Monday, June 1, 2026

CHUYỆN MA CÓ THẬT TỪ BÁC SĨ MẮT CỦA 8 ĐỜI TỔNG THỐNG MỸ - KỲ CUỐI

Theo lời kể của bác sĩ William Wilmer, mọi người trong gia đình bà H đều nghe thấy những âm thanh khó hiểu, cảm giác sự hiện diện vô hình nhưng không ai thực sự thấy bất cứ con ma nào cho đến tận tháng 1/1913.

Ảnh minh hoạ.

RỒI "THỨ ĐÓ" XUẤT HIỆN

Bà H. thấy đầu tiên. “Một hôm, giữa buổi sáng, tôi đi từ phòng vẽ sang phòng ăn, và kinh hoàng thấy từ phía cuối phòng ăn tiến lại gần tôi một người phụ nữ lạ, tóc sẫm màu, mặc toàn đồ đen. Khi tôi từ từ bước vào phòng để đối diện bà ta, thì người đó biến mất. Chuyện đó xảy ra 3 lần”.

Sau đó, một đêm chị giúp việc cũng bị đánh thức, hoảng hồn nhìn thấy một ông già và một phụ nữ trẻ ngồi ngay dưới chân giường, chằm chằm nhìn chị ta. Chị giúp việc sợ quá, người đông cứng trên giường cho đến khi bị một bàn tay vô hình đập nhẹ vào vai khiến chị nhảy dựng người. Ngay khi đó, hai người lạ biến mất.

Một tối, ông bà H đi xem opera, để các con ở nhà với người giúp việc. Khoảng 8 rưỡi tối, cậu con trai út của họ tỉnh giấc, la hét hoảng loạn trong phòng vì thấy bóng ma một người đàn ông béo, to lớn. Sau đó cậu bé được đưa sang phòng của chị vú em, rồi lại bị đánh thức vào rạng sáng vì ai đó, hay cái gì đó rất nặng đè lên ngực khiến cậu khó thở.

Ông bà H. cũng chẳng khá hơn. Xem opera xong, họ về nhà lên giường nghỉ ngơi thì ông H bị đánh thức bởi cảm giác có những ngón tay ma quái đang xiết lấy cổ họng. Ông cũng vẫn nghe thấy tiếng chuông cửa buổi đêm và giờ thì họ chắc chắn có âm thanh của những người lạ đi lại khắp nhà. Nhưng mỗi lần ông trở dậy đi kiểm tra thì đều không thấy ai cả.

Nếu chỉ một người đã nhìn hoặc nghe thấy những điều kỳ dị trong nhà, thì lời họ kể có thể dễ dàng bị bác bỏ rằng đó chỉ là do ảo ảnh, hay tưởng tượng quá mức. Nhưng đến lúc này thì người nào trong ngôi nhà bà H. cũng nghe thấy, cảm thấy thậm chí nhìn thấy người lạ đó.

Khi liên hệ với chủ cũ, gia đình bà H. biết rằng những hiện tượng kỳ lạ đó cũng đã xảy ra với họ trong nhiều năm. “Chủ cũ ngôi nhà cũng trải qua chuyện y hệt như chúng tôi”, bà H. kể.

Hé lộ đầu tiên về điều đang thực sự xảy ra cuối cùng đã lộ diện vào cuối tháng 1/1913 sau khi ông H. kể lại những chuyện đáng sợ trong nhà mình với người anh trai. Người anh nhớ lại một bài báo mà ông đọc từ lâu, mô tả chuyện một gia đình bị ám bởi những âm thanh, hình ảnh tương tự. Ông cho rằng có thể gia đình em trai đang bị đầu độc.

Ảnh minh hoạ.

Đầu độc? Những con ma đang đầu độc họ?

Không, người anh ông H. giải thích: Bài báo mà ông đọc nói rằng gia đình đó có một lò sưởi bị lỗi, thải ra một lượng lớn khí carbon monoxide (công thức hóa học là CO) vào ngôi nhà, và mọi triệu chứng mà các thành viên gia đình gặp phải - bao gồm suy kiệt, mệt mỏi, đau ốm, thấy âm thanh và các hình ảnh lạ, cảm giác bị theo dõi, bị động chạm bởi người nào đó, kể cả việc cây cối chết – đều liên quan đến hiện tượng ngộ độc carbon monoxide.

Người anh khuyên họ đến gặp bác sĩ.

Hôm sau đó, khi tới nhà bà H để kiểm tra, ông bác sĩ đi một vòng quanh nhà. Ngay khi kiểm tra tầng hầm cũ kỹ thì mối nghi ngờ của ông cũng như của anh trai ông H. đã được khẳng định. Người bác sĩ phát hiện chiếc lò sưởi cũ ở trong tình trạng rất tệ, bộ phận đốt bị hỏng, khói thay vì bốc lên ống khói lại đẩy khí carbon monoxide vào khắp các phòng. Ông khuyên bà H. không cho các con ngủ trong nhà nữa, bởi nếu cứ tiếp tục như vậy, có thể đến một buổi sáng chúng sẽ không thức dậy nữa.

Không giống như hầu hết những chuyện ma khác, câu chuyện này kết thúc cực kỳ có hậu. Gia đình bà H nghe lời bác sĩ chuyển ra khỏi căn nhà trong khi chờ sửa lò sưởi. Khi họ quay trở về, thì những "con ma" đều biến mất.

Cả thế giới hầu như đã thay đổi kể từ năm 1912, duy có một thứ thì không. Ngộ độc carbon monoxide vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây ra những cái chết do tai nạn ngộ độc ở Bắc Mỹ. Nguyên nhân là vì khí độc chết người carbon monoxide không mùi không vị, không gây kích thích đường thở. Do đó rất khó để phát hiện ta đang bị ngộ độc khí này, trong khi chỉ với nồng độ 400 phần triệu (ppm) cũng có thể gây tử vong. Thường thì dấu hiệu đầu tiên là người nhiễm độc bị suy nhược cơ thể, mất tỉnh táo nhận thức.

Dần dần những câu chuyện “ma” carbon monoxide được biết đến nhiều hơn. Một ấn phẩm vào năm 2005 của Tạp chí Y học khẩn cấp Hoa Kỳ đăng bài báo mô tả trường hợp một phụ nữ 23 tuổi bị đột quỵ trong khi đang tắm vì nhìn thấy “ma”. Thủ phạm hóa ra là chiếc bình nóng lạnh đun bằng gas mới do lắp đặt không đúng đã thải khí carbon monoxide vào nhà cô gái.

Phan Long / Theo: Báo Tin Tức

NHÌN THEO TRỤC TRUNG TÂM BẮC KINH ĐỂ HIỂU GIẤC MƠ THIÊN HẠ CỦA VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG

Giữa một thủ đô đã quá quen thuộc với những biểu tượng như Tử Cấm Thành, Thiên Đàn hay Vạn Lý Trường Thành, việc Trục trung tâm Bắc Kinh được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào tháng 8/2024 khiến nhiều người bất ngờ. Bởi đó không phải một công trình đơn lẻ, mà là đường trục đã tạo nên cấu trúc và linh hồn của kinh đô Trung Hoa suốt nhiều thế kỷ.


Vài tháng sau thời điểm Bắc Kinh có thêm di sản mới, tôi trở lại thành phố này ngay sau một hành trình qua nước Ý, quốc gia sở hữu số lượng di sản UNESCO nhiều nhất thế giới. Từ Bologna, Siena, Verona đến Rome, mỗi đô thị hiện ra như một lớp trầm tích của thương mại, tôn giáo, nghệ thuật và đời sống công dân châu Âu. Có lẽ chính sự đối lập ấy khiến cảm giác đứng trên đỉnh Cảnh Sơn nhìn xuống Bắc Kinh lần này trở nên đặc biệt hơn.

Từ trên cao, trục thẳng ấy hiện ra gần như vô tận, xuyên qua mái ngói vàng của Tử Cấm Thành, đi qua quảng trường Thiên An Môn rồi tiếp tục xuôi về phương Nam. Bắc Kinh không còn giống một đô thị thông thường. Thành phố ấy hiện ra như một thế giới được sắp đặt theo một trật tự tuyệt đối, nơi quyền lực, nghi lễ và tư tưởng thiên hạ cùng hội tụ trên một đường trục kéo dài xuyên suốt lịch sử.

Tử Cấm Thành nằm trên Trục trung tâm Bắc Kinh - Ảnh: CGTN

Khoảnh khắc ấy khiến tôi nhận ra rằng Đông và Tây từng theo đuổi hai mô hình văn minh rất khác nhau, và sự khác biệt ấy đôi khi bắt đầu ngay từ cách họ kiến tạo kinh đô.

Thành phố được xây như một trật tự vũ trụ

Đi dọc Trục trung tâm Bắc Kinh (Beijing Central Axis), điều dễ nhận ra nhất là cảm giác về sự trật tự gần như tuyệt đối. Từ cổng thành, quảng trường, điện đài cho đến những lớp không gian nối tiếp nhau, tất cả đều được sắp đặt cân xứng với một chủ ý rất rõ ràng. Thành phố này không phát triển theo kiểu mở rộng tự nhiên như nhiều đô thị châu Âu, mà được kiến tạo như một mô hình thu nhỏ của vũ trụ theo tư duy Phương Đông cổ đại.

Trong quan niệm truyền thống của Trung Hoa, hoàng đế là Thiên tử, người nhận thiên mệnh để cai trị thiên hạ. Vì thế, kinh đô không thể được xây dựng tùy hứng. Nó phải phản ánh sự hòa hợp giữa trời, đất và con người. Trục Bắc Nam trở thành xương sống thiêng liêng của toàn bộ đô thành, còn hoàng cung nằm ở vị trí trung tâm như trái tim của thiên hạ. Càng tiến gần khu vực quyền lực, không gian càng trở nên rộng lớn, uy nghiêm và giàu tính nghi lễ.

Tử Cấm Thành vì thế không đơn thuần là nơi ở của hoàng đế. Đó là trung tâm của một trật tự chính trị và tinh thần mà toàn bộ đế chế hướng về. Ngay cả cách bố trí sân điện, cổng thành hay những khoảng trống rộng lớn trong kiến trúc cũng nhằm tạo ra cảm giác về sự ổn định, vĩnh cửu và quyền lực tuyệt đối.

Tháp Trống (Cổ Lâu) và Tháp Chuông (Chung Lâu) nằm ở phía Bắc của Trục trung tâm Bắc Kinh - Ảnh: CGTN

Khi đặt cạnh các đô thị Ý, sự khác biệt ấy càng hiện rõ. Bologna lớn lên cùng truyền thống đại học lâu đời của châu Âu. Verona mang vẻ đẹp mềm mại của đời sống thị dân Trung cổ. Siena phản ánh niềm tự hào của một cộng đồng thành bang, còn Rome giống như một lớp địa tầng lịch sử nơi La Mã cổ đại, Kitô giáo và hiện đại cùng chồng lấp lên nhau.

Nếu kinh đô Phương Đông thường được kiến tạo như trung tâm tuyệt đối của quyền lực và trật tự vũ trụ, thì các đô thị Ý thời Trung cổ lại phát triển trong mạng lưới cạnh tranh giữa các thành bang, giáo quyền và giới quý tộc. Quyền lực ở Phương Tây không luôn tập trung tuyệt đối vào một trung tâm duy nhất, mà thường tồn tại dưới dạng đa cực với những đô thị mang vai trò riêng về tài chính, thương mại, quân sự hay tôn giáo. Chính sự khác biệt trong cách tổ chức quyền lực ấy đã tạo nên hai diện mạo đô thị hoàn toàn khác nhau giữa Bắc Kinh và châu Âu.

Nếu các thành phố Ý phản chiếu thế giới của con người với những biến động lịch sử và đời sống xã hội đa dạng, thì Bắc Kinh lại phản chiếu một trật tự mang tính thiên mệnh, nơi quyền lực được đặt vào trung tâm của toàn bộ không gian sống.

Trong khi các kinh đô Phương Đông thường xoay quanh trục quyền lực hoàng gia, nhiều đô thị châu Âu được định hình bởi những quảng trường và nhà thờ lớn như Duomo di Milano ở Milan, Ý - Ảnh: Nguyễn Hoàng Bảo

Piazza del Campo ở Siena, Ý, nơi tinh thần đô thị Trung cổ châu Âu vẫn hiện diện qua cấu trúc mở, phi đối xứng và đời sống công cộng kéo dài suốt nhiều thế kỷ - Ảnh: Nguyễn Hoàng Bảo

Giấc mơ thiên hạ của Phương Đông

Điều khiến Trục trung tâm Bắc Kinh trở nên đặc biệt không chỉ nằm ở chiều dài gần 8 km hay số lượng công trình lịch sử trải dọc theo nó, mà nằm ở hệ tư tưởng phía sau toàn bộ cấu trúc ấy. Trong tư duy chính trị Phương Đông, đặc biệt dưới ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa, khái niệm “thiên hạ” luôn lớn hơn khái niệm quốc gia theo nghĩa hiện đại. Hoàng đế không chỉ cai trị một lãnh thổ hữu hạn, mà cai trị “mọi nơi dưới bầu trời”.

Vì vậy, thiên hạ cần có một trung tâm, và trung tâm ấy phải mang tính ổn định tuyệt đối. Ngay cả tên gọi “Trung Quốc” cũng phản ánh tư tưởng đó, như một vùng đất trung tâm của văn minh mà từ đó các vòng trật tự được mở rộng dần ra xung quanh. Trục trung tâm Bắc Kinh vì thế không chỉ là quy hoạch đô thị, mà còn là tuyên ngôn về vị trí trung tâm của quyền lực và văn minh Trung Hoa.

Trong quan niệm phong thủy Á Đông, nhiều học giả cũng xem trục Bắc - Nam của Bắc Kinh như “long mạch” của kinh đô, nơi địa thế, quyền lực và thiên mệnh được kết nối trên cùng một đường trục xuyên suốt thành phố. Dù mang nhiều ý nghĩa biểu tượng hơn là khoa học quy hoạch hiện đại, cách nhìn ấy cho thấy người xưa chưa bao giờ xem kinh đô chỉ là nơi để ở, mà là không gian phản chiếu trật tự của cả trời đất.

Vĩnh Định Môn nằm ở phía Nam của Trục trung tâm Bắc Kinh - Ảnh: CGTN

Chính tư duy này đã ảnh hưởng mạnh đến kiến trúc và mô hình kinh đô ở nhiều quốc gia Đông Á. Từ kinh thành Huế của Việt Nam đến Kyoto của Nhật Bản hay Gyeongju của Hàn Quốc, người ta đều thấy dấu vết của tư tưởng trục trung tâm, phong thủy, thiên mệnh và sự hòa hợp giữa quyền lực với tự nhiên. Đó là cách Phương Đông hình dung về một nhà nước lý tưởng, nơi trật tự chính trị phải đồng thời phản ánh trật tự của vũ trụ.

Trong khi đó, châu Âu phong kiến lại phát triển theo một hướng khác. Không gian quyền lực được chia sẻ giữa các lãnh chúa, các thành bang, giới quý tộc và giáo hội, khiến cấu trúc đô thị mang tính hữu cơ và linh hoạt hơn nhiều. Chính sự phân tán ấy đã góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy nghệ thuật, khoa học và tinh thần cá nhân phát triển mạnh mẽ. Nếu Bắc Kinh đại diện cho mô hình “thiên hạ quy tâm”, thì các đô thị Ý lại phản ánh tinh thần đa trung tâm của Phương Tây, nơi quyền lực và văn hóa luôn vận động trong trạng thái phân tán và đối thoại lẫn nhau.

Phố đi bộ Tiền Môn nằm trên Trục trung tâm Bắc Kinh - Ảnh: CGTN

Di sản như tấm gương của một nền văn minh

Điều đáng giá nhất của Trục trung tâm Bắc Kinh nằm ở chỗ nó giúp con người hôm nay hiểu rằng thành phố trong quá khứ chưa bao giờ chỉ là nơi để cư trú. Đối với các nền văn minh lớn, đô thị luôn là nơi phản chiếu triết học, niềm tin và tham vọng của cả một thời đại.

Việc UNESCO công nhận Trục trung tâm Bắc Kinh vì thế không đơn thuần là công nhận một quần thể kiến trúc cổ. Đó còn là sự ghi nhận dành cho một mô hình tư duy từng ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ Đông Á trong suốt nhiều thế kỷ. Giữa thời đại mà nhiều đô thị hiện đại đang dần giống nhau bởi kính, thép và bê tông, những di sản như thế càng trở nên quan trọng vì chúng nhắc con người nhớ rằng kiến trúc từng là cách các nền văn minh đối thoại với vũ trụ và định nghĩa vị trí của mình trong thế giới.

Tác giả đang đứng trước Tử Cấm Thành, trái tim của Trục trung Tâm Bắc Kinh - Ảnh: NVCC

Chiều muộn hôm rời Bắc Kinh, tôi quay lại quảng trường Thiên An Môn lần cuối. Trục trung tâm vẫn kéo dài thẳng tắp trong ánh sáng nhạt cuối ngày, tạo nên cảm giác nghiêm cẩn và tĩnh lặng rất khác với những quảng trường náo nhiệt ở châu Âu.

Bắc Kinh chưa bao giờ chỉ muốn trở thành một kinh đô. Thành phố ấy được tạo dựng như trung tâm của thiên hạ, nơi mọi đường trục cuối cùng đều dẫn về quyền lực, trật tự và giấc mơ vĩnh cửu của một nền văn minh.

Nguyễn Hoàng Bảo / Travellive+



HÀNH HƯƠNG TỬ - TRƯƠNG TIÊN


Hành hương tử - Trương Tiên

Vũ tuyết ca vân,
Nhàn đạm trang quân.
Lam khê thuỷ,
Thâm nhiễm khinh quần.
Tửu hương huân kiểm,
Phấn sắc sinh xuân.
Cánh xảo đàm thoại,
Mỹ tình tính,
Hảo tinh thần.

Giang không vô bạn,
Lăng ba hà xứ.
Nguyệt kiều biên,
Thanh liễu chu môn.
Đoạn chung tàn giốc,
Hựu tống hoàng hôn.
Nại tâm trung sự,
Nhãn trung lệ,
Ý trung nhân.

Người đời thích câu kết trong bài từ này của Trương Tiên nên còn gọi ông là Trương Tam Trung.


行香子 - 張先

舞雪歌雲。
閑淡妝勻。
藍溪水、
深染輕裙。
酒香醺臉,
粉色生春。
更巧談話,
美情性,
好精神。

江空無畔,
凌波何處,
月橋邊、
青柳朱門。
斷鍾殘角,
又送黃昏。
奈心中事,
眼中淚,
意中人。


Hành hương tử
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Mây ca, tuyết múa rộn ràng. 
Thong dong trang điểm, nhẹ nhàng xiêm y. 
Khê Lam nước biếc xanh rì. 
Quần thoa nhẹ bước, người đi phiêu bồng. 
Hương say, thoảng chén rượu nồng. 
Sắc xuân tô điểm, cất công đợi chờ. 
Đôi lời tản mạn vu vơ. 
Mỹ nhân xinh đẹp bây giờ nơi đâu ?. 
Tinh thần, cốt cách hảo cầu !. 
Sông dài hiu quạnh, bạn bầu cùng ai ?. 
Ba Lăng sóng nước ai hoài. 
Bên kia Kiều Nguyệt, liễu phai sắc nồng. 
Chuông chùa đứt đoạn thinh không. 
Lầu son gốc liễu ai trồng thắm xanh. 
Hoàng hôn đã dục xuống nhanh. 
Bao nhiêu tâm sự để dành cho nhau. 
Người đi cho mắt lệ đau. 
Trung nhân hữu ý, mai sau tìm về !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Trương Tiên 張先 (990-1078) tự Tử Dã 子野, người Ngô Hưng, tỉnh Chiết Giang, từng làm quan lang trung. Từ của ông phong cách khá cao, nổi danh ngang với Liễu Vĩnh. Trong Bạch Vũ trai từ thoại, từ của ông được nhận định vừa hàm súc, vừa phát việt. Tác phẩm của ông có An lục tập và An lục từ.

Nguồn: Thi Viện



BIỆT PHỦ PHONG CÁCH LÂU ĐÀI CỦA NGƯỜI THẦY 35 NĂM LÀM PHÒ TÁ CHO KHANG HI

Nhìn từ trên cao, dinh thự giống như con rùa, đầu quay về hướng bắc, đuôi chĩa về hướng nam. Do đó, nơi đây còn có tên là "Quy Thành".

Toàn cảnh Hoàng Thành Tướng Phủ nhìn từ trên cao. Ảnh: China Daily

Tọa lạc tại làng Hoàng Thành, huyện Dương Thành, thành phố Tấn Thành, phía Đông Nam tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc, Hoàng Thành Tướng Phủ là nơi ở trước đây của thầy giáo của Hoàng đế Khang Hi là quan nhất phẩm Trần Đình Kính.

Quần thể nhà ở được xây dựng lần đầu cách đây khoảng 570 năm, sau đó nhiều lần cải tạo và mở rộng từ năm 1501 đến năm 1760 và có diện tích khoảng 36.000m2 với những bức tường dài 1.700m bao quanh, 9 cổng, 19 sân trong và hơn 1.000 căn phòng.

Đây là một trong những tòa nhà dân cư lớn nhất được xây dựng dưới thời nhà Minh (1368-1644) và nhà Thanh (1644-1911). Đây là khu phức hợp cư trú theo phong cách lâu đài hiếm có của nhà Minh và nhà Thanh.

Quần thể này được xây dựng theo phong cách lâu đài. Ảnh: CNR

Tòa nhà bao gồm một phần bên trong và một phần bên ngoài. Phần trước được xây dựng vào thời nhà Minh, trong khi phần sau được xây dựng vào thời nhà Thanh.

Công trình xây theo thế núi, cao ở phía Đông, thấp ở phía Tây, bố trí lỗ châu mai dọc tường thành, một pháo đài lớn ở chính giữa, góc Đông Bắc và Đông Nam xây hai đài quan sát. Nhìn từ trên cao, Hoàng Thành Tướng Phủ giống như con rùa, đầu quay về hướng bắc, đuôi chĩa về hướng nam. Do đó, nơi đây còn có tên là "Quy Thành".

Dinh thự khổng lồ này có đến 1.000 phòng. Ảnh: China Daily

Kiến trúc nổi bật trong nội thành là Hà Sơn Lâu, xây năm 1632. Tòa tháp nằm trên mặt bằng hình chữ nhật, dài 15m, rộng 10m, cao 23m, gồm 7 tầng trong đó có một tầng hầm. Tháp có 2 lớp cửa, cửa ngoài xây bằng đá chống cháy, cửa trong bằng gỗ có chốt chặn. Giữa các tầng có kho trữ nhu yếu phẩm, tầng hầm có giếng, cối xay. Nóc lầu có lỗ châu mai quan sát bên ngoài và bắn tên phòng thủ.

Ngoại thành, được gọi là Trung Đạo Trang. Trong khu vực này có một cổng vòm bằng đá lớn dựng bằng 4 cột, ba cửa, ba tầng, hoàn thiện năm Khang Hi thứ 43 (1704), thời điểm Trần Đình Kính trở thành quan nhất phẩm.

Công trình xây theo thế núi, cao ở phía Đông, thấp ở phía Tây. Ảnh: China Daily

Trần Đình Kính là vị quan xuất thân trong gia đình có truyền thống học vấn cao. Ông nhập cung từ năm 20 tuổi làm thứ cát sĩ (nghiên cứu sinh) trong Hàn Lâm Viện - Cơ quan học thuật, nơi các học sĩ soạn thảo văn kiện triều đình như chiếu, chỉ, sắc, biên soạn quốc sử, nghiên cứu, giảng dạy kinh truyện, phụ trách khoa cử...

Năm 1676, ông vào nội các và thăng tiến từ quan tam phẩm lên quan nhất phẩm. Trần Đình Kính thông qua các câu chuyện lịch sử, hướng dẫn nhà vua tư tưởng trị quốc "tu thân", "đắc nhân", "lấy thiên hạ làm nhà".

Khuôn viên rộng lớn trong quần thể. Ảnh: CNR

Theo trang CNR, Trần Đình Kính theo vua Khang Hi phò tá tận 35 năm và được nhà vua hết mực kính trọng. Khang Hi từng khen ngợi Trần Đình Kính "mỗi ngày giảng giải, giúp trẫm hiểu ra đạo lý, vô cùng bổ ích".

An Khánh / Theo: realtimes



VÌ SAO TẦN THỦY HOÀNG PHÁI TỪ PHÚC ĐI TÌM THUỐC TRƯỜNG SINH BẤT LÃO?

Truyền thuyết Từ Phúc vượt biển khởi nguyên từ việc Tần Thủy Hoàng cầu tìm thuốc trường sinh bất tử, sai phương sĩ Từ Phúc xuất hải cầu tiên, về sau trở thành câu chuyện ông sang tận Nhật Bản. Vậy rốt cuộc Tần Thủy Hoàng vì sao lại khát cầu thuốc trường sinh? Nguồn gốc bắt đầu từ một việc kỳ lạ.

Để có được thuốc trường sinh bất lão, Tần Thủy Hoàng đã cử nhà giả kim Từ Phúc đi tìm kiếm những vị tiên. (Nguồn ảnh: Hình minh họa vẽ tay của Winnie Wang/China View)

Một cây cỏ bất tử có thể cứu sống hàng ngàn người, Tần Thủy Hoàng đã phái Từ Phúc vượt biển sang phương Đông để tìm kiếm

Khi ấy ở Tây Vực nước Đại Uyển có rất nhiều người chết oan uổng bất ngờ, thi thể ngổn ngang trên đường. Có loài chim tha một loại cỏ phủ lên mặt người chết, tức thì họ sống lại. Quan lại tâu lên Tần Thủy Hoàng, nhà vua liền sai người đem loại cỏ ấy hỏi đạo sĩ ẩn cư là Quỷ Cốc tiên sinh.

Quỷ Cốc đáp: Đó là bất tử thảo sinh trưởng nơi ruộng ngọc ở Tổ Châu giữa Đông Hải, còn gọi là Dưỡng Thần Chi, lá tựa như cỏ bồn, một cây có thể cứu sống cả ngàn người.

Nghe vậy, Tần Thủy Hoàng lập tức lệnh cho Từ Phúc mang theo ba nghìn đồng nam, ba nghìn đồng nữ, lên thuyền vượt biển đi tìm.

Ghi chép trong Sử Ký

《Sử Ký》là bộ sách sớm nhất ghi lại chuyện Từ Phúc vượt biển. Sử gia Tư Mã Thiên chỉ dùng vài câu ngắn gọn khái quát cả cuộc đời ông, để lại cho hậu thế một ẩn đố nghìn năm chưa giải.

Trong 《Tần Thủy Hoàng bản kỷ》chép rằng, năm thứ 28 (219 TCN):

“Người đất Tề là Từ Thị dâng tấu, nói trong biển có ba thần sơn: Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu, có tiên nhân cư ngụ. Xin cho trai giới, đem đồng nam đồng nữ đi tìm. Vậy nên Tần Thủy Hoàng phái Từ Thị dẫn hàng nghìn đồng nam đồng nữ ra biển cầu tiên.”

Nhưng do cơ duyên chưa đến, chuyến đi ấy Từ Phúc không tìm được tiên sơn.

Trong văn có ghi “Từ Thị”, tức chính là Từ Phúc mà đời sau quen gọi. Ông người đất Lang Nha, nước Tề (nay là Cán Nguyên, Giang Tô), phương sĩ nổi tiếng đời Tần, học vấn uyên thâm, am tường y học, thiên văn, hàng hải; lại nhân từ giúp dân, được kính trọng nơi ven biển. Tương truyền Từ Phúc là đệ tử cuối cùng của Quỷ Cốc tử, từng học bế cốc, khí công, tu tiên, lại thông cả võ nghệ. Có thuyết nói ông xuất núi vào khoảng Tần Thủy Hoàng mới lên ngôi, Lý Tư làm tể tướng.

Từ Phúc dong buồm về phía đông để tìm kiếm hòn đảo bất tử Bồng Lai. (Nguồn ảnh: Hình minh họa vẽ tay của Winnie Wang/China View)

Lần xuất hải thứ hai

Năm thứ 37 (210 TCN), Tần Thủy Hoàng Đông tuần tới Lang Nha. Từ Phúc tâu rằng: “Thuốc tiên Bồng Lai có thể cầu được, nhưng trong biển có cá kình lớn, nên chẳng thể lấy.” Ông xin tăng phái cung thủ để đối phó cá kình. Vua thuận theo, sai bắn chết một con cá lớn. Sau đó, Từ Phúc lại dẫn “ba nghìn đồng nam, ba nghìn đồng nữ”, cùng “bách công” và cung nỏ, đem theo “ngũ cốc giống” ra khơi.

Nhưng Tần Thủy Hoàng chưa kịp chờ Từ Phúc trở về thì đã băng hà. 《Sử Ký》chỉ chép việc Từ Phúc ra biển, mà không hề ghi ông sang Nhật Bản hay hậu sự ra sao. Vậy Từ Phúc rốt cuộc đi đâu?

Từ Phúc Đông độ tìm tiên đảo Bồng Lai

Sau khi Từ Phúc vượt biển, có văn hiến tiếp tục chép.

Trong 《Hoài Nam Hành Sơn liệt truyện》 ghi: “Từ Phúc gặp bình nguyên quảng trạch, dừng lại, không về nữa.” Khi ấy chưa rõ nơi ấy ở đâu. Mãi đến thời Hậu Chu (951–960), tăng nhân Nghĩa Sở chùa Khai Nguyên (Tế Châu, Sơn Đông) soạn 《Nghĩa Sở lục thiếp》 mới lần đầu hé lộ:

“Nhật Bản quốc, cũng gọi Oa quốc, ở giữa Đông Hải. Đời Tần, Từ Phúc đem năm trăm đồng nam, năm trăm đồng nữ đến dừng ở quốc này. Người nơi đó nay dáng mạo như người Trường An… Lại về phía đông bắc hơn nghìn dặm có núi tên Phú Sĩ, cũng gọi Bồng Lai… Từ Phúc dừng ở đây, gọi là Bồng Lai, con cháu đến nay đều xưng họ Tần.”

Đây là lần đầu tiên trong cổ tịch Trung Hoa liên hệ Từ Phúc vượt biển với Nhật Bản.

Có học giả khảo chứng rằng ghi chép ấy của Nghĩa Sở vốn do nghe truyền từ cao tăng Nhật Bản là Khoan Phụ (927 tới Trung Hoa, pháp hiệu Hoằng Thuận đại sư).

Từ đó, Tống đại Âu Dương Tu trong bài 《Nhật Bản đao ca》 lại viết:

“Tiên tổ Từ Phúc lừa dân Tần, hái thuốc lâu ngày, đồng tử hóa già. Bách công ngũ chủng cùng chung cư, đến nay khí cụ đều tinh xảo.”

Lời thơ một lần nữa khẳng định thuyết Từ Phúc sang Nhật, khiến câu chuyện được xác lập.

Nhật Bản sớm nhất ghi “Từ Phúc vượt biển cầu tiên” là 《Kim Tích Vật Ngữ》 (thế kỷ 11, do vương công Nguyên Long Quốc biên soạn). Nhưng sách này chưa nói Từ Phúc đến Nhật. Mãi đến năm 1339, Nam triều đại thần Bắc Phác Thân Phòng soạn 《Thần Hoàng chính thống ký》 mới minh xác: “Năm 45 Ất Mão, Tần Thủy Hoàng đăng vị. Vua vì cầu tiên, tìm thuốc trường sinh ở Nhật Bản. Nhật Bản cầu di thư của ngũ đế tam vương, vua liền dâng cả.” Đây là lần đầu Nhật Bản chính thức thừa nhận truyền thuyết Từ Phúc.

Từ Phúc trong ký ức Nhật Bản

Tại tỉnh Tát Gia (Saga), đền Kim Lập thờ ba vị thần: Thần ngũ cốc, Thủy thần, và Từ Phúc – với Từ Phúc là chính thần. Nơi này còn lưu giữ bức “Từ Phúc độ hải duyên khởi đồ” trên lụa, là trọng điểm văn vật của thành phố Saga. Trong đó có cảnh Từ Phúc lên bờ, nên truyền rằng nơi ấy chính là chỗ ông đặt chân.

Từ Phúc về già ẩn cư núi Kim Lập, tự hiệu “Bắc Sơn chi ông”. Một đêm mộng thấy suối phun trong vắt, hôm sau quả nhiên đào được suối khoáng, nước tinh khiết giàu khoáng chất, chữa bệnh ngoài da và bỏng rất hiệu nghiệm, được gọi “Hạc Linh chi tuyền”, nay là danh thắng Nhật Bản. Ở thị trấn Chư Phú, giáp ranh Saga và Phúc Cương, còn có bia đá “Từ Phúc đăng lục địa”, bên cạnh có “Từ Phúc tẩy thủ chi tỉnh”. Ngoài ra nhiều nơi khác ở Nhật cũng có miếu thờ Từ Phúc.

Tranh khắc họa thuyền buồm của Từ Phúc. (Nguồn ảnh: Wikipedia)

Truyền thuyết Từ Phúc thành tiên ở hải ngoại

Theo 《Liệt tiên toàn truyện》 và 《Thái bình quảng ký》, thời Đường Khai Nguyên có một thư sinh mắc quái bệnh: nửa thân teo tóp đen sì, ngự y cũng không đoán ra. Nghe nói ngoài biển có thần tiên, chàng quyết đi tìm, đem theo một người hầu, xuất phát từ Đăng Châu.

Sau hơn mười ngày lênh đênh, họ tới một đảo hoang, thấy hàng trăm người đang bái lạy một vị lão ông tóc bạc ngồi trên sàng lớn. Hỏi ra mới biết đó chính là Từ Phúc.

Khi dân chúng tản đi, thư sinh đến yết kiến, thưa bệnh tình. Từ Phúc bảo: “Ngươi mắc bệnh tất tử, nhưng vẫn có thể cứu.” Ông cho một bát cơm, thư sinh ăn vài miếng mà như đã ăn mấy bát, no căng. Lại cho uống rượu trong chiếc chén nhỏ, mới nhấp đã say. Hôm sau, Từ Phúc cho vài viên hắc dược, chàng uống vào liền tả ra mấy thăng nước đen, bệnh liền khỏi. Thư sinh xin ở lại phụng sự.

Từ Phúc bảo: “Ngươi vốn có quan vị, chẳng hợp trú nơi này. Lát nữa sẽ có gió đông đưa ngươi về.” Ông lại trao một túi thuốc chữa bách bệnh, chỉ một muỗng nhỏ là khỏi. Quả nhiên thư sinh trở về Đăng Châu, dâng thuốc vào cung, Đường Huyền Tông cho bệnh nhân dùng, ai uống cũng lành.

Trong 《Thái bình quảng ký》 còn chép: Khi Thẩm Hy đất Thục đắc đạo thành tiên, Thái Thượng Lão Quân phái Từ Phúc làm sứ giả, ngồi xe bạch hổ, cùng Độ Thế quân Tư Mã Sinh cưỡi xe rồng, Thị lang Bạc Diên Chi cưỡi xe hươu trắng, xuống nhân gian tiếp Thẩm Hy. Khi ấy mọi người mới biết Từ Phúc đã đắc đạo thành tiên.

Khai Tâm / Theo: vandieuhay

Sunday, May 31, 2026

CHUYỆN MA CÓ THẬT TỪ BÁC SĨ MẮT CỦA 8 ĐỜI TỔNG THỐNG MỸ - KỲ 1

Ngay khi chuyển đến ngôi nhà cổ, các thành viên trong gia đình đều cảm nhận rõ có ai đó, hay thứ gì đó theo sát họ, như đang cố tóm lấy họ. Buổi đêm họ thường bị đánh thức bởi tiếng chân lên cầu thang, tiếng đồ gỗ bị kéo kin kít trên sàn... Đó là câu chuyện "ma" có thật từ bệnh nhân của bác sĩ danh tiếng Wilmer.

Bác sĩ nhãn khoa William Wilmer.

William Wilmer là một trong những bác sĩ mắt nổi tiếng nhất ở thủ đô Washington, Mỹ vào đầu những năm 1900. Trong số các bệnh nhân của ông có 8 vị Tổng thống Mỹ, từ William McKinley cho đến Franklin Roosevelt. Ông cũng từng chữa mắt cho nhà hàng không nổi tiếng Charles Lindberg, trùm báo chí New York Joseph Pulitzer và vô số những nhân vật danh tiếng khác. Nhưng có lẽ điều khiến ông nổi tiếng hơn cả là câu chuyện mà ông tiết lộ với tạp chí Nhãn khoa Hoa Kỳ vào năm 1921, sau này được in thành một cuốn truyện ma.

Đó là câu chuyện có thật của một bệnh nhân mà bác sĩ Wilmer đã điều trị. Khi kể lại câu chuyện này, ông chỉ nhắc tới nhân vật chính với cái tên “Mrs. H” (Bà H) để bảo vệ quyền riêng tư của người đó.

Chuyện xảy ra vào năm 1912 rất nhanh sau khi “bà H” và gia đình bắt đầu chuyển tới một ngôi nhà cổ rộng lớn chưa có người ở trong suốt 10 năm. Ngôi nhà không có điện, chỉ được thắp sáng bằng đèn đốt và sưởi ấm bằng một lò sưởi cũ kỹ đặt dưới hầm.

NGÔI NHÀ CỔ VÀ NHỮNG NGƯỜI... KHÔNG TỒN TẠI

Ngôi nhà cổ u sầu đã nhanh chóng phát tỏa ảnh hưởng kỳ lạ lên các cư dân mới của nó.

Ban đầu, bà H. nhận thấy sự yên tĩnh chế ngự hoàn toàn nơi này. Phần lớn sàn nhà được phủ một lớp thảm dày, gần như hút mọi âm thanh của những người phục vụ trong gia đình. Nhưng không được bao lâu, bà bắt đầu bị làm phiền bởi tiếng chân ầm ĩ của những người… không có mặt tại đó, hoặc ít nhất là những người đang tàng hình trước con mắt bà.

“Một buổi sáng, tôi nghe thấy tiếng bước chân trong căn phòng ngay trên đầu”, bà H. kể lại. “Tôi chạy vội lên gác, nhưng thật kinh ngạc, căn phòng trống không. Tôi đi sang phòng kế bên rồi tất cả các phòng trên tầng đó, rồi lên cả tầng trên nữa, nhưng tuyệt nhiên không có ai cả”.

Ngôi nhà cổ được xây từ thế kỷ 18. Ảnh minh họa

Quyền năng kỳ lạ đó của ngôi nhà dường như lớn dần theo thời gian. Chẳng bao lâu cả gia đình bắt đầu cảm nhận những cơn đau đầu và kiệt sức. Mỗi khi họ ngả lưng xuống giường mong nghỉ ngơi lấy lại sức lực thì những cơn đau đầu và tình trạng mệt mỏi càng nặng nề hơn. Tất cả bọn trẻ cũng đều bị ảnh hưởng. Trông chúng nhợt nhạt, thường ốm mệt, ăn gì cũng không ngon.

Không nơi nào trong ngôi nhà cho các chủ nhân mới của nó một chỗ ẩn náu khỏi những thứ vô hình đang xiết lấy họ: Khi ngồi trong phòng ăn, ông H. cảm giác có sự hiện diện vô hình của ai đó đứng ngay sau, ông xoay ghế nhìn ra sảnh để xem có ai đang lén đùa giỡn, nhưng không một bóng người. Bọn trẻ thì không còn thích thú với phòng chơi đùa của chúng trên tầng thượng của ngôi nhà. Thay vì chơi cưỡi ngựa hay các món đồ chơi khác ở phòng đó, chúng xin được chơi ngay trong phòng ngủ.

Đến tháng 12, bà H. và các con thấy khó chịu đến mức bà quyết định đưa cả nhà đi nghỉ ít ngày, ông H. ở lại nhà.

Kỳ nghỉ thật hữu ích với bà và bọn trẻ, nhưng ông H. tội nghiệp ở nhà thì khổ sở hơn bao giờ hết. Những âm thanh lạ lùng và không thể lý giải nổi liên tục quấy phá giấc ngủ đêm, khiến ông hầu như không nghỉ ngơi được phút nào.

Ảnh minh họa

“Mỗi đêm vài lần ông ấy bị đánh thức bởi tiếng chuông cửa, nhưng khi ra cả cửa trước lẫn cửa sau, thì chẳng thấy ai cả. Có đêm ông bật tỉnh khi nghe thấy tiếng xe cứu hỏa hụ còi trên phố và dừng gần nhà. Ông ấy lao đến cửa sổ nhưng nhìn ra thì đường phố vẫn hoàn toàn yên ắng, không bóng người”, bà H kể.

Đầu tháng 1 năm sau đó, bà H và các con trở về, nhưng họ lại đối diện với những phiền toái kỳ lạ trong nhà mình. Bọn trẻ thường xuyên bị lạnh dù cửa đóng và lò sưởi bật. Các triệu chứng mà chúng gánh chịu dường như chỉ giảm bớt khi bọn trẻ tới trường, rồi lại bị quấy rầy khi chúng về nhà.

Giống như chồng, bà H. cũng thường bị đánh thức giữa đêm bởi những âm thanh lạ - tiếng cửa cót két, tiếng nồi chảo quăng loảng xoảng trong bếp, tiếng bước chân nặng chịch lên cầu thang ngay sau bức tường phòng ngủ của bà, trong khi chẳng có cầu thang nào ở đó.

Những người giúp việc gia đình cũng không thoát khỏi bầu không khí ma quái của ngôi nhà. Ban ngày họ thường cảm thấy có ai đó, hay thứ gì đó theo ngay sau, như đang cố với hoặc tóm lấy họ; buổi đêm thì bị đánh thức bởi tiếng đồ sứ va đập, tiếng chân lên cầu thang, tiếng đồ gỗ bị kéo kin kít trên sàn hay tiếng sập cửa.

Xem Kỳ cuối: RỒI "THỨ ĐÓ" XUẤT HIỆN

Phan Long / Theo: Báo Tin Tức

THẨM VIÊN - LỤC DU


Thẩm viên - Lục Du

Mộng đoạn hương tiêu tứ thập niên,
Thẩm viên liễu lão bất xuy miên.
Thử thân hành tác Kê sơn thổ,
Do điếu di tung nhất huyễn nhiên.


沈園 - 陸遊 

夢斷香消四十年
沈園柳老不吹綿
此身行作稽山土
猶吊遺蹤一泫然


Vườn Thẩm
(Dịch thơ: mailang)

Liễu già, tơ chẳng buông dây,
Bốn mươi năm mộng, hương bay còn gì!
Núi Kê thân gửi có khi,
Cũng còn nhỏ lệ khóc vì dấu xưa.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lục Du 陸遊 (1125-1209) tự Vụ Quan 務観, hiệu Phóng Ông 放翁, người Sơn Âm, Việt Châu (nay thuộc Nhạn Môn đạo, tỉnh Sơn Tây), thời Nam Tống. Ông đã trải các chức quan Tri châu, Tri phủ, Quốc sử biên tu, và là một vị thi nhân ái quốc. Sống vào thời kỳ hai hai triều Tống - Kim đánh nhau, Lục Du trở thành một người rất trăn trở vì mất nước. Khi đó người Nữ Chân (vương triều Kim) đã đánh chiếm xuống phía nam, đất nước chia năm xẻ bảy, dân tình ly tán loạn lạc. Ông đã từng vào đất Nam Trịnh (Tứ Xuyên hiện nay) theo phong trào chống Kim, đã từng mặc giáp cưỡi ngựa vượt qua sông Vị cùng những toán kỵ mã yêu nước, ban đêm đột kích quân Kim nhiều lần. Ông có Kiếm nam từ chuyên tập lưu truyền đến nay.

Nhưng thời tuổi trẻ ông đã bị một bi kịch về chuyện hôn phối. Năm 20 tuổi ông kết hôn với người em cô cậu tên Đường Uyển 唐婉. Mẹ Lục Du không thích Đường Uyển và cũng không tán thành cuộc hôn nhân này, đã cưỡng ép chia cách họ. Mười năm sau hai người gặp lại nhau ở Thẩm Viên, Lục Du viết lên tường một bài từ rất bi phẫn là Thoa đầu phụng 釵頭鳳. Không lâu sau, Đường Uyển chết, Lục Du vẫn còn lưu luyến mãi, viết bài thơ tình nổi tiếng Thẩm viên 沈園 được truyền tụng đến nay.

Nguồn: Thi Viện