Hạm cúc sầu yên lan khấp lộ,
La mạc khinh hàn,
Yến tử song phi khứ.
Minh nguyệt bất am ly hận khổ,
Tà quang đáo hiểu xuyên chu hộ.
Tạc dạ tây phong điêu bích thụ,
Độc thướng cao lâu,
Vọng tận thiên nhai lộ.
Dục ký thái tiên kiêm xích tố,
Sơn trường thuỷ khoát tri hà xứ?
蝶戀花 - 晏殊
檻菊愁煙蘭泣露,
羅幕輕寒,
燕子雙飛去。
明月不諳離恨苦,
斜光到曉穿朱戶。
昨夜西風雕碧樹,
獨上高樓,
望盡天涯路。
欲寄彩箋兼尺素,
山長水闊知何處。
Điệp luyến hoa
(Dịch thơ: Nguyễn Xuân Tảo)
Lan khóc sương, cúc buồn khói đọng,
Lạnh thấm màn là,
Cặp én bay đi thẳng.
Dì nguyệt hiểu gì người chiếc bóng,
Thâu canh ánh sáng xiên song trống.
Đêm qua gió tây, cây biếc rụng,
Lần bước lên lầu,
Nẻo chân trờ xa ngóng.
Tấc lụa, tờ hoa mong đến chóng,
Nào biết nơi đâu, núi sông rộng.
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Án Thù 晏殊 (991-1055) tự Đồng Thúc, người huyện Lâm Xuyên (nay thuộc tỉnh Giang Tây), 7 tuổi đã làm văn, về sau làm quan tới Tể tướng. Từ của ông có phong vị xảo diệu, nùng diễm mà đối thê lương uyển chuyển, phong cách rất cao. Ông có vặp tập 240 quyển, song ông nổi tiếng trên văn học sử lại là tập Chân ngọc từ.
Nguồn: Thi Viện



