Wednesday, August 12, 2026

HÀM NGHỈA CỦA "NGÔN TRUYỀN, THÂN GIÁO" TRONG VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG

Cha mẹ chính là những người thầy đầu tiên của con trong cuộc đời. Giáo dục trong gia đình chú trọng vào “ngôn truyền thân giáo”.

Hàm nghĩa của "Ngôn truyền thân giáo" trong văn hóa truyền thống (ảnh minh họa: Vạn Điều Hay)

Thế nào là “ngôn truyền thân giáo”?

“Ngôn truyền” có nghĩa là cha mẹ dùng lời nói để truyền giảng những kiến thức, đạo lý, hành trang cho con trưởng thành. “Thân giáo” là cha mẹ lấy chính bản thân để làm tấm gương giáo dục con; bằng những suy nghĩ, hành động, lời nói tử tế và sự thiện lương mà giáo dục con cái nên người.

Giáo dục trong gia đình có ý nghĩa quan trọng với cả cuộc đời một đứa trẻ. Ngày nay rất nhiều truyền thống về giáo dục trong gia đình đã bị mai một.

Nói về giáo dục, đa số người ta thường chú trọng đến giảng dạy kiến thức, kỹ năng, dùng giáo viên để giải quyết các vấn đề mà quên đi cái gốc của giáo dục. Giáo dục khởi nguồn từ gia đình, lấy gia đình làm gốc. Trồng cây trước tiên phải ươm giống, thành tài trước tiên phải giáo dục thành người. Mà gia đình chính là trường học đầu tiên của con, cũng là khởi nguồn của giáo dục.

Cách giáo dục con cái của danh thần Phạm Trọng Yêm

Thời Bắc Tống có một danh thần tên là Phạm Trọng Yêm, cả đời thanh bần, phẩm hạnh xuất chúng. Ông vô cùng chú trọng việc giáo dục con cái, thiết lập gia phong, ngôn truyền thân giáo.

“Lo trước vui sau, cần kiệm liêm khiết quản giáo gia đình, tuân thủ quy củ, giữ chí lớn, lấy tĩnh dưỡng đức”.

Lời nói và việc làm của ông đã trở thành cái gốc của gia phong trong gia đình. Ông thiết lập những quy tắc của gia tộc, giáo huấn trong gia đình. Nghiêm khắc dạy dỗ con cháu, phẩm hạnh cao thượng của ông được hậu thế muôn đời kính ngưỡng.
 
Dạy con sự lương thiện bác ái

Phạm Trọng Yêm thường dạy các con rằng: “Cứu người gặp nạn là bổn phận làm người”.

(ảnh minh họa: Vạn Điều Hay)

Một lần ông nói con trai thứ là Thuần Nhân, dùng thuyền mang 500 đấu lúa mì tới Tô Châu cứu tế họ tộc. Khi đi qua Đan Dương, anh nghe thấy tiếng khóc bi thảm từ chiếc thuyền gần đó.

Thuần Nhân lần theo tiếng khóc, bước lên thuyền hỏi thăm, biết được là Thạch Mạn Khanh đang hộ tống linh cữu thân nhân về quê an táng; trên đường trở về thì tiền và lương thực đều hết.

Thạch Mạn Khanh, là nhà văn, nhà thơ thời Bắc Tống, từng làm đến chức Thái tử trung doãn, Bí các hiệu lý. Vì ông là một vị quan liêm khiết, nên gia cảnh bần hàn.

Thuần nhân nhận ra Thạch tiên sinh, liền đồng cảm và quyết định tặng 500 đấu mì cho ông. Thạch Mạn Khanh cảm kích không thôi, tiết lộ rằng gia đình ông có ba người chết chưa an táng được. Thuần Nhân rộng lượng, quyết đoán, liền để lại thuyền và đồ đạc có giá trị cho Thạch tiên sinh và đi bộ trở về .

Phạm Trọng Yêm thấy con trai về, liền hỏi: “Con đã giao xong lúa mì chưa?”

Thuần Nhân kể lại sự việc gặp Thạch Mạn Khanh. Phạm Trọng Yêm vội nói: “Sao con không đem lúa mì cho ông ấy?”

Thuần Nhân đáp: “Con đã đưa hết lúa mì cho ngài ấy rồi. Nhưng con thấy an táng ba người thân một lúc như vậy thì không đủ”.

Trọng Yêm lại nói: “Sao con không đưa luôn thuyền cho ông ấy”.

“Vâng, con đã để lại thuyền và đồ đạc cho ngài ấy, nên mới đi bộ trở về ạ”. Thuần nhân lễ phép thưa cha.

Phạm Trọng Yêm mừng rỡ: “Tốt lắm! Không hổ danh là con trai của ta”.

Ăn uống đạm bạc, cần kiệm siêng năng

Khi mãn nhiệm chức quản lý quân đội Quảng Đức, ông chỉ còn một con ngựa, sau đó còn phải bán ngựa mà lấy lộ phí trở về nhà.

Sau này vì lập được công lớn ở biên cương, nên được triều đình ban thưởng rất nhiều vàng bạc. Nhưng ông lại chia hết cho thuộc hạ cấp dưới, không giữ lại cho mình dù chỉ một xu.

Phạm Trọng Yêm thân là trọng thần có địa vị, nhưng nếu nhà không có khách, thì bữa cơm chỉ có một món mặn; cơm ăn áo mặc của vợ con cơ bản đều là tự túc.
 
Lo trước cái lo của thiên hạ

“Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” (lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ), là câu nói nổi tiếng của Phạm Trọng Yêm trong tác phẩm Nhạc Dương lâu ký.

Có điển tích kể rằng, Phạm Trọng Yêm từng mua một khu nhà vườn, dự định chuyển tới đó ở. Thầy địa lý nói rằng nơi đây phong thủy cực tốt, ắt sẽ không ngừng có người làm quan. Phạm Trọng Yêm nghe xong nói: “Nếu đã là vậy, thay vì một nhà hiển quý, chi bằng để lại cho thư sinh trong vùng Giang Tô, nếu có thể tới đây thụ nhận giáo dục, vậy mỗi người họ đều có thể hiển quý”. Vì thế nơi này đã được sửa lại thành trường học.

Một lần Phạm Trọng Yêm gọi con cháu tới mà nói: “Lúc nghèo khó, cuộc sống khó khăn, ta lo lắng cung dưỡng phụ mẫu, phu nhân của ta phải tự mình kiếm củi nấu cơm. Khi đã làm quan, thụ hưởng bổng lộc, ta thường lo lắng cho những kẻ hay oán hận, những người không biết tiết kiệm mà tham hưởng phú quý”.

Thụ nhận sự giáo dục đức hạnh của cha, bốn người con trai của ông sau này đều thành đạt, đều tài năng và đức độ. Mỗi người đều theo tâm nguyện của cha mình, trở thành những vị quan thanh liêm, phụng sự cho quốc gia và dân chúng.

Dưới sự giáo dục của Phạm Trọng Yêm, con cháu họ Phạm hưng thịnh nhiều đời (ảnh mịnh họa: Minh Chân Tướng)

Phạm Trọng Yêm từng nhận xét về các con rằng: “Thuần Nhân là người có chí, Thuần Lễ có tĩnh khí, Thuần Túy thì mưu lược giỏi”.

Sở dĩ gia tộc của Phạm trọng Yêm có thể hưng thịnh suốt 8 trăm năm mà không suy bại, là do ảnh hưởng bởi sự giáo dục, ngôn truyền thân giáo của ông.

Chân Mỹ / Theo: Sound Of Hope

Tuesday, August 11, 2026

LƯU BỊ LÀM RƠI ĐŨA KHI NGHE TIẾNG SẤM: NGHỆ THUẬT GIẤU MÌNH KHI CÒN Ở THẾ YẾU

Được đối thủ mạnh hơn mình gấp bội đánh giá đúng năng lực, tưởng là một lời khen, đôi khi lại là bản án tử hình treo lơ lửng. Lưu Bị hiểu điều đó chỉ trong tích tắc, và phản xạ đánh rơi một chiếc đũa đã cứu cả sự nghiệp sau này của ông.


Câu nói khiến một chiếc đũa rơi xuống đất

Sau một trận thua, Lưu Bị tạm nương nhờ Tào Tháo tại Hứa Đô, trong lòng vẫn mang tham vọng khôi phục nhà Hán và đã bí mật tham gia một âm mưu ám sát Tào Tháo cùng vài đại thần khác. Biết mình đang bị theo dõi, ông chọn cách tự đóng vai một người tầm thường, hằng ngày chỉ lo trồng rau sau vườn, tuyệt nhiên không để lộ bất kỳ dấu hiệu nào của chí lớn.

Một hôm, nhân lúc mơ trên cây vừa chín, Tào Tháo mời Lưu Bị đến uống rượu ngắm cảnh, rồi bắt đầu bàn luận xem ai mới thực sự xứng đáng là anh hùng trong thiên hạ lúc bấy giờ. Lưu Bị lần lượt nêu tên hết người này đến người khác, ai cũng bị Tào Tháo gạt đi vì lý do này hay lý do khác. Cuối cùng, Tào Tháo chỉ thẳng vào Lưu Bị rồi chỉ vào chính mình, nói một câu khiến cả bàn tiệc lặng đi: anh hùng trong thiên hạ bây giờ, chỉ có sứ quân và ta mà thôi.

Lưu Bị đang cầm đũa, giật mình đến mức đánh rơi luôn xuống đất. Đúng lúc đó trời nổ một tiếng sấm lớn. Ông nhanh trí cúi xuống nhặt đũa, phân bua rằng mình vốn nhát gan, sợ sấm sét đến mức làm rơi cả đồ ăn trên tay. Tào Tháo bật cười, từ đó càng thêm phần khinh thường, cho rằng một người sợ cả tiếng sấm không đáng để bận tâm đề phòng. Nhờ vậy, sự nghi kỵ tạm thời được gỡ bỏ, và không lâu sau, Lưu Bị tìm được cớ dẫn quân đi đánh Viên Thuật, thoát hẳn khỏi tầm kiểm soát của Tào Tháo.


Được đánh giá đúng, khi còn yếu thế, là một mối nguy

Điều thú vị nhất trong khoảnh khắc này không phải việc Lưu Bị nói dối giỏi. Điều thú vị là Tào Tháo đã hoàn toàn đúng. Trong cả một danh sách dài những nhân vật quyền lực thời bấy giờ, ông chọn ra chính xác người duy nhất sau này thực sự trở thành một thế lực ngang hàng mình. Đánh giá của Tào Tháo về năng lực và tham vọng của Lưu Bị không hề sai một chút nào.

Chính vì đúng đến vậy, nó suýt trở thành một bản án. Khi một người đang ở thế yếu tuyệt đối, sống dưới sự giám sát của một đối thủ nắm toàn quyền sinh sát, việc bị đánh giá chính xác về tiềm năng của mình không phải một lời khen đáng tự hào, mà là tín hiệu báo động cần phản ứng ngay lập tức. Vấn đề không nằm ở việc có năng lực hay không. Vấn đề nằm ở việc ai đang có quyền quyết định số phận của mình lại vừa nhận ra năng lực đó tồn tại.


Một cử chỉ nhỏ đủ sức thay đổi cả một nhận thức

Cái khiến phản xạ của Lưu Bị đáng chú ý về mặt chiến lược không phải việc ông nói dối, mà là tốc độ và sự tinh tế của lời nói dối đó. Ông không cố gắng thanh minh mình không có tham vọng, một hành động chắc chắn sẽ càng khiến Tào Tháo nghi ngờ hơn. Ông chọn một lý do hoàn toàn không liên quan đến câu chuyện đang bàn - nỗi sợ tiếng sấm - để chuyển hướng toàn bộ sự chú ý từ một câu hỏi nguy hiểm sang một chi tiết vô hại và có phần buồn cười.

Chỉ bằng một cử chỉ nhỏ đúng thời điểm, ông thay đổi hoàn toàn cách Tào Tháo nhìn nhận về mình, từ một mối đe dọa tiềm tàng đáng theo dõi sát sao, thành một kẻ nhút nhát không đáng bận tâm. Đây là minh chứng cho việc nhận thức của người có quyền lực về một người dưới quyền mình đôi khi dễ thay đổi hơn nhiều so với thực tế năng lực của người đó, và đôi khi chính điều đó lại quyết định sự sống còn nhiều hơn cả năng lực thực sự.

Biết khi nào nên chứng minh và khi nào nên giấu đi

Phần lớn các câu chuyện về nơi làm việc thường khuyến khích thể hiện năng lực, chủ động khẳng định giá trị bản thân. Câu chuyện luận anh hùng là một trường hợp ngoại lệ đáng ghi nhớ: khi đang ở thế yếu tuyệt đối trước một người có toàn quyền quyết định số phận mình, và mối quan hệ đó chưa đủ tin cậy để đảm bảo an toàn, việc chủ động hạ thấp mức độ đe dọa mà mình thể hiện ra ngoài có thể là lựa chọn khôn ngoan hơn nhiều so với việc chứng minh giá trị bản thân.

Điều thứ hai, dành cho người đang ở vị trí quyền lực: nói ra một nhận định chính xác về năng lực hoặc tham vọng của người dưới quyền, đặc biệt trước đông người, có thể vô tình đẩy người đó vào trạng thái phải phòng vệ khẩn cấp theo những cách khó lường trước. Đôi khi im lặng quan sát mang lại nhiều thông tin hơn là công khai nói ra điều mình đã nhận ra.


Không lâu sau bữa tiệc đó, Lưu Bị rời khỏi Hứa Đô và không bao giờ quay lại dưới trướng Tào Tháo nữa. Có lẽ nếu hôm đó ông phản ứng chậm hơn một nhịp, hoặc không có tiếng sấm nào vang lên đúng lúc, lịch sử Tam Quốc đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác. Bao nhiêu người hôm nay đang ở thế yếu trước một đối thủ hoặc một cấp trên quá tinh tường, và có kịp một phản xạ đủ nhanh khi thời khắc đó xảy đến?

Q.L. / Theo: cafebiz

MỘT SỚM MAI VỀ - TƯỜNG LINH


Một sớm mai về
thơ Tường Linh

Một sớm mai về
Ngày vui thứ nhất
Ta đi chân đất
Mặc áo vải thô
Dẫm lá tre khô
Rụng đầy lối sỏi
Ta cười ta nói
Ta hát nghêu ngao
Bước thấp bước cao
Qua bờ ruộng nhỏ
Mẹ già ta đó
Hái mướp bên rào
Áo nâu thủa nào
Thêm nhiều mụn vá
Cần chi Mẹ à

Một sớm mai về
Thằng bé nhà quê
Thoát tầm lửa đạn
Đầu ngày nắng sáng
Nhà ai chung vườn
Khói bếp mến thương
Thơm xôi nếp mới
Chia xa vời vợi

Một sớm mai về
Tắm nước sông quê
Ngàn đời chẳng đục
Ta buông cần trúc
Bờ cỏ êm ngồi
Con giếc thả mồi
Con rô đớp bóng
Đài sen sương đọng
Hồ lộng màu thu
Trên ngọn mù u
Có đôi chim gáy
Trong chòm lau sậy
Tiếng quốc u oa
Dưới bóng đa già
Cút côi quán nước
Nằm trên cỏ mượt
Ta nhẩm vần thơ
Giấc mơ choàng tỉnh
Ngày ấy… bao giờ?

TƯỜNG LINH

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng phổ nhạc thành bài hát cùng tên.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Nhà thơ Tường Linh có tên khai sinh Nguyễn Linh, sinh ngày 12-12-1931 tại làng Trung Phước, huyện Quế Sơn (nay là Quế Trung, Nông Sơn), tỉnh Quảng Nam. Ông xa quê từ năm 1954, ra sống ở Huế, Quảng Trị. Đến năm 1956 thì vào ở hẳn tại Sài Gòn cho đến nay. Trước năm 1975 ông làm báo tại Sài Gòn, từng có thời gian phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng hoà.

Tường Linh sáng tác nhiều từ những năm 1950, nổi tiếng với những bài thơ về tình yêu quê hương đất nước. Ông thuộc lớp các thi sĩ Quảng Nam xuất hiện vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Pháp. Bài thơ Chị Điện Hoà (1950) và Năm cụm núi quê hương (1954) của ông được nhiều người thuộc lòng, mãi cho đến nay. Đó là loại thơ kể chuyện, rất phù hợp với điều kiện lịch sử - xã hội vào thời điểm ấy. Năm 2011 Tường Linh đã thực hiện một tuyển tập thơ dày 672 trang do Nhà xuất bản Văn học phát hành với sự giúp đỡ của một số thân hữu.

Nguồn: Thi Viện



ĐỨC PHẬT KHAI THỊ: THẾ GIAN CÓ 4 SỰ VIỆC KHÔNG THỂ DÀI LÂU

Đức Phật khai thị cho thế nhân 4 sự việc không thể tồn tại lâu dài (ảnh Adobe Stock)

Đời người vô thường nhưng thế nhân cứ cố bám chấp; tuổi trẻ, thời gian, giàu sang, phú quý rồi cũng trôi qua; sinh ly tử biệt là lẽ thường tình phải xảy đến; thuận theo tự nhiên, một lòng hướng thiện thì cuộc sống mới được an nhiên. Đức Phật vì thấy chúng sinh chìm trong bể khổ miên man nên đã giảng ra 4 sự việc không thể tồn tại lâu dài.

Đau khổ vì mất con, người cha dường như hóa điên

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni ở tại tịnh xá Jetavanavihāra nằm ở phía Nam ngoại thành Shravasti, có một vị Bà La Môn có một cô con gái khoảng 14, 15 tuổi, hiền dịu, đoan trang, thông minh, có tài hùng biện; trong nước khó có người sánh kịp. Cô gái đột nhiên mắc bệnh nặng, không lâu sau thì qua đời.

Cha mẹ cô bé rất yêu thương đứa con duy nhất này; thậm chí còn hơn cả mạng sống bản thân. Hễ có chuyện buồn phiền, chỉ cần nhìn thấy con thì mọi bực dọc lo lâu trong lòng sẽ lập tức tan biến. Đối diện với cái chết đột ngột của con, người cha đau xót tới mức không nói nên lời; ngày nào cũng khóc thương; rồi đột nhiên bị điên và đi lung tung khắp nơi.

Một ngày nọ, ông đi tới tịnh xá Jetavanavihāra, khi nhìn thấy Đức Phật thì đột nhiên thần trí tỉnh táo; ông hướng tới Đức Phật hành lễ và nói một cách buồn bã:

“Con không có con trai, chỉ có một đứa con gái; yêu thương nâng niu nó như ngọc trên tay. Nhờ có con bé, con quên đi mọi buồn phiền. Tuy nhiên, nó lại đột nhiên lâm bệnh nặng và bỏ con mà đi. Con kêu trời, trời không thấu; gọi đất đất không linh; đau khổ phiền muộn không thể chịu nổi. Cầu xin Thế Tôn giải khai nỗi ưu sầu của con”.

Tiếng nói của ông nghẹn ngào, nước mắt lăn dài trên mặt; khiến những người xung quanh nghe thấy cũng không khỏi xúc động bùi ngùi rơi lệ theo.

Đức Phật khai thị cho ông, nói rằng trên thế gian này có bốn việc không thể tồn tại dài lâu:
 
4 việc nơi thế gian không thể tồn tại lâu dài

1. Mọi thứ đều là vô thường, vật gì tồn tại thì rồi cũng sẽ tiêu tan

Đời người là vô thường (ảnh Adobe Stock)

Bất cứ sự vật gì cũng không thể tồn tại vĩnh viễn bất biến và duy trì trạng thái hình dáng ban đầu. Nó luôn thay đổi trong mọi thời khắc, bản chất cũng dần dần thay đổi; cuối cùng biến mất.

Ví dụ thân thể chúng ta trong mọi thời khắc đều đang có sự trao đổi chất; trải qua sinh lão bệnh tử; cuối cùng biến mất khỏi thế gian này. Khắp nơi trong hệ ngân hà, trong địa cầu, vũ trụ trong mọi thời khắc đều đang trải qua quá trình thành trụ hoại diệt.

Con người hay bị đánh lừa bởi sự cố định tạm thời, không nhìn thấy được tính vô thường của sự vật, từ đó mà bám chấp, tự gây phiền não cho chính mình.
 
2. Giàu sang phú quý rồi cũng mất đi

Dù một người giàu có đến đâu, cuối cùng tài vật cũng sẽ dần mất đi. Tục ngữ nói: “Giàu không quá ba đời”, trừ khi gia đình đó đời đời hành thiện, tích đức thì mới có thể bảo trì phú quý cho con cháu của mình.

Tuy nhiên con người trong tâm đều có tư lợi, tham lam không ngừng; có ít lại muốn có nhiều, có nhiều rồi lại muốn có nhiều hơn; cho nên không chịu bố thí hành thiện, giúp người cứu nguy. Cuối cùng phú quý chẳng thể bền lâu.

3. Có hợp ắt có tan

Thế gian có cuộc gặp gỡ nào mà không phải chia ly; cha mẹ vợ chồng, bạn bè thân hữu, hợp rồi lại tan. Đặc biệt là thời đại khác nhau, con cái trưởng thành phải đi nơi khác làm ăn, bỏ lại cha mẹ già ở quê nhà. Mà cho dù có ở chung một chỗ thì làm sao tránh được sinh ly tử biệt.

4. Người dù khỏe mạnh nhưng rồi cũng phải qua đời

Một lòng hướng thiện thì cuộc sống mới được an nhiên (ảnh Adobe Stock)

Dù thân thể có trẻ khỏe ra sao, cường tráng thế nào, cuối cùng đều có một ngày hết mệnh lìa đời. Cho dù có sống thọ đến mấy thì cuối cùng vẫn phải đối diện với cái chết. Có câu: “Đời người xưa nay ai không chết?” Con người từ khi sinh ra đã được phán một cái án tử hình không định kỳ; nó có thể xảy đến với chúng ta vào bất cứ lúc nào.

Vì vậy, trong những năm tháng được sống, hãy kịp thời giải quyết những việc đại sự của bản thân; để khi sinh cũng an lành, khi tử cũng an nhiên; làm người cốt ở nhân tâm, nhân tâm hướng thiện ắt đời an lạc.

Sau cùng, Phật Thích Ca Mâu Ni nói: “Điều gì cũng có tận cùng, cao rồi cũng rơi xuống thấp, hợp rồi sẽ có chia ly, có sống thì sẽ có chết”.

Vị Bà La Môn này sau khi nghe Phật Thích Ca Mâu Ni khai thị xong thì trong lòng lập tức được giải khai, thông suốt. Về sau ông đã xuất gia làm hòa thượng và cuối cùng chứng đắc quả vị La Hán.

Thanh Mai / Theo: nguyenuoc

NGHỀ CHƠI CHIM CU GÁY

Chơi chim cu gáy xưa nay vẫn là cái thú tao nhàn của nhiều người. Nhưng để bẫy được loài chim này, luyện nó gáy tự nhiên như chim ở ngoài thiên nhiên hoang dã là điều không dễ dàng. Người chơi cu gáy cũng phải ứng xử ra sao để trở thành người sành chơi và có văn hóa.

Ông Sâm tìm địa điểm đẹp để đặt bẫy.

70 tuổi mải mê bẫy chim cu gáy

Nhắc tới dân chơi chim cu gáy ở Hà thành không thể không nhắc tới ông Triệu Tử Sâm ở ngõ 624/12/109 Minh Khai, Hà Nội. Ở cái tuổi xưa nay hiếm vậy mà chỉ cần nghe ở đâu xuất hiện chim cu gáy là ông Sách lồng lên đường bẫy cho bằng được. Nể phục về bảng thành tích bẫy chim cu gáy của ông, dân chơi chim cu gáy Hà thành gọi ông với cái tên thân mật “Sâm sư phụ”.

Ai có dịp đi qua đầu ngõ 624/12/109 Minh Khai thì không thể không dừng lại nghe dàn đồng ca chim cu gáy của ông Sâm. Mặc dù ngôi nhà khá trật trội nhưng ông vẫn dành những khoảng không cho những chú chim cu gáy mà ông yêu thích. Trong ngôi nhà nhỏ ấy, người đàn ông có dáng vẻ cao lớn nhưng lại rất hiền lành này đang bận rộn với mấy chú chim cu gáy mà ông chăm bẵm.

Thấy có khách tới chơi nói chuyện về loài chim cu gáy, ông hồ hởi kể: “Con “8/3”- ông Sâm bẫy được tại phố 8/3” – (PV) “giọng thổ rền” chỉ là một trong hàng chục chú chim gáy mà ông bẫy được. Ông Sâm mê chim cu gáy như điếu đổ, sống quá nửa đời người thì gần như ông dành trọn để gắn bó với loài chim đồng quê này.

Nghe Cu gáy nhớ hồn quê!

Đưa bàn tay to bè, xù xì, tháo mảnh gỗ lũa buộc hờ hững cửa lồng, nhẹ nhấc ra chiếc chén rồi đổ lưng thóc trộn hạt kê, đỗ xanh, vừng, ông Sâm chia sẻ: “Tình cảm của tôi dành cho loài chim cu gáy, ngoài truyền thống của gia đình, còn bởi sắc màu nâu đất của lông chim – màu của ruộng đồng giản dị, mộc mạc”.

Chiếc bẫy đã hoàn thành.

Mê chim cu gáy như vậy nên với ông Sâm, lịch trình một ngày cho “công tác” nuôi chim của ông đã chiếm khá nhiều thời gian. Buổi sáng, buổi chiều, đi luyện chim ở một địa điểm nhất định. Buổi trưa, tranh thủ tắm cho chim. Ngoài ra là thời gian cho chúng ăn, vệ sinh chuồng… Nhìn chung, một ngày ông Sâm mất ít nhất bốn, năm tiếng đồng hồ. Đó còn chưa tính đến những chuyến đi xa nhiều ngày khỏi Hà Nội để “săn – bẫy” những chú chim hay.

Nói rồi ông Sâm kể tiếp: Quê ông ở làng Triều khúc, Hà Nội nhưng tuổi thơ của ông thì lớn lên tại phố Khâm Thiên. Ngay từ những ngày còn rất nhỏ, ông hay được bố mẹ cho về quê chơi.

Ngày ấy, quanh làng Triều Khúc còn có những cánh đồng lúa bát ngát. Vào những buổi chiều quê ấy, ông được thả hồn với hương lúa, những cơn gió mùa hè mát lộng và đặc biệt là được nghe tiếng chim cu gáy rền vang. Không biết từ bao giờ, tiếng chim cu gáy đã ăn sâu vào tiềm thức của ông. Vì quá mê tiếng chim cu gáy mà bố ông đã phải mua hẳn mấy con chim về để ru ông ngủ. Khi trưởng thành, dù ở đâu và làm gì thì tiếng chim cu gáy vẫn song hành với cuộc sống của ông…

Chu chim cu gáy mồi có giọng thổ pha.

Khi được hỏi vì sao ông chỉ mê mẩn với loài chim cu gáy mà không mê chim khác, ông Sâm bảo: “Quê tôi bây giờ nhà cao san sát, còn đâu tiếng chim cu gáy của ngày xưa. Mỗi khi nghe tiếng chim cu gáy râm ran, cảm giác sự ồn ào, náo nhiệt của thành phố hiện đại như dịu đi, nhường chỗ cho nguyên vẹn một đồng quê yên ả với sắc vàng của lúa chín, màu xanh yên ả, thanh bình của lũy tre làng. Hơn nữa, chim cu gáy nó giản dị, sống gần gũi với người nông dân Việt Nam. Thực sự phải có tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đồng quê và dòng sông, mái nhà tranh thì mới có thể nuôi được loài chim gáy này…”.

Những tuyệt kĩ bẫy chim cu gáy

Ngoài 70 tuổi, nhưng dường như khắp các tỉnh miền Bắc đã in dấu giày của ông Sâm. Hễ nghe “đệ tử” nói ở đâu xuất hiện chim cu gáy về là ông mò tới bẫy cho bằng được. Tuy nhiên, để có thể bẫy thành công chim cu gáy thì phải đạt những tuyệt kĩ về cả chim mồi lẫn nghệ thuật bẫy chim cu gáy.

Treo lồng cu gáy trên cành cây để bẫy chim ngoài.

Theo ông Sâm: “Để có thể trở thành chim mồi mời gọi chim ngoài vào lồng thì con mồi phải có độ tuổi chừng 5 năm. Con chim mồi phải có giọng gáy pha, gáy thổ, khi gáy mời gọi chim ngoài phải êm. Phải có duyên gọi chim bồi về. Chim mồi phải là chim rừng ta đã đánh bắt được, nuôi lâu ngày thành quen, hết sợ bóng người, gáy tự nhiên như khi còn hoang dã.

Chim mồi phải gáy hay, gáy càng hay càng được đánh giá cao vì sẽ rất đắc lực lúc đem đi “đánh” chim hoang. Người ta lại còn phân biệt mồi “lỡ” và mồi “giỏi”. Mồi “lỡ” là thứ mới đem đi đánh một vài lần. Mồi “giỏi” hay còn gọi là mồi “chai” là thứ đã đi đánh nhiều lần, đã có bản lĩnh và quen “trận mạc”!

Do có hàng chục năm trời bẫy và nuôi chim cu gáy nên ông Sâm am hiểu từng chân tơ kẽ tóc của loài chim dân dã này. Ông kể: Chim cu gáy sống từng đôi, một trống một mái theo chế độ “đơn thê”, gắn bó chung thủy. Chúng đi ăn từng đàn, có lãnh thổ riêng, có một con trống có dáng hình đẹp đẽ, có tiếng gáy tuyệt vời. Có lẽ nó là con chim lãnh chúa. Khi vùng lãnh thổ riêng bị xâm phạm, tất đưa đến “đấu khẩu” rồi “ác chiến” giữa chủ nhà và kẻ xâm lăng. Người đi bẫy chim cu gáy (gọi tắt là đi đánh cu) sẽ căn cứ vào đặc tính ấy để lợi dụng, mà bẫy chim cu gáy.

Chú chim cu lãnh chúa đã bị sập bẫy.

Cũng theo ông Sâm ngoài chim mồi ra, yếu tố chọn địa điểm thích hợp rất quan trọng. Địa điểm thích hợp nhất là một góc nào đó ở các nương rẫy trồng các loại đậu, mè, hàng rào có cây cối để treo lồng mồi thượng, có bụi tương đối rậm để người đi đánh cu có thể ẩn núp kín đáo (vì chim cu hoang rất sợ bóng người) nhưng có thể quan sát chiến trường.

Người đánh cu nghi trang mồi thượng với cành lá cây, treo lồng mồi thượng trên cây trước một nhánh cây gọi là “nhánh thế”, vừa tầm với cửa lồng để cho chim hoang đến đậu có được tư thế thích hợp mà đấu gáy với chim mồi. Đậu ở nhánh thế, chim hoang có thể nhìn xuống đất và trông thấy chim mồi đất. Gài chiếc lưới đất, thả con mồi đất đã nhíp kín mắt cho đi lui đi tới để nhử. Người đi đánh cu vào chỗ ẩn núp. Chim mồi thượng sẽ cất tiếng gáy. Nếu đợi một lúc lâu chưa nghe nó gáy, người đi đánh cu huýt gió để giục nó gáy.

Con chim hoang, lãnh chúa của vùng lãnh thổ này đang nghỉ ngơi ở một nơi nào đó đột nhiên nghe tiếng gáy của chim lạ. Biết lãnh thổ riêng của mình đang bị xâm phạm, nó liền bay về, đậu ở một cây nào đó, nghểnh tai nghe ngóng. Khi biết được vị trí của kẻ xâm lăng, nó phóng đến nhánh thế. Mồi thượng trông thấy liền cất tiếng gáy thách thức, vừa gáy vừa xoay mình như con vụ. Chim hoang lãnh chúa cũng không phải tay vừa, nó xòe hai cánh ra, xù cườm, gục gặc đầu, nóng nảy, vừa chạy tới chạy lui trên nhánh thế vừa gáy liên hồi. Hai con đấu gáy sôi nổi, không con nào chịu thua con nào.

Ông đặt tên chú chim cu gáy này là con Lĩnh Nam (bẫy được nó ở Lĩnh Nam).

Con chim hoang tức tối nhảy vào lồng để ác chiến với kẻ thù. Vừa nhảy vào, bẫy liền sập và người đánh cu nhào ra để bắt. Đó là trường hợp dễ. Nhưng thường thường, người đi đánh cu gặp trường hợp khó hơn nhiều vì con chim lãnh chúa đã mấy lần dợm nhảy nhưng rồi lại thôi. Nó là con chim khôn, nó bay đi. Chim mồi thượng im tiếng.

Có trường hợp con chim khôn ấy không bay đi mà lao xuống đất, nhìn chim mồi đất rồi đi vòng quanh ở ngoài triêng lưới đất. Nó khôn lắm, rất cảnh giác với những gì lạ quanh mình. Có trường hợp con chim lãnh chúa bay đi vì cảnh giác, nhưng khi nghe chim mồi lại cất tiếng gáy, vì tức tối nó lại bay về, hai con lại đấu gáy rồi chim hoang có lẽ tức tối quá, trong phút chốc mất hết cảnh giác, nó lao vào cửa lồng, chiếc bẫy sập và nó vùng vẫy cũng không thoát ra được.

“Muốn bắt được con chim hay, người đi đánh cu phải chịu khó, kiên nhẫn, có khi phải mất cả ngày mới có kết quả. Còn gặp những con chim tầm thường, không có gì đặc biệt thì với một lưới đất, một ngày có thể bắt được năm bảy con là chuyện dễ dàng…” – Ông Sâm hồ hởi cho biết thêm.

“Chim mãi gáy dồn. Chim cứ gáy
Chim nói điều chi với lửa đây
Mùa màng trắng đất còn chi nữa.
Tay nắm vào tay… chim có hay?”

Gần như trọn đời đi bẫy chim cu gáy nhưng ông không bao giờ bắt chim non và làm thịt nó. Khi bẫy được con mới, ông sẽ gây thành chim mồi và sẽ lại phóng sinh nó. Ông quan niệm của trời sẽ lại thả về cho nơi nó sinh ra như một quy luật của tự nhiên.

Minh Hiếu / Theo: vanhienplus

Monday, August 10, 2026

BIẾT RÕ KHÔNG HỎI LÀ TU DƯỠNG, NHÌN THẤU KHÔNG NÓI LÀ TRÍ TUỆ

Biết rõ không hỏi là tu dưỡng, nhìn thấu không nói là trí tuệ (ảnh: Pinterest)

Biết rõ cũng không cần phải hỏi, tránh để người khác rơi vào tình huống khó xử; việc dù nhìn thấu cũng không cần phải nói ra, im lặng để tránh tai họa.
 
Biết rõ không hỏi là tu dưỡng

Bạn không cần cái gì cũng phải nói ra để liễu giải người khác, hãy để lại cho họ một chút tôn nghiêm. Bạn có bao giờ như thế này chưa: Khi bạn biết ai đó sắp ly hôn, bạn phải hỏi cho rõ ràng, xem ai là người có lỗi trước? Khi thấy người khác mặc đồ hiệu, bạn cố ý hỏi cho bằng được xem người đó mua ở đâu, bao nhiêu tiền? Biết người khác đang rơi vào tình huống khó xử, nhưng bạn vẫn cứ thảo luận về họ trước mặt mọi người… Bạn có thể cho rằng mình như thế là thông minh, nhưng nó chỉ thể hiện là bạn thiếu tu dưỡng.

Trong cuộc sống, ai cũng có lúc gặp khó khăn, nếu bạn phải tìm ra sự thật của mọi thứ, bạn đang làm cho người khác trở nên tồi tệ hơn. Mỗi người đều có những vết thương của mình, tại sao cứ phải vội vã khám phá những vết sẹo của người khác? Để lại cho người khác một chút không gian, cũng là lưu lại cho họ một chút tôn trọng.

Có một nhà văn đã chia sẻ một câu chuyện như sau: Ở một trường trung học nọ, cha của một bạn nữ làm bảo vệ cho một ngân hàng. Do sự nhạy cảm và tự ti của tuổi mới lớn, bạn nữ sinh luôn nói dối khi được hỏi về nghề nghiệp của cha: “Cha mình là nhân viên giao dịch của ngân hàng”. Kỳ thực thì việc này ai cũng biết, nhưng trước giờ chưa từng tiết lộ ra.

Nữ sinh luôn nói dối về nghề nghiệp của cha mình (ảnh minh họa Pinterest)

Một lần nọ, mấy học sinh rủ nhau cùng đi ăn hàng. Cha của bạn nữ kia mặc đồ bảo vệ đi tới, bạn nữ lập tức xấu hổ, lúng túng không biết làm sao. Lúc này, có một bạn nữ khác đột nhiên nói: “Mình muốn đi siêu thị, chúng ta cùng đi nha?” Không chờ mọi người đồng ý, cô liền kéo mọi người đi hướng khác.

Bằng cách này, mọi người đã ngầm bảo vệ lòng tự tôn mong manh của cô bé trong 3 năm. Nhiều năm sau gặp lại, cô gái đã bước qua mặc cảm tuổi mới lớn, cô công khai đàm luận về nghề nghiệp của cha mình, đồng thời cảm tạ mọi người đã không tiết lộ chuyện của cô.

Có câu nói rằng: “Nói được là có năng lực, không nói là trí tuệ, nhưng trầm mặc đúng lúc lại khiến cho người khác cảm thấy dễ chịu hơn”. Khi người khác rơi vào tình huống khó xử, giữ im lặng chính là lòng tốt lớn nhất mà một người có thể làm.

Một nụ cười hiểu ý còn tốt hơn nhiều lần một câu hỏi không phù hợp. Có thể cẩn thận quan sát những khó khăn của người khác và âm thầm giúp đỡ, đó mới là một người thiện lương.

Nhìn thấu không nói là trí tuệ

Vào thời Tam Quốc, Dương Tu là một mưu sĩ của Tào Ngụy, phục vụ dưới trướng của Tào Tháo. Ông được đánh giá là người có tài, xuất thân danh giá, học rộng biết nhiều. Tuy nhiên ông lại là người không biết giữ mồm giữ miệng, thường xuyên tỏ ra thông minh, như “đi guốc trong bụng” Tào Tháo, cuối cùng là tự chuốc họa vào thân.

Trong “Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung có viết về những chuyện Dương Tu làm Tào Tháo bực mình. Ví như một lần nọ, Tào Tháo sai người xây dựng một vườn hoa. Khi công việc xong, Tào Tháo đến xem, không nhận xét gì, chỉ lấy bút viết lên cửa vườn một chữ Hoạt – 活.

Dương Tu trông thấy bèn nói thợ phá cái cửa đi và làm lại nhỏ hơn. Có người hỏi thì Dương Tu nói đó chính là ý của Tào Tháo, rồi chỉ ra rằng, chữ Hoạt – 活 mà Tào Tháo lại viết ở ngay cửa vườn (Môn – 門 – nghĩa là cửa) thì thành ra chữ Khoát – 闊; mà chữ Khoát nghĩa là rộng, vậy ở đây có thể hiểu là cửa rộng quá, nên cho phá đi làm lại. Tào Tháo biết được việc này thì ngoài mặt tỏ ra hài lòng, nhưng lại có phần không vui, vì bị Dương Tu đọc được suy nghĩ của mình.

Lại một lần khác, có người ở Tái Bắc biếu một hộp sữa, Tào Tháo viết 3 chữ “Nhất hợp tô” – 一合酥 (một hộp sữa) ở trên mặt hộp rồi bỏ ở trên bàn. Dương Tu trông thấy thế, liền lấy ngay thìa chia với mấy người cùng ăn. Tào Tháo hỏi sao lại dám ăn thì Dương Tu thưa rằng:

– Trên hộp rõ ràng đề rằng “Nhất nhân nhất khẩu tô” – 一人一口酥 (chữ Hợp – 合 chiết tự ra thành 人一口), nghĩa là mỗi người một thìa sữa, chúng tôi đâu dám trái lệnh thừa tướng!

Tào Tháo ngoài miệng thì cười nhưng trong bụng thì ghét lắm.

Dương Tu luôn đoán trúng được suy nghĩ của Tào Tháo (ảnh minh họa Danviet)

Nhìn thấu cũng không nhất định phải nói ra, đặc biệt là những người ở địa vị của Tào Tháo, rất muốn biết rõ thuộc hạ, nhưng lại không muốn thuộc hạ biết rõ mình. Dương Tu cứ thoải mái nói ra mà không suy xét, đúng là tự đào hố chôn mình.

Một lần đi đánh trận, quân Tào Tháo bị kẹt tại Tà Cốc, tiến thoái lưỡng nan, dùng dằng không quyết được. Đang ngồi buồn bực thì nhà bếp mang lên bát canh gà, Tào Tháo nhìn trong bát có miếng gân gà, nghĩ đến tình cảnh của mình mà thở dài.

Vừa hay lúc đó Hạ Hầu đôn bước vào xin khẩu lệnh ban đêm, Tào Tháo buột miệng nói: “Gân gà! Gân gà!”. Hạ Hầu Đôn thấy khẩu lệnh này lạ lùng quá bèn thắc mắc đem hỏi Dương Tu. Dương Tu cười lớn rồi bảo Hạ Hầu Đôn chuẩn bị gói ghém đồ đạc, kẻo nội trong 3 ngày nữa Tào Tháo sẽ hạ lệnh rút quân. Dương Tu giải thích rằng khẩu lệnh “gân gà” nói lên tâm trạng của Tào Tháo, vừa muốn rút quân, vừa không muốn bỏ, giống như gân gà, ăn thì không có thịt, bỏ đi thì thấy tiếc.

Quả nhiên sau đó Tào Tháo ra lệnh hồi kinh. Việc Dương Tu đoán được ý của chủ nhân cuối cùng cũng đến tai Tào Tháo, khiến Tào Tháo tức giận và muốn tìm cơ hội giết Dương Tu.

Năm Kiến An thứ 24 (năm 219), Dương Tu cùng Tào Thực say rượu đi qua Tư Mã môn, do quá say nên đã hạ nhục bộ hạ của Tào Chương. Việc này được trình lên, Tào Tháo mượn cớ Dương Tu tự cao tự đại, để lộ quân cơ mà ra lệnh xử tử Dương Tu.

Thế nên, có những điều dù biết rõ cũng không cần phải nói ra, để tránh bị ganh ghét đố kỵ. Có những việc nhìn thông suốt cũng không cần phải thể hiện, chừa cơ hội cho người khác. Nhân sinh phức tạp, lòng người khó đoán, chỉ có khiêm tốn mới tránh được tai họa.

Người trí tuệ biết điều gì nên nói điều gì không, giữ tâm thiện lương, luôn đứng ở vị trí của đối phương mà suy xét, như vậy mới không làm người khác bị tổn thương. “Họa từ miệng mà ra”, cần phải chú ý tu khẩu để giữ gìn phúc đức cho bản thân.

Chân Chân / Theo: nguyenuoc

"THA THỨ CHO NGƯỜI ĐƯỢC GÌ THÌ NÊN THA" CÂU TIẾP THEO LÀ GÌ?

“Tha thứ cho người được gì thì nên tha” là câu tục ngữ quen thuộc, còn có một vế sau ít người biết tưởng chừng đơn giản nhưng lại chất chứa đầy trí huệ đời người.

“Tha thứ cho người được gì thì nên tha" là một tấm lòng bao dung độ lượng; thì “Có thể buông tay hãy buông tay” là một loại dũng khí (ảnh: songdep.com).

Tục ngữ là sự đúc kết kinh nghiệm qua thời gian về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội của các bậc tiền nhân. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian”. Trí khôn đó rất phong phú, đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và có vần điệu. Những câu nói này giúp thế hệ sau ít phạm sai lầm trong cuộc sống và giúp mọi người sống vui vẻ có ích hơn.

“Tha thứ cho người được gì thì nên tha” là câu tục ngữ vô cùng quen thuộc trong văn hóa truyền thống của người Trung Hoa. Tục ngữ của người Việt cũng có những câu tương tự như: “Chín bỏ làm mười”; “Một điều nhịn, chín điều lành”… Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về nguồn gốc và ý nghĩa của câu nói này và cùng tìm hiểu vế sau của nó.

Tha thứ cho người được gì thì nên tha

Tha thứ cho người được gì thì nên tha

“Tây Khê tùng ngữ” của văn nhân Diêu Khoan thời Tống – Trung Quốc có ghi chép: Xưa kia từng có một đạo sĩ có thể chơi cờ, bất kể chơi cờ với ai, ông luôn “”Nhiêu nhân nhất tiên” nghĩa là “Tha cho người khác trước”, cũng có nghĩa để họ đi trước một bước và chiếm lợi thế đầu tiên trên bàn cờ. Chữ “饶” Nhiêu ngoài có nghĩa là tha thứ, tha lỗi, trong giới cờ vây thời cổ đại còn có nghĩa nhường cho đi trước, nhượng bộ. Vị đạo sĩ này từng làm một bài thơ:

“Lạn kha chân quyết diệu thông thần
Nhất cục tằng kinh kỉ độ xuân.
Tự xuất động lai vô địch thủ
Đắc nhiêu nhân xử thả nhiêu nhân”

Tạm dịch:

“Cờ vây chiến thuật diệu thông thần
Một ván đã qua mấy độ xuân.
Tự xuất động lai vô địch thủ
Chỗ bỏ qua được thì cho qua”.

Nhiêu nhân xử thả nhiêu nhân

“Lạn kha” là tên gọi khác của cờ vây. Vị đạo sĩ này sau đó đã qua đời tại huyện Bao Tín, thuộc tỉnh Hà Nam Trung Quốc ngày nay. Trước khi mất, ông ủy thác việc lo hậu sự cho một ông lão trong làng. Vài năm sau, ông lão tuân theo di chúc thực hiện cải táng mộ vị đạo sĩ. Lúc mở quan tài ra, ông phát hiện thấy điều kỳ diệu, quan tài trống rỗng và chỉ có quần áo bên trong.

Hóa ra đạo sĩ là một người tu luyện đắc đạo, ông đã dùng thuật “thi giải” để rời đi. Thuật “thi giải” chính là, người tu luyện thành công trong Đạo gia thường sẽ dùng quần áo, gậy tre hoặc thanh gươm biến thành xác chết nằm trong quan tài; còn người thật đã trở thành Thần Tiên và rời đi.

Từ đó về sau, câu chuyện về vị đạo sĩ và bài thơ của ông được lưu truyền. Dần dần câu thơ “nhiêu nhân xử thả nhiêu nhân” được tách ra và trở thành câu tục ngữ mang hàm ý khuyên nhủ con người ta nên bao dung, độ lượng, cảm thông và tha thứ cho những sai lầm của người khác.

Có thể buông tay hãy buông tay, học cách tha thứ

Có thể buông tay hãy buông tay (ảnh: facebook.com).

Câu tục ngữ “Tha thứ cho người được gì thì nên tha” còn một vế sau ít người biết đến; nhưng có thể khiến chúng ta suy ngẫm sâu xa, đó là “Có thể buông tay hãy buông tay”.

“Xả bỏ, xả đắc” – có thể xả bỏ thì mới có thể đắc được. Những thứ được càng nhiều thì những điều mất đi cũng càng nhiều. Khi chúng ta hết lòng dành toàn thời gian cho công việc, sẽ mất đi thời gian nghỉ ngơi; khi kiếm được đủ tiền bạc, cũng có thể mất đi những tháng năm hạnh phúc bên gia đình.

Đến lúc phải buông tay thì không nên luyến tiếc, cũng chưa chắc sẽ mất đi mãi mãi. Học cách mỉm cười trước nỗi đau; chào đón một tương lai tốt đẹp hơn chính là tinh túy của câu nói “Có thể buông tay được hãy buông tay”.

Khi chúng ta phải đối mặt với những vướng mắc về tình cảm; kết quả của sự cố chấp chỉ dẫn tới sự tổn thương cho một bên. Khi chúng ta đối mặt với công việc đang làm; nếu chúng ta không hài lòng hoặc không hạnh phúc, chúng ta cũng có thể thay đổi công việc hoặc nghỉ ngơi, học tập và làm lại.

Nếu “Tha thứ cho người được gì thì nên tha” là một tấm lòng bao dung độ lượng; thì “Có thể buông tay hãy buông tay” là một loại dũng khí, và là một loại “lùi một bước tiến ba bước” khi đối diện với nghịch cảnh hoặc những điều không như ý trên bước đường nhân sinh. Đây là một thái độ thay đổi tầm nhìn; thay đổi suy nghĩ mà mỗi người nên học cách noi theo.

Lời chia sẻ

Hai câu tục ngữ có nhiều hàm ý: Nên kết thiện duyên; cầm lên được thì cũng buông xuống được. Dùng tâm thái này để đối nhân xử thế thì mới có thể sống thoải mái hạnh phúc tại thế gian. Làm người hãy học cách luôn lưu lại cho mình một con đường lui; để sau nay gặp nhau không cảm thấy hối tiếc. Trên thế gian này, không có sự yêu và hận vô cớ; đều là từ nhân quả thiện ác do tự chúng ta gieo nên. Dùng thiện đối đãi với mọi người; đừng nên quá tính toán tới những lỗi lầm đã qua của người khác; học cách tha thứ cho bản thân và cho mọi người thì những gì nhận được sẽ là phúc lành.

Để đạt được cảnh giới này, cần có một thời gian tích lũy lâu dài. Khi gặp bất cứ sự việc gì; hãy học cách cân nhắc suy nghĩ một cách thấu đáo, nghĩ cho người khác và đặt mình ở vị trí người khác. Như vậy mới có thể giữ tâm thái bình thản; mới có thể nhanh chóng nhìn thấy được bản chất của sự việc là gì.

Những lời tâm huyết xuất phát từ đáy lòng của các bậc tiền nhân để lại cho thế hệ mai sau không chỉ là quy luật của cuộc sống; mà còn là cách đối nhân xử thế, mang lại lợi ích cho chúng ta đến ngày nay.

“Tha thứ cho người được nên tha; Có thể buông tay hãy buông tay”; câu nói tưởng chừng như đơn giản nhưng lại thực sự chất chứa đầy trí huệ đời người.

Thanh Mai / Theo: nguyenuoc

ĐỪNG BAO GIỜ NGHĨ RẰNG MÌNH THÔNG MINH HƠN NGƯỜI KHÁC

Một anh tài xế xe tải làm công việc thường ngày giao hàng cho một bệnh viện tâm thần, đang đậu xe bên cạnh một ống cống nước. Lúc chuẩn bị rời bệnh viện, anh nhận thấy có một bánh xe bị xì hơi. Anh kích chiếc xe tải lên và tháo bánh xe xì hơi để thay vào đó một bánh xe dự phòng.


Lúc sắp sửa gắn bánh xe mới vào, đột nhiên anh làm rơi cả bốn chiếc bù lon xuống ống cống nước. Anh không thể nào vớt những chiếc bù lon ra khỏi ống cống được, và bắt đầu hoảng lên vì không biết phải làm gì.

Ngay lúc đó, một bệnh nhân đi ngang qua và hỏi anh tài xế tại sao trông anh có vẻ hốt hoảng như vậy. Người tài xế tự nghĩ, “mình mà còn không làm được huống gì cái gã điên này, nên để gã ta đi cho khuất mắt”. Người tài xế xe tải nói sơ qua tình hình và đưa một cái nhìn thất vọng.

Người bệnh nhân cười anh tài xế và nói:

“Chỉ mỗi cái việc đơn giản như vậy mà anh còn không cách nào làm được. Không lạ gì anh sinh ra chỉ làm cái nghề tài xế xe tải để sống”.

Người tài xế lấy làm ngạc nhiên khi nghe lời nhận xét như vậy từ một gã tâm thần.
“Đây là cái anh có thể làm”, gã tâm thần nói.

“Tháo một cái bù lon từ mỗi trong ba bánh xe kia và gắn vô cái bánh xe này. Rồi lái xe xuống cửa tiệm gần nhất và thay những cái bù lon còn thiếu vô. Đơn giản quá phải không anh bạn?”


Người tài xế quá cảm kích với lối giải quyết nhanh chóng này liền hỏi người bệnh:
“Anh quá giỏi và thông minh như vậy sao lại có mặt ở cái bệnh viện tâm thần này nhỉ?”.

Người bệnh trả lời:

“Anh bạn ạ! Tôi ở đây bởi vì tôi khùng chứ không phải tôi ngu”.

Chẳng có gì ngạc nhiên, nhiều người ngày nay giữ quan niệm giống người tài xế, nghĩ rằng người khác toàn là kẻ ngu hơn mình một cái đầu.

Bởi vậy, các bạn ạ, mặc dầu chúng ta được học hành tử tế và thông minh, nhưng cứ nhìn xem, có thể nhiều gã quanh nhà và công sở có đầu óc có vẻ hơi “tưng tửng” một chút, vậy mà lại có thể chỉ cho chúng ta cách giải quyết vấn đề nhanh chóng. Bởi sự khôn ngoan đã bị cái tôi quá lớn của chúng ta đè bẹp dí.

Bruce Phan, theo TMG Corp

Sunday, August 9, 2026

BÀI CHÒI: NGHỆ THUẬT HỒN NHIÊN

Nghệ thuật dân gian nào mà chả hồn nhiên, vì nó đều được thể hiện và đồng sáng tạo bởi những nghệ nhân dân gian, những người nông dân hồn nhiên từ bản chất, ngày xưa chỉ quen ở bên trong lũy tre làng. Nhưng có lẽ trong nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, thì bài chòi và hô bài chòi là nghệ thuật hồn nhiên bậc nhất. Vì sao như vậy ?

Khung cảnh một Hội đánh bài chòi.

Bài chòi và hô bài chòi là một trò chơi, một trò chơi văn nghệ nhằm giúp gây hưng phấn, vui thú, giải tỏa cho cả người trực tiếp chơi lẫn người xem. Một trò chơi, thì trước hết nó phải mang những đặc tính của trò chơi, nghĩa là phải thật sự hồn nhiên, hài hước và vô vị lợi. Trò chơi bài chòi được tổ chức vào những ngày đầu Xuân nên lại càng phơi phới những tươi vui. Đó là trò chơi có thưởng, có dùng những quân bài, nhưng không phải là trò đánh bạc. Không có chuyện sát phạt, ăn thua nhau về tiền hay vật dụng thưởng qui ra tiền, mà ở đây, chơi là chính, vui là chính, thưởng thức nghệ thuật là chính, thông qua những điệu hô chòi trầm bổng, nhịp nhàng, du dương mà người lĩnh xướng có tên là anh hiệu thể hiện. Anh hiệu-nghệ sĩ ẩn danh-chính là nhân vật trung tâm của bài chòi. Đó là một nghệ sĩ dân gian diễn xướng những bài bản có sẵn lẫn những sáng tạo tức thời mang tính ngẫu hứng,những bài thơ ứng tác đậm dấu ấn cá nhân. Có thể nói, anh hiệu chính là một nhà thơ dân gian, một người ngày xưa ít nhiều có học trong làng, dù dở dang. Và nhất là có năng khiếu đặt vè, hát thơ, sáng tác và nhất là ứng tác rất linh hoạt những bài vè hay thơ lục bát, lục bát biến thể một cách trực tiếp, hài hước, tươi vui, nhuần nhị. Có thể ngày xưa mỗi tổng hay mỗi làng đều có những anh hiệu như thế, họ vừa là nghệ sĩ bình dân vừa là tinh hoa văn nghệ của làng. Tôi nghĩ, có thể họ cũng được miễn những công việc tạp dịch trong làng, nhất là những khi làng có việc. Vì việc lớn nhất của họ mỗi độ Xuân về là làm anh hiệu, là hô bài chòi, phục vụ dân làng và bá tánh. Thế cũng là đủ. Sự hồn nhiên của nghệ thuật bài chòi bắt đầu từ anh hiệu, còn sự hồn nhiên dí dỏm thông minh của anh hiệu lại bắt đầu từ nhân dân. Thế còn nghệ thuật bài chòi ở miền Trung Việt Nam, nó khởi lên từ hồi nào?

Nhà âm nhạc học người Pháp tên là G.L.Bouvier đã đến Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX để nghiên cứu về các thể loại âm nhạc ở nước ta, ông Bouvier cho rằng: “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm 1470 Nam tiến, người Việt ra sức khẩn hoang từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cho tới Bình Thuận, đặc biệt đã thành công trong việc xây dựng kinh tế, văn hóa và đời sống vùng châu thổ ở Bình Định và Phú Yên rất phì nhiêu. Trong số đó, có nhiều người từ nhiều địa phương có truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú và đa dạng, có điều kiện kết hợp nhanh chóng với nền văn hóa dân gian của địa phương, một số làn điệu dân ca, Hò, Lý, Hò chèo thuyền, Hò giã gạo, Hò đi cấy… còn giữ được bản sắc ban đầu, đồng thời phát triển, sáng tạo ra các làn điệu mới.” (Theo lời dẫn của nhạc sĩ La Nhiên trong “Quê hương điệu hát Bài Chòi, Sài Gòn” 1974. Dẫn lại theo nhà nghiên cứu Trần Hồng).

Đông đảo người dân và du khách thưởng thức nghệ thuật trình diễn Bài chòi.

Như thế, nghệ thuật bài chòi có lẽ thịnh nhất ngay từ thời Trấn quốc công Bùi Tá Hán (nửa đầu thế kỷ 16) lãnh đạo người Việt cùng người bản địa khai phá và canh tân miền Trung. Nó có thể theo chân những binh lính và lưu dân người Việt vào lập nghiệp ở miền này, nhưng đối tượng phục vụ của nó gồm cả người dân Việt và người dân Chàm. Đây có thể coi là một hình thức nghệ thuật diễn xướng đậm chất Việt, nhưng được thử thách và tồn tại ở ngay mảnh đất mà ban đầu, nghệ thuật của người Chàm giữ vị trí quan trọng. Lý do để nghệ thuật bài chòi có được chỗ đứng vững vàng trong sinh hoạt cộng đồng Việt-Chàm nằm ở ngay tính hồn nhiên và dân chủ của nó. Sức lan tỏa và thuyết phục của nó ở chỗ nó không phân biệt, nó bình đẳng với mọi người chơi và mọi người nghe. Tuồng hát bội ban đầu chỉ biểu diễn ở cung đình hay ở các nhà quan lớn, dành cho những đối tượng người xem chọn lọc. Về sau mới hướng về phục vụ cả dân chúng. Còn bài chòi, ngay từ đầu đối tượng phục vụ của nó đã là lính, là dân, là bất cứ ai ham thích trò chơi này, không phân biệt. Với cư dân nông nghiệp Việt Nam, mùa xuân là mùa lễ hội, mùa của sự thăng hoa và tinh thần dân chủ. Đó cũng là mùa của bài chòi. Ta thử nghe một đoạn bài chòi xem nhé:

“ Chỗ này là chỗ vui chơi
Có trống nẫu nhịp, có cây kèn nẫu thổi ò í e…
Có rượu rồi lại có chè
Cô cứ gác chân tréo ngoảy ngồi nghe hô bài(…)
Tôi bưng khay rượu nạm vàng
Chúc mừng năm mới an khang xóm làng…”

Cô gái “gác chân tréo ngoảy”, cái động tác ấy mới hồn nhiên và dân chủ làm sao! Và cũng dễ thương biết chừng nào! Ngay tên những con bài cũng đã nói lên tính bình dân và dân chủ rất rõ. Như câu hô thai (hô đố) Nhứt Nọc này:

“Tay cầm sào chống lái
Mắt liếc bãi lều tranh
Ở đây đưa rước bộ hành
Thuyền nan một chiếc tử sanh trọn bề
Trải qua bãi bạc gành nghê
Tứ mùa chèo chống đôi bề sóng xao
Thú vui ngang dọc một sào
Ngồi trong tịnh viện kẻ gào người kêu
Tiếng ai văng vẳng kêu đò

Mau mau nhổ nọc chèo qua rước người.”

Người nghe tinh ý biết ngay câu thai (đố) ấy ứng với con bài Nhứt Nọc. Đúng là đố vui có thưởng! Nhưng trên đường giải đố, người nghe đã được hưởng trọn vẹn một đoạn hô chòi rất hay, nó là tâm sự của một anh chèo đò, mà cũng là những câu thơ sinh động vẽ nên cảnh sông nước ngày xưa.

Nghệ thuật bài chòi trên đường hoàn thiện mình đã thu hút vào nó những làn điệu dân ca, những điệu lý có nguồn gốc từ âm nhạc Chàm. Nhưng tiêu chí để thu hút của nó vẫn là sự hồn nhiên. Trong bài chòi, cho đến nay còn giữ một số làn điệu dân ca có bản sắc ban đầu, như các điệu lý, điệu hò: lý con sáo, lý ngựa ô, lý quét nhà… hò chèo thuyền, hò cấy lúa, hò giã gạo…Toàn là những điệu lý điệu hò mộc mạc đúng như tên gọi của chúng.

Cùng với sự hồn nhiên, điểm thu hút đặc biệt của bài chòi là tính hài hước. Cái này là “độc quyền” của các anh hiệu. Những anh hiệu nào càng có những câu hô thai hài hước, thậm chí có những câu thơ ứng tác chọc cười có duyên nhất là những anh hiệu “ăn khách” nhất, được bà con hưởng ứng nhiều nhất, ủng hộ nhiều nhất. Và những câu hô thai ấy, dù không được ghi ra giấy, vẫn lưu lại lâu bền trong trí nhớ của những người dân chơi hay nghe bài chòi. Ở đây có thể coi bài chòi là một dòng văn học dân gian truyền miệng, một kiểu “trình diễn thơ” độc đáo mà bây giờ khó có nhà thơ “mô-đéc” nào theo kịp trong khả năng thu hút công chúng.

Hồn nhiên và hài hước, đó không chỉ là bí quyết trường thọ của bài chòi, mà còn là bí quyết trường thọ của văn học, của thơ ca. Sự tương tác với công chúng ở bài chòi đã đạt tới đỉnh cao, và nó tạo ra một từ trường đồng sáng tạo mà văn học nghệ thuật hiện đại luôn ao ước.

Mãi mãi, bài chòi thuộc về nhân dân.

Thanh Thảo / Theo: vanhienplus

ĐỪNG GHEN TỊ VỚI CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI KHÁC

(ảnh minh họa Pinterest)

Bạn ghen tị và ngưỡng mộ cuộc sống của người khác, nhưng có người lại đang hâm mộ cuộc sống của bạn, đừng tìm hạnh phúc ở đâu xa, nó đang ở ngay bên cạnh bạn.

Dường như những kỳ vọng tốt đẹp trong quá khứ đã bị thực tế làm phai mờ, chỉ để lại trong lòng đầy nỗi phiền lo. Kỳ thực, đời người mười việc thì tám, chín việc không như ý, khó ai có thể sống cả đời suôn sẻ; những rắc rối của chúng ta thường đến từ việc không ngừng so sánh và không biết đủ.

Nhìn vào hào quang của người khác, chúng ta luôn thấy bản thân mình thật ảm đạm, tăm tối; chúng ta ngưỡng mộ cuộc sống của người khác thuận buồm xuôi gió, còn bản thân mình thì vô vàn khó khăn. Chúng ta tán thưởng người ngoài, xoi mói chính mình, và luôn khiến cho bản thân không được hạnh phúc.

Cũng như nhà văn Fyodor Dostoyevsky nói: “Con người sở dĩ bất hạnh là vì anh ta không biết rằng mình hạnh phúc, thế thôi!” Vì vậy, hãy nghĩ thoáng một chút, phiền não sẽ ít đi; trong tâm biết đủ, hạnh phúc tự nhiên sẽ nhiều hơn.

Bạn ngưỡng mộ cuộc sống của người khác, nhưng có người lại đang ngưỡng mộ cuộc sống của bạn (ảnh minh họa Pinterest)

Bộ phim ngắn đoạt giải Oscar “The Neighbor’s Window” (tạm dịch: Khung cửa sổ nhà hàng xóm) kể về một câu chuyện như sau: Một cặp vợ chồng trung niên đã kết hôn được nhiều năm, họ từ sớm đã mất đi những cảm xúc dạt dào thuở ban đầu bởi vì những thứ vụn vặt của đời thường. Họ đã nhìn qua nhà hàng xóm từ ô cửa sổ nhà mình, cặp vợ chồng trẻ bên đó lúc nào cũng ân ái, ngọt ngào.

Nhìn sự hạnh phúc của hàng xóm, nghĩ lại cuộc sống với đủ thứ lo toan vụn vặt của mình, người vợ càng thêm tủi hờn.

Cho đến một ngày nọ, người vợ gặp được cô gái bên nhà hàng xóm, thì mới biết được chồng của cô mắc bệnh nan y, cho nên họ mới bỏ qua tất cả mọi thứ, hết mực yêu thương nhau trong những ngày ngắn ngủi còn lại.

Cô gái nghẹn ngào nói: “Chồng em bị bệnh nặng, em thường nhìn thấy anh chị và 3 đứa con vui vẻ hòa thuận, cùng nhau ăn cơm, cùng nhau vui đùa…”

Người vợ nghe xong vô cùng kinh ngạc, hóa ra những rắc rối mà cô vướng vào bấy lâu nay lại là niềm hạnh phúc mà người khác không thể có được.

(ảnh: IMDB)

Người vợ trở về nhà, nhìn thấy 3 đứa con khả ái và người chồng đang bận rộn với việc trong nhà, cuộc sống tuy bình thường nhưng hạnh phúc mỹ mãn, thật đúng là “ở trong hạnh phúc mà không biết đó là hạnh phúc”.

Cuộc sống là vậy, chúng ta thường đánh giá thấp ý nghĩa của sự bình thường, trong tâm cứ hướng về thứ gì đó ở nơi xa xăm, để rồi tự tìm phiền não cho mình. Chúng ta cứ mãi nhìn lên và ngưỡng mộ hạnh phúc của người khác, nhưng khi quay đầu lại thì chợt nhận ra, chúng ta lại đang được người khác ngưỡng mộ.

Cuộc đời ai cũng có buồn vui lẫn lộn, không có ai cả đời đều là hạnh phúc mà không có chút phiền não nào. Mỗi người đều ở một vị trí khác nhau, mưu cầu hạnh phúc cũng khác nhau, mỗi người đều có những lo lắng và buồn phiền riêng, và mỗi người đều có niềm vui và niềm hạnh phúc riêng.

Nhà văn Mạc Ngôn từng nói:

“Con người khi đến với thế giới này, sẽ luôn có rất nhiều điều không như ý, cũng sẽ có rất nhiều điều không công bằng; sẽ có rất nhiều mất mát, cũng sẽ có rất nhiều ước ao.

Bạn hâm mộ tự do của tôi, tôi hâm mộ sự ràng buộc của bạn; bạn ước ao xe của tôi, tôi thèm muốn căn nhà của bạn; bạn ngưỡng mộ công việc của tôi, tôi ghen tị vì bạn luôn có thời gian để nghỉ ngơi.”

Hãy trân trọng những thứ bản thân mình đang có (ảnh minh họa Pinterest)

Chúng ta hay nói tùy duyên, vậy tùy duyên là trạng thái như thế nào? Ít ra chúng ta cũng nên bằng lòng với những gì chúng ta đang có ở hiện tại, tin rằng đó là những thứ phù hợp nhất với chúng ta.

Con người trải qua nhiều chuyện, cuối cùng sẽ học được cách chấp nhận bản thân, học được cách mỉm cười để đối diện với cuộc sống, giữ nhịp điệu cho riêng mình, không cần phải hòa vào đám đông, đó mới là một cuộc đời đáng sống.

Thế gian vốn vô sự, là do con người tự tìm phiền não. Vậy nên, đã đi qua những năm tháng tươi xanh, phải hiểu được rằng ‘biết đủ thường vui’; đã gặp qua bao người với muôn hình muôn vẻ, phải học được cách trân trọng bản thân; sau khi ngắm cảnh phồn hoa, phải biết quý trọng những thứ mà mình đang có.

Hạnh phúc không cần điều kiện gì cả, lúc nào nó cũng có đầy đủ ở trong bạn, chỉ là bạn có muốn chấp nhận nó hay không.

Chân Chân / Theo: Zhihu

CÔ HÁI MƠ - NGUYỄN BÍNH


Cô hái mơ
thơ Nguyễn Bính

Thơ thẩn đường chiều một khách thơ,
Say nhìn xa rặng núi xanh lơ,
Khí trời lặng lẽ và trong trẻo,
Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ.

Hỡi cô con gái hái mơ già!
Cô chửa về ư? Đường thì xa,
Mà ánh trời hôm dần một tắt,
Hay cô ở lại về cùng ta?

Nhà ta ở dưới gốc cây dương,
Cách động Hương Sơn nửa dặm đường,
Có suối nước trong tuôn róc rách,
Có hoa bên suối ngát đưa hương.

Cô hái mơ ơi!
Chả giả lời nhau lấy một lời,
Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng,
Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi.

NGUYỄN BÍNH - 1937

Đây là bài thơ đầu tiên của Nguyễn Bính gửi đăng báo, trên Tiểu thuyết thứ năm. Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát cùng tên (năm 1942). Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm cũng đã phổ nhạc bài thơ này.

"Cô hái mơ" - Nhac: Phạm Duy - Ca sĩ: Duy Quang

Sơ lược tiểu sử tác giả:

Nguyễn Bính (13/2/1918 - 20/1/1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh tại làng Thiện Vinh, huyện Vụ Bảng, tỉnh Nam Định. Ông mồ côi mẹ từ nhỏ, tự học ở nhà, bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi, được giải khuyến khích thơ của nhóm Tự lực văn đoàn năm 1937 với tập thơ Tâm hồn tôi.

Ông tham gia kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, tập kết ra Bắc năm 1954, làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam, Ty văn hoá thông tin Nam Hà. Năm 1958, Nguyễn Bính làm chủ bút báo Trăm hoa. Nhiều tài liệu ghi ông mất ngày 20-1-1966 (tức ngày 29 Tết - không có ngày 30) tại Hà Nội. Tuy nhiên nhà văn Vũ Bão cho biết ông qua đời tại nhà riêng của một người bạn tên là Đỗ Văn Hứa, hiệu Tân Thanh, tại thôn Mạc Hạ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Nguồn: Thi Viện

"Cô hái mơ" - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Ca sĩ: Vũ Khanh


CUỘC ĐỜI U TỐI ÍT AI BIẾT CỦA NÀNG MONA LISA ĐỜI THẬT

Bức chân dung nàng Mona Lisa không chỉ là tác phẩm tiêu biểu cho cuộc đời danh họa Leonardo da Vinci mà còn là một tuyệt tác huyền thoại của lịch sử hội họa. Sau hàng trăm năm, nụ cười đầy mơ hồ trên môi nàng Mona Lisa vẫn được hậu thế bàn luận, phân tích. Thế nhưng, không phải ai cũng biết về cuộc đời thực tế bên ngoài bức họa của quý bà người Ý này.

Bức họa Mona Lisa. (Ảnh: I.T)

Cuộc hôn nhân u buồn

Người mẫu của bức tranh nàng Mona Lisa là Lisa Gherardini, sau đổi thành Lisa del Giocondo theo họ chồng. Bà sinh vào ngày 15/6/1479 ở Florence, Ý, là con cả trong một gia đình gốc quý tộc nhưng đã mất dần quyền lực lẫn sự giàu có.

Khi ấy, các thiếu nữ thường được gả đi sớm cho các người đàn ông lớn tuổi. Năm 1495, khi 16 tuổi, Lisa được gả cho Francesco del Giocondo – một thương gia giàu có 30 tuổi. Cô gái tuổi trăng tròn Lisa Gherardini nhờ cuộc hôn nhân này mà được nâng cao địa vị, bắt đầu cuộc sống của một phụ nữ tầng lớp thượng lưu nhưng gặp không ít sự kiện đau buồn.

Sau khi kết hôn, cô nhanh chóng mang thai và sinh được 6 người con trong vòng 10 năm. Trong số đó chỉ có 4 người con sống đến tuổi trưởng thành. Con gái thứ hai tên Piera của Lisa qua đời năm lên 2 tuổi còn một người con khác chết khi vừa lọt lòng.

Thông tin bê bối nhất trong gia đình của Lisa là về “sở thích” buôn bán, nuôi nô lệ của chồng cô. Suốt nhiều đời liền, gia đình Francesco có truyền thống làm công việc tội lỗi này. Trong cuốn Mona Lisa: The People and The Painting (tạm dịch: Nàng Mona Lisa: Những con người và Bức họa), 2 tác giả Martin Kemp và Giuseppe Pallanti miêu tả: “Kể từ khi còn nhỏ, Francesco đã sống cạnh với những nữ nô lệ do cha ông mua về, và sau khi người cha qua đời, trách nhiệm của ông là mua nô lệ mới. Thi thoảng ông lại mua về nhiều nô lệ hơn cần thiết”.

Các nhà lịch sử học cũng đưa ra thông tin rằng cuộc hôn nhân của Lisa và chồng không quá hạnh phúc. Tiêu biểu là sự kiện Lisa từng bị 2 người đàn ông quý tộc bạn của chồng mình gạ gẫm, tán tỉnh. Lisa đã ra sức từ chối họ. Còn về phía Francesco, thay vì nổi giận với 2 gã đàn ông có ý định chiếm đoạt vợ mình, ông lại lo sợ sự từ chối của Lisa ảnh hưởng xấu tới mối quan hệ với họ. Vì 2 người này rất có thế lực, sau lùm xùm, Francesco đã tìm đến nhà họ để khẳng định sự ủng hộ của mình và cam đoan rằng mối quan hệ giữa đôi bên vẫn thân thiện. Sự yếu đuối và hèn hạ của Francesco đã bị đối phương mỉa mai lại.

Tác giả Martin Kemp cũng miêu tả Lisa là một người phụ nữ bị chồng kiểm soát, như nhiều phụ nữ thời bấy giờ. Sự giàu có của chồng đã giữ chặt Lisa trong “một tủ quần áo và hàng đống quần áo ấn tượng”, mặc dù người xem không thể thấy điều này trong bức tranh về cô.

Mô hình 3D của nàng Lisa được bảo tàng Louvre tái dựng.

Mối duyên với Leonardo da Vinci và bức họa tuyệt tác

Người ta không rõ bằng cách nào họa sĩ Leonardo da Vinci liên hệ được với Lisa, nhưng giữa họ có một mối liên hệ là cha của ông Leonardo là luật sư và chồng của Lisa là một khách hàng của ông. Cũng có nhiều nghiên cứu cho thấy gia đình Lisa chính là hàng xóm sống cùng khu với cha của họa sĩ. Năm 1503, danh họa bắt đầu vẽ bức chân dung của người phụ nữ 24 tuổi sau này sẽ trở thành kiệt tác nổi tiếng nhất trong sự nghiệp của mình.

Danh họa Leonardo da Vinci.

Nhiều khả năng Francesco là người đã thuê Leonardo da Vinci – người lúc ấy vẫn là một họa sĩ không tiếng tăm vẽ chân dung cho vợ mình. Cũng như nhiều gia đình giàu có ở Florence, mỗi khi gia đình có sự kiện trọng đại, vợ chồng Lisa lại mời các họa sĩ tới vẽ chân dung kỷ niệm. Năm 1503 là khi Lisa đang mang thai đứa con thứ 3 của mình và mới chuyển đến nhà mới, gia đình đã mời Leonardo da Vinci tới để vẽ chân dung kỷ niệm.

Bức tranh Mona Lisa sau đó được vẽ trong suốt 16 năm, kể từ khi Lisa còn là một phu nhân trẻ cho đến khi bước vào tuổi trung niên. Và tác phẩm hội họa đỉnh cao này thực chất chưa bao giờ được hoàn thành, vì nó đã bị bỏ dở dang vào năm 1519, khi Da Vinci qua đời. Ông cũng không bao giờ trao bức tranh này cho khách hàng mà đã mang nó đến Pháp năm 1517.

Vào những năm tuổi già, Lisa đã sống trong tu viện. Bà qua đời ngày 14/7/1542, thọ 63 tuổi. Khi cả người vẽ lẫn người mẫu đều đã qua đời, bức chân dung Mona Lisa còn dang dở lúc ấy không có danh tiếng gì và không được ai biết đến. Mãi vài thế kỷ sau, nàng Lisa – một người phụ nữ quý tộc bình thường trong hàng triệu phụ nữ của thế kỷ 16 mới đột nhiên trở nên nổi tiếng.

Năm 1550, bằng cách nào đó mà bức chân dung của nàng Mona Lisa lại lọt vào trong bộ sưu tập tranh của Vua Francis I ở nước Pháp. Nó từng vài lần được trưng bày trong bảo tàng Louvre. Năm 1800, Napoleon tỏ vẻ rất thích bức họa này nên đã đem về treo trong phòng ngủ. Ông trả lại nó cho bảo tàng 4 năm sau đó.

Thời gian trôi qua, tiếng đồn về vẻ đẹp của bức tranh lan rộng và bí ẩn về nụ cười nàng Mona Lisa khiến người ta mãi thắc mắc, trầm tư. Nụ cười của nàng Mona Lisa đã khiến hàng triệu người trên thế giới bị mê hoặc nhưng vĩnh viễn sẽ không ai hiểu được bí mật đằng sau nụ cười đó là gì.

Bức tranh Mona Lisa hiện thuộc sở hữu của Chính phủ Pháp, được trưng bày tại bảo tàng Louvre

Ngày nay, nằm trong lớp kính chống đạn ở một vị trí trang trọng trên tường bảo tàng Louvre, Mona Lisa chính là bức tranh giá trị lớn nhất thế giới. Nụ cười bí hiểm của nàng đã thu hút hàng triệu du khách tới tham quan bảo tàng mỗi năm. Theo thống kê, có tới 80% du khách ghé thăm viện bảo tàng này hằng năm chỉ để được ngắm nụ cười của Mona Lisa.

Theo: doanhnghiep&tiepthi

NGHIÊN CỨU CHỈ RA: NGƯỜI HAY SĂM SOI LỖI CHÍNH TẢ CÓ VẤN ĐỀ VỀ TÍNH CÁCH

Nếu là một người thường xuyên khó chịu với lỗi chính tả của người khác, xin chia buồn, các nhà khoa học dường như đang có tin xấu dành cho bạn…


Trong một nghiên cứu của trường đại học Michigan, 83 người tham gia được yêu cầu đọc một email phản hồi cho quảng cáo tìm bạn ở ghép. Những email này có thể không chứa lỗi sai hoặc sửa để có những lỗi sai chính tả. Chẳng hạn như “mkae” thay vì “make”, “abuot” thay vì “about”. Hoặc lỗi ngữ pháp như “to/too,” “it’s/its,” hay “your/you’re”.

Cuối thí nghiệm, người tham gia được hỏi liệu họ có nhận ra lỗi chính tả hay ngữ pháp trong các mail trả lời không. Nếu người tham gia trả lời “Có”, họ sẽ chỉ ra các lỗi sai khiến họ khó chịu như thế nào. Tiếp đó, các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm ra mối liên kết giữa đặc tính nhạy cảm với lỗi sai chính tả với tính cách của người tham gia. Tình nguyện viên được yêu cầu hoàn thành bài trắc nghiệm tính cách Big Five (bài trắc nghiệm xác định mức độ của 5 loại tính cách: hướng ngoại, tận tâm, sẵn sàng trải nghiệm, dễ chịu, tâm lý bất ổn). Họ cũng được yêu cầu đoán xem người viết email là người như thế nào bằng cách đoán xem họ thông minh đến đâu, thân thiện ra sao với một thang điểm cho trước.

Kết quả nhận được cho thấy, những người khó chịu với các lỗi chính tả và ngữ pháp mà họ đọc được thường có tính cách “kém dễ chịu” hơn so với những người bỏ qua lỗi này. Những người như thế thường được đánh giá là ít cởi mở hơn, thường xuyên nhìn nhận về sai lầm của người khác tiêu cực hơn. Thêm vào đó, những người tính cách khó chịu thường nhạy cảm với lỗi ngữ pháp, trong khi những người ít cởi mở lại hay nhạy cảm với lỗi chính tả.

Mặc dù nghiên cứu chỉ được thực hiện với 83 người và không thể đại diện cho số đông, nhưng kết quả trên cũng đã phần nào phản ánh sự liên hệ giữa tính cách con người với sự diễn giải ngôn ngữ. Nếu bạn thường xuyên săm soi lỗi chính tả hoặc ngữ pháp, bạn có tránh khỏi thói quen phán xét những sai lầm khác của mọi người?


Tôi là một giáo viên, và theo như đánh giá của học sinh thì dù tôi là một người quá nghiêm khắc. Tôi thường xuyên trừ rất nhiều điểm mỗi khi các em mắc lỗi chính tả hoặc lỗi ngữ pháp. Thậm chí tôi còn không chấm bài nếu bài viết phạm quá nhiều lỗi. Các em đều cảm thấy rất áp lực và nặng nề khi đến giờ của tôi.

Tôi không nhận ra vấn đề đó. Tôi cho rằng việc nghiêm khắc và yêu cầu các em chỉnh từng lỗi nhỏ trong mỗi bài viết sẽ tốt hơn cho chúng. Điều đó sẽ rèn luyện đức tính cẩn thận và giúp chúng ghi nhớ tốt hơn để không tái phạm lỗi nữa. Tuy nhiên, phương pháp của tôi đã phản tác dụng. Các em không có sự tiến bộ nào đáng kể. Ngược lại, chúng còn tỏ ra chán nản và không muốn phối hợp.

Không chỉ vậy, trong nhiều năm liền, cuộc sống của tôi trở nên khá áp lực và căng thẳng. Tôi thường có cảm giác không hài lòng về cuộc sống, những người xung quanh và cả bản thân mình. Tôi luôn nhìn ra những khuyết điểm của người khác, thấy tiêu cực với cuộc sống. Đặc biệt, suy nghĩ “Tôi không đủ tốt” khiến tôi luôn có cảm giác nặng nề.

Thật may mắn, người bạn thân đã giới thiệu cho tôi một khóa thiền định. Tôi bắt đầu thực hành thiền mỗi ngày và sống theo những nguyên lý Phật gia. Tôi nhận ra, thói quen săm soi lỗi chính tả một cách thái quá của tôi xuất phát từ việc thường xuyên phán xét người khác. Đó là biểu hiện khi người ta không hài lòng và khó chịu với bản thân. Cuối cùng, họ đã đẩy những năng lượng xấu đó sang cho người khác một cách vô thức.

Tôi học cách “dễ dãi” hơn với những khuyết điểm của người khác và bản thân. Các bài viết sai chính tả của học sinh không còn khiến tôi khó chịu như trước nữa. Tôi có thể nhắc nhở các em về lỗi của chúng với một tâm trạng thoải mái và không cần trừ điểm. Chỉ trong một thời gian ngắn, các em đã có tiến bộ đáng kể, và cuộc sống của tôi cũng an nhiên hơn bội phần!

Hải Dương / Theo: ĐKN