Tuesday, January 13, 2026

EUROVISION JUNIOR: LOU DELEUZE ĐOẠT GIẢI NHẤT NHỜ GIAI ĐIỆU TRÀN ĐẦY HY VỌNG

Ra đời cách đây 70 năm, Eurovision là cuộc thi hát truyền hình rất nổi tiếng tại châu Âu. Kể từ năm 2003, giải này còn tổ chức một phiên bản dành cho thiếu nhi gọi là Eurovision Junior. Hồi trung tuần tháng 12 vừa qua, cô ca sĩ trẻ tuổi Lou Deleuze đã đem giải thưởng này về cho nước Pháp với nhạc phẩm "Ce Monde" (Thế giới này).

Ca sĩ Lou Deleuze, 11 tuổi, với bài hát Ce Monde, đoạt giải quán quân Eurovision cho thiếu nhi năm 2025. Ảnh: instagram

Được tổ chức hôm 13/12 vừa qua tại thủ đô Gruzia, Lou Deleuze đã giành lấy hạng đầu trong số 18 thí sinh đến từ khắp châu Âu. Đây là lần thứ tư nước Pháp đoạt giải nhất kể từ khi cuộc thi hát truyền hình này thành lập vào năm 2003 một phiên bản dành cho các giọng ca trẻ từ 9 đến 14 tuổi.

Năm nay 11 tuổi, Lou Deleuze sinh trưởng tại vùng ngoại ô Paris. Từ thời còn nhỏ, Lou đã có nhiều năng khiếu bẩm sinh. Thật vậy, Lou Deleuze lớn lên trong một môi trườnng nghệ thuật, thân phụ cô là một thợ chuyên làm đàn. Ông từng chế tạo một chiếc đàn piano cho con gái và Lou được gia đình cho học nhạc từ năm 7 tuổi. Cách đây 3 năm, Lou thu hút sự chú ý trên mạng khi phát hành bản cover nhạc phẩm "Papaoutai" của danh ca người Bỉ Stromae.

Giải Eurovision Junior không phải là cuộc thi hát truyền hình đầu tiên mà Lou Deleuze tham gia. Vào năm 2024, Lou từng lọt vào vòng bán kết chương trình tuyển lựa các tài năng mới của nước Pháp (France's Got Talent).


Vào lúc bấy giờ, Lou đã chinh phục ban giám khảo, trong đó có nữ danh ca Hélène Ségara, khi trình bày lại nhạc phẩm "Rêver" của Mylène Farmer. Tuy không đoạt giải nhất, nhưng cuộc thi này đã giúp cho cô bé Lou cảm thấy tự tin hơn, tự nhủ rằng thời cơ của mình có ngày sẽ đến.

Mặc dù còn nhỏ tuổi, nhưng Lou Deleuze ngoài tài nghệ ca hát, còn có thêm nhiều kinh nghiệm phim trường. Cũng như thần tượng Elsa của những năm 1980, cô bé đã tham gia nhiều bộ phim truyện điện ảnh và truyền hình.

Trong cuộc thi hát Eurovision Junior vừa qua, Lou Deleuze đã trình bày nhạc phẩm "Ce monde" (Thế giới này) do ca sĩ Pauline Thisse voi nghệ danh là Linh sáng tác. Dưới ánh đèn sân khấu Lou xuất hiện với chiếc mũ béret nho nhỏ và chiếc váy xếp xinh xắn cùng tông màu đỏ, lối diễn đạt của cô bé mang đậm dấu ấn của trường phái hiện thực lãng mạn trong dòng nhạc Pháp, giọng hát mạnh mẽ với những đoạn cảm hứng cao trào, theo phong cách của Édith Piaf và gần đây hơn nữa là Barbara Pravi.


Giới yêu nhạc có thể nhận thấy nhiều nét gần giống với nhạc phẩm "Voilà" của Barbara Pravi, trong cách dùng nhịp valse trong điệp khúc cũng như lối sáng tác ở cung La thứ, có khả năng diễn tả "nỗi buồn" sâu sắc tha thiết hơn bất cứ cung thứ nào khác.

Trái với những nhịp điệu nhạc pop trẻ trung vui nhộn, thường phản ánh thế giới tuổi thơ, Lou Deleuze qua nhạc phẩm "Ce monde" muốn gửi một thông điệp tràn đầy yêu thương. Một dạo khúc đầy cảm xúc tựa như một lời nhắn nhủ gửi đến tuổi trẻ thời nay, nói lên khao khát đóng góp phần mình dù thật nhỏ nhoi cách mấy, để có thể hy vọng một ngày, nhìn thấy thế giới này thực sự đổi thay.

Phải chăng vì nỗi bất hạnh
Thế giới này bỗng lạnh căm
Con tim nhen nhúm âm thầm
Trời xanh ấm lại hy vọng
Hãy cho ta một ngày mai
Dù đời chẳng còn tương lai
Trong tay nụ hồng muôn sắc
Ngàn hương thơm ngát hoa nhài
Cứ cho ta tình hoang dại
Dù tình yêu đã nhạt phai
Lửa nào ta sẽ thắp lại
Cho dù ướt đẫm sương mai
Chân trời u ám tương lai
Không thuộc về bất cứ ai
Thế giới là của chúng ta
Hãy nhớ làm cho tươi mãi

Tuấn Thảo
Theo: RFI Tiếng Việt (10/01/2026)



3 CON CÁ CỦA TRANG TỬ, CHỈ RA 3 TẦNG CẢNH GIỚI ĐỜI NGƯỜI

"Chúng ta hiểu nhiều đạo lý như vậy, vì sao vẫn chẳng thể sống sao cho tốt? ". Đó là bởi lẽ cuộc đời của mỗi một người là một ví dụ, không phải mỗi một con cá đều sống trong cùng một con sông. Mọi hạnh phúc đều không thể copy, cơ thể có thể gánh xiềng xích để khiêu vũ, nhưng tâm hồn nhất định phải cài lên đôi cánh tự do.


Trang Tử có thể coi là nhà triết học yêu cá nhất.

Ông đem trí tuệ đời người viết vào trong 3 câu chuyện con cá.

Hiểu ra được, đời người tự nhiên sẽ thông.

Con cá thứ nhất, con cá Bắc Minh

Trang Tử trong "Tiêu dao du" đã viết về con cá đầu tiên, Bắc Minh có một con cá tên cá Côn, có thể hóa thành chim đại bàng, ngao du trong 9 ngày.

Nó sẽ cưỡi gió tháng 6 để bay tới Nam Minh. Nhưng Trang Tử nói rằng nó không tự do, một khi không có gió, nó ngay lập tức sẽ bị rơi xuống.

Khi đó có một người tên Liệt Tử, người này có thể cưỡi gió bay lên trời, giống như thần tiên vậy. Nhưng nếu không có gió, ông cũng sẽ lại buồn rầu. Đứng trước miệng gió, ai cũng có thể bay lên.

Kiểu tự do này phải dựa vào ngoại vật. Phải dựa vào tiền bạc, danh vọng mới có thể lấp đầy sự trống rỗng bên trong.

Trong cuốn "Quản Tử" có viết: "Quân tử sử vật, bất vi vật sử", con người một khi đã bị vất chất chi phối, tự nhiên sẽ mất đi sự đơn thuần vốn có.

Đào Tiềm, một trong những nhà thơ lớn của Trung Quốc thời nhà Tấn và Lưu Tống thà về núi Nam trồng đậu, cuốc đất trồng cây nhưng tự do tự tại, gấm vóc lụa là nơi quan trường dù có đắt đỏ tới đâu cũng không bằng một ly rượu hoa cúc đạm bạc trong tay.

Trong trí tuệ của Trang Tử, "bất vi vật sở lụy" (không để ngoại cảnh chi phối) là tầng cảnh giới thứ nhất của đời người.

Từng nghe ra một câu chuyện như này, có một người ngồi bên sông câu cá, mỗi lần câu ông đều sẽ ước chừng, con nào hơi to một tí thôi, ông ngay lập tức sẽ thả về lại sông. Những người khác thấy vậy đều hỏi tại sao.

Ông nói: "Cái chảo nhà tôi chỉ to có chừng này, cá to quá không cho được vào chảo."

Theo đuổi vật chất cần phải có mức độ , "đủ dùng là được" là một thái độ sống vô cùng đáng để theo đuổi.


Con cá thứ hai, con cá Hào Lương

Trang Tử trong cuốn "Trang Tử - Thu Thủy" có nhắc tới con cá thứ hai, gọi là cá thốc, là cá sông Hào.

Có một hôm, Trang Tử và Huệ Tử đi qua cầu sông Hào, Trang Tử nói: "Ông xem, những con cá thốc này tung tăng bơi lội vui vẻ biết bao."

Huệ Tử lại nói: "Ông nào có phải là cá, sao biết chúng vui hay không?"

Trang Tử lập tức đáp lại: "Ông cũng đâu phải là tôi, sao biết tôi không biết cá có vui hay không?"

Cuộc đời giống như diễn kịch, chúng ta không ở trong vở kịch của người khác, thì làm sao có thể biết được hỉ nộ ái ố của họ.

Niềm vui của cá là có thể bơi lội tung tăng nơi sống suối, biển cả, niềm vui của con người là có thể sinh trưởng tự nhiên trong nhân gian. Một người vì người khác mà thay đổi bản thân mình, chắc chắn sẽ không bao giờ vui vẻ...

Bi kịch lớn nhất của đời người đó là: rõ ràng khác người, nhưng lại hi vọng trở nên giống người khác.

Những niềm vui thực sự trước giờ đều tới từ chính bản thân, chứ không phải là ở trong mắt người khác. Thay vì nỗ lực vắt óc sống để trở thành người mà người khác thích, hãy nỗ lực đi sống đúng với bộ dạng mà mình mong muốn.

Trong trí tuệ của Trang Tử, tầng cảnh giới thứ hai của đời người đó là: bất vi biệt nhân đích bình giá sở lụy (đừng bao giờ bị chi phối bởi đánh giá của người khác).

Niềm vui lớn nhất đời người đó là được lựa chọn phương thức sống mà mình mong muốn nhất. Đừng vì ý kiến của người khác mà từ bỏ chính cái tôi của mình.

Cũng đừng vì cảm thấy niềm vui của bạn vô dụng mà từ bỏ nó. Hạt giống vui vẻ, sớm muộn gì cũng sẽ ra hoa, khiến cuộc sống của bạn trở nên ngát hương hơn.


Con cá thứ ba, con cá Giang Hồ

Trang Tử trong cuốn "Đại tông sư" có nhắc tới con cá thứ 3, gọi là cá diếc.

Một cái hồ nhỏ đã cạn nước, có hai chú cá nhỏ nằm khô khốc trên cạn, hai chú cố gắng hô hấp cho nhau, cố gắng làm ướt cho nhau, cố gắng duy trì sự sống cho nhau.

Trang Tử nói so việc cố gắng cho qua ngày như vậy, chi bằng tha cho nhau, đi đến nơi biển rộng sông dài sống một cuộc sống mới.

Thiên mệnh vô thường, đời người giống như sợi bông trong gió. Không biết ngày nào nước của bạn sẽ cạn, người ở bên bạn rồi cũng sẽ rời bạn mà đi.

Người với người đều là những du khách đồng hành với nhau, nhưng suy cho cùng, cũng sẽ chỉ có mình mới có thể hoàn thành được lịch trình của mình, bạn cần phải trở thành chủ nhân của sinh mệnh của chính mình, đừng trở thành sự phụ thuộc của người khác.

Đỗ Phủ và Lý Bạch, hai người từng kết đôi cùng nhau xông pha giang hồ. Đỗ Phủ rất hâm mộ thiên phú và tài hoa của Lý Bạch, cho rằng cả hai sẽ đồng hành với nhau cả đời, nhưng "tâm tôi hướng sơn, tâm bạn hướng thủy", cuối cùng, cả hai vẫn phải vẫy tay chào nhau tạm biệt.

Đỗ Phủ không thể trở thành Lý Bạch, nhưng vậy thì cũng có sao? Không viết ra được "nhân sinh đắc ý tu tận hoan, mạc sử kim tôn không đối nguyệt", vậy thì viết "tả quốc phá sơn hà tại, thành xuân thảo mộc thâm".

Trong trí tuệ của Trang Tử, tầng cảnh giới thứ ba của đời người chính là: tìm thấy chính mình, tìm thấy con đường của chính mình.

Có lẽ sẽ cảm thấy rất cô đơn, nhưng cô đơn chính là bắt đầu của một cuộc sống viên mãn, không thể hòa hợp được với chính mình, bạn sẽ vĩnh viễn không thể hòa hợp được với người khác.

Chúng ta có thể đồng hành đi khắp giang hồ, nhưng lại chỉ có thể tự mình đi tới chân trời và góc bể.


Hàn Tín từng nói: "Chúng ta hiểu nhiều đạo lý như vậy, vì sao vẫn chẳng thể sống sao cho tốt? "

Đó là bởi lẽ cuộc đời của mỗi một người là một ví dụ, không phải mỗi một con cá đều sống trong cùng một con sông.

Mọi hạnh phúc đều không thể copy, người sống thanh thản, nhẹ nhõm đều sẽ hiểu được 3 tầng trí tuệ của Trang Tử, suy cho cùng, chỉ đúc kết lại trong vẻn vẹn 12 chữ: "bất trệ vu vật, bất khốn vu tâm, bất loạn vu nhân".

Cơ thể có thể gánh xiềng xích để khiêu vũ, nhưng tâm hồn nhất định phải cài lên đôi cánh tự do.

Như Quỳnh / Theo: Trí Thức Trẻ

NHỮNG QUY TẮC ĂN UỐNG THÚ VỊ CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Nghệ thuật ẩm thực không chỉ là kĩ thuật nấu khéo léo hay món ngon vật lạ mà còn ở những quy tắc ăn uống khác biệt ở mỗi quốc gia, mỗi nền văn hóa. Dưới đây là những tips giúp các tín đồ du lịch tránh khỏi phút bối rối không đáng có khi tham gia vào một bữa tiệc ở một vài quốc gia trên thế giới.

Chile: Ở Chile, bạn phải sử dụng dao nĩa một cách thành thạo vì ăn bằng tay bị coi là một hành vi thiếu tinh tế và không tôn trọng người khác.

Bồ Đào Nha: Khi ăn ở đất nước này, bạn đừng bao giờ hỏi xin muối hay tiêu nến chúng chưa có trên bàn. Yêu cầu việc nêm nếm hay đồ gia vị giống như xúc phạm người đầu bếp. Hơn nữa, người Bồ Đào Nha vốn rất tự hào về ẩm thực của họ

Pháp: Không nên cắt rau xà lách trong phần salad của bạn bằng dao, nĩa khi ăn ở Pháp vì sẽ bị coi là một hành động xấu xí. Ngoài ra ở Pháp, bánh mì cũng không được coi là khai vị mà thay vào đó là để đẩy thức ăn vào nĩa. Khi ăn bánh mì, bạn hãy xé ra một phần nhỏ rồi dùng và đừng cắn trực tiếp lên ổ bánh mì.

Ấn Độ: Người Ấn không sử dụng dao, nĩa, thìa hay đũa, họ để thức ăn lên đĩa, cầm đĩa bằng tay trái và bốc ăn bằng tay phải. Quy tắc hai bàn tay này là quy tắc nghiêm ngặt trong ẩm thực Ấn, tới mức người thuận tay trái khi ăn cũng sẽ dùng tay phải, và cả những món có dạng lỏng như cà ri cũng sẽ ăn bằng tay. Tay trái tuyệt đối không được dùng để cầm nắm thức ăn, hay thậm chí là dụng cụ nhà bếp như đũa, đĩa thức ăn và lọ muối mà chỉ được dùng cho những “hành động khác liên quan đến cơ thể con người”.

Nhật Bản: Đũa là một vật rất quan trọng trong bữa cơm hàng ngày ở Nhật. Quy luật sử dụng chúng khá khắt khe. Ví dụ như đặt đôi đũa lên phía bên phải miệng bát là nghi lễ trong đám tang. Vì vậy, bạn chớ làm thế khi đi ăn tại Nhật.

Mexico: Lời khuyên cho các bạn là khi đến Mexico nên ăn tacos bằng tay, vì hành động ăn tacos bằng dao và nĩa được cho là kênh kiệu và ngớ ngẩn.

Trung Quốc: Một truyền thống thú vị trong ăn uống ở đất nước tỉ dân là không nên lật mặt cá vì nó sẽ mang lại vận rủi. Người Trung Quốc cho rằng lật ngược cá gợi lên hình ảnh chiếc tàu của người ngư dân bị lật giữa biển. Một số người bỏ cả phần dưới của cá, một số người khác thì rút phần xương để dùng đến phần dưới mà không cần phải lật cá.

Nga: Người Nga uống vodka nguyên chất từ chai rượu và thậm chí còn không cho đá vào. Họ cho rằng rượu Vodka nếu cho thêm bất cứ thứ gì vào sẽ làm hỏng đi sự tinh khiết của nó (beer là ngoại lệ duy nhất có thể mix với vodka). Khi được một người Nga mời rượu vodka, đó là dấu hiểu của sự thân thiện và tin tưởng, bạn nên nhận lời mời rượu cũng như là nhận lấy lòng thiện cảm của họ dành cho mình.

Ethiopia: Có thể bạn không thấy lạ lùng với phong cách ăn gia đình, một món ăn sẽ được chuyền quanh bàn để mọi người cùng ăn. Tuy nhiên, ở Ethiopia, người ta đã nâng việc này lên một bậc, dó là việc mọi người cùng ăn trong một đĩa lớn và không cần thêm bát đĩa.

Hàn Quốc: Nếu ở Hàn Quốc bạn đừng bao giờ nhận món ăn hay nước uống từ người khác bằng một tay. Luôn luôn sử dụng hai tay, hoặc đặt bàn tay trái của bạn dưới cổ tay phải để giữ phép lịch sự. Việc này thể hiện sự tôn trọng với người lớn tuổi và cũng là một trong những văn hóa đặc trưng của xứ sở kim chi. Khi nhận ly rượu, bạn nên quay đầu đi chỗ khác và uống một ngụm kín đáo.

(Theo Wanderlust Tips)
Theo: Travelplusvn.com

Monday, January 12, 2026

ÔNG TRUMP CÓ THỂ ĐẨY THẾ GIỚI QUAY LẠI THỜI ĐẠI ĐẾ QUỐC

Chỉ vài giờ sau khi Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro bị lực lượng đặc nhiệm Mỹ bắt giữ – mất chức và mất cả đất nước – ông Donald Trump vẫn say sưa khi kể lại cảm giác theo dõi trực tiếp cuộc đột kích qua màn hình từ khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago của ông.

Chụp lại hình ảnh,
Tổng thống Mỹ muốn và cần những chiến thắng nhanh. Ảnh Getty Images

Ông chia sẻ cảm xúc đó với Fox News.

"Nếu bạn có thể thấy tốc độ, bạo lực – họ gọi như vậy… Thật đáng kinh ngạc, công việc đáng kinh ngạc của những con người này. Không ai khác có thể làm được điều như thế."

Tổng thống Mỹ muốn và cần những chiến thắng nhanh. Trước khi nhậm chức nhiệm kỳ hai, ông từng khoe việc chấm dứt chiến tranh Nga–Ukraine chỉ là chuyện của một ngày.

Venezuela, như cách ông Trump mô tả trong các tuyên bố, chính là chiến thắng nhanh gọn, dứt khoát mà ông hằng khao khát.

Ông Maduro hiện đang bị giữ trong một phòng giam tại Brooklyn; Mỹ sẽ "điều hành" Venezuela – và ông Trump tuyên bố rằng chế độ Chavista, nay với một tổng thống mới, sẽ bàn giao hơn một triệu thùng dầu mỏ, còn ông sẽ kiểm soát cách thức sử dụng lợi nhuận.

Tất cả, cho đến lúc này, đều chưa khiến người Mỹ nào mất mạng và cũng không cần đến một cuộc chiếm đóng lâu dài – điều từng gây ra những hậu quả thảm khốc sau cuộc xâm lược Iraq năm 2003.

Ít nhất là vào lúc này, ông Trump và các cố vấn – ít nhất là trước công chúng – đang phớt lờ những phức tạp của Venezuela.

Venezuela có diện tích lớn hơn Đức, vẫn chịu sự chi phối của một hệ thống phe phái cài cắm tham nhũng và đàn áp vào đời sống chính trị.

Thay vào đó, ông Trump đang tận hưởng một cơn hưng phấn địa chính trị. Dựa trên những tuyên bố đưa ra khi đứng cạnh tổng thống ở Mar-a-Lago, cả Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio và Bộ trưởng Chiến tranh Pete Hegseth dường như cũng chung tâm trạng.

Kể từ đó, họ liên tục nhấn mạnh rằng ông Trump là vị tổng thống "nói là làm".

Ông đã khiến Colombia, Mexico, Cuba, Greenland – và cả Đan Mạch – phải lo lắng về mục tiêu tiếp theo trong cơn thèm khát của tổng thống Mỹ.

Ông Trump rất thích đặt biệt danh. Ông vẫn gọi người tiền nhiệm là "Sleepy Joe" Biden (Joe Biden ngái ngủ).

Giờ đây, ông đang thử nghiệm một cái tên mới cho Học thuyết Monroe – nền tảng của chính sách Mỹ tại Mỹ Latinh suốt hai thế kỷ qua.

Đương nhiên, ông Trump đổi học thuyết này theo tên mình - Học thuyết Donroe.

Ông James Monroe, tổng thống thứ năm của Mỹ, công bố học thuyết nguyên bản vào tháng 12/1823. Học thuyết này tuyên bố Tây Bán Cầu là phạm vi lợi ích của Mỹ, đồng thời cảnh báo các cường quốc châu Âu không được can thiệp hay lập thuộc địa mới.

Học thuyết Donroe đưa thông điệp 200 năm tuổi của ông Monroe lên mức độ mạnh hơn rất nhiều.

"Học thuyết Monroe là một chủ đề lớn, nhưng chúng tôi đã vượt qua rất xa," ông Trump nói tại Mar-a-Lago, trong lúc ông Maduro – bị bịt mắt và còng tay – đang trên đường tới nhà giam.

"Theo chiến lược an ninh quốc gia mới của chúng tôi, sự thống trị của Mỹ ở Tây Bán Cầu sẽ không bao giờ còn bị nghi ngờ nữa."

Ông Maduro và vợ là bà Cilia Flores đang bị giam giữ tại New York. Ảnh: Reuters

Bất kỳ đối thủ hay mối đe dọa tiềm tàng nào, đặc biệt là Trung Quốc, đều phải đứng ngoài Mỹ Latinh.

Chưa rõ điều đó sẽ ảnh hưởng ra sao tới những khoản đầu tư khổng lồ mà Trung Quốc đã rót vào khu vực này.

Học thuyết Donroe còn mở rộng đến Greenland – nơi Mỹ tự coi là "sân sau" ở phía bắc của mình.

Phiên bản năm 2026 của nét chữ đồng bản của ông Monroe là một bức ảnh ông Trump với vẻ mặt cau có, u ám, do Bộ Ngoại giao Mỹ đăng trên mạng xã hội. Dòng chữ đi kèm viết: "Đây là bán cầu CỦA CHÚNG TA – và Tổng thống Trump sẽ không cho phép an ninh của chúng ta bị đe dọa."

Điều này đồng nghĩa với việc sử dụng sức mạnh quân sự và kinh tế của Mỹ để cưỡng ép các quốc gia và lãnh đạo "lệch chuẩn" – và chiếm lấy tài nguyên của họ nếu cần thiết.

Như ông Trump từng cảnh báo về một mục tiêu tiềm năng khác – tổng thống Colombia cần phải coi chừng.

Greenland lọt vào tầm ngắm của Mỹ không chỉ vì vị trí chiến lược ở Vùng Bắc Cực, mà còn do nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú đang trở nên dễ tiếp cận hơn khi biến đổi khí hậu gây ra hiện tượng băng tan.

Đất hiếm từ Greenland và dầu thô nặng từ Venezuela đều được coi là tài sản chiến lược đối với Mỹ.

Không giống cách các tổng thống Mỹ trước đây can thiệp ở nước ngoài, ông Trump không che đậy hành động của mình bằng tính chính danh – dù có thể là giả tạo – của luật pháp quốc tế hay việc theo đuổi dân chủ.

Sự chính danh duy nhất ông cần là niềm tin vào sức mạnh ý chí của bản thân – được hậu thuẫn bằng quyền lực trực diện của Mỹ.

Từ Monroe đến Donroe, các học thuyết đối ngoại luôn có ý nghĩa đối với các tổng thống Mỹ. Các học thuyết này định hình hành động và di sản của họ.

Chụp lại video,Ông Maduro bị bắt thế nào?

Tháng 7 tới, Mỹ sẽ kỷ niệm 250 năm lập quốc. Năm 1796, vị tổng thống đầu tiên, George Washington, tuyên bố không tìm kiếm nhiệm kỳ thứ ba bằng một bài diễn văn từ biệt mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Washington đưa ra hàng loạt lời cảnh báo về mối quan hệ giữa Mỹ và thế giới.

Liên minh tạm thời trong thời chiến có thể cần thiết, nhưng ngoài ra, Mỹ nên tránh các liên minh lâu dài với nước ngoài. Đó là điều mở đầu cho truyền thống chủ nghĩa biệt lập.

Ở trong nước, ông cảnh báo người dân phải cảnh giác với chủ nghĩa đảng phái cực đoan. Theo ông Washington, sự chia rẽ là mối nguy đối với nền cộng hòa non trẻ.

Thượng viện Mỹ hàng năm vẫn công khai đọc lại bài diễn văn từ biệt của ông Washington – một nghi thức hầu như không xuyên thủng được nền chính trị siêu đảng phái và phân cực sâu sắc hiện tại.

Lời cảnh báo của ông Washington về những nguy hiểm từ các liên minh ràng buộc đã được tuân thủ trong suốt 150 năm. Sau Thế chiến I, Mỹ rút khỏi châu Âu và quay lại chủ nghĩa biệt lập.

Nhưng Thế chiến II đã biến Mỹ thành một cường quốc toàn cầu. Và tại đây, một học thuyết khác xuất hiện – có ý nghĩa lớn hơn nhiều đối với cách châu Âu tồn tại cho tới khi ông Trump xuất hiện.

Đến năm 1947, Chiến tranh Lạnh với Liên Xô trở nên thực sự gay gắt. Vương quốc Anh, kiệt quệ vì chiến tranh, thông báo với Mỹ rằng họ không còn đủ khả năng tài trợ cho chính phủ Hy Lạp trong cuộc chiến chống lại phe cộng sản.

Phản ứng của Harry Truman, tổng thống khi đó, là cam kết Mỹ sẽ ủng hộ "các dân tộc tự do đang chống lại sự khuất phục từ các nhóm vũ trang thiểu số hoặc áp lực từ bên ngoài" – ám chỉ các mối đe dọa từ Liên Xô hoặc lực lượng cộng sản trong nước.

Đó là Học thuyết Truman, chính sách đã mở đường cho Kế hoạch Marshall tái thiết châu Âu, và sau đó là việc thành lập NATO năm 1949.

Những người theo chủ nghĩa Đại Tây Dương ở Mỹ, như ông Harry Truman và ông George Kennan – nhà ngoại giao đưa ra khái niệm kiềm chế Liên Xô – tin rằng những cam kết đó phục vụ lợi ích của nước Mỹ.

Có một mối dây trực tiếp liên kết Học thuyết Truman với việc ông Joe Biden quyết định tài trợ cho nỗ lực chiến tranh của Ukraine.

Xét trên nhiều phương diện, Học thuyết Truman đã tạo ra mối quan hệ với châu Âu mà ông Trump đang tháo dỡ. Đó là một sự đoạn tuyệt rõ ràng với quá khứ. Ông Truman đã phớt lờ cảnh báo của Washington về các liên minh vĩnh viễn.

Giờ đây, ông Trump lại đang phá vỡ di sản của ông Truman. Nếu thực hiện lời đe dọa bằng cách nào đó sẽ chiếm quyền sở hữu Greenland – lãnh thổ có chủ quyền của Đan Mạch – ông Trump có thể phá hủy những gì còn sót lại của liên minh xuyên Đại Tây Dương.


Ông Stephen Miller, nhà tư tưởng MAGA và cố vấn quyền lực của ông Trump, đã tóm lược điều này đầu tuần trên CNN.

Theo ông, Mỹ đang vận hành trong một thế giới thực "do sức mạnh, vũ lực, quyền lực chi phối… đó là những quy luật bất biến của thế giới từ thuở ban đầu".

Không tổng thống Mỹ nào phủ nhận nhu cầu về sức mạnh và quyền lực. Nhưng từ ông Franklin D. Roosevelt, đến ông Truman và tất cả những người kế nhiệm cho tới trước ông Trump, các chủ nhân Nhà Trắng đều tin rằng cách tốt nhất để trở nên hùng mạnh là dẫn dắt một liên minh – điều đòi hỏi cả cho và nhận.

Họ ủng hộ Liên Hợp Quốc non trẻ và nỗ lực xây dựng các quy tắc để điều chỉnh hành vi của các quốc gia. Dĩ nhiên, Mỹ đã nhiều lần phớt lờ và vi phạm luật pháp quốc tế, góp phần làm xói mòn ý tưởng về một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ.

Nhưng những người tiền nhiệm của ông Trump không tìm cách dẹp bỏ khái niệm hệ thống quốc tế cần được điều tiết, dù còn nhiều khiếm khuyết và chưa hoàn thiện.

Nguyên nhân là hậu quả thảm khốc trong nửa đầu thế kỷ 20 của "quy luật kẻ mạnh" – hai cuộc thế chiến với hàng triệu người chết.

Tuy nhiên, sự kết hợp giữa hệ tư tưởng "Nước Mỹ trên hết" của ông Trump và bản năng kinh doanh mang tính chiếm hữu, thiên về giao dịch đã khiến ông tin rằng các đồng minh của Mỹ phải trả phí cho sự ưu ái của ông.

"Tình bạn" có lẽ là một từ quá mạnh. Lợi ích của Mỹ, theo định nghĩa hẹp mà tổng thống đưa ra, đòi hỏi nước này phải giữ vị thế số một bằng cách hành động đơn độc.

Ông Trump thay đổi ý kiến khá thường xuyên. Nhưng một điều dường như không đổi là niềm tin rằng Mỹ có thể sử dụng quyền lực của mình mà không phải chịu hậu quả. Ông cho rằng đó là con đường để "làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại".

Rủi ro là nếu ông Trump kiên định với con đường đó, ông sẽ đẩy thế giới quay trở lại thời đại đế quốc cách đây một thế kỷ hoặc hơn – một thế giới nơi các cường quốc, với những vòng ảnh hưởng, tìm cách áp đặt ý chí của mình, nơi những nhà dân tộc chủ nghĩa độc đoán hùng mạnh dẫn dắt dân tộc họ tới thảm họa.

Jeremy Bowen
Theo: BBC Tiếng Việt (09/01/2026)



MƯA XUÂN - NGUYỄN BÍNH


Mưa Xuân - Nguyễn Bính

Em là con gái trong khung cửi
Dệt lụa quanh năm với mẹ già.
Lòng trẻ còn như cây lụa trắng,
Mẹ già chưa bán chợ làng xa.

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay,
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.
Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ,
Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay.

Lòng thấy giăng tơ một mối tình.
Em ngừng thoi lại giữa tay xinh.
Hình như hai má em bừng đỏ,
Có lẽ là em nghĩ đến anh.

Bốn bên hàng xóm đã lên đèn,
Em ngửa bàn tay trước mái hiên.
Mưa thấm bàn tay từng chấm lạnh,
Thế nào anh ấy chẳng sang xem.

Em xin phép mẹ vội vàng đi,
Mẹ bảo: xem về kể mẹ nghe.
Mưa nhỏ nên em không ướt áo,
Thôn Đoài cách có một thôi đê.

Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm,
Em mải tìm anh chả thiết xem.
Chắc hẳn đêm nay đường cửi lạnh,
Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em.

Chờ mãi anh sang anh chả sang,
Thế mà hôm nọ hát bên làng.
Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn,
Để cả mùa xuân cũng bẽ bàng.

Mình em lầm lụi trên đường về,
Có ngắn gì đâu môt dải đê!
Áo mỏng che đầu, mưa nặng hạt,
Lạnh lùng em tủi với đêm khuya.

Em giận hờn anh cho đến sáng,
Hôm sau mẹ hỏi hát trò gì.
“- Thưa u họ hát...” Rồi em thấy
Nước mắt tràn ra, em ngoảnh đi.

*

Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay,
Hoa xoan đã nát dưới chân giày.
Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ,
Mẹ bảo mùa xuân đã cạn ngày.

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày!
Bao giờ em mới gặp anh đây?
Bao giờ Hội Đặng đi ngang ngõ,
Để mẹ em rằng hát tối nay?

Nguyễn Bính - 1936

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Huy Thục phổ nhạc thành bài hát cùng tên.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Nguyễn Bính (13/2/1918 - 20/1/1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh tại làng Thiện Vinh, huyện Vụ Bảng, tỉnh Nam Định. Ông mồ côi mẹ từ nhỏ, tự học ở nhà, bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi, được giải khuyến khích thơ của nhóm Tự lực văn đoàn năm 1937 với tập thơ Tâm hồn tôi.

Ông tham gia kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, tập kết ra Bắc năm 1954, làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam, Ty văn hoá thông tin Nam Hà. Năm 1958, Nguyễn Bính làm chủ bút báo Trăm hoa. Nhiều tài liệu ghi ông mất ngày 20-1-1966 (tức ngày 29 Tết - không có ngày 30) tại Hà Nội. Tuy nhiên nhà văn Vũ Bão cho biết ông qua đời tại nhà riêng của một người bạn tên là Đỗ Văn Hứa, hiệu Tân Thanh, tại thôn Mạc Hạ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Thơ Nguyễn Bính “chân quê”, giản dị, mộc mạc, nhẹ nhàng, trong sáng, và hồn nhiên như ca dao trữ tình. Ông viết về làng quê qua lăng kính tình cảm lãng mạn, biểu lộ một tình quê, một hồn quê chân tình và gần gũi. Giáo sư Lê Đình Kỵ có nhận xét về thơ Nguyễn Bính: “Nổi bật lên ở Nguyễn Bính là ca dao, ở cảm xúc lẫn tư duy, ở cả ý, tình, và điệu,...”

Nguồn: Thi Viện



NỤ CƯỜI CHẾ NHẠO KHIẾN MỘT DOANH NGHIỆP ĐÁNH RƠI HÀNG TRĂM TỶ USD, TRẢ GIÁ BẰNG CHÍNH SỰ TỒN TẠI

Vào thời kỳ đỉnh cao, Blockbuster từng là biểu tượng của ngành giải trí gia đình toàn cầu – nơi hàng triệu người Mỹ tìm đến để thuê những bộ phim bom tấn cuối tuần. Nhưng chỉ một quyết định sai lầm mang tính lịch sử vào năm 2000 – từ chối mua lại một công ty khởi nghiệp nhỏ bé tên Netflix – đã mở đầu cho sự sụp đổ của đế chế này.


Hai thập kỷ sau, Netflix trở thành “gã khổng lồ” phát trực tuyến trị giá hàng trăm tỷ đô la, còn Blockbuster chỉ còn lại trong ký ức của thời đại analog.
Blockbuster được thành lập năm 1985 bởi David Cook tại Dallas, Texas, sau khi ông rời lĩnh vực phần mềm máy tính. Khác với các cửa hàng cho thuê nhỏ lẻ chỉ có vài trăm bộ phim, Blockbuster gây ấn tượng với 8.000 băng VHS cùng hệ thống quản lý vi tính hóa tiên tiến – một bước nhảy vọt về trải nghiệm khách hàng thời bấy giờ.

Thành công đến nhanh chóng. Năm 1987, công ty nhận được 18,5 triệu USD đầu tư, mở đường cho tốc độ mở rộng chóng mặt. Chỉ trong ba năm, Blockbuster đã có 800 cửa hàng tại Mỹ, và đến năm 1992 con số ấy đạt 2.800, trước khi vươn ra quốc tế.


Đỉnh cao của sự thống trị đến vào năm 2004: 9.000 cửa hàng trên toàn cầu, doanh thu 5,9 tỷ USD, và thương hiệu Blockbuster trở thành biểu tượng của giải trí đại chúng.

Tuy nhiên, đằng sau thành công ấy là một điểm yếu chí tử: phí trả chậm (late fees). Mỗi khách hàng bị tính phí nếu trả phim muộn, mang lại cho Blockbuster tới 800 triệu USD, tương đương 16% tổng doanh thu. Nhưng chính mô hình “kiếm tiền từ sự khó chịu của khách hàng” này lại khiến họ dần đánh mất lòng tin của người tiêu dùng – mở đường cho một cuộc cách mạng sắp tới.
Năm 1997, một kỹ sư phần mềm tên Reed Hastings sáng lập Netflix sau khi… bực bội vì bị Blockbuster phạt 40 USD phí trả muộn. Netflix ban đầu hoạt động theo mô hình gửi DVD qua thư, thu phí thuê bao hàng tháng và loại bỏ hoàn toàn phí trả chậm – một ý tưởng giản dị nhưng đầy cách mạng.

Ba năm sau, vào năm 2000, đồng sáng lập Marc Randolph đề nghị bán Netflix cho Blockbuster với giá 50 triệu USD. Câu trả lời là… tiếng cười chế nhạo. CEO Blockbuster khi đó, John Antioco, cùng ban điều hành đã “cười lớn và đuổi chúng tôi ra khỏi phòng họp,” Randolph kể lại trong hồi ký.


Antioco – người từng giúp Blockbuster tăng gấp đôi doanh thu – tin rằng Netflix chỉ là một công ty nhỏ trong “cơn sốt dot-com” vô nghĩa. Với vị thế thống trị và hàng triệu khách hàng trung thành, Blockbuster cho rằng không cần phải hợp tác với một startup “thư DVD qua bưu điện”.

Họ đâu ngờ rằng khoảnh khắc khinh thường ấy đã khiến Blockbuster đánh mất cơ hội trị giá hơn 150 tỷ USD – một trong những sai lầm chiến lược đắt giá nhất lịch sử kinh doanh.
Sau khi bị từ chối, Netflix không dừng lại. Đến năm 2002, họ niêm yết trên sàn Nasdaq và bắt đầu có lãi. Trong khi đó, Blockbuster vẫn loay hoay với hệ thống cửa hàng vật lý tốn kém và mô hình cũ kỹ.

Reed Hastings sớm nhận ra rằng tương lai không nằm ở DVD, mà nằm ở Internet. Netflix bắt đầu phát triển dịch vụ phát trực tuyến (streaming), đầu tư vào thuật toán gợi ý bằng trí tuệ nhân tạo (AI), và dần tiến sang tự sản xuất nội dung – chiến lược giúp họ trở thành trung tâm của văn hóa giải trí toàn cầu.

Còn Blockbuster? Mãi đến năm 2004, khi Viacom tách khỏi công ty, họ mới ra mắt Blockbuster Online – nhưng đã quá muộn. Cùng năm đó, Blockbuster quyết định xóa bỏ phí trả chậm, mất đi 200 triệu USD doanh thu mỗi năm và thêm 200 triệu USD khác để khởi động dịch vụ trực tuyến. Những mâu thuẫn nội bộ, đặc biệt với nhà đầu tư Carl Icahn, khiến mọi nỗ lực cải tổ bị đình trệ.


Kết quả là, chỉ trong vòng hai năm (2003–2005), giá trị thị trường của Blockbuster giảm 75%. Đến 2010, công ty chính thức nộp đơn phá sản, xóa khoản nợ hơn 1 tỷ USD. Năm 2011, Dish Network mua lại thương hiệu với giá chỉ 320 triệu USD, nhưng đến năm 2013, gần như mọi cửa hàng Blockbuster đều đã đóng cửa.

Ngày nay, chỉ còn duy nhất một cửa hàng Blockbuster ở Bend, Oregon, như một bảo tàng sống của thời kỳ video VHS và hoài niệm những cuối tuần “đi thuê phim”. Cửa hàng này thậm chí được đưa lên Airbnb để du khách trải nghiệm “đêm phim thập niên 90”.

Trong khi đó, Netflix đã trở thành một đế chế streaming toàn cầu, sản xuất những bom tấn như Stranger Things, The Crown hay Squid Game, và đạt giá trị thị trường hàng trăm tỷ đô la.

Các chuyên gia, như Clayton Christensen, coi Netflix là ví dụ kinh điển của đổi mới mang tính phá vỡ (disruptive innovation) – khi một công ty nhỏ tấn công từ phân khúc ngách, rồi dần chiếm lĩnh thị trường của người khổng lồ.

Hồng Duy (Tổng hợp)
Theo: Nhịp Sống Thị Trường
Link tham khảo:




Sunday, January 11, 2026

KIÊN ĐỊNH "LÝ THUYẾT TRÔI DẠT", ALFRED WEGENER GIEO HẠT GIỮA BĂNG GIÁ, CUỐI CÙNG CÂY CHÂN LÝ NỞ HOA

Trong lịch sử khoa học, không ít lần một ý tưởng mới mẻ bị cười giễu. Thế nhưng, theo thời gian, những ý tưởng từng bị phủ nhận ấy lại trở thành nền tảng cho nhận thức khoa học hiện đại. Alfred Wegener và “Lý thuyết trôi dạt lục địa” (continental drift theory) là một trong những trường hợp như vậy.

“Lý thuyết trôi dạt lục địa” từng bị coi là “ảo tưởng” giờ đã trở thành nền tảng của địa chất học hiện đại. Và Alfred Wegener cuối cùng, sau nửa thế kỷ bị cười nhạo, đã được minh oan. (Ảnh: Famous Scientists)

Nhà khoa học “trái ngành”

Alfred Wegener sinh năm 1880 tại Berlin, Đức. Xuất thân là Tiến sĩ Thiên văn, nhưng ông lại dành nhiều thời gian cho nghiên cứu khí tượng học và vật lý khí quyển.

Ông chưa từng được đào tạo chính quy về địa chất, nhưng vào năm 1912, ông đưa ra một giả thuyết đầy táo bạo: các lục địa ngày nay từng thuộc về một khối siêu lục địa duy nhất – Pangaea – trước khi tách rời và trôi dạt trên đại dương.

Giả thuyết này của Wegener đã lập tức gây chấn động trong giới khoa học. Một số người tỏ ra tò mò và bối rối, tuy nhiên đa số lại phản ứng bằng sự hoài nghi, thậm chí chế giễu giả thuyết trôi dạt lục địa của ông. Họ cho rằng một nhà khí tượng học trái ngành như ông không thể nào lại đủ khả năng “viết lại lịch sử Trái Đất”.

Và rồi từ đó, trong khoảng gần 20 năm của phần đời còn lại, Wegener tập trung chứng minh “lý thuyết trôi dạt lục địa” của mình là đúng, và một lần nữa trở thành nhà khoa học “trái ngành”.
 
Những bằng chứng từ quan sát

Wegener không phát biểu giả thuyết của mình chỉ bằng trực giác, mà ông dựa trên những quan sát cẩn trọng. Ông chỉ ra những bằng chứng thuyết phục:

Khi quan sát bản đồ thế giới, Alfred Wegener nhận ra một sự trùng hợp khó bỏ qua: bờ biển phía Đông của Nam Mỹ và bờ biển phía Tây của châu Phi dường như ăn khớp với nhau hoàn hảo, như hai mảnh ghép của một trò xếp hình. Hình dạng khớp đến mức ấy khiến ông tin rằng, đây không thể chỉ là kết quả ngẫu nhiên của xói mòn tự nhiên. Theo ông, hai lục địa từng nối liền trong một khối thống nhất, và chỉ sau này mới vỡ ra, trôi dạt xa dần trên đại dương.

Sự nghi ngờ ấy càng được củng cố khi ông nghiên cứu hóa thạch cổ sinh. Loài bò sát nước ngọt Mesosaurus, vốn không thể bơi xa qua biển lớn, lại để lại dấu tích ở cả Nam Mỹ và châu Phi. Điều đáng nói là chúng không hề được tìm thấy ở nơi nào khác. Wegener lý giải rằng, chỉ có một khả năng: hai lục địa này từng liền kề, và loài sinh vật kia đã sinh sống trong cùng một môi trường, rồi khi tách ra mới để lại hóa thạch ở hai bờ đại dương.


Không dừng lại ở đó, ông còn chỉ ra sự tương đồng kỳ lạ trong cấu trúc địa chất giữa các lục địa xa cách. Những dãy núi cổ ở Đông Nam Brazil và Tây Phi có thành phần đá, niên đại, lớp trầm tích gần như giống hệt nhau. Các khối nền cổ như São Francisco (Nam Mỹ) và Cao nguyên Tây Phi, nếu được đặt lại cạnh nhau, sẽ nối khít một cách đáng kinh ngạc. Những phát hiện này càng củng cố giả thuyết rằng, chúng vốn thuộc cùng một hệ thống địa chất trước khi bị chia cắt.

Wegener cũng đặc biệt chú ý đến những dấu vết băng hà được tìm thấy tại Nam Phi, Ấn Độ, Nam Mỹ và Úc. Ngày nay, các vùng này có khí hậu nhiệt đới hoặc cận nhiệt, hoàn toàn không phù hợp để hình thành băng hà. Ông cho rằng, sự hiện diện của các dấu vết này chỉ có thể được giải thích nếu các lục địa từng nằm gần cực Nam, nơi băng giá bao phủ, rồi sau đó dịch chuyển đến vị trí hiện tại.

Ngoài ra, ông còn ghi nhận sự phân bố của nhiều loài thực vật cổ, như dương xỉ Glossopteris, xuất hiện rộng rãi trên các lục địa Nam bán cầu. Việc cùng một loài cây cổ đại lại có mặt ở nhiều nơi xa cách hàng ngàn kilômét càng cho thấy rằng, chúng từng sống chung trên một vùng đất trước khi bị tách ra.

Kiên định niềm tin

Dù các bằng chứng khá rõ ràng, phần lớn giới khoa học vẫn không chấp nhận “Lý thuyết trôi dạt lục địa”. Họ đặt ra một câu hỏi mà Wegener chưa thể trả lời: “Điều gì đã khiến các lục địa có thể di chuyển?”

Thời điểm ấy, con người chưa thám hiểm đáy đại dương, chưa phát hiện dãy núi ngầm, cũng chưa có khái niệm về kiến tạo mảng. Wegener không có công cụ đo đạc hiện đại, chỉ có những quan sát và suy luận. Điều này khiến lý thuyết của ông bị xem là “mơ mộng”, còn bản thân ông bị gạt ra khỏi những diễn đàn khoa học chính thống.

Mặc cho sự phản đối, Wegener không từ bỏ. Ông vẫn tin vào lý thuyết của mình. Ông miệt mài viết sách, thu thập chứng cứ, cố gắng giải thích những điều chỉ mình ông nhìn thấy. Sự kiên định ấy kéo dài cho đến chuyến thám hiểm định mệnh tại Greenland năm 1930, nơi ông vĩnh viễn ra đi trong bão tuyết, khi “Lý thuyết trôi dạt lục địa” vẫn chưa được giới khoa học thừa nhận.

Thời gian lên tiếng

Từ thập niên 1950, những chuyến khảo sát đáy đại dương đã đem lại một phát hiện khiến giới khoa học ngỡ ngàng. Dưới lòng biển sâu, họ phát hiện những dãy núi ngầm khổng lồ chạy dài hàng ngàn kilômét. Tại đó, lớp vỏ Trái Đất không đứng yên như người ta nghĩ, mà đang nứt tách ra. Từ các khe nứt, dung nham nóng chảy phun trào lên, rồi khi gặp nước biển lạnh, nó nhanh chóng nguội lại, biến thành lớp đá mới. Cứ mỗi lần dung nham phun trào và tạo thêm lớp đá, các mảng vỏ cũ lại bị đẩy dần sang hai phía.


Hãy hình dung hiện tượng ấy như một ổ bánh mì trong lò nướng: bột bên trong phồng lên làm ổ bánh nứt ở giữa, rồi bột mới trào ra, đẩy hai bên vỏ bánh tách xa nhau. Toàn bộ quá trình dưới đáy biển cũng diễn ra như vậy, chỉ khác ở chỗ thay vì bột, đó là những dòng dung nham rực lửa. Âm thầm và liên tục, cơ chế ấy vận hành như một chiếc “băng chuyền khổng lồ”, tạo ra đá mới ở trung tâm và đẩy các mảng cũ dịch chuyển ra xa.

Hiện tượng giãn nở đáy đại dương này đã cung cấp lời giải cho điều mà Wegener khi xưa không thể chứng minh: các lục địa di chuyển nhờ đâu, và bằng cơ chế nào.

Đến thập niên 1960, lý thuyết kiến tạo mảng ra đời. Lý thuyết này chỉ ra rằng vỏ Trái Đất không phải là một khối liền mạch, mà gồm nhiều “mảnh ghép” khổng lồ, trôi chậm trên lớp vật chất nóng chảy bên dưới, giống như những tấm bè nổi trên một biển dung nham.

Sự chuyển động liên tục của các mảng này khiến các lục địa dịch chuyển. Khi hai mảng va chạm, đất đá bị uốn nếp và chồng lên nhau, hình thành những dãy núi hùng vĩ như Himalaya hay Andes. Ngược lại, khi các mảng tách ra, vùng đất bị kéo giãn, tạo thành đại dương mới. Ngay cả những hiện tượng như động đất hay núi lửa cũng được giải thích nhờ cơ chế chuyển động của các mảng này.

Kể từ đó, giới khoa học buộc phải nhìn nhận lại. “Lý thuyết trôi dạt lục địa” từng bị coi là “ảo tưởng” giờ đã trở thành nền tảng của địa chất học hiện đại. Và Alfred Wegener cuối cùng, sau nửa thế kỷ bị cười nhạo, đã được minh oan: ông đã đúng.

Một bài học quý giá cho nhân loại

Ngày nay, học sinh trên toàn thế giới đều được học “Lý thuyết trôi dạt lục địa”. Tên của Wegener có trong sách giáo khoa, bảo tàng, và trong lòng biết ơn của nhân loại. Nhưng câu chuyện về Lý thuyết trôi dạt lục địa của ông không chỉ là một trang sử khoa học.

Nó là một lời nhắc tỉnh thức. Một bài học quý giá cho nhân loại, rằng:

Những gì con người phát hiện chưa chắc đã là chân lý.

Và nhiều khi — chân lý lại nằm trong những điều mà những người chỉ tin “khoa học thực chứng” cho là viển vông.

Vũ trụ bao la còn quá nhiều bí ẩn đối với nhân loại. (Ảnh: Tia Sáng)

Tin vào Thần.

Tin vào Thiên Đường.

Tin rằng sinh mệnh có linh hồn, có luân hồi, có nhân quả — có thể là điều mà nhiều nhà khoa học ngày nay vẫn nghi ngờ.

Nhưng Wegener cũng từng bị nghi ngờ.

Và cuối cùng ông đúng.

Có những điều không thể đo đếm bằng máy móc. Không thể mô phỏng bằng phòng thí nghiệm.

Bởi vì chúng nằm ngoài thế giới vật chất mà con người có thể nhận thức. Theo giới tu luyện, chúng chỉ có thể cảm nhận bằng một loại giác quan khác — được đánh thức bằng đạo đức.

Các Chính giáo — từ Đông sang Tây — đều dạy con người nuôi dưỡng đức hạnh:
Thành thật. Từ bi. Nhẫn nại và Vị tha. Đó là cánh cửa dẫn đến trí huệ – một dạng “tri thức cao hơn” — siêu vượt nhận thức của khoa học.

Khoa học chân chính không nên mù quáng. Không nên cao ngạo. Mà cần biết… nghi ngờ chính mình.

Lời kết

Alfred Wegener không sống đủ lâu để thấy mình được minh oan. Nhưng ông đã dũng cảm gieo một hạt giống giữa những ánh nhìn băng giá của giới khoa học khi đó, và cuối cùng… hạt giống ấy đã nở thành hoa chân lý.

Và biết đâu, ngay lúc này đây, giữa thế giới ồn ào này… cũng đang có những người lặng lẽ giữ lấy một niềm tin bị cho là hoang đường. Họ đang chờ đợi một thế giới biết lắng nghe — Không chỉ bằng ngũ quan, mà bằng cả lương tri và trái tim.

Lục Du / Theo: ĐKN