Monday, April 27, 2026

THĂM BÀ QUẢ PHỤ "NGƯỜI ANH HÙNG MŨ ĐỎ TÊN ĐƯƠNG"

Năm nay, 2016, là đúng 45 năm ngày mất của cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương (1971-2016), Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ðại Úy Ðương hy sinh tại chiến trường Hạ Lào vào đầu năm 1971, và được mọi người biết đến như một huyền thoại qua tác phẩm bất hủ của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, “Anh Không Chết Ðâu Anh.” Phóng viên Việt Hùng của Người Việt đến thăm bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương, nhũ danh Trần Thị Mai, tại tư gia ở Quận 11, Sài Gòn và được bà dành cho cuộc phỏng vấn dưới đây.

Bà Trần Thị Mai bên di ảnh chồng. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Việt Hùng (NV): Xin bà cho biết ký ức về thời gian Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương hy sinh ở mặt trận Hạ Lào?

Bà Trần Thị Mai (TTM): Tôi còn nhớ những ngày đó, nó rơi vào những ngày cuối Tháng Hai Dương Lịch, 1971. Lúc đó tôi lên phòng hậu cứ để lãnh lương của anh Ðương, thì được một người lính nhảy dù, buồn bã nói với tôi là “một tuần nữa chắc chị có khăn mới đeo.” Lúc đó tôi không biết khái niệm “khăn mới” là gì hết.

Một tuần sau, tôi nhận được giấy báo mất tích của anh Ðương tại đồi 31, căn cứ Hạ Lào (tức vào sâu trong vùng biên giới nước Lào khoảng 25km). Lúc đó tôi vẫn còn hy vọng. Tôi cầu nguyện và xin lá xâm trên chùa, thì được thầy cho biết là “người này đang gặp đại nạn.” Tuy vậy, tôi vẫn còn rất tin tưởng là chồng mình còn sống.

Thế nhưng anh Ðương, ảnh rất là “linh.” Sau đó khoảng 3 ngày thì tôi nằm ngủ mơ, trong giấc mơ, tôi thấy anh Ðương về nhà trong tình trạng bị thương ở chân, vẫn còn mặc bộ đồ lính và nói với tôi là “lần này anh đi không trở lại được, em ở nhà ráng nuôi các con khôn lớn. Anh vẫn luôn che chở cho mẹ con em.” Tôi òa khóc! Giật mình tỉnh dậy thì không thấy ai bên mình hết. Lúc đó thì tôi tin là anh Ðương đã mất.

Sau đó đúng 3 ngày thì tôi nhận được giấy báo tử của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, đề ngày mất là 24 Tháng Hai, 1971, nhằm 29 Tháng Giêng, năm Tân Hợi. Bởi vậy gia đình tôi vẫn luôn cúng giỗ cho anh Ðương vào ngày 29 tháng Giêng âm lịch. Năm nay là nhằm ngày 7 Tháng Ba Dương Lịch.

Với bà Mai, “anh Ðương vẫn mãi sống trong tim mình.” (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

NV: Về thông tin những giây phút cuối đời của Ðại Úy Ðương, bà có nắm được gì không?

TTM: Lần cuối anh Ðương ở nhà là vào Mồng Một Tết Tân Hợi 1971. Qua ngày Mồng Hai anh được lệnh phải vào gấp trong trại, và anh gọi điện về là sẽ đi chiến dịch quan trọng, nên mẹ con ở nhà ăn tết vui vẻ. Sang Mồng Ba thì toàn bộ Sư Ðoàn Nhảy Dù đã âm thầm di chuyển bằng không vận từ các căn cứ gần Sài Gòn ra Ðông Hà, Quảng Trị.

Lần lượt các đơn vị Dù đã được không tải đến những địa điểm ấn định từ trước, phối hợp với các đơn vị khác, thực hiện cuộc hành quân mang tên là “Hành Quân Lam Sơn 719” nhằm tiến quân đánh thẳng vào các căn cứ tiếp vận quan trọng của Cộng Sản ở đường mòn Hồ Chí Minh, vùng Hạ Lào (tức là vượt biên 25 km qua lãnh thổ Lào). Con số 719 là gồm 71 là năm 1971 và số 9 là Quốc Lộ 9, con đường huyết mạch để chuyển quân trong chiến dịch này. Vì vậy có tên gọi “Hành Quân Lam Sơn 719.”

Sau này khi tôi nghe các anh lính cũng là lính Nhảy Dù trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719 kể lại thì lúc giáp chiến với quân đôi Bắc Việt là vào 19 giờ tối ngày 24 Tháng Hai, 1971. Cả pháo đội 3 của anh Ðương đều bị trúng đạn, đường tiếp viện bị cắt, biết không thể thoát, anh Ðương ra lệnh cho các anh em tuyến dưới ai tháo chạy được thì cứ chạy. Còn anh Ðương vẫn ở lại với một chân bị thương rất nặng, sau đó anh tuẫn tiết bằng khẩu súng tự bắn vào đầu mình.

Qua hôm sau là ngày 25 Tháng Hai, 1971, cả căn cứ 31 thuộc vùng Hạ Lào đã hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của quân đội Bắc Việt. Rất nhiều người lính VNCH đã bỏ mạng nơi đây… (khóc)

NV: Rồi sau năm 1975 cuộc sống gia đình bà ra sao?

TTM: Từ năm 1971 đến 1975 thì tôi vẫn còn lương của chính quyền VNCH, nên tuy một mình, tôi vẫn đủ nuôi 4 đứa con (3 trai 1 gái). Tuy nhiên sau năm 1975 thì cuộc sống gia đình tôi bắt đầu gặp rất nhiều khó khăn. Ðầu tiên là từ phía chính quyền CSVN, thời gian đầu họ “kiểm tra hộ khẩu” nhà tôi liên tục. Có nhiều đêm tôi không dám ở nhà vì sợ cảm giác “gõ cửa lúc nửa đêm.”

Vì hoàn cảnh quá khó khăn, tôi làm đủ thứ nghề mà vẫn không khá được. Các con tôi đều không được học hành đàng hoàng. Lớn lên một tí thì hai đứa con trai lớn vì không chịu nổi hoàn cảnh và đã đến tuổi đi “bộ đội” (trên 18 tuổi, luật của CSVN là bắt đi nghĩa vụ quân sự), nên đã bỏ trốn qua Campuchia làm nghề cạo mủ cao su. Rồi cả hai đều mất vì những căn bệnh hiểm nghèo. Có lẽ hít phải mùi cao su quá nhiều và ăn uống kham khổ nên đổ bệnh.

Nguyễn Viết Xa, con trai cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, bên bàn thờ thân phụ. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Ðứa con trai út đang sống với tôi là Nguyễn Viết Xa, năm nay đã 47 tuổi, lúc bố mất, nó mới có 2 tuổi à. Hiện nay nó đang làm nghề chạy xe ôm. Còn đứa con gái thì lấy chồng ở bên phía nhà chồng.

Bản thân tôi năm nay đã bước sang tuổi 76, bệnh tật đầy mình, một con mắt đã mù hẳn vì nhà sập trong quá khứ. Hiện nay căn nhà tôi đang ở là của bố mẹ chồng (tức bố mẹ anh Ðương).

NV: Với tư cách là vợ người anh hùng đã hy sinh vì sự bình yên của miền Nam, bà có mong muốn điều gì?

TTM: Với tôi thì tuổi đã già, tôi không mong muốn gì hơn là có thể được sang vùng Hạ Lào năm xưa, để hỏi thăm về tin tức anh Ðương. Tôi biết là rất khó có thể tìm được xương cốt của ảnh, nhưng ít ra tôi có thể chứng kiến được vùng đất nơi anh ấy đã bỏ mạng. Từ ngày anh ấy mất cho đến giờ, tôi chưa một lần được sang vùng đất đó, vì nhiều lý do, trong đó vì không có kinh phí và người dẫn đường, cùng với những bộn bề của cuộc sống làm tôi vẫn chưa thực hiện được mong muốn của mình.

NV: Với những thăng trầm của cuộc sống, điều gì khiến bà cảm thấy hối tiếc nhất, và tự hào nhất?

TTM: Ðiều tôi hối tiếc là chưa nuôi dạy con được tốt. Bốn đứa con không đứa nào được học hành đàng hoàng. Hai đứa đầu thì đã mất, đứa con gái lấy chồng thì cũng tạm ổn, nhưng thằng con trai út thì vẫn phải hành nghề xe ôm kiếm sống qua ngày. Tôi có lỗi với anh Ðương về điều này (khóc).

Còn điều tôi tự hào nhất thì chắc chắn là về anh Ðương. Tôi tự hào khi có được người chồng anh dũng như vậy. Bản thân tôi không “đi bước nữa” cũng vì lý do này. Với tôi anh Ðương vẫn luôn là người anh hùng trong tim tôi!

Cho đến bây giờ, lâu lâu tôi vẫn mở bản nhạc “Anh Không Chết Ðâu Anh” để nghe. Tôi thuộc làu từng lời bài hát đó, nhưng vẫn cứ thích nghe đi nghe lại và ngồi hát một mình vu vơ (cười).

NV: Cảm ơn bà đã dành cho Người Việt cuộc phỏng vấn này. Xin chúc bà được nhiều sức khỏe và mong bà sớm thực hiện được ước muốn của mình là được sang vùng Hạ Lào để nhìn thấy nơi Ðại Úy Ðương đã anh dũng hy sinh. Biết đâu điều kỳ diệu sẽ đến, khi bà tìm được xương cốt của cố đại úy.

TTM: Cảm ơn Người Việt rất nhiều. Xin chúc độc giả quý báo một năm mới tràn đầy niềm vui và hạnh phúc.

Việt Hùng / Theo: Người Việt



HẢO SỰ CẬN - DƯƠNG VẠN LÝ


Hảo sự cận

Nguyệt vị đáo thành trai,
Tiên đáo vạn hoa xuyên cốc.
Bất thị thành trai vô nguyệt,
Cách nhất lâm tu trúc.

Như kim tài thị thập tam dạ,
Nguyệt sắc dĩ như ngọc.
Vị thị thu quang kỳ tuyệt,
Khán thập ngũ thập lục.


好事近

月未到誠齋,
先到萬花川穀。
不是誠齋無月,
隔一林修竹。

如今才是十三夜,
月色已如玉。
未是秋光奇絕,
看十五十六。


Hảo sự cận
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Ánh trăng ghé lại trai phòng. 
Thăm Hoa Xuyên cốc, lặng lòng liêu trai. 
Ánh trăng còn đó nào phai ?. 
Ẩn sau bụi trúc, mé ngoài song lan. 
Ánh trăng tựa ngọc quan san. 
Mười ba mười bốn, căng tràn mười năm.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Dương Vạn Lý 楊萬里 (1127-1206) tự Đình Tú 廷秀, hiệu Thành Trai 誠齋, người Cát Thuỷ 吉水, Cát Châu 吉州 (nay thuộc Giang Tây, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Thiệu Hưng thứ 24 (1154) đời Tống Cao Tông. Ông từng nhậm các chức Thái thường bác sĩ, Thượng thư Tả tư lang trung kiêm hầu thái tử đọc sách. Chủ trương chống Kim, chính trực, ăn nói thẳng thắn. Đời Ninh Tông, vì gian tướng chuyên quyền, bỏ quan về nhà, cuối cùng phẫn uất mà chết. Thơ tề danh cùng Vưu Mậu 尤袤, Phạm Thành Đại 范成大, Lục Du 陸遊, xưng Nam Tống tứ gia. Cấu tứ mới lạ, lời thơ lưu loát rõ ràng, từ phong cách mới mẻ, hoạt bát tự nhiên, với thơ giống nhau. Trước tác được Thành Trai tập 誠齋集.

Nguồn: Thi Viện



QUYỀN PHÁP TRỨ DANH THIÊN HẠ CỦA ANH HÙNG NHẠC PHI

Với bản tính thông minh, ham học hỏi, Nhạc Phi đã sáng tạo ra một quyền pháp nổi tiếng "Nhạc gia quyền" không gì so sánh nổi.


Trong lịch sử hàng ngàn năm của võ thuật Trung Quốc, có rất nhiều đại cao thủ đã luyện tập thành công nhiều bí kíp, tuyệt kỹ. Hầu hết các đại cao thủ đã góp phần sáng tạo, tổng quát để xây dựng lên những trường phái võ thuật danh tiếng. Nhưng phần lớn những đóng góp của họ thường gắn liền với truyền thuyết khai môn ly kỳ, ít được sử sách chép lại mà chủ yếu lưu truyền giai thoại trong dân gian. Tuy nhiên vẫn có những đại võ sư, võ tướng mà uy danh võ nghệ lừng lẫy, để lại cho hậu thế những di sản võ thuật vô cùng quý báu.
Nhạc Phi - Chưởng môn Nhạc gia quyền
Đầu thế kỷ XII, lịch sử Trung Quốc ghi nhận sự bùng nổ của phong trào kháng chiến chống quân Kim mà chủ soái là Nhạc Phi đã lưu danh sử sách. Quân Kim từng than: "Lay đổ núi dễ, giáp chiến quân Nhạc Phi khó". Bởi quân Nhạc Phi (gọi là Nhạc gia quân) có tính kỷ luật nghiêm, chủ soái chỉ huy oai dũng, còn một điểm nữa là họ nắm vững môn "Nhạc gia quyền" danh tiếng do chính chủ soái Nhạc Phi sáng tạo ra.
Nhạc Phi (1103-1142) là danh tướng chống quân Kim nhà Nam Tống, tên chữ là Bằng Cử, người Thang Âm (nay thuộc tình Hà Nam). Từ thiếu niên đã có khí tiết, là người trầm tĩnh dứt khoát, nhà nghèo nhưng chăm chỉ, thích độc binh pháp Tôn, Ngô (tức Tôn Tử và Ngô Khởi, hai danh tướng đời Chiến Quốc). Sinh ra vốn đã có sức khỏe, chưa đến 20 tuổi đã kéo được cây cung nặng 300 cân (đơn vị trọng lượng cổ Trung Hoa), giương nỏ nặng 8 thạch (thạch là đơn vị trọng lượng xưa, nặng bằng 10 đấu). Sau học bắn với Chu Thống- một cung thủ bách phát bách trúng- học xong Nhạc Phi đã có thể bắn được cả hai bên trái phải.


Trong thời niên thiếu, ngoài học bắn cung với Chu Thống, Nhạc Phi còn lặn lội tìm học võ nghệ với các cao thủ trong vùng. Với bản tính chăm chỉ, thông minh, ham học hỏi, ông đã sáng tạo ra một quyền pháp nổi tiếng mà dân gian gọi là "Nhạc gia quyền" không gì so sánh nổi lúc bấy giờ. Quyền họ Nhạc có chỗ khác là: "Chân là hai cái rễ, toàn dựa tay trên thân" của Nam quyền, khác với quyền phía Bắc "tay là hai cánh cửa, dựa trên chân ra đòn". Yêu cầu của quyền là: tay đến chân đến, tay lên chân xuống như cung phóng tên, một phát là trúng". Đây là điển hình cho sự vận dụng các quyền pháp khác dùng tay, khuỷu, chân, thân xuất chiêu cùng lúc.
Năm Tuyên Hòa thứ tư (1122, đời Tống Huy Tôn Lý Cát, làm vua từ 1101-1126 nhà Bắc Tống), Nhạc Phi đầu quân, trải trăm trận trăm thắng, công lao rất lớn, uy danh lừng lẫy. Ngoài tài thao lược, ông còn là một dũng tướng siêu quần, rất giỏi một mình một ngựa đại phá quân địch, giỏi phép lấy ít chống nhiều. Trong chiến dịch chống lại quân Kim mạnh mẽ, ông một mình một ngựa xông lên chém chết kiêu tướng Giả Tiến Hòa, múa đao tả xung hữu đột khiến quân Kim tan tác. Một lần vượt sông tấn công quân Kim, ông đã bắt sống tướng Kim là Tháp Bạt Da Ô, lại một mình một ngựa xách cây thương sắt trượng tám đâm chết một tướng Kim khác giữa trận tiền. Năm Kiến Viêm thứ 3 (1129, đời tống Cao Tôn Triệu Cấu), Nhạc Phi dũng mãnh dẫn 800 quân giao chiến với 50 vạn quân Kim do tướng Khổng Ngoạn Châu thống lĩnh, một mình ông phi ngựa xông vào cướp trại, đám võ sĩ cưỡi ngựa chạy quây tròn bảo vệ chủ tướng. Từ trên lưng ngựa, ông tung mình bay qua cả ba tên võ sĩ, chém chết Khổng Ngoạn Châu ngay giữa trại.


Ngoài ra, Nhạc Phi còn rất giỏi huấn luyện binh sĩ. Khi quân nghỉ đánh trận, ông thường đốc thúc tướng sĩ mặc giáp trụ nặng nề, luyện tập leo đèo, vượt hào, đích thân ông dẫn đầu luyện tập. Nhạc Phi đặc biệt chú trọng truyền dạy Nhạc gia quyền cho con cái và binh lính, chính vì vậy người đời gọi quân đội của ông là "Nhạc gia quân", bởi tất thảy đều là những võ sĩ thuần thục Nhạc gia quyền. Ông còn huấn luyện binh sĩ sử dụng linh hoạt thủ thuật, kỹ pháp chiến đấu trên chiến trường.
Năm Kiến Viêm thứ 4 (1130), quân Kim cậy mạnh khỏe, người nào cũng mặc áo giáp nặng, cột 3 ngựa liền nhau gọi là "quải tử mã" khiến quân Tống không sao ngăn nổi. Nhạc Phi lệnh cho quân cầm mã tấu xung trận, độn thêm giáp lưng dày thêm, không cho nhìn lên mà chỉ lo cúi xuống chặt chân ngựa, một con què khiến hai con cũng không đi nổi. Trận này chỉ với gần 1.000 tinh binh, quân Tống khiến quân Kim mất một vạn năm ngàn ngựa và thảm bại. Kim Ngột Truật phải than rằng: "Từ khi khởi binh đến nay, toàn dựa vào "quải tử mã" để đánh, giờ thế là hết".
Võ nghệ siêu quần, anh dũng thiện chiến là vậy nên Nhạc Phi bị gian thần ghen ghét. Năm Thiệu Hưng thứ 12 (1142, đời Tống Cao Tôn Triệu Cấu nhà Nam Tống), gian thần Tần Cối vu cho ông làm phản. Trước văn võ bá quan, đại tướng Hàn Thế Trung chất vấn Tần Cối là có chứng cớ không, thì Tần Cối trả lời là "có thể có", với ý là "có thể có tội". Nhạc Phi bị xử tử năm ông mới 39 tuổi. Cái chết oan ức của ông đã trở thành đề tài cho nhiều vở kịch, phim châm biếm, mỉa mai thói xu nịnh, vu cáo người khác với thành ngữ nổi tiếng trong dân gian "có thể có tội".


Sau khi Nhạc Phi chết, hai con ông là Nhạc Đình, Nhạc Chấn đổi thành họ Ngạc nhằm tránh sự truy lùng "diệt cỏ tận gốc" của Tần Cối, được Nhiếp Phúc Tuấn- tộc trưởng của Nhiếp Gia loan, người có quen biết với Nhạc Phi- che giấu trong nhà thờ họ. Hai anh em họ Nhạc ở tịt trong nhà thờ, suốt ngày sao lục chỉnh lý quyền phổ Nhạc gia, đêm khuya vắng lại luyện tập từng chiêu thức. Để báo thù rửa oan cho cha, hai anh em họ Nhạc đã bí mật luyện quân, cho yếu là người họ Nhiếp.
Về sau án oan này được "chiêu tuyết" (rửa oan), Nhạc Phi được truy phong tước "Ngạc vương", hai con ông Nhạc Đình, Nhạc Chấn được vời ra làm quan nhưng họ đã từ chối, quyết ở ẩn luyện võ nhờ thế mà Nhạc gia quyền phát triển mạnh mẽ tại các tỉnh Hồ Bắc, Giang Tây, An Huy. Tới thời vua Quang Tự đời Thanh (1876) đã có tới 300 người đỗ võ cử nhân, võ tiến sĩ là các đại cao thủ của Nhạc gia quyền. Cho đến nay, có tới vài trăm người là quyền sư trứ danh của môn này trên khắp Trung Hoa.
Chu Phúc (tổng hợp)
Theo: Kiến Thức


MỘT TÊN LÍNH CAI NGỤC KHÔNG CÓ TIẾNG TĂM, VÌ SAO CÓ THỂ "LƯU DANH THIÊN CỔ"?

Anh hùng dân tộc Nhạc Phi gần như là một cái tên quen thuộc của người dân Châu Á. Nhạc Phi là anh hùng dân tộc nổi tiếng thời Nam Tống, ông thống lĩnh Nhạc gia quân trải qua 126 trận đánh lớn nhỏ, không có cuộc tấn công nào là không giành chiến thắng. Uy danh của Nhạc Phi khiến quân Kim nghe danh liền hoảng sợ, than rằng: “rung chuyển núi dễ, rung chuyển Nhạc gia quân khó!”…


Năm đó những kẻ gian thần vì lòng ghen ghét đố kị mà làm hại bậc trung thần. Ngày Nhạc Phi bị lâm nạn, thi thể bị lũ gian tặc vứt đi. Viên cai ngục Ngỗi Thuận đã không quản hiểm nguy chu di cửu tộc, nhanh chóng đi tìm thi thể Nhạc Phi đến khu mộ sau núi, sau nhà ông chôn cất.

20 tuổi, Nhạc Phi tòng quân, trong 19 năm ông đã đạt đến vị trí Đại nguyên soái. Suốt cuộc đời, ông trải qua hơn 120 trận chiến mà chưa từng thất bại. Với tài năng quân sự trác tuyệt và kinh nghiệm chiến đấu thực tế phong phú, có thể nói trên chiến trường Nhạc Phi là vị thống soái vô cùng nổi danh.

Vào đêm trừ tịch ngày 29 tháng 12 năm Thiệu Hưng thứ 11 thời Nam Tống (ngày 27 tháng 01 năm 1142), tại đình Phong Ba ở chùa Đại Lý, Hàng Châu, đại anh hùng Nhạc Phi đã bị gian tặc Tần Cối lấy mất mạng bởi tội danh “Mạc tu hữu” (muốn ɡiết thì ɡiết, cần gì phải có tội). Con trai trưởng của Nhạc Phi là Nhạc Vân và ái tướng Trương Hiến cũng đồng thời bị hại.

Tượng Nhạc Phi. Nguồn ảnh: soundofhope

Sự ẩn thân của Ngỗi Thuận để lại một bí ẩn lớn và tích lũy rất nhiều công đức

Sau khi Nhạc Phi chết, thi thể của ông bị những kẻ phản bội ném đi. Đêm đó, trong ngục thất của Đại Lý Tự, viên cai ngục Ngỗi Thuận với tấm lòng vô cùng tôn kính Nhạc Phi, đã không quản hiểm nguy chu di cửu tộc, nhanh chóng đi tìm thi thể Nhạc Phi. Trong đêm tối, giữa cánh đồng vắng lặng, bằng dũng khí và trí tuệ phi thường, vượt muôn vàn gian khó, đã đưa được thi thể Nhạc Phi đến khu mộ sau núi, sau nhà ông, bên đền Cửu Khúc Tùng.

Vì tình thế cấp bách và không có người giúp đỡ, Ngỗi Thuận đã nhanh chóng đặt thi thể Nhạc Phi vào chiếc quan tài đã chuẩn bị sẵn, rồi lấy chiếc vòng ngọc sinh thời Nhạc Phi đeo buộc vào dưới lưng ông, quan tài được chôn dưới đất.

Ngỗi Thuận lại đặt lên trên quan tài Nhạc Phi một chiếc ống chì có khắc chữ “Đại Lý Tự” để đánh dấu. Để không thu hút sự chú ý của người khác, Ngỗi Thuận khi đó không đắp đất mà chỉ trồng hai cây quýt trước mộ Nhạc Phi, sau đó dựng một tấm bia đá trước mộ nhưng ghi tên giả, cũng là một dấu hiệu nhận biết.

Ngỗi Thuận. Nguồn ảnh: soundofhope

Ngỗi Thuận không đợi được ngày Nhạc Phi được minh oan, trước khi chết gọi con trai đến bên cạnh nói: “Ta đi đây! Nhà ta có một bí mật, bây giờ ta nói cho con biết, con nhất định phải nhớ kỹ. Đó là, con chết cũng không được để mất Nhạc đại nhân!” Rồi ông nói tiếp: “Bên cạnh đền Cửu Khúc Tùng sau núi nhà ta có hai cây quýt, sau cây quýt có chôn đại tướng Nhạc Phi. Dưới lưng ông có buộc một vòng ngọc, sau này Nhạc đại nhân được minh oan, sẽ không tìm được hài cốt ông, quan phủ sẽ treo thưởng đi tìm, đến lúc đó, con hãy đi báo quan phủ, gọi người đến nhận dạng. Nhớ kỹ, bí mật này không thể nói với bất kỳ người nào, kể cả vợ con, nếu không sẽ con sẽ bị giết, con nếu chết thì cũng phải truyền lại bí mật này cho các đời sau. Trời xanh có mắt, Nhạc tướng quân nhất định có ngày minh oan”. Nói xong, Ngỗi Thuận, trút hơi thở ra đi.

Vào tháng 6 năm Thiệu Hưng thứ 32 (năm 1162), Hải Lăng vương nước Kim phái quân xuống phía nam, ngọn lửa chiến tranh hủy diệt Nam Tống lại bùng lên, do bất lực, Triệu Cấu đành nhường ngôi Hoàng đế của mình cho con nuôi Triệu Thận, tức Tống Hiếu Tông. Tống Hiếu Tông là phe phản chiến, để hợp lòng dân và truyền cảm hứng cho binh lính và dân chúng chống lại quân Kim, ông đã hạ chiếu minh oan cho nhóm người Nhạc Phi, quan phủ treo thưởng 500 quan bạc trắng tìm di cốt Nhạc Phi, chuẩn bị an táng Nhạc Phi theo lễ.

Ngày 13 tháng 7 quan phủ dán cáo thị, tám ngày sau, con trai Ngỗi Thuận biết tin, sau đó đã báo vị trí thực sự nơi chôn cất của Nhạc Phi, từ đó chân tướng án oan Nhạc Phi mới được minh bạch trước thiên hạ.

Lăng mộ Nhạc Phi ở Hàng Châu (Ảnh: Siyuwj /wikipedia)

Chính là Ngỗi Thuận! Một người đàn ông nhỏ bé không rõ ngày sinh, ngày mất, không rõ chiều cao và ngoại hình, cũng như không biết hoàn cảnh gia đình, chỉ là một viên cai ngục trong nhà tù vào đầu thời Nam Tống. Với sự giúp đỡ của Thần Phật, hành động chính nghĩa của Ngỗi Thuận đã tiết lộ sự thật về vụ án oan của Nhạc Phi cho thế nhân.

Ông dám đánh đổi tính mạng của dòng tộc vì một người xa lạ, chỉ vì tôn kính ngưỡng mộ mà dám bất chấp thảy mọi rủi ro có thể mang đại họa. Có lẽ nghĩa khí của một con người lớn hơn thảy sự lo sợ.

Đăng Dũng biên dịch
Nguồn: soundofhope (Lý Tĩnh Nhu)
Link tham khảo:

Sunday, April 26, 2026

ĐẰNG SAU CA KHÚC "CHO MỘT NGƯỜI VỪA NẰM XUỐNG"

Rất nhiều người đã nghe bài hát “Cho một người vừa nằm xuống” từ sau biến cố Tết Mậu Thân, năm 1968, nhưng chắc ít ai biết rõ những tình tiết đưa đến sự ra đời của nhạc phẩm này, để đến cả 40 năm sau vẫn còn có người muốn tìm hiểu.


Với những ai không quen biết nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS) – là tác giả bản nhạc – dù có nghe, hay đọc kỹ lời ca cũng khó có thể biết nhân vật được nói đến là ai; Chỉ biết người ấy mới qua đời, và lúc còn sống đã có dịp bay cao trên trời.

Để hiểu rõ câu chuyện, có lẽ phải nhìn lại từ năm 1962. Đó là năm nữ ca sĩ Khánh Ly (KL) thật sự bước vào cuộc đời ca hát của mình, trình diễn ở phòng trà Anh Vũ, một trong vài phòng trà ca nhạc (sống) lúc nào cũng chật ních giới thưởng ngoạn, trên đường Bùi Viện ở Sài Gòn.

Ca sĩ KL ghi lại trong “Chuyện kể sau 40 năm” – chú thích trong ngoặc đơn là của Nguyên Giao: “… Tôi vẫn đi hát ở Anh Vũ, và chính ở đó, tôi gặp Trung úy Không quân Lưu Kim Cương. Sau buổi hát, anh chở anh Sơn (người anh ruột của KL – không phải là TCS) và tôi chạy vòng vòng Sài Gòn… hát tiếp những bài tôi vừa hát; Đặc biệt là bài ‘Anh Đến Thăm Em Một Chiều Mưa’ … Anh bảo … Mai (tên thật của KL) chọn bài có gout lắm, cứ như thế, và anh cũng muốn em giữ mãi nụ cười. Anh thích thấy em cười vì nụ cười đó sẽ mở cho em tất cả những cánh cửa … Cuộc gặp gỡ giữa anh em chúng tôi và Trung úy Lưu Kim Cương đơn giản như vậy. Tôi biết ơn anh vì anh là người duy nhất có cái nhìn thiện cảm với tôi. Anh là người đầu tiên và duy nhất khuyến khích tôi đi theo nghiệp dĩ này … ”

Nhưng cuối năm 1962, KL lại rời Sài Gòn lên hát cho một phòng trà khác ở Đà Lạt, và lưu lại đó 5 năm. Năm 1964, tại Đà Lạt, KL gặp một người nhạc sĩ nghèo. Anh đến với cô bình thản như cơn mưa dầm của Đà Lạt vào đêm hôm đó. Qua vài câu chuyện, cô và nhạc sĩ trở thành hai người bạn. Người bạn ấy không ai khác, đó là nhạc sĩ TCS. Rất nhiều lần TCS đề nghị KL về Sài Gòn đi hát với ông nhưng cô đều từ chối bởi cô yêu Đà Lạt, sự yên tĩnh thanh bình của Đà Lạt đã quyến luyến bước chân cô, không như Sài Gòn vốn đông người và luôn nhộn nhịp.

Đến năm 1967, ca sĩ KL tình cờ gặp lại nhạc sĩ TCS giữa giòng người đi lại trên đường Lê Thánh Tôn, Sài Gòn, vào một buổi chiều êm ả. Từ một đêm mưa của Đà Lạt đến một buổi chiều trên đường phố Sài Gòn, tất cả đã bắt đầu như đưa đẩy định mệnh.

Vài hôm sau, trên nền gạch đổ nát bãi đất rộng sau trường đại học Văn Khoa Sài Gòn, một quán lá sơ sài được dựng lên với cái tên là Quán Văn. Tại đây, giọng hát khàn đục, và lôi cuốn của KL đã làm ngẩn ngơ, bàng hoàng & ngất ngây cả một thế hệ với những bản tình ca, và Ca Khúc Da Vàng mới lạ của TCS.

ĐTKQ-Lưu Kim Cương

Hãy nghe bà Đặng Tuyết Mai – trước là phu nhân của Thiếu tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ (NCK) lúc giữ chức Thủ tướng VNCH - mô tả liên hệ giữa Lưu Kim Cương (LCK) và Trịnh Công Sơn (TCS) trong một cuộc phỏng vấn năm 2009 ở Hoa Kỳ:

“ … Anh LKC và chị rất là say mê nhạc của anh TCS và con người của anh TCS nữa. Chị hay nấu nướng. Trong Câu lạc bộ Không quân, anh LKC có một câu lạc bộ nhỏ là Mây Bốn Phương, luôn luôn kéo anh TCS vào đó. Chị đem đồ nhậu đến. Anh TCS làm được bài nhạc mới là hát, và hay tả cho nghe. Chị hay đến câu lạc bộ Mây Bốn Phương để nghe anh TCS đàn hát những bài hát mới. Giao tình của anh TCS với anh LKC rất mật thiết. Cũng lạ, một người rất là nhà binh, to lớn, cường tráng. Còn anh TCS rất là mỏng manh, ốm yếu. Nhưng hai người gần nhau vô cùng trong tình nghệ sĩ. Anh LKC có rất nhiều nghệ sĩ tính, hát rất hay. Thành ra, họ rất thân mến với nhau. Hàng tuần, họ gặp nhau hai, ba lần … “

Từ năm 1967, NCK giữ chức Phó Tổng thống VNCH, có Trung tá LKC trong số những sĩ quan thân tín Không quân chung quanh.

Đúng mùng một Tết Mậu Thân (31 tháng Giêng năm 1968), một cánh quân của quân đội miền Bắc Việt Nam tấn công căn cứ Không quân trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Có mặt tại căn cứ, LKC đã “không quân đánh bộ” thành công chỉ huy đánh trả và chiến thắng hôm 23 tháng Hai, và được vinh thăng Đại tá.

Mặc dù bị tổn thất nặng nề trong cuộc tổng công kích đợt 1 Tết Mậu Thân, tới trung tuần tháng 4, 1968 quân đội miền Bắc Việt Nam lại mở cuộc tổng công kích đợt 2. Nhật báo Chính Luận ở Sài Gòn trong số ra ngày mùng 7, tháng 5, năm 1968 đăng tin: “Sáng ngày mùng 2 tháng 5 vào hồi 10 giờ, Ðại tá Lưu Kim Cương, Tư Lệnh Không Ðoàn 33 đã bị tử thương trong lúc ông đương đích thân chỉ huy một đơn vị bảo vệ vòng đai phi trường để đẩy lui một cánh quân Việt Cộng tại khu nghĩa trang Pháp gần ngã tư Bảy Hiền. Ông đã bị một tên Việt Cộng thủ súng B40 (phóng lựu đạn, để bắn xe tăng) vẫn còn sống, bắn một trái B40 trúng tấm mộ bia ngay bên cạnh Ðại tá Cương, sức nổ và miểng đạn đã chặt đứt một cánh tay của ông và gây thêm nhiều vết thương nặng khác, khiến ông tắt thở tại chỗ. Một phóng viên truyền hình Pháp chạy theo Ðại tá Cương cũng bị tử thương ngay bên. Ðại tá Lưu Kim Cương năm nay 34 tuổi có 2 con. Ông là người rất vui tính, có nhiều máu văn nghệ, chiếm được nhiều cảm tình trong giới quân đội cũng như báo chí. Tưởng cũng nên ghi nhận đây là lần đầu tiên một sĩ quan mang cấp Tá của quân đội ta nói chung và của Không quân VN nói riêng đã hy sinh trong lúc trực chiến với địch.”


Nhà báo/Nhà văn Văn Quang có ghi lại: “Một buổi chiều năm Mậu Thân 1968, ngồi ở nhà hàng Pagode tôi gặp Khánh Ly và Ngọc Anh đi cùng Trịnh Công Sơn. Chúng tôi rủ nhau đi ăn cơm chiều. Ăn ở một quán bụi xong đã đến giờ giới nghiêm – thời gian đó Sài Gòn giới nghiêm từ 5 giờ chiều đến 5 giờ sáng. Khánh Ly nhờ tôi đưa Trịnh Công Sơn về … Đêm đó là đêm đầu tiên tôi đưa Trịnh Công Sơn về building Cao Thắng. Ở cái building đó chỉ có một phòng gắn máy lạnh, là của một thương gia bán huy chương ở ngay chợ Bến Thành thuê làm phòng riêng, cho tôi ở chung nhưng không lấy tiền. Sơn mang đến cây đàn guitar, ở lại phòng tôi vài ngày, tôi không nhớ rõ bao nhiêu ngày. Nhưng chính ở đó anh sáng tác hoặc hoàn tất bản ‘Tình Xa’. Tôi có cái máy ghi âm hiệu Akai, trong khi tôi đi làm, Sơn vẫn thường dùng để nghe lại bản nhạc mình đang hoàn thành. Rồi chợt một hôm nghe tin Lưu Kim Cương chết ở phi trường Tân Sơn Nhất, Khánh Ly lên phòng tôi, cô ngồi lặng, Sơn chỉ nhìn và cũng lặng yên. Ít ngày sau, bài ‘Cho Một Người Vừa Nằm Xuống’ ra đời … “.
Cho một người vừa nằm xuống, còn có tên khác là Hát cho người nằm xuống là bài hát được nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết khoảng giữa/cuối năm 1968, khi người bạn thân là Chuẩn tướng Không quân Lưu Kim Cương bỏ mình trong bom đạn. Lưu Kim Cương là tư lệnh Không đoàn 33 Quân lực Việt Nam Cộng hòa đến khi tử trận qua chiến dịch Mậu Thân đợt hai vào giữa năm 1968. Ông đã tử trận vì trúng đạn B-40 của quân đội miền Bắc Việt Nam, trong khi đang đi trên xe Jeep mang quân ra giải vây vành đai phi trường Tân Sơn Nhất vào sau Tết Mậu Thân 1968 (giai đoạn ác liệt nhất của Chiến tranh Việt Nam). (Theo wikipedia.org)

Lượt từ FB TRẦN XUÂN LỘC
Theo:Hợp Âm Việt



DẠ VŨ - BẠCH CƯ DỊ


Dạ vũ - Bạch Cư Dị

Tảo cung đề phục yết,
Tàn đăng diệt hựu minh.
Cách song tri dạ vũ,
Ba tiêu tiên hữu thanh.


夜雨 - 白居易

早蛩啼復歇
殘燈滅又明
隔窗知夜雨
芭蕉先有聲
Mưa đêm
(Dịch thơ: Hoàng Giáp Tôn)

Dế kêu đến sáng thì ngừng,
Đèn tàn chực tắt lại bừng sáng thêm.
Ngoài song chắc có mưa đêm;
Gõ trên tàu chuối tiếng chêm vọng vào!


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ. Ông xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ, nhà nghèo nhưng rất thông minh, 9 tuổi đã hiểu âm vận, 15 bắt đầu làm thơ, thuở nhỏ nhà nghèo, ở thôn quê, đã am tường nỗi vất vả của người lao động.

Nguồn: Thi Viện


"ĐỊNH LUẬT 2 PHÚT": ĐỪNG ĐỂ BẢN THÂN QUA ĐỜI Ở TUỔI 25 VÀ ĐƯỢC CHÔN CẤT Ở TUỔI 75!

Người xưa có câu: ‘Dục tốc bất đạt’, nhưng cũng có câu: ‘Binh quý ở chỗ thần tốc’. Dường như những kinh nghiệm của người xưa có chút mâu thuẫn, khiến chúng ta tự hỏi, rốt cục nhanh tốt hay chậm mới tốt?


Có một câu nói rất hay: “Đến núi nào thì hát bài ca đó.”

Căn cứ vào tình hình cụ thể mà đưa ra cách giải quyết phù hợp mới là trí tuệ thực sự. Đọc sách mà tin hết vào sách thì tốt hơn đừng nên đọc. Hôm nay, chúng ta hãy nói về chủ đề “tốc độ”, tôi sẽ tiết lộ cho bạn biết làm thế nào sử dụng “tốc độ” để đạt được một cuộc sống tốt hơn.

Nói về tốc độ thì bạn không thể không biết “định luật hai phút”, có nghĩa là muốn làm việc gì thì nhất định phải quyết định làm ngay trong vòng 2 phút. Nếu không, bạn có thể trì hoãn rất lâu, thậm chí là không làm.

Ắt hẳn, mỗi chúng ta, ai cũng đã từng trải qua loại cảm giác này rồi, đó là trong đầu đột nhiên lóe lên một ý tưởng gì đó hoặc muốn làm điều gì đó nhưng cứ chần chừ. Thời gian trôi qua càng lâu càng cảm giác mất đi động lực, rồi lại dời việc đó qua ngày hôm sau, đến ngày hôm sau lại dời tiếp qua ngày hôm khác, dần dần khiến việc đó trôi vào quên lãng, không được hoàn thành.

Điều có thể thay đổi cuộc sống của chúng ta chỉ có hành động, nếu bạn để “cái kén” đó chết sớm từ trong suy nghĩ thì cả cuộc đời này sẽ rất lãng phí.

Nguồn: pinterest

1. Kiếm tiền, đi trước người khác một bước và chiếm lấy ánh đèn sân khấu

“Nắm bắt được cơ hội thì heo cũng có thể bay”, đạo lý này ai cũng hiểu, nhưng tại sao có một số người, cho dù cơ hội có bày ra trước mắt cũng không nắm bắt được? Không phải họ không có năng lực, chỉ là động tác của họ hơi chậm mà thôi.

Vào những năm 1970, tại California, Hoa Kỳ, có một chàng trai trẻ tên là Frank. Vì gia cảnh nghèo khó, anh phải bỏ học và đến Chicago để mưu sinh. Thứ nhất, anh ta không có vốn, thứ hai, không có mối quan hệ, và thứ ba, không có cơ sở làm việc, vì vậy anh ta đành phải cúi mình làm nghề đánh giày.

Sáu tháng sau, anh dùng số tiền dành dụm được để mở một cửa hàng kem. Trước cửa hàng anh vẫn mở quầy đánh giày cũ khi trước. Công việc kinh doanh kem ngày càng phát triển và anh đã mở thêm vài chi nhánh. Vào thời kỳ đỉnh cao, anh sở hữu hơn 4.000 cửa hàng và chiếm lĩnh 70% thị phần kem tại Mỹ.

Cùng thời với Frank, có một anh chàng con nhà giàu, tên Steve, cũng đang nghiên cứu ở Chicago và thấy rằng việc kinh doanh kem rất tốt, nhưng cha anh lại mắng anh: “Nông cạn.”

Một năm sau, Steve lại nói với cha mình rằng công việc kinh doanh kem thật sự rất tốt. Lúc này cha anh mới thừa nhận điều đó, nhưng đã quá muộn.

Các bạn có thể thấy, tốc độ tỷ lệ thuận với sự giàu có. Nhiều người cho rằng muốn kiếm tiền thì phải chuẩn bị cẩn thận, đi khảo sát nhiều nơi, bàn bạc lại nhiều lần với người thân, bạn bè, các bậc tiền bối. Nhưng trên thực tế, việc kiếm tiền vốn không có mô hình cố định nào, bạn cần phải vừa làm vừa đúc kết kinh nghiệm. Nếu bạn không thử thì làm sao những đạo lý truyền tai đó có thể chính thức có ích cho bạn được?

Như câu nói: “Nếu bạn nghi ngờ và do dự, bạn sẽ hối hận về sau.”

Bây giờ hoặc không bao giờ. Các mối quan hệ lứa đôi còn không thể chờ một người cứ mãi thụ động, thì làm sao một núi tiền có thể chờ được loại người như vậy?

Nguồn: pinterest

2. Duyên phận, dũng cảm thổ lộ, về sau không hối tiếc

Vào thời Đông Hán, có một người phụ nữ họ Mạnh, dung mạo trung bình, nước da ngăm đen, có thể nhấc cả cối đá một cách dễ dàng. Điều đáng ngạc nhiên là cô không tuân theo “lời ông mai, lệnh cha mẹ” mà muốn tự mình đi tìm bạn đời. Cha cô hỏi cô: “Con sẽ lấy ai?”

Cô ấy nói: “Con muốn kết hôn với Lương Hồng, con coi trọng đức hạnh của anh ấy.”

Sau khi Lương Hồng nghe thấy những lời của Mạnh Thị, anh ta lập tức mang sính lễ gửi qua. Nhờ câu chuyện này mà đã lưu truyền lại một câu thành ngữ nổi tiếng ở Trung Quốc: “Cử án tề mi.” Câu thành ngữ này có ý là chỉ người vợ kính yêu chồng, hoặc vợ chồng cùng kính trọng và thương yêu lẫn nhau.

Thời phong kiến, phụ nữ được tự do lấy chồng rất hiếm. Đặc biệt là những cô gái xuất thân từ những gia đình bình thường.

Có một câu nói rất hay: “Tỏ tình còn không dám, làm sao nói đến chuyện yêu đương?”

Có thể người bạn thích sẽ không thích bạn, nhưng khi nói ra hết nỗi lòng, bạn chắc chắn sẽ không hối hận về sau. Ít nhất bạn đã không bỏ lỡ bất kỳ khả năng nào và trân trọng cơ duyên gặp gỡ đó.

Tôi từng xem một bộ phim có một câu thoại rất hay rằng: Hãy nhìn ra ngoài cửa sổ, nếu cành cây khẽ đung đưa trong gió, thì người bạn yêu cũng yêu bạn; hãy lắng tai, nếu bạn nghe thấy nhịp tim của chính mình, thì người bạn yêu cũng yêu bạn; hãy nhắm mắt lại, nếu trên môi bạn nở một nụ cười, thì người bạn yêu chắc chắn… cũng yêu bạn!

Khoảnh khắc lá rung, khoảnh khắc nghe nhịp tim đập, khoảnh khắc nhắm mắt nhớ thương,v.v.. Nếu như bạn cảm nhận được hết, thì đó chính là tình yêu. Nhưng nhiều người đã bỏ lỡ những điều tốt đẹp ấy chỉ vì một phút giây chần chừ.

Thông thường, trong dòng người tấp nập, chúng ta sẽ có trải nghiệm như thế này: một người lướt ngang qua và mỉm cười với chúng ta, bản thân chợt rung động, nhưng lại không biết thông tin liên lạc, đồng thời cũng chẳng dám tiến tới bắt chuyện với họ. Chần chừ trong giây lát, mọi thứ đều đã trôi qua.

Nếu yêu, hãy lớn tiếng tuyên bố, một phút cũng không nên do dự. Cho dù đoạn tình cảm này chỉ hạnh phúc được 1 năm, hay đôi tháng, thì cũng đã rất xứng đáng rồi.

Nguồn: pinterest

3. Gặp sự cố, hãy quyết định dứt khoát, đảo ngược tình thế

Một lần, ca sĩ Trương Tín Triết được mời tham gia chương trình “Voice” do Tát Bối Ninh chủ trì. Một số khán giả cho rằng Trương Tín Triết đã là ca sĩ “hết thời”. Trương Tín Triết nói rằng, ông chấp nhận mình đã hết thời, xét cho cùng, mỗi ngành đều không ngừng phát triển, đó là định luật rồi.

Tát Bối Ninh lại đáp, ví dụ như để Michael Jordan trở lại sân bóng rổ, anh ta có thể sẽ không còn giữ được phong độ, nhưng điều này không ảnh hưởng đến việc Michael Jordan vẫn là một “thần bóng rổ” trong lòng mọi người.

Có nhiều việc không thể chờ đợi, nếu suy nghĩ quá 2 phút thì cơ hội tốt nhất để giải quyết mọi việc sẽ trôi qua, thậm chí sự việc còn có thể phát triển theo “chiều hướng xấu”. Bạn phải “nhanh trí và khôn ngoan”, nếu không, bạn sẽ là người không có khả năng kiểm soát tình hình.

Có một thuật ngữ tâm lý học gọi là “suy yếu cái tôi” (ego depletion). Nếu một người không làm gì mà luôn vướng bận thì nội tâm sẽ không thông suốt, từ đó sinh ra chán nản, mất động lực.

Để không tự làm hao mòn bản thân, bạn phải hành động dũng cảm. Tất nhiên, tiền đề của hành động là luôn luôn tích lũy năng lực, phù hợp với quy luật “cơ hội chỉ dành cho những người đã chuẩn bị sẵn sàng”. Đừng chờ đợi, đừng dựa dẫm, vì mỗi một lần bạn hành động chính là một bước đi trưởng thành.

Ngọc Tú / Theo: cafebiz