Dương liễu hồi đường,
Uyên ương biệt phố,
Lục bình trướng đoạn liên chu lộ.
Đoạn vô phong điệp mộ u hương,
Hồng y thoát tận phương tâm khổ.
Phản chiếu nghênh triều,
Hành vân đới vũ,
Y y tự dữ tao nhân ngữ.
Đương niên bất khẳng giá xuân phong,
Vô đoan khước bị thu phong ngộ.
踏莎行 - 賀鑄
楊柳迴塘,
鴛鴦別浦,
綠萍漲斷蓮舟路。
斷無蜂蝶慕幽香,
紅衣脫盡芳心苦。
返照迎潮,
行雲帶雨,
依依似與騷人語:
當年不肯嫁春風,
無端卻被秋風誤!
Đạp sa hành
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Đường mòn dẫn lỗi Uyên Ương.
Đôi hàng dương liễu bên đường ngát xanh.
Hương thơm ong bướm chẳng giành.
Lục bình chắn lối, chòng trành thuyền sen.
Cánh hồng khoe nhị mới hoen.
Đài hoa soi bóng đã quen nước triều.
Mây mưa vần vũ liêu xiêu.
Tao nhân mặc khách nhiều điều ngẩn ngơ.
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Hạ Chú 賀鑄 (1063-1120) tự là Phương Hồi, người Vệ Châu, tỉnh Hà Nam. Trong khoảng niên hiệu Nguyên Hưu (1086-1093) ông làm Thông phán Tứ Châu. Ông đọc sách rất nhiều, thi, từ tuyệt diệu, tác phẩm của ông có tập Đông Sơn nhạc phủ.
Nguồn: Thi Viện



