Vũ tuyết ca vân,
Nhàn đạm trang quân.
Lam khê thuỷ,
Thâm nhiễm khinh quần.
Tửu hương huân kiểm,
Phấn sắc sinh xuân.
Cánh xảo đàm thoại,
Mỹ tình tính,
Hảo tinh thần.
Giang không vô bạn,
Lăng ba hà xứ.
Nguyệt kiều biên,
Thanh liễu chu môn.
Đoạn chung tàn giốc,
Hựu tống hoàng hôn.
Nại tâm trung sự,
Nhãn trung lệ,
Ý trung nhân.
Người đời thích câu kết trong bài từ này của Trương Tiên nên còn gọi ông là Trương Tam Trung.
行香子 - 張先
舞雪歌雲。
閑淡妝勻。
藍溪水、
深染輕裙。
酒香醺臉,
粉色生春。
更巧談話,
美情性,
好精神。
江空無畔,
凌波何處,
月橋邊、
青柳朱門。
斷鍾殘角,
又送黃昏。
奈心中事,
眼中淚,
意中人。
Hành hương tử
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Mây ca, tuyết múa rộn ràng.
Thong dong trang điểm, nhẹ nhàng xiêm y.
Khê Lam nước biếc xanh rì.
Quần thoa nhẹ bước, người đi phiêu bồng.
Hương say, thoảng chén rượu nồng.
Sắc xuân tô điểm, cất công đợi chờ.
Đôi lời tản mạn vu vơ.
Mỹ nhân xinh đẹp bây giờ nơi đâu ?.
Tinh thần, cốt cách hảo cầu !.
Sông dài hiu quạnh, bạn bầu cùng ai ?.
Ba Lăng sóng nước ai hoài.
Bên kia Kiều Nguyệt, liễu phai sắc nồng.
Chuông chùa đứt đoạn thinh không.
Lầu son gốc liễu ai trồng thắm xanh.
Hoàng hôn đã dục xuống nhanh.
Bao nhiêu tâm sự để dành cho nhau.
Người đi cho mắt lệ đau.
Trung nhân hữu ý, mai sau tìm về !
Trương Tiên 張先 (990-1078) tự Tử Dã 子野, người Ngô Hưng, tỉnh Chiết Giang, từng làm quan lang trung. Từ của ông phong cách khá cao, nổi danh ngang với Liễu Vĩnh. Trong Bạch Vũ trai từ thoại, từ của ông được nhận định vừa hàm súc, vừa phát việt. Tác phẩm của ông có An lục tập và An lục từ.
Nguồn: Thi Viện



