Saturday, August 1, 2026

KHÔNG LO PHẢI CHỊU THIỆT THÒI, HỌC NGAY 3 CHIÊU NÀY

Đối với việc quan sát biểu cảm và lời nói khi giao tiếp, có rất nhiều người đều không hiểu phương pháp và kỹ thuật trong đó, dẫn tới việc luôn khiến bản thân mất mặt mũi. Hôm nay, tôi sẽ chia sẻ với các bạn một vài kỹ thuật quan sát lời nói và biểu cảm, để các bạn không còn phải chịu thiệt thòi từ chính sự chất phác của mình nữa


Biết rằng chất phác là một đức tính tốt, chúng ta chẳng cần bỏ nó đi, nhưng bảo tồn cái đẹp đồng nghĩa với việc đừng để nó bị thương tổn bởi tác nhân bên ngoài. Do đó, bạn có thể chất phác, nhưng đừng để sự chất phác của mình bị lợi dụng hay thao túng, thậm chí là bị ngoại cảnh làm cho biến chất.

Bây giờ chúng ta sẽ cùng điểm qua các phương pháp và kỹ thuật nhìn quan sát biểu cảm và lời nói nhé. Xem xem liệu nó có phù hợp để cho bạn ứng dụng hay không!

1. Im lặng, lấy bất biến ứng vạn biến mới chính là cao thủ

Nếu bạn cảm thấy bản thân có phần hơi trì trệ, não bộ phản ứng không linh hoạt thì hãy giữ nguyên bản sắc cá nhân của mình và học cách lấy im lặng để ứng phó, cái này gọi là “binh đến tướng ngăn, nước đến đất đỡ”. Có thể bạn sẽ cảm thấy phương pháp này quá cũ rồi, nhưng vì nó cũ và được nhiều người sử dụng cho nên nó mới là phương pháp hữu dụng và thực dụng nhất. Phương pháp này phù hợp với những người thực sự không muốn thay đổi bản thân và chọn sẽ giữ lại bản chất chất phác của mình trong suốt cuộc đời của họ, dù người khác làm tổn hại đến lợi ích của họ, họ cũng sẽ không lấy oán báo oán, người khác toan tính trăm mưu ngàn kế, họ chỉ cần dùng 1 chiêu cũ kỹ như thế này để đối phó. Nhưng ông bà ta cũng thường nói “người ngốc có cái phúc của kẻ ngốc”, dù sao thì chỉ cần chúng ta sống không thẹn với trời đất, lương tâm là được, người khác họ tốt hay xấu, hãy để cho luật nhân quả lo liệu.


2. Ra tay trước lấy thế chủ động, khiến cho đối phương cam tâm tình nguyện phục bạn

Đây gọi là đến trước làm chủ, đến sau thì làm khách. Thực tế, việc tiếp xúc qua lại giữa người và người với nhau đều cần một quá trình. Khi vừa mới bắt đầu mối quan hệ, cách duy nhất để bản thân không bị rơi vào thế bị động là khi nói hãy chỉ nói về những thứ mà mình có và mình biết, khi bàn công việc hãy chỉ bàn về những thứ mà mình đang hoặc có khả năng làm được, chứ đừng quá “chém gió”, khoe khoang. Chúng ta hãy thể hiện sự chân thành của mình ra để cho người khác cảm thấy rằng bạn đang rất thành tâm thành ý muốn kết bạn, chứ không phải là hời hợt xã giao qua đường. Bằng cách này, nó sẽ tạo cho người khác một áp lực vô hình ở trong lòng, nếu bạn có thể tự bồi dưỡng cho bản thân thói quen này, thì bạn chắc chắn sẽ có thể nhanh chóng học được cách nhìn thấu phản ứng của người khác, từ đó hiểu rõ tính cách và nhân phẩm của họ.


3. Phản ứng song song, dựa theo hành động của đối phương mà nghĩ ra cách ứng đối hợp lý

Có nghĩa là, chúng ta nên giữ bình tĩnh, làm chủ phản ứng của mình, tùy vào từng hành động của đối phương mà thay đổi, biến hóa linh hoạt nhưng không gấp rút. Lúc mới bắt đầu, bạn có thể yên lặng, nhưng khi đến khúc cuối nhất định phải bày tỏ thái độ và quan điểm của bản thân, đừng mãi thụ động lắng nghe rồi gật gù một cách qua loa, vì nếu như vậy, người khác sẽ bắt được cái tâm lý của bạn, lấy nó làm điểm yếu để đàn áp và thao túng bạn qua lời nói. Phương pháp này mới chính là ý nghĩa thực thụ của kỹ năng quan sát ngôn từ và biểu cảm. Cho nên, khi bạn học được phương pháp này rồi, bạn sẽ có thể nắm rõ tấm bản đồ nhân tâm của người khác, từ đó sẽ không còn phải chịu thiệt thòi hay bị đàn áp trong giao tiếp của các mối quan hệ nữa.

Suy cho cùng, trong các mối quan hệ giữa người và người, nếu họ đã không thật lòng đối đãi thì chúng ta cũng không cần cố giữ hay làm hài lòng bất kỳ ai. Điều quan trọng nhất vẫn là hãy cứ làm chính mình, đừng buộc bản thân phải thay đổi vì bất kỳ ngoại tố nào nếu bạn không muốn. Vì Trái Đất rộng lớn như vậy, chắc chắn sẽ có người hiểu và trân trọng sự chất phác của bạn.

Trần Anh–Theo: Doanh nghiệp và Tiếp thị

Friday, July 31, 2026

CÂU HỎI TRANH CÃI MUÔN ĐỜI CỦA NGƯỜI MÊ VÕ HIỆP: KIM DUNG VÀ CỔ LONG, AI HƠN AI?

Bất kỳ ai từng lạc bước vào thế giới giang hồ của tiểu thuyết võ hiệp đều đối diện với câu hỏi: Kim Dung hay Cổ Long, người nào tạo ra những dấu ấn sâu sắc hơn?


Kim Dung và Cổ Long, ai hơn ai?

Kim Dung và Cổ long, ai hơn ai? Câu hỏi không hẳn để phân cao thấp, mà là cách người đọc tự xác định căn tính thẩm mỹ, lựa chọn thế giới giang hồ mà mình thuộc về. Thực tế, cả hai đều là những cột trụ đã định hình hai hướng đi rất khác biệt trong dòng chảy văn học võ hiệp đương đại.

Việc so sánh họ, xét cho cùng, cũng giống như đứng giữa hai đỉnh núi và cố gắng quyết định xem ngọn nào cao hơn khi mỗi đỉnh lại mở ra một chân trời khác biệt.

Kim Dung: Người xây đại lộ chính đạo của võ hiệp

Tên thật là Tra Lương Dung, Kim Dung không chỉ là một nhà văn, ông còn là một học giả uyên bác, một biên tập viên sắc sảo, và một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn trong đời sống văn hóa Hồng Kông thế kỷ 20. Từ năm 1955 đến 1972, ông viết 15 bộ tiểu thuyết võ hiệp, không nhiều về số lượng, nhưng gần như tác phẩm nào cũng trở thành kinh điển.


Anh hùng xạ điêu khắc họa một Quách Tĩnh thật thà, chậm chạp, nhưng kiên định và nghĩa khí, một biểu tượng hoàn hảo cho mẫu người quân tử truyền thống. Ỷ thiên đồ long ký đưa người đọc vào một mê cung chính tà khó phân, nơi Trương Vô Kỵ không chỉ là người luyện được Cửu dương thần công, mà còn là nhân vật đại diện cho sự lưỡng lự giữa đạo nghĩa và tình cảm cá nhân.

Tiếu ngạo giang hồ lại cho thấy một thế giới đầy phản trắc, nơi Lệnh Hồ Xung phiêu bạt như một kẻ bị ruồng bỏ giữa giang hồ, mang theo tư tưởng tự do và phản kháng, vượt khỏi ràng buộc của quyền lực và giáo điều.


Kim Dung không đơn thuần kể chuyện võ hiệp. Ông tạo dựng nên một thế giới có cấu trúc chặt chẽ, từ hệ thống môn phái như Võ Đang, Thiếu Lâm, Cái Bang, Nga Mi, đến các bí kíp võ công lừng danh như Cửu âm chân kinh, Độc cô cửu kiếm, Bắc minh thần công.

Ông kết nối các câu chuyện trong một dòng thời gian xuyên suốt, đặt nhân vật trong những hoàn cảnh gắn liền với các sự kiện lịch sử như cuộc kháng Kim, kháng Mông, sự sụp đổ của triều Tống hay cuộc tranh chấp giữa Minh giáo và triều đình nhà Nguyên.


Về mặt thành tựu, Kim Dung là nhà văn võ hiệp duy nhất được giới học thuật chính thức công nhận như một nhà văn lớn. Năm 2000, Đại học Cambridge mời ông làm tiến sĩ danh dự ngành văn học. Nhiều trường đại học tại Trung Quốc và nước ngoài có hẳn các chương trình nghiên cứu về tác phẩm của ông.

Cổ Long: Kẻ du hành trong bóng tối của giang hồ

Cổ Long, tên thật là Hùng Diệu Hoa, xuất hiện sau Kim Dung nhưng sớm khẳng định một lối đi riêng biệt. Nếu Kim Dung là người xây dựng một thế giới võ hiệp có trật tự, thì Cổ Long lại là người bóc tách các lớp mặt nạ trong giang hồ ấy, đưa người đọc vào thế giới của những cá nhân đơn độc, suy tư và đầy mâu thuẫn.


Trong Đa tình kiếm khách, vô tình kiếm, Lý Tầm Hoan là một hình mẫu điển hình của thế giới Cổ Long: một cao thủ phi đao chính xác tuyệt đối, đa tình, cô độc, thấu hiểu nhân sinh đến nỗi chỉ biết chọn cách sống xa lánh nó.

Trong Sở Lưu Hương, vị đạo tặc phong lưu chưa từng giết ai nhưng lại sống trong thế giới đầy sát khí, nơi kẻ mạnh không phải người có võ công cao nhất mà là kẻ có tâm cơ sâu nhất. Còn Lục Tiểu Phụng, với bộ râu kỳ quái và thói quen nhậu nhẹt, lại là kẻ thông minh nhất giang hồ, dùng đầu óc để phá án, để giải mã giang hồ như một ván cờ đầy lừa lọc.


Cổ Long không miêu tả võ công theo cách chi tiết như Kim Dung. Ông dùng ẩn dụ, nhịp văn ngắn gọn, đôi khi chỉ một câu cũng đủ giết chết một nhân vật. Cách ông viết thường giống một vở kịch hiện đại hơn là tiểu thuyết truyền thống. Độc giả của ông thường là những người thích suy nghĩ, thích chiêm nghiệm và bị hút vào cái đẹp lạnh lùng của cô đơn.

Dù ra đi sớm ở tuổi 48, Cổ Long để lại hơn 70 tác phẩm, trong đó nhiều tác phẩm được dựng thành phim, truyền hình, truyện tranh và game. Sự ảnh hưởng của ông sâu đậm đến mức nhiều nhà văn sau này như Ôn Thụy An, Hoàng Dị đều thừa nhận chịu ảnh hưởng từ văn phong và tinh thần của Cổ Long.


Hai đỉnh núi không cần phải đối đầu

Kim Dung là người thầy, dạy người ta sống ngay thẳng, trượng nghĩa, lấy đại nghĩa làm đầu. Cổ Long là kẻ lang bạt, dạy người ta đối diện với bản ngã, với nỗi buồn, với những gì không thể gọi tên trong thế giới nội tâm. Nếu nhân vật của Kim Dung sống để cứu người, thì nhân vật của Cổ Long sống để hiểu chính mình. Nếu Kim Dung đặt võ hiệp trong khung cảnh rộng lớn của lịch sử và đạo lý, thì Cổ Long để võ hiệp trôi nổi giữa dòng đời hiện sinh, ngắn ngủi và mơ hồ.

Không có ai hơn ai. Chỉ có người tìm thấy mình trong Quách Tĩnh, và người khác lại thấy bóng mình trong Lý Tầm Hoan.


Võ hiệp là vùng đất đủ rộng cho những cá tính riêng biệt

Sự tồn tại song song của Kim Dung và Cổ Long không phải để cạnh tranh mà để bổ sung cho nhau. Họ cho thấy rằng võ hiệp không chỉ là kiếm và máu, mà là một cách nhìn cuộc đời. Một người nhìn qua lăng kính của đạo nghĩa, trật tự. Người kia nhìn qua lăng kính của cô độc, hoài nghi. Mỗi cách nhìn đều mở ra một lối đi, một chân dung khác của anh hùng.

Cho nên thay vì hỏi Kim Dung hay Cổ Long ai hơn, hãy hỏi: Hôm nay tâm hồn bạn cần điều gì? Nếu cần một bài học sống, đọc Kim Dung. Nếu cần một khoảng lặng để đối thoại với bản thân, hãy tìm đến Cổ Long.

Bởi võ hiệp không chỉ là một thể loại văn học. Đó là một chốn để quay về, khi cuộc sống ngoài kia quá ồn ào.

Hạnh Phúc / Theo: Theo Thanh Niên Việt

TƯƠNG TƯ - NGUYÊN SA


Tương tư
thơ Nguyên Sa

Tôi đã gặp em từ bao giờ
Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya
Kể từ gió thổi trong vừng tóc
Hay lúc thu về cánh nhạn kia?

Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?

Có phải mùa xuân sắp sửa về
Hay là gió lạnh lúc đêm khuya
Hay là em chọn sai màu áo
Để nắng thu vàng giữa lối đi?

Có phải rằng tôi chưa được quen
Làm sao buổi sáng đợi chờ em
Hay từng hơi thở là âm nhạc
Đàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương

Buổi tối tôi ngồi nghe sao khuya
Đi về bằng những ngón chân thưa
Và nghe em ghé vào giấc mộng
Vành nón nghiêng buồn trong gió đưa

Tôi không biết rằng lạ hay quen
Chỉ biết em mang theo nghê thường
Cho nên cặp mắt mờ hư ảo
Cả bốn chân trời chỉ có em

NGUYÊN SA

Bài thơ này được nhạc sĩ Đinh Sinh Long phổ nhạc thành bài hát cùng tên.


Sơ Lược tiểu sử tác giả:

Nguyên Sa (1/3/1932 - 18/4/1998) tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn Việt Nam nổi tiếng từ thập niên 1950, với những tác phẩm nổi danh như Áo lụa Hà Đông, Paris có gì lạ không em, Tuổi mười ba, Tháng sáu trời mưa, v.v...

Tổ tiên Nguyên Sa gốc ở Thuận Hoá (Huế), ông cố ông là Thượng thư Trần Trạm, giữ chức Hiệp tá Đại học sĩ trong triều đình thời Tự Đức, đến đời ông nội mới ra Hà Nội. Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, gia đình ông tản cư đi Hà Đông. Tại đây, ông bị Việt Minh bắt giam khi mới 15 tuổi. Hồi cư về Hà Nội, gia đình cho ông qua Pháp du học vào năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài ở Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Đại học Sorbonne. Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này. Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thuý Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà về nước. Năm 1975, ông di tản đi Pháp. Ba năm sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và ở California từ đó cho tới ngày qua đời.

Nguồn: Thi Viện



THẾ NHÂN NHIỀU GIAN TRÁ, LÀM SAO ĐỂ KHÔNG CÓ KẺ THÙ?

Lời ăn tiếng nói là vấn đề sống còn của mỗi cá nhân, kẻ bại người thành cũng là nhờ vào đó. Đôi khi chỉ vì vụng về giao tiếp, hiểu lầm lẫn nhau mà gây nên những bi kịch không đáng có...

Học được cách bình tĩnh chính là học được cách khống chế tâm thái của mình. (Ảnh: Pixabay)

Cổ ngữ có câu: 'Vàng thì thử lửa thử than; chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời'... nhân sinh như mộng, nhưng đời người lại là chuỗi dài những thử thách gian truân. Trong dòng chảy cuồn cuộn của thế nhân ấy, giao tiếp là nhu cầu tất yếu của mỗi con người...

Có câu chuyện kể rằng, một hôm giữa sư tử và hổ phát sinh mâu thuẫn, cả hai cùng quyết chiến với nhau. Sau một hồi giao tranh quyết liệt, hai con cùng bị trọng thương. Trong lúc thoi thóp sư tử mới nói với hổ rằng: “Giá mà anh không cướp mất địa bàn của tôi thì hai chúng ta đâu phải xảy ra cơ sự như thế này”. Hổ nghe xong tỏ ý kinh ngạc nói: “Tôi trước nay chưa hề có ý định muốn tranh đoạt địa phận của anh. Tôi cứ nghĩ anh muốn cướp lấy địa bàn của tôi nên mới hành động”.

Tôi cứ nghĩ anh muốn cướp lấy địa bàn của tôi nên mới hành động. (Ảnh: Pixabay)

Vậy mới thấy, làm người đối nhân xử thế thì việc thấu hiểu lẫn nhau quan trọng nhường nào. Làm cách nào để có thể thấu hiểu nhau nhất có thể? Khi nóng giận thì phải làm sao để hạ bớt cơn oán giận xuống? Có lẽ chỉ có hoà hoãn mới là cách tốt nhất.

Khi bản thân nóng giận, chúng ta không làm chủ được chính mình thì sự việc bị biến tướng là điều không thể tránh khỏi. Dẫu hai người có tình cảm tốt đến đâu nhưng không có sự giao tiếp đúng mực thì đôi lúc nói nhiều chỉ trở nên vô nghĩa. Miệng thì nói là liễu giải lẫn nhau nhưng tính khí thì ngược lại, ai cũng muốn mình đúng, ai cũng muốn mình hơn, vậy đây là nói chuyện hay là cãi nhau?

Khi hai người giao tiếp với nhau thì 70% là tình cảm, 30% mới là nội dung. Người khác nhau có cách nghĩ khác nhau, ở cùng nhau có chỗ hiểu lầm, đó là điều khó tránh. Vậy nên khi sự việc có chỗ sai lệch thì cần nói rõ, có như vậy mới tránh khỏi cảnh cùng thuyền mà khác hướng.

Tai khác nhau thì cách nghe cũng khác nhau. Làm người khi gặp việc khó khăn, xung đột thì không nên tức giận, có tranh chấp cũng đừng nên manh động. Có những lúc trong giao tiếp nghe nhiều tốt hơn là nói nhiều. Con người ta mất 3 năm để học nói nhưng mất cả đời để học im lặng cũng là lý do đó. Bậc cao nhân trước khi tức giận thì thường hỏi chính mình:

– Việc này có đáng để tức giận không?

– Tức giận và không tức giận thì kết quả sẽ khác nhau như thế nào?

– Tức giận rồi vấn đề giải quyết có tốt hơn không?

Sau khi tìm được cho mình đáp án rồi mới có thái độ phản hồi, vạn sự trên đời này có sinh ắt có diệt, có sự việc phát sinh thì sẽ có cách giải quyết.

Vạn sự trên đời này có sinh ắt có diệt, có sự việc phát sinh thì sẽ có cách giải quyết. (Ảnh: FB Hoạ sỹ Bùi Hải)

Ngoài đó ra thì, thái độ hoà ái chính là tiền đề để thấu hiểu và liễu giải lẫn nhau. Một khi chưa thể có được tâm bình, khí hòa thì không nên nói chuyện với người khác. Thái độ không chân thành, lời nói ra cũng chẳng thể có thành ý, chỉ khiến cho người khác vốn đã không vừa ý lại càng thêm bất bình. Trên đời này có biết bao nhiêu người chỉ vì ứng xử không tốt mà tình cảm mỗi ngày mỗi xa. Hậu quả, khi một người không hiểu được giá trị của việc giao tiếp đó chính là chia cắt.

Khống chế được thái độ bản thân, ấy chính là người làm chủ; bị thái độ khống chế, ấy lại là người bị dắt mũi. Học được cách bình tĩnh chính là học được cách khống chế tâm thái của mình, tâm thái bản thân được khống chế vậy thì còn gì có thể cản trở bạn thành công?

Hãy nhớ, người chịu được tính khí của bạn chính là người yêu bạn. Người trị được tính khí của bạn lại cũng chính là người yêu bạn. Vậy nên đừng để những người yêu thương mình bị tổn thương.

Minh Vũ / Theo: ntdtv

TRƯƠNG HỌC LƯƠNG QUA ĐỜI, TỐNG MỸ LINH Ở TUỔI 104 GỬI TỚI 4 CHỮ GÌ KHIẾN AI XEM CŨNG XÚC ĐỘNG?

Tháng 10/2001, khi Trương Học Lương qua đời, Tống Mỹ Linh không thể đến dự tang lễ vì sức khỏe quá yếu. Bà chỉ gửi một vòng hoa. Điều đặc biệt là người ký tên không phải "Tống Mỹ Linh", mà là "Tưởng Tống Mỹ Linh".


Trương Học Lương qua đời, Tống Mỹ Linh ở tuổi 104 gửi tới 4 chữ gì khiến ai xem cũng xúc động?

Ngày 14/10/2001, tại Honolulu (Hawaii, Mỹ), Trương Học Lương – vị "Thiếu soái" lừng danh của Trung Quốc – trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 101. Khép lại cuộc đời hơn một thế kỷ, ông cũng kết thúc một chương lịch sử đầy bi kịch, gắn liền với biến cố Tây An và hơn nửa đời người sống trong cảnh bị giam lỏng.

Khi tin ông qua đời được truyền đến New York, có một cụ bà đã ngoài 104 tuổi lặng người. Tuổi cao, sức yếu khiến bà không thể đến tiễn biệt người bạn cũ lần cuối. Thay vào đó, bà nhờ người mang đến một vòng hoa.

Điều khiến tất cả những người có mặt xúc động không phải là vòng hoa ấy, mà là dòng chữ ký trên đó.

Không có điếu văn dài dòng, cũng chẳng có những lời ca ngợi hoa mỹ. Chỉ vỏn vẹn bốn chữ: "Tưởng Tống Mỹ Linh".

Bốn chữ ngắn ngủi ấy khiến không ít người rơi nước mắt, bởi ai cũng hiểu rằng, phía sau đó là một mối giao tình kéo dài hơn bảy thập kỷ, là câu chuyện về sự bảo vệ, lòng biết ơn và những bí mật chưa bao giờ được nói hết giữa Tống Mỹ Linh và Trương Học Lương.

Để hiểu vì sao chỉ bốn chữ ấy lại có sức nặng đến vậy, phải quay ngược thời gian về năm 1925.

Khi ấy, Trương Học Lương còn là vị thiếu soái trẻ tuổi của Đông Bắc quân. Trong một lần đưa quân đến Thượng Hải, ông quen biết Tống Mỹ Linh tại một buổi giao lưu của giới thượng lưu.

Vợ chồng Tưởng Giới Thạch - Tống Mỹ Linh.

Hai người nhanh chóng tìm được tiếng nói chung. Sau đó, họ thường xuyên gặp gỡ trong các buổi dạ tiệc, những sự kiện xã hội và nhiều cuộc trao đổi riêng.

Lúc đó, Trương Học Lương đã có vợ là Vu Phượng Chí, một tiểu thư danh giá xuất thân trong gia đình quyền quý. Vì vậy, giữa ông và Tống Mỹ Linh gần như không tồn tại mối quan hệ tình cảm theo nghĩa nam nữ.

Điều gắn kết họ là sự đồng điệu về tư tưởng.

Tống Mỹ Linh khâm phục sự thẳng thắn, trọng nghĩa khí của Trương Học Lương, trong khi vị Thiếu soái lại đánh giá rất cao tầm nhìn, sự quyết đoán và trí tuệ của người phụ nữ sau này trở thành Đệ nhất phu nhân Trung Hoa Dân quốc.

Không ai ngờ rằng, chính tình bạn ấy sau này lại trở thành chiếc phao cứu mạng của Trương Học Lương.

Ngày 12/12/1936, lịch sử Trung Quốc bước sang một khúc quanh quan trọng khi xảy ra Sự biến Tây An.

Trương Học Lương cùng Dương Hổ Thành bất ngờ bắt giữ Tưởng Giới Thạch, buộc ông phải chấm dứt nội chiến với Đảng Cộng sản và tập trung chống lại quân Nhật đang xâm lược.

Từ góc nhìn của nhiều nhà sử học, đây là hành động đặt lợi ích dân tộc lên trên mâu thuẫn chính trị.

Nhưng đối với Tưởng Giới Thạch, việc bị chính cấp dưới dùng vũ lực ép ký thỏa thuận là nỗi nhục không dễ gì xóa bỏ.

Sau khi sự biến được giải quyết bằng con đường hòa bình, Trương Học Lương chủ động hộ tống Tưởng Giới Thạch trở về Nam Kinh. Ông tin rằng việc tự nguyện nhận trách nhiệm sẽ giúp mọi chuyện khép lại.

Thế nhưng, ngay khi máy bay hạ cánh, Trương Học Lương lập tức bị bắt giữ.

Đó cũng là ngày ông đánh mất tự do trong suốt 54 năm tiếp theo.

Số phận của người đồng hành với ông còn bi thảm hơn.

Dương Hổ Thành bị chuyển từ nơi giam giữ này sang nơi khác suốt nhiều năm. Đến ngày 6/9/1949, ngay trước thời điểm Trùng Khánh được giải phóng, ông cùng nhiều thành viên trong gia đình bị đặc vụ Quốc dân đảng bí mật sát hại.

Cùng tham gia phát động Sự biến Tây An, nhưng một người chết cùng cả gia đình, còn một người sống đến tuổi 101.

Điều gì tạo nên sự khác biệt ấy?

Theo nhiều giai thoại được lưu truyền, câu trả lời nằm ở Tống Mỹ Linh.

Sau khi trở về Nam Kinh, Tưởng Giới Thạch từng nhiều lần bày tỏ ý định xử tử Trương Học Lương để răn đe những người khác.

Trương Học Lương.

Tòa án quân sự tuyên án ông 10 năm tù, nhưng trong nội bộ, vẫn xuất hiện những ý kiến muốn loại bỏ hoàn toàn vị Thiếu soái.

Khi nghe được thông tin này, Tống Mỹ Linh được cho là đã lập tức đứng ra can thiệp.

Nhiều tư liệu và lời kể về sau cho rằng bà không chỉ khuyên nhủ, mà còn tranh cãi gay gắt với chồng. Có nguồn còn ghi lại rằng bà từng đưa ra lời cảnh báo vô cùng cứng rắn, đại ý rằng nếu Trương Học Lương bị hãm hại, bà sẽ công khai những bí mật mà Tưởng Giới Thạch không muốn ai biết.

Dù tính xác thực của chi tiết này vẫn còn gây tranh luận trong giới nghiên cứu, nhưng điều mà nhiều người thừa nhận là Tống Mỹ Linh đã nhiều lần đứng ra xin giảm nhẹ hình phạt cho Trương Học Lương.

Bà thuyết phục, phản đối, thậm chí dùng chính ảnh hưởng của mình để khiến Tưởng Giới Thạch thay đổi quyết định.

Cuối cùng, Trương Học Lương không bị xử tử.

Nhưng ông cũng không bao giờ được trả tự do.

Từ năm 1936 đến năm 1990, suốt 54 năm, cuộc sống của Trương Học Lương chỉ gói gọn trong những khu biệt thự được canh gác nghiêm ngặt.

Ông lần lượt bị đưa đến nhiều nơi khác nhau, từ Trung Quốc đại lục sang Đài Loan, từ Tân Trúc đến Đài Bắc. Dù điều kiện sinh hoạt không quá khắc nghiệt, ông vẫn không được quyền đi lại hay quyết định số phận của mình.

Đó là cuộc sống của một người còn sống nhưng không có tự do.

Chính Trương Học Lương cũng hiểu rất rõ ai là người đã giúp mình giữ được mạng sống.

Trong một cuộc phỏng vấn lúc cuối đời, ông từng nói:

"Chỉ cần phu nhân của Tưởng tiên sinh còn sống một ngày, tôi cũng sẽ còn sống một ngày”.

Một câu nói ngắn gọn nhưng chứa đựng biết bao cảm xúc.

Ông hiểu rằng, người giữ mình ở lại với thế gian không phải là lòng khoan dung của Tưởng Giới Thạch, mà là sự che chở bền bỉ của Tống Mỹ Linh.

Đến năm 1990, sau hơn nửa thế kỷ, Trương Học Lương cuối cùng cũng được khôi phục quyền tự do.

Khi ấy ông đã 90 tuổi.

Tống Mỹ Linh cũng đã bước sang tuổi 93.

Dù đều ở bên kia sườn dốc cuộc đời, tình bạn của họ vẫn chưa bao giờ chấm dứt.

Trương Học Lương chuyển đến định cư tại Hawaii, còn Tống Mỹ Linh sống những năm cuối đời ở New York.

Khoảng cách hàng nghìn cây số không làm mất đi sự gắn bó giữa hai người. Họ vẫn thỉnh thoảng gọi điện hỏi thăm nhau, gửi lời chúc vào các dịp lễ tết và luôn dành cho đối phương sự trân trọng đặc biệt.

Vợ chồng Trương Học Lương khi về già.

Tháng 10/2001, khi Trương Học Lương qua đời, Tống Mỹ Linh không thể đến dự tang lễ vì sức khỏe quá yếu.

Bà chỉ gửi một vòng hoa.

Điều đặc biệt là người ký tên không phải "Tống Mỹ Linh", mà là "Tưởng Tống Mỹ Linh".

Cách ký này mang nhiều tầng ý nghĩa.

Một mặt, bà xuất hiện với tư cách thành viên của gia đình họ Tưởng.

Mặt khác, đối với những người hiểu rõ câu chuyện kéo dài hàng chục năm giữa bà và Trương Học Lương, bốn chữ ấy còn là lời tiễn biệt cuối cùng dành cho người bạn đã đồng hành với mình qua gần trọn thế kỷ đầy biến động.

Ngày 24/10/2003, Tống Mỹ Linh qua đời tại New York, hưởng thọ 106 tuổi.

Bà sống lâu hơn Trương Học Lương đúng hai năm.

Nhìn lại chặng đường từ lần gặp đầu tiên ở Thượng Hải năm 1925 đến vòng hoa lặng lẽ năm 2001, mối giao tình giữa họ đã kéo dài suốt 76 năm.

Lịch sử luôn ghi nhớ Sự biến Tây An như một bước ngoặt quan trọng của Trung Quốc hiện đại. Nhưng phía sau những quyết định chính trị ấy còn là những số phận đầy bi kịch.

Dương Hổ Thành mất mạng cùng gia đình.

Trương Học Lương mất hơn nửa thế kỷ tự do.

Một người không thể sống tiếp, một người sống rất lâu nhưng trong cảnh bị giam cầm.

Đối với nhiều người, sự khác biệt ấy không chỉ đến từ quyết định của Tưởng Giới Thạch, mà còn gắn liền với sự can thiệp bền bỉ của Tống Mỹ Linh. Dù một số chi tiết trong câu chuyện vẫn mang màu sắc giai thoại và chưa được các tài liệu lịch sử xác nhận tuyệt đối, hình ảnh bà nhiều lần đứng ra bảo vệ Trương Học Lương đã trở thành phần không thể tách rời trong những câu chuyện xoay quanh biến cố Tây An.

Có lẽ vì vậy mà đến tận cuối đời, Trương Học Lương vẫn luôn nhắc đến "Tưởng phu nhân" với sự biết ơn đặc biệt.

Còn vòng hoa chỉ mang bốn chữ "Tưởng Tống Mỹ Linh" cũng trở thành dấu chấm lặng lẽ nhưng đầy ám ảnh cho một mối giao tình hiếm có giữa những nhân vật từng đứng giữa cơn bão của lịch sử.

Minh Tuấn / Theo: Dân Việt

Thursday, July 30, 2026

LÀM THẾ NÀO ĐỐI ĐÃI VỚI NGƯỜI KHÔNG THÍCH BẠN? HÃY HỌC CÁCH LÀM CỦA LÃO TỬ

Nhận thức khác nhau, tranh biện, cãi cọ sẽ chỉ là sự tiêu hao năng lượng không cần thiết. Không bằng im lặng hoặc dửng dưng một nụ cười bỏ qua.


Thời Xuân Thu, Lão Tử là một người có đạo đức vô cùng cao thượng, tấm lòng khoáng đạt, bao dung, tư tưởng khác biệt, là một người có đạo đức phi phường, một nhà triết học uyên bác, vì vậy danh tiếng vang vọng khắp thiên hạ, được ca tụng là bậc Thánh nhân.

Một ngày nọ, có vị học giả tên Thổ Thành Khởi tới viếng thăm Lão Tử. Ông thường nghe mọi người ca tụng Lão Tử, nên cảm thấy vô cùng tò mò và tự hỏi, lẽ nào đạo đức và học ​thức của Lão Tử thực sự phi thường như vậy? Vì vậy, ông ta không quản đường xá xa xôi đi hàng ngàn dặm để tìm đến nhà của Lão Tử. Nơi sinh sống của Lão Tử rất đơn sơ, nhà cửa rách nát và trông bẩn thỉu.

Vị học giả nhìn thấy vậy, trong lòng cảm thấy không vui, liền nói với Lão Tử: “Tôi nghe nói ông là người có học thức cao lại có trí huệ, là một nhà đạo đức học, vì ngưỡng mộ danh tiếng nên không quản ngàn dặm tìm tới đây. Tuy nhiên tới đây rồi tôi lại thấy rất thất vọng, nhà ông giống như cái ổ chuột, chẳng khác mấy so với chuồng trâu, chuồng lợn. Tôi không biết như vậy còn điều gì đáng để tôi tới thỉnh giáo ông? Thật là thất vọng! “

Nói xong, nhìn thấy Lão Tử dường như không có phản ứng gì nên vị học giả quay đầu bỏ đi.

Trên đường về, tâm vị học giả không thể tĩnh lại, không ngừng suy nghĩ: “Trong lòng mình dường như có gì đó rất kỳ lạ. Về lý mà nói, thanh danh của Lão Tử vang dội siêu thường như vậy, mình đến trước mặt ông ấy, sao lại cảm thấy nơi đó không có gì là đặc biệt. Hơn nữa mình dùng những lời lẽ châm chọc ông ta như vậy, dường như ông ấy cũng không có phản ứng gì. Nếu nói rằng mình đã thắng, thì sẽ cảm thấy vui vẻ, nhưng ngược lại bản thân mình lại cảm thấy trống rỗng, đó là đạo lý làm sao nhỉ?”


Vị học giả suy đi nghĩ lại nhiều lần. Ngày hôm sau, ông ta không nhịn được lại quay lại gặp Lão Tử và hỏi: “Kỳ lạ, hôm qua tôi tới thỉnh giáo ông, không khách khí với ông và nói những lời xúc phạm, nhục mạ tới ông như vậy, tại sao ông không có phản ứng gì cũng không tức giận?”

Lão Tử ung dung tự tại đáp: “Cái gì mà thánh nhân với không thánh nhân? Ta đã sớm coi nó là một chiếc giày rách nát vứt nó ra xa rồi. Danh phận sớm đã không có chút liên hệ nào với ta nữa. Nếu ta là một người đắc đạo chân chính, bất luận ông gọi ta là trâu, là ngựa hay chuột cũng có liên quan gì tới ta? Đây đều là những việc không quan trọng”.

Làm thế nào để đối đãi với những người không thích bạn? Trong cuộc sống thường ngày, đôi khi chúng ta sẽ gặp phải tình huống giống như Lão Tử. Hãy suy ngẫm lại những điều Người làm và những điều Người nói.

Đừng bao giờ tranh cãi với những người có nhận thức khác biệt, bạn chỉ cần làm tốt việc bản thân cần làm, thản nhiên đối đãi với mọi chuyện, luật nhân quả sẽ giúp bạn sáng tỏ.

Không biện giải tranh cãi không có nghĩa là bạn đuối lý, chột dạ đó là vì thanh giả tự thanh, tâm và thân đoan chính ngay thẳng, phẩm chất chính trực, sẽ có một ngày được thời gian kiểm chứng.

Nhận thức khác biệt, không cần phải biện minh

Trong thiên “Thu thủy” Trang Tử từng giảng một câu như sau: “Hạ trùng bất khả dĩ ngữ băng” ý nghĩa là: đừng nên nói về băng tuyết với những con côn trùng của mùa hè. Những con côn trùng đó không thể sống được tới mùa đông, làm sao có thể biết mùa đông như thế nào?

Ngăn cách bởi quá nhiều trở ngại, việc giao tiếp chia sẻ là bất lực và cần thời gian lâu dài; nhận thức khác nhau, tranh biện, cãi cọ sẽ chỉ là sự tiêu hao năng lượng không cần thiết. Không bằng im lặng hoặc dửng dưng một nụ cười bỏ qua.


Tần số đạo đức khác nhau, sẽ âm thầm xa lánh

Zola và Cezanne là những người bạn thời thơ ấu, lớn lên, một người trở thành họa sĩ và người kia trở thành nhà văn. Đường đời của hai người là khác nhau, và sự khác biệt giữa cả hai cũng dần tăng lên.

Zola không hiểu những bức tranh của Cézanne, cho rằng những bức tranh của Cézanne có màu sắc thô tục và nét vẽ mãnh liệt, không quá theo trường phái Ấn tượng như chủ nghĩa Fauvism. Anh ta thậm chí còn phỉ báng Cezanne trong tiểu thuyết của mình. Những họa sĩ trong tiểu thuyết là những kẻ kiêu ngạo và ngạo mạn, cho rằng họ là thiên tài của thế giới.

Cezanne không ngờ rằng nghệ thuật và sự theo đuổi của mình lại trở nên khó chịu trong mắt bạn bè. Từ đó hai người chia tay và không liên lạc với nhau.

Chúng ta cần đánh giá cao mọi người, ngay cả khi bạn không thích người ta, thì ít nhất bạn nên hiểu rằng họ sẽ có những lợi thế mà bạn không có trong thời điểm hiện tại.

Hãy nhớ rằng, càng không thích ai đó, bạn càng phải thể hiện sự tu dưỡng bản thân, bởi vì mọi thứ chúng ta làm là để đề cao bản thân chứ không phải để hạ thấp, chê bai người khác.

Theo: Vision Times
Bình Nhi biên dịch


10 QUY TẮC NHÌN NGƯỜI TRÊN BÀN TIỆC ĐỂ CHỌN ĐỐI TÁC LÀM ĂN CỦA NGƯỜI HOA

Với người Hoa kinh doanh, bàn tiệc chính là "bàn mổ" tâm lý, nơi mỗi cử chỉ nhỏ đều được soi xét và có thể quyết định thành bại của cuộc hợp tác làm ăn.

Với thương nhân người Hoa, uống rượu cũng là đang thăm dò đối tác. (Ảnh: Sohu)

Đối với doanh nhân gốc Hoa, bàn tiệc không đơn thuần là nơi để thỏa mãn vị giác. Nếu thương trường là chiến trường thì bàn tiệc chính là nơi dàn quân, dàn trận và thực hiện những cuộc sát hạch tâm lý tinh vi nhất. Người Hoa gọi đây là "phạn cục" (饭局), trong đó "phạn" là cơm, "cục" mang hàm nghĩa là một ván cờ, một thế trận được sắp đặt sẵn.

Tại sao những thương nhân nổi tiếng chi ly , tính toán từng đồng bạc lẻ lại sẵn sàng chi hàng nghìn USD cho một bữa tiệc linh đình ngay cả khi hợp đồng chưa được ký kết? Câu trả lời nằm ở chỗ họ không "đốt tiền" để ăn uống, họ đang đầu tư để "mua" thông tin về nhân cách và bản lĩnh của đối tác thông qua 10 quy tắc nhìn người khắc nghiệt dưới đây.

Đừng bao giờ gọi món đắt hơn chủ tiệc

Quy tắc đầu tiên và cũng là cái bẫy tâm lý phổ biến nhất chính là việc gọi món. Khi chủ tiệc đưa thực đơn và lịch sự mời bạn chọn món mình thích, hãy cực kỳ cẩn trọng. Một người có chiều sâu văn hóa và sự quan sát tinh tế sẽ không bao giờ gọi món đắt tiền hơn món mà chủ tiệc đã gọi trước đó.

Người chủ trì thường gọi một vài món khai cuộc để định hình tầm giá của bữa tiệc. Nếu bạn gọi những món xa xỉ vượt mặt chủ nhà, bạn lập tức bị dán nhãn là kẻ tham lam, thiếu tôn ti trật tự và không biết quan sát. Ngược lại, người biết nhún nhường, chọn món phù hợp với khung giá của chủ tiệc sẽ ghi điểm về sự khiêm tốn và tinh tế trong giao tiếp.

Chủ tiệc là người gọi món đầu tiên, khách nên gọi món ít tiền hơn. (Ảnh: Sohu)

Chia sẻ thức ăn

Phép thử thứ hai thường được giới thương nhân lão luyện sử dụng là kiểm tra chia sẻ. Hãy tưởng tượng đĩa thức ăn dọn ra chỉ có 5 phần trong khi bàn có 6 người. Kẻ phàm ăn, chỉ biết đến cái bụng của mình sẽ nhanh tay gắp lấy miếng ngon mà không cần suy nghĩ.

Trong mắt người Hoa, hành động này phản ánh bản chất của một kẻ sẵn sàng chèn ép đối tác khi chia chác lợi nhuận trong tương lai. Nhường miếng ăn trên bàn tiệc thực chất là phép thử về khả năng nhường lợi ích trên thương trường. Một người biết quan sát, biết nhường phần ngon cho người khác hoặc chủ động điều phối để mọi người cùng vui vẻ mới là người có tư duy đại cục, xứng đáng để hợp tác lâu dài.

Cân bằng của bàn tiệc

Bên cạnh đó, cách một người gọi món cho cả tập thể cũng phản ánh năng lực quản trị hệ thống. Một bàn tiệc hoàn hảo phải có "vị" và sự cân bằng. Có mặn có nhạt, có canh có rau, có món hợp với người già và món dễ ăn cho phụ nữ.

Nếu khách được giao quyền gọi món mà chỉ chọn toàn những thứ mình thích hoặc rặt những loại hải sản đắt tiền mà bỏ qua sự đa dạng, bạn đang bộc lộ sự thiếu chu toàn và tầm nhìn hạn hẹp. Cách sắp xếp một thực đơn phản ánh cách bạn điều hành một bộ máy. Liệu đối tác có quan tâm đến tất cả các thành phần trong hệ thống hay chỉ chạy theo những giá trị hào nhoáng bề nổi?

Người chủ khai tiệc

Đi đôi với vị trí ngồi là "phát súng lệnh" từ đôi đũa của người lãnh đạo. Dù món ăn có hấp dẫn đến đâu, khi nhân vật quan trọng nhất chưa nâng đũa và có lời khai tiệc, mọi người xung quanh bắt buộc phải giữ sự tĩnh lặng và kiên nhẫn.

Hành động "cầm đèn chạy trước ô tô" trên bàn ăn thể hiện sự vô kỷ luật và thiếu kiềm chế. Người không quản lý được cơn đói và ham muốn nhất thời của mình thì khó lòng quản lý được những dự án lớn lao, nơi đòi hỏi sự kiên nhẫn và tuân thủ nguyên tắc tuyệt đối để đạt được thành công bền vững.

Đôi đũa của chủ tiệc như phát súng lệnh, sau đó mọi người mới bắt đầu dùng bữa. (Ảnh: Baidu)

Vị trí ngồi

Văn hóa bàn tiệc người Hoa còn đặc biệt chú trọng đến tôn ti trật tự thông qua vị trí ngồi. Vị trí trung tâm, đối diện cửa ra vào luôn là "ghế nóng" dành cho nhân vật quyền lực nhất hoặc khách VIP.

Việc một người trẻ tuổi hoặc một đối tác chưa hiểu chuyện vội vàng chọn chỗ ngồi đắc địa không chỉ là sự vô duyên mà còn là dấu hiệu của kẻ không biết mình là ai.

Trong thế giới kinh doanh, người không hiểu luật chơi về vị trí sẽ dễ dàng phạm phải những sai lầm chết người. Trong đàm phán, sự kiêu ngạo hoặc thiếu hiểu biết chính là điểu yếu chí tử.

Nghệ thuật cụng ly

Một tiểu tiết nhỏ nhưng mang sức nặng ngàn cân trong văn hóa uống rượu chính là nghệ thuật cụng ly. Khi nâng ly chúc mừng người lớn tuổi hoặc đối tác lớn hơn, vành ly của bạn bắt buộc phải chạm thấp hơn vành ly của họ từ 1 đến 2cm.

Khoảng cách nhỏ bé này chính là thước đo của sự tôn trọng và khiêm nhường. Những kẻ luôn muốn ly của mình cao hơn người khác thường mang tâm lý hiếu thắng, tự phụ và khó bảo. Người Hoa tin rằng, kẻ biết hạ thấp mình trên bàn rượu chính là người biết tiến biết lui, biết cương biết nhu trên thương trường đầy sóng gió.

Rượu vào nhưng lời không ra

Rượu vào lời ra là quy luật tự nhiên, nhưng với người Hoa, bàn rượu là nơi để thử thách sự kín kẽ của đối tác. Họ có thể ép rượu bạn không phải để chuốc say đơn thuần, mà để xem khi ý thức bị mờ mịt, bạn sẽ bộc lộ bản chất thật sự là gì.

Một kẻ mới uống dăm ba ly đã bắt đầu ba hoa, tiết lộ bí mật kinh doanh hoặc nói xấu người khác sẽ ngay lập tức bị gạch tên khỏi danh sách hợp tác. Tửu lượng có thể không cao, nhưng bản lĩnh giữ miệng phải vững. Người làm được việc lớn là người dù trong trạng thái say vẫn biết đâu là giới hạn của ngôn từ và bảo mật thông tin.

Uống rượu cũng là cách xem đối phương có biết kiềm chế bản thân. (Ảnh: Sohu)

Khách không thanh toán

Một sai lầm mà nhiều người thường mắc phải là lén ra quầy thanh toán tranh với chủ tiệc. Trong văn hóa người Hoa, ai chủ trì bữa tiệc thì người đó trả tiền. Bữa ăn của họ mang tính chiến lược, là một "thế trận" để họ đạt được mục đích của mình.

Việc đối tác cướp quyền thanh toán chính là hành động tước đi thể diện của họ, phá hỏng toàn bộ kịch bản mà họ đã dày công sắp đặt. Hôm nay, đối tác không phân rõ chủ khách trên bàn ăn, ngày mai khi hợp tác cũng sẽ dễ dàng phá vỡ trật tự và các nguyên tắc quản trị chung.

Thời điểm nói chuyện làm ăn

Thời điểm bàn chuyện làm ăn cũng là một nghệ thuật cần lưu ý trong các bữa tiệc "phạn cục". Đừng bao giờ lôi hợp đồng hay các con số khô khan ra khi món khai vị vừa dọn lên. Bữa tiệc là khoảng thời gian để kết giao, thăm dò và xây dựng niềm tin cá nhân.

Những vấn đề sinh tử của dự án chỉ nên được chốt hạ khi mọi người đã "trà dư tửu hậu", khi thức ăn đã vơi và sự phòng thủ đã giảm bớt. Một người quá vội vã nói chuyện tiền bạc ngay đầu bữa ăn sẽ bị coi là kẻ thực dụng, thiếu kiên nhẫn và không coi trọng giá trị của mối quan hệ lâu dài.

Biết lúc nào rời đi cũng là một nghệ thuật. (Ảnh: Baidu)

Tinh tế rời đi

Cuối cùng, một người tinh tế phải biết lúc nào nên kết thúc bữa tiệc và rời đi. Sau khi việc ăn uống hoàn tất, nếu chủ tiệc không có ý định giữ lại uống trà hay đàm đạo thêm, hãy biết rút lui đúng lúc để giữ lại sự lịch thiệp.

Sự nán lại quá lâu không cần thiết có thể gây phiền toái cho chủ nhà và làm mất đi dư âm tốt đẹp của buổi gặp mặt. Biết tiến biết lui, biết bắt đầu và kết thúc một cách trọn vẹn chính là phong thái của một người trưởng thành, chuyên nghiệp và có giáo dưỡng.

Nhiều người trẻ ngày nay thường cho rằng những quy tắc này là rườm rà, cổ hủ và nặng tính hình thức. Tuy nhiên, giới tinh hoa và những thương nhân lão luyện người Hoa đều hiểu một đạo lý rằng thà mất vài tiếng mệt mỏi trên bàn tiệc để nhìn thấu bản chất một con người, còn hơn ký nhầm một bản hợp đồng để rồi mất cả cơ nghiệp và dành nhiều năm trời sau đó để giải quyết hậu quả.

Hoàng Hà / Theo: vtcnews