Thu phong thanh,
Thu nguyệt minh.
Lạc diệp tụ hoàn tán,
Hàn nha thê phục kinh.
Tương tư, tương kiến tri hà nhật?
Thử thì, thử dạ nan vi tình...
秋風詞
秋風清,
秋月明。
落葉聚還散,
寒鴉棲復驚。
相思相見知何日,
此時此夜難為情。
Thu phong từ
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Gió thu trong trẻo mát lành.
Trăng thu sáng tỏ, tròn vành lung linh.
Lá rơi, lá rụng vô tình.
Quạ kêu đêm lạnh, giật mình thất kinh.
Tương tư chẳng gặp được mình.
Đêm nào gặp gỡ tâm tình thiết tha ?
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi “chống kiếm viễn du”, đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn “ẩm tửu hàm ca” (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một “văn nhân ngự dụng” nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.
Nguồn: Thi Viện



