Thời nạn niên hoang, thế nghiệp không,
Đệ huynh ky lữ các tây đông.
Điền viên liêu lạc can qua hậu,
Cốt nhục lưu ly đạo lộ trung.
Điếu ảnh phân vi thiên lý nhạn,
Từ căn tán tác cửu thu bồng.
Cộng khan minh nguyệt ưng thuỳ lệ,
Nhất dạ hương tâm ngũ xứ đồng.
望月有感
時難年荒世業空
弟兄羈旅各西東
田園寥落干戈後
骨肉流離道路中
弔影分為千里雁
辭根散作九秋蓬
共看明月應垂淚
一夜鄉心五處同
Nỗi nhớ khi ngắm trăng
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Mất mùa, loạn lạc, ly tan.
Anh em xẻ nghé, tan đàn từ đây.
Can qua đành bỏ ruộng cầy.
Giữa đường cốt nhục, cảnh bầy chia ly.
Lẻ loi cánh nhạn bay đi.
Bỏ bồng đứt gốc, đúng thì thu sang.
Ngắm trăng mắt lệ hàng hàng.
Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, 15 bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.
Nguồn: Thi Viện



