Sunday, February 8, 2026

CÁI ĐẦU CÚI XUỐNG - CÁI CẰM HẤT LÊN

Trong đời mình, chắc ai cũng từng gặp hai kiểu người. Một kiểu, dù chưa nói câu nào, mình đã cảm thấy có một bức tường vô hình ngăn cách. Ánh mắt họ nhìn mình cứ như từ trên cao nhìn xuống.


Còn một kiểu khác, họ lặng lẽ, ăn nói nhỏ nhẹ, nhưng mình lại thấy muốn đến gần, muốn ngồi xuống kể cho họ nghe chuyện của mình.

Ông bà tôi thường nhắc con cháu câu này: ngạo mạn che mất mắt, khiêm nhường mở được lòng.

Câu này không phải để chỉ trích ai, tôi nghĩ, nó chính là bí quyết, là cách đối nhân xử thế cần học hỏi.

Nói cho dễ hiểu, ngạo mạn là một thứ bệnh của “cái tôi”. Là khi “cái tôi” của mình nó bị sưng lên. Mình bắt đầu tin rằng mình hay hơn người khác, mình biết nhiều hơn người khác, mình đáng được trọng vọng hơn người khác. Cái bệnh này không phải lúc nào cũng la lối ồn ào. Nó có khi chỉ là cái cằm hơi hất lên, là cái nhíu mày khi nghe ai đó có ý kiến khác mình, hay là nụ cười nửa miệng khi thấy ai đó lầm lỡ.

Cái ngạo mạn nó giống như một tấm vải đen, tự mình lấy che lên mắt mình. Che rồi thì không còn thấy đường nữa. Không thấy được cái lỗi của bản thân, nhưng lại rất tinh tường khi nhìn ra cái dở của người khác.

“Thiên ngoại hữu thiên, nhân ngoại hữu nhân”

Không thấy được rằng Trời ngoài kia còn cao, biển ngoài kia còn rộng, mà chỉ thấy cái thế giới nhỏ bé của mình là to nhất.

Người mà ngạo mạn, cái lòng họ chật lắm. Lòng đã chật thì không chứa thêm được nhiều, không dung thêm được ý kiến nào trái với mình. Họ giống như một cái ly đã đổ đầy nước, ai có muốn rót thêm trà quý vào, họ cũng gạt đi, vì sợ trà mới làm loãng thứ nước cũ của họ.

Đọc đến đây rồi, bạn có cảm thấy bị nhói ở tâm không? Bạn có cảm thấy bị động chạm không? Có oán trách người viết không? Chính là nó đang cất tiếng thông qua bạn đó!
 
Ngược lại hoàn toàn, là người khiêm nhường

Khiêm nhường không phải là tự ti, yếu đuối. Người khiêm nhường biết rất rõ giá trị của mình, nên họ không cần phải gồng mình lên để làm gì. Họ giống như rễ của cây cổ thụ, cứ âm thầm bám sâu vào lòng đất. Người ta chỉ thấy cái cây vững chãi, chứ ít ai thấy được bộ rễ đã làm việc vất vả thế nào.

Họ hiểu một cái lẽ rất tự nhiên: biển sâu thì tĩnh lặng, lúa chín thì cúi đầu. Càng biết nhiều, họ càng thấy mình chưa biết gì, không phải là cứ nói mình không biết gì là khiêm nhường, không thể giả vờ được.

Càng đi xa, họ càng thấy Trời Đất rộng lớn. Cái đầu của họ biết cúi xuống. Và chính cái cúi đầu đó lại khiến người khác phải ngước nhìn.

Ở gần một người khiêm nhường, tự nhiên lòng mình nó mở ra. Mình không sợ bị phán xét, không sợ bị chê bai. Mình thấy an toàn. Cái cảm giác an toàn đó quý hơn vàng, mà không trường lớp nào dạy được.


Các bậc Giác ngộ như Đức Phật, Lão Tử, hay các nhà hiền triết từ thời xưa đến nay, họ đều có chung một loại trạng thái như vậy, bạn sẽ luôn cảm thấy an toàn khi ở gần, tiếp xúc với họ, hành vi của họ tự nhiên sẽ khiến bạn muốn thay đổi bản thân, khiến bạn muốn tốt hơn, sự cao quý của họ sẽ làm bạn thức tỉnh. Chứ họ không giúp bạn bằng quát mắng, đây là điều mà chúng ta rất dễ mắc phải, đây cũng là sự phàm tục của một người.

Nói như vậy, không phải là người viết là cao thượng gì, ở đây muốn chỉ ra để tôi và bạn cùng hướng mắt về ánh sáng, về chuẩn mực, về thước đo thế nào là tốt. Khi chúng ta trở nên hoàn thiện bản thân, một cách tự nhiên ta sẽ có một số đức tính giống như Thánh Nhân. Con của cha mẹ thì ít nhiều cũng giống cha mẹ, lẽ nào lại giống người dưng?

Chỉ người đã từng trải qua sóng gió, từng biết mình nhỏ bé, từng âm thầm tu sửa chính mình, mới có được cái khí chất đó.

Có câu chuyện về chén trà rót mãi không đầy, chắc nhiều người đã nghe

Một học giả rất giỏi tìm đến một vị thiền sư. Ông nói không ngừng về kiến thức của mình. Vị sư chỉ im lặng rót trà. Trà đầy tràn ra bàn, ông vẫn cứ rót. Vị học giả hoảng quá la lên: “Thầy ơi, đầy rồi!”

Vị sư mới từ tốn nói: “Lòng ông cũng như chén trà này, đã đầy ắp chữ nghĩa và thành kiến rồi, thì làm sao tôi rót thêm Đạo vào được nữa?”

Cái ly nước đầy ấy, chính là lòng người ngạo mạn. Trí tuệ nhiều đến mấy mà không có chỗ trống để tiếp thu, thì cũng là một cái kho cũ kỹ.

Trong cách ăn ở với đời, người ngạo mạn thường tự đẩy mình vào chỗ cô đơn. Họ coi thường người khác, nên dần dần người khác cũng không muốn ở gần họ nữa. Họ nói một câu, người ta đã muốn bỏ đi. Họ giành được phần thắng trong một cuộc tranh luận, họ lại mất đi thêm một người bạn.

Người khiêm nhường, họ ít khi tranh cãi. Họ biết lùi lại một bước để trời yên biển lặng. Nhưng chính cái lùi đó lại làm người khác cảm thấy thân thương, muốn đến gần. Họ không nói nhiều, nhưng lời họ thốt ra lại có sức nặng. Đó mới là cái thắng lớn nhất, thắng mà không cần tranh, thắng bằng chính Đức độ của mình.



Sống rồi lại ngẫm, ta sẽ thấy

Cái tôi của mình là thứ ồn ào nhất, nhưng cũng là thứ mong manh, dễ vỡ nhất.

Sự ngạo mạn là cái hố được phủ bằng hoa thơm, mình cứ tưởng đang bước lên cao, ai ngờ lại đang đi xuống vực.

Còn sự khiêm nhường, nó lặng lẽ, âm thầm, nhưng nó là cái gốc, là nền móng. Nhà có thể xây cao bao nhiêu tùy thích, nhưng móng phải vững trước đã.

Hãy nhìn những người thật sự vĩ đại mà xem. Ai càng lớn, tâm lại càng tĩnh, dáng lại càng khiêm. Họ không cần cúi, nhưng họ lại chọn cúi xuống. Vì họ đủ cao để có thể cúi. Cái cúi xuống đó thể hiện một sức mạnh nội tâm phi thường, một lòng từ bi rộng lớn.

Cho nên, sống ở đời, hãy cứ giữ trong lòng một lời nhắc nhở: cái ngạo mạn làm mình thành kẻ mù giữa ban ngày, còn cái khiêm nhường lại giúp mình mở toang cánh cửa vào lòng người.

Hạ cái tôi của mình xuống, thì trí tuệ mới có chỗ để đi lên.

Cúi cái đầu của mình xuống, thì mới nhìn thấy được con đường dưới chân và không phải vấp ngã.

Và có lẽ, phần thưởng lớn nhất của sự khiêm nhường không phải là sự kính trọng của người khác, mà đầu tiên là sự bình an trong lòng mình. Khi lòng mình là một ngôi nhà rộng lớn, thênh thang, không còn bị “cái tôi” chiếm hết chỗ, thì hạnh phúc và an lạc mới có chỗ để bước vào.

Nguyên Tác An Hậu
Theo: vandieuhay

Saturday, February 7, 2026

CHIẾN TRANH KHỐC LIỆT GIỮA ẤN ĐỘ VÀ PAKISTAN: RA ĐỜI MỘT QUỐC GIA MỚI

Chỉ trong vỏn vẹn 13 ngày, một cuộc chiến ác liệt giữa Ấn Độ và Pakistan đã gây ra thương vong lớn và dẫn đến sự thành lập một quốc gia mới.

Ấn Độ nằm giữa Đông Pakistan và Tây Pakistan (phần màu xanh lá). Ảnh: The Indosphere

Những vết nứt không thể hàn gắn

Khi Ấn Độ và Pakistan tách khỏi Anh năm 1947, Pakistan được hình thành từ 2 vùng lãnh thổ cách biệt: Tây Pakistan (nay là Pakistan) và Đông Pakistan (nay là Bangladesh). Việc bị chia cắt bởi hơn 1.600km lãnh thổ Ấn Độ, cộng thêm khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ, đã khiến Đông Pakistan và Tây Pakistan nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc.

Trong khi chính quyền Tây Pakistan áp đặt tiếng Urdu làm quốc ngữ, người dân Đông Pakistan, chiếm đa số, lại sử dụng tiếng Bengal.

Tình hình trở nên căng thẳng hơn sau cuộc tổng tuyển cử năm 1970 tại Pakistan. Đảng Awami League, do ông Mujibur Rahman lãnh đạo, giành chiến thắng áp đảo ở Đông Pakistan, nhưng chính quyền Tổng thống Yahya Khan từ chối trao quyền lực. Điều này dẫn đến các cuộc biểu tình quy mô lớn đòi độc lập ở Đông Pakistan.

Theo Britannica, xung đột leo thang vào tháng 3/1971, khi Tổng thống Pakistan Yahya Khan ra lệnh trấn áp phong trào đòi độc lập của Đông Pakistan.

Cựu Tổng thống Pakistan Yahya Khan. Ảnh: Tv9 Hindi

Chiến dịch Operation Searchlight của quân đội Pakistan khiến hàng trăm nghìn người thiệt mạng, hàng triệu người phải chạy sang Ấn Độ lánh nạn, theo trang Britannica.

Bạo lực khốc liệt đã thúc đẩy phong trào giải phóng Đông Pakistan. Lực lượng Mukti Bahini, bao gồm dân thường và binh sĩ Pakistan đào ngũ, được thành lập để tiến hành chiến tranh du kích chống lại quân đội Pakistan. Ấn Độ, đối mặt với áp lực từ 10 triệu người tị nạn ở Đông Pakistan, cũng bắt đầu hỗ trợ ngầm cho Mukti Bahini, đặt nền móng cho sự can thiệp quân sự trực tiếp sau này.

Những diễn biến quyết định

Sau nhiều tháng hỗ trợ bí mật cho lực lượng Mukti Bahini của Đông Pakistan, Ấn Độ chính thức tham chiến ngày 3/12/1971, khi Pakistan mở chiến dịch không kích Operation Chengiz Khan nhằm vào các căn cứ không quân phía tây bắc Ấn Độ.

Tờ India Express dẫn lời Thủ tướng Indira Gandhi tuyên bố: “Đây là hành động khiêu chiến trắng trợn”. New Delhi lập tức đáp trả bằng một chiến dịch quân sự toàn diện, phối hợp chặt chẽ với lực lượng Mukti Bahini.

Chiến lược của Ấn Độ được xây dựng trên 3 mũi tấn công: trên bộ, trên không và trên biển.

Ở Đông Pakistan, quân đội Ấn Độ nhanh chóng giành ưu thế nhờ sự hỗ trợ của Mukti Bahini, lực lượng làm suy yếu quân đội Pakistan qua các cuộc phục kích và phá hoại.

Hải quân Ấn Độ thiết lập một cuộc phong tỏa biển, cắt đứt nguồn tiếp tế của Pakistan, trong khi không quân tiến hành các cuộc không kích vào các thành phố lớn như Lahore và Karachi, theo Indian Express.

Ở Tây Pakistan, các cuộc giao tranh diễn ra tại bang Punjab, Rajasthan (Ấn Độ) và Jammu và Kashmir (phần do Ấn Độ kiểm soát), nhưng trọng tâm của chiến dịch vẫn là Đông Pakistan.

Lực lượng ở Đông Pakistan bắt gián điệp năm 1971. Ảnh: Getty

Đỉnh điểm của cuộc chiến diễn ra vào giữa tháng 12/1971 khi quân đội Ấn Độ đã siết chặt vòng vây quanh Dhaka – "trái tim" của Đông Pakistan. Với ưu thế tuyệt đối về không quân và hải quân, Ấn Độ dội bom liên tục vào các vị trí phòng thủ, đồng thời phong tỏa đường tiếp tế từ biển.

Theo Indian Express, chiến thuật “blitzkrieg” (tấn công chớp nhoáng) được áp dụng triệt để: Quân Ấn bỏ qua các cứ điểm nhỏ, tập trung thọc sâu vào các mục tiêu then chốt, khiến lực lượng Pakistan bị chia cắt và mất khả năng phối hợp.

Trong tuyệt vọng, tướng A.A.K. Niazi – Tư lệnh Pakistan chiến đấu tại Đông Pakistan – liên tục gửi tín hiệu cầu cứu về Tây Pakistan. Theo India Today, một bức điện ngày 7/12/1971 của Thống đốc Đông Pakistan gửi Tổng thống Yahya Khan viết: “Hàng triệu người trung thành đang chờ chết… Nếu không có can thiệp quân sự trực tiếp từ đồng minh trong 48 giờ, hãy đàm phán đầu hàng”. Sau đó, các đồng minh của Tây Pakistan không có động thái nào.

Ngày 16/12/1971, khi quân Ấn tiến sát cổng thành Dhaka, tướng Niazi nhận tối hậu thư từ quân đội Ấn Độ: “Đầu hàng trong vòng 30 phút, hoặc chúng tôi sẽ tấn công”. Theo Al Jazeera, lúc 16h55p cùng ngày, trong một tòa nhà bị hư hại nặng ở Ramna Race Course (nay là Công viên Suhrawardy Udyan), tư lệnh Niazi ký “Văn kiện Đầu hàng” trước sự chứng kiến của hàng trăm phóng viên quốc tế.

Kẻ thắng, người thua và nỗi đau không lời

Tướng Khan Niazi của Pakistan ký văn kiện đầu hàng vào ngày 16/12/1971. Ảnh: AmrullahSaleh2

Việc tư lệnh Pakistan ký văn kiện đầu hàng chính thức chấm dứt cuộc chiến Ấn Độ - Pakistan năm 1971. Ngày 16/12/1971, Đông Pakistan tuyên bố độc lập, đổi tên là Bangladesh, chính thức trở thành quốc gia thứ 139 trên thế giới. Tuy nhiên, theo Al Jazeera, phải đến năm 1974, Pakistan mới công nhận nền độc lập của Bangladesh sau áp lực quốc tế.

Theo trang Britannica, Cục Tình báo trung ương Mỹ (CIA) ước tính, hơn 3.500 binh sĩ Ấn Độ và khoảng 5.000 binh sĩ Pakistan đã thiệt mạng, cùng hàng chục nghìn người bị thương trong cuộc chiến. Con số này chưa tính đến thương vong thảm khốc cho dân thường, dao động từ 300.000 đến 3 triệu người. Ít nhất, 10 triệu người phải sơ tán.

Ấn Độ còn bắt giữ 93.000 tù binh Pakistan – con số đầu hàng lớn nhất kể từ Thế chiến II - và giam giữ suốt 3 năm.

Theo Al Jazeera, cuộc chiến Ấn Độ - Pakistan 1971 cũng được nhìn nhận khác nhau qua lăng kính của các quốc gia liên quan. Với Bangladesh, người dân nước này xem đây là cuộc đấu tranh giải phóng Đông Pakistan.

Với Ấn Độ, nước này kỷ niệm chiến thắng như một cột mốc lịch sử, được gọi là Vijay Diwas (Ngày Chiến thắng). Chiến thắng năm 1971 đã củng cố vị thế khu vực của Ấn Độ, nhưng cũng để lại những vấn đề như dòng người tị nạn ở bang Assam và mối lo về việc đối xử với 93.000 tù binh Pakistan.

Pakistan xem cuộc chiến 1971 là một thất bại nặng nề. Nhiều người Pakistan đổ lỗi cho Ấn Độ dẫn đến sự gia tăng thái độ chống Ấn Độ ở Pakistan.

Nguyễn Thái - (t/h)
Theo: Người đưa tin

MAI HOA - VƯƠNG AN THẠCH


Mai hoa

Tường giác sổ chi mai,
Lăng hàn độc tự khai.
Dao tri bất thị tuyết,
Vị hữu ám hương lai.


梅花 - 王安石

牆角數枝梅
凌寒獨自開
遙知不是雪
為有暗香來


Hoa Mai
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Góc tường có mấy cành mai.
Mặc cho giá lạnh, miệt mài trổ hoa.
Trông xa dáng tuyết mặn mà.
Mùi hương phảng phất, đậm đà trong đêm.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương An Thạch 王安石 (1021-1086) tự Giới Phủ 介甫, hiệu Bán sơn lão nhân 半山老人, người Phủ Châu, Lâm Xuyên (tỉnh Giang Tây ngày nay), là một nhà văn lớn thời Bắc Tống và cũng là nhà kinh tế, chính trị lỗi lạc trong lịch sử Trung Quốc. Ông đỗ tiến sĩ năm 1041. Năm 22 tuổi (1042), ông được bổ dụng làm trợ lý cho quan đứng đầu thủ phủ tỉnh Dương Châu. Năm 1047, ông được thăng tri huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang. Năm 1051, ông được sử đến Thương Châu làm Thông phán. Hết nhiệm kỳ này ông được điều về kinh đô. Năm 1057, ông làm tri châu Thương Châu, tỉnh Giang Tô. Năm 1058 ông lại được điều đi làm quan hình ngục Giang Đông, trông coi việc tư pháp và hành chính Giang Nam. Đến cuối năm này, sau 17 năm làm quan địa phương, ông đã viết một bài trình lên Tống Nhân Tông, nêu rõ các trì trệ hiện thời của Bắc Tống và nêu lên các biện pháp khắc phục, áp dụng tân pháp để cải cách chế độ kinh tế-xã hội, quân sự của nhà Tống nhưng thất bại do sự chống đối của các tầng lớp quan lại đương thời. Trải qua một thời gian dài hai đời vua Tống Nhân Tông và Tống Anh Tông, sau khi về chịu tang mẹ 3 năm ở quê nhà, ông ở lại đó và mở trường dạy học.

Nguồn: Thi Viện



BÍ MẬT PHẦN NƯỚC SÚP TRONG MÓN BÁNH BAO NỔI TIẾNG THẾ GIỚI

Đầu bếp sử dụng nước cốt xương pha gelatin để tạo nên phần thạch súp đông đặc trước khi đặt vào bên trong nhân bánh, tạo nên phần súp nóng hổi khi hấp.

Phần súp trong tiểu long bao. Ảnh: Tripadvisor

Tiểu long bao (xiao long bao) là bánh bao nhỏ được hấp trong xửng tre. Món ăn bắt nguồn từ Thượng Hải khoảng giữa thế kỷ 19. Hai nhà hàng lâu đời nhất phục vụ món ăn này là Nanxiang Mantou Dian (khu Yu Garden) và Gulong (khu Guyi Garden). Sau này, tiểu long bao nổi tiếng khắp thế giới nhờ chuỗi nhà hàng Đài Loan - Din Tai Fung.

Nếu lần đầu ăn thử tiểu long bao, thực khách sẽ bất ngờ khi thấy phần nước súp thịt từ bên trong chảy ra sau khi cắn vào lớp vỏ. Để có được điều này, đầu bếp phải thực hiện nhiều công đoạn.

Theo Allrecipes, đầu bếp ninh xương gà, lợn, hành tươi, gừng để lấy nước cốt, lọc phần trong. Nước cốt được pha với gelatin, để nguội, cắt thành từng miếng nhỏ. Đầu bếp sẽ đặt vào bên trong mỗi chiếc bánh một miếng súp. Một số nơi, phần thạch súp có thể được trộn cùng nhân bánh. Khi hấp ở nhiệt độ cao, thạch tan, tạo thành nước sốt. Chiếc bánh sau khi hấp cũng đậm vị hơn so với bánh bao thông thường.

Đầu bếp làm nhân bánh bao súp.

Tiểu long bao truyền thống dùng nhân thịt lợn, sau này có thêm các lựa chọn như hải sản, thịt bò hay xá xíu. Món ăn có lớp vỏ mỏng, dai giúp giữ trọn phần nước súp bên trong không bị thấm ra ngoài. Để thưởng thức, thực khách gắp bánh đặt lên thìa, chọc nhẹ lớp vỏ hoặc cắn một miếng nhỏ cho nước súp trào ra rồi húp. Bánh thường dùng kèm gừng thái chỉ và sa tế. Món này cần dùng ngay khi còn nóng để đảm bảo chất lượng lớp vỏ và "nước súp", tránh để nguội vì vỏ bánh sẽ bị cứng và giảm hương vị.

Tại Thượng Hải, nhờ sức hấp dẫn từ tiểu long bao, nhiều nhà hàng còn làm các phiên bản "khổng lồ" của món bánh bao súp. Thực khách thay vì dùng thìa hay đũa, sẽ dùng ống hút để thưởng thức phần nước.

Thực khách thưởng thức phần nước súp bằng ống hút.

Tại Thượng Hải, món ăn này phổ biến ở hầu hết nhà hàng truyền thống, hệ thống Din Tai Fung và khu Yu Garden (Dự Viên), điểm đến không thể bỏ qua của nhiều khách. Do lượng khách đông, người mua thường phải xếp hàng chờ gọi món và nhận đồ. Toàn bộ công đoạn nặn, hấp bánh được đầu bếp thực hiện trực tiếp trước mặt thực khách.

Tâm Anh / Theo: VNExpress



100 NĂM LỜI NGUYỀN TÁO ĐỎ: CON NGƯỜI ĐÃ ÉP NHỮNG QUẢ TÁO PHẢI ĐỎ, NGÀY CÀNG PHẢI ĐỎ

Giống táo Red Delicious được giới thiệu vào năm 1921, kể từ đó, chúng ta bắt đầu nghĩ: Cứ táo là phải đỏ.


Không ai có thể chối cãi rằng, một quả táo nguyên bản phải có màu đỏ. Ngày nay, bạn có thể thấy táo vàng, hoặc táo xanh trong bất kỳ một cửa hàng tạp hóa nào trên thế giới. Hoặc ở một số nơi, bạn thậm chí có thể tìm thấy giống táo Anh Quốc Cox's Orange Pippin với những quả sọc và lốm đốm màu rực rỡ.

Nhưng chỉ có táo đỏ - đôi khi là táo xanh sắc thuần khiết như giống Granny Smith của Australia - mới xuất hiện trên các bảng chữ cái dạy cho trẻ nhỏ. Sự thật thú vị là, táo không phải lúc nào cũng chỉ có một màu như vậy. Chúng đã bị "nguyền" để có màu đỏ.

Lời nguyền táo đỏ: Con người đang ép những quả táo phải đỏ, ngày càng phải đỏ

Màu của táo đến từ đâu?

Tổ tiên của giống táo hiện đại là một loài cây mọc dại ở vùng Kazakhstan ngày nay, trên sườn phía tây của một dãy núi giáp với biên giới Trung Quốc. Nếu có dịp đến đó bây giờ, bạn cũng vẫn sẽ bắt gặp những cây táo dại. Chúng làm thơm không khí bằng trái rụng và nuôi dưỡng những con gấu to lớn trong rừng.

Mặc dù vậy, số lượng táo dại đã suy giảm tới 90% chỉ trong vòng 50 năm qua, bởi sự phát triển của con người. Và tương lai của chúng là một điều gì đó không hề chắc chắn 

Táo dại mọc ở Kazakhstan có cả quả màu xanh, màu vàng và màu đỏ anh đào. Mặc dù vậy, sắc đỏ của chúng trông không mấy nổi bật so với các giống táo hiện đại khác. Trớ trêu thay, ngay tại Kazakhstan lúc này, các vườn táo thương mại của họ lại trồng cả Red Delicious và Golden Delicious, các giống táo đỏ và vàng đậm màu có nguồn gốc từ Mỹ.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu và phát hiện, táo có được màu của nó là từ mức độ biểu hiện của một số gen nhất định trên vỏ quả. David Chagne, một nhà di truyền học tại Viện Nghiên cứu Thực phẩm và Thực phẩm ở New Zealand, giải thích:

Các tổ hợp enzyme trong táo đã phối hợp với nhau để biến một số phân tử thành những sắc tố gọi là anthocyanin. Trên thực tế, anthocyanin cũng là sắc tố tạo ra màu sắc cho nhiều loài thực vật bao gồm khoai lang tím, nho và mận.

Mức độ của các enzyme trong táo được kiểm soát bởi một yếu tố phiên mã - một loại protein quy định mức độ gen được biểu hiện - gọi là MYB10. Táo càng có nhiều MYB10, vỏ quả của chúng sẽ càng đỏ.

Những quả táo chúng ta ăn ngày nay đều có nguồn gốc từ táo dại ở vùng Kazakhstan.

Thú vị hơn nữa, màu sắc của táo cũng phụ thuộc vào nhiệt độ. Để có được những quả đỏ hoàn hảo, táo phải được trồng ở những nơi có nhiệt độ mát. Một khi đạt tới ngưỡng 40oC, MYB10 và anthocyanin sẽ bị phân hủy.

Ở vùng Pyrenees của Tây Ban Nha, Chagne và các đồng nghiệp của mình đã từng quan sát thấy hiện tượng những quả táo sọc đỏ bị phai màu chỉ sau vài tuần tiếp xúc với nhiệt độ tăng cao trong tháng 7.

Nếu được trồng trong thời tiết nắng ấm, táo cũng sẽ rất khó chuyển màu đỏ, Chagne nói. Tuy nhiên, ông và các đồng nghiệp của mình đang sử dụng những kiến thức sinh học đằng sau màu sắc để tìm kiếm các giống táo đỏ nhất có thể cho thị trường Châu Á, nơi táo đỏ có màu đậm như ruby đang được tiêu thụ rất mạnh.

Lời nguyền táo đỏ

Bây giờ, biến đổi khí hậu có thể tạo ra một mối đe dọa thực sự với màu sắc của táo đỏ. Nhưng có lẽ, con người bằng mọi giá phải quyết tâm ngăn chặn điều đó bằng cách đổ tiền vào các chương trình nhân giống táo, cho dù chúng có đắt đỏ tới đâu đi chăng nữa.

Trước cả khi chúng ta có những hiểu về di truyền học, những quả táo đầy màu sắc đã tạo ra sức hút mạnh mẽ đối với con người, John Bunker, một nhà sưu tập táo tại Palermo, Maine cho biết. Trong khi theo đuổi thú vui của mình, Bunker cũng đã góp phần giải cứu nhiều giống táo bị lãng quên khỏi tuyệt chủng.

Những giống táo ấy đã được trồng cách đây hơn 100 năm, trước khi việc canh tác tập trung trở nên phổ biến, bao gồm cả Black Oxford tráng lệ, một giống táo có màu đỏ đậm đến nỗi bạn có thể nhầm nó với một quả mận lớn trước khi nhìn thấy phần thịt quả trắng rực rỡ của nó.

“Màu sắc là thứ trực quan mà bạn có thể cảm nhận thấy ngay lập tức. Tôi nghĩ rằng đối với một số người, bao gồm cả bản thân tôi, đó là bản chất thu hút của táo”, Bunker nói.

Chỉ khi nhìn thấy được những quả táo có thể có nhiều màu sắc đa dạng tới cỡ nào, bạn mới nhận ra được sự "nguy hiểm" của những quả táo đỏ.

Trong quá khứ, khi những người nông dân đánh giá một giống táo mới để cân nhắc việc trồng nó, màu sắc đã từng không vượt qua được các đặc điểm khác.

Mối quan tâm nhiều nhất được được đặt vào khi đó là hương vị và công dụng: một số giống táo sẽ rất ngon khi được dùng làm rượu, số khác dùng làm bánh nướng, số khác nữa dùng để làm nước sốt và chỉ một số giống nhất định dùng để ăn trực tiếp.

Những người nông dân khi xưa chỉ trồng táo để cung cấp cho chính mình và thị trường địa phương, chức năng của quả táo mới quan trọng hơn vẻ bề ngoài. Họ chẳng bận tâm chúng được trồng ra sao và quả táo có đẹp hay không.

Nhưng khoảng một trăm năm trở lại đây, Bunker nói rằng tất cả đã thay đổi. Ông lập luận rằng trong một nền nông nghiệp cổ truyền với các trang trại nhỏ và phân tán, tính đồng nhất có giá trị rất hạn chế

Thế còn bây giờ, khi táo được trồng thành hàng ngàn dặm vuông và tính đồng nhất trong sản phẩm được coi trọng, màu sắc lại trở thành một loại thương hiệu cho táo. Màu sắc là thứ mà khách hàng nhìn vào và thốt lên “A, nó đây rồi”.

Trong hệ thống hàng hóa này, tính đồng nhất ngày càng trở nên có giá trị. Đồng thời, táo cũng bắt đầu được hái trước khi chúng thực sự chín để có thể trải qua quá trình vận chuyển đường dài mà không bị thối rữa.

Bunker chỉ ra một vấn đề ở đây: Màu sắc là một chỉ số độ chín cho táo. Táo hái sớm sẽ không có màu sắc hợp mắt cho lắm. Để giải quyết vấn đề này, những quả táo đột biến gen để có màu đỏ trước khi chín đã xuất hiện. Năm 1921, giống táo có tên là Red Delicious này đã được giới thiệu cho những người trồng vườn.

Một lời nguyền đã ám ảnh những quả táo của chúng ta trong suốt hơn một trăm năm: Chúng buộc phải ngày càng đỏ, đỏ trước cả khi chín.

Nối tiếp sự thành công của Red Delicious, những giống táo tương tự khác đã được lai tạo. Chúng đảm bảo những quả táo có màu sắc đồng đều. Đặc biệt là khi màu đỏ xuất hiện trước cả khi táo chín, chúng sẽ càng được săn đón và bán chạy.

Tuy nhiên, việc chỉ tập trung vào hình thức đã tạo ra một số hệ quả. Đầu tiên là số lượng giống táo được canh tác bắt đầu giảm xuống. Một số giống không còn ngon nữa khi thị trường coi trọng hình thức hơn là hương vị.

Khao khát bất tận

David Bedford, một nhà lai tạo táo tại Đại học Minnesota, nói rằng tuổi thơ của ông gắn liền với táo Red Delicious. Và đó là lý do ông không không thích táo cho lắm.

Hiện tại, Bedford đang cố gắng tạo ra những giống táo tiềm năng khác để đánh thức suy nghĩ của mình rằng táo có thể ngon hơn thế. Chứ những quả táo bây giờ, ông nói chúng có vỏ như da nhân tạo của Naugahyde còn ruột quả ăn như keo hồ của Elmer.

Năm ngoái, Bedford và các đồng nghiệp của mình đã cho ra mắt thành công một giống táo có tên là Honeycrisp,được biết đến với độ giòn ngon và ngọt. Về màu sắc, Honeycrisp có vỏ rất đẹp màu sọc vàng và đỏ.

Nhưng ngay cả khi những quả táo đã được lai tạo để thoát khỏi lời nguyền của Red Delicious, sự ưa chuộng màu đỏ vẫn tiếp tục. Các nhà nghiên cứu bây giờ lại giới thiệu một giống Honeycrisps với các đột biến làm cho chúng ngày càng đỏ hơn.

“Đó là điều phải xảy ra với mọi quả táo trên thị trường”, Bedford nói. “Đó là nhu cầu bản chất của chúng ta mong muốn những quả táo phải có màu của táo như cách chúng ta muốn... từ khi con người có thể can thiệp vào giống táo, họ đã làm chúng ngày một đỏ hơn”.

Những quả táo đỏ hơn có thể chẳng ngon hơn những quả táo vàng - thực tế chúng có thể còn tệ hơn - nhưng Bedford giải thích rằng táo đỏ bán chạy và đó là vấn đề.

Honeycrisp được cho là sẽ giải được lời nguyền táo đỏ. Nhưng sau khi giống táo này được tạo ra, lại có người muốn làm nó đỏ trở lại.

Để cố gắng giải lời nguyền táo là phải đỏ, Đại học Minnesota đã giới thiệu đến những người nông dân nhiều giống táo đa dạng, theo một mô hình câu lạc bộ. Trong hệ thống này, người trồng không được phép chọn trồng trái táo đỏ hơn.

Táo đỏ đúng là một lời nguyền đã ám ảnh những quả táo của chúng ta trong suốt một trăm năm. Chỉ khi nhìn thấy được những quả táo có thể có nhiều màu sắc đa dạng tới cỡ nào, bạn mới nhận ra được sự "nguy hiểm" của những quả táo đỏ, với màu sắc của chúng được coi trọng hơn cả hương vị thực sự.

Những thế hệ sinh ra trong vòng 100 năm trở lại đây và cả tương lai sẽ phải tự hỏi: Liệu có đúng là những quả táo nguyên bản phải có màu đỏ hay không? Hay đó chỉ là kết quả của một cuộc chạy đua do chính con người tạo ra, để có được những quả táo ngày càng đỏ hơn?

Táo đỏ bây giờ thực sự là một nỗi ám ảnh, chúng ta sẽ phải hi vọng và chờ đợi xem, đến bao giờ thì lời nguyền này mới được giải.

Zknight / Tham khảo BBC

Friday, February 6, 2026

BA "THƯ QUÁI" CỔ ĐẠI, TRONG ĐÓ CÓ MỘT CUỐN ĐẾN NAY CHƯA AI CÓ THỂ GIẢI MÃ

Truyền thống văn hóa Trung Hoa vô cùng rộng lớn và sâu sắc, từ xưa đến nay lưu truyền vô số các tác phẩm cổ điển. Tuy nhiên, giữa biển cả sách vở đồ sộ đó, có ba cuốn sách được hậu thế gọi là “ba đại thư quái cổ đại”; những tác phẩm kỳ lạ mà đến nay vẫn bao trùm trong lớp màn bí ẩn và nghiêm cấm.

Ba “thư quái” cổ đại, trong đó có một cuốn đến nay chưa ai có thể giải mã

Theo truyền thuyết, trong đó có một cuốn là Kỳ Môn Độn Giáp, thậm chí có thể triệu phong hoán vũ, thay đổi thiên tượng, khiến người sau phải kinh ngạc trước sự hiểu biết sâu sắc của cổ nhân đối với sự huyền bí của trời đất.

Sách Lỗ Ban: từ bảo tàng kỹ thuật đến “thư quái” nghiêm cấm

Khi nhắc đến “thư quái”, không thể không nói đến “Lỗ Ban”. Tương truyền cuốn sách này do Lỗ Ban, tổ sư nghề mộc thời Xuân Thu biên soạn. Lỗ Ban nổi tiếng với kỹ nghệ mộc, cơ khí và kiến trúc, được hậu thế tôn xưng là “bách công chi tổ”. Truyền rằng ông đã tích hợp toàn bộ kỹ thuật, y lý và thuật âm dương suốt đời mình vào một quyển sách, dùng hình vẽ xen lẫn lời văn để ghi lại, chính là sách Lỗ Ban sau này.

Tuy vậy, sách Lỗ Ban không phải ai cũng có thể hiểu. Trong sách chứa rất nhiều hình vẽ và ẩn dụ, khiến cả những thợ mộc giàu kinh nghiệm cũng khó có thể thấu hiểu hết cái vi diệu bên trong. Truyền rằng có một thợ mộc sở hữu bản chép tay của sách Lỗ Ban, nhưng vì không thể giải mã trọn vẹn bí quyết, đã tức giận đốt sách, và từ đó quyển đó mất tích. Từ đó, sách Lỗ Ban càng trở nên bí ẩn.

Theo truyền miệng, trong sách Lỗ Ban có ghi chép các phép thuật “khống chế con người vô hình” và những điều cấm kỵ về phong thủy; nếu sử dụng sai, có thể mang lại tai họa. Vì vậy, một quyển sách vốn là bảo vật kỹ thuật, cuối cùng lại bị xem là “thư quái” nghiêm cấm.

Không phải ai cũng có thể hiểu được sách Lỗ Ban vì nó chứa rất nhiều hình ảnh và ẩn dụ.

Thôi Bối Đồ: tiên đoán bí ẩn thời Đường, nhìn thấu cõi thái

Một trong những “thư quái” được lưu truyền rộng rãi là Thôi Bối Đồ. Theo tư liệu và truyền thuyết, khi Đường Thái Tông Lý Thế Dân lên ngôi, ông mời các nhà thiên văn địa lý như Viên Thiên Cương và Lý Thuần Phong để luận đoán vận mệnh quốc gia. Sau nhiều ngày tính toán, hai người dùng tượng đồ và thơ câu để ghi lại 60 tượng tiên đoán, trở nên Thôi Bối Đồ.

Tên sách “Thôi Bối” xuất phát từ một giai thoại truyền kỳ. Tương truyền sau khi luận xong tượng cuối cùng, Lý Thuần Phong nói với Viên Thiên Cương: “Thiên cơ bất khả lộ, thôi bối mà đi thôi.” Ý nói không thể tiết lộ bí mật trời, chúng ta hẵng lui đi thôi; rồi hai người rút lui khỏi triều đình, cuốn Thôi Bối Đồ từ đó truyền ra ngoài.

Nội dung Thôi Bối Đồ được cho là tiên đoán thăng trầm lịch sử Trung Quốc. Từ thời Đường, Tống, đến Minh, Thanh, thậm chí đến thời cận hiện đại, người ta cho rằng có thể tìm thấy những biểu tượng hoặc câu thơ giống nhau. Chính vì vậy, nó từng bị triều đình nhiều lần nghi ngờ, cấm đoán hoặc thiêu hủy.

Dẫu vậy, Thôi Bối Đồ vẫn được dân gian lưu truyền rộng rãi, và nhiều người nghiên cứu cho đến nay vẫn cố gắng tìm những “ẩn ý tương lai” từ nó, khiến nó trở thành một trong những sách tiên đoán nổi tiếng nhất trong thế giới người Hoa.

Nội dung của “Thôi Bối Đồ” được cho là dự đoán sự hưng thịnh và sụp đổ của các triều đại trong lịch sử Trung Quốc.

Kỳ Môn Độn Giáp: sách thiên cổ truyền rằng có thể triệu phong hoán vũ

Thư quái thứ ba là Kỳ Môn Độn Giáp, truyền rằng có thể triệu phong hoán vũ, thay đổi thời tiết. Tác phẩm này bắt nguồn từ truyền thuyết chiến tranh cổ xưa: khi Xi Vưu dẫn bộ tộc Cửu Lê tấn công trung nguyên; Hoàng Đế để thắng trận, học theo chỉ dẫn của Viêm Đế tìm đến một người phụ nữ thông thiên thuật, và người này truyền Kỳ Môn Độn Giáp cho Hoàng Đế. Nhờ đó, Hoàng Đế mới điều khiển hướng gió mây, rồi đánh bại Xi Vưu.

Kỳ Môn Độn Giáp kết hợp thiên văn, địa lý, âm dương ngũ hành và binh pháp, được xem là “vua của thuật số”. Truyền rằng nếu ai thông suốt phép này, có thể “dùng khí dẫn trời”, “mượn thế chế đối thủ”, thậm chí thay đổi khí tượng. Các quân sư và đạo sĩ hậu thế như Gia Cát Lượng và Lưu Bá Ôn được cho là thông thạo loại thuật này.

Tuy nhiên, bản gốc của Kỳ Môn Độn Giáp nay đã thất truyền; hầu hết phiên bản hiện nay là những chú giải, bản chắp vá hoặc tái biên của hậu thế. Hình thức ban đầu, ý nghĩa chân thực của nó đều không thể khảo chứng, vì thế mà càng thêm bí ẩn.


Bí ẩn chưa được giải: biểu tượng văn hóa phía sau “thư quái” cổ đại

Dù là kỹ thuật huyền bí trong sách Lỗ Ban, tiên đoán vận mệnh trong Thôi Bối Đồ, hay thuật thiên địa trong Kỳ Môn Độn Giáp; ba cuốn “thư quái” này khiến người đời vừa kính vừa sợ, không phải vì chúng thực sự có phép “quái”, mà vì chúng thách thức hiểu biết thông thường của con người về tự nhiên và định mệnh.

Cổ nhân gọi những kiến thức vượt ra ngoài quy lý bình thường là “yêu”, vừa kính vừa sợ. Nhưng nhìn từ khía cạnh khác, chúng chính là biểu thị cho nỗ lực của cổ nhân trong việc khám phá giới hạn của trí tuệ.

Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học, nhiều tác phẩm cổ đang được khai quật và nghiên cứu để hiểu rõ hơn. Có lẽ, vào một ngày nào đó, bí ẩn của những “thư quái” này sẽ được hé mở; nhưng cho đến khi đó, chúng vẫn là những điều bí ẩn hấp dẫn nhất trong dòng chảy lịch sử.

Tú Uyên biên dịch
Theo: aboluowang

TÁI DU HUYỀN ĐÔ QUÁN - LƯU VŨ TÍCH


Tái du Huyền Đô quán

Bách mẫu đình trung bán thị đài,
Đào hoa tịnh tận thái hoa khai.
Chủng đào đạo sĩ quy hà xứ,
Tiền độ Lưu lang kim hựu lai.

再遊玄都觀

百畝庭中半是苔
桃花淨盡菜花開
種桃道士歸何處
前度劉郎今又來


Lại đến chơi lầu Huyền Đô
(Dịch thơ: Anh Nguyên)

Sân trăm mẫu, nửa rêu xanh,
Cánh đào rụng hết, hoa tranh đua mầu.
Trồng đào, đạo sĩ nay đâu,
Chàng Lưu dạo trước đã lâu lại về...


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lưu Vũ Tích 劉禹錫 (772-842) tự Mộng Đắc 夢得, người Bành Thành (nay là huyện Đông Sơn, tỉnh Giang Tô) đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), làm giám sát ngự sử đời Đức Tông. Thời Thuận Tông cùng tham dự vào những chủ trương chính trị tiến bộ cùng Vương Thúc Vân, Liễu Tông Nguyên, sau Vương Thúc Văn bị bọn cường quyền gièm pha, ông cũng bị đổi thành Lãng Châu thứ sử. Ông làm từ hay dùng tục ngữ địa phương, Bạch Cư Dị từng gọi ông là thi hào. Tác phẩm có Lưu Vũ Tích tập.

Nguồn: Thi Viện