA

Ngày lịch sử của Mỹ

Bình minh 5-5-1961, ngày lịch sử của chương trình vũ trụ Mỹ. Tại Trạm không quân Mũi Canaveral, Florida, Shepard tự tin leo vào khoang phi hành gia trên phi thuyền Mercury - Redstone 3 mà chính ông đặt tên chuyến bay Freedom 7 (Tự do 7) tượng trưng cho bảy người bạn phi hành gia phục vụ dự án Mercury.

Theo kế hoạch, ông đã vào tàu khoảng hai giờ trước giờ phóng dự kiến lúc 7h20. Tuy nhiên, một sự chậm trễ kỹ thuật xảy ra. Shepard đã nói một câu được ghi lại: "Sao các ông không khắc phục vấn đề nhỏ và thắp sáng ngọn nến này đi?".

24 ngày trước đó, lúc chuẩn bị phóng tàu Vostok 1, phi hành gia Liên Xô Gagarin cũng nói hai từ được ghi vào sách sử: "Đi thôi".

Lúc 9h45 ngày 5-5-1961, người Mỹ đầu tiên đã bay vào không gian vũ trụ. Trang National air and space museum ghi lại sự kiện lịch sử này:

"Tên lửa bốc cháy trong hơn hai phút, gia tốc ép ông vào ghế sofa với lực hơn sáu "G" (sáu lần trọng lực Trái đất). Sau khi tách ra, khoang tàu quay ngược lại và hướng tấm chắn nhiệt về phía trước để tái nhập khí quyển.

Trong năm phút không trọng lực, Shepard đã thử nghiệm hệ thống điều khiển hướng của Freedom 7 và mở rộng kính tiềm vọng để nhìn về phía Florida.

Sau khi vượt qua đỉnh quỹ đạo, đã đến lúc kích hoạt động cơ hãm - không cần thiết cho chuyến bay của ông nhưng là một thử nghiệm về cách thoát khỏi quỹ đạo. Quá trình tái nhập khí quyển ngắn ngủi nhưng rất dữ dội với tải trọng "G" cực đại lên tới hơn 11.

Dù bung ra bình thường và tàu vũ trụ của ông chạm xuống đại dương với một cú va chạm mạnh mà ông so sánh với việc hạ cánh trên tàu sân bay. Một máy bay trực thăng của thủy quân lục chiến đã đón ông và đưa ông đến tàu USS Lake Champlain...".
Alan Shepard và Freedom 7 đã có 15 phút 28 giây bay đến độ cao viễn cực khoảng 187km so với bề mặt Trái đất. Tổng thống John F. Kennedy đã trao tặng Huân chương Cống hiến xuất sắc của NASA cho Alan Shepard trong một buổi lễ tại Vườn Hồng vào ngày 8-5-1961. Điều thú vị là Shepard bị cấm bay trong sáu năm vì một vấn đề về tai nhưng sau đó ông trở lại ngoạn mục và thành phi hành gia Mercury duy nhất đặt chân lên Mặt trăng và chỉ huy cuộc đổ bộ của Apollo 14

>> Kỳ 7: Khởi đầu hành trình đến Mặt trăng


Thùy Chi / Theo: tuoitre

Thursday, June 18, 2026

CỨ LẶNG LẼ LÀM THÔI, VIỆC MÌNH TIN LÀ ĐÚNG

Có lẽ tôi và bạn, chúng ta đều đang sống trong một thời đại kỳ lạ. Người ta nói về tốc độ, về hiệu quả, về việc phải nhìn thấy kết quả ngay lập tức. Mạng xã hội mỗi ngày đều tràn ngập những câu chuyện thành công của người khác. Người kia mua được nhà, người nọ đi du lịch khắp thế giới, người bạn cũ vừa được thăng chức. Mọi thứ cứ như một cuộc đua mà nếu mình chậm lại một chút, mình sẽ là người thua cuộc.


Áp lực đó thật kinh khủng. Nó khiến chúng ta sốt ruột với chính bản thân mình.

Người xưa có câu “Dục tốc bất đạt”, muốn nhanh thì không tới đích. Chúng ta bắt đầu một việc gì đó, dù là học một kỹ năng mới, tập thể dục, hay xây dựng một mối quan hệ, chúng ta đều âm thầm đặt ra một cái hạn chót. “Ba tháng phải có kết quả”, “Sáu tháng phải thành thạo”, “Một năm phải thấy khác biệt”. Và khi mọi thứ không diễn ra nhanh như mình muốn, cảm giác đầu tiên ập đến là thất bại và chán nản.
Bạn có bao giờ cảm thấy như vậy không?

Cảm thấy nỗ lực của mình như hạt cát bỏ biển, chẳng ai thấy, chẳng ai công nhận, và tệ nhất là chính mình cũng không thấy nó đi đến đâu cả.

Hôm nay, tôi muốn nói với bạn về một chuyện khác, một góc nhìn có thể không hợp thời nhưng tôi tin nó là thật. Đó là câu chuyện về việc “trồng cây”.

Không phải là triết lý gì cao siêu đâu, chỉ là một hình dung rất đơn giản. Bạn gieo một hạt mầm nhỏ xuống đất. Ngày mai, nó vẫn chỉ là một hạt mầm. Tuần sau, có thể nó nhú lên một chút xíu, yếu ớt.

Tháng sau, nó có thể cao thêm vài phân. Công việc của bạn chỉ là mỗi ngày cho nó một chút nước, bắt cho nó vài con sâu. Một công việc lặp đi lặp lại, nhàm chán và chẳng có gì đáng để khoe với ai.

Trong lúc bạn đang làm cái việc tẻ nhạt đó, người khác có thể đã xây xong một bức tường, đã sơn xong một cánh cửa. Thành quả của họ hiện ra rõ ràng, được đo đếm, được nhìn thấy. Còn cái cây của bạn?

Nó vẫn ở đó, lớn lên từng milimet một cách lặng lẽ. Sẽ có những lúc bạn nản lòng. Bạn tự hỏi mình đang làm cái gì vậy? Việc này có ích gì không? Hay mình đang lãng phí thời gian một cách vô ích?

Đây chính là đoạn khó khăn nhất. Vượt qua được sự nghi ngờ của chính mình khó hơn vạn lần việc vượt qua lời nói của người khác.

Tôi biết có những người cha, người mẹ cả đời làm lụng, không dám ăn tiêu. Họ không mua xe sang, không xây nhà lớn. Tiền bạc họ dành dụm được đều đổ vào việc học cho con. Họ hiểu một cách sâu sắc cái điều mà cổ nhân đã đúc kết: “Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân”.

Trồng một cái cây mất mười năm, nhưng trồng một con người có khi cả đời. Đó là một cách “trồng cây” cao cả nhất. Mười mấy hai mươi năm trời, họ chỉ thấy tiền đi ra chứ không thấy gì quay lại. Nhưng họ tin, họ tin rằng cái cây của mình một ngày nào đó sẽ thành người, sẽ có một cuộc đời tử tế. Cái “bóng mát” mà họ mong không phải cho mình, mà là cho tương lai của con cái.


Tôi biết có những người bạn, sau giờ làm lại cặm cụi ngồi học một ngôn ngữ mới, học lập trình, học cách làm bánh. Nhìn vào mục tiêu cuối cùng thì thật xa vời, nhưng người xưa chẳng đã nói rồi sao?

“Thiên lý chi hành, thủy vu túc hạ”.

Hành trình ngàn dặm, luôn bắt đầu từ một bước chân. Bạn bè rủ đi chơi, họ từ chối. Họ mệt, họ buồn ngủ, nhưng họ vẫn kiên trì với “bước chân” của ngày hôm nay. Họ không biết liệu có dùng đến kỹ năng đó để kiếm tiền hay không. Nhưng họ làm vì họ tin rằng việc học hỏi và tốt lên mỗi ngày là điều đúng đắn. Đó là cách họ “trồng cây” cho chính bản thân mình, để một ngày nào đó, tâm hồn họ có thêm bóng mát của sự hiểu biết và tự tin.

Sự công nhận từ bên ngoài rất tuyệt, nhưng nó không phải là thứ cốt lõi. Cốt lõi là sự công nhận từ chính bạn. Là cái cảm giác bình yên khi biết rằng, hôm nay mình đã không bỏ cuộc, mình đã làm một việc có ý nghĩa dù chẳng ai thấy. Cái giá trị thật sự của việc trồng cây không chỉ nằm ở ngày nó ra hoa kết quả. Giá trị lớn lao hơn nằm trong suốt quá trình bạn kiên nhẫn chăm bón nó.

Chính quá trình đó đã rèn luyện bạn. Nó dạy bạn cách tin tưởng vào những điều chưa xảy ra. Nó dạy bạn cách đối mặt với sự nhàm chán. Nó dạy bạn cách tìm thấy niềm vui trong những thay đổi nhỏ bé mà người ngoài không thể nào nhận ra.

Bạn trở thành một người sâu sắc hơn, kiên định hơn, và bình thản hơn. Con người mà bạn trở thành trong quá trình đó, mới chính là “quả ngọt” quý giá nhất.


Vậy nếu bạn đang làm một điều gì đó lặng lẽ, xin đừng buồn

Nếu bạn đang cố gắng mỗi ngày để cai một thói quen xấu.

Nếu bạn đang kiên nhẫn dạy dỗ con cái từng chút một.

Nếu bạn đang chăm sóc một người thân bị bệnh.

Nếu bạn đang xây dựng một dự án nhỏ bé từ hai bàn tay trắng.

Nếu bạn đang nỗ lực để trở thành một người tử tế hơn, dù không ai yêu cầu.

Tất cả những việc đó, chính là bạn đang trồng cây.

Có thể bây giờ nó chỉ là một hạt mầm. Có thể bạn thấy cô đơn và mệt mỏi. Nhưng hãy tin tôi, từng giọt mồ hôi, từng chút kiên nhẫn của bạn đều đang tưới tắm cho cái cây đó. Sẽ có ngày, không sớm thì muộn, nó sẽ lớn lên.

Và có thể, cái bóng mát từ cái cây đó không chỉ để cho bạn. Một ngày nào đó, một người khác đi ngang qua cuộc đời bạn, họ sẽ cảm nhận được sự bình yên, sự vững chãi từ chính con người bạn. Họ sẽ được che chở bởi lòng tốt và sự kiên định mà bạn đã vun trồng trong im lặng suốt bao nhiêu năm.

Lúc đó, bạn sẽ hiểu. Mọi nỗ lực thầm lặng đều không bao giờ là vô nghĩa. Cứ làm thôi, làm cái việc mà mình tin là đúng. Một ngày nào đó, bạn và cả những người xung quanh sẽ được ngồi nghỉ dưới bóng mát từ chính đôi tay của bạn.

Nguyên Tác An Hậu

TÂY GIANG NGUYỆT - TÀO TUYẾT CẦN


Tây giang nguyệt kỳ 1

Vô cố tầm sầu mịch hận,
Hữu thì tự xoạ như cuồng;
Túng nhiên sinh đắc hảo bì nang,
Phúc nội nguyên lai thảo mãng.

Lạo đảo bất thông thế vụ,
Ngu ngoan phạ độc văn chương;
Hành vi thiên tích tính quai trương,
Na quản thế nhân phỉ báng!


西江月其一

無故尋愁覓恨
有時似傻如狂
縱然生得好皮囊
腹內原來草莽

潦倒不通世務
愚頑怕讀文章
行為偏僻性乖張
那管世人誹謗


Tây giang nguyệt
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Mua sầu chuốc hận vào thân. 
Ngây ngây dại dại, thêm phần cuồng ngông. 
Vẻ ngoài tốt mã nhác trông. 
Bên trong cỏ rác, chất chồng ai hay. 
Đảo điên thời thế bấy nay. 
Văn chương chẳng đọc báy chày hiền ngu. 
Khoa trương khoe mẽ giao du. 
Người đời phỉ báng, thiên thu vẫn còn.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tào Tuyết Cần 曹雪芹 (4/4/1710 - 10/6/1765) là một tiểu thuyết gia vĩ đại người Trung Quốc, tác giả của cuốn tiểu thuyết Hồng lâu mộng, một trong tứ đại kỳ thư của văn học cổ điển Trung Quốc.

Gia đình thế hệ trước của Tào Tuyết Cần là một gia đình quan lại thuộc tầng lớp đại quý tộc thời nhà Thanh Trung Quốc. Từ đời tổ đến đời cha của ông đã thay nhau giữ chức “Giang ninh chức tạo” là một chức quan to thu thuế trong triều đình. Năm lần vua Khang Hy tuần du phương Nam thì bốn lần ở lại nhà họ Tào. Ông nội ông là Tào Dần, một nhà văn xuất sắc vùng Giang Ninh. Đến đời của ông tất cả sự giầu sang quyền quý của gia đình đã trở thành quá khứ. Gia đình ông bị mắc nạn. Ông sống trong nghèo khổ, phải đưa gia đình đi khắp nơi để mưu sinh. Mười năm cuối đời ông đã dồn toàn bộ tâm huyết và tinh thần vào để tạo nên kiệt tác Hồng lâu mộng.

Nguồn: Thi Viện



"VĂN CHƯƠNG THIÊN CỔ SỰ, ĐẮC THẤT THỐN TÂM TRI"

Một nhà văn giỏi không thể chỉ nói đến kỹ xảo mà bỏ qua việc tu dưỡng đạo đức; phải có nhân phẩm chân thành, tấm lòng rộng mở cùng phẩm chất cao thượng thì mới viết ra được những áng thơ văn hay.


“Văn chương thiên cổ sự, đắc thất thốn tâm tri” là câu danh ngôn do thi thánh Đỗ Phủ viết ra. Mười chữ ngắn gọn, súc tích nhưng nội hàm sâu xa.

Từ xưa đến nay, những văn nhân, tác gia có trách nhiệm đều coi đây là lời răn dạy để ghi khắc trong lòng. Bởi vì “văn dĩ tải đạo”, viết văn là để chuyên chở đạo lý, để bày tỏ tư tưởng của tác giả; cho nên văn chương là sự nghiệp muôn đời, ảnh hưởng sâu xa. Một nhà văn chân chính phải hiểu rõ được mất trong việc sáng tác, xem việc viết văn như một đại sự mở ra trí tuệ nhân loại.

Câu này xuất phát từ bài “Ngẫu đề” của Đỗ Phủ đời Đường, nghĩa là: văn chương là sự nghiệp muôn đời lưu truyền, còn nỗi gian nan, được mất thì chỉ có người viết mới hiểu rõ trong lòng.


Nguyên tác bài thơ khá dài. Trong đó, Đỗ Phủ bộc lộ quan điểm về sáng tác thơ ca lúc cuối đời, có thể xem là một kiệt tác mang tính khái quát. Câu “thiên cổ sự” nghĩa là sự việc lâu dài, trọng đại, tương ứng với lời Tào Phi thời Tam Quốc:

“Văn chương kinh quốc chi đại nghiệp, bất hủ chi thịnh sự” (Văn chương là sự nghiệp lớn để trị quốc, là sự nghiệp huy hoàng bất diệt). Còn “thốn tâm tri” là nói rằng với văn chương, chính tác giả mới là người hiểu rõ nhất. Hai câu này tuy thuộc loại nghị luận nhưng đối ngẫu chỉnh tề, ngôn từ cô đọng, ý nghĩa sâu sắc đầy tính triết lý.

Tôi không phải là nhà văn chuyên nghiệp, cũng chẳng phải nghệ sĩ. Nhưng từ khi bước trên con đường viết lách, tôi thường chăm chú quan sát những chi tiết của đời sống, rồi dốc lòng ghi lại những cảm ngộ chợt lóe sáng trong tâm hồn.


Văn chương là một khái niệm rộng lớn, bao gồm thơ, từ, ca, phú, thư, biểu, sách, luận… Nội dung vô cùng phong phú: có thể chuyên chở đạo lý, bày tỏ tình cảm, luận lý, hoặc phác họa ý cảnh. Viết được bài văn hay chính là biểu hiện của một bản lĩnh; mà trong mấy nghìn năm qua, số người viết được văn chương bất hủ cũng hiếm hoi.

Hàn Dũ đời Tống từng nói: “Sư giả, truyền đạo, thụ nghiệp, giải hoặc dã” (Người thầy là để truyền đạo, dạy nghề, giải nghi). Văn chương cũng vậy. Một tác phẩm hay có thể khai mở trí tuệ, giúp con người có tư tưởng đúng đắn, nhận thức đúng đắn, hình thành mục tiêu nhân sinh chính đáng, nhờ trí tuệ khéo léo mà giải quyết khó khăn trong đời.

Một bài văn phải có quan điểm riêng, phải giảng rõ đạo lý. Lý lẽ là để sáng tỏ đạo, khiến người đọc chấp nhận quan điểm; đồng thời cũng phải có tình cảm, để lôi cuốn người đọc, khiến họ cảm nhận được cái đẹp. “Kỳ văn cộng hân thưởng, nghi ý tương dữ tích” chính là cảnh giới đó.


Dù là làm văn hay làm thơ, đều phải hết lòng hết sức. Cái vui trong văn chương thi phú thực chất là lạc thú trong gian khổ; nhiều văn nhân cổ xưa từng bày tỏ nỗi niềm ấy. Một câu hay, một từ đẹp vô cùng quý giá, tuy ở đâu cũng có, lúc nào cũng hiện hữu, nhưng đôi khi khó mà nắm bắt: khi thì như hoa quỳnh thoáng nở, khi thì như ánh nước chập chờn; lúc xa vời vợi, lúc lướt ngang qua.

“Văn chương bổn thiên thành, diệu thủ ngẫu đắc chi”, văn chương vốn do trời thành, chỉ có bàn tay khéo léo mới ngẫu nhiên nắm bắt được. Do vậy, một nhà văn chân chính không thể chỉ dựa vào kỹ xảo mà quên tu dưỡng đạo đức; phải có nhân phẩm chân thành, tấm lòng rộng mở và phẩm hạnh cao quý thì mới có thể viết nên những áng văn chương tuyệt diệu.

Mỹ Mỹ biên dịch
Trích: Trí tuệ cuộc sống

CHINH PHỤC NHỮNG VÌ SAO - KỲ 5: LY KỲ CHUYẾN TRỞ VỀ TRÁI ĐẤT ĐẦU TIÊN TỪ VŨ TRỤ

Chính xác chuyến bay vũ trụ đầu tiên của phi hành gia Liên Xô Yuri Gagarin diễn ra thế nào? Theo thời gian, nhiều điều đã được giải mật lại đầy đủ.

Gagarin đã đi vào lịch sử bằng chuyến bay vũ trụ có người lái đầu tiên của nhân loại - Ảnh: Russianspace

Đã có trục trặc cửa đóng tàu Vostok 1 ngay trước giờ phóng. Gagarin cũng không lên đúng quỹ đạo kế hoạch mà bay cao hơn. Đặc biệt, một vụ phóng thử trước đó không lâu đã thất bại. Phi thuyền bị nổ ít giây sau vụ phóng.

108 phút bay vũ trụ

Sau khi phóng thành công phi thuyền Vostok 1 (Phương Đông 1), Liên Xô đã công bố trước thế giới là quốc gia đầu tiên thực hiện thành công chuyến bay vũ trụ 108 phút (sau này có nguồn cho rằng chính xác là 106 phút).

Theo Russianspace, sau cuộc liên lạc vô tuyến thử đầu tiên của Gagarin với trạm điều hành lúc 7h20 giờ Matxcơva vào sáng lịch sử 12-4-1961, tổng công trình sư trưởng Sergei Korolev cho lệnh đóng nắp khoang tàu đã có phi hành gia sẵn sàng ở bên trong. Các kỹ thuật viên Ivanovsky, Morozov và Skoptsov cùng đóng tấm nắp nặng 100kg và siết chặt bằng 30 con ốc chuyên dụng đảm bảo an toàn cho chuyến bay.

Tuy nhiên trục trặc bất ngờ đã xảy ra. Một trong ba đèn báo hiệu việc kích hoạt cơ chế phóng cửa thoát hiểm không sáng lên trong hầm điều khiển phóng.

Điều này có nghĩa việc phóng không thể thực hiện được hoặc chuyến bay sẽ bị nguy hiểm nghiêm trọng. Korolev yêu cầu kỹ thuật viên mở cửa ra để đóng lại lần nữa. Lần này thì thành công, cả ba đèn đều sáng, sau khi Ivanovsky dùng tuốc vít điều chỉnh nhẹ tiếp điểm bị lỗi trước khi đóng cửa lại lần thứ hai.

Mọi người rời bệ phóng, chỉ còn một mình Gagarin ngồi ở khoang đầu phi thuyền Vostok 1, nhận lãnh trách nhiệm lịch sử của nhân loại: lần đầu tiên bay ra vũ trụ như bước chân đầu tiên trên hành trình dài đến những vì sao.

Tất cả đã sẵn sàng cho thời khắc lịch sử. Một phần nhỏ của giây trước 9h07 giờ Matxcơva, phi thuyền Vostok 1 phụt khói lửa gầm rú bay lên bầu trời trong xanh không một gợn mây và chếch mũi về phương Đông như chính con tàu mang tên. Sân bay vũ trụ Baikonur ở Kazakhstan giữa thảo nguyên đang mùa hoa tulip dại mờ dần phía dưới.

Bên trong tàu, áp lực gia tốc đè nặng lên người phi hành gia đầu tiên. Nhịp tim vọt lên đến 150 nhưng anh đã được huấn luyện kỹ cho chuyện phi hành gia nào cũng phải trải qua khi rời Trái đất. Có lúc Gagarin như cứng đờ, không thể nói được. Dưới mặt đất mọi người rất lo lắng.

Chỉ huy Korolev gọi vô tuyến như hét lên: "Tuyết tùng, tuyết tùng, anh thế nào?". Tuyết tùng là mật danh chuyến bay. Mặt Korolev biến sắc, tay ông cầm máy gọi mà run lên và mặt chỉ giãn ra khi nghe tiếng trả lời của Gagarin. Sự thật trước đó nhiều chú chó được phóng thử nghiệm đã không thể có "vé về", trừ đôi chó may mắn Belka và Strelka.

Sau này nhiều tài liệu được giải mật cho rằng vụ phóng tàu Vostok 1 đã được thực hiện quá nhanh. Tổng công trình sư trưởng Korolev và một số lãnh đạo khác chấp thuận quá nhanh một số vấn đề kỹ thuật trước áp lực thời Chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô...

Trang Russianspace ghi lại: "Hai phút rưỡi sau khi phóng, lớp vỏ bao phủ tàu vũ trụ tách thành hai cánh hoa với một cú giật mạnh và rơi xuống để lộ cho phi công một khung cảnh ngoạn mục ở cửa sổ phía dưới. "Tuyệt đẹp", Gagarin thốt lên sau khi nhìn thấy một trong hai cánh hoa của chóp mũi từ từ rơi ra khỏi tên lửa, phía sau là bề mặt Trái đất tuyệt đẹp".

Tầng thứ ba tên lửa sau đó được kích hoạt tăng tốc tàu vũ trụ lên tốc độ gần 8km mỗi giây cần thiết để đạt đến quỹ đạo khoảng 10 phút sau khi cất cánh. Theo Korolev, khoảng 13 phút sau khi phóng, Gagarin đã trở thành người đầu tiên đến được quỹ đạo Trái đất. Kỷ nguyên vũ trụ thêm bước tiến mới cực kỳ trọng đại.

Điểm viễn cực trên quỹ đạo mà Vostok 1 bay tới là 327km so với bề mặt Trái đất, cao hơn hẳn kế hoạch 230km thiết lập bay. Vì phi thuyền có người lái đầu tiên này thiếu động cơ hãm dự phòng nên quỹ đạo bay của nó được thiết lập khoảng 230km, để cao độ đó có thể làm chậm tàu vũ trụ cho nó quay về khí quyển và đáp xuống 5-7 ngày sau khi phóng.

Lượng không khí, thức ăn, nước uống và các vật dụng tiêu hao thiết yếu khác cho chuyến bay chỉ được chuẩn bị đủ 10 ngày. Tuy nhiên các số liệu khoa học Vostok 1 bay đến quỹ đạo cao thực tế này khiến con tàu cần hơn hai tuần để có thể trở về Trái đất. Do đó nếu động cơ hãm bị hỏng mà không có dự phòng, Gagari có thể sẽ phải nhận cái chết từ từ trên quỹ đạo.

09h25 giờ Matxcơva ngày 12-4-1961, Gagarin gọi về Trái đất và được trạm mặt đất Zarya 3 ở bán đảo Kamchatka, vùng Viễn Đông Liên Xô tiếp nhận. Russianspace ghi lại những trao đổi này từ tài liệu được giải mật. Trong đó Kedr là mật danh Gagarin và Karpenko là người liên lạc dưới mặt đất:

Kedr (Gagarin): Gọi Zarya 3, anh nghe rõ không?

Kedr: Zarya 3, anh nghe rõ không, anh nghe rõ không? Không nghe thấy Vesna (trạm mặt đất sóng ngắn), không nghe thấy Vesna.

Zarya 3 (Karpenko): Đã hiểu; chúng tôi nghe rõ anh.

Kedr: Chuyến bay đang diễn ra tốt đẹp, mọi thứ đều ổn. Anh có thể cho tôi biết gì không?

Khoang hạ cánh của Gagarin

Trở về Trái đất

Hành trình trở về Trái đất của Gagarin ban đầu diễn ra thuận lợi. Động cơ hãm được khởi động lúc 10h25. Gagarin viết lại trong nhật ký của mình: "Ngay khi TDU (động cơ hãm) tắt, có một cú giật mạnh. Tàu vũ trụ bắt đầu quay quanh trục của nó với tốc độ rất cao. Trái đất đang di chuyển trong Vzor (cửa sổ) từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Tốc độ quay khoảng 30 độ mỗi giây, không dưới...

Mọi thứ đều quay cuồng. Một khoảnh khắc tôi nhìn thấy châu Phi - nó xảy ra trên châu Phi - khoảnh khắc khác là đường chân trời, khoảnh khắc khác là bầu trời. Tôi hầu như không kịp che chắn mình khỏi ánh nắng mặt trời để ánh sáng không làm chói mắt tôi. Tôi đưa chân về phía cửa sổ (dưới cùng) nhưng không đóng rèm. Tôi muốn tự mình tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra".

Theo thiết lập bay, khoang về Trái đất của Gagarin sẽ tách khỏi mô đun thiết bị trong vòng 10-12 giây sau khi quá trình giảm quỹ đạo kết thúc nhưng điều đó đã không xảy ra. Tàu vũ trụ tiếp tục quay tròn dữ dội khi tiến gần đến các tầng khí quyển dày đặc. Cuối cùng, quá trình tách rời diễn ra lúc 10h35, khi tàu vũ trụ đang trên bầu trời biển Địa Trung Hải.

Khi khoang trở về Trái đất lao xuống bầu khí quyển, phi hành gia đầu tiên của loài người nhìn thấy một vầng sáng đỏ rực xuất hiện phía sau cửa sổ cùng với tiếng lách tách của lớp cách nhiệt bị thiêu rụi dần.

"Có một khoảnh khắc, khoảng 2-3 giây, khi dữ liệu trên các đồng hồ điều khiển bắt đầu trông mờ đi. Nó bắt đầu chuyển sang màu xám trong mắt tôi. Tôi cố gắng giữ bình tĩnh. Điều đó có ích, mọi thứ dường như trở lại vị trí ban đầu".

Có mùi khét xuất hiện trong khoang nhưng may mắn chỉ thoảng qua chốc lát. Việc hạ cánh tiếp tục an toàn. Ở độ cao 7km trên bề mặt Trái đất, cửa khoang được tách ra, Gagarin phóng ra ngoài.

Đó là lúc 10h42 giờ Matxcơva. Ghế phóng phi hành gia bung ra thành công rơi tự do xuống đất. Dù chính và dù dự phòng lần lượt mở bung. Gagarin hạ cánh với hai chiếc dù. Quá trình này kéo dài khoảng sáu phút, Gagarin gặp khó khăn khi mở một van trong bộ đồ phi hành gia để thở không khí nhưng rồi ông đã làm được.

Cánh đồng vừa được cày xới gần làng Smelovka (quận Ternovsky, thành phố Saratov, Liên Xô) đã in dấu chân đầu tiên trở lại mặt đất của Gagarin lúc 10h55 (hoặc 10h53 theo một nguồn khác).

Anna, vợ một kiểm lâm địa phương, và cháu gái đang trồng khoai tây gần đó đã thấy người đàn ông mặc bộ đồ màu cam. Họ chào nhau bằng tiếng Nga. Sau bối rối ban đầu, Anna giúp Gagarin mở khóa mũ bảo hiểm và mời ông uống sữa.

Thiếu tá Akhmed Gasiev, chỉ huy đơn vị phòng không số 40218 gần đó, cũng đến sau ít phút. Gagarin giơ tay chào báo cáo với Gasiev: "Trung úy Gagarin. Hạ cánh an toàn". Và Gasiev đáp lại bằng cái ôm thật chặt. Gagarin đã hạ cánh chệch khỏi địa điểm dự kiến 300km về phía đông bắc.

Ngày 14-4-1961, Gagarin được đến Matxcơva trên chiếc máy bay Il-18 có nhóm máy bay chiến đấu hộ tống trang trọng. Tại đường băng, Tổng bí thư Nikita Khrushchev và nhiều người khác đón chào anh hùng Liên Xô đầu tiên trở về từ vũ trụ.

>> Kỳ 6: Phi hành gia Mỹ Alan Shepard - người thứ 2 lên vũ trụ

Thùy Chi / Theo: tuoitre

Wednesday, June 17, 2026

CHIỀU QUÊ VÀ TRÒ TRỐN TÌM TUỔI THƠ

Những buổi chiều hè ở quê cuối thập niên chín mươi, khi nắng đã rút dần sau rặng tre, gió từ cánh đồng thổi về mát rượi, lũ trẻ trong xóm lại ríu rít tụ tập đầu ngõ để chơi trốn tìm.

Ảnh minh họa.

Đứa “bị” úp mặt vào gốc tre, hai bàn tay che kín mắt, giọng đếm to, rành rọt:

“Một… hai… ba… mười! Tao đi tìm đây nhé!”

Tiếng hô vừa dứt, cả bọn ùa chạy tán loạn. Đứa lao vào bụi chuối, đứa chui xuống gầm giường tre kê ngoài hiên, có đứa nhanh chân trèo tót lên cây khế đầu ngõ. Tim vừa thót lại vì sợ bị lộ, miệng vừa muốn bật cười vì trò nín thở giấu mình mà đứa nào cũng vụng về.

Chơi trốn tìm thì luật rõ ràng. Cả nhóm oẳn tù tì chọn ra một đứa “bị”. Nó phải bịt mắt, úp mặt vào gốc cây hay bức tường mà đếm, có khi chỉ đến mười, có khi đến năm mươi hay trăm, tùy thỏa thuận. Trong lúc ấy, bọn còn lại tản đi khắp nơi tìm chỗ nấp: bụi chuối, bờ duối, gầm giường tre, hoặc thấp thỏm sau lũy tre.

Ảnh minh họa.

Khi đếm xong, “người đi tìm” hô to:

“Tao đi tìm đây nhé!”

Rồi bắt đầu lùng sục khắp ngõ. Hễ thấy ai, nó phải chạy về chạm tay vào “cột” – thường là gốc tre hay bức tường, rồi reo lên:

“Tớ thấy thằng Tuấn sau bụi chuối nhé!”

Người bị gọi đúng thì không được chối, phải bước ra chịu thua.

Thế nhưng, trò chơi đâu chỉ có vậy. Những đứa trốn khéo, chờ lúc “người đi tìm” mải ngó chỗ khác, sẽ cắm đầu lao thật nhanh về phía “cột”, vừa chạm vừa kêu to: Cõng!

Thế là thoát, coi như thắng vòng ấy. Nếu tất cả bị bắt hết, đứa bị lộ đầu tiên sẽ làm “bị” ở lượt sau. Còn nếu có người thoát được, “người đi tìm” lại phải tiếp tục chịu phần thua.

Ảnh minh họa.

Có những hôm chúng tôi chơi đến tận khi trời tối mịt. Trăng non treo lơ lửng trên ngọn tre, đồng làng rì rào tiếng dế gáy. Cả đám mải mê rượt đuổi, quên cả bữa cơm chiều. Chỉ khi nghe tiếng mẹ gọi vọng ra từ đầu ngõ:

“Về ăn cơm thôi con ơi, tối rồi đấy!’’

Lúc ấy, từng đứa mới rối rít kéo nhau về, người lấm lem bùn đất, đầu gối xước xát, áo quần ướt mồ hôi, nhưng gương mặt nào cũng sáng bừng.

Giờ nhớ lại, trò trốn tìm ngày ấy chẳng có gì cầu kỳ. Chỉ cần một khoảng sân đất, một lũy tre già và tiếng cười giòn tan, thế là đủ cho một mùa hè tuổi thơ không thể nào quên. Cái hồn nhiên, giản dị ấy, có lẽ hôm nay khó lòng tìm lại giữa nhịp sống vội vã và ồn ào.

Khai Tâm biên tập
Theo: vandieuhay

THU PHONG TỪ - LÝ BẠCH


Thu phong từ

Thu phong thanh,
Thu nguyệt minh.
Lạc diệp tụ hoàn tán,
Hàn nha thê phục kinh.
Tương tư, tương kiến tri hà nhật?
Thử thì, thử dạ nan vi tình...


秋風詞

秋風清,
秋月明。
落葉聚還散,
寒鴉棲復驚。
相思相見知何日,
此時此夜難為情。


Thu phong từ
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Gió thu trong trẻo mát lành. 
Trăng thu sáng tỏ, tròn vành lung linh. 
Lá rơi, lá rụng vô tình. 
Quạ kêu đêm lạnh, giật mình thất kinh. 
Tương tư chẳng gặp được mình. 
Đêm nào gặp gỡ tâm tình thiết tha ?


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi “chống kiếm viễn du”, đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn “ẩm tửu hàm ca” (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một “văn nhân ngự dụng” nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Nguồn: Thi Viện