Saturday, June 20, 2026

CHINH PHỤC NHỮNG VÌ SAO - KỲ 7: TÀU VŨ TRỤ LUNA - HÀNH TRÌNH ĐẾN MẶT TRĂNG CỦA LIÊN XÔ

56 năm đã trôi qua kể từ ngày đầu tiên hai phi hành gia Neil Armstrong và Buzz Aldrin đặt chân lên Mặt trăng và tận tay cắm quốc kỳ Mỹ trên đây, đến nay siêu cường này vẫn là quốc gia duy nhất đưa người thành công lên vệ tinh tự nhiên của Trái đất.

Tàu Luna 1 được Liên Xô phóng ngày 2-1-1959 - Ảnh: UIG

Thậm chí, họ đã đưa được 12 người lên trong các chương trình tàu vũ trụ Apollo. Lời cam kết của Tổng thống John F. Kennedy đưa người Mỹ lên Mặt trăng trong thập niên 1960 đã thành công rực rỡ. Tuy nhiên ít người biết chính Liên Xô mới là quốc gia thăm dò "chị Hằng" sớm nhất.

Chương trình khám phá Mặt trăng

Theo tài liệu lịch sử của Cơ quan Hàng không và Vũ trụ quốc gia Mỹ (NASA), ngay khi bắt đầu cuộc đua vào kỷ nguyên vũ trụ, cả hai siêu cường Liên Xô và Mỹ đều đặt nhiệm vụ trọng tâm là khảo sát Mặt trăng.

Từ tháng 3-1958, lãnh đạo Liên Xô đã chấp thuận chương trình phát triển tàu vũ trụ mang tên Luna (Mặt trăng) để bay chạm vào bề mặt vệ tinh tự nhiên này và chụp ảnh khảo sát mặt khuất của nó. Tất nhiên Mỹ không chịu kém cạnh, ngay sau đó họ cũng công bố phát triển chương trình tàu vũ trụ Pioneer để nghiên cứu Mặt trăng bằng các nhiệm vụ bay quanh quỹ đạo và ngang qua.

Một lần nữa, Liên Xô lại đi trước trong áp lực thời Chiến tranh lạnh. Sau thành công trong việc phóng vệ tinh Sputnik 1 đầu tiên lên quỹ đạo, họ đã nhanh chóng dồn lực tiến hành cả hai chương trình vũ trụ lớn là đưa người lên vũ trụ, phóng tàu thăm dò Mặt trăng.

Và họ đã thành công trong cả hai chương trình này. Ngày 12-4-1961, phi hành gia Liên Xô Yuri Gagarin trở thành người đầu tiên bay vào vũ trụ. Trước đó vào ngày 2-1-1959, Liên Xô cuối cùng cũng phóng thành công tàu thăm dò Mặt trăng Luna 1 sau ba vụ phóng thất bại năm 1958.

Sự nỗ lực không mệt mỏi của các nhà khoa học Liên Xô đã gặt hái được kết quả sau ba thất bại nặng với tàu Luna-1958A, Luna-1958B và Luna-1958C. Các tên lửa R-7 đẩy ba con tàu đều đã phát nổ chỉ vài phút sau khi rời mặt đất lúc chưa kịp lên tới quỹ đạo.

Sau đó, trong giai đoạn đầu tập trung vào nhiệm vụ tiếp cận Mặt trăng, Liên Xô đã thành công với các tàu Luna dù có một số vấn đề kỹ thuật vẫn chưa đạt được như nhiệm vụ đề ra. Thành công của chương trình có thể tính được bắt đầu từ tháng 1-1959 khi phi thuyền không người lái Luna 1 được phóng bằng một biến thể cải tiến của tên lửa R-7 (từng phóng thành công các vệ tinh Sputnik) vượt qua quỹ đạo Trái đất để hướng tới "chị Hằng". Luna 1 được thiết lập sáu nhiệm vụ khoa học để theo dõi bức xạ vũ trụ, từ trường và tác động của vi thiên thạch…

Được thiết lập va chạm vào Mặt trăng nhưng phi thuyền có phần chính hình thù quả cầu nặng gần 400kg với nhiều ăng ten đã bay chệch Mặt trăng ở khoảng cách gần nhất khoảng 6.000km sau 34 giờ bay. Một lỗi không chính xác thời gian phóng đã khiến Luna 1 bị lỡ việc hạ cánh xuống thăm "chị Hằng" nhưng nó đã ghi vào lịch sử là phi thuyền đầu tiên của loài người tiếp cận gần Mặt trăng nhất.

Các nhân viên điều khiển mặt đất ở sân bay vũ trụ Baikonur, Kazakhstan liên lạc vô tuyến được với Luna 1 cho đến khoảng 62 giờ sau khi phóng trước khi nguồn pin của nó cạn. Lúc đ, nó đã cách Trái đất 370.000 dặm (gần 600.000km) và trở thành tàu vũ trụ đầu tiên bay đến quỹ đạo Mặt trời.

Một robot tàu Luna đáp xuống Mặt trăng - Ảnh: Sputnik

Chạm vào "chị Hằng"

Sau kết quả khả quan của Luna 1, tháng 6-1959 Liên Xô bị thất bại trong một vụ phóng khác nhưng rồi họ thành công với chuyến trở lại Mặt trăng vào ngày 12-9-1959 với phi thuyền không người lái mang tên Luna 2. Linh hồn kỹ thuật và phương tiện cho chuyến bay này vẫn là nhà khoa học tên lửa Sergei Korolyov lừng danh của Liên Xô.

Con tàu vũ trụ này được điều chỉnh một số kỹ thuật nhưng cơ bản vẫn gần giống Luna 1 được tiếp tục phóng bằng một biến thể của tên lửa R-7. Ngày lịch sử 13-9-1959, Luna 2 ghi dấu ấn vào kỷ nguyên vũ trụ khi là con tàu đầu tiên chạm vào Mặt trăng, tức thiên thể đầu tiên ngoài Trái đất.

Theo tài liệu NASA, tàu vũ trụ đầu tiên của loài người đã đáp xuống vùng tối Mặt trăng ở vị trí giữa Mare Imbrium (Biển Mưa) và Mare Serenitatis (Biển Thanh Bình), cách khoảng 257km so với vị trí tàu Apollo 15 của Mỹ hạ cánh 12 năm sau đó.

Các tài liệu lịch sử ghi lại Sergei Korolyov và đội ngũ nhà khoa học vũ trụ cùng đại diện lãnh đạo Nhà nước Liên Xô giám sát chương trình bay đã nhảy dựng lên reo hò với bước ngoặt thành công lớn lao này.

Khác với chương trình vũ trụ Mỹ luôn được công khai qua truyền thông cho công chúng biết, chương trình vũ trụ của Liên Xô là tuyệt mật và chỉ được công bố sau đó. Ngoài giá trị khoa học, cả hai siêu cường này đều xác định những thành tựu vũ trụ của mình có ý nghĩa tuyên truyền vô cùng quan trọng trước thế giới thời kỳ Chiến tranh lạnh.

Trên Mặt trăng, hoạt động robot Luna 2 đã để lại các biểu tượng Liên Xô được đựng trong hai quả cầu kim loại, đây cũng chính là biểu tượng đầu tiên của loài người trên "gương mặt chị Hằng".

Lịch sử NASA kể trong chuyến thăm đầu tiên và duy nhất của mình tới Mỹ vài ngày sau thành công Luna 2, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Nikita S. Khrushchev (về sau là Tổng bí thư) đã tặng một bản sao lá cờ hình cầu cho Tổng thống đương nhiệm Dwight D. Eisenhower. Tặng vật đó vẫn được lưu giữ tại Thư viện và Bảo tàng Tổng thống Eisenhower ở Abilene, Kansas, trong khi một bản sao được trưng bày tại Kansas Cosmosphere ở Hutchinson, Kansas.

Về mặt kỹ thuật, thiết bị khoa học của tàu vũ trụ Luna 2 không phát hiện thấy từ trường hay vành đai bức xạ nào xung quanh Mặt trăng, điều này rất quan trọng cho việc phóng các tàu thăm dò có người lái sau này.

Đến nhiệm vụ Luna 3 vào ngày 4-10-1959, Liên Xô lại tiếp tục thành công mới với nhiệm vụ chụp ảnh vùng tối Mặt trăng. Về khoa học, ngoài chụp ảnh, Luna 3 còn có các thiết bị đo mức độ bức xạ và tác động của các vi thiên thạch. Sang ngày 6-10-1959, con tàu đã lướt trên cực nam Mặt trăng ở cao độ gần 7.900km trước khi vòng ra phía sau Mặt trăng.

Đến 7-10-1959, máy ảnh trên Luna 3 bắt đầu chụp 29 bức ảnh mặt khuất của Mặt trăng trong quá trình kéo dài khoảng 40 phút. Các nhà khoa học Liên Xô đã thiết kế cho phim được tráng trên tàu vũ trụ và quét giống như bản sao trước khi hình ảnh được truyền về Trái đất.

Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, Luna 3 chụp được khoảng 70% mặt khuất Mặt trăng. Ở thời điểm đó, chất lượng hình ảnh chưa tốt nhưng cũng tạm đủ để loài người trông thấy một dung nhan khác của "chị Hằng" không giống với phần lung linh của Mặt trăng hướng về Trái đất mỗi đêm.

Sau đó, Liên Xô còn tiếp tục nhiều vụ phóng thành công trong chương trình Luna nhưng có một bước ngoặt quan trọng với Luna 16. Được phóng vào ngày 12-9-1970 và đáp thành công xuống Mặt trăng ngày 20-9, robot Luna 16 đã đào và mang được khoảng 100 gram mẫu vật "chị Hằng" trên vùng đồng bằng bazan Mare Fecunditatis về Trái đất...

Năm 2023, Nga tiếp bước Liên Xô thực hiện sứ mệnh phóng Luna 25. Nỗ lực thám hiểm Mặt trăng đầu tiên của quốc gia này kể từ năm 1976 nhưng đã thất bại khi tàu bị rơi trên bề mặt vào tháng 8-2023.

Liên Xô đã dẫn trước Mỹ trong chương trình phóng tàu không người lái thăm dò Mặt trăng nhưng chính Mỹ mới là quốc gia đầu tiên và duy nhất cho đến nay in được dấu chân người và cắm cờ trên đó.

>> Kỳ 8: Phi thuyền Apolo bay đến Mặt trăng

Thùy Chi / Theo: tuoitre

Friday, June 19, 2026

CHÈ CÁ RÔ ĐỒNG


Giới thiệu:

Trong "thế giới ẩm thực" Chè Huế, Chè cá rô đồng là một món chè Cung đình rất hiếm khi được nhắc đến và gần như thất truyền. Món chè mặn hơn 200 năm tuổi được nghệ nhân ẩm thực Trần Thanh Quang, là đệ tử của Mệ Ưng Viên (hậu duệ Hoàng đế Minh Mạng) tái hiện lại cho vài vị khách thân quen vào các dịp đặc biệt.

Vị chè ngọt thanh có hậu vị chua dịu thoang thoảng mùi tương. Dù đa phần nguyên liệu nấu chè đều thuộc nhóm đạm động vật như thịt má đầu heo cỏ, thịt nạc cá rô đồng, trứng gà ta…. Những dược liệu chính dùng để nấu như: nước cốt trà ngon, tương đậu mèo, một số gia vị bí truyền đã khử hoàn toàn vị tanh. Thịt má đầu heo cỏ nuôi thả rong được xắt hạt lựu giòn giòn béo béo, miếng lòng đỏ trứng gà ta bùi bùi ngậy ngậy. Chất đạm cá rô hòa quyện vào nước bột củ bình tinh (huỳnh tinh- Bắc gọi là dong trắng) sánh vàng. Tất cả tổng hoà trong nước mía ép thủ công, ngan ngát lan tỏa mùi thơm của tinh dầu bạc hà.


Quê hương của món chè đặc biệt này là Gò Công (Tiền Giang ngày nay) nhưng đã được nâng lên thành y thực dưới triều nhà Nguyễn và được hoàn thiện dưới triều vua Minh Mạng.

Lịch sử hình thành:

Tương truyền, khi xưa chúa Nguyễn Ánh trong thời gian bôn tẩu, để tránh khỏi sự truy sát của nhà Tây Sơn đã đến Gò Công. May thay gặp một cụ bà tốt bụng cưu mang. Bà đã nấu một nồi chè cá rô ăn cho chúa Nguyễn “mau lợi sức”. Nguyên liệu chính chè cá rô “nếm mật nằm gai” lúc đó, gồm cá rô đồng, bột bình tinh và đường mía. Khắc ghi ơn nghĩa những ngày gian khó, món chè này về sau được vị vua đầu triều Nguyễn giao cho Thái Y viện tìm hiểu, nghiên cứu, phối liệu nâng lên thành món ăn đưa vào quốc yến.


Nét đặc trưng:

Nguyên liệu chính nấu chè đều thuộc nhóm đạm động vật (thịt nạc cá rô đồng, trứng gà ta, thịt má đầu heo cỏ) nhưng không có chút mùi tanh. Vì trong chén chè đã có những tá dược để khử mùi tanh và cũng là những thực phẩm giúp cải thiện sức khỏe cơ thể người ăn như: tương đậu mèo, nước cốt trà ngo.

Đáng nhớ nhất là vị beo béo và độ giòn giòn của từng hạt lựu má đầu. Với hương vị từ miếng lòng đỏ trứng gà ta có chút bùi bùi mượt mà khó cưỡng. Cảm giác ngây ngất của chất đạm cá rô quyện vào nước bột bình tinh sánh vàng. Chén chè có chút mùi thơm của tinh dầu bạc hà lan tỏa, do được ngâm với nước mía sên.

Mỗi muỗng chè đều toát lên hương vị thanh tao, tựa như mùi mứt gừng hay mứt bí được làm ở xứ Huế. Vị chè ngọt thanh đậm, một lúc sau thì chua dịu.


Giá trị của Di sản ẩm thực:

Chè cá rô có rất nhiều dinh dưỡng nên ăn vài muỗng đã có cảm giác đủ no. Chè cá rô này ăn vào nội quan hoạt động điều hoà, mạch máu lưu thông tốt, nhất là tim, thận và não. Có thể nói, đây là món cung đình chè độc đáo và rất Huế nhưng không dễ có cơ hội để được thưởng thức.

Ảnh: TS. Phan Thanh Hải
Nguồn: Khám phá Huế tổng hợp





TẾT ĐOAN NGỌ - DẤU ẤN CỦA TRỜI ĐẤT, NHỊP VẬN CỦA LƯƠNG TÂM

Khi nắng hạ chạm đỉnh trời, lúc dương quang rực rỡ nhất trong năm, cũng là khi con người dừng lại một nhịp để lắng nghe tiếng gọi của đất trời, tiếng vọng từ tổ tiên và tiếng nói trong chính cõi lòng mình. Ấy là khi Tết Đoan Ngọ trở về – một ngày lễ cổ truyền không chỉ nhuốm màu truyền thuyết, mà còn chất chứa mạch ngầm huyền vi của trời đất, tâm lý nhân sinh và trật tự âm dương trong vũ trụ sống.

Tết Đoan Ngọ – Dấu ấn của trời đất, nhịp vận của nhân tâm

Ý nghĩa của tên gọi Tết Đoan Ngọ trong quan niệm Âm Dương

Tết Đoan Ngọ, theo lý giải từ ngôn ngữ Hán Việt, mang ý nghĩa đặc biệt. “Đoan” là bắt đầu, “Ngọ” là chính ngọ – giờ giữa trưa (11h – 13h), khi mặt trời đứng bóng. Đây là thời khắc dương khí đạt cực thịnh, trời đất chuyển mình, vũ trụ ngân lên một tiết điệu mạnh mẽ. Đoan Ngọ vì thế được coi là một điểm mốc thiêng liêng trong nhịp vận của trời đất, nơi âm dương giao hội, sinh – khắc đan xen, và lòng người cũng cần được điều hòa cho cân bằng với thiên nhiên.

Truyền thuyết Khuất Nguyên – Biểu tượng trung nghĩa và khí tiết

Trong văn hóa Trung Hoa, ngày này gắn liền với truyền thuyết về Khuất Nguyên – một vị trung thần nước Sở, vì lòng yêu nước mà bị hãm hại, cuối cùng gieo mình xuống sông Mịch La. Người dân thương tiếc, đã ném cơm nếp bọc lá xuống sông, tổ chức đua thuyền tìm xác, từ đó hình thành phong tục ăn bánh tro, đua thuyền rồng, tưởng nhớ người xưa vì nước quên thân. Tết Đoan Ngọ ở đây trở thành biểu tượng cho lòng trung nghĩa và khí tiết cao cả, nhắc nhở người đời giữ lấy chính đạo giữa biến động nhân tâm.

Truyền thuyết Khuất Nguyên – Biểu tượng trung nghĩa và khí tiết. Ảnh minh họa.

Phong tục Việt Nam – Thanh lọc thân tâm qua ẩm thực và nghi lễ

Trong truyền thống Việt Nam, ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch lại mang một sắc thái gần gũi và thực tiễn hơn. Đây là thời điểm sâu bọ phát triển mạnh, bệnh tật dễ phát sinh, con người cần “giết sâu bọ” – không chỉ ở ruộng đồng, mà cả trong thân thể và tâm trí. Dân gian truyền lại thói quen ăn rượu nếp, mận, vải, bánh ú tro vào buổi sáng sớm, để tiêu trừ độc tố, thanh lọc khí huyết. Những món ăn ấy không chỉ đơn thuần là ẩm thực, mà là liệu pháp dưỡng sinh, gắn liền với sự nhạy cảm của người xưa trước chuyển động của tự nhiên.

Thế nhưng, sâu bọ lớn nhất không phải ở bên ngoài, mà chính là trong lòng người. Đó là tham dục, sân giận, đố kỵ, u mê – những thứ độc khí nuôi lớn bởi lo toan, nóng nảy, và sự quên mất chính mình trong dòng đời. Vì thế, Tết Đoan Ngọ trở thành một dịp tẩy trược không chỉ cho thân thể mà còn là hành trình thanh lọc tâm linh.

Nhiều gia đình vào ngày này tắm lá thuốc, xông thảo dược, treo ngải cứu, bùa chú… như một cách xua tà, mời chính khí trở về. Việc cúng gia tiên không chỉ là nghi lễ hình thức mà là nhịp nối giữa hai bờ âm – dương, giữa người đang sống và người đã khuất, giữa hôm nay và nguồn cội. Người xưa còn kiêng sát sinh, khuyên làm lành, tụng kinh trì chú, giữ tâm an định giữa tiết trời rực lửa. Vì trong tiết này, dương khí thịnh quá dễ sinh đảo loạn, tà khí cũng dễ len lỏi, chỉ có nội tâm chánh niệm mới gìn giữ được sự sáng suốt.

Việc cúng gia tiên không chỉ là nghi lễ hình thức mà là nhịp nối giữa hai bờ âm – dương, giữa người đang sống và người đã khuất, giữa hôm nay và nguồn cội. Ảnh minh họa.

Tết Đoan Ngọ vì thế không chỉ là một phong tục truyền thống, mà là dịp để con người sống chậm lại, điều chỉnh thân – tâm – trí cho hài hòa với tiết trời, nhịp sống và vòng quay của vũ trụ. Trong cái rực rỡ của hạ chí, khi dương lên đến đỉnh, chính là lúc con người cần quay về bên trong, lắng nghe những điều thầm lặng và sống thuận theo trời đất.

Đoan Ngọ – ngày mà trời vào chính ngọ, đất tràn dương khí, và người cần tịnh hóa mình – là một phép cộng hài hòa giữa thiên nhiên và nhân thế. Giữa bao lo toan thường nhật, ngày này trở thành một nhắc nhở dịu dàng: rằng để sống trọn vẹn, đôi khi không cần tiến về phía trước, mà chỉ cần dừng lại, nhìn sâu và sống đúng với căn cốt thiện lương trong lòng mình.

“Trời đất hữu tình, người người thuận mệnh” – Tết Đoan Ngọ không chỉ gìn giữ một phong tục, mà là dịp để sống sâu hơn, tỉnh thức hơn, và yêu thương hơn, trong từng hơi thở hòa cùng nhịp đập của đất trời.

Khai Tâm biên tập
Theo: vandieuhay

CHINH PHỤC NHỮNG VÌ SAO - KỲ 6: PHI HÀNH GIA MỸ ALAN SHEPARD - NGƯỜI THỨ HAI LÊN VŨ TRỤ

24 ngày sau khi Liên Xô sử dụng tên lửa R-7 phóng tàu Vostos 1 đưa Gagarin lên quỹ đạo), Mỹ đã thực hiện thành công chuyến bay vũ trụ có người lái đầu tiên của mình là phi hành gia Alan Shepard trên con tàu mang tên Sao Thủy - Mercury.

Alan Shepard trong khoang tàu - Ảnh: NASA

Trong cuộc đua vào kỷ nguyên vũ trụ với Liên Xô, siêu cường Mỹ bị chậm giai đoạn đầu. Theo lịch sử Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Mỹ (NASA), ngày 25-5-1961 John F. Kennedy tuyên bố trước phiên họp chung đặc biệt của quốc hội về mục tiêu đầy tham vọng đưa người Mỹ an toàn lên Mặt trăng rồi trở về trước cuối thập niên này. Tổng thống Mỹ thứ 35 có áp lực phải vượt Liên Xô trong hành trình chinh phục vũ trụ.

Cuộc đua đưa người lên vũ trụ

Theo các sử gia NASA như Roger D. Launius, sở dĩ Mỹ lúc này đã có sự tự tin mạnh mẽ vì vừa phóng thành công phi hành gia Alan Shepard trong dự án Mercury (Sao Thủy). Mốc điểm chương trình đưa người lên vũ trụ của hai siêu cường bắt đầu từ năm 1958.

Trước đó, cả Liên Xô và Mỹ đều đã phóng thành công các vệ tinh không người lái Sputnik và Explorer lên quỹ đạo. Các vụ phóng tiếp theo thử nghiệm đưa sinh vật Trái đất lên không gian (Liên Xô phóng chó, Mỹ phóng tinh tinh) đã thành công, mặc dù cũng có vụ thất bại làm các "phi hành gia" không biết nói này phải hy sinh để con người thực hiện giấc mơ chạm đến những vì sao.

Ngày 5-5-1961 (tức 24 ngày sau khi Liên Xô sử dụng tên lửa R-7 phóng tàu Vostos 1 đưa Gagarin lên quỹ đạo), Mỹ đã thực hiện thành công chuyến bay vũ trụ có người lái đầu tiên của mình là phi hành gia Alan Shepard trên con tàu mang tên Sao Thủy - Mercury được đẩy bằng một biến thể cải tiến của tên lửa Redstone.

Nếu tính cụ thể ngày tháng kể từ khi quyết định dự án đưa lên vũ trụ, Liên Xô và Mỹ chỉ mất hơn hai năm. Tuy nhiên, cả hai siêu cường đều đã thực hiện hàng chục vụ phóng thử nghiệm. Đặc biệt, hai nền tảng tên lửa của Mỹ và Liên Xô đều có những phần kỹ thuật được phát triển từ chính tên lửa V-2 của Đức thời Thế chiến 2.

Tuyển chọn phi công

Nguồn tài liệu lịch sử của NASA ghi lại ngày 7-10-1958, họ đã công bố Mercury - dự án lớn đầu tiên của mình ngay sau khi NASA bắt đầu hoạt động. Dự án có ba mục tiêu quan trọng là phóng tàu vũ trụ có người lái vào quỹ đạo quanh Trái đất, kiểm tra khả năng con người trên không gian để có thể tiếp tục các chuyến bay xa hơn và đưa phi hành gia về Trái đất an toàn.

Xác định con người là phần quan trọng cốt lõi của dự án này, việc tuyển chọn và huấn luyện phi hành gia được bắt đầu sớm ngay từ tháng 1-1959. Có 508 hồ sơ được thẩm định mà đa phần là các phi công quân sự, phi công thử nghiệm tài năng đã trải nhiều giờ bay.

"Ngày 9-4-1959, NASA chính thức giới thiệu với quốc gia và thế giới bảy phi hành gia Mercury của mình. Sự kiện diễn ra tại phòng khiêu vũ của khách sạn Dolley Madison House trên quảng trường Lafayette ở Washington, D.C., nơi khi đó là trụ sở đầu tiên của cơ quan vũ trụ mới thành lập.

Các phi hành gia ngồi quanh một chiếc bàn dài trên một sân khấu tạm thời và Giám đốc NASA T. Keith Glennan đã giới thiệu họ theo thứ tự bảng chữ cái: "Malcolm S. Carpenter, Leroy G. Cooper, John H. Glenn, Virgil I. Grissom, Walter M. Schirra, Alan B. Shepard và Donald K. Slayton... những phi hành gia Mercury của quốc gia!".

Sau một buổi chụp ảnh ngắn, trong 90 phút tiếp theo các phi hành gia mới đã trả lời nhiều câu hỏi từ các phóng viên có mặt trong phòng khiêu vũ.

Đối với hầu hết họ, đây là một trải nghiệm mới vì trước đó họ ít có cơ hội tiếp xúc với giới truyền thông trong công việc trước đây của mình với tư cách là phi công thử nghiệm.

Khi sự kiện kết thúc, họ nhận ra rằng cuộc sống của họ đã thay đổi mãi mãi, và sự chú ý của công chúng sẽ trở thành một phần công việc của họ, cũng quan trọng như việc huấn luyện và bay vào vũ trụ", đây là một đoạn trích trong bài "60 năm trước: NASA giới thiệu các phi hành gia Mercury 7" trên trang lịch sử NASA.

Mặc dù còn mới mẻ và chưa hề có kinh nghiệm, việc tuyển chọn phi hành gia của NASA vẫn diễn ra rất khắt khe. Ban đầu hồ sơ có những người làm các ngành nghề chịu áp lực rủi ro cao nhưng sau đó NASA cùng với sự đồng thuận của chính tổng thống Mỹ đã ưu tiên chọn phi công quân sự bay thử nghiệm.

Từ hơn 500 người, chọn 110 người, sau đó còn 32 người và cuối cùng còn bảy người. Họ đã xuất sắc vượt qua các vòng kiểm tra nghiêm ngặt. Riêng bảy người cuối cùng đã vượt qua cuộc kiểm tra y tế chuyên sâu kéo dài một tuần tại Phòng khám Lovelace ở New Mexico và thêm một tuần kiểm tra thể lực cùng tâm lý chịu đựng gian khổ.

Trong buổi chính thức ra mắt với thế giới ngày 9-4-1959 tại văn phòng NASA ở quảng trường Lafayette, Washington, D.C, cả bảy phi hành gia đều cười rất tươi và giơ tay khi được hỏi có tự tin bay vào vũ trụ và trở về hay không, thậm chí có người còn giơ cả hai tay.

Trong đó, Alan Shepard (1923-1998) là sĩ quan không hải quân, từng tham chiến Thế chiến 2 và từ năm 1950 là phi công quân sự bay thử nghiệm dày dạn. Ông chính là chọn lựa cuối cùng trong ba người được chọn cho chuyến bay đầu tiên.

Phi thuyền Mercury - Redstone 3 trước giờ phóng - Ảnh: NASA

Ngày lịch sử của Mỹ

Bình minh 5-5-1961, ngày lịch sử của chương trình vũ trụ Mỹ. Tại Trạm không quân Mũi Canaveral, Florida, Shepard tự tin leo vào khoang phi hành gia trên phi thuyền Mercury - Redstone 3 mà chính ông đặt tên chuyến bay Freedom 7 (Tự do 7) tượng trưng cho bảy người bạn phi hành gia phục vụ dự án Mercury.

Theo kế hoạch, ông đã vào tàu khoảng hai giờ trước giờ phóng dự kiến lúc 7h20. Tuy nhiên, một sự chậm trễ kỹ thuật xảy ra. Shepard đã nói một câu được ghi lại: "Sao các ông không khắc phục vấn đề nhỏ và thắp sáng ngọn nến này đi?".

24 ngày trước đó, lúc chuẩn bị phóng tàu Vostok 1, phi hành gia Liên Xô Gagarin cũng nói hai từ được ghi vào sách sử: "Đi thôi".

Lúc 9h45 ngày 5-5-1961, người Mỹ đầu tiên đã bay vào không gian vũ trụ. Trang National air and space museum ghi lại sự kiện lịch sử này:

"Tên lửa bốc cháy trong hơn hai phút, gia tốc ép ông vào ghế sofa với lực hơn sáu "G" (sáu lần trọng lực Trái đất). Sau khi tách ra, khoang tàu quay ngược lại và hướng tấm chắn nhiệt về phía trước để tái nhập khí quyển.

Trong năm phút không trọng lực, Shepard đã thử nghiệm hệ thống điều khiển hướng của Freedom 7 và mở rộng kính tiềm vọng để nhìn về phía Florida.

Sau khi vượt qua đỉnh quỹ đạo, đã đến lúc kích hoạt động cơ hãm - không cần thiết cho chuyến bay của ông nhưng là một thử nghiệm về cách thoát khỏi quỹ đạo. Quá trình tái nhập khí quyển ngắn ngủi nhưng rất dữ dội với tải trọng "G" cực đại lên tới hơn 11.

Dù bung ra bình thường và tàu vũ trụ của ông chạm xuống đại dương với một cú va chạm mạnh mà ông so sánh với việc hạ cánh trên tàu sân bay. Một máy bay trực thăng của thủy quân lục chiến đã đón ông và đưa ông đến tàu USS Lake Champlain...".
Alan Shepard và Freedom 7 đã có 15 phút 28 giây bay đến độ cao viễn cực khoảng 187km so với bề mặt Trái đất. Tổng thống John F. Kennedy đã trao tặng Huân chương Cống hiến xuất sắc của NASA cho Alan Shepard trong một buổi lễ tại Vườn Hồng vào ngày 8-5-1961. Điều thú vị là Shepard bị cấm bay trong sáu năm vì một vấn đề về tai nhưng sau đó ông trở lại ngoạn mục và thành phi hành gia Mercury duy nhất đặt chân lên Mặt trăng và chỉ huy cuộc đổ bộ của Apollo 14

>> Kỳ 7: Khởi đầu hành trình đến Mặt trăng


Thùy Chi / Theo: tuoitre

Thursday, June 18, 2026

CỨ LẶNG LẼ LÀM THÔI, VIỆC MÌNH TIN LÀ ĐÚNG

Có lẽ tôi và bạn, chúng ta đều đang sống trong một thời đại kỳ lạ. Người ta nói về tốc độ, về hiệu quả, về việc phải nhìn thấy kết quả ngay lập tức. Mạng xã hội mỗi ngày đều tràn ngập những câu chuyện thành công của người khác. Người kia mua được nhà, người nọ đi du lịch khắp thế giới, người bạn cũ vừa được thăng chức. Mọi thứ cứ như một cuộc đua mà nếu mình chậm lại một chút, mình sẽ là người thua cuộc.


Áp lực đó thật kinh khủng. Nó khiến chúng ta sốt ruột với chính bản thân mình.

Người xưa có câu “Dục tốc bất đạt”, muốn nhanh thì không tới đích. Chúng ta bắt đầu một việc gì đó, dù là học một kỹ năng mới, tập thể dục, hay xây dựng một mối quan hệ, chúng ta đều âm thầm đặt ra một cái hạn chót. “Ba tháng phải có kết quả”, “Sáu tháng phải thành thạo”, “Một năm phải thấy khác biệt”. Và khi mọi thứ không diễn ra nhanh như mình muốn, cảm giác đầu tiên ập đến là thất bại và chán nản.
Bạn có bao giờ cảm thấy như vậy không?

Cảm thấy nỗ lực của mình như hạt cát bỏ biển, chẳng ai thấy, chẳng ai công nhận, và tệ nhất là chính mình cũng không thấy nó đi đến đâu cả.

Hôm nay, tôi muốn nói với bạn về một chuyện khác, một góc nhìn có thể không hợp thời nhưng tôi tin nó là thật. Đó là câu chuyện về việc “trồng cây”.

Không phải là triết lý gì cao siêu đâu, chỉ là một hình dung rất đơn giản. Bạn gieo một hạt mầm nhỏ xuống đất. Ngày mai, nó vẫn chỉ là một hạt mầm. Tuần sau, có thể nó nhú lên một chút xíu, yếu ớt.

Tháng sau, nó có thể cao thêm vài phân. Công việc của bạn chỉ là mỗi ngày cho nó một chút nước, bắt cho nó vài con sâu. Một công việc lặp đi lặp lại, nhàm chán và chẳng có gì đáng để khoe với ai.

Trong lúc bạn đang làm cái việc tẻ nhạt đó, người khác có thể đã xây xong một bức tường, đã sơn xong một cánh cửa. Thành quả của họ hiện ra rõ ràng, được đo đếm, được nhìn thấy. Còn cái cây của bạn?

Nó vẫn ở đó, lớn lên từng milimet một cách lặng lẽ. Sẽ có những lúc bạn nản lòng. Bạn tự hỏi mình đang làm cái gì vậy? Việc này có ích gì không? Hay mình đang lãng phí thời gian một cách vô ích?

Đây chính là đoạn khó khăn nhất. Vượt qua được sự nghi ngờ của chính mình khó hơn vạn lần việc vượt qua lời nói của người khác.

Tôi biết có những người cha, người mẹ cả đời làm lụng, không dám ăn tiêu. Họ không mua xe sang, không xây nhà lớn. Tiền bạc họ dành dụm được đều đổ vào việc học cho con. Họ hiểu một cách sâu sắc cái điều mà cổ nhân đã đúc kết: “Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân”.

Trồng một cái cây mất mười năm, nhưng trồng một con người có khi cả đời. Đó là một cách “trồng cây” cao cả nhất. Mười mấy hai mươi năm trời, họ chỉ thấy tiền đi ra chứ không thấy gì quay lại. Nhưng họ tin, họ tin rằng cái cây của mình một ngày nào đó sẽ thành người, sẽ có một cuộc đời tử tế. Cái “bóng mát” mà họ mong không phải cho mình, mà là cho tương lai của con cái.


Tôi biết có những người bạn, sau giờ làm lại cặm cụi ngồi học một ngôn ngữ mới, học lập trình, học cách làm bánh. Nhìn vào mục tiêu cuối cùng thì thật xa vời, nhưng người xưa chẳng đã nói rồi sao?

“Thiên lý chi hành, thủy vu túc hạ”.

Hành trình ngàn dặm, luôn bắt đầu từ một bước chân. Bạn bè rủ đi chơi, họ từ chối. Họ mệt, họ buồn ngủ, nhưng họ vẫn kiên trì với “bước chân” của ngày hôm nay. Họ không biết liệu có dùng đến kỹ năng đó để kiếm tiền hay không. Nhưng họ làm vì họ tin rằng việc học hỏi và tốt lên mỗi ngày là điều đúng đắn. Đó là cách họ “trồng cây” cho chính bản thân mình, để một ngày nào đó, tâm hồn họ có thêm bóng mát của sự hiểu biết và tự tin.

Sự công nhận từ bên ngoài rất tuyệt, nhưng nó không phải là thứ cốt lõi. Cốt lõi là sự công nhận từ chính bạn. Là cái cảm giác bình yên khi biết rằng, hôm nay mình đã không bỏ cuộc, mình đã làm một việc có ý nghĩa dù chẳng ai thấy. Cái giá trị thật sự của việc trồng cây không chỉ nằm ở ngày nó ra hoa kết quả. Giá trị lớn lao hơn nằm trong suốt quá trình bạn kiên nhẫn chăm bón nó.

Chính quá trình đó đã rèn luyện bạn. Nó dạy bạn cách tin tưởng vào những điều chưa xảy ra. Nó dạy bạn cách đối mặt với sự nhàm chán. Nó dạy bạn cách tìm thấy niềm vui trong những thay đổi nhỏ bé mà người ngoài không thể nào nhận ra.

Bạn trở thành một người sâu sắc hơn, kiên định hơn, và bình thản hơn. Con người mà bạn trở thành trong quá trình đó, mới chính là “quả ngọt” quý giá nhất.


Vậy nếu bạn đang làm một điều gì đó lặng lẽ, xin đừng buồn

Nếu bạn đang cố gắng mỗi ngày để cai một thói quen xấu.

Nếu bạn đang kiên nhẫn dạy dỗ con cái từng chút một.

Nếu bạn đang chăm sóc một người thân bị bệnh.

Nếu bạn đang xây dựng một dự án nhỏ bé từ hai bàn tay trắng.

Nếu bạn đang nỗ lực để trở thành một người tử tế hơn, dù không ai yêu cầu.

Tất cả những việc đó, chính là bạn đang trồng cây.

Có thể bây giờ nó chỉ là một hạt mầm. Có thể bạn thấy cô đơn và mệt mỏi. Nhưng hãy tin tôi, từng giọt mồ hôi, từng chút kiên nhẫn của bạn đều đang tưới tắm cho cái cây đó. Sẽ có ngày, không sớm thì muộn, nó sẽ lớn lên.

Và có thể, cái bóng mát từ cái cây đó không chỉ để cho bạn. Một ngày nào đó, một người khác đi ngang qua cuộc đời bạn, họ sẽ cảm nhận được sự bình yên, sự vững chãi từ chính con người bạn. Họ sẽ được che chở bởi lòng tốt và sự kiên định mà bạn đã vun trồng trong im lặng suốt bao nhiêu năm.

Lúc đó, bạn sẽ hiểu. Mọi nỗ lực thầm lặng đều không bao giờ là vô nghĩa. Cứ làm thôi, làm cái việc mà mình tin là đúng. Một ngày nào đó, bạn và cả những người xung quanh sẽ được ngồi nghỉ dưới bóng mát từ chính đôi tay của bạn.

Nguyên Tác An Hậu

TÂY GIANG NGUYỆT - TÀO TUYẾT CẦN


Tây giang nguyệt kỳ 1

Vô cố tầm sầu mịch hận,
Hữu thì tự xoạ như cuồng;
Túng nhiên sinh đắc hảo bì nang,
Phúc nội nguyên lai thảo mãng.

Lạo đảo bất thông thế vụ,
Ngu ngoan phạ độc văn chương;
Hành vi thiên tích tính quai trương,
Na quản thế nhân phỉ báng!


西江月其一

無故尋愁覓恨
有時似傻如狂
縱然生得好皮囊
腹內原來草莽

潦倒不通世務
愚頑怕讀文章
行為偏僻性乖張
那管世人誹謗


Tây giang nguyệt
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Mua sầu chuốc hận vào thân. 
Ngây ngây dại dại, thêm phần cuồng ngông. 
Vẻ ngoài tốt mã nhác trông. 
Bên trong cỏ rác, chất chồng ai hay. 
Đảo điên thời thế bấy nay. 
Văn chương chẳng đọc báy chày hiền ngu. 
Khoa trương khoe mẽ giao du. 
Người đời phỉ báng, thiên thu vẫn còn.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tào Tuyết Cần 曹雪芹 (4/4/1710 - 10/6/1765) là một tiểu thuyết gia vĩ đại người Trung Quốc, tác giả của cuốn tiểu thuyết Hồng lâu mộng, một trong tứ đại kỳ thư của văn học cổ điển Trung Quốc.

Gia đình thế hệ trước của Tào Tuyết Cần là một gia đình quan lại thuộc tầng lớp đại quý tộc thời nhà Thanh Trung Quốc. Từ đời tổ đến đời cha của ông đã thay nhau giữ chức “Giang ninh chức tạo” là một chức quan to thu thuế trong triều đình. Năm lần vua Khang Hy tuần du phương Nam thì bốn lần ở lại nhà họ Tào. Ông nội ông là Tào Dần, một nhà văn xuất sắc vùng Giang Ninh. Đến đời của ông tất cả sự giầu sang quyền quý của gia đình đã trở thành quá khứ. Gia đình ông bị mắc nạn. Ông sống trong nghèo khổ, phải đưa gia đình đi khắp nơi để mưu sinh. Mười năm cuối đời ông đã dồn toàn bộ tâm huyết và tinh thần vào để tạo nên kiệt tác Hồng lâu mộng.

Nguồn: Thi Viện



"VĂN CHƯƠNG THIÊN CỔ SỰ, ĐẮC THẤT THỐN TÂM TRI"

Một nhà văn giỏi không thể chỉ nói đến kỹ xảo mà bỏ qua việc tu dưỡng đạo đức; phải có nhân phẩm chân thành, tấm lòng rộng mở cùng phẩm chất cao thượng thì mới viết ra được những áng thơ văn hay.


“Văn chương thiên cổ sự, đắc thất thốn tâm tri” là câu danh ngôn do thi thánh Đỗ Phủ viết ra. Mười chữ ngắn gọn, súc tích nhưng nội hàm sâu xa.

Từ xưa đến nay, những văn nhân, tác gia có trách nhiệm đều coi đây là lời răn dạy để ghi khắc trong lòng. Bởi vì “văn dĩ tải đạo”, viết văn là để chuyên chở đạo lý, để bày tỏ tư tưởng của tác giả; cho nên văn chương là sự nghiệp muôn đời, ảnh hưởng sâu xa. Một nhà văn chân chính phải hiểu rõ được mất trong việc sáng tác, xem việc viết văn như một đại sự mở ra trí tuệ nhân loại.

Câu này xuất phát từ bài “Ngẫu đề” của Đỗ Phủ đời Đường, nghĩa là: văn chương là sự nghiệp muôn đời lưu truyền, còn nỗi gian nan, được mất thì chỉ có người viết mới hiểu rõ trong lòng.


Nguyên tác bài thơ khá dài. Trong đó, Đỗ Phủ bộc lộ quan điểm về sáng tác thơ ca lúc cuối đời, có thể xem là một kiệt tác mang tính khái quát. Câu “thiên cổ sự” nghĩa là sự việc lâu dài, trọng đại, tương ứng với lời Tào Phi thời Tam Quốc:

“Văn chương kinh quốc chi đại nghiệp, bất hủ chi thịnh sự” (Văn chương là sự nghiệp lớn để trị quốc, là sự nghiệp huy hoàng bất diệt). Còn “thốn tâm tri” là nói rằng với văn chương, chính tác giả mới là người hiểu rõ nhất. Hai câu này tuy thuộc loại nghị luận nhưng đối ngẫu chỉnh tề, ngôn từ cô đọng, ý nghĩa sâu sắc đầy tính triết lý.

Tôi không phải là nhà văn chuyên nghiệp, cũng chẳng phải nghệ sĩ. Nhưng từ khi bước trên con đường viết lách, tôi thường chăm chú quan sát những chi tiết của đời sống, rồi dốc lòng ghi lại những cảm ngộ chợt lóe sáng trong tâm hồn.


Văn chương là một khái niệm rộng lớn, bao gồm thơ, từ, ca, phú, thư, biểu, sách, luận… Nội dung vô cùng phong phú: có thể chuyên chở đạo lý, bày tỏ tình cảm, luận lý, hoặc phác họa ý cảnh. Viết được bài văn hay chính là biểu hiện của một bản lĩnh; mà trong mấy nghìn năm qua, số người viết được văn chương bất hủ cũng hiếm hoi.

Hàn Dũ đời Tống từng nói: “Sư giả, truyền đạo, thụ nghiệp, giải hoặc dã” (Người thầy là để truyền đạo, dạy nghề, giải nghi). Văn chương cũng vậy. Một tác phẩm hay có thể khai mở trí tuệ, giúp con người có tư tưởng đúng đắn, nhận thức đúng đắn, hình thành mục tiêu nhân sinh chính đáng, nhờ trí tuệ khéo léo mà giải quyết khó khăn trong đời.

Một bài văn phải có quan điểm riêng, phải giảng rõ đạo lý. Lý lẽ là để sáng tỏ đạo, khiến người đọc chấp nhận quan điểm; đồng thời cũng phải có tình cảm, để lôi cuốn người đọc, khiến họ cảm nhận được cái đẹp. “Kỳ văn cộng hân thưởng, nghi ý tương dữ tích” chính là cảnh giới đó.


Dù là làm văn hay làm thơ, đều phải hết lòng hết sức. Cái vui trong văn chương thi phú thực chất là lạc thú trong gian khổ; nhiều văn nhân cổ xưa từng bày tỏ nỗi niềm ấy. Một câu hay, một từ đẹp vô cùng quý giá, tuy ở đâu cũng có, lúc nào cũng hiện hữu, nhưng đôi khi khó mà nắm bắt: khi thì như hoa quỳnh thoáng nở, khi thì như ánh nước chập chờn; lúc xa vời vợi, lúc lướt ngang qua.

“Văn chương bổn thiên thành, diệu thủ ngẫu đắc chi”, văn chương vốn do trời thành, chỉ có bàn tay khéo léo mới ngẫu nhiên nắm bắt được. Do vậy, một nhà văn chân chính không thể chỉ dựa vào kỹ xảo mà quên tu dưỡng đạo đức; phải có nhân phẩm chân thành, tấm lòng rộng mở và phẩm hạnh cao quý thì mới có thể viết nên những áng văn chương tuyệt diệu.

Mỹ Mỹ biên dịch
Trích: Trí tuệ cuộc sống