Phi hoa tự hữu khiên tình xứ,
Bất hướng chi biên truỵ.
Tuỳ phong phiêu đãng dĩ kham sầu,
Cánh bạn đông lưu lưu thuỷ, quá Tần lâu.
Lâu trung thuý đại hàm xuân oán
Nhàn ỷ lan can kiến
Viễn đàn song lệ tích hương hồng.
Ám hận ngọc nhan quang cảnh, dữ hoa đồng.
虞美人 - 晏幾道
飛花自有牽情處,
不向枝邊墜。
隨風飄蕩已堪愁,
更伴東流流水、過秦樓。
樓中翠黛含春怨,
閑倚闌杆見。
遠彈雙淚惜香紅,
暗恨玉顏光景、與花同。
Ngu mỹ nhân
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Hoa rơi chẳng phải vô tình.
Cành cây nghiêng ngả, cho mình ngả nghiêng.
Gió sầu, phiêu lãng niềm riêng.
Xuôi dòng nước chảy, chốn thiêng Tần Đài.
Lầu xuân vương vấn nét ngài.
Lan can tựa cửa, ngóng hoài xa xăm.
Đôi dòng lệ ướt thấm khăn.
Dung nhan tươi thắm, băn khoăn hoa ngời !
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Án Kỷ Đạo 晏幾道 (1050-1119) tự Thúc Nguyên 叔原, hiệu Tiểu Sơn 小山, từ nhân đời Bắc Tống, người Lâm Xuyên, Phủ Châu (nay thuộc Giang Tây). Ông là con thứ 7 của Án Thù 晏殊. Văn tứ của ông rất mới, tác phẩm của ông có tập Tiểu Sơn từ.
Nguồn: Thi Viện



