Friday, May 22, 2026

MẪU ĐƠN - LÝ THƯƠNG ẨN


Mẫu đơn - Lý Thương Ần

Cẩm vi sơ quyển Vệ phu nhân,
Tú bị do đồi Việt Ngạc Quân.
Thuỳ thủ loạn phiên điêu ngọc bội,
Chiết yêu tranh vũ uất kim quần.
Thạch gia lạp chúc hà tằng tiễn,
Tuân lệnh hương lô khả đãi huân?
Ngã thị mộng trung truyền thái bút,
Dục thư hoa diệp ký triêu vân.


牡丹 - 李商隱

錦幃初卷衛夫人
繡被猶堆越鄂君
垂手亂翻雕玉佩
折腰爭舞郁金裙
石家蜡燭何曾剪
荀令香爐可待熏
我是夢中傳綵筆
欲書花葉寄朝雲


Mẫu đơn
(Dịch thơ: Như Quy)

Màn thêu vừa hé Vệ phu nhân,
Áo gấm còn che Việt Ngạc Quân.
Tay rủ loạn khoe điêu ngọc bội,
Eo thon tranh múa uất kim quần.
Thạch Sùng bấc nến nào từng tắt,
Tuân Úc lò hương há đợi xông ?
Trong mộng được truyền cây tuyệt bút,
Tả đề hoa lá gửi mây ngần.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Thương Ẩn 李商隱 (813-858) tự Nghĩa Sơn 義山, hiệu Ngọc khê sinh 玉谿生, người Hà Nội, Hoài Châu (nay là Tầm Dương, phủ Hoài Khánh, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ sa sút. Thuở thiếu thời giỏi văn thơ, được giao du với các con của tể tướng Lệnh Hồ Sở 令狐楚, trong đó có Lệnh Hồ Đào 令狐綯. Bấy giờ trong triều có hai phe đối nghịch nhau, tranh quyền đoạt lợi, một phe là Ngưu Tăng Nhụ 牛僧孺, phe kia là Lý Đức Dụ 李德裕, hầu hết quan lại đều bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp ấy. Sở theo phe Ngưu. Năm Lý Thương Ẩn mười bảy tuổi (829), Sở tiến cử làm tuần quan mạc phủ. Năm hai mươi lăm tuổi (837), ông lại được Lệnh Hồ Đào khen ngợi, nâng đỡ nên đỗ tiến sĩ năm Khai Thành thứ 2. Năm sau ông được Vương Mậu Nguyên 王茂元, tiết độ sứ Hà Dương mến tài, dùng làm thư ký và gả con gái cho. Chẳng may, Vương thuộc phe Lý Đức Dụ khiến ông trở thành kẻ vong ân bội nghĩa, xảo quyệt vô hạnh trong mắt Lệnh Hồ Đào. Vương Mậu Nguyên chết, rồi Lý Đức Dụ thất thế, ông đến kinh sư nhưng không được làm gì cả. Sau nhờ Trịnh Á vận động, ông được làm chức quan sát phán quan. Trịnh Á bị biếm ra Lĩnh Biểu, ông cũng đi theo. Ba năm sau ông lại trở về, làm huyện tào tại Kinh Triệu. Ông nhiều lần đưa thư, dâng thơ cho Lệnh Hồ Đào để phân trần và xin tiến dẫn, nhưng vẫn bị lạnh nhạt. Tiết độ sứ Đông Thục là Liễu Trọng Hĩnh dùng ông làm tiết độ phán quan, kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Liễu bị bãi quan, ông cũng mất chức. Như thế là ông mắc kẹt giữa hai phái, chưa hề được đắc chí trên hoạn lộ, cứ bôn tẩu khắp nơi: Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Từ Châu nương nhờ hết người này đến người khác, long đong khốn khổ. Cuối cùng ông về đất Oanh Dương thuộc Trịnh Châu rồi bệnh chết năm 46 tuổi.

Nguồn: Thi Viện