Quân nổi dậy của Ngô Tam Quế lần lượt đánh chiếm Thường Đức, Lễ Châu, Trường Sa và những địa phương khác, qua đó hoàn toàn kiểm soát tỉnh Hồ Nam.
Vì sao khi đang thắng quân Thanh như chẻ tre, Ngô Tam Quế lại dừng lại?
Tháng 11/1673, Bình Tây vương Ngô Tam Quế phát động cuộc nổi dậy ở Vân Nam, mở đầu cuộc chiến tranh được lịch sử gọi là “Loạn Tam Phiên”. Trong giai đoạn đầu, do triều đình nhà Thanh chưa chuẩn bị đầy đủ, còn Ngô Tam Quế đã âm thầm mưu tính từ lâu, quân nổi dậy liên tiếp giành chiến thắng. Họ gần như không tốn sức đã chiếm được Quý Châu, sau đó lần lượt kiểm soát Hồ Nam, Tứ Xuyên và nhiều vùng đất khác, tiến sát bờ nam sông Trường Giang. Thế nhưng, điều khiến người ta bất ngờ là Ngô Tam Quế lại không vượt sông tiến lên phía Bắc. Chuyện gì đã xảy ra?
Những ngày đầu nổi dậy, Ngô Tam Quế giành được thắng lợi hết sức thuận lợi, có thể nói là thế như chẻ tre. Quân nổi dậy đi đến đâu, quan lại và tướng lĩnh ở các phủ, châu, huyện hoặc bỏ trốn, hoặc đầu hàng. Quân Thanh hễ giao chiến là nhanh chóng tan rã, thậm chí “quan binh quân Thanh thuộc lực lượng Lục kỳ ở Hồ Nam phần lớn đều theo giặc”.
Tháng 2 năm Khang Hi thứ 13 (1674), quân nổi dậy của Ngô Tam Quế lần lượt đánh chiếm Thường Đức, Lễ Châu, Trường Sa và những địa phương khác, qua đó hoàn toàn kiểm soát tỉnh Hồ Nam. Lúc này, ông hoàn toàn có thể thừa thắng vượt sông Trường Giang, tiến quân lên phía Bắc để mở rộng chiến quả. Thế nhưng, Ngô Tam Quế lại cho quân dừng chân suốt mấy tháng, không tận dụng thời cơ để vượt sông.
Trong khoảng thời gian đó, triều đình nhà Thanh tranh thủ tập trung lực lượng lớn, tăng cường phòng thủ khu vực bờ bắc Trường Giang. Hai bên dần hình thành thế đối đầu, khiến Ngô Tam Quế đánh mất thời cơ thuận lợi nhất. Tình thế sau đó ngày càng bất lợi cho quân nổi dậy.
Vậy tại sao Ngô Tam Quế lại đưa ra quyết định bị xem là sai lầm như vậy? Vào thời điểm ấy, nhiều tướng lĩnh dưới quyền ông đều chủ trương vượt sông tiến lên phía Bắc, nhưng đề xuất này lại bị chính Ngô Tam Quế bác bỏ. Nguyên nhân là ông vẫn nuôi hy vọng có thể đàm phán hòa bình với triều đình nhà Thanh.
Ngô Tam Quế cùng mưu sĩ Phương Quang Sâm cho rằng quân nổi dậy đang chiếm ưu thế, hoàn toàn có thể tận dụng tình thế thuận lợi trên chiến trường để đưa ra điều kiện với Hoàng đế Khang Hi.
Sau khi phát động cuộc nổi dậy, Ngô Tam Quế vẫn đối xử tương đối tử tế với hai sứ giả của nhà Thanh là Thị lang Bộ Lại Chiết Nhĩ Khẳng và Hàn lâm học sĩ Phó Đạt Lễ. Sau khi chiếm được Thường Đức, ông cho hai người mang thư do mình viết đến gặp Hoàng đế Khang Hi.
Trong bức thư, giọng điệu của Ngô Tam Quế hết sức ngạo mạn. Ông tuyên bố mình đã thu phục được một phần ba lãnh thổ của nhà Minh, sau đó đưa ra ba yêu cầu với triều đình nhà Thanh.
Nếu phía nhà Thanh chấp thuận những điều kiện này, hai bên có thể chấm dứt chiến sự. Vậy những yêu cầu của Ngô Tam Quế là gì?
Hoàng đế Khang Hi.
Thứ nhất, dựa vào những vùng đất hiện đang kiểm soát, Ngô Tam Quế muốn đàm phán với nhà Thanh để thực hiện cục diện “chia đôi thiên hạ, lấy Trường Giang làm ranh giới cai trị”.
Thứ hai, ông yêu cầu Hoàng đế Khang Hi thả con trai và các cháu nội của mình.
Từ thời Thuận Trị, con trai trưởng của Ngô Tam Quế là Ngô Ứng Hùng đã kết hôn với Hòa Thạc Kiến Ninh Trưởng công chúa, con gái của Hoàng Thái Cực. Sau đó, Ngô Ứng Hùng sống tại Bắc Kinh với tư cách con tin và sinh được mấy người con trai.
Ngô Tam Quế luôn canh cánh trong lòng về số phận của con cháu đang sống ở Bắc Kinh. Vì thế, ông muốn lợi dụng ưu thế quân sự hiện tại để gây sức ép, buộc Hoàng đế Khang Hi trả tự do cho họ.
Chính vì hai nguyên nhân này, Ngô Tam Quế mới quyết định tạm dừng tiến quân, chờ đợi phản hồi từ phía Khang Hi.
Tuy nhiên, kết quả lại khiến ông vô cùng thất vọng. Bức thư không những không cứu được tính mạng của con cháu ông mà còn trở thành “lá bùa đòi mạng”.
Sau khi đọc thư của Ngô Tam Quế, Hoàng đế Khang Hi lập tức ban chiếu:
“Gần đây, sau khi xem tấu chương của Ngô Tam Quế, trẫm nhận thấy lời lẽ trong đó hết sức ngang ngược, hắn còn dám tùy tiện đưa ra những yêu cầu vô lý. Nay xử tử Ngô Ứng Hùng và con trai hắn là Ngô Thế Lâm bằng hình phạt thắt cổ; những người con còn nhỏ tuổi khác đều được miễn chết và sung vào quan phủ.”
Thông qua việc xử tử Ngô Ứng Hùng, Khang Hi muốn tuyên bố với thiên hạ quyết tâm dẹp loạn của triều đình. Ông đồng thời ra chiếu chỉ bác bỏ đề nghị nghị hòa của Ngô Tam Quế, yêu cầu đối phương chỉ có con đường “trói mình quy hàng”.
Khi nhận được tin con cháu bị giết, Ngô Tam Quế không khỏi rơi nước mắt. Ông thậm chí phải thừa nhận: “Ngày hôm nay, ta đã cưỡi lên lưng hổ rồi”, nghĩa là đã lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, không còn đường lui và buộc phải tiếp tục chiến đấu.
Thông qua việc xử tử Ngô Ứng Hùng, Khang Hi muốn tuyên bố với thiên hạ quyết tâm dẹp loạn của triều đình. Ông đồng thời ra chiếu chỉ bác bỏ đề nghị nghị hòa của Ngô Tam Quế, yêu cầu đối phương chỉ có con đường “trói mình quy hàng”.
Khi nhận được tin con cháu bị giết, Ngô Tam Quế không khỏi rơi nước mắt. Ông thậm chí phải thừa nhận: “Ngày hôm nay, ta đã cưỡi lên lưng hổ rồi”, nghĩa là đã lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, không còn đường lui và buộc phải tiếp tục chiến đấu.
Con người khi tuổi cao thường trở nên thận trọng, thậm chí bảo thủ hơn. Khi cuộc nổi dậy nổ ra, Ngô Tam Quế đã 62 tuổi.
Ngô Tam Quế từng trải qua nhiều trận mạc, nhưng đến lúc này, ông đã già và không còn sự quyết đoán, táo bạo như thời trai trẻ.
Con người khi tuổi cao thường trở nên thận trọng, thậm chí bảo thủ hơn. Khi cuộc nổi dậy nổ ra, Ngô Tam Quế đã 62 tuổi. Theo cách lý giải của đời sau, ông lúc ấy muốn giữ gìn những gì đang có, hy vọng có thể kết thúc chiến tranh trong thế thắng, thay vì tiếp tục mạo hiểm mở rộng chiến trường.
Thế nhưng, chính tâm lý ấy lại khiến ông trở nên do dự, bó buộc trong các quyết định và bỏ lỡ thời cơ quân sự quan trọng.
Cuộc đời vốn là như vậy: cơ hội một khi đã bỏ lỡ thì rất khó quay trở lại. Sau khi Ngô Tam Quế đánh mất thời cơ giành thắng lợi quyết định, cán cân chiến tranh dần nghiêng về phía nhà Thanh. Trải qua nhiều năm nỗ lực, Hoàng đế Khang Hi cuối cùng đã hoàn toàn dẹp yên cuộc nổi dậy của “Loạn Tam Phiên”.
Trong tình thế rất khó khăn, năm 1678, Ngô Tam Quế vẫn xưng làm Hoàng đế, lập ra nhà Đại Chu (大周), thủ đô tại Hành Dương, Hồ Nam. Nhưng chỉ được 5 tháng thì chết vào ngày 2 tháng 10 năm 1678, ông thọ 66 tuổi.
Cháu của ông là Ngô Thế Phiên nối ngôi nhưng thế lực đã rất suy yếu. Năm 1681, quân nhà Thanh tấn công và chiếm được Vân Nam, Thế Phiên phải tự tử. Cuộc nổi dậy của "Tam phiên" đến đây thì bị dập tắt.
Minh Tuấn / Theo: Dân Việt


























