Wednesday, September 2, 2026

GIẢI MÃ TẬP TỤC "NGƯỜI CHẾT GÁC BẾP" VÀ KỸ THUẬT ƯỚP XÁC ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ

Tập tục hun khói xác người của thổ dân Papua New Guinea là một kỹ thuật bảo quản thi thể độc đáo, sử dụng khói và nhiệt độ cao trong nhiều tuần để làm khô xác mà không cần hóa chất.

Ảnh minh hoạ chi nghi lễ hun xác người chết (Ảnh: Reddit).

Kỹ thuật bảo quản thi thể kỳ lạ giữa rừng sâu

Giữa những vùng rừng núi hoang sơ của Papua New Guinea, nơi mà văn minh hiện đại còn cách xa hàng ngàn km, có một cộng đồng người bản địa thực hành một nghi lễ người chết khiến giới khảo cổ và nhân học không khỏi kinh ngạc.

Tại đó, thi thể người đã khuất không được chôn dưới đất, hay thiêu thành tro, mà được treo lơ lửng trên bếp lửa để hun khói theo đúng nghĩa đen trong suốt hàng tháng trời. Tập tục này được lưu giữ qua nhiều thế hệ bởi người Anga (còn gọi là Hamtai), sinh sống chủ yếu tại vùng cao nguyên Aseki, tỉnh Morobe.

Đối với họ, việc hun xác không chỉ là nghi lễ linh thiêng mà còn là cách thức bảo quản thi thể mang tính kỹ thuật cao, sử dụng nhiệt, khói và môi trường khô kín để chống lại quá trình phân hủy.

Quy trình bắt đầu ngay sau khi người chết qua đời. Thi thể được làm sạch sơ bộ, thoát dịch, sau đó đưa vào trong một ngôi nhà hun đặc biệt gọi là căn lều hun khói (smoking hut). Đây thường là một căn lều nhỏ bằng tre, mái lợp lá sago, với kết cấu đơn giản nhưng giữ nhiệt tốt.

Một ngọn lửa nhỏ được nhóm lên ngay bên dưới xác, duy trì âm ỉ liên tục suốt 30-40 ngày. Trong suốt thời gian đó, khói nóng từ ngọn lửa len vào từng mô cơ thể, dần dần làm khô các mô mềm, ngăn chặn sự sinh sôi của vi khuẩn và ấu trùng ruồi nhặng.

Các chất có trong khói như formaldehyde tự nhiên, phenol, acid hữu cơ... đóng vai trò như chất khử trùng sinh học. Sau giai đoạn hun, xác người không những khô hoàn toàn mà còn giữ được nguyên vẹn cấu trúc da, tóc, cơ bắp... Trong nhiều trường hợp vẫn còn tồn tại sau hàng trăm năm.

Sau khi cơ thể được hun khói và sấy khô, nó được phủ bằng đất son, một dạng oxit sắt giống đất sét, để bảo vệ xác ướp khỏi những kẻ ăn xác thối và các yếu tố môi trường.

Ngay cả trong điều kiện khí hậu oi bức của Papua New Guinea, nơi thường đẩy nhanh quá trình phân hủy xác chết, quá trình này vẫn diễn ra rất hiệu quả.

Kỹ thuật hun xác người chết có hiệu quả sinh học cao, đồng thời giữ cấu trúc nguyên bản của thi thể (Ảnh: Amusingplanet).

Thi thể sau đó được đặt lên các vách đá cao, mặt hướng về ngôi làng, và tiếp tục “hiện diện” như những linh hồn tổ tiên trông coi đời sống của người còn sống.

Theo tín ngưỡng của người Anga, những linh hồn này có thể gửi lời cảnh báo, ban phước lành hoặc bảo vệ cộng đồng khỏi hiểm họa.

Điều thú vị là dù xuất phát từ một nghi lễ tôn giáo, tập tục này lại mang nhiều điểm tương đồng với các kỹ thuật bảo tồn thi thể hiện đại, đặc biệt trong lĩnh vực pháp y hoặc khảo cổ học.

Các chuyên gia từ LiveScience và Đại học Otago (New Zealand) từng tiến hành nghiên cứu thực địa tại vùng Aseki và xác nhận rằng, kỹ thuật hun khói tại đây có hiệu quả sinh học cao, là một trong số rất ít những hình thức ướp xác "tự nhiên" có khả năng bảo tồn mô mềm mà không cần hóa chất công nghiệp hay đông lạnh.

Theo đó, quá trình giúp giảm nhanh độ ẩm nội tạng, tiêu diệt vi sinh vật, đồng thời giữ cấu trúc nguyên bản của thi thể, tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu di truyền và nhân học sau này.

Duy trì nền kinh tế bản địa

Ngay cả trong điều kiện khí hậu oi bức ở Papua New Guinea, quá trình này vẫn diễn ra rất hiệu quả (Ảnh: Amusingplanet).

Tập tục xác hun khói từng bị cấm đoán vào giữa thế kỷ 20 khi Papua New Guinea bị ảnh hưởng bởi các tôn giáo phương Tây, đặc biệt là Công giáo. Tuy nhiên, kể từ cuối những năm 1990, một số cộng đồng bản địa đã nỗ lực khôi phục truyền thống này.

Nhiều ngôi làng tại Aseki và Koke thậm chí đã tổ chức các tour du lịch nhỏ, cho phép du khách đến tham quan các căn lều hun khói, tận mắt chứng kiến các thi thể treo trên núi hoặc được trưng bày trong khu nhà lễ nghi.

Du khách cũng có thể trả mức phí trung bình 30–50 USD cho một buổi hướng dẫn, bao gồm các câu chuyện văn hóa, quá trình hun xác, nghi lễ tôn kính tổ tiên và trải nghiệm kiến trúc truyền thống.

Điều này tạo ra một nguồn thu bền vững, trực tiếp tái đầu tư cho cộng đồng địa phương, bao gồm cả việc tu sửa nhà hun, đào tạo người hướng dẫn và mua vật liệu xây dựng truyền thống.

Minh Khôi / Theo:nationalgeographic



Tuesday, September 1, 2026

VÌ SAO CÓ LÚC CẢM GIÁC THỜI GIAN TRÔI QUA QUÁ NHANH?

Bạn có bao giờ cảm thấy thời gian trôi qua quá nhanh so với bình thường? Có nhiều yếu tố, nhưng yếu tố tâm lý cũng góp phần quan trọng.

Vì sao có lúc cảm giác thời gian trôi qua quá nhanh? (ảnh minh họa Adobestock)

Khi chúng ta đứng đợi ở lối dành cho người đi bộ, có cảm giác thời gian đèn đỏ như “vĩnh viễn”. Còn khi tới cuối năm, chúng ta lại kinh ngạc phát hiện ra thời gian trôi quá nhanh, làm sao mà một năm đã lại kết thúc rồi? Mặc dù mọi người đều biết thời gian là cố định, nhưng nhận thức của mỗi người về thời gian lại rất khác nhau.

Người xưa dùng “Thời gian như mũi tên, năm tháng như thoi đưa” hoặc “một ngày dài như một năm”, để chỉ thời gian trôi nhanh hay chậm. Những trải nghiệm về nhanh và chậm gộp lại thành cuộc sống của chúng ta; vậy chúng ta nên nhìn nhận mối quan hệ giữa thời gian và cuộc sống như thế nào?

Trên thực tế, không ai vừa mới sinh ra đã có thể hiểu về thời gian. Trẻ sơ sinh thường đảo lộn ngày đêm, làm rối loạn thời gian làm việc nghỉ ngơi của cha mẹ; nhưng cuối cùng bé cũng phải học được cách điều chỉnh đồng hồ sinh học của mình phù hợp với người lớn. Đến ngay chúng ta khi đi đến những nơi khác hoặc đi du lịch nước ngoài, cũng sẽ gặp phải vấn đề chênh lệch thời gian; cơ thể chúng ta phải thích ứng với việc chênh lệch thời gian.

Michael Flaherty, giáo sư xã hội học tại Đại học Illinois, Hoa Kỳ, đã dành hơn 30 năm thu thập dữ liệu để nghiên cứu các quan điểm sau:
 
Cảm giác “Thời gian trôi qua thật chậm”

1. Chịu đựng cơn đau dữ dội như bị tra tấn, hoặc khoái cảm mãnh liệt. Kỳ thực, loại cảm xúc mạnh mẽ như vui sướng không nhất định sẽ làm cho chúng ta cảm thấy thời gian trôi qua nhanh chóng.

2. Ở trong hoàn cảnh bạo lực hoặc nguy hiểm. Giống như các binh sĩ ở trong trận chiến, sẽ có cảm giác thời gian trôi qua rất chậm.

3. Tình huống mà mọi người quen thuộc nhất đó là chờ đợi nhàm chán; lúc này cũng sẽ có cảm giác thời gian trôi qua chậm. Phạm nhân ở trong tù chờ ngày được ra tù là một ví dụ; hoặc khi đứng ở quầy chờ khách hàng đến.

Chờ đợi trong tuyệt vọng sẽ thấy thời gian trôi qua rất chậm (ảnh minh họa Adobestock)

4. Khi ý thức không rõ ràng. Ví dụ như dưới ảnh hưởng của thuốc ảo giác, cũng sẽ cảm thấy thời gian trôi qua rất chậm.

5. Sự tập trung cao độ hoặc thiền định có thể ảnh hưởng chủ quan đến thời gian trôi qua. Ví dụ nhiều vận động viên sẽ cảm thấy thời gian trôi qua chậm trong khi thi đấu; và những người ngồi thiền cũng sẽ cảm thấy thời gian trôi qua chậm.

6. Khi sợ hãi và gặp phải sự việc mới lạ. Ví dụ khi bạn học một kỹ năng mới hoặc khi bạn chưa đến đích trong lúc đi du lịch, bạn sẽ có cảm giác thời gian trôi đi rất chậm.

Cảm giác thời gian trôi chậm lại, thông thường là khi không có gì xảy ra; nhưng cũng có thể là khi có nhiều sự việc xảy ra cùng lúc. Nó có vẻ mâu thuẫn và phức tạp.

Lý do cảm thấy “thời gian quá chậm”

Từ góc độ đồng hồ hoặc là lịch, mỗi đơn vị thời gian là cố định; 24 giờ trong ngày, 60 phút trong một giờ và 60 giây trong một phút. Tuy nhiên, theo Flaherty, đơn vị thời gian thay đổi tùy theo “mật độ kinh nghiệm” của con người. Nói cách khác, lượng thông tin khách quan và chủ quan được mang theo bởi mỗi đơn vị thời gian là khác nhau, và cảm nhận về thời gian cũng sẽ khác nhau.

Khách quan mà nói, một người lính có rất nhiều chuyện xảy ra trong trận chiến, và “mật độ kinh nghiệm” trong đơn vị thời gian sẽ cao. Tuy nhiên, một tù nhân bị mắc kẹt trong phòng giam hiển nhiên không có chuyện gì xảy ra, nhưng mật độ kinh nghiệm của anh ta lại cao, tại sao? Đó là vì về mặt chủ quan, hoàn cảnh trước mắt và tình huống của chính anh ta chỉ toàn là “khoảng thời gian trống rỗng”; anh ta sẽ suy nghĩ nhiều về tình huống tồi tệ này, hy vọng sẽ được ra tù; thậm chí ý thức của anh ta có thể hoàn toàn tập trung vào việc thời gian trôi qua chậm rãi như thế nào.

“Mật độ kinh nghiệm” sẽ khiến chúng ta cảm thấy thời gian trôi nhanh hay chậm (ảnh minh họa Adobestock)

Vì vậy, câu trả lời cho câu đố này nằm trong mối quan hệ giữa hoàn cảnh và sự chú ý của chúng ta. Hoàn cảnh càng bất thường, chúng ta càng tập trung chú ý, “mật độ kinh nghiệm” của đơn vị thời gian sẽ càng cao; kết quả là thời gian trôi qua càng chậm.

Thời gian như tia chớp

Ngược lại, nếu “mật độ kinh nghiệm” trên một đơn vị thời gian quá thấp, cảm giác về thời gian sẽ đặc biệt nhanh. Ví dụ, “nén thời gian” xảy ra khi chúng ta nhớ lại các sự kiện gần và xa.

Thông thường quá trình nén thời gian này xảy ra trong hai trường hợp.

1. Thời gian trôi qua khi làm những việc quen thuộc sẽ rất nhanh. Ví dụ khi học lái xe, chúng ta sẽ cảm thấy thời gian trôi qua rất chậm. Nhưng khi chúng ta đã quen hơn thì việc lái xe trở thành một thói quen. Lúc này thời gian trở nên rất nhanh. Học các kỹ năng mới và làm quen với công việc mới cũng vậy. Bạn càng quen thuộc, thì trải nghiệm đáng nhớ trên mỗi đơn vị thời gian càng ít và mật độ trải nghiệm càng thấp.

Đôi khi bạn sẽ thấy thời gian trôi qua thật nhanh (ảnh minh họa Adobestock)

2. Thứ hai là sự xói mòn của “ký ức tình tiết” (episodic memory). Điều này thường xảy ra với tất cả mọi người. Những ký ức của chúng ta về những công việc hàng ngày sẽ mờ dần theo thời gian. Ví dụ, bạn có nhớ bạn đã làm gì vào ngày 18 tháng trước không? Trừ khi có điều gì đó đặc biệt xảy ra vào ngày hôm đó, nếu không thì e rằng bạn sẽ không nhớ gì cả. Đơn vị thời gian không thay đổi, nhưng “mật độ trải nghiệm” đã bị “ký ức tình tiết” bào mòn, và thời gian bị nén lại đến mức gần như không tồn tại.

Làm thế nào để tận dụng tốt thời gian?

Nếu bạn quý trọng thời gian, cách tốt nhất để tận dụng nó là tập trung vào những việc có ý nghĩa. Như vậy bạn sẽ cảm thấy mình còn nhiều thời gian để làm được nhiều việc.

Nếu bạn bận rộn không mục đích mỗi ngày và để thời gian trôi qua, vậy thì bạn sẽ cảm thấy thời gian trôi qua quá nhanh.

Chân Chân / Theo Epoch Times

Monday, August 31, 2026

SỰ THẬT PHÍA SAU HIỂU LẦM HÀNG THẾ KỶ VỀ "VITAMIN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP"

Ít ai biết rằng cái tên đất hiếm đã dẫn dắt chúng ta đến một hiểu nhầm kéo dài hàng thế kỷ.


Đất hiếm, hay còn được gọi là nguyên tố đất hiếm (Rare Earth Elements - REE), là một nhóm gồm 17 nguyên tố hóa học, bao gồm 15 nguyên tố thuộc họ Lantan (Lanthanide) cùng với Scandium (Sc) và Yttrium (Y).

Trong cách hiểu phổ thông, cái tên đất hiếm thường gợi liên tưởng đến một loại tài nguyên vô cùng khan hiếm và quý giá như vàng. Tuy nhiên, giới địa chất và khoa học vật liệu lại đưa ra kết luận hoàn toàn khác.

Nhóm nguyên tố này thực chất có mặt ở khắp vỏ Trái Đất. Một số nguyên tố còn dồi dào hơn cả đồng (Cu) hay kẽm (Zn). Điều khiến đất hiếm trở nên đặc biệt không phải nằm ở sự ít ỏi về trữ lượng mà ở quá trình hình thành, phân bố, khai thác và tinh chế vốn rất phức tạp.

Nhóm nguyên tố đất hiếm gồm 17 nguyên tố hóa học thuộc nhóm Lanthan cùng với Scandium và Yttrium (Ảnh: Getty).

Tên gọi bắt nguồn từ một hiểu lầm lịch sử

Việc đặt tên đất hiếm xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử cuối thế kỷ 18 khi các nhà khoa học châu Âu lần đầu tiên phân lập được những oxit kim loại đặc biệt từ các khoáng vật trông rất lạ, thường xuất hiện ở những khu vực địa chất hẹp và khó tiếp cận.

Thời điểm đó, những oxit kim loại chưa xác định rõ bản chất thường được gọi là đất. Khoáng vật chứa các oxit này lại không phổ biến nên giới khoa học đương thời gắn cho chúng cái tên đất hiếm.

Tên gọi này vẫn được dùng đến nay nhưng lại gây hiểu nhầm. Đất hiếm không hiếm về mặt trữ lượng mà hiếm ở dạng quặng giàu có thể khai thác kinh tế. Các nguyên tố này phân bố rất rộng nhưng ở nồng độ thấp. Chúng ít khi tụ lại thành mỏ lớn giống như sắt hay bauxite.

Theo phân tích của Viện Nghiên cứu Địa chất Đức GFZ, các nguyên tố đất hiếm thường nằm lẫn trong nhiều loại khoáng vật khác nhau và hiếm khi xuất hiện dưới dạng tập trung cao.

Đất hiếm phân tán ở nồng độ thấp khiến việc khảo sát và khai thác tốn kém, dù trữ lượng toàn cầu được đánh giá là phong phú (Ảnh: Getty).

Điều này biến quá trình khảo sát và định vị mỏ đất hiếm thành bài toán tốn kém và mất thời gian.

Ngay cả khi tìm thấy mỏ, hàm lượng thu hồi thực tế thường chỉ ở mức vài phần trăm hoặc thấp hơn. Chính sự phân tán này khiến đất hiếm dù phong phú về trữ lượng toàn cầu vẫn trở thành nguồn tài nguyên khó tiếp cận.

Hàng loạt trở ngại từ khai thác đến tinh chế

Thách thức lớn nhất đối với đất hiếm nằm ở quá trình tách lọc và tinh chế. Do có cấu trúc electron gần giống nhau, các nguyên tố đất hiếm rất khó tách rời. Việc tách Neodymium khỏi Praseodymium hay tách nhóm đất hiếm nặng khỏi nhóm nhẹ đòi hỏi hàng trăm bước chiết tách lặp đi lặp lại.

Một nghiên cứu của Viện Công nghệ Massachusetts MIT từng chỉ ra rằng tinh chế đất hiếm là một trong những chuỗi xử lý phức tạp nhất của ngành luyện kim hiện đại. Quy trình này tiêu tốn nhiều axit mạnh và chất hữu cơ, đồng thời tạo ra lượng lớn chất thải rắn và dung dịch độc hại.

Trong nhiều mỏ, quặng đất hiếm lẫn cùng thorium và uranium là các nguyên tố phóng xạ tự nhiên. Nếu không xử lý đúng chuẩn, chất thải này có nguy cơ gây ô nhiễm lâu dài cho đất và nước.

Vấn đề môi trường là lý do khiến nhiều quốc gia hạn chế khai thác đất hiếm dù có trữ lượng lớn. Chỉ một số ít nước sở hữu cả công nghệ và khả năng chấp nhận chi phí xử lý. Điều này dẫn đến tình trạng tập trung chuỗi cung ứng đất hiếm vào một số quốc gia, tạo ra rủi ro về địa chính trị và thương mại toàn cầu.

Nhóm nghiên cứu Đại học Penn và Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore phát triển phương pháp sinh học dùng protein vi khuẩn để chiết xuất và tách riêng các nguyên tố đất hiếm từ chất thải công nghiệp và thiết bị điện tử (Ảnh minh họa).

Trong báo cáo năm 2023 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế IEA, đất hiếm được xếp vào nhóm khoáng sản quan trọng của năng lượng sạch cùng lithium, cobalt và nickel.

Báo cáo nhấn mạnh rằng rủi ro về sự phụ thuộc nguồn cung lớn hơn nhiều so với rủi ro về trữ lượng tự nhiên. Đây cũng là lý do khiến đất hiếm được ví như con bài chiến lược trong cuộc cạnh tranh công nghệ giữa các cường quốc.

Giá trị chiến lược trong công nghệ hiện đại

Đất hiếm đóng vai trò trọng yếu trong nhiều lĩnh vực công nghệ cao. Nổi bật nhất là các nam châm vĩnh cửu dựa trên Neodymium, Praseodymium và Dysprosium.

Những nam châm này có tỉ trọng nhỏ nhưng tạo ra lực từ cực mạnh. Chúng là linh kiện thiết yếu của động cơ xe điện, máy phát gió, robot công nghiệp, thiết bị bay không người lái và ổ đĩa cứng. Các nguyên tố khác cũng có ứng dụng quan trọng. 

Đất hiếm là “con bài chiến lược” của các cường quốc do vai trò quan trọng trong công nghệ cao (Ảnh: Getty).

Cerium được dùng trong các bộ xúc tác xử lý khí thải và trong công nghệ đánh bóng kính quang học. Lanthanum góp mặt trong thấu kính máy ảnh và trong pin niken kim loại hydrua từng phổ biến trên các dòng xe hybrid. Europium và Terbium là 2 chất phát quang chủ lực cho màn hình màu đời đầu và nhiều loại đèn LED.

Trong lĩnh vực y sinh, gadolinium là chất tương phản quan trọng của kỹ thuật chụp cộng hưởng từ MRI. Những hợp chất chứa nguyên tố đất hiếm còn được ứng dụng trong nghiên cứu điều trị ung thư nhờ khả năng phát xạ năng lượng đặc trưng.

Một tổng quan khoa học đăng trên tạp chí Nature Reviews Materials ghi nhận rằng vật liệu đất hiếm đang mở ra nhiều hướng mới cho công nghệ lượng tử và điện tử nano.

Nhu cầu lớn từ các ngành năng lượng xanh và công nghệ số khiến đất hiếm trở thành tài nguyên không thể thay thế. Xe điện cần lượng nam châm vĩnh cửu lớn. Tua bin gió ngoài khơi cũng phụ thuộc mạnh vào chúng để duy trì hiệu suất ổn định. Công nghệ trí tuệ nhân tạo, thiết bị thông minh và các hệ thống quốc phòng hiện đại đều sử dụng vật liệu đất hiếm ở nhiều vị trí trọng yếu.

Đất hiếm giữ vai trò quan trọng trong nhiều ngành công nghệ và năng lượng hiện đại (Ảnh minh họa: Getty).

Sự mâu thuẫn giữa tên gọi đất hiếm và bản chất phong phú của chúng được giải thích bởi 2 yếu tố: Thứ nhất là sự phân tán về mặt địa chất khiến việc khai thác kinh tế khó khăn. Thứ hai là quá trình tinh chế phức tạp và tốn kém tạo rào cản lớn làm nguồn cung toàn cầu bị thu hẹp.

Nếu trữ lượng tự nhiên là thước đo duy nhất thì đất hiếm không phải là loại tài nguyên hiếm. Điều hiếm ở đây là năng lực khai thác sạch, công nghệ luyện kim tinh vi và vị thế kiểm soát chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh thế giới dịch chuyển sang năng lượng sạch và công nghệ cao, nhóm nguyên tố này ngày càng có ý nghĩa chiến lược.

Nhiều quốc gia đã công bố kế hoạch tăng cường tự chủ đất hiếm. Mỹ, châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc đầu tư mạnh vào tái chế nam châm cũ và phát triển công nghệ tách rửa thế hệ mới. Các nghiên cứu tại Đại học Cambridge và Viện Công nghệ Tokyo cho thấy khả năng thu hồi đất hiếm từ pin cũ và từ thiết bị điện tử thải bỏ đang mở ra hướng giảm phụ thuộc vào khai thác nguyên khai.

Tất cả những nỗ lực này cho thấy đất hiếm không hiếm trong tự nhiên nhưng lại hiếm trong khả năng tiếp cận. Vì vậy chúng được ví như nguồn lực chiến lược định hình tương lai công nghệ toàn cầu.

Hải Yến / Theo: Dân Trí

3 VẬT LIỆU LÀM THAY ĐỔI LỊCH SỬ NHÂN LOẠI

Lịch sử cho thấy, mỗi vật liệu mới không chỉ giải quyết nhu cầu của thời đại mà còn tạo ra những bước ngoặt văn minh.

Thủy tinh: Từ nghệ thuật tới nền móng khoa học

Công nghệ chế tác thủy tinh đã có nhiều đột phá (Ảnh: Getty).

Theo Researchgate, Đầu thế kỷ 13, những nghệ nhân chế tác thủy tinh từ Đế chế Byzantine di cư sang Venice (Italy), trung tâm phồn thịnh của châu Âu thời bấy giờ.

Lo ngại nguy cơ hỏa hoạn, chính quyền Venice đã chuyển toàn bộ lò nung ra đảo Murano. Tại đây, kỹ nghệ thủy tinh bước vào thời kỳ rực rỡ, với những cải tiến để đời.

Thế kỷ 15, Angelo Barovier bổ sung tro kali vào thủy tinh, giúp hạ nhiệt độ nóng chảy và loại bỏ bong bóng khí, tạo ra thủy tinh trong suốt. Đây là nguyên liệu cho kính lúp và kính mắt.

Khi Johannes Gutenberg phát minh máy in (1455), sách vở trở nên phổ biến, kéo theo nhu cầu kính đọc sách tăng mạnh. Nghề làm kính từ đó trở thành một ngành chính thức.

Sang thế kỷ 17, thủy tinh bước ra khỏi lĩnh vực thủ công mỹ nghệ để trở thành nền tảng khoa học.

Galileo Galilei dùng kính viễn vọng khám phá vũ trụ, còn Antonie van Leeuwenhoek quan sát vi khuẩn dưới kính hiển vi.

Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Vật liệu Tây Ban Nha, việc cải thiện độ trong suốt và độ khúc xạ của thủy tinh đã đóng vai trò quyết định trong sự ra đời của khoa học thực nghiệm, khi các lý thuyết bắt đầu được chứng minh bằng quan sát và đo đạc.

Ngày nay, di sản ấy tiếp tục được nối dài qua Kính viễn vọng không gian James Webb hay Đài quan sát Vera C. Rubin.

Thép: Nền móng của cách mạng công nghiệp

Thép là nền móng của cách mạng công nghiệp (Ảnh: Getty).

Cuối thế kỷ 18, nhu cầu về vật liệu bền, rẻ và sản xuất nhanh để phục vụ máy móc, đường sắt, tàu thuyền, công trình hạ tầng bùng nổ.

Thép – hợp kim của sắt với một lượng nhỏ carbon và các nguyên tố khác – đáp ứng hoàn hảo yêu cầu này.

Năm 1740, Benjamin Huntsman (Anh) phát triển phương pháp luyện thép trong nồi nung gốm ở Sheffield, tạo ra thép chất lượng cao cho công cụ và vũ khí.

Theo Howstuffworks, đến 1856, Henry Bessemer phát minh quy trình thổi oxy vào gang nóng chảy để loại bỏ tạp chất, giảm chi phí và tăng tốc độ sản xuất. Đây là bước ngoặt đưa thép trở thành vật liệu phổ biến toàn cầu.

Tại Mỹ, doanh nhân Andrew Carnegie áp dụng quy trình Bessemer để xây dựng đế chế thép, biến thép thành trụ cột của nhà cao tầng, cầu đường, tàu hỏa, xe tăng…

Một nghiên cứu của Đại học Cambridge ước tính, thép hiện diện trong hơn 50% các công trình hạ tầng trên thế giới, với vòng đời sử dụng kéo dài hàng thập kỷ và khả năng tái chế gần như vô hạn.

Sang thế kỷ 21, Trung Quốc trở thành “cường quốc thép” mới. Từ 10% sản lượng toàn cầu năm 1995, Trung Quốc vươn lên chiếm hơn 50% chỉ sau hai thập kỷ.

Đất hiếm: “Quân bài” chiến lược của kỷ nguyên số

Các nguyên tố đất hiếm hiếm khi tập trung thành mỏ lớn, khiến việc khai thác và tinh chế tốn kém (Ảnh: Getty).

Nếu thủy tinh mở đường cho tri thức và thép xây dựng hạ tầng, thì đất hiếm (Rare Earth Elements – REE) là chìa khóa của công nghệ cao và năng lượng tái tạo thế kỷ 21.

Nhóm 17 nguyên tố này, gồm neodymium, dysprosium, terbium… được ứng dụng trong nam châm vĩnh cửu cho động cơ xe điện, tua-bin gió, điện thoại thông minh, vệ tinh và thiết bị quốc phòng.

Các nguyên tố đất hiếm hiếm khi tập trung thành mỏ lớn, khiến việc khai thác và tinh chế tốn kém.

Đặc tính từ tính, quang học và điện học độc đáo của chúng khiến chúng gần như không thể thay thế trong nhiều ngành công nghiệp.

Theo các chuyên gia, quốc gia nắm giữ hoặc kiểm soát nguồn cung đất hiếm không chỉ có lợi thế kinh tế mà còn sở hữu “đòn bẩy” chiến lược trên bàn cờ địa chính trị, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ và quốc phòng ngày càng gay gắt.

Minh Nhật / Theo: Dân Trí

Sunday, August 30, 2026

SỰ THẬT TRỚ TRÊU VỀ NHỮNG CON HÀU "THẦN DƯỢC PHÒNG THE"

Kết quả nghiên cứu của khoa học hiện đại có thể khiến niềm tin "ăn gì bổ nấy" sụp đổ. Chẳng hạn, những con hàu béo múp míp trên bàn nhậu ngày nay phần lớn đều "bất lực", không có khả năng sinh sản.

Niềm tin vào công dụng “tráng dương” của hàu vẫn tồn tại trong đời sống ẩm thực (Ảnh: Zhihu).

Khát vọng "tráng dương" và sự sinh tồn của loài hàu 

Trong văn hóa dân gian nhiều nước châu Á, tồn tại quan niệm “thực bổ”, tức sử dụng thực phẩm với niềm tin có thể bồi bổ cơ thể hoặc tăng cường sinh lực. Trong đó, “tráng dương” là khái niệm phổ biến, gắn với việc tìm kiếm những nguyên liệu được cho là hỗ trợ sinh lý nam giới.

Lịch sử cho thấy, không ít loài động vật từng bị khai thác quá mức vì gắn với những công dụng mang tính biểu tượng này. Tê tê, tê giác hay một số loài chim hoang dã đã trở thành đối tượng săn bắt và buôn bán trái phép trong nhiều giai đoạn, gây áp lực nghiêm trọng lên quần thể tự nhiên.

Tuy nhiên, hàu biển là một trường hợp khác biệt. Dù nhu cầu tiêu thụ lớn và gắn với nhiều quan niệm về tăng cường sinh lực, hàu không suy giảm đến mức tuyệt chủng mà ngược lại, trở thành một trong những loài nhuyễn thể được nuôi trồng phổ biến nhất thế giới.

Ảnh hưởng của hàu không chỉ nằm ở sản lượng. Tại châu Âu, hàu từng là thực phẩm phổ biến của tầng lớp lao động trước khi các vấn đề ô nhiễm nguồn nước và khủng hoảng vệ sinh khiến nguồn cung suy giảm, đẩy giá thành tăng cao và dần trở thành món ăn cao cấp trong nhà hàng.

Từ phương Đông đến phương Tây, hàu thường được gắn với hình ảnh “thực phẩm tình yêu”. Một giai thoại thường được nhắc đến là câu chuyện về Casanova, nhân vật nổi tiếng trong văn học và hồi ký thế kỷ 18. Ông từng viết rằng mình ăn hàu thường xuyên và cho rằng đó là một phần trong chế độ giúp duy trì năng lượng và sức hấp dẫn cá nhân.

Những câu chuyện như vậy, cùng với quan niệm “dĩ hình bổ hình” (ăn gì bổ nấy) trong y học dân gian phương Đông, đã góp phần hình thành biểu tượng hàu như một loại thực phẩm liên quan đến sinh lực nam giới.

Nghịch lý mùa hè: Khi "thần dược" cũng kiệt sức

Cả phương Đông và phương Tây đều tin vào khả năng tăng cường sinh lực của hàu. (Ảnh: Zhihu).

Nếu dựa trên quan niệm dân gian “ăn gì bổ nấy”, nhiều người cho rằng ăn hàu có thể giúp tăng cường sinh lực. Tuy nhiên, khi xét dưới góc độ sinh học, chất lượng và giá trị dinh dưỡng của hàu phụ thuộc nhiều vào chu kỳ sinh sản tự nhiên của loài này.

Trong ẩm thực truyền thống phương Tây, từng tồn tại nguyên tắc chỉ nên ăn hàu vào các tháng có chữ “R” trong tiếng Anh, tức từ tháng 9 đến tháng 4. Ở Bắc bán cầu, hàu tự nhiên thường đạt chất lượng thịt tốt nhất vào mùa thu và mùa đông, khi tuyến sinh dục chưa phát triển mạnh và hàm lượng dinh dưỡng trong phần thịt cao hơn.

Ngược lại, vào mùa xuân - hè, khi nhiệt độ nước biển tăng, hàu bước vào giai đoạn sinh sản. Năng lượng được chuyển sang phát triển và giải phóng tế bào sinh dục, khiến khối lượng thịt giảm, cấu trúc mềm hơn và tỷ lệ nước trong cơ thể tăng. Một số nghiên cứu ghi nhận khối lượng phần thịt có thể giảm đáng kể trong giai đoạn này, làm chất lượng cảm quan suy giảm so với mùa nghịch.

Vì vậy, nếu tiêu thụ hàu tự nhiên đúng vào thời điểm chúng đang trong chu kỳ sinh sản, giá trị dinh dưỡng và độ béo ngọt có thể không đạt mức tối ưu.

Điều này tạo ra một nghịch lý trong tiêu dùng hiện đại. Mùa hè là thời điểm nhu cầu hải sản tăng cao, đặc biệt trong các bữa tiệc ngoài trời, du lịch biển và nhà hàng hải sản. Tuy nhiên, trớ trêu đây cũng là giai đoạn chất lượng hàu tự nhiên thường giảm sút do ảnh hưởng của chu kỳ sinh sản.

Công nghệ "triệt sản" - Bí mật ẩn trong những con hàu béo múp míp

Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa cái miệng sành ăn của thực khách và quy luật sinh học của tự nhiên?

Câu trả lời nằm ở khoa học hiện đại: Muốn hàu béo tốt quanh năm, cách duy nhất là làm cho chúng... vô sinh.

Các nhà khoa học đã áp dụng nguyên lý di truyền học tương tự như cách tạo ra dưa hấu không hạt để tạo ra một giống hàu mới: Hàu tam bội thể (Triploid oysters).

Về mặt lý thuyết, tế bào sinh vật bình thường là nhị bội thể (2n - hai bộ nhiễm sắc thể). Để tạo ra dưa hấu không hạt, người ta dùng chất colchicine xử lý cây con để tạo ra thể tứ bội (4n), sau đó lai với cây nhị bội (2n) để tạo ra thế hệ con là tam bội (3n). Những cá thể 3n này bị rối loạn trong quá trình phân chia tế bào sinh dục, dẫn đến việc không thể tạo hạt (vô sinh).

Hàu lưỡng bội thể (trái) và hàu tam bội thể (phải) (Ảnh: Zhihu).

Áp dụng lên động vật phức tạp hơn nhiều. Năm 1993, một bước đột phá lớn đã diễn ra tại Đại học Rutgers (Mỹ), với sự đóng góp to lớn của nhà khoa học gốc Hoa - Guo Ximing. Ông và các cộng sự đã tìm ra cách lai tạo ổn định giữa hàu tứ bội thể và nhị bội thể để sản sinh ra 100% hàu tam bội thể.

Những con hàu tam bội thể này mang trong mình 3 bộ nhiễm sắc thể và đặc điểm quan trọng nhất của chúng là: Tuyến sinh dục không phát triển hoặc phát triển rất kém. Chúng gần như vô sinh hoàn toàn.

Lợi ích của những con hàu "vô sinh"

Việc triệt sản hàu mang lại những lợi ích kinh tế khổng lồ mà hàu tự nhiên không thể sánh kịp:

Thứ nhất, vì không phải tốn năng lượng cho việc sinh sản (không phải tạo trứng hay tinh trùng), toàn bộ dinh dưỡng hàu nạp vào đều được chuyển hóa thành cơ bắp và kích thước. Kết quả là hàu tam bội thể có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn 50 - 100% so với hàu thường. Chúng lớn nhanh như thổi, rút ngắn thời gian nuôi trồng đáng kể.

Thứ hai, chúng duy trì được chất lượng thịt quanh năm. Ngay cả giữa mùa hè oi bức, khi hàu tự nhiên đang gầy "tong teo" vì sinh sản, thì hàu tam bội thể vẫn béo múp míp, đầy đặn và ngọt thịt.

Đây chính là nguồn cung chủ lực cho các nhà hàng, quán nướng vào mùa cao điểm du lịch. Các loại hàu nổi tiếng hiện nay, ví dụ như hàu Nhũ Sơn trứ danh của Trung Quốc hay các loại hàu nhập khẩu cao cấp, phần lớn đều là hàu tam bội thể.

Hàu tự nhiên thường gầy và kém chất lượng vào mùa hè do tiêu hao năng lượng cho việc sinh sản, đi ngược lại nhu cầu tiêu thụ cao điểm (Ảnh: Zhihu).

Thứ ba, chúng khỏe mạnh hơn và có tỷ lệ sống cao hơn. Việc không bị kiệt sức sau sinh sản giúp chúng chống chọi tốt hơn với bệnh tật và biến đổi môi trường. Ngoài ra, vì không sinh sản, chúng không gây ô nhiễm nguồn gen của các loài hàu hoang dã tại vùng biển nuôi thả.

Hàu có thực sự tốt cho sức khỏe sinh lý?

Hàu là thực phẩm giàu dinh dưỡng, đặc biệt chứa nhiều kẽm - vi chất đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất hormone sinh dục nam.

Một số nghiên cứu cho thấy việc bổ sung kẽm đầy đủ có thể hỗ trợ duy trì nồng độ testosterone ở mức bình thường, từ đó góp phần cải thiện chức năng sinh lý.

Ngoài ra, hàu còn cung cấp protein, axit béo omega-3, vitamin B12 và các khoáng chất cần thiết cho sức khỏe tổng thể.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chưa có bằng chứng khoa học đủ mạnh để khẳng định hàu là “thần dược” cải thiện sinh lý. Tác dụng, nếu có, chủ yếu đến từ việc bổ sung dinh dưỡng chứ không mang tính đặc hiệu.
Lưu ý khi ăn hàu
Nên ăn hàu có nguồn gốc rõ ràng, được bảo quản đúng cách để tránh nguy cơ nhiễm khuẩn, hạn chế ăn sống hoặc tái, đặc biệt với người có hệ miễn dịch yếu, phụ nữ mang thai hoặc người mắc bệnh gan. Không nên ăn quá nhiều trong thời gian ngắn để tránh dư thừa kẽm và các vi chất khác.
Theo: 4sonline

Friday, August 28, 2026

LÝ DO ĐI BIỂN KHÔNG NÊN NHẶT SỎI ĐÁ

Khách đi du lịch biển thường có suy nghĩ thoải mái rằng, những thứ của thiên nhiên như cát, đá, san hô, ốc, sò… là "món quà" vô tận của biển cả, và có thể sử dụng theo bất kỳ cách nào.

Các nhà khoa học kêu gọi cộng đồng từ khắp nơi trên thế giới có ý thức hơn trong việc giữ lại trầm tích trên các bãi biển (Ảnh: Getty)

Tuy nhiên, việc lấy đi những "món quà" này có thể mang đến những hệ lụy khôn lường.

Theo Joseph Earl, một chuyên gia trong lĩnh vực môi trường tại Đại học Lancaster (Anh), việc loại bỏ sỏi khỏi bãi biển có thể làm xáo trộn quá trình phân loại tự nhiên, cũng như gián đoạn sự cân bằng tổng thể của biển.

Theo đó, một trong những giá trị chính của đá cuội ở bãi biển là giảm hiện tượng xói mòn và lũ lụt ở các khu vực ven biển.

Trong suốt nhiều năm, khoa học luôn chứng minh được rằng bãi biển càng có nhiều sỏi và trầm tích, thì càng có khả năng hấp thụ sóng biển tốt hơn.

"Việc loại bỏ nhiều sỏi, cát hoặc trầm tích khác khiến bãi biển ít có khả năng hoạt động như một 'lá chắn tự nhiên' đối với lũ lụt và xói mòn", Joseph Earl cho biết.


Thậm chí ở một số nơi, người ta còn xây dựng các bờ đê bằng sỏi, như một hình thức phòng vệ tự nhiên trước bão. Lớp chắn này có vai trò quan trọng trong việc hấp thụ và tiêu tán năng lượng sóng, giảm nguy cơ sóng tràn ra ngoài bãi biển, gây cắt xén và xói mòn bờ và vách đá ở phía sau.

"Một cá nhân lấy một vài viên sỏi từ bãi biển có thể không ảnh hưởng đáng kể, nhưng tác động tích lũy đến từ nhiều người lại là một câu chuyện khác", Earl nhấn mạnh.

Hành động này càng trở cấp thiết trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn ra sâu và rộng khắp, nơi những rủi ro về thiên tai được dự đoán là nghiêm trọng và thường xuyên hơn.

Các nhà khoa học kêu gọi cộng đồng từ khắp nơi trên thế giới có ý thức hơn trong việc giữ lại trầm tích trên các bãi biển, từ đó tạo thuận lợi về môi trường sống cho hệ sinh thái biển cũng như vùng lân cận.


"Không lấy sỏi từ bãi biển có vẻ là một yêu cầu phi lý, nhưng trên thực tế, điều này có thể đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các bờ biển của chúng ta", Earl chia sẻ.

Tại một số quốc gia, điển hình như Anh Quốc, việc loại bỏ bất kỳ vật liệu nào khỏi bãi biển thậm chí được xem là phạm pháp. Đó là luật đã được quy định trong Đạo luật bảo vệ bờ biển năm 1949, nhằm hạn chế tổn thất cho hàng trăm ngàn tấn trầm tích từ các bãi biển.

Minh Khôi / Theo:sciencealert

ĐỜI NGƯỜI CHÍNH LÀ: NHÂN SINH MỘT GIẤC PHÙ VÂN, SỚM CÒN XUÂN SẮC CHIỀU ĐÔNG ĐÃ TÀN

Đời người mơ mơ thực thực, tưởng như mộng nhưng không phải mộng, tưởng như chân nhưng nào phải là chân. Cuộc sống có biết bao điều khiến ta nuối tiếc, bao điều khắc khoải u sầu. Tuy nhiên, đau khổ hay sướng vui, tất cả rồi cũng trở thành “Những điều đã qua", chỉ có buông xuống mới giúp cho bản thân mình nhẹ bước thênh thang...

Cuộc sống vốn chẳng có gì dễ dàng, đời người dài ngắn cũng chỉ trên dưới ba vạn sáu nghìn ngày, hà tất phải đắm chìm trong những phiền muộn để uổng phí tháng năm. (Ảnh: Shutterstock)

Không có mùa đông xuân đến có nghĩa gì, không có đau khổ ai hiểu về hạnh phúc?

Nhân sinh tại thế, có rất nhiều những sự tình đều nằm ở tự thân, rất nhiều cảm nhận đều thuộc về cá nhân. Người có tấm lòng thoáng đãng thì thấy tiền đồ rộng mở, ai lòng dạ hẹp hòi thì thấy đời trắc trở gian nan.

Vậy nên dụng tâm làm người, chuyên tâm làm việc. Rộng mở tấm lòng, tâm thái ung dung mới có thể giúp người giúp mình.

Quá khứ là điều đã qua, mà tương lai là điều chưa tới, trân quý hiện tại mới là trân quý bản thân mình. Làm người nhấc lên được thì cũng phải bỏ xuống được, cũng như việc gì gánh không được thì hãy buông xuống, nghĩ không thông thì hãy cứ bỏ qua.

Cuộc sống vốn chẳng có gì dễ dàng, đời người dài ngắn cũng chỉ trên dưới ba vạn sáu nghìn ngày, hà tất phải đắm chìm trong những phiền muộn để uổng phí tháng năm. Quá khứ không giúp chúng ta mạnh mẽ, tương lai mới là động lực mình cần. Kiếp người có dài ra sao hay ngắn cỡ nào cũng đều gói gọn trong ba ngày: Ngày hôm qua, ngày hiện tại và ngày mai. Ngày và đêm tuy thay đổi nhưng hôm qua chỉ còn là dòng nước, một đi không trở lại; hôm nay tuy vẫn còn nhưng đang dần trôi mất; ngày mai tuy chưa đến nhưng rồi cũng sẽ lại qua. Chỉ có buông xuống ngày hôm qua, trân quý ngày hiện tại, thì ngày mai mới không phải ân hận u sầu...

Kiếp người có dài ra sao hay ngắn cỡ nào cũng đều gói gọn trong ba ngày: Ngày hôm qua, ngày hiện tại và ngày mai. (Ảnh: Shutterstock)

Trời có thay mùa đổi gió, người có đổi vận thay duyên. Không có mùa đông, thì xuân đến có nghĩa gì, không có đau khổ, thì lấy gì hiểu hạnh phúc? Đời nếu như không có đau khổ phiền não thì không phải kiếp nhân sinh, quá khứ nếu không như ý thì chẳng qua cũng chỉ là bài học cho ta thêm trân quý tương lai.

Đời người: “sáng còn thắm đỏ đôi gò má, chiều đã bạc phơ nửa mái đầu”

Một kiếp thế nhân thoáng trông tưởng chừng như rất dài, nhưng ngoảnh đầu nhìn lại chỉ như áng mây trôi: "nhân sinh như mộng hải hồ, trăm năm thoáng chốc cơ đồ vụt tan"... Có những người ta gặp hôm qua vẫn còn nói nói cười cười nhưng nay đã đôi đường sinh ly tử biệt, chút ký ức hoài niệm rồi cũng dần bị năm tháng vùi chôn. Thế nên, hãy thương nhau khi còn có thể, đừng để sau này hối hận cũng bằng không.

Kiếp người ngắn ngủi, có câu: "tấc thời gian quý hơn thước ngọc" tháng ngày là vô giá, điều bất hạnh thì hãy buông, điều oán thù thì nên bỏ. Chỉ khi biết bỏ đi và buông xuống mới có thể giúp ta vượt qua màn đêm u tối và đón ánh mặt trời.

“Nhân thân nan đắc”, có được thân người nào đâu có dễ, mọi chuyện đến và đi hãy cứ để tuỳ kỳ tự nhiên. Đừng vì cưỡng cầu mà thêm sầu thêm khổ, duyên có thì việc tất thành, nợ mà còn chưa trả sớm chiều ắt gặp nhau. Có những khi ta tưởng rằng “Hoa rơi hữu ý, nước chảy vô tình”, phải chăng hoa kia vì hữu ý mà lìa cành xa gốc, nước thật vô tình bỏ mặc cánh hoa rơi? Kỳ thực vạn sự trên đời đến và đi ấy đều do duyên nợ an bài. Hoa đến ngày thì hoa kia phải nở, nước theo dòng nước phải chảy về xuôi. Đến khi duyên đã hết, nợ đã đền thì cũng là lúc cần phải xa nhau...

Con người chúng ta cũng lại như thế, giữa hai người gặp nhau ấy là bởi duyên đủ, nợ đầy, hội đủ các yếu tố đó thì tạo thành nhân duyên. Khi duyên vơi, nợ cạn thì cũng là lúc xa nhau, đó là điều tất yếu. Cho nên đôi lúc con người ta xa nhau chẳng phải nghĩa cạn, tình mòn mà là bởi vì duyên xưa, nợ cũ đã hoàn trả xong. Hãy buông khi còn có thể...

Cổ Phong / Theo: ntdvn

DẠ TRANH - BẠCH CƯ DỊ


Dạ tranh

Tử tụ hồng huyền minh nguyệt trung,
Tự đàn tự cảm ám đê dung.
Huyền ngưng chỉ yết thanh đình xứ,
Biệt hữu thâm tình nhất vạn trùng.


夜箏 - 白居易

紫袖紅弦明月中
自彈自感闇低容
弦凝指咽聲停處
別有深情一萬重


Đàn tranh trong đêm
(Dịch thơ: Lê Nam Thắng)

Dưới trăng áo tím dây hồng
Gảy đàn cảm thấy thẹn lòng dung nhan
Dây ngừng ngón lặng âm tan
Thâm tình ly biệt muôn vàn thiết tha


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ.

Nguồn: Thi Viện



KHOA HỌC GIẢI THÍCH VÌ SAO CHÚNG TA NHÌN THẤY MA

Khoa học hiện tại chưa thể chứng minh được sự tồn tại của ma quỷ, nhưng các yếu tố về tinh thần và môi trường thì có thể.

Ma có thật, hay chúng ta chỉ đang là nạn nhân của sự nhầm lẫn, ảo giác? (Ảnh minh họa: Getty).

Ma có thật hay không? Điều đó còn tùy thuộc. Thế nhưng, cần khẳng định rằng, khoa học hiện tại chưa thể chứng minh rằng có những linh hồn đi xuyên qua tường hoặc hét lên dưới sàn nhà.

Tuy nhiên, những lần nhìn thấy hiện tượng ma quái của chúng ta chắc chắn là cảm giác có thật. Nếu như ma không tồn tại, chẳng lẽ bộ não đang đánh lừa chúng ta?

Bạn muốn tin rằng ma có thật

Con người đã phát hiện ra những thứ ma quái, để rồi khái niệm bóng ma từ đó cũng xuất hiện. Ở một mức độ nào đó, chúng ta có thể giải thích hiện tượng này.

Ngay cả với những người bình thường nhất trong số chúng ta, vẫn có điều gì đó thôi thúc, khiến ta không thể cưỡng lại được cảm giác muốn khám phá những bí ẩn liên quan tới ngôi nhà ma ám, hay những linh hồn báo thù.

Đôi khi, sự hy vọng nhìn thấy một bóng ma là tất cả những gì để ta thực sự nhìn thấy chúng.

Nghiên cứu cho thấy phần lớn tâm trí con người rất dễ bị ám thị bởi những hiện tượng tâm linh huyền bí (Ảnh minh họa: Reddit).

Chris French, nhà nghiên cứu tâm lý học dị thường tại Đại học London, cho biết: "Chúng ta có xu hướng như vậy vì tâm trí con người rất dễ bị ám thị".

Theo chuyên gia này, chúng ta đã tiến hóa để tiếp nhận các tín hiệu từ thế giới bên ngoài như một cách để thoát khỏi các mối đe dọa luôn hiện hữu. Vì vậy, khi một gợi ý xuất hiện đúng lúc, nó có thể khiến chúng ta nhìn thấy những thứ không có ở đó.

Sự kỳ quặc về mặt tinh thần này mạnh mẽ đến mức nó có thể đánh lừa chúng ta ngay cả trong thời gian thực.

Trong một nghiên cứu khác do French thực hiện, những người tham gia cho biết họ nhìn thấy một chiếc chìa khóa bị uốn cong theo ý muốn của họ, chỉ vì những người đứng cạnh nói rằng họ cũng nhìn thấy sự việc kỳ lạ đó xảy ra.

Rõ ràng, tâm lý mong muốn được khám phá, hoặc tận mắt nhìn thấy thứ gì đó, khiến chúng ta dễ tiếp cận những thứ ngay cả khi nó không tồn tại.

Não khiến bạn nhìn thấy thứ mà đáng lẽ không thể

Những hiện tượng ma quái có thể là kết quả của những vấn đề lớn hơn trong não của chúng ta, cụ thể là chất xám.

Đối với một số người, việc nghe thấy tiếng nói hoặc trải nghiệm một vài hình ảnh kỳ lạ có thể là dấu hiệu sớm của các tình trạng bệnh lý như tâm thần phân liệt.

Đối với những người trải qua nỗi đau mất mát người thân, nỗi nhớ về hình bóng của họ có thể khiến não "triệu hồi" các linh hồn như một phương thức để đối phó với chấn thương tâm lý.

Điều đó hình thành nên những "cuộc gặp gỡ" sống động giữa người sống và linh hồn, thứ được các nhà tâm lý học gọi là "giao tiếp sau khi chết".

Bí ẩn về chứng tê liệt trong khi ngủ vẫn còn chưa được giải đáp (Ảnh: Sleepcycle).

Nó từ lâu đã nằm trong số những loại trải nghiệm huyền bí phổ biến nhất, ảnh hưởng đến cả những người hoài nghi và những người tin tưởng.

Ngay cả với những người không mắc bệnh tâm thần, những thay đổi tạm thời trong hoạt động của não cũng có thể dẫn đến việc bạn cảm thấy như "chạm trán với hồn ma".

Các nhà khoa học từng mất hàng thập kỷ, nhưng vẫn chưa thể giải mã hiện tượng "liệt trong giấc ngủ", khi vẫn giữ được cảm giác có ý thức nhưng không thể cử động.

Một số người cho rằng nó xảy ra khi não giao thoa giữa giai đoạn nhận thức có ý thức và giai đoạn ngủ REM (giấc ngủ mắt chuyển động nhanh).

Các nền văn hóa khác nhau có cách gọi tên khác nhau cho hiện tượng kỳ lạ này. Thí dụ ở Campuchia, một số người nói rằng đó là "con ma đẩy nạn nhân xuống". Trong khi ở Nigeria, người dân địa phương lại gọi nó bằng cái tên khác: "con quỷ ngồi lên lưng bạn".

Tâm trí lừa dối chúng ta?

Trong những năm gần đây, các nhà thần kinh học đã xác định được nguyên nhân tiềm ẩn khiến chúng ta có cảm giác bị ai đó hoặc thứ gì đó ám ảnh.

Nghiên cứu cho thấy các cơn động kinh ở thùy thái dương - khu vực não xử lý trí nhớ hình ảnh và ngôn ngữ - có thể kích hoạt các cơn động kinh. Trong khi, các rối loạn tín hiệu ở vùng não này có thể khiến chúng ta cảm thấy như được kết nối với các thế giới khác.

Nghiên cứu thực tế cho thấy, những bệnh nhân có tiền sử mắc các vấn đề như vậy thường tin vào các hiện tượng tâm linh, huyền bí.

Não của chúng ta có luôn tin rằng ma là có thật? (Ảnh minh họa: Getty).

Trong dân gian, người ta thường đồn nhau rằng, ma có xu hướng xuất hiện trong khoảng thời gian từ 2 đến 4 giờ sáng. Kỳ lạ thay, đây cũng chính là thời điểm mà các cơn động kinh này xảy ra thường xuyên nhất.

Chúng ta cũng có thể trở thành nạn nhân của sự nhầm lẫn ảo giác.

Trong một nghiên cứu thực hiện vào năm 2014, các nhà khoa học thần kinh tới từ Thụy Sĩ đã bịt mắt một nhóm những người tham gia, sau đó nối tay họ với một cỗ máy theo dõi chuyển động của ngón tay.

Khi các đối tượng cử động ngón tay, một phần phụ của robot phía sau họ đồng thời chạm vào lưng họ theo cùng một phương thức. Đa số đều ngay lập tức nhận ra tác động này.

Nhưng khi nhóm nghiên cứu quyết định ngưng các chuyển động bắt chước của thiết bị trong vài mili-giây, một số người nói rằng, họ vẫn cảm thấy một ngón tay đang chọc vào lưng họ, như thể có một sự hiện diện thần bí nào đó đằng sau họ.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, những chuyển động bị ngưng trệ có thể gây ra sự xung đột tạm thời với não bộ, tại nơi kiểm soát các tín hiệu cảm giác và vận động.

Hiện tượng "cảm giác có sự hiện diện" này cũng có ý nghĩa chung đối với những hiện tượng siêu nhiên xung quanh chúng ta.

Nếu một sự chậm trễ nhỏ trong chuyển động của hệ thần kinh là đủ để triệu hồi một linh hồn, thì có lẽ bộ não siêu việt và chưa thể được giải mã của chúng ta vốn dĩ có khuynh hướng ở một mức độ nào đó vẫn tin rằng, ma quỷ là có thật.

Để rồi khi chúng ta lớn lên, nhưng những cảm giác đó không bao giờ biến mất.

Minh Khôi / Theo: Dân Trí

ĐIỆU VĂN THIÊN TƯỜNG TRONG CẢI LƯƠNG


Nguồn gốc Văn Thiên Tường

Nếu không tìm tư liệu để hoàn thành bài viết này, tôi sẽ không biết Văn Thiên Tường là tên của một người. Vậy người đó là ai và ai sáng tác nên bài Văn Thiên Tường?

Đầu tiên trong cấu trúc 20 bài bản tổ cải lương, Văn Thiên Tường nằm trong nhóm 4 bài Oán Phụ là Văn Thiên Tường, Bình Sa Lạc Nhạn, Thanh Dạ Đề Quyên và Xuân Nữ. Là bài Oán nên thể điệu mang tính trần thuật, tự sự, thổ lộ tâm tình, buồn ảo não với nhiều mức độ.

Điệu Văn Thiên Tường ra đời khoảng thế kỷ XIX -19, được sáng tác bởi ông Trần Quang Thọ (ông cố của GS-TS Trần Văn Khê) - một nhạc công của triều đình Huế, khi đã về cư ngụ tại đất Vĩnh Kim - Mỹ Tho - Tiền Giang. Do thấy ông Thủ Khoa Huân (Nguyễn Hữu Huân) - vị anh hùng dân tộc vì dám nổi lên khởi nghĩa chống Pháp mà bị bắt rồi kết án tử hình chính tại Mỹ Tho. Hoàn cảnh thật giống với ông Văn Thiên Tường, cũng là một vị quan tiến sĩ triều Tống (Trung Quốc), khởi nghĩa chống giặc Nguyên nhưng thất bại, cũng bị kết án tử. Và cả 2 ông cho đến lúc chết vẫn hiên ngang, ngoan cường, giữ tròn khí tiết người anh hùng dân tộc. Ông Trần Quang Thọ vì để che mắt nhà cầm quyền Pháp lúc bấy giờ mà lấy tên Văn Thiên Tường đặt cho điệu hát này, ngụ ý ca ngợi vị anh hùng dân tộc Thủ Khoa Huân. Thật sự ly kỳ cho sự ra đời của một điệu hát vô cùng quen thuộc trong nghệ thuật cải lương.

Tính chất của Văn Thiên Tường

Văn Thiên Tường là một thể điệu buồn. Dùng những lúc cần trần thuật, thổ lộ tâm tình, những lúc cần bày tỏ tâm sự của mình với người khác. Đây là một thể điệu được sử dụng rất nhiều trong cải lương, vọng cổ. Có thể bắt gặp nhiều lời ca khác nhau của cùng 1 điệu Văn Thiên Tường chỉ trong cùng 1 vở cải lương. Và trong các tuồng cải lương hay bài vọng vọng cổ, nghệ sĩ chỉ thể hiện Lớp dựng Văn thiên Tường, hoặc Lớp dựng với Lớp xế xảng.

Cấu trúc Văn Thiên Tường

Văn Thiên Tường có tổng cộng 42 câu, chia làm 3 lớp chính:

Lớp 1 (lớp nhứt, lớp đầu): Gồm 15 câu (từ câu 1 đến câu 15)

Lớp 2 (lớp nhì): Giống hoàn toàn lớp 1 (từ câu 16 đến câu 30)

Lớp 3: Gồm 12 câu. (từ câu 31 đến câu 42)

Trong 3 lớp chính, mỗi lớp sẽ bao gồm 2 lớp phụ là Lớp Dựng (6 câu) & Lớp Xế Xảng (3 câu). Lớp Dựng và Xế Xảng bắt đầu từ câu 7 đến câu 15 của Lớp Nhứt.

Lớp 1 và lớp 2 của Văn Thiên Tường giống hoàn toàn nhau là do lớp đầu nói về Văn Thiên Tường, và lớp thứ hai nói về anh hùng Thủ Khoa Huân. Nên hai lớp giống nhau cũng như hai người giống nhau ở khí tiết anh hùng, dù bị giặc bắt, vẫn hiên ngang anh dũng hy sinh, quyết không khuất phục kẻ thù.

Khi viết lời ca, nếu chỉ có Lớp Dựng thì soạn giả chỉ viết là (ca) LỚP DỰNG, nếu chỉ có Lớp Xế Xảng thì soạn giả viết là (ca) XẾ XẢNG, chớ không viết là (ca) VĂN THIÊN TƯỜNG. Và nếu viết là (ca) VĂN THIÊN TƯỜNG thì có nghĩa là sẽ ca LỚP NHỨT (hoặc LỚP NHÌ, LỚP BA) của thể điệu này.


Bản đờn Văn Thiên Tường ((9 câu, nhịp 8, hơi oán, trường canh hoãn điệu)

1. (-) (-) (-) Xán u liu (oan)

liu xề oan (liu) xề xán xứ liu (-) xế xang xư xề (-) xề xán u xề ú liu (oan)

2. Lỉu liu oan (xề) xề oan liu u (-) xề xán u xề u liu (oan) liu oan xề xảng xang xề (liu)

xế xang xư (xề) xảng xang xề (liu) tồn xang xế (xê) xảng xang xư (xàng)

3. Tồn (xang) xế xê (-) hò xê xang (xự) liu xề xảng xang xừ (xang)

xang xế (xê) xang xự (-) xang xế xê (-) xề xảng xang xư (hò)

4. Lỉu liu oan (xề) xề oan liu u (-) xề xán u xề u liu (oan) liu oan xề xảng xang xề (liu)

xế xang xư (xề) xảng xang xề (liu) tồn xang xế (xê) xảng xang xư (xàng)

5. Tồn (xang) xế xê (-) hò xê xang (xự) liu xề xảng xang xừ (xang)

xang xế (xê) xang xự (-) xang xế xê (-) xề xảng xang xư (hò)

6. Tồn (xang) xế xê (-) xề xảng xang (hò) liu xề xảng xang xề (liu)

xế xang xư (xề) xề oan liu (ú) xế xang xư (xề) xảng xang xề (liu)

XẾ XẢNG:

7. Liu oan xề xảng xang xề (liu) (-) Tồn xang líu (xể) líu cống xê (xang)

xang xế (xê) xể xang xư (xàng) xàng xề (xang) xề xự xế xừ (xang)

8. Xế xế xang xư (xề) xề xự cống xừ (xang) (-) Tồn xang xế (xê)

xê oán (líu) líu líu (-) líu cống xê (-) xề xế xang xư (hò)

9. Tồn (xang) xảng xang cống (xê) xề xự xế xừ (xang) xề xề xề (xang)

xang xế (xê) xể xang xư (xàng) xàng xề (xang) xề xự xế xừ (xang)

Các lời ca nổi tiếng của Văn Thiên Tường


Có rất nhiều lời Văn Thiên Tường đi sâu lòng lòng người mộ điệu cải lương. Trong đó phải kể đến Tâm Sự của Mai Đình với Hàn Mặc Tử lúc biết anh mang chứng bệnh nan y, mà vẫn một lòng yêu thương săn sóc: “ Anh Trí ơi, kể từ nay anh không còn sợ cô đơn. Bên anh, em trọn đời săn sóc đau thương,... Em mới là người ban ân sâu nghĩa nặng, anh nguyện tôn thờ suốt cuộc đời anh”

Màn tâm sự trước lúc 2 người yêu nhau mà sắp phải “chém giết lẫn nhau như 2 kẻ tử thù” của Tần Lĩnh Sơn và Hồ Bảo Xuyên quận chúa trong Đêm lạnh chùa hoang:” Thôi hãy cố mà quên tất cả, vui cùng em giây phút để chia tay, nếu kiếp này mình không duyên không nợ, thì xin hẹn lại kiếp lai sinh…với bao nhiêu mộng ước, ta đành vĩnh biệt hôm nay.”

Hay lớp Văn Thiên Tường trong vở Cải lương Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài của Minh Vương - Thanh Kim Huệ, mang nỗi đau thương của nàng Chúc khi hay tin người yêu mình lìa bỏ cõi trần :” Ôi hỡi Lương… huynh, mảnh khăn hồng, còn thấm máu tươi. Tình dang dở, mà người đã xui tay. Ôi trời già lá lay, duyên trăm năm đã lỡ, tình một thuở ngậm ngùi…”

Một điệu hát từ lâu đã được nhiều người thuộc nằm lòng mỗi khi nhắc nhớ đến Cải lương. Hy vọng bài viết này sẽ giúp bạn đọc hiểu hơn về Văn Thiên Tường.

Nguồn: nguyetcam.vn



Thursday, August 27, 2026

NGƯỜI THÔNG MINH CÓ 5 ĐIỀU KHÔNG MUỐN HỎI, VÌ KHÔNG HỎI NÊN MỚI AN NHIÊN

Đời người phải trải qua không ít phiền não, nếu lòng cứ mãi như sóng cuộn bão tố, nhấp nhô mãi không dừng, đắm chìm trong ưu sầu của thế gian thì cả đời cũng không tìm được hạnh phúc, chi bằng cứ coi nhẹ hết thảy, chẳng cần nhớ về quá khứ, không lo sợ hiện tại, cũng chẳng cần biết về tương lai, chỉ cần biết không thẹn với lòng và bản thân nổ lực bao nhiêu là đủ.


Cuộc sống xưa nay chưa từng dễ dàng với bất kỳ ai, nó luôn đi kèm với những nhấp nhô và thách thức, rất nhiều người đều bị hủy hoại bởi phiền não của chính mình.

Vậy làm thế nào đột phá bản thân cùng những quan niệm cố hữu? Người thông minh, sẽ hiểu được điều hòa nội tâm của mình, không bị những sự tình bên ngoài ảnh hưởng, coi nhẹ ưu sầu của thế gian, nội tâm tự nhiên bình yên phẳng lặng.

1. Người trưởng thành, không hỏi về quá khứ

Tô Thức có một bài thơ viết: “Nhân sinh như quán trọ, ta cũng là lữ khách qua đường”. Nhân sinh vốn là một chuyến hành trình gian nan, tôi và bạn đều là những vị khách qua đường vội vã.

Đừng vì quá khứ mà đau buồn, bởi vì chúng ta đang sống ngay ở thời điểm hiện tại, nên cần vui vẻ thoải mái, chớ làm tăng thêm phiền não cho chính mình.

Người thực sự trưởng thành, sẽ không để cho quá khứ chiếm cứ hiện tại. Cho dù quá khứ có khó chịu đựng đến đâu, cũng đã trở thành chuyện xưa cũ, chi bằng dừng chân ở hiện tại, buông bỏ những chấp niệm vô nghĩa, sống tốt mỗi phút mỗi giây.

Quá khứ của bạn, có lẽ có rất nhiều chuyện thương tâm, nhưng nói cho cùng, những chuyện đó đều đã qua, bất kể là bạn để ý nhiều hay ít, đều không thể thay đổi được. Chi bằng để cho tâm tình của mình được hưởng chút ánh nắng ấm áp, để thời gian lưu lại những khoảnh khắc đã qua.

Kỳ thực, rất nhiều thứ chỉ cần bạn muốn buông xuống, liền có thể buông được, chỉ có buông bỏ thống khổ, mới có thể nắm lấy được hạnh phúc. Từ nay về sau, học cách bỏ qua cho chính mình. Không vì chút vụn vặt mà thút thít nỉ non, cũng không vì một người, một sự tình không đáng mà giày vò bản thân mình.

Người muốn rời đi thì hãy để họ đi, thứ gì không thuộc về mình thì cũng không cần cố lấy. Sống thanh thản thoải mái, mới là phương thức yêu bản thân mình tốt nhất.

2. Người nỗ lực, không hỏi hiện tại

Có lẽ, tình cảnh hiện tại của bạn đang không được như ý, mỗi ngày đều rất mệt mỏi, rất mờ mịt, nhưng tuyệt đối không nên vì vậy mà hoài nghi mình, thậm chí cam chịu. Nếu như bạn cũng từ bỏ mình, vậy người khác càng không có lý do để coi trọng bạn.

Nhân sinh chính là một quyển sổ tiết kiệm, bạn đầu tư mỗi một phần cố gắng, thì tương lai một ngày nào đó sẽ được đền đáp lại. Người khác có được, chỉ cần bạn nguyện ý phó xuất, cũng có thể có được giống như vậy.

Là vàng ắt sẽ phát sáng, cơ hội vĩnh viễn lưu lại cho người có chuẩn bị. Những người này chính là hiểu rõ bản thân cần gì, vĩnh viễn sẽ không bị ràng buộc trong trạng thái hiện tại. Dù cho hiện tại trôi qua không như ý, cũng sẽ không hối hận, dù cho hiện tại có đắc ý, cũng sẽ không kiêu ngạo tự mãn, buông lỏng yêu cầu đối với mình.

Chỉ cần bạn chịu cố gắng, bất cứ thời điểm nào cũng là không quá muộn. Đường tương lai, vĩnh viễn ở dưới chân của bạn chứ không phải ở trong ánh mắt của người khác. Làm tốt mỗi một chuyện đơn giản chính là không đơn giản, làm tốt mỗi một chuyện bình thường chính là không tầm thường.

Hiện tại có rất nhiều sự tình khiến bạn khổ sở, nhưng nếu sau này quay đầu nhìn lại, sẽ phát hiện cái đó cũng không phải là chuyện gì đáng kể. Thời gian là liều thuốc hay trị hết thảy những mềm yếu, bồng bột, để tương lai sẽ trở nên vững vàng.

Lúc đắc ý cần xem nhẹ, lúc thất ý cần nghĩ thoáng, tha thứ nhiều một chút, so đo ít một chút, chỉ có bạn mới chính là chỗ dựa vững chắc nhất của cuộc đời mình.

3. Người rộng lượng, không hỏi tương lai

Có người từng nói, con nít và người già khi cười đều rất hồn nhiên. Con nít là bởi vì mới bắt đầu một kiếp nhân sinh, tâm không tích trữ điều gì; người già là bởi vì nhìn thấu nhân sinh, nên tâm không còn chỗ nào trở ngại.

Kỳ thực, nếu ai cũng có được tâm thái này thì cuộc sống sẽ trôi qua rất an vui. Con người vốn không có phiền não, chỉ là khi dục vọng nhiều lên liền biến thành phiền não.

Rất nhiều người đều vì những chuyện chưa phát sinh trong tương lai mà cảm thấy sầu lo, như vậy chính là tự tìm phiền não cho mình. Hết thảy mọi chuyện đều đã có câu trả lời của nó, chỉ là thời gian còn chưa tới, bạn mới không biết giải đáp như thế nào.

Đừng nghĩ cuộc sống quá khó khăn, ai cũng đều chậm rãi mà tiến tới như thế, điều bạn có thể làm chính là cố gắng hết mình ở hiện tại, như vậy mới không khiến tương lai phải lưu lại tiếc nuối.

Có người từng nói, con nít và người già khi cười đều rất hồn nhiên. Con nít là bởi vì mới bắt đầu một kiếp nhân sinh, tâm không tích trữ điều gì; người già là bởi vì nhìn thấu nhân sinh, nên tâm không còn chỗ nào trở ngại. (Ảnh: Pinterest)

Mặc kệ kết quả như thế nào, chỉ cần cố gắng hết mình, không thẹn với tâm, như vậy là tốt rồi. Cuộc sống đơn giản, tâm hồn thanh cao chính là cảnh giới tối cao của nhân sinh.

Tâm tình, là một con sông, tâm tình tốt hay xấu, quyết định ở chỗ chiều sâu của nó. Nếu tâm lượng quá nhỏ, một sợi lông gà cũng có thể kích thích bọt nước, khiến cho mình bực bội không thôi; tâm độ lượng, khó khăn lớn hơn nữa cũng có thể tâm bình khí hòa, bình yên đối đãi hết thảy.

Quá khứ, không cần tiếc nuối; hiện tại, trân quý bội phần; tương lai, không cần sầu lo. Không hỏi tương lai, không đồng nghĩa với cam chịu, tương lai còn chưa tới, mang theo rất nhiều nhân tố không xác định. Người trí tuệ, điều hưởng thụ cả đời chính là sống tự do tự tại trong cảnh giới của chính mình.

4. Mọi chuyện không hỏi đúng sai, chỉ cần không thẹn với lòng

Mỗi người sinh ra trên đời chính là một cá thể độc lập, không thể nào tìm thấy 2 người có đặc điểm giống hệt như nhau.

Cùng là con mắt, nhưng khác nhau cách nhìn; cùng là cái miệng, nhưng lại không giống nhau về cách nói. Bạn có tư tưởng của bạn, tôi có nguyên tắc của tôi; bạn có cái nhìn của bạn, tôi cũng có quan niệm của riêng mình. Chỉ cần không thẹn với lương tâm, thì sợ gì người khác nghị luận!

5. Cuộc sống không hỏi kết quả, chỉ hỏi nỗ lực bao nhiêu

Cuộc sống cần dũng cảm tiến tới, mặc kệ nhiều khổ nhiều khó khăn nhiều mệt mỏi, đều cần kiên cường đối mặt.

Bạn cố gắng, mới có thể thu hoạch được thành quả; không cố gắng, cuối cùng chẳng làm nên trò trống gì.

Mong rằng cuộc đời của mỗi người, không phải lưu lại bất kỳ tiếc nuối nào, những tháng ngày về sau sẽ ngày càng vui vẻ thoải mái.

Tuệ Tâm / Theo: khoahoctamlinh

TRỪ DẠ - LAI HỘC


Trừ dạ - Lai Hộc

Sự quan hưu thích dĩ thành không,
Vạn lý tương tư nhất dạ trung.
Sầu đáo hiểu kê thanh tuyệt hậu,
Hựu tương tiều tuỵ kiến xuân phong.


除夜 - 來鵠

事關休戚已成空
萬里相思一夜中
愁到曉雞聲絕後
又將憔悴見春風


Đêm trừ tịch
(Dịch thơ: phanlang)

Buồn vui cũng đã thành không
Nhớ ai vạn dặm cuối năm đêm tàn
Đến khi gà hết gáy vang
Lại tiều tuỵ giữa bàng hoàng gió xuân


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lai Hộc 來鵠 tức Lai Bằng, là thi nhân triều Đường, không rõ năm sinh, mất năm 883. Người Dự Chương (nay là Nam Xương, Giang Tây). Khoảng năm Hàm Thông thi tiến sĩ không đỗ, về ẩn ở Sơn Trạch. Thường qua lại các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, An Huy... Thơ ông thường viết về cảnh đời phiêu bạt, cùng khốn, cũng có một số bài quan tâm đến nỗi đau khổ của nhân dân. "Toàn Đường thi" còn 29 bài.

Nguồn: Thi Viện



CÂU CHUYỆN LUÂN HỒI CỦA NGŨ TỔ THIỀN TÔNG HOẰNG NHẪN

Những ký ức được lưu lại từ tiền kiếp chính là hé lộ cho con người thế gian thấy được kiếp nhân sinh ngắn ngủi. Câu chuyện luân hồi của các nhà sư nổi tiếng đã được ghi chép lại trong sử sách. Một trong cũng câu chuyện đó là về vị tổ sư đời thứ 5 của Thiền tông hay thường gọi là ngũ tổ thiền tông Hoằng Nhẫn.

Nhân sinh ngắn ngủi, điều quan trọng là phải tìm ra được ý nghĩa của sinh mệnh (ảnh chụp màn hình learnreligions

Thiền tông được Bồ-đề-đạt-ma truyền qua Trung Quốc vào năm 520. Tương truyền rằng Bồ-đề-đạt-ma từng đến gặp Lương Vũ Đế để truyền Phật pháp nhưng thấy cơ duyên không hợp nên đến chùa Thiếu Lâm. Ông quay mặt vào vách ngồi Thiền hơn 9 năm để chờ người có duyên hỏi đạo. Theo sử sách ghi lại, có 6 vị tổ sư nổi tiếng của Thiền thông . Bồ Đề Đạt Ma, được tính là tổ sư đầu tiên của Thiền Tông Trung Hoa, gọi là Sơ Tổ. Nhị tổ là Đại sư Huệ Khả; tam tổ là Đại sư Tăng Xán; tứ tổ là Đại sư Đạo Tín; ngũ tổ là Đại sư Hoằng Nhẫn và Lục Tổ là Đại sư Huệ Năng.

Dưới đây là câu chuyện luân hồi của vị ngũ tổ thứ 5 của Thiền tông có tên là Hoằng Nhẫn.

Nhân duyên chuyển sinh của thiền sư Hoằng Nhẫn

Ngũ tổ Hoằng Nhẫn là người ở xứ Hoàng Mai, huyện Tầm Dương (nay là huyện Cửu Giang, tỉnh Giang Tây). Có thuyết nói Sư là người Kỳ Châu (nay là huyện Kỳ Xuân, tỉnh Hồ Bắc). Khi sư vừa sinh ra đã có dị tướng. Lúc Hoằng Nhẫn còn nhỏ, vị đại sư khi nhìn thấy ông đã khen rằng: “Đứa trẻ này chỉ kém Như Lai có bảy tướng”.

Ngũ tổ Thiền Tông Hoằng Nhẫn cũng có một đoạn nhân duyên chuyển sinh khá nổi tiếng. Kiếp trước ông vốn là một ông lão trồng thông dưới chân núi Phá Đầu. Bởi ngưỡng mộ tứ tổ Thiền tông Đạo Tín nên thỉnh cầu cho mình được cạo đầu xuất gia.

Sư phụ Đạo Tín thấy ông tuổi đã cao nên mới an ủi rằng: “Ta thấy tuổi của ông cũng đã già rồi. Cho dù có thể nghe Đạo thì cũng không đủ thời gian mà truyền rộng nó tới chúng sinh. Như thế thì có ích gì đâu. Nếu ông đi đầu thai, ta có thể đợi ông mấy chục năm”.

Thiền sư Hoằng Nhẫn đã muốn đi tu từ kiếp trước nhưng tuổi đã cao, đành phải chờ đến kiếp sau mới có thể hoàn thành tâm nguyện (ảnh minh họa fodizi.net)

Mẹ thiền sư Hoằng Nhẫn mang thai đầy bí ẩn

Ông lão bái biệt tứ tổ và đi đến bờ suối. Ở đây ông nhìn thấy một cô gái đang giặt quần áo. Ông bước tới vái chào và hỏi: “Xin cô có thể cho tôi tá túc nhà cô được không?”

Cô gái nói: “Trên tôi có cha và anh trai. Việc này ông phải hỏi cha và anh của tôi mới được”.

Ông lão nói: “Ta cần cô đồng ý trước rồi mới đi hỏi họ được”.

Cô gái thấy trời đã nhá nhem tối, trong khi ông lão thì đã già rồi. Suy nghĩ một lúc rồi cô cũng gật đầu đồng ý cho ông lão tá túc qua đêm. Mấy tháng sau, cô gái chưa chồng bỗng nhiên có thai. Cha mẹ cô gái vô cùng hổ thẹn với làng xóm, ra sức tra hỏi cô xem chuyện gì đã xảy ra.

Cô gái không nói rõ ràng được nên bị cha mẹ đuổi ra khỏi nhà. Bởi vì không còn nhờ cậy được vào ai, cô gái đành làm việc dệt vải và một số việc vặt cho những người đồng hương để kiếm sống.

Về sau cô hạ sinh được một bé trai trắng trẻo mập mạp. Nhưng người mẹ bất hạnh này do đã phải chịu tủi nhục trong suốt thời gian qua, cô nghĩ quẩn mà đem đứa con xui xẻo ném xuống sông.

Qua ngày hôm sau, cô gái nghĩ lại và thấy vô cùng lo lắng nên đã ra sông xem xét. Không ngờ, đứa bé ấy không những không bị chết đuối mà toàn thân còn không bị ướt, đáng yêu vô cùng. Cô gái kinh hãi liền ôm lấy đứa trẻ và từ đó hết lòng chăm sóc.

Căn cơ tu luyện Phật Pháp bắt đầu từ cái tên “Vô Tính”

Bức tranh vẽ thiền sư Hoằng Nhẫn (ảnh Drbachinese)

Khi đứa trẻ lớn hơn một chút, hai mẹ con đi ăn xin để kiếm sống qua ngày. Bởi không biết cha đứa trẻ là ai, nên mọi người đều gọi cậu là “Vô Tính (không họ)”. Năm Vô Tính lên 6, 7 tuổi đã rất thông minh lanh lợi, hoạt bát đáng yêu.

Ngày nọ, tứ tổ Đạo Tín đi hoằng pháp đến nơi này. Vô Tính nhìn thấy vị thiền sư thì kéo áo cà sa của ông không buông. Vô Tính còn thỉnh cầu ông độ cho mình xuất gia. Vị thiền sư nhìn thấy cậu bé tuổi còn nhỏ liền xoa đầu cậu mà nói: “Tuổi con còn nhỏ quá, sao mà xuất gia được?”

Vô Tính hỏi như oán trách thiền sư: “Sư phụ, trước đây ngài chê con già quá, giờ lại nói con nhỏ quá. Rốt cuộc khi nào mới đồng ý độ con xuất gia đây?”

Thiền sư nghe thấy chợt hiểu ra chuyện, vội vàng hỏi cậu: “Cậu bé, họ tên con là gì? Nhà ở đâu?”

Cậu bé trả lời: “Con tên là Vô Tính, nhà ở ngõ Thập Lý”.

Thiền sư lại hỏi: “Mọi người đều có tên họ, sao con lại nói dối mình không họ? Rốt cuộc con mang họ gì?”

Cậu bé trả lời: “Họ thì có, nhưng không phải họ bình thường!”

Thiền sư sư Đạo Tín hỏi lại: “Là họ gì?”

Cậu bé trả lời: “Con lấy Phật tính làm họ, cho nên gọi là Vô Tính”.

Xuất gia tu hành, hoàn thành tâm nguyện

Thiền sư Đạo Tín nghe thấy vậy thì rất vui mừng. Ông nghĩ tuổi còn nhỏ mà khẩu khí lớn như thế này, đúng là người của Phật môn. Ông liền cho người đến nhà thỉnh cầu mẹ của cậu bé chấp thuận cho con trai được xuất gia tu hành.

Mẹ của cậu bé sớm đã hiểu rõ được ngọn nguồn về sự ra đời của con trai mình nên lập tức đồng ý. Bà còn nói với con rằng: “Con vốn là đệ tử của Phật, bây giờ con nên đi theo Sư phụ của mình thôi.”

Cậu bé từ ấy theo đại sư Đạo Tín tu hành và sau này trở thành Ngũ tổ của Thiền Tông. Ông lấy pháp danh là Hoằng Nhẫn. Thiền sư Hoằng Nhẫn có nhiều môn đệ, trong đó nổi bật nhất là hai vị đại sư hình thành nên hai tư tưởng Thiền khác nhau là Lục Tổ Huệ Năng và hòa thượng Thần Tú.

Theo: nguyenuoc