Monday, June 22, 2026

TẠ TRÌ XUÂN - LỤC DU


Tạ trì xuân - Lục Du

Tráng tuế tòng nhung,
Tằng thị khí thôn tàn lỗ.
Trận vân cao,
Lang yên dạ cử.
Châu nhan thanh mấn,
Ủng điêu qua tây thú,
Tiếu nho quan tự lai đa ngộ!

Công danh mộng đoạn,
Khước phiếm thiên chu ngô sở.
Mạn bi ca,
Thương hoài điếu cổ.
Yên ba vô tế,
Vọng tần quan hà xứ?
Thán lưu niên hựu thành hư độ!


謝池春 - 陸遊

壯歲從戎,
曾是氣吞殘虜。
陣雲高、
狼煙夜舉。
朱顏青鬢,
擁雕戈西戍,
笑儒冠自來多誤!

功名夢斷,
卻泛扁舟吳楚。
漫悲歌、
傷懷弔古。
煙波無際,
望秦關何處?
歎流年又成虛度!


Tạ trì xuân
(Dịch thơ: Google AI)
Thời trai trẻ tòng quân,
Từng có khí thế nuốt chửng giặc tàn.
Mây trận trên cao,
Khói sói đêm lượn.
Mặt hồng tóc xanh,
Vác giáo điêu đi thú biên ải phía tây,
Cười kẻ đội mũ nho từ xưa đến nay thường làm lỡ việc!
Giấc mộng công danh vỡ nát,
Đành thả thuyền nhỏ nơi vùng Ngô Sở.
Thoải mái ca vang,
Xót xa hoài niệm người xưa.
Khói sóng vô bờ bến,
Cửa ải Tần nằm nơi đâu?
Than ôi năm tháng lại trôi qua uổng phí! 


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lục Du 陸遊 (1125-1209) tự Vụ Quan 務観, hiệu Phóng Ông 放翁, người Sơn Âm, Việt Châu (nay thuộc Nhạn Môn đạo, tỉnh Sơn Tây), thời Nam Tống. Ông đã trải các chức quan Tri châu, Tri phủ, Quốc sử biên tu, và là một vị thi nhân ái quốc. Sống vào thời kỳ hai hai triều Tống - Kim đánh nhau, Lục Du trở thành một người rất trăn trở vì mất nước. Khi đó người Nữ Chân (vương triều Kim) đã đánh chiếm xuống phía nam, đất nước chia năm xẻ bảy, dân tình ly tán loạn lạc. Ông đã từng vào đất Nam Trịnh (Tứ Xuyên hiện nay) theo phong trào chống Kim, đã từng mặc giáp cưỡi ngựa vượt qua sông Vị cùng những toán kỵ mã yêu nước, ban đêm đột kích quân Kim nhiều lần. Ông có Kiếm nam từ chuyên tập lưu truyền đến nay.

Nguồn: Thi Viện