Đông phong diểu diểu phiếm sùng quang,
Hương vụ không mông nguyệt chuyển lang.
Chỉ khủng dạ thâm hoa thuỵ khứ,
Cố thiêu cao chúc chiếu hồng trang.
Theo ghi chép trong Vương Trực Phương thi thoại, từ năm Nguyên Phong thứ 3, Tô Thức bị biếm về Hoàng Châu, nhà ở phía đông viện Định Huệ, muôn hoa đầy núi, chỉ có một cây hải đường, bấy giờ không có người thưởng thức. Tác giả cho đây là cây hoa tri kỉ, đã nhiều lần uống rượu với hoa. Tuy đề thơ là Hải đường, song trong thơ không một lần nhắc đến tên hoa.
Hoa hải Đường
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Ngời ngời, hây hẩy gió xuân.
Gió đưa dịu mát, trăng ngân ngoài thềm.
Canh khuya hoa ủ hương đêm.
Đèn khêu cao rủ, êm đềm ngắm hoa
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Tô Thức 蘇軾 (1037-1101) tự Tử Chiêm 子瞻, Hoà Trọng 和仲, hiệu Đông Pha cư sĩ 東坡居士, người đời thường gọi là Tô Đông Pha 蘇東坡, thuỵ Văn Trung 文忠, người My Sơn (nay thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc). Ông từng làm quan Thông phán, Thái thú. Cha là Tô Tuân, em là Tô Triệt, đều là các đại gia thi văn, đương thời người ta gọi là Tam Tô. Thái độ của ông rất hào sảng lạc quan, tuy ông làm quan thăng giáng nhiều lần, song ông không để ý, vẫn ưu du tự tại, đọc sách làm vui, ông là người giàu tình cảm, cho nên phản ánh tới từ của ông, vừa hào phóng lại vừa tình tứ. Ông là người có tài nhất trong số bát đại gia của Trung Hoa (từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII, gồm có Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên đời Đường, Âu Dương Tu, Tô Tuân (cha Tô Thức), Tô Thức, Tô Triệt (em Tô Thức), Vương An Thạch và Tăng Củng), khoáng đạt nhất, tư tưởng và tính tình cũng phức tạp nhất.
Nguồn: Thi Viện



