Tuesday, March 31, 2026

NHÂN SINH CẢM NGỘ: OÁN KHÍ VÀ KHẨU KHÍ

Con người sống trên đời, không thể tránh khỏi những lúc gặp nghịch cảnh, không thể tránh khỏi những lúc giận dữ. Nhưng sự khác biệt giữa một người trí tuệ và một người mê muội nằm ở cách họ đối diện với những điều đó.


Có một câu chuyện xưa kể rằng, một người lữ khách tình cờ dừng chân bên dòng suối. Ở đó, ông gặp một vị cao nhân đang tĩnh tọa dưới gốc cây tùng, râu tóc phất phơ theo gió, dáng vẻ như đã hòa vào Thiên Địa.

Lữ khách cúi đầu cung kính:

“Thưa tiên sinh, tôi đi khắp nhân gian, thấy thiên hạ khổ nhiều hơn vui. Người oán hận, kẻ căm phẫn, lòng trĩu nặng những điều không thể buông. Xin hỏi, đó là do số mệnh hay do lòng người?”

Vị cao nhân không đáp ngay, chỉ chậm rãi nhấp một ngụm trà. Hơi trà tỏa ra hương thanh khiết, nhưng khi ông nhẹ nhàng thở ra, có một làn khói u ám vẩn vơ bay lên rồi tan biến.

Lữ khách kinh ngạc hỏi: 
  • Trà ngon cớ sao lại sinh ra khói độc?
Cao nhân mỉm cười, ánh mắt sâu thẳm như hồ nước ngàn năm:
  • Đó là “oán khí“. Người uống vào điều tốt, nhưng khi thở ra lại là điều xấu. Cũng như nhân gian vậy, đời ban cho ta nghịch cảnh, nhưng oán hận hay không là do ta lựa chọn.
Lữ khách suy nghĩ một lúc rồi lại hỏi:
  • Thưa Ngài, nếu đã mang nặng oán khí, vậy làm sao để hóa giải?
Cao nhân lặng im một lát rồi vẽ một vòng tròn trên nền đất:
  • Có hai thứ làm vẩn đục tâm con người: Một là oán khí tích tụ trong lòng, hai là khẩu khí phóng ra từ miệng.

Oán khí là những gì ta ôm trong tâm: hận thù, ghen ghét, bất bình. Nó như một chén nước bẩn, càng giữ lâu càng ô nhiễm và hôi thối.

Khẩu khí là những gì ta thốt ra: lời cay nghiệt, tiếng chê bai, sự tức giận vô minh. Nó như lưỡi dao sắc bén, cứa vào người khác nhưng cũng rạch nát chính mình.

Lữ khách ngẫm nghĩ hồi lâu rồi hỏi:
  • Nhưng làm sao để kiểm soát khẩu khí? Cơn giận bộc phát, lời nói đã thốt ra, làm sao thu lại?
Cao nhân nhặt một hòn đá, ném xuống dòng suối.
  • Nhìn đi, viên đá đã chìm xuống nước, ngươi có thể lấy lại nó không?

  • “Không thể, thưa tiên sinh”

  • Đó chính là lời nói. Khi đã buông ra, không cách nào lấy lại. Chỉ có thể để nước trôi đi, nhưng dấu vết vẫn còn đó. Thế nên, trước khi mở miệng, hãy suy nghĩ ba lần: Lời ấy có thật sự cần nói không? Lời ấy có mang lợi ích không? Lời ấy có gieo oán hận không?
Lữ khách cúi đầu, trong lòng bừng ngộ.

Cao nhân vươn tay chỉ lên bầu trời:
  • Khi oán khí được hóa giải, khẩu khí tự khắc ôn hòa. Khi khẩu khí trở nên trong sạch, tâm hồn sẽ nhẹ tựa mây bay. Người đời muốn an nhiên, chỉ cần giữ lòng thanh tịnh, miệng ắt sẽ Từ Hòa!
Từ đó, lữ khách không còn vướng bận vào những điều bất công của thế gian, cũng không còn thốt ra lời cay đắng, ông khắc sâu lời dạy của vị cao nhân đó. Sống một đời nhẹ nhàng như nước, thanh tao như gió, để lại sau lưng một cõi lòng không vướng bụi trần.


Cảm ngộ của tác giả:

Câu chuyện trên không chỉ là một mẫu giai thoại mang tính giáo huấn, mà còn là một biểu tượng sâu sắc của nhân sinh, phản ánh những quy luật vận hành trong nội tâm con người.
 
Oán khí: Độc tố của nội tâm

Oán khí tuy không nhìn thấy bằng mắt thịt, nhưng nó lại ảnh hưởng đến con người chẳng khác nào một chất độc tinh thần. Khi một người ôm giữ oán hận, dù là với một kẻ khác hay với số phận của bản thân, thì năng lượng tiêu cực này sẽ tích tụ trong lòng như một dòng nước tù đọng, ô nhiễm nội tâm.

Oán hận là chấp niệm: Khi một người cảm thấy bất công, bị phản bội, bị tổn thương, tâm trí họ có xu hướng lặp đi lặp lại câu chuyện đau khổ ấy. Mỗi lần nhớ lại, cảm xúc oán hận lại trỗi dậy, và như vậy, vết thương tinh thần không bao giờ khép lại.

Người ôm hận không phải người gây ra tổn thương ban đầu, mà chính là người đang nuôi dưỡng nỗi đau đó. Như một ly nước bị hòa lẫn chất độc, càng giữ lâu, càng uống vào, càng trúng độc sâu hơn.

Vậy nên, cao nhân trong câu chuyện mới nói: “Đời ban cho ta nghịch cảnh, nhưng oán hận hay không là do ta lựa chọn.” Bởi vì nghịch cảnh chỉ là một hiện tượng bên ngoài, còn cách con người tiếp nhận nó mới là điều quyết định.

Khẩu khí: Hơi thở của nội tâm

Khẩu khí là những gì con người thể hiện ra bên ngoài thông qua lời nói. Nếu oán khí là nội tâm bất ổn, thì khẩu khí chính là cách tâm hồn ấy tương tác với thế giới.

Khẩu khí phản ánh bản chất con người: Một người có tâm lương thiện thì lời nói sẽ ôn hòa, nhẹ nhàng, mang lại cảm giác ấm áp. Ngược lại, một người mang nhiều oán hận thì lời nói luôn sắc bén, cay độc, dễ làm tổn thương người khác.

Lời nói là con dao hai lưỡi, người xưa nói: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.”

Tuy nhiên, nhiều người thường không kiểm soát được khẩu khí khi tức giận. Một câu nói vô tình có thể trở thành vết thương sâu trong lòng người khác, và dù sau này có hối hận cũng khó mà chữa lành.

Khẩu nghiệp là một dạng quả báo vô hình: Trong Phật giáo, có khái niệm “khẩu nghiệp”, tức là nghiệp do lời nói tạo ra. Nếu một người thường xuyên nói lời cay nghiệt, họ sẽ tạo ra một năng lượng tiêu cực bao quanh mình, khiến những người xung quanh xa lánh, và cuối cùng chính họ cũng chìm trong cô độc.

Vì vậy, khi cao nhân nói: “Trước khi mở miệng, hãy suy nghĩ ba lần: lời ấy có thật sự cần nói không? Lời ấy có mang lợi ích không? Lời ấy có gieo oán hận không?”. Đó không chỉ là một lời khuyên thông thường, mà là một phương pháp tu dưỡng nội tâm.

Mối quan hệ giữa oán khí và khẩu khí

Oán khí và khẩu khí thực chất là hai mặt của một vấn đề.

Oán khí sinh ra khẩu khí: Khi lòng đầy oán hận, lời nói cũng sẽ mang theo năng lượng tiêu cực. Những người thường xuyên trách móc, phàn nàn, hay chê bai người khác, thực chất là do bên trong họ chưa hóa giải được những bất mãn của chính mình.

Khẩu khí nuôi dưỡng oán khí: Khi một người đã quen với việc nói ra những lời tiêu cực, họ sẽ tự tạo ra một vòng luẩn quẩn của sự bất mãn. Lời nói không chỉ ảnh hưởng đến người nghe, mà còn tác động ngược lại chính bản thân người nói. Khi một người liên tục thốt ra những điều tiêu cực, họ cũng tự ám thị bản thân, khiến tâm trí ngày càng lún sâu vào phiền não.

Bởi vậy, muốn có một nội tâm an nhiên, không chỉ cần kiểm soát suy nghĩ, mà còn phải kiểm soát lời nói.


Con người sống trên đời, không thể tránh khỏi những lúc gặp nghịch cảnh, không thể tránh khỏi những lúc giận dữ. Nhưng sự khác biệt giữa một người trí tuệ và một người mê muội nằm ở cách họ đối diện với những điều đó.

Người mê muội để oán khí chi phối, để khẩu khí làm tổn thương người khác.

Người trí tuệ biết cách hóa giải oán khí, giữ gìn khẩu khí, để tâm hồn không vướng bụi trần.

Khi tâm không còn chấp niệm, lời nói không còn sắc bén, con người sẽ giống như nước, tự do, trong suốt, không vướng mắc. Và khi đó, dù thế gian có thay đổi ra sao, họ vẫn có thể mỉm cười nhẹ nhàng, bước đi an nhiên trong cõi đời này.

Nguyên Tác An Hậu

GIÁ CÔ THIÊN - HẠ CHÚ


Giá cô thiên - Hạ Chú

Trùng quá Xương Môn vạn sự phi,
Đồng lai hà sự bất đồng quy?
Ngô đồng bán tử thanh sương hậu,
Đầu bạch uyên ương thất bạn phi.

Nguyên thượng thảo,
Lộ sơ hy,
Cựu thê tân lũng lưỡng y y.
Không sàng ngoạ thính nam song vũ,
Thuỳ phục khiêu đăng dạ bổ y.


鷓鴣天 - 賀鑄

重過閶門萬事非,
同來何事不同歸?
梧桐半死清霜後,
頭白鴛鴦失伴飛。

原上草,
露初晞,
舊棲新壟兩依依。
空床臥聽南窗雨,
誰復挑燈夜補衣!


Giá cô thiên
(Dịch thơ: Nguyễn Xuân Tảo)

Trở lại Xương Môn khác trước kia
Cùng đi lại sao chẳng cùng về!
Ngô đồng chết nửa sau sương lạnh
Bay lẻ uyên ương mất bạn thề

Cỏ trên bãi
Móc vừa se
Mả mới quê xưa dạ não nề
Nằm trên giường vắng mưa ngoài cửa
Ai nữa khêu đèn vá áo khuya.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Hạ Chú 賀鑄 (1063-1120) tự là Phương Hồi, người Vệ Châu, tỉnh Hà Nam. Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hưu (1086-1093) ông làm Thông phán Tứ Châu. Ông đọc sách rất nhiều, thi, từ tuyệt diệu, tác phẩm của ông có tập Đông Sơn nhạc phủ.

Nguồn: Thi Viện



NGƯỜI VỀ GIÀ CÓ PHÚC KHÍ HAY KHÔNG PHỤ THUỘC VÀO LUẬT 3-7 DƯỚI ĐÂY

Người ta thường nói: “Uống thì say 3 phần, ăn thì no 7 phần, đọc sách đọc 7 phần”. Ăn quá no thì bội thực, uống quá say thì tràn, mọi chuyện tốt đẹp nhất khi nó vừa đủ. Quy tắc “3-7” này cũng đúng với những người đã nghỉ hưu, dưỡng già trong những năm cuối đời.


Mọi thứ đều quá dễ dàng để đạt được nhưng không đáng để mất đi. Mọi thứ đều quá thấp và thiếu nhiệt. Ba mươi bảy là tốt nhất.

1. Cho con bạn 3 phần hỗ trợ và 7 phần buông bỏ

Nước dùng để trồng hoa, trồng cây, nếu thiếu nước thì cây sẽ trơ rễ, héo úa, nếu thừa nước thì cây chết úng. Tương tự như khi nuôi cá, nếu nước quá đầy, cá sẽ nhảy ra ngoài. Làm mì cũng vậy, bột khô quá thì cho thêm nước, nhưng nhiều nước quá, bột không thể kéo thành sợi, phải cho thêm bột, thêm bột nếu cho quá nhiều, lại phải thêm nước. Cứ như vậy cục bột càng lúc càng to.

Trong quá trình nuôi dạy con cái, thường xảy ra trường hợp: bạn càng lo lắng, bao bọc thì chúng càng ít ghi công của bạn. Bạn không tin điều này sao?

Nhiều người già về hưu có tiền và nhàn rỗi, họ lo con cái sống không tốt nên cho chúng tiền để trả nợ thế chấp nhà đất và mua ô tô. Sau đó họ bắt đầu cho mình quyền lười biếng và an hưởng tuổi già. Tuy nhiên, tiền họ đã dùng để mua nhà và mua xe nên tiền sinh hoạt hàng ngày về sau không còn được dư giả.

Ảnh: Pinterest.

Con cái của họ vẫn phải lo những khoản tiền khác cộng thêm gánh nặng cha mẹ già. Điều này cũng khó trách con trẻ. Bởi vì khi cha mẹ cho họ tiền, rất có thể họ sẽ nghĩ cha mẹ còn nhiều hơn thế. Cho nên họ thoải mái chi tiêu hơn, đòi hỏi và trông đợi từ cha mẹ nhiều hơn.

Điều đáng sợ hơn nữa là những gia đình đông con sẽ xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn trong gia đình nảy sinh. Nhưng đó là vì cách hành xử không đúng đắn của người già về hưu.

Đối với con cái, cha mẹ già chỉ nên cho ba phần là đủ, bảy phần còn lại hãy để chúng tự cố gắng. Việc bạn cho tiền con cái, chỉ nên thưa thớt và một chút. Chúng được tính theo năm chứ không tính theo tháng, theo ngày.

Khi con cái trở nên tự lập và biết làm chủ cuộc sống. Cha mẹ thực sự sẽ cảm thấy thoải mái và có thể sống cuộc sống hạnh phúc.
 
2. Hãy quên việc kén chọn người kết giao đi

Sau khi nghỉ hưu, bạn cần giao lưu với đồng nghiệp cũ, cần tham dự các bữa tiệc hay là cần giao lưu nhiều hơn với người thân, bạn bè? Những câu hỏi như vậy thường làm người già bối rối.

Nhiều bài viết sẽ khuyên bạn rằng, tốt nhất nên học cách tự lập và ở một mình. Nhưng việc người già luôn ở một mình có thực sự tốt?

Thực tế cũng cho chúng ta biết, điều này không thể đạt được một cách trọn vẹn.

Nếu bạn là người thích giao du thì dễ nảy sinh mâu thuẫn. Suy cho cùng, người ngoài không có nghĩa vụ chiều chuộng bạn và mỗi người đều có quan điểm sống khác nhau. Hàng xóm thân cận của bạn cũng sẽ có xung đột với bạn.

Khi mọi người già đi, điều quan trọng hơn là phải có một tầm nhìn bao quát và bao dung với những điểm không hoàn hảo của người ngoài. Đặc biệt là đồng nghiệp cũ, hàng xóm và những người mà chúng ta cùng chơi cờ, đi tập thể dục, tập khí công chung…

Ảnh: Pinterest.

Giữa họ và bạn không có xung đột lợi ích nên hãy để tình bạn diễn ra bình thường. Hãy để những mối hận thù trong quá khứ được đi vào dĩ vãng.

Chỉ khi đề cập đến vấn đề liên quan đến lợi ích sống còn của bản thân, bạn mới quan tâm đến “ba phần”, để không đặt bản thân vào thế quá yếu đuối, tùy tiện cho người bắt nạt.

3. Theo đuổi 3 phần và buông bỏ 7 phần

Sau khi nghỉ hưu, sức khỏe của bạn vẫn tốt và vẫn cần phải làm việc, cho nên bạn có thể lựa chọn “làm lại việc” để có thêm chút thu nhập.

Ở nơi làm việc, bạn thực chất là một ông già và có thể bị người trẻ không ưa. Cũng có một số ông chủ cho rằng bạn đã quá già, không đủ tiêu chuẩn cho công việc nên từ chối tuyển dụng bạn. Bạn đang tức giận, hoặc bạn đã được tuyển dụng lại cho người chủ ban đầu của mình và bạn thấy rằng lương hưu của người khác nhiều hơn của bạn, điều này khiến bạn cảm thấy bất bình.

Thế nhưng, chẳng phải bạn đã được nghỉ hưu rồi sao? Đáng lẽ bạn không nên đi làm để người trẻ có cơ hội phát triển. Là bạn muốn có thêm thu nhập. Với mong muốn này, bạn sẽ phải “ngược nắng” để có thể trụ lại công sở.

Con người ai cũng muốn có tiền để chi tiêu nhiều hơn. Nhưng khi về hưu, bạn nên dừng việc đó lại một cách có chừng mực và công tâm nhìn lại tuổi tác của mình.

Người già nên từ bỏ ham muốn lợi lộc và duy trì việc theo đuổi đồng tiền. Nếu bạn tiếp tục làm việc với tâm thái thoải mái, bạn sẽ thấy dù không thu được nhiều nhưng bạn sẽ “trẻ hơn tuổi” và hạnh phúc từ đó được duy trì.

Ảnh: Pinterest.

Hiện nay, nhiều người cao tuổi đã tạo được thu nhập thông qua việc tự làm kênh truyền thông. Có thể mỗi tháng họ sẽ tiêu tốn một chút chi phí, nhưng nó mang lại niềm vui.

Nếu bạn làm điều gì đó mà không vụ lợi thì hạnh phúc sẽ đi kèm, và khái niệm tiền giúp con người nuôi dưỡng cuộc sống sẽ xuất hiện trong từ điển của bạn. Đừng bị gánh nặng bởi tiền bạc, bạn chắc chắn sẽ nhận được thứ gì đó nếu bạn từ bỏ nó.

4. Giúp đỡ người thân, bạn bè 3 phần và từ chối 7 phần

Khi không có chuyện gì xảy ra, người già hãy liên lạc với người thân, bạn bè và sắp xếp lại mọi mối quan hệ trong quá khứ. Dù gia đình nào đó tổ chức đám cưới hay đám tang thì việc bạn tham gia vào là điều đương nhiên.

Một khi sự giúp đỡ được nhận, mô hình mọi người giúp đỡ lẫn nhau sẽ được hình thành.

Là một người cao tuổi đã nghỉ hưu, điều kiện sống của bạn tốt hơn những người cao tuổi khác nên bạn có nhiều cơ hội giúp đỡ người thân, bạn bè hơn.

Đối với một số người thân, khi mua nhà, bạn phải giúp họ xem nhà và cho họ vay tiền. Người thân của bạn sẽ rất hài lòng với điều này. Nhưng không phải lúc nào người thân cũng có thể trả tiền đúng hạn, điều này sẽ khiến bạn khó chịu.

Một số bạn bè vẫn đang gặp khó khăn ở nơi làm việc và cần bạn cho họ một lời khuyên hoặc giúp họ cởi mở hơn. Bạn có thể sử dụng các mối quan hệ trong quá khứ của mình để giúp bạn bè cải thiện công việc kinh doanh của họ.

Lòng tốt của bạn được người thân, bạn bè ghi nhận nhưng nếu giúp đỡ quá nhiều bạn sẽ gặp rắc rối.

Bạn đã nghỉ hưu, tài nguyên mạng của bạn cũng là để “đi uống trà thảo dược”. Tiền của bạn nên dùng nhiều hơn cho việc nghỉ hưu của chính mình.

Ảnh: Pinterest.

Nhà văn Merle Thain đã nói: “Yêu một người là giúp người đó trở về với chính mình, khiến người đó trở thành chính mình”. Sự giúp đỡ tốt nhất là nói cho họ biết cách tự cứu mình và là chính mình.

Bạn phải học cách nói không với một số người thân, bạn bè không đáng được giúp đỡ, để không gây ra quá nhiều rắc rối cho bản thân.

Từ góc nhìn của một người lớn tuổi, nên từ chối nhiều hơn là đồng ý hoàn toàn. Tuổi tác và kỹ năng xã hội bạn đều phải có.

Như người ta vẫn nói, nhìn thấu điều gì đó không nhất định nói ra, có một số điều chỉ cần để yên trong bóng tối. Nếu bạn bối rối ba phần, bạn sẽ có thể nhìn thấu được nhiều thứ; nếu bạn tỉnh táo bảy phần, bạn sẽ có thể nắm bắt được những điều quan trọng hơn.

Lâm Ngữ Đường từng nói: “Nhìn thấy những đám mây trên bầu trời, hóa ra cuộc sống không nên quá bon chen và nên tự do.”

“Hán thư – Đông Phương Sóc” nói: “Nước trong thì không có cá, người trong thì không có đệ tử”.

Trong những năm cuối đời, bạn nên hồ đồ 3 phần và tỉnh táo 7 phần. Có thể tóm tắt 7 phần tỉnh táo thành một điểm chung: Đừng đi quá xa trong mọi việc, và bạn có thể đạt được sự rõ ràng và nhìn thấy sự thật cuộc sống.

An Nhiên / Theo: vandieuhay

NỬA SAU CỦA CÂU TỤC NGỮ "BÃO NOÃN TƯ DÂM DỤC" MỚI LÀ ĐÁNG BÁO ĐỘNG NHƯNG ÍT NGƯỜI BIẾT

Câu tục ngữ: “Bão noãn tư dâm dục” nghĩa là, khi no ấm thì nghĩ đến chuyện dâm dục. Câu nói này giống với câu tục ngữ: “No cơm ấm cật, dậm dật khắp nơi” của Việt Nam. Thực ra câu tiếp theo mới là bản chất nhưng ít người biết.

Nửa sau của câu tục ngữ “Bão noãn tư dâm dục” mới là đáng báo động nhưng ít người biết (ảnh: Pinterest)

Câu tục ngữ: “Bão noãn tư dâm dục” xuất phát từ “Thiên Kim Ký – Đệ Nhị Tam Xuất” của Thẩm Thái, một nhà văn kinh kịch thời nhà Minh. Nó có nghĩa là khi con người có đủ cơm ăn, đủ áo mặc dễ có nhiều ham muốn và nhu cầu hơn. “Dục” ở đây thường ám chỉ những ham muốn xấu xa, không tốt khiến con người chìm đắm trong buông thả và không thể tự giải thoát được. Kết quả là họ làm những việc đáng xấu hổ, thậm chí trở nên nghiện nó, khiến họ khó thoát ra và dần sa ngã.

Nửa câu sau của “Bão noãn tư dâm dục” đó là: “Cơ hàn khởi đạo tâm”, nghĩa là, khi con người đói rét, rất dễ có ý tưởng xấu xa về trộm cắp. Người xưa từng nói: “Lạnh thì không chọn quần áo, nghèo không chọn vợ, hoảng loạn không chọn đường, đói không chọn đồ ăn”, hơn thế nữa, người ta thậm chí còn làm những việc xấu như trộm cắp để thỏa mãn nhu cầu của bản thân.

Có một câu chuyện thú vị về câu tục ngữ này như sau. Xưa kia, có một gia đình giàu có họ Trần, sinh được một cô con gái. Họ rất vui mừng và yêu thương cô con gái của mình một cách vô điều kiện. Họ mời thầy giáo dạy học riêng cho cô, giúp cô học chữ và đọc sách. Cô gái cũng rất thông minh và cố gắng, cô trở thành một nhân tài lớn ở địa phương.

“Bão noãn tư dâm dục. Cơ hàn khởi đạo tâm”, câu tục ngữ không chỉ nói về vấn đề ăn uống, mà còn là lời nhắc nhở cho chúng ta (ảnh: Pinterest)

Cô gái lớn lên từng ngày, đến tuổi lấy chồng nhưng vẫn chưa tìm được người phù hợp. Cuối cùng, cô nghĩ ra một cách, đó là viết câu đối để tìm hôn phu. Nếu ai đưa ra câu đối phù hợp với câu đối của cô, thì cô sẽ kết hôn với người đó. Câu đối mà cô đưa ra là: “Bão noãn tư dâm dục”, sau khi tin tức lan truyền, có rất nhiều người đến tham gia kén rể, mong làm được câu đối và cưới được một cô dâu vừa xinh đẹp, vừa tài giỏi, lại giàu có.

Câu đối tuy chỉ có năm chữ ngắn gọn nhưng rất khó để ra được vế đối thứ hai. Cuối cùng, đã có một trang nam tử tài hoa đã đối lại rằng: “Cơ hàn khởi đạo tâm”. Chàng trai tài hoa và cô gái xinh đẹp cuối cùng cũng có được mối quan hệ tốt đẹp.

Tuy câu nói “Bão noãn tư dâm dục. Cơ hàn khởi đạo tâm” rất đơn giản, nhưng nó tóm tắt một số ý nghĩ xấu sẽ nảy sinh lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn trong cuộc sống, và cũng là lời cảnh báo cho thế hệ tương lai.

Dù chúng ta đang ở trong hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn, cũng phải giữ vững lương tâm của mình, không được đánh mất đi những nguyên tắc cơ bản nhất trong cuộc sống (ảnh: Pinterest)

Câu tục ngữ này không chỉ nói về vấn đề ăn uống mà còn nhắc nhở chúng ta: khi thịnh vượng, chúng ta không nên bị cuộc sống thoải mái trước mặt đánh lừa mà đánh mất những ước mơ, đánh mất những theo đuổi ban đầu và làm một số điều không đúng đắn.

Khi gặp nghịch cảnh, chúng ta không thể bị khuất phục bởi những khó khăn trước mắt. Chúng ta nên sử dụng trí tuệ và đôi bàn tay của mình để vượt qua khó khăn, chứ không được bán rẻ lương tâm của mình chỉ để đạt được những điều mà chúng ta mong muốn.

Dù chúng ta đang ở trong hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn, chúng ta đều phải giữ vững lương tâm của mình, tuân thủ nguyên tắc sống của bản thân, không được mất đi những nguyên tắc cơ bản nhất trong cuộc sống của mình với tư cách là một con người.

Bảo Châu biên dịch
An Nhiên / Theo: vandieuhay

Monday, March 30, 2026

KHÁM PHÁ NGUỒN GỐC CÂU NÓI "NƯỚC MẮT CÁ SẤU", GIẢI MÃ NHỮNG BÍ ẨN ÍT AI BIẾT

Nguồn gốc của câu nói "nước mắt cá sấu" có từ thế kỷ 14 trong thời Trung cổ ở phương Tây.

Ảnh minh họa. Ảnh Internet.

Khi ai đó giả vờ buồn bã hoặc tỏ ra hối hận một cách không trung thực, họ được cho là đang rơi “nước mắt cá sấu”.

Cá sấu vốn được biết là loài bò sát chuyên ăn thịt. Khi ăn thịt con mồi mà nó bắt được, cấu lại khóc. Câu thành ngữ "nước mắt cá sấu" được hiểu là những kẻ đạo đức giả tạo, giả vờ rơi những giọt nước mắt dối trá để làm bộ. Chính vì thế, khi nói ai đó rơi nước mắt cá sấu, có nghĩa là họ đang ám chỉ người đó đang thể hiện nỗi buồn giả tạo, không thành thật.

Tuy nhiên, nguồn gốc của câu nói này ra sao lại ít ai biết tới. Nhiều người đều hiểu lầm câu nói này xuất phát từ việc cá sấu ăn thịt con mồi và khóc. Nhưng sự thật lại không đơn giản như vậy.

Theo ancient-origins, cụm tù "nước mắt cá sấu" bắt nguồn từ câu chuyện thần thoại kỳ lạ thời Trung cổ và đã được đăng tải trên một tạp chí du lịch. Câu chuyện này sau đó còn gắn liền với lịch sử văn học thông qua các tác phẩm của William Shakespeare.

Giải thích theo khía cạnh sinh học, cụm từ này nên hiểu theo nghĩa đen. Khi cá sấu ở trên bờ trong một thời gian dài, cơ chế sinh học của chúng sẽ tự kích hoạt ống dẫn nước mắt để tạo ra nước mắt. Điều này được thực hiện để tránh mắt chúng bị khô, đặc biệt là khi ở trên cạn. Chất bôi trơn này giúp chúng chớp mắt và nhìn thấy khi không ở trong nước hay bùn lầy.

Ngoài ra, một nghiên cứu quan trọng cho thấy ống dẫn nước mắt của cá sấu thường được kích hoạt khi chúng đang thưởng thức con mồi. Dĩ nhiên là việc cá sấu khóc khi đang ăn không liên quan gì tới cảm xúc của chúng. Điều đó cũng tương tự như cách con người có thể chảy nước mắt khi ngáp dài. Việc cá sấu khóc khi đang ăn khiến nhiều người chứng kiến hiểu lầm cho rằng chúng có cảm xúc. Tuy nhiên, sự thật thì đây chỉ là phản ứng sinh học mà thôi.

Ảnh minh họa. Ảnh Internet.

Nguồn gốc của cụm từ "nước mắt cá sấu" có từ thế kỷ 14 trong thời Trung cổ. Người dân thời đó tin rằng những con cá sấu giết và ăn thịt con mồi sẽ thực sự khóc thương nạn nhân của chúng trong khi vẫn đang tiếp tục bữa ăn của mình. Lần đầu tiên cụm từ "To shed crocodile tears" (Nước mắt cá sấu) được sử dụng rộng rãi trong tiếng Anh là vào khoảng thế kỷ 14 khi John Mandeville sử dụng nó trong cuốn truyện "Những chuyến du hành của Ngài John Mandeville".

"Những chuyến du hành của Ngài John Mandeville" kể về những cuộc phiêu lưu của hiệp sĩ dũng cảm ở châu Á, được coi là một kho tàng những khám phá đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, những câu chuyện trong cuốn sách của John Mandeville cũng có không ít điều bịa đặt. Trong đó, có lời kể chi tiết về cá sấu, được mô tả trong truyện là những "con rắn" biết rơi nước mắt khi giết và ăn thịt con mồi. Mandeville đã ghi lại bằng trí tưởng tượng sống động: “Những con rắn này đánh lừa đàn ông và ăn thịt họ, chúng cũng không có lưỡi”.

Mô tả này mặc dù hấp dẫn, nhưng lại không chính xác về mặt khoa học bởi cá sấu có lưỡi và chúng rơi nước mắt khi ăn thịt con mồi nhưng việc đó không hề liên quan đến cảm xúc.

Một số báo cáo cho biết Plutarch, nhà triết học và nhà văn cổ đại từ thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, đã sử dụng cụm từ này trong các tác phẩm của mình. Tuy nhiên, Plutarch sử dụng cụm tù "nước mắt cá sấu" bằng tiếng Latinh và mãi sau này cụm từ này mới được dịch sang tiếng Anh. Sau khi cụm từ này được dịch và sử dụng bằng văn bản tiếng Anh, nó lại được nhà thần học Photios sử dụng để nói về sự ăn năn thực sự.

Ảnh minh họa. Ảnh Internet.

Tuy nhiên, việc đề cập đến nước mắt cá sấu ban đầu được cho là của Edmund Grindal (Tổng giám mục York và Canterbury). Năm 1563, ông viết: “Tôi bắt đầu lo sợ, kẻo sự khiêm nhường của ông ấy… là sự khiêm tốn giả tạo, và nước mắt của ông ấy là nước mắt cá sấu”. Điều tương tự đã được tái bản vào năm 1711 trong Life of Grindal của Strype .

Từ nguồn gốc tiếng Latin đến bản dịch tiếng Anh, nước mắt cá sấu đã được Shakespeare phổ biến rộng rãi hơn. Nhờ những kịch bản xuất sắc của ông vào thế kỷ 16 mà “nước mắt cá sấu” đã phát triển từ một câu chuyện ngụ ngôn thời Trung cổ thành một thành ngữ miêu tả nỗi buồn giả tạo được sử dụng rộng rãi tới ngày nay.

Qua nhiều thế kỷ, thuật ngữ này đã trở thành một phần quen thuộc của ngôn ngữ tiếng Anh, được nhiều nước khác dịch và sử dụng để mô tả những biểu hiện cảm xúc không chân thành, giả dối.

Hà My / Theo: Tin Mới
Link tham khảo:

PHỤNG HOÀNG ĐÀI THƯỢNG ỨC XUY TIÊU - LÝ THANH CHIẾU


Phụng Hoàng đài thượng 
ức xuy tiêu

Hương lãnh kim nghê,
Bị phiên hồng lãng,
Khởi lai dung tự sơ đầu.
Nhậm bảo liêm trần mãn,
Nhật thượng liêm câu.
Sinh phạ ly hoài biệt khổ,
Đa thiểu sự dục thuyết hoàn hưu.
Tân lai sấu,
Phi can bệnh tửu,
Bất thị bi thu.

Hưu hưu,
Giá hồi khứ liễu,
Thiên vạn biến Dương Quan,
Dã tắc nan lưu.
Niệm Vũ Lăng nhân viễn,
Yên toả Tần lâu,
Duy hữu lâu tiền lưu thuỷ.
Ưng niệm ngã chung nhật ngưng mâu,
Ngưng mâu xứ,
Tòng kim hựu thiêm nhất đoạn tân sầu.


鳳凰臺上憶吹簫

香冷金猊,
被翻紅浪,
起來慵自梳頭。
任寶奩塵滿,
日上簾鉤。
生怕離懷別苦,
多少事欲說還休。
新來瘦,
非干病酒,
不是羆秋。

休休,
這回去了,
千萬遍陽關,
也則難留。
念武陵人遠,
煙鎖秦樓,
惟有樓前流水。
應念我終日凝眸,
凝眸處,
從今又添一段新愁。


Phụng Hoàng đài thượng 
ức xuy tiêu
(Dịch thơ: Nguyễn Chí Viễn)

Hương lạnh lò vàng
Chăn nghiêng sóng đỏ
Dậy rồi lười chải sơ đầu
Mặc hộp gương đầy bụi
Ác rọi rèm châu
Thêm sợ ly mong biệt khổ
Có lắm việc muốn nói lại rầu
Gần đây võ
Không vì bệnh rượu
Chẳng phải buồn thu

Rầu rầu
Lần này ly biệt
Ngàn vạn lượt Dương Quan
Cũng khó trú lưu
Người Vũ Lăng xa bặt
Khói toả Tần lâu
Chỉ có trước lâu dòng nước
Chừng thấy kẻ suốt buổi nhìn lâu
Nơi nhìn đó
Từ nay lại thêm một đoạn tân sầu


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Thanh Chiếu 李清照 (1084-1155) hiệu Dị An cư sĩ 易安居士, người Tế Nam, Sơn Đông. Bà chẳng những là một tác gia vĩ đại trong nữ thi nhân, mà còn là một tác gia vĩ đại trong Tống từ. Bà là con gái của học giả trứ danh Lý Cách Phi. Năm 18 tuổi, bà kết hôn với con trai Tể tướng Triệu Đĩnh Chi, tức Hồ Châu thái thú Triệu Minh Thành, có thể nói là một mối nhân duyên tốt đẹp nhất thời Bắc Tống. Đôi tài tử cùng nhau xướng hoạ thơ từ, chỉnh lý văn chương, sống một đời thanh tao u nhã. Năm Tĩnh Khang 1126, quân Kim đánh Tống, bà theo chồng chạy xuống phương nam, không lâu sau trượng phu qua đời, thân gái dặm trường thực khiến người ta thương xót. Một mình phiêu bạc, vãn cảnh rất thê lương, đấy đã gây thành bối cảnh ảm đạm trong toàn bộ Sấu ngọc từ 漱玉詞 của bà.

Nguồn: Thi Viện



6 THÓI QUEN TIÊU DÙNG XẤU DẪN ĐẾN "NGHÈO KHÓ"! ĐÂY CÓ PHÀI LÀ TRƯỜNG HỢP CỦA BẠN KHÔNG?

Mọi người đều muốn đầu tư, tiết kiệm tiền và trở nên giàu có, nhưng có khá nhiều người ở tuổi 30 mà không có tiền tiết kiệm và nợ nần! Dù ai cũng biết thói quen tiêu dùng không tốt của mình nhưng thực sự rất khó để thay đổi “6 thói quen tiêu dùng xấu này”.


Những năm gần đây, thuật ngữ “nghèo khó tinh tế” được dùng để mô tả “thu nhập thấp, ham muốn vật chất cao, tiền kiếm được” có thể không theo kịp sức tiêu thụ", bạn có phải cũng là một trong những người "nghèo tinh tế" không? Hãy nhanh chóng thay đổi tâm lý tiêu dùng sai lầm này nhé!

1. Thói quen chi tiêu tiền dẫn đến nghèo: Nghĩ rằng tiết kiệm tiền là khổ mình

Bởi vì nhiều người ghen tị với cuộc sống hào nhoáng của người khác, họ cảm thấy họ làm việc chăm chỉ chỉ để tiêu tiền để hưởng thụ, nên số tiền họ làm việc chăm chỉ hàng tháng được dùng để mua mỹ phẩm, quần áo, đồ ăn nhẹ, đồ uống và đi nhiều nơi, vào một nhà hàng đẹp cho bữa tối... Cho đến một ngày bạn sẽ phát hiện ra rằng: quần áo không mặc, đồ ăn vặt không tốt cho cơ thể... Tưởng chừng như bạn đang sống một cuộc sống tốt đẹp, nhưng cuối cùng túi của bạn trống rỗng.

Thói quen tiêu dùng rò rỉ tiền là phổ biến ở tất cả người nghèo

2. Thói quen chi tiêu tiền dẫn đến nghèo: Cảm thấy tiết kiệm một khoản tiền nhỏ là vô ích

Đây hẳn là tâm lý của tất cả những người Liping bây giờ, nếu trước đây không mua được nhà, bây giờ không mua được nhà, sau này cũng không mua được nhà, bạn có thể làm gì nếu bạn tiết kiệm được số tiền ít ỏi. Nhưng tất cả số tiền lớn đều phải bắt đầu từ số tiền nhỏ. Chỉ bằng cách tiết kiệm số tiền nhỏ, bạn mới có nhiều lựa chọn hơn. Khi bạn tích lũy tiền gửi và tìm được phương thức đầu tư phù hợp, bạn sẽ bắt đầu thấy rằng số tiền của mình tăng nhanh hơn.

Thói quen chi tiêu phổ biến của người nghèo và người sành sỏi: họ cho rằng tiết kiệm một khoản tiền nhỏ là vô ích

3. Thói quen chi tiêu tiền dẫn đến nghèo: Khi thu nhập của bạn tăng lên, chất lượng cuộc sống của bạn cũng sẽ được cải thiện

Khi kiếm được 40.000, tôi có thể tiêu 35.000, khi kiếm được 60.000, tôi sẽ tiêu 55.000, thu nhập hàng tháng của tôi là 20.000, nhưng tiền tiết kiệm của tôi vẫn không tăng. Vấn đề là lương của tôi đã tăng lên, điều này ảnh hưởng đến chất lượng của tôi. Tôi phải theo kịp nên chi phí bữa ăn tăng từ 200 lên 400 mỗi bữa, việc đi lại thay đổi từ trong nước sang nước ngoài, các sản phẩm trang điểm và chăm sóc da chuyển từ kệ mở sang quầy... Cuối cùng, số tiền tiết kiệm được không hề tăng lên chút nào và cảm thấy gánh nặng cuộc sống của mình lại càng lớn hơn.

Thói quen tiêu dùng rò rỉ tiền là phổ biến ở tất cả người nghèo: khi thu nhập của họ tăng lên thì chất lượng cuộc sống của họ cũng phải được cải thiện

4. Thói quen chi tiêu tiền dẫn đến nghèo: Quá lười lập ngân sách và tiêu tiền tùy theo tâm trạng

Người nghèo tinh tế cảm thấy dù sao thì họ cũng phải mua những gì họ nên mua, và ngân sách cũng vô dụng, tốt hơn hết là bạn nên chi bao nhiêu tùy thích và tiết kiệm bao nhiêu tùy thích vào cuối tháng. Đặc điểm của sự nghèo khó tột cùng là hãy tiết kiệm số tiền bạn còn lại. Cách tiết kiệm tiền đúng đắn là khấu trừ số tiền bạn muốn tiết kiệm trước, sau đó mới tiêu phần còn lại. Đặt mục tiêu và tự động khấu trừ tiền có thể cải thiện cảm giác rò rỉ tiền và giảm mức tiêu dùng không kiểm soát.

Thói quen chi tiêu phổ biến của người nghèo và người sành điệu: lười lập ngân sách và tiêu tiền theo tâm trạng

5. Thói quen chi tiêu tiền dẫn đến nghèo: luôn tìm cớ để tiêu tiền

Để mua một thứ gì đó, bạn sẽ tìm ra nhiều lý do khác nhau, ví dụ như nếu bạn chia một món đồ đắt tiền thành 365 ngày, nghĩ xem giá của nó trong một ngày là bao nhiêu thì rất rẻ, nhưng bạn sẽ không sử dụng món đồ đó hàng ngày. Nhiều người sẽ nói rằng chỉ có tiêu dùng mới có động lực kiếm tiền, điều này dành cho những người biết kiềm chế và biết lập kế hoạch, nói chung những người trăng hoa dễ bị rò rỉ tiền có sóng não quá yếu, họ muốn mua mọi sản phẩm tốt không đắt tiền và cuối cùng lại mua rất nhiều thứ tương tự.

Thói quen chi tiêu của người nghèo và người sành điệu: họ luôn tìm đủ mọi lý do để tiêu tiền

6. Thói quen chi tiêu tiền dẫn đến nghèo: Tin rằng tiêu tiền có thể thay đổi chính mình

Đây là cách tiền dần dần biến mất, một số người muốn uống nhiều nước hơn để tốt cho sức khỏe nên lần đầu tiên họ lên mạng và mua một chiếc cốc bán chạy. Nếu bạn muốn tập yoga để có thân hình như một nữ ngôi sao, trước tiên sẽ mua một tấm thảm tập yoga và quần áo tập yoga cao cấp trước khi bắt đầu tập luyện. Thấy bạn bè, đồng nghiệp và những người nổi tiếng trên Internet mang theo một chiếc túi xách cổ điển hoặc một chiếc túi xách phổ biến nào đó và nghĩ đến việc mình cũng mua một chiếc. Họ cảm thấy rằng nếu mang một chiếc túi xách tay, tầm nhìn của bản thân sẽ khác và tốc độ kiếm tiền sẽ thay đổi.

Thói quen chi tiêu của người nghèo và người sành điệu: họ tin rằng việc tiêu tiền có thể thay đổi bản thân họ

Điều đó không có nghĩa là bạn không thể tiêu tiền, cũng không có nghĩa là bạn phải sống trong cảnh nghèo đói cùng cực, bạn nên thực hiện những thói quen xấu “loại bỏ lãng phí” và “chi tiêu quá mức” trong cuộc sống hàng ngày. Những sản phẩm tương tự thực sự có thể làm tổn hại đến ví tiền của bạn.

Kỳ Mai biên dịch
An Nhiên / Theo: vandieuhay

Sunday, March 29, 2026

CRAB MENTALITY LÀ GÌ? LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐỐI PHÓ VỚI TÂM LÝ ĂN KHÔNG ĐƯỢC PHÁ CHO HÔI

Có bao giờ bạn cảm thấy như thể bạn bè hay đồng nghiệp không ủng hộ và cản trở bạn cải thiện bản thân không? Chẳng hạn như bạn đạt được thành tích cao trong công việc và rất hài lòng vì những nỗ lực của bản thân nhưng trong mắt đồng nghiệp kết quả này chỉ là ăn may. Hay khi bạn dự tính học thêm về tài chính để phụ giúp quản lý cửa hàng của người yêu, người khác lại dè bỉu rằng “chuột sa hũ gạo”. Nếu như vậy, rất có thể bạn là một con cua bị kẹt trong một cái xô, mỗi khi bạn cố gắng thoát ra sẽ có rất nhiều con cua khác kéo bạn xuống. Trong tâm lý học, hành vi này được gọi là “crab mentality”. Vậy crab mentality là gì, làm thế nào để bạn bứt phá khỏi vòng vây kìm hãm? Hãy cùng Nghề Nghiệp Việc Làm 24h khám phá ở bài viết dưới đây.

Thuật ngữ này nghe có vẻ khá xa lạ, tuy nhiên hẳn bạn đã gặp sự việc này ở thời điểm nào đó.

Crab mentality là gì?

Crab mentality có nghĩa là tâm lý “cua trong xô” hay gọi tắt là “tâm lý con cua” và bắt nguồn từ một hiện tượng tự nhiên của loài cua. Nếu bạn đặt một con cua vào một cái xô, nó sẽ dễ dàng leo lên và bò ra ngoài. Nhưng mọi chuyện sẽ diễn biến khác khi bạn cho một đàn cua vào cái xô. Lúc đó, bất kỳ con cua nào cố thoát ra ngoài sẽ bị những con khác kéo trở lại. Nếu tiếp tục nỗ lực trèo lần thứ 2, con cua có thể trở thành mục tiêu của cuộc tấn công. Điều này có nghĩa là không có con cua thoát ra ngoài được vì chúng đang chống lại nhau.

Thuật ngữ này nghe có vẻ khá xa lạ, tuy nhiên hẳn bạn đã gặp sự việc này ở thời điểm nào đó.

Hãy áp dụng hiện tượng này vào tâm lý và cách tương tác của con người. Crab mentality là phép ẩn dụ về cách con người phản ứng khi nhìn thấy những người xung quanh có những thay đổi tích cực mà chính họ không thể đạt được. Câu “ăn không được thì đạp đổ” mô tả chính xác nhất tâm lý con cua này. Mặc dù con người không cố gắng hạ gục nhau về thể chất như loài cua nhưng sẽ làm suy sụp tinh thần của người khác.


Tại sao con người lại có tâm lý con cua?

Crab mentality khá độc hại, vì với tâm lý này không ai có thể trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình. Nhưng tại sao crab mentality lại tồn tại, nguyên nhân gốc rễ của tâm lý cua là gì? Một số lý do giải thích về crab mentality như:

– Môi trường có tính cạnh tranh cao nhưng tài nguyên hạn chế: khi tài nguyên (như công việc, cơ hội, danh tiếng) có giới hạn và cạnh tranh trở nên khốc liệt, con người sẽ cảm thấy lo lắng về việc mất đi các tài nguyên này. Khi đó họ có khuynh hướng ghen tị với thành công của người khác vì cho rằng tài nguyên đang bị mất đi. Do đó, họ cần phải bảo vệ tài nguyên của mình bằng cách cản trở người khác.

– Tự ti về bản thân: khi một người cảm thấy không tự tin về bản thân, họ dễ dàng cảm thấy bị đe dọa bởi sự thay đổi tích cực của người khác. Vì vậy thể hiện hành vi crab mentality để tránh cảm giác này.

Tâm lý cua trong xô có thể xuất phát từ sự tự ti của bản thân.

– Áp lực, định kiến xã hội: xã hội và môi trường góp phần định hình tư duy, hành vi của con người. Nếu môi trường coi trọng tính cạnh tranh, đề cao cá nhân hơn là hợp tác thì việc thực hiện hành vi crab mentality được xem là cách để thích nghi với môi trường xung quanh.

– Khả năng chịu đựng cảm xúc tiêu cực: đố kỵ hay khó chịu là những cảm xúc tự nhiên mà bất kỳ ai cũng có thể trải qua. Khi không được nhận thức đúng và xử lý tốt, những cảm xúc này có thể dẫn đến hành vi crab mentality nhằm phân tán, chia sẻ cảm xúc tiêu cực này với người khác.

Làm thế nào để nhận biết ai đó có tâm lý cua trong xô?

Dấu hiệu chính của tâm lý con cua là thường ngăn cản hoặc phá hoại người khác. Ngoài ra, các dấu hiệu khác để nhận biết ai đó có crab mentality hay không, bao gồm cả bạn như:

– Có xu hướng nói xấu, chê bai, hạ thấp người khác.

– Phản ứng tiêu cực một cách tự động với thành tích của người khác.

– Hay so sánh bản thân với người khác.


Phán xét bản thân tiêu cực khi nhìn thấy thành công của người khác là biểu hiện của tâm lý con cua.

– Xem những người khác như đối thủ, đang cạnh tranh trực tiếp với chính mình, ngay cả khi không phải như vậy.

– Thể hiện sự thỏa mãn trước những điều bất như ý của người khác.

– Không có khả năng cộng tác với mọi người.

– Cảm thấy không an toàn khi ai đó vượt trội hơn và có tư duy “người ta không thể giỏi hơn, thành công hơn mình”.

– Không nỗ lực trong công việc hay giải quyết vấn đề, thay vào đó là liên tục chỉ trích, phàn nàn.

– Bất an và xem thường khả năng, thành tích hay địa vị của bản thân. Tuy nhiên một số người sẽ thể hiện ngược lại, đó là thổi phồng chính mình nhằm hạ thấp người khác.

Tự cho mình là nhất, xem thường người khác để tạo ra cảm giác an toàn giả tạo vì rất sợ mất đi điều gì đó.

Làm thế nào để hạn chế crab mentality của bản thân?

Bước đầu tiên nhưng rất quan trọng đó là trung thực với bản thân và nhận thức được rằng bạn đang hoặc sắp thể hiện tâm lý con cua. Để nhận ra điều này, cần xem xét lại liệu suy nghĩ, lời nói và hành động của bạn có mang tính ngăn cản, phá hoại ai đó mà không có lý do chính đáng hay không.

Khi nhận ra mình có tâm lý cua, bạn nên cố gắng giải quyết các vấn đề tiềm ẩn đang thúc đẩy bạn phải thể hiện ra ngoài. Ví dụ vấn đề là bạn có xu hướng cho rằng thành tích của người khác chắc chắn sẽ tác động tiêu cực đến lợi ích của bạn thì hãy thử chậm lại, suy nghĩ kỹ càng xem điều đó có phải là sự thật hay không.

Dành thời gian suy ngẫm về những gì bạn cho là đang đe dọa đến mình.

Ngoài ra, bạn nên chuyển hướng tập trung vào những điều tích cực của bản thân để tránh tâm lý này. Chẳng hạn như thay vì bị ám ảnh bởi những gì người khác đang làm và đạt được, bạn nên tập trung vào mục tiêu cũng như sự tiến bộ của bản thân. Tương tự, hãy tìm những điểm tốt trong hành trình của người khác để học hỏi và cố gắng hơn thay vì đố kỵ, hạ bệ họ.

Trong trường hợp bạn chưa thể thay đổi được suy nghĩ của mình thì có thể bắt đầu từ hành động. Ví dụ, một người bạn thân đã thi đậu tiếng Nhật bằng N2 – điều mà bạn cũng hướng đến. Có thể bạn không thực sự vui mừng cho họ, nhưng bạn có thể kiểm soát hành động của mình như gửi lời chúc mừng hoặc ít nhất là không hạ thấp họ.

Hãy nghĩ về cách bạn muốn người khác đối xử với mình và sau đó hành động tương ứng với họ.

Lưu ý quan trọng cần nhớ:

Nhìn chung để tránh tâm lý con cua bạn cần nhận ra đây là vấn đề của chính bạn và tập trung giải quyết những cảm xúc tiêu cực này. Tuy nhiên, đây là một quá trình cần thời gian, thậm chí là khá lâu. Đồng thời bạn không nên phán xét bản thân là xấu xa khi phát hiện mình có tâm lý con cua. Hãy nhớ 2 từ khóa quan trọng là chấp nhận và thời gian.

Làm thế nào để đối phó với crab mentality ở người khác?

Tương tự như khi đối phó với tâm lý con cua trong chính mình, bước đầu tiên cũng là nhận ra tâm lý con cua ở người khác. Khi làm điều này, bạn nên cố gắng hiểu được sự ảnh hưởng của tâm lý này đến họ như thế nào thông qua lời nói, hành động. Bắt đầu từ việc hiểu bản chất, thay vì có những hành động đáp trả trực tiếp, bạn sẽ dễ dàng chấp nhận và đối phó bằng cách:

– Bỏ qua hành vi của họ.

– Nhận ra tâm lý con cua chủ yếu là do các vấn đề của chính họ hơn là những gì bạn đã làm, ngay cả khi hành vi nhắm vào bạn.

– Tha thứ cho họ, đây là điều tốt nhất bạn có thể làm cho chính mình, vì lo lắng, tức giận là lãng phí năng lượng.

– Tập trung vào hành trình của chính mình hơn là sự tiêu cực của người khác.

– Từ chối tham gia vào các hành vi crab mentality cùng với người khác để “trả thù” lại những người đã hạ bệ bạn trước đây.

– Trong một số trường hợp, giải pháp tối ưu đơn giản là tránh xa những người có tâm lý con cua và thiết lập mối quan hệ lành mạnh với những người khác.

Bạn có thể chọn thoát ra khỏi mối quan hệ tiêu cực và tìm kiếm những điều tốt đẹp hơn.

Nhìn chung, crab mentality là hành vi mang tính thù địch với những người mà chúng ta đánh giá là tốt hơn. Trong khi đó, nếu xoay chuyển cục diện, biến sự thay đổi tích cực của người khác thành động lực để cố gắng sẽ mang đến kết quả tốt hơn. Hành động thù địch chỉ càng gây ra bất lợi và cản trở con đường hoàn thiện bản thân. Qua bài viết này, hy vọng bạn đọc đã hiểu hơn về crab mentality cũng như nhìn nhận lại bản thân hay những hành vi ác ý từ người khác để có cách giải quyết phù hợp. Đừng quên theo dõi blog của Việc Làm 24h để đón đọc nhiều thông tin thú vị hơn nhé!

Thuyen Dang / Theo: vieclam24h



CÂU CHUYỆN CHƯA KỂ TRONG LỊCH SỬ: LÃO TỬ, KHỔNG TỬ VÀ PHẬT THÍCH CA MÂU NI

Sau khi thời Xuân Thu đã đi qua được 2500 năm, ngoại trừ Phật gia không có học phái nào có thể ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa Trung Hoa bằng Nho gia và Đạo gia. Bởi vậy, ông tổ của 3 gia phái này là Phật Thích Ca Mâu Ni, Khổng Tử và Lão Tử được người đời sau ngưỡng mộ và sùng bái.


Thật trùng hợp ở chỗ, ngày tháng 3 vị ấy ra đời chênh nhau không quá 20 năm. Theo góc nhìn lịch sử, thì 3 vị ấy là người của cùng một thời đại. Năm 571 Trước công nguyên, ngày 15 tháng 2 Lão Tử giáng sinh tại nước Sở, huyện Khổ (nay là huyện Lộc Ấp, Hà Nam). 5 năm sau, ngày 8 tháng 4 năm 566 Trước công nguyên Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sinh ở Kim Ni Bạc Nhĩ. 15 năm sau, vào ngày 27 tháng 8 năm 551 Trước công nguyên, Khổng Tử ra đời tại Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông.

3 vị Thánh giả giáng sinh vào cùng một thời đại, ấy là sự trùng hợp của lịch sử hay là Ý Trời đã an bài như vậy?

Lão Tử

“Lão Tử” tên thật là Lý Nhĩ, tên tự là Bá Dương. “Lão” là ý gọi người tuổi cao Đức lớn. “Tử” là cách gọi bày tỏ lòng tôn kính đối với người khác. Tương truyền Lão Tử bẩm sinh có khí chất phi phàm, am hiểu chuyện xưa, giỏi việc lễ chế, từng đảm nhiệm chức quan “Thủ tàng thất sử” (tương đương với giám đốc thư viện quốc gia hoặc là giám đốc viện bảo tàng quốc gia) và chức Trụ hạ sử (tương đương với chức quan Ngự sử thời Tần, Hán). Lão Tử ở lại Lạc Dương nước Chu thật lâu, thấy rõ sự suy sụp của nhà Chu. Năm 500 trước công nguyên, trong hoàng tộc nhà Chu phát sinh cuộc nội chiến tranh giành ngôi vị, Lão Tử bị liên lụy và bị bãi quan. Lão Tử cảm thấy nhân thế hiểm ác, bèn rời đi. Ông lưu lạc khắp 4 phương trời nhưng không để ai biết danh tính của mình.

Ngày 1 tháng 9 năm 478 trước công nguyên, Lão Tử 93 tuổi đi về nước Tần. Lúc đi qua cửa Hàm Cốc, quan Lệnh tên là Doãn Hỷ ở đó xem bói đã biết trước là sẽ có một Thần nhân đi qua đây, bèn sai người quét dọn sạch sẽ 40 dặm đường để nghênh đón. Quả nhiên Lão Tử tới. Doãn Hỷ nói: “Tiên sinh Ngài muốn ẩn cư, sau này không còn được nghe Ngài dạy bảo nữa, kính xin tiên sinh viết sách để truyền lại cho hậu thế!”. Lão Tử tại Trung Nguyên chưa từng truyền thụ lại điều gì. Ông biết Doãn Hỷ trong mệnh đã định là sẽ đắc Đạo, bèn tạm dừng lại nơi này một thời gian ngắn, viết lại cuốn sách nổi tiếng ngàn đời: Đạo Đức kinh. Sau đó, Lão Tử ra khỏi cửa Hàm Cốc đi về phía Tây, vượt qua vùng Lưu Sa… Lưu Sa là chỉ vùng sa mạc lớn ở Tân Cương. Không ai biết cuối cùng ông đã đi về nơi đâu.


Khổng Tử từng đến kinh đô nước Chu, thỉnh giáo Lão Tử về Lễ chế. Một ngày, Khổng Tử cưỡi một chiếc xe cũ do trâu kéo, lắc la lắc lư tiến vào thành Lạc Dương – kinh đô của nước Chu. Ông đi lần này mục đích là để tham quan “Các nguyên tắc trị nước mà các vị Tiên vương đã dùng”, khảo sát “Nguồn gốc của Lễ Nhạc”, học tập “Các quy phạm đạo đức”, bởi vậy việc ông tới viếng thăm Lão Tử, vị quan tinh thông chế độ Lễ nghi và quản lý thư viện hoàng gia, ấy là an bài tối quan trọng [của Thiên thượng]. Khổng Tử sau khi hoàn thành việc khảo sát lần đó, đã nói một câu lưu truyền đời sau rằng: “Trong số rất nhiều học thuyết trên đời, ta chọn theo [học thuyết của] nhà Chu”. Chế độ Lễ nghi thời đại nhà Chu là phỏng theo Lễ chế thời đại nhà Hạ và nhà Thương làm cơ sở mà đặt định ra, và Khổng Tử chủ trương sử dụng Lễ chế của thời đại nhà Chu. Có thể thấy chuyến đi lần ấy của ông thu được ích lợi không hề nhỏ.

Khổng Tử bái kiến Lão Tử. Lão Tử hỏi Khổng Tử đọc sách gì, ông trả lời là đọc “Chu Dịch”, và Thánh nhân đều đọc sách này. Lão tử nói: “Thánh nhân đọc sách này thì được, còn ông vì sao cần phải đọc nó? Tinh hoa của quyển sách này là gì?”.

Khổng Tử trả lời: “Tinh hoa của nó là tuyên dương Nhân Nghĩa“.

Lão Tử nói: “Cái gọi là nhân nghĩa, đó là một thứ mê hoặc lòng người, giống như như muỗi rận ban đêm cắn người, chỉ có thể làm người ta thêm hỗn loạn và phiền não mà thôi. Ông xem, con chim Thiên nga kia không cần tắm rửa mà lông vũ tự nhiên vẫn trắng như tuyết, Quạ đen hàng ngày không nhuộm lông mà tự nhiên vẫn đen. Trời vốn là cao, đất vốn là dày, mặt trời mặt trăng từ trước tới nay đã phát ra ánh sáng rực rỡ, tinh thần từ trước tới nay chính là đã được an bài có trật tự, cây cỏ từ lúc sinh ra thì đã khác nhau. Nếu như ông tu Đạo, vậy cũng thuận theo quy luật tồn tại của tự nhiên, tự nhiên là có thể đắc Đạo. Tuyên dương những thứ nhân nghĩa để làm gì đây? Chẳng phải điều đó cũng đáng tức cười như việc vừa đánh trống vừa đi tìm một con dê thất lạc hay sao?”

Lão Tử lại hỏi Khổng Tử: “Ông cho rằng tự mình đắc Đạo rồi chưa?”.

Khổng Tử nói: “Tôi đã tìm cầu 27 năm rồi, vẫn chưa đắc được”.

Lão Tử nói: “Nếu như Đạo là một thứ hữu hình có thể tìm kiếm và dâng hiến cho con người, thì người ta sẽ tranh giành nó đem dâng tặng cho quân vương. Nếu như Đạo có thể đem tặng cho người khác, thì người ta sẽ đem tặng nó cho người thân. Nếu như Đạo có thể giảng rõ ra được, người ta sẽ đem nó giảng giải cho anh em của mình. Nếu như Đạo có thể truyền thụ cho người khác, thì người ta đều sẽ tranh nhau truyền nó cho con cái mình. Song những chuyện như thế là không thể được. Nguyên nhất rất đơn giản, Đạo ấy chính là thứ mà một người bình thường không thể nhận thức một cách chính xác được, Đạo tuyệt đối sẽ không thể nhập vào tâm của người thường được”.

Khổng Tử nói: “Tôi nghiên cứu ‘Thi Kinh’, ‘Thượng Thư’, ‘Lễ’, ‘Nhạc’, ‘Dịch’, ‘Xuân Thu’, giảng nói đạo lý trị quốc của các vị tiên vương, hiểu rõ con đường thành công của Chu Công, Triệu Công. Tôi đã lấy đó để bái kiến 70 quân vương, nhưng họ đều không chọn dùng chủ trương của tôi. Xem ra người ta thật là khó thuyết phục được!”.

Lão Tử nói: “Ông nói ‘Lục Nghệ’ ấy tất cả đều là những thứ xưa cũ của thời đại các tiên vương, ông nói những thứ đó để làm gì đây? Thành tựu tu học mà ông đạt được hôm nay cũng đều là những thứ xưa cũ rồi”.


Khổng Tử thỉnh giáo xong Lễ chế nhà Chu, liền quyết tâm trở về nước Lỗ khôi phục lại nguyên xi Lễ nghi của nhà Chu. Lão Tử đối với việc này vẫn bảo lưu ý kiến. Bởi vì Lễ tuy là cần phải có, nhưng muốn khôi phục toàn diện Lễ nghi nhà Chu, e rằng không thể làm được. Thời thế thay đổi, chút Lễ nghi nhà Chu ấy cũng không thích hợp với tình huống đương thời nữa. Vì vậy Lão Tử nói với Khổng Tử: “Ông theo lời những người đó, xương cốt của họ đều đã mục nát cả rồi, chỉ là những lời bàn luận của họ là còn tồn tại mà thôi. Hơn nữa quân tử gặp được thời cơ chính trị 1 thì liền theo chính, thời cơ không thích hợp thì cũng như cây cỏ bồng kia gặp sao yên vậy. Tôi nghe nói: Người giỏi kinh doanh đem cất giấu của cải hàng hóa, không cho người thác trông thấy, mặc dù giàu có nhưng dường như cái gì cũng không có. Người quân tử Đức cao thường bề ngoài cũng giống như người ngu độn, không để lộ chân tướng ra ngoài. Ông cần phải vứt bỏ tâm kiêu ngạo và dục vọng, vứt bỏ tâm thái và thần sắc mà ông đang có kia đi, vứt bỏ chí hướng quá truy cầu kia đi, bởi vì những thứ này đối với ông chẳng có chỗ nào tốt cả. Đó chính là những gì mà tôi muốn cho ông biết”.

Khổng Tử không biết nên trả lời ra sao, nhưng vẫn không buông bỏ chí hướng của mình: Đại trượng phu “biết rõ những việc không thể làm mà vẫn làm”. Tham quan xong các địa phương khác, Khổng Tử cáo từ Lão Tử, mang theo trong lòng những nỗi niềm phấn khởi xen lẫn với thất vọng mà rời kinh đô Lạc Dương của nhà Chu. Phấn khởi là vì học hỏi lễ giáo đã thành công, thất vọng là vì những lời khuyến cáo của Lão Tử. Phía sau lưng ông, một bia đá được dựng lên ghi lại mấy chữ: “Khổng Tử đến đất Chu học hỏi lễ nghi”.

Khổng Tử trở về, 3 ngày không nói chuyện. Tử Cống thấy kỳ lạ, bèn hỏi thầy chuyện là thế nào. Khổng Tử nói: “Chim, ta biết nó có thể bay; cá, ta biết nó có thể bơi; thú, ta biết nó có thể chạy. Có thể chạy thì ta có thể dùng lưới giăng bắt nó, có thể bơi thì ta có thể dùng dây tơ mà câu, có thể bay thì ta có thể dùng cung tên bắn được nó. Còn như con rồng, ta không biết nó làm sao có thể lợi dụng sức gió mà bay tới tận trời cao. Ta hôm nay gặp mặt Lão Tử, ông ấy cũng như con rồng kia thâm sâu không thể đo lường nổi!”.

Đó chính là sự khác nhau cơ bản giữa một Giác Giả độ nhân và một nhà tư tưởng của nhân gian. Cái gọi là “Đạo bất đồng bất tương vi mưu” (Tạm dịch: không cùng một trình độ tu Đạo thì tâm cảnh cũng khác nhau xa), chính là tình huống như thế này. Đạo lý của Lão Tử vi diệu khó có thể hiểu nổi, bởi vì ấy là lời giáo huấn của Thần. Lời của Khổng Tử chẳng qua chỉ là học vấn của con người, là quy phạm đạo đức và hành vi của loài người mà thôi.

Khổng Tử

Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tên tự là Trọng Ni, sinh vào nước Lỗ năm 551 trước công nguyên.

Khi lớn lên, Khổng Tử từng làm một chức quan nhỏ chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương công bằng chuẩn xác. Ông cũng từng đảm nhiệm chức quan nhỏ chuyên quản lý nông trường chăn nuôi, súc vật sinh trưởng rất tốt. Nhờ vậy ông được thăng chức lên làm quan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình. Khổng Tử thân cao 9 xích 6 tấc (xích là đơn vị đo lường cổ Trung Hoa = 1/3 mét), mọi người đều gọi ông là “Người cao lớn”, cho rằng ông là người phi thường.

Sau khi Khổng Tử tới đất Chu học hỏi Lễ nghi trở về lại nước Lỗ, các học trò theo ông học tập dần dần đông lên. Có thể nói Khổng Tử là người thầy tư nhân chuyên thu nhận học trò đầu tiên trong lịch sử giáo dục Trung Quốc. Trước thời ông, trường học hoàn toàn là của nhà nước. Khổng Tử sáng lập ra trường học tư, thu nhận nhiều đồ đệ, đưa giáo dục mở rộng cho bình dân, đem tri thức văn hóa truyền bá cho dân gian, có cống hiến thật to lớn đối với giáo dục thời cổ đại.

Lúc Khổng Tử 35 tuổi tới nước Tề. Tề Cảnh Công thỉnh giáo Khổng Tử về đạo trị nước. Khổng Tử nói: “Quân vương cần phải có phong thái của quân vương, bề tôi cần phải có phong thái của bề tôi, cha cần có phong thái của người cha, con cần có phong thái của con”. Cảnh Công nghe xong nói: “Cực kỳ đúng! Nếu quân vương không ra quân vương, bề tôi không ra bề tôi, cha không ra cha, con không ra con, thì cho dù có rất nhiều lương thực, ta làm sao có thể ăn được đây!”. Ngày khác Cảnh Công lại thỉnh giáo Khổng Tử về Đạo lý trị quốc, Khổng Tử nói: “Quản lý quốc gia cần nhất là tiết kiệm chi tiêu, ngăn chặn lãng phí từ gốc rễ”. Cảnh Công nghe xong rất phấn khởi, định đem đất Ni Khê phong thưởng cho Khổng Tử.


Yến Anh khuyên can nói: “Loại nhà Nho này, có thể nói đạo lý, không thể dùng pháp luật mà ràng buộc được họ. Họ cao ngạo tùy hứng, tự cho mình là đúng. Họ coi trọng tang lễ, dốc hết tình cảm bi thương, an táng trọng thể mà không ngại bị khuynh gia bại sản. Họ đi khắp nơi du thuyết, cầu xin quan lộc. Bởi vậy không thể dùng họ để quản lý quốc gia được. Hiện nay Khổng Tử nói về dung mạo phục sức, đặt định lễ tiết thượng triều hạ triều rườm rà, chính là mấy đời người cũng học tập không xong được, cả đời cũng làm không được thông. Nếu Ngài muốn đem bộ những thứ này để thay đổi phong tục của nước Tề, e rằng không phải là biện pháp tốt để dẫn dắt trăm họ”.

Yến Anh khuyên can có hiệu quả. Sau đó Tề Cảnh Công tiếp đãi Khổng Tử rất có lễ độ, nhưng không còn hỏi về những vấn đề có liên quan đến Lễ nữa. Trong số các quan đại phu nước Tề có người muốn mưu hại Khổng Tử. Cảnh Công nói với Khổng Tử: “Ta đã già rồi, không thể bổ nhiệm quan tước cho ông được nữa”. Thế là Khổng Tử rời Tề trở về Lỗ.

Tại nước Lỗ, Khổng Tử tuy về mặt chính trị có rất nhiều thành tích, cũng từng làm một vài chuyện lớn, nhưng con đường làm quan không hề trôi chảy. Có lần nhà Vua chủ trì một đại lễ tế Trời, quan đại phu Tam Hoàn cố tình không chia cho ông một khối thịt tế nào. Đó là loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong Chế độ Lễ nghi của nhà Chu. Khổng Tử biết con đường làm quan của mình không có hy vọng gì, bèn rời quê nhà đi dạy học bốn phương trời, tuyên truyền những chủ trương chính trị của mình.

Lúc đó Khổng Tử khoảng chừng 50 tuổi. Ông không nề hà khổ nhọc, dùng 13 năm để dẫn dắt học trò chu du các nước, đi du thuyết khắp nơi. Nhưng các nước đều không chấp thuận chủ trương của ông. Năm 63 tuổi, Khổng Tử trở lại nước Lỗ. Cuối cùng nước Lỗ cũng không trọng dụng Khổng Tử, mà Khổng Tử cũng không muốn ra làm quan nữa.

Tuy là một người tuổi đã gần đất xa trời, nhưng ngọn lửa tư tưởng trong 9 năm cuối đời đã phát huy được thành tựu rực rỡ. Khổng Tử dốc lòng thu nhận học trò, biên soạn điển tịch, tạo thành một hệ thống tư tưởng Nho học trong 9 năm cuối đời mình.

Thời đại Khổng Tử, nhà Chu đã suy, Lễ nhạc đã phôi pha, ‘Thi’, ‘Thư’ cũng không còn toàn vẹn nữa. Khổng Tử tìm tòi nghiên cứu chế độ lễ nghi của 3 thời đại Hạ, Thương, Tây Chu, biên định “Thượng thư”, “Lễ ký”. Khổng Tử sau khi từ nước Vệ trở về nước Lỗ, thì bắt đầu đính chính lại Thi Nhạc, khiến cho “Nhã”, “Tụng” đều khôi phục lại được nhạc điệu ban đầu. “Kinh Thi” vốn có 3000 bài được truyền lại từ thời cổ đại. Đến thời Khổng Tử, ông cắt bỏ những chỗ trùng lặp, lựa chọn trong đó những bài phù hợp cho việc dạy bảo Lễ Nghĩa.

Lúc về già Khổng Tử thích nghiên cứu “Chu Dịch”. Ông giải thích về “Thoán từ”, “Hào từ”, “Quái”, “Văn ngôn”. Khổng Tử đọc Chu Dịch rất siêng năng, đến nỗi sợi dây da trâu buộc sách đã nhiều lần bị mòn đứt. Ông nói: “Để ta sống lâu thêm vài năm nữa, ta có thể nắm vững và giải thích rõ ràng nội dung và đạo lý trong từng câu văn của “Chu Dịch””.

Khổng Tử nói: “Quân tử lo lắng nhất chính là sau khi chết không lưu lại được tiếng thơm. Chủ trương của ta không thể thực thi, ta lấy gì để cống hiến cho xã hội và lưu danh hậu thế đây?”. Bèn căn cứ vào các sách lịch sử của nước Lỗ biên soạn ra bộ “Xuân Thu”, trên từ năm Lỗ Ân Công đầu tiên (722 TCN) xuống tới năm Lỗ Ai Công thứ 14 (481 TCN), tổng cộng 12 đời vua nước Lỗ. Lấy nước Lỗ làm trung tâm để biên soạn, tôn thờ Hoàng tộc nhà Chu làm chính thống, lấy sự tích Ân Thương làm tham khảo, mở rộng và phát triển truyền thống các thời đại từ đời Hạ, Thương, Chu, lời văn súc tích uyên thâm.

Cuối cùng Khổng Tử biên soạn xong “Lục Nghệ” là Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân thu. Khổng Tử dùng Thi, Thư, Lễ, Nhạc làm tài liệu giảng dạy học trò, đến học có ước chừng tới 3000 đệ tử, trong đó hiền nhân quân tử có 72 người. Chưa kể nhiều học trò chưa chính thức nhập tịch ở khắp nơi nữa.

Lúc Khổng Tử lâm bệnh, Tử Cống đến thăm viếng thầy. Khổng Tử thở dài, nói ngay: “Thái Sơn sắp đổ rồi, rường cột sắp gãy rồi, người trí tuệ sắp chết rồi!”. Nước mắt chảy dài, nói với Tử Cống: “Thiên hạ từ lâu đã mất đi đạo lý thông thường, không có ai tiếp nhận chủ trương của ta cả …”. 7 ngày sau Khổng Tử qua đời, hưởng thọ 73 tuổi, nhằm vào ngày Kỷ Sửu, tháng 4 năm 479 trước công nguyên.

Sách “Luận Ngữ” chính là do đệ tử của Khổng Tử căn cứ theo lời nói và việc làm của ông mà biên soạn thành. Đó là tư liệu trực tiếp nhất để cho chúng ta hôm nay hiểu biết về Khổng Tử. Khổng Tử cho người ta biết thế nào là “Trung dung”, vì đời sau mà đặt định ra quy phạm làm người theo “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Ảnh hưởng của ông đối với văn hóa Trung Quốc và cả vùng Đông Nam Á là rất to lớn.

Tư Mã Thiên nói: “Trong kinh “Thi” có câu nói như thế này: “Cái giống như núi cao khiến người ta chiêm ngưỡng, cái giống như đại Đạo khiến người ta tuân theo”. Từ xưa tới nay trong thiên hạ, Quân Vương và người tài đức thì có cũng nhiều. Họ khi đang còn sống đều vinh hoa quý hiển, nhưng chết đi rồi thì chẳng còn lại chút gì. Khổng Tử là một người bình dân, nhưng những người đọc sách đều tôn ông làm thầy. Từ Thiên tử, Vương Hầu đến nhân dân cả nước, những ai nói về “Lục Nghệ” thì đều xem học thuyết ấy của Khổng Tử là chuẩn tắc cao nhất. Có thể nói Khổng Tử là một Thánh nhân chí cao vô thượng”.

Tư Mã Thiên đã đánh giá rất đúng.

Phật Thích Ca Mâu Ni

Trong lúc Đại Đạo Trung Quốc đang được lưu truyền tại mảnh đất Thần Châu, thì đồng thời tại Ấn Độ – cũng là quốc gia có nền văn minh lâu đời tại phương Đông – Phật Pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã được truyền rộng.

Thích Ca Mâu Ni giáng sinh tại Kapilavastu (Ca tỳ La vệ), một đất nước tại vùng đất Ấn Độ xưa kia. Mẹ của ông là Hoàng hậu Mayadevi (hoàng hậu Ma Da) sinh hạ ông tại Lumbini (nằm ở Nam Nepal ngày nay) trên đường trở về nhà mẹ đẻ của bà. Người ta đồn rằng khi Thích Ca Mâu Ni giáng sinh, liền bước đi 7 bước, mỗi bước đi sinh ra một đóa hoa sen. Một tay chỉ lên trời, một tay trỏ xuống đất ông nói “Phía dưới Thiên Đàng và bên trên mặt đất, chỉ có ta là nhất”. Đây thực ra là chuyện đơm đặt của hậu thế. Trong vũ trụ này, có vô số Thần Phật của vô số Thiên Đàng, có ai dám kiêu căng khoác lác như thế không? Thích Ca Mâu Ni không bao giờ làm như vậy. Câu chuyện này thực sự chỉ là kết quả của những tình cảm tôn giáo cuồng tín của người đời sau mà thôi. Một vị Phật chỉ muốn người đời tu luyện theo lời dạy bảo của họ, chứ không muốn người ta dựng chuyện lên để mà tâng bốc.

Thích Ca Mâu Ni từ thuở nhỏ đã có tấm lòng từ bi thương xót chúng sinh và luôn đi tìm ý nghĩa chân chính của đời người. Năm ông 19 tuổi, Thích Ca Mâu Ni rời bỏ ngai vàng, rời khỏi hoàng cung đi tu luyện. Ấn Độ thời bấy giờ có đủ loại tông phái và đường lối tu luyện khác nhau. Đầu tiên Thích Ca Mâu Ni tu theo pháp “vô tưởng định” (Samadi) 3 năm và cuối cùng đã đạt tới cảnh giới này. Nhưng ông cho rằng đó không phải là Đạo, không phải là chân lý tột cùng, cho nên ông từ bỏ nó. Sau đó ông lại tu theo “Phi tưởng – phi phi tưởng định” 3 năm, thành công rồi nhưng ông thấy rằng đó cũng không phải là Đạo, nên cũng từ bỏ. 2 lần, Thích Ca Mâu Ni từ bỏ những điều mà ông biết chắc ấy không phải là Đạo. Ông không thể tìm thấy một vị chân sư nào cả, cho nên ông tự mình tới một ngọn núi băng giá phủ đầy tuyết trắng để tu hành khổ hạnh. Mỗi ngày ông chỉ ăn một ít hoa quả khô và chịu đói đến mức toàn thân khô héo. Ông khổ tu như vậy để tìm chân lý. Nhưng 6 năm trôi qua, ông nhận ra rằng khổ hạnh cũng không phải là Đạo, bèn xuống núi.


Thích Ca Mâu Ni đi tới bờ sông Hằng. Vì quá gầy yếu xanh xao, ông ngã xuống hôn mê bất tỉnh. Một người phụ nữ làm nghề chăn dê tình cờ đi qua, và cho ông một ít váng sữa. Thích Ca Mâu Ni ăn và phục hồi sức lực. Nhưng ông không có cách nào tìm thấy một vị chân sư có thể hướng dẫn cho mình, nên ông vượt qua sông Hằng, tới dưới một tán cây Bồ Đề, ngồi xuống và thiền định. Ông thề rằng nếu không trở thành một bậc “Vô thượng chính đẳng chính giác” thì ông thà chết tại nơi này.

Thích Ca Mâu Ni thiền định dưới tán cây Bồ Đề ấy trong 49 ngày. Buổi sáng ngày thứ 49, ông ngẩng đầu lên nhìn trời, và nhìn thấy được những ngôi sao sáng trên bầu trời. Cũng trong một cái nhìn ấy, thần thông và các quyền năng siêu phàm của ông lập tức nổ tung, và tư tưởng của ông khai mở. Ông lập tức nhớ lại mọi điều mà ông đã từng tu luyện trước kia, hiểu được kiếp sống hiện tại và nhiều kiếp trước của mình, và tất cả những điều khác nữa mà ông cần phải biết sau khi khai ngộ. Bởi vì năng lượng phóng ra trong quá trình khai công khai ngộ, một chấn động lớn xuất hiện trong phạm vi địa lý rộng lớn xung quanh ông. Người ta cho rằng ấy là một trận động đất nhẹ, núi đổ hay sóng thần, nhưng thực ra đó là do sự khai ngộ của Thích Ca Mâu Ni. Đương nhiên năng lượng của Phật là từ bi và không làm hại ai cả. Sau 12 năm tu luyện vô cùng gian khổ, Thích Ca Mâu Ni rốt cuộc đã ngộ Đạo. Sau đó, Phật Thích Ca Mâu Ni liền bắt đầu cuộc đời truyền Pháp 49 năm của mình.

Đặc điểm của pháp môn tu luyện mà Thích Ca Mâu Ni truyền dạy là Giới, Định, Huệ. Giới chính là cấm tất cả dục vọng và tâm cố chấp, định là nói về người nhập định tu hành, huệ là nói về người khai ngộ khai huệ. Đại tạng kinh có mấy vạn quyển, đều không lìa xa 3 chữ này. Đương nhiên, hình thức biểu hiện của nó rất phong phú phức tạp, nhưng thực chất chính là 3 chữ này.

“Mọi người đều biết rằng Bà La Môn giáo là Thích Ca Mâu Ni phản đối nhiều nhất. Ông cho rằng [nó] là một tà giáo, nó cùng với Phật Giáo của Thích Ca Mâu Ni là đối lập [với nhau] nhất. Kỳ thực tôi cho chư vị biết rằng: Thích Ca Mâu Ni chống đối Bà La Môn giáo chứ không phải chống đối Thần của Bà La Môn giáo. Thần mà Bà La Môn giáo tin theo vào thời kỳ nguyên thủy nhất đều là Phật, [họ] tin theo chính là các vị Phật trước thời Thích Ca Mâu Ni. Nhưng qua thời gian quá lâu dài, con người không còn tin Phật nữa, khiến cho tôn giáo này trở thành tà giáo, thậm chí [họ] sát sinh để tế lễ Phật. Cuối cùng, Thần mà họ tin tưởng và tôn thờ kia cũng không còn là hình tượng Phật nữa, [họ] bắt đầu tin theo và thờ phụng yêu ma quỷ quái có hình tượng quái vật. Con người đã làm cho tôn giáo trở thành tà”. (Giảng Pháp tại Pháp hội Houston).

Lời nói và việc làm của mọi người đều trái với những điều mà các vị Phật thời tiền sử dạy bảo. Như vậy, Bà La Môn giáo tiến vào thời Mạt pháp. Trong thời gian ấy, Phật Pháp của Thích Ca Mâu Ni bắt đầu truyền rộng ra tại Ấn Độ. Bởi Pháp mà Thích Ca Mâu Ni truyền chính là chính Pháp, trong quá trình truyền Pháp, Thích Ca Mâu Ni không ngừng bác bỏ các giáo lý của các tôn giáo khác, cho nên không ngừng có những người rời bỏ ngoại đạo đến quy y Phật giáo. Như một trong những đồ đệ của ông, người mà sau này trở thành Xá Lợi Phất ban đầu là người của Bà La Môn giáo. Ông cùng Thích Ca Mâu Ni tranh luận, biết Phật Thích Ca Mâu Ni đang truyền chính pháp, bèn rời bỏ Bà La Môn giáo và trở thành người đệ tử có trí tuệ cao nhất của Phật Thích Ca Mâu Ni. Như vậy, Phật Pháp mà Thích Ca Mâu Ni truyền càng lúc càng cường thịnh, còn các tôn giáo kia càng lúc càng suy tàn. Phật Pháp dần dần bị các tôn giáo kia kỳ thị và phản đối. Trong thời gian mâu thuẫn tôn giáo lên đến đỉnh điểm, xuất hiện sự kiện các đệ tử Phật giáo bị sát hại một cách công khai. Người đệ tử có Thần thông nhất là Mục Kiền Liên bị những kẻ ngoại đạo lăn đá từ trên núi xuống đè chết, trở thành đệ tử đầu tiên của Phật Thích Ca Mâu Ni chết vì lý tưởng của Phật giáo. Ngoại đạo còn bắt bớ đệ tử của Phật Thích Ca, ném họ vào hầm lửa, hoặc trói vào cột rồi dùng cung tên bắn chết. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni không còn tại thế, 500 đệ tử của Phật từng bị người ta chém đầu. Sự kiện bức hại ấy khiến người ta vô cùng đau xót!


Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni không còn trên thế gian, các tôn giáo khác bắt đầu hưng thịnh trở lại. Phật giáo ở Ấn Độ trải qua nhiều lần cải tổ, cuối cùng đã kết hợp với những thứ của Bà La Môn giáo, biến thành một loại tôn giáo mới là Ấn Độ giáo. Ấn Độ giáo không còn tin Thích Ca Mâu Ni, cũng không thờ phụng một vị Phật nào cả. Do vậy, Phật giáo sinh ra tại Ấn Độ, cuối cùng lại dần dần bị tiêu biến ở Ấn Độ. Song tại Đông Nam Á, tại Trung Quốc, Phật Pháp đã truyền rộng khắp nơi, ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa của những quốc gia này.

Tác giả: Bất Danh
Theo: Chánh Kiến