Saturday, August 8, 2026

NHẠC CỔ ĐIỂN VÀ NGHỆ THUẬT ỨNG TẤU

Chúng ta vẫn thường nghe nhiều người nói rằng chơi nhạc jazz thì có nhiều tính sáng tạo hơn chơi nhạc cổ điển (classical). Khi đi xem những buổi hòa nhạc, chúng ta cũng dễ cảm thấy như thế, vì trong những buổi nhạc jazz, các nhạc sĩ thường thay phiên nhau biểu diễn những đoạn ứng tấu hấp dẫn; còn trong những buổi nhạc cổ điển thì các nhạc sĩ thường chỉ chơi chính xác những bản nhạc được soạn sẵn và được dày công tập luyện. Thậm chí chúng ta thấy trong số những người trình tấu nhạc cổ điển lừng danh nhất của thế kỷ 20, cũng có nhiều người… không thể ứng tấu.

Stephane Grappelli.

Hàng triệu khán giả trên thế giới từng say mê thưởng thức những buổi trình diễn song tấu của hai vĩ cầm thủ thượng thặng thế giới trong thế kỷ 20, là Yehudi Menuhin và Stephane Grappelli. Tiếng đàn của hai đại danh thủ đã bay lượn vi vút và quyện vào nhau một cách tuyệt vời. Thế mà, trong một cuộc phỏng vấn trên đài truyền hình BBC, Menuhin thú thật rằng khi ông song tấu cùng Grappelli, thì Grappelli hoàn toàn ứng tấu, còn ông thì phải… soạn trước phần nhạc của mình và tập thuộc lòng. Ông nói: “Tôi không biết nhạc sĩ vĩ cầm nào khác có tài ứng tấu phi thường như Grappelli…” Về phần mình, ông nói: “Tôi không thể nào thực sự ứng tấu được. Ðiều đó quá sức của tôi. Có bắt được vàng thì tôi cũng không thể nào sánh nổi với Grappelli.”

Ðại danh cầm thủ guitar cổ điển, Andres Segovia, cũng không thể ứng tấu! Trong khi đó thì tay guitar nhạc jazz, Django Reinhardt, lại nổi tiếng là người có biệt tài ứng tấu (và ông cũng là người bạn âm nhạc thân thiết cùng trình diễn nhiều năm với Stephane Grappelli). Trong một hồi ký, Stephane Grappelli kể lại mẩu chuyện thú vị sau đây:

“Tôi còn nhớ chúng tôi được mời đến dự một bữa tiệc do một mệnh phụ phu nhân tổ chức [tại Paris] – bà này thường thích tổ chức tiệc tùng, và trong số khách được mời thường có hai người hoàn toàn đối lập nhau về ý tưởng và khẩu vị nghệ thuật. Buổi tối đó là đến phiên Andres Segovia và Django Reinhardt. Dĩ nhiên là Django đến trễ 3 tiếng đồng hồ, và không mang theo đàn guitar. Segovia đã có mặt ở đó, tất nhiên là đúng giờ và anh ấy đã chơi những bài bản của mình.

Nhạc cổ điển

Mọi người đều bực mình vì Django, và rốt cuộc thì chàng đến với một nụ cười đáng yêu, cho rằng mọi chuyện đều ô-kê. Chúng tôi nói: “Chứ anh ở đâu vậy? Anh đến trễ ba tiếng đồng hồ rồi đấy.” “Ồ, tôi không ngờ”. Bởi vì Django không bao giờ biết giờ giấc gì cả. Chàng sống theo ánh mặt trời. “Django, bây giờ tới phiên anh chơi đàn”. Nhưng dĩ nhiên chàng đã quên mang theo đàn, và Segovia không muốn cho chàng mượn đàn, nên một người nào đó phải vội vàng nhảy lên taxi để đi kiếm một cái đàn quèn ở đâu đó. Thế rồi, Django chơi độc tấu guitar với một miếng khảy, rồi với những ngón tay, và chàng tạo ra những tiếng đàn và những bài ứng tấu tuyệt vời khiến Segovia sửng sốt và hỏi: “Tôi có thể tìm những bản nhạc ấy ở đâu?” Django cười, trả lời: “Chẳng ở đâu cả, tôi chỉ vừa chế nó ra đấy thôi!”

Nếu những đại danh cầm thủ cổ điển như Yehudi Menuhin và Andres Segovia không thể ứng tấu theo ngẫu hứng, mà chỉ có thể chơi những bản nhạc đã được soạn sẵn, thì phải chăng khả năng ứng tấu của họ bị hạn chế bởi truyền thống âm nhạc cổ điển?

Không, không phải vậy, vì những nhạc sĩ cổ điển vĩ đại ngày xưa như J.S. Bach, G.F. Handel, L.V. Beethoven, W.A. Mozart, F. Chopin, F. Liszt,… đều có tài ứng tấu tuyệt vời, có người đã để lại những cuốn sách dạy nghệ thuật ứng tấu và có người đã để lại những giai thoại kỳ thú về những cuộc ứng tấu. Ngày xưa, rất nhiều bản concertos có phần cadenza để cho nhạc sĩ tự do ứng tấu, và nhiều nhạc sĩ đã biểu diễn các cadenza ấy một cách đầy sáng tạo. Ðến cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20, A. Rubinstein, I.J. Paderewski, P. Grainger, V. Pachmann,… vẫn ứng tấu phần nhạc dạo và nhạc chuyển tiếp giữa các chương hay bài.

Thế nhưng, ở thế kỷ 20 thì nghệ thuật ứng tấu trong nhạc cổ điển dần dần… biến mất. Các nhà nhạc học nêu ra một số nguyên nhân: kỹ nghệ thu âm khiến các nhạc sĩ ở thế kỷ 20 tập trung vào sự chính xác cao độ khi chơi một bản nhạc; các cuộc tranh tài (competition) mọc lên như nấm khiến các nhạc sĩ trẻ nỗ lực chơi bản nhạc thật chính xác để chinh phục ban giám khảo; các sáng tác gia càng ngày càng ký âm bản nhạc hết sức tỉ mỉ, không còn chỗ cho sự ứng tấu; các giáo sư cố gắng dạy cho nhạc sinh chơi nhạc cổ điển hoàn toàn chính xác theo bản ký âm từ lúc mới học đàn và không hề có giờ dạy ứng tấu, v.v… Từ đó, nghệ thuật ứng tấu trong nhạc cổ điển ngày càng mai một.

Nhạc Jazz

May thay, trong những năm gần đây, chúng ta bắt đầu thấy những nỗ lực khôi phục nghệ thuật ứng tấu trong nhạc cổ điển. Nhiều diễn đàn và hội thảo nêu lên vấn đề này, và nhiều cuộc nghiên cứu khoa học đã chứng minh ích lợi của việc ứng tấu. Chẳng hạn, một công trình nghiên cứu ở nhạc viện Graz và viện đại học Graz (Austria) chứng minh rằng, quả thực chơi nhạc jazz thì có nhiều tính sáng tạo hơn chơi nhạc cổ điển, và nguyên nhân là người chơi nhạc jazz luôn tự rèn luyện khả năng ứng tấu, còn những người chơi nhạc cổ điển thì tập trung vào việc biểu diễn chính xác bản ký âm. Công trình nghiên cứu do các giáo sư John Sloboda và David Dolan ở Guildhall School hợp tác cùng một số chuyên gia ở Imperial College London quan sát những tín hiệu trong não bộ của các nhạc sĩ và thính giả nhạc cổ điển, và họ kết luận rằng phần não liên quan đến sức tập trung, ký ức và hồi ứng (gọi là phần não Brodman 9) hoạt động tích cực hơn trong những cuộc trình diễn nhạc cổ điển có ứng tấu, và thụ động hơn trong những cuộc trình diễn nhạc cổ điển không có ứng tấu. Nghĩa là nhạc có ứng tấu có tác dụng kích thích não bộ của cả nhạc sĩ và thính giả một cách tích cực hơn, khiến cho họ cảm thấy thích thú hơn. Nhóm nghiên cứu “hy vọng rằng công trình nghiên cứu sẽ được ứng dụng theo một cách nào đó để giúp nhạc cổ điển chống lại tình trạng bị mất dần khán thính giả.” Họ đề nghị “đem nghệ thuật ứng tấu vào các buổi hòa nhạc cổ điển, các nhạc sĩ sẽ tạo nên một sự kiện độc đáo vừa có khả năng nối kết nhạc sĩ và khán giả, vừa gây nên sự thích thú”.

Nói tóm lại, thực tế cho thấy số lượng khán thính giả của nhạc cổ điển càng ngày càng giảm sút vì nhạc cổ điển thiếu sức thu hút. Nếu đem được nghệ thuật ứng tấu vào những buổi trình diễn thì nhạc cổ điển sẽ tạo nên một sinh khí mới. Chắc chắn là vậy, vì suốt nhiều ngàn năm qua trên khắp thế giời, hầu hết các nền âm nhạc cổ truyền đều xem trọng nghệ thuật ứng tấu, và khán thính giả âm nhạc ở mọi nơi, mọi thời đều luôn cảm thấy thích thú khi thưởng thức những dòng nhạc ứng tấu đầy bất ngờ của những nhạc sĩ tài hoa.

Hoàng Ngọc Tuấn (Nhạc sĩ người Việt tại Úc)/VHVN

Friday, August 7, 2026

VÌ SAO TƯỢNG CỔ HY LẠP THƯỜNG KHỎA THÂN?

Chúng ta thường thấy các bức tượng Hy Lạp được trưng bày tại nhiều bảo tàng trên thế giới đều trong trạng thái khỏa thân.


Người Hy Lạp cổ đại từ lâu đã nổi tiếng với việc đã tạo ra, cũng phổ thông hóa những khái niệm hiện đại về cơ thể con người. Nổi bật trong đó là ý tưởng và triết lý về cái đẹp của mỗi con người hay các vị thần được thể hiện qua những bức tượng khỏa thân.

Cách đây khoảng 2.500 năm, cuộc cách mạng văn hóa xảy ra ở Hy Lạp cổ đại. Chế độ dân chủ ra đời ở thủ đô Athens, nhiều kiệt tác bi kịch và hài kịch xuất hiện và các bức tượng ở đây cũng được chạm khắc giống đời thực hơn trước kia.

Tuy nhiên, điều lạ thường ở đây chính là các bức tượng mới đều trong trạng thái khỏa thân. Từ những chiến binh hi sinh trong trận chiến Trojan, đến các vận động viên ném đĩa hay các nữ thần bước vào bồn tắm.

Ngày nay, chúng ta coi những bức tượng Hy Lạp khỏa thân là điều tất yếu. Tuy nhiên, vào thời điểm ra đời các bức tượng, người Athens đã phá vỡ một điều vô cùng cấm kỵ.

Những tác phẩm nghệ thuật của các nền văn minh trước cũng từng xuất hiện hình người khỏa thân như một phiến đá chạm trổ có niên đại từ năm 730 trước Công nguyên, ở Nimrud thuộc vương quốc Assyria cổ xưa (Iraq ngày nay).


Tuy nhiên, trên phiến đá ở Nimrud, (giờ được trưng bày ở Bảo tàng Anh), hình người khỏa thân là các kẻ thù của Assyria. Một số người khác không mảnh vải che thân, bị chặt đầu. Người Assyria chiến thắng đều mặc quần áo.

Có một sự khác biệt cơ bản trong các nền văn mình tồn tại trước nền văn mình của người Hy Lạp. Đối với họ, khỏa thân là biểu hiện của sự yếu đuối, sự thua trận hoặc bị sỉ nhục. Trong khi đó, Hy Lạp là quốc gia đầu tiên coi sự khỏa thân là biểu hiện của trạng thái anh hùng. Chính bởi vậy mà nhân vật được chọn thường là các vị thần, vận động viên thể thao, hoặc những người nổi tiếng, có địa vị xã hội. Đây là một quan niệm đóng vai trò quan trọng và giải thích lý do tại sao nghệ thuật này ở Hy Lạp vẫn rất phổ biến, mà không trở nên dung tục.

Giám đốc bảo tàng Anh, ông Neil MacGregor cho biết: “Người Hy Lạp không xem những ảnh khỏa thân là dấu hiệu của sự sỉ nhục mà tượng trưng cho đạo đức đối với những người đàn ông ưu tú trong xã hội. Khi một chàng thanh niên cởi bỏ quần áo để thi đấu trong các kỳ Olympic cổ đại, anh ta không chỉ đơn thuần là trần truồng trước các đối thủ mà đang khoác trên mình đồng phục của sự ngay thẳng”.

Bên cạnh đó, những chi tiết nhỏ được sử dụng để tô điểm cho cơ thể con người, chẳng hạn như mảnh quần áo, đồ trang sức, hình xăm và các đồ trang trí khác, được thực hiện một cách tương đối “tiết kiệm”, vì tạc người hoặc thần trong ảnh khỏa thân được coi là thể hiện giá trị trung thực của nhân vật.

Bức tượng Discobolos nổi tiếng về người đàn ông ném đĩa trong trạng thái khỏa thân

Dù vậy, không phải lúc nào người Hy Lạp cổ đại cũng ưa chuộng sự khỏa thân như trong phòng tập thể dục, hay trong bữa ăn. Nhưng bản thân từ Gym-chỉ phòng tập thể dục, có nguồn gốc từ “gymnasium”, trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “khỏa thân”.

Một chiếc bình cổ có niên đại từ năm 530 trước Công nguyên của Athens khắc họa 4 vận động viên gồm một người nhảy xa, hai người ném lao và một người ném đĩa đều trong trạng thái không mảnh vải che thân.

Tất cả các vận động viên che phủ cơ thể họ bằng dầu ô liu trộn lẫn với bụi đất, đây là một dạng kem chống nắng thời đó nhằm bảo vệ trước ảnh nắng chói chang vùng Địa Trung Hải khi phải tập luyện bên ngoài.

Vào khoảng thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, thần vệ nữ Aphrodite thường được tạc tượng khỏa thân, nhưng với nửa cơ thể ẩn giấu mà đầy vẻ quyến rũ.

Những bức tượng phụ nữ khêu gợi khác cũng thường được chạm khắc đang mặc quần áo mỏng, bó sát hoặc ướt dính vào cơ thể.

Đến giờ, các chuyên gia vẫn chưa hiểu rõ tại sao những vận động viên trong các kỳ Olympic cổ xưa lại khỏa thân.

Một số cho rằng, điều này bắt nguồn từ một sự kiện hy hữu khi một vận động viên chiến thắng trên đường chạy 200 mét sau khi bị tụt mất quần và các đối thủ đã nhanh chóng bắt chước anh ta.

Tượng thần vệ nữ Aphrodite.

Có ý kiến khác cho rằng khỏa thân phản ánh một nghi thức cổ xưa với mục đích đánh dấu việc bước vào giai đoạn trưởng thành, khi con người cởi bỏ chiếc áo choàng trẻ con lúc 20 tuổi. Khi đó, họ sẽ chạy khỏa thân hòa mình vào đám đông công dân trưởng thành.

Ở Athens, hàng năm, cũng từng có lễ hội khỏa thân nhằm vinh danh nữ thần bảo trợ của thành phố-Athena.

Những chàng trai Athens, khi đó sẽ chạy thẳng một mạch từ phòng tập thể dục ở ngoài thành phố tới Parthenon-đền thờ nữ thần Athena.

Những người đàn ông mập mạp, chạy chậm hơn sẽ được đám công cổ vũ nồng nhiệt khi họ chạy qua.

Mặc dù đây là sự cởi mở chưa từng thấy trước đó về sự khỏa thân và tình dục, nhưng người Hy Lạp không thích mất kiểm soát đối với “chuyện ấy” hay trong trạng thái kích thích công khai rõ ràng – cái họ coi là biểu hiện của sự yếu đuối. Đó là lí do tại sao các bức tượng kinh điển thường được khắc với cơ quan sinh dục khiêm tốn, kể cả đối với lực sĩ Hercules.

Theo: Infonet/dantri

TÌNH YÊU VÔ BỜ CỦA NÀNG ALCESTIS

Là một nhân vật trong Thần thoại Hy Lạp, nàng Alcestis nổi tiếng vì tình yêu và sự hy sinh hết mực dành cho chồng. Câu chuyện về cuộc đời nàng đã trở thành nguồn cảm hứng cho một số vở kịch và opera được yêu thích tại châu Âu.

Bức “Alcestis Sacrifices Herself for Admetus”, 1804-1805, miêu tả cảnh Alcestis chịu chết thay chồng (Họa sĩ: Heinrich Füger, Akademie der bildenden Künste).

Ngày xưa có một vị vua tên là Admetus trị vì vương quốc Thessaly nhỏ bé. Nhà vua nhớ tên và thông thuộc từng thần dân trong vương quốc của mình. Đêm nọ, một lữ khách xuất hiện trước cung điện của nhà vua và xin được tạm trú. Vua Admetus biết đây không phải là một người dân bản xứ, nhưng vẫn nhiệt tình đón tiếp vị khách lạ.

Điều đặc biệt là, sau khi được nhà vua khoản đãi và tặng quần áo, vị lữ khách không nêu tên, mà chỉ luôn miệng hỏi Admetus rằng, liệu mình có thể trở thành nô lệ cho nhà vua không. Dù không cần nô lệ, nhưng Admetus nhận ra rằng vị khách lạ đang rất buồn khổ, vì thế nhà vua đã nhận lời để ông chăn đàn cừu của mình.

Tác phẩm “Apollo”, 1874, miêu tả cảnh vị Thần ánh sáng chăn cừu cho nhà vua Admetus (Họa sĩ: Briton Riviere, Bury Art Museum).

Người khách lạ ở cùng Admetus trong một năm, rồi sau đó hé lộ thân phận của mình: ông là Thần Apollo. Nguồn gốc của sự việc là do con của Thần Apollo, Asclepius, dám làm trái luật Trời mà phục sinh cho người chết sau khi nhận tiền bạc. Chính vì thế, Asclepius đã bị Thần Zeus dùng sét đánh chết. Trong một phút nóng giận, Apollo đã bực tức giết hại những người khổng lồ từng chế tạo vũ khí cho Thần Zeus. Vì thế, vị thần của ánh sáng bị phạt phải làm nô lệ cho người thường trong một năm trời. Thần Apollo bày tỏ lòng cám ơn đối với Admetus, và ngỏ ý tặng cho nhà vua bất cứ điều gì mà ông mong muốn. Tuy nhiên vua Admetus nhã nhặn từ chối vì cảm thấy việc mình làm không có gì quá to tát cả. Thần Apollo từ biệt và nói rằng trong tương lai sẽ quay lại giúp khi nhà vua cần.

Không lâu sau đó, vua Admetus phải lòng nàng công chúa Alcestis xứ Iolcus. Mặc dù có rất nhiều người theo đuổi, nhưng nàng công chúa nổi tiếng với lòng tốt và sắc đẹp cũng chỉ mong làm vợ của vua Admetus mà thôi. Tuy nhiên, cha nàng, vua Pelias từ chối thỉnh cầu của Admetus với một thử thách không tưởng: Admetus phải đến cầu hôn trên một chiếc xe được kéo bởi sư tử và lợn rừng. Thất vọng và buồn bã trước yêu cầu khắc nghiệt, Admetus bất chợt nhớ tới Thần Apollo. Nhà vua cầu khẩn vị Thần ánh sáng, và Apollo hiện lên, thắng cương của một chiếc xe bằng vàng vào một con sư tử và một con lợn rừng. Vua Pelias buộc phải giữ lời hứa gả nàng Alcestis cho Admetus.

Một bức tranh minh họa cảnh nhà vua Admetus cùng nàng Alcestis quay trở về xứ Thessaly trên chiếc xe mà thần Apollo tặng (Tranh: Public Domain).

Vua Admetus cùng vợ sống hạnh phúc bên nhau, và vương quốc Thessaly nhỏ bé luôn vang lên tiếng đàn ca với những buổi tiệc tiếp đãi khách nồng hậu. Cho đến một ngày kia, nhà vua lâm bệnh nặng, và khó có thể qua khỏi. Thương tiếc Admetus, Thần Apollo đã cầu xin các nữ Thần Định mệnh không lấy đi tính mạng của nhà vua. Các nữ Thần đồng ý với điều kiện là một người sẽ phải tự nguyện chết thay cho Admetus. Vị Thần ánh sáng thông báo điều này với các thần dân của Thessaly.

Bức “Alcestis Sacrifices Herself for Admetus”, 1804-1805, miêu tả cảnh Alcestis chịu chết thay chồng (Họa sĩ: Heinrich Füger, Akademie der bildenden Künste).

Cha mẹ của Admetus vốn đã già và không còn được bao thời gian trên mặt đất, tuy nhiên họ không muốn chết thay cho nhà vua. Các thành viên trong cung và thần dân cũng không ai đủ can đảm để đối diện với cái chết. Duy chỉ có nàng Alcestis… Vậy là khi nhà vua Admetus mở mắt ra sau cơn bạo bệnh, ngài lại phải chứng kiến người vợ yêu quý ra đi. Trước khi Alcestis nhắm mắt, Admetus đã thề với nàng rằng ngài sẽ không bao giờ chấp nhận yêu người phụ nữ khác. Nhà vua ngồi bên xác vợ khóc lóc và từ chối ăn uống trong nhiều ngày.

Cũng vào lúc đó, người anh hùng Heracles (Héc-quyn) ghé thăm xứ Thessaly trong hành trình hoàn thành 12 kỳ công của mình. Mặc dù đang chịu tang vợ, Admetus không muốn làm phiền người bạn nổi tiếng. Vì thế ngài vẫn cho người hầu tiếp đãi Heracles. Tuy nhiên, nhận ra vẻ buồn rầu của những người hầu vốn nổi tiếng với lòng hiếu khách, Heracles đã gạn hỏi và được nghe kể về cái chết của nàng Alcestis. Áy náy vì đã làm phiền Admetus, và cảm động trước tấm lòng của nhà vua, Heracles đã ngồi canh giữ bên xác nàng Alcestis. Người anh hùng biết rằng Thần Chết Thanatos sẽ tới lấy đi linh hồn của nàng.

Bức “Hercules Fighting Death to Save Alcestis”, 1869-1871, miêu tả cảnh người anh hùng Heracles đọ sức với Thần Chết (Họa sĩ: Frederic Leighton)

Sau khi Thanatos tới, Heracles đã đọ sức với Thần Chết, giành lại linh hồn của Alcestis và khiến vị Thần quyền uy phải bỏ chạy. Sáng hôm sau, Heracles ra mắt vua Admetus, dắt theo một người phụ nữ che mặt. Người anh hùng nói với nhà vua rằng mình phải lên đường tiếp tục cuộc hành trình, và mong nhà vua hãy chăm sóc giúp chàng người phụ nữ nọ. Admetus bối rối từ chối, và nhắc lại lời thề của mình với Alcestis, ngài nhấn mạnh rằng mình sẽ không bao giờ phản bội người vợ yêu quý, và ngài cũng không chấp nhận sự hiện diện của người phụ nữ khác trong hoàng cung. Tuy nhiên, Heracles vô cùng cương quyết trao người phụ nữ cho Admetus và yêu cầu nhà vua hãy mở mạng che mặt nàng.

Bức “Herkules entreißt Alkestis dem Totengott Thanatos und führt sie dem Admetus zu”, 1780, miêu tả cảnh nhà vua Admetus sửng sốt khi gặp lại người vợ yêu (Họa sĩ: Johann Heinrich Tischbein d. Ä, Wikimedia).

Không từ ngữ nào có thể diễn tả hết được nỗi bất ngờ của Admetus khi thấy khuôn mặt của người vợ yêu. Và lúc này, người anh hùng Heracles mới cất tiếng dặn dò nhà vua rằng, trong ba ngày, Alcestis sẽ sống như một cái bóng, cho đến khi linh hồn của nàng hoàn toàn trở về với cơ thể. Kể từ đó, nhà vua cùng hoàng hậu xứ Thessaly sống hạnh phúc bên nhau, cho đến khi Thần Thanatos quay lại và đón cả hai về với thế giới của người đã khuất.

Theo: VisionTimes

TÂM Ở ĐÂU?

Nhiều bác học và học trò của các ông khẳng định rằng tâm chỉ đơn thuần là một phụ phẩm của bộ óc. Tôi thường được thính chúng hỏi, “Tâm có thật không? Nếu có thật, tâm ở đâu? Trong hay ngoài thân thể (sắc)? Hay ở cùng khắp mọi nơi?


Để trả lời, tôi chỉ dùng thí nghiệm sau:

Tôi đề nghị: “Ai hiện đang vui vẻ, hạnh phúc xin giơ tay mặt lên. Ngược lại xin giơ tay trái vậy.” Hầu hết đưa tay mặt lên – một số thật tình đang vui, số còn lại vì tự ái.

Tiếp theo tôi nói: “Ai đang hạnh phúc, xin dùng ngón tay trỏ mặt chỉ điểm hạnh phúc của mình. Ngược lại, xin dùng ngón tay trỏ trái vậy.”

Thính chúng bắt đầu chỉ lên, chỉ xuống rồi nhìn trái, nhìn phải xem bạn mình làm gì. Họ bối rối thấy rõ. Chừng hiểu ra ai cũng bật cười.

Hạnh phúc cũng như đau khổ có thật, không ai chối cãi. Nhưng không ai biết chúng nằm ở đâu, trong hay ngoài thân thể này. Lý do là vì hạnh phúc hay đau khổ là những đặc trưng của tâm. Chúng thuộc tâm như hoa thơm, cỏ dại thuộc ngôi vườn. Có hoa có cỏ chúng ta mới biết có ngôi vườn. Cũng vậy, có hạnh phúc có đau khổ chúng ta mới biết có tâm. Tâm có thật nhưng không ở trong thế gian ba chiều. Biết rằng tâm lớn nhất thế gian – tâm không thể được thu gọn trong thế giới ba chiều mà ngược lại, thế giới ba chiều nằm trong tâm. Tâm chứa cả vũ trụ.


Cái lớn nhất thế gian

Đứa con gái của một bạn học cũ vừa đủ năm tuổi và vào lớp 1. Thầy giáo của lớp cháu hỏi các học trò tí hon của mình, “Cái gì lớn nhất trên thế gian này?” Một bé nhanh nhẩu đáp:

“Ba con.”

“Coi voi,” là câu trả lời của một bé trai mới đi sở thú hồi cuối tuần.

“Núi.”

“Mắt con lớn nhất thế gian”, cháu gái của bạn tôi nói.

Cả lớp im lặng suy nghĩ câu trả lời vừa rồi. Cả thầy giáo cũng phải nhíu mày, thầy hỏi, “Tại sao con nghĩ như vậy?”

Nhà triết học tí hon của chúng ta chậm rãi giải thích:

“Thưa thầy, mắt con có thể thấy ba của bạn con, thấy con voi, thấy trái núi và các thứ khác. Vì mắt con có thể chứa đựng tất cả, mắt con lớn nhất thế giới.”

Trí tuệ không thể học mà có; trí tuệ thấy được rõ ràng cái không thể dạy.

Tôi khâm phục cháu bé, con của bạn tôi. Tôi chỉ xin nói thêm rằng không phải mắt mà tâm là vật lớn nhất trên đời.

Tâm nhìn thấy được tất cả những gì mắt thấy và cả những gì do tưởng tượng cung cấp. Tâm còn biết được âm thanh và xúc giác mà mắt không thấy. Tâm biết luôn thế giới ngoài năm giác quan. Lý luận như cháu bé nói trên, tâm chứa tất cả nên tâm lớn nhất thế gian này vậy.

Trích: Mở rộng cửa tâm mình
Và những mẩu chuyện Phật Giáo nói về hạnh phúc
Tác giả: Ajahn Brahm
Dịch giả: Chơn Quán Trần Ngọc Lợi

Thursday, August 6, 2026

PHONG THỦY GÒ CÔNG - VÙNG ĐẤT NAM BỘ DUY NHẤT SINH RA 2 HOÀNG HẬU

Là nơi hội tụ cuối cùng của dãy núi Trường Sơn và sông Cửu Long, đất Gò Công đã sinh ra 2 bà Hoàng nổi tiếng trong sử Việt.

Mộ Phạm Đăng Hưng trong khu di tích Lăng Hoàng Gia ở thị xã Gò Công. (Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, Wikipedia, CC BY-SA 4.0).

Địa thế phong thủy

Thị xã Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang là một nơi rất đặc biệt. Sở dĩ nơi đây được gọi là “Gò Công” là bởi xưa kia có rất nhiều chim công, người Khmer gọi là Aih Amrak (nghĩa là con công), người Việt gọi theo tiếng Hán Việt là “Khổng Tước khâu”, sau này gọi là Gò Công.

Người xưa có câu “đất lành chim đậu”, hẳn Gò Công phải là vùng đất đặc biệt nên mới có nhiều chim tìm về đến vậy. Xét về địa thế thì nơi đây quả là đặc biệt, bởi vì nó là nơi cuối của dãy núi Trường Sơn và sông Cửu Long.

Dãy Trường Sơn xuất phát từ cao nguyên Thanh Tạng, qua Vân Nam, Thượng Lào rồi vào miền trung Việt Nam, kéo dài đến miền nam và kết thúc ở Gò Công.

Gò Công có sông Tiền Giang, chính là một nhánh sông Cửu Long, bắt nguồn từ Tây Tạng đi qua 6 nước là Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, điểm cuối đổ ra biển ở cửa Đại và cửa Tiểu (đều thuộc Gò Công).

Chính vì thế Gò Công là nơi hội tụ cuối cùng của sơn thủy.

Ở Gò Công có một cái gò hình dạng như mai rùa, gọi là “Giồng Sơn Quy”, người dân vẫn quen gọi là Gò Rùa. Có một truyền thuyết nói rằng nước Gò Rùa mỗi lần thay đổi thì ắt có nhân vật đặc biệt nào đấy vừa xuất sinh hay có biến cố lớn.

Họ Phạm giúp khai khẩn đất Gò Công

Từ thế kỷ thứ 16, chúa Nguyễn Hoàng bắt đầu khai phá về phía nam, mở đầu cho việc di dân về phương nam của các đời chúa Nguyễn. Đến đời chúa Nguyễn Phúc Khoát vào năm 1755, quốc vương Cao Miên là Nặc Nguyên xin dâng hai phủ là Tầm Bôn (tức Tân An, Long An ngày nay), Lôi Lạt (tức Gò Công, Tiền Giang ngày nay). Từ đó thêm nhiều người Việt đến khai phá vùng đất ở Gò Công.

Theo cuốn “Nam Bộ xưa và nay” thì một trong những người tiên phong đến Gò Công là cụ Phạm Đăng Xương, một nhà nho uy tín thời bấy giờ, người vùng Phú Xuân, huyện Hương Trà (Thừa Thiên Huế ngày nay). Cụ đã dẫn cả gia đình đến và chiêu mộ dân chúng khai phá đất đai, mở mang sản xuất khiến nơi này ngày càng thịnh vượng. Đồng thời cụ Phạm Đăng Xương mở lớp dạy học tạo ra thế hệ trí thức đầu tiên ở Gò Công. Người dân quanh vùng kính trọng gọi cụ là “Kiến Hòa tiên sinh”.

Con trai cụ Phạm Đăng Xương nối nghiệp cha theo nghề dạy học. Các đời tổ tiên họ Phạm khi mất đều được chôn ở Gò Rùa, nơi được xem là đất tốt, nhờ thế mà họ Phạm ở Gò Công nhiều người danh giá.

Đến đời sau này có ông Phạm Đăng Hưng làm quan to đến Lễ bộ Thượng thư, luôn yêu thương dân chúng, hay giúp đỡ khuyến khích mọi người làm nông. Theo “di tích lịch sử dân tộc” thì người dân hay gọi ông là ông “Ba Bị” vì mỗi lần từ quê ra Huế ông luôn nhớ mang theo ba bị lúa giống để phân phát rồi hướng dẫn cho dân cách trồng tỉa.

Sách “Hương Giang cố sự” có ghi chép rằng:

“Ông Ba Bị chính là cụ Phạm Đăng Hưng, người Gò Công, có thân hình cao lớn với bộ râu rậm và cứng như râu Trương Phi. Cụ làm quan trải qua các triều Gia Long và Minh Mạng, nổi tiếng là quang minh chính trực”.

“Năm Gia Long thứ 16, với chức vụ Quàn khâm thiên giám, cụ dâng sớ thỉnh cầu nhà vua cho lập xã thương, tức kho chứa lúa ở các xã trong nước, phòng khi trời hạn hoặc lụt lội mùa màng mất mát, thì lúc ấy trong kho đã có sẵn lúa chẩn cấp cho dân chúng tránh nạn đói.

Vua đồng ý và giao cho cụ thực hiện. Để giúp dân có nhiều lúa nạp vào dự trữ ở xã thương, cụ gửi thư vào Nam bộ xin những giống lúa mới có năng suất cao đem ra phân phát cho dân. Vì thế mỗi lần đi xuống thăm các địa phương, cụ thường mang theo ba cái bị đựng các loại giống lúa quý.

Đến đâu thấy dân làm ăn khó khăn, cụ phát cho một ít và hướng dẫn cách nhân giống. Những nơi nào có quan tham ô lại, gian thương bóc lột dân chúng, cụ thẳng tay trừng trị. Vì thế những người dân lương thiện có cảm tình với cụ. Những người xấu mới thấy bóng cụ thoáng qua đều run sợ”.

Điềm lành tại Gò Rùa

Năm 1810, nước ở Gò Rùa bỗng trở nên rất ngọt. Dân chúng lấy làm lạ liền gánh nước về uống và thấy nước càng ngày càng ngọt, uống vào thì thấy người khỏe ra. Cây cối quanh Gò Rùa cũng trở nên xanh tốt bất thường. Từ đó trong dân gian có câu ca:

Điềm lành tuôn nước ngọt ngào,

Lại thêm phước đức vun cao Gò Rùa.

Cũng vào thời điểm đó phu nhân ông Phạm Đăng Hưng hạ sinh được cô con gái, đặt tên là Phạm Thị Hằng.

Ông Phạm Đăng Hưng có mời các thầy địa lý về xem giúp thế đất phong thủy mà tổ tiên ở Gò Rùa. Các thầy địa lý thời đó cho rằng Gò Rùa là nơi rất tốt, tuy nhiên phía sau gò trống trải, hai bên không có gì ôm che, nên chỉ hưng vượng được một đời chứ không truyền đời.

Đồng thời các thầy địa lý dựa vào cuộc đất Gò Rùa mà cho rằng họ Phạm sẽ phát về phái nữ từ lúc trẻ đến trung niên, hậu vận trắc trở và buồn lo.

Hoàng thái hậu nổi tiếng triều Nguyễn

Cô con gái ông Hưng là Phạm Thị Hằng lúc thiếu thời thích đọc sách, thông kinh sử và có lòng hiếu thảo. Nghe tiếng con gái của Phạm Đăng Hưng đoan trang lại hiếu thảo, Thuận Thiên Cao hoàng hậu (đời vua Gia Long) liền cho gọi vào cung năm 14 tuổi. Nhận thấy Phạm Thị Hằng đoan trang đức độ, Thuận Thiên Cao hoàng hậu liền tác thành cho cháu nội của mình là Nguyễn Phúc Miên Tông.

Sau này Nguyễn Phúc Miên Tông lên ngôi vua, hiệu là Thiệu Trị. Nhờ có lễ nghĩa, Phạm Thị Hằng được phong làm Quý phi. Bà sau này chính là đức Từ Dụ hoàng thái hậu.

Tượng đài hoàng thái hậu Từ Dụ tại Bệnh viện Từ Dũ. (Ảnh: Bảo tàng lịch sử quốc gia)

Năm 1847, vua Thiệu Trị ốm nặng, bà ngày đêm túc trực thuốc thang không nghỉ. Trước khi mất vua bí mật phó thác cho bà, rồi triệu tập các quan nói rằng: “Quý phi là nguyên phối của trẫm, là người phúc đức hiển minh, giúp ta coi công việc trong cung cấm đã 7 năm. Nay ý trẫm muốn lập làm Hoàng hậu chính ngôi trong cung, tiếc vì việc không làm kịp mà thôi”.

Vua Thiệu Trị mất, con bà là Thái tử Hồng Nhậm lên ngôi tức vua Tự Đức. Vua Tự Đức nhiều lần ngỏ ý tái hôn cho mẹ nhưng bà đều từ chối.

Năm 1849, nhân dịp khánh thành cung Gia Thọ, bà được sắc phong làm Hoàng thái hậu, hiệu là Từ Dụ. Nguyên nghĩa: “Từ” là tình thương của gười trên đối với kẻ dưới (vì thế mà trong nhà người mẹ còn được gọi là Từ); “Dụ” là giàu có, đầy đủ, khoan thai.

Sử sách triều Nguyễn và các tài liệu liên quan đều ca ngợi đức độ của bà: “Sống trong lầu vàng điện ngọc nhưng bà Từ Dụ rất cần kiệm, thấy vua Tự Đức bày biện những đồ vật quý giá trong cung Diên Thọ cho mình, bà không bằng lòng bảo vua: Những thứ này đều do trăm họ dâng nộp, mình không làm đặng sự chi lợi ích cho nước thì thôi, sao dám lạm dụng? Vua Tự Đức phải đem cất hết những đồ đạc quý giá ấy vào kho” (theo “Kể chuyện các đời vua nhà Nguyễn”).

Năm 1859, cây cối ở Gò Rùa đang xanh tươi bỗng đột nhiên héo, nước giếng đang rất ngọt bỗng trở nên mặn suốt một tuần. Đúng lúc đó quân Pháp chiếm được Gia Định, mở đầu thời kỳ suy tàn của nhà Nguyễn trước sự xâm lăng của quân Pháp.

Đúng như lời các thầy địa lý, đất ở Gò Rùa chỉ phát một đời, và hậu vận buồn lo. Khi về già bà không được vui vì người con trai duy nhất là vua Tự Đức còn mất trước cả bà mà lại không có người nối dõi. Việc quân Pháp xâm lăng cũng khiến Hoàng tộc chia rẽ, bà phải chứng kiến bi kịch của các đời vua Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh và Thành Thái. Tuy bà vẫn ngồi trên ngôi cao nhưng không thể làm được gì nhiều.

Hoàng hậu cuối cùng của nhà Nguyễn

Vùng đất Gò Công còn sinh ra một bà Hoàng nữa cho nhà Nguyễn, đó là Nam Phương hoàng hậu, tên thật là Nguyễn Hữu Thị Lan.

Để cưới được Nguyễn Hữu Thị Lan, vua Bảo Đại đã phải bãi bỏ cả hậu cung, và giữ lời hứa chỉ có duy nhất mình bà. Trong suốt thời gian ngồi trên ngai vàng, vua Bảo Đại đã thực hiện trọn lời hứa đó. Chỉ đến sau khi thoái vị thì vua Bảo Đại mới thay đổi.

Nam Phương hoàng hậu trong triều phục. (Ảnh: Manhhai, Flickr).

Không biết vì sao mà số phận Nam Phương hoàng hậu cũng không khác nhiều so với bà Từ Dụ. Về cuối đời Nam Phương hoàng hậu phải sống ở làng Chabrignac tại Pháp. Các con lập gia đình và đi học xa nhà, bà Nam Phương phải sống âm thầm trong ngôi nhà vắng vẻ. Dù gia cảnh giàu có đầy đủ nhưng cuối đời bà lại ra đi một cách cô đơn. Nam Phương cũng chính là Hoàng hậu cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn.

Dường như không chỉ bà Từ Dụ mà cả bà Nam Phương cũng đều ứng vào cuộc đất ở vùng Gò Công này. Cuộc đời của hai bà Hoàng không sai khác so với lời đoán của các thầy địa lý: phong thủy chỉ phát một đời, và chỉ phát về nữ mà thôi.

Theo: Tri thức và Cuộc sống

THỜI VUA MINH MẠNG, LÃNH THỔ VIỆT NAM RỘNG GẤP 1,7 LẦN HIỆN NAY

Thời nhà Nguyễn vào thế kỷ 19, lãnh thổ Việt Nam hết sức rộng lớn. Đỉnh điểm vào thời vua Minh Mạng, lãnh thổ Việt Nam rộng 575.000 km2, gấp 1,7 lần so với diện tích ngày nay. Vậy lãnh thổ Việt Nam thời nhà Nguyễn gồm những vùng đất nào mà có thể rộng lớn đến vậy?

Đại bác “Thần uy tướng quân” được đúc vào năm 1817 thời Gia Long. (Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, Wikipedia, CC BY 3.0).

Sau khi vua Gia Long lên ngôi, nhà Nguyễn được xây dựng rất mạnh mẽ, khiến các nước lân bang ở phía tây là Ai Lao và Campuchia đều phải thần phục, mong nhận được sự bảo hộ từ Việt Nam.

Ai Lao thần phục

Thời kỳ này Việt Nam và Xiêm La (tức Thái Lan ngày nay) đều đặt ảnh hưởng lên Ai Lao, khiến quốc vương Ai Lao phải xin thần phục cả hai nước. Nhiều xứ ở Ai Lao xin được đặt dưới quyền bảo hộ của Việt Nam, các vùng ngày nay gọi là Sầm Nứa, Trấn Ninh, Cam Môn và Savannakhet giáp với Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị đều xin trở thành nội thuộc. Nhà Nguyễn cho sáp nhập các vùng này vào lãnh thổ, phân thành các châu, phủ thuộc Việt Nam.

Bản đồ Việt Nam thời nhà Nguyễn sau khi sáp nhập vùng đất từ Lào. (Ảnh: Luanpt.arc@gmail.com).

Campuchia mong được bảo hộ

Thế kỷ 15 đến thế kỷ 19 được xem là thời kỳ tăm tối của đất nước Campuchia khi mà sức mạnh của đế quốc Khmer không còn. Vào thế kỷ 15 Xiêm La chiếm được kinh thành Angkor, cuối thế kỷ 16 thì chiếm được kinh thành mới ở Lovek. Đến thế kỷ 17, các đời chúa Nguyễn ở phương Nam trợ giúp người Khmer nổi dậy chống lại sự chiếm đóng của Xiêm La, nhờ đó người Khmer liên tục giành được chiến thắng. Cuối thế kỷ 17 nhà Nguyễn lập ra phủ Gia Định kiểm soát cả vùng Đông Nam Bộ.

Năm 1771, Xiêm La cho quân tiến đánh Campuchia, đường thủy tiến đánh Hà Tiên. Chúa Nguyễn phải cho quân sang cứu Campuchia và đánh quân Xiêm La ở Hà Tiên. Cuộc chiến kết thúc bằng việc Xiêm La và Việt Nam cùng rút khỏi Campuchia. Xiêm La giữ quyền chi phối Campuchia, còn Việt Nam giữ được vùng Hà Tiên.

Năm 1833 diễn ra cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi ở thành Gia Định, vua Minh Mạng cử Trương Minh Giảng đến dẹp loạn, Lê Văn Khôi thua chạy đến cầu xin Xiêm La trợ giúp. Quân Xiêm La nhân cơ hội này tiến đánh Việt Nam, thế nhưng bị quân của nhà Nguyễn đánh bại.

Không chỉ thế, nhà Nguyễn còn cho quân sáng đánh Xiêm La ở Campuchia, chiếm giữ và bảo hộ hầu hết đất nước này, loại bỏ ảnh hưởng của Xiêm La, chỉ còn vùng đất nhỏ là Nam Bàn là thuộc về người Khmer. Nhà Nguyễn sáp nhập các vùng đất Campuchia vào lãnh thổ, đặt tên là Trấn Tây Thành, chia ra thành nhiều phủ, huyện, sắp đặt các quan lại người Việt đến cai trị.

Bản đồ Việt Nam năm 1835 sau khi sáp nhập các vùng đất của Lào và Campuchia. (Ảnh: Luanpt.arc@gmail.com)

Năm 1835, diện tích Việt Nam vô cùng rộng lớn, bao gồm vùng đất Ai Lao (tức Lào ngày nay), hầu hết phần đất của Campuchia, diện tích rộng 575.000 km2, gấp 1,7 lần so với Việt Nam bây giờ (diện tích Việt Nam hiện là 331.698 km2, theo cổng thông tin điện tử chính phủ năm 2009).

Bản đồ Việt Nam 1954 và sau năm 75. (Ảnh: Luanpt.arc@gmail.com).

Trước sự lớn mạnh của mình, năm 1839 vua Minh Mạng cho đổi tên nước từ Việt Nam thành Đại Nam, tức quốc gia rộng lớn hùng mạnh phương Nam. Đây chính là nguyên nhân và ý nghĩa của quốc hiệu này.

Theo: VisionTimes



NẾU ANH CÒN TRẺ - HOÀNG CẦM


Nếu anh còn trẻ
thơ Hoàng Cầm

Nếu anh còn trẻ như năm ấy
Quyết đón em về sống với anh
Những khoảng chiều buồn phơ phất lại
Anh đàn em hát níu xuân xanh

Nhưng thuyền em buộc sai duyên phận
Anh luỵ đời quên bến khói sương
Năm tháng...
năm cung
mờ cách biệt
Bao giờ em hết nợ Tầm Dương?

Nếu có ngày mai anh trở gót
Quay về lãng đãng bến sông xa
Thì em còn đấy
hay đâu mất?
Cuối xóm buồn teo một tiếng gà...

HOÀNG CẦM - 1941

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát Tình Cầm.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Hoàng Cầm (22/2/1922 - 6/5/2010) tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh, đến năm 1938 thì ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.

Nguồn: Thi Viện