Wednesday, April 22, 2026

TÁM PHỐ SÀI GÒN - NGUYÊN SA


Tám phố Sài Gòn
Tác giả: Nguyên Sa

Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều
Cánh tay tà áo sát vòng eo
Có nghe đôi mắt vòng quanh áo
Năm ngón thơ buồn đứng ngó theo

Sài Gòn phóng solex rất nhanh
Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants
Có nghe hơi thở cài vương miện
Lên tóc đen mềm nhung rất nhung

Sài Gòn ngồi thư viện rất nghiêm
Tờ hoa trong sách cũng nằm im
Đầu thư và cuối cùng trang giấy
Những chữ y dài trông rất ngoan

Sài Gòn tối đi học một mình
Cột đèn theo gót bóng lung linh
Mặt trăng theo ánh đèn: trăng sáng
Đôi mắt trông vời theo ánh trăng

Sài Gòn cười đôi môi rất tròn
Vòng cung mầu đỏ, nét thu cong
Cầu vồng bắc giữa mưa và nắng
Hay đã đưa dần sang nhớ mong

Sài Gòn gối đầu trên cánh tay
Những năm mười sáu mắt nhìn mây
Chiếc tay tròn ánh trăng mười bốn
Tiếng nhạc đang về dang cánh bay

Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa
Thứ Bảy Sài Gòn đi Bonard
Guốc cao gót nhỏ mây vào gót
Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ

Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng
Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân
Lưng trời không có bày chim én
Thành phố đi về cũng đã xuân


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Nguyên Sa (sinh ngày 1 tháng 3 năm 1932 tại Hà Nội - mất 18/4/1998) tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn Việt Nam nổi tiếng từ thập niên 1950, với những tác phẩm nổi danh như "Áo lụa Hà Đông", "Paris có gì lạ không em", "Tuổi mười ba", "Tháng Sáu trời mưa", v.v.

Tổ tiên Nguyên Sa gốc ở Thuận Hóa (Huế), ông cố ông là Thượng thư Trần Trạm, giữ chức Hiệp tá Đại học sĩ trong triều đình thời Tự Đức, đến đời ông nội mới ra Hà Nội.

Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, gia đình ông tản cư đi Hà Đông. Tại đây, ông bị Việt Minh bắt giam khi mới 15 tuổi. Hồi cư về Hà Nội, gia đình cho ông qua Pháp du học vào năm1949.

Năm 1953, ông đậu tú tái Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Đại học Sorbonne. Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này.

Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thúy Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà về nước.

Năm 1975, ông di tản đi Pháp. Ba năm sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và ở California từ đó cho tới ngày qua đời.

Ông mất ngày 18 tháng 4 năm 1998.

Theo: Hợp Âm Việt



KHÁCH SẠN LỚN NHẤT THẾ GIỚI VỚI HƠN 7000 PHÒNG: GIÁ RẺ NHƯNG TRANH CÃI

Nằm trên cao nguyên Genting Highlands (bang Pahang, Malaysia), First World từ lâu đã được biết đến là khách sạn có quy mô số phòng “khủng” nhất hành tinh.


Với 7.351 phòng, công trình này không chỉ giữ kỷ lục Guinness mà còn trở thành một điểm đến du lịch đặc biệt, nơi du khách có thể “lạc lối” giữa hàng nghìn căn phòng và hệ sinh thái giải trí khổng lồ.


Theo The Sun, khai trương năm 2001 và mở rộng vào năm 2015, khách sạn First World gồm nhiều tòa tháp cao 28 tầng, có thể phục vụ cùng lúc tới khoảng 14.000 khách. Khách sạn tọa lạc tại Jalan Major Philip Lim, Genting Highlands, khu nghỉ dưỡng nổi tiếng cách Kuala Lumpur khoảng 1 giờ di chuyển.


Điểm khiến khách sạn First World trở nên khác biệt không chỉ nằm ở số lượng phòng “khổng lồ”, mà còn ở việc nó được tích hợp vào tổ hợp Resorts World Genting, nơi có trung tâm thương mại rộng hàng trăm nghìn mét vuông, công viên giải trí trong nhà, khu trò chơi thực tế ảo, rạp chiếu phim, sân bowling và cả “Snow World” (khu trải nghiệm tuyết nhân tạo hiếm có tại Đông Nam Á)...


Ngoài ra, khách sạn còn có phòng tập thể hình (gym), trung tâm hội nghị, khu vui chơi trẻ em, quầy rượu và casino (sòng bạc) hoạt động 24/7.


Từ khách sạn, du khách có thể đi bộ sang công viên Skytropolis với hàng chục trò chơi hoặc trải nghiệm cáp treo Awana SkyWay băng qua khu rừng nhiệt đới hàng triệu năm tuổi.


Chính vì vậy, nhiều tạp chí du lịch ví nơi đây như một “thành phố thu nhỏ”, nơi du khách có thể ăn uống, vui chơi và nghỉ ngơi mà gần như không cần rời khỏi khuôn viên.


Một trong những yếu tố khiến khách sạn First World thu hút lượng lớn khách là mức giá khá “mềm” so với quy mô. Theo dữ liệu từ các nền tảng đặt phòng, giá thuê trung bình dao động khoảng 29-104 USD/đêm (khoảng 763.000-2,7 triệu đồng), tùy thời điểm và hạng phòng.

Một số chương trình khuyến mãi thậm chí từng ghi nhận mức giá chỉ từ 16 USD/đêm (hơn 400.000 đồng) cho phòng tiêu chuẩn.


Khách sạn có nhiều hạng phòng khác nhau, từ phòng tiêu chuẩn diện tích nhỏ khoảng 16-17m² với tiện nghi cơ bản, đến các phòng cao cấp như World Club Room rộng khoảng 40m², có khu vực tiếp khách, tivi màn hình phẳng, tủ lạnh mini và tiện nghi pha trà, cà phê.


Các phòng cao cấp hơn thường được bố trí ở những tòa tháp mới, có tầm nhìn núi, không gian rộng hơn và trang bị đầy đủ hơn như két an toàn, minibar.


Nhờ vị trí trên núi, nhiều phòng nghỉ còn sở hữu tầm nhìn ra rừng nhiệt đới và mây mù đặc trưng của Genting Highlands, yếu tố được nhiều du khách đánh giá cao. Tuy nhiên, ngay cả ở hạng phòng cao, khách sạn vẫn được xếp vào phân khúc tầm trung, thiên về tiết kiệm hơn là trải nghiệm sang trọng.


Dù gây ấn tượng mạnh về quy mô và giá cả, khách sạn First World lại nhận nhiều ý kiến trái chiều từ du khách. Theo một nền tảng đặt phòng, khách sạn đạt mức điểm trung bình 3,2/5 với hơn 3.500 đánh giá.


Nhiều người khen vị trí thuận tiện, gần khu vui chơi và mua sắm, phù hợp với gia đình hoặc du khách muốn tiết kiệm chi phí. Tuy nhiên, không ít ý kiến cho rằng trải nghiệm thực tế “không tương xứng với quy mô”.

Một du khách phản ánh tình trạng quá tải tại quầy lễ tân: “Hơn 250 người xếp hàng trước, có thể phải chờ 3-4 tiếng để check-in (làm thủ tục)”. Người khác nhận xét phòng “cơ bản, chật”, dịch vụ chậm và thiếu thân thiện.


Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cũng cho rằng các phòng ở tòa cũ cần được nâng cấp, wifi không ổn định và tiện nghi hạn chế. Ngoài ra, một số loại phòng giá rẻ có thể không bao gồm các tiện ích như đồ dùng cá nhân đầy đủ, do đó du khách nên kiểm tra kỹ thông tin trước khi đặt.

Dù vậy, không ít du khách vẫn đánh giá cao mức giá hợp lý và vị trí thuận lợi, coi đây là lựa chọn phù hợp nếu ưu tiên chi phí hơn trải nghiệm cao cấp.

Ảnh: Alarmy, iStock, Booking, Agoda, Klook...
Ái Vi / Treo: Dân Trí



LOÀI CHIM BỒ CÂU ÓNG ÁNH NHƯ ĐÁ QUÝ, CHỈ CÓ Ở NƯỚC ÚC

Sinh sống giữa những vùng đất khô cằn của Australia, bồ câu cánh nâu đồng lấp lánh ánh kim như một "bộ sưu tập đá quý" biết bay.


Bồ câu cánh nâu đồng (Phaps chalcoptera) là một loài chim đặc hữu của Australia, nổi bật với bộ lông tưởng chừng giản dị nhưng lại ẩn chứa những hiệu ứng màu sắc đầy bất ngờ. Khi đứng yên, nó mang màu nâu xám khá trầm, dễ hòa lẫn với nền đất và thảm cỏ khô. Nhưng khi ánh sáng chiếu vào, đôi cánh của bỗng ánh lên sắc xanh lục, tím và đồng rực rỡ, như một món trang sức tự nhiên được giấu kín.

Ảnh: Wikimedia Commons.

Loài chim này có kích thước trung bình, thân hình tròn trịa đặc trưng của họ bồ câu, với đôi cánh rộng và khỏe. Điểm đặc biệt nằm ở các lông cánh có cấu trúc vi mô phản xạ ánh sáng, tạo nên hiệu ứng óng ánh thay đổi theo góc nhìn – một dạng “màu cấu trúc” tương tự như ở cánh bướm hay lông công. Nhờ đó, bồ câu cánh nâu đồng vừa có thể ngụy trang hiệu quả khi cần, vừa trở nên nổi bật trong các hành vi giao tiếp.

Ảnh: Peter Rowland.

Bồ câu cánh nâu đồng thường sinh sống ở các vùng rừng thưa, bụi rậm và đồng cỏ khô trên khắp Australia. Khác với hình ảnh bồ câu đô thị quen thuộc, loài này chủ yếu kiếm ăn trên mặt đất, nhặt hạt, quả nhỏ và đôi khi là côn trùng. Chúng có thói quen bay nhanh và thấp khi bị đe dọa, tạo ra âm thanh vỗ cánh đặc trưng, như một tín hiệu cảnh báo cho các cá thể khác.

Một chi tiết thú vị là tiếng kêu của bồ câu cánh nâu đồng khá trầm và đều, thường vang lên vào sáng sớm hoặc chiều muộn. Âm thanh này góp phần tạo nên “bản nhạc nền” của những vùng hoang dã Australia, nơi sự sống diễn ra âm thầm nhưng đầy nhịp điệu.

Ảnh: Ask Roz Blue Mountains

Trong mùa sinh sản, chúng xây tổ đơn giản trên cây thấp hoặc bụi rậm, thường chỉ là vài cành cây xếp chồng lên nhau. Dù cấu trúc có vẻ mong manh, nhưng lại đủ để bảo vệ trứng và chim non trong môi trường tự nhiên. Cặp đôi thường thay nhau ấp trứng và chăm sóc con non – một hành vi thể hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa hai cá thể.

Trên phương diện sinh học, bồ câu cánh nâu đồng là một phần không thể thiếu trong hệ sinh thái Australia. Loài chim này không chỉ góp phần phát tán hạt giống mà còn là minh chứng cho vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên – nơi ngay cả những loài tưởng chừng bình thường cũng có thể ẩn chứa những điều kỳ diệu.

Theo: Kiến Thức
Link tham khảo:




Tuesday, April 21, 2026

VỊ ĐẠI KHOA ĐẦU TIÊN VÀ CUỐI CÙNG ĐƯỢC KHẮC TÊN TRÊN BIA ĐÁ VĂN MIẾU HUẾ LÀ NHỮNG AI?

Nếu như Tiến sĩ Nguyễn Ý là người đầu tiên được khắc tên trên bia đề danh tại Văn miếu Huế, thì Tiến sĩ Dương Thiệu Tường lại là người cuối cùng có tên trên tấm bia khoa bảng của triều Nguyễn.

Văn miếu Quốc Tử Giám Huế. Ảnh: Báo Xây Dựng

Vị đại khoa đầu tiên và cuối cùng được khắc tên trên bia đá Văn miếu Huế là những ai?

Cách nhau gần 100 năm, từ tấm bia đề danh Tiến sĩ đầu tiên (1822) đến tấm bia cuối cùng (1919) của triều đại, câu chuyện về hai vị đại khoa được khắc tên trên bảng vàng bia đá mãi là tấm gương về đạo học. Dù triều đại có qua đi, sự học của các vị Tiến sĩ vẫn còn mãi và không chỉ hiển hiện trên bia đá tiền nhân khắc tạc, mà còn lưu danh trong sử sách cùng những giai thoại truyền khẩu.

Đình nguyên đầu tiên của nhà Nguyễn

Nguyễn Ý (sinh năm 1796), người thôn Thị xã Vân La, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay là thôn Vân La, xã Hồng Vân, Hà Nội). Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học, thân phụ là cụ Nguyễn Cuông.

Theo giai thoại dân gian, Nguyễn Ý từ nhỏ đã nổi tiếng thần đồng, đọc đâu hiểu đấy, học một biết mười, lại giỏi văn chương ứng đáp nên sớm được người trong vùng biết đến. Năm 1821, Nguyễn Ý đỗ Cử nhân và ngay trong năm sau, ông từ biệt cha mẹ, vợ và 3 con thơ để vào Huế dự thi Hội, thi Đình.

Tượng Đình nguyên Tiến sĩ Nguyễn Ý tại Văn từ Thượng Phúc.

Kỳ thi Hội diễn ra vào tháng 4/1822, là khoa thi Hội đầu tiên của triều Nguyễn được tổ chức, đánh dấu sự hoàn thiện hệ thống khoa cử Nho học, chuyển từ thi Hương (đời Gia Long) sang tổ chức thi Hội, thi Đình tại kinh đô để lấy Tiến sĩ. Vì là khoa thi quan trọng nên vua Minh Mạng ban dụ rằng: “Khoa thi Hội này là khoa đầu tiên, là điển lễ quan trọng, các ngươi nên rất mực công bằng, đừng phụ lời khuyên bảo của trẫm”.

Tại khoa thi này, Nguyễn Ý đỗ đầu và nhận học vị Hoàng giáp Tiến sĩ. Sau đó vào thi Đình, đề thi do nhà vua trực tiếp ra câu hỏi và chấm thi tại điện Cần Chính và Nguyễn Ý tiếp tục đỗ đầu nên được gọi là Đình nguyên Hoàng giáp.

Kỳ thi Đình của nhà Nguyễn không chia thứ bậc, chỉ xếp theo thứ tự, ai đỗ cao hơn được xếp trên. Vì thế, trên tấm bia đầu tiên thuộc hàng đầu trong Văn miếu Huế có khắc tên 8 vị Tiến sĩ đỗ kỳ thi Đình năm 1822, tên của Tiến sĩ Nguyễn Ý được khắc ở trên cùng.

Bên dưới là tên 7 đại khoa khác, gồm: Lê Tông Quang, Phan Hữu Tính, Hà Tông Quyền, Đinh Văn Phác, Vũ Đức Khuê, Phan Bá Đạt và Trần Lê Hiệu. Từ danh sách và thứ bậc khắc trên bia, có thể khẳng định Nguyễn Ý cũng là vị Tiến sĩ đầu tiên được khắc tên trên bia đá Văn miếu Huế.

Nhà bia Tiến sĩ Nguyễn Ý trước đình tổng Vân La.

Trong bài văn sách thi của mình, khi bàn về đạo trị nước, Tiến sĩ Nguyễn Ý cho rằng: “Trị dân không gì trước hơn việc dạy học, trị nước không gì quan trọng hơn nhân tài, tìm khắp hỏi rộng, thu nhận rộng, bồi dưỡng khắp, làm thế nào để có thể khiến cho chia mưu, chung nghĩ, sáng rõ công việc để đưa đến hiệu quả vô vi”.

Tiến sĩ Nguyễn Ý cũng đã đưa ra ý tưởng của mình để xây dựng đội ngũ hiền tài cho xã hội, theo ông cần phải đào tạo từng bước để hình thành nên đội ngũ hiền tài cho đất nước sử dụng. “Ngày dầm tháng thấm, phả vào mắt, rót vào tai, có thể đạt hiệu quả “sau một đời sẽ có nhân”. Cho rằng, trị nước không gì quan trọng bằng nhân tài, mừng thánh triều để thực sự được người, nhưng mong chia mưu cùng lo, làm sáng tỏ công việc, ắt giữ chức đều là quân tử”.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Ý thì hiền tài quả thực như những vật báu trên đời. Theo ông nhân tài “như châu ở biển, ngọc trong núi tìm rất khó khăn, bồi dưỡng hết mức mới thu vét được ẩn sót. Vì thế cổ nhân mới có nỗi lo thiếu nhân tài vậy. Vâng điều thánh thu vét hiền tài, chọn lựa thu khắp, không để sót cỏ chỉ ở khi, hoa lan trong núi. Đường cầu hiền đã rộng, nhưng các sĩ tỏ rõ ở đức thường tự sẽ thu hút vào triều đình “người chín đức đều được làm việc”. Với người xưa thì khó ở được người, mà ngày nay được khắp thì lại không khó vậy”.

Theo các tư liệu của dòng họ, Đình nguyên Nguyễn Ý làm quan được ít năm thì mất và được chôn cất tại kinh đô Huế. Ở quê nhà Vân La, con cháu lập nhà thờ họ từ đời cha Nguyễn Ý là Nguyễn Cuông. Thời trẻ, Nguyễn Ý có nhiều bạn đồng môn. Họ đã viết đôi câu đối về ông ở hai bên cột hiên nhà thờ: “Văn chương tiêu nhất giáp/ Khoa đệ vĩ đồng châu” (Văn chương giỏi nhất vùng/ Bao la như châu thổ).

Người “khóa sổ” khoa cử triều Nguyễn

Nếu như Nguyễn Ý là người đỗ đầu và được chọn để khắc tên hàng đầu tiên tại tấm bia đề danh đầu tiên của triều Nguyễn, thì Tiến sĩ Dương Thiệu Tường lại là người đỗ cuối cùng ở kỳ thi cuối cùng, và tên được khắc hàng cuối trong tấm bia cuối cùng của triều đại.

Nhắc đến dòng họ Dương làng Vân Đình, người nay thường nghĩ ngay đến hai anh em danh nhân nổi tiếng là Dương Khuê và Dương Lâm. Không chỉ được biết đến là những vị quan thanh liêm, công minh, hai ông còn để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống văn hóa.

Trải qua nhiều thế hệ, con cháu họ Dương tiếp tục nối nhau đảm nhiệm các chức vụ quan trọng trong triều đình, tạo dựng danh tiếng như một dòng họ khoa bảng tiêu biểu. Theo gia phả và lời kể của các bậc cao niên, họ Dương chi Ất Hạ có nguồn gốc từ Nghệ An, sau đó lưu lạc ra Vân Đình sinh sống. Thuở ban đầu, cuộc sống của dòng họ khá cơ cực.

Chân dung Tiến sĩ Dương Thiệu Tường.

Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, cụ sinh đồ Dương Đức Thắng phải lên chùa viết sớ thuê để mưu sinh. Sau khi cụ qua đời một năm, một vị thiền sư lạ tìm đến, đề nghị giúp gia đình chọn đất cải táng. Khi được hỏi muốn “đất giàu có” hay “đất phát khoa danh”, gia đình đã chọn con đường học hành, mong con cháu đỗ đạt.

Do nghèo khó, việc cải táng được tiến hành âm thầm vào ban đêm. Hài cốt được đặt trong một nồi đất rồi chôn tại khu đất gần đường vào phủ lỵ. Trước khi rời đi, vị thiền sư để lại lời sấm truyền về sự hưng thịnh khoa bảng của dòng họ, song không tiết lộ danh tính.

Điều kỳ lạ là, chỉ sau một thời gian, khu đất quanh mộ tổ trở nên quang đãng đúng như lời vị thiền sư nói. Từ đó, dòng họ Dương bắt đầu “phát khoa danh”. Lịch sử sau này đã chứng nghiệm khi cụ Đức Ứng giữ chức Hàn lâm viện thị giảng học sĩ, hai anh em Dương Khuê và Dương Lâm đều làm tới chức Thượng thư, các thế hệ kế tiếp tiếp tục đỗ đạt với nhiều Tiến sĩ, Cử nhân.

Theo tư liệu lịch sử, Dương Thiệu Tường sinh năm 1895 tại xã Vân Đình, tổng Phương Đình, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay là xã Vân Đình, Hà Nội). Xuất thân trong một gia đình có truyền thống khoa bảng nổi tiếng đương thời, Dương Thiệu Tường chính là cháu nội của danh sĩ Dương Lâm và là con trai của Cử nhân Dương Tự Phan.

Năm 1915 (Duy Tân thứ 9), Dương Thiệu Tường đỗ Cử nhân tại kỳ thi Hương tổ chức ở Hà Nam. Đến năm 1919 (Khải Định thứ 4), ông dự thi Hội. Kỳ thi này, thí sinh chỉ cần mang theo giấy bút để làm bài. Ít nhất 3 tuần trước khi thi, thí sinh được thông báo về mẫu quyển thi. Trong quyển thi, thí sinh ghi đầy đủ thông tin họ tên, bằng cấp, nghề nghiệp, tuổi, nguyên quán, dòng dõi 3 đời. Quyển thi nộp lên Bộ Học để chuyển cho ban giám khảo.

Khoa thi này, ngoài giám khảo người Việt còn có một giám khảo người Pháp do Khâm sứ Trung Kỳ chỉ định. Ngày 4/4/1919, thí sinh bắt đầu vào thi. Thí sinh thi 4 trường, mỗi trường cách nhau một tuần. Trường nhất thi 5 bài Văn sách về các sách Ngũ kinh, Tứ thư, Việt sử, Thời vụ và Lịch sử phương Tây.

Lăng mộ danh nhân Dương Lâm – ông nội Tiến sĩ Dương Thiệu Tường.

Trường nhì thi 3 bài Từ Hàn, gồm một chiếu hoặc dụ, một tấu hoặc sớ, một biểu. Trường tam thi 3 bài luận bằng chữ quốc ngữ gồm một bài về hành chính, một bài về thời vụ và một bài về luật lệ cộng thêm hai bài toán hình. Trường tứ thi 3 bài luận tiếng Pháp, gồm bài dịch từ tiếng Pháp sang chữ Hán, bài dịch từ chữ quốc ngữ sang tiếng Pháp và một bài chính tả tiếng Pháp. Bắt đầu thi lúc 6 giờ sáng và kết thúc lúc 6 giờ tối.

Giám khảo người Việt ra đề cho các bài chữ Hán và quốc ngữ. Các bài tiếng Pháp do Khâm sứ Trung Kỳ lựa chọn và gửi cho giám khảo trong phong bì đã niêm phong. Bài thi được chấm điểm từ 0 đến 20. Điểm đạt trung bình là 10. Hết 4 trường sẽ cộng dồn để tính điểm. Mọi thí sinh được 40 điểm cho 4 trường thi sẽ được vào thi Đình. Ban giám khảo lấy riêng các bài thi được điểm cao rồi trình lên Bộ Học để Bộ trình nhà vua. Ngày 23/4/1919 công bố tên những người được dự thi Đình.

Tiếp nối dòng dõi khoa bảng

Theo ghi chép, dù bài thi của Dương Thiệu Tường bị đánh hỏng (truất quyển thi), nhưng do đây là khoa thi Hội cuối cùng của chế độ khoa cử Việt Nam nên ông được đặc cách vào thi Đình. Kết quả, Dương Thiệu Tường đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân - một kết quả đáng chú ý trong bối cảnh nền học vấn Nho học đi đến hồi kết.

Theo bản dịch của Viện nghiên cứu Hán Nôm, văn bia đề danh Tiến sĩ khoa thi cuối cùng có 7 người đỗ. Đứng đầu là Nguyễn Phong Di, tiếp theo là Trịnh Hữu Thăng, Lê Văn Kỷ, Nguyễn Cao Tiêu, Bùi Hữu Hưu, Vũ Khắc Triển, và cuối cùng là Dương Thiệu Tường.

Tấm bia này được khắc vào ngày mồng 7 tháng 7 niên hiệu Khải Định năm thứ 4 (1919). Tên của Tiến sĩ Dương Thiệu Tường cũng là tên vị đại khoa cuối cùng được khắc trên bia đá, kết thúc khoa bảng Nho học đã tồn tại ở Việt Nam suốt 9 thế kỷ.

Sau khi ra làm quan, Tiến sĩ Dương Thiệu Tường khởi đầu với chức thừa phái tại Cơ mật viện, rồi lần lượt được bổ nhiệm làm Tri phủ Bình Giang, Tri phủ Ninh Giang (1927) và Tri phủ Kiến Xương (1931). Từ đây, sự nghiệp của ông tiếp tục thăng tiến.

Triều Nguyễn tổ chức 39 khoa thi (1822 - 1919), lấy đỗ 558 đại khoa, trong đó Nguyễn Ý là Tiến sĩ đầu tiên và Dương Thiệu Tường là Tiến sĩ cuối cùng được khắc tên.

Năm 1932, ông giữ chức Bố chính xứ Thái Bình hạng hai, sau đó lên hạng nhất; tiếp đến được bổ nhiệm làm Tuần phủ Quảng Yên rồi Tuần phủ Vĩnh Yên (1938), và được nâng lên hạng nhất vào năm 1940. Đầu năm 1942, ông được cử làm Tổng đốc Hưng Yên, nhanh chóng thăng lên hạng nhất. Đến tháng 3 năm 1944, ông giữ chức Tổng đốc Hải Dương - một trong những vị trí quan trọng trong hệ thống hành chính đương thời.

Nối mạch truyền thống khoa bảng của dòng tộc, em trai Dương Thiệu Tường là Dương Thiệu Chi cũng là một nhà nho nổi danh từng thi đỗ tham tá hạng hai ngành hộ tịch, được bổ nhiệm làm Tri huyện, phong hàm Biên tu, sau làm đến chức Thương tá Nam Định.

Con cháu Tiến sĩ Dương Thiệu Tường cũng trở thành những nhà trí thức có tiếng. Trong số đó, phải kể đến GS Dương Hồng Hiên chuyên ngành nông nghiệp, GS.TS Dương Thiệu Tống (Đại học Sư phạm TPHCM), GS Dương Thiệu Lễ, GS.TS Dương Nghiệp Chí, GS.TS Dương Hồng Chương…

Trần Siêu / Theo: Báo Giáo dục và Thời đại



VĂN NHẠN - VI ỨNG VẬT


Văn nhạn

Cố viên miểu hà xứ?
Quy tư phương du tai.
Hoài Nam thu vũ dạ,
Cao trai văn nhạn lai.


聞雁

故園眇何處
歸思方悠哉
淮南秋雨夜
高齋聞雁來


Nghe tiếng chim nhạn
(Dịch thơ: Trương Việt Linh)

Vườn xưa mù mịt phương nào
Tình quê vương vít lòng nao nao sầu
Hoài Nam đêm tối mưa thu
Phòng cao tiếng nhạn từ đâu bay về


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vi Ứng Vật 韋應物 (737-792) tự Nghĩa Bác 義博, người đời Đường, người Đỗ Lăng, Kinh Triệu, lúc đầu làm Tam vệ lang cho Đường Huyền Tông (712-755), về sau chịu khó đọc sách, đến đời Đức Tông (780-804) làm quan thứ sử Tô Châu có nhiều thiện chính. Ông tính cao khiết, thích đốt hương ngồi một mình. Ông cùng Lưu Trường Khanh được người ta gọi là 2 thi nhân đại tự nhiên. Thi tập của ông gồm 10 quyển.

Nguồn: Thi Viện

TRIẾT LÝ KAIZEN - CHÌA KHÓA THÀNH CÔNG CỦA TOYOTA

Đã bao giờ bạn tò mò và muốn khám phá ra sự kỳ diệu và bí mật đằng sau những thành công của Nhật Bản, một quốc gia cũng ở châu Á, bị ảnh hưởng bởi thời tiết và khí hậu khắc nghiệt, kèm theo nguồn tài nguyên thiên nhiên ít ỏi, nghèo nàn, lại bị tàn phá nặng nề sau Thế chiến thứ hai?


Câu trả lời chính là nguồn lực duy nhất dồi dào ở Nhật Bản: Con Người, và vào thời điểm giữa thế kỷ trước thì nền giáo dục ở Nhật Bản vẫn chưa hoàn thiện như bây giờ. Vậy điều gì điều xảy ra trong các nhà máy của Nhật Bản ở những thập niên từ 1950 đến 1980, khi Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, sau Hoa Kỳ?

Trước hết, các nhà Lãnh đạo của các Doanh nghiệp Nhật Bản mà điển hình là Toyota đã hết lòng tin tưởng vào nguồn nhân lực và trí tuệ của người Nhật, tập trung giáo dục, đào tạo và huấn luyện người lao động trong Công ty, họ luôn luôn cho rằng, trước khi sản xuất ra sản phẩm, phải “sản xuất” được con người. Tuy nhiên, việc hướng dẫn ban đầu cho dù có kỹ lưỡng đến đâu cũng chỉ kéo dài một thời gian ngắn. Tiếp theo thì phải làm như thế nào? Chính KAIZEN đã giúp làm nên Hệ thống on-the-job-training ít tốn kém mà hiệu quả. Những người lao động sau khi được hướng dẫn ban đầu, thông qua việc suy nghĩ, tìm tòi, thực hành cải tiến liên tục sẽ trở thành những “tên lửa” thông minh tự hướng đến mục tiêu năng suất, chất lượng, hiệu quả vượt trội hơn bao giờ hết.

KAIZEN là gì?

Kaizen là một thuật ngữ của người Nhật, được ghép bởi từ 改 (“kai”) – Change có nghĩa là thay đổi và từ 善 (“zen”) – Good có nghĩa là tốt hơn, tức là “thay đổi để tốt hơn” hoặc “cải tiến liên tục”. Thuật ngữ này trong tiếng Anh là “Ongoing improvement” nghĩa là hành động liên tục cải tiến, mang lại lợi ích vì tập thể hơn là lợi ích của cá nhân.

Nguồn: gobranding

Kaizen là cải tiến, cải thiện, là sự cải tiến không ngừng, nó có liên quan đến mọi người, nhà quản lý lẫn công nhân. Kaizen là sửa chữa và làm tốt hơn một việc gì đó mà đã gây khó khăn cho con người. Triết lý của Kaizen cho rằng: Dù bất cứ nơi đâu – gia đình hay xã hội – đều cần được cải tiến liên tục.

Trong “The New Shorter Oxford English Dictionary” được xuất bản vào năm 1993, từ “Kaizen” đã được bổ sung và định nghĩa: “Kaizen là sự cải tiến liên tục quá trình làm việc, nâng cao năng suất, … như một triết lý kinh doanh”. Ngày nay, phương pháp Kaizen được nhắc tới như một triết lý kinh doanh, phương pháp quản lý hiệu quả làm nên thành công của các công ty Nhật Bản. Tuy vậy, những cải tiến trong Kaizen là những cải tiến nhỏ, mang tính chất tăng dần nhưng lại mang đến kết quả ấn tượng trong một thời gian dài.

KAIZEN – Câu chuyện thành công của Toyota

1. Toyota sử dụng Kaizen để giảm tình trạng lãng phí

Tại nhà máy sản xuất của Toyota thường hay xảy ra tình trạng lãng phí như hàng hóa tồn kho, không đạt chuẩn, sản xuất dư thừa, thời gian vận chuyển hàng hóa chậm, thời gian tìm kiếm hàng hóa của công nhân lâu, … Nhận thức được những vấn đề đó, Toyota đã nhanh chóng tìm cách khắc phục đó là áp dụng Kaizen vào quy trình sản xuất của Toyota như việc dùng giỏ nhựa để phân loại các phụ tùng theo từng mẫu xe và đặc tính riêng của bộ phận. Nhờ điều đó mà mỗi công nhân trong nhà máy có thể thực hiện công việc một cách dễ dàng, đơn giản hơn.

2. Toyota sử dụng Kaizen để tạo ra những cải tiến mới, hữu dụng

Từ các bộ phận có sẵn trong dây chuyền và thêm các động cơ, Toyota đã sáng tạo nên xe chuyên chở trong phạm vi khu vực nhà máy, giúp cho công nhân tiết kiệm được thời gian và sức lực vận chuyển hàng hóa. Bên cạnh đó, Toyota cũng đã tiết kiệm gần 3000 USD cho chi phí mua sắm xe chở hàng.

Sử dụng Kaizen đã mang đến cho Toyota những cải thiện đáng kể trong việc cung cấp nguyên liệu hợp lý tùy thuộc vào khối lượng tiêu thụ, giảm thiểu công việc trong quy trình. Nhờ điều này, công nhân chỉ cần dự trữ một khối lượng nhỏ mỗi sản phẩm và thường xuyên bổ sung hàng hóa dựa trên yêu cầu của khách hàng. Do đó giảm đáng kể những thao tác dư thừa của mỗi công nhân và thiết bị máy móc. Góp phần giúp doanh nghiệp tăng cao năng suất lao động, chất lượng công việc, giảm giá thành sản phẩm để thu hút khách hàng.

3. Kaizen dành cho tất cả thành viên trong Toyota

Phương pháp Kaizen không chỉ dành riêng cho những nhà quản lý, chuyên gia cấp cao mà dành cho tất cả mọi người trong công ty ở mọi cấp bậc. Do đó, mọi thành viên đều cần hiểu, tin vào phương pháp Kaizen, cố gắng thực hiện một cách liên tục và theo đuổi tới cùng. Có như vậy, tập thể mới thấm nhuần bản chất cải tiến không ngừng của Kaizen trong suy nghĩ để hành động thật hiệu quả.

Để có thể đề xuất ý tưởng cải tiến, nhân viên cần phải trải qua một quá trình tự học hỏi và nâng cao kỹ năng làm việc. Điều này, giúp họ nâng cao ý thức và phát triển bản thân cũng như tập thể. Từ đó, nhân viên cảm thấy hứng thú hơn trong công việc và biết đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau. Tất cả tạo nên động lực thúc đẩy các cá nhân đưa ra ý kiến, tạo tinh thần làm việc đoàn kết trong tập thể và tạo ý thức luôn hướng tới giảm thiểu các lãng phí.

4. Kaizen giúp hình thành văn hóa doanh nghiệp của Toyota

Việc phương pháp Kaizen được áp dụng hiệu quả trong tất cả thành viên của công ty dần đã hình thành nên văn hóa doanh nghiệp của Toyota. Tổng biên tập tạp chí AutoWeek nhận định: “Tiết kiệm không chỉ là văn hóa của riêng Toyota. Đó chính là văn hóa mà người Nhật đã đem tới nước Mỹ, hay chí ít cũng là trong các nhà máy sản xuất của họ”.

Tại Toyota, Kaizen đã giúp hình thành nên văn hóa công ty đó là: sự ứng xử giữa lãnh đạo với nhân viên và giữa các nhân viên với nhau; sự tiết kiệm và bảo vệ thương hiệu của công ty; sự cố gắng hết mình cho công việc và tinh thần học hỏi lẫn nhau. Tinh thần của Kaizen còn được thể hiện qua hai thông điệp quan trọng của Toyota là “Developing People First” and “Respect for People”. Giám đốc bộ phận lắp ráp John Robinson từng nói: “Ở Toyota, bất cứ vấn đề nào cũng được nhìn nhận một cách nghiêm túc và giải quyết triệt để. Đó là lý do vì sao không chỉ quản lý mà ngay cả một công nhân cấp thấp cũng có thể cho dừng toàn bộ dây chuyền nếu phát hiện ra sai sót”.

Vậy phương pháp KAIZEN cụ thể như thế nào?

Toyota đặt cược vào việc đào tạo cái nôi nhân sự, có nhân sự mạnh họ với có thể cạnh tranh với thế giới. Nhân sự ở lại cùng công ty khi họ nhận ra chính họ đang phát triển đi lên từng ngày. Như đã đề cập ở trên, Kaizen ám chỉ nhiều hơn đến “sự cải thiện liên tục và không ngừng nghỉ”. Một cách đơn giản, mọi khía cạnh trong một quá trình tổ chức nên hướng tới làm điều gì đó tốt hơn. Triết lý này lần đầu tiên xuất hiện tại nhiều doanh nghiệp Nhật, ngay sau chiến tranh thế giới thứ II với nội dung rằng làm những thứ theo cách vẫn thường làm không phải là điều tốt, đặc biệt là khi luôn có những lựa chọn khác tốt hơn có thể tạo ra kết quả tuyệt vời hơn.

Được truyền cảm hứng bởi những phương pháp nâng cao hiệu suất làm việc đến từ phương Tây, Kaizen xuất hiện cũng đồng nghĩa với những nỗ lực trên toàn công ty nhằm cải thiện và hợp lý hóa một cách thông minh các hoạt động kinh doanh cũng như phương pháp sản xuất, đồng thời, vẫn tôn trọng sản phẩm, kỹ thuật chế tạo và những người lao động.

Kaizen là một triết lý cần một thời gian tương đối dài để nhận thấy kết quả. Ghi nhớ điều ấy và doanh nghiệp không nên nóng vội mà phải kiên nhẫn thực hiện những điều nhỏ nhặt nhất và rút kinh nghiệm sâu sắc qua mỗi lẫn thực hiện. Làm được điều này chắc hẳn về lâu dài, doanh nghiệp có thể gặt hái được những thành tựu to lớn hơn.

10 nguyên tắc của phương pháp Kaizen

Nguyên tắc 1: Lấy khách hàng làm trung tâm

Các sản phẩm và dịch vụ luôn phải được định hướng theo thị trường và đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng. Mặc dù triết lý này chủ yếu tập trung vào cải tiến chất lượng sản phẩm nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là gia tăng sự thỏa mãn của khách hàng. Vì vậy, phương pháp Kaizen cần nhắm tới mục đích cải tiến, quản trị chất lượng và gia tăng lợi ích sản phẩm để đem đến cho khách hàng sự hài lòng và những trải nghiệm tốt hơn.

Nguyên tắc 2: Không ngừng cải tiến

Trong triết lý Kaizen, khái niệm “hoàn thành” không có nghĩa là là kết thúc công việc mà là hoàn thành ở giai đoạn này để chuyển sang giai đoạn tiếp theo

Vì nhu cầu của khách hàng sẽ càng ngày càng tăng lên trong tương lại. Vậy nên, nếu không muốn bị đào thải khỏi thị trường thì doanh nghiệp cần không ngừng cải tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm. Vừa giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí. Đồng thời, doanh nghiệp có thể đi trước đón đầu hay tạo ra xu hướng. Tức là tạo ra nhu cầu cho khách hàng ngay cả khi họ chưa nhận ra nhu cầu của họ.

Nguyên tắc 3: Xây dựng văn hóa không đổ lỗi

Mỗi cá nhân cần phải tự chịu trách nhiệm về công việc của mình, dù là nhân viên hay quản lý. Mỗi người nên thẳng thắn thừa nhận lỗi sai cho kết quả công việc trong phạm vi mà mình đảm nhiệm. Trong doanh nghiệp, cần xây dựng tính tự giác, ý thức trách nhiệm cho toàn thể cán bộ nhân viên thông qua những quy định, nội quy công ty. Trên cơ sở đó, mỗi thành viên phải cố gắng sửa lỗi và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao để mang lại lợi ích chung và sự phát triển cho tập thể và công ty.

Nguyên tắc 4: Thúc đẩy văn hóa doanh nghiệp mở

Văn hóa doanh nghiệp mở ở đây được hiểu là khi nhân viên dám nhìn thẳng vào sai sót cũng như khuyết điểm của bản thân họ. Nếu một nhân viên cần sự giúp đỡ từ đồng nghiệp hay cấp trên thì họ cần chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ từ mọi người.

Ngoài ra, doanh nghiệp cần tổ chức những buổi chia sẻ để nhân viên có thể học hỏi kinh nghiệm và giúp đỡ nhau trong công việc.

Nguyên tắc 5: Khuyến khích làm việc nhóm theo triết lý Kaizen

Đối với phương pháp Kaizen, doanh nghiệp cần phải xây dựng cấu trúc nhân sự theo định hướng thành lập các đội nhóm để làm việc hiệu quả hơn. Mỗi nhóm làm việc cũng như nội bộ nhóm phải có những quyền hạn nhất định. Trưởng nhóm là người cần phải hiểu rõ toàn bộ công việc, có khả năng đánh giá tổng thể để sắp xếp công việc phù hợp cho mỗi thành viên trong nhóm của mình. Bên cạnh đó, đòi hỏi các thành viên phải phối hợp hiệu quả, tôn trọng cá tính của mỗi cá nhân để đem lại kết quả tốt nhất cho nhóm.

Nguyên tắc 6: Kết hợp nhiều bộ phận, chức năng trong cùng dự án

Khi thực hiện một dự án bất kỳ, doanh nghiệp hãy phân bố và kết hợp nguồn nhân lực từ các bộ phận phòng khác. Nếu cần thiết, bạn hoàn toàn có thể tận dụng thêm nguồn lực từ bên ngoài.

Nguyên tắc 7: Tạo lập các mối quan hệ hữu nghị

Luôn hình thành các mối quan hệ tích cực, không đối đầu lẫn nhau, không khuyến khích cá nhân chỉ thực dụng coi trọng kết quả công việc mà không quan tâm đến lợi ích của tập thể. Trong các doanh nghiệp Nhật Bản, các chương trình đào tạo kỹ năng giao tiếp cho lãnh đạo, quản lý hay nhân viên đều rất được chú trọng đầu tư để đảm bảo quá trình trao đổi và truyền đạt thông tin trong nội bộ một cách tốt nhất. Điều này giúp tạo dựng lòng trung thành, niềm tin và sự cam kết làm việc lâu dài của nhân viên.

Nguyên tắc 8: Rèn luyện ý thức kỷ luật và tinh thần tự giác

Xây dựng và rèn luyện cho nhân viên ý thức kỷ luật cũng như tinh thần tự giác tuân thủ các quy tắc tại doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, nhân viên cũng cần đặt lợi ích công việc lên trên hết. Từ đó, họ có thể tự đánh giá và xem xét lại chính bản thân. Việc này nhằm mục đích là để họ có thể tự cải thiện và khắc phục điểm yếu của mình.

Nguyên tắc 9: Thông tin đến mọi cấp bậc và nhân viên

Nếu muốn đạt được kết quả cao trong công việc; thì doanh nghiệp nên minh bạch thông tin với các nhân viên của mình.

Bởi thông tin là yếu tố quan trọng hàng đầu len lỗi và “chảy” xuyên suốt trong quá trình kinh doanh. Thông tin được truyền đạt tốt trong nội bộ sẽ là cách hoàn hảo; để doanh nghiệp chia sẻ khó khăn và thách thức chung đến với mọi nhân viên trong tổ chức.

Nguyên tắc 10: Thúc đẩy năng suất cũng như hiệu quả làm việc

Triển khai đồng loạt và tổng hợp phương pháp đào tạo nội bộ đến các phòng ban trong doanh nghiệp.

Trong mỗi dự án, cần phải phân quyền cụ thể và rõ ràng cho mỗi vị trí tới từng thành viên trong nhóm. Mỗi cá nhân đều phải tự phát huy khả năng của mình, chủ động đưa ra ý kiến đóng góp và phản hồi.

Khi có thành tích thì doanh nghiệp cần công nhận và khen thưởng kịp thời đến mọi thành viên trong đội nhóm. Việc này sẽ kích thích năng lực cũng như nâng cao hiệu quả làm việc trên quy mô toàn doanh nghiệp.

Chương trình Kaizen cơ bản cho doanh nghiệp

1. 5S Kaizen

Một nội dung cơ bản trong triết lý Kaizen, cũng được phát minh bởi người Nhật chính là phương pháp 5S Kaizen – một phương pháp dùng để quản lý, sắp xếp nơi làm việc và đồng thời đề cao ý thức tự giác của con người. Và chính vì những kết quả trực quan mà nó mang lại nên hiện nay đang được rất nhiều doanh nghiệp ưa chuộng sử dụng.

Nguồn: qui

Seiri (Sort – Sàng lọc): Phân loại, chỉ giữ lại những vật dụng cần thiết cho công việc và lưu trữ hay loại bỏ những thứ không cần thiết.

Seiton (Straighten – Sắp xếp): Tổ chức sắp xếp các vật dụng còn lại một cách có hiệu quả theo các tiêu chí dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy và dễ trả lại.

Seiso (Shine – Sạch sẽ): Dọn dẹp vệ sinh và giữ gìn nơi làm việc, dụng cụ luôn sạch sẽ nhằm cải thiện môi trường làm việc, giảm thiểu tai nạn rủi ro, đồng thời tránh bụi bẩn làm hỏng hóc máy móc thiết bị.

Seiketsu (Standardize – Săn sóc): Mục tiêu của chữ S thứ tư là tiêu chuẩn hoá và duy trì các hoạt động 3S ở trên được lâu dài, bài bản và mọi lúc mọi nơi trong doanh nghiệp.
Shitsuke (Sustain – Sẵn sàng): Hình thành và rèn luyện thói quen nề nếp, tác phong chủ động tham gia thực hiện 5S cho mọi thành viên trong doanh nghiệp.

2. JIT (Just In Time)

Just In Time (JIT) là một khái niệm nhằm loại bỏ những hao phí trong sản xuất bằng việc chỉ sản xuất đúng sản phẩm, đúng số lượng tại đúng nơi và vào đúng thời điểm. Nói một cách khác, JIT là hệ thống sản xuất trong đó nguồn nguyên vật liệu, hàng hóa và sản phẩm trong quá trình sản xuất và phân phối sẽ được lập kế hoạch chi tiết từng bước sao cho quy trình tiếp theo có thể thực hiện ngay khi quy trình hiện tại chấm dứt.

Qua đó, không có hạng mục nào rơi vào tình trạng trống, chờ xử lý; không có nhân công hay thiết bị nào phải đợi để vận hành. JIT có thể nói tắt là sản xuất “Đúng sản phẩm – Đúng số lượng – Đúng nơi – Đúng thời điểm” nhằm mục tiêu “Tồn kho bằng không – Thời gian chờ đợi bằng không – Chi phí phát sinh bằng không”.


Hãy khiến Kaizen phù hợp với bạn bằng cách thay đổi cách tiếp cận với công việc. Kaizen không chỉ được áp dụng trong doanh nghiệp mà còn phù hợp với từng người trong một môi trường đầy biến đổi, những thay đổi tích cực sẽ xảy ra với cuộc đời bạn.

Chúc bạn thành công!


Nguồn TH: gobranding/ieit

Monday, April 20, 2026

VÌ SAO IRAN BỊ "SOI" VỀ HẠT NHÂN, ISRAEL VÔ SỰ?

Chương trình hạt nhân của Iran bị theo dõi sát, trong khi Israel gần như không chịu sức ép minh bạch thông tin, phản ánh khác biệt về luật pháp quốc tế và tương quan quyền lực.

Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu. Ảnh: Reuters.

Trong hơn 20 năm qua, chương trình hạt nhân của Iran luôn chịu sự giám sát chặt chẽ kèm theo các biện pháp hạn chế, trong khi Israel duy trì chính sách mập mờ chiến lược và ít đối mặt với áp lực minh bạch tương đương.

Tuy nhiên, căng thẳng giữa Mỹ, Israel và Iran suốt 10 tháng qua đã khơi lại những thảo luận về cách tiếp cận của cộng đồng quốc tế đối với hai chương trình hạt nhân này - vấn đề vốn thu hút nhiều quan điểm khác nhau từ giới chuyên gia độc lập.

Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Negev của Israel tại Dimona, được chụp ảnh bởi vệ tinh trinh sát KH-4 CORONA của Mỹ vào tháng 11/1968. Ảnh: Wikimedia.

Mập mờ chiến lược

Đã từ lâu, giới quan sát vẫn coi việc Israel là quốc gia duy nhất tại Trung Đông sở hữu vũ khí hạt nhân là một dạng “bí mật công khai”, dù nước này chưa từng chính thức xác nhận.

Hồi năm 2018, khi bị phóng viên CNN hỏi dồn về việc Israel có sở hữu năng lực hay vũ khí hạt nhân hay không, Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu nói: “Chúng tôi luôn nói rằng sẽ không phải là bên đầu tiên công bố loại vũ khí này, và chúng tôi vẫn chưa làm điều đó… Đó là câu trả lời rõ ràng nhất mà ông có thể nhận được”.

Tuy Israel giữ thái độ “mập mờ chiến lược”, giới chuyên gia nhận định nguồn gốc chương trình hạt nhân của nước này bắt đầu từ thập niên 1950 dưới thời Thủ tướng David Ben Gurion, với sự hỗ trợ từ nước ngoài, đặc biệt là Pháp.

Theo Al Jazeera, cơ sở hạt nhân Dimona tại sa mạc Negev được cho là đã đóng vai trò trung tâm trong việc sản xuất plutonium phục vụ vũ khí. Các ước tính cho thấy Israel có thể sở hữu từ 80 đến 200 đầu đạn hạt nhân, dù con số chính xác không được xác nhận.

Chính sách bí mật của Israel từng chịu đòn giáng nghiêm trọng vào năm 1986, khi kỹ thuật viên Mordechai Vanunu tại cơ sở Dimona tiết lộ thông tin và hình ảnh về địa điểm này cho báo chí Anh. Ông sau đó bị bắt và thụ án tù 18 năm, nhưng Israel vẫn không thay đổi đáng kể lập trường.

Hình ảnh ông Mordechai Vanunu tại phiên điều trần của Tòa án Tối cao Jerusalem vào tháng 1/2017. Ảnh: Flash90.

Một yếu tố cần lưu ý liên quan vấn đề hạt nhân của Israel là việc nước này không tham gia Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT), do đó không chịu nghĩa vụ thanh sát quốc tế giống các nước thành viên. Sự “mập mờ” ấy phần nào giúp Israel đạt được một số lợi thế, theo nhà phân tích Shawn Rostker.

“Sự mập mờ nhằm duy trì răn đe, đồng thời tránh các hệ lụy ngoại giao và pháp lý nếu công khai”, ông nói với Al Jazeera, đồng thời nhận định Israel ít có khả năng tham gia NPT trong tương lai.

Tài liệu được giải mật cho thấy lãnh đạo Mỹ và Israel từng đạt được “nhận thức chung hạt nhân” vào năm 1969, theo đó Tel Aviv sẽ không bị đặt câu hỏi nếu nước này giữ im lặng và tránh thử nghiệm hạt nhân.

Ở góc độ an ninh, một số quan điểm cho rằng chính sách này giúp Israel duy trì lợi thế chiến lược trong khu vực nhiều bất ổn. Theo một số chuyên gia được Mondoweiss dẫn lại, sự tồn tại của năng lực hạt nhân, dù không công bố, vẫn đóng vai trò răn đe các mối đe dọa tiềm tàng.

Tổng thống Richard Nixon, Thủ tướng Israel Golda Meir và Ngoại trưởng Henry Kissinger tại Phòng Bầu dục vào tháng 11/1973. Dưới thời hai lãnh đạo, Mỹ và Israel từng đạt được “nhận thức chung hạt nhân” vào năm 1969, theo đó Tel Aviv sẽ không bị đặt câu hỏi nếu nước này giữ im lặng và tránh thử nghiệm hạt nhân, theo tài liệu được giải mật. Ảnh: Thư viện Nixon.

Tiêu chuẩn kép với Iran?

Khác với Israel, Iran là quốc gia ký kết Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân từ năm 1970 và chịu sự giám sát của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế. Tehran nhiều lần khẳng định chương trình hạt nhân của mình chỉ phục vụ mục đích dân sự như sản xuất năng lượng và y tế.

Thỏa thuận hạt nhân năm 2015 giữa Iran và các cường quốc đặt ra giới hạn cụ thể, trong đó mức làm giàu uranium bị giới hạn ở 3,67% trong 15 năm, thấp hơn nhiều so với ngưỡng trên 90% cần thiết để chế tạo vũ khí. Thỏa thuận cũng cho phép công tác thanh sát quốc tế thường xuyên, thậm chí hằng ngày, tại các cơ sở hạt nhân của Iran.

Theo Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), Iran đã tuân thủ các cam kết này cho đến khi Mỹ rút khỏi thỏa thuận năm 2018. Sau đó, Iran vẫn tiếp tục tuân thủ thêm một năm trước khi tăng mức làm giàu uranium. Báo cáo năm 2025 của IAEA cho biết Iran sở hữu khoảng 400 kg uranium làm giàu ở mức 60%, vẫn dưới ngưỡng chế tạo vũ khí.

Giới chức Mỹ và Israel nhiều lần cho rằng Iran đã tiệm cận khả năng sản xuất vũ khí hạt nhân, nhưng chưa đưa ra bằng chứng cụ thể.

Các cơ sở hạt nhân của Iran. Đồ họa: Al Jazeera.

Theo phân tích trên Conversation, sự khác biệt trong cách tiếp cận không hoàn toàn xuất phát từ tiêu chuẩn kép mà còn từ cấu trúc của luật pháp quốc tế. NPT phân chia rõ giữa các quốc gia sở hữu và không sở hữu vũ khí hạt nhân, đồng thời ràng buộc các nước tham gia phải tuân thủ nghĩa vụ kiểm soát.

Vì Israel không ký kết hiệp ước, nước này không bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ pháp lý tương tự. Trong khi đó, Iran, với tư cách thành viên, phải tuân thủ quy định và cơ chế thanh sát. Điều này dẫn đến sự khác biệt trong mức độ giám sát, dù không nhất thiết phản ánh sự bất nhất về mặt pháp lý.

Dù vậy, một số chuyên gia vẫn cho rằng yếu tố chính trị đóng vai trò quan trọng. Nhà phân tích Ahmed Najar nhận định với Al Jazeera: “Các chuẩn mực quốc tế được áp dụng có chọn lọc, nghiêm ngặt trong một số trường hợp, và bị bỏ qua trong những trường hợp khác”. Ông cho rằng việc Israel là đồng minh phương Tây giúp nước này không phải chịu áp lực lớn.

Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng sự khác biệt này phản ánh lựa chọn chủ quyền của từng quốc gia trong hệ thống quốc tế. Theo Tòa án Công lý Quốc tế, việc hạn chế năng lực quân sự chỉ phát sinh khi một quốc gia tự nguyện cam kết. Điều này có thể lý giải vì sao các nước ngoài hiệp ước, trong đó có Israel, không chịu cùng cơ chế kiểm soát.

Danh Tú / Theo: Znews
Link tham khảo:




HÃY DÀNH 2 PHÚT ĐI TRỌN “HỶ NỘ ÁI Ố” CỦA KIẾP NGƯỜI

Bạn từng mơ ước được đi du lịch, được khám phá đó đây, được trải nghiệm những điều mới lạ?. Bạn có từng mơ ước đặt chân đến một nơi mà vẻ đẹp của nó làm ta tận hưởng trọn vẹn đầy đủ mọi cung bậc cảm xúc - thiên đường nhân gian. Không đâu khác, Cửu Trại Câu là một trải nghiệm tuyệt vời khiến mọi tín đồ du lịch phải thốt lên ngạc nhiên về vẻ đẹp hoàn mĩ của chốn tiên cảnh này.


Nơi Thực Tại Và Huyền Thoại Hòa Quyện

Nói đến Cửu Trại Câu, có rất nhiều câu chuyện cổ kể về các vị thần huyền bí, trong đó phải nói đến câu chuyện tình yêu bên hồ Ngũ Hoa, thu hút không biết bao nhiêu cặp đôi đến đây. Chuyện kể rằng vị nữ thần của thung lũng rất thích gội đầu bên hồ và chồng của nàng ngày nào cũng xách nước đến đây cho vợ. Mỗi lần mang nước, chồng của nữ thần phải đi lên và xuống hết 189 bậc đá. Cho tới bây giờ, các cặp tình nhân yêu nhau vẫn tới đây và tin rằng nếu họ cùng đi hết 189 bậc,thì sẽ được mãi bên nhau.

Con đường dẫn du khách đến “Thung Lũng Chín Làng” là nơi gửi gắm nhiều thông điệp cho thế gian về hành trình nhọc nhằn của kiếp nhân sinh ở những thời điểm thăng trầm, ấm lạnh của lịch sử, trước khi đến được nơi hưởng phúc. Điều này cũng chính là điểm quyến rũ khách du lịch đến để chiêm ngưỡng, để được sống hòa vào với hơi thở của đất trời từ quá khứ đến hiện tại.

Cảnh sắc nên thơ của "Thung Lũng Chín Làng"

Đường lên tiên cảnh dẫn dắt du khách qua rất nhiều địa điểm tham quan nổi tiếng. Đầu tiên là Vũ Hầu Tự – ngôi đền thờ vị Quân sư xuất chúng, lỗi lạc - Khổng Minh Gia Cát Lượng – bộ óc thiên tài. Nơi đây có một tảng đá lớn “Hỷ Thần Vương” với ý nghĩa mang đến sự may mắn, vui vẻ.

Tưởng nhớ Gia Cát Lượng và Lưu Bị ở Vũ Hầu Tự

Thứ hai là Phố cổ Cẩm Lý cách không xa Vũ Hầu Tự. Phố cổ Cẩm lý vẫn đủ sức mời gọi và quyến rũ khách thập phương bởi nét riêng, bởi sức sống ẩm thực của con phố này. Còn gì hơn thế trong đời sống của một xã hội đầy những chìm nổi, biến động, bất an, vẫn có được “Hỷ Thần” – tìm được sự vui vẻ trong tinh thần.

Một bên trang nghiêm để con người cung kính tưởng nhớ bộ óc của một vĩ nhân. Một bên sôi động để con người háo hức được hòa vào đời sống rất đỗi thường tình, đầy quyến rũ của chữ "Đời".

Phố cổ Cẩm Lý

Bước vào thung lũng đầy cảm hứng - Cửu trại Câu

Đắm mình trong vẻ đẹp thanh tao của Cửu Trại Câu, một công viên bảo tồn thiên nhiên đặc biệt được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới, du khách dường như bước vào một chốn khác biệt. Cửu Trại Câu với những vùng nước trong vắt như ngọc và những ngọn núi cao, phía trên bao phủ bởi những khu rừng lá kim.

Bên cạnh những cảnh quan tuyệt đẹp như thác Nặc Nhật Lãng ngoạn mục chảy ra hồ Gương trong suốt như pha lê, khu vực này tự hào có các khu sinh sống của nhiều tộc người thiểu số, di tích lịch sử và ba di sản thiên nhiên thế giới trong tỉnh.


Đây là Vườn Quốc gia hàng đầu của Trung Quốc và nằm ở độ cao từ 1.990m đến 4.764m so với mực nước biển. Cửu Trại Câu có phong cảnh thay đổi theo từng mùa và là một trong những địa điểm đẹp nhất Trung Quốc.


Nằm ở khu vực miền núi phía tây nam Trung Quốc, Cửu Trại Câu không được xây dựng tu sửa hay nhộn nhịp như các thành phố du lịch của Bắc Kinh và Thượng Hải. Môi trường yên tĩnh và không khí trong lành thu hút những du khách đang háo hức thưởng thức một khu vực cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp.

Thung lũng Cửu Trại Câu là một kỳ quan thiên nhiên, một vùng đất hoang sơ thuần khiết với thác nước, hồ trên núi cao, đồng cỏ yên tĩnh, quang cảnh núi tuyết và những ngôi làng Tây Tạng. Bạn sẽ không tin vào vẻ đẹp thần tiên của khu vực cho đến khi bạn đã ở đó và tự mình nhìn thấy.


Đặc biệt là vào mùa thu, Cửu Trại Câu hiện lên đẹp như tranh vẽ khi những ngọn núi, thung lũng, hồ nước được khoác lên mình sắc đỏ nồng nàn và sắc vàng ấm áp. Ban ngày ấm áp, ban đêm mát mẻ và những khung cảnh tuyệt vời phản chiếu xuống mặt nước hồ trong xanh là điển hình của mùa thu ở đây.


Bầu trời lộng lẫy và xanh ngắt trải theo màu nước biêng biếc ngọc lam. Đôi mắt của du khách sẽ được "bắt trọn" một trong những khung cảnh thơ mộng nhất của trần gian. Bạn sẽ ngỡ ngàng về tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo của tự nhiên.


Với vẻ đẹp tự nhiên thuần khiết, Cửu Trại Câu từng được chọn làm phối cảnh Hoa Quả Sơn - Thủy Liên Động, đại bản doanh của Mỹ Hầu Vương Tôn Ngộ Không trong bộ phim kinh điển Tây Du Ký

Hãy đến vùng đất thiên đường này để trải nghiệm những cung bậc cảm xúc khác nhau và mang về cho mình một nguồn năng lượng mới, niềm vui an lạc để cuộc sống này ý nghĩa như thế nào.

Nếu bạn là một người đam mê du lịch, ham muốn khám phá những vùng đất mới, tận hưởng niềm vui an lạc, mơ ước đặt chân đến những vùng đất "đẹp như mơ" và các thác nước nhiều tầng hùng vĩ thì hãy cùng VYC Travel đến với Cửu Trại Câu - điểm tham quan không thể bỏ qua khi đến Tứ Xuyên (Trung Quốc).

Theo: vyctravel



TỐNG BIỆT - LÝ THÚC ĐỒNG


Tống Biệt - Lý Thúc Đồng

Trưởng đình ngoại, cổ đạo biên,
Phương thảo bích liên thiên.
Vãn phong phất liễu địch thanh tàn,
Tịch dương san ngoại san.

Thiên chi nhai, địa chi giác,
Tri giao bán linh lạc.
Nhất biều trọc tửu tận dư hoan,
Kim tiêu biệt mộng hàn.


送別 - 李叔同

長亭外,古道邊,
芳草碧連天。
晚風拂柳笛聲殘,
夕陽山外山。

天之涯,地之角,
知交半零落。
一瓢濁酒儘余歡,
今宵別夢寒。


Tiễn biệt
(Dịch thơ: Hàn Khánh)

Ngôi đình cổ bên con đường cũ
Hai bờ tít tắp cỏ thơm xanh
Gió chiều liễu đưa, sáo vẳng âm thanh
Hoàng hôn trập trùng đồi núi
Góc biển chân trời vời vợi
Bạn tâm giao một nửa đã đi xa
Bình rượu đục hưởng chút vui thừa
Đêm nay giã từ mộng lạnh


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Thúc Đồng 李叔同 (23/10/1880 - 13/10/1942) còn có tên là Lý Tức Sương 李息霜, Lý Ngạn 李岸, Lý Lương 李良, tên theo gia phả là Văn Đào 文涛, tên thuở nhỏ là Thành Hề 成蹊, tên thời đi học là Quảng Hậu 广侯, tên chữ là Tức Sương 息霜, biệt danh là Sấu Đồng 漱筒, sinh ở Thiên Tân, là nhạc sĩ, nhà giáo dục nghệ thuật, nhà thư pháp, nhà hoạt động kịch nghệ nổi tiếng và là một trong những người tiên phong của kịch nghệ Trung Quốc. Sau khi du học ở Nhật Bản trở về, ông làm giáo viên và biên tập viên. Sau đó, ông xuất gia làm tu sĩ với pháp hiệu Diễn Âm 演音, biệt hiệu là Hoằng Nhất 弘一. Sau này ông còn được gọi là Vãn Tình lão nhân 晚晴老人, hậu thế tôn xưng là Hoằng Nhất pháp sư 弘一法师. Năm 1913, ông được nhận làm giáo viên dạy nhạc và hội hoạ tại Trường Sư phạm Chiết Giang (sau đổi thành Trường Sư phạm số 1 tỉnh Chiết Giang). Từ năm 1915, ông đồng thời là giáo viên dạy nhạc và hội hoạ tại Đại học Sư phạm Nam Kinh, đồng thời sáng tác bài hát học đường đầu tiên trong lịch sử của Đại học Nam Kinh. Ông viên tịch tại Phòng Vạn Thanh của Viện dưỡng lão Ôn Lĩnh, chùa Phúc Kiến ở Tuyền Châu, thọ 62 tuổi.

Nguồn: Thi Viện