Bối giang lâu,
Lâm hải nguyệt,
Thành thượng giốc thanh ô yết.
Đê liễu động,
Đảo yên hôn,
Lưỡng hàng chinh nhạn phân.
Kinh Khẩu lộ,
Quy phàm độ,
Chính thị phương phi dục độ.
Ngân chúc tận,
Ngọc Thằng đê,
Nhất thanh thôn lạc kê.
更漏子其五
背江樓,
臨海月,
城上角聲嗚咽。
堤柳動,
島煙昏,
兩行征雁分。
京口路,
歸帆渡,
正是芳菲欲度。
銀燭盡,
玉繩低,
一聲村落雞。
Canh lậu tử kỳ 5
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Giang lầu còn mải ngóng trông.
Trăng trên mặt biển, mênh mông chân trời.
Trên thành tiếng ốc bời bời.
Triền đê liễu động, lả lơi đón chào.
Đảo xa sóng nước lao xao.
Tưởng như cánh nhạn phân bào từ đây.
Bên đường Kinh lộ bấy chầy.
Cánh buồn qua lại, tầng mây khép hờ.
Mùi hương xuân chín ngẩn ngơ.
Thương đôi nến bạc bơ vơ lụi tàn.
Trong thô gáy sáng râm ran.
Hôm Mai mọc lặn, giăng ngang chân trời.
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Ôn Đình Quân 溫庭筠 (812-870) vốn tên Kỳ 岐, tự Phi Khanh 飛卿, người Thái Nguyên đời Vãn Đường (nay thuộc tỉnh Sơn Tây), là cháu của tể tướng Ôn Ngạn Bác 溫彥博. Ông tinh thông âm nhạc, là một thi nhân tài tử mẫn tiệp, từ trẻ đã nổi danh thi từ nhưng thi không đỗ nên đi chu du đây đó. Từ của ông lời rất đẹp, phái Hoa gian liệt ông vào người đứng thứ nhất đời Đường. Tác phẩm của ông có Hán Nam chân cảo và Ác Lan tập, song đều tán lạc không còn.
Nguồn: Thi Viện



