Wednesday, April 15, 2026

CÓ MỘT KIỂU ĐAU KHỔ MANG TÊN: SUY NGHĨ QUÁ NHIỀU

Bạn có bao giờ tin rằng, sẽ có người khổ không phải vì nghèo khó, không phải vì biến cố lớn lao, mà chỉ vì… suy nghĩ quá nhiều không?


Nghe qua tưởng như vô lý. Nhưng thực tế, rất nhiều người đang sống như vậy, bên ngoài bình thường, bên trong lại luôn mệt mỏi. Không ai làm họ tổn thương rõ ràng, nhưng tâm trí của chính họ thì chưa từng được nghỉ ngơi.

Tâm lý học hiện đại gọi trạng thái này là overthinking — suy nghĩ quá mức.

Đó không phải là sự sâu sắc, cũng không phải cẩn trọng. Đó là khi suy nghĩ vượt quá giới hạn cần thiết, trở thành một vòng lặp không lối thoát.

Khi bộ não không chịu dừng lại

Người suy nghĩ quá nhiều thường có những biểu hiện rất quen thuộc.

Họ nhớ rất lâu những chuyện nhỏ người khác đã quên. Một câu nói vô tình trong cuộc trò chuyện có thể bị tua đi tua lại hàng chục lần trong đầu: “Mình nói vậy có kỳ không? Họ có hiểu sai ý mình không?”

Một tin nhắn trả lời chậm cũng đủ khiến họ tưởng tượng ra hàng loạt kịch bản: người kia đang giận, đang thất vọng, hay dần xa cách.

Ban ngày họ vẫn sinh hoạt bình thường, nhưng đêm đến, khi mọi thứ yên tĩnh, tâm trí lại bắt đầu hoạt động mạnh nhất. Những chuyện của quá khứ, những lo lắng của tương lai, những điều chưa xảy ra tất cả cùng xuất hiện, khiến giấc ngủ trở nên xa xỉ.

Có người từng nói rằng họ cảm thấy mình như sống với hai thế giới: một thế giới bên ngoài rất yên ổn, và một thế giới bên trong thì chưa bao giờ ngừng ồn ào.

Điều đau lòng là họ không hề muốn nghĩ nhiều, mà là họ không biết cách dừng lại.


Vì sao có lúc ta không thể kiểm soát được suy nghĩ của mình?

Không phải ai sinh ra cũng là người suy nghĩ quá nhiều.

Có những người trước đây rất vô tư, sống nhẹ nhàng, nhưng theo thời gian lại dần trở nên lo lắng, nhạy cảm và dễ suy diễn. Điều đó cho thấy overthinking không chỉ đến từ tính cách, mà còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ môi trường sống và những gì ta tiếp xúc mỗi ngày.

Chúng ta tiếp xúc với con người, tin tức, mạng xã hội, sách vở, câu chuyện của người khác… và tưởng rằng mình chỉ đang tiếp nhận thông tin. Nhưng thực ra, mỗi điều ta tiếp xúc đều mang theo một dạng “năng lượng” vô hình.

Người xưa đã nói rất giản dị mà sâu sắc: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.”

Khi ta thường xuyên tiếp xúc với sự tiêu cực: những lời than vãn, tin tức đầy lo âu, sự so sánh, phán xét hay sợ hãi,… tâm trí cũng dần học cách nhìn thế giới theo hướng bất an hơn.

Điều đáng nói là không phải sự tiêu cực nào cũng dễ nhận ra. Có những thứ len vào rất nhẹ: một thói quen đọc tin xấu mỗi sáng, những cuộc trò chuyện đầy bi quan, hay việc liên tục so sánh bản thân với cuộc sống hoàn hảo của người khác trên mạng.

Ban đầu ta không cảm thấy gì. Nhưng lâu dần, tâm trí trở nên cảnh giác quá mức, luôn chuẩn bị cho điều tệ nhất và đó chính là mảnh đất màu mỡ cho overthinking sinh sôi.

Chỉ khi bắt đầu quan sát lại đời sống của mình, từ những gì mình đang nghe, đang xem, ở cạnh ai, nghĩ về điều gì mỗi ngày, chúng ta mới nhận ra nguồn gốc của sự mệt mỏi ấy.


Không chỉ là tâm lý, mà còn là trạng thái năng lượng của thân tâm

Trong văn hóa phương Đông, con người không chỉ được nhìn như một cơ thể vật lý, mà còn là một tổng hòa của “tâm, khí và thần”.

Khi thân tâm ở trạng thái thấp, những mệt mỏi, lo âu, căng thẳng kéo dài suy nghĩ tiêu cực dễ xuất hiện hơn. Người xưa gọi đó là trạng thái “khí suy”, khi tinh thần không còn đủ ổn định để giữ tâm an.

Ngày nay, nhiều người dùng khái niệm hiện đại hơn: tần số năng lượng.

Khi tâm trạng thấp, suy nghĩ thường nặng nề, lặp lại và tiêu cực. Nhưng khi trạng thái bên trong được nâng cao, bạn sẽ thấy cơ thể khỏe hơn, tâm trí sáng hơn, cảm xúc ổn định hơn và những dòng suy nghĩ ấy tự nhiên giảm đi, giống như sương mù tan khi mặt trời lên.

Không phải vì chúng ta cố xua đuổi suy nghĩ, mà vì tâm trí lúc ấy không còn môi trường để nuôi dưỡng chúng nữa.


Vậy làm thế nào để “nâng tần số” của bản thân?

Người xưa không dùng những khái niệm phức tạp. Họ chỉ sống theo những nguyên tắc rất giản dị nhưng sâu sắc:
  1. Thanh lọc điều mình tiếp xúc: Giảm bớt tin tức tiêu cực, những cuộc trò chuyện khiến tâm trạng nặng nề. Chọn đọc, nghe và ở gần những điều khiến lòng mình sáng lên thay vì kiệt sức.

  2. Điều hòa thân trước khi điều tâm: Ngủ đủ, vận động nhẹ, hít thở sâu, đi bộ ngoài trời. Khi cơ thể ổn định, suy nghĩ cũng tự nhiên chậm lại.

  3. Làm chậm nhịp sống: Uống trà chậm, ăn chậm, làm một việc tại một thời điểm. Khi thân quay về hiện tại, tâm cũng dần ngừng chạy loạn

  4. Nuôi dưỡng nội tâm bằng điều thiện lành: Đọc sách tích cực, biết ơn những điều nhỏ, giúp đỡ người khác. Những hành động nhỏ này âm thầm thay đổi trạng thái tinh thần lâu dài.

Sau cùng, điều cần học không phải là kiểm soát suy nghĩ

Suy nghĩ không phải kẻ thù, chúng chỉ là phản chiếu của trạng thái bên trong ta. Càng cố kiểm soát, tâm trí càng phản kháng. Nhưng khi ta thay đổi môi trường sống, thay đổi điều mình tiếp xúc, chăm sóc thân tâm đủ đầy, suy nghĩ tự nhiên biết dừng đúng chỗ.

Có người cả đời cố tìm cách khiến đầu óc im lặng; nhưng người xưa hiểu rằng, khi lòng đủ an, sự yên tĩnh sẽ tự đến.

Bình yên không phải là không còn suy nghĩ, mà là khi suy nghĩ không còn dẫn dắt cuộc đời ta nữa.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

Tuesday, April 14, 2026

TẠI SAO CHIẾN DỊCH "MÓNG VUỐT ĐẠI BÀNG" CỦA ĐẶC NHIỆM MỸ CÁCH ĐÂY 47 NĂM THẤT BẠI?

47 năm trước, chiến dịch giải cứu 52 con tin Mỹ tại Iran – được kỳ vọng là đòn đột kích táo bạo của lực lượng đặc nhiệm tinh nhuệ bậc nhất. Thế nhưng, giữa sa mạc khắc nghiệt và những sai lầm chí mạng, chiến dịch đã kết thúc trong thảm họa, trở thành một trong những thất bại cay đắng nhất trong lịch sử giải cứu con tin của nước Mỹ.


Tại sao chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” của đặc nhiệm Mỹ cách đây 47 năm thất bại?

Chỉ 5 phút sau khi ông Ronald Reagan làm lễ nhậm chức Tổng thống thứ 40 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (20/1/1981), 52 con tin Mỹ lập tức được phóng thích, kết thúc 444 ngày bị giam giữ tại Iran (từ 4/11/1979 - 20/1/1981), chấm dứt cuộc khủng hoảng con tin hy hữu trong lịch sử quan hệ quốc tế.

Còn ông Jimmy Carter - Tổng thống thứ 39 (từ 9/3/1977 - 20/1/1981), được người kế vị yêu cầu lập tức bay sang Đức đón các con tin về nước. 47 năm đã trôi qua (1981-2026), nhưng vụ phóng thích 52 con tin Mỹ tại Iran lại được dư luận và giới chuyên môn đề cập bởi nhiều nguyên nhân khác nhau.

Những quyết định bất ngờ

Một trong những nguyên nhân chính khiến vụ phóng thích 52 con tin Mỹ tại Iran lại được nhắc tới bởi họ vừa được Chính phủ Mỹ quyết định bồi thường mỗi người 4,4 triệu USD. Theo giới truyền thông, một trong những điểm chú ý nhất của dự luật chi tiêu được thông qua vào ngày 18/12/2015 chính là các nạn nhân người Mỹ trong vụ bắt cóc con tin tại Iran năm 1979 được bồi thường mỗi người 4,4 triệu USD sau 36 năm kiện, đòi quyền lợi.

Quốc vương Iran Mohammad Reza Pahlavi hội kiến với Tổng thống Mỹ Jimmy Carternăm 1977.

Dự luật chi tiêu mới cho phép thanh toán 10.000 USD/ngày đối với những người bị giam giữ. Theo đó, 37 con tin còn sống và thân nhân của 16 con tin đã chết trong vụ bị bắt cóc ngày 4/11/1979 ở Iran, sẽ được bồi thường 4,4 triệu USD/người.

Theo lời con tin Rodney Sickmann, họ bị tra tấn trong thời gian bị giam giữ, nhưng khiếu kiện của 52 con tin lên Tòa án tối cao và Quốc hội Mỹ không được chấp nhận. Tờ The New York Times cho biết, Mỹ có thể lấy tiền từ khoản phạt trị giá 9 tỉ USD dành cho Ngân hàng Paribas (Pháp) do vi phạm lệnh trừng phạt đối với Iran, Sudan và Cuba, để bồi thường cho các nạn nhân và người thân bị bắt cóc làm con tin ở Iran.

Tuy nhiên, để có thể ký thỏa thuận kể trên, Mỹ và Iran đã phải trải qua khá nhiều thăng trầm. Sau khi bắt 66 công dân Mỹ làm con tin hôm 4/11/1979 tại Đại sứ quán Mỹ ở Tehran, và để chứng tỏ thiện chí, ngày 17/11/1979, lãnh tụ Iran Ayatollah Ruhollah Khomeini đã ra lệnh phóng thích con tin nữ và người Mỹ gốc Phi, chỉ để lại 52 con tin.

Chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” không giải cứu được con tin nào mà còn khiến Mỹ tổn thất 1 máy bay vận tải C-130 và 8 trực thăng RH-53.

Giới phân tích cho rằng, quyết định ngày 22/10/1979 của Tổng thống Jimmy Carter - cho phép Quốc vương Iran bị phế truất, ông Shah Mohammed Reza Pahlavi tị nạn chính trị và chữa bệnh tại Mỹ, là giọt nước tràn ly, khiến Đại sứ quán Mỹ ở Tehran bị tấn công hôm 4/11/1979.

Chính phủ mới ở Iran đã đưa ra một số điều kiện để phóng thích con tin, trong đó có yêu cầu Washington phải dẫn độ nhà lãnh đạo Shah Mohammed Reza Pahlavi về nước để xét xử và hoàn trả số tài sản của cựu vương cho Tehran. Bởi sau cuộc đảo chính lật đổ chính phủ của Thủ tướng Mohammed Mossadegh thành công (19/8/1953, cuộc khủng hoảng dầu hỏa mang tên Công ty dầu Anh-Iran được nối lại), Quốc vương Shah Mohammed Reza Pahlavi đã cho phép các công ty dầu hỏa của Anh, Mỹ và Hà Lan cùng khai thác với Iran. Quyết định của Quốc vương Shah Mohammed Reza Pahlavi đã tạo ra những phản đối của phe đối lập.

Năm 1962, Quốc vương Shah Mohammed Reza Pahlavi từng ra lệnh bắt ông Ayatollah Ruhollah Khomeini vì lập trường chống chính quyền thân phương Tây ở Tehran. Năm 1964, ông Ayatollah Ruhollah Khomeini phải sống lưu vong tại Thổ Nhĩ Kỳ, Iraq và Pháp.

Nên sau khi trở lại nắm quyền, ông Ayatollah Ruhollah Khomeini không những tuyên bố lập nhà nước Cộng hòa Hồi giáo, mà còn từ chối ảnh hưởng của Mỹ tại Iran, cũng như khu vực này. Giới phân tích cho biết, cái chết của cựu vương Shah Mohammed Reza Pahlavi ở Ai Cập và bị Iraq xâm chiếm là một trong những nguyên nhân chính khiến Iran chấp nhận đàm phán với Mỹ để giải quyết việc phóng thích 52 con tin.

Và khi đó Algieri là nhà trung gian hòa giải để Mỹ-Iran ký thỏa thuận Algiers (Algiers Accords). Ngay sau khi 52 con tin được phóng thích, Mỹ đã giải ngân gần 8 tỷ USD tài sản bị đóng băng cho Iran. Tuy cử người tiền nhiệm Jimmy Carter sang Đức đón con tin, nhưng tân Tổng thống Ronald Reagan không những áp đặt lệnh trừng phạt kinh tế, mà còn kiện Iran ra Tòa án Công lý quốc tế xung quanh cuộc khủng hoảng con tin-ngoại giao kể trên.

Chiến dịch “Móng vuốt đại bàng”

Theo giới truyền thông, việc Tổng thống Jimmy Carter chỉ giành được 41% phiếu bầu trong cuộc bầu cử tháng 11/1980 là do thất bại trong cuộc giải cứu con tin ở Iran. Sau khi tuyên bố cắt đứt quan hệ với Iran, Tổng thống Jimmy Carter đã ra lệnh cho Bộ trưởng Quốc phòng Harold Brown lên kế hoạch giải cứu 52 con tin.

Quan chức Iran thị sát xác máy bay bị Mỹ bỏ lại sa mạc gần Tehran sau chiến dịch. Ảnh: AP.

Và chiến dịch giải cứu con tin với tên gọi Eagle Claw (Móng vuốt đại bàng) đã ra đời. Khi đó, chiến dịch này được chia làm 2 giai đoạn. Theo đó, giai đoạn chuẩn bị có tên gọi Operation Rice Bowl. Và công tác chuẩn bị kéo dài mấy tháng, tới thượng tuần tháng 4-1980, lính đặc nhiệm Mỹ mới được điều tới châu Á.

Khi đó Washington đã quyết định điều 12 máy bay, trong đó có 4 chiếc MC-130E Combat Talon, 3 chiếc EC-130E Commando Solo, 3 chiếc AC-130 Spectre và 2 chiếc vận tải quân sự C-141 Starlifter. Lầu Năm Góc còn huy động 8 trực thăng RH-53D cùng 120 lính thuộc đơn vị đặc biệt tinh nhuệ Delta Force. Ngoài ra, 2 tàu sân bay chở tiêm kích và cường kích cũng được lệnh sẵn sàng hành động chi viện khi cần thiết. Giai đoạn hành động có tên gọi Operation Eagle Claw.

Giới truyền thông cho biết, đêm đầu tiên của chiến dịch “Móng vuốt đại bàng”, 3 chiếc C-130 Combat Talon được lệnh chở 120 lính đặc nhiệm Delta Force tới Iran. Và nhiều hành động khác cũng diễn ra xung quanh khu vực ngoại ô thủ đô Tehran.

Theo kế hoạch, đến đêm thứ hai, các máy bay hạ cánh tại sân bay Manzariyeh, sau khi được 100 lính đặc nhiệm đánh chiếm và chốt giữ dưới sự yểm trợ của không quân. Trong lúc đó, lực lượng Delta Force đi trên các xe tải được chuẩn bị sẽ tiến đến Đại sứ quán Mỹ, đột kích đánh chiếm, cứu con tin và chở họ bằng trực thăng đến sân bay Manzariyeh. Số trực thăng sau khi kết thúc chiến dịch sẽ bị hủy.

Một trong số 52 con tin Mỹ bị trói và bịt mắt được đưa ra gặp gỡ báo chí 4 ngày sau khi bị bắt giữ.

Ngày 24/4/1980, Tổng thống Jimmy Carter phát lệnh thực thi chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” từ hàng không mẫu hạm USS Nimitz. Theo giới truyền thông, chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” bắt đầu từ tối 24/4/1980, nhưng mọi việc diễn ra không đúng như kế hoạch. Bởi khi đó 8 trực thăng bay ở độ cao thấp nhằm tránh radar phát hiện đã bị bão cát làm mất phương hướng. Do trục trặc kỹ thuật, nên chỉ có 6/8 trực thăng đến được điểm hẹn với các máy bay tiếp dầu, nhưng chậm hơn một tiếng đồng hồ theo kế hoạch.

Sau đó, người ta còn phát hiện trong số 6 trực thăng đến được điểm hẹn có 1 chiếc bị hỏng. Đúng lúc đó xuất hiện một xe buýt chở 43 người Iran và một xe chở dầu. Chiếc xe chở dầu bị lính đặc nhiệm bắn và tiếng nổ dữ dội đã khiến tính bí mật của chiến dịch bị mất. Mặc dù đã phát lệnh thu quân, quay về căn cứ, nhưng do hoảng loạn và thay đổi vị trí bất ngờ, nên một trực thăng đã va mạnh vào một chiếc EC-130E Commando Solo khiến cả 2 tổ lái đều thiệt mạng.

Vừa rơi vào tình trạng hoảng loạn, vừa phải khẩn trương đưa những người bị thương lên các máy bay còn lại, nên khi lính đặc nhiệm Mỹ rời khỏi Iran, họ đã bỏ lại hiện trường nhiều tài liệu, chứng cứ (5 trực thăng RH-53D còn nguyên vẹn bị bỏ lại) vạch trần số gián điệp Mỹ ở Tehran, cũng như kế hoạch giải cứu 52 con tin.

Điều quan trọng nhất là các chỉ huy không thống nhất được với nhau về kế hoạch tiếp theo. Mâu thuẫn giữa Trung tá Edward Seiffert, chỉ huy đội trực thăng với Đại tá Charlie Beckwith, chỉ huy đội Delta Force và Đại tá James Kyle, chỉ huy đội máy bay vận tải đã khiến cho mọi việc càng trở nên rối bời.

Theo tiết lộ của tờ Global Security, sau khi được Tổng thống Jimmy Carter giao nhiệm vụ, Lầu Năm Góc đã lên kế hoạch giải cứu con tin. Ngoài lực lượng đột kích chính là 120 thành viên của Delta Force, còn có sự hỗ trợ của đội đặc nhiệm Ranger và người của CIA. Và theo kế hoạch, chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” sẽ diễn ra trong 2 đêm 24 và 25/4/1980.

Theo đó, sau khi máy bay xâm nhập không phận Iran, các lực lượng liên quan lập tức thiết lập một trạm trung chuyển mang mật danh Sa mạc 1. Sau đó, 8 trực thăng RH-53D chở 120 thành viên của Delta Force cất cánh từ tàu sân bay USS Nimitz sẽ tiếp nhiên liệu tại Sa mạc 1 để bay đến điểm trung chuyển thứ 2 mang mật danh Sa mạc 2, cách thủ đô Tehran 83,6km. Và khi đó họ sẽ ngụy trang số máy bay, và chờ đến đêm 25/4/1980 tiếp tục hành động.

Trong khi đó, người của CIA bên trong Iran sẽ đưa xe tải đến Sa mạc 2 chở lực lượng đột kích tiến vào Đại sứ quán Mỹ ở Tehran. Trong khi 120 thành viên của Delta Force tấn công vào Đại sứ quán Mỹ, lính đặc nhiệm Ranger sẽ chiếm sân bay Manzariyeh, để dọn đường cho 2 chiếc vận tải quân sự C-141 Starlifter hạ cánh.

Máy bay trực thăng CH – 53 được sử dụng cho chiến dịch “Móng vuốt đại bàng”.

Và mấy phút trước khi diễn ra cuộc tấn công, một nhóm biệt kích sẽ cắt điện của toàn bộ khu vực để khiến cho phản ứng của quân đội Iran bị gián đoạn. Trong suốt quá trình diễn ra chiến dịch “Móng vuốt đại bàng”, phi đoàn CVW-8 của tàu sân bay USS Nimitz và CVW-14 thuộc USS Coral Sea làm nhiệm vụ yểm trợ trên không.

Sau thất bại của chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” - vừa không cứu được con tin, vừa mất máy bay, cùng 8 binh sỹ thiệt mạng và 12 người bị thương, Thiếu tướng James Vaught, chỉ huy sứ mệnh kể trên lập tức trở thành “dê tế thần”. Và sau một thời gian điều tra, Ủy ban điều tra của Quốc hội Mỹ kết luận: Chiến dịch “Móng vuốt đại bàng” đã thất bại ngay từ khi lập kế hoạch và chuẩn bị lực lượng.

Tuệ Sỹ-Trọng Hậu / Theo: CAND
Link tham khảo:




NAM LƯU DẠ LANG KÝ NỘI - LÝ BẠCH


Nam lưu Dạ Lang ký nội

Dạ Lang thiên ngoại oán ly cư,
Minh nguyệt lâu trung âm tín sơ.
Bắc nhạn xuân quy khan dục tận,
Nam lai bất đắc Dự Chương thư.

Năm 759, Lý Bạch bị biếm đi Dạ Lang (Quý Châu), gia đình vợ con ở tại Dự Chương (Nam Xương, Giang Tây), trên đường đi trông ngóng thư nhà nhưng không có. Chưa đến Dạ Lang, Lý Bạch nhận được chiếu miễn lưu, bỏ lệnh đi đày.


南流夜郎寄內

夜郎天外怨離居
明月樓中音信疏
北雁春歸看欲盡
南來不得豫章書


Gửi vợ khi đày xuống nam Dạ Lang
(Dịch thơ: phanlang)

Biếm xa ngàn dặm Dạ Lang
Lầu cao trăng sáng mong manh tin nhà.
Nhạn xuân lên bắc đã xa,
Xuống nam chẳng thấy thư quà Dự Chương.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi “chống kiếm viễn du”, đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn “ẩm tửu hàm ca” (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một “văn nhân ngự dụng” nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Nguồn: Thi Viện



TIỀN CHỌN NGƯỜI, KHÔNG TIN BẠN HÃY XEM

Tiền là thứ rất có tài trí, nó chảy từ nơi này sang nơi khác, từ túi này sang túi khác. Tiền là trong mệnh có định số, không phải là bạn tìm kiếm được tiền mà là tiền sẽ tự đến với bạn. Ai xứng đáng nhất, ai thực sự cần, tiền sẽ chủ động chọn.


Ba loại người này, có thể được tiền ưu ái nhất, không tin bạn hãy xem.

1. Tiền chọn người biết tiết kiệm

“Vua pha lê” Tào Đức Vượng, có tài sản ròng lên tới hàng chục tỷ. Nhưng chế độ ăn uống của ông vô cùng thanh đạm, cơm trong bát phải ăn sạch, không sót một hạt cơm. Nếu các món ăn trên bàn không ăn hết, nhất định sẽ được đóng gói lại.

Khi mới thành lập công ty, Tào Đức Vượng đã xây dựng căng tin cho nhân viên. Sau một lần ăn sáng, ông thấy trên bàn đầy bánh bao còn sót lại. Ngay lập tức, ông triệu tập một cuộc họp chung của tất cả nhân viên, thông báo rằng bánh bao trong nhà ăn sẽ không được phục vụ trong ba ngày, và chỉ ăn cháo. Kể từ đó, nhân viên không bao giờ lãng phí thức ăn nữa.

Tiền nên tiêu thì phải tiêu, tiền không nên tiêu thì không nên tiêu. Những người càng giàu có thì cuộc sống của họ càng tiết kiệm và họ biết cách tiêu tiền một cách khôn ngoan.

Đừng bao giờ tin rằng “tiền là kiếm được chứ không phải tiết kiệm mà được”. Nếu bạn tiêu tiền như nước, dù có kiếm được nhiều, hay dù gia đình bạn có giàu đến đâu cũng sẽ mất hết. Sẽ không ai trả tiền cho sự hào phóng của bạn trừ khi bạn có một mỏ vàng ở nhà.


2. Tiền gần người trong sạch

Cổ nhân có câu: “Tiền không vào ô cửa bẩn, phúc không nhuận người nhơ”.

Để nhận ra giá trị bản thân, trước tiên chúng ta phải học cách sắp xếp bản thân. Sạch sẽ không liên quan gì đến giàu hay nghèo, nó liên quan đến thái độ của một người đối với cuộc sống. Người khác không bắt buộc phải nhìn qua vẻ ngoài luộm thuộm để khám phá điều tuyệt vời bên trong của bạn.

Vợ của Cố Duy Quân là Nghiêm Ấu Vận, là một phụ nữ nổi tiếng ở Thượng Hải khi còn trẻ. Trong lúc khó khăn nhất, cô vẫn nhất quyết ủi quần áo hàng ngày, bộ sườn xám không một nếp nhăn. Ra ngoài phải trang điểm, xịt nước hoa, đi giày cao gót, dáng người cao thẳng. Cuối cùng, cô được Liên Hợp Quốc thuê làm nhân viên lễ tân với vẻ ngoài sạch sẽ. Đặc biệt có nhiệm vụ đón tiếp các nguyên thủ quốc gia và làm việc cho đến khi nghỉ hưu ở tuổi 65.

Vẻ ngoài của bạn ẩn chứa thái độ của bạn đối với mọi người. Quần áo không có vết bẩn, không có xơ vải, không có nếp nhăn, không bị biến dạng; nó có nghĩa là một người không đối xử với cuộc sống một cách chiếu lệ.

Sạch sẽ không chỉ là một loại khí chất, mà còn là nguồn tài vận của một người


3. Tiền theo người tốt

Chu Quốc Bình từng nói: “Con người phải có trái tim nhân hậu, mới xứng đáng với danh hiệu con người”.

Khi Thiên Vương Lê Minh ra mắt, cha của anh được chẩn đoán mắc bệnh ung thư. Lê Minh đã cầu nguyện với Trời rằng nếu bệnh của cha anh có thể được chữa khỏi, anh sẵn sàng làm việc thiện cả đời để báo đáp.

Sau khi cha hồi phục, sự nghiệp của Lê Minh cũng bước vào thời kỳ đỉnh cao.

Tại một buổi biểu diễn từ thiện năm 1991, bất ngờ có người đề nghị trả 30 vạn nhân dân tệ để Lê Minh thực hiện màn siết cổ bằng thanh thép cho mọi người xem, Lê Minh đã đồng ý ngay.

Từ năm 1993 đến 1995, anh đã quyên góp được 3,5 triệu đô la cho dự án tiêu diệt bệnh viêm tủy tại Trung Quốc, mang lại lợi ích cho 80 triệu trẻ em.

Trong trận động đất ở Vấn Xuyên, tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc năm 2008, anh đã quyên góp được 90.000 vạn thông qua việc bán đĩa từ thiện.

Vì những đóng góp xuất sắc của anh trong hoạt động từ thiện, Liên Hợp Quốc đã cấp cho anh hộ chiếu miễn thị thực toàn cầu.

Trên đời, không có sự giàu có nào mà không có lý do, và mọi vận may đến đều là phần thưởng cho lòng tốt của bạn. Lòng tốt là một loại đầu tư, nếu bạn có lòng tốt giúp đỡ người khác, bạn sẽ nhận được tài vận; nếu bạn đối xử tốt với mọi người, bạn sẽ nhận được phúc lộc dồi dào. Khi một người phát triển thói quen làm việc tốt, tiền bạc sẽ tự nhiên đến một cách đều đặn.

Bảo Châu biên dịch
Nguồn: Aboluowang

IRAN AIR 655 - BI KỊCH CHUYẾN BAY DÂN SỰ BỊ CHIẾN HẠM MỸ BẮN RƠI TRÊN EO BIỂN HORMUZ

Gần 40 năm trước, chuyến bay số hiệu 655 của hãng hàng không Iran Air bị tàu chiến Mỹ USS Vincennes bắn hạ trên eo biển Hormuz trong những ngày cuối của cuộc chiến Iran - Iraq, khiến toàn bộ 290 người trên khoang thiệt mạng. Đến nay, sự kiện này vẫn là một trong những thảm kịch gây tranh cãi sâu sắc trong lịch sử quan hệ quốc tế.


Iran Air 655 - Bi kịch chuyến bay dân sự bị chiến hạm Mỹ bắn rơi

Theo trang ATI, ngày 3/7/1988, chuyến bay 655 của Iran Air rời đường băng sân bay Bandar Abbas, khởi hành cho hành trình ngắn tới Dubai. Lẽ ra đó phải là một chuyến bay thường lệ, không biến cố. Nhưng chỉ bảy phút sau khi cất cánh, hai tên lửa từ một tàu chiến Mỹ đã xé toạc bầu trời, đánh trúng chiếc máy bay dân sự, khiến máy bay vỡ tung và rơi xuống biển, không ai sống sót.

Dù quân đội Mỹ mô tả đây là vụ “tai nạn bi thảm và đáng tiếc”, vụ việc nhanh chóng châm ngòi làn sóng phản ứng quốc tế. Năm 1989, Iran đã đưa vụ việc ra Tòa án Công lý Quốc tế. Sau đó, Washington chấp nhận bồi thường một khoản tiền lớn cho gia đình các nạn nhân. Tuy nhiên, trong nhiều năm tiếp theo, ký ức về chuyến bay 655 xấu số vẫn là vết thương chưa từng được hàn gắn đối với các gia đình nạn nhân và xã hội Iran.

Mảnh vỡ của chiếc máy bay Iran Air số hiệu 655. Ảnh: Wikimedia Commons

Bối cảnh giai đoạn cuối cuộc chiến Iran - Iraq đầy căng thẳng

Vụ bắn rơi chuyến bay 655 diễn ra vào giai đoạn cuối của cuộc chiến Iran - Iraq, bùng phát từ năm 1980 và kéo dài suốt 8 năm. Trong thời gian này, Mỹ đã âm thầm hỗ trợ Iraq về tài chính, tình báo và trang thiết bị. Đến mùa hè 1988, Hải quân Mỹ gia tăng hiện diện tại Vịnh Ba Tư, triển khai nhiệm vụ bảo vệ các tuyến hàng hải thương mại.

Căng thẳng trong khu vực khi đó leo thang ở mức cao, liên tiếp các sự cố quân sự nguy hiểm xảy ra. Vào tháng 5/1987, một chiếc máy bay Iraq đã nhầm tàu khu trục USS Stark của Mỹ là mục tiêu Iran và nổ sung tấn công, khiến 37 thủy thủ thiệt mạng. Khoảng một năm sau, tháng 4/1988, tàu khu trục USS Samuel B. Roberts trúng thủy lôi của Iran, bị hư hại nặng nề. Sự kiện này đã khiến Mỹ phát động một chiến dịch trả đũa mang tên “Praying Mantis” (tạm dịch: Chiến dịch Bọ ngựa Cầu nguyện), tấn công một số mục tiêu hải quân và đánh chìm một tàu của Iran.

Tàu USS Vincennes, được trang bị hệ thống tên lửa dẫn đường, triển khai tới Vịnh Ba Tư trong thời gian diễn ra cuộc chiến Iran - Iraq. Ảnh: Public Domain

Sáng ngày 3/7/1988, tàu USS Vincennes do thuyền trưởng William C. Rogers III chỉ huy, đã tham gia vào nhiều cuộc đụng độ trên biển - một bối cảnh căng thẳng cao độ, nơi mọi tín hiệu đều có thể bị diễn giải như một mối đe dọa tiềm tàng.

Những phút định mệnh

Theo tường thuật của tờ The New York Times năm 1988, tàu USS Vincennes đang tuần tra tại eo biển Hormuz thì chạm trán các tàu vũ trang Iran. Giữa lúc giao tranh diễn ra, chuyến bay Iran Air 655 với 290 người trên khoang chuẩn bị cất cánh từ sân bay Bandar Abbas.

Máy bay rời sân bay lúc 10 giờ 17, chậm khoảng 30 phút so với kế hoạch. Đây là hành trình chỉ kéo dài khoảng 28 phút, thường được nhiều người Iran lựa chọn vào cuối tuần để sang Dubai mua sắm. Trên chuyến bay có nhiều gia đình, trong đó có 65 trẻ em.

Chuyến bay Iran Air số hiệu 655 là một chiếc Airbus A300, ảnh chụp năm 1987. Ảnh: Wikimedia Commons

Các điều tra sau này của Hải quân Mỹ xác nhận máy bay đã phát tín hiệu nhận dạng dân sự và bay đúng hành lang hàng không thương mại.

Tuy nhiên, khi xuất hiện trên radar của tàu USS Vincennes, chiếc máy bay lập tức bị đặt trong vùng nghi vấn. Trong bối cảnh giao tranh đang diễn ra, xuất phát từ một sân bay dùng chung cho cả quân sự lẫn dân sự, cùng với việc không nhận được phản hồi qua vô tuyến, kíp chiến đấu Mỹ cho rằng đây có thể là một chiến đấu cơ F-14 của Iran.

Khả năng lớn là phi hành đoàn Iran Air 655 không nhận được cảnh báo do không theo dõi đúng tần số liên lạc, hoặc không nhận ra tín hiệu đang hướng đến mình.

Chỉ trong vài phút phải đưa ra quyết định, thuyền trưởng Rogers ra lệnh khai hỏa. Hai tên lửa đất đối không được phóng đi, đánh trúng mục tiêu. Chiếc máy bay dân sự vỡ tung thành nhiều mảnh trên không trung, rồi rơi xuống biển.

Phản ứng của Mỹ và Iran sau thảm kịch

Sau thảm kịch, giới chức quân sự Mỹ bảo vệ quyết định của chỉ huy tàu Vincennes. Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân khi đó, Đô đốc William J. Crowe Jr., cho rằng con tàu đã hành động để tự vệ trong điều kiện áp lực cao.

Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, Đô đốc William J. Crowe Jr., và Bộ trưởng Quốc phòng Frank Carlucci trả lời báo chí về vụ bắn hạ chuyến bay Iran Air 655 tại Lầu Năm Góc, tháng 7/1988. Ảnh: Bộ Quốc phòng Mỹ

Phát biểu tại một cuộc họp báo, ông nhấn mạnh: “Chỉ huy con tàu mang trách nhiệm rất nặng nề trong việc bảo vệ tàu và thủy thủ đoàn của mình. Nếu một quốc gia tiến hành các hoạt động tác chiến trong một khu vực, rồi đồng thời để máy bay dân sự bay vào khu vực đó, thì rõ ràng đó là một tai nạn chực chờ xảy ra”.

Tổng thống Ronald Reagan gọi đây là “một thảm kịch nhân đạo khủng khiếp”, song khẳng định tàu chiến Mỹ hành động nhằm đối phó nguy cơ bị tấn công.

Báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ kết luận: “Tàu USS Vincennes không cố ý bắn hạ máy bay thương mại của Iran”, và chỉ huy “có cơ sở hợp lý” khi tin rằng mục tiêu là mối đe dọa. Báo cáo cũng cho rằng Iran “có phần trách nhiệm” khi để máy bay dân sự bay ở độ cao thấp gần khu vực giao tranh.

Mảnh vỡ chiếc máy bay xấu số. Ảnh: Wikimedia Commons

Trong khi đó, phía Iran đưa ra quan điểm hoàn toàn khác. Tehran cáo buộc tàu Mỹ đã xâm nhập vùng biển nước này, tấn công lực lượng Iran, rồi bắn hạ một máy bay chở phần lớn là công dân Iran.

Ngoại trưởng Iran khi đó, ông Ali Akbar Velayati, gọi đây là “tội ác tày trời”, đồng thời quy trách nhiệm cho Mỹ về hậu quả của vụ việc. Nhiều người Iran cũng bày tỏ hoài nghi trước khả năng một tàu chiến hiện đại có thể nhầm lẫn máy bay dân sự với chiến đấu cơ.

Hệ lụy và dư âm kéo dài

Ban đầu, vụ bắn rơi máy bay Iran Air dấy lên lo ngại xung đột Iran - Iraq có thể leo thang và lan rộng. Tuy nhiên, diễn biến sau đó lại góp phần thúc đẩy tiến trình chấm dứt chiến tranh. Liên hợp quốc kêu gọi ngừng bắn nhằm tránh thêm thương vong và Iran, trong bối cảnh lo ngại Mỹ có thể can dự sâu hơn, đã chấp thuận đình chiến.

Iran phát hành tem bưu chính tưởng niệm sự việc được mô tả là “vụ tấn công thảm khốc” đối với chuyến bay Iran Air mang số hiệu 655. Ảnh: Public Domain

Dù vậy, Iran tiếp tục theo đuổi công lý cho các nạn nhân. Năm 1989, nước này khởi kiện Mỹ lên Tòa án Công lý Quốc tế. Đến năm 1996, hai bên đạt thỏa thuận, theo đó Mỹ đồng ý bồi thường 61,8 triệu USD cho gia đình các nạn nhân, song không thừa nhận trách nhiệm pháp lý.

“Vụ bắn hạ chiếc máy bay dân sự Iran Air mang số hiệu 655 ngày 3/7 là một tai nạn bi thảm và đáng tiếc”, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ nêu trong báo cáo điều tra công bố tháng 8/1988, đồng thời nhận định: “Cũng như thường thấy trong môi trường tác chiến, đã có nhiều yếu tố cùng góp phần dẫn đến sự việc”.

Gần bốn thập kỷ trôi qua, vụ bắn hạ chiếc máy bay Iran Air vẫn là ký ức đau buồn tại Iran. Năm 2020, khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đe dọa nhắm tới 52 mục tiêu ở Iran - con số tượng trưng cho 52 công dân Mỹ bị bắt làm con tin năm 1979, Tổng thống Iran Hassan Rouhani đã phản hồi trên Twitter: “Những ai nhắc đến con số 52 cũng nên nhớ tới con số 290” - con số nạn nhân của chuyến bay định mệnh năm 1988.

Hải Vân / Theo: Theo Báo Tin tức và Dân tộc
Link tham khảo:





Monday, April 13, 2026

CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO, HÃY TIN TƯỞNG NGƯỜI DÂN CỦA MÌNH.

Người Trung Quốc có một câu nói: “Nếu bạn nghi ngờ ai đó, thì đừng sử dụng anh ta; nếu bạn đã sử dụng ai đó, thì đừng nghi ngờ anh ta”. Câu nói này cũng có thể được hiểu là: “Nếu bạn không tin tưởng ai đó, thì đừng thuê anh ta; nếu bạn đã thuê anh ta, thì đừng chất vấn nữa”.


Quan điểm này trở nên thích hợp hơn bao giờ hết trong môi trường kinh doanh ngày nay. Nếu bạn đang đọc bài viết này, sự khác nhau ở chỗ hoặc bạn đang là lãnh đạo, làm việc cho ai đó, hoặc đã từng làm trong quá khứ. Các nhà lãnh đạo thành công trong những lĩnh vực khác nhau đã công nhận rằng công việc cần sự sáng tạo lẫn tri thức luôn đòi hỏi phong cách làm việc cởi mở, minh bạch, và có trách nhiệm đối với xã hội. Tuy nhiên, một số nơi làm việc tiếp tục bị tụt hậu khi bám dính vào tư duy mệnh lệnh và kiểm soát của thời đại công nghiệp. Tại các tổ chức này, mối tương quan giữa nhu cầu kiểm soát của người chủ và mong muốn quyền tự quản của người làm công vẫn đầy căng thẳng.

Các nhà cai trị Trung Quốc cổ đại đã để lại cho đời sau sự hiểu biết sâu sắc về mối quan hệ nói trên. Bằng cách kết nối những tình tiết trong sự nghiệp của Tề Hoàn Công và đại phu Quản Trọng – cả hai đã cùng nhau cai trị nhà nước Tề phía đông Trung Quốc hơn 2.000 năm trước đây, chúng tôi minh họa một số nguyên tắc lãnh đạo xung quanh vấn đề lòng tin và quyền tự quản.

Lựa chọn người phù hợp về cá tính và văn hóa

Liệu bạn có dám sử dụng một người mà trong quá khứ đã từng có lúc tìm cách giết bạn? Thế còn một người có lý lịch đầy những lần thất bại thì sao? Tề Hoàn Công (Hoàn Công) đã làm điều đó khi ông thu dụng ngài Quản Trọng, người đã phạm cả 2 điều trên.

Ngài Quản Trọng đã phục vụ một trong những kẻ thù của Hoàn Công, và theo lệnh chủ, đã cố tìm cách tiêu diệt Hoàn Công. Không chỉ có vậy, các công việc làm ăn trong quá khứ của ông đều thất bại. Ông đã từng đào ngũ khi còn là một người lính trận, và ông cũng là một thương gia tầm thường.

Tuy nhiên, thông qua bàn bạc với một trong những viên quan cận thần, đồng thời cũng là bạn thân của ngài Quản Trọng, Tề Hoàn Công đã biết đánh giá con người ngài Quản Trọng theo một góc độ khác.

Theo lời vị quan trên (người đã làm việc với ngài Quản Trọng từ thời trẻ) thì nhiệm vụ ám sát Hoàn Công bị thất bại không thể chứng minh rằng ngài Quản Trọng bất tài. Cũng không phải ông thất bại khi muốn tận sức cống hiến cho vị chúa công cũ có nghĩa là ông không đáng tin cậy. Dựa trên kinh nghiệm làm việc cùng ngài Quản Trọng, vị quan này tin rằng hành động đó thể hiện rằng ưu tiên hàng đầu của ngài Quản Trọng là phục vụ nhân dân với hết cả khả năng của mình, dù bất kể ai nắm quyền. Ông sẵn sàng thất bại trong một cuộc chiến nếu đó chỉ là một cuộc chiến ngôn luận.


“Nếu Ngài muốn thống trị chỉ một đất nước nhỏ thì tôi có đầy đủ khả năng”, vị quan đó nói với Tề Hoàn Công “nhưng nếu Ngài tìm cách thống trị cả Trung hoa, thì không ai hơn Quản Trọng. ”

Hoàn Công đã hội kiến cùng ngài Quản Trọng trong hai ngày liên tiếp, cuối cùng Hoàn Công đã nhận thấy rằng trái ngược với lý lịch không tốt trên bề mặt, ngài Quản Trọng ấp ủ những tư tưởng rất khoáng đạt và cởi mở trong việc cai trị đất nước.

Cuối cùng, Ngài Quản Trọng đã được tin dùng, và sự hưng thịnh của Nước Tề bắt đầu từ đó.

Khi lòng tin được nhân lên thì sự thành công cũng nảy nở

Khi được vua nước Tề trọng dụng, đại phu Quản Trọng đã cai trị theo nguyên tắc tự nhiên của Đạo giáo, đồng thời thuyết giảng tư tưởng mà sau này được kế thừa và trở thành đạo đức Nho giáo, nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức của cả dân tộc. Ví dụ, ông đưa ra 4 chữ để làm quốc sách trị nước: Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ, nhằm khơi gợi những mặt tích cực của bản chất con người.

Khi được Tề Hoàn Công giao phó cai quản, điều hành trên cả nước, Ngài Quản Trọng tin cậy những người siêng năng và không làm khó họ bằng thuế má quá cao hay bằng cách cai trị hà khắc.

Chỉ trong vòng một vài thập kỷ, dưới sự cai quản của đại phu Quản Trọng, nước Tề trở nên vững mạnh nhất trong số các nước chư hầu Trung hoa bấy giờ. Quân đội Tề quốc đã được triển khai chỉ để phòng thủ và bảo vệ đồng minh chống lại kẻ xâm lược; Họ được rèn luyện tốt, được trang bị đầy đủ, và luôn giành được chiến thắng mỗi khi lâm trận. Ngoài ra, các học giả và kẻ sỹ từ khắp Trung Quốc đều tề tựu về Nước Tề để nghiên cứu và truyền bá tư tưởng học thuyết của họ.

Tên tuổi của Tề Hoàn công cũng nổi tiếng khắp các nước chư hầu Trung hoa như là một vị Bá chủ—lãnh đạo một liên minh lớn các nhà cai trị phong kiến lúc bấy giờ. Ông đã mang lại trật tự không chỉ cho đất nước mình mà còn giữ gìn hòa bình với các nước láng giềng.

Từ sự am hiểu Đạo giáo, Ngài Quản Trọng có nhận thức sâu sắc rằng chính quyền tốt nhất là một chính quyền mà người dân ít cảm thấy sự hiện diện của nó nhất. Các nguyên tắc mà ông sử dụng để cai quản nước Tề đã lan truyền trên khắp Trung Quốc và sau này đã ảnh hưởng đến những lời dạy của đức Khổng Tử.


Không để ý đến lời khuyên tâm huyết là khởi đầu cho sự suy tàn

Nhiều năm trôi qua và Ngài Quản Trọng đã tuổi cao sức yếu. Đến lúc vị cận thần tài ba thao lược đã cận kề phút lâm chung, Hoàn Công trăn trở tìm người thay thế. Lúc ấy Hoàn Công đã đề xuất ba người, nhưng Ngài Quản Trọng đều không chấp thuận. Theo ông, các vị quan này, trong khi bề ngoài thì trung thành, nhưng đã từng có hành vi đáng hổ thẹn đối với người nhà của họ. Điều đó thể hiện bản tính thấp hèn của họ cũng như sự thiếu nhận thức về các nguyên lý đạo đức cơ bản.

Đại phu Quản Trọng và sau đó là đức Khổng Tử đã dạy rằng, gia đình hình thành nên đơn vị cơ bản trong các mối quan hệ xã hội loài người. Nếu một người đối xử tệ với gia đình mình thì không đáng tin và không thể trao quyền lực trong xã hội.

Khi Ngài Quản Trọng qua đời, Hoàn Công đã không nghiêm túc để tâm đến lời khuyên nhủ từ vị cận thần tâm phúc. Thay vì xem xét hành vi của ba người này để thấy được rằng những gì họ cống hiến chẳng qua chỉ là để phục vụ cho mục đích thăng tiến của chính bản thân họ, Hoàn Công lại cho rằng đó là biểu hiện của lòng trung thành.
Ông đã sử dụng ba người đàn ông đó làm thân tín của mình, và đương nhiên những kẻ cấp dưới này ngay lập tức âm mưu nổi loạn.

Ba kẻ phản bội đã bao vây Hoàn Công trong cung điện của Ngài và giả vờ thay mặt chuyển tiếp các chiếu lệnh chính thức. Tề Hoàn Công, từng là vị Bá chủ quyền lực nhất Trung Hoa, đã bị giam lỏng và bỏ đói đến chết; nước Tề cũng từ đó suy vong.

(Sưu tầm trên mạng)

THƯƠNG XUÂN - DƯƠNG VẠN LÝ


Thương xuân - Dương Vạn Lý

Chuẩn nghĩ kim xuân lạc sự nùng,
Y nhiên uổng khước nhất đông phong.
Niên niên bất đái khan hoa nhãn,
Bất thị sầu trung tức bệnh trung.


傷春 - 楊萬里

準擬今春樂事濃
依然枉卻一東風
年年不帶看花眼
不是愁中即病中


Tiếc Xuân
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Tưởng rằng vui với xuân nồng.
Gió xuân phơi phới cất công đợi chờ.
Năm dài tháng rộng bơ phờ.
Thêm sầu thêm bệnh, ngẩn ngơ trong lòng.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Dương Vạn Lý 楊萬里 (1127-1206) tự Đình Tú 廷秀, hiệu Thành Trai 誠齋, người Cát Thuỷ 吉水, Cát Châu 吉州 (nay thuộc Giang Tây, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Thiệu Hưng thứ 24 (1154) đời Tống Cao Tông. Ông từng nhậm các chức Thái thường bác sĩ, Thượng thư Tả tư lang trung kiêm hầu thái tử đọc sách. Chủ trương chống Kim, chính trực, ăn nói thẳng thắn. Đời Ninh Tông, vì gian tướng chuyên quyền, bỏ quan về nhà, cuối cùng phẫn uất mà chết. Thơ tề danh cùng Vưu Mậu 尤袤, Phạm Thành Đại 范成大, Lục Du 陸遊, xưng Nam Tống tứ gia. Cấu tứ mới lạ, lời thơ lưu loát rõ ràng, từ phong cách mới mẻ, hoạt bát tự nhiên, với thơ giống nhau. Trước tác được Thành Trai tập 誠齋集.

Nguồn: Thi Viện