Nhất thướng cao lâu vạn lý sầu,
Kiêm hà dương liễu tự đinh châu.
Khê vân sơ khởi, nhật trầm các,
Sơn vũ dục lai, phong mãn lâu.
Điểu há lục vu, Tần uyển tịch,
Thiền minh hoàng diệp, Hán cung thu.
Hành nhân mạc vấn đương niên sự,
Cố quốc đông lai Vị thuỷ lưu.
咸陽城東樓
一上高樓萬里愁
蒹葭楊柳似汀洲
溪雲初起日沈閣
山雨欲來風滿樓
鳥下綠蕪秦苑夕
蟬鳴黃葉漢宮秋
行人莫問當年事
故國東來渭水流
Lầu phía đông
thành Hàm Dương
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Lầu cao muôn vạn dặm sầu.
Bờ lau, dương liễu úa mầu bãi xa.
Mây buông bóng xế chiều tà.
Mưa đêm vội vã, gió qua mạn lầu.
Vườn Tần, cỏ biếc úa mầu.
Ve kêu vàng lá, thu sầu Hán cung.
Người qua hỏi những lạnh lùng.
Nước theo sông Vị, tận cùng chốn xưa.
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Hứa Hồn 許渾 (khoảng năm 844) tự Dụng Hối 用晦, người Nhuận Châu, đỗ tiến sĩ, làm quan giám sát ngự sử, rồi thứ sử các nơi.
Nguồn: Thi Viện



