Ở Croatia, có một căn cứ quân sự cũ với hầm trú ẩn được xây dựng để có thể giúp con người sống sót trong trường hợp xảy ra một vụ nổ bom hạt nhân.
Khu vực đường hầm lớn dẫn vào bên trong khu căn cứ Zeljava (Ảnh: GEO).
Nằm ở biên giới giữa Croatia với Bosnia và Herzegovina, hầm trú ẩn Zeljava là một trong những khu phức hợp quân sự lớn nhất châu Âu. Nó được quốc gia Nam Tư cũ xây dựng vào năm 1957 để chống chọi, bảo vệ con người trong trường hợp xảy ra một vụ nổ bom hạt nhân.
Hiện tại hầm trú ẩn và sân bay Zeljava đang bị bỏ hoang, nó được coi là những địa điểm nguy hiểm, do chúng chứa mìn. Song một số khách du lịch vẫn mạo hiểm tham quan địa điểm này nhằm tìm kiếm cảm giác mạnh.
Chống lại bom nguyên tử
Căn cứ không quân này được xây dựng với mật danh Objektav 505 hoặc Klek. Nó nằm sâu trong núi Gornja Plješevica.
Nhiều nguồn tin chỉ ra, địa điểm quân sự này là một trong những cơ sở hạ tầng đắt đỏ nhất ở Nam Tư cũ.
Đường hầm nhỏ dẫn vào các phòng làm việc trong khu căn cứ quân sự Zeljava (Ảnh cắt từ clip).
Theo Total Croatia News, chi phí xây dựng khu căn cứ quân sự này ước tính khoảng 6 tỷ đô la. Nó chứa những công nghệ tiên tiến và những vũ khí có sức mạnh bậc nhất thời điểm đó.
Căn cứ quân sự này có 5 đường băng cất/hạ cánh và 3km đường hầm. Cấu trúc của nó được thiết kế đặc biệt, mục đích chống lại bom nguyên tử trong Chiến tranh Lạnh.
Các phương tiện truyền thông Croatia hé lộ, hầm Zeljava có đủ không gian để chứa gần 120 máy bay cùng phi hành đoàn cũng như cung cấp đủ nguồn điện, nước, nhiên liệu, thực phẩm và thuốc men.
Bên ngoài khu căn cứ quân sự Zeljava (Ảnh: GEO).
Do đó, nó cho phép quân đội tồn tại trong nhiều tháng trong trường hợp xảy ra một thảm họa hạt nhân. Tuy nhiên, bên ngoài Zeljava gần như bị phá hủy hoàn toàn sau sự tan rã của Nam Tư cũ vào năm 1992 và nó bị bỏ hoang trong Chiến tranh Serbia-Croatia.
Địa điểm du lịch mới?
Mặc dù phần lớn các tòa nhà bên ngoài đã bị phá hủy, nhưng cơ sở ngầm Klek gần như còn nguyên vẹn. Một số khu vực bên trong rơi vào tình trạng rất kém, tiềm ẩn nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào.
Máy bay Douglas C-47 bị bỏ hoang trong khu căn cứ quân sự Zeljava (Ảnh: GEO).
Tuy nhiên, sở thích mạo hiểm dường như đã thúc đẩy nhiều nhà thám hiểm, ngày càng có nhiều khách du lịch mong muốn khám phá địa điểm độc đáo có bề dày lịch sử này.
Một trong những điểm tham quan thú vị nhất ở Zeljava là chiếc Douglas C-47 cũ, một chiếc máy bay được sử dụng rộng rãi trong Thế chiến thứ hai. Theo báo cáo của Total Croatia News, công ty hiện cung cấp các chuyến tham quan có hướng dẫn kéo dài một ngày để khám phá căn cứ không quân cũ với chi phí là 75 euro/người.
Khách du lịch sẽ được trải nghiệm và đắm mình vào một phần nhỏ trong lịch sử của Croatia.
Ngũ đại danh sứ thời Tống đã chính thức khai sáng một kỷ nguyên mới trong thời đại đồ sứ. Trên thực tế, trước thời nhà Tống, hầu hết các dụng cụ nấu nướng hay trang trí đều được làm từ gốm, chỉ là những chủng loại khác nhau. Vì thế mới nói, ngũ đại danh sứ là sự xuất hiện đúng nghĩa của thời đại đồ sứ.
Khi nói đến ngũ đại danh sứ, bắt đầu từ hoàng thất Minh triều đã cất giữ cuốn “Tuyên Đức đinh di phổ”: Bên trong kho cất giữ nhữ, quan, ca, quân, định tên của 5 loại đồ sứ, kiểu dáng tao nhã, như một bức tranh. Trong “Ẩm lưu trai thuyết diêu” thời Thanh có nói: “Người hoa sáng tạo sứ gồm ba thời kỳ lớn: thời Tống, thời Minh, thời Thanh. Thời Tống có ngũ đại danh sứ bao gồm nhữ, quan, ca, quân, định. Cực kỳ trân quý.”
Văn hóa nghệ thuật nhà Tống trong xã hội Trung Hoa cổ đại được cho là có trình độ tuyệt hậu. Tống sứ trở thành nhân vật chính của nền văn hóa nhà Tống, nó được coi là một đóa hoa mỹ kỳ ba (kỳ ba: đặc sắc). Trong thương mại mậu dịch với nước ngoài, Tống sứ trở thành một thương hiệu hàng hóa nổi tiếng trên thị trường thế giới. Nhà Tống có sự phân chia khu vực đồ sứ, theo các lò nung phía bắc và phía nam hoặc phân theo quan sứ và dân sứ.
Nhữ sứ (Ảnh: npm.gov)
Quan sứ chính là những đồ sứ được dùng trong những người nắm quyền hành, quan chức của quốc gia, đặc biệt là hoàng thất sử dụng. Cái gọi là dân sứ cũng là chỉ dân gian làm đồ sứ. Quan sứ bất kể từ giá vốn đến kỹ thuật sản xuất, công nghệ tinh mỹ tuyệt luân đều được giữ bí mật, nó trở thành trân phẩm hiếm thế. Mà dân sứ lúc ấy sản xuất, người ta chủ yếu xem trọng giá trị sử dụng, sản xuất cần cân nhắc giá vốn, vật liệu không được chú trọng giống quan sứ, nhưng cũng không phải không có sản phẩm nghệ thuật tuyệt đẹp. Phân theo màu sắc cũng như kỹ thuật nung, đồ sứ thời Tống gồm có năm loại: nhữ, quan, quân, ca, định.
Nhữ sứ
Nhữ sứ là sứ được dùng cho hoàng thất, thuộc về quan sứ, đó được chế tạo vào thời kỳ Tống Huy Tông, chỉ được sản xuất trong vòng 20 năm. Ngoài ra trong lúc đó cũng xuất hiện một loại sứ nổi tiếng ở dân gian, gọi là Nhữ Diêu sứ. Đây là đồ sứ nằm ở tỉnh Hà Nam, màu sắc chủ yếu có màu thiên thanh, thiên lam, hồng phấn nhạt, xanh nhạt v.v. Tầng của sứ mỏng mà oánh nhuận, rạng rỡ. Không có những sợi nhỏ hay hoa văn.
“Vũ quá thiên tình vân phá xử”
(mưa qua phá vỡ trời thanh)
“Thiên phong bích ba thúy sắc lai”
(ngàn đỉnh sóng biếc xanh tới)
Đó là hai câu thơ để miêu tả về vẻ đẹp của Nhữ sứ. Thế nhân xưng là “tự ngọc, phi ngọc, nhi thắng ngọc” (tựa như ngọc mà không phải ngọc, mà hơn cả ngọc).
Nhữ sứ (Ảnh: npm.gov)
Nhữ sứ (Ảnh: dw)
Quan sứ
Quan sứ trong ngũ đại danh sứ là một loại sứ dó quan phủ điều hành sản xuất. Cũng là một đồ sứ được sản xuất cho cung đình trong thời kỳ nhà Minh, nhà Thanh. Trong thời nhà Tống nó được phân thành hai đơn vị là Nam Tống quan sứ và Bắc Tống quan sứ. Thời Nguyên nó được gọi là “khu phủ sứ”, trong thời nhà Minh và nhà Thanh nó được đặt theo tên và năm của vị hoàng đế, chẳng hạn như “Tuyên Đức sứ”, “Thành Hóa sứ”, “Khang Hy sứ” v.v.
Quan sứ thời Tống nổi bật tinh tế, cổ khí dồi dào, được coi như một viên ngọc. Quan sứ chuyên dùng cho hoàng gia sử dụng, được ngự từ năm cuối Tống Huy Tông, quyền thần dòng dõi quý tộc cũng chỉ có thể ngắm từ xa than thở, có thể thấy mà không thể dùng. Vì thế mà nó quý phái và quý hiếm đến vậy.
Quan sứ (Ảnh: sns.91ddcc)
Quan sứ (Ảnh: blog.xuite)
Ca sứ
Màu sắc phôi đất của Ca sứ chủ yếu là màu đen, xám đen, xám nhạt hoặc thổ hoàng v.v.. Các men tất cả đều lấy màu sắc u tối, xanh xám làm chủ. Những khí vật thường được chế tạo là lô hườn, bình, chén, đĩa, đồ rửa bút lông. Ca sứ có phẩm chất tốt, chế tạo tinh xảo, cũng chủ yếu được đưa vào cung đình làm vật phẩm, khác xa với dân sứ.
Truyền lại rằng Ca sứ không được thấy khi khai quật mộ hoàng thất thời Tống, những người nghiên cứu cho rằng Ca sứ thuộc về sự sở hữu của các đại quan. Từ lâu nay mọi người chủ yếu căn cứ vào văn hiến ghi lại cùng những văn vật truyền đời mới tiến hành nghiên cứu. Họ tìm ra được hai lò nung sản xuất Ca sứ, một lò nung được phát hiện trên Quy Sơn, Hàng Châu, một lò thuộc lò nung của quan sứ trong nội cung.
Ca sứ (Ảnh: m.life)
Ca sứ (Ảnh: blog.91ddcc)
Quân sứ
Lò nung của Quân sứ nằm ở thành phố Vũ Châu, Hà Nam. Danh tiếng của nó được ví như “Dẫu có gia tài vạn quán không bằng Quân sứ một mảnh”. Đây là đồ sứ quốc bảo độc hữu tại Thần Hậu Trấn, Vũ Châu. Nó theo hình dáng phong cách cổ xưa, công nghệ tinh sảo, có sự kết hợp men sứ cùng màu sắc độc đáo, “hồ quang sơn sắc, vân hà sương lộ”, ngoài ra còn kết hợp với đồ hình nhân thú, hoa điểu, cá lặn vô cùng kỳ diệu ý vị.
Quân sứ (Ảnh: blog.sina)
Quân sứ (Ảnh: guwanch)
Quân sứ (Ảnh: guwanch)
Định sứ
Định sứ được nặn tại thôn Gian Tư, Khúc Dương, Hà Bắc, hay còn có tên cổ là Định Châu. Được chế đốt vào triều đại nhà Đường, đến thời nhà Tống mới thịnh vượng. Nó được biết đến với những đồ sứ trắng, kiêm với nung cháy men đen, trong văn học chia làm “hắc định”, “tử định” và “lục định”.
Khi ở thời Đường chủ yếu sản xuất chén, đến thời Tống mới phát triển thêm sản xuất đĩa, bình, hộp. Các loại bình Định sứ có phôi thai mỏng nhẹ nhưng khi nung đôt lên rất cứng rắn, sắc trắng noãn, không quá trong suốt.
Định sứ (Ảnh: xuehua)
Định sứ (Ảnh: blog.sina)
Các kỹ thuật trang trí chủ yếu là ấn hoa hoặc ấn bằng sơn kim. Việc in ấn chủ yếu bao gồm hoa, chủ yếu là hoa sen, hoa cúc, hoa mẫu đơn,… Ngoài ra còn có in động vật như chuồn chuồn, rồng và phượng hoàng, sư tử,… Hình ảnh là nghiêm ngặt và đối xứng, Định sứ men trăng in ấn cố định luôn được coi là một kho báu trong nghệ thuật sứ.
Vào đầu triều đại Bắc Tống, Định sứ được khắc hoa, cấu đồ và văn dạng đơn giản, những cánh hoa sen được trang trí chủ yếu. Các tác phẩm điêu khắc ở giữa và cuối triều đại Bắc Tống được trang trí tinh xảo và độc đáo. Sử dụng một công cụ giống như lược răng hoặc răng đôi, hình ảnh đối tượng bao gồm các đường chính sâu và nông và các đường phụ trợ được khắc, sống động và tự nhiên, với cảm giác lập thể rõ ràng.
“Khí” là một loại năng lượng vô hình có thể ảnh hưởng đến vận mệnh, tâm trạng và thậm chí cả phản ứng của những người xung quanh đối với một người. Người xưa quan niệm, những người có Đức lớn thường toát ra ba loại “khí” đặc biệt.
Trong văn hóa phương Đông, chúng ta thường nghe đến từ “khí chất”. Nó không chỉ là biểu hiện bên ngoài của một người mà còn là sự phản ánh nội tâm và trạng thái tinh thần của người đó.
Nhiều người có Đức lớn, thường tỏa ra một loại “khí” đặc biệt. Loại khí này không phải là mê tín mà là một loại trí tuệ và phong thái sống, bắt nguồn từ cảnh giới bình yên và hành vi tốt đẹp của họ.
Hãy cùng tìm hiểu ba loại “khí” mà những người thực sự có Đức lớn thường có.
Hòa khí – Nguồn gốc của phúc lành
“Kinh Dịch” có câu: “Nhu nhược thắng cương cường”. Hòa khí là nguồn gốc của phúc khí. Những người thực sự có Đức lớn thường là những người ôn hòa, khoan dung và thân thiện.
Chính vì vậy, những người hòa nhã thường có nhiều người sẵn sàng giúp đỡ, nhận được sự ủng hộ của xã hội và gia đình. Và loại “hòa khí” chứa đựng năng lượng tích cực này chính là gốc rễ phúc báo của họ.
Trong cuộc sống, chúng ta có thể đã từng gặp những người lớn tuổi như vậy: Dù trải qua bao nhiêu sóng gió, họ vẫn luôn bình tĩnh, đối xử với mọi người nhẹ nhàng như gió xuân. Họ không bao giờ tiếc một nụ cười, không bao giờ phàn nàn về cuộc sống mà ngược lại thường mang đến cho người khác sự khích lệ và giúp đỡ.
Những người này thường có Đức rất lớn, đi đến đâu cũng gặp may mắn.
Chính khí – Nền tảng của phúc báo vững bền
Mạnh Tử từng nói: “Trời muốn giao trọng trách cho người nào, ắt phải làm cho họ khổ tâm, mỏi gân cốt, đói da thịt”.
Chỉ những người đã trải qua thử thách và kiên trì giữ vững Chính Đạo mới có thể nhận được sự bảo hộ của Trời cao. Và chính khí, chính là một trong những phẩm chất bên trong của những người này.
Nếu một người sống ngay thẳng, tốt bụng, hành động quang minh lỗi lạc, không mưu cầu lợi ích bất chính thì người đó có thể đứng vững trong giông bão, cuối cùng nhận được những món quà từ cuộc sống.
Phúc báo thực sự không phải là vận may nhất thời mà là Đức độ sâu dày tích lũy được nhờ chính khí.
Xung quanh chúng ta, luôn có những người hành động công bằng, lời nói chân thành, đối xử với mọi người chân thật. Trong lòng họ có một cảm giác công lý không thể lay chuyển, và trong mỗi lựa chọn, họ không bao giờ đi lệch khỏi niềm tin mà mình kiên trì.
Ngay cả khi đối mặt với cám dỗ, họ cũng không dễ dàng từ bỏ nguyên tắc của mình, luôn giữ tâm thái sáng suốt. Chính khí như vậy không chỉ giúp họ an lòng mà còn thu hút cho họ nhiều quý nhân và cơ hội hơn.
Tĩnh khí – Bí quyết thu hút vận may
“Tĩnh lấy tu thân, kiệm lấy dưỡng đức”. Đây là lối sống mà các nhà triết học phương Đông cổ đại đề xướng. Tĩnh khí là chỉ một người có thể giữ được sự bình tĩnh và tập trung trong nội tâm, tránh xa những xáo trộn và phù phiếm của thế tục.
Những người có Đức lớn thường tỏa ra một luồng tĩnh khí. Khí chất này là kết quả của quá trình chiêm nghiệm và cảm ngộ được sâu sắc quy luật của thế gian.
Tĩnh khí trong cuộc sống không phải là sự thụt lùi tiêu cực mà là một thái độ sống được lựa chọn chủ động.
Ví dụ, một số người ở độ tuổi trung niên dù sở hữu khối tài sản phong phú và địa vị xã hội nhưng họ không bao giờ vội vàng khoe khoang, luôn sống giản dị. Và họ có xu hướng quan tâm và giúp đỡ người khác theo cách riêng của mình hơn là quá quan tâm đến được mất của bản thân.
Phong thái ung dung tự tại này chính là nguyên nhân cơ bản khiến họ liên tục thu hút may mắn và phúc khí. Cũng bởi đời người trải qua rất nhiều thăng trầm nên mới càng lưu lại nhiều tĩnh khí.
Cổ ngữ có câu: “Tu tâm dưỡng tính”. Phúc Đức thực sự không phải từ trên trời rơi xuống mà bắt nguồn từ hòa khí, chính khí và tĩnh khí bên trong một người. Ba loại “khí” này không chỉ là trí tuệ sống mà còn là một sức hút vô hình, có thể giúp chúng ta tích lũy phúc Đức phi thường trong cuộc sống bình dị.
Dù ở trong hoàn cảnh nào, chỉ cần giữ được sự ôn hòa, ngay thẳng và tĩnh lặng trong tâm hồn thì vận may sẽ lặng lẽ đến. Những người sở hữu những “khí” này chắc chắn sẽ sống ngày càng thuận lợi, ngày càng tốt đẹp hơn trong những ngày tháng sắp tới.
Mong rằng bạn luôn giữ được hòa khí, chính khí và tĩnh khí trong tâm hồn, phúc khí luôn đồng hành, cuộc sống bình an trong những năm tháng sau này.
“Sự khác biệt giữa tình yêu và hôn nhân là gì?” Nhiều người từng đặt câu hỏi này, nhưng không phải ai cũng có câu trả lời chính xác cho riêng mình.
Trên mạng xã hội hỏi đáp Zhihu của Trung Quốc gần đây có một cuộc thảo luận về chủ đề “Sự khác biệt giữa tình yêu và hôn nhân”. Trong số này, câu trả lời của một người đàn ông 80 tuổi được hưởng ứng nhiệt tình nhất.
“Nhiều bạn trẻ hỏi tôi: Tình yêu là gì? Theo tôi, chúng ta chỉ có thể mượn câu trả lời của Plato, triết gia người Hy Lạp”, người đàn ông họ Vương kể.
Một ngày, Plato hỏi cô giáo: “Thưa cô, tình yêu là gì? Làm thế nào chúng ta có thể tìm thấy nó?”. Cô giáo trả lời: “Trước mặt chúng ta là cánh đồng lúa mì. Em hãy đi đến đó và hái bông lúa mì vàng nhất, mang về đây cô sẽ giải thích cho em”. Plato tiến về phía trước và mò mẫm trong cánh đồng lúa một lúc lâu. Tuy vậy khi trở về, ông vẫn tay trắng. Cô giáo hỏi: “Tại sao em không hái được bông lúa nào?” Cậu học sinh trả lời: “Em đã tìm thấy bông lúa mỳ vàng nhất nhưng em không biết liệu có bông nào vàng hơn phía trước hay không, vì em mới đi được một phần cánh đồng. Bởi thế em đã không hái nó”.
Cô giáo lúc này mỉm cười nói: “Đây chính là tình yêu”.
“Vì không biết phía trước có lựa chọn nào tốt hơn nên chúng ta đã không hạ quyết tâm, dẫn đến việc bỏ lỡ “mối tình đẹp nhất” của mình. Theo cách này, tình yêu là thứ không thể đạt được, nó giống như một lý tưởng hơn, em sẽ bỏ lỡ nó nếu không cẩn thận”, cô giáo nói thêm.
Một ngày khác, Plato hỏi cô giáo: “Hôn nhân là gì? Làm thế nào chúng ta có thể tìm thấy nó?. Cô giáo trả lời: “Trước mặt em có một khu rừng. Em hãy đến đó chặt một cây cao và tươi nhất. Em sẽ biết hôn nhân là gì”.
Plato đi về phía trước, một lúc sau, ông chặt một cái cây và quay trở lại. Cây này không tươi cũng chẳng cao, chỉ là một cái cây bình thường. Cô giáo hỏi: “Tại sao em lại chọn cây này?” Plato trả lời: “Như lần trước, em cẩn trọng tìm khắp nơi rồi nhưng nửa ngày vẫn trắng tay. Em nhìn thấy cây này giữa đường và nghĩ nó cũng không quá tệ, vì vậy đã chặt nó mang về”.
Cô giáo nói: “Đây chính là hôn nhân. Hôn nhân thường đến sau tình yêu. Sau khi một người đã bỏ lỡ tình yêu lý tưởng đời mình, họ sẽ lo lắng đến được và mất. Do đó khi gặp được người tự đánh giá là thích hợp, dù có bình thường thế nào thì họ cũng thấy mãn nguyện. Tư tưởng này thường là bước khởi đầu cho một cuộc hôn nhân”.
Câu chuyện của Plato nói lên một thực tế: Trong mắt nhiều người, tình yêu thường lý tưởng, còn hôn nhân rất thực tế. Mọi người thường có tâm lý tìm một người không quá lý tưởng nhưng phù hợp để tiến tới hôn nhân.
Những cá nhân có hôn nhân hạnh phúc đều biết hy sinh bản thân, chịu đựng và thậm chí bỏ qua cái tôi cá nhân vì cái chung. Bởi điều lớn lao nhất mà họ muốn là được ở bên cạnh người đã từng cùng họ bước lên lễ đường trong tiếng chúc phúc.
Trong hành trình của tình yêu, có hai gợi ý để duy trì sự thân mật:
Tích cực giao tiếp
Khi xảy ra xung đột, hãy tích cực giao tiếp thay vì lựa chọn im lặng. Cần bày tỏ mong muốn của bản thân rõ ràng, đồng thời lắng nghe ý kiến của đối phương để tìm ra giải pháp cho mọi vấn đề.
Cùng nhau làm việc nhà
Một cuộc hôn nhân lâu dài có vẻ như không chỉ dựa trên tình yêu và sự tôn trọng lẫn nhau mà còn có sự tham gia của cả vợ và chồng vào việc nhà.
Một nghiên cứu gần đây tiến hành trên 160 cặp vợ chồng trong độ tuổi từ 25 đến 30, có ít nhất một con dưới 5 tuổi đã phát hiện gia đình hạnh phúc là gia đình có người đàn ông tham gia vào công việc nhà. Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Journal of Family Issues. Giáo sư Adam Galovan, Đại học Missouri (Mỹ) – chủ trì nhóm nghiên cứu cho biết, không nhất thiết phải chia đều việc nhà mà các cặp vợ chồng hãy làm điều đó cùng nhau.
Chuyên gia này nói: “Chia sẻ có thể nghĩa là làm một cái gì đó nhiều lần với nhau. Đó là lần lượt chia nhau thay tã lót cho con hoặc người này trông trẻ, trong khi người kia chuẩn bị bữa tối”. Hôn nhân sẽ hạnh phúc hơn khi người vợ cảm nhận được ông chồng gần gũi với những đứa trẻ.
Lời nói của một người ẩn chứa số phận của họ, cái miệng chính là phong thủy tốt nhất, phúc họa cũng từ đây mà ra. Hãy học cách nói lời hợp hoàn cảnh, biết cân nhắc đến sự tiếp thu của người khác, mới mong có được một cuộc sống bình yên. Khôn ngoan thì thêm bạn, nói lời ngạo mạn thì chỉ gây thêm thù.
Khi còn nhỏ, xem “Tam quốc diễn nghĩa”, chúng ta thường khâm phục tài văn thao võ lược cũng như sự dũng mãnh của những anh hùng trong truyện.
Nhưng đến lớn, đọc lại “Tam quốc”, nhiều người chợt nhận ra, lòng dũng cảm chỉ có thể giúp ta thắng nhất thời. Chỉ khi bản thân hiểu rõ chính mình cần gì và nên làm gì, học được cách tự chủ trong các tình huống, mới có thể đạt được mục tiêu.
Lời không được nói tùy tiện
Người xưa có câu: “Nói chuyện với người thiện lòng ấm như chăn, nói chuyện với kẻ ác lòng đau như dao cắt.”
Trong cuộc sống, trình độ “nói” có thể quyết định chiều cao cuộc sống của một người.
Thời Tam Quốc, Nễ Hành có chút tài văn chương, nhưng tính tình kiêu ngạo, ăn nói khó nghe và luôn coi thường người khác.
Có lần, Tào Tháo triệu Nễ Hành đến gặp, nhưng ông ta lại tự xưng mình là người điên không muốn đến. Vì vậy, Tào Tháo đã nhân cơ hội đó để gây khó dễ với ông ta.
Đứng trên đại điện, Nễ Hành nhìn trời thở dài: “Trời đất tuy bao la, nhưng không có một ai!”
Tào Tháo nghe ra hàm ý trong lời nói của Nễ Hành, mới bất mãn hỏi: “Thuộc hạ dưới tay ta có mấy chục người, đều là anh hùng đương thời, sao có thể nói là không có ai được?”
Tào Tháo còn liệt kê những tướng lĩnh có tài văn chương, quân sự, sau đó khen ngợi họ. Nhưng Nễ Hành không phân phải trái, vẫn tiếp tục cười nhạo. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông ta đã liệt kê hết tất cả nhược điểm của từng người, gây thù chuốc oán với vô số người.
Sau này, trong một bữa tiệc, Nễ Hành vì xúc phạm Hoàng Tổ mà bị người ta tức giận chặt đầu chết.
Kẻ ngốc thường dùng lời nói đả thương người, nhưng ăn nói không cẩn thận rất dễ gây những họa ngầm, không chỉ làm tổn thương người khác, còn tự chặt đứt con đường tương lai của chính mình.
Người trí tuệ biết lúc nào nên nói lúc nào nên dừng, hiểu cách giữ thể diện cho người khác, nhờ vậy mà giữ cho cuộc sống của mình được bình yên.
Trong “Tỉnh thế hằng ngôn” có viết: “Cái lưỡi là gốc của tai họa!”
Lời nói của một người ẩn chứa số phận của họ, cái miệng chính là phong thủy tốt nhất. Khôn ngoan thì thêm bạn, nói lời ngạo mạn thì chỉ thêm thù.
Người không được sống tùy ý
Có đôi lúc, chúng ta không sợ cạnh tranh với đối thủ mạnh, chỉ sợ cạnh tranh với trái tim mình.
Đọc “Tam quốc”, ta nhận ra người hay hành xử nóng nảy nhất là Trương Phi.
Sau khi Quan Vũ bị sát hại, Trương Phi vừa đau buồn vừa tức giận. Do đó, sau khi nhận được lệnh đánh nước Ngô của Lưu Bị, Trương Phi đã lập tức hạ lệnh dựng cờ trắng, giáp trắng trong ba ngày.
Hai vị tướng dưới trướng ông nêu thắc mắc: “Chỉ còn vài ngày liệu có kịp để chuẩn bị những thứ này hay không?”
Nhưng Trương Phi đã cả giận quát lớn: “Ta muốn báo thù, còn hận ngày mai không sớm đến để đi báo thù quân Ngô. Các người dám làm loạn lòng quân, là có dụng ý gì?”
Nói xong, ông phẩy tay ra lệnh quân lính trói hai vị tướng vào cây đánh năm mươi roi.
Hai người họ biết rằng nếu không hoàn thành nhiệm vụ đúng thời hạn, nhất định sẽ bị xử lí theo quân pháp. Thế nên cả hai quyết định thay vì chết oan ức, không bằng phản kích trước.
Đêm khuya, Trương Phi say rượu nằm trong lều, hai vị tướng lẻn vào dùng lưỡi đao sắc bén lấy đầu ông.
Một danh tướng nổi tiếng, lại không chết trên chiến trường, mà chết vì phương thức tủi nhục thế này.
Trên thực tế, trong “Tam quốc diễn nghĩa”, dù Trương Phi bị ám sát, Chu Du chết vì tức giận hay Vương Lãng bị mắng chết, tất cả đều thất bại vì không kiểm soát được cảm xúc của mình.
Là người nhất định sẽ có những lúc buồn, vui, giận dữ, nhưng chỉ khi chúng ta học được cách thoát khỏi nó, vượt qua được sự bốc đồng tuổi trẻ, mới có thể kiểm soát được cuộc sống của chính mình.
Chỉ những người biết tự cân bằng tâm trạng mới có thể giải quyết vấn đề. Vượt qua được chính mình rồi, mới đủ năng lực chiến thắng cuộc sống!
Việc không được làm “tùy tâm”
Là vị tướng dũng mãnh nhất thời Tam Quốc, Lữ Bố tinh thông bắn cung, cưỡi ngựa, là người gan dạ, dũng mãnh.
Lúc đầu, Lữ Bố chỉ là người vô danh, vì chiến loạn mà tìm được chỗ đứng, còn nhận Đinh Nguyên làm cha.
Sau khi Đổng Trác lên nắm quyền, Lữ Bố nhìn thấy lợi mà quên nghĩa, thấy Đinh Nguyên thất thế liền vứt bỏ, tìm cách trở thành con nuôi của Đổng Trác. Nhưng sau đó vì để chiếm được Điêu Thuyền, lại lén lút hợp tác với người khác để ám sát Đổng Trác.
Trong lúc không còn đường thoát, dù Lữ Bố và Lưu Bị là anh em kết nghĩa, nhưng lại lợi dụng lúc Lưu Bị xuất chinh để chiếm Từ Châu…
Thế nên, Lữ Bố bị Trương Phi mắng là “gia nô ba họ”. Trên thực tế, Lữ Bố cũng đã đổi chủ tận 7 lần.
Khi Lữ Bố bị Tào Tháo bắt được, cũng đã thuyết phục Tào Tháo dùng mình. Tào Tháo tuy yêu quý nhân tài, nhưng nghĩ đến kết cục của Đinh Nguyên, Đổng Trác cùng những người khác, nên đã quyết định xử tử Lữ Bố.
Người xưa có câu: “Quân tử thua vì nghĩa, tiểu nhân thua vì lợi.” Câu này quả không sai.
Năng lực thực sự rất quan trọng, nhưng nhân phẩm mới là thứ chính yếu để người khác quyết định có nên kết giao với bạn hay không.
Đừng làm việc tùy tâm trạng, đã nhận việc gì nhất định phải có trách nhiệm đến cùng, đã làm việc với ai nhất định phải giữ lòng trung thực.
Nếu không, dù năng lực bạn có mạnh đến đâu, vẫn sẽ không có chỗ đứng trên thế giới này.
Ngày nay, mọi người phần lớn thắp hương “cầu Thần bái Phật” là để được tiêu tai, giải nạn, phát tài, khỏi bệnh… Nhưng kỳ thực đó lại không phải mục đích của lễ nghi “cầu Thần bái Phật” theo quan điểm của người xưa.
Vậy “cầu Thần bái Phật” là gì? Vì sao người xưa “cầu Thần bái Phật”? Hãy cùng đọc câu chuyện “Khổng Tử cầu Thần bái Phật” dưới đây để hiểu rõ hơn:
Trong những học trò người nước Vệ của Khổng Tử có một người tên là Vương Tôn Giả. Mặc dù, Vương Tôn Giả là bậc quan lớn của nước Vệ, chức vị cao nhưng vẫn bái Khổng Tử làm thầy.
Một lần Tôn Giả hỏi Khổng Tử: “Thưa thầy! Con nghe có câu nói rằng: ‘Thà đi lấy lòng ông Công còn hơn lấy lòng Thần Áo’. Thầy thấy những lời này thế nào ạ?”.
Người Trung Hoa xưa thờ Thần ở góc Tây Nam nhà gọi là Thần Áo. Đây cũng là chỗ tôn quý nhất khi cúng tế. Nhưng Thần Áo lại không phải là vị Thần quan trọng nhất đối với một gia đình. Ngoại trừ nhà nào thờ cúng Phật hay Bồ tát, thì ông Công tuy rằng được đặt ở chỗ thấp trong nhà lại là vị Thần quan trọng hơn. Tuy nhiên ngoài ý nghĩa tâm linh đó ra, thì hàm ý sâu xa hơn của Vương Tôn Giả là, thay vì phải chờ đợi Quân Vương đến bổ nhiệm chức vị, chi bằng trước đó hãy thông qua ông ấy để xin được sự bổ nhiệm của triều đình.
Khổng Tử nghe xong câu hỏi của Vương Tôn Giả, liền nghiêm túc nói: “Nếu một người làm chuyện vi phạm Thiên lý, đắc tội với Trời thì dù có hướng lên Trời cầu khẩn như thế nào đi nữa cũng đều là vô dụng”.
Khổng Tử còn nói thêm rằng: “Người quân tử có đạo của mình, sẽ không đi lấy lòng Thần Áo và cũng không đi lấy lòng ông Công”.
Có một lần, Khổng Tử bị bệnh rất nặng, học trò Tử Lộ ở bên cạnh chăm sóc ông suốt hơn một tháng liền, nửa bước cũng không rời. Tử Lộ thấy thầy ngày một gầy yếu đi, bệnh tình lại không thuyên giảm nên vô cùng lo lắng. Ông nghĩ rằng nếu chỉ dựa vào sức người thì sẽ không cứu được thầy mình, chỉ có thể dựa vào một cách cuối cùng là cầu khẩn sự phù hộ che chở của Thần linh.
Vì vậy, Tử Lộ liền xin thầy Khổng Tử cho phép mình thay thầy được hướng lên Trời cầu khẩn để bệnh tình mau khỏi. Khổng Tử nghe xong liền nói: “Có đạo lý cầu Thần mà khiến cho người bệnh khỏi hẳn được sao?”.
Tử Lộ nói: “Con từng nghe trong văn tế lễ của nhà Chu có câu: ‘Hướng về phía Thần cầu khẩn!’”.
Khổng Tử nói: “Con không cần cầu khẩn cho ta nữa, ta đã tự cầu khẩn cho mình từ rất lâu rồi!”.
Khổng Tử nhìn bộ dạng ngạc nhiên của học trò liền nói tiếp: “Cầu khẩn chân chính tức là phải không còn tồn bất kỳ một ý nghĩ đen tối nào trong đầu nữa. Mà quan trọng hơn là còn phải phù hợp với ý chỉ của Trời, Đất và các chư Thần. Cũng chính là phải kính trọng các chư Thần, không làm chuyện vi phạm Thiên lý. Cho nên, ta mới nói rằng, bản thân ta đã cầu khẩn từ rất lâu rồi!”.
Ngày hôm sau, quả thực bệnh tật của Khổng Tử biến mất như một kỳ tích.
Suy ngẫm một chút, chúng ta có thể nhận thấy mỗi một lời nói của Khổng Tử kỳ thực đều là đã nói rõ hàm nghĩa chân chính của “cầu Thần bái Phật”. Cổ nhân thắp hương bái Phật không phải để mong được lợi mà trước hết là để thể hiện tâm kính ngưỡng của mình đối với Phật. Sau đó là phải dựa vào Thiên lý để điều chỉnh hành vi của mình, lấy Thiên lý làm chuẩn tắc để thuận theo.
Bởi vì người xưa biết sự vĩ đại của Thần Phật và sự thù thắng của Phật Pháp. Họ cũng tin rằng, mọi người cho dù không thắp hương, không bái Phật nhưng luôn tuân theo Thiên lý để hành xử thì tự nhiên sẽ được Thần Phật che chở và ban phước lành.
Ngày nay, hỏi có bao nhiêu người “cầu Thần bái Phật” là vì như thế? Không khó để nhận ra rằng, người ngày nay phần lớn “cầu Thần bái Phật” nhưng kỳ thực là đã rời xa Thần, Phật mất rồi. Họ cho rằng chỉ cần thắp hương, dâng lễ tiền là có thể được ban cho những điều tốt đẹp. Liệu có thể như vậy được sao?
Tam Tinh Đôi ở Tứ Xuyên là một trong những di chỉ hiến tế cổ quan trọng nhất Trung Quốc, đồng thời được xem là cái nôi sớm nhất của nền văn minh đồ đồng thế giới.
Di chỉ Tam Tinh Đôi, tọa lạc tại lưu vực Tứ Xuyên, được xem là một trong những biểu tượng nổi bật của nền văn minh tiền sử Trung Quốc. Việc phát hiện di chỉ này không chỉ cung cấp thông tin quý giá về lịch sử và văn hóa Trung Hoa cổ đại mà còn mở ra một chương mới đầy thách thức cho giới khảo cổ học.
Tại Tam Tinh Đôi, một lượng lớn di vật văn hóa quý giá đã được khai quật, bao gồm đồ đồng, gốm và ngọc bích. Trong số đó, bức tượng đồng hình người đứng cao 2,62 mét và nặng hơn 180 kg là hiện vật nổi bật nhất.
Đôi mắt độc đáo, kỹ thuật chế tác tinh xảo và ý nghĩa biểu tượng của bức tượng đã khơi gợi nhiều suy đoán và hướng nghiên cứu cho các chuyên gia.
Ngoài ra, việc tìm thấy nhiều vật thể lạ như vàng, ngà voi và vỏ sò cho thấy sự giao lưu văn hóa và vật chất thường xuyên giữa người cổ đại tại đây với thế giới bên ngoài, minh chứng cho một nền văn minh phát triển rực rỡ và có tầm ảnh hưởng.
Kể từ lần đầu tiên được phát hiện vào năm 1976 (mặc dù được nông dân địa phương tìm thấy từ 1929), Tam Tinh Đôi đã hé lộ một lượng lớn di vật văn hóa vô giá như đồng, vàng, ngọc bích và ngà voi, vẽ nên một bức tranh văn hóa cổ đại bí ẩn (Ảnh: Sohu).
Kết quả khai quật khảo cổ hiện tại cho thấy di chỉ Tam Tinh Đôi có thể được chia thành hai khu vực văn hóa chính, trong đó khu vực lõi tượng trưng cho văn hóa đồ đồng.
Điều đáng ngạc nhiên là những người tạo ra các cổ vật tinh xảo này không phải là người Thục cổ đại theo cách hiểu truyền thống, mà có thể có liên quan đến các nhóm văn hóa thời Hạ, Thương và Chu.
Phát hiện này làm cho quá trình hình thành văn hóa Tam Tinh Đôi và mối liên hệ của nó với nền văn minh Trung Nguyên trở nên khó hiểu hơn, thách thức các giả định lịch sử về sự phát triển văn minh đơn tuyến.
Một điểm bí ẩn khác là sự tương đồng giữa văn hóa Tam Tinh Đôi và các nền văn minh cổ đại khác trên thế giới.
Ví dụ, các hiện vật như tượng đồng hình người đứng và cây gậy vàng có nhiều nét tương đồng về hình dáng và chức năng với nền văn minh Maya và văn hóa Ai Cập cổ đại.
Tuy nhiên, do dữ liệu khai quật còn hạn chế và chỉ một phần nhỏ di chỉ được khám phá (công tác khai quật được kiểm soát chặt chẽ để tránh làm hỏng di tích), việc giải thích các biểu tượng và hoa văn khác nhau tại Tam Tinh Đôi vẫn còn là một câu hỏi hóc búa đối với các nhà khảo cổ học.
Liệu có thể khám phá thêm những bí ẩn lịch sử trong các cuộc khai quật trong tương lai hay không vẫn là một câu hỏi đáng suy ngẫm (Ảnh: Sohu).
Bí ẩn trùng khớp: Nhà Thương sụp đổ và kho báu Tam Tinh Đôi bị chôn vùi
Mối liên hệ giữa sự sụp đổ của nhà Thương và văn hóa Tam Tinh Đôi vẫn còn là một bí ẩn chồng chất bí ẩn. Phân tích các nút thời gian, các nhà khảo cổ học phát hiện rằng thời điểm chôn cất một lượng lớn di vật văn hóa quý giá tại di chỉ Tam Tinh Đôi gần như trùng khớp với thời điểm nhà Thương sụp đổ.
Sự trùng hợp này đặt ra một câu hỏi sâu sắc: Tại sao kho báu của Tam Tinh Đôi lại bị chôn vùi sau biến cố lịch sử ấy?
Một số học giả đưa ra quan điểm rằng đây là một nghi lễ hiến tế mang tính lịch sử. Sau khi nhà Thương sụp đổ, những người sống sót của nhà Hạ có thể đã tổ chức một lễ tế lớn để tưởng nhớ giai đoạn lịch sử này và chôn cất kho tàng văn hóa của Tam Tinh Đôi dưới lòng đất như một lời tạm biệt với nền văn minh đã mất và hy vọng cho sự phục hưng trong tương lai.
Giải thích này mở ra khả năng chôn cất di vật văn hóa Tam Tinh Đôi, nhưng vẫn chưa giải đáp được câu hỏi tại sao lại chọn phương pháp chôn cất này thay vì các phương pháp khác.
Tam Tinh Đôi đã ra đời như thế nào? Mối liên hệ của nó với các triều đại Hạ, Thương ở Trung Nguyên là gì? (Ảnh: Sohu).
Một quan điểm gây tranh cãi khác là việc chôn cất tại Tam Tinh Đôi có liên quan đến sự tàn bạo của nhà Thương. Nhà Thương có thể đã phá hủy và cướp bóc văn hóa cùng các di tích của nhà Hạ trong thời gian cai trị của mình.
Trong bối cảnh này, con cháu của nhà Hạ có thể đã chôn cất những di tích văn hóa quý giá này vì nhu cầu bảo vệ di sản của họ, ngăn chặn chúng bị phá hủy bởi sự chuyên chế của nhà Thương.
Hành vi này không phải là một cuộc kháng cự vũ trang trực tiếp, mà là một cuộc biểu tình ngầm để bảo vệ ngọn lửa văn minh bằng cách chôn cất các di tích văn hóa.
Bằng cách này, con cháu của nhà Hạ có thể hy vọng truyền lại những di sản văn hóa quý giá này cho các thế hệ tương lai, hy vọng rằng một ngày nào đó nền văn minh có thể được phục hồi.
Cách lý giải này càng làm cho hành động chôn cất di vật văn hóa ở Tam Tinh Đôi mang một ý nghĩa lịch sử sâu sắc hơn. Nó không chỉ là sự tiếc thương cho một thời đại đã qua, mà còn là sự phản kháng âm thầm trước những hành động tàn bạo của nhà Thương.
Việc lựa chọn chôn cất thay vì phá hủy hay bỏ hoang có thể là một lời tuyên bố sâu sắc về lịch sử của nhà Hạ, thể hiện sự kính sợ đối với quá khứ và hy vọng về sự hồi sinh trong tương lai.
Quan điểm này càng khiến cho bí ẩn của Tam Tinh Đôi trở nên hấp dẫn hơn khi khám phá.
Tuy nhiên, con đường giải mã bí ẩn này vẫn còn nhiều chông gai. Do thiếu tư liệu lịch sử rõ ràng và ghi chép trực tiếp, các nhà khảo cổ học chỉ có thể dựa vào các hiện vật, di vật khai quật được và phương pháp nghiên cứu liên ngành để đưa ra suy luận. Để thực sự giải mã bí ẩn lịch sử này, vẫn cần rất nhiều thời gian và nỗ lực nghiên cứu liên tục.
Chính những bí ẩn chưa được giải đáp này đã làm nên câu chuyện về Tam Tinh Đôi đầy bí ẩn và hấp dẫn, khơi gợi sự tò mò bất tận của chúng ta về sự suy tàn và biến đổi của các nền văn minh cổ đại.
Việc khám phá bí ẩn của Tam Tinh Đôi đòi hỏi chúng ta phải đào sâu hơn và lý giải lịch sử cổ đại (Ảnh: Sohu).
Câu chuyện về sự kế thừa, suy tàn và phục hưng của nền văn minh dưới thời Hạ, Thương và Chu, bí ẩn về danh tính của Tam Tinh Đôi và mối liên hệ giữa sự sụp đổ của triều đại Thương và việc chôn cất các di vật văn hóa, tất cả đã phủ một bức màn bí ẩn lên di tích cổ đại này.
Có lẽ, với sự tiến bộ không ngừng của công nghệ khảo cổ học và những khám phá mới, chúng ta sẽ có thể nhìn thấy rõ hơn sự thật về di sản văn hóa bí ẩn này.
Dù sự thật vẫn chưa được hé lộ hoàn toàn, chúng ta chỉ có thể đón nhận sự tò mò và kinh ngạc, đồng thời mong chờ ngày bí ẩn của Tam Tinh Đôi có thể mang đến cho chúng ta một bức tranh lịch sử hoàn chỉnh hơn.