Wednesday, August 26, 2026

TRƯỚC BA TƯ CỔ ĐẠI, VÙNG ĐẤT IRAN ĐÃ CÓ NỀN VĂN MINH GỒM CHỮ VIẾT VÀ ĐÔ THỊ

Iran không chỉ nổi tiếng với dầu mỏ mà còn là vùng đất lưu giữ dấu tích của một trong những nền văn minh cổ xưa nhất thế giới, với lịch sử thành văn kéo dài hơn 5.000 năm.


Theo World Population Review, Iran được xếp vào nhóm quốc gia có lịch sử lâu đời nhất thế giới, tồn tại từ khoảng năm 3.200 trước Công nguyên, đứng thứ hai là Ai Cập tồn tại muộn hơn khoảng 100 năm.

Iran thường được nhắc đến trong lịch sử như trung tâm của các đế chế Ba Tư cổ đại, đồng thời cũng là một trong những khu vực hình thành sớm các nền văn minh nhân loại.

Nhiều nghiên cứu khảo cổ cho thấy, các xã hội phức tạp đã xuất hiện trên cao nguyên Iran từ hơn 5.000 năm trước, với dấu hiệu của đô thị hóa, chữ viết và tổ chức nhà nước sơ khai.

Theo Tehran Times, các nhà khảo cổ học cho rằng nền văn minh Elam, phát triển ở vùng tây nam Iran ngày nay, là một trong những nền văn minh sớm nhất của Tây Á.

Những di vật thuộc thời kỳ Proto-Elamite có niên đại khoảng 3200-2800 trước Công nguyên cho thấy sự xuất hiện của các trung tâm định cư lớn và hệ thống quản lý kinh tế sơ khai.

Hình tượng người Proto-Elam với sừng dê rừng (Ảnh: Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan).

Nhiều hiện vật và cấu trúc xây dựng thuộc nền văn minh Elam tại các khu vực như Dehloran và Persepolis, cho thấy sự tồn tại của những hệ thống kinh tế và kỹ thuật tương đối phát triển từ hơn 4.000 năm trước.

Theo nhiều nhà nghiên cứu, nền văn minh Elam được xem là "bình minh của văn minh Iran", phản ánh sự hình thành sớm của các xã hội có tổ chức nhà nước, tôn giáo và thương mại.

Trung tâm giao thoa của các nền văn minh cổ

Cao nguyên Iran nằm giữa các trung tâm văn minh cổ đại như Lưỡng Hà ở phía tây và thung lũng sông Ấn ở phía đông. Vị trí này giúp hình thành các tuyến giao thương cổ đại nối liền Tây Á và Nam Á từ rất sớm.

Những di chỉ khảo cổ cho thấy các cộng đồng cổ đại trên cao nguyên Iran đã tham gia mạng lưới trao đổi hàng hóa rộng lớn từ thời kỳ đồ đồng.

Các hiện vật bằng đá quý, kim loại và gốm được tìm thấy tại nhiều khu vực cho thấy sự tồn tại của các tuyến thương mại đường dài từ hàng nghìn năm trước.

Các trung tâm văn hóa Proto-Elamite được phát hiện trải rộng trên nhiều khu vực cho thấy sự hình thành của một nền văn minh có phạm vi ảnh hưởng lớn.

Dấu vết của xã hội có chữ viết sớm

Các bằng chứng khảo cổ cho thấy Iran đã bước vào thời kỳ lịch sử thành văn từ khoảng thiên niên kỷ thứ IV trước Công nguyên, gần tương đương với thời điểm chữ viết xuất hiện tại Lưỡng Hà.

Nhiều hiện vật thuộc văn hóa Proto-Elamite cho thấy sự tồn tại của các hệ thống ký hiệu được sử dụng trong quản lý kinh tế và hành chính.

Những dấu vết này cho thấy cư dân cổ đại tại Iran đã phát triển các hình thức ghi chép sớm, đánh dấu bước chuyển từ thời tiền sử sang lịch sử.

Theo Live Science, các hiện vật kim loại tinh xảo từ khoảng 5.000 năm trước cũng phản ánh trình độ kỹ thuật cao của cư dân cổ đại.

Một tượng bạc thuộc văn hóa Proto-Elamite có niên đại khoảng 3100–2900 trước Công nguyên cho thấy khả năng chế tác kim loại và đời sống nghi lễ phát triển trong các xã hội cổ đại ở Iran.

Những trung tâm văn minh cổ đại

Nhiều di tích khảo cổ tại Iran cho thấy sự tồn tại của các trung tâm đô thị cổ đại với quy mô đáng kể. Trong số đó, Susa được xem là một trong những thành phố cổ lâu đời nhất ở Tây Á và từng là trung tâm chính trị của nền văn minh Elam.

Các công trình kiến trúc lớn cũng phản ánh trình độ tổ chức xã hội cao. Di tích Chogha Zanbil ở tây nam Iran là một quần thể tôn giáo Elamite được xây dựng khoảng năm 1250 trước Công nguyên, với kim tự tháp bậc thang (ziggurat) hiếm hoi còn tồn tại ngoài khu vực Lưỡng Hà.

Di chỉ khảo cổ Chogha Zanbil, Iran hình thành khoảng 1250 trước Công nguyên (Ảnh: AMW).

Những công trình này cho thấy cư dân cổ đại đã phát triển các hình thức tổ chức tôn giáo và nhà nước phức tạp.

Các cuộc khai quật tại nhiều khu vực khác nhau của Iran tiếp tục cho thấy dấu vết của các đô thị cổ và trung tâm sản xuất thủ công.

Các bằng chứng khảo cổ học về luyện kim, chế tác gốm và sản xuất đồ trang sức cho thấy nền kinh tế cổ đại tại đây đã đạt trình độ phát triển đáng kể.

Nếu trước đây Lưỡng Hà thường được xem là trung tâm duy nhất của các nền văn minh cổ đại, thì ngày nay các nhà nghiên cứu ngày càng nhấn mạnh vai trò của cao nguyên Iran như một trung tâm văn minh độc lập.

Các bằng chứng khảo cổ cho thấy vùng đất này đã trải qua quá trình phát triển liên tục từ các cộng đồng nông nghiệp sơ khai đến các xã hội đô thị có tổ chức. 

Di tích còn lại của nền văn minh Elam (Ảnh: Amazingbibletimeline).

Ngày nay, Iran vẫn là một trong những khu vực giàu di sản khảo cổ nhất thế giới. Hàng nghìn di chỉ khảo cổ được ghi nhận trên khắp lãnh thổ cho thấy chiều sâu lịch sử đặc biệt của quốc gia này.

Những bằng chứng ngày càng rõ ràng cho thấy cao nguyên Iran là một trong những trung tâm phát triển văn hóa cổ đại quan trọng, góp phần định hình nền văn minh nhân loại từ buổi bình minh của lịch sử.

Vũ Thanh Bình / Theo: Dân Trí

Tuesday, August 25, 2026

CÓ NHỮNG NGƯỜI TRÔNG RẤT BÌNH THẢN...KHÔNG PHẢI VÌ HỌ KHÔNG ĐAU, MÀ VÌ HỌ ĐÃ HỌC CÁCH NUỐT NỖI ĐAU VÀO TRONG

Có bao giờ bạn từng thắc mắc vì sao có những người sống rất bình thản không? Kiểu dù có chuyện gì lớn xảy ra, họ vẫn rất điềm tĩnh, rất lý trí, gần như chẳng phản ứng gì quá mạnh. Thậm chí đôi lúc nhìn họ còn có vẻ hơi lạnh lùng, hơi “kệ”, đến mức người khác phải tự hỏi: “Ủa, họ không buồn thật sao?”


Có người khi mất việc vẫn bình tĩnh đi giải quyết từng thứ. Có người bị phản bội cũng chỉ im lặng rồi bước tiếp. Có người đứng giữa tang lễ của người thân mà vẫn tỉnh táo lo hết mọi chuyện, tiếp khách, làm giấy tờ, sắp xếp mọi thứ đâu vào đó. Nhìn họ như chẳng hề sụp đổ.

Nhưng thật ra, rất nhiều người trong số đó không phải là không đau. Họ chỉ là đã trải qua quá nhiều chuyện để hiểu rằng có những lúc, mình không được phép gục xuống ngay lập tức.

Nhiều người nghĩ rằng sự bình thản đó là do họ bị chai sạn cảm xúc, hoặc từng trải qua trauma gì đó nên mới trở nên “lạnh” như vậy. Nhưng đôi khi, đó chỉ là cách duy nhất họ học được để tồn tại sau quá nhiều biến cố.

Bởi có những người từ nhỏ đã không được dạy cách thể hiện cảm xúc. Mỗi lần buồn thì nghe “đừng khóc nữa”. Mỗi lần tổn thương thì nghe “có vậy thôi mà cũng chịu không nổi à?”. Dần dần, họ quen với việc nuốt mọi thứ vào trong. Họ vẫn buồn, vẫn đau, vẫn tổn thương như bao người khác, chỉ là họ không còn biết cách bộc lộ ra ngoài nữa.

Cho nên thay vì khóc lóc hay kể lể, họ chọn im lặng. Thay vì hoảng loạn, họ tập trung xử lý vấn đề. Không phải vì họ mạnh mẽ hơn ai, mà vì cuộc đời đã dạy họ rằng nổi nóng, la hét hay tuyệt vọng cũng không làm sự việc thay đổi.

Sau quá nhiều lần va vấp, người ta bắt đầu hiểu rằng bình tĩnh mới là cách giúp mình sống sót qua những ngày khó khăn nhất.


Có một người từng kể rằng ngày mẹ anh mất đột ngột, cả bố và em trai đều sốc đến mức thẫn thờ, không thể làm gì. Một mình vợ chồng anh đứng ra lo toàn bộ tang lễ, giấy tờ, họ hàng, mọi thứ trong ngoài. Trong suốt những ngày đó, anh gần như không khóc. Anh bình tĩnh đến mức ai cũng nghĩ chắc anh mạnh mẽ lắm.

Nhưng đến khi mọi chuyện xong xuôi hết, anh mới xin nghỉ một ngày, nằm một mình trong phòng và khóc mẹ.

Người trưởng thành nhiều khi là như vậy. Không phải họ không đau, mà là họ phải cố đứng vững để làm chỗ dựa cho những người khác trước. Đặc biệt là nhiều người đàn ông, từ nhỏ đã được dạy rằng mình phải là trụ cột, phải gánh vác, phải mạnh mẽ. Thành ra có những nỗi đau họ không dám thể hiện ra ngoài, không phải vì không có cảm xúc, mà vì họ biết nếu mình cũng gục xuống lúc này thì những người còn lại sẽ biết dựa vào ai.

Cho nên đôi khi, người bình tĩnh nhất trong một biến cố… lại chính là người đang gồng nhiều nhất.

Càng lớn, chúng ta càng nhận ra một điều: mỗi người đều có cách riêng để đối diện với đau đớn. Có người khóc lớn. Có người kể hết ra. Có người chọn im lặng. Nhưng im lặng không có nghĩa là vô cảm.

Đôi khi, sự bình thản mà ta nhìn thấy ở một người… thật ra được tạo nên từ rất nhiều lần họ đã tự nhặt mình lên sau giông bão.

Tú Uyên biên tập

CẢM KÍNH - BẠCH CƯ DỊ


Cảm kính

Mỹ nhân dữ ngã biệt,
Lưu kính tại hạp trung.
Tự tòng hoa nhan khứ,
Thu thuỷ vô phù dung.
Kinh niên bất khai hạp,
Hồng ai phú thanh đồng.
Kim triêu nhất phất thức,
Tự cố tiều tuỵ dung.
Chiếu bãi trùng trù trướng,
Bối hữu song bàn long.


感鏡 - 白居易

美人與我別
留鏡在匣中
自從花顏去
秋水無芙蓉
經年不開匣
紅埃覆青銅
今朝一拂拭
自顧憔悴容
照罷重惆悵
背有雙盤龍


Cảm xúc khi soi gương
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Mỹ nhân từ biệt ta rồi. 
Hộp gương để lại, cho người nhớ nhung. 
Xa xôi, cách mặt muôn trùng. 
Hồ thu vắng bóng phù dung gọi mời. 
Gương nằm trong hộp lâu rồi. 
Bụi mờ đã phủ, đồng thời lên xanh. 
Nay chùi lớp bụi bám quanh. 
Soi gương tự thấy, sao nhanh đã già. 
Gương mặt tiều tụy xót xa. 
Sau gượng rồng cuộn, nhìn mà sầu thêm.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, 15 bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.

Nguồn: Thi Viện

CUỘC ĐỐI ĐÁP GIỮA HAI TIỂU HÒA THƯỢNG: CỬA ĐẠO LUÔN RỘNG MỞ, QUAN TRỌNG LÀ Ở ‘NGỘ’

Từ xưa đến nay, có rất nhiều người giảng về hàm dưỡng, tu dưỡng tâm tính. Nhưng khi thật sự đối mặt với vấn đề, thì tâm thái cao thấp của một người đều có thể nhìn thấy rõ. Quan trọng là là ở “ngộ”, chỉ cần dựa vào “ngộ” có thể nhìn thấy được cảnh giới của một người là cao hay thấp.


1. Dụng tâm để ngộ

Xưa kia có hai ngọn núi, một ngọn quay mặt về hướng Bắc và ngọn còn lại thì hướng về phía Nam, đồng thời trên mỗi ngọn núi đều có một ngôi chùa. Để phân biệt mỗi khi nhắc đến, người thời đó thường gọi là chùa Bắc và chùa Nam.

Mỗi buổi sáng, hai ngôi chùa đều có một tiểu hòa thượng xuống chợ dưới núi để mua rau. Hai tiểu hòa thượng này tuổi trẻ khí thịnh, các tâm của người thường vỗn chưa qua tôi luyện, nên vẫn chưa thể vứt bỏ được nhiều. Họ đều không phục đối phương, mỗi lần khi gặp nhau ở chợ, họ thường bí mật hoặc đôi khi công khai thử tài, thách đố lẫn nhau.

Một hôm, tiểu hòa thượng ở chùa Nam hỏi: “Cậu đi đâu thế?”

Tiểu hòa thượng ở chùa Bắc đáp: “Chân tớ đi đến đâu, tớ sẽ đi đến đó”.

Tiểu hòa thượng ở chùa Nam nghe xong, không biết phải đối đáp thế nào, đành ấm ức trong lòng, nhanh chóng mua rau mà quay về chùa bẩm với sư phụ

Chú tiểu ấy trẻ người non dạ đã đành, vị trụ trì của chùa Nam lại cũng hồ đồ như thế, tâm tật đố không buông bỏ. Sau khi nghe đệ tử mình nói lại câu chuyện ấm ức khi không đối đáp được với chú tiểu chùa Bắc, thay vì khuyên bảo chú bé tu tâm tính, không nên gây chuyện thị phi thì ông lại mách rằng: “Lần sau gặp đối phương, vẫn hãy dùng câu đó để hỏi, nếu cậu ta còn trả lời như thế, con hãy nói: Nếu cậu không có chân, vậy cậu sẽ đi đâu? Như thế con sẽ có thể thắng được”.

Sáng hôm sau như thường lệ, hai tiểu hòa thượng ở chùa Nam và chùa Bắc lại gặp nhau ở chợ rau.

Tiểu hòa thượng ở chùa Nam lại hỏi: “Cậu đi đâu thế?”

Lần này chú tiểu hòa thượng ở chùa Bắc trả lời: “Gió đi đến đâu, tớ liền đến đó”.

Câu trả lời bất ngờ này khiến tiểu hòa thượng ở chùa Nam lại không thể đáp trả, cậu tiếp tục ngây người ra đó, ấm ức không nói nên lời. Sau khi trở về chùa, Sư phụ thấy tiểu hòa thượng mặt đầy ủ rũ, liền hỏi: “Lẽ nào phương pháp ta dạy con không có tác dụng sao?”

Tiểu hòa thượng liền thuật lại những gì đã xảy ra, Sư phụ nghe xong liền cười lớn xoa đầu chú tiểu và bảo: “Vậy con có thể hỏi ngược lại đối phương rằng: Nếu không có gió, cậu sẽ đi đâu?”

Sáng hôm sau, với khí thế ôm chắc phần thắng và muốn làm cho đối phương phải “nín lặng” trước những gì mình sắp nói ra, tiểu hòa thượng ở chùa Nam nhanh nhảu chạy đến hỏi chú tiểu hòa thượng ở chùa Bắc rằng: “Cậu đi đâu thế?”

Lần này, câu trả lời cậu ấy nhận được từ đối phương rất thực tế, chú tiểu hòa thượng chùa Bắc hồn nhiên đáp: “Tớ đi chợ.”

Tiểu hòa thượng ở chùa Nam lại một lần nữa không có gì để nói, bởi vì không thể nào mở miệng hỏi tiếp rằng: “Nếu không có chợ, cậu sẽ đi đâu?”, câu nói này rất vô lý!

Vị sư phụ sau khi biết tình huống này, ông liền thở dài:

“Nhìn hoàng hôn ngộ ra đời vô thường,

Nhìn mây trắng ngộ ra nó thong dong,

Nhìn núi non ngộ ra sự xảo diệu,

Nhìn sông biển ngộ ra nó mênh mông . .

Sự học hỏi quý ở chỗ dụng tâm mà ngộ, không thể dựa vào người khác mà ngộ được. Thứ của người khác vĩnh viễn là của người khác, chỉ có thứ tự bản thân mình ngộ ra mới là của mình”.


2. Rễ và ngọn

Xưa kia có một thanh niên luôn thích khoe khoang bản thân trước mặt người khác. Một ngày nọ, sư phụ dẫn anh ta đến một cái cây và hỏi: “Con nói xem ngọn cây này có đẹp không?”

“Dạ đương nhiên, ngọn cây nở đầy hoa tươi mới đẹp làm sao!” Người đệ tử nhanh miệng đáp.

Ngay lúc đó một cơn gió thổi qua, ngọn cây phát ra âm thanh “loạt xoạt”.

Vị sư phụ hỏi tiếp: “Con có nghe thấy gì không?”

“Dạ đương nhiên nghe thấy rồi, tiếng của ngọn cây mới trong trẻo và vui tai làm sao!”, anh thanh niên nhanh nhảu đáp.

“Nhưng con có biết ngọn cây trong tiếng Hán gọi là gì không? Nó gọi là Mạt!”

Sư phụ nói xong liền chỉ vào gốc cây và bảo: “Con có nhìn thấy rễ cây không? Con có nghe thấy rễ của cây phát ra tiếng động không?”

Người thanh niên nhíu mày đáp: “Dạ thưa, rễ cây chôn xuống đất, làm sao nhìn thấy được? Hơn nữa rễ cây tĩnh lặng, làm sao nghe được tiếng của nó thưa sư phụ?”

“Nhưng con có biết rễ cây trong tiếng Hán gọi là gì không? Nó gọi là Bổn!”, Sư phụ giải thích.

“Nghĩa là, mặc dù ngọn cây đầy hoa có thể lao lao, gây sự chú ý đến những người xung quanh, nhưng nó rất mỏng manh, chỉ cần một cơn gió mạnh thì có thể sẽ gãy ngay và không còn giá trị gì sau đó nữa. Còn gốc cây, mặc dù trầm lặng, thậm chí bị chôn vùi dưới đất, nhưng đó là căn bản của sự sống, không có nó thì cũng sẽ không có cây, không có lá, cành và tất nhiên những đóa hoa trên ngọn cây cũng không có cơ hội mà lao xao, khoe sắc trước gió,… con hiểu ý của ta chứ?”

Anh thanh niên cúi mặt, khẽ gật đầu lĩnh hội nội hàm lời dạy của sư phụ. Từ đó về sau, anh trở nên trầm tĩnh hơn, ăn nói cũng rất biết chừng mực, đặc biệt là không bao giờ khoe khoang trước mặt người khác nữa.

Theo: Tinh Hoa

Monday, August 24, 2026

GIẢI MÃ TRANH VẼ "NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH" TRÊN VÁCH HANG ĐỘNG THỜI TIỀN SỬ

Nhiều bức tranh vẽ trên các hang động từ hàng ngàn năm trước được cho là cách thức người tiền sử mô tả về sự xuất hiện của người ngoài hành tinh. Tuy nhiên, các nhà khoa học lại không cho là như vậy.


Vì sao người tiền sử vẽ tranh trên các vách hang?

Người tiền sử vẽ tranh trên các vách hang, nơi họ sinh sống và trú ngụ cách đây hàng ngàn năm, vì nhiều lý do khác nhau.

Nhiều nhà khảo cổ học cho rằng những bức tranh vẽ này mang ý nghĩa tín ngưỡng hoặc được sử dụng cho các nghi lễ. Đôi khi, các bức tranh vẽ cũng là một cách để ghi lại các sự kiện quan trọng của người tiền sử như một chuyến đi săn thành công hoặc để mô tả hiện tượng tự nhiên mà con người lần đầu bắt gặp.

Vẽ tranh lên vách hang là cách người tiền sử mô tả về cuộc sống, quá trình săn bắt hoặc truyền đạt thông tin… (Ảnh: Pinterest).

Các nhà khoa học cũng cho rằng các bức tranh vẽ được sử dụng để truyền đạt thông tin, hướng dẫn thế hệ trẻ về các kỹ thuật săn bắn hoặc các loài động vật nguy hiểm, cần tránh xa.

Các nhà khoa học cũng không loại trừ khả năng các hình vẽ trên vách hang động là cách để người tiền sử đánh dấu lãnh thổ hoặc xác định chủ quyền với hang động mà họ đang trú ngụ. Hoặc đôi khi, các bức tranh vẽ chỉ đơn giản là cách để người tiền sử thể hiện óc sáng tạo và khả năng nghệ thuật của họ.

Người tiền sử thường dùng than từ gỗ cháy để vẽ tranh, bởi lẽ đây là chất liệu dễ sử dụng và hầu như luôn có sẵn. Đôi khi, họ sử dụng các loại đất sét, đá đỏ, máu, mỡ động vật… để thực hiện các bức tranh trên vách hang.

Vì sao các bức tranh vẽ trên vách hang động có thể tồn tại suốt cả ngàn năm

Một vấn đề khiến không ít người thắc mắc đó là vì sao các bức tranh vẽ trên vách hang động lại có thể tồn tại suốt một thời gian dài, lên đến hàng ngàn năm như vậy.

Các nhà khoa học cho biết có nhiều yếu tố giúp các bức tranh vẽ này có thể tồn tại lâu. Đầu tiên đó là hầu hết các bức tranh của người tiền sử còn tồn tại đều nằm sâu trong hang động, nơi tránh xa các điều kiện thời tiết như mưa, gió, ánh nắng mặt trời…

Những tranh vẽ được khắc trên vách đá tại Di tích Quốc gia Canyon, bang Arizona, Mỹ (Ảnh: Getty).

Chất liệu dùng để vẽ tranh cũng giúp các bức tranh này tồn tại lâu. Theo đó, người tiền sử dùng các chất màu tự nhiên như than củi, đất sét hay đá chứa oxit sắt… để vẽ, giúp các bức tranh tồn tại được lâu. Ngoài cách vẽ thông thường, một số bức tranh còn được khắc vào đá, giúp chúng tồn tại được lâu hơn.

Phát hiện nhiều tranh vẽ "người ngoài hành tinh" cách đây hàng ngàn năm trên khắp thế giới

Bên cạnh những bức tranh vẽ mô tả về cuộc sống hàng ngày, quá trình săn bắt, hái lượm… nhiều bức tranh vẽ của người tiền sử đã gây ra không ít tranh cãi khi có nội dung giống như mô tả về người ngoài hành tinh.

Hình ảnh tranh vẽ giống người ngoài hành tinh được tìm thấy tại Ấn Độ. Những bức tranh này được cho là vẽ từ cách đây 10.000 năm (Ảnh: TOI).

Vào năm 2018, các nhà khảo cổ học tại Ấn Độ đã tìm thấy bên trong các hang đá tại bang Chhattisgarh và bang Madhya Pradesh những bức tranh vẽ của người tiền sử. Các bức tranh này mô tả về những sinh vật có đầu to và thân hình kỳ lạ, giống với hình ảnh về người ngoài hành tinh xuất hiện trong các bộ phim khoa học viễn tưởng.

Các nhà khảo cổ học tin rằng những bức tranh này được vẽ từ cách đây hơn 10.000 năm.

Cũng trong năm 2018, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều hình vẽ trên vách các hang động bên trong Khu bảo tồn Động vật hoang dã Swaga Swaga tại miền trung Tanzania. Trong số những bức tranh vẽ này, các nhà khảo cổ học đã ấn tượng với tranh vẽ về 3 nhân vật bí ẩn sở hữu những chiếc đầu to quá khổ.

Những hình vẽ giống người ngoài hành tinh trên hang động tại Tanzania được cho là mô tả nghi thức truyền thống của tổ tiên người Sandawe (Ảnh: Đại học Cambridge).

Nhà khảo cổ học Maciej Grzelczyk đến từ Đại học Cambridge, Anh, cho rằng những bức tranh vẽ này có thể giúp giới khoa học tìm hiểu về tổ tiên của người Sandawe, một nhóm người dân tộc bản địa sống tại khu vực Đông Nam Phi.

Một trong những thách thức lớn nhất của các nhà khoa học đó là "xác định danh tính" của 3 nhân vật bí ẩn này. Khi quan sát kỹ các bức tranh vẽ, họ nhận ra những cái đầu to lớn của các nhân vật khá giống với đầu trâu.

Grzelczyk cho biết sừng trâu đóng một vai trò quan trọng trong các nghi lễ của người Sandawe, do đó bức tranh vẽ về những nhân vật giống với người ngoài hành tinh này được cho là mô tả về những người đội mũ sừng trâu để thực hiện các nghi lễ tín ngưỡng.

Ý nghĩa về các bức tranh vẽ giống người ngoài hành tinh trên vách hang đá của người tiền sử

Những bức tranh vẽ giống người ngoài hành tinh trên các vách hang đá của người tiền sử đã gây ra nhiều tranh cãi và suy đoán từ giới khảo cổ.

Không ít ý kiến cho rằng những bức tranh vẽ này được người tiền sử mô tả về sự kiện người ngoài hành tinh đã từng ghé thăm Trái Đất và giao tiếp với họ. Tuy nhiên, đây chỉ là giả thuyết trong văn hóa đại chúng, khi các bức tranh vẽ của người tiền sử được chia sẻ lên mạng xã hội. Trong khi đó, cộng đồng khoa học chính thống và giới khảo cổ không ủng hộ giả thuyết này vì thiếu bằng chứng cụ thể.

Giả thuyết được giới khoa học chấp nhận nhiều nhất đó là những bức tranh vẽ này mô tả về những nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo… trong đó người thực hiện nghi lễ sẽ mặc những bộ trang phục và đội những chiếc mũ đặc biệt, khiến kiểu dáng của họ trở nên khác thường.


Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng những bức tranh vẽ này có thể là cách mô tả của người tiền sử về các vị thần, linh hồn hoặc những thực thể siêu nhiên mà họ tôn thờ, chứ không nhất thiết là sinh vật ngoài hành tinh.

Ngoài ra, không loại trừ khả năng một số bức tranh vẽ do người hiện đại vẽ thêm lên các vách hang đá nhằm cố tình tạo ra sự hiểu lầm cho các nhà nghiên cứu.

Nhìn chung, các nhà khoa học cho biết nghiên cứu kỹ về các bức tranh vẽ trên vách hang động có thể giúp họ hiểu rõ hơn về cuộc sống, văn hóa và tín ngưỡng của người tiền sử. Họ tin rằng các bức tranh vẽ của người tiền sử đều có ý nghĩa về mặt văn hóa, tâm linh hoặc biểu tượng, chứ không liên quan đến người ngoài hành tinh.

T. Thủy / Theo: DNews

‘SO ĐO’ LÀ KHỞI ĐẦU CỦA BẦN CÙNG

Người khôn ngoan là người luôn biết cách cư xử hào phóng, rộng lượng, vì vậy mà đi đâu cũng thấy may mắn, kết giao được nhiều bạn bè tốt. Ngược lại, người có lòng dạ hẹp hòi, so đo, tính toán chi li với người khác thì chỉ toàn thấy oán giận khắp nơi, tự đẩy mình vào thế cô lập.


So đo là chướng ngại cản trở sự thăng hoa của tâm tính, cũng là cơ chế phòng ngự bản thân một cách tiêu cực. Những người như thế thường có tính khí ích kỷ, lạnh lùng, khép kín, khiến cuộc sống rơi vào vòng tuần hoàn ác tính, càng ngày càng trở nên kém cỏi.

Sở dĩ một người có thể sống tự do tự tại, không phải là vì anh ta có nhiều thứ tốt đẹp hơn, mà là vì anh ta ít so đo hơn.

Điểm lấm tấm trên hạt trân châu lớn

Một người nọ rất may mắn khi có được một viên trân châu lớn đẹp đẽ, nhưng anh ta không cảm thấy thỏa mãn với nó, vì trên viên trân châu có vài điểm lấm tấm nhỏ.

Anh ta nghĩ rằng nếu có thể loại bỏ những điểm lấm tấm này đi, thì giá của nó chắc chắn sẽ tăng gấp ba. Thế là anh ta cầm dao, nhẫn tâm cạo đi lớp bên ngoài của viên trân châu. Nhưng cứ cạo mãi mà điểm lấm tấm vẫn còn, anh ta lại tiếp tục cạo thêm lớp nữa. Cứ như vậy, anh ta cạo hết lớp này qua lớp khác, cuối cùng những điểm lấm tấm kia không còn nữa, mà ngay cả viên trân châu cũng chẳng còn.

Nhà văn Jack Kerouac từng nói: “Những linh hồn không bị trói buộc sẽ không so đo bất cứ điều gì, vì sâu trong nội tâm của họ có sự kiêu ngạo như một quốc vương”.

Thực ra điều quan trọng nhất trong cuộc sống không phải là cứ đi so đo thật giả, được mất, danh lợi, địa vị cao thấp, hay giàu nghèo ra sao, mà là làm thế nào để trân trọng cuộc sống và khám phá ý nghĩa thi vị của cuộc sống.

Nếu trong lòng một người cứ mãi so đo, thì sẽ thấy khắp nơi toàn những lời oán giận; nhưng nếu lòng rộng mở, thì lúc nào cũng sẽ thấy đều là mùa xuân. Cho đi là cách giao tiếp tốt nhất, bởi vì “cho đi” sẽ khiến chúng ta cảm thấy hạnh phúc, vui vẻ hơn là khi “nhận lại” gấp bội.

Nước cứu sinh trên sa mạc

Có một người đàn ông vừa đói vừa khát, ông gần như sắp chết giữa sa mạc. Nhưng đột nhiên ông phát hiện, có một ngôi nhà tồi tàn nhỏ bé mà bên trong có một máy bơm nước, và bên cạnh là một bình nước với miệng ấm bị nhét chặt bằng gỗ.

Bên cạnh có tờ giấy viết: “Đầu tiên, bạn hãy rót nước trong bình này vào máy bơm nước, sau đó mới có thể bơm nước. Tuy nhiên, bạn vui lòng hãy rót nước đầy vào bình lại trước khi đi”.

Lúc này người đàn ông phải đối mặt với một lựa chọn khó khăn. Nếu ông đổ hết nước trong bình vào máy bơm mà nước vẫn không chảy ra, thì chẳng phải đã lãng phí bình nước cứu mạng này sao? Nhưng ngược lại, nếu ông uống hết nước trong bình, thì ông sẽ giữ được mạng sống của mình trong bao lâu?

(Ảnh minh họa qua Soha)

Suy nghĩ một lúc, cuối cùng người đàn ông quyết định sẽ làm theo những gì được ghi trong tờ giấy. Quả nhiên không phụ lòng mong đợi, máy bơm nước đã phun ra dòng nước suối tươi mát, và người đàn ông đã sung sướng uống lấy uống để.

Sau khi đã khát, ông ngồi xuống nghỉ ngơi một lát, rồi sau đó rót đầy nước vào bình trở lại. Đồng thời ông để lại thêm hai câu nữa vào tờ giấy rằng: “Hãy tin tôi, những gì viết trên giấy là thật. Chỉ cần bạn coi nhẹ sự sống chết, học cách cho đi thì mới có thể nếm được nước suối thơm ngọt”.

Bảy thứ mà người nghèo sở hữu

Có một người nghèo nọ hỏi một người thông minh: “Sao tôi lại nghèo như vậy?”

Người thông minh trả lời: “Vì anh không học được cách cho đi”.

Người nghèo lại nói: “Tôi không có cái gì thì sao có thể cho người khác?”

Người thông minh trả lời: “Một người không có gì cũng thể cho người khác 7 thứ tốt đẹp!”

Người nghèo lại hỏi: “Bảy thứ tốt đẹp nào?”

Người thông minh đáp: “Vẻ mặt: Mỉm cười xử sự; ngôn ngữ: Nói những lời khen ngợi, an ủi; tâm: Mở rộng cửa lòng, hòa nhã với mọi người; mắt: Nhìn người khác một cách thiện ý; thân thể: Giúp đỡ người khác bằng hành động; ngồi: Khiêm tốn nhường chỗ; nhà: Có tấm lòng dung chứa người khác”.

Bảy thứ mà người nghèo sở hữu. (Ảnh qua Kenh14)

Người nghèo nghe xong thì cũng bừng tỉnh đại ngộ.

Vậy nên, cuộc sống một người muốn có sự vui vẻ thì nhất thiết phải học được cách cho đi, hạnh phúc thật sự là phải san sẻ với người khác nếu không thì trong lòng sẽ giống như biển chết, chỉ có dòng nước đi vào mà không có đi ra, cuối cùng cũng sẽ hoàn toàn im lặng.

Đạt được thứ mình muốn có thể sẽ mang đến cảm giác thỏa mãn, nhưng cho đi lại là một kiểu vui vẻ khác. Khi một người đặt sự so đo của mình xuống, học được cách cho đi thì mới có thể gặt hái được hạnh phúc; Hiểu được cách cho đi mới có thể nhận được nhiều hồi báo hơn!

Theo: Tinh Hoa

DẠ HỢP HOA - SỬ ĐẠT TỔ


Dạ Hợp Hoa - Sử Đạt Tổ

Liễu tỏa oanh hồn,
Hoa phiên điệp mộng,
Tự tri sầu nhiễm Phan lang.
Khinh sam vị lãm,
Do tương lệ điểm thâu tàng.
Niệm tiền sự,
Khiếp lưu quang,
Tảo xuân khuy, tô vũ trì đường.
Hướng tiêu ngưng lý,
Mai khai bán diện,
Tình mãn từ trang.

Phong ty nhất thốn nhu trường,
Tằng tại ca biên nhạ hận,
Chúc để oanh hương.
Phương cơ thụy cẩm,
Như hà vị chức uyên ương.
Nhân phù túy,
Nguyệt y tường,
Thị đương sơ, thùy cảm sơ cuồng!
Bả nhàn ngôn ngữ,
Hoa phòng dạ cửu,
Các tự tư lương.


夜合花 - 史達祖

柳鎖鶯魂
花翻蝶夢
自知愁染潘郎
輕衫未攬
猶將淚點偷藏
念前事
怯流光
早春窺酥雨池塘
向消凝裏
梅開半面
情滿徐妝

風絲一寸柔腸
曾在歌邊惹恨
燭底縈香
芳機瑞錦
如何未織鴛鴦
人扶醉
月依墻
是當初誰敢疏狂
把閑言語
花房夜久
各自思量


Dạ hợp hoa
(Dịch thơ: Lộc Bắc)

Liễu che oanh, hoa lay mộng bướm
Tự biết rằng sầu vướng chàng Phan
Áo thưa dấu lệ tuôn tràn
Chuyện xưa nhớ lại thời gian hãi hùng

Thấy xuân sang, hồ cùng mưa mát
Phách đọng ngưng, hồn nát tả tơi
Hoa mai chớm nở nơi nơi
Hàm tình thiếu nữ rạng ngời điểm trang

Cơn gió thoảng, tình vương một mối
Đã từng bên ca rỗi hận mang
Hương thơm dưới nến nhẹ loang
Cửi xinh gấm đẹp bẽ bàng uyên ương

Rượu say sưa, trên tường trăng rõi
Ai khi xưa dám nói luông tuồng
Thề non hẹn biển giờ buông
Phòng hoa đêm trải, vấn vương riêng mình!


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Sử Dạt Tổ (khoảng 1160–khoảng 1210), tự là Bang Khanh , tên hiệu Mai Khê , là người gốc Biện Kinh (nay là Khai Phong , Hà Nam ). Ông là một nhà thơ trữ tình thời Nam Tống .

Theo: longhovinhlong