Sunday, October 4, 2026

PHÚ ĐÁC CỔ NGUYÊN THẢO TỐNG BIỆT - BẠCH CƯ DỊ


Phú đắc cổ nguyên thảo tống biệt

Ly ly nguyên thượng thảo,
Nhất tuế nhất khô vinh.
Dã hoả thiêu bất tận,
Xuân phong xuy hựu sinh.
Viễn phương xâm cổ đạo,
Tình thuý tiếp hoang thành.
Hựu tống vương tôn khứ,
Thê thê mãn biệt tình.


賦得古原草送別

离离原上草
一歲一枯榮
野火燒不盡
春風吹又生
遠芳侵古道
晴翠接荒城
又送王孫去
萋萋滿別情


Phú đắc cổ nguyên thảo tống biệt
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Trên đồng cỏ mọc bời bời.
Mỗi năm một bận, héo thời lại tươi.
Lửa thiêu như muốn trêu ngươi.
Gió đem xuân tới, lại cười hồi sinh.
Hương thơm vấn vít quanh mình.
Thành hoang, cỏ vẫn nhiệt tình ngát xanh.
Lần này tiễn biệt quan anh.
Rầu rầu ly biệt, phận đành biệt ly.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ.

Nguồn: Thi Viện



HOÀN CHÂU CÁCH CÁCH: TIỂU YẾN TỬ VÀ NÀNG HẠ TỬ VI LÀ 2 NHÂN VẬT CÓ THẬT TRONG LỊCH SỬ?

Cuối những năm 90, loạt phim truyền hình cổ trang “Hoàn Châu cách cách” đã gây nên một cơn sốt khắp châu Á. Những nhân vật như: Ngũ A Ca, Tiểu Yến Tử, Hạ Tử Vi, Phúc Nhĩ Khang… sau hàng chục năm vẫn còn sống động trong lòng độc giả. Nhưng có một câu hỏi đặt ra là: Nhân vật Hoàn Châu Công Chúa và Minh Châu Công Chúa thực sự là ai trong lịch sử?

Hoàn Châu Công chúa và Minh Châu Công chúa trên phim. Nguồn ảnh: internet.

Hoàn Châu Công Chúa là ai?

Bộ phim “Hoàn Châu cách cách” được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết cùng tên của nữ văn sĩ Quỳnh Dao. Tác giả cho biết ban đầu câu chuyện về cách cách Hoàn Châu hoàn toàn được xây dựng trên những tình tiết hư cấu.

Tuy nhiên Quỳnh Dao cũng khẳng định cảm hứng sáng tác của mình bắt nguồn từ một ngôi mộ công chúa ở vùng ngoại ô miền Tây Bắc Kinh. Dù mang danh nghĩa công chúa nhưng do không cùng dòng máu nên mộ của nàng bị nằm tách biệt khỏi nghĩa trang hoàng gia.

Vậy câu chuyện thật đằng sau nàng công chúa vô danh kia là gì?

Có khá nhiều truyền thuyết kể về danh tính của nàng “Công Chúa” bí ẩn này. Một trong số đó nói rằng, trong một lần “vi hành”, vua Càn Long muốn thực sự tìm hiểu cuộc sống người dân nên chỉ dẫn theo hai người tùy tùng thân cận. Tuy nhiên do đi đến một vùng lạ nên nhà vua đã lạc đường.

Càn Long đi vi hành. Nguồn ảnh: Internet.

Thấy mặt trời sắp xuống núi, lại đói và mệt, Càn Long bèn đi vào một ngôi làng nhỏ. Tại đây, vua và hai người tùy tùng đã được một ông già nghèo tốt bụng tiếp đón chu đáo. Ông già mời họ vào nhà và bảo đứa con gái nhỏ chuẩn bị bữa cơm đạm bạc cho ba người lạ mà không hề biết rằng người đó chính là Càn Long.

Trong khoảng thời gian tá túc tại nhà ông lão, được chăm sóc bởi bàn tay bé nhỏ của đứa trẻ dễ thương, Càn Long đã nảy lòng yêu mến đứa trẻ và gia đình.

Vua đã đề nghị với ông lão được trở thành cha đỡ đầu của cô bé và người cha vui vẻ nhận lời. Về phía cô bé, Càn Long tặng cô một chiếc khăn tay và dặn: “nếu gặp khó khăn, hãy cứ đến Kinh thành tìm ta”.

Một vài năm sau đó, nạn đói hoành hành khắp nơi. Giống như bao gia đình khác, hai cha con ông lão già phải chạy nạn lên Bắc Kinh. Ở đây, họ phải ngủ trong các ngôi đền hoang và xin tiền sống qua ngày. Ông lão ngày một yếu rồi mắc bệnh nặng. Cô con gái quá tuyệt vọng, đi khắp nơi cầu xin mọi người cứu giúp.

Trong một lần ra bờ sông, cô đã gặp lại một trong hai người tùy tùng của vua Càn Long lúc trước tá túc tại nhà. Cô quỳ xuống cầu xin và được vị này đưa đến trình diện nhà vua cùng cha.

Càn Long sau khi gặp lại cô gái mới nhớ ra lời hứa năm nào của mình nên đã cưu mang và để cô ở lại trong cung.

Nhưng không lâu sau đó, bệnh của ông lão già ngày một nặng thêm rồi ông qua đời. Cô con gái vô cùng đau buồn và khóc rất nhiều. Cảm mến trước lòng hiếu thảo của cô, Càn Long muốn giữ cô trong cung nên đã hợp thực hoá bằng việc phong cô làm công chúa. Người dân trong thành gọi cô là “Công chúa dân gian”.

Tiểu Yến Tử – hình tượng nhân vật nghĩa nữ của Càn Long trong phim “Hoàn Châu cách cách”. Nguồn ảnh: internret.

Cuộc sống trong cung của “nghĩa nữ” của vua cũng không hề êm đẹp. Cô phải nhận sự ghẻ lạnh của nhiều người và luôn buồn bã u sầu. Một thời gian sau, cô gái cũng mắc bệnh mà mất.

Thương tiếc cho cô, Càn Long đã hạ lệnh chôn cô theo nghi thức hoàng gia tại một vùng riêng nằm phía Tây thành Bắc Kinh. Nơi này được gọi tên là “Mộ công chúa” nghĩa là phần mộ của công chúa mà không có tên rõ ràng.

Sự thật lịch sử về Hoàn Châu Cách Cách

Căn cứ theo tài liệu lịch sử ghi chép lại, “Mộ công chúa” quả thực có chôn cất hai vị công chúa thời nhà Thanh, từ đó mà khu đất đó cũng được mang tên này.

Hai vị công chúa ấy là Hoàng Tam Nữ và Hoàng Tứ Nữ, hai người con gái của hoàng đế Gia Khánh, tức Thanh Nhân Tông. Hoàng Tam Nữ sinh vào ngày 17/12/1781 (năm Càn Long 46), mẫu thân là Gia Thân Vương (Lưu Gia Thị sau này là phi tử của Gia Khánh).

Năm Gia Khánh thứ 6 (Năm 1801) Hoàng Tam Nữ được phong là Trang Kính Hòa Thạc công chúa. Tháng 3 năm Gia Khánh thứ 16 (năm 1811) thì qua đời, năm đó tròn 31 tuổi.

Hoàng Tứ Nữ sinh vào ngày 7/9/1784 (năm Càn Long thứ 49), mẫu thân là hoàng hậu Hiếu Thục Duệ, họ Hỷ Tháp Lạp. Năm Gia Khánh thứ 7 (năm 1802) được phong làm công chúa Trang Tĩnh Cố Luân. Tháng 5 năm Gia Khánh thứ 16 (năm 1811) thì qua đời ở độ tuổi 28.

Hai công chúa qua đời cùng năm, chỉ cách nhau 2 tháng nên được chôn cất cùng nhau, từ đó có “Mộ công chúa” đến ngày nay.

Mộ Công Chúa ở phía Tây thành Bắc Kinh. Nguồn ảnh: internet.

Mộ công chúa cổ có tường bao, cửa nghi môn, điện thờ, xung quanh và bên trong mộ phần trồng rất nhiều tùng, bách cổ cũng như các loại cây hòe, hạnh ngân, thể hiện ra sắc cổ hương cổ.

Cung ngầm là kết cấu gạch đá, rất kiên cố. Hai ngôi mộ đều là mộ đôi của vợ chồng, chôn theo binh khí, đao Mông Cổ và châu báu, tơ lụa… Có thể thấy rằng công chúa trong mộ này chính là “cách cách nhà Thanh” thực sự. Nhưng nhìn lại lịch sử vương triều Đại Thanh, căn cứ theo ghi chép thì quả thực có xuất hiện một vị công chúa người Hán – là nghĩa nữ của Hoàng đế Càn Long.

Hạ Tử Vi – Minh Châu Công chúa là nhân vật có thật

Nữ sĩ Quỳnh Dao đã xây dựng nhân vật Hạ Tử Vi trong “Hoàn Châu cách cách” theo cuộc đời của công chúa Hòa Thạc Hòa Gia. Nàng là công chúa có số phận đặc biệt.

Hòa Gia Công chúa hạ sinh vào ngày 2 tháng 12 (âm lịch) năm Càn Long thứ 10 (1745), nàng là cô con gái thứ tư của Càn Long Đế, thân mẫu của nàng là Thuần Huệ Hoàng quý phi Tô thị.

Tương truyền, khi nàng được hạ sinh, bàn tay khép dính liền giống hình bàn tay Phật. Vua Càn Long không vui nhưng Hoàng hậu Phú Sát thị đã nói 9 chữ: “Cách cách sinh Phật chưởng, thừa hoan Thái hậu”.

Nhờ vậy, Công chúa Hòa Gia đã lớn lên trong bình an và được vua Càn Long yêu mến, gọi nàng là Tứ cách cách. Dân gian gọi nàng là Phật Thủ Công chúa.

Nàng Hạ Tử Vy – hình tượng của Hoà Thạc Hoà Gia công chúa trên phim “Hoàn Châu cách cách”. Nguồn ảnh: internet.

Năm Càn Long thứ 25 (1760), tháng giêng, nàng được ban phong hiệu “Hòa Gia” cùng vị hiệu Hòa Thạc công chúa, đồng thời được chỉ hôn cho Ngự tiền thị vệ Phúc Long An , con trai của Đại học sĩ Phó Hằng.

Ngày 25 tháng 3 (âm lịch) cùng năm, nàng hạ giá lấy Phúc Long An (nguyên mẫu của nhân vật Phúc Nhĩ Khang trong phim Hoàn Châu Cách Cách), do đó được Hoàng đế ban cho phủ đệ ở Kinh sư.

Phúc Nhĩ Khang và Hạ Tử Vi – hình tượng nhận vật của Phúc Long An và Hoà Gia Hoà Thạc công chúa trong phim “Hoàn Châu Cách Cách”. Nguồn ảnh: internet.

Năm Càn Long thứ 32 (1767), ngày 7 tháng 9 (âm lịch), Hòa Gia Công chúa qua đời khi mới 22 tuổi. Tuy yểu mệnh mất sớm nhưng Hòa Gia Công chúa cũng kịp sinh hạ cho Ngạch phò Phúc Long An hai người con trai là Phong Thân Tế Luân và Phong Thân Quả Lặc Mẫn.

Mộ táng của Hòa Gia Công chúa nằm ở mặt Đông của thành Bắc Kinh cũ, nằm trong quy hoạch 7 viên tẩm của Công chúa. Cửa phía Đông phụ cận có 2 viên tẩm, một là của Cố Luân Ôn Hiến Công chúa – con gái của Khang Hi Đế; còn lại là của Hòa Thạc Hòa Gia Công chúa.

Viên Minh biên tập
Nguồn: ĐKN

IRAN: SỨC NÓNG HỎA GIÁO TỪ BA TƯ CỔ ĐẠI THỔI SANG PHƯƠNG TÂY

Ở phương Tây, việc nói về 'chúng ta' và 'họ' từ lâu nay đã là chủ đề chính trị quan trọng liên quan đến Iran. Bên cạnh đó, Cơ Đốc giáo thường được dùng để định danh các giá trị của Hoa Kỳ và châu Âu, và để làm rõ sự tương phản trong các giá trị đó với sự định danh các giá trị của một Trung Đông 'khác'.

Nguồn ảnh: PUNIT PARANJPE/AFP/Getty Images

Thế nhưng có một tôn giáo cổ - mà hiện vẫn đang được thực hành - đã cho thấy điều mà nhiều người đương nhiên coi là hoàn toàn thuộc lý tưởng, niềm tin tôn giáo, văn hóa phương Tây thực ra lại bắt nguồn từ Iran.

Các học giả cho rằng nhà tiên tri Iran cổ đại Zarathustra (trong tiếng Ba-tư gọi là Zartosht, còn trong tiếng Hy Lạp là Zoroaster) sống trong khoảng thời gian nào đó từ 1500 đến 1000 trước Công nguyên.

Trước thời Zarathustra, người Ba-tư cổ đại thờ phụng các vị thần trong tôn giáo Irano-Aryan cổ, tương đương với tôn giáo Indo-Aryan mà về sau được biết đến với tên gọi Ấn giáo (Hinduism).

Tuy nhiên, Zarathustra lên án tôn giáo này, và rao giảng rằng con người cần phải thờ phụng duy nhất chỉ Thượng Đế toàn năng, tức Ahura Mazda, vị Chúa tể của trí tuệ mà thôi.

Hỏa giáo - độc thần giáo đầu tiên

Khi làm vậy, nhà tiên tri Iran cổ không chỉ gây phân rẽ ghê gớm giữa người Iran và người Aryan Ấn Độ, mà còn đặt nền móng để nhân loại lần đầu tiên có một đức tin độc thần giáo, theo đó chỉ tôn thờ duy nhất một vị thần.

Nhà tiên tri Zoroaster được cho là sống trong khoảng thời gian từ 1500 đến 1000 trước Công nguyên. Nguồn ảnh: Hulton Archive/Getty Images.

Giáo lý nền tảng của Hỏa giáo - đạo thờ thần lửa - do Zarathustra sáng lập nên với ý tưởng chỉ có một thượng đế duy nhất đã đi vào các tôn giáo lớn khác, mà đáng kể nhất là 'ba đại tôn giáo': Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo và đạo Hồi.

Những thuyết về Thiên đường và Địa ngục, Ngày phán xét, Khải huyền, thiên thần và ác quỷ, toàn bộ đều được khởi nguồn từ những bài giảng của Zarathustra, và sau đó là từ những quy tắc, giáo lý Hỏa giáo.

Ngay cả khái niệm quỷ Satan cũng là một khái niệm căn bản trong Hỏa giáo; trên thực tế, toàn bộ niềm tin Hỏa giáo được miêu tả trên cơ sở cuộc đấu tranh giữa Thượng Đế và các lực lượng thiện, hiền hòa, mà đại diện là Chúa Thánh Thần (Holy Spirit) và Thánh linh (Spenta Manyu), với phe do một Thiên sứ (Ahriman) đứng đầu các lực lượng hắc ám, ma quỷ.

Trong lúc con người cần phải lựa chọn xem nên đi theo bên nào, thì tôn giáo này dạy rằng rốt cuộc, Thượng Đế sẽ thắng, và cả những kẻ bị đày đọa trong lửa ngục rồi cũng sẽ được ban phước lành trên Thiên Đường.

Từ 'thiên đường' - Paradise là một từ Ba-tư cổ.

Làm thế nào mà các ý niệm trong Hỏa giáo lại đi được vào các tôn giáo độc thần (Abrahamic) ở Tây Á cổ, và ở cả những nơi khác nữa?

Theo các nhà học giả, thì có nhiều trong số những tư tưởng này đến với người Do Thái vùng Babylon sau khi họ được giải phóng bởi Hoàng đế Ba-tư Cyrus Đại đế.

Tuy nhiên, những tư tưởng này dần trở thành chính thống trong cộng đồng Do Thái, và các nhân vật có tên tuổi như Beelzebub (tổng tư lệnh quân đội trong cuộc chiến giữa Địa ngục và Thiên đường) xuất hiện.

Sau khi người Ba-tư chinh phục được các đảo của Hy Lạp trong thời hoàng kim của Đế chế Achaemenid, triết học Hy Lạp đã đi theo một hướng khác.

Người Hy Lạp trước đó tin rằng số phận con người phụ thuộc vào các vị thần, mà những đấng quyền năng luôn hành động theo những vui buồn ngẫu hứng.

Nhưng sau khi làm quen với tôn giáo và triết học Iran, người Hy Lạp bắt đầu cảm thấy tin tưởng hơn vào việc con người có thể làm chủ số phận mình, và rằng các quyết định của con người là do chính con người đưa ra.

Nguồn ảnh: ATTA KENARE/AFP/Getty Images

Từng là quốc giáo của Iran và có tín đồ ở các vùng người nói tiếng Ba-tư sinh sống (như Afghanistan, Tajikistan và đa số các xứ thuộc Trung Á), Hỏa giáo ngày nay chỉ là một đạo nhỏ tại Iran - vì đa số đã theo Hồi giáo - và có một ít môn đồ ở các nơi khác trên thế giới.

Thế nhưng di sản văn hóa của tôn giáo này thì khác.

Nhiều truyền thống của Hỏa giáo tiếp tục là trụ cột và tạo sự độc đáo trong văn hóa Iran; ở bên ngoài nước này nó cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ, nhất là ở Tây Âu.

Trường ca Hỏa giáo

Từ hàng thế kỷ trước khi tác phẩm Thần khúc (Divine Comedy) của Dante ra đời, cuốn Sách của Arda Viraf đã mô tả đầy màu sắc, chi tiết về hành trình tới Thiên đường và Địa ngục.

Có thể nào là Dante đã nghe được câu chuyện kể trong Hỏa giáo về một kẻ lãng du, lang thang trong vũ trụ? Câu chuyện kẻ lãng du đó được cho là đã trở thành hoàn thiện như hiện nay vào khoảng thời gian Thế kỷ 10 sau Công nguyên, và hai tác phẩm có những nét tương đồng tới mức kỳ lạ, nhưng đó chỉ là những giả thuyết được nêu ra mà thôi.

Tuy nhiên, ở những nơi khác thì 'mối liên hệ' với Hỏa giáo ít mập mờ hơn.

Nhà tiên tri người Iran có vẻ như đã tỏa sáng khắp toàn cầu trong bức bích họa Trường Athens hồi Thế kỷ 16 của Raphael.

Tương tự, Clavis Artis, bộ bản thảo tác phẩm mô tả thuật giả kim của Đức hồi cuối Thế kỷ 17, đầu Thế kỷ 18 dành để nói về Zarathustra, với những cảnh miêu tả ông trong các chủ đề Cơ Đốc giáo.

Zoroaster "[tại Châu Âu theo Cơ Đốc giáo] được coi như bậc thầy về pháp thuật, một nhà triết học và nhà chiêm tinh học, đặc biệt là sau thời Phục Hưng," Ursula Sims-Williams từ Trường Nghiên cứu Đông phương và Phi châu (SOAS) thuộc Đại học London, nói.

Dấu ấn trong văn học nghệ thuật

Ngày nay, việc nhắc đến tên Zadig ngay lập tức khiến người ta nghĩ tới nhãn hiệu thời trang Pháp Zadig & Voltaire.

Tuy đồ quần áo của hãng này không phải là mang đặc tính của Hỏa giáo, nhưng câu chuyện đằng sau cái tên thì chắc chắn là có.

Được viết hồi giữa Thế kỷ 18 bởi chính Voltaire, Zadig kể câu chuyện huyền thoại về người anh hùng Ba-tư trong Hỏa giáo, người sau rất nhiều những gian truân và khổ não cuối cùng đã cưới được nàng công chúa Babylon.

Dẫu có vẻ thông tục và không phải là bắt nguồn từ thực tế lịch sử, câu chuyện triết lý của Voltaire vốn nảy nở từ mối quan tâm thực sự của ông đối với Iran cũng đã được các tên tuổi khác trong thời Khai phóng chia sẻ.

Voltaire say mê văn hóa Iran tới mức ông được biết đến trong nhóm bạn bè thân hữu với cái tên "Sa'di".

Cũng mang tinh thần tương tự, tuyển tập thơ Đông-Tây (West-East Divan) của Goethe, lấy cảm hứng từ thi sĩ người Ba-tư Hafez, đã có một chương mang chủ đề Hỏa giáo, trong lúc Thomas Moore thì khóc than cho số phận của Hỏa giáo trong thiên sử thi Lalla Rookh.

Không phải chỉ trong văn học hay nghệ thuật phương Tây mới có dấu ấn Hỏa giáo; thực sự, thứ tôn giáo cổ này cũng xuất hiện cả trên sân khấu nhạc kịch châu Âu.

Bên cạnh việc khắc họa nhân vật Sarastro, phần ca từ trong tác phẩm âm nhạc Cây sáo thần của Mozart chứa đầy các chủ đề mang nội dung Hỏa giáo, chẳng hạn như ánh sáng đối chọi với bóng tối, những phiên phán xử bằng lửa và nước, và trên hết, là việc đi tìm trí khôn và điều tốt lành.

Freddi Mercury rất tự hào về di sản Hỏa giáo Ba-tư của mình. Nguồn ảnh: Hulton Archive/Getty Images

Farrokh Bulsara - tức ca sỹ Freddi Mercury, nay đã qua đời, của ban nhạc The Queen - đã vô cùng tự hào với di sản Hỏa giáo Ba-tư của mình.

"Tôi sẽ luôn bước đi như một người Ba-tư đầy hãnh diện," ông từng nói trong một cuộc phỏng vấn, "và không ai có thể chặn bước tôi."

Tương tự, em gái của ông là Kashmira Cooke trong một cuộc phỏng vấn hồi 2014 đã nói về vai trò của Hỏa giáo trong gia đình mình.

"Cả gia đình chúng tôi tự hào là tín đồ Hỏa giáo," bà nói.

"Tôi nghĩ rằng đức tin Hỏa giáo [trong Freddie] đã khiến anh ấy làm việc miệt mài, bền bỉ và theo đuổi những giấc mơ."

Đá và lửa

Tuy nhiên, khi nói tới âm nhạc, có lẽ không có một ví dụ đơn lẻ nào có thể thể hiện rõ nét hơn tác phẩm 'Zarathustra đã nói như thế' (Thus Spoke Zarathustra) của Richard Strauss.

Tác phẩm nói về ảnh hưởng của di sản Zoroaster, là tác phẩm đã tạo phần cơ bản cho bộ phim khoa học viễn tưởng 2001: A Space Pdyssey, ra mắt hồi 1968 của đạo diễn Stanley Kubrick.

Bản nhạc dàn bè này chịu ảnh hưởng từ các tác phẩm chính có cùng tên của Nietzsche, được đặt tên theo nhà tiên tri Zarathustra, dẫu cho trên thực tế thì nhiều quan niệm mà Nietzsche đưa ra là bài xích Hỏa giáo.

Nhà triết học người Đức bác bỏ sự phân chia giữa cái tốt và cái xấu vốn là nét đặc trưng của Hỏa giáo, và, như ông tự thừa nhận mình là người vô thần, ông không hề tin vào độc thần giáo.

Bên cạnh Freddie Mercury và Zadig & Voltaire, có những ví dụ hiển nhiên khác về ảnh hưởng của Hỏa giáo đối với văn hóa đại chúng đương đại ở phương Tây.

Ahura Mazda được chọn làm tên cho hãng sản xuất xe hơi Mazda, cũng như tạo cảm hứng cho huyền thoại Azor Ahai - vị á thánh đã chiến thắng bóng đêm - trong phime Trò chơi Vương quyền (Game of Thrones) của George PP Martin, như nhiều fan của phim này đã phát hiện ra hồi năm ngoái.

Ta cũng có thể nói rằng cuộc chiến ngoài vũ trụ giữa Ánh sáng và Bóng tối của Thần Lực trong phim Star War đã chịu ảnh hưởng khá rõ của Hỏa giáo.

Tuy nhiên, người sáng lập ra nó lại không được biết đến rộng rãi.

Trong suy nghĩ chính thống và trong cách nhìn của nhiều chính trị gia Hoa Kỳ và châu Âu, Iran bị coi là ở cực đối lập về mọi mặt với những gì mà thế giới tự do đấu tranh để giành lấy.

Bên cạnh nhiều di sản và ảnh hưởng khác mà Iran ghi dấu ấn, Hỏa giáo - thứ tôn giáo bị lãng quên của nước này - giúp ta hiểu được là 'chúng ta' giống 'họ' - người Iran - tới mức nào.

Joobin Bekhrad
Theo: BBC Culture
Link tiếng Anh:


Saturday, October 3, 2026

SƠN ĐÔNG TRUNG QUỐC - CỘI NGUỒN VĂN HÓA VÀ KỲ QUAN THIÊN NHIÊN

Sơn Đông nơi sản sinh ra nền văn hóa Trung Hoa cổ đại, đóng góp phần lớn trong quá trình phát triển của nền văn minh. Đây cũng là nơi sinh ra của nhiều danh nhân lịch sử Trung Quốc như Khổng Tử và Mạnh Tử. Cùng đến với Sơn Đông Trung Quốc khám phá những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và văn hóa tại vùng đất lâu đời này nhé!


Sơn Đông nằm ở vị trí nào tại Trung Quốc ?

Tỉnh Sơn Đông nằm ở vùng ven biển phía đông của Trung Quốc, nằm ở phía đông Thái Hành Sơn. Sơn Đông thuộc vùng hạ du của sông Hoàng Hà và là cực bắc của vùng Hoa Đông. Phía tây Sơn Đông giáp với các tỉnh Hà Bắc, Hà Nam, Giang Tô và An Huy.

Tỉnh Sơn Đông Trung Quốc (ảnh sưu tầm)

Vùng trung bộ có độ cao khác biệt, được tạo nên bởi đỉnh Thái Sơn. Bán đảo Sơn Đông giáp với biển Hoàng Hải, phía đông nam là vùng biển rộng lớn. Cùng tham gia Tour Trung Quốc đến với Sơn Đông vùng đất của những kỳ quan thiên nhiên.

Ngọn hải đăng vùng biển Sơn Đông Trung Quốc (ảnh sưu tầm)

Thời tiết Sơn Đông Trung Quốc

Nên đi du lịch Trung Quốc vào tháng mấy? Tỉnh Sơn Đông nằm ở vị trí chuyển giao giữa khí hậu cận nhiệt đới ẩm và khí hậu lục địa ẩm tạo ra khí hậu ôn hòa với bốn mùa phân biệt. Mùa xuân và mùa thu không khí mát mẻ dễ chịu, mùa hè nhiệt độ cao và mưa nhiều, mùa đông không khí lạnh và khô.

Cảnh đẹp tại vùng biển (ảnh sưu tầm)

Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1, nhiệt độ dao động từ -5 độ C đến 1 độ C. Nhiệt độ cao nhất là vào tháng 7, nhiệt độ dao động từ 24 độ C đến 28 độ C. Vào mùa hè do ảnh hưởng của gió mùa sẽ có mưa nhiều, lượng mưa vào khoảng 550mm đến 950mm.

Kiến trúc cầu tại Sơn Đông (ảnh sưu tầm)

Khám phá cảnh đẹp Sơn Đông Trung Quốc

Với kinh nghiệm du lịch Trung Quốc hơn 10 lần, Thảo xin chia sẻ một vài địa điểm độc đáo không thể bỏ qua khi đến Sơn Đông Trung Quốc.

Chiêm ngưỡng thắng cảnh núi Thái Sơn

Mây mù bao phủ núi Thái Sơn (ảnh sưu tầm)

Núi Thái Sơn một trong năm ngọn núi của Trung Quốc được mệnh danh là “ngọn núi đẹp nhất thế giới”. Với sự phát triển của hàng ngàn cây thông và cây bách, giúp cho thiên nhiên nơi đây trở nên hùng vĩ và tươi tốt. Những con suối chảy trong hẻm núi quanh co, uốn lượn.

Những kiến trúc đặc biệt tại núi Thái Sơn (ảnh sưu tầm)

Với độ cao 1.532 mét, tại đây mọi người có thể nhìn ngắm mây và sương mù tạo nên sự huyền bí cho ngọn núi. Cảnh quan thiên nhiên thay đổi suốt bốn mùa, không chỉ vậy tại đây còn có “mặt trời mọc phương Đông” , “vành đai vàng sông Hoàng Hà”, “biển ngọc bích” và “ánh sáng hoàng hôn”. 

Những di tích văn hóa nằm trên núi Thái Sơn (ảnh sưu tầm)

Đỉnh chính của núi Thái Sơn nhô cao hùng vĩ, bao quanh là 112 đỉnh núi, 98 vách đá dựng đứng và 102 thung lũng, tạo thành vùng núi Thái Sơn hùng vĩ. Núi Thái Sơn là sự kết hợp của cảnh quan thiên nhiên và văn hóa. 

Khu khách đến tham quan núi Thái Sơn (ảnh sưu tầm)

Thái Sơn là địa điểm leo núi của nhiều vị Hoàng đế Trung Quốc, vì vậy rất nhiều di tích văn hóa được xây dựng tại đây, những đền chùa, danh lam thắng cảnh nằm rải rác xung quanh núi. Cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp của núi Thái Sơn đã đi vào những bài thơ cổ của những nhà văn, nhà thơ Trung Quốc như: Lý Bạch, Đỗ Phủ,..

Cảnh quan núi Thái Sơn (ảnh sưu tầm)

Khu thắng cảnh thiên nhiên Lao Sơn

Khu thắng cảnh thiên nhiên Lao Sơn (ảnh sưu tầm)

Một trong những địa điểm du lịch Trung Quốc nổi tiếng và nếu đã từng đến Sơn Đông một lần, chắc hẳn nhiều người sẽ nhớ đến khu thắng cảnh thiên nhiên Lao Sơn. Nổi bật nhất tại đây là ngọn núi Đạo giáo nổi tiếng. Lao Sơn nằm bên bờ biển Hoàng Hải rộng lớn, sừng sững và hùng vĩ. 

Núi đá tại Khu thắng cảnh thiên nhiên Lao Sơn (ảnh sưu tầm)

Khung cảnh thiên nhiên núi non, nước biển và ánh sáng như hòa vào làm một, tạo nên bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Nét đẹp độc đáo và quyến rũ của Lao Sơn đã thu hút vô số du khách đến tham quan, nán lại và đắm chìm bởi cảnh đẹp tại Thanh Đảo Trung Quốc.

Dòng suối trong xanh tại Khu thắng cảnh thiên nhiên Lao Sơn (ảnh sưu tầm)

Vào thời kỳ phát triển nhất, tại đây có chín cung điện, tám ngôi chùa, bảy mươi hai ni viện và nơi ở của các đạo sĩ. Trong khu vực núi là những tảng đá, hang động sâu kỳ lạ, những dòng suối trong vắt, thác nước chảy xiết và những khúc cua ngoằn ngoèo. 

Mùa thu tại Lao Sơn (ảnh sưu tầm)

Những dịp cuối tuần hay các ngày lễ, tại Lao Sơn thu hút rất nhiều những du khách, những người đam mê thể thao đến leo núi, cắm trại và tham gia nhiều hoạt động khác.
  
Công viên hồ Đại Minh

Công viên Hồ Đại Minh (ảnh sưu tầm)

Hồ Đại Minh một trong ba danh lam thắng cảnh lớn nhất tại thành phố Tế Nam, tỉnh Sơn Đông. Hồ Đại Minh là hồ nước tự nhiên được hình thành từ sự hợp lưu của các con suối nằm trong thành phố. Mặt hồ chiếm đến một phần tư diện tích thành phố Tế Nam, rộng đến 46 ha.
 
Đàn cá bơi trong hồ Đại Minh (ảnh sưu tầm)

Tản bộ xung quanh hồ du khách có thể nhìn những cánh diều bay, cá bơi dưới mặt hồ, hoa sen nở rộ, hàng liệu rợp bóng mát và những chiếc thuyền qua lại. Xung quanh hồ là những tòa nhà và cửa hàng, phóng tầm mắt ra xa mọi người có thể nhìn thấy những ngọn núi cao hòa vào bầu trời trong xanh. 

Đầm sen hồ Đại Minh (ảnh sưu tầm)

Mặt nước hồ Đại Minh còn phản chiếu hình ảnh những đình, chùa bình yên. Khu vực công viên được xây dựng những cây cầu quanh dòng suối uốn lượn, những con đường và hành lang vắng vẻ, bình yên.

Tham quan đảo Lưu Công 

Đảo Lưu Công (ảnh sưu tầm)

Đảo Lưu Công hòn đảo du lịch nổi tiếng tại Sơn Đông. Đảo Lưu Công thu hút du khách đến tham quan bởi những ngọn núi nhấp nhô, độ cao thấp dần từ bắc sang nam. Hòn đảo được bao phủ bởi hàng ngàn cây thông xanh và những cây bách tươi tốt. 

Công trình tại đảo Lưu Công (ảnh sưu tầm)

Ghé thăm đảo Lưu Công du khách hãy đến với đền Long Vương, ngôi đền được xây dựng từ thời nhà Thanh với diện tích 3.000 mét vuông. Lối kiến trúc đơn giản nhưng trang nhã và đẹp mắt, có hai sảnh phía trước và phía sau, các phòng được xây dựng bằng gạch gỗ. Trước đây, mỗi năm vào ngày mùng một tháng giêng âm lịch và mười ba tháng sáu âm lịch ngư dân trong và ngoài đảo sẽ đến đây thắp hương, cầu xin các vị thần. 

Pháo đài tại đảo Lưu Công (ảnh sưu tầm)

Du khách cũng có thể chiêm ngưỡng sáu pháo đài của nhà Thanh trên hòn đảo. Những pháo đài được xây dựng lối đi dưới lòng đất, các công trình quân sự và kho đạn dược,... được kết nối với nhau. Những pháo đài được xây dựng kiên cố, chắc chắn và vô cùng khéo léo.

Đảo Lưu Công nhìn từ trên cao (ảnh sưu tầm)

Đặc sản Sơn Đông Trung Quốc

Cảnh đẹp Sơn Đông Trung Quốc (ảnh sưu tầm)

Những món ăn đặc sản là điều không thể bỏ qua khi tham gia tour nước ngoài, đặc biệt là khi đến với Sơn Đông Trung Quốc. Nơi đây nổi tiếng với những món ăn được chế biến kỳ công, hương vị độc đáo đậm đà và giàu chất dinh dưỡng.
 
Thưởng thức ruột heo ram mặn

Ruột heo ram mặn đặc sản Sơn Đông Trung Quốc (ảnh sưu tầm)

Một trong những món ăn đặc sản Sơn Đông chắc chắn phải kể đến ruột heo ram mặn. Ruột heo tươi được nấu chung cùng nhiều gia vị như gừng, hành tây, hoa hồi, quế, đường và nước tương. Món ăn khi hoàn thành có màu đỏ, kết cấu giòn và vị chua ngọt. Một món ăn bổ dưỡng giúp tăng cường sức khỏe và hệ miễn dịch.
 
Cá chép chua ngọt đặc sản Sơn Đông Trung Quốc

Cá chép chua ngọt là một trong những món ăn truyền thống tại Trung Quốc và là đặc sản nổi tiếng tại Sơn Đông. Cá chép tươi được đánh bắt tại sông Hoàng Hà và sông Hải Hà. 

Đặc sản cá chép chua ngọt (ảnh sưu tầm)

Sau khi sơ chế, cá được cắt thành hình hoa, sau đó đem đi chiên vàng đều hai mặt cho đến khi chín. Hành, tỏi, gừng, đường, giấm gạo và nhiều gia vị khác được nấu đều và rưới lên cá. Món ăn có vị chua ngọt, màu đỏ tươi của nước sốt, cá giòn, thịt mền và giàu chất dinh dưỡng.

Hải sâm xào rau củ

Món ăn đặc trưng của Sơn Đông và được coi là báu vật trong ẩm thực cung đình xưa là hải sâm xào hành. 
Hải sâm xào rau củ (ảnh sưu tầm)

Món ăn được chế biến từ hai nguyên liệu chính là hải sâm và rau củ. Hải sâm xào rau củ mang bên mình hương vị tươi ngon và giàu chất dinh dưỡng, trở thành biểu tượng của văn hóa ẩm thực Sơn Đông. 

Bình minh tại vùng biển Sơn Đông Trung Quốc (ảnh sưu tầm)

Du lịch Sơn Đông Trung Quốc đến với vùng đất văn hóa đặc sắc hòa trung với những thắng cảnh, kỳ quan thiên nhiên hùng vĩ đã thu hút hàng ngàn du khách ghé thăm mỗi năm. Hãy để SaigonTimes Travel đồng hành cùng bạn trong chuyến đi khám phá vùng đất địa linh nhân kiệt của Trung Quốc nhé.

Yoko Thảo / Theo: saigontimestravel



HIẾU THẢO THẬT SỰ LÀ PHẢI CHÂN THÀNH, KHÔNG PHẢI CHỈ LÀ BỀ NGOÀI

Cha mẹ là người cho bạn sinh mệnh, bao dung bạn, yêu bạn mà không cần bất kỳ điều kiện nào, vì bạn mà lo lắng một đời, và luôn nguyện ý làm tất cả vì bạn. Bởi vậy, hiếu cha kính mẹ không chỉ là phẩm hạnh cần có của mỗi người, mà còn là đạo lý vĩnh hằng của Đất Trời.


Có người cho rằng, hiếu thảo đơn giản là luôn luôn làm vui lòng cha mẹ – nhưng đây lại là điều không phải ai cũng làm được.

Nếu bạn may mắn vẫn còn cha còn mẹ, vậy thì đừng quên khắc dạ ghi tâm một chữ “Hiếu” trong lòng. Người ta thường nói, gặp khó nạn thì than trời than đất, khi đau đớn thì gọi mẹ gọi cha. Vì thế ca dao mới có câu rằng: “Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra, Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”.

Mẹ nhọc nhằn chín tháng mười ngày, mang nặng đẻ đau, rồi cũng đến ngày chúng ta đến thế giới này. Cha mẹ đã cho ta sự sống, cho ta cất tiếng khóc đầu đời, dắt ta qua những bước chập chững đầu tiên, để ta có được nụ cười, rồi lại dạy ta bập bẹ từng từ từng câu. Đây cũng chính là điều mà bao nhiêu năm qua cha mẹ vẫn hạnh phúc kể lại cho chúng ta.

Cha mẹ vất vả nuôi chúng ta khôn lớn, cho chúng ta ăn học thành người, âm thầm dõi theo công việc, chuyện kết hôn, chuyện nuôi con v.v. Cho đến trọn cuộc đời, chúng ta vẫn luôn ở trong trái tim của cha mẹ.

Nhưng khi còn trẻ, bạn có biết chúng ta thường nói câu gì với cha mẹ mình không? Đó chính là: “Cha mẹ không hiểu con chút nào cả!”

(Nguồn: Media Bakery)

Trên thực tế, có bao giờ bạn nghĩ mình đã hiểu tấm lòng của mẹ cha?

Khi công việc không thuận lợi, một số người rất dễ cáu kỉnh, ở nhà luôn luôn giận dữ, thậm chí còn quát tháo cha mẹ. Nhưng hãy đặt câu hỏi ngược lại xem, chúng ta lo cho cha mẹ có cơm ăn áo mặc, sắp xếp cho cha mẹ đi du lịch đó đây, cho cha mẹ đến bệnh viện tốt nhất để chữa bệnh, vậy đã tính là hiếu thảo chưa?

Nhiều người nghĩ rằng họ đối xử rất tốt với cha mẹ, như vậy cũng có thể tự hào là người con hiếu thảo. Giống như “Lễ kí – tế nghĩa” có viết: “Người con hiếu thảo là người biết yêu thương sâu sắc, người biết yêu thương thường biết giữ hòa khí, là một người biết giữ hòa khí thì nội tâm, sắc mặt đều tốt, và lời nói ra rất điềm đạm nhu mì.”

Vậy, nếu không thể dùng sắc mặt ôn hòa để đối đãi với cha mẹ, thì những việc bạn cho là hiếu thảo đó có bao nhiêu phần trăm là xuất phát từ nội tâm?

Trong “Tử du vấn hiếu” Khổng tử có nói: “Ngày nay, người ta gọi người nuôi được bố mẹ là có hiếu. Phận làm con chỉ “nuôi” mà bất kính với cha mẹ thì không thể gọi là có hiếu”.

Điều này có thể hiểu là: Ngày nay, nhiều người cho rằng hiếu thảo là chăm nuôi cha mẹ, nhưng nếu bạn không tôn trọng cha mẹ, vậy thì chăm nuôi cha mẹ và chăm nuôi gà ngựa có gì là khác nhau?

Vì vậy, một người có hiếu và bất hiếu, thì qua từng lời nói cử chỉ đều có thể nhận ra. Còn những người luôn luôn cáu gắt với cha mẹ, không có biểu hiện điềm đạm ôn hòa, sắc mặt cau có thì chính là tự mình “bẻ gãy chữ hiếu” rồi.


Điềm đạm ôn hòa cũng là xuất từ nội tâm, ngay cả sắc mặt cũng không thể tươi tỉnh với cha mẹ, thì ai dám tin bạn là người biết phấn đấu và có lề lối trong sự nghiệp?

Mỗi khi vấp phải chuyện đại sự đều có thể giữ tâm an hòa bình tĩnh, chính là từ cách đối xử hiếu thuận với cha mẹ mà tu xuất ra.

Hơn nữa, “hiếu” thực sự là phải chân thành, không phải chỉ là bề ngoài. Lòng hiếu thuận của bạn lớn nhường nào, thì thể hiện ra bên ngoài cũng lớn nhường đó, tất cả những điều trong lòng đều sẽ phản ánh lên sắc mặt của bạn.

Mỗi ngày về đến nhà, bạn nên mỉm cười với cha mẹ. Điều cha mẹ hạnh phúc và yên tâm nhất là nhìn thấy con cái luôn tươi cười.

An Nhiên / Theo: ĐKN

BÁT CA TÂY TẠNG

Bát ca Tây Tạng là một loại chuông rung ( chuông xoay) có thể tạo ra nhiều giai điệu phong phú, sâu sắc khi chơi. Bát ca còn được gọi là bát hát hoặc bát Himalaya. Các nhà sư từ lâu đã sử dụng bát hát Tây Tạng trong thực hành thiền định. Hiện nay một số dịch vụ chăm sóc sức khỏe (bao gồm cả các nhà trị liệu âm nhạc, trị liệu mát-xa và các nhà trị liệu yoga) sử dụng bát ca Tây Tạng trong khi điều trị.


Bát ca Tây Tạng, một công cụ thiền định âm nhạc cổ xưa vẫn được sử dụng trong các tu viện ngày nay, gần đây đã được kết hợp vào liệu pháp âm thanh và chữa bệnh toàn diện ở phương Tây.

Một chiếc bát ca Tây Tạng được cho là có khả năng làm dịu trái tim, làm trống rỗng tâm trí và giúp con người dễ tiếp cận với Phật pháp. Dưới ảnh hưởng của cách mạng văn hóa Trung Quốc, nhiều giá trị văn hóa và các văn vật bị phá hủy. Còn rất ít tài liệu được ghi lại về Bát ca Tây Tạng. Các vị Lạt ma già đã cố gắng lưu giữ những giá trị và kiến thức về công cụ “thần bí” này.

Sử dụng Bát ca Tây Tạng( chuông xoay) trong trị liệu sức khỏe hiện nay – Ảnh: Facebook của chuyên gia Dương Đạt – Sài Gòn

Bát ca Tây Tạng là gì

Mặc dù có người cho rằng ban đầu Bát ca Tây Tạng có thể được sử dụng để làm bát ăn xin của các nhà sư trong thời cổ đại, nhưng những chiếc bát thủ công truyền thống, còn được gọi là chuông đứng, được chế tác từ loại hợp kim dùng đúc chuông để mang lại âm thanh hoặc âm vang khi bị va đập hoặc cọ xát bằng vồ. Âm điệu thay đổi theo kích thước và chất lượng của bát, cũng như theo một số “tài khoản”, “số lượng đức hạnh” mà người chơi sở hữu sạu này.

Âm sắc của bát hát được tạo ra khi ma sát tạo ra bởi vồ làm cho kim loại dao động, giống như cách ly rượu vang sẽ vang lên âm thanh khi dùng ngón tay ướt cọ xát vành. Việc chà xát liên tục giúp âm sắc sống động, khi chạm vào cạnh sẽ làm âm sắc bị “bong” ra. Nếu bạn ngừng chơi, nhưng không làm gián đoạn âm thanh, âm vang sẽ tiếp tục và mất dần.

Một chiếc bát ca khi có nước, khi chơi sẽ làm cho nước nhảy theo. Một số người tin rằng nước trở nên tràn đầy sinh lực sau khi được sử dụng trong bát hát, và do đó có thể có các đặc tính chữa bệnh.

Các thí nghiệm với nước đã chỉ ra rằng vành bát thay đổi hình dạng không thể nhận thấy khi chơi, nó có thể hiển thị hình bầu dục hơn một chút hoặc có thể dịch chuyển qua lại. Bản thân nước trở nên tràn đầy năng lượng, làm cho các giọt nhỏ nhảy ra khỏi bề mặt. Thêm nước sẽ làm thay đổi tông màu của bát, và nước được cung cấp năng lượng có thể có lợi cho cả cây và người.


Những rung động âm thanh không chỉ được nghe mà còn được cảm nhận, và nhiều người tin rằng những chiếc bát hát có đặc tính chữa bệnh. Nhà ung thư học và giáo sư Mitchell Gaynor, thuộc Đại học Y Weill Cornell, bắt đầu sử dụng bát hát và các hình thức trị liệu âm thanh khác để chữa bệnh vào những năm 1990. Ông khẳng định rằng liệu pháp âm thanh làm giảm căng thẳng và cải thiện hệ thống miễn dịch, đưa bệnh nhân vào trạng thái thiền định giúp thúc đẩy quá trình chữa bệnh.

Lịch sử và truyền thống

Tuy chỉ mới du nhập vào phương Tây khoảng 30 năm trước nhưng bát ca Tây Tạng đã có lịch sử lên đến 5000 năm. Những chiếc bát đầu tiên có thể được làm từ kim loại có nguồn gốc từ thiên thạch. Những chiếc bát ngày nay được hình thành từ hợp kim của 5, 7, 9, hoặc thậm chí 12 kim loại, bao gồm đồng, đồng thau, đồng thau và thiếc, cũng như sắt và các thành phần khác của thiên thạch quý hiếm.

Những bát hát đầu tiên hiện được coi là thánh tích và được lưu giữ tại các Tu viện Drepung, Narthang và Sakya ở Tây Tạng. Những chiếc bát Narthang và Sakya dường như đã bị thất lạc, ngày nay chỉ còn lại di tích Drepung. Chiếc bát này được cho là chiếc bát ăn xin của Đức Phật thứ ba, tiền thân của Đức Phật Shakymuni. Lúc đó tất cả các nhà sư đều dùng bát hát để đi khất thực.

Sau đó, những viên xá lợi quý giá được Shakymuni sử dụng như một công cụ để giảng dạy Phật pháp của mình. Nhiều Lạt ma cấp cao đã đến để lắng nghe âm thanh được cho là để giảng dạy về khái niệm rộng lớn và hư không, và truyền thụ Tứ Diệu Đế . Theo truyền thuyết, những người có nghiệp âm tạo ra âm sắc thấp hơn khi họ chơi các bát hát ban đầu, trong khi những người có nghiệp tích cực tạo ra âm thanh thuần khiết.


Hàng ngàn Geshe tại Tu viện Drepung tiếp tục truyền thống thiền định về âm thanh của tiếng hát bát cho đến ngày nay.

Kể từ khi du nhập vào văn hóa phương Tây khoảng 30 năm trước, hát ca đã trở nên phổ biến trong nhiều ngành chữa bệnh toàn diện. Trong khi nhiều người mới bắt đầu tiếp cận bát hát như một công cụ thư giãn, mục đích thực tế của những chiếc bát này có thể sâu sắc hơn rất nhiều lần.

Nguồn: Vision Times
Link tham khảo:



Friday, October 2, 2026

VÌ SAO ẤN ĐỘ ÁP "CHÍNH SÁCH HAI GIÁ" ĐẮT ĐỎ VỚI KHÁCH NƯỚC NGOÀI TẠI TAJ MAHAL?

Bước vào Taj Mahal hay Pháo đài Amber, trong khi người dân Ấn Độ chỉ tốn vài chục rupee, du khách quốc tế phải chi ra số tiền gấp hàng chục lần cho cùng một lượt tham quan. Khoản chênh lệch đắt đỏ này không chỉ là câu chuyện riêng của Taj Mahal mà đã trở thành mô hình định giá phổ biến khắp Ấn Độ, đi kèm những đặc quyền và lưu ý riêng mà bất kỳ du khách nào cũng cần biết.

Đền Taj Mahal

Tại đền Taj Mahal, biểu tượng du lịch nổi tiếng nhất Ấn Độ ở bang Uttar Pradesh, một du khách đến từ châu Âu, Bắc Mỹ hay Đông Nam Á hiện phải trả 1.100 rupee cho vé vào cổng, cộng thêm 200 rupee nếu muốn bước vào khu lăng mộ chính, tổng cộng 1.300 rupee, tương đương khoảng 16 USD. Trong khi đó, người dân Ấn Độ chỉ mất 50 rupee cho vé cổng, tổng chi phí trọn gói chưa tới 250 rupee.

Mức chênh lệch lên tới 22 lần này không phải ngoại lệ mà đã trở thành mô hình định giá phổ biến tại hầu hết di sản được UNESCO công nhận trên khắp đất nước.

Đối với du khách thuộc các quốc gia thành viên Hiệp hội Hợp tác Khu vực Nam Á (SAARC) và nhóm BIMSTEC như Nepal, Bangladesh, Sri Lanka hay Thái Lan, mức phí trung gian được áp dụng là 540 rupee, tức khoảng 11 lần giá vé nội địa.

Đổi lại khoản chênh lệch này, khách quốc tế thường nhận thêm một số quyền lợi nhỏ như một chai nước uống 500ml, vỏ bọc giày dùng một lần và quyền di chuyển theo luồng ưu tiên, giúp rút ngắn thời gian xếp hàng qua cổng an ninh vào giờ cao điểm. Trẻ em dưới 15 tuổi, không phân biệt quốc tịch, được miễn phí hoàn toàn.

Taj Mahal không phải trường hợp duy nhất bởi chính sách hai giá lan rộng ra nhiều di sản khác. Vào tháng 1 năm nay, chính quyền bang Rajasthan lần đầu tiên sau 11 năm điều chỉnh biểu phí tham quan các di tích, bảo tàng và danh thắng trên địa bàn. Tại Pháo đài Amber, một trong những công trình kiến trúc quân sự nổi bật nhất thời kỳ Rajput, giá vé dành cho công dân Ấn Độ tăng gấp đôi lên 200 rupee, còn mức phí áp dụng cho khách nước ngoài tăng hơn ba lần, lên tới 1.000 rupee.

Lăng Humayun - nơi được coi là nguồn cảm hứng kiến trúc của đền Taj Mahal

Tại thủ đô New Delhi, Lăng Humayun, công trình được xem là nguồn cảm hứng kiến trúc trực tiếp cho Taj Mahal, hiện thu 600 rupee đối với du khách quốc tế, cao gấp 15 lần mức 40 rupee dành cho khách nội địa. Chính sách tương tự cũng được áp dụng tại quần thể hang động Ajanta và Ellora ở bang Maharashtra, hai di sản khảo cổ và nghệ thuật Phật giáo cổ đại nổi tiếng bậc nhất Nam Á.

Nhìn chung, khoảng cách giá vé giữa hai nhóm khách dao động từ 11 đến 22 lần tùy địa điểm, và xu hướng chung là mức phí dành cho khách nước ngoài tăng nhanh hơn đáng kể so với mức áp dụng cho người dân bản địa.

Một cựu quan chức cấp cao thuộc Cơ quan Khảo cổ Ấn Độ (ASI) lý giải rằng khoảng cách này không phản ánh sự bất công, mà xuất phát từ chênh lệch thu nhập giữa các nhóm du khách. Theo vị này, khách quốc tế nhìn chung có khả năng chi trả cao hơn đáng kể so với phần lớn người dân Ấn Độ, do đó việc thu thêm từ nhóm khách này giúp tạo nguồn thu bổ sung mà không ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận di sản văn hóa của chính người dân trong nước.

Được biết mức chênh lệch giá này nhằm mục đích tạo thêm nguồn thu từ khách nước ngoài

Số liệu vĩ mô phần nào minh chứng cho lập luận này: GDP bình quân đầu người của Ấn Độ hiện vào khoảng 2.800 USD, chỉ bằng khoảng một phần mười so với Nhật Bản, dù tổng quy mô GDP của hai nền kinh tế xấp xỉ nhau.

Cách lý giải tương tự cũng từng được Bộ Văn hóa Ấn Độ đưa ra từ năm 2016, khi cơ quan này khẳng định phần chênh lệch thu được từ du khách nước ngoài sẽ được tái đầu tư trở lại vào hạ tầng phục vụ tham quan, trong đó có việc phủ sóng Wi-Fi miễn phí tại các điểm di tích.

Trên thực tế, chính sách định giá phân biệt theo quốc tịch không phải điều hiếm gặp trên thế giới. Nhiều di sản UNESCO tại Ai Cập, Campuchia hay Indonesia cũng áp dụng mô hình hai giá tương tự, với lý do phổ biến là bảo đảm khả năng tiếp cận cho công dân trong nước đồng thời tối đa hóa nguồn thu từ thị trường khách quốc tế vốn có sức chi trả cao hơn.


Đối với những du khách nước ngoài đang lên kế hoạch đến Agra, một số kinh nghiệm thực tế đáng lưu ý để tối ưu chi phí và thời gian. Trước hết, nên đặt vé trực tuyến qua cổng thanh toán chính thức của ASI trước ít nhất một ngày, vừa tránh xếp hàng tại quầy vừa hạn chế rủi ro mua nhầm vé từ các đầu mối không chính thức bên ngoài cổng.

Vé vào khu lăng mộ chính nên mua kèm ngay từ đầu, bởi đây là phần trải nghiệm giá trị nhất, cho phép quan sát trực tiếp các cỗ quan tài cẩm thạch chạm khắc tinh xảo mà ảnh chụp từ xa không thể lột tả hết.

Về thời điểm, nên đến sớm ngay khi cổng mở lúc 6h sáng để tránh nắng gắt buổi trưa và đám đông cao điểm, đồng thời tận dụng ánh sáng dịu để chụp ảnh. Du khách nước ngoài bắt buộc phải mang theo hộ chiếu bản gốc để đối chiếu tại cổng an ninh, trong khi người dân Ấn Độ chỉ cần thẻ Aadhaar hoặc giấy tờ tùy thân hợp lệ.


Nếu di chuyển từ New Delhi, tuyến tàu cao tốc Gatimaan Express hoặc Shatabdi Express khứ hồi hạng ghế điều hòa là lựa chọn hợp lý về thời gian, trong khi tổng chi phí cho một chuyến tham quan trọn gói bao gồm vé vào cổng, hướng dẫn viên và di chuyển nội đô Agra thường dao động trong khoảng 20-25 USD mỗi người, một mức được xem là vẫn tương đối hợp lý so với nhiều di sản thế giới khác có quy mô tương đương.

Khánh Linh / Theo: travellive+