Saturday, May 2, 2026

TẠI SAO TỀ BẠCH THẠCH CHỈ VẼ BỨC "MÔNG BÒ" LẠI BÁN VỚI GIÁ 40 TỶ ĐỒNG? CHUYÊN GIA: BẠN PHÓNG TO MÀ XEM

Một bông hoa có thể là một thế giới, dưới ngòi bút của họa sỹ thì mọi thứ trên thế gian sẽ thể hiện ra vô cùng hấp dẫn vượt qua sự bình thường.

Nguồn ảnh: soundofhope

Ở Trung Quốc có rất nhiều họa sỹ, trong số những họa sỹ cận đại, Tề Bạch Thạch là một nhân vật tiêu biểu. Họa sĩ họ Tề là họa sĩ bậc thầy trong giới hội họa cận đại, đồng thời là người Trung Quốc đầu tiên ghi danh vào câu lạc bộ các tác giả có tranh cán mức giá 100 triệu USD ($100 Million Club).

Đại sư đã qua đời, nhưng sức sống trong nghệ thuật của ông có thể là vĩnh cửu, những bức tranh của Tề Bạch Thạch luôn là phần cuối cùng của những phiên đấu giá, giá của một bức vẽ thường là mấy chục tỷ đồng, đặc biệt là những bức vẽ nổi tiếng dù có tiền cũng rất khó có cơ hội để mua.

Những bức vẽ của Tề Bạch Thạch chủ yếu dùng để ghi lại cuộc sống, ông quan sát từng chi tiết của cuộc sống để tạo nên một bức tranh đẹp, nổi tiếng nhất là bức tranh vẽ con tôm của ông. Ông có thể vẽ ra sự sinh động và thú vị của con tôm chỉ bằng một vài nét vẽ, có thể nói rằng kỹ năng hội họa của ông đã đạt đến đỉnh cao.

Bức tranh vẽ tôm của Tề Bạch Thạch. Nguồn ảnh: soundofhope

Tề Bạch Thạch đã từng vẽ một chiếc mông của một con bò đực và bán nó với giá hơn 30 tỷ đồng Việt Nam, “Mông bò” của Tề Bạch Thạch có giá cao ngất trời, nhiều người không hiểu tại sao nó lại có sức hút đến vậy, nhưng các họa sĩ trong giới hội họa đã được trải nghiệm một loại sắc thái tình cảm rất khác biệt khi xem bức vẽ này.

Bức tranh này tên là “liễu ngưu đồ” (柳牛图), đúng như tên gọi của nó, toàn bộ “liễu ngưu đồ” chỉ có cây liễu và con bò, dễ thấy nhất là cái mông của con bò, bên cạnh là những cây liễu đang đung đưa trong gió.

Và có một chấm đen nhỏ ở phía trên bên trái mông bò, lúc đầu các họa sĩ không biết chấm đen nhỏ này tượng trưng cho điều gì, nhưng khi mông bò được phóng to ra, họ mới chợt nhận ra. Hóa ra đốm đen nhỏ này chính là sừng bên trái của con bò, nhiều chuyên gia cho rằng bức tranh này có giá hàng mấy chục tỷ chỉ tính riêng chiếc sừng này.

Tề Bạch Thạch. Nguồn ảnh: soundofhope

Thời gian trước đó, Tề Bạch Thạch đã trải qua cuộc sống nhiều gian khổ, ông sinh ra trong một gia đình rất nghèo, thân hình ông gầy gò ốm yếu, năm ông 14 tuổi, gia đình xin cho ông học nghề thợ mộc, vì học nghề mộc nên anh ấy rất thích đục những con ấn, sau này ông lại học vẽ.

Hầu hết các bức vẽ của ông chủ yếu là động vật, nhưng những nét vẽ đơn giản của ông có thể thể hiện một cách sinh động biểu cảm của động vật. Nhiều họa sĩ vẽ bò bằng cách vẽ những cậu bé đang chăn bò hoặc vẽ bò từ góc nhìn bên cạnh, nhưng bức vẽ “Ngưu liễu” của Tề Bạch Thạch có thể nói là bức vẽ đầu tiên kể từ thời cổ đại đến nay chỉ vẽ “mông bò”.

Trong toàn bộ bức “Liễu ngưu đồ”, có thể thấy dưới ánh mặt trời lặn, một con bò đang hướng đầu đi về phía trước, nó đang đi đâu vậy? Tình trạng mịt mù, không rõ, con bò quay lưng lại với mọi người, mọi người chỉ có thể nhìn thấy thân hình tròn trịa và chiếc đuôi dài buông thõng của nó chứ không thể nhìn thấy toàn bộ phần đầu của nó.

Hơn nữa “liễu” trong từ “cây liễu” có phát âm giống từ “lưu”, ngụ ý là “ở lại”, có thể thấy Tề Bạch Thạch đang rất nhớ nhà. Khi nhìn vào bức tranh này, chúng ta cũng có thể cảm nhận được khung cảnh cuộc sống yên bình của những người làm nông nghiệp, có một cảm giác thư thái, thoải mái từ trong ra ngoài.

Toàn bộ bức tranh “Liễu ngưu đồ” của Tề Bạch Thạch. Nguồn ảnh: kknews

Chủ đề “Bò” trong những bức vẽ của Tề Bạch Thạch không nhiều, nhưng chỉ cần ông vẽ thì sẽ có sự đặc sắc rất “độc đáo”.

Bức vẽ này của ông khá khác biệt so với những bức vẽ trước, con bò của ông vẽ trong trạng thái ẩn, đòi hỏi người xem phải vận dụng trí tưởng tượng để tìm ra con bò, chính góc trên bên trái là nét hoàn thiện tạo nên bức tranh sống động như thật.

Đối với một họa sỹ bậc thầy như Tề Bạch Thạch, qua những bức vẽ của ông chúng ta có thể cảm nhận được một tâm trạng đặc biệt của ông đối với thế gian, những tác phẩm của ông quả là những tác phẩm để đời của một danh họa xuất thân nơi thiên nhiên đồng nội và sử dụng tài năng của mình để ca ngợi vẻ đẹp của tự nhiên.

Đúng là cảm nhận về cái đẹp không chỉ xuất phát từ cảm nhận ở bề mặt, mà còn từ suy nghĩ, tình cảm, nhận thức của con người, những bức tranh có cả hình thức và nội hàm mới là những tác phẩm đỉnh cao thực sự.

Đăng Dũng biên dịch
Nguồn: soundofhope (Lý Tĩnh Nhu)

NÚI THIÊN SƠN: HÀNH TRÌNH KHÁM PHÁ KỲ QUAN THIÊN NHIÊN TẠI TÂN CƯƠNG

Tọa lạc giữa lòng Tân Cương rộng lớn, Núi Thiên Sơn hiện lên như một bức tranh thủy mặc khổng lồ, nơi giao thoa giữa mây trời và hạ giới. Với vẻ đẹp kỳ vĩ của những đỉnh núi tuyết vĩnh cửu và thảm thực vật đa dạng, địa danh này đã trở thành điểm đến mơ ước của hàng triệu tín đồ du lịch. Hãy cùng Kim Lien Travel bắt đầu hành trình giải mã sức hút của "dãy núi thiên đường" này ngay sau đây.

Núi Thiên Sơn hiện lên như một bức tranh thủy mặc khổng lồ

Tổng quan về dãy Núi Thiên Sơn vĩ đại

Núi Thiên Sơn, trong ngôn ngữ bản địa mang ý nghĩa là "Núi Trời", giữ vị trí là một trong những hệ thống núi đồ sộ và quan trọng bậc nhất tại khu vực Trung Á. Trải dài hơn 2.500 km băng qua địa phận nhiều quốc gia, phần lớn diện tích đẹp nhất và hùng vĩ nhất của dãy núi này nằm trọn trong khu tự trị Tân Cương, Trung Quốc.

Sự hiện diện của Núi Thiên Sơn đóng vai trò như một ranh giới tự nhiên, chia tách vùng đất Tân Cương thành hai miền Bắc - Nam với những đặc trưng khí hậu đối lập. Nếu phía Bắc mang sắc thái ôn hòa với rừng cây rậm rạp, thì phía Nam lại ẩn chứa sự khắc nghiệt của những hoang mạc khô cằn. Dãy núi này đóng vai trò như một "nhà máy nước" khổng lồ, nơi những dòng băng tan từ đỉnh cao đổ xuống, nuôi dưỡng sự sống cho các ốc đảo và thảo nguyên phía dưới, tạo nên một hệ sinh thái vô cùng phong phú.

Tuyệt tác thiên nhiên giữa mây ngàn và tuyết trắng

Vẻ đẹp của Núi Thiên Sơn là sự kết tinh kỳ diệu từ những đỉnh cao vòi vọi, rừng thông xanh ngắt và những cánh đồng hoa dại rực rỡ. Những đỉnh núi quanh năm phủ tuyết trắng xóa vươn thẳng lên bầu trời xanh thẳm, tạo nên một cảnh tượng choáng ngợp cho bất kỳ ai lần đầu chiêm bái.

Vẻ đẹp của Núi Thiên Sơn là sự kết tinh kỳ diệu

Vào những sớm bình minh, khi ánh mặt trời vừa ló rạng, những tia nắng đầu tiên chiếu rọi xuống lớp băng tuyết khiến toàn bộ Núi Thiên Sơn như được dát một lớp vàng ròng lấp lánh. Dưới chân núi, những cánh rừng nguyên sinh xanh thẫm soi bóng xuống dòng suối trong vắt, tạo nên một không gian tĩnh lặng và thanh khiết. Khí hậu tại đây luôn duy trì sự mát mẻ, mang theo hương vị nồng nàn của nhựa thông và sự tươi mới của gió ngàn, giúp du khách rũ bỏ mọi mệt mỏi của đời thường.

Tầng sâu văn hóa và những huyền thoại cổ xưa

Bên cạnh giá trị về mặt cảnh quan, Núi Thiên Sơn còn được tôn sùng như một vùng đất linh thiêng trong tâm thức văn hóa Trung Hoa. Theo dòng chảy truyền thuyết, đây chính là nơi ngự trị của Tây Vương Mẫu, vị nữ thần quyền năng giữ chìa khóa của sự bất tử. Những câu chuyện về vườn đào tiên trên đỉnh núi cao đã biến nơi này thành biểu tượng của sự thoát tục và trường tồn.

Trong dòng lịch sử hào hùng của Con đường Tơ lụa, Núi Thiên Sơn từng là cung đường hiểm trở nhưng đầy mê hoặc mà các thương đoàn cổ đại phải chinh phục. Hình ảnh những đoàn lạc đà lầm lũi đi dưới chân núi tuyết đã trở thành một phần ký ức không thể tách rời của vùng đất này. Năm 2013, UNESCO đã chính thức công nhận Núi Thiên Sơn là Di sản Thiên nhiên Thế giới, khẳng định giá trị địa chất và văn hóa vô giá mà dãy núi này đang gìn giữ cho nhân loại.

Thời điểm lý tưởng để chiêm ngưỡng Núi Thiên Sơn

Việc lựa chọn thời gian khởi hành phù hợp sẽ giúp du khách tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp biến ảo của Núi Thiên Sơn qua từng mùa. Khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm được xem là mùa vàng để tham quan, khi tiết trời chuyển mình từ xuân sang thu, tạo nên những khung cảnh rực rỡ sắc màu.

Vào mùa hè, nhiệt độ tại Núi Thiên Sơn vô cùng dễ chịu, là thời điểm các thảo nguyên xanh mướt và những hồ nước băng tan đạt đến độ trong trẻo nhất. Ngược lại, nếu du khách là người yêu thích vẻ đẹp tĩnh lặng của mùa đông, thời điểm từ tháng 11 đến tháng 3 sẽ biến nơi đây thành một vương quốc tuyết trắng. Đây là lúc những ngôi nhà gỗ ven rừng chìm trong màn tuyết dày, tạo nên một không gian đậm chất cổ tích phương Tây giữa lòng châu Á.

Những điểm dừng chân không thể bỏ lỡ tại Núi Thiên Sơn

Hồ Thiên Trì – Viên ngọc bích giữa lưng chừng trời

Nằm ở độ cao gần 2.000 mét so với mực nước biển, Hồ Thiên Trì chính là điểm nhấn kiêu sa nhất của Núi Thiên Sơn. Mặt hồ phẳng lặng như một chiếc gương khổng lồ, phản chiếu trọn vẹn hình ảnh các đỉnh núi tuyết bao quanh. Nước hồ có màu xanh ngọc bích đặc trưng, thay đổi sắc độ theo cường độ ánh sáng trong ngày, mang đến cảm giác huyền ảo khó tả. Du khách có thể tản bộ trên những con đường gỗ ven hồ để hít thở bầu không khí trong lành hoặc ngồi thuyền du ngoạn giữa lòng hồ để cảm nhận sự vĩ đại của thiên nhiên.

Hồ Thiên Trì chính là điểm nhấn kiêu sa nhất của Núi Thiên Sơn

Thảo nguyên xanh và đời sống du mục bản địa

Bao quanh các sườn dải của Núi Thiên Sơn là những đồng cỏ mênh mông như những thảm lụa xanh trải dài vô tận. Đây là nơi sinh sống lâu đời của người Kazakh và người Uyghur với nét văn hóa du mục đặc sắc. Hình ảnh những đàn ngựa thong dong gặm cỏ bên cạnh những túp lều yurt trắng tinh khôi tạo nên một bức tranh thanh bình đến lạ kỳ. Sự mộc mạc trong đời sống của người dân bản địa kết hợp cùng cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ tạo nên một sức hút khó cưỡng đối với những ai muốn tìm kiếm sự an yên.

Những đồng cỏ mênh mông như những thảm lụa xanh trải dài vô tận

Khu bảo tồn thiên nhiên và hệ sinh thái quý hiếm

Khu bảo tồn thiên nhiên thuộc hệ thống Núi Thiên Sơn là nơi trú ngụ của nhiều loài sinh vật quý hiếm nằm trong sách đỏ. Địa hình hiểm trở với những vách đá dựng đứng và thung lũng sâu thẳm là ngôi nhà lý tưởng của báo tuyết, gấu nâu và loài đại bàng vàng dũng mãnh. Đây còn là trung tâm nghiên cứu đa dạng sinh học quan trọng, giúp duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái núi cao đặc trưng tại khu vực Tân Cương.

Khung cảnh thiên nhiên Núi Thiên Sơn

Những hoạt động trải nghiệm đặc sắc tại Núi Thiên Sơn

Chinh phục những cung đường trekking xuyên rừng

Đối với những tín đồ đam mê vận động, Núi Thiên Sơn mang đến những tuyến đi bộ đường dài đầy thử thách nhưng cũng rất đỗi thi vị. Hành trình xuyên qua những cánh rừng linh sam cổ thụ, vượt qua những dòng suối nhỏ róc rách sẽ đưa du khách đến gần hơn với trái tim của núi rừng. Cảm giác đứng trên một mỏm đá cao, phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh dãy núi nhấp nhô giữa làn mây mờ ảo là một phần thưởng xứng đáng cho mọi nỗ lực.

Cảm giác đứng trên một mỏm đá cao, phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh

Trải nghiệm văn hóa cưỡi ngựa và ẩm thực vùng cao

Cưỡi ngựa trên những thảo nguyên rộng lớn dưới chân Núi Thiên Sơn là một hoạt động không thể bỏ qua. Du khách sẽ được hòa mình vào nhịp sống phóng khoáng của những "đứa con của gió", cảm nhận sự tự do tuyệt đối giữa không gian bao la. Sau những giờ phút khám phá, việc thưởng thức chén trà sữa mặn ấm nóng, miếng bánh mì nướng thơm lừng hay món thịt cừu nướng đặc trưng của vùng Tân Cương sẽ khiến chuyến đi trở nên trọn vẹn hơn bao giờ hết.

Hoạt động thể thao mùa đông sôi động

Khi tuyết phủ trắng xóa các sườn núi, Núi Thiên Sơn biến thành một sân chơi thể thao mùa đông đẳng cấp. Những khu resort trượt tuyết hiện đại sẵn sàng phục vụ du khách với các dịch vụ trượt ván, đi xe mô tô tuyết hay đơn giản là nặn những chú người tuyết ngộ nghĩnh. Vẻ đẹp tinh khôi của tuyết trắng hòa cùng ánh nắng vàng hanh hao của mùa đông tạo nên những khoảnh khắc check-in vô cùng ấn tượng.

Vẻ đẹp tinh khôi của tuyết trắng hòa cùng ánh nắng vàng hanh hao của mùa đông

Núi Thiên Sơn không chỉ đơn thuần là một danh thắng, mà còn là biểu tượng cho sức mạnh và vẻ đẹp vĩnh cửu của tạo hóa. Mỗi bước chân khám phá nơi đây đều mang lại những cảm xúc mới mẻ, giúp con người tìm thấy sự giao thoa hài hòa giữa tâm hồn và thế giới tự nhiên vĩ đại.

Theo: kimlientravel



Friday, May 1, 2026

ĐÁM CƯỚI XA HOA CỦA CON TRAI TỶ PHÚ BẠCH THÁI BƯỞI: RƯỚC DÂU BẰNG MÁY BAY, NGƯỜI DÂN ĐẾN ĂN CỖ MIỄN PHÍ

Đám cưới này dùng máy bay đón dâu về đến Hải Phòng, xe ô tô diễu quanh phố phường, trống rong cờ mở rất hoành tráng. Được biết, doanh nhân Bạch Thái Bưởi là người đầu tiên có xe hơi ở miền Bắc.

Doanh nhân Bạch Thái Bưởi

Đám cưới xa hoa của con trai tỷ phú Bạch Thái Bưởi: Rước dâu bằng máy bay, người dân đến ăn cỗ miễn phí

Trong lịch sử giới doanh nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX, Bạch Thái Bưởi được xem là một trong những biểu tượng giàu có và có tầm ảnh hưởng lớn. Từ xuất thân nghèo khó, ông vươn lên xây dựng đế chế vận tải thủy hùng mạnh, sở hữu hàng chục con tàu cùng mạng lưới kinh doanh trải rộng khắp khu vực. Nền tảng tài chính vững mạnh này cũng là cơ sở để ông tổ chức một đám cưới quy mô lớn cho con trai vào năm 1922, gây chú ý rộng rãi trong xã hội đương thời.

“Nhất Sĩ, Nhì Phương, Tam Xương, Tứ Bưởi” là câu nói truyền miệng để chỉ 4 người giàu có bậc nhất đất Việt đầu thế kỷ XX. Trong đó, Bạch Thái Bưởi là trường hợp đặc biệt khi xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo tại làng An Phúc (Thanh Trì, Hà Đông cũ, nay thuộc Hà Nội).

Đại gia Việt duy nhất được mệnh danh là "vua tàu thủy miền Bắc" - Doanh nhân Bạch Thái Bưởi.

Ông sớm trải qua biến cố gia đình khi cha mất sớm, mẹ mưu sinh bằng nghề bán hàng rong. Việc học dang dở, ông phải lao động từ nhỏ để phụ giúp gia đình. Bước ngoặt đến khi ông được nhận vào làm việc trong môi trường kinh doanh của người Pháp tại phố Tràng Tiền, từ đó tích lũy kinh nghiệm về thương mại, tổ chức sản xuất và quản lý.

Từ năm 1894, khi làm việc tại một xưởng thuộc hãng thầu công chính, ông có cơ hội tiếp cận máy móc và phương thức tổ chức sản xuất. Năm 1895, ông được lựa chọn tham gia giới thiệu sản phẩm Việt Nam tại Hội chợ Bordeaux (Pháp). Trở về nước, cơ hội lớn đầu tiên đến khi chính quyền thuộc địa xây dựng tuyến đường sắt xuyên Đông Dương và cầu Doumer bắc qua sông Hồng (nay là cầu Long Biên). Nhận thấy nhu cầu lớn về vật liệu gỗ cho đường sắt, Bạch Thái Bưởi liên doanh với một người Pháp để cung cấp tà vẹt gỗ cho Sở Hỏa xa Đông Dương.

Trong suốt 3 năm, ông lặn lội khắp các vùng rừng núi để tìm nguồn gỗ đạt tiêu chuẩn. Khi cầu Doumer hoàn thành năm 1902, hợp đồng này đã giúp ông tích lũy được nguồn vốn lớn. Sau đó, ông tiếp tục mở rộng hoạt động sang nhiều lĩnh vực như mở hiệu cầm đồ ở Nam Định, thầu thuế chợ tại Nam Định, Thanh Hóa và Vinh. Tuy nhiên việc kinh doanh này gặp thua lỗ. Không dừng lại, ông sử dụng số vốn còn lại để đấu thầu một hiệu cầm đồ của người Hoa tại Nam Định và giành được quyền kinh doanh.

Tại Cửa Cấm (Hải Phòng), công ty của Bạch Thái Bưởi hạ thủy tàu Bình Chuẩn - con tàu được thiết kế và thi công hoàn toàn bởi người Việt. Ảnh: Internet

Bước ngoặt lớn diễn ra từ năm 1909 khi ông chuyển sang lĩnh vực vận tải đường sông. Khởi đầu bằng việc thuê lại 3 chiếc tàu của hãng Pháp, ông từng bước mở rộng, mua lại tàu của các doanh nghiệp phá sản và xây dựng đội tàu riêng. Đến năm 1916, ông thành lập công ty hàng hải. Cuối thập niên 1920, doanh nghiệp này đã sở hữu hơn 40 tàu và sà lan, với khoảng 2.500 lao động, hoạt động trên nhiều tuyến trong nước và quốc tế, vươn tới Hong Kong, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore và Philippines. Song song với vận tải, ông đầu tư vào khai thác than và bất động sản tại Đồ Sơn (Hải Phòng). Chính vì vậy, ông được mệnh danh là “Vua tàu thủy miền Bắc”.

Trong số nhiều người con của Bạch Thái Bưởi, 2 cái tên được ông dành sự quan tâm lớn là Bạch Thái Toàn và Bạch Thái Tòng. Khi Bạch Thái Toàn sang Pháp học tập, kết hôn với người phương Tây và định cư ở nước ngoài, vai trò kề cận trong gia đình và công việc dần tập trung vào Bạch Thái Tòng. Người con trai này được giao tham gia điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh và trở thành người kế thừa khối tài sản của gia đình.

Bạch Thái Tòng.

Việc chuẩn bị hôn sự cho Bạch Thái Tòng vì thế được tổ chức với mức độ đầu tư lớn. Đám cưới không chỉ thu hút sự chú ý của báo chí Đông Dương mà còn được các hãng thông tấn Pháp nhắc tới như một sự kiện tiêu biểu trong giới thượng lưu bản xứ thời bấy giờ. Chính Bạch Thái Bưởi là người trực tiếp lựa chọn con dâu.

Cô dâu là Nguyễn Thị Tám - con gái quan huyện Nghi (cụ Cửu Nghi) tại phủ Thường Tín, Hà Đông cũ, nay thuộc khu vực Thanh Trì, Hà Nội. Gia đình bà Tám có vị thế xã hội và nền tảng kinh tế vững chắc, với hoạt động buôn bán vải vóc quy mô lớn từ Bắc vào Nam.

Ông Bạch Thái Tòng và bà Nguyễn Thị Tám. Ảnh: Internet

Bà Nguyễn Thị Tám là người con gái có vẻ đẹp đài các, được ví là "chim sa cá lặn" với làn da trắng sứ, dáng người mảnh dẻ, cao sang, mái tóc suôn mềm đen nhánh. Tính tình lại vô cùng đoan trang, hiền thục. Bà giỏi thêu thùa, đan lát và nấu ăn. Ở bà hội tụ đầy đủ các yếu tố "công, dung, ngôn, hạnh" của người phụ nữ đương thời. Từ nhỏ bà Tám được quan huyện Nghi rất yêu chiều, mời cả thầy đồ về dạy chữ quốc ngữ và tiếng Pháp. Bà Tám vốn nổi tiếng là thông minh, nên học hành rất giỏi giang. Nhiều gia đình giàu có từng tìm cách kết thông gia nhưng đều không đạt được thỏa thuận. Chỉ đến khi phía gia đình họ Bạch chủ động dạm hỏi, quan huyện Nghi mới đồng ý. Cuộc hôn nhân giữa hai gia đình được nhìn nhận là sự tương xứng về địa vị và tiềm lực.

Hôn lễ của Bạch Thái Tòng và Nguyễn Thị Tám chính thức diễn ra ngày 11 tháng Giêng năm 1922, kéo dài trong 3 ngày với lượng khách tham dự đông đảo. Khi ấy, Bạch Thái Bưởi đã có một quyết định táo bạo, dùng máy bay riêng rước dâu từ Hà Nội về Hải Phòng. Trên đường đi, máy bay bay chậm và rải các tấm thiệp mời, người dân ai bắt được tấm thiệp này thì được đến dự đám cưới và ăn cỗ miễn phí, thậm chí còn được Bạch Thái Bưởi cho tiền mang về.

Máy bay đón dâu về đến Hải Phòng, xe ô tô diễu quanh phố phường, trống rong cờ mở rất hoành tráng. Được biết, Bạch Thái Bưởi là người đầu tiên có xe hơi ở miền Bắc. Trong ngày cưới, cô dâu mặc áo dài bằng gấm đỏ, đầu đội mấn, chân mang hài. Cả bộ trang phục được dùng sợi chỉ bằng vàng thêu hình rồng phượng rất tinh xảo.

Đám cưới ông Bạch Thái Tòng và bà Nguyễn Thị Tám con doanh nhân Bạch Thái Bưởi. Bà Tám ngồi thứ 2 từ phải sang. Ảnh: Internet

Sính lễ trong đám cưới của ông Tòng bà Tám nhiều vô kể. Lễ ăn hỏi có hơn 20 tráp, chưa kể lễ “đen” (tiền mặt đưa cho nhà gái) và vàng bạc, phải huy động nhiều người bê thành hàng dài.

Một số người cao tuổi ở Hải Phòng vẫn thường đùa rằng, có lẽ xuất phát từ giai thoại này mà hiện nay một lễ ăn hỏi của người Hải Phòng thường rất lớn. Trung bình từ 9 tráp cho đến 21 tráp tùy theo mức độ kinh tế của mỗi gia đình.

T. San / Theo: Theo: Thời Trang Vàng

ĐIỆP LUYẾN HOA - ÁN THÙ


Điệp luyến hoa - Án Thù

Hạm cúc sầu yên lan khấp lộ,
La mạc khinh hàn,
Yến tử song phi khứ.
Minh nguyệt bất am ly hận khổ,
Tà quang đáo hiểu xuyên chu hộ.

Tạc dạ tây phong điêu bích thụ,
Độc thướng cao lâu,
Vọng tận thiên nhai lộ.
Dục ký thái tiên kiêm xích tố,
Sơn trường thuỷ khoát tri hà xứ?


蝶戀花 - 晏殊

檻菊愁煙蘭泣露,
羅幕輕寒,
燕子雙飛去。
明月不諳離恨苦,
斜光到曉穿朱戶。

昨夜西風雕碧樹,
獨上高樓,
望盡天涯路。
欲寄彩箋兼尺素,
山長水闊知何處。


Điệp luyến hoa
(Dịch thơ: Nguyễn Xuân Tảo)

Lan khóc sương, cúc buồn khói đọng,
Lạnh thấm màn là,
Cặp én bay đi thẳng.
Dì nguyệt hiểu gì người chiếc bóng,
Thâu canh ánh sáng xiên song trống.

Đêm qua gió tây, cây biếc rụng,
Lần bước lên lầu,
Nẻo chân trờ xa ngóng.
Tấc lụa, tờ hoa mong đến chóng,
Nào biết nơi đâu, núi sông rộng.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Án Thù 晏殊 (991-1055) tự Đồng Thúc, người huyện Lâm Xuyên (nay thuộc tỉnh Giang Tây), 7 tuổi đã làm văn, về sau làm quan tới Tể tướng. Từ của ông có phong vị xảo diệu, nùng diễm mà đối thê lương uyển chuyển, phong cách rất cao. Ông có vặp tập 240 quyển, song ông nổi tiếng trên văn học sử lại là tập Chân ngọc từ.

Nguồn: Thi Viện



SỰ THẬT THÚ VỊ VỀ HOÀNG ĐẾ CÀN LONG

Trải qua hai triều đại dốc sức vì nước, Hoàng đế Khang Hy và Ung Chính, nhà Thanh đến thời đại Càn Long đại diện cho đỉnh cao về kinh tế chính trị.

Nguồn ảnh: aboluowang

Cuộc sống của Càn Long có rất nhiều giai thoại thú vị được lưu truyền trong dân gian.

Càn Long thích ăn vịt

Các Hoàng đế nhà Thanh rất thích ăn thịt vịt, thịt vịt luôn có trong mỗi bữa ăn của hoàng gia. Vào năm Càn Long thứ 53 (1788), vào ngày mồng 7 tháng 7 là “Tiết Thất Sảo”, bữa sáng của Càn Long bao gồm vịt hầm rượu, vịt hầm canh và vịt hấp. Càn Long thích ăn nhất là món “Vịt rau khô”. Theo lời kể của người phụ trách một quán ăn lớn, khi Càn Long đi đến nam sông Dương Tử, nghe nói vịt ở thủy trấn rất ngon nên muốn thử món mới. Thời gian bữa trưa đã cận kề, phải vội vàng đi nấu cơm, đầu bếp còn nhổ lông vịt chưa sạch, lo lắng Càn Long sẽ trách tội, làm sao bây giờ?

Người đầu bếp cũng giở trò, ông rắc rau đen khô vào chảo cùng với con vịt để che bớt lông vịt. Ai ngờ Càn Long vốn đã quen với hương vị trong cung, đổi khẩu vị lại cảm thấy lạ miệng, nên cứ khen ngon. Bởi vì Hoàng đế khen ngon và ông vô cùng thích nó, vậy là một món ăn nổi tiếng đã ra đời. Truyền thuyết này có thể không đáng tin lắm, có lẽ là do quán ăn nghĩ ra, nhưng việc Càn Long thích ăn thịt vịt là có thật.

Càn Long thích thưởng trà

Càn Long đi về phía nam sông Dương Tử, ngang qua núi Thạch Phong ở Long Tỉnh, Hàng Châu, ung dung học hái lá trà, khi nhận được tin báo khẩn cấp rằng Thái hậu bị ốm, liền lập tức mang theo lá chè rồi đi về, thái hậu bị đau bụng, nhưng sau khi uống trà Long Tỉnh thì thân thể trở nên khỏe mạnh, sau đó mười tám cây trà ở Long Tỉnh được phong là trà cung đình, trà ở đây được hái hàng năm để dâng lên Hoàng thái hậu. Cho đến nay, vẫn còn 18 cây trà Hoàng gia được bảo tồn tại Long Tỉnh. Trà Long Tỉnh bắt đầu nổi tiếng từ đó và cho đến hiện nay.

Nguồn ảnh: aboluowang

Càn Long đi đến phía nam sông Dương Tử, thưởng thức một loại trà bên cạnh Thái Hồ, không chỉ có mùi thơm dễ chịu của trà mà hương trà còn kèm theo hương thơm trái cây, từ đó danh tiếng trà “Bích loa xuân” (碧螺春) đã vang danh khắp thiên hạ.

Khi đến huyện Sùng An, tỉnh Phúc Kiến, sau khi nếm thử trà ô long “Đại hồng bào“ (大红袍), Hoàng đế Càn Long ban đầu cho rằng tên gọi của nó không đứng đắn, sau khi biết nguồn gốc của nó, ông đã vui vẻ ghi một tấm biển cho nó. Sau khi nếm thử trà ô long ở An Khê, Phúc Kiến, nó đã được đặt tên theo tước vị Hoàng gia. Kể từ đó, trà An Khê trở nên nổi tiếng. Những loại trà mà Càn Long xưa kia thích uống nay vẫn vang danh khắp nơi.

Nguồn ảnh: aboluowang

Câu đối của Càn Long

Hoàng đế Càn Long, Kỷ Hiểu Lam và Hòa Thân đi tham quan trong khu vườn hoàng gia. Gió thổi đến, hoa lá đung đưa, Càn Long tâm tình tốt nên muốn thử thách Kỷ Hiểu Lam và Hòa Thân.

“Hai vị ái khanh, trẫm ra một vế trên, các ngươi đối một vế dưới, có được hay không?”

“Câu đối đầu tiên của ta là – ‘Bạch xà quá giang, đỉnh đầu một vòng mặt trời đỏ’ 
(白蛇过江, 头顶一轮红日).

Hòa thân vừa nghe, cảm thấy rất đau đầu, bởi vì ông căn bản không biết rõ vế trên rốt cuộc là có ý gì, không thể làm gì khác hơn là ngơ ngác đứng đó, trán của ông mồ hôi chảy xuống không ngừng. Kỷ Hiểu Lam lúc bắt đầu cũng hơi hoảng sợ, chính xác thì câu đối này nói về cái gì? Nhưng sau khi suy nghĩ một lúc, ông đã hiểu ý của Càn Long.

Kỷ Hiểu Lam quay mặt nhìn Hòa Thân lúc này mặt còn đỏ bừng bừng, nhìn cảnh này thiếu chút nữa ông bật cười thành tiếng: “Bệ hạ, thần nghĩ ra câu đối thứ hai— “Thanh long treo bích, người khoác vạn điểm ngân tinh” (青龙挂壁, 身披万点银星).

“Tốt, tốt, tốt! Tuyệt vời, tuyệt vời, tuyệt vời!” Càn Long không thể không vỗ tay sau khi nghe câu đối thứ hai của Kỷ Hiểu Lam. Nhưng Hòa Thân lại hoàn toàn mê muội, không biết mọi người đang nói cái gì. Hòa Thân suy nghĩ hồi lâu vẫn không nghĩ ra, một lúc sau mồ hôi đầm đìa. Nhìn thấy sự Hòa Thân, Càn Long cảm thấy rất buồn cười nên hỏi ông: “Hòa Thân, câu đối này ám chỉ điều gì?”

Nguồn ảnh: aboluowang

Hòa Thân nói: “Nô tài thật ngu ngốc, ta thật đoán không ra”.

“Ha ha ha. Không sao, ta nói cho ngươi biết – câu đối phía trên của ta viết ‘bấc đèn dầu’, Kỷ Hiểu Lam câu thứ hai viết về “cái cân’.”

Hoàng đế Càn Long một lần ăn mặc như thường dân đến phía nam sông Dương Tử vi hành. Khi đi ngang qua một ngôi làng, Hoàng đế Càn Long thấy một gia đình nông dân đang tổ chức đám cưới nên nảy ra ý tưởng, viết một câu đối và đưa cho người hầu cận ba đồng tiền, yêu cầu ông gửi tiền và câu đối để làm quà mừng. Chủ nhà xem đôi câu đối, câu đối viết: “Ba đồng tiền làm quà cưới, nhỏ quá thì không nhận, nhận thì yêu tiền” (三个铜钱贺礼, 嫌少勿收, 收则爱财).

Nguồn ảnh: aboluowang

Nay chủ nhà rất khó nghĩ, nhận cũng không được, mà không nhận cũng không được. Đang lúc lo lắng thì cậu con trai mười tuổi của chủ nhà đến tìm cha. Sau khi xem câu đối, người con út thưa với cha: “Việc này dễ thôi, để con viết câu đối trả lời”. Không ngờ, chỉ trong nháy mắt, người con út đã viết ngay câu đối thứ hai – “Hai túp lều tranh tiếp khách, sợ nghèo thì không đến, ai đến thì ăn ngon” (两间茅屋待客, 怕穷莫来, 来者好吃).

Theo cách này, Hoàng đế Càn Long cảm thấy khó xử, ở lại cũng không được, đi cũng không được.

Đăng Dũng biên dịch
Nguồn: aboluowang (Lý Quảng Tùng)

Thursday, April 30, 2026

LÀM GIÀU


Cổ học tinh hoa:
LÀM GIÀU
 
Đời nhà Chu, có người họ Doãn chỉ chăm làm giàu. Tôi tớ trong nhà khó nhọc, vất vả, thức khuya dậy sớm. Có một tên đầy tớ tuổi già, sức yếu, nhưng phải làm nhiều, ban ngày tối mắt không kịp thở, ban đêm mệt lử ngủ say, tinh thần tán loạn. Nhưng đêm nào, cũng mơ màng được làm vua một nước, đứng đầu cả muôn dân, cầm quyền chủ mọi việc, ở gác tía, lầu son, ăn của ngon vật lạ, muốn gì được nấy, vui vẻ sung sướng thực không ai bằng. Sáng bừng mắt dậy, thì vẫn hoàn là tên đầy tớ già, làm không kịp thở...

Có người thấy lão ta vất vả khó nhọc, lấy lời an ủi.
 
Lão ta nói rằng: “Đời người trăm năm, có ngày, có đêm. Ban ngày, ta chỉ là một tên đầy tớ kể ra khổ thực, nhưng ban đêm, ta đã làm vua cả một nước, vui sướng không ai bằng, thì còn oán hận gì nữa?”.
 
Họ Doãn gây dựng cơ nghiệp, lo lắng làm giàu, nát gan tan ruột, cứ đêm mệt ngủ đi, thì nằm mơ lại thấy đi làm đầy tớ người ta, việc gì cũng phải làm, lại gặp nhà chủ cay nghiệt quở mắng đánh đập khổ cực muôn phần, nên lúc ngủ trằn trọc thổn thức, sáng dậy mới thôi.


Họ Doãn lấy làm lo, nói chuyện với bạn.

Bạn bảo: “Được cái địa vị như bác giàu có hơn người, ban ngày sung sướng vẻ vang biết là bao, đêm đến có nằm mơ đi làm đầy tớ người ta, thì cũng là sướng khổ đắp đổi. Nếu lúc thức, lúc ngủ cũng muốn vui sướng cả, thì làm thế nào được?”

Doãn thị nghe bạn nói, từ hôm đó nới tay cho người ăn kẻ ở và mình cũng bớt lo nghĩ, nên mỗi ngày bệnh một bớt dần.
Liệt Tử


Lời bàn:

Bài này bày ra hai cảnh ngày, đêm của hai người nghèo khác nhau. Tác giả có ý nói người ta được cái này, thường hỏng cái kia. Hễ ai được thế nào, hay thế, mà trí túc thì tự có cái sướng ở đó rồi. Ở đời, giàu nghèo chẳng qua chỉ có lúc thức là phân biệt nhau, chớ đến lúc ngủ, đợi cái giấc ngủ trăm năm – hai con mắt đã nhắm lại, hồn vía đã đi đâu, thì ai cũng như ai. Tuy vậy, cũng không nên viện lẽ ấy mà cam chịu nghèo khổ. Cần kiệm làm ăn để gây dựng cơ nghiệp, để làm giàu, thật là chính đáng. Nhưng, nếu bòn công bòn của người để làm giàu thế là bóc lột, làm giàu vô nhân đạo. Vô nhân đạo thì không những không được hưởng giàu, mà còn khổ hại về giàu nữa.
(Sưu tầm trên mạng)

LỄ HỘI BAISAKHI Ở ẤN ĐỘ CÓ GÌ ĐẶC BIỆT?

Ấn Độ là đất nước có nền văn hóa đa dạng. Người ta nói rằng có hơn một nghìn lễ hội ở Ấn Độ trong suốt cả năm, mỗi lễ hội lại mang một ý nghĩa riêng biệt. Lễ hội Baisakhi chính là một trong số nhất tại đây.

Lễ hội Baisakhi được tổ chức vào tháng 4 hàng năm (Ảnh: sưu tầm)

1. Giới thiệu về lễ hội Baisakhi

Baisakhi là một lễ hội đánh dấu năm mới của người Sikh và ngày bắt đầu mùa thu hoạch ở Ấn Độ. Lễ hội Baisakhi rơi vào ngày đầu tiên của tháng Vaisakhi (tháng 4-tháng 5), theo Lịch Sikh. Vì lý do này, Baisakhi còn được gọi là Vaisakhi. Theo lịch tiếng Anh, ngày Baisakhi tương ứng với ngày 13 tháng 4 hàng năm và ngày 14 tháng 4 cứ sau 36 năm một lần. Sự thay đổi này là do lễ hội được tổ chức theo lịch mặt trời của Ấn Độ. Lễ hội Baisakhi năm 2026 vào ngày 14 tháng 4.

2. Lễ hội Baisakhi được tổ chức ở đâu?

Lễ hội này được tổ chức ở các bang khác nhau ở Ấn Độ như: Punjab, Jammu, Himachal Pradesh, Uttar Pradesh, Haryana, … Bên ngoài , Baisakhi cũng được tổ chức bởi những người theo đạo Hindu ở Pakistan, Nepal và những người theo đạo Sikh ở Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Malaysia.

Người dân Punjab hưởng ứng lễ hội (Ảnh: sưu tầm)

3. Ý nghĩa của lễ hội Baisakhi

Tất cả người dân theo đạo Sikh và người theo đạo Hindu đều coi Baisakhi là một lễ hội quan trọng.

Người theo đạo Hindu tin rằng vào ngày Baisakhi, Nữ thần sông Gâng từ trên trời giáng trần. Nếu ngâm mình trong dòng sông linh thiêng vào ngày này sẽ được coi là rất tốt lành.

Đối với người theo đạo Sikn, vào ngày này (năm 1699), Guru thứ mười - Gobind Singh Ji, đã đặt nền móng cho Khalsa Panth, đó là lý do tại sao Baisakhi hay Vaisakhi được người Sikh tôn kính vô cùng. Nó còn được gọi là lễ mừng năm mới của người Sikh.

Lễ hội Baisakhi diễn ra với lòng tôn kính của người dân theo đạo Sikh (Ảnh: sưu tầm)

Năm 1699, Guru Gobind Singh Ji, Guru thứ mười của đạo Sikh lúc bấy giờ, đã tổ chức lễ kỷ niệm Baisakhi dẫn đến sự hình thành của Khalsa (tinh khiết, trong sáng, không bị ràng buộc). Guru Gobind Singh Ji, được biết đến rộng rãi với tên gọi “Sư phụ sống cuối cùng của đạo Sikh”. Cùng với việc thành lập Khalsa, một đội quân đã được tổ chức để chiến đấu chống lại những sai lầm của xã hội cũng như các Hoàng đế Mughal và quân đội của họ.

Ngày nay, Baisakhi được tổ chức bởi mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội, không chỉ người Sikh và người Punjabi. Nó được gọi là “Khalsa Sirjana Diwas,” hay “sự ra đời của khalsa.” Người Punjab và người Sikh ăn mừng Baisakhi theo những cách khác nhau, và nhiều người trong số họ làm như vậy theo cách riêng của họ. Đây không giống như các lễ hội thu hoạch ở các làng. Baisakhi không chỉ là một lễ kỷ niệm cho người dân ở các vùng nông thôn nữa. Đó cũng là một lễ kỷ niệm cho người dân ở các thành phố và thị trấn.

Đông đảo người dân ở các thành phố và thị trấn tham gia lễ hội (Ảnh: sưu tầm)

4. Các hoạt động nổi bật trong lễ hội Baisakhi

4.1. Lễ kỷ niệm Baisakhi ở Punjab

Người Sikh ăn mừng Baisakhi bằng cách tắm trong dòng sông thánh và viếng thăm các Gurudwaras – các ngôi đền nơi họ tham gia các buổi cầu nguyện được tổ chức trong ngày. Baisakhi khiến mọi người hòa vào không khí lễ hội và mọi người thích nhảy hết mình.

Người dân viếng thăm các Gurudwaras (Ảnh: sưu tầm)

Các lễ kỷ niệm đặc biệt diễn ra tại Talwandi Sabo - nơi Guru Gobind Singh đã biên soạn lại Granth Sahib thiêng liêng, Gurudwara tại Anandpur Sahib - nơi Khalsa được sinh ra và Đền Vàng ở Amritsar. Những người nông dân cảm ơn Chúa vì một vụ mùa bội thu và cầu nguyện cho sự thịnh vượng trong năm tới. Cụm từ “Jatta Aayi Baisakhi” được những người nông dân hân hoan tuyên bố trên khắp các cánh đồng khi họ say sưa nhảy múa ăn mừng, một cách thú vị để chào đón lễ hội.

4.2. Đám rước Baisakhi

Sau những lời cầu nguyện sẽ là bữa trưa guru-ka-langur hoặc bữa trưa cộng đồng đặc biệt tại Gurudwaras, sau đó lễ rước Nagar Kirtan được thực hiện qua các đường phố, nơi mọi người hát các bài hát sùng kính để tôn vinh lễ kỷ niệm thiêng liêng này

Lễ rước Baisakhi, còn được gọi là Nagar Kirtan, là một phần quan trọng của lễ kỷ niệm ở Punjab. Cuốn kinh thánh thiêng liêng nhất Granth Sahib được các Panj Piaras mặc trang phục truyền thống, còn được gọi là năm người theo đạo Sikh cấp cao, và là một phần quan trọng trong truyền thống của người Khal. Các đám rước Baisakhi di chuyển qua các đường phố và ngõ hẻm của thành phố, kèm theo âm nhạc, ca hát và tụng kinh và thánh ca. Một số lượng lớn tín đồ tham gia vào đám rước Baisakhi.

Lễ rước Baisakhi với sự tham gia đông đảo của người dân (Ảnh: sưu tầm)

Trong lễ rước Baisakhi, trẻ em và thanh niên thể hiện kỹ năng võ thuật của mình cùng với những người đánh trống và ban nhạc xung quanh, và những người đàn ông vung kiếm làm cho sự kiện thêm nhiều màu sắc. Nhìn chung, có thể nói rằng mỗi năm, lễ hội Baisakhi đánh dấu một chương mới trong cuộc đời của người dân.

4.3. Biểu diễn các điệu nhảy

Các điệu nhảy truyền thống của Bhangra và Gidda được biểu diễn trong Baisakhi theo nhịp trống trên những cánh đồng rộng mở tạo nên một bầu không khí say mê và vui vẻ. Ở một số nơi, hội chợ được tổ chức để mọi người mang lại niềm vui và biểu diễn nhào lộn. Đàn ông, phụ nữ và trẻ em tô điểm cho mình trong những bộ quần áo sặc sỡ và đồ trang sức trong khi họ hào hứng tham gia các lễ hội.

Những điệu nhảy truyền thống được thể hiện (Ảnh: sưu tầm)

5. Trang phục truyền thống trong lễ hội Baisakhi

Như một lễ kỷ niệm mùa xuân mới, Vaisakhi là dịp mà đàn ông, phụ nữ và trẻ em kỷ niệm dịp vui này bằng cách mua trang phục mới, chọn bộ trang phục sống động và năng động nhất để phản ánh bầu không khí hạnh phúc lan tỏa khắp đám đông. Nếu có cơ hội vào đúng mùa lễ hội, bạn sẽ được tận mắt chiêm ngưỡng những bộ trang phục đẹp mắt này.

Những bộ trang phục rực rỡ sắc màu (Ảnh: sưu tầm)

Trang phục truyền thống cho nam giới bao gồm khăn xếp có trang trí giống như chiếc quạt được mặc cùng với kurta, áo ghi lê, rumaal hoặc khăn quàng cổ và lungi buộc quanh eo, trong khi phụ nữ mặc trang phục truyền thống của Salwar Kameez với phong cách lễ hội và trang trọng nhất. trang sức phô trương. Sự rực rỡ nhiều màu của trang phục này phản ánh bản chất vui tươi và sôi nổi của lối sống của người Punjabi.
 
6. Ẩm thực tại lễ hội Baisakhi

Nhiều gian hàng thực phẩm được dựng nên tại các hội chợ Baisakhi để giữ cho đám đông sảng khoái và tràn đầy năng lượng khi họ tiệc tùng thâu đêm. Các món ăn tinh túy của Punjabi như Chhole Bature, thịt cừu Achari, Gà saagwala, Sarson ka saag, kadhi chawal, trái cây khô kheer và lassi nổi tiếng, . Những thú vui ẩm thực này là đại diện cho tình yêu lớn dành cho ẩm thực và hương vị của người dân Punjab.

Món Kadhi Chawal quen thuộc (Ảnh: sưu tầm)

Trái cây khô kheer (Ảnh: sưu tầm)

Sarson ka saag (Ảnh: sưu tầm)

Trên đây là thông tin chi tiết về lễ hội Baisakhi tại Ấn Độ mà PYS Travel muốn chia sẻ đến bạn, mong rằng sẽ là nhữn thông tin hữu ích giúp chuyến đi của bạn trở nên trọn vẹn hơn. Đừng quên rằng PYS Travel luôn sẵn có những tour Ấn Độ với giá cả ưu đãi dành cho bạn:

Theo: PYS Travel



OÁN - PHÙNG TIỂU THANH


Oán - Phùng Tiểu Thanh

Tân trang cánh dữ hoạ đồ tranh,
Tri thị Chiêu Dương đệ kỷ danh?
Sấu ảnh tự lâm xuân thuỷ chiếu,
Khanh tu liên ngã, ngã liên khanh.


怨 - 馮小青

新妝竟與畫圖爭
知是昭陽第幾名
瘦影自臨春水照
卿須憐我我憐卿


Oán
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Điểm trang cho đẹp tựa tranh. 
Chiêu Dương cung điện, xứng danh gọi mời. 
Thân gầy bóng nước lả lơi. 
Thân ta tự luyến, ai thời thương ta !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Phùng Tiểu Thanh 馮小青 (1594-1612) tên hồi nhỏ là Huyền Huyền 玄玄, quê ở Quảng Lăng, Giang Tô. Nàng bẩm sinh thông minh khác thường, lại nhan sắc hơn người. Năm 16 tuổi, nàng về làm thiếp một thư sinh họ Phùng ở Hổ Lâm, vì cùng họ với chồng nên tránh nhắc tới họ, chỉ gọi tên chữ là Tiểu Thanh. Phùng sinh là một công tử hào phóng, ba hoa, ngây ngô, xốc nổi, kém phong độ, vợ cả lại là người hay ghen hiếm thấy, khiến nàng có số phận bi thảm và qua đời năm 18 tuổi. Những bài thơ còn sót lại của nàng sau khi bà mất được người sưu tầm lại đóng thành sách, đặt tên là Phần dư. Câu chuyện về nàng khiến Nguyễn Du cảm xúc trong bài Độc Tiểu Thanh ký.

Nguồn: Thi Viện



THẰNG CHÓ ĐẺ CỦA MÁ

Má ơi! Bữa nay là ngày 23 tháng chạp, ngày đưa ông Táo. Không biết những người Việt lưu vong như tụi con có còn giữ phong tục hằng năm cúng đưa ông Táo về Trời hay không, chớ vợ của con năm nào đến ngày này cũng mua hoa quả bánh ngọt cúng đưa ông Táo, cũng thành khẩn như ngày xưa, hồi còn ở bên nhà.


Năm nay, nhờ vợ của con lau dọn bàn thờ ông Táo để sửa soạn bày lễ vật ra cúng, nên con mới nhớ ra là ngày 23 tháng chạp. Ngày này cũng là ngày sanh của má. Hồi đó, má hay nói: “Ngày sanh của đứa nào còn khó nhớ, chớ ngày sanh của tao là ngày ông Táo về Trời, không dễ gì quên!” Và ngày này hồi đó, khi cúng vái, má hay cầu khẩn: “Ông về ở trển nhờ tâu lại bữa nay tôi lên thêm một tuổi, cầu xin Ngọc Hoàng bớt cho tôi chút đỉnh khổ cực…” Hồi đó, nghe má cầu xin, con phì cười. Bây giờ, nhớ lại, con bỗng ứa nước mắt…Cuộc đời của má – theo lời tía kể – cũng lắm gian truân từ ngày má bỏ cái làng quê ở bờ sông Vàm Cỏ để đi theo tía dấn thân làm cách mạng vào những năm 1928/29. Gia đình giòng họ từ bỏ má cho nên hồi sanh con, tía bận đi xa, má nằm chèo queo một mình trong nhà bảo sanh, chẳng có người nào đi thăm hết. Vậy mà sau đó, má vẫn tiếp tục bôn ba… Mãi về sau, khi con lên sáu bảy tuổi, có lẽ chỉ vì sanh có một mình con nên tía má mới “trụ hình” – vẫn theo lời tía kể – với nhiều cực nhọc và khó khăn tiếp nối dài dài… Hỏi sao sau này mỗi lần đưa ông Táo má không có lời cầu khẩn nghe tội nghiệp như vậy?

Nhớ lại, cách đây ba năm má thọ tròn trăm tuổi. Tính ra, từ ngày con đi chui theo ý má muốn – má nói: “Mầy đem vợ con mầy đi đi, để tao còn hy vọng mà sống thêm vài năm nữa”! – cho đến năm đó, con xa má 25 năm. Con mới 72 tuổi mà cứ bịnh lên bịnh xuống nhưng năm đó con quyết định phải về. Và con đã về…

Thằng Bảy, con chị Hai Đầy ở Thị Nghè nghỉ chạy xe ôm một bữa để đưa con về cái làng quê nằm bên sông Vàm Cỏ. Nó nói: “Đi xe đò chi cho tốn tiền, để con đưa cậu Hai về, sẵn dịp con thăm bà Tám luôn”.

Hồi tụi con bước vào nhà, cả xóm chạy theo mừng. Con nhỏ giúp việc vội vã đỡ má lên rồi tấn gối để má ngồi dựa vào đầu giường: “Thưa bà cố, có khách”. Má nhướn mắt nhìn, hai mắt sâu hỏm nằm trên gương mặt gầy nhom đầy vết nám thâm thâm: “Đứa nào đó vậy?” Con nghẹn ngào: “Dạ, con…” Chỉ có hai tiếng “Dạ, con” mà má đã nhận ra con ngay mặc dầu đã xa con từ 25 năm! Má nói: “Mồ tổ cha mầy! Trôi sông lạc chợ ở đâu mà bây giờ mới dìa? Mà dìa sao không cho tao hay?” Con ngồi xuống cạnh má: “Sợ cho hay rồi má trông.” Má nói mà gương mặt của má nhăn nhúm lại: “Tao trông từ hai mươi mấy năm nay chớ phải đợi đâu tới bây giờ!” Rồi má nhắm mắt một vài giây mới để lăn ra được hai giọt nước mắt. Cái tuổi một trăm của má chỉ còn đủ hai giọt nước mắt để cho má khóc mừng gặp lại thằng con… Xúc động quá con gục đầu vào vai má khóc ngất, khóc lớn tiếng, khóc mà không cần biết cần nghe gì hết. Cái tuổi bảy mươi hai của con còn đầy nước mắt để thấm ướt cái khăn rằn má vắt trên vai…


Suốt ngày hôm đó, má con mình nói biết bao nhiêu chuyện, có sự tham dự của họ hàng chòm xóm. Nhớ gì nói nấy, đụng đâu nói đó… vui như hội. Vậy mà cuối ngày, không thấy má mệt một chút nào hết. Con nhỏ giúp việc ngạc nhiên: “Bình thường, bà cố nói chuyện lâu một chút là thở ồ ồ. Bữa nay sao thấy nói hoài không ngừng! Có ông Hai dìa chắc bà cố sống thêm năm bảy năm nữa à ông Hai!”

Đêm đó, má “đuổi” con vô mùng sớm sợ muỗi cắn. Con nằm trên bộ ván cạnh cái hòm dưỡng sinh của má. Con hỏi: “Bộ cái hòm hồi đó má sắm tới bây giờ đó hả?” Má cười khịt khịt vài tiếng rồi mới nói: “Đâu có. Cái hòm mầy nói, tao cho cậu Tư rồi. Hồi Cao Miên pháo kích quá, tao đem cậu Tư về đây ở, rồi ổng bịnh ổng chết. Tao có sắm cái hòm khác, cái đó tao cho thằng Hai con cậu Tư. Tội nghiệp thằng làm ăn suy sụp nên rầu riết rồi chết!” Con nói chen vô: “ Vậy, cái nầy má sắm sau đám của anh Hai”? Má lại cười khịt: “Đâu có. Cái hòm sắm sau cái hòm cho thằng Hai, tao cho dì Sáu rồi. Hồi chỉ nằm xuống, nhà chỉ không có tiền mua hòm thì lấy gì làm đám ma?” Ngừng lại một chút rồi má mới nói: “Còn cái hòm nầy chắc tao không cho ai nữa. Họ hàng quyến thuộc lần hồi chết hết, còn lại có mình tao thôi, có nó nằm gần tao cũng yên bụng!”

Nằm tơ lơ mơ một lúc bỗng nghe má hỏi: “Thằng chó đẻ… ngủ chưa?” Con trả lời: “Dạ chưa.” Má tằng hắng: “Tao tụng kinh một chút nghen”. Con “Dạ” mà nghe tiếng “Dạ” nghẹn ngang trong cổ. Mấy tiếng “Thằng chó đẻ” của má kêu con đã làm cho con thật xúc động. Hồi đó – lâu lắm, cách đây sáu mươi mấy bảy chục năm, hồi con còn nhỏ lận – má hay gọi: “Thằng chó đẻ, lại hun cái coi!” Hồi đó, mỗi lần cưng con, nựng con, ôm con vào lòng má luôn luôn gọi con bằng “thằng chó đẻ”! Mà con thì chỉ biết sung sướng khi nghe má gọi như vậy. Rồi con lớn lần, má không còn gọi con bằng “thằng chó đẻ” nữa. Con không để ý và chắc má cũng không để ý đến chuyện đó. Mãi đến bây giờ má lại gọi con bằng “thằng chó đẻ”, gọi tự nhiên như hồi con còn nhỏ. Chỉ có mấy tiếng thật thô thiển bình dị, nghe khô khan như vậy mà sao con cảm nhận tình thương thật là tràn đầy. Và đối với má, dầu tuổi đời của con có cao bao nhiêu nữa, con vẫn là “thằng nhỏ”, “thằng chó đẻ cưng”. Con bắt gặp lại sự sung sướng của hồi đó khi được má gọi như vậy. Rồi bao nhiêu hình ảnh thuở ấu thời hiện về trong đầu con, liên miên chớp tắt. Đêm đó, con trằn trọc tới khuya…

Sáng hôm sau, má biểu con đẩy xe lăn đưa má đến từng bàn thờ để má thắp nhang tạ ơn Trời Phật, Ông Bà. Cuối cùng, đến bàn thờ của tía, má nói: “Ông ơi! Có thằng nhỏ nó dìa đó. Ông độ cho nó được mạnh giỏi, độ cho vợ con nó ở bên tây được suôn sẻ trong công việc làm ăn… ” Đứng sau lưng má, con phải cắn môi thật mạnh để khỏi bật lên thành tiếng nấc!

Đẩy má ngang bàn viết cũ của tía, con thấy trên tường có treo hai khuôn kiếng lọng văn bằng đỏ chói có đóng dấu cũng đỏ chói của Nhà Nước. Con ngừng lại đọc: một tấm là huân chương hạng nhứt và một tấm là huy chương hạng ba cấp cho Lê Thị Ráng. Con hỏi: “Cái gì vậy, má?” Má nói: “Mề-đai của tụi nó cho tao. Tụi nó bươi chuyện thời ông Nhạc nào đâu hồi mấy năm 1928-29 rồi chạy lại cho. Cái hạng nhứt đó cho năm ngoái, còn cái hạng ba mới cho đây,” Con cười: “Vậy là họ hạ cấp má rồi.” Má hỏi: “Sao mầy nói vậy?” Con giải nghĩa: “Thì từ hạng nhứt tuột xuống hạng ba là bị hạ cấp chớ gì nữa?” Má cười: “Mầy không biết. Cái đầu hạng nhứt đó, cho treo chơi chớ không có tiền. Cái hạng ba đó mới có cho tiền”. Con đùa: “Vậy má chia cho con chút đỉnh lấy hên coi!” Má khoát tay: “Ối… từ ngày nhận cái mề-đai đó tới nay đã ba tháng rồi mà có thấy tụi nó đưa tiền đâu. Nghe nói còn mấy khâu gì gì đó chưa thông nên có hơi trễ!” Thấy trên văn bằng đề “Lê Thị Ráng” con thắc mắc: “Ụa! Mà Lê Thị Ráng đâu phải là tên của má. Trong khai sanh của con, má là Lê Thị Láng mà!” Má cười khục khục mấy tiếng rồi mới nói: “Để tao nói cho mầy nghe. Hồi đó tao sanh mầy ở gần nhà thờ Cha Tam, trong Chợ Lớn. Cô mụ người tàu, nói tiếng việt còn lơ lớ. Cổ hỏi tao tên gì để làm khai sanh. Tao nói tao tên Ráng, mà R cổ nói không được, nên ra sở khai sanh, cổ nói Ráng thành Láng là như vậy” Mãi tới bảy mươi hai tuổi con mới biết tên đúng của má là “Ráng”!


Hôm đưa ông Táo, con có tổ chức một bữa tiệc để ăn mừng một trăm tuổi của má, có họ hàng tham dự đầy nhà. Vừa ngồi vào bàn, dì Bảy Giang nói: “Theo phong tục mình, con cái phải quì lạy để chúc thọ mẹ cha. Bây giờ, chị Tám được một trăm tuổi, hiếm lắm, quí lắm. Mầy phải lạy má mầy đi rồi ăn uống gì ăn” Mọi người vỗ tay tán thành. Má cũng cười, nói: “Ồ phải! Hồi nẳm, đám cưới của mầy, mầy có đi học lạy với cậu Bảy Dinh, nhưng bên đàng gái miễn lễ chỉ bắt xá thôi, rồi về đây tía mầy cũng miễn luôn. Cho nên tao chưa thấy mầy lạy ra sao hết. Đâu? Mầy lạy tao coi!” Mọi người lại vỗ tay nữa. Con đứng trước mặt má, chấp tay ấp úng: “Thưa má. Hôm nay là ngày sanh thứ một trăm của má, con xin lạy mừng thọ má.” Rồi con lạy hai lạy, cũng đủ điệu bộ lên gối xuống gối như con đã học lạy cách đây gần năm chục năm. Con lạy mà nước mắt chảy quanh. Con biết rằng lần lạy đầu tiên này có thể là lần lạy cuối cùng, bởi vì qua Tết, con sẽ trở về Pháp với cái lạnh cắt da của mùa đông, rồi sau đó biết có còn về nữa hay không? Sức khỏe của con càng ngày càng kém, bao nhiêu thứ thuốc uống vô hằng bữa liệu kéo dài sự sống của con được đến bao lâu? Điều này, con đâu dám cho má biết. Mọi người lại vỗ tay khi con lạy xong. Rồi thì nhập tiệc. Bữa tiệc hôm đó thật là vui. Người vui nhứt là má.

* * *

Má ơi! Bữa nay là ngày sanh thứ 103 của má, ngày đưa ông Táo về Trời. Vậy là ba năm qua rồi, con đã không về thăm má. “Thằng chó đẻ” của má vẫn còn “trôi sông lạc chợ”, để cho má cứ phải trông nó về, trông hằng ngày, trông mòn con mắt, trông khô nước mắt!

Má thương con, xin má tha thứ cho con… tha thứ cho con…

Tiểu Tử

CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM: QUỐC GIA 15 THÁNG

Cách đây hơn 40 năm, có một quốc gia từng tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam trong chưa đầy 15 tháng và ít được sử sách sau này nhắc tới.


13:30 phút ngày 30/4/1975, Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hoà (VNCH), Dương Văn Minh, tuyên bố đầu hàng “quân giải phóng miền Nam Việt Nam” và kêu gọi binh sĩ của quân lực Việt Nam Cộng hoà buông vũ khí.

Lực lượng quân giải phóng miền Nam Việt Nam trong tuyên bố đầu hàng này chính là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (Mặt trận). Tên tiếng Anh của lực lượng này là National Liberation Front, thường được gọi tắt là NLF trong các văn bản quốc tế.

Mặt trận còn được xem là lực lượng nòng cốt của một chính thể thứ ba tại Việt Nam trong chiến tranh, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CPCM).

Trong khi quốc tế đã công nhận hai nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và VNCH trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, thì vai trò cũng như sự nhìn nhận quốc tế đối với chính thể thứ 3 trong giai đoạn này phức tạp hơn.

Ngoài ra, đối với người Việt Nam, thì cả Mặt trận lẫn CPCM hầu như đều bị cả hai phe Quốc gia và Cộng sản xem như là một phần của quân đội và nhà nước Bắc Việt trong và sau cuộc chiến.

Tuy nhiên, chính sự hiện diện của Mặt trận và CPCM trong lịch sử Việt Nam đã giúp khẳng định rõ hơn việc lãnh thổ Việt Nam đã từng hiện diện hai quốc gia trong vòng trên dưới 22 năm, từ 7/1954 – 7/1976.

Những chiếc xe tăng tiến vào Sài Gòn và chiếm dinh Độc Lập ngày 30/4/1975 mang cờ nửa xanh nửa đỏ của Mặt trận. Ảnh: Francoise De Mulder—Roger Viollet/Getty Images.

Cánh tay nối dài của miền Bắc

Sau khi Hiệp định Geneva 1954 tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17, quyền quản lý miền Nam Việt Nam được thế giới công nhận thuộc về thể chế VNCH.

Mặt trận được thành lập ngày 20/12/1960. Họ tự tuyên bố là một liên minh chính trị của những người đối lập với chính quyền VNCH tại miền Nam Việt Nam, bao gồm những người Cộng sản tại miền Nam (chiếm đa số) và những người thuộc các đảng phái chính trị khác. Ngoài ra, Mặt trận còn kêu gọi tất cả những ai có tư tưởng chống Mỹ tham gia.

Mục tiêu của Mặt trận là lật đổ chế độ VNCH, không chấp nhận sự hiện diện quân sự của Mỹ tại Việt Nam, và tiến hành thống nhất hai miền Nam-Bắc. Đối với quốc tế, Mặt trận luôn luôn đề cao tính trung lập của mình đối với cả VNCH lẫn VNDCCH trong vai trò hòa giải và thống nhất quốc gia.

Mặc dù vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, các văn kiện của đảng Lao động (tức đảng Cộng sản) Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 cho thấy sự chỉ đạo toàn diện của đảng Cộng sản đối với Mặt trận. Bà Nguyễn Thị Bình, cựu Bộ trưởng Ngoại giao của CPCM, được kết nạp vào đảng Cộng sản năm 1948, từng ra Bắc làm việc sau năm 1954 và được phái trở lại miền Nam năm 1962, sau này làm tới chức Phó Chủ tịch nước của Việt Nam thống nhất.

Đến 8/6/1969, Mặt trận cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam, tiến hành thành lập chính phủ riêng, lấy tên là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, và công khai đối lập với chế độ VNCH.

Đại hội thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngày 6-8/6/1969 tại Tây Ninh. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.

Cần phải nói thêm, do cần thu hút những thành phần bất đồng chính kiến và các tổ chức chính trị phi cộng sản tại miền Nam tham gia vào Mặt trận mà Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam đã được thành lập. Lực lượng quần chúng này bao gồm rất nhiều thành phần trong xã hội, ví dụ như sinh viên, học sinh, trí thức, nhà văn, nhà báo, lãnh đạo các tôn giáo, v.v.

Qua đó, Mặt trận đã mở rộng cả mục tiêu hoạt động của mình lẫn thành phần tham gia, và điều này đã giúp cho họ thoát khỏi những cáo buộc là tổ chức vũ trang của đảng Cộng sản, cũng như tái khẳng định tính trung lập và vị thế của một liên minh chính trị đối lập với chính phủ VNCH tại miền Nam.

Tìm kiếm sự công nhận và tính chính danh đối với cộng đồng quốc tế

Sau khi thành lập chính phủ lâm thời vào năm 1969, Mặt trận và CPCM tăng cường vận động quốc tế để khẳng định tính chính danh của mình. Vào thời điểm tháng 11/1969, CPCM đã được 28 nước công nhận. Nhưng đa số các nước đó thuộc về khối cộng sản trong thời kỳ chiến tranh Lạnh.

Trong giai đoạn 1969-1975, CPCM luôn luôn công nhận sự độc lập và tự chủ về lãnh thổ quốc gia tại miền Nam Việt Nam, ngay cả đối với VNDCCH.

Khi tham gia vào hòa đàm Paris và tuy là một trong 4 bên của Hiệp định Paris 1973, nhưng CPCM chỉ được công nhận là một trong hai phe của miền Nam Việt Nam.

Hiệp định Paris 1973 công nhận có hai chính quyền (two governments) song song tồn tại và đối lập với nhau tại miền Nam Việt Nam: chính quyền Sài Gòn của VNCH và CPCM.

Bà Nguyễn Thị Bình, đại diện Chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN ký Hiệp định Paris, ngày 27/1/1973. Ảnh: Chưa rõ nguồn.

Cả hai chính quyền đều có cơ quan hành chính và quân đội riêng, kiểm soát các phần lãnh thổ khác nhau tại miền Nam. Cả hai đều có các nghĩa vụ quốc tế riêng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn được xem là chỉ có hai quốc gia (two states), Bắc Việt và Nam Việt.

Quan điểm chung của thế giới vào thời điểm ấy có thể được tóm tắt trong tuyên bố sau đây của Bộ Ngoại giao Úc năm 1974:

“Khi Việt Nam được chia đôi vào năm 1954, hai quốc gia đã được thành lập và hai nhà nước được hình thành. Nhà nước Úc đã công nhận từ rất lâu việc hiện hữu của hai quốc gia và vẫn đang có mối quan hệ với cả hai nhà nước, nhà nước VNDCCH ở miền Bắc Việt Nam và nhà nước VNCH ở miền Nam Việt Nam. Cả hai nhà nước là thành viên của Hiệp định Paris (1973) cùng với CPCM. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là nhà nước Úc ủng hộ việc công nhận một quốc gia thứ ba với nhà nước riêng (tức là CPCM).”

Vì vậy, CHMNVN đã bị từ chối khi họ nộp đơn xin tham gia vào các hiệp nghị của Công ước Geneva 1949 tháng 12/1973 do gặp sự phản đối từ một số nước không công nhận tư cách “quốc gia” của họ.

Thế nhưng, nỗ lực tìm kiếm sự công nhận của quốc tế của CPCM vẫn được tiếp tục. Bộ Ngoại giao của CPCM đã thành lập phái đoàn thường trực với trụ sở tại Paris, Pháp.

Tài liệu lưu trữ của Liên Hiệp Quốc cho thấy vào tháng 1/1975, chính phái đoàn thường trực này đã gửi thư lên LHQ và lên án chính quyền VNCH vi phạm Hiệp định Paris 1973. Họ cũng tái khẳng định nỗ lực của CPCM trong việc giải quyết những xung đột nội bộ (internal affairs) của miền Nam Việt Nam với chính quyền Sài Gòn-VNCH bằng phương pháp hòa bình nhưng bất thành, cũng như lên án VNCH đã phá vỡ Hiệp định 1973 bằng vũ lực.

Quốc gia Cộng hòa Miền Nam Việt Nam: riêng biệt và độc lập trong 15 tháng

Ngay khi VNCH thua trận vào ngày 30/4/1975, CPCM đã lập tức khẳng định tư cách quản lý lãnh thổ miền Nam Việt Nam trước quốc tế bằng việc nêu rõ tính độc lập và quyền tự chủ của mình.

Đơn cử một ví dụ là vào ngày 4/5/1975, bà Nguyễn Thị Bình, với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao của chính phủ Cộng hoà Miền Nam Việt Nam (Republic of South Vietnam) – là tên gọi chính thức tại LHQ – đã gửi thư đến LHQ và nêu rõ tính độc lập và quyền tự chủ của CHMNVN, đồng thời tuyên bố tư cách thừa kế chính quyền VNCH tại LHQ và tại các tổ chức quốc tế, cũng như các định chế tài chính quốc tế.

Ngay tại Việt Nam, ngày 4/5/1975, báo Nhân Dân đã đăng thông báo về việc CPCM thành lập Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn-Gia Định để tiếp quản thành phố này.

Tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Uỷ ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định tổ chức họp báo quốc tế ngày 8/5/1975. Nguồn: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.

Ngày 15/7/1975, ông Huỳnh Tấn Phát, Chủ tịch nước CHMNVN, đã gửi điện tín đến Tổng thư ký LHQ kèm theo đơn xin gia nhập LHQ. Cùng thời điểm đó, VNDCCH cũng nộp một đơn riêng xin gia nhập LHQ.

Rất rõ ràng là ngay sau ngày 30/4/1975, cả VNDCCH ở miền Bắc và CHMNVN ở miền Nam đã khẳng định một lần nữa trước quốc tế rằng họ là hai quốc gia độc lập.

Phản ứng quốc tế trước sự kiện 30/4/1975 cũng ủng hộ lập luận trên. Đó là hầu hết các quốc gia đều cho rằng CPCM đã thay thế VNCH để quản lý quốc gia Nam Việt Nam, tức là một sự thay đổi chế độ (change of government) tại miền Nam.

Tính chính danh của hai quốc gia Nam-Bắc Việt Nam trên phương diện công pháp quốc tế trong giai đoạn 4/1975-7/1976 được thể hiện qua tuyên bố của chính phủ Úc vào tháng 10/1975:

“Việc thống nhất giữa Bắc và Nam Việt Nam hiện tại vẫn chưa xảy ra, và như thế vẫn có hai nhà nước tiếp tục vận hành riêng biệt với nhau. Sự hiện diện của hai nhà nước riêng biệt (tại Việt Nam) đã được ít nhất 75 quốc gia công nhận. Việc vận hành riêng biệt cũng như sự chấp nhận bởi cộng đồng quốc tế đối với hai quốc gia này, VNDCCH và CHMNVN, được thể hiện rõ qua việc họ tham gia vào tổ chức WHO và WMO với tư cách là hai quốc gia thành viên khác nhau tại thời điểm này.”

Quốc gia CHMNVN chính thức chấm dứt tồn tại vào ngày 2/7/1976 khi họ hợp nhất với VNDCCH thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

Quỳnh Vi / Theo: luatkhoa.com