Wednesday, November 30, 2022

HÃY NGỪNG THAN VÃN "GIÁ NHƯ...!"

Con người có xu hướng không bằng lòng với thực tại. Họ hay nói “Giá như…!” trước những điều mà họ bỏ lỡ hoặc không thể đạt được. Điều này khiến họ bị mắc kẹt trong tư duy của chính mình. Họ mãi mãi không tìm thấy hạnh phúc khi chưa chịu bằng lòng với thực tế.

Đừng mãi sống cuộc sống của người khác và hãy ngừng than vãn “Giá như …!” – Ảnh minh họa/internet

“Giá như tôi giảm được 20 cân”…tôi sẽ đẹp lên biết mấy, hay “Giá như tôi có thể kiếm được nhiều tiền hơn”, “Giá như tôi có một ngôi nhà đẹp hơn”, “Giá như tôi gặp được bạn tâm giao”…Mỗi chúng ta ai mà chưa từng một lần “Giá như…!”. Và bạn có bao giờ dừng lại việc suy nghĩ như vậy?

Tư duy “giá như” khiến bạn bị mắc kẹt trong căn phòng chờ đợi vĩnh viễn của cuộc đời. Bạn ngồi đó chờ đợi sự sống mà bạn muốn hiển hiện. Trong khi đó, cuộc sống vẫn tiếp diễn — dường như bạn đang bị lướt qua khi tâm trí của bạn đang ở nơi khác.

Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn không phải đợi kịch bản “giá như” của mình thành hiện thực để có được hạnh phúc? Điều gì sẽ xảy ra nếu điều bạn mong muốn xảy ra, liệu bạn có thấy hài lòng không? Nhưng sự thật là, cuộc sống của bạn đang diễn ra ngay bây giờ, và bạn có thể tìm thấy niềm vui trong đó nếu bạn biết cách lựa chọn.

Một nhà văn người Mỹ tên là Dale Carnegie đã nói: “Không phải những gì bạn có, bạn là ai, bạn đang ở đâu hoặc bạn đang làm gì mới khiến bạn hạnh phúc. Mà chính là những gì bạn nghĩ về nó. ”

Về cơ bản, tư duy “Giá như” vẫn chỉ đơn giản là một giả thuyết. Tất nhiên, việc có mục tiêu và đạt mục tiêu trong cuộc sống là điều tuyệt vời, nhưng nó không quyết định việc bạn cảm nhận hạnh phúc từ cuộc sống. Hãy tìm kiếm những điều tốt đẹp trong cuộc sống của bạn ngay bây giờ như Carnegie đã nói.

Lão Tử cũng từng giảng đại ý rằng, khi một người tự tin vào chính mình họ sẽ không cố gắng thuyết phục người khác; một người bằng lòng với chính mình họ sẽ không cần sự chấp thuận của người khác và bởi vì một người chấp nhận bản thân của mình nêncả thế giới sẽ chấp nhận người đó ”.

Thông thường, chúng ta cảm thấy bất mãn vì không nhận được phản hồi, sự chấp nhận hoặc lời khen ngợi mà chúng ta khao khát từ người khác. Kỳ thực sự hài lòng lại đến từ bên trong. Vậy điều gì sẽ xảy ra nếu bạn bỏ qua nhu cầu được công nhận?

Một nhà văn người Mỹ khác tên Henry Wadsworth Longfellow nói : “Suy cho cùng, điều tốt nhất mà người ta có thể làm khi trời mưa là để trời mưa.”


Hãy ngừng than vãn “ Giá như…!”

Chúng ta không kiểm soát được mọi thứ ngoài việc kiểm soát bản thân mình. Vậy sao không thôi suy nghĩ việc “Giá như..!” Và biết đâu đấy cuộc đời sẽ an bày những điều tốt đẹp hơn so với những gì mà chúng ta tưởng tượng.

Hãy dành chỗ trong cuộc sống của bạn cho những điều chưa biết và học cách lăn lộn với những thăng trầm khi chúng đến. “Người không bằng lòng với những gì anh ta có sẽ không bằng lòng với những gì anh ta muốn có.” —Socrates

Hạnh phúc hiếm khi là thứ kỳ diệu đến với chúng ta, mà nó là thứ chúng ta chọn để trải nghiệm. Bạn đang chọn gì? “Sự giàu có không bao gồm việc sở hữu nhiều tài sản, mà là việc có ít người muốn.” —Epictetus

Thật dễ dàng khi bạn nhìn thấy những người có hoàn cảnh và cuộc sống tốt đẹp, bạn cho rằng họ là những người may mắn. Nhưng rất khó để biết những phước lành hay bất hạnh thực sự mà họ đã trải qua. Quan trọng hơn việc so bì hay ngưỡng mộ cuộc sống của họ chẳng khác nào “là kẻ trộm của niềm vui”. Việc giảm thiểu ham muốn mới là con đường dẫn đến vận may thực sự.

Chúng ta có thể gặp bao nhiêu niềm vui, sự ngạc nhiên, vẻ đẹp và sự tốt lành nếu chúng ta chấp nhận cuộc sống đang hiện hữu trước mắt và chỉ nhằm mục đích khai thác càng nhiều tiềm năng từ nó càng tốt?

Lão tử từng nói: “Hãy bằng lòng với những gì bạn có; vui mừng trong cách mọi thứ đang diễn ra. Khi bạn nhận ra không thiếu thứ gì, cả thế giới đều thuộc về bạn. “. Hãy tận hưởng cuộc sống của chính mình, thôi việc “ Giá như” và tận hưởng hạnh phúc.

Biên dịch theo The Epoch Times

CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ VỀ CÁT ĐEN

Năm 1978, công ty Nhật Bản "Asahari" đã nộp đơn lên Bộ Ngoại thương Liên Xô, yêu cầu được thuê trong hai năm một khu đất thuộc vùng ven biển gần làng Ozernovsky, trên cực đông nam của Bán đảo Kamchatka. Công ty đã giải thích mục đích của mình là: sự cần thiết phải xây dựng một trung tâm giải trí trong khu vực được sử dụng cho các đội tàu đánh cá trong vùng biển Okhotsk.


Phía Liên Xô đã đến gặp lãnh đạo của "Asahari", hợp đồng đã được ký kết, tuy nhiên, theo quan sát của bộ đội biên phòng Liên Xô, người Nhật không vội vàng xây dựng một trung tâm giải trí, mà tập trung toàn bộ nỗ lực vào việc xuất khẩu cái gọi là cát đen từ vùng ven biển. Ban lãnh đạo Asahari che dấu hành động của họ bằng các công việc chuẩn bị xây dựng các biệt thự gỗ, bến tàu, v.v.

Nhưng, khối lượng cát được loại bỏ quá lớn nên các chiến sĩ biên phòng Liên Xô đã nói đùa rằng: “Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ đi du ngoạn Nhật Bản. Tuyến tàu điện ngầm Ozernovsky-Tokyo đang được xây dựng hết tốc lực! " Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã nhanh chóng đảm bảo với phía Liên Xô rằng cát chỉ đơn giản là được đổ ra biển.


Theo chỉ đạo của Giám đốc KGB Yuri Andropov, vệ tinh trinh sát đã được kết nối để theo dõi các tuyến đường di chuyển của các tàu Nhật Bản có chở theo cát. Hóa ra cát được chuyển đến Nhật Bản, nơi nó được chăm chút tỉ mỉ từng hạt, được cất giữ trong những kho chứa đặc biệt chống thấm nước. Theo lệnh của Andropov, các Phòng thí nghiệm đặc biệt của KGB đã thực hiện phân tích thành phần hóa học và sinh học của cát đen mà người Nhật xuất khẩu.

Người ta tìm thấy bãi cát, được người dân địa phương đặt biệt danh là "đen", chẳng qua là tro bụi của ngọn núi lửa Mayon hoạt động định kỳ, nằm gần đảo Catanduanes (Philippines). Núi lửa Mayon đã phun tro xuống vùng nước ven biển của Biển Philippines, nơi dọc theo đáy vực Izu-Boninsky và các rãnh Nhật Bản, tro theo dòng chảy Thái Bình Dương chỉ trôi đến bờ biển Kamchatka, cụ thể là ở khu vực làng Ozernovsky.


Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chỉ ra rằng tro thực sự chứa đầy các nguyên tố đất hiếm: scandium, yttrium, lantan và lantonide. Ngoài ra, hàm lượng cao của vàng và bạch kim đã được tìm thấy trong cát đen. Khu vực ven biển ở làng Ozernovsky là nơi duy nhất trên thế giới có thể khai thác dễ dàng các kim loại trong đất hiếm nêu trên, vốn được sử dụng tích cực trong công nghệ điện tử, laser và quang học.

Năm 1979, hợp đồng cho thuê bị Bộ Ngoại thương Liên Xô đơn phương chấm dứt, Bộ Ngoại giao gửi công hàm phản đối cho phía Nhật Bản. Trong bản ghi nhớ lưu tại Ủy ban An ninh Nhà nước, điều sau đây đã được đặc biệt lưu ý: “... cát đen được xuất khẩu gian lận từ bờ biển phía đông nam của Bán đảo Kamchatka ... Điều đáng báo động là cho đến nay chưa có một Bộ nào của Liên Xô quan tâm đến của cải, mà theo đúng nghĩa đen, nằm ngay dưới chân mình."

Nguồn: Văn Khoa Nguyễn - Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử
Link tham khảo:



NGUỒN GỐC TÊN GỌI HOÀNG - ĐẾ - VUA - VƯƠNG LÀ NHƯ THẾ NÀO?

Xem phim cố trang, các triều đại Trung Hoa hay như Việt Nam ta cũng trải qua các triều đại, bậc quân vương khi được gọi là Vua, lúc lại được gọi là Hoàng Đế. Vậy giữa "Vua" và "Hoàng Đế" giống và khác nhau như thế nào?

Tần Thủy Hoàng – Hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc thống nhất.

Năm 249 trước công nguyên (TCN), nước Tần - một nước chư hầu hùng mạnh - cử Lã Bất Vi đem quân đánh chiếm nước Chu, nhà Chu bị diệt vong. Sau đó, Tần Vương Doanh Chính lần lượt đánh thắng tất cả các nước còn lại, năm 221 TCN làm nên cơ nghiệp to lớn chưa từng có: bình định thiên hạ, thống nhất Trung Nguyên. Sau khi thống nhất Trung Hoa, cảm thấy danh xưng “Vương” là không thích hợp, Tần Vương lệnh cho quần thần bàn bạc để tìm ra một danh xưng xứng đáng.

Trước nhà Chu, lịch sử Trung Quốc có 8 vị vua huyền thoại gọi là “Tam Hoàng Ngũ Đế” (ba vị Hoàng và năm vị Đế). Tam Hoàng là ba vị Vua đầu tiên của Trung Hoa, gồm Phục Hy, Thần Nông và Toại Nhân. Còn Ngũ Đế là năm vị Thánh Vương bao gồm: Hoàng Đế (黃帝 - chữ Hoàng này có nghĩa là màu vàng), Chuyên Húc, Đế Khốc, Đế Nghiêu và Đế Thuấn.

“Tam Hoàng Ngũ Đế” (三皇五帝) được coi là những người thuận Thiên ý để trị vì quốc gia, dùng đức hạnh để giáo hóa dân chúng. Họ không chỉ được muôn dân kính trọng mà còn trở thành mẫu hình của bậc Quân Vương.

Tranh “Đế vương đạo thống vạn niên đồ” của họa sĩ Cừu Anh thời Minh. (Tranh: Public Domain)

Tại buổi thiết triều, Thừa tướng Lý Tư và quần thần đã dâng tấu lên Tần Vương, tâu rằng: “Ngày xưa đất của Ngũ Đế rộng ngàn dặm nhưng không kiểm soát hết, nay Đại Vương thu về một cõi, so ra còn hơn 5 vị Đế, vậy nên phải so với 3 vị Hoàng. Mà trong 3 vị Hoàng này (Thiên Hoàng, Địa Hoàng, Thái Hoàng) thì Thái Hoàng là cao nhất. Vậy thì Đại Vương nên xưng là Thái Hoàng!”.

Tần Vương nghe rồi truyền bảo: “Bỏ chữ Thái, giữ chữ Hoàng, dùng vị hiệu Đế thời thượng cổ ghép lại, gọi là Hoàng Đế”. Như vậy, Hoàng đế (皇帝) chính là được kết hợp từ hai danh xưng tôn quý là “Hoàng” (皇) và “Đế” (帝 - tức thiên tử) của thời cổ đại mà thành. Và Tần Vương Doanh Chính trở thành vị Hoàng Đế đầu tiên của Trung Hoa, gọi là Thủy Hoàng Đế, tức Tần Thủy Hoàng.

Từ đó, từ Hoàng Đế được dùng để chỉ người đứng đầu cao nhất của xã hội phong kiến phương Đông. Các ngôn ngữ đồng văn có khi vẫn dùng đơn tự Hoàng hoặc Đế để gọi tắt, nhưng luôn hiểu là Hoàng Đế. Cũng từ đây chữ Vương (王) được dùng làm tước vị để ban cho anh em họ hàng nhà Vua (Thân Vương) hoặc phong cho Vua các nước phụ thuộc, trong đó có cả các nước phiên bang: Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản.

Nước ta mỗi khi một vị vua lên ngôi, trong nước vẫn tự xưng Hoàng Đế để tỏ ý ngang hàng với Trung Quốc. Đây là vấn đề mang tính nghi thức nhưng thể hiện quan điểm độc lập xuyên suốt trong quan hệ ngoại giao Việt - Hoa thời trước. Tuy nhiên, dù là nối ngôi, tranh ngôi hay cướp ngôi, vua Việt thường phải cho người sang cầu phong để lấy tính chính danh. Các vua Việt Nam được phong là An Nam Quốc Vương, đến đời Nguyễn thì phong là Việt Nam Quốc Vương; trước đó có lúc chỉ phong là Giao Chỉ Quận Vương. Sử sách Tàu chép về các vị vua nước ta đều chỉ ghi là Vương, thể hiện vua Việt Nam phải dưới họ một bậc.

Năm 1885, Chính phủ thuộc địa Pháp và nhà Thanh ký Hòa ước Thiên Tân, quy định nhà Thanh công nhận nền bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam, đồng thời hủy bỏ lệ triều cống của triều đình Huế ở địa vị phiên quốc đối với nhà Thanh. Bắt đầu từ đây chấm dứt quan hệ chư hầu của Việt Nam đối với Trung Quốc.

Theo Từ điển tiếng Việt, các từ hoàng đế, quốc vương, vua là những từ đồng/gần nghĩa, đều nhằm chỉ "Người đứng đầu nhà nước quân chủ, thường lên cầm quyền bằng con đường kế vị".

Phân biệt rạch ròi hơn, vua/quốc vương là "vua một nước", còn hoàng đế là "vua của một nước lớn, thường được nhiều nước xung quanh thần phục".

Thực tế lịch sử, không nhất thiết vua một nước nhỏ là "vương", còn vua một nước lớn và có nhiều chư hầu mới được quyền xưng "đế", như trường hợp vua nước ta từng tự hào xưng đế trong bài thơ "Nam quốc sơn hà" của Lý Thường Kiệt: "Nam quốc sơn hà Nam đế cư".

Vua Lê Hy Tông và Hoàng đế Ung Chính. (Ảnh: Wikimedia Commons)

Các đời vua ở nước ta sau này hầu hết thụy hiệu đều lấy danh xưng hoàng đế, như các vua: Đinh Tiên Hoàng là Đại Thắng Minh Hoàng đế, Lý Thái Tổ là Thần Vũ Hoàng đế, Trần Thánh Tông là Tuyên Hiếu Hoàng đế, Lê Thánh Tông là Thuần Hoàng đế, Quang Trung là Vũ Hoàng đế, Gia Long là Cao Hoàng đế…

Từ Hoàng Đế (viết hoa) là tên hiệu của người đứng đầu cao nhất của xã hội phong kiến phương Đông, dần biến thành danh từ chung "hoàng đế" để chỉ vua nói chung, không còn phân biệt rạch ròi giữa hai khái niệm vua nước lớn (đế) với vua nước nhỏ (vương) nữa.

Tố Như / Theo: NTDTV

DUNG TỤC HÓA HÌNH TƯỢNG THẦN PHẬT, QUẢ BÁO KHÔN CÙNG

Đặc biệt là trong thời gian gần đây rộ lên phong trào khắc ba vị tam đa Phúc - Lộc - Thọ bằng nhân sâm Hàn Quốc, củ cây đinh lăng sau đó đem ngâm rượu uống với mong muốn cầu tài đắc lộc, gia đình may mắn...

Theo thời gian, xã hội thay đổi, quan niệm của con người cũng đổi thay khiến cho việc thấu hiểu về Phật pháp, về tín ngưỡng càng ngày càng lệch xa khỏi cái gốc ban đầu. Từ đó mà dẫn đến bao chuyện dở khóc dở cười, tưởng kính hóa nhờn, làm sai chẳng biết, gây thành tội nghiệp.

Trong Văn Hoá phương Đông nói chung và tâm thức của ba đời người Việt xưa nay, tôn kính trời đất, tin vào Thần Phật, vào đạo lý nhân quả thiện ác hữu báo chính là nhân sinh quan nền tảng, là cốt lõi văn hoá dân tộc Việt cũng như văn hóa phương Đông nói chung. Tuy nhiên theo thời gian, xã hội thay đổi, quan niệm của con người cũng đổi thay khiến cho việc thấu hiểu về Phật pháp, về tín ngưỡng càng ngày càng lệch xa khỏi cái gốc ban đầu. Từ đó mà dẫn đến bao chuyện dở khóc dở cười, tưởng kính hóa nhờn, làm sai chẳng biết, gây thành tội nghiệp.

Nhớ khi xưa, đức Phật Thích Ca vốn dĩ là một vương tử hoàng tộc Gautama (Cồ-Đàm) của tiểu quốc Shakya (Thích-ca) ở Kapilavastu (Ca-tỳ-la-vệ), sau khi thấu cảnh thế nhân danh lợi tình tiền, sinh lão bệnh tử, hợp tan đau khổ, đâu đâu cũng chỉ là buồn nhiều vui ít nên ngài đã từ bỏ vương vị, cung tần mỹ nữ , cung vàng điện ngọc để lên đường tìm đạo. Trải qua nhiều năm tu luyện khổ hạnh gian truân, cuối cùng ngài đã giác ngộ con đường chánh đạo, thoát khỏi bể khổ bến mê, từ bỏ tham sân si, thất tình lục dục... để đến cõi giải thoát vĩnh hằng. Ngài trở thành bậc Giác Giả thấu tỏ vạn sự vạn vật trong trời đất, là bậc trí tôn đại đức, thế tục phàm trần đã không còn gì có thể ràng buộc được ngài nữa.

Khác xa với con người ngày nay, người xưa tin Thần, kính Phật không phải là để cầu may, xin lộc phát tài mà để nhắc nhở chính mình vạn sự trên đời ấy đều do nhân quả, làm người đối nhân xử thế cần có thiện lương, lấy đạo đức để ước chế chính mình không phạm điều sai trái. Bản chất của việc thờ cúng, bái lạy chư Thần cũng như ông bà tổ tiên không phải là cầu may, xin lộc. Khi con người bái lạy Thần Phật chính là lúc soi xét chính mình, kiểm điểm tự thân, tìm những chỗ chưa đúng để từ động sửa đổi, đưa bản thân trở về gần với bản ngã thiện lương, gần với đạo.

Và đương nhiên, khi một người tin vào nhân quả thiện ác hữu báo, thường xuyên cung kính Thần Phật ắt cũng sẽ được Thần Phật bảo hộ, che chở, cuộc đời cũng tự khắc cũng được an lạc.

Nhưng ngày nay, người ta phần lớn đã không còn sự liên hệ với văn hóa truyền thống, đặt mình vào trong tâm thức của tiền nhân để hiểu ý nghĩa của việc cứu độ chúng sinh thoát khổ của các vị Phật. Trái lại, người ta coi các bậc ấy là đối tượng để cầu cạnh, xin xỏ. Và vì cũng không hiểu được sự vĩ đại của hành trình tu luyện đầy gian khổ để từ người bình thường thăng hoa lên cảnh giới chí cao vô thượng của các bậc Giác Giả, cho nên con người dễ vô tình phạm phải những hành động khinh nhờn, bất kính, mà một biểu hiện rõ rệt nhất đó chính là việc ứng xử với những hình tượng Phật trong đời sống tâm linh. Những biểu hiện ấy như thế nào? Hậu quả của nó ra sao và phải làm thế nào mới đúng?… đó là nội dung của bài viết này.

Người xưa tin Thần, kính Phật không phải là để cầu may, xin lộc phát tài mà để nhắc nhở chính mình vạn sự trên đời ấy đều do nhân quả, làm người đối nhân xử thế cần có thiện lương, lấy đạo đức để ước chế chính mình không phạm điều sai trái. (Ảnh: Shutterstock)

Những biểu hiện của việc thiếu tôn kính hình tượng Thần Phật

Trong xã hội ngày nay thật không khó để chúng ta bắt gặp những bức tượng Phật, tranh Phật được đặt tại tư gia, nơi phòng khách, thậm chí là để ở trong phòng ngủ, phòng trà, ngoài vườn... như một vật phẩm trang trí. Hoặc người ta đặt những bức tượng Phật A Di Đà hay Quan Thế Âm Bồ Tát trên nóc xe hơi đi đưa đám ma hoặc đặt hẳn tượng các vị trong nghĩa địa âm u hoang vắng. Cùng không thiếu những người lấy tượng Phật, tượng Chúa Jesu làm mặt dây chuyền đeo trên người với mong muốn được chư Phật bảo hộ bình an. Đặc biệt là trong thời gian gần đây rộ lên phong trào khắc ba vị tam đa Phúc - Lộc - Thọ bằng nhân sâm Hàn Quốc, củ cây đinh lăng sau đó đem ngâm rượu uống với mong muốn cầu tài đắc lộc, gia đình may mắn... Thật là coi tượng Phật chẳng khác khối thạch cao, viên đá, hay cái rễ cây… hoàn toàn trong tâm niệm không có một chút kính ngưỡng dành cho một bậc vĩ đại tôn quý vượt xa người thường.
 
Liệu có đúng là không biết thì không có tội?

Nhiều người cho rằng không biết không có tội, hình tượng Phật mà người ta trưng bày hay đeo trên người ấy cũng đều là xuất từ tâm thiện niệm, vì có lòng tín ngưỡng mới làm vậy.

Điều đó có đúng hay không?

Trong cuốn Đại Bổn Kinh có chép, trước Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng có 6 vị Phật nguyên thủy đến thế gian truyền Pháp độ nhân. Vị Như Lai thứ 7, tức vị gần với thời của Phật Thích Ca nhất chính là Ca Diếp Như Lai, hay còn gọi là Phật Ca Diếp (Kashyapa).

Thời Phật Ca Diếp có một tỳ kheo trẻ rất giỏi ca hát. Khi cùng hát tụng với các tỳ kheo khác các hát, tỳ kheo trẻ tự cho rằng giọng mình trong trẻo âm vang, nên tỏ vẻ coi thường người khác, thường hiển thị ra tâm kiêu ngạo.

Trong nhóm tăng đoàn có một tỳ kheo già có giọng khàn đặc, không giỏi hát tụng nên hay bị vị tỳ kheo trẻ này chê cười giễu cợt, cho rằng giọng hát tỳ kheo già chỉ khiến người nghe chán ghét. Nhưng tỳ kheo trẻ nào có biết tỳ kheo già đã chứng ngộ quả vị La Hán rồi.

Một hôm tỳ kheo già hỏi tỳ kheo trẻ: “Cậu có biết tôi không?”

“Tôi biết ông lâu rồi, ông là tỳ kheo già khi hát tụng thì giọng khàn đặc khiến không ai chịu nổi” – tỳ kheo trẻ trả lời.

“Tuy tôi không biết hát tụng nhưng tôi đã giải thoát khỏi sự trói buộc của sinh tử rồi, không còn hết thảy khổ não thế gian nữa” – tỳ kheo già nói.

Tỳ kheo trẻ nghe vậy kinh hoàng mãi vì biết mình đã vô minh mà đắc tội với La Hán, cảm thấy vô cùng xấu hổ, sám hối với tỳ kheo già. Nhưng tội lỗi đã làm thì nghiệp phải gánh. Sau này vị tỳ kheo trẻ phải chịu quả báo ác khẩu do mình gây ra trong 500 đời. Mãi cho đến khi Phật Thích Ca tại thế mới được giải thoát. 

Quan niệm vô Thần khiến lòng người mất đi thiện niệm, đánh mất đi lòng tôn kính, niềm tin vào Thần linh, trong u mê mà phạm tội lỗi. Trong ảnh là Khách sạn Thiên Tử với hình dạng ba vị Phúc - Lộc - Thọ tại Lang Phường, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc. (Ảnh: Getty Images)

Phỉ báng Phật Pháp gặp phải quả báo

Vào triều đại nhà Đường, thiền sư Quốc Thanh thường dùng những lời dạy bảo của Phật để thiện hóa dân chúng, vì thế rất nhiều người đã đến chỗ ông để nghe kinh. Nhưng ở địa phương, có một viên quan từ trước đến nay không tin Thần Phật. Khi thấy nhiều người đến nghe kinh thì vô cùng ghen ghét, tức giận. Viên quan bèn vu oan rồi cho người bắt trói thiền sư lại, đánh hai mươi gậy lớn.

Đêm hôm ấy, viên quan này mơ thấy người cha đã quá cố của mình trở về. Người cha ấy vô cùng tức giận và khóc lớn, nói với viên quan rằng: “Con dám làm ô nhục thiền sư, Diêm Vương vì chuyện này cũng đã phạt ta hai mươi gậy sắt, ngay cả chức quan của con cũng đã bị bãi bỏ rồi!”. Quả nhiên, mấy ngày sau, viên quan này bị tước bỏ chức vị.

Bảo vệ Phật đường, được tăng 30 năm tuổi thọ

Thái Bình quảng ký có chép câu chuyện như sau. Vào năm Khai Nguyên thứ 15 triều đại nhà Đường (năm 727), hoàng đế ra lệnh trong 3 ngày phải phá hủy hay đóng cửa hết thảy Phật đường trong thiên hạ. Lệnh ban ra, chốn thanh tu nơi nơi đều náo loạn. Duy chỉ có ở huyện Tân Đức ở Dự Châu là các Phật đường bình yên vô sự. Nguyên do là quan huyện vùng này tên là Lý Dư có nổi giận hạ lệnh: ““Trong địa hạt ta quản lý, nếu có người nào dám phá Phật đường thì nhất loạt đều xử tử”.

Ông này thường ngày không phải người nhân đức, tính tình nóng nảy, hay uống rượu, thường làm việc trái đạo nghĩa. Nhưng vì thời hạn mà lệnh trên ban ra quá gấp gáp nên ông ta phẫn nộ, quyết cưỡng lại.

Sau đó một năm, Lý Dư mắc bệnh rồi qua đời, nhưng được nửa ngày thì sống lại, kể chuyện dưới âm phủ. Khi gặp Diêm Vương, thấy tội lỗi của Lý Dư chồng chất trong sổ thiện ác, Diêm Vương lệnh cho quỷ tốt dùng nhục hình với Lý Dư. Lý Dư vội vàng kể lại câu chuyện bảo vệ Phật đường. Diêm Vương lệnh mang sổ phúc đức ra đối chiếu, thấy quả có việc đó, liền cho Lý Dư quay lại dương gian, đồng thời tăng thêm 30 năm tuổi thọ.

Vô minh tạo nghiệp nhưng quả báo thì khôn cùng

Kỳ thực khinh nhờn hình tượng Phật chính là việc làm phạm vào đại tội, không thể dung thứ. Cổ nhân xưa nay vẫn nhìn nhận Thần Phật là bậc tôn kính uy nghiêm, là bậc đại biểu cho trời đất, con người ở những nơi không thanh tịnh thì không được phép nhắc đến. Khi có bái tạ, cổ nhân cần phải tắm rửa trai tịnh sạch sẽ trước rồi mới được phép dâng hương kính bái. Người xưa chẳng dám tùy tiện gọi tên Phật, mỗi lần niệm Phật hiệu thì trong lòng dâng dâng niềm kính ngưỡng vô hạn; đến tượng Phật mà họ cũng chẳng dám tùy tiện sờ mó, nhưng phải giữ cho hình tượng Phật được sạch sẽ và bày biện ở những nơi cao ráo trang trọng nhất trong gia đình hay đền chùa… ấy là vì họ có tâm kính Đạo, trọng Đức, mà Phật chính là một bậc đạo đức siêu việt.

Ấy vậy mà con người ngày nay lại đem cả Thần Phật vào bình để ngâm rượu uống như một cách để cầu may, lấy tượng phật bày trong phòng như một vật trang trí, hay đeo trên người xem đó như một món bùa hộ mệnh. Thử hỏi khi đeo trên người, những lúc sinh hoạt cá nhân, hay khi tắm gội, vệ sinh, sinh hoạt vợ chồng, khác nào người ta làm những chuyện xú uế đó trước mặt chư Thần? Việc làm đó chẳng phải là tội bất kính hay sao? Đó chẳng phải tội phỉ báng Thần Phật quá lớn hay sao? Ngay như con cái trong nhà trong sinh hoạt bình thường cũng không thể có những hành vi khiếm nhã trước mặt bố mẹ, huống chi đây là lại Thần Phật? Hỏi rằng tội đó đền sao cho đặng?

Vì sao con người ngày nay lại phải chịu đựng quá nhiều những thiên tai nhân họa. Phải chăng cũng một phần vì buông lơi đạo đức, khinh mạn Thần Phật? Thiết nghĩ mỗi người chúng ta, trong thời khắc trời đất chuyển mình này, hãy dành cho tâm mình một khoảng lặng để nghĩ suy những điều phải trái, để quy chính nhân tâm, tín Phật kính thiên mới được Thần Phật bảo hộ.

Minh Vũ / Theo: NTDTV

Tuesday, November 29, 2022

VƯỜN NHO NHỎ NHẤT THẾ GIỚI BÁN LOẠI VANG "KHÔNG NÊN UỐNG" GIÁ GẦN 120 TRIỆU

Với diện tích chỉ hơn 18 mét vuông và sản lượng 29 chai rượu hàng năm, Via Mari 10 được coi là vườn nho nhỏ nhất thế giới.


Nằm trên tầng thượng của một lâu đài thế kỷ 16 ở trung tâm Reggio Emilia, thành phố miền Bắc nước Ý, Via Mari 10 không phải là vườn nho bình thường như trong hình dung của nhiều người. Không chỉ có kích thước nhỏ đến khó tin mà nó còn sản xuất số chai rượu hàng năm cực kỳ khiêm tốn.

Tuy nhiên, điều đặc biệt nhất của rượu Via Mari 10 là thực khách sau khi mua được khuyên rằng không nên uống nó. Chủ nhân của vườn nho coi khoảng 29 chai rượu vang được sản xuất hàng năm là tác phẩm nghệ thuật nên được sưu tầm và chiêm ngưỡng hơn là tiêu thụ. Một vấn đề nữa là giá của những chai rượu này không hề rẻ. Người mua phải bỏ ra số tiền lên tới 5.000 USD(hơn 118 triệu đồng) cho một chai rượu mà được khuyên rằng không nên uống.

“Rượu vang của tôi là một hình thức thể hiện nghệ thuật, mang tính hiền triết, một thứ nên được trưng bày trong phòng khách để kể cho bạn bè nghe về lịch sử hình thành đặc biệt của nó”, Tulio Masoni, chủ sở hữu của Via Mari 10, chia sẻ với CNN.


Masoni thành lập vườn nho khác thường trên sau khi bán vườn nho ở nông thôn mà ông được thừa hưởng từ cha mình. Vào thời điểm đó, ông nghĩ rằng việc quản lý một vườn nho sẽ không mang lại nhiều lợi ích về kinh tế. Nhưng sau đó, ông nhận ra mình đã sai lầm nên quyết định bắt đầu lại với một vườn nho thu nhỏ trên tầng thượng ngôi nhà đang ở.

Những cây nho Sangiovese được trồng ở Via Mari 10 bằng phân hữu cơ từ trứng, chuối, rong biển và phân chim sơn ca, nên Tulio Masoni khẳng định chất lượng của chúng chẳng hề thua kém những cây nho vùng nông thôn, thậm chí còn vượt trội hơn. 

“Tôi là nhà sản xuất rượu duy nhất trên thế giới nói rằng bạn không nên uống rượu của mình”, Masoni khẳng định.


Những chai rượu sản xuất ở Via Mari 10 cũng không hề được bán tại các cửa hàng rượu thông thường hay tại chính nơi sản xuất. Thay vào đó, chúng được cung cấp thông qua phòng trưng bày nghệ thuật Bonioni địa phương.

Theo trang web Bonioni, 10 chai rượu Vila Mari 10 có sẵn được sản xuất từ năm 2019, trong khi số chai rượu trước đó đã được bán hết.

Nhiều tò mò loại rượu vang đỏ cực kỳ độc đáo này có mùi vị như thế nào thì Masoni chia sẻ rằng “ở ngụm đầu tiên, bạn sẽ cảm thấy bối rối, nhưng sau một vài giây, mùi vị sống động trong vòm miệng khiến tâm trí bạn dường như mở ra".

Đỗ An (Theo OC) / Theo: Vietnamnet
Link tham khảo:



VẠN SỰ TÙY DUYÊN LIỆU CÓ PHẢI LÀ LÀM VIỆC TÙY TIỆN VÀ VÔ NGUYÊN TẮC?

Trong cuộc sống chúng ta thường hay sử dụng 2 chữ “tùy duyên”. Vậy tùy duyên có phải là lúc gặp khó khăn, không thể làm tốt một vài việc gì đó, thì nói thôi mặc kệ để tùy duyên?


Kỳ thực, tùy duyên không phải là vậy, chữ “tùy” ở đây không phải là chỉ tùy tiện, mà nó có nguyên tắc nhất định là: thuận theo tự nhiên, không oán hận, không tức giận, không cưỡng cầu.

Thế nào là duyên? Vạn sự đều có duyên, bất luận là nhân duyên, cơ duyên, thiện duyên, ác duyên, hay các duyên khác, khắp nơi đều có, bất cứ lúc nào cũng có thể xuất hiện, duyên tồn tại là một quá trình, có tụ cũng có tán.

“Tùy duyên” có cả hai phương diện tích cực và không tích cực. Tận tâm tận lực làm một việc, không so đo được mất, dù kết quả thế nào cũng vui vẻ chấp nhận. Dùng thái độ tùy duyên này để đối mặt với thế sự, chính là tích cực, không cưỡng cầu, cũng có thể nắm chắc được cơ duyên.

Còn ngược lại, nếu chúng ta không tận lực, mặc cho số phận, không muốn phát triển, dùng trốn tránh khó khăn thử thách, thì chính là thái độ phụ diện, không phải là tùy duyên mà là lười biếng và tiêu cực.

Tùy duyên không phải tùy tiện, tùy duyên là có nguyên tắc, có lập trường, cũng không phải là buông bỏ


Nếu thuận theo nhân duyên mà không vi phạm chân lý, phải xác nhận hiện thực, tìm hiểu rõ ràng, có cái nhìn thong dong lạc quan đối với tụ tán ly hợp của cuộc sống, đối diện với thành bại được mất của thế sự, mới là tùy duyên đích thực.

Tùy duyên không phải là thông cáo với thế nhân vạn vật rằng chớ có theo đuổi, cũng không phải là tùy tiện hành sự, cẩu thả dây dưa, mà là thuận theo nhân duyên hoàn cảnh trước mắt để đối đãi, nắm bắt những cơ hội đến với mình.

Trong cuộc sống có những lúc chúng ta cứ lanh quanh suy nghĩ về những việc đã xảy ra rồi, ngủ quên trên chiến thắng hay chết chìm trong đau khổ. Nhưng lại không biết rằng niềm vui nỗi buồn cũng chính là duyên. Dù nó là thiện duyên hay ác duyên thì cứ để nó nhẹ nhàng trôi qua. Đó chính là vạn sự tùy duyên.

Minh bạch được đạo lý này, thì khi sự thành, cũng chỉ là mỉm cười mừng vui, không quá kích động hưng phấn, không trở nên ngạo mạn; sự bất thành thì thản nhiên tiếp nhận, không hối tiếc buồn rầu, chán nản.

Câu chuyện “Tái Ông mất ngựa” trong ‘Sách Hoài nam tử’ thể hiện rõ sự lạc quan sống, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng được không mừng, mất không tiếc.


Ở gần biên ải, có một ông lão nuôi ngựa, một hôm con ngựa quý của ông đi về phương Bắc nhưng không trở về. Hàng xóm xung quanh đến hỏi thăm định chia buồn cùng lão, nhưng ông rất bình tĩnh vẻ mặt không một chút buồn nói: “Mất ngựa biết đâu lại là điềm may”.

Mấy ngày sau con ngựa đột nhiên quay về, hơn nữa còn dẫn theo mấy con tuấn mã nữa, ai nấy đều kinh ngạc. Mọi người đến nhà chúc mừng ông lão: Đúng là trong họa có phúc, chúc mừng ông, không những không mất ngựa mà còn lời thêm được mấy con.

Ai nấy đều tưởng rằng ông lão sẽ rất vui mừng, nhưng không ngờ ông chỉ đáp nhẹ một câu: “Được thêm ngựa biết đâu lại là hoạ.”

Hàng xóm thật tình không hiểu nhưng cũng không hỏi gì thêm mà quay về nhà. Con trai ông thấy ngựa đẹp nên muốn tập cưỡi, cuối cùng không cẩn thận mà bị té gãy chân. Mọi người nghe tin vội vàng đến động viên thăm nom. Cũng như mấy lần trước, ông lão không hề để tâm chỉ nói một câu hết sức bình thường: “Biết đâu như thế lại là phúc!”

Sau đó triều đình có lệnh trai tráng trong làng đều phải đi tòng quân đánh giặc, ai kháng chỉ thì bị xử tội. Con trai ông lão vì bị gãy chân mà được miễn, lúc này những người có con trai đi đánh trận mới thấy gia đình ông lão thật may mắn.


Tóm lại, bất kể mọi chuyện trên thế gian đều có phúc họa đang xen, vậy nên cứ thuận theo tự nhiên mà sống không nên chấp trước vào được mất. Lúc mưu sự, thuận theo nhân duyên, tận lực mà làm, nỗ lực hết khả năng, không cố chấp vào kết quả, thành bại là duyên, đôi khi niềm vui là có được trong quá trình chứ không phải từ kết quả. Không để thành bại được mất làm ta quá phấn kích cũng như phải lo âu.

Theo: Tinh Hoa

SÙNG TRINH ĐI VI HÀNH XEM BÓI CHỮ, KHI TRẢ TIỀN CAO TĂNG NÓI: KHÔNG NHẬN TIỀN CỦA NGƯỜI CHẾT

Trong dòng sông dài của lịch sử, triều đại nọ nối tiếp triều đại kia, thịnh vượng rồi đến suy tàn, giống như một màn kịch lịch sử khi một triều đại đã diễn xong, hạ màn, một triều đại khác thay thế để diễn một vở kịch khác.

Minh Tư Tông vi hành xem bói chữ, xem xong trả tiền, cao tăng nói: "Không lấy tiền của người chết"

Đến thời mạt vận, tất yếu xuất hiện vị vua kéo triều đại ấy đi xuống. Có vị là hôn quân làm nhiều điều ác, có những vị bất tài nhu nhược, có vị đáng thương hơn đáng trách, cũng có hoàng đế hoàn toàn vô tội như Phổ Nghi, cũng có hoàng đế ngồi nhầm ngôi như Lý Dục thời Nam Đường bởi lẽ trời sinh ra ông để làm nghệ thuật chứ không phải làm quân chủ…. mà bi thương nhất phải kể đến Hoàng đế Sùng Trinh, Hoàng đế cuối cùng của nhà Minh, mặc dù cần mẫn chăm chỉ cố gắng khôi phục lại triều đình, nhưng vẫn không thể thay đổi được số phận của lịch sử.

Khang Hy đã từng nhận xét về Sùng Trinh: “Sự sụp đổ của triều Minh không phải lỗi của Sùng Trinh”.

Người ta kể rằng Hoàng đế Sùng Trinh đã từng vi hành, yêu cầu một cao tăng bói các nét chữ của mình và ông đã viết chữ “hữu” (有, nhưng ông không ngờ vị cao tăng kia lại cho ông một gậy vào đầu.

Sùng Trinh định lấy tiền ra trả, vị cao tăng kia liền nói: “Hãy đi đi, ta không nhận tiền từ người chết!”.

Có rất nhiều câu truyện dân gian về Sùng Trinh, nhưng câu chuyện này đáng để chúng ta tham khảo. Không cần phải nói về kết cục của Sùng Trinh, nhưng có một giai thoại, sau khi Sùng Trinh lên ngôi không lâu, ông không biết chuyện gì sẽ xảy ra với mình sau này, vì vậy ông đã cải trang thành thường dân để vi hành.

Kết quả trên đường đi ông có gặp một vị cao tăng bí ẩn, có thể giống như một vị “tiên sống”. Vị cao tăng này rất tinh thông toán mệnh, đặc biệt là phương pháp tách chữ để đoán mệnh, nên Sùng Trinh đã viết chữ “hữu” (有) rồi đưa cho cao tăng.

Vị cao tăng nhìn Sùng Trinh rồi nói: “Ông muốn tôi bói vận may nào?”, Sùng Trinh đáp: “đoán quốc vận”, vị cao tăng nói: “chữ 有 này bản thân nó là tốt, nhưng nếu là vận mệnh của quốc gia thì là đại họa!”.

Chân dung của Sùng Trinh

Sùng Trinh hỏi tại sao? Cao tăng nói: “chữ 有 là một nửa của chữ 明, quốc gia bị chia cắt, tất bị phá hủy, vậy sao được gọi là điều tốt được?”

Sùng Trinh nhanh chóng nói: “Tôi muốn viết chữ “hữu” trong từ bạn hữu (友)thì sao?” Vị cao tăng đáp: “chữ hữu này 友 là từ chữ “phản” 反 nhưng có đầu, ngụ ý là phản tặc sẽ lộ diện, điều này đối với quốc gia không có gì là tốt cả.”

Sau khi nghe được điều này, Sùng Trinh cảm thấy chán nản, bèn mở khăn lấy nén bạc đưa cho cao tăng, cao tăng thấy vậy nói: “Khăn trùm đầu này thực ra là từ “吊”, tiền của người sắp chết ta không lấy”.

Trong dân gian cho rằng câu truyện Sùng Trinh bói chữ này là do Lý Tự Thành bày mưu để công kích Sùng Trinh, vị cao tăng cũng là do Lý Tự Thành tìm tới. Nhưng bất luận có thực sự là Lý Tự Thành dựng nên câu chuyện để công kích Sùng Trinh hay không, thì câu chuyện “Sùng Trinh bói chữ” đã lan truyền rộng rãi trong dân chúng.

Là vua của một quốc gia, Sùng Trinh không hiểu nghệ thuật làm hoàng đế, cũng không biết sử dụng nó cho tốt, tính cách của ông về cơ bản cũng quyết định phần nào vào sự sụp đổ của nhà Minh.

Vào rạng sáng ngày 19 tháng 3 năm Sùng Trinh thứ mười bảy (1644), Hoàng đế Sùng Trinh treo cổ tự tử ở Cảnh Sơn sau khi triệu tập các quần thần trong triều nhưng không có ai đến.

Hoàng đế Sùng Trinh treo cổ tự vẫn

Trước khi chết, ông để lại lời trăn trối: “Trẫm đức mỏng phận hèn, bị trời quở phạt, dẫn tới nghịch tặc kéo thẳng vào kinh sư, đều do các bề tôi hại trẫm. Trẫm chết, chẳng còn mặt mũi nào nhìn thấy tổ tông, tự vứt bỏ mũ áo, xõa tóc che mặt, để mặc cho giặc phanh thây, đừng làm hại tới con dân của trẫm”.

Minh Tư Tông là một ông vua có lòng chấn hưng đất nước sau nhiều năm triều chính rối ren, nhưng tiếc là sự mục nát của triều đình tích lũy qua nhiều triều vua trước đã trở nên quá nghiêm trọng. Bản thân ông không đủ tài năng để xoay chuyển tình thế đã quá xấu, “muốn làm việc thì khí số đã hết“.

Dù làm vua chăm chỉ, quan tâm đến nhân dân nhưng cuối cùng ông lại chịu cảnh mất nước, giống như Hán Hiến Đế, Đường Chiêu Tông, Kim Ai Tông trước kia.

Tội nghiệp thay cho Sùng Trinh, dù cố gắng chống đỡ nhưng vẫn không cứu vãn được cơ nghiệp nhà Minh, lại bị gian thần hãm hại, trung lương chẳng còn mấy người, nên lâm phải cảnh nước mất nhà tan, phải tự vẫn trong uất ức, gián tiếp chứng kiến nhà Minh diệt vong cùng với mình.

Nguyệt Hòa biên tập / Theo: Soundofhope

NHẬT BẢN: 150 NĂM THÀNH LẬP HIỆU MỸ PHẨM SHISEIDO

Cách đây đúng 150 năm, một hiệu ''thuốc tây'' mang tên Shiseido đã ra đời tại Tokyo, một thành phố thời bấy giờ tuy đã bước vào thời kỳ Minh Trị (1868-1912) nhưng vẫn còn ít mang ảnh hưởng của văn hóa Âu Mỹ. Với thời gian, Shiseido trở thành một trong những tập đoàn mỹ phẩm hoà quyện khéo léo hai nền văn hóa Đông-Tây, có uy tín lâu đời cũng như có tầm ảnh hưởng lớn trên toàn thế giới.

Biển quảng cáo hãng mỹ phẩm Nhật Bản Shiseido tại Tokyo, Nhật Bản. Ảnh chụp ngày 15/01/2010. ASSOCIATED PRESS - Junji Kurokawa

Nhắc tới hiệu Shiseido, giới hâm mộ thường hay nghĩ tới sự kết hợp tài tình giữa khiếu thẩm mỹ tinh tế của Nhật Bản với kỹ năng sáng chế của phương Tây. Công ty Shiseido (tên gọi nguyên vẹn là (Kabushiki-gaisha Shiseidō) do ông Arinobu Fukuhara (1848-1924) sáng lập, ông từng là dược sĩ phục vụ trong ngành hải quân của quân đội Thiên hoàng. Vào năm 1872, ông đã mở hiệu thuốc tây đầu tiên tại khu phố thời thượng Ginza, nay vẫn là một trong những góc phố sầm uất nhất của thủ đô Tokyo.

Gợi hứng từ những gì ông đã quan sát nhân các chuyến viễn du tại châu Âu hay Hoa Kỳ, ông Arinobu Fukuhara đã du nhập vào Nhật Bản nhiều sản phẩm ''rất mới'' từ các nước Âu Mỹ, ông là người đầu tiên tiếp thị quảng cáo các loại kem đánh răng, bột phấn dùng để tô thoa má hồng hay bột nén để tô điểm mí mắt, loại kem chống nắng đầu tiên (vào năm 1923), các loại ''hàng ngoại'' này được bày bán vào lúc xã hội Nhật Bản còn mang nặng tư tưởng bảo thủ, khép kín.

Arinobu Fukuhara (1848-1924) 

Dòng kem dưỡng da Shiseido vẫn ăn khách sau một thế kỷ

Trong số những cột mốc lịch sử của Shiseido, quan trọng nhất vẫn là ngày cho ra mắt sản phẩm chăm sóc sắc đẹp đầu tiên mang hiệu Shiseido. Đây là thời điểm hãng bắt đầu phổ biến mỹ phẩm do chính công ty sản xuất, sau một thời gian dài kinh doanh các thương hiệu khác. Loại ''kem'' dưỡng da Eudermine, được cho ra đời vào năm 1897, mà cho tới nay vẫn được bán trên thị trường, đương nhiên trở thành một trong những sản phẩm cực kỳ ăn khách, không bao giờ lỗi thời của Shiseido. Do vậy, Eudermine còn được mệnh danh là ''nước đỏ huyền thoại''.

Một sản phẩm bán chạy khác là loại tinh chất sérum Ultimune, dựa vào các công trình nghiên cứu về tế bào Langerhans của hệ thống miễn dịch, để tăng cường tác dụng cải thiện cũng như tạo thêm sức chống đỡ của làn da, giúp cho da mặt luôn được mịn màng, tươi sáng. Còn loại nguyên chất cô đặc hơn nữa có tên là Ultimune Future (Power Shot) được xem như hướng phát triển tương lai của dòng kem dưỡng da.

Cả ba loại sản phẩm này đều được phát hành trong một bộ sưu tập gồm các phiên bản đặc biệt vào mùa thu năm nay nhân dịp kỷ niệm 150 năm hiệu Shiseido. Cập nhật các sản phẩm hợp thời bên cạnh việc cho phát hành một số mỹ phẩm mới (nhất là trong cách chế biến sérum và kem dưỡng da), Shiseido không ngừng cải tiến công thức, nâng dòng mỹ phẩm lên hàng kem dưỡng da ''cao cấp''.

Qua nhiều thập niên, công thức sản phẩm đã liên tục được hoàn thiện. Lần cải tiến gần đây nhất là vào năm 1997, nhân dịp đúng 100 năm ngày phát hành dòng sản phẩm chăm sóc da trứ danh của Shiseido. Dòng sản phẩm Eudermine được nhiều khách hàng trên thế giới yêu chuộng vì giúp cho phái nữ giữ được một làn da căng bóng mà không nhờn. Loại kem này giúp loại bỏ lớp sừng trên làn da, giúp cho da mặt mịn màng tươi sáng, nhờ bí quyết duy trì độ ẩm mượt mà làn da lúc nào cũng có vẻ mềm mại, dịu dàng.


Đi tìm những loại mỹ phẩm mang tính đột phá

Lúc còn sống, ông Arinobu Fukuhara từng tự hào về những người kế nghiệp, các thế hệ sau ông trong đó có đứa con thứ tư Shinzo Fukuhara, nhà nhiếp ảnh nổi tiếng đồng thời là vị giám đốc đầu tiên của Shiseido đã dành trọn tâm huyết để phát huy sự nghiệp do thân phụ ông để lại. Sau khi gầy dựng uy tín của ''nước thần'' Eudermine, thế hệ đi sau hai đời cha ông Arinobu và Shinzo đã cho ra mắt tinh chất Ultimune với công nghệ Lifeblood Research, nghiên cứu về hệ tuần hoàn cũng như tác dụng của huyết thanh. Qua việc đầu tư nhiều vào lãnh vực nghiên cứu, tập đoàn Shiseido đặt mục tiêu chế biến những loại mỹ phẩm mang tính đột phá.

Theo tầm nhìn của ông Ryota Yukisada, giám đốc hiện thời của thương hiệu Shiseido, các loại kem dưỡng da thế hệ mới, dựa trên các nghiên cứu của công nghệ gọi là ImuGeneration Technology nhưng lần này với nồng độ cao hơn, loại sérum đời mới nhắm tới việc kích thích sự phát triển của tế bào Langerhans, một trong những yếu tố quan trọng của hệ thống miễn dịch, tăng thêm sức bảo vệ làn da trước các tác nhân gây hại, giúp cho da mặt thay vì bị nhăn nheo và khô rát lại được tươi hồng, căng phồng sức sống.

Trong suốt lịch sử phát triển của hiệu Shiseido, từ những sản phẩm dưỡng da đầu tiên cho tới những công nghệ trang điểm tân tiến, có khá nhiều mỹ phẩm của thương hiệu Nhật Bản đã chinh phục nhiều khách hàng trên toàn thế giới. Một trong những chiếc chìa khoá thành công của Shiseido có lẽ là nguồn đầu tư đều đặn và liên tục vào khâu nghiên cứu ''Life Science'', dùng công nghệ khoa học tiên tiến để phục vụ sắc đẹp nói riêng, chất lượng cuộc sống nói chung.


Đầu tư không ngừng vào nghiên cứu sinh học

Với hơn 1.100 tỷ yen doanh thu hàng năm (8,7 tỷ euro), Shiseido trích từ ngân sách hoạt động một phần quan trọng dành riêng cho nghiên cứu. Hơn 1.600 nhà khoa học hiện đang làm việc tại 8 trung tâm nghiên cứu của Shiseido trên thế giới. Với tổng cộng 29 bằng phát minh, Shiseido hiện vẫn nằm trong số các công ty tiên tiến, đi đầu trong lãnh vực nghiên cứu và đăng ký các bằng sáng chế.

Ngay từ năm 1985, Shiseido là công ty mỹ phẩm đầu tiên sản xuất và tung ra thị trường trên quy mô lớn loại axit hyaluronic, thường được dùng trong mỹ phẩm. Được sản xuất tự nhiên trong cơ thể, chất này có chức năng giữ nước, giúp cho làn da mềm mại trơn mịn. Nhờ vào công nghệ sinh học, Shiseido đã thành công trong việc chế tạo axit hyaluronic trong phòng bào chế, thay vì phải trích xuất từ mào gà trống, như vào thời trước. Vào mùa thu năm nay, nhân sinh nhật lần thứ 150, Shiseido cho phát hành hai loại sérum, trong đó loại phân tử axit hyaluronic được làm với cỡ thu nhỏ nên thấm vào da dễ dàng và nhanh hơn, mà không hề thay đổi tính chất của nó. Bên cạnh đó còn có việc cải thiện chất retinol, có tác dụng chống lão hoá, làm mờ những vết thâm nám, làn da nhờ vậy mà thêm tươi sáng.


Nhờ công lao nghiên cứu bền bỉ, tập đoàn Shiseido hiện là công ty mỹ phẩm lớn nhất xứ hoa anh đào và đứng hạng thứ tư trên thế giới. Nhóm này hiện có mặt tại 120 quốc gia và dưới lọng dù của Shiseido, còn có nhiều thương hiệu nổi tiếng khác như Serge Lutens, Nars, Issey Miyake, dòng mỹ phẩm Narciso Rodriguez hoặc nước hoa của Dolce & Gabbana. Nơi Shiseido, các kỹ năng sáng chế cũng như nghiên cứu phát minh sinh học, phục vụ khiếu thẩm mỹ tinh tế của người Nhật, vẻ đẹp không chỉ là ở bề ngoài mà còn tiềm ẩn sâu hơn nữa những gì mắt thường có thể nhìn thấy.

Tuấn Thảo
Theo: RFI Tiếng Việt



Monday, November 28, 2022

LẠ MIỆNG MÓN CHÁO SÁ SÙNG - LOÀI TRÙNG BIỂN ĐẮT ĐỎ CHƯA ĂN THÌ SỢ MÀ THỬ LÀ MÊ

Sá sùng là một nguyên liệu bổ dưỡng cho sức khỏe.

Vùng biển rộng lớn trải dài nhiều nơi khắp đất nước không chỉ ban tặng những bãi biển xinh đẹp, cảnh quang thơ mộng mà còn cung cấp một lượng lớn sản vật dồi dào từ biển cả. Có vô vàn những món ngon vật lạ trên bản đồ ẩm thực Việt được chế biến từ các nguyên liệu hải sản tươi sống, bổ dưỡng, và sá sùng chính là một trong số đó.

Sá sùng còn được gọi là trùng biển. (Ảnh: momentoffood)

Con sá sùng hay còn được gọi là trùng biển, sâu đất, giun biển... là một loài hải sản quý có nhiều ở các bãi cát pha bùn từ Bắc vào Nam như biển Vân Đồn (Quảng Ninh), Nha Trang (Khánh Hòa), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), Bến Tre, Bạc Liêu...

Chiều dài trung bình của sá sùng khoảng 5 - 10cm, là dược liệu quý trong Đông y. (Ảnh: momentoffood)

Với ngoại hình trông giống như một con giun đất nhưng có kích thước lớn hơn, thoạt đầu, nhiều người có thể e ngại khi nhìn thấy những con sá sùng lúc còn sống. Dẫu vậy, đằng sau vẻ ngoài kén người ăn ấy lại là một nguyên liệu không chỉ hấp dẫn mà còn chứa nhiều giá trị dinh dưỡng cho sức khỏe.

Có rất nhiều cách để chế biến sá sùng, nhưng một trong những món ngon hảo hạng được ra đời từ nguyên liệu đắt đỏ này phải kể đến cháo sá sùng.

Cháo sá sùng là một món ăn ngon và bổ dưỡng. (Ảnh: lanwiththi)

Tại Sài Gòn, món cháo sá sùng này đã trở thành một món ngon độc đáo mà những người yêu ẩm thực không thể bỏ qua.

Món ăn được chế biến khá đơn giản nhưng không vì vậy mà kém phần thơm ngon, hấp dẫn. (Ảnh: lanwiththi)

Sá sùng khi đem về phải được lọc sạch đất, cát bên trong ruột. Cách nấu ở đây được làm theo công thức của người Tiều, ăn đến đâu thì nấu riêng lượng cháo và các nguyên liệu đến đó. Nhờ vậy, những phần cháo lúc nào cũng giữ được hương vị tươi ngon, sá sùng vừa chín tới không bị quá dai mà vẫn giữ được độ giòn sần sật.

Sá sùng trước khi nấu phải được sơ chế sạch đất, cát trong ruột. (Ảnh: lanwiththi)

Một tô cháo sá sùng ngon là vẫn giữ được vị ngọt thanh của nguyên liệu nhưng không bị tanh. Mỗi nơi bán lại có một công thức nấu riêng với cách nêm nếm gia vị khác nhau, nhưng tất cả đều đảm bảo giữ được trọn vị ngọt tự nhiên của sá sùng.

Cháo sá sùng thơm ngon hơn khi ăn cùng rau tần ô và gừng thái sợi.(Ảnh: lvu23)

Ăn kèm với tô cháo sá sùng còn có rau tần ô được trụng sẵn và gừng thái sợi để tăng thêm hương vị cũng như góp phần át đi mùi tanh của hải sản.

Một tô cháo sá sùng có vị ngọt thơm, thanh đạm và bổ dưỡng. (Ảnh: lee_mew)

Vào những ngày trời se lạnh, còn gì tuyệt vời hơn được húp từng ngụm cháo nóng hổi tươi ngon với nguyên liệu đầy bổ dưỡng như sá sùng! Hương vị mới lạ cùng những lợi ích cho sức khỏe đến từ loài hải sản quý này hoàn toàn xứng đáng dành thời gian "săn lùng" và bỏ tiền để thưởng thức.

Cersei / Theo: VTC News



ÂM TÀO ĐỊA PHỦ CÓ MỘT CÂU ĐỐI, NHẤT ĐỊNH BẠN PHẢI ĐỌC MỘT LẦN

Dưới âm tào địa phủ có một câu đối là lời nhắc nhở mà Thần hữu ý lưu cấp cho con người thế gian, chỉ mong con người lấy đó mà tự răn mình, đừng để đến khi có hối cũng không còn kịp nữa.

Âm tào địa phủ có một bức câu đối, nhất định bạn phải đọc một lần. (Ảnh: Sohu)

Âm tào địa phủ có một bức câu đối:

Vế trên là: "Dương gian tam thế, thương thiên hại lý giai do nhĩ" 
(陽間三世, 傷天害理皆由你 - Dương gian tam thế, thương thiên hại lí đều do người).

Vế dưới là: "Âm tào địa phủ, cổ vãng kim lai phóng quá thùy"
(陰曹地府, 古往今來放過誰 - Âm tào địa phủ, từ xưa đến nay không buông tha ai).

Bên cạnh là: “Ngươi đã tới”.(你可來了)

Người xưa dạy rằng: “Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương”. Ý rằng, nhà tích chứa điều thiện ắt sẽ có niềm vui; nhà tích chứa điều bất thiện ắt sẽ gặp tai ương. Người xưa rất tin nhân quả, đối với thiên địa thần minh trong lòng đều vô cùng kính sợ, luôn tin rằng làm việc thiện ác đều có báo ứng kèm theo. Nhưng mà có người quan sát thì cho rằng, người này làm việc thiện sao vẫn gặp chuyện không may, người kia làm việc ác mà sao vẫn không gặp họa. Bởi vậy mà sinh lòng nghi hoặc, cho rằng thiện ác báo ứng là không đúng.

Đây là bởi vì họ không biết, báo ứng giống như hình với bóng, là chuyện tất nhiên, chỉ là đến sớm đến muộn mà thôi. Bình thường đến sớm thì có thể còn nhẹ, càng trì hoãn thì càng nặng thêm, hết thảy đều đã được Thiên lý an bài trong đó. Người nếu như có thể hiểu rõ lý lẽ nhân quả, đem hai chữ báo ứng liên tục tự vấn mình, từ đó chọn thiện mà theo, dĩ nhiên sẽ tránh được ác báo, đắc được quả thiện.

Chu Bách Lư (1627 – 1698), tự Trí Nhất, hiệu Bách Lư, sống vào thời nhà Minh đầu nhà Thanh. Ông là một nhà lý học (phái triết học duy tâm thời nhà Tống và nhà Minh), một nhà giáo nổi tiếng. Cả đời ông giảng điều thiện, phẩm chất đoan chính, cả cuộc đời không gạt một người, không dối một câu. Mọi người đều khâm phục tôn kính nhân phẩm của ông, thần minh thấy ông là người chính trực, có mấy lần mời xuống Âm ty làm quan tra khảo.

Chu Bách Lư luôn giảng điều thiện, phẩm chất đoan chính, cả cuộc đời không gạt một người, không dối một câu. (Ảnh: Sohu)

Một lần, Chu Bách Lư đang mơ màng ngủ, bỗng thấy có rất nhiều người tới đón ông đi. Đi tới một nha môn rộng lớn, nhìn lại bản thân mình, thấy đã mặc áo quan bào phục tự bao giờ, rồi liền thăng tọa. Lúc này nhìn thấy linh hồn của một người đi vào, hóa ra là một vị ở cùng quê nhà. Ông biết hắn vốn từng tôn thờ Thần Phật, đã lễ tụng qua kinh văn, nhưng mà sau đó lại bỏ thiện theo ác, tạo nghiệp rất nhiều, lại không có việc thiện tu bổ vào, theo luật của âm gian nhất định phải chuyển sinh sang kiếp khác, đầu thai làm súc vật.

Chu Bách Lư thấy vậy, không đành lòng, bèn hỏi: “Ngươi từng học kinh Phật, còn nhớ gì không?”. Ý là muốn hắn ta nhớ được, chút bản tính vẫn còn, có thể phần nào mà vãn hồi.

Người nọ đáp: “Tất cả đều không còn nhớ rõ”. Rồi Bách Lư viết lên tay một chữ “Phật” đưa cho hắn xem, nói: “Ngươi còn nhớ chữ này không?”. Người kia đáp: “Không nhớ nữa”. Lại nói: “Ngươi từng chăm chỉ tụng kinh, lẽ nào lại quên?”. Người kia đáp: “Không nhớ”.

Chu Bách Lư đành phải sai người đem bộ da chó choàng lên người hắn, chỉ thấy hắn lăn một vòng, đã biến thành hình con chó, rung đùi đắc ý mà đi. Chu Bách Lư sau khi tỉnh dậy, cảm thấy rất đau lòng.

Trời vừa sáng, ông bèn đi đến nhà người kia hỏi thăm, quay về nói: “Quả nhiên giữa đêm qua, anh ta bị bệnh mà chết”, rồi cảm thán không thôi. Chu Bách Lư vốn không muốn kể chuyện này, nhưng nay đem kể lại với mọi người, mong mọi người lấy đó làm gương, tin tưởng vào quả báo luân hồi.

Lại một buổi sáng sớm, Chu Bách Lư cảm thấy xót thương cho một người nọ, vốn cũng là người ông quen biết. Học trò của ông hỏi: “Vị này hiện tại đang làm quan ở nơi đó, nghe nói địa phương anh ta gặp năm mất mùa, anh ta đã tham gia cứu đói, hơn nữa buôn bán càng thêm giàu có, đúng là gặp thời gặp vận. Ngài vì sao còn nói anh ta đáng thương?”. Chú Bách Lư nói: “Chính là vì chuyện này, không lâu nữa sẽ có họa diệt môn”.

Người học trò hỏi: “Vì sao đến nông nỗi này?”.

Toàn bộ báo ứng dưới địa ngục là do con người gây nên, người tốt số tất theo Thiên lý mà hành, càng không dám làm tổn hại Thiên lý. (Ảnh: Kknews)

Chu Bách Lư nói:

“Dân chúng gặp nạn, sống lang thang khốn khổ. Triều đình lệnh phát gạo cứu tế, nếu quan nha thành thật thừa hành, một hộ được lĩnh 2 đấu gạo, nếu kéo dài 3 đến 5 ngày, cũng không đến nỗi chết đói.

Nay anh ta vốn giấu diếm tham tâm, chỉ lo cái thân mình, nên cấp 2 đấu gạo thì bớt lại một vốc; cấp hai tạ thóc thì bớt lại 5 đấu; hơn nữa còn bố trí bày bán, bức bách nhà giàu quyên gạo quyên tiền, khi bán thì hạn định một người 1 bát, đến muộn thì không được mua. Có người không chịu được đói, thật khiến người chết vô số. Quan phủ thì thờ ơ, chỉ mong người chết nhiều, thì càng thừa nhiều gạo, kiếm được mấy vạn bạc. Tội nghiệp này lẽ nào không nặng sao?

Hôm qua ta mộng thấy trình lên một tập hồ sơ vụ án, minh quan gọi ta phán quyết định, thượng tấu thiên tào. Ta xem qua, thì tình tiết vụ án chính là trộm gạo cứu trợ của viên quan kia. Tội nặng hay nhẹ, là lấy việc hắn trộm nhiều hay ít mà quyết định. Nhẹ thì chết đau đớn, nặng thì diệt môn, giáng xuống địa ngục, chuyển sang kiếp khác làm trâu làm ngựa, làm heo làm chó. Nay tội này là rất nặng, kể cả người thân cận phụ tá, tội cũng không được miễn. Không lâu nữa sẽ phải đền tội, khiến ta không khỏi thở dài.

Địa phủ có một bức câu đối, vế trên là ‘Dương gian tam thế, thương thiên hại lý giai do nhĩ’ (Dương gian tam thế, thương thiên hại lí đều do người), vế dưới là ‘Âm tào địa phủ, cổ vãng kim lai phóng quá thùy’ (Âm tào địa phủ, từ xưa đến nay không buông tha ai), bên cạnh là chữ ‘Ngươi đã tới’.

Toàn bộ báo ứng dưới địa ngục là do con người gây nên, người tốt số tất theo Thiên lý mà hành, càng không dám làm tổn hại Thiên lý. Các ngươi từ nay về sau nếu có ra làm quan, hãy nhớ đều phải yêu dân như con, chớ lấy việc công làm việc tư”.


Quả nhiên chưa đầy một tháng sau, nghe nói rằng, gia đình người quan lại kia bị nhiễm bệnh dịch, cả nhà 4, 5 khẩu, chưa được mấy ngày, lần lượt đều qua đời. Người học trò kia vô cùng cảm thán bởi lời của Chu Bách Lư nói quả không sai lệch chút nào…

Thiện ác có báo là chân lý. Con người ngày nay lại không tin, hơn nữa còn phá hoại tín ngưỡng truyền thống, càng không trân quý sinh mệnh, cổ xúy vô thần, vô Phật, vô Đạo… Vậy nên mới khiến tai họa giáng xuống càng nhiều, Thiên lý không dung.

Vậy nên, đạo đức và lương tri quay về với Thiên lý, thì mỗi người chúng ta cũng như toàn xã hội mới có một tương lai tốt đẹp. Đây mới là lựa chọn sáng suốt nhất của con người.

Bảo An / Theo: NTDTV

TẠI SAO TƯỢNG PHẬT LẠI CÚI ĐẦU TRƯỚC KẺ ĂN MÀY?

Một tên trộm muốn lấy trộm viên ngọc từ tượng Phật, nhưng tượng Phật trong nháy mắt lại cao lên. Vì không với tới được viên ngọc, nên tên trộm rất tức giận. Bỗng nhiên tượng Phật lại cúi thấp xuống về phía tên trộm, và rồi tên trộm có thể lấy được viên ngọc dễ dàng như trở lòng bàn tay.


Đây là câu chuyện được kể lại trong cuốn “Đại Đường Tây Vực Ký” bởi cao tăng Huyền Trang thời nhà Đường.

Ngày xưa, bên cạnh hoàng cung nước Tăng Già La ở Thiên Trúc có một ngôi chùa nhỏ được trang trí bằng kỳ trân dị bảo. Quốc vương thường dẫn các quan đại thần đến dâng hương lễ Phật tỏ lòng thành kính. Trong chùa có một pho tượng Phật bằng vàng, kích thước ngang tầm chân thân của Phật Đà, trên búi tóc của tượng Phật có khảm một viên ngọc quý giá trị liên thành, viên ngọc tỏa sáng lung linh. Bên ngoài chùa có rất nhiều cổng, còn có lính gác trông coi, phòng thủ rất nghiêm ngặt, người thường khó có thể đặt chân vào được.

Có một tên trộm khởi tâm xấu, y muốn lấy trộm viên ngọc báu trên tượng Phật, nên đã ngấm ngầm đào một đường hầm bên cạnh ngôi chùa, rồi thông thẳng vào bên trong ngôi chùa.

Một đêm nọ, tên trộm theo đường hầm lẻn vào trong chùa. Y bò đến trước bức tượng Phật vàng, định lấy viên ngọc trước mắt, thì đột nhiên tượng Phật trong phút chốc biến thành cao lớn hơn, bàn tay của tên trộm không chạm tới viên ngọc. Tên trộm kiễng chân lên, với tay lấy viên ngọc, tượng Phật ngay lập tức lại biến thành cao hơn. Y liền đi tìm hòn đá để kê chân, vừa kiễng chân vừa đưa tay với lấy viên ngọc, tượng Phật trong phút chốc lại biến thành cao hơn khiến y càng thêm tốn công phí sức.

Tên trộm nôn nóng, mồ hôi nhễ nhại, lòng rất bất mãn, y ngẩng đầu lên nói với tượng Phật rằng: “Tượng Phật này chỉ cao bằng thân Phật, sao lại không ngừng cao lên vậy? Phải chăng nó tiếc rẻ viên ngọc trên người nó”. Bức tượng Phật vẫn đứng im, hờ hững chẳng nói gì.


Tên trộm lại nói: “Ta nghe nói rằng khi Đức Phật Như Lai mới đầu tu quả vị Bồ Tát, có trí huệ vô biên, ngài phát thệ nguyện hồng đại, thương xót quảng đại chúng sinh ở thế gian, cứu tế muôn dân đang trong khổ nạn, làm cho những quốc gia và dân tộc tín phụng ngài được sung túc an khang”.

“Ta còn nghe nói rằng Đức Phật đã từng xả bỏ tính mạng vì một con chim bồ câu, để cứu hổ và bảy con hổ con khỏi chết đói, Ngài đã từng xả thân nuôi hổ. Tượng Phật giờ đây cớ sao lại keo kiệt đến vậy, ngay cả một viên ngọc báu cũng không chịu bố thí? Dù có bảo toàn được tượng Phật khảm nạm vật báu, thì cũng không phát dương quang đại được thiện hạnh của Phật Đà”.

Tên trộm vừa dứt lời, thì thấy tượng Phật này cúi đầu nhìn mình với ánh mắt tràn đầy thương xót, viên ngọc lập tức rơi xuống chỗ tên trộm có thể đưa tay lấy được. Tên trộm vui mừng, lấy đi viên ngọc, men theo đường hầm bỏ trốn.

Tên trộm đem viên ngọc ra chợ bán, rất mau đã bị người ta nhận ra: “Đây không phải là vật báu của tượng Phật trong ngôi chùa nhỏ cạnh cung điện sao? Làm sao có thể ở trong tay người này được chứ?”.

Tên trộm liền bị bắt, quốc vương bừng bừng lửa giận, đích thân thẩm vấn tên trộm: “Viên ngọc này ở đâu ra? Có phải nhà ngươi đã lấy trộm không?”. Tên trộm nói: “Tôi không có lấy trộm, viên ngọc này là tượng Phật cho tôi đó”. Quốc vương cho rằng tên trộm nói dối, nhưng tên trộm nhất quyết nói rằng chính xác là tượng Phật đã cúi đầu cho y viên ngọc này.


Quốc vương bèn đến ngôi chùa để kiểm chứng, vừa nhìn, quả nhiên hình dáng bức tượng đã khác với trước đây, bức tượng đã cúi đầu xuống, hơn nữa trên búi tóc đã mất đi viên ngọc báu. Quốc vương cảm khái muôn phần, càng kiên định tín ngưỡng đối với Phật Đà. Quốc vương ân xá cho tên trộm, dùng lượng lớn vàng chuộc lại viên ngọc, rồi lần nữa gắn nó trên búi tóc của tượng Phật. Từ đó, tượng Phật vẫn giữ nguyên tư thế cúi đầu cho đến tận hôm nay.

Câu chuyện này có hàm ý rất sâu xa, cảnh giới và dụng tâm của Thần Phật không phải là điều mà người bình thường có thể tưởng tượng và phỏng đoán ra được; tuy nhiên tấm lòng từ bi, khoan dung, tư thế khiêm tốn của họ đủ để khiến người đời lúc nào cũng phải cúi đầu kính ngưỡng.

Thanh Hoa biên dịch
Theo Epoch times

HÃY ĐỂ CHÚNG TA GẶP NHAU MUỘN HƠN! KHI ẤY ANH VỪA ĐỦ TRƯỞNG THÀNH, CÒN EM CŨNG DỊU DÀNG HƠN

Người từng đối xử rất tốt với bạn nhưng lại không thể đi cùng bạn đến cuối con đường. Họ chỉ để lại cho bạn niềm thương nhớ khôn nguôi và những hồi ức thật khó quên.


Anh ấy từng nhìn thấy bạn khóc rất thương tâm, từng nhìn thấy bạn cười như đất trời tỏa nắng, cũng từng nhìn thấy bạn thật dữ dằn… Chỉ là anh ấy chưa từng nhìn thấy bạn khoác trên mình chiếc váy cưới kiều diễm…

Người thuộc về bạn chưa hẳn là người bạn yêu nhất nhưng chắc chắn là người “đến đúng lúc” nhất

Có những đôi bạn luôn quấn quýt nhau từ thuở thanh mai trúc mã. Họ thấu hiểu nhau tới mức có thể thoải mái ở bên nhau hàng giờ mà không cần trò chuyện. Cứ như thể họ sinh ra là để dành cho nhau. Nhưng cuối cùng người kết tóc xe tơ, cùng họ đi đến hết con đường lại là một người khác.

Có những người bạn cùng họ trải qua những thời khắc cam go nhất trong cuộc đời. Nhưng cuối cùng người chia sẻ niềm vui và thành công với người ấy lại không phải là bạn…

Còn những cô gái trẻ trung, giản đơn cứ ngốc nghếch chờ đợi chàng trai mình yêu sẽ quay về. Nhưng cuối cùng nữ chủ nhân của ngôi nhà mà anh ấy về lại không phải là cô ấy.

Trong tình yêu thời điểm là quan trọng nhất. Bởi lẽ khi ấy duyên mới tròn đầy, phận mới thành đôi.

(Ảnh: BigSchool )

Đợi đến khi anh ấy vừa đủ trưởng thành, bạn cũng đủ dịu dàng thì hãy gặp nhau

Bạn sẽ dần hiểu ra rằng, kỳ thực “ái tình” là thứ xa xỉ phẩm chứ không phải nhu yếu phẩm. Bạn có thể rung động, có thể nhớ nhung, có thể sẵn sàng cho đi những gì mình có. Nhưng bất chợt lại nhận ra rằng người ấy không cần tới bạn…

Có người nói rằng, tuổi trưởng thành của con gái không phải là 18 tuổi, mà là khi cô ấy vừa đủ chín chắn và dịu dàng.

Trong tình cảm chẳng có ai gặp gỡ một cách vô ích. Có một số người đến bên đời bạn để giúp trở nên tốt hơn, ngày càng yêu mến bản thân hơn. Có một vài người rời xa nhưng lại khiến bạn trưởng thành nhanh hơn, tới mức bản thân cũng phải ngỡ ngàng.

Sau khi trải qua nỗi đau vô hạn và niềm hạnh phúc lớn lao, bạn mới có thể biết được bản thân mình thực sự mong muốn điều gì

Bạn cho rằng khi ấy bạn thay đổi bản thân là vì anh ấy muốn thế. Bạn sợ rằng mình quá lười nhác sẽ khiến anh ấy bỏ chạy, nên cố gắng dậy sớm chạy bộ mỗi ngày.

Bạn sợ rằng tính nóng nảy của mình có thể khiến anh ấy rời xa bạn, nên trước mỗi lần tức giận bạn lại thử đặt mình vào địa vị của anh ấy để suy ngẫm.

Bạn lo lắng tính hay đa nghi sẽ khiến anh ấy thấy phiền toái mà bỏ rơi bạn, bạn làm việc thật chăm chỉ để tìm lại cảm giác an toàn cho bản thân.

Nhưng khi anh ấy rời xa bạn….

(Ảnh: Tidbits )

Bạn lại phát hiện ra người được thọ ích thực sự lại chính là bản thân mình.

Tình yêu sẽ lưu lại cho người mình yêu điều trân quý nhất, chứ không phải là những món quà được chuẩn bị kỹ lưỡng vào mỗi dịp lễ tết, hay nỗi nhung nhớ khắc khoải ngày đêm.

Những gì anh ấy để lại trong tâm hồn bạn như dòng sông chảy trên mặt đất vậy. Những điều ấy đã khiến bạn thay đổi.

Có một số người, chỉ gặp mặt thôi bạn đã được thọ ích. Có những người độc thân, không phải vì họ không muốn có tình yêu, mà là họ đang đợi một mối tình tốt đẹp nhất.

Có những người chỉ có thể chạm vào bàn bàn tay bạn, nhưng cũng có những người lại có thể chạm vào tâm hồn bạn.

Người mà bạn muốn tìm là người cẩn thận nâng niu bạn như bảo bối, chứ không phải chỉ là người đo đếm xem sẽ được gì từ bạn và gia đình bạn.

(Ảnh: Soha )

Nếu người cũ chẳng thể quay lại, thì hãy trân quý hơn người hiện tại đang ở bên bạn

Có những đôi tình nhân từng yêu nhau đắm say nhưng chẳng thể thành đôi. Trước mặt mọi người họ vẫn nhìn nhau cười cười nói nói. Nhưng khi chỉ còn lại “ta với ta” đột nhiên cô gái lại ngập ngừng hỏi với vẻ mặt rất nghiêm túc:

“Câu cuối cùng em muốn hỏi anh là anh có thật sự từng yêu em không?”

Dẫu rằng hai người đã chia tay hơn 10 năm nhưng sao vẫn chấp vào câu hỏi có yêu hay không. Khi ấy chàng trai chỉ vào trái tim mình, nhìn sâu vào mắt cô gái trả lời rằng: “Hình ảnh của em luôn ở chỗ này!”

Yêu một người rất dễ, chẳng biết vào giây phút thoáng qua nào hai người đã có những rung cảm về nhau. Cười cười nói nói rồi chẳng thể rời xa. Nhưng quên một người sao lại khó khăn đến vậy? Cứ dặn lòng hãy buông tâm nhưng hình bóng anh ấy lại mãi vương vấn, thấp thoáng trong giấc mộng ảo.

Khóc mãi khóc mãi rồi cũng tỉnh, nhưng sau khi nghe câu trả lời của chàng trai, cô gái dường như mới hiểu ra rằng những lần cãi cọ, những sai lầm và nuối tiếc khi xưa đã trôi đi rất xa, xa lắm lắm!

Kỳ thực những gì đã qua không còn quan trọng như vậy nữa. Điều quan trọng chính là chúng ta đã từng yêu nhau.

Tình yêu của người khác mãi mãi chỉ là một câu chuyện, trải nghiệm của bản thân mới được gọi là tình yêu.

(Ảnh: ilmattino.it )

Dẫu bạn còn độc thân hay đang yêu, mong bạn hiểu được 5 đạo lý này:

1. Hãy rèn luyện cho mình những thói quen tốt

Thói quen tốt sẽ khiến cuộc sống của bạn có kỷ luật hơn. Điều này sẽ tạo ra một vòng tuần hoàn tốt đẹp, giúp bạn buông bỏ những âu lo, thất vọng, vững vàng bước tiếp trên con đường đời của mình.

2. Hãy luôn tìm kiếm những điều tốt đẹp nhỏ bé trong cuộc sống

Khi đối diện với cùng một sự việc nhưng mỗi người khác nhau lại có những cảm nhận khác nhau. Cùng một bộ phim có người thích thú với kịch tính, có người bùi ngùi, xúc động vì tình cảm, có người lại ngây ngất với khung cảnh mộng mơ.

Kỳ thực cuộc sống là một chuỗi nối tiếp của thời gian, cũng như những niềm hạnh phúc bé nhỏ.

3. Hãy tận dụng tốt thời gian rảnh của mình

Điều này sẽ tạo ra niềm vui và sự kinh ngạc vô hạn cho bản thân. Bạn có thể học thêm một ngoại ngữ để mở rộng thế giới và hiểu biết của bản thân. Bạn có thể học thêm một loại nhạc cụ để cảm nhận sự tinh tế và đáng yêu của cuộc sống quanh mình…

4. Hãy chăm chỉ tập thể dục, vẻ đẹp của bạn sẽ không bị ảnh hưởng bởi tuổi tác

Có những người tuổi 40 mà khuôn mặt như mới 20, mà không phải dựa vào mỹ phẩm, mà là kiên trì rèn luyện từng ngày như mưa dầm thấm lâu.

Bạn sống với tâm thái ra sao thì cuộc sống sẽ trao lại cho bạn một khuôn mặt như vậy.

(Ảnh: Enerfoot Insole)

5. Khi yêu một người hãy thật lòng, đừng quá so đo, tính toán

Không có hai người hoàn toàn hợp nhau, nhưng lại có hai trái tim cùng nhau đi đến hết cuộc đời.

An Nhiên / Theo: ĐKN