Thursday, April 16, 2026

TRƯỜNG TƯƠNG TƯ (BIỆN THỦY LƯU, TỨ THỦY LƯU) - BẠCH CƯ DỊ


Trường tương tư 
(Biện thuỷ lưu, Tứ thuỷ lưu)

Biện thuỷ lưu,
Tứ thuỷ lưu,
Lưu đáo Qua Châu cổ độ đầu.
Ngô sơn điểm điểm sầu.

Tứ du du,
Hận du du,
Hận đáo quy thời phương thuỷ hưu.
Nguyệt minh nhân ỷ lâu.


長相思
(汴水流,泗水流)

汴水流,
泗水流,
流到瓜州古渡頭。
吳山點點愁。

思悠悠,
恨悠悠,
恨到歸時方始休。
月明人倚樓。


Trường tương tư 
(Sông Biện chảy, sông Tứ chảy)
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Sông Biện, Sông Tứ chảy xuôi. 
Qua Châu bến cũ khôn nguôi đợi chờ. 
Núi Ngô sầu nhớ vần vơ. 
Nhớ đà man mác, hận giờ miên man. 
Bao giờ thiếp mới gặp chàng. 
Lầu cao người ngóng, trăng vàng còn soi.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, 15 bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.

Nguồn: Thi Viện