Thursday, September 3, 2026

TRỪ DẠ TÁC - CAO THÍCH


Trừ dạ tác - Cao Thích

Lữ quán hàn đăng độc bất miên,
Khách tâm hà sự chuyển thê nhiên.
Cố hương kim dạ tư thiên lý,
Sầu mấn minh triêu hựu nhất niên.


除夜作 - 高適

旅館寒燈獨不眠
客心何事轉凄然
故鄉今夜思千里
愁鬢明朝又一年


Viết đêm trừ tịch
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Đèn khuya lưu giấc chẳng thành. 
Cố hương vạn dặm, mong manh xa vời. 
Quán trọ dạ khách chơi vơi. 
Thêm sầu tóc bạc, đã thời hết năm


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Cao Thích 高適 (702-765) tự Đạt Phu 達夫, người Thương Châu (nay là tỉnh Hà Bắc). Năm Khai Nguyên thứ 22 (đời Đường Huyền Tông), ông theo giúp Tín An Vương lên biên tái đánh giặc Khiết Đan, sau đó lại đi du ngoạn ở vùng Hà Nam. Cho đến năm 40 tuổi, Cao Thích còn lận đận, sống đời áo vải lang thang đây đó. Sau đó được người cất nhắc, thi đỗ hữu đạo quan và được lên làm quan ở Trường An. Ông được giữ chức huyện uý. Tâm tính ông không hợp với chức này, thường làm thơ than thở. Sau đó thăng Tiết độ sứ ở Hà Tây. Khi An Lộc Sơn nổi loạn, ông tắt đường đến với Huyền Tông ở Hà Trì, dâng thư nói về nguyên nhân thất bại ở cửa ải Đồng Quan được làm Gián nghị đại phu. Sau có công đánh dẹp Vĩnh Vương Lý Lân, được Đường Túc Tông thăng tước hầu ở Bột Hải.

Nguồn: Thi Viện



GIA CÁT LƯỢNG CÓ TÀI TIÊN TRI TRONG TAM QUỐC DIỄN NGHĨA LÀ DO...VĂN HỌC KHUẾCH ĐẠI?

Hơn 1.800 năm sau khi qua đời, Gia Cát Lượng vẫn nổi tiếng, nhưng hình tượng trong tiểu thuyết đã khác xa con người lịch sử.

Ảnh: soundofhope.

Gia Cát Lượng có tài tiên tri trong Tam quốc diễn nghĩa là do... văn học khuếch đại?

Trong lịch sử, Gia Cát Lượng (181–234) thực sự là một nhân vật kiệt xuất của thời Tam Quốc. Ông giữ vai trò quan trọng trong việc giúp Lưu Bị xây dựng chính quyền Thục Hán, sau đó trở thành thừa tướng và trực tiếp điều hành đất nước. Những ghi chép lịch sử chính, đặc biệt Tam quốc chí của Trần Thọ, mô tả ông trước hết như một nhà chính trị, nhà quản trị và quân sự gia tài năng, chứ không phải một nhân vật gần như siêu phàm. Tam quốc chí được biên soạn vào cuối thế kỷ III, chỉ vài thập niên sau thời Gia Cát Lượng.

Điểm khác biệt lớn nhất xuất hiện khi hình tượng này bước vào văn học. Trong Tam quốc diễn nghĩa, tác phẩm tiểu thuyết nổi tiếng được La Quán Trung hoàn thiện vào thời Minh, Gia Cát Lượng trở thành một “quân sư thần cơ diệu toán”, gần như luôn nhìn thấu âm mưu của đối phương và có khả năng xoay chuyển chiến trường bằng trí tuệ phi thường.

Rất nhiều câu chuyện quen thuộc ngày nay mang màu sắc văn học rất đậm. “Mượn tên”, “mượn gió Đông”, “thuyền cỏ mượn tên”, hay những màn đấu trí với Chu Du khiến Gia Cát Lượng trở thành nhân vật trung tâm của hàng loạt kỳ tích. Một số câu chuyện có thể bắt nguồn từ truyền thuyết hoặc những sự kiện lịch sử bị biến đổi qua nhiều thế hệ kể chuyện. Chẳng hạn, “Không thành kế” có cơ sở trong các ghi chép lịch sử, nhưng câu chuyện ban đầu không gắn với Gia Cát Lượng như trong Tam quốc diễn nghĩa.

Lịch sử cũng cho thấy Gia Cát Lượng không phải vị quân sư “bách chiến bách thắng”. Sau khi Lưu Bị qua đời, ông dành phần lớn những năm cuối đời để củng cố Thục Hán và tiến hành nhiều chiến dịch về phía bắc chống Tào Ngụy. Những chiến dịch này thể hiện tài năng tổ chức và khả năng hậu cần đáng nể, nhưng không đưa ông đến một chiến thắng quyết định.


Ngay cả câu chuyện về tài tiên tri của ông cũng được văn học khuếch đại. Gia Cát Lượng thực sự là người có năng lực chính trị và quân sự rất đáng chú ý, nhưng hình tượng “Khổng Minh biết trước thiên hạ” là sản phẩm của quá trình huyền thoại hóa.

Điều thú vị là Gia Cát Lượng lịch sử có lẽ không hề kém hấp dẫn hơn Gia Cát Lượng trong tiểu thuyết. Ông là một nhà chiến lược phải quản lý một quốc gia nhỏ, thiếu tài nguyên, liên tục đối mặt với các đối thủ mạnh hơn và phải biến những nguồn lực hạn chế thành sức mạnh chính trị, quân sự.

Vì thế, nếu Tam quốc diễn nghĩa biến Gia Cát Lượng thành một thiên tài gần như siêu nhiên, thì lịch sử lại cho chúng ta thấy một con người thực tế hơn: một chính trị gia, nhà quản trị và nhà quân sự tài năng, nhưng cũng phải đối mặt với thất bại và những giới hạn rất con người.

Thanh Bình / Theo: Theo Kiến Thức

Wednesday, September 2, 2026

GIẢI MÃ TẬP TỤC "NGƯỜI CHẾT GÁC BẾP" VÀ KỸ THUẬT ƯỚP XÁC ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ

Tập tục hun khói xác người của thổ dân Papua New Guinea là một kỹ thuật bảo quản thi thể độc đáo, sử dụng khói và nhiệt độ cao trong nhiều tuần để làm khô xác mà không cần hóa chất.

Ảnh minh hoạ chi nghi lễ hun xác người chết (Ảnh: Reddit).

Kỹ thuật bảo quản thi thể kỳ lạ giữa rừng sâu

Giữa những vùng rừng núi hoang sơ của Papua New Guinea, nơi mà văn minh hiện đại còn cách xa hàng ngàn km, có một cộng đồng người bản địa thực hành một nghi lễ người chết khiến giới khảo cổ và nhân học không khỏi kinh ngạc.

Tại đó, thi thể người đã khuất không được chôn dưới đất, hay thiêu thành tro, mà được treo lơ lửng trên bếp lửa để hun khói theo đúng nghĩa đen trong suốt hàng tháng trời. Tập tục này được lưu giữ qua nhiều thế hệ bởi người Anga (còn gọi là Hamtai), sinh sống chủ yếu tại vùng cao nguyên Aseki, tỉnh Morobe.

Đối với họ, việc hun xác không chỉ là nghi lễ linh thiêng mà còn là cách thức bảo quản thi thể mang tính kỹ thuật cao, sử dụng nhiệt, khói và môi trường khô kín để chống lại quá trình phân hủy.

Quy trình bắt đầu ngay sau khi người chết qua đời. Thi thể được làm sạch sơ bộ, thoát dịch, sau đó đưa vào trong một ngôi nhà hun đặc biệt gọi là căn lều hun khói (smoking hut). Đây thường là một căn lều nhỏ bằng tre, mái lợp lá sago, với kết cấu đơn giản nhưng giữ nhiệt tốt.

Một ngọn lửa nhỏ được nhóm lên ngay bên dưới xác, duy trì âm ỉ liên tục suốt 30-40 ngày. Trong suốt thời gian đó, khói nóng từ ngọn lửa len vào từng mô cơ thể, dần dần làm khô các mô mềm, ngăn chặn sự sinh sôi của vi khuẩn và ấu trùng ruồi nhặng.

Các chất có trong khói như formaldehyde tự nhiên, phenol, acid hữu cơ... đóng vai trò như chất khử trùng sinh học. Sau giai đoạn hun, xác người không những khô hoàn toàn mà còn giữ được nguyên vẹn cấu trúc da, tóc, cơ bắp... Trong nhiều trường hợp vẫn còn tồn tại sau hàng trăm năm.

Sau khi cơ thể được hun khói và sấy khô, nó được phủ bằng đất son, một dạng oxit sắt giống đất sét, để bảo vệ xác ướp khỏi những kẻ ăn xác thối và các yếu tố môi trường.

Ngay cả trong điều kiện khí hậu oi bức của Papua New Guinea, nơi thường đẩy nhanh quá trình phân hủy xác chết, quá trình này vẫn diễn ra rất hiệu quả.

Kỹ thuật hun xác người chết có hiệu quả sinh học cao, đồng thời giữ cấu trúc nguyên bản của thi thể (Ảnh: Amusingplanet).

Thi thể sau đó được đặt lên các vách đá cao, mặt hướng về ngôi làng, và tiếp tục “hiện diện” như những linh hồn tổ tiên trông coi đời sống của người còn sống.

Theo tín ngưỡng của người Anga, những linh hồn này có thể gửi lời cảnh báo, ban phước lành hoặc bảo vệ cộng đồng khỏi hiểm họa.

Điều thú vị là dù xuất phát từ một nghi lễ tôn giáo, tập tục này lại mang nhiều điểm tương đồng với các kỹ thuật bảo tồn thi thể hiện đại, đặc biệt trong lĩnh vực pháp y hoặc khảo cổ học.

Các chuyên gia từ LiveScience và Đại học Otago (New Zealand) từng tiến hành nghiên cứu thực địa tại vùng Aseki và xác nhận rằng, kỹ thuật hun khói tại đây có hiệu quả sinh học cao, là một trong số rất ít những hình thức ướp xác "tự nhiên" có khả năng bảo tồn mô mềm mà không cần hóa chất công nghiệp hay đông lạnh.

Theo đó, quá trình giúp giảm nhanh độ ẩm nội tạng, tiêu diệt vi sinh vật, đồng thời giữ cấu trúc nguyên bản của thi thể, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu di truyền và nhân học sau này.

Duy trì nền kinh tế bản địa

Ngay cả trong điều kiện khí hậu oi bức ở Papua New Guinea, quá trình này vẫn diễn ra rất hiệu quả (Ảnh: Amusingplanet).

Tập tục xác hun khói từng bị cấm đoán vào giữa thế kỷ 20 khi Papua New Guinea bị ảnh hưởng bởi các tôn giáo phương Tây, đặc biệt là Công giáo. Tuy nhiên, kể từ cuối những năm 1990, một số cộng đồng bản địa đã nỗ lực khôi phục truyền thống này.

Nhiều ngôi làng tại Aseki và Koke thậm chí đã tổ chức các tour du lịch nhỏ, cho phép du khách đến tham quan các căn lều hun khói, tận mắt chứng kiến các thi thể treo trên núi hoặc được trưng bày trong khu nhà lễ nghi.

Du khách cũng có thể trả mức phí trung bình 30–50 USD cho một buổi hướng dẫn, bao gồm các câu chuyện văn hóa, quá trình hun xác, nghi lễ tôn kính tổ tiên và trải nghiệm kiến trúc truyền thống.

Điều này tạo ra một nguồn thu bền vững, trực tiếp tái đầu tư cho cộng đồng địa phương, bao gồm cả việc tu sửa nhà hun, đào tạo người hướng dẫn và mua vật liệu xây dựng truyền thống.

Minh Khôi / Theo:nationalgeographic



Tuesday, September 1, 2026

VÌ SAO CÓ LÚC CẢM GIÁC THỜI GIAN TRÔI QUA QUÁ NHANH?

Bạn có bao giờ cảm thấy thời gian trôi qua quá nhanh so với bình thường? Có nhiều yếu tố, nhưng yếu tố tâm lý cũng góp phần quan trọng.

Vì sao có lúc cảm giác thời gian trôi qua quá nhanh? (ảnh minh họa Adobestock)

Khi chúng ta đứng đợi ở lối dành cho người đi bộ, có cảm giác thời gian đèn đỏ như “vĩnh viễn”. Còn khi tới cuối năm, chúng ta lại kinh ngạc phát hiện ra thời gian trôi quá nhanh, làm sao mà một năm đã lại kết thúc rồi? Mặc dù mọi người đều biết thời gian là cố định, nhưng nhận thức của mỗi người về thời gian lại rất khác nhau.

Người xưa dùng “Thời gian như mũi tên, năm tháng như thoi đưa” hoặc “một ngày dài như một năm”, để chỉ thời gian trôi nhanh hay chậm. Những trải nghiệm về nhanh và chậm gộp lại thành cuộc sống của chúng ta; vậy chúng ta nên nhìn nhận mối quan hệ giữa thời gian và cuộc sống như thế nào?

Trên thực tế, không ai vừa mới sinh ra đã có thể hiểu về thời gian. Trẻ sơ sinh thường đảo lộn ngày đêm, làm rối loạn thời gian làm việc nghỉ ngơi của cha mẹ; nhưng cuối cùng bé cũng phải học được cách điều chỉnh đồng hồ sinh học của mình phù hợp với người lớn. Đến ngay chúng ta khi đi đến những nơi khác hoặc đi du lịch nước ngoài, cũng sẽ gặp phải vấn đề chênh lệch thời gian; cơ thể chúng ta phải thích ứng với việc chênh lệch thời gian.

Michael Flaherty, giáo sư xã hội học tại Đại học Illinois, Hoa Kỳ, đã dành hơn 30 năm thu thập dữ liệu để nghiên cứu các quan điểm sau:
 
Cảm giác “Thời gian trôi qua thật chậm”

1. Chịu đựng cơn đau dữ dội như bị tra tấn, hoặc khoái cảm mãnh liệt. Kỳ thực, loại cảm xúc mạnh mẽ như vui sướng không nhất định sẽ làm cho chúng ta cảm thấy thời gian trôi qua nhanh chóng.

2. Ở trong hoàn cảnh bạo lực hoặc nguy hiểm. Giống như các binh sĩ ở trong trận chiến, sẽ có cảm giác thời gian trôi qua rất chậm.

3. Tình huống mà mọi người quen thuộc nhất đó là chờ đợi nhàm chán; lúc này cũng sẽ có cảm giác thời gian trôi qua chậm. Phạm nhân ở trong tù chờ ngày được ra tù là một ví dụ; hoặc khi đứng ở quầy chờ khách hàng đến.

Chờ đợi trong tuyệt vọng sẽ thấy thời gian trôi qua rất chậm (ảnh minh họa Adobestock)

4. Khi ý thức không rõ ràng. Ví dụ như dưới ảnh hưởng của thuốc ảo giác, cũng sẽ cảm thấy thời gian trôi qua rất chậm.

5. Sự tập trung cao độ hoặc thiền định có thể ảnh hưởng chủ quan đến thời gian trôi qua. Ví dụ nhiều vận động viên sẽ cảm thấy thời gian trôi qua chậm trong khi thi đấu; và những người ngồi thiền cũng sẽ cảm thấy thời gian trôi qua chậm.

6. Khi sợ hãi và gặp phải sự việc mới lạ. Ví dụ khi bạn học một kỹ năng mới hoặc khi bạn chưa đến đích trong lúc đi du lịch, bạn sẽ có cảm giác thời gian trôi đi rất chậm.

Cảm giác thời gian trôi chậm lại, thông thường là khi không có gì xảy ra; nhưng cũng có thể là khi có nhiều sự việc xảy ra cùng lúc. Nó có vẻ mâu thuẫn và phức tạp.

Lý do cảm thấy “thời gian quá chậm”

Từ góc độ đồng hồ hoặc là lịch, mỗi đơn vị thời gian là cố định; 24 giờ trong ngày, 60 phút trong một giờ và 60 giây trong một phút. Tuy nhiên, theo Flaherty, đơn vị thời gian thay đổi tùy theo “mật độ kinh nghiệm” của con người. Nói cách khác, lượng thông tin khách quan và chủ quan được mang theo bởi mỗi đơn vị thời gian là khác nhau, và cảm nhận về thời gian cũng sẽ khác nhau.

Khách quan mà nói, một người lính có rất nhiều chuyện xảy ra trong trận chiến, và “mật độ kinh nghiệm” trong đơn vị thời gian sẽ cao. Tuy nhiên, một tù nhân bị mắc kẹt trong phòng giam hiển nhiên không có chuyện gì xảy ra, nhưng mật độ kinh nghiệm của anh ta lại cao, tại sao? Đó là vì về mặt chủ quan, hoàn cảnh trước mắt và tình huống của chính anh ta chỉ toàn là “khoảng thời gian trống rỗng”; anh ta sẽ suy nghĩ nhiều về tình huống tồi tệ này, hy vọng sẽ được ra tù; thậm chí ý thức của anh ta có thể hoàn toàn tập trung vào việc thời gian trôi qua chậm rãi như thế nào.

“Mật độ kinh nghiệm” sẽ khiến chúng ta cảm thấy thời gian trôi nhanh hay chậm (ảnh minh họa Adobestock)

Vì vậy, câu trả lời cho câu đố này nằm trong mối quan hệ giữa hoàn cảnh và sự chú ý của chúng ta. Hoàn cảnh càng bất thường, chúng ta càng tập trung chú ý, “mật độ kinh nghiệm” của đơn vị thời gian sẽ càng cao; kết quả là thời gian trôi qua càng chậm.

Thời gian như tia chớp

Ngược lại, nếu “mật độ kinh nghiệm” trên một đơn vị thời gian quá thấp, cảm giác về thời gian sẽ đặc biệt nhanh. Ví dụ, “nén thời gian” xảy ra khi chúng ta nhớ lại các sự kiện gần và xa.

Thông thường quá trình nén thời gian này xảy ra trong hai trường hợp.

1. Thời gian trôi qua khi làm những việc quen thuộc sẽ rất nhanh. Ví dụ khi học lái xe, chúng ta sẽ cảm thấy thời gian trôi qua rất chậm. Nhưng khi chúng ta đã quen hơn thì việc lái xe trở thành một thói quen. Lúc này thời gian trở nên rất nhanh. Học các kỹ năng mới và làm quen với công việc mới cũng vậy. Bạn càng quen thuộc, thì trải nghiệm đáng nhớ trên mỗi đơn vị thời gian càng ít và mật độ trải nghiệm càng thấp.

Đôi khi bạn sẽ thấy thời gian trôi qua thật nhanh (ảnh minh họa Adobestock)

2. Thứ hai là sự xói mòn của “ký ức tình tiết” (episodic memory). Điều này thường xảy ra với tất cả mọi người. Những ký ức của chúng ta về những công việc hàng ngày sẽ mờ dần theo thời gian. Ví dụ, bạn có nhớ bạn đã làm gì vào ngày 18 tháng trước không? Trừ khi có điều gì đó đặc biệt xảy ra vào ngày hôm đó, nếu không thì e rằng bạn sẽ không nhớ gì cả. Đơn vị thời gian không thay đổi, nhưng “mật độ trải nghiệm” đã bị “ký ức tình tiết” bào mòn, và thời gian bị nén lại đến mức gần như không tồn tại.

Làm thế nào để tận dụng tốt thời gian?

Nếu bạn quý trọng thời gian, cách tốt nhất để tận dụng nó là tập trung vào những việc có ý nghĩa. Như vậy bạn sẽ cảm thấy mình còn nhiều thời gian để làm được nhiều việc.

Nếu bạn bận rộn không mục đích mỗi ngày và để thời gian trôi qua, vậy thì bạn sẽ cảm thấy thời gian trôi qua quá nhanh.

Chân Chân / Theo Epoch Times

Monday, August 31, 2026

SỰ THẬT PHÍA SAU HIỂU LẦM HÀNG THẾ KỶ VỀ "VITAMIN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP"

Ít ai biết rằng cái tên đất hiếm đã dẫn dắt chúng ta đến một hiểu nhầm kéo dài hàng thế kỷ.


Đất hiếm, hay còn được gọi là nguyên tố đất hiếm (Rare Earth Elements - REE), là một nhóm gồm 17 nguyên tố hóa học, bao gồm 15 nguyên tố thuộc họ Lantan (Lanthanide) cùng với Scandium (Sc) và Yttrium (Y).

Trong cách hiểu phổ thông, cái tên đất hiếm thường gợi liên tưởng đến một loại tài nguyên vô cùng khan hiếm và quý giá như vàng. Tuy nhiên, giới địa chất và khoa học vật liệu lại đưa ra kết luận hoàn toàn khác.

Nhóm nguyên tố này thực chất có mặt ở khắp vỏ Trái Đất. Một số nguyên tố còn dồi dào hơn cả đồng (Cu) hay kẽm (Zn). Điều khiến đất hiếm trở nên đặc biệt không phải nằm ở sự ít ỏi về trữ lượng mà ở quá trình hình thành, phân bố, khai thác và tinh chế vốn rất phức tạp.

Nhóm nguyên tố đất hiếm gồm 17 nguyên tố hóa học thuộc nhóm Lanthan cùng với Scandium và Yttrium (Ảnh: Getty).

Tên gọi bắt nguồn từ một hiểu lầm lịch sử

Việc đặt tên đất hiếm xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỷ 18 khi các nhà khoa học châu Âu lần đầu tiên phân lập được những oxit kim loại đặc biệt từ các khoáng vật trông rất lạ, thường xuất hiện ở những khu vực địa chất hẹp và khó tiếp cận.

Thời điểm đó, những oxit kim loại chưa xác định rõ bản chất thường được gọi là đất. Khoáng vật chứa các oxit này lại không phổ biến nên giới khoa học đương thời gắn cho chúng cái tên đất hiếm.

Tên gọi này vẫn được dùng đến nay nhưng lại gây hiểu nhầm. Đất hiếm không hiếm về mặt trữ lượng mà hiếm ở dạng quặng giàu có thể khai thác kinh tế. Các nguyên tố này phân bố rất rộng nhưng ở nồng độ thấp. Chúng ít khi tụ lại thành mỏ lớn giống như sắt hay bauxite.

Theo phân tích của Viện Nghiên cứu Địa chất Đức GFZ, các nguyên tố đất hiếm thường nằm lẫn trong nhiều loại khoáng vật khác nhau và hiếm khi xuất hiện dưới dạng tập trung cao.

Đất hiếm phân tán ở nồng độ thấp khiến việc khảo sát và khai thác tốn kém, dù trữ lượng toàn cầu được đánh giá là phong phú (Ảnh: Getty).

Điều này biến quá trình khảo sát và định vị mỏ đất hiếm thành bài toán tốn kém và mất thời gian.

Ngay cả khi tìm thấy mỏ, hàm lượng thu hồi thực tế thường chỉ ở mức vài phần trăm hoặc thấp hơn. Chính sự phân tán này khiến đất hiếm dù phong phú về trữ lượng toàn cầu vẫn trở thành nguồn tài nguyên khó tiếp cận.

Hàng loạt trở ngại từ khai thác đến tinh chế

Thách thức lớn nhất đối với đất hiếm nằm ở quá trình tách lọc và tinh chế. Do có cấu trúc electron gần giống nhau, các nguyên tố đất hiếm rất khó tách rời. Việc tách Neodymium khỏi Praseodymium hay tách nhóm đất hiếm nặng khỏi nhóm nhẹ đòi hỏi hàng trăm bước chiết tách lặp đi lặp lại.

Một nghiên cứu của Viện Công nghệ Massachusetts MIT từng chỉ ra rằng tinh chế đất hiếm là một trong những chuỗi xử lý phức tạp nhất của ngành luyện kim hiện đại. Quy trình này tiêu tốn nhiều axit mạnh và chất hữu cơ, đồng thời tạo ra lượng lớn chất thải rắn và dung dịch độc hại.

Trong nhiều mỏ, quặng đất hiếm lẫn cùng thorium và uranium là các nguyên tố phóng xạ tự nhiên. Nếu không xử lý đúng chuẩn, chất thải này có nguy cơ gây ô nhiễm lâu dài cho đất và nước.

Vấn đề môi trường là lý do khiến nhiều quốc gia hạn chế khai thác đất hiếm dù có trữ lượng lớn. Chỉ một số ít nước sở hữu cả công nghệ và khả năng chấp nhận chi phí xử lý. Điều này dẫn đến tình trạng tập trung chuỗi cung ứng đất hiếm vào một số quốc gia, tạo ra rủi ro về địa chính trị và thương mại toàn cầu.

Nhóm nghiên cứu Đại học Penn và Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore phát triển phương pháp sinh học dùng protein vi khuẩn để chiết xuất và tách riêng các nguyên tố đất hiếm từ chất thải công nghiệp và thiết bị điện tử (Ảnh minh họa).

Trong báo cáo năm 2023 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế IEA, đất hiếm được xếp vào nhóm khoáng sản quan trọng của năng lượng sạch cùng lithium, cobalt và nickel.

Báo cáo nhấn mạnh rằng rủi ro về sự phụ thuộc nguồn cung lớn hơn nhiều so với rủi ro về trữ lượng tự nhiên. Đây cũng là lý do khiến đất hiếm được ví như con bài chiến lược trong cuộc cạnh tranh công nghệ giữa các cường quốc.

Giá trị chiến lược trong công nghệ hiện đại

Đất hiếm đóng vai trò trọng yếu trong nhiều lĩnh vực công nghệ cao. Nổi bật nhất là các nam châm vĩnh cửu dựa trên Neodymium, Praseodymium và Dysprosium.

Những nam châm này có tỉ trọng nhỏ nhưng tạo ra lực từ cực mạnh. Chúng là linh kiện thiết yếu của động cơ xe điện, máy phát gió, robot công nghiệp, thiết bị bay không người lái và ổ đĩa cứng. Các nguyên tố khác cũng có ứng dụng quan trọng. 

Đất hiếm là “con bài chiến lược” của các cường quốc do vai trò quan trọng trong công nghệ cao (Ảnh: Getty).

Cerium được dùng trong các bộ xúc tác xử lý khí thải và trong công nghệ đánh bóng kính quang học. Lanthanum góp mặt trong thấu kính máy ảnh và trong pin niken kim loại hydrua từng phổ biến trên các dòng xe hybrid. Europium và Terbium là 2 chất phát quang chủ lực cho màn hình màu đời đầu và nhiều loại đèn LED.

Trong lĩnh vực y sinh, gadolinium là chất tương phản quan trọng của kỹ thuật chụp cộng hưởng từ MRI. Những hợp chất chứa nguyên tố đất hiếm còn được ứng dụng trong nghiên cứu điều trị ung thư nhờ khả năng phát xạ năng lượng đặc trưng.

Một tổng quan khoa học đăng trên tạp chí Nature Reviews Materials ghi nhận rằng vật liệu đất hiếm đang mở ra nhiều hướng mới cho công nghệ lượng tử và điện tử nano.

Nhu cầu lớn từ các ngành năng lượng xanh và công nghệ số khiến đất hiếm trở thành tài nguyên không thể thay thế. Xe điện cần lượng nam châm vĩnh cửu lớn. Tua bin gió ngoài khơi cũng phụ thuộc mạnh vào chúng để duy trì hiệu suất ổn định. Công nghệ trí tuệ nhân tạo, thiết bị thông minh và các hệ thống quốc phòng hiện đại đều sử dụng vật liệu đất hiếm ở nhiều vị trí trọng yếu.

Đất hiếm giữ vai trò quan trọng trong nhiều ngành công nghệ và năng lượng hiện đại (Ảnh minh họa: Getty).

Sự mâu thuẫn giữa tên gọi đất hiếm và bản chất phong phú của chúng được giải thích bởi 2 yếu tố: Thứ nhất là sự phân tán về mặt địa chất khiến việc khai thác kinh tế khó khăn. Thứ hai là quá trình tinh chế phức tạp và tốn kém tạo rào cản lớn làm nguồn cung toàn cầu bị thu hẹp.

Nếu trữ lượng tự nhiên là thước đo duy nhất thì đất hiếm không phải là loại tài nguyên hiếm. Điều hiếm ở đây là năng lực khai thác sạch, công nghệ luyện kim tinh vi và vị thế kiểm soát chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh thế giới dịch chuyển sang năng lượng sạch và công nghệ cao, nhóm nguyên tố này ngày càng có ý nghĩa chiến lược.

Nhiều quốc gia đã công bố kế hoạch tăng cường tự chủ đất hiếm. Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc đầu tư mạnh vào tái chế nam châm cũ và phát triển công nghệ tách rửa thế hệ mới. Các nghiên cứu tại Đại học Cambridge và Viện Công nghệ Tokyo cho thấy khả năng thu hồi đất hiếm từ pin cũ và từ thiết bị điện tử thải bỏ đang mở ra hướng giảm phụ thuộc vào khai thác nguyên khai.

Tất cả những nỗ lực này cho thấy đất hiếm không hiếm trong tự nhiên nhưng lại hiếm trong khả năng tiếp cận. Vì vậy chúng được ví như nguồn lực chiến lược định hình tương lai công nghệ toàn cầu.

Hải Yến / Theo: Dân Trí

3 VẬT LIỆU LÀM THAY ĐỔI LỊCH SỬ NHÂN LOẠI

Lịch sử cho thấy, mỗi vật liệu mới không chỉ giải quyết nhu cầu của thời đại mà còn tạo ra những bước ngoặt văn minh.

Thủy tinh: Từ nghệ thuật tới nền móng khoa học

Công nghệ chế tác thủy tinh đã có nhiều đột phá (Ảnh: Getty).

Theo Researchgate, Đầu thế kỷ 13, những nghệ nhân chế tác thủy tinh từ Đế chế Byzantine di cư sang Venice (Italy), trung tâm phồn thịnh của châu Âu thời bấy giờ.

Lo ngại nguy cơ hỏa hoạn, chính quyền Venice đã chuyển toàn bộ lò nung ra đảo Murano. Tại đây, kỹ nghệ thủy tinh bước vào thời kỳ rực rỡ, với những cải tiến để đời.

Thế kỷ 15, Angelo Barovier bổ sung tro kali vào thủy tinh, giúp hạ nhiệt độ nóng chảy và loại bỏ bong bóng khí, tạo ra thủy tinh trong suốt. Đây là nguyên liệu cho kính lúp và kính mắt.

Khi Johannes Gutenberg phát minh máy in (1455), sách vở trở nên phổ biến, kéo theo nhu cầu kính đọc sách tăng mạnh. Nghề làm kính từ đó trở thành một ngành chính thức.

Sang thế kỷ 17, thủy tinh bước ra khỏi lĩnh vực thủ công mỹ nghệ để trở thành nền tảng khoa học.

Galileo Galilei dùng kính viễn vọng khám phá vũ trụ, còn Antonie van Leeuwenhoek quan sát vi khuẩn dưới kính hiển vi.

Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Vật liệu Tây Ban Nha, việc cải thiện độ trong suốt và độ khúc xạ của thủy tinh đã đóng vai trò quyết định trong sự ra đời của khoa học thực nghiệm, khi các lý thuyết bắt đầu được chứng minh bằng quan sát và đo đạc.

Ngày nay, di sản ấy tiếp tục được nối dài qua Kính viễn vọng không gian James Webb hay Đài quan sát Vera C. Rubin.

Thép: Nền móng của cách mạng công nghiệp

Thép là nền móng của cách mạng công nghiệp (Ảnh: Getty).

Cuối thế kỷ 18, nhu cầu về vật liệu bền, rẻ và sản xuất nhanh để phục vụ máy móc, đường sắt, tàu thuyền, công trình hạ tầng bùng nổ.

Thép – hợp kim của sắt với một lượng nhỏ carbon và các nguyên tố khác – đáp ứng hoàn hảo yêu cầu này.

Năm 1740, Benjamin Huntsman (Anh) phát triển phương pháp luyện thép trong nồi nung gốm ở Sheffield, tạo ra thép chất lượng cao cho công cụ và vũ khí.

Theo Howstuffworks, đến 1856, Henry Bessemer phát minh quy trình thổi oxy vào gang nóng chảy để loại bỏ tạp chất, giảm chi phí và tăng tốc độ sản xuất. Đây là bước ngoặt đưa thép trở thành vật liệu phổ biến toàn cầu.

Tại Mỹ, doanh nhân Andrew Carnegie áp dụng quy trình Bessemer để xây dựng đế chế thép, biến thép thành trụ cột của nhà cao tầng, cầu đường, tàu hỏa, xe tăng…

Một nghiên cứu của Đại học Cambridge ước tính, thép hiện diện trong hơn 50% các công trình hạ tầng trên thế giới, với vòng đời sử dụng kéo dài hàng thập kỷ và khả năng tái chế gần như vô hạn.

Sang thế kỷ 21, Trung Quốc trở thành “cường quốc thép” mới. Từ 10% sản lượng toàn cầu năm 1995, Trung Quốc vươn lên chiếm hơn 50% chỉ sau hai thập kỷ.

Đất hiếm: “Quân bài” chiến lược của kỷ nguyên số

Các nguyên tố đất hiếm hiếm khi tập trung thành mỏ lớn, khiến việc khai thác và tinh chế tốn kém (Ảnh: Getty).

Nếu thủy tinh mở đường cho tri thức và thép xây dựng hạ tầng, thì đất hiếm (Rare Earth Elements – REE) là chìa khóa của công nghệ cao và năng lượng tái tạo thế kỷ 21.

Nhóm 17 nguyên tố này, gồm neodymium, dysprosium, terbium… được ứng dụng trong nam châm vĩnh cửu cho động cơ xe điện, tua-bin gió, điện thoại thông minh, vệ tinh và thiết bị quốc phòng.

Các nguyên tố đất hiếm hiếm khi tập trung thành mỏ lớn, khiến việc khai thác và tinh chế tốn kém.

Đặc tính từ tính, quang học và điện học độc đáo của chúng khiến chúng gần như không thể thay thế trong nhiều ngành công nghiệp.

Theo các chuyên gia, quốc gia nắm giữ hoặc kiểm soát nguồn cung đất hiếm không chỉ có lợi thế kinh tế mà còn sở hữu “đòn bẩy” chiến lược trên bàn cờ địa chính trị, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ và quốc phòng ngày càng gay gắt.

Minh Nhật / Theo: Dân Trí

Sunday, August 30, 2026

SỰ THẬT TRỚ TRÊU VỀ NHỮNG CON HÀU "THẦN DƯỢC PHÒNG THE"

Kết quả nghiên cứu của khoa học hiện đại có thể khiến niềm tin "ăn gì bổ nấy" sụp đổ. Chẳng hạn, những con hàu béo múp míp trên bàn nhậu ngày nay phần lớn đều "bất lực", không có khả năng sinh sản.

Niềm tin vào công dụng “tráng dương” của hàu vẫn tồn tại trong đời sống ẩm thực (Ảnh: Zhihu).

Khát vọng "tráng dương" và sự sinh tồn của loài hàu 

Trong văn hóa dân gian nhiều nước châu Á, tồn tại quan niệm “thực bổ”, tức sử dụng thực phẩm với niềm tin có thể bồi bổ cơ thể hoặc tăng cường sinh lực. Trong đó, “tráng dương” là khái niệm phổ biến, gắn với việc tìm kiếm những nguyên liệu được cho là hỗ trợ sinh lý nam giới.

Lịch sử cho thấy, không ít loài động vật từng bị khai thác quá mức vì gắn với những công dụng mang tính biểu tượng này. Tê tê, tê giác hay một số loài chim hoang dã đã trở thành đối tượng săn bắt và buôn bán trái phép trong nhiều giai đoạn, gây áp lực nghiêm trọng lên quần thể tự nhiên.

Tuy nhiên, hàu biển là một trường hợp khác biệt. Dù nhu cầu tiêu thụ lớn và gắn với nhiều quan niệm về tăng cường sinh lực, hàu không suy giảm đến mức tuyệt chủng mà ngược lại, trở thành một trong những loài nhuyễn thể được nuôi trồng phổ biến nhất thế giới.

Ảnh hưởng của hàu không chỉ nằm ở sản lượng. Tại châu Âu, hàu từng là thực phẩm phổ biến của tầng lớp lao động trước khi các vấn đề ô nhiễm nguồn nước và khủng hoảng vệ sinh khiến nguồn cung suy giảm, đẩy giá thành tăng cao và dần trở thành món ăn cao cấp trong nhà hàng.

Từ phương Đông đến phương Tây, hàu thường được gắn với hình ảnh “thực phẩm tình yêu”. Một giai thoại thường được nhắc đến là câu chuyện về Casanova, nhân vật nổi tiếng trong văn học và hồi ký thế kỷ 18. Ông từng viết rằng mình ăn hàu thường xuyên và cho rằng đó là một phần trong chế độ giúp duy trì năng lượng và sức hấp dẫn cá nhân.

Những câu chuyện như vậy, cùng với quan niệm “dĩ hình bổ hình” (ăn gì bổ nấy) trong y học dân gian phương Đông, đã góp phần hình thành biểu tượng hàu như một loại thực phẩm liên quan đến sinh lực nam giới.

Nghịch lý mùa hè: Khi "thần dược" cũng kiệt sức

Cả phương Đông và phương Tây đều tin vào khả năng tăng cường sinh lực của hàu. (Ảnh: Zhihu).

Nếu dựa trên quan niệm dân gian “ăn gì bổ nấy”, nhiều người cho rằng ăn hàu có thể giúp tăng cường sinh lực. Tuy nhiên, khi xét dưới góc độ sinh học, chất lượng và giá trị dinh dưỡng của hàu phụ thuộc nhiều vào chu kỳ sinh sản tự nhiên của loài này.

Trong ẩm thực truyền thống phương Tây, từng tồn tại nguyên tắc chỉ nên ăn hàu vào các tháng có chữ “R” trong tiếng Anh, tức từ tháng 9 đến tháng 4. Ở Bắc bán cầu, hàu tự nhiên thường đạt chất lượng thịt tốt nhất vào mùa thu và mùa đông, khi tuyến sinh dục chưa phát triển mạnh và hàm lượng dinh dưỡng trong phần thịt cao hơn.

Ngược lại, vào mùa xuân - hè, khi nhiệt độ nước biển tăng, hàu bước vào giai đoạn sinh sản. Năng lượng được chuyển sang phát triển và giải phóng tế bào sinh dục, khiến khối lượng thịt giảm, cấu trúc mềm hơn và tỷ lệ nước trong cơ thể tăng. Một số nghiên cứu ghi nhận khối lượng phần thịt có thể giảm đáng kể trong giai đoạn này, làm chất lượng cảm quan suy giảm so với mùa nghịch.

Vì vậy, nếu tiêu thụ hàu tự nhiên đúng vào thời điểm chúng đang trong chu kỳ sinh sản, giá trị dinh dưỡng và độ béo ngọt có thể không đạt mức tối ưu.

Điều này tạo ra một nghịch lý trong tiêu dùng hiện đại. Mùa hè là thời điểm nhu cầu hải sản tăng cao, đặc biệt trong các bữa tiệc ngoài trời, du lịch biển và nhà hàng hải sản. Tuy nhiên, trớ trêu đây cũng là giai đoạn chất lượng hàu tự nhiên thường giảm sút do ảnh hưởng của chu kỳ sinh sản.

Công nghệ "triệt sản" - Bí mật ẩn trong những con hàu béo múp míp

Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa cái miệng sành ăn của thực khách và quy luật sinh học của tự nhiên?

Câu trả lời nằm ở khoa học hiện đại: Muốn hàu béo tốt quanh năm, cách duy nhất là làm cho chúng... vô sinh.

Các nhà khoa học đã áp dụng nguyên lý di truyền học tương tự như cách tạo ra dưa hấu không hạt để tạo ra một giống hàu mới: Hàu tam bội thể (Triploid oysters).

Về mặt lý thuyết, tế bào sinh vật bình thường là nhị bội thể (2n - hai bộ nhiễm sắc thể). Để tạo ra dưa hấu không hạt, người ta dùng chất colchicine xử lý cây con để tạo ra thể tứ bội (4n), sau đó lai với cây nhị bội (2n) để tạo ra thế hệ con là tam bội (3n). Những cá thể 3n này bị rối loạn trong quá trình phân chia tế bào sinh dục, dẫn đến việc không thể tạo hạt (vô sinh).

Hàu lưỡng bội thể (trái) và hàu tam bội thể (phải) (Ảnh: Zhihu).

Áp dụng lên động vật phức tạp hơn nhiều. Năm 1993, một bước đột phá lớn đã diễn ra tại Đại học Rutgers (Mỹ), với sự đóng góp to lớn của nhà khoa học gốc Hoa - Guo Ximing. Ông và các cộng sự đã tìm ra cách lai tạo ổn định giữa hàu tứ bội thể và nhị bội thể để sản sinh ra 100% hàu tam bội thể.

Những con hàu tam bội thể này mang trong mình 3 bộ nhiễm sắc thể và đặc điểm quan trọng nhất của chúng là: Tuyến sinh dục không phát triển hoặc phát triển rất kém. Chúng gần như vô sinh hoàn toàn.

Lợi ích của những con hàu "vô sinh"

Việc triệt sản hàu mang lại những lợi ích kinh tế khổng lồ mà hàu tự nhiên không thể sánh kịp:

Thứ nhất, vì không phải tốn năng lượng cho việc sinh sản (không phải tạo trứng hay tinh trùng), toàn bộ dinh dưỡng hàu nạp vào đều được chuyển hóa thành cơ bắp và kích thước. Kết quả là hàu tam bội thể có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn 50 - 100% so với hàu thường. Chúng lớn nhanh như thổi, rút ngắn thời gian nuôi trồng đáng kể.

Thứ hai, chúng duy trì được chất lượng thịt quanh năm. Ngay cả giữa mùa hè oi bức, khi hàu tự nhiên đang gầy "tong teo" vì sinh sản, thì hàu tam bội thể vẫn béo múp míp, đầy đặn và ngọt thịt.

Đây chính là nguồn cung chủ lực cho các nhà hàng, quán nướng vào mùa cao điểm du lịch. Các loại hàu nổi tiếng hiện nay, ví dụ như hàu Nhũ Sơn trứ danh của Trung Quốc hay các loại hàu nhập khẩu cao cấp, phần lớn đều là hàu tam bội thể.

Hàu tự nhiên thường gầy và kém chất lượng vào mùa hè do tiêu hao năng lượng cho việc sinh sản, đi ngược lại nhu cầu tiêu thụ cao điểm (Ảnh: Zhihu).

Thứ ba, chúng khỏe mạnh hơn và có tỷ lệ sống cao hơn. Việc không bị kiệt sức sau sinh sản giúp chúng chống chọi tốt hơn với bệnh tật và biến đổi môi trường. Ngoài ra, vì không sinh sản, chúng không gây ô nhiễm nguồn gen của các loài hàu hoang dã tại vùng biển nuôi thả.

Hàu có thực sự tốt cho sức khỏe sinh lý?

Hàu là thực phẩm giàu dinh dưỡng, đặc biệt chứa nhiều kẽm - vi chất đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất hormone sinh dục nam.

Một số nghiên cứu cho thấy việc bổ sung kẽm đầy đủ có thể hỗ trợ duy trì nồng độ testosterone ở mức bình thường, từ đó góp phần cải thiện chức năng sinh lý.

Ngoài ra, hàu còn cung cấp protein, axit béo omega-3, vitamin B12 và các khoáng chất cần thiết cho sức khỏe tổng thể.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chưa có bằng chứng khoa học đủ mạnh để khẳng định hàu là “thần dược” cải thiện sinh lý. Tác dụng, nếu có, chủ yếu đến từ việc bổ sung dinh dưỡng chứ không mang tính đặc hiệu.
Lưu ý khi ăn hàu
Nên ăn hàu có nguồn gốc rõ ràng, được bảo quản đúng cách để tránh nguy cơ nhiễm khuẩn, hạn chế ăn sống hoặc tái, đặc biệt với người có hệ miễn dịch yếu, phụ nữ mang thai hoặc người mắc bệnh gan. Không nên ăn quá nhiều trong thời gian ngắn để tránh dư thừa kẽm và các vi chất khác.
Theo: 4sonline