Friday, September 18, 2026

TÚY LẠC PHÁCH - TÔ CHÂU LƯ MÔN LƯU BIỆT - HOÀNG ĐÌNH KIÊN


TÚY LẠC PHÁCH
(TÔ CHÂU LƯ MÔN LƯU BIỆT)

Thương nhan hoa phát,
Cố sơn quy kế hà thì quyết!
Cựu giao tân quý âm thư tuyệt,
Duy hữu giai nhân,
Do tác ân cần biệt.
 
Ly đình dục khứ ca thanh yết,
Tiêu tiêu tế vũ lương xuy giáp.
Lệ châu bất dụng la cân ấp,
Đạn tại la sam,
Đồ đắc kiến thì thuyết.


醉落魄
(蘇州閭門留別)

蒼顏華發,
故山歸計何時決!
舊交新貴音書絕,
惟有佳人,
猶作殷勤別。
 
離亭欲去歌聲咽,
瀟瀟細雨涼吹頰。
淚珠不用羅巾浥,
彈在羅衫,
圖得見時說。


Tuý lạc phách
(Lưu biệt tại đầu xóm ở Tô Châu)
(Dịch thơ: Nguyễn Đương Tịnh)

Da mồi tóc bạc
Hứa trở về quê mà chẳng được
Bạn xưa mới cũ chẳng tin thư
Chỉ có người nhà
Tiễn chân đi cất bước
 
Trạm tiễn bài ca cổ nghẹn lời
Sầu não mưa bay tê buốt mặt
Lệ rơi quên thấm với khăn là
Tay áo quệt ngang
Giữ đợi về kể hết


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Hoàng Đình Kiên 黃廷堅 (1045-1105), tự Lỗ Trực 魯直, biệt hiệu Sơn Cốc đạo nhân 山谷道人, Phù ông 涪翁, người Phân Ninh, Hồng Châu (thuộc Giang Tây ngày nay). Ông là thư hoạ gia và thi gia trứ danh đời Bắc Tống, tề danh cùng thầy ông là Tô Thức, người đời thường gọi Tô-Hoàng. Ông đỗ tiến sĩ, có làm một số chức quan. Ông là người cầm đầu thi phái Giang Tây, một trường phái quá chú trọng đến kỹ xảo làm thơ mà không quan tâm đúng mức đến nội dung tư tưởng của tác phẩm. Hoàng Đình Kiên còn là một người rất am hiểu về hội họa và là một trong những người viết chữ đẹp nhất thời Bắc Tống.

Nguồn: Thi Viện

TRỚC KHI HÒA THÂN CHẾT, ÔNG TA ĐÃ NÓI RA NGUYÊN NHÂN BỊ "BAN TỬ" KHÔNG LIÊN QUAN VÌ ĐẾN THAM NHŨNG

Là một quan chức tham nhũng nổi tiếng trong triều đại nhà Thanh và thậm chí trong cả lịch sử Trung Quốc, Hòa Thân một đời đã lấy đi rất nhiều tiền tài khiến người ta phải tặc lưỡi.

Hòa Thân nổi danh là tham quan trong lịch sử Trung Quốc - Ảnh: Internet

Sau khi Hoàng đế Càn Long qua đời, Hoàng đế Gia Khánh đã kiểm tra dinh thự của Hòa Thân, và số tiền thu được khiến Hoàng đế Gia Khánh vô cùng ngạc nhiên và vui mừng:

Điều đáng kinh ngạc đó là một vị quân cơ đại thần tham ô nhiều tiền đến mức mà quốc khố triều đại nhà Thanh phải mất 15 năm mới thu được.

Điều đáng mừng là số tiền này sắp xung vào túi của mình, như vậy không phải lo lắng về tiền trong ngân khố quốc gia.

Chính vì vậy, trong dân gian có câu “Hòa thân té ngã, Gia khánh ăn no”, lúc này, Hoàng đế Gia Khánh hẳn là mở cờ trong bụng.

Tuy nhiên, trước khi Hòa Thân bị xử tử, ông ta đã nói một câu bày tỏ nhân sinh cảm ngộ của đời mình. Bạn có biết ông ta đã nói gì không?

Năm 1797, Hòa Thân giữ nhiều chức vụ, vừa là người đứng đầu Bộ Hình vừa là người quản lý Bộ Hộ, và ông có quyền lực rất lớn. Cũng trong năm này, A Quế, người có thể ngăn cản Hòa Thân, đã chết. Vì vậy, có thể nói trong triều đình không ai dám làm trái lời Hòa Thân, thậm chí Lưu Dung và Đổng Cáo cũng không dám quang minh chính đại lên tiếng về cái sai của Hòa Thân.

Năm 1795, Càn Long xưng làm Thái Thượng Hoàng, Gia Khánh làm Hoàng đế, lúc này Càn Long đã 85 tuổi, các quan đại thần ngày trước do ông đề bạt đều đã nghỉ hưu hoặc là qua đời, chỉ còn mỗi Hòa Thân vẫn cận kề bên ông không rời.

Hòa Thân trong lịch sử rất đẹp trai và phong lưu – Ảnh: Sound of hope

Vì vậy Càn Long đã ra lệnh cho Hòa Thân và Hoàng đế Gia Khánh đứng về hai phía của mình, vinh dự này đối với Hòa Thân có thể nói là không gì sánh được. Trong thời gian này, những ham muốn ích kỷ của Hòa Thân càng tăng cao, và ta ôngđã công khai nhận hối lộ từ các quan chức địa phương. Bất cứ khi nào ai đó cống nạp cho hoàng đế, cũng phải đưa cho Hòa Thân một phần.

Thời gian chậm rãi trôi qua, Hòa Thân đã tích lũy được rất nhiều của cải. Ông ta thậm chí còn đặt tai mắt của mình bên cạnh Hoàng đế Càn Long và Hoàng đế Gia Khánh để theo dõi hành vi của họ.

Những việc ông ta làm đã bị Hoàng đế Gia Khánh nhìn thấy, và Gia khánh đã lên kế hoạch làm thế nào để thoát khỏi Hòa Thân sau khi Càn Long qua đời.

Tháng 1 năm 1799, Càn Long băng hà, Hoàng đế Gia Khánh chính thức nắm quyền. Sau khi Hoàng đế Gia Khánh tổ chức xong tang lễ của Càn Long, ông đã hoàn toàn không để mắt tới lời trăn trối cuối cùng của Càn Long là: “Không được giết Hòa Thân”.

Việc đầu tiên là phải đi sâu vào điều tra, liệt kê 20 tội danh nghiêm trọng nhất của Hòa Thân, đồng thời tịch thu toàn bộ tài sản của Hòa Thân. Cho dù đó là để lấp đầy ngân khố bằng sự giàu có của Hòa Thân, hay trừng phạt quan chức cũ để xây dựng uy tín, Hoàng đế Gia Khánh không thể khoan dung với Hòa Thân .

Chỉ 5 ngày sau khi tuyên bố điều tra nghiêm ngặt Gia Khánh đã ra lệnh “xử tử Hòa Thân”. Còn con dâu của Hòa Thân, Công chúa Cố Luân Hòa Hiếu, và Lưu Dung đã đề nghị: “Dù sao Hòa Thân cũng là một lão tướng, mặc dù đã phạm phải trọng tội. Mong Hoàng Thượng có thể để lại cho ông ta một tấm thân toàn vẹn”.

Hòa Thân bị Hoàng đế Gia Khánh ban chết – Ảnh: Internet

Vì vậy, Hoàng đế Gia Khánh đã ban cho Hòa Thân một tấm lụa trắng để tự sát tại nhà riêng của mình.

Hòa Thân nhìn tấm lụa trắng trước mặt, thở dài một hơi rồi treo cổ tự vẫn, trong lòng sầu muộn vô hạn, lúc đó ông ta mới 49 tuổi.

Trước khi chết, Hòa Thân đã nói với Phúc Trường An, người giám sát hành hình, lý do thực sự dẫn đến cái chết của ông ta: “Vua nào thần ấy, một khi vị vua ủng hộ mình rời đi thì cũng tới lượt mình ngã xuống”, “đối cảnh thương tiền sự, hoài tài ngộ thử thân”, ý nói là bởi vì ông ta tài hoa, đẹp đẽ nên mới dẫn tới kết cục đau thương như ngày hôm nay.

Những lời của Hòa Thân cũng cho thấy một thông điệp rằng cái chết của ông ta không liên quan đến tham nhũng, nhưng Hoàng đế đã dùng chính ông ta để cảnh báo triều thần, tuyển dụng người mới, và các quan đại thần cũ nên vâng lời và đứng sang một bên.

Nguyệt Hòa
Theo: sound of hope

Thursday, September 17, 2026

THÁP ZHENHAI - BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA THÀNH PHỐ QUẢNG CHÂU

Là một trong những tòa nhà mang tính bước ngoặt của Quảng Châu với các tính năng lịch sử quốc gia. Tháp Zhenhai (鎭海樓) là đơn vị bảo vệ di tích văn hoá tỉnh Quảng Đông được nhiều người biết đến.


Đôi nét về sự hình thành tháp Zhenhai

Tháp Zhenhai, hay còn được gọi là chùa 5 tầng, là một tháp ở Quảng Châu, Trung Quốc. Tọa lạc ở công viên Yuexiu, trung tâm thành phố Quảng Châu. Hiện tại, tòa nhà này mang chức năng là Bảo tàng Quảng Châu (廣州愽物館)

Tháp Zhenhai được xây dựng vào đầu năm 1380 bởi nhà Chu Liangzi (朱亮祖), một thành viên quyền lực của tầng lớp quý tộc tỉnh, để chứng minh sức mạnh của mình để "bắt biển và núi" - Vĩnh Gia Cư thiết kế và cho xây dựng. Tháp này sau đó được kết hợp với thành phố Quảng Châu, trở thành tháp canh phía bắc.

Toàn cảnh tòa tháp Zhenhai

Trong một thời gian dài, tòa tháp là biểu tượng của Quảng Châu trước khi Tượng Vũ được xây dựng. Có một vần điệu dân gian xung quanh được truyền tai trong địa phương, có nghĩa là "đầu của cậu bé béo thậm chí còn lớn hơn chùa năm tầng, cậu bé béo, tay thậm chí còn nhỏ hơn hạt đậu tuyết. " (Quảng Đông đề cập đến đậu Hà Lan tuyết như đậu Hà Lan khi nó được nhập khẩu lần đầu tiên từ Châu Âu đến Quảng Châu.) "Người béo" có thể được thay thế bởi bất kỳ người nào.

Kiến trúc xây dựng tòa tháp Zhenhai

Tháp Zhenhai cao 92 feet (25 mét), rộng 102 feet (31 mét) và sâu 52 feet (16 mét), vào thời gian mới hoàn thành xây dựng tháp Quảng Châu trở thành tòa nhà cao nhất của Quảng Châu.

Tháp Zhenhai, cũng được đặt tên là tháp Tower Wanghai (Thiền viện) và tháp Wuceng (5 tầng), nằm trên núi Yuexiu của thành phố Quảng Châu, một trong những tòa nhà mang tính bước ngoặt của Quảng Châu với các tính năng phong phú của quốc gia. Tháp Zhenhai là đơn vị bảo vệ di tích văn hoá tỉnh Quảng Đông.

Zhenhai về đêm, điểm nhấn của thành phố Quảng Châu

Tháp được xây dựng lại năm 1928 để đặt Bảo tàng Thành phố Quảng Châu. Tháp được xây dựng theo phong cách nhà Minh, với màu sơn đỏ đặc trưng. Các căn cứ xung quanh tháp giữ một số các khẩu pháo được người Anh sử dụng trong chiến tranh thuốc phiện khi họ chiếm được vùng đất chiến lược xung quanh tòa tháp và vùng lân cận. Tòa tháp có hai con sư tử đá được khắc trong triều đại nhà Minh và cũng để bảo vệ lối vào.

Năm 1929, tháp Zhenhai trở thành bảo tàng thành phố Quảng Châu và đổi tên thành Bảo tàng Quảng Châu vào năm 1950. Hiện nay, nó được sử dụng như là một địa điểm Quảng Châu chuyên biệt để thu thập và trưng bày các di tích lịch sử và vật liệu của thành phố Quảng Châu trong sự phát triển của 2.000 năm theo chiều dài của các triều đại. Ở phía trước của tháp, có những chữ khắc trên tấm bảng lớn tượng trưng của các triều đại liên tiếp dọc hành lang và 2 chú sư tử đá cát màu đỏ của triều đại nhà Minh với chiều cao 2 mét đứng đối diện nhau.

Ở bên phải tháp, 12 pháo đài cổ đại được trưng bày. Tháp Zhenhai được phủ bằng gạch men màu xanh lá cây và được trang trí bằng men gốm màu của Shiwan, tạo ra một khung cảnh tuyệt vời. Tháp Zhenhai đã được xếp hạng là một trong tám cảnh của Quảng Châu thời nhà Thanh và thời hiện đại.

Mô hình đặt trong bảo tàng của tháp Zhenhai

Trong hàng trăm năm, nhiều nhà thơ và chính trị gia đã đến tháp để có cảm hứng, tạo cảm xúc cho các tác phẩm của mình. Vì vậy, một loạt các tác phẩm thơ ca về Tháp Trấn Hải được tạo ra bởi các nhà thơ nổi tiếng, và các chủ đề chủ yếu bao gồm các di tích lịch sử, thiền định về quá khứ tràn ngập trong trái tim của họ.

Vào năm 1380 trong thời kỳ Hồng Vũ của triều đại nhà Minh, trong thời gian mở rộng thành phố Quảng Châu, bức tường thành phố phía bắc được mở rộng lên Núi Yuexiu và tháp (tháp Zhenhai) cao 5 tầng được xây dựng trên núi đồng thời làm đẹp cảnh quan. Trong lịch sử, tháp Zhenhai đã bị hư hỏng và xây dựng lại lần 5 lần. Hiện tại, tháp có cấu trúc bê tông cốt thép thay vì khung gỗ.

Theo: dulichvietnam

THÂN PHẬN CON NGƯỜI THEO QUAN NIỆM PHẬT GIÁO


Lịch sử nhân loại cho thấy ngay từ những ngày đầu tiên xuất hiện trên trái đất, con người đã mang lấy muôn ngàn khổ đau. Khổ vì phải đương đầu với hàng trăm thú dữ xung quanh. Khổ vì phải lang thang nay đây mai đó để hái lượm các trái cây, hoặc lượm các con sò, con ốc để nuôi thân. Con người đã ngơ ngác trước cảnh trời đất bao la và cảm thấy mình chỉ là những bọt bèo trôi nổi vì quá ư nhỏ bé và cô đơn. Thêm vào đó, những thay đổi đột ngột xảy ra trong thiên nhiên nào là những trận cuồng phong, những cơn bão táp, những trận lụt, những cơn động đất v.v... làm cho con người cảm thấy bất lực trước các tai họa của trời đất mênh mông này. "Đời là bể khổ" hay "nước mắt của chúng sinh trong muôn ngàn thái dương hệ là còn nhiều hơn nước trong bốn bể đại dương." Câu nói trên của đức Phật Thích Ca trong bài thuyết pháp đầu tiên về Bốn Sự Thật (Tứ Diệu Đế) tại vườn Ba La Nại quả thực đã bao trùm mọi nỗi thống khổ đang đè nặng trên kiếp sống của con người. Nhìn những người đã chết, và những ai chưa sinh rồi nhìn lại thân phận bé bỏng và quá ư giới hạn của mình, con người đã phải rơi lệ khi đứng trước vũ trụ đầy bí mật này:

Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất tri lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thương nhiên nhi lệ hạ.

(Thi sĩ Trần Tử Ngang)

(Ai người trước đã qua
Ai người sau chưa tới
Nghĩ trời đất vô cùng
Một mình tuôn dòng lệ).

Vì tầm hiểu biết rất giới hạn nên con người đã không hiểu được gì về các hiện tượng trong vũ trụ này. Người tiền sử đã không biết gì những tai ương đang xẩy ra mà chỉ hoài nghi, thắc mắc rồi sinh ra sợ hãi. Làm thế nào họ cắt nghĩa được tiếng sét đã đánh gẫy cây cổ thụ trên ngọn đồi cao? Làm thế nào họ tiên đoán được những tai họa như lụt, bão đã giết chết đến hàng ngàn thân nhân của họ? Ai đã gây ra cảnh tang tóc nầy? Tất cả đều do các thần linh hay một đấng siêu nhiên nào đó đã giáng xuống những khổ đau thê thảm này cho loài người. Thần linh hay một đấng tối thiện nào đó muốn gì thì loài người đành cúi đầu lãnh chịu.

"Cho hay muôn sự tại Trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân,
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao, mới được phần thanh cao."
(Đoạn Trường Tân Thanh)


Tất cả khổ đau đều do ông Trời tạo ra. Trời đã tạo dựng nên loài người làm gì để họ phải chịu muôn ngàn điêu linh tang tóc. Càng nghĩ đến thân phận mình, con người càng cảm thấy đau xót:

"Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê."
(Cung Oán Ngâm Khúc)

Ông Trời quyết định mọi chuyện trên trần thế.
"Quyền họa phúc Trời tranh mất cả
Chút tiện nghi chẳng trả phần ai
Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm."
(Cung Oán Ngâm Khúc)

Vì cảm thấy bất lực, cho nên con người sinh ra chán nản, ngao ngán cho thân phận làm người. Cuộc sống đôi khi thực là vô nghĩa. Đời sống chẳng qua chỉ là một giấc mộng dài với bao cảnh đắng cay, vinh nhục. Ta đã từ cát bụi đến và chung cuộc cũng chỉ vùi chôn trong lòng đất lạnh với năm tháng quạnh hiu.

"Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau
Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì."
(Cung Oán Ngâm Khúc)

Con người khổ vì có thân. Chính Lão Tử, một hiền triết nổi tiếng của Trung Hoa vào thế kỷ thứ 5 trước Tây lịch cũng đã từng nói:

"Ngô hữu đại hoạn vị ngô hữu thân.
Ngô nhược vô thân, hà hoạn chi hữu."
(Đạo Đức kinh)

Nghĩa là tôi sở dĩ có nhiều khổ đau to lớn như thế này là vì tôi có thân. Nếu như tôi không có thân này thì làm gì có đau khổ!

Thực vậy, phước đức thì không đến đều đều, nhưng tai họa thì cứ dồn dập (Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí). Rõ ràng ta chỉ là một tên nô lệ cho thân xác ta và ta bị muôn ngàn khổ lụy cũng chỉ vì thân xác này.

"Nghĩ thân mà ngán cho thân
Một thân mang lụy mấy lần chưa thôi."
(Cao Bá Nhạ)

Không cần phải chờ đợi cho đến khi ta khôn lớn biết đời, rồi mới nhỏ xuống hai hàng lệ thảm, mà ngay khi mới lọt lòng mẹ ra chào đời, tất cả chúng ta đều đã khóc. Tiếng khóc oa oa báo nguy cho biết trước rằng cuộc đời sẽ không có gì tươi đẹp mà sẽ đầy mọi nỗi thảm sầu:

"Thảo nào khi mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc bưng đầu mà ra.
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế
Ai bày trò bãi bể nương dâu
Trắng răng đến thuở bạc đầu
Tử, sinnh, kinh, cụ lần ngu mấy lần."
(Cung Oán Ngâm Khúc)


Thực vậy, nếu như cuộc đời là một thiên đường đầy hoa thơm, cỏ lạ thì tại sao lúc mới ra chào đời, tất cả mọi người sao không cười đi?

"Thoạt mới sinh thì đà khóc chóe
Trần có vui sao chẳng cười khì?"
(Nguyễn Công Trứ)

Con người quả thực đang mang lấy vô vàn khổ sở. Nhưng theo Phật giáo, tất cả mọi nỗi thống khổ đều do chính nghiệp lực của con người tạo ra.

"Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn Trời gần Trời xa."
(Đoạn Trường Tân Thanh)

Khổ là một sự thật của cuộc đời. Theo Phật giáo "Khổ", tiếng Pàli là Dukkha, là mang tính chất tương đối, giới hạn, tức là không có gì là vĩnh viễn và tuyệt đối. Như vậy, trong Khổ còn có niềm vui, có niềm hy vọng và khổ với một giới hạn nào đó. Cổ nhân có câu "Lạc cực sinh bi, bi cực sinh lạc" tức là vui đến tột cùng thì sẽ có buồn; buồn đến tột cùng sẽ có vui. Hạnh phúc nào cũng kèm theo cái khổ và trong đau khổ sẽ hàm chứa hạnh phúc. "Hoa hồng nào cũng có gai, nhưng trên gai còn có hoa hồng". Nhưng ta phải biết tìm mọi cách để thoát khổ, đó mới là điều tối ư quan trọng. Phải khách quan để nhận xét, ta thấy rằng về đời sống vật chất, con người ngày nay đã làm giảm bớt rất nhiều nỗi thống khổ. Kể từ ngày tìm ra lửa thì nhân loại đã từ từ giải thoát được cảnh tối tăm man rợ. Việc tìm ra lửa đánh dấu một bước tiến vĩ đại trong lịch sử tiến hóa của loài người vì lửa đã chấm dứt cảnh ăn tươi nuốt sống của người tiền sử. Song song với việc biết xử dụng lửa để nấu ăn, cộng thêm vào tinh thần siêng năng lao động, óc tò mò để tìm hiểu, con người ngày nay đã tiến bộ vượt bực hơn tổ tiên của họ. Ngày nay khoa học và kỹ thuật hiện đại đã biến con người từ một sinh vật bị thiên nhiên đe dọa thì nay chúng ta đang chinh phục lại thiên nhiên. Con người đã đặt chên lên mặt trăng, đang thám hiểm Thổ tinh, và đang khám phá các hiện tượng trong vũ trụ. Nhân vi vạn vật tối linh. Chúng ta phải rất hãnh diện câu nói trên và xin đừng giao phó cuộc đời của chúng ta cho một đấng thần linh nào khác. Trong khi các tôn giáo lớn trên thế giới đề cao quyền năng siêu việt của một đấng Thượng đế tối linh thì chỉ có một mình Phật giáo là đề cao khả năng sáng tạo và giá trị vô biên của con người. Đức Phật Thích Ca đã từng dõng dạc tuyên bố: "Tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật". Phật Thích Ca không phải là một đấng Thượng đế có quyền ban phước và giáng họa mà là một vị thầy dẫn đường. Trong vô số kiếp về trước Ngài đã là một chúng sinh như chúng ta, nhưng đã cố gắng tu hành nên đã giác ngộ, thoát ly vòng luân hồi sinh tử. Trong khi các tôn giáo khác chỉ khuyến cáo tín đồ là chỉ tin mà không cần xử dụng lý trí thì đạo Phật trái lại, khuyến cáo phải dùng lý trí suy đoán rồi hãy tin.

"Đừng tin tưởng một điều gì dù rằng đó là do một bậc thông thái nói. Đừng tin tưởng một điều gì dù điều đó được viết ra hoặc lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đừng tin tưởng một điều gì dù điều đó được các bậc thánh nói ra và tin tưởng. Nhưng hãy tin điều mà chính bản thân anh phê phán là đúng." (Believe nothing because a wise man said it. Believe nothing because it is generally held, because it is written, it is said to be divine or someone else believes it. But believe only what you yourself judge to be true. Sawasdee Page 49. Sawasdee, Thai. November, 1989).

Theo Phật giáo, trong sáu nẻo luân hồi (Trời, loài người, loài A Tu La, địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh) thì con người được xem như có nhiều cơ hội nhất để tiến lên địa vị Phật. Phật chỉ là một tước hiệu nêu rõ người đã thoát ly vòng sinh tử trong sáu nẻo luân hồi. Thế giới Trời thì sống quá sung sướng có khi họ ít chú trọng việc tu hành. Nhưng khi hết phước báo trong các cõi trời, họ lại phải đầu thai trở lại trong các loài người, A Tu La v.v... Loài A Tu La tuy có phước báo cao hơn người, nhưng vì tính hung dữ nên cũng khó tu hành. Địa ngục là nơi những tội nhân bị đày đọa, vì bị khổ hình liên miên và mất tự do, cho nên dù họ có muốn tu hành cũng không được. Loài quỷ đói (ngạ quỷ) đang bị tình trạng đói khát nung nấu, lo đi kiếm ăn đâu còn thì giờ để nghĩ đến việc tu hành. Loài súc vật với bản tính ngu đần, không có lý trí soi chiếu, không biết đâu là thực, hư, tốt, xấu, tội, phước thì làm sao mà biết tu hành. Duy chỉ có loài người vì không quá sung sướng như các chư thiên, lại cũng không quá khổ như chúng sinh trong địa ngục, trong loài quỷ đói, cũng không quá u tối, mất trí tuệ như các súc vật cho nên con người rất dễ tu hành để thoát ly ra khỏi bánh xe luân hồi sinh tử. Đạo Phật rất chú trọng về con người vì chính con người sẽ xây dựng hoặc phá nát cuộc đời. Con người là một sinh vật yếu nhất trong vũ trụ như Pascal đã nói: "Con người là một cây sậy, nhưng là một cây sậy biết tư tưởng" (L’homme est un roseau, mais un roseau pansant). Thực vậy, nhờ có tư tưởng mà ngày nay con người đang chinh phục vũ trụ và làm chủ trần thế.

Như vậy, theo Phật giáo thân phận con người không phải bi đát, ê chề như nhiều người lầm tưởng. Ta nên hãnh diện ta đang mang thân xác này. Tại sao? Vì xác thân này, cuộc đời này chính là chặng đường cuối cùng để ta rủ sạch nợ trầm luân. Nếu ta biết lợi dụng cuộc đời này, thân người này để cố công tu luyện thì ta sẽ giải thoát mọi khổ đau và đến bờ Niết Bàn. Đức Phật Thích Ca trong vô lượng kiếp về trước Ngài đã cố gắng tu luyện và đã thành Phật ngồi trên tòa sen, còn chúng ta vì nghiệp chướng sâu dày nên cứ mãi mãi hụp lặn trong biển luân hồi, hết lên rồi lại xuống trong ba cõi dục này (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới) chúng ta không cảm thấy xấu hổ sao?

Người xưa có câu : "Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ, bất ưng tự khinh nhi thối khuất" . Nghĩa là ông là một kẻ trượng phu thì tôi cũng thế. Không nên tự hạ mình để chịu thua thiệt. Như vậy, theo Phật giáo, ta phải có trách nhiệm hoàn toàn về tư tưởng và hành động của chúng ta và không ỷ lại hoặc giao phó cuộc đời của ta cho một đấng thần linh nào khác. Lịch sử nhân loại cho thấy tất cả khổ đau, hạnh phúc v.v... đều do chính bàn tay con người tạo dựng, chứ có do một đấng thiêng liêng nào gây ra đâu. Tội ác của loài người là do chính con người tạo nên và xin đừng nên đổ lỗi tại Thánh Thần giáng xuống. Phải thẳng thắn mà nhìn nhận rằng chính loài người vì tham, sân, si nên đã gieo rắc tang tóc điêu linh cho chính họ, chứ không do một thế lực vô hình nào hết.

Thế giới của chúng ta đã trải qua 2 cuộc đại chiến 1914-1918 và 1939-1945 đã tiêu diệt hàng trăm triệu con người và tổn thất không biết bao nhiêu tài sản. Vậy thì tai họa này có phải do Thượng đế giáng xuống chăng? Chắc chắn là không. Mà cuộc chiến 39-45 là do tham vọng của Hitler muốn thống trị Âu châu, của Mussolini muốn làm sống lại tinh thần quốc gia qua quá trình văn minh vàng son La Mã và của tập đoàn quân phiệt Nhật muốn biến châu Á thành của người Nhật.


Phật giáo được xem như đường hướng đề cao khả năng cao quý và trách nhiệm của con người. Nếu có ai hỏi rằng Phật giáo có giúp ích gì cho xã hội loài người thì xin thưa nếu mỗi người tự lo tu tĩnh thì chính tự cá nhân ấy sẽ giải thoát tất cả khổ đau và xã hội sẽ an bình. Như vậy Phật giáo rất lạc quan với kiếp sống của con người. Phật giáo nhắn nhủ mỗi cá nhân nên nhận rõ trách nhiệm của họ. Trách nhiệm đó có hai mặt: một mặt tinh tiến diệt trừ tham, sân, si cho chính bản thân mình và mặt khác giúp đỡ bạn bè, anh em, cộng đồng, thân thuộc tùy theo khả năng vật chất của mình có, tùy theo tinh thần mà mình có. Đức Phật dạy rằng khi con người trút hơi thở cuối cùng, họ sẽ mang theo hai hành trang để đi với họ. Hành trang thứ nhất đó là việc thiện, việc nghĩa mà họ đã làm sẽ đưa họ lên sống an vui tại các cõi trời. Hành trang thứ hai là những hành vi tội lỗi như giết người, cướp của, lường gạt v.v... tạo đau thương cho chính bản thân và đồng loại thì sẽ dẫn họ xuống các thế giới thấp kém như súc vật, quỷ đói v.v... "Nhất thiết duy tâm tạo" nghĩa là tất cả đều do tâm con người tạo ra. Như vậy thân phận con người rất quan trọng vì con người sẽ tiến bộ đi lên, hoặc thoái hóa đi xuống tùy theo nghiệp mà họ đã gây ra.

"Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ"
(Đoạn Trường Tân Thanh)

Tâm và cảnh tuy hai mà một vì chúng rất liên hệ mật thiết với nhau. Và cảnh chắc chắn là tùy thuộc vào tâm. Thân phận con người và nghiệp báo của con người cũng vậy, cũng rất liên hệ mật thiết. Chúng tuy là hai nhưng thực tế chỉ có một vì nếu chúng ta tạo nghiệp thiện, nghiệp tốt thì thân phận của ta sẽ tốt, cuộc đời sẽ an vui. Do đó, theo Phật giáo nếu mọi người biết lợi dụng thân phận làm người để sửa đổi nghiệp, để trong sạch tâm mình thì thế giới sẽ hòa bình và quốc gia sẽ an lạc.

(Huỳnh Văn Hải đăng trong Buddha Home)

TỬ DẠ THU CA - LÝ BẠCH


TỬ DẠ THU CA - LÝ BẠCH

Trường An nhất phiến nguyệt,
Vạn hộ đảo y thanh.
Thu phong xuy bất tận,
Tổng thị Ngọc quan tình.
Hà nhật bình Hồ lỗ,
Lương nhân bãi viễn chinh ?


子夜秋歌 - 李白

長安一片月,
萬戶擣衣聲。
秋風吹不盡,
總是玉關情。
何日平胡虜,
良人罷遠征?


Bài hát mùa thu của nàng Tử Dạ
(Người dịch: Nguyễn Phước Hậu)

Trường An một mảnh trăng tròn
Muôn nhà nện áo chày dòn đêm thâu.
Gió thu thổi vi vu không dứt
Đưa tình này đến mục Ngọc Quan
Ngày nào Hồ giặc dẹp tan
Viễn chinh đắc thắng, để chàng về em.

Ðây là bài nổi tiếng nhất trong bốn bài "Tử Dạ tứ thời ca", nói lên cảnh từ thanh bình thịnh trị (2 câu đầu) chuyển sang cảnh chiến tranh (2 câu kế). Hai câu chót nói lên tình cảm của người đương thời, còn tràn đầy hy vọng chiến tranh sẽ sớm chấm dứt. Bút pháp đơn giản nhưng khéo diễn đạt tâm tình cũng như nếp sống của thời đó.
 
Tử Dạ là tên một người con gái đời Tấn, làm những bài ca rất bi ai.

Nguồn: Thi Viện



THAM RƯỢU QUÊN NGƯỜI, THAM SẮC QUÊN MÌNH, THAM TÀI QUÊN THÂN QUYẾN

Người xưa thường nói: “Tham rượu quên người, tham sắc quên mình, tham tài quên thân quyến”, câu nói này của cổ nhân tuy ngắn gọn, nhưng lại bao hàm rất nhiều đạo lý làm người.


Làm bất cứ chuyện gì cũng cần vừa phải, đừng đi đến cực đoan, như vậy mới là hiểu lý lẽ, cũng là có trách nhiệm với bản thân và người khác.

Trên thế gian này, có rất nhiều thứ mê hoặc con người, nếu không biết cách tự kiềm hãm, nhất mực truy cầu hưởng thụ vật chất để lấp đầy dục vọng, sẽ chỉ làm chính mình càng lún sâu, cuối cùng sẽ không còn cách nào thoát khỏi.

Mà trên đời những thứ có sức mê hoặc con người nhất, chính là rượu, sắc và tiền tài. Ba thứ này, chỉ cần tùy tiện sa vào một thứ, sẽ gây ra nhiều hậu quả khôn lường; nếu vướng vào hai thứ thì càng bi đát hơn.

“Tham rượu quên người, tham sắc quên mình, tham tài quên thân quyến”, những lời thâm thúy của người xưa để lại, nhắc nhở cho chúng ta về những tác hại mà ba thứ kia dẫn đến.

Tham rượu quên người

Uống rượu có chừng mực quả thật không phải là chuyện xấu, có thể giúp cường gân hoạt huyết, khi trời lạnh còn có tác dụng làm ấm người.

Không chỉ vậy, thời điểm mới xã giao, nhiều hợp đồng được ký kết là nhờ sau khi tan làm, đi uống cùng khách hàng vài ly.

Tuy nhiên, thói quen này càng ngày càng trở nên tha hóa, người ta không còn chỉ dừng lại ở mức 1,2 chén nữa mà đã phát triển đến mức “rượu chè trác táng”, “chén chú chén anh”…, uống đến mức bị đầu độc trong rượu, không có rượu không làm được việc gì.

Uống rượu quá độ chẳng những gây nghiện, còn dễ gây ra ngộ độc. Mà rắc rối nhất là khi say người ta lại làm ra đủ trò mất mặt. Bởi vì ý thức đã bị rượu làm cho hồ đồ, cho nên có những hành vi cử chỉ không phù hợp, tâm trí lúc không vui có thể còn làm tổn thương người khác, như vậy chính là hại người hại mình.

Bởi thế, nếu như một người uống rượu mà không biết tiết chế, cũng không để ý tới lời khuyên của người khác thì nên giữ khoảng cách với loại người này, không nên giao du thân thiết.

Tham sắc quên mình

Phụ nữ và đàn ông đẹp luôn dễ dàng thu hút ánh mắt của mọi người. (Ảnh: Pinterest)

“Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu”, mọi người đều thích những thứ tốt đẹp, người khác giới với nhau cũng vậy, phụ nữ và đàn ông đẹp luôn dễ dàng thu hút ánh mắt của mọi người.

Nhưng nếu một người không thể chống cự được sự cám dỗ của sắc, làm ra những hành vi cử chỉ không đúng đắn, thì sẽ rất khó tránh khỏi hậu họa về sau.

Với những người đắm chìm vào sắc dục, thường không cách nào chống lại được những cám dỗ đến từ những người khác giới, do vậy rất dễ phạm sai lầm.

Lâu dần, không chỉ làm tổn hại đến thân thể của bản thân, khiến tinh huyết hao tổn, tinh lực suy kiệt, mà còn ảnh hưởng đến mối quan hệ với gia đình, với người khác; đặc biệt là với những người đã lập gia đình, thì chuyện này lại càng mang đến hậu quả đáng tiếc hơn.

Không thiếu những ví dụ tiêu cực trong xã hội này, đặc biệt gần đây rất nhiều người nổi tiếng, quan chức, vì không thể kìm hãm được dục vọng của bản thân mà đã phát sinh ra những mối quan hệ ám muội với người khác giới.

Những kiểu hành vi như thế này sau khi bị phơi bày ra ánh sáng, gia đình hai bên đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, hơn nữa còn ảnh hưởng đến sự nghiệp của chính mình, cuộc đời cũng vì thế mà dính những vết nhơ vĩnh viễn không thể nào xóa sạch.

Tham tài quên thân quyến

Khổng Tử có câu: “Quân tử ái tài, thủ chi hữu đạo”, ý nói, người quân tử coi trọng của cải nhưng lấy của cải phải đúng đạo lý. Hiện nay muốn duy trì cuộc sống, tiền là thứ rất quan trọng, nhưng khách quan mà nói, vẫn có nhiều thứ quan trọng hơn cả tiền, giống như tình thân.

Một người khi chìm sâu vào tiền tài, rất dễ bị lòng tham dẫn dắt. Chỉ vì một chút lợi ích nhỏ mà gây gổ cãi nhau với người thân, thậm chí có người thống hận tới nỗi đến chết cũng không muốn nhìn mặt nhau.

Tiền có thể từ từ kiếm ra, nhưng người thân một khi đã mất sẽ chẳng bao giờ có thể nói chuyện được nữa. (Ảnh: Sohu)

Tiền có thể từ từ kiếm ra, nhưng người thân một khi đã mất sẽ chẳng bao giờ có thể nói chuyện được nữa. Có rất nhiều anh chị em khi bố mẹ vẫn còn sống, lạnh lùng vô tình tranh chấp tài sản trước mặt bố mẹ. Hành động này không chỉ làm tổn thương bố mẹ, mà còn tổn hại đến ngày tháng sống chung với nhau sau này, tựa như đang chôn một quả bom, có thể phát nổ bất cứ lúc nào.

“Tham rượu quên người, tham sắc quên mình, tham tài quên thân quyến”, chỉ ba câu ngắn ngủi lại có thể giảng giải rất nhiều đạo lý làm người. Cuộc đời nếu có thể không bị ba thứ này hấp dẫn, thì bản thân mới có những tháng ngày bình yên, tốt đẹp.

Tuệ Tâm / Theo: khoahoctamlinh

Wednesday, September 16, 2026

NĂM THỜI KHẮC QUAN TRỌNG GIÚP TA NHẬN BIẾT AI NGƯỜI QUÂN TỬ, AI KẺ TIỂU NHÂN?

Từ xưa đến nay, chúng ta đều được khuyên rằng, nên tránh kết giao với kẻ tiểu nhân. Nhưng giữa đủ loại người trên thế gian, làm cách nào để phân biệt được? Thực ra, muốn biết một người là quân tử hay tiểu nhân, chỉ cần nhìn vào tâm thái của họ trong 5 thời khắc quan trọng này.


1. Quan sát phẩm hạnh khi đứng giữa lợi ích

Người xưa thường nói, muốn nhìn rõ phẩm hạnh đạo đức của một người, cứ nhìn vào thái độ của họ trong những khoảnh khắc liên quan đến lợi ích.

Người quân tử có thể tạo ra tiền tài, nhưng để có tiền tài thì chỉ làm những việc đạo nghĩa, không thể vì không có tiền mà vượt quá ranh giới làm người.

Nhưng với kẻ tiểu nhân, đối mặt với khoảnh khắc cám dỗ về lợi ích vô cùng lớn, khi nhìn thấy tiền họ liền sáng mắt, sẽ không tiếc việc bán đứng bạn bè hay người thân, thậm chí là kéo người thân thiết nhất của mình xuống nước. Thực tế họ là những kẻ không biết xấu hổ.

Nhìn rõ một người, là phải nhìn vào thái độ của người đó với tiền bạc, thái độ với lợi ích, liệu họ có vượt qua được ranh giới và lương tâm làm người của mình hay không.

2. Quan sát thái độ trong thời khắc đói và mệt

Người xưa thường nói, muốn biết một người tinh thần và thể lực thế nào, hãy xem trạng thái của họ lúc sức tàn lực kiệt, đói khổ và vất vả.

Một người lúc sức lực dồi dào, mạnh như rồng như hổ thì ý chí sự nghiệp cũng mạnh mẽ, tinh thần đầy đủ, tràn ngập ý chí phấn đấu, cho dù làm gì cũng đều tràn đầy sự tin tưởng. Do đó, khi họ mệt mỏi, thì nghỉ ngơi một chút cũng là hợp lý và cần thiết.

Nhưng nếu vì quá mệt mà đánh mất đi sự lạc quan, mặc kệ không làm nữa, không còn sự kiên trì và nghị lực nữa, thì đó không phải là điều một người quân tử nên làm, cũng không phải là điều người thành công nên làm.

3. Quan sát sự độ lượng trong thời khắc vui vẻ và bực bội

Người xưa cũng nói rằng, để quan sát sức chịu đựng và sự độ lượng của một người, thì phải xem biểu hiện của họ trong lúc vui vẻ và bực bội.

Với tiểu nhân, khi họ vui vẻ thì dễ dàng trở nên hí hửng đắc ý, cao ngạo tự mãn, xem thường người khác.

Còn khi bực bội, họ dễ dàng bực tức phiền não, nhìn thấy ai đang làm gì cũng không vừa mắt, trút mọi bực bội lên người yếu thế hơn, thậm chí còn trút giận lên vợ và con cái. Đây chính là những người không có tiền đồ.

Nhưng nội tâm của một người quân tử thì khác, họ thường bình thản không chút lo lắng, đối với mọi xáo trộn trong cuộc đời đều phân định rạch ròi, thấu suốt suy xét và đưa ra quyết định.


4. Quan sát sự tu dưỡng của một người trong thời khắc phồn hoa

Sự tu dưỡng của một người còn được phản ánh vào lúc họ đối mặt với phồn hoa đô hội, khi đó hãy quan sát xem họ đối nhân xử thế như thế nào?

Sự mê hoặc trên thế giới này là rất nhiều, dù là bất cứ ai, đều sẽ có nhược điểm của riêng mình, một khi bị người khác lợi dụng, thì rất dễ bị lôi xuống nước.

Tiểu nhân thường đắm chìm trong sự hoan lạc nhất thời, hôm nay có rượu thì hôm nay say, trước giờ chưa từng nghĩ về tương lai của bản thân.

Nhưng người quân tử lại có thể kháng cự được sự mê hoặc, trong lòng họ có lý tưởng, trong mắt họ có cốt cách, sẽ không dễ để bản thân đắm chìm trong những thú vui dung tục ấy. Họ yêu thích và làm chủ cuộc đời và những thứ vây quanh mình.

5. Quan sát sự bình tĩnh vào thời khắc kinh hãi

Để quan sát sự bình tĩnh của một người, thì hãy xem biểu hiện của họ khi đối mặt với những chuyện kinh hãi ngoài ý muốn.

Khi xảy ra chuyện ngoài ý muốn, biểu hiện nội tâm của con người là thứ chân thật nhất. Nếu quá bối rối có nghĩa là trong lòng họ không có chủ kiến, tương lai khi làm việc lớn, khó mà bảo đảm người đó không bỏ rơi bạn.

Người giữ được sự bình tĩnh là khi “Thái Sơn có sập, cũng không đổi sắc”, là người có chủ kiến, có mưu lược, có đủ tốc độ để phản ứng, suy nghĩ vì đại cục, đó mới là người thật sự làm nên chuyện lớn.

Theo: Tinh Hoa