Nam Trịnh lai Thành Đô tác)
Vũ tiễn điêu cung,
Ức hô ưng cổ luỹ,
Tiệt hổ bình xuyên.
Xuy già mộ quy,
Dã trướng tuyết áp thanh chiên.
Lâm ly tuý mặc,
Khán long xà,
Phi lạc man tiên.
Nhân ngộ hứa,
Thi tình tướng lược,
Nhất thì tài khí siêu nhiên.
Hà sự hựu tác nam lai,
Khán trùng dương dược thị,
Nguyên tịch đăng sơn.
Hoa thì vạn nhân lạc xứ,
Khi mạo thuỳ tiên.
Văn ca cảm cựu,
Thượng thì thì,
Lưu thế tôn tiền.
Quân ký thủ,
Phong hầu sự tại,
Công danh bất tín do thiên.
南鄭來成都作
羽箭雕弓,
憶呼鷹古壘,
截虎平川。
吹笳暮歸,
野帳雪壓青氈。
淋漓醉墨,
看龍蛇、
飛落蠻箋。
人誤許,
詩情將略,
一時才氣超然。
何事又作南來,
看重陽藥市,
元夕燈山。
花時萬人樂處,
攲帽垂鞭。
聞歌感舊,
尚時時、
流涕樽前。
君記取,
封侯事在,
功名不信由天。
Hán cung xuân - Mới từ
Nam Trịnh về Thành Đô làm
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Đeo cung, tên gắn lông chim.
Thành xưa lũy cũ, tầm nhìn chim ưng.
Bình Xuyên giết hổ đã từng.
Tù và thúc giục, lưng chừng chiều buông.
Ngoài thềm dấu tuyết còn vương.
Say sưa nét bút ta dường chưa quên.
Giấy hoa ai họa nét tiên.
Rồng bay phượng múa mà nên hình hài.
Có tài, ai ngợi chi tài !.
Tài thơ binh lược, dùi mài mài ai hay ?.
Chiêu hiền đãi sĩ bấy nay.
Phương Nam công việc lại quay trở về.
Nguyên tiêu đèn đuốc mải mê.
Trùng dương chợ thuốc dễ bề bỏ qua ?.
Muôn người lạc giữa muôn hoa.
Buông roi thúc ngựa mũ đà lệch ngang.
Lời ca chuyện cũ xốn xang.
Ngồi bên chén rượu đôi hàng lệ rơi.
Phong hầu quyết chí tới nơi.
Công danh há tự ông trời ban cho ?.
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Lục Du 陸遊 (1125-1209) tự Vụ Quan 務観, hiệu Phóng Ông 放翁, người Sơn Âm, Việt Châu (nay thuộc Nhạn Môn đạo, tỉnh Sơn Tây), thời Nam Tống. Ông đã trải các chức quan Tri châu, Tri phủ, Quốc sử biên tu, và là một vị thi nhân ái quốc. Sống vào thời kỳ hai hai triều Tống - Kim đánh nhau, Lục Du trở thành một người rất trăn trở vì mất nước. Khi đó người Nữ Chân (vương triều Kim) đã đánh chiếm xuống phía nam, đất nước chia năm xẻ bảy, dân tình ly tán loạn lạc. Ông đã từng vào đất Nam Trịnh (Tứ Xuyên hiện nay) theo phong trào chống Kim, đã từng mặc giáp cưỡi ngựa vượt qua sông Vị cùng những toán kỵ mã yêu nước, ban đêm đột kích quân Kim nhiều lần. Ông có Kiếm nam từ chuyên tập lưu truyền đến nay.
Nguồn: Thi Viện



