Saturday, May 23, 2026

LỊCH SỬ THĂNG TRẦM VÀ ĐẦY BI KỊCH CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO

Nếu một lần đến tỉnh An Giang (đồng bằng sông Cửu Long) có thể bạn sẽ ngạc nhiên về cách thờ Phật của một số gia đình ở đây. Theo đạo Phật nhưng họ không thờ tượng hay tranh vẽ mà thay vào đó là một tấm gỗ sơn màu đỏ đậm, đặt trang trọng ở giữa bàn thờ.

Quang cảnh làm lễ của các tín đồ Phật giáo Hoà Hảo tại Hội Quán PGHH, Santa Ana, California, Mỹ. Ảnh: hoahao.org.

Nếu chịu khó để ý, bạn sẽ thấy những người mặc áo nâu, tóc búi cao, thờ cúng hết sức tối giản tại nhà – không gõ mõ tụng kinh mà chỉ cúng Phật bằng hoa, nhang đèn và nước lã.

Đó là những tín đồ của Phật giáo Hòa Hảo (từ đây viết tắt là “PGHH”). Một tôn giáo dựa trên nền tảng của đạo Phật nhưng cách hành đạo lại hoàn toàn khác biệt với các pháp môn khác.

Mang đến một triết lý thực hành Phật giáo đơn giản, phù hợp với hoàn cảnh nghèo khó của quần chúng, chỉ một thời gian ngắn khi lập đạo, vị giáo chủ có xuất thân bình thường của PGHH đã làm nức lòng hàng vạn dân miền Tây.

Tín đồ của PGHH không xuống tóc như các pháp môn khác của nhà Phật. Họ cũng không có đền chùa lộng lẫy, uy nga mà khuyên tín đồ tu hành tại nhà, thờ cúng đơn giản, siêng năng làm từ thiện, đơn giản hóa ma chay hiếu hỷ và sống có trách nhiệm với đất nước.

Bản đồ 13 tỉnh miền Tây hiện nay. Đường phân chia tỉnh An Giang có bốn cạnh rõ rệt nên thường được gọi là tứ giác Long Xuyên (tên thành phố ngày nay), có đường biên giới giáp với Campuchia, giao với các tỉnh Đồng Tháp, Kiên Giang và Cần Thơ. Ảnh: Gocnhin.net.

Huỳnh Phú Sổ – một Muhammad của miền Tây

Như chúng ta đã biết, đầu thế kỷ XX, triều đình nhà Nguyễn đã nhượng lại toàn bộ phần đất Nam Kỳ cho người Pháp cai trị. Ở vùng đất phía Tây, hầu hết người dân Nam Bộ làm ruộng nhưng phải thuê đất đai đắt đỏ của giới điền chủ khiến dân chúng chịu nhiều cực khổ [1]. Người dân chịu cảnh đói nghèo trong sự áp bức của nền chính trị ưu tiên giai cấp địa chủ do người Pháp lập ra.

Nhiều phong trào nông dân chống Pháp liên tục diễn ra ở vùng đất kênh rạch chằng chịt này. Chính quyền Pháp đã thiết lập hệ thống giám sát chặt chẽ các hoạt động dân sự.

Các tôn giáo thường được sinh ra trong những sự kiện có phần ly kỳ, huyền bí nhưng lại thuyết phục được số đông người dân.

Năm 1940, ở vùng Châu Đốc, người Pháp bắt đầu chú ý đến một người thanh niên bất thường, tuyên bố thành lập PGHH ngay tại nhà và trở thành giáo chủ khi mới 19 tuổi. “Tín đồ đến từ khắp nơi” và những thân hào hàng đầu cũng trở thành môn đồ. [2]

Người thanh niên đó là Huỳnh Phú Sổ, được mô tả là có dáng người thanh mảnh, gương mặt sáng sủa, ăn nói lưu loát.

Trong một bài diễn văn do chính Huỳnh Phú Sổ viết năm 1942 được tông đồ lưu truyền cho đến ngày nay, người thanh niên này nói chính anh đã trải qua nhiều kiếp cứu rỗi nhân dân, kiếp này tiếp tục được Phật cử xuống để “cứu độ chúng sanh”.

Tín đồ Phật giáo Hoà Hảo đến tham dự lễ khai mạc Đại lễ ngày 17/05/1971, kỷ niệm ngày khai đạo. Ảnh: Tổ đình PGHH.

Ban trị sự Trung ương PGHH ghi nhận Huỳnh Phú Sổ lập ra PGHH sau chuyến đi cùng gia đình đến vùng Bảy Núi, thuộc tỉnh An Giang ngày nay, được nhiều người cho là khu vực linh thiêng và cũng là nơi khai sinh ra pháp môn Bửu Sơn Kỳ Hương.

Theo Sấm Giảng, diễn đạt theo lối văn vần gồm hàng trăm câu do Huỳnh Phú Sổ viết, Huỳnh Giáo chủ khẳng định ông là người kế nghiệp của phái Bửu Sơn Kỳ Hương.

Vì vậy, tôn chỉ “học Phật, tu nhân” và nền tảng “Tứ Đại Trọng Ân” (Ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo (tức là Phật Pháp Tăng), ân đồng bào và nhân loại) của phái Bửu Sơn Kỳ Hương trở thành giá trị cốt lõi của PGHH.

Trong giao tiếp, Huỳnh Phú Sổ diễn giải mọi thứ dung dị, dễ hiểu nên đạo của ông dễ đi vào lòng quần chúng.

Bài viết “Tôn chỉ hành đạo” là một tài liệu do Huỳnh Phú Sổ viết năm 1945, chỉ trong tầm mười trang giấy, đã khái quát triết lý của đạo và hướng dẫn dân chúng cách sống một cuộc đời tốt đẹp theo quan điểm của ông.

Triết lý của PGHH đã thu hút được những người nông dân cùng cực, nghèo khổ khi mở ra cho họ một cuộc sống tốt đẹp, thực hành đạo Phật ngay trong điều kiện thiếu thốn.

“Tu vô vi chớ cúng chè xôi,
Phật chẳng muốn chúng sanh lo lót

Nay nhằm lúc mùa màng ngập thất,
Vậy hãy mau bỏ bớt dị đoan.
Rán (gắng) giữ gìn luân lý tam cang,
Tròn đức hạnh mới là báu quí.”

(trích “Kệ dân của người khùng”)

Hơn nữa, triết lý của PGHH dung hòa được cuộc sống cá nhân, gia đình và trách nhiệm với dân tộc qua nền tảng “Tứ Ân” khiến người dân càng thấy sự hợp lý để trở thành tín đồ.

“Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa,
Tuốt gươm vàng lên ngựa xông pha.
Đền xong nợ nước thù nhà,
Thiền môn trở gót Phật Đà Nam Mô!”

(Lời của Huỳnh Phú Sổ)

Quan niệm “Tứ Ân” đã đưa Phật Giáo Hòa Hảo nhập thế, vừa gần gũi vừa phù hợp với điều kiện thiếu thốn lúc bấy giờ.

Ngoài khả năng hùng biện, tín đồ PGHH còn truyền tai nhau về tài chữa bệnh hiếm có của Huỳnh Phú Sổ, xem ông là một nhà tiên tri và một người tranh đấu cho nền độc lập của đất nước.

Đấu tranh cho nền độc lập của quốc gia

Năm 1942, Huỳnh Phú Sổ được người Nhật can thiệp để đưa về Sài Gòn tạm lánh sau thời gian bị người Pháp quản chế gắt gao từ năm 1940. Tại Sài Gòn, ông âm thầm liên kết với tín đồ vận động cho nền độc lập của Việt Nam. Điều này cũng phù hợp với tôn chỉ của đạo và bối cảnh lúc bấy giờ.

Năm 1944, Phật Giáo Hòa Hảo thành lập một lực lượng bán quân sự có tên Bảo An Đoàn nhằm bảo vệ an toàn cho các làng của tín đồ Hòa Hảo ở khu vực miền Tây.

Các chiến sĩ của Phật giáo Hoà Hảo luyện tập võ nghệ vào tháng 7/1948. Ảnh: Tạp chí LIFE.

Với thân thế của Huỳnh Phú Sổ và số lượng giáo dân đông đảo, PGHH có tiếng nói đáng kể đối với phong trào vận động độc lập ở miền Nam. Nhằm tạo tiếng nói chính trị đối với xã hội, năm 1946, Huỳnh Phú Sổ cùng với một số trí thức thành lập Việt Nam Dân chủ Xã hội Đảng – gọi tắt là đảng Dân Xã.

Thời gian đầu, ngoài liên kết với các tổ chức tôn giáo, chính trị khác, PGHH còn liên kết với Việt Minh để vận động độc lập cho Việt Nam. Tuy nhiên, không lâu sau đó lại xảy ra xung đột nghiêm trọng giữa hai lực lượng này.

Cũng từ mâu thuẫn này dẫn đến sự mất tích bí ẩn của Huỳnh Phú Sổ. Ngày 16/4/1947, Huỳnh Phú Sổ mất tích trong một cuộc họp dàn xếp giữa xung đột giữa Việt Minh và PGHH tại vùng Đồng Tháp Mười. Đến nay, lịch sử vẫn chưa làm rõ về vụ mất tích này.

Theo một bài báo của tác giả Nguyễn Văn Trần đăng trên tờ báo hải ngoại Việt Báo Online năm 2016, tác giả đã trích một bức thư liên quan đến PGHH và Huỳnh Phú Sổ được lưu trữ của Trung tâm Lưu Trữ quốc gia IV của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước của Bộ Nội Vụ hiện nay, xác nhận vào ngày 17/4/1947, Uỷ ban Hành chánh Long Xuyên của Việt Minh đang giam giữ Huỳnh Phú Sổ, nhưng không nói rõ họ đã làm gì sau đó.

Đối với tín đồ PGHH, ngày Huỳnh Phú Sổ mất tích đến nay được tín đồ gọi là “ngày đức Thầy vắng mặt” hay “Ngày đức Thầy thọ nạn”.

Theo tác giả Nguyễn Long Thành Nam – người từng hoạt động tích cực trong PGHH và làm việc cho chính phủ Đệ Nhị Cộng hoà, mối hiềm khích giữa PGHH và Việt Minh ngày càng gia tăng sau vụ Huỳnh Phú Sổ mất tích. Một số thành viên của PGHH quay sang hợp tác với Pháp để chống Việt Minh. Theo ông, khoảng thời gian từ năm 1947 đến 1955, PGHH đã hình thành một lực lượng quân sự tương đối bề thế vì được sự hỗ trợ của người Pháp. Cũng chính vấn đề này mà tiếp đến PGHH đối diện sự trấn áp mạnh mẽ của chính quyền Ngô Đình Diệm nhằm thống nhất về quân sự.

Sau thời kỳ phân biệt đối xử với các giáo phái của Ngô Đình Diệm, PGHH được củng cố và phát triển dưới thời Đệ nhị Cộng hoà (1967 – 1975). Lúc này, những người phải đi lưu vong vì bị đàn áp dưới thời Ngô Đình Diệm như Nguyễn Long Thành Nam trở về nước để phục hồi PGHH. Cũng trong thời gian này, PGHH phân chia thành hai phái: phái mới do Lương Trọng Tường và phái cũ Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu. Đến năm 1972, xuất hiện một phái khác do Lê Quang Liêm tách ra từ phái cũ. Tuy chia tách nhưng không ảnh hưởng đến sự phát triển của PGHH.

Tín đồ Phật giáo Hoà Hảo đến tham dự lễ khai mạc Đại lễ ngày 17/05/1971, kỷ niệm ngày khai đạo. Ảnh: Tổ đình Phật giáo Hoà Hảo.

Đến năm 1975, ngoài các hoạt động tôn giáo thuần tuý rất phát triển, các nhóm PGHH còn điều hành sáu trường trung học phổ thông, một viện đại học và hai bệnh viện.

Tuy nhiên, sau biến cố 30/4/1975, bức tranh tôn giáo sôi nổi ở miền Nam trở nên u tối dưới quyền lực của phe thắng cuộc.

Bức tranh đen tối sau biến cố 30/4

Kể từ ngày Huỳnh Phú Sổ mất tích, tín đồ PGHH đã quyết liệt chống Việt Minh cho nên tình hình hoạt động của đạo này bị cấm hoàn toàn sau ngày 30/4/1975.

Tác giả Nguyễn Long Thành Nam đã dẫn một bài báo đăng trên tờ Sài Gòn Giải Phóng ngày 9/8/1975 để nói về chính sách của chính quyền sau biến cố 30/4 đối với PGHH.

Phần trích nguyên văn của bài báo đã gọi những lãnh đạo của PGHH Lương Trọng Tường và Huỳnh Văn Nhiệm là “phản đạo, phản nhân dân, phản cách mạng”. Bài báo đó còn mô tả về một cuộc họp kéo dài ba ngày của các cấp trị sự PGHH ở huyện Thốt Nốt, tỉnh Cần Thơ và kết thúc bằng cuộc mít tinh tuyên bố giải tán Ban trị sự, Ban chấp hành Dân Xã Đảng, các tổ chuyên môn của PGHH cũng như các tổ công tác xã hội,… để người dân không còn tụ họp nữa.

Tác giả này cũng dẫn một bài báo khác dịch sang tiếng Việt từ Thời báo Los Angeles (đăng vào năm 1978) ghi rằng các lãnh tụ Hòa Hảo hay tín đồ có tham gia chính trị đều bị đưa đi các trại cải tạo.

Tháng 12/1998, báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc về tự do tôn giáo và tín ngưỡng, ông Abdelfattah Amor đã công bố báo cáo của mình sau chuyến thăm chính thức Việt Nam vào tháng 10/1998.

Trong báo cáo này, báo cáo viên nói mình không thể gặp tín đồ của PGHH dù là gặp chính thức hay riêng tư. Nguồn tin không phải của nhà nước gửi cho ông nói rằng sau biến cố 30/4/1975, chính quyền đã cho đóng cửa toàn bộ hơn 3,500 ngôi chùa của PGHH và khoảng hơn 5,000 nơi thờ cúng, tổ sinh hoạt xã hội và văn hóa PGHH.

Ông kết luận các tổ chức tôn giáo (Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo và Hồi Giáo) không thể thành lập và hoạt động độc lập với chính quyền. Sự tồn tại của các tổ chức tôn giáo có đăng ký tại thời điểm đó mang tính công cụ nhằm quản lý xã hội hơn là thực thi quyền tự do tôn giáo của người dân.

Đến năm 1999, PGHH cơ bản chia thành hai phái. Một phái được chính quyền cấp giấy phép hoạt động là Giáo hội PGHH, có trụ sở tại An Hòa Tự đặt tại thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Nhiều tín đồ PGHH không tham gia phái này vì cho rằng ban trị sự bị chính quyền điều khiển, không hoạt động đúng với tôn chỉ của đạo.

Phái còn lại không được chính quyền công nhận là PGHH “chính thống”, có trụ sở tại Tổ đình PGHH cách An Hòa Tự chưa đến 3 km. Những hoạt động của tín đồ PGHH độc lập đều bị ngăn cấm.

Tháng 8/1999, trang tin hải ngoại Việt Báo Online đưa tin về một cuộc tranh cãi giữa hai phái PGHH ở tỉnh An Giang. Vụ việc liên quan đến việc Giáo hội PGHH là tổ chức tôn giáo được chính quyền công nhận, có thể tổ chức những buổi lễ công khai nhưng họ lại không tổ chức “ngày đức Thầy thọ nạn” và đọc bài giảng trong các ngày lễ.

Tín đồ Phật giáo Hoà Hảo Bùi Văn Trung trong phiên tòa sơ thẩm ngày 9/2/2018 tại TAND tỉnh An Giang. Ông Trung bị tuyên án sáu năm tù giam cùng 5 tín đồ PGHH khác bị phạt tù giam từ 2 đến 6 năm cùng vì tội gây rối trật tự nơi công cộng. Ảnh: RFA.

Năm 2014, Việt Nam tiếp tục mời báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc tới làm việc để đánh giá về tình hình tự do tôn giáo. Báo cáo của báo viên đặc biệt tiếp tục cho thấy tình hình đàn áp tín đồ PGHH độc lập không thay đổi đáng kể. Tín đồ PGHH độc lập vẫn bị cản trở tự do, theo dõi, bắt bớ, đánh đập và bị tù đày.

Hằng năm, Báo cáo về Tự do Tôn giáo Quốc tế của Hoa Kỳ đối với Việt Nam luôn luôn đề cập đến những vụ sách nhiễu của chính quyền đối với tín đồ PGHH độc lập và giới hạn hoạt động của PGHH nói chung. Bản báo cáo năm 2012 ghi nhận chính phủ chỉ cho phép xuất bản 5/10 cuốn giáo lý của PGHH và không cho phép đọc các bài viết của Huỳnh Phú Sổ nơi công cộng. Ngoài các cáo buộc về đàn áp tín đồ PGHH độc lập, Bản báo cáo năm 2018 ghi nhận rằng chính quyền vẫn tiếp tục cấm tín đồ PGHH kỷ niệm các ngày lễ liên quan đến cuộc đời của Huỳnh Phú Sổ.

Tài liệu tham khảo:

[1] Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nguyễn Thế Anh, Nhà xuất bản Văn hoá – Văn nghệ, trang 227.
[2] Về nguồn gốc lịch sử của Phật giáo Hòa Hảo, Pascal Bourdeaux, Đặng Thế Đại dịch.

Trần Phương
Theo: luatkhoa.com

THÀNH ĐÔ - NƠI THỜI GIAN CHẬM LẠI GIỮA HƯƠNG TRÀ VÀ VỊ CAY TỨ XUYÊN

Thành Đô níu chân du khách bằng nhịp sống thong thả, những quán trà yên bình và hương vị cay nồng khó quên của ẩm thực Tứ Xuyên – nơi thời gian dường như ngừng trôi để con người thật sự sống chậm.


Nếu Bắc Kinh mang hơi thở lịch sử, Thượng Hải rực rỡ ánh đèn đô thị, thì Thành Đô lại chọn cách khác để khiến người ta nhớ mãi – bằng sự thong thả.

Giữa một Trung Hoa luôn vận động, nơi mọi thứ dường như phải nhanh hơn từng phút, Thành Đô lại sống với tốc độ của một tách trà – chậm rãi, đượm hương, và sâu sắc.

Hơi thở an yên bên tách trà sáng


Buổi sáng ở Thành Đô bắt đầu không bằng tiếng còi xe, mà bằng tiếng quân cờ chạm nhẹ trên bàn gỗ. Trong những công viên rợp bóng cây như Nhân Dân hay Hậu Hoa Viên, những người già thong thả nhâm nhi tách trà Long Tỉnh hay trà hoa cúc, bàn cờ tướng đã mở sẵn, vài người ngồi đọc báo, vài người trò chuyện.

Họ không vội.

Trên bàn, khói trà bốc nhẹ như một nhịp thở. Những tách trà ở đây không chỉ là thức uống – mà là nhịp sống.

Người Thành Đô có thể ngồi hàng giờ bên tách trà mà chẳng làm gì cả. Họ nói chuyện thời tiết, chuyện cây trúc sau nhà, chuyện hôm qua lẩu cay có ngon không. Ở đây, “không làm gì” cũng là một niềm hạnh phúc.
Một du khách phương Tây từng nói: “Nếu Thượng Hải khiến bạn chạy, thì Thành Đô khiến bạn thở.”

Và có lẽ vì thế mà bất cứ ai đặt chân đến đây đều cảm thấy tim mình chậm lại đôi nhịp.

Thủ phủ của vị cay và đam mê ẩm thực


Nếu trà là hơi thở của Thành Đô, thì vị cay là linh hồn.

Không phải ngẫu nhiên mà người ta gọi nơi này là “quê hương của vị cay”. Từ những quán vỉa hè bình dân đến nhà hàng truyền thống, ớt và tiêu hoa là hai người bạn không thể tách rời.

Món lẩu Tứ Xuyên chính là biểu tượng của văn hóa nơi đây – sôi sùng sục trong nồi đồng đỏ thẫm, hương cay lan tỏa khiến mắt cay xè, nhưng lại khiến tim người ấm lên. Miếng thịt bò trụng nhanh trong nước lẩu, vớt ra, chấm vào hỗn hợp mè, tỏi, dầu, cảm giác như một bản giao hưởng của vị giác: tê, cay, béo, mặn, thơm – tất cả hòa vào nhau.


Ngoài lẩu, Thành Đô còn nổi tiếng với mì Dan Dan, đậu hũ Mapo, gà Kung Pao, và thỏ cay – những món ăn đậm đà, tinh tế đến từng hương vị. Người Thành Đô tin rằng vị cay không chỉ để kích thích khẩu vị, mà còn là cách để sống nồng nhiệt, để máu nóng chạy trong tim giữa ngày đông lạnh giá.

Đi trên những con phố như Chunxi hay Kuan Zhai, mùi tiêu Tứ Xuyên hòa cùng hương ớt phảng phất trong không khí. Mỗi góc phố, mỗi quán nhỏ đều là một câu chuyện ẩm thực, là một nốt nhạc của bản giao hưởng cay nồng.

Thành phố của thi ca và nghệ thuật


Thành Đô không ồn ào, nhưng lại rất giàu cảm xúc.

Đây là quê hương của thi sĩ Đỗ Phủ, người để lại di sản bất hủ của văn học Trung Hoa. Dinh thự Đỗ Phủ Thảo Đường nằm bên dòng suối nhỏ, giữa những hàng trúc xanh và mái ngói rêu phong, như một lát cắt tĩnh lặng của thời gian.

Bước vào đây, người ta nghe thấy tiếng gió thổi qua lá trúc, tiếng bước chân chạm nền gạch cũ, và đôi khi, nếu đủ yên tĩnh, có thể nghe cả tiếng của quá khứ.

Căn nhà nhỏ nơi Đỗ Phủ từng viết những bài thơ về chiến tranh, về lòng dân, nay vẫn còn lưu dấu. Mỗi gian phòng, mỗi bức tường đều kể một câu chuyện – về văn chương, và về sự chịu đựng thanh thản của người nghệ sĩ.

Không xa đó là phố cổ Cẩm Lý (Jinli Ancient Street) – một nơi giao hòa giữa quá khứ và hiện đại. Ban ngày, nơi đây tấp nập người qua lại, những cửa hàng treo đèn lồng đỏ, bán đồ thủ công, trà, kẹo, đồ lưu niệm. Ban đêm, ánh đèn phản chiếu trên mặt hồ, tiếng nhạc truyền thống xen lẫn với tiếng cười nói của khách du lịch, tạo nên bức tranh đầy sức sống.

Nếu may mắn, bạn có thể xem được màn biến mặt Tứ Xuyên – một trong những nghệ thuật sân khấu độc đáo nhất Trung Hoa. Chỉ trong chớp mắt, khuôn mặt diễn viên thay đổi liên tục, như thể phép thuật. Đó không chỉ là kỹ thuật, mà là niềm tự hào văn hóa của người Thành Đô.

Giữa hiện đại và cổ xưa


Thành Đô hôm nay không chỉ có quá khứ. Thành phố này đang phát triển nhanh chóng với tàu điện ngầm hiện đại, khu thương mại sầm uất, và những tòa nhà chọc trời. Nhưng kỳ lạ thay, cái hồn xưa vẫn còn đó.

Ở giữa trung tâm là những quán trà lâu đời bên cạnh quán cà phê kiểu mới. Thanh niên Thành Đô có thể làm việc trong công ty công nghệ buổi sáng, rồi tối về lại tụ tập cùng bạn bè bên bàn lẩu cay. Sự hiện đại ở đây không làm mất đi bản sắc, mà khiến nó đa chiều và linh hoạt hơn.

Điều đó thể hiện trong cả cách người Thành Đô đối diện cuộc sống. Họ làm việc chăm chỉ, nhưng cũng biết tận hưởng. Họ biết dừng lại để uống trà, ngắm mưa, hay đơn giản là ngồi yên nhìn dòng người đi qua.

Cái “chậm” ở Thành Đô không phải là trì trệ, mà là cách sống có ý thức, để con người không bị cuốn trôi trong vòng xoáy tất bật của thế giới.

Hương trà, vị cay và nhịp sống của lòng người


Trên đường trở về sau một ngày dài, tôi ghé vào quán trà nhỏ trong ngõ. Chủ quán là một cụ ông tóc bạc, dáng người chậm rãi, nụ cười hiền. Ông rót trà, hơi nước bốc lên, mùi hương dịu nhẹ lan tỏa.
“Ở Thành Đô, người ta không vội vì vội thì trà sẽ nguội mất,” ông nói.

Câu nói ấy như chứa cả triết lý sống của vùng đất này.

Thành Đô dạy con người ta biết yêu những khoảnh khắc nhỏ bé, biết tận hưởng vị cay nồng của cuộc đời, và biết im lặng khi cần.

Trong thế giới đầy chuyển động, nơi mỗi ngày đều là cuộc đua, thì Thành Đô giống như một khoảng lặng cần thiết – nơi bạn có thể ngồi xuống, hít một hơi thật sâu, và nhận ra rằng:
Hạnh phúc đôi khi chỉ là một tách trà nóng, một nồi lẩu cay, và một buổi chiều không cần làm gì cả.

Hana Trương / Theo: TravelSig+



Friday, May 22, 2026

DẦU MỎ, VŨ KHÍ ĐỊA CHÍNH TRỊ TỐI THƯỢNG - KỲ 1: EO BIỂN HORMUZ VÀ SỰ TRẢ THÙ CỦA ĐỊA LÝ

Từ khi dầu mỏ là nguồn cung cấp năng lượng chính cho gần như mọi hoạt động kinh tế được xác lập vào các thập niên đầu thế kỷ trước, nguồn tài nguyên này đã luôn gắn chặt với những toan tính địa chính trị toàn cầu.

Eo biển Hormuz đang hết sức căng thẳng - Ảnh: Reuters

Cuộc chiến hiện giờ ở Iran, nỗ lực giành giật eo biển Hormuz cũng như kiểm soát vịnh Ba Tư chỉ là một chương nữa trong biên niên sử dài đó.

Một cuộc khủng hoảng eo biển Hormuz là điều ắt phải xảy đến. Địa lý không thay đổi, dù cho các tay chơi nay đã khác.

Cấu trúc dầu mỏ Trung Đông hiện đại

Tình trạng tập trung của sản xuất dầu mỏ, vận tải quốc tế và tiền bạc ở vịnh Ba Tư đồng nghĩa eo biển Hormuz không chỉ là điểm nghẽn dòng chảy dầu khí. Xung quanh vịnh Ba Tư là nơi có khoảng 50% trữ lượng dầu đã được chứng minh của thế giới, ước tính khoảng 859 tỉ thùng, theo thời giá là khoảng 86.000 tỉ đô la, tức xấp xỉ 3 lần GDP Mỹ.

Riêng năm 2025, các công ty dầu mỏ quốc gia của Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) đã đầu tư 125 tỉ đô la vào các cơ sở sản xuất.

Hỗ trợ cho đội tàu chở dầu toàn cầu gồm 7.500 tàu chủ yếu phục vụ vịnh Ba Tư là khoảng 900 chiếc tàu mẹ loại "Suezmax" (tức đi qua eo Suez thì vừa khít) có giá gần 100 triệu đô la mỗi chiếc (với yêu cầu thay thế thường xuyên do thép bị ăn mòn trong điều kiện hàng hải khắc nghiệt).

Hiện giờ, bất chấp những lời đe dọa từ Tổng thống Donald Trump, eo Hormuz vẫn đang bị phong tỏa. Iran có nguồn cung cấp gần như vô hạn khoảng 80.000 máy bay không người lái (drone) Shahed cùng năng lực sản xuất khoảng 10.000 chiếc mỗi tháng với giá chỉ 20.000 đô la mỗi chiếc.

Tất nhiên, vấn đề kiểm soát quyền tiếp cận động mạch thương mại ở vịnh Ba Tư không chỉ được đặt ra từ khi có drone.

Nó cũng lâu đời như chính lịch sử thương mại thành văn. Và không nhân vật nào trong lịch sử hiện đại hiểu điều này sâu sắc hơn Calouste Sarkis Gulbenkian, nhà tài phiệt người Armenia được thế giới biết đến với cái tên "Ngài Năm phần trăm".

Khi ngành công nghiệp dầu mỏ thế giới bắt đầu mở rộng theo cấp số nhân vào đầu thế kỷ 20, nó kế thừa cùng logic địa lý vốn đã chi phối các tuyến thương mại suốt nhiều thiên niên kỷ. Câu hỏi chỉ chuyển từ ai kiểm soát các tuyến đường mua bán gia vị và lụa là thành ai kiểm soát các mỏ dầu, đặc quyền khai thác và tuyến vận tải. Trong gần nửa thế kỷ, Gulbenkian là một câu trả lời không thể bỏ qua.

Sinh năm 1869 trong gia đình thương nhân giàu có người Armenia gốc Ottoman, ông chỉ thực sự bước chân đến mỏ dầu một lần duy nhất trong đời ở Baku vào năm 1888. Nhưng Gulbenkian thực sự là người đã định hình cấu trúc sản xuất và buôn bán dầu mỏ Trung Đông trong 60 năm tiếp theo.

Kiên nhẫn phi thường, ông đã môi giới chính cho các thỏa thuận xác định ai có quyền tiếp cận dầu mỏ và theo các điều kiện nào và trích lấy 5% cổ phần trong hầu hết các thương vụ để trở thành người giàu nhất thế giới khi ông qua đời ở Lisbon năm 1955.

Công cụ mà Gulbenkian dùng để xây dựng đế chế của ông là thỏa thuận "lằn ranh đỏ" năm 1928 vốn tập hợp BP, ExxonMobil, Total và Royal Dutch-Shell thành một liên doanh - Công ty Dầu mỏ Iraq (IPC) - để hợp tác trên toàn bộ lãnh thổ cũ của đế chế Ottoman ở châu Á. Đây là bản hiệp ước nền tảng của dầu mỏ Trung Đông hiện đại.

Điểm tối quan trọng ở đây là Gulbenkian đảm bảo rằng các mỏ dầu rộng lớn ở Mosul và Kirkuk, Iraq được kết nối với các đường ống đi ra Địa Trung Hải, một nhánh tới Haifa và một nhánh khác tới Tripoli ở Lebanon qua đường Syria và Jordan.

Cơ sở hạ tầng này là biểu tượng cho tầm nhìn chiến lược của Gulbenkian: dầu từ sâu trong nội địa Trung Đông có thể ra biển mà không cần đi qua vịnh Ba Tư. Trên thực tế, các tuyến đường ống này đã cung cấp nhiên liệu cho lực lượng Anh và Mỹ trong suốt Thế chiến 2 cho đến khi bị cắt đứt vào năm 1948 do Iraq từ chối bơm dầu qua lãnh thổ nhà nước Israel mới thành lập.

Lịch sử các đường ống dẫn dầu và tuyến hàng hải Trung Đông cũng là lịch sử thu nhỏ của địa chính trị khu vực. Mỗi đường ống và tuyến hàng hải đều phản ánh những tính toán chính trị, các liên minh và các mối quan hệ kình địch. Mỗi lần đóng cửa hoặc chuyển hướng đều phản ánh một sự thay đổi trong trật tự khu vực và rất nhiều khi là cả thế giới.

Chỉ khi cuộc khủng hoảng hiện tại ở Hormuz nổ ra, nhiều người mới bắt đầu biết tới hai hệ thống đường ống: động mạch dầu Đông - Tây của Saudi Arabia đến Yanbu trên Biển Đỏ và đường ống Habshan-Fujairah của UAE đến vịnh Oman, dù chúng được xây dựng chính xác vì các cuộc khủng hoảng vịnh Ba Tư trước đó.

Đường ống Đông - Tây của Saudi tiêu tốn hàng tỉ đô la và mất nhiều thập niên xây dựng vào đầu những năm 1980, khi chiến tranh Iran - Iraq lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại đe dọa làm gián đoạn lưu thông tàu dầu qua vịnh Ba Tư. Tuyến đường ống này dài 1.200km và có khả năng vận chuyển 7 triệu thùng mỗi ngày, suốt một thời gian dài đã không chạy hết công suất cho tới những ngày qua.

Tương tự là đường ống Habshan-Fujairah của UAE được xây dựng một phần bởi Tập đoàn Dầu khí quốc gia Trung Quốc với công suất nhỏ hơn: 1,8 triệu thùng mỗi ngày. Sau khi eo Hormuz bị phong tỏa, đây là những con đường thay thế quan trọng nhất hiện hữu.

Dù như giới phân tích đã lưu ý, chúng không thể thay thế khối lượng vận tải biển thông thường và vẫn có điểm yếu: cảng Fujairah của UAE đã bị drone tấn công mới vào tuần trước.

Pháo đài cũ của Bồ Đào Nha với các khẩu pháo nhìn ra eo biển Hormuz - Ảnh: WikiTravel

Một khuôn mẫu lặp lại

Sự tương đồng với thời đại của Gulbenkian là rất đáng kinh ngạc. Ông cũng làm ăn trong một thế giới mà hạ tầng vận chuyển dầu liên tục bị tranh chấp, phá hoại và định hướng lại bởi các lực lượng chính trị.

Đường ống từ Kirkuk đến Haifa đã trở thành nạn nhân của cuộc xung đột Ả Rập - Israel. Đường ống xuyên Ả Rập (TAPLINE), từng vận chuyển dầu thô của Saudi đến bờ biển Địa Trung Hải của Lebanon ngưng hoạt động vào năm 2002 khi các hành động thù địch trong khu vực khiến việc vận hành trở nên bất khả thi.

Hiệp định Abraham năm 2020 giữa Israel với nhiều nước vùng Vịnh và cuộc chiến Iran hiện tại đang mở ra khả năng logic địa lý Gulbenkian sẽ trở lại. Haifa, thành phố nay thuộc Israel, từng là bến cuối ở Địa Trung Hải cho dầu thô Iraq những năm 1930 sẽ là điểm ra biển lý tưởng cho dầu của cả Trung Đông nếu các bên liên quan có thể đạt được thỏa thuận.

Gulbenkian đã nhìn thấu suốt logic cơ bản: tuyến đường bộ xuyên Trung Đông bỏ qua cả Hormuz, kênh đào Suez lẫn biển Đỏ, những điểm nghẽn mà lúc này lúc khác ắt sẽ trở nên nhạy cảm về chính trị. Dầu mỏ như thế sẽ được vận chuyển rẻ hơn, an toàn hơn và có giá trị chiến lược hơn giải pháp đường biển.

Cuộc khủng hoảng Hormuz đang khẳng định logic nghiệt ngã đó. Dầu mỏ của Iraq, Kuwait và Bahrain mắc kẹt trong vịnh Ba Tư, còn cả thế giới khao khát nguồn cung. Cũng chính vì vậy, Iran hiện không chỉ phong tỏa eo Hormuz mà còn phát đi tín hiệu sẵn sàng tấn công hạ tầng trên bộ tìm cách bỏ qua họ.

Địa lý chiến lược đã được xác lập từ thời của con đường tơ lụa cổ xưa, được Gulbenkian biến thành khối tài sản khổng lồ cho riêng ông vào thế kỷ 20, giờ lại trở thành vấn đề trung tâm của cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu.
Năm thế kỷ trước cuộc khủng hoảng hiện tại, Bồ Đào Nha đứng trước thách thức địa lý tương tự với rất nhiều ngụ ý cho thời hiện đại. Sau khi hạm đội của Vasco da Gama đi qua mũi Hảo Vọng vào năm 1498, Bồ Đào Nha nhanh chóng thiết lập một chuỗi thương điếm trải dài từ Mozambique đến Nhật Bản, được hậu thuẫn bởi các pháo hạm hùng mạnh.

Hai eo biển Hormuz và Malacca là trụ cột của quyền lực thương mại đó. Với tàu bè và pháo binh vượt trội, Bồ Đào Nha chiếm giữ các nút thắt then chốt và thiết lập một hệ thống trên thực tế là "chặn đường mãi lộ" với thương mại cả châu Á.

Hệ thống đó bao gồm những "cartaza" - chứng thư cấp quyền đi lại cho tàu thuyền đồng minh, trong khi ai không có chứng thư có thể bị tấn công và cướp bóc, tức một đường dây bảo kê dựa trên sức mạnh hải quân.
-----------------------

Trong cả Thế chiến 1 và 2, dầu mỏ vừa đóng vai trò động lực vừa là mục tiêu, điều định hình cả cục diện chiến sự lẫn để lại những hệ quả hết sức lâu dài với nhân loại.

Kỳ tới: Chiến tranh thế giới và kỷ nguyên dầu mỏ

Hải Minh / Theo: tuoitre
Link tham khảo:

Xin vẫn click vào để xem trực tiếp trên Youtube.


MẪU ĐƠN - LÝ THƯƠNG ẨN


Mẫu đơn - Lý Thương Ần

Cẩm vi sơ quyển Vệ phu nhân,
Tú bị do đồi Việt Ngạc Quân.
Thuỳ thủ loạn phiên điêu ngọc bội,
Chiết yêu tranh vũ uất kim quần.
Thạch gia lạp chúc hà tằng tiễn,
Tuân lệnh hương lô khả đãi huân?
Ngã thị mộng trung truyền thái bút,
Dục thư hoa diệp ký triêu vân.


牡丹 - 李商隱

錦幃初卷衛夫人
繡被猶堆越鄂君
垂手亂翻雕玉佩
折腰爭舞郁金裙
石家蜡燭何曾剪
荀令香爐可待熏
我是夢中傳綵筆
欲書花葉寄朝雲


Mẫu đơn
(Dịch thơ: Như Quy)

Màn thêu vừa hé Vệ phu nhân,
Áo gấm còn che Việt Ngạc Quân.
Tay rủ loạn khoe điêu ngọc bội,
Eo thon tranh múa uất kim quần.
Thạch Sùng bấc nến nào từng tắt,
Tuân Úc lò hương há đợi xông ?
Trong mộng được truyền cây tuyệt bút,
Tả đề hoa lá gửi mây ngần.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Thương Ẩn 李商隱 (813-858) tự Nghĩa Sơn 義山, hiệu Ngọc khê sinh 玉谿生, người Hà Nội, Hoài Châu (nay là Tầm Dương, phủ Hoài Khánh, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ sa sút. Thuở thiếu thời giỏi văn thơ, được giao du với các con của tể tướng Lệnh Hồ Sở 令狐楚, trong đó có Lệnh Hồ Đào 令狐綯. Bấy giờ trong triều có hai phe đối nghịch nhau, tranh quyền đoạt lợi, một phe là Ngưu Tăng Nhụ 牛僧孺, phe kia là Lý Đức Dụ 李德裕, hầu hết quan lại đều bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp ấy. Sở theo phe Ngưu. Năm Lý Thương Ẩn mười bảy tuổi (829), Sở tiến cử làm tuần quan mạc phủ. Năm hai mươi lăm tuổi (837), ông lại được Lệnh Hồ Đào khen ngợi, nâng đỡ nên đỗ tiến sĩ năm Khai Thành thứ 2. Năm sau ông được Vương Mậu Nguyên 王茂元, tiết độ sứ Hà Dương mến tài, dùng làm thư ký và gả con gái cho. Chẳng may, Vương thuộc phe Lý Đức Dụ khiến ông trở thành kẻ vong ân bội nghĩa, xảo quyệt vô hạnh trong mắt Lệnh Hồ Đào. Vương Mậu Nguyên chết, rồi Lý Đức Dụ thất thế, ông đến kinh sư nhưng không được làm gì cả. Sau nhờ Trịnh Á vận động, ông được làm chức quan sát phán quan. Trịnh Á bị biếm ra Lĩnh Biểu, ông cũng đi theo. Ba năm sau ông lại trở về, làm huyện tào tại Kinh Triệu. Ông nhiều lần đưa thư, dâng thơ cho Lệnh Hồ Đào để phân trần và xin tiến dẫn, nhưng vẫn bị lạnh nhạt. Tiết độ sứ Đông Thục là Liễu Trọng Hĩnh dùng ông làm tiết độ phán quan, kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Liễu bị bãi quan, ông cũng mất chức. Như thế là ông mắc kẹt giữa hai phái, chưa hề được đắc chí trên hoạn lộ, cứ bôn tẩu khắp nơi: Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Từ Châu nương nhờ hết người này đến người khác, long đong khốn khổ. Cuối cùng ông về đất Oanh Dương thuộc Trịnh Châu rồi bệnh chết năm 46 tuổi.

Nguồn: Thi Viện



ĐỜI NGƯỜI CÓ ĐƯỢC ẮT CÓ MẤT, BIẾT BUÔNG BỎ LÒNG THAM THÌ TÙY DUYÊN HƯỞNG PHÚC


Một hôm tên quỷ sứ già thấy lão nông dân sống cả ngày luôn thanh tao vui vẻ, bèn nghĩ: “Nếu đã như vậy thì cần gì có quỷ nữa”? Vậy là tên quỷ sứ già phải một tên tiểu quỷ đi quậy phá lão nông dân.

Tên tiểu quỷ liền dùng phép thuật của mình biến đất canh tác của lão nông dân trở lên cứng như sỏi đá, muốn làm cho lão nông dân nản chí không làm nữa. Tuy nhiên, lão nông dân vẫn cần mẫn làm việc, không oán trời, oán đất, sớm hôm chăm chỉ làm việc.

Tên quỷ già thấy vậy liền phái tên tiểu quỷ thứ hai đi phá đám, tên tiểu quỷ thứ hai cho rằng lấy trộm thức ăn và nước thì lão nông dân sẽ vì đói vì khát mà chán nản mà bỏ cuộc.

Tuy nhiên, lão nông dân lại nghĩ: “Chắc người đó cần thức ăn và nước hơn mình, vậy cứ để họ lấy đi cũng được”. Tên tiểu quỷ thứ hai thất bại quay về.

Đương lúc tên quỷ già suy nghĩ không biết cách gì để làm cho lão nông dân nản chí thì tên tiểu quỷ thứ ba khác nói: “Tôi có thể khiến cho lão nông kia trở lên xấu xa hãy tin tôi”. Vậy là tên tiểu quỷ thứ ba đi tìm lão nông dân.

Trước tiên tên tiểu quỷ thứ ba đi tìm gặp lão nông dân, hai người kết bạn với nhau. Sau đó nó dùng khả năng dự đoán của mình, nói cho lão nông dân biết trước sang năm có đại hạn hán, cần phải tìm vùng đất trũng để canh tác.

Quả nhiên tới năm sau, đất trời hạn hán, cây cối héo tàn, nhà nhà mất mùa. Duy chỉ có lão nông dân được tên tiểu quỷ thứ ba báo trước, tìm chỗ đất trũng canh tác nên được mùa trúng lớn. Lão nông dân trở lên giàu có, ông không còn canh tác nữa mà chuyển sang nấu rượu bán.

Tên tiểu quỷ thứ ba nói với lão quỷ già: “Ngài xem, lão nông giờ đã có máu huyết của lợn rồi”.

Lão nông dân mở một đại yến tiệc, mời tất cả những đại phú gia đến tham gia. Mọi người ai lấy đều ăn uống say mèm không còn biết cả trời đất là gì nữa, quần áo xộc xệch không còn ra hình người nữa. Tên tiểu quỷ lại nói với lão quỷ già: “Ngài xem, lão nông kia giờ đã có máu huyết của dòng lang sói”.

Trong lúc say mèm, lão nông dân chửi mắng một tên đầy tớ nghèo thậm tệ. Tên quỷ sứ già thấy vậy nói: “Thật là lợi hại, ngươi đã làm cách nào được vậy?”. Tên tiểu quỷ thứ ba đáp: “Tôi chỉ cho lão nông kia được những thứ quá sức tưởng tượng của ông ấy”.

Tên tiểu quỷ đã khơi dậy lòng tham của lão nông dân, để ông mất đi bản tính lương thiện của mình, bị kim tiền làm cho mê hoặc. Điều đó khiến lão nông dân dần dần sinh ra ác niệm, biến thành một người xấu xa, bại hoại, đánh mất chính mình, sinh ra lòng sân hận, độc ác.


***

Ngày nay, khi con người ngày một coi trọng cuộc sống kim tiền thì niềm vui, sự hạnh phúc của họ đều được đặt trên nên tảng vật chất, lấy vật chất làm thước đo của sự thành công, thất bại của một đời người. Vậy nên, ngày càng có không ít người vì theo đuổi giấc mơ tiền bạc này để rồi phải đánh mất đi niềm vui, hạnh phúc, và rồi cuối cùng đánh mất đi chính mình.

Đời người có được ắt có mất, có vui thì ắt cũng sẽ buồn, có tham thì ắt sẽ có sân có hận. Khi con người tham lam truy cầu vật chất nhiều hơn những gì mình cần có, đó cũng chính là khi chúng ta bước lên chiếc thuyền mang tên đau khổ, trôi đi vô định trên dòng sông xô bồ của cuộc sống. Đạo lý là vậy, tưởng như đơn giản nhưng lại không hề giản đơn.

Kiếp người như xuân hạ thu đông, chúng ta đến trong cát bụi và lại về với hư không. Chúng ta đến đây cũng chỉ là quán trọ trần gian, đến tay không, và về cũng tay không. Vậy nên, buông bỏ lòng tham, lấy biết đủ làm vui, lấy tùy duyên làm lẽ sống, tu tâm dưỡng tính, “Phản bổn quy chân”, thân tâm thanh tịnh ắt an lạc một đời.

Theo: ĐKN

VỊ HOÀNG ĐẾ BI THẢM NHẤT NHÀ ĐƯỜNG: CẢ ĐỜI BỊ 3 PHỤ NỮ THAO TÚNG

Lý Hiển là một trong những vị hoàng đế mang màu sắc bi kịch nhất triều Đường. Cuộc đời ông gắn với vô số ràng buộc và bi kịch liên quan tới ba người phụ nữ ấy. Tuy nhiên, việc ông giúp phục hưng nhà Đường sau thời Võ Chu cũng có thể xem là chút công lao còn lưu lại trong lịch sử.

Đường Trung Tông Lý Hiển.

Trong lịch sử nhà Đường, có không ít hoàng đế nổi tiếng vì tài năng kiệt xuất, nhưng cũng có những người để lại dấu ấn bằng chính bi kịch cuộc đời mình. Đường Trung Tông Lý Hiển chính là một trường hợp như vậy. Ông từng hai lần bước lên ngai vàng, từng là người khôi phục lại cơ nghiệp họ Lý sau thời Võ Chu, nhưng cả cuộc đời lại bị cuốn vào vòng xoáy quyền lực do ba người phụ nữ thao túng: mẹ là Võ Tắc Thiên, vợ là Vi hoàng hậu và con gái là An Lạc công chúa Lý Khỏa Nhi. Từ một thái tử mang nhiều kỳ vọng, Lý Hiển dần trở thành vị hoàng đế nhu nhược, bất lực và cuối cùng chết dưới chính bàn tay của những người thân cận nhất.

Lý Hiển sinh năm 656 tại Trường An, là con trai thứ bảy của Đường Cao Tông Lý Trị và cũng là con trai thứ ba của Võ Tắc Thiên. Xuất thân cao quý giúp ông từ nhỏ đã sống giữa nhung lụa và quyền lực. Thế nhưng, cũng chính môi trường cung đình đầy âm mưu ấy đã định sẵn số phận bi thảm của ông.

Thời trẻ, Lý Hiển vốn không phải người được lựa chọn đầu tiên cho ngôi vị kế thừa. Anh trai ông là Lý Hoằng từng là thái tử nhưng chết trẻ trong hoàn cảnh đầy nghi vấn. Người anh khác là Lý Hiền sau đó bị phế truất vì thất sủng với Võ hậu. Sau biến cố ấy, Lý Hiển được đưa lên làm thái tử. Tuy nhiên, ông hiểu rõ rằng ngai vàng của mình hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của mẹ.

Trong mắt hậu thế, Võ Tắc Thiên là một nữ hoàng kiệt xuất nhưng cũng nổi tiếng lạnh lùng và tàn nhẫn. Chính sự mạnh mẽ đến đáng sợ ấy đã khiến Lý Hiển hình thành tính cách nhu nhược. Ông tận mắt chứng kiến những người thân trong hoàng tộc bị loại bỏ chỉ vì cản đường quyền lực của Võ hậu. Vì thế, dù mang danh thái tử, ông luôn sống trong tâm trạng sợ hãi.

Cuộc hôn nhân đầu tiên của Lý Hiển với Triệu thị càng cho thấy quyền lực tuyệt đối của Võ hậu trong cung đình. Triệu thị là cháu ngoại Đường Cao Tổ, xuất thân cao quý, được Đường Cao Tông hết sức yêu quý. Nhưng Võ hậu lại không thích nàng. Chỉ vì đắc tội với Võ hậu, Triệu thị bị giam lỏng, cuối cùng chết đói trong cô độc. Bi kịch ấy khiến Lý Hiển càng thêm khiếp sợ mẹ mình.

Năm 683, Đường Cao Tông qua đời. Lý Hiển lên ngôi, trở thành Đường Trung Tông. Lúc mới đăng cơ, ông từng muốn xây dựng quyền lực riêng. Nhưng chỉ một hành động nhỏ cũng đủ khiến ông đánh mất ngai vàng.

Lý Hiển muốn phong cha của Vi thị làm tể tướng. Khi bị đại thần Bùi Viêm phản đối, ông tức giận nói: “Ta đem cả giang sơn cho Vi Huyền Trinh cũng được, huống hồ là chức tể tướng”. Câu nói ấy nhanh chóng truyền đến tai Võ Thái hậu.

Đối với Võ hậu, đây là dấu hiệu cho thấy con trai mình không còn dễ kiểm soát. Chỉ sau hơn một tháng trị vì, Lý Hiển bị phế truất, giáng làm Lư Lăng Vương và bị lưu đày khỏi kinh thành.

Từ đây bắt đầu quãng đời đen tối nhất của ông.

Trong thời gian lưu đày tại Phòng Châu rồi Quân Châu, Lý Hiển sống trong nỗi sợ triền miên. Ông luôn lo mình sẽ có kết cục giống những người anh em đã chết trước đó. Mỗi lần có sứ giả từ triều đình tới, ông đều run rẩy vì nghĩ rằng mẹ mình đã ra lệnh ban chết.

Có thời điểm, ông tuyệt vọng đến mức muốn tự sát. Nhưng bên cạnh ông khi ấy vẫn còn một người phụ nữ luôn an ủi và động viên, đó là Vi thị.

Vi thị theo ông đi lưu đày, cùng ông chịu cảnh nghèo túng. Trên đường lưu đày, bà sinh ra một cô con gái. Vì không có tã quấn cho đứa bé, Lý Hiển phải cởi áo mình làm khăn bọc con, nên cô bé được đặt tên là Khỏa Nhi, tức “đứa trẻ được bọc bằng áo”.

Trong quãng thời gian cùng cực ấy, Lý Hiển ngày càng lệ thuộc vào Vi thị về mặt tinh thần. Ông từng hứa với bà rằng nếu có ngày được trở lại ngai vàng, ông sẽ không ngăn cản bất cứ điều gì bà muốn làm.

Võ Tắc Thiên.

Chính lời hứa ấy về sau trở thành nguyên nhân hủy hoại cuộc đời ông.

Năm 690, Võ Tắc Thiên chính thức xưng đế, lập ra nhà Võ Chu. Nhà Đường bị gián đoạn. Tuy nhiên khi tuổi già đến gần, Võ Tắc Thiên bắt đầu đau đầu về chuyện người kế vị. Cháu họ Võ tranh quyền đoạt lợi, trong khi nhiều đại thần vẫn muốn khôi phục họ Lý.

Địch Nhân Kiệt là người đã thay đổi vận mệnh của Lý Hiển. Ông khuyên Võ hậu rằng thiên hạ vốn thuộc về họ Lý, nếu truyền ngôi cho cháu họ Võ thì sẽ trái lòng người. Cuối cùng, Võ hậu chấp nhận triệu Lý Hiển trở về kinh và lập lại làm thái tử.

Năm 705, khi Võ Tắc Thiên bệnh nặng, các đại thần như Trương Giản Chi, Kính Huy, Hoàn Ngạn Phạm phát động chính biến, giết anh em Trương Dịch Chi và ép Võ hậu thoái vị. Lý Hiển được phục ngôi, khôi phục nhà Đường sau 15 năm gián đoạn.

Đó lẽ ra phải là khởi đầu cho một thời kỳ mới. Nhưng Lý Hiển nhanh chóng rơi vào sự khống chế của người phụ nữ thứ hai: Vi hoàng hậu.

Ngay khi lên ngôi lần thứ hai, ông lập tức phong Vi thị làm hoàng hậu, truy phong cha bà làm vương, đồng thời cho phép bà tham dự triều chính. Vi hậu không còn là người phụ nữ dịu dàng từng cùng ông chịu khổ nơi lưu đày nữa. Sau nhiều năm sống dưới cái bóng của Võ Tắc Thiên, bà bắt đầu nuôi tham vọng trở thành “Võ hậu thứ hai”.

Vi hoàng hậu tư thông với Võ Tam Tư — cháu của Võ Tắc Thiên. Hai người cấu kết tạo thành thế lực thao túng triều đình. Những đại thần từng giúp Lý Hiển khôi phục ngai vàng lần lượt bị chèn ép, lưu đày rồi giết chết.

Lý Hiển biết tất cả, nhưng ông không đủ cứng rắn để ngăn cản.

Sự nhu nhược của ông càng khiến triều đình hỗn loạn hơn khi An Lạc công chúa Lý Khỏa Nhi trưởng thành.

Được cha yêu chiều từ nhỏ, Lý Khỏa Nhi trở nên kiêu ngạo và đầy tham vọng. Nàng không chỉ muốn trở thành công chúa quyền lực nhất mà còn mơ đến ngai vàng. Dưới sự hậu thuẫn của Vi hậu, An Lạc công chúa nhiều lần yêu cầu cha phế thái tử Lý Trọng Tuấn để lập mình làm “Hoàng thái nữ”.

Dù thấy yêu cầu ấy quá hoang đường, Lý Hiển vẫn không nỡ trách phạt con gái.

Lý Hiển cưng chiều Lý Khỏa Nhi khiến nàng công chúa này trở nên kiêu ngạo.

Bi kịch của ông nằm ở chỗ luôn mềm lòng trước những người thân cận nhất.

Trong khi đó, thái tử Lý Trọng Tuấn bị Vi hậu và An Lạc công chúa chèn ép đến đường cùng. Năm 707, ông phát động binh biến giết Võ Tam Tư nhưng thất bại và bị giết chết. Sau vụ việc ấy, quyền lực của Vi hậu và An Lạc công chúa càng lớn hơn.

Những năm cuối đời, Lý Hiển dần nhận ra sự nguy hiểm của phe Vi hậu. Một số đại thần liên tiếp tố cáo Vi hậu cùng phe cánh âm mưu đoạt quyền. Nhưng mọi lời cảnh báo đều quá muộn.

Vi hậu muốn trở thành nữ hoàng như Võ Tắc Thiên. An Lạc công chúa muốn làm Hoàng thái nữ. Cả hai đều hiểu rằng chỉ cần Lý Hiển còn sống, tham vọng ấy sẽ không thể thực hiện.

Năm 710, Vi hậu cùng An Lạc công chúa bí mật đầu độc vào bánh của hoàng đế.

Ngày 3 tháng 7 năm 710, Đường Trung Tông Lý Hiển đột ngột qua đời tại Thần Long điện, hưởng thọ 55 tuổi.

Sau cái chết của ông, Vi hậu lập tức phong tỏa tin tức, giả mạo di chiếu và nắm quyền triều chính. Nhưng kế hoạch chưa kịp hoàn thành thì Lý Long Cơ cùng Thái Bình công chúa phát động chính biến Đường Long, giết chết Vi hậu và An Lạc công chúa.

Có lẽ đến lúc nhắm mắt, Lý Hiển cũng không ngờ rằng hai người phụ nữ ông yêu thương và tin tưởng nhất lại chính là những kẻ lấy mạng mình.

Kết cục sau cùng của ông càng nhuốm màu bi kịch. Người được hợp táng với Đường Trung Tông không phải Vi hoàng hậu, mà là người vợ đầu tiên Triệu thị — người từng chết đói dưới tay Võ Tắc Thiên từ nhiều năm trước.

Nhìn lại cuộc đời Lý Hiển, người ta thấy ông gần như chưa từng thực sự làm chủ số phận của mình. Thời trẻ bị Võ Tắc Thiên thao túng, trung niên bị Vi hoàng hậu khống chế, cuối đời lại bị con gái An Lạc công chúa dẫn vào con đường chết.

Ông từng hai lần bước lên ngai vàng, từng khôi phục nhà Đường sau thời Võ Chu, nhưng cuối cùng vẫn chỉ là một vị hoàng đế bất hạnh bị cuốn chìm giữa những âm mưu hậu cung và cơn khát quyền lực không đáy của những người phụ nữ quanh mình.

PV / Theo: Dân Việt

Thursday, May 21, 2026

"DỰ ÁN AZORIAN" QUA HỒ SƠ GIẢI MẬT CỦA CIA

Dưới sức ép của dư luận, trung tuần tháng 2/2010, Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã giải mật hồ sơ Dự án Azorian theo quy định của Đạo luật Tự do Thông tin (FOIA).

Dự án của CIA nhằm trục vớt tàu ngầm Liên Xô K-129 chìm dưới đáy Thái Bình Dương năm 1974.

Về Dự án Azorian

Theo Bách Khoa thư mở (EWO), Dự án Azorian (Project Azorian), gọi tắt Dự án PA được xếp là SCI (cấp độ bảo mật đặc biệt). Dự án PA còn được báo chí gọi là Jennifer nhằm trục vớt tàu ngầm Liên Xô K-129 chìm dưới đáy Thái Bình Dương (TBD) năm 1974 bị chìm năm 1968, cách Hawaii 2.510 km về phía Tây Bắc. Dự án PA là một trong những hoạt động tình báo phức tạp, tốn kém và bí mật nhất trong Chiến tranh Lạnh với chi phí khoảng 800 triệu USD (tương đương 3,9 tỷ USD thời giá 2024).

Chuyện bắt đầu vào ngày 24/2/1968, tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo K-129 của Hạm đội TBD Liên Xô, rời căn cứ Rybachiy ở Kamchatka để thực hiện cuộc tuần tra thường lệ. Đây là chuyến tuần tra thứ ba của của K-129 kể từ khi hoàn thành đợt tổng hiện đại hóa một năm trước đó. Vào ngày đầu tiên, khi K-129 di chuyển ra vùng nước sâu, thực hiện lặn thử nghiệm, nổi lên để liên lạc vô tuyến và lên đường đến vị trí đã định. Theo quy định, K-129 phải liên lạc vô tuyến tiêu chuẩn với chỉ huy ở Kamchatka khi vượt qua kinh tuyến 180. Nhưng K-129 đã bỏ qua các lần liên lạc này, không phản hồi và đến tuần thứ 3 tháng 3/1968 thì mất tích.

Liên Xô khi ấy không xác định được vị trí của K-129, nhưng Mỹ lại làm được nhờ công tàu ngầm USS Halibut bằng cách sử dụng Fish, một thiết bị kéo dài 3,7 mét, nặng 2 tấn (1,8 tấn) với các camera, đèn nháy và sonar được chế tạo để chịu được độ sâu cực lớn. Sau đó chiến dịch trục vớt của CIA được bắt đầu dưới vỏ bọc khai thác quặng mangan.

Tàu và thiết bị dùng cho khai thác mỏ về danh nghĩa thuộc sở hữu của tỷ phú ẩn dật Howard Hughes, nhưng được CIA bí mật hậu thuẫn chi tiền cho chế tạo tàu Hughes Glomar Explorer (HGE). HGE đã trục vớt một phần của K-129, nhưng do sự cố cần cẩu khiến hai phần ba phần được trục vớt bị gãy và rơi trở lại xuống biển.

Tàu ngầm K-129 của Liên Xô trước khi gặp sự cố.

CIA từng từ chối giải mật

Theo quy định trong đạo luật FOIA, ngày 12/2/2010, lần đầu tiên, CIA đã giải mật thông tin về Dự án PA, một trong những kế hoạch tuyệt mật, nhạy cảm nhất trong lịch sử của CIA. Cùng với hồ sơ giải mật, CIA còn công bố cả các bản ghi nhớ của Nhà Trắng về các cuộc trao đổi từ năm 1975, thuật lại phản ứng của Tổng thống Ford và các thành viên nội các về những thông tin rò rỉ trên báo chí về tàu thăm dò HGE.

Những chi tiết đầu tiên về Dự án PA được nhà báo Jack Anderson của tờ Los Angeles Times đăng tháng 2/1975, và bài báo nữa của phóng viên Hersh của tờ New York Times đăng ngày 19/3. Kể từ đó, CIA kiên quyết từ chối giải mật bất kỳ tài liệu liên quan đến Dự án PA đến mức không xác nhận cũng không phủ nhận sự tồn tại của chiến dịch này.

Quan điểm CIA thay đổi đôi chút vào những năm 1990, khi đồng ý giải mật một đoạn băng video trước đó đã được trao cho Tổng thống Nga Boris Yeltsin, nói về cảnh chôn cất trên biển các thủy thủ người Nga được tìm thấy trong phần tàu ngầm mà CIA đã trục vớt. Nhưng ngoài đoạn băng video này, trong hơn 35 năm, công chúng chỉ có thể dựa vào một số ít sách báo được viết mà không được tiếp cận với các tài liệu mật để biết thực hư về dự án.

Nội dung giải mật có gì đặc biệt?

Theo hồ sơ giải mật, Dự án PA bắt đầu vào ngày 1/3/1968, khi một tàu ngầm lớp Golf-II của Liên Xô, ký hiệu K-129 (CIA gọi là 722), mang theo 3 tên lửa đạn đạo hạt nhân SS-N-4 Sark, rời căn cứ hải quân Petropavlovsk. Nếu chiến tranh nổ ra, K-129 sẽ phóng 3 quả tên lửa này, mỗi chiếc mang đầu đạn hạt nhân một megaton, vào các mục tiêu dọc theo bờ biển phía tây của nước Mỹ. Nhưng vào giữa tháng 3/1968, sự cố đã xảy ra với K-129, làm nó chìm cách Hawaii 2.510 km về phía tây bắc, toàn bộ thủy thủ đã thiệt mạng. Điều thú vị, hồ sơ của CIA lại không đề cập đến nguyên nhân tai nạn và chìm ở độ sâu trên 5.000m dưới biển TBD.

Thông tin được giải mật cung cấp thêm nhiều điều chưa được công bố. Cụ thể, vào ngày 1/7/1969, CIA thành lập Ban dự án Đặc biệt để thực hiện Dự án PA. Người đứng đầu là John Parangosky, quan chức cấp cao thuộc Cục Khoa học và Công nghệ của CIA. Parangosky từng quản lý việc phát triển và vận hành một số hệ thống trinh sát trên không tuyệt mật của CIA. Phó của ông ta là sĩ quan hải quân Ernest "Zeke" Zellmer, người này từng tốt nghiệp học viện và là sĩ quan tàu ngầm trong Thế chiến II. Kế hoạch này được Tổng thống Mỹ Richard Nixon đích thân phê duyệt tháng 8/1969.

Tàu chuyên dụng HGE của CIA đảm nhận việc trục vớt K-12.

Đến tháng 10/1970, một nhóm kỹ sư CIA và các nhà thầu được cấp phép đặc biệt để xác định tính khả thi trục với con tàu ngầm nặng 1.750 tấn này. Nhóm đã lập phương án luồn một sợi dây cáp đặc biệt làm bằng dây ống quanh tàu ngầm, sau đó từ từ nâng tàu lên mặt nước bằng tời hạng nặng được gắn trên một con tàu được chế tạo đặc biệt cho mục đích nói trên.

Ban đầu, CIA không mấy lạc quan về thành công của chiến dịch, nếu có cũng không quá 10%. Đến tháng 8/971, Dự án PA suýt bị hủy bỏ vì chi phí quá lớn, điều duy nhất gỉai cứu chương trình chính là tiềm năng thu được thông tin tình báo mà CIA hy vọng. Bất chấp những lo ngại về chi phí, vào ngày 4/10/1971, CIA đã được cấp phép tiếp tục chương trình.

Trung tuần tháng 11/1971, công việc được bắt đầu với việc chế tạo một con tàu chuyên dụng tại xưởng Sun Shipbuilders ở Chester, Pennsylvania, được đặt tên là Hughes Glomar Explorer (HGE). Theo tiến độ, HGE sẽ hạ thủy vào ngày 5/10/1972 và bàn giao cho CIA vào tháng 4/1973.

Cũng trong thời gian trên, tại hội nghị thượng đỉnh Moscow diễn ra tháng 5/1972, sự hòa giải giữa Mỹ và Liên Xô lại diễn ra tích cực nhờ các cuộc gặp thân mật giữa Tổng thống Nixon và Tổng Bí thư ĐCS Liên Xô Leonid Brezhnev nên Dự án PA có nguy cơ “trật ray”. Tháng 7/1972, Ủy ban Điều hành đặc biệt, cơ quan giám sát dự án, đã yêu cầu Ủy ban 40, cơ quan giám sát tất cả các hoạt động tình báo nhạy cảm của Mỹ xem lại dự án.

Phản hồi không mấy tích cực, ngay cả thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, kiêm Giám đốc Cơ quan Tình báo Quốc phòng (DIA) cũng khuyên chấm dứt dự án. Bất chấp những đánh giá tiêu cực, vào ngày 11/12/1972, Tổng thống Richard Nixon vẫn cho phép tiếp tục chương trình. Như vậy rào cản cuối cùng mà Dự án PA phải vượt qua đã giải quyết xong.

Ngày 7/6/1974, Tổng thống Nixon đích thân phê duyệt khởi động sứ mệnh Dự án Azorian, với điều kiện tàu HGE không bắt đầu hoạt động cho đến khi ông trở về từ hội nghị thượng đỉnh ở Moscow dự kiến kéo dài từ ngày 27/6 đến ngày 3/7/1974.

Ngày 4/7/1974, sau một ngày Tổng thống Nixon từ Hội nghị thượng đỉnh Moscow trở về, tàu HGE đã đến địa điểm trục vớt ngoài khơi Hawaii để tiến hành công việc. Công tác trục vớt tiến hành được gần 2 tuần thì hai tàu giám sát của hải quân Liên Xô xuất hiện. Lo ngại Liên Xô có thể đổ bộ lên tàu bằng trực thăng, nên ngày 18/7/1974, giám đốc tàu HGE đã ra lệnh xếp các thùng hàng trên boong để ngăn Liên Xô đổ bộ. Theo hồ sơ giải mật, mệnh lệnh "chuẩn bị sẵn sàng tiêu hủy khẩn cấp các tài liệu nếu Liên Xô đổ bộ lên tàu. Nhóm bảo vệ có nhiệm vụ câu giờ để tiêu hủy tài liệu, nhưng Liên Xô lại không lên tàu".

Ngày 1/8/1974, HGE bắt đầu trục vớt K-129. Phải mất 8 ngày để kéo phần còn lại của tàu K-129 vào khoang chứa của HGE. Ngày hôm sau, các hoạt động trục vớt hoàn tất và tàu đã quay về Hawaii để dỡ hàng.

Đáng tiếc, CIA đã lược bỏ nhiều phần trong hồ sơ, khiến việc đánh giá thiếu chính xác mức độ thành công của Dự án PA. Ví dụ, CIA đã từ chối giải mật bất kỳ thông tin nào liên quan đến việc vượt chi phí. Các phần được giải mật của CIA cũng không trả lời được những câu hỏi quan trọng về việc tàu HGE đã đưa được bao nhiêu phần của tàu ngầm lên mặt nước, hoặc thông tin tình báo nào đã thu thập được từ việc khai thác các phần của tàu ngầm đã được trục vớt.

Với việc giải mật nửa vời này, dư luận khó có thể đoán được về những gì Dự án PA đã đạt được. Tháng 3/1975, bài viết của nhà báo đoạt giải Pulitzer, Seymour Hersh, trên tờ New York Times cho hay, theo các quan chức cấp cao của Hải quân Mỹ, nhiệm vụ trong Dự án PA là một thất bại, bởi CIA đã không thu hồi được bất kỳ tên lửa đạn đạo hạt nhân SS-N-4 nào của tàu ngầm K-129.

Cuốn Blind Man's Bluff (Bịt mắt bắt dê) năm 1998 của hai tác giả Sherry Sontag và Christopher Drew cũng cung cấp thông tin tương tự, chỉ có một phần phía trước dài 38 feet (gần 12m) của tàu K-129 được thu hồi, gồm cả khoang ngư lôi hạt nhân. Sách còn nhấn mạnh, 90% của tàu K-129 cực kỳ dễ vỡ, bao gồm tháp chỉ huy, khoang tên lửa, phòng điều khiển, phòng vô tuyến và phòng máy, đã bị tách rời khi rơi xuống đáy đại dương. Sherry Sontag và Christopher Drew lập luận thêm, đề xuất của Hải quân Mỹ về việc sử dụng tàu ngầm lặn sâu để thăm dò con tàu bị chìm chưa bao giờ được cân nhắc mặc dù có thể mang lại kết quả tốt hơn.


Rõ ràng là dự án này cũng mang lại một số lợi ích gián tiếp. Tháng 6/1993, một nhóm chuyên gia Nga khi chuẩn bị một báo cáo cho Tổng thống Boris Yeltsin, đã sử dụng thông tin do các cơ quan tình báo Nga cung cấp kết luận, CIA đã thu hồi được ít nhất hai quả ngư lôi hạt nhân từ phần tàu ngầm K-129 mà họ đã đưa lên mặt nước.

Cũng theo báo cáo của Nga, mức độ phóng xạ plutonium mà nhóm công tác của CIA trên tàu HGE gặp phải tương dương với hai đầu đạn hạt nhân. Kết luận này được xác nhận một phần trong văn bản còn lại trong tài liệu giải mật của CIA, trong đó nói rằng đội cứu hộ của HGE đã phải xử lý sự phơi nhiễm plutonium sau khi tàu ngầm được đưa lên mặt nước do phát tán của các thành phần thuốc nổ mạnh từ một hoặc nhiều quả ngư lôi hạt nhân của tàu K-129 gây ra.

Đặc tính kỹ thuật của tàu K-129

- Lớp: Tàu ngầm diesel-điện lớp Golf II (Dự án 629A).

- Kích thước: Dài 98,9 mét, rộng 8,2 mét và mớn nước 8,5 mét.

- Hệ thống đẩy: 3 động cơ diesel, mỗi động cơ tạo ra 1.500 kW, 3 động cơ điện, tổng công suất 3.880 kW; hệ thống đẩy 3 trục.

- Vũ khí: 3 tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm SS-N-5 (Serbia) và ống phóng ngư lôi mang ngư lôi đầu đạn hạt nhân.

- Tầm hoạt động: ~15.000 hải lý (gần 2.780 km) bằng động cơ diesel.

- Tốc độ: 15-17 hải lý/giờ (28-31 km/giờ) khi nổi trên mặt nước và tốc độ tối đa khi lặn: 12-14 hải lý/giờ (22-26 km/giờ).

- Thời gian hoạt động liên tục: 70 ngày.

- Độ sâu hoạt động tối đa: 300 mét (984 ft).

- Biên chế: 83 người (20 sĩ quan, 63 binh sĩ).

Khắc Nam
Link tham khảo:




CANH LẬU TỬ KỲ 5 - ÔN ĐÌNH QUÂN


Canh lậu tử kỳ 5

Bối giang lâu,
Lâm hải nguyệt,
Thành thượng giốc thanh ô yết.
Đê liễu động,
Đảo yên hôn,
Lưỡng hàng chinh nhạn phân.

Kinh Khẩu lộ,
Quy phàm độ,
Chính thị phương phi dục độ.
Ngân chúc tận,
Ngọc Thằng đê,
Nhất thanh thôn lạc kê.


更漏子其五

背江樓,
臨海月,
城上角聲嗚咽。
堤柳動,
島煙昏,
兩行征雁分。

京口路,
歸帆渡,
正是芳菲欲度。
銀燭盡,
玉繩低,
一聲村落雞。


Canh lậu tử kỳ 5
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Giang lầu còn mải ngóng trông. 
Trăng trên mặt biển, mênh mông chân trời. 
Trên thành tiếng ốc bời bời. 
Triền đê liễu động, lả lơi đón chào. 
Đảo xa sóng nước lao xao. 
Tưởng như cánh nhạn phân bào từ đây. 
Bên đường Kinh lộ bấy chầy. 
Cánh buồn qua lại, tầng mây khép hờ. 
Mùi hương xuân chín ngẩn ngơ. 
Thương đôi nến bạc bơ vơ lụi tàn. 
Trong thô gáy sáng râm ran. 
Hôm Mai mọc lặn, giăng ngang chân trời.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Ôn Đình Quân 溫庭筠 (812-870) vốn tên Kỳ 岐, tự Phi Khanh 飛卿, người Thái Nguyên đời Vãn Đường (nay thuộc tỉnh Sơn Tây), là cháu của tể tướng Ôn Ngạn Bác 溫彥博. Ông tinh thông âm nhạc, là một thi nhân tài tử mẫn tiệp, từ trẻ đã nổi danh thi từ nhưng thi không đỗ nên đi chu du đây đó. Từ của ông lời rất đẹp, phái Hoa gian liệt ông vào người đứng thứ nhất đời Đường. Tác phẩm của ông có Hán Nam chân cảo và Ác Lan tập, song đều tán lạc không còn.

Nguồn: Thi Viện



VÌ SAO TỶ PHÚ ĐẦU TƯ WARREN BUFFETT ƯU ÁI BẠC HƠN VÀNG?

Trong lúc giá vàng liên tục rung lắc mạnh, giới đầu tư quốc tế bất ngờ nhìn lại một quyết định gây tranh cãi của Warren Buffett: Quay lưng với vàng để đặt cược vào bạc.


Câu chuyện tưởng như thuộc về quá khứ này đang được nhắc lại như một gợi ý đáng suy ngẫm cho bức tranh tài chính năm 2026, khi nhu cầu công nghiệp và công nghệ đang tái định hình vai trò của các kim loại quý.

Vì sao tỷ phú đầu tư Warren Buffett ưu ái bạc hơn vàng?

Những nhịp điều chỉnh mạnh của thị trường vàng thời gian gần đây đang khiến không ít nhà đầu tư cá nhân rơi vào trạng thái lưỡng lự: Tiếp tục nắm giữ kim loại trú ẩn truyền thống hay tìm kiếm một hướng đi khác giữa bối cảnh dòng tiền toàn cầu dịch chuyển. Trong lúc tâm lý thị trường còn nhiều dao động, giới tài chính quốc tế bất ngờ nhắc lại một chương đầu tư ít được chú ý trong sự nghiệp của Warren Buffett – người vốn nổi tiếng với quan điểm “không mấy thiện cảm” với vàng.

Điều đáng nói là, trái ngược với thái độ lạnh nhạt dành cho vàng, Buffett từng thực hiện một trong những thương vụ bạc lớn nhất lịch sử tài chính hiện đại. Và câu chuyện đó, tưởng chừng đã khép lại từ hơn hai thập kỷ trước, lại đang mang nhiều ý nghĩa thời sự trong bức tranh đầu tư năm 2026.

Warren Buffett gây bất ngờ với sở thích đầu tư vào bạc, chứ không phải vàng (Minh họa: AI/ Metals Edge).

Warren Buffett chưa bao giờ che giấu quan điểm của mình về vàng. Trong một cuộc phỏng vấn trên chương trình Squawk Box của CNBC năm 2011, ông từng mô tả vàng như “một khoản đặt cược dài hạn vào nỗi sợ hãi”. Theo Buffett, nhà đầu tư chỉ kiếm lời từ vàng khi nỗi lo bao trùm thị trường; một khi tâm lý sợ hãi suy giảm, giá trị của khoản đầu tư này cũng dễ dàng lung lay.

Lập luận của “nhà tiên tri xứ Omaha” xuất phát từ cách ông định nghĩa giá trị. Với Buffett, một tài sản đáng đầu tư cần tạo ra giá trị gia tăng hoặc phục vụ một nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế. Trong khi đó, vàng – theo ông – gần như không có công dụng thực tiễn và cũng không sinh sôi. Một thỏi vàng mua hôm nay, nhiều năm sau vẫn chỉ là một thỏi vàng, không tạo ra dòng tiền hay giá trị mới.

Cách nhìn của Buffett đối với bạc lại hoàn toàn khác. Theo các tài liệu của Investopedia và hồ sơ lưu trữ từ Berkshire Hathaway, ông tiếp cận bạc không phải với tâm thế đầu cơ, mà như một nhà đầu tư giá trị đi tìm công năng thực tế.

Trong mắt Buffett, bạc không chỉ là kim loại quý để tích trữ. Đây là vật liệu đóng vai trò nền tảng trong nhiều lĩnh vực quan trọng: Từ y tế (khả năng kháng khuẩn, lọc nước), điện tử tiêu dùng, đến các hệ thống công nghệ cao. Bạc là chất dẫn điện tốt nhất trong tự nhiên, hiện diện trong vi mạch của điện thoại thông minh, máy tính, thiết bị y tế và đặc biệt là các tấm pin năng lượng mặt trời.

Chính tính “hữu dụng” này đã khiến bạc trở thành lựa chọn hiếm hoi trong nhóm kim loại quý phù hợp với triết lý đầu tư của Buffett – điều mà vàng không thể đáp ứng.

Thương vụ làm rung chuyển thị trường bạc

Năm 1998, giới tài chính toàn cầu không khỏi bất ngờ khi Berkshire Hathaway công bố đang nắm giữ 129,71 triệu ounce bạc. Khoản đầu tư này được Buffett và cộng sự âm thầm tích lũy từ giữa năm 1997 đến đầu năm 1998.

Chủ tịch Berkshire Hathaway Warren Buffett là người nghiên cứu thị trường bạc từ rất sớm. Tập đoàn này từng thực hiện một khoản đầu tư quy mô lớn vào bạc trong giai đoạn 1997-1998, khi giá kim loại này chỉ khoảng 5 USD/ounce.

Để hình dung quy mô thương vụ, lượng bạc Berkshire sở hữu khi đó tương đương khoảng 25% tổng sản lượng khai thác bạc toàn cầu trong một năm. The Wall Street Journal thời điểm ấy định giá số bạc này gần 1 tỷ USD. Dù chỉ chiếm chưa đến 2% tổng danh mục đầu tư của Berkshire, thương vụ vẫn đủ sức khiến thị trường Comex chao đảo và làm dấy lên lo ngại về khả năng thao túng giá.

Tuy nhiên, Buffett không hành động theo kiểu đầu cơ ngắn hạn. Ông nhìn thấy một sự mất cân bằng rõ rệt giữa cung và cầu. Trong thập niên 1990, tồn kho bạc toàn cầu sụt giảm nhanh chóng trong khi nhu cầu công nghiệp tiếp tục tăng. Buffett và Charlie Munger tin rằng trạng thái cân bằng chỉ có thể được thiết lập lại ở một mặt bằng giá cao hơn.

Lịch sử cho thấy nhận định đó là có cơ sở. Dù Buffett sau này thừa nhận đã bán bạc “quá sớm”, nhưng nếu quy đổi theo mức giá khoảng 100 USD/ounce vào cuối tháng 1/2026 (theo dữ liệu từ Barron’s), khoản đầu tư năm xưa có thể đạt giá trị xấp xỉ 13 tỷ USD.

Lý do khiến giới đầu tư nhắc lại thương vụ bạc của Buffett nằm ở thực tế rằng thị trường hiện nay đang xuất hiện những điểm tương đồng đáng chú ý. Theo World Silver Survey và dữ liệu từ Equiti Group, thế giới đã bước sang năm thứ năm liên tiếp tiêu thụ bạc vượt quá sản lượng khai thác.

Nếu trong quá khứ bạc chủ yếu phục vụ nhiếp ảnh hay đồ gia dụng, thì đến năm 2026, kim loại này đã trở thành thành phần cốt lõi của ba xu hướng lớn: Năng lượng mặt trời, xe điện và trí tuệ nhân tạo.

Cụ thể, lĩnh vực năng lượng mặt trời dự kiến tiêu thụ khoảng 120–125 triệu ounce bạc trong năm nay. Ngành xe điện cần thêm 70–75 triệu ounce cho các hệ thống điện phức tạp, trong khi các trung tâm dữ liệu phục vụ AI tiêu thụ khoảng 15–20 triệu ounce để vận hành hạ tầng điện và máy chủ hiệu suất cao.

Trong bối cảnh đó, nhiều tổ chức như Peel Hunt hay GoldBroker nhận định bạc đang dần thoát khỏi hình ảnh “vàng của người nghèo” để trở thành một kim loại mang tính chiến lược, với giá trị sử dụng rõ ràng trong nền kinh tế xanh và công nghệ cao.

Việc Warren Buffett từng chọn bạc không có nghĩa nhà đầu tư cá nhân nên rời bỏ vàng để “đặt cược tất tay” vào bạc. Thông điệp quan trọng hơn nằm ở cách tư duy phân bổ tài sản.

Thứ nhất, vàng nên được nhìn nhận đúng vai trò là công cụ phòng vệ. Nắm giữ một tỷ trọng nhất định để bảo hiểm rủi ro là hợp lý, nhưng kỳ vọng vàng trở thành động cơ tăng trưởng dài hạn có thể dẫn đến thất vọng.

Không cần theo Buffett từng bước, chỉ cần mượn tư duy của ông: năm 2026, bạc gắn với giá trị sử dụng thực, còn vàng chủ yếu phản ánh nỗi sợ (Ảnh: IG).

Thứ hai, bạc có thể được xem là một khoản đầu tư tăng trưởng mang tính vệ tinh, khi vừa có đặc tính chống lạm phát của kim loại quý, vừa hưởng lợi trực tiếp từ các xu hướng công nghệ và năng lượng sạch. Tuy nhiên, bạc cũng nổi tiếng với mức biến động lớn, và ngay cả Buffett cũng chỉ phân bổ một phần rất nhỏ tài sản cho kim loại này.

Cuối cùng, điều cốt lõi trong triết lý của Buffett không nằm ở việc mua vàng hay bạc, mà ở việc kiên nhẫn chờ đợi khi giá cả và giá trị gặp nhau. Như Charlie Munger từng nhận xét tại đại hội cổ đông năm 1998, cần một kỷ luật phi thường để theo đuổi một ý tưởng suốt nhiều thập kỷ, chỉ để sử dụng một phần rất nhỏ tài sản khi cơ hội thực sự xuất hiện.

Trong bối cảnh thị trường năm 2026, bài học ấy có lẽ còn giá trị hơn bất kỳ kim loại quý nào.

Thục Anh / Theo: Thời Trang Vàng
Link tham khảo: