Friday, October 23, 2026

8 ĐIỆP VIÊN ANH, MỸ TIẾT LỘ THÔNG TIN BOM NGUYÊN TỬ CHO LIÊN XÔ

Nhờ những bí mật nguyên tử này mà Liên Xô có thể thử thành công vũ khí hạt nhân đầu tiên năm 1949.


Liên Xô đã nỗ lực thu thập thông tin tình báo về chương trình bom nguyên tử của Anh và Mỹ mà sau này là Dự án Manhattan. Trong chiến dịch Enormoz, các đặc vụ Liên Xô đã tuyển một số nhà khoa học tại phòng thí nghiệm Los Alamos. Phải mãi sau Chiến tranh Thế giới thứ hai người ta mới biết quy mô mạng lưới gián điệp hạt nhân của Liên Xô khi Mỹ và Anh giải được mật mã trong các bức điện của Liên Xô. Dự án phá mật mã Liên Xô của Mỹ và Anh có tên Venona, tới năm 1995 mới được giải mật.

John Cairncross

John Cairncross tại nhà riêng ngày 18/10/1990 ở Saint-Antonin, Pháp. Ảnh: Getty Images

Cairncross làm thư ký riêng cho ông Maurice Hankey, quan chức Anh cấp cao tham gia Tube Alloys, chương trình nguyên tử bí mật của Anh trong Thế chiến II. Ở vị trí này, ông đã trao cho Liên xô một danh sách các nhà khoa học nguyên tử Mỹ và nhiều người đã rò rỉ thông tin về báo cáo đánh giá triển vọng chế tạo bom nguyên tử của Anh vào năm 1941.

Sau khi bị tình báo Anh MI5 thẩm vấn trong những năm 1960 và thừa nhận là gián điệp cho Liên Xô, Cairncross đã đổi thông tin để được miễn truy tố. Năm 1990, ông cuối cùng được xác định là “người thứ năm” trong nhóm gián điệp khét tiếng đã từng gặp tại Đại học Cambridge những năm 1930. Cairncross chết ngày 8/10/1995 ở Herefordshire, Anh.

Melita Norwood

Melita Norwood bên ngoài nhà ở Bexleyheath, Anh năm 1999. Ảnh: Getty Images

Là gián điệp lâu nhất của Liên Xô tại Anh, Norwood làm thư ký cho giám đốc dự án Tube Alloys. Dưới vỏ bọc một cuộc sống có vẻ bình thường ở ngoại ô London, bà đã chuyển thông tin cho các đặc vụ Liên Xô suốt Thế chiến II và tận những năm 1970.

Hiện chưa rõ những thông tin Norwood đã giúp Liên Xô thế nào trong chương trình hạt nhân, nhưng bà đã được chính thức vinh danh khi bà thăm Moskva năm 1979.

Cuối cùng, khi bị lộ là gián điệp vào những năm 1990, Norwood vui vẻ thừa nhận những gì mình đã làm và cho biết bà sẽ làm lại điều đó.

Klaus Fuchs

Ảnh Klaus Fuchs do cảnh sát chụp. Ảnh: History.com

Fuchs là một nhà vật lý sinh ra ở Đức, chạy tới Anh năm 1933 và trở thành công dân Anh năm 1942. Lúc đó, ông đã đề nghị làm gián điệp cho Liên Xô. Cuối năm 1943, Fuchs đã tham gia một nhóm nhà khoa học Anh tới Los Alamos để làm việc cho dự án Manhattan và sau này, ông đã giao những thông tin quan trọng về thiết kế vũ khí nguyên tử cho Liên Xô, giúp họ đẩy nhanh chương trình hạt nhân.

Sau khi các bức điện của Liên Xô được giải mã, Fuchs lộ thân phận gián điệp. Ông đã thừa nhận vào đầu năm 1950. Lời khai của ông khiến giới chức bắt được Harry Gold, một người đưa tin quan trọng cho các gián điệp ở Los Alamos.

David Greenglass

David Greenglass. Ảnh: Getty Images

Đến lượt mình, Gold đã khai ra tên của David Greenglass, một thợ máy của Lục quân Mỹ, từng làm việc tại cơ sở hạt nhân bí mật tại Oak Ridge, Tennessee rồi được giao nhiệm vụ tại Los Alamos năm 1944.

Được anh rể là Julius Rosenberg tuyển làm gián điệp cho Liên Xô, Greenglass đã giao thông tin cho Liên Xô giữa năm 1945, gồm có một bản phác thảo bằng tay và các ghi chú mô tả một loại bom nổ dồn.

Trong lần thú nhận năm 1950, Greenglass đã nhắc đến chị gái mình là Ethel Rosenberg, người đã đánh máy các ghi chú được gửi cho Liên Xô.

Nhờ hợp tác mà Greenglass được giảm án và vợ được miễn tội. Dựa trên lời khai của Greenglass, vợ chồng Rosenberg đã bị kết án và hành quyết tháng 6/1953.

Russell McNutt

McNutt là một kỹ sư dân dụng tại thành phố New York và là bạn của Julius Rosenberg, người đã khuyến khích ông này nhận một việc làm năm 1943 ở Kellex, một công ty xây dựng nhà máy khuếch tán khí để tách urani tại Oak Ridge.

Rosenberg đã kết nối McNutt với cơ quan an ninh KGB của Liên Xô. Mặc dù ông trao cho người Liên Xô thiết kế nhà máy, nhưng McNutt từ chối đề nghị của Kellex về chuyển từ New York tới Oak Ridge, nơi ông ta có thể tiếp cận nhiều dữ liệu khoa học hơn.

Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) đã thẩm vấn McNutt vì ông ta thân với Rosenberg, nhưng họ không bao giờ nghi ông ta là gián điệp. Sau chiến tranh, McNutt đã làm việc cho công ty Gulf Oil và là nhóm trưởng bộ phận Guld-Reston, nơi phụ trách xây dựng cộng đồng theo kế hoạch ở Reston, Virginia – ngay cạnh trụ sở Cục Tình báo Trung ương Mỹ ở Langley.

Về sau, việc McNutt làm gián điệp được tiết lộ trong sổ ghi chép của Alexander Vassiliev, nhà báo và là cựu nhân viên KGB, người từng ghi chép các thông tin nhạy cảm của KGB từ năm 1930-1950.

Clarence Hiskey

Clarence Hiskey (trái) tại tòa án liên bang Brooklyn ngày 11/11/1950. Ảnh: Getty Images

Hiskey là một nhà hóa học, bắt đầu làm việc trong lĩnh vực khuếch tán khí tại Đại học Columbia và sau này được điều tới Phòng thí nghiệm Luyện kim ở Chicago, một bộ phận quan trọng khác của dự án Manhattan. Hiskey đã chuyển thông tin cho GRU, tình báo quân sự Liên Xô chứ không phải KGB.

Sau khi ông bị phát hiện gặp điệp viên Liên Xô Arthur Adams năm 1944, các quan chức tình báo Lục quân Mỹ đã bắt Kiskey đi quân dịch và đưa ông ra tận Alaska.

Lý do phía Mỹ không muốn bắt Hiskey vì nếu họ làm vậy, họ sẽ làm lộ thông tin rằng Hiskey đang làm việc trong dự án tối mật này. Hiskey bị triệu tập để lấy lời khai trước một ủy ban quốc hội sau chiến tranh, nhưng từ chối trả lời câu hỏi về việc bị nghi làm gián điệp. Phía Mỹ thực sự không có bằng chứng cụ thể về Hiskey làm gián điệp.

Hiskey tiếp tục dạy hóa học tại Viện Bách khoa Brooklyn và làm việc tại một số công ty công nghệ sinh học.

Theodore Hall

Theodore Hall. Ảnh: Alama

Khi các bức điện tín của Liên Xô được giải mật giữa những năm 1990, cái tên Theodore Hall xuất hiện. Đây là nhà vật lý trẻ nhất trong dự án Manhattan, là điệp viên thứ ba từng bị nghi ngờ trong một thời gian dài (sau Fuchs và Greenglass) tại Los Alamos.

Với mật danh Mlad, Hall đã tiếp cận các đặc vụ Liên Xô cuối năm 1944 và sớm trao cho họ cập nhật quan trọng về quá trình phát triển bom pluto. FBI lần đầu biết về các hoạt động gián điệp của Hall đầu những năm 1950. Do Hall không thừa nhận, FBI đã để cho ông này đi thay vì để lộ dự án Venona với Liên Xô. Về sau, Hall tới Anh và trở thành một người tiên phong trong nghiên cứu sinh học.

Oscar Seborer

Năm 2019, Harvey Klehr, giáo sư danh dự về chính trị và lịch sử của Đại học Emory đã phát hiện ra sự tồn tại của một điệp viên Liên Xô thứ năm tại Los Alamos sau khi rà soát các tài liệu giải mật gần đây của FBI.

Osca Seborer có mật danh Godsend, là con trai của hai người nhập cư Do Thái từ Ba Lan, là kỹ sư điện và làm việc tại Los Alamos từ năm 1944 tới 1946. Mặc dù chưa rõ chính xác Seborer đã trao cho Liên Xô thông tin gì, nhưng công việc của người này liên quan hệ thống dây của chốt nổ quả bom nguyên tử, do đó ông có thể tiếp cận nhiều thông tin hơn Fuchs và Hall, trong đó có những thông tin tình báo quan trọng về phương pháp nổ dồn.

Hiện tại, Giáo sư Klehr cho biết vẫn chưa rõ Seborer trao những gì cho Liên Xô, chỉ biết đó là thông tin rất quan trọng. Tới lúc FBI biết về hoạt động gián điệp của Seborer giữa những năm 1950, ông này đã rời Mỹ và định cư ở Nga và sống tới khi chết năm 2015.

Thùy Dương - History
Link tham khảo:



Thursday, October 22, 2026

GIA TỘC TÔN TRUNG SƠN: TRĂM NĂM BỂ DÂU - KỲ 2: XA NHÀ LÀM CÁCH MẠNG

Năm 1883, sau khi từ Honolulu (Mỹ) về nước, Tôn Trung Sơn đã đăng ký theo học tại trường y Bác Tế, Quảng Châu và sau đó thi đỗ vào trường Y Hương Cảng (Hồng Công), tiền thân của Đại học Hương Cảng, ông mang hoài bão lớn là làm việc "chữa bệnh cứu người". Ngoài chuyên ngành y khoa, Tôn Trung Sơn còn hiểu biết rộng về các lĩnh vực chính trị, kinh tế, nông nghiệp và kiến thức địa lý thiên văn của các nước Âu Mỹ, được bạn bè đánh giá là người "trên thông thiên văn, dưới tường địa lý".

Tôn Trung Sơn chụp ảnh cùng vợ Lư Mộ Trinh và ba con.

Tuy nhiên, cùng với việc "nhìn nhận thế giới bằng nhãn quan rộng lớn", Tôn Trung Sơn ngày càng tỏ ra bất mãn với hiện thực xã hội phong kiến trong nước. Cha mẹ có ý muốn sớm tìm cho Tôn Trung Sơn một người vợ để ông quên đi lòng trắc ẩn trước hiện thực xã hội và người được chọn là Lư Mộ Trinh, lớn hơn Tôn Trung Sơn 1 tuổi. Mặc dù không phải là người có sắc đẹp hơn người, nhưng Lư Mộ Trinh là một cô gái rất đảm đang và nhanh nhẹn, thông minh.

Tôn Trung Sơn đã không dám trái lệnh cha mẹ và anh trai. Năm 1885, Tôn Trung Sơn trở về quê thành hôn. Năm 1891, Lư Mộ Trinh sinh hạ con trai cả là Tôn Khoa. Cùng năm đó, khi đang học ở Hương Cảng, trong một hoạt động do nhà trường tổ chức, Tôn Trung Sơn đã quen biết Trần Túy Phân, 18 tuổi. Trần Túy Phân sinh năm 1873, tại Đồn Môn, Tân Giới, Hương Cảng, xinh đẹp, tính tình thẳng thắn và đảm đang, chịu khó.

Mặc dù không có học hành, song Trần Túy Phân là một cô gái rất nhanh trí và quả cảm. Hai người lần đầu gặp mặt đã nói chuyện rất thẳng thắn, tâm đầu ý hợp và cả hai cùng có nguyện vọng làm theo Hồng Tú Toàn, lật đổ nhà Mãn Thanh. Tôn Trung Sơn là một thanh niên trẻ, kiến thức học vấn sâu rộng, khí phách đã làm say lòng Trần Túy Phân.

Tôn Dật Tiên với thành viên Đồng Minh hội

Năm 1895, sau khi khởi nghĩa Quảng Châu thất bại, Tôn Trung Sơn bị triều đình nhà Thanh liệt vào danh sách tội phạm truy nã hàng đầu, mọi người trong gia đình cũng bị liên lụy. Lư Mộ Trinh đã mang con tới nhà Tôn Mi, anh trai cả của Tôn Trung Sơn ở Honolulu (Mỹ) và đã nhiều lần gửi tiền giúp Tôn Trung Sơn làm cách mạng. Năm 1907, công việc kinh doanh của Tôn Mi bị phá sản, Lư Mộ Trinh cùng hai con không còn cách nào khác phải quay trở về Cửu Long, Hương Cảng và mở một nông trường nhỏ làm kế sinh nhai, cuộc sống rất kham khổ.

Ngày 10/10/1911, cuộc cách mạng Tân Hợi nổ ra. Phong trào này nhanh chóng bùng nổ ở nhiều tỉnh khác. Sau đó 2 tháng, Tôn Trung Sơn về nước, được đại hội đại biểu các tỉnh họp ở Nam Kinh đề cử làm tổng thống lâm thời. Ngày 1/1/1912, Tôn Trung Sơn tuyên thệ nhậm chức Đại tổng thống lâm thời Trung Hoa Dân Quốc tại Nam Kinh, được rất nhiều người kính trọng và ngưỡng mộ.

Mặc dù ở địa vị cao, Tôn Trung Sơn vẫn giữ tác phong sinh hoạt giản dị. Phạm Phương Trấn, nhà nghiên cứu Lăng Trung Sơn cho biết, khi Lư Mộ Trinh đem Tôn Khoa và 2 con gái là Tôn Diễm và Tôn Uyển tới phủ tổng thống Nam Kinh. Do thiếu phòng ở nên Tôn Khoa đã phải ngủ ở phòng cần vụ ở phía đông. Lư Mộ Trinh tự sắp xếp thu dọn phòng, nấu nướng, giặt giũ, cuộc sống một gia đình 5 người rất đơn giản. Tuy nhiên, chính vào lúc Tôn Trung Sơn đạt tới đỉnh cao của sự thành đạt thì Trần Túy Phân lại ra đi.

Quang cảnh đường Nam Kinh sau cuộc khởi nghĩa Thượng Hải năm 1911, hai bên đường đều treo cờ Ngũ tộc cộng hòa, sau này trở thành quốc kỳ chính thức của Trung Hoa Dân Quốc.

Mọi người đã đưa ra rất nhiều suy đoán về nguyên nhân ra đi của Trần Túy Phân. Tuy nhiên, năm 1942, Trần Túy Phân đã giải thích rằng: "Tôi theo Tôn Trung Sơn chống lại nhà Thanh và xây dựng Trung Hoa Dân Quốc, chí nguyện cứu nước cứu dân đã thành......Tôi tự biết mình xuất thân bần hàn, kiến thức có hạn, tự nguyện ra đi, không phải là Tôn Trung Sơn từ bỏ tôi, Tôn Trung Sơn đối đãi với tôi rất tốt và cũng không phụ lòng tôi".

Ba tháng sau khi nhậm chức Tổng thống, Tôn Trung Sơn đã thực hiện lời hứa nhường chức này cho Viên Thế Khải với điều kiện ông này phải bắt vua nhà Thanh thoái vị để thành lập chế độ cộng hòa. Tuy nhiên, năm 1913, Tống Giáo Nhân - một nhân vật quan trọng của Quốc Dân Đảng đồng thời là người sắp đảm nhận chức vụ Thủ tướng nội các - bị ám sát. Viên Thế Khải bị nghi là thủ phạm đứng đằng sau vụ này.

Sự kiện này khiến Tôn Trung Sơn rất phẫn nộ và ông đã đứng lên kêu gọi các tỉnh miền Nam khởi binh chống lại Viên Thế Khải, sự kiện được gọi là "cuộc cách mạng lần thứ hai". Tuy nhiên, do thực lực mỏng, yếu, cuộc cách mạng lần thứ hai nhanh chóng thất bại. Một loạt các đảng viên cách mạng gồm Tôn Trung Sơn, Hoàng Hưng... đã phải lưu vong ở Nhật Bản, trong số đó bao gồm cả gia đình thương gia giàu có Tống Diệu Như, có mối quan hệ mật thiết với Tôn Trung Sơn và đảng cách mạng.

KỲ 3: GẮN BÓ CẢ CUỘC ĐỜI VỚI TỐNG KHÁNH LINH

Ngọc Thúy (Tổng hợp)
Theo: baotintuc

MỘC LAN HOA - TIỀN DUY DIỄN


Mộc lan hoa

Thành thượng phong quang oanh ngữ loạn.
Thành hạ yên ba xuân phách ngạn.
Lục dương phương thảo kỷ thời hưu,
Lệ nhãn sầu trường tiên dĩ đoạn.

Tình hoài tiệm biến thành suy vãn.
Loan kính chu nhan kinh ám hoán.
Tích niên đa bệnh yếm phương tôn,
Kim nhật phương tôn duy khủng thiển.


木蘭花 - 錢惟演

城上風光鶯語亂
城下煙波春拍岸
綠楊芳草幾時休
淚眼愁腸先已斷

情懷漸變成衰晚
鸞鏡朱顏驚暗換
昔年多病厭芳尊
今日芳尊惟恐淺


Mộc lan hoa 
(Dịch thơ: Châu Hải Đường)

Cảnh sắc trên thành oanh hót rối;
Khói sóng chân thành xuân vỗ gọi.
Cỏ thơm dương biếc thuở nào nguôi;
Mắt lệ lòng sầu đà đứt nhói.

Tâm tình dần đã nên già cỗi;
Thảng thốt soi gương nhan sắc đổi.
Thuở xưa nhiều bệnh rượu không ưa;
Nay rượu riêng hiềm sao ít ỏi!


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tiền Duy Diễn 錢惟演 (962-1034) tự Hy Thánh 希聖, người Lâm An (nay thuộc Hàng Châu, Chiết Giang), là một thi nhân và chính trị gia đời Bắc Tống. Ông là cháu đời thứ 14 của Tiền Thục 錢俶, lãnh tụ Tây Côn thể.

Nguồn: Thi Viện



VIẾT CHO AI?


Người cầm bút viết cho ai? Thì cho người đọc! Câu trả lời thật đơn giản. Tưởng không ai có thể nói điều gì khác hơn được. Nhưng vấn đề sẽ trở thành vô cùng phức tạp nếu chúng ta hỏi tiếp: Người đọc là ai?

Phức tạp vì thật ra không có cái gọi là người đọc chung chung và muôn thuở. Khái niệm "người đọc" chỉ là một cái gì rất mới, một sản phẩm của xã hội hiện đại, hơn nữa, ngay trong xã hội hiện đại, khái niệm "người đọc" cũng chỉ là một khái niệm hàm hồ, và vì tính chất hàm hồ ấy, nhiều người đã lợi dụng nó cho những trò chơi đầy gian lận.

Note: hình ảnh trong bài viết này là minh họa

Xin đừng quên là ở Việt Nam, trước thế kỷ 20, do sự kiểm soát của vua chúa quá nghiêm ngặt, do điều kiện kỹ thuật lạc hậu, do nền kinh tế nghèo nàn và cũng do nhiều yếu tố tâm lý và văn hoá khác, số lượng tác phẩm được khắc in rất hiếm. Có, nhưng hiếm. Cũng có cả trường hợp người ta mang tận sang Trung Quốc để thuê in nhưng trường hợp ấy lại càng hiếm. Hình thức tồn tại phổ biến nhất của các tác phẩm văn học, dù bằng chữ Nôm hay chữ Hán, là dưới dạng viết tay. Tất cả tác phẩm của những cây bút được xem là đại thụ của văn học Việt Nam thời trung đại, từ Nguyễn Trãi đến Nguyễn Du, từ Đoàn Thị Điểm đến Hồ Xuân Hương, đều được viết tay. Những bản khắc in mà chúng ta sưu tầm được hiện nay thường xuất hiện rất muộn sau khi tác giả đã mất. Muộn có khi đến cả mấy thế kỷ.


Người ta làm gì với các bản viết tay ấy? Thường là để tặng bạn bè hoặc "để ở nhà thờ", tức là để cho con cháu chuyền cho nhau đọc. Hoạ hoằn cũng có trường hợp người ta dâng lên vua chúa, chắc là với hy vọng sẽ được lọt vào mắt xanh của vua chúa, từ đó, may ra, được trọng dụng hoặc được triều đình tài trợ cho việc khắc in. Nhưng dù thế nào đi nữa thì số người thực sự đọc các tác phẩm viết tay ấy cũng vô cùng ít ỏi. Ít ỏi đến độ không thành một "giới", như chữ "giới độc giả" chúng ta hiện đang dùng.

May mắn, phần nhiều những người đọc ít ỏi ấy lại là những người ưu tú trong xã hội thời bấy giờ. Do vị thế xã hội, chính trị và văn hoá của họ, những người đọc ấy có thể tác động đến quần chúng, những người chỉ nghe tác phẩm, hoặc thậm chí, chỉ nghe-nói-về-tác-phẩm, để tác phẩm ấy dần dần trở thành một thứ tài sản văn hoá của cả xã hội và của lịch sử. Có thể nói hầu hết những tác giả trung đại còn lưu danh đến ngày nay chủ yếu là nhờ sự "tiến cử" của số người đọc ít ỏi này. Chứ không phải là quần chúng. Chẳng có quần chúng nào được đọc những Ức Trai thi tập hay ngay cả Quốc âm thi tập lúc Nguyễn Trãi còn sống. Cũng chẳng có quần chúng nào được đọc những Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục hay ngay cả Truyện Kiều lúc sinh thời của Nguyễn Du. 

Một phần vì họ không biết chữ. Phần khác, ngay cả khi họ biết chữ, họ cũng không đọc được: không phải ai cũng có cơ hội cầm được trong tay những bản chép tay hiếm hoi ấy. Do đó, thời trung đại, quần chúng bao giờ cũng là những kẻ đến muộn, khi mọi giá trị đã được khẳng định một cách chắc chắn. Nói cách khác, quần chúng chỉ biết những tác giả ĐÃ nổi tiếng rồi mà thôi.


Độc giả, với tư cách một tầng lớp xã hội cũng như với tư cách một trong những thành tố quan trọng làm nên sinh hoạt văn học chỉ thực sự xuất hiện khi ngành báo chí và xuất bản đã phát triển. Khi thơ văn trở thành một thứ hàng hoá, người đọc mới có cơ hội làm một thứ khách tiêu thụ, những người, thứ nhất, có thói quen đọc sách khá đều đặn, ít nhất trong một thời gian nào đó; thứ hai, giữ một khoảng cách nhất định với tác giả, chỉ tiếp xúc với tác phẩm và, trong phần lớn các trường hợp, thưởng thức tác phẩm như một công trình nghệ thuật thuần tuý. Một tầng lớp độc giả như thế chỉ có thể thực sự ra đời tại Việt Nam vào đầu thế kỷ 20.

Trong mấy thập niên đầu, khối độc giả ấy tương đối thuần nhất. Trong khi chưa có những tài liệu xã hội học văn học cụ thể, chỉ dựa vào những kiến thức lịch sử và văn hoá chung chung, chúng ta cũng có thể hình dung đại khái diện mạo của tầng lớp độc giả mấy chục năm đầu tiên của thế kỷ 20, như độc giả của Tản Đà chẳng hạn, như sau: đại đa số đó là những công chức cấp trung từ quận, huyện lên đến tỉnh, thành; đó cũng là những trí thức đã học chữ Hán một thời gian rồi sau đó chuyển sang học tiếng Pháp và chữ quốc ngữ; những người ở buổi giao thời của hai nền văn hoá Đông và Tây. Họ có chút vốn Hán học đủ để có thể cảm thụ những tác phẩm được sáng tác theo hệ mỹ học của thơ Đường, thơ Tống; hơn nữa, để tự xem mình không phải chỉ là kẻ tiêu thụ mà còn là một thứ tri âm của tác giả, từ đó, dẫn đến những hành động liên tài đầy ưu ái như hành động của nhiều người đối với Tản Đà. Họ lại có chút vốn Tây học để dễ dàng đồng cảm và ủng hộ một số tìm tòi, từ phương diện thể loại đến phương diện ngôn ngữ và tư tưởng của các tác giả hiện đại như Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, v.v...


Độc giả thuộc thế hệ 1932-45 cũng tương đối thuần nhất. Hầu hết đó là những thị dân và trí thức. Dù thuộc giới nào thì họ cũng đều khá trẻ. Tôi cho đây là một sự may mắn lớn cho nhóm Tự Lực văn đoàn và phong trào Thơ Mới. Nói cách khác, theo tôi, lý do chính khiến nhóm Tự Lực văn đoàn và phong trào Thơ Mới thành công một cách dễ dàng và nhanh chóng trong việc đánh bại nền văn học cũ không phải chỉ ở tài năng của họ mà còn nhờ họ gặp được một tầng lớp độc giả lý tưởng. Đó là những người đang hăm hở với cái mới và đã từng ít nhiều được làm quen với cái mới qua các tác giả hiện thực và lãng mạn chủ nghĩa trong văn học Pháp thế kỷ 19 từ trong ghế nhà trường. Với một kiến thức văn học và một quan điểm mỹ học như thế, họ không hề có chút ngỡ ngàng gì khi tiếp cận với các tác phẩm được xem là cách mạng của các cây bút tiên phong thời bấy giờ ở Việt Nam. Họ yêu thích ngay cái vẻ lẳng lơ táo bạo của Thế Lữ, sự cuồng nhiệt mang dáng dấp Tây phương của Xuân Diệu, sự phê phán gay gắt của Nhất Linh và Khái Hưng đối với chế độ đại gia đình và lễ giáo phong kiến, lời kêu gọi theo mới, "hoàn toàn theo mới không chút do dự" của Hoàng Đạo, v.v...


Có thể nói các cây bút tiên phong thời 1932-45 không cần chinh phục độc giả: những người vốn là những độc giả của Hugo, của Lamartine, của Baudelaire trong các nhà trường trung học theo chương trình giáo dục của Pháp đã chờ đợi sẵn để làm những độc giả nhiệt thành của các cây bút Việt Nam. Sự đồng cảm gần như tức khắc giữa các tác giả và độc giả của họ thời 1932-45 là sự đồng cảm của những người học cùng một thầy, cùng được trang bị một số tiền đề văn hoá và thẩm mỹ khá giống nhau. Họ đã là những tri âm của nhau ngay cả trước khi động tác đọc được khởi sự.

Các thế hệ cầm bút sau này không còn bao giờ được hưởng những sự may mắn như thế nữa.

Như thế hệ nhà văn sau năm 1954 ở cả hai miền Nam và Bắc, chẳng hạn. Ở cả hai miền, sau năm 1954, chương trình giáo dục các cấp đều được Việt hoá. Sự thay đổi này là điều hoàn toàn hợp lý. Người ta không thể phản đối và cũng không nên tiếc nuối. Tuy nhiên, ngay cả khi rất mực hợp lý, sự thay đổi ấy cũng có cái giá của nó. Ví dụ, trong bộ môn văn học, tuy học sinh và sinh viên có cơ hội đào sâu hơn về văn học Việt Nam, nhưng kiến thức về văn học thế giới, cụ thể là văn học Pháp, sẽ mỏng hẳn đi. Hậu quả là, thứ nhất, học sinh và sinh viên - và cũng là người đọc nói chung - thường biết khá kỹ về văn học trong quá khứ nhưng lại rất lờ mờ và đầy hoang mang đối với nền văn học đương đại; thứ hai, từ đó, người đọc luôn luôn đi sau giới sáng tác, nhất là những người sáng tác có nhiều khát vọng cách tân, thích phiêu lưu vào các sự tìm tòi và thử nghiệm mới mẻ. Điều này, theo tôi, có thể là nguyên nhân chính làm cho một số cây bút tiên phong của Việt Nam trong nửa thế kỷ vừa qua cảm thấy khá lạc lõng và vì cảm giác lạc lõng ấy mà hầu hết, kẻ sớm người muộn, dần dần bỏ cuộc.


Độc giả Việt Nam sau năm 1954 không những bị đánh mất cơ hội song hành với những cây bút tiên phong mà còn bị phân hoá nghiêm trọng. Phân hoá về tuổi tác: nhờ các phong trào xoá nạn mù chữ, nhờ chính sách cưỡng bách giáo dục và nhờ hệ thống phát hành cũng như hệ thống thư viện được mở rộng, độc giả không còn dừng lại ở lứa tuổi thanh niên hay trung niên như thời 1932-45 mà xê xích từ chín, mười tuổi đến bảy, tám chục tuổi. Phân hoá về tầng lớp xã hội: cũng nhờ các yếu tố kể trên, độc giả văn học hiện nay không phải chỉ giới hạn ở thành thị và trong giới tiểu tư sản mà còn mở rộng đến nông thôn, lan xuống tận những thành phần bần cùng nhất. Ngoài ra, còn có sự phân hoá về văn hoá: xưa, chúng ta chỉ chịu ảnh hưởng văn hoá của Trung Hoa, sau, của Pháp; hiện nay, ngoài hai nền văn hoá ấy, một số không ít độc giả còn chịu ảnh hưởng của Nga, của các xứ Đông Âu và các quốc gia nói tiếng Anh, v.v...

Sự phân hoá trầm trọng ấy làm cho khái niệm "độc giả" trở thành rộng rãi đến độ vô nghĩa. Làm thế nào để chữ "độc giả" có thể bao gồm cả một em bé ngồi đọc truyện tranh với một ông lão miệt mài bên cạnh các trang sách Hán Nôm? một chị bán vải ngoài chợ khi nào rảnh thì đọc tiểu thuyết khi nào khách tới thì nhét cuốn tiểu thuyết xuống đít với một người để hết cả tâm hồn của mình vào âm vang của từng chữ, vào sự chuyển động của từng hình ảnh trong thơ? một người lâu lâu mới đọc một cuốn sách và cũng chỉ đọc một cách ơ hờ với một kẻ nghiền ngẫm cả hàng ngàn cuốn sách và mỗi lần đọc là một lần nghĩ ngợi, đào sâu, so sánh, cân nhắc? Tất cả hầu như chỉ giống nhau ở mỗi một động tác: đọc. Là hết. Còn cách đọc của họ, mục tiêu đọc của họ, những sự tương tác xuất hiện trong quá trình đọc của họ, mức độ cảm thụ của họ thì khác hẳn nhau.


Sự phân hoá của khái niệm độc giả cũng làm cho không người nào còn có thể hy vọng trở thành thần tượng của mọi độc giả được nữa. Không ai có thể làm thoả mãn mọi thị hiếu và mọi trình độ thẩm mỹ của khối đông đảo lên đến cả mấy chục triệu người gọi là "độc giả" Việt Nam hiện nay. Thành ra, trong thời đại hiện nay, nhà văn nào cũng là nhà văn của một giới độc giả nhất định: ví dụ, có người viết cho thiếu nhi; có người viết cho người lớn. Cho người lớn, có người nhắm vào những độc giả chỉ đọc để giết thì giờ; có người nhắm vào những độc giả đọc vì một nhu cầu thẩm mỹ.

Viết cho hạng độc giả thích những lý tưởng thẩm mỹ ổn định không khó. Những lý tưởng thẩm mỹ ấy đã thành quy phạm và khuôn sáo rồi. Người ta chỉ cần có chút tài hoa để mô phỏng một bậc thầy nào đó. Người đọc thích những câu thơ tình tứ và mộc mạc như ca dao ư? Thì họ mô phỏng theo thơ Nguyễn Bính. Người đọc thích những tiểu thuyết vạch trần những mặt trái xấu xa dơ dáy của hiện thực ư? Thì họ mô phỏng theo cách viết của Nguyễn Công Hoan hay Vũ Trọng Phụng. Vân vân. Cứ thế, để tiếp cận được với hạng độc giả này, người cầm bút phải quá giang các tác giả lớn thời trước.

Quá giang Nguyễn Du rồi quá giang Xuân Diệu. Quá giang Nhất Linh rồi quá giang Nam Cao. Có điều, con đường đến với hạng độc giả này cũng là con đường đi ngược về quá khứ. Về một thời đã qua.

Như vậy, người cầm bút không thể viết cho toàn thể người đọc, cho "độc giả" nói chung. Đó là điều bất khả. Người cầm bút cũng không nên ăn theo những độc giả của người khác. Đó là con đường rất ít tính sáng tạo. Người cầm bút chỉ có một con đường để lựa chọn: viết cho những độc giả của mình.

Nhưng những độc giả ấy ở đâu? Không ai biết chắc cả. Họ không có sẵn như một lực lượng. Họ rải rác đâu đó, nằm mai phục trong đám đông vô danh và vô hình. Họ được tập hợp một cách tự động và tự phát theo tín hiệu phát ra từ một tác giả nào đó mà họ cho là đồng điệu.


Lịch sử văn học, nhìn từ một góc độ nào đó, một phần là lịch sử vận động của các nhóm độc-giả-đồng-điệu như thế. Sự tồn tại của một tác phẩm lớn không phải chỉ là sự chiến thắng của một tài năng sáng tạo mà còn là sự chiến thắng của một hệ thẩm mỹ, và đồng thời là sự chiến thắng của một nhóm độc-giả-đồng-điệu nào đó.

Nguyễn Hưng Quốc

VÌ SAO BÁI PHẬT PHẢI THẮP HƯƠNG?

Mỗi dịp lễ tết, các ngôi chùa cổ trên những danh sơn thắng cảnh thường chật kín người. Trước chính điện trang nghiêm, vô số tín đồ thành kính cầm hương, thần sắc nghiêm cẩn, hướng về Phật và Bồ Tát để cầu nguyện.


Khung cảnh khói hương lượn lờ ấy đã trở nên quá quen thuộc. Nhưng có bao giờ trong khoảnh khắc nào đó bạn chợt nảy sinh một câu hỏi: vì sao bái Phật nhất định phải dùng hương? Một nén hương mảnh mai như vậy, rốt cuộc dựa vào điều gì mà trở thành phương tiện giao tiếp giữa con người và thần Phật?

Thật ra, đây không phải là phong tục riêng của Trung Hoa. Nhìn ra thế giới, từ Ba Tư cổ đại, Ai Cập cổ đại cho đến nền văn minh Maya bí ẩn… những nền văn minh cổ xưa sống ở các không gian địa lý hoàn toàn khác nhau lại không hẹn mà cùng chọn đốt hương liệu làm nghi thức quan trọng nhất để giao tiếp với thần linh.

Đó chỉ là một sự trùng hợp của lịch sử, hay tổ tiên loài người từng cùng phát hiện ra một bí mật nào đó của vũ trụ mà con người hiện đại đã lãng quên?

Khói hương lượn lờ: “Sứ giả” nối trời và đất

Người xưa nhìn thế giới với nhiều suy tư và tưởng tượng đầy chất triết lý. Họ cho rằng thần linh cư ngụ ở những tầng không gian vi tế trên cao, vô hình vô tướng. Con người sống trong thế giới vật chất, vậy làm thế nào để truyền đạt tâm ý đến thần linh?

Câu trả lời chính là “khói”.

Khi hương liệu cháy, vật chất hữu hình dần biến thành làn khói xanh mỏng nhẹ, bay lên không trung rồi tan vào vô hình. Quá trình từ hữu hình hóa thành vô hình, từ dưới bay lên trên ấy được xem như con đường nối liền “nhân gian” và “thiên giới”.

Làn khói ấy không chỉ tạo nên bầu không khí trang nghiêm mà còn được coi như một vật mang thông điệp. Khói bay tới đâu, lời cầu nguyện được cho là theo đó mà đến. Vì khói hương vô cùng mịn và vi tế, người xưa tin rằng nó có thể đi tới những không gian khác.

Chính vì vậy, hương được xem là “sứ giả” giữa con người và thần linh.

Mượn hương để tĩnh tâm: Từ “nghe hương” đến “hỏi lòng”

Ngoài ý nghĩa tượng trưng, việc đốt hương còn mang một tác dụng thực tế khá rõ ràng: thanh tịnh và an thần.

Nhiều loại hương liệu tự nhiên như trầm hương hay đàn hương vốn là dược liệu quý. Trong Bản Thảo Cương Mục từng ghi rằng chúng có tác dụng “thông khiếu khai bế, điều hòa khí mạch, an thần định chí”.

Trong cuộc sống ồn ào của trần thế, tâm con người thường nóng nảy và bất an. Khi bước vào chùa, thắp một nén hương, hương thơm thanh nhã lan tỏa khiến cơ thể dần thư giãn, những tạp niệm cũng theo đó mà lắng xuống.

Người xưa nói: “Hương khí dưỡng tính.”

Chỉ khi tâm thần an tĩnh, con người mới có thể nội tỉnh bản thân, cảm ngộ tạo hóa trời đất. Khói hương vi tế sẽ trực tiếp đến không gian khác, chính là thế giới vi diệu nơi thần linh ngự trị. Đồng thời, làn khói mờ mịt khiến tâm người lắng đọng, đạt đến trạng thái “tâm thanh tịnh”.


Nguồn gốc của hương: Ban đầu chỉ là “củi”

Nguồn gốc của hương gắn liền với một lịch sử văn minh rất lâu dài.

Trong dân gian có câu: “Mở cửa bảy việc: củi, gạo, dầu, muối, tương, giấm, trà.” Vì sao “củi” lại đứng đầu?

Bởi ở giai đoạn đầu của văn minh nhân loại, lửa chính là nền tảng của sự sống. Có củi mới có lửa; có lửa mới nấu chín thức ăn, xua đuổi thú dữ và mang lại ánh sáng.

Vì thế, hương sớm nhất thực ra chính là gỗ đang cháy. Người cổ đại kính sợ sức mạnh của lửa. Để tạ ơn trời đất, họ thường chất gỗ lại rồi đốt lên, tổ chức nghi lễ tế trời gọi là “liêu tế”.

Cho đến ngày nay, tại Thiên Đàn ở Bắc Kinh vẫn còn giữ “liêu lô”, lò dùng để đốt củi thông và bách khi tế trời. Ở Tây Tạng, người dân cũng đốt cành bách trong nghi lễ cúng thần núi, thậm chí còn tưới nước để tạo ra nhiều khói hơn.

Những nghi thức ấy có thể xem như “hóa thạch sống” còn sót lại của nghi lễ tế lửa thời thượng cổ.


Hương: Chính khí của trời đất

Khi văn minh phát triển, con người ngày càng chú trọng hơn đến việc lựa chọn nguyên liệu làm hương.

Trong Thần Nông Bản Thảo Kinh có một câu rất nổi tiếng:

“Hương giả, khí chi chính; chính khí thịnh, tắc trừ tà tị uế.”

Ý nói rằng hương khí chính là “chính khí” của trời đất. Khi chính khí mạnh mẽ thì có thể xua đuổi tà khí và uế khí.

Thực vật hấp thụ tinh hoa của trời đất, ánh sáng mặt trời và dưỡng chất từ đất mà sinh trưởng. Hương thơm của chúng được xem là sự kết tinh của năng lượng tự nhiên. Khi đốt lên, con người như đang giải phóng nguồn “chính khí” ấy.

Chữ “hương” trong giáp cốt văn có phần trên là “thử” (ngũ cốc), phía dưới là “cam” (ngọt ngon). Thuyết Văn Giải Tự giải thích rằng đó là mùi thơm dễ chịu.

Điều này cho thấy trong quan niệm của người xưa, hương khí cũng giống như lương thực, là nguồn năng lượng có thể nuôi dưỡng thân tâm và chữa lành con người

Từ chốn miếu đường đến đời sống thường nhật

Đến thời Xuân Thu – Chiến Quốc, nhiều tác phẩm như Thi Kinh hay Sở Từ đã ghi chép phong tục đeo hương thảo. Từ đó, hương dần bước ra khỏi đàn tế thần linh để đi vào đời sống, trở thành biểu tượng của việc “tu thân dưỡng tính”.

Đến thời Đường – Tống, văn hóa hương phát triển rực rỡ. Hương trở thành bạn đồng hành của văn nhân khi đọc sách, pha trà, cũng là nghi thức trang trọng trong các buổi thiết triều hay lễ thăng quan.


Khi ấy, người ta thường dùng hương hoàn, hương bánh hoặc hương bột, thưởng hương bằng cách đốt gián tiếp qua lửa.

Còn “hương que” là loại phổ biến nhất ngày nay, thực ra chỉ bắt đầu lan rộng từ thời Minh và Thanh. Người ta dùng keo thực vật kết dính bột hương thành dạng que, vừa tiện vận chuyển vừa dễ sử dụng.

Phát minh đơn giản ấy đã đưa hương từ chốn cung đình và miếu đường bước vào từng mái nhà bình dân. Từ đó, mỗi người đều có thể thắp một nén hương thanh, gửi gắm vào đó ước vọng về một cuộc sống tốt đẹp.

Tú Uyên biên dịch
Theo: vandieuhay

Wednesday, October 21, 2026

GIA TỘC TÔN TRUNG SƠN: TRĂM NĂM BỂ DÂU - KỲ 1: TỪ BẦN CỐ NÔNG TRỞ THÀNH VĨ NHÂN

Cách đây tròn 100 năm, tiếng pháo vang rền của cuộc cách mạng Tân Hợi khai sinh một kỷ nguyên mới của Trung Quốc. Tôn Trung Sơn là người tiên phong trong cuộc cách mạng đó và trong cuộc đấu tranh đầy cam go mấy chục năm liên tiếp, ông và gia tộc đã trải qua nhiều thăng trầm cùng với sự biến đổi của thời đại.

Tôn Trung Sơn

Theo sử sách ghi lại, tổ tiên của Tôn Trung Sơn là danh gia vọng tộc ở Trung Nguyên, cư trú tại Trần Lưu, Hà Nam (ngày nay là thành phố Khai Phong). Viễn tổ của Tôn Trung Sơn là Tôn Trác tự Huyền Kỷ từng giữ chức Tiết độ sứ lưỡng giang triều Đường. Con trai của ông là Tôn Lợi rất anh dũng thiện chiến, có công trong việc bình định "loạn Hoàng Sào" và được phong là Đông Bình Hầu, đóng quân tại huyện Kiền Hóa, châu Tiết Kiền (nay là Ninh Đô, Giang Tây).

Sau khi hết thời kỳ làm quan, Tôn Lợi đã về định cư tại Ninh Đô. Tôn Lợi chính là khởi tổ của gia tộc họ Tôn di cư tới vùng Giang Nam. Trong cuốn "Bát thập thuật lược" của Tôn Khoa có nói đến cháu nội của Tôn Lợi là Tôn Hữu Kính phải di cư xuống Phúc Kiến để tránh binh họa. Tôn Hữu Kính được cho là khởi tổ của gia tộc họ Tôn di cư xuống Phúc Kiến. Sau này gia tộc họ Tôn đã định cư tại Phúc Kiến 4 đời.

Đến năm Vĩnh Lạc, triều Minh, con cháu đời thứ 7 của Tôn Lợi là Tôn Hữu Tùng lại di cư từ Phúc Kiến tới huyện Tử Kim, tỉnh Quảng Đông ngày nay. Tôn Hữu Tùng được cho là khởi tổ của gia tộc họ Tôn di cư từ Phúc Kiến về Quảng Châu. Kể từ Tôn Hữu Tùng trở đi, trải qua 11 thế kỷ, đến thế hệ thứ 18 của Tôn Lợi là Tôn Đỉnh Tiêu, một nghĩa sĩ chống nhà Thanh, do khởi binh không thành cuối cùng những người trong gia tộc họ Tôn đã phải nhiều lần li tán khắp nơi. Con trai thứ của Tôn Đỉnh Tiêu là Tôn Liên Xương đã phải di cư về huyện Hương Sơn, lấy nghề cày cấy và chài lưới làm kế sinh nhai. Tôn Liên Xương là khởi tổ của gia tộc Tôn Trung Sơn định cư tại Hương Sơn.

Những người thuộc các thế hệ trước của Tôn Kính Hiền đều làm nghề canh tác trồng trọt, gia cảnh bần hàn, thuộc tầng lớp gia đình bần nông điển hình ở Trung Quốc. Đến thế hệ cha Tôn Trung Sơn là Tôn Đạt Thành, cuộc sống càng trở nên khó khăn gian khổ. Tôn Đạt Thành vừa làm nông nghiệp vừa làm canh phu, cuộc sống của gia đình rất kham khổ, thức ăn chính của cả gia đình chỉ là khoai tây.

Sinh năm 1866, tại thôn Thúy Hanh, cách thành phố Trung Sơn, tỉnh Quảng Đông khoảng 25 km, Tôn Trung Sơn tên thật là Tôn Văn, là con thứ 5 trong một gia đình có 6 anh chị em. Anh trai thứ hai và chị gái thứ 3 mất từ nhỏ. Anh cả là Tôn Mi, chị gái thứ 4 là Tôn Diệu Xuyến, em gái út là Tôn Thu Khởi.

Tôn Trung Sơn (thứ 4 hàng sau từ phải sang) chụp ảnh cùng gia đình ở Hương Sơn tháng 4/1901.

Ngay từ khi 6 tuổi Tôn Trung Sơn đã theo chị là Tôn Diệu Xuyến lên núi lấy củi, kiếm rau cho lợn. Khi lớn hơn một chút, Tôn Trung Sơn có thể làm được tất cả các việc nghề nông. Ngoài ra, hàng năm Tôn Trung Sơn còn phải đi chăn trâu thuê nhiều tháng để đổi công trâu về cày ruộng cho gia đình.

Sử sách ghi chép rằng, Tôn Trung Sơn thời thơ ấu có tính khí rất quật cường và tinh nghịch, thường trèo lên cây me để lấy tổ chim. Cậu bé thường dùng đá ném chính xác những con chim nhỏ. Chính vì vậy, người trong thôn đặt cho cậu biệt danh "đứa trẻ đá". Khi Tôn Trung Sơn ra đời, miền nam Trung Quốc vừa trải qua phong trào Thái Bình Thiên Quốc gây chấn động và có tiếng vang lớn.

Gia phả nhà Tôn Trung Sơn.

Sự tích của quân Thái Bình đã được lưu truyền khắp khu vực lưỡng quảng, đồng thời cũng trở thành chủ đề nóng của dân chúng địa phương. Tôn Trung Sơn rất thích nghe những câu chuyện về phong trào này và ông vô cùng ngưỡng mộ Hồng Tú Toàn. Tôn Trung Sơn thường tập hợp những đứa trẻ trong thôn cùng nhau chơi trò "thiên binh bắt chó nhà Thanh". Những đứa trẻ cùng nhau cầm gậy tạo thành một đoàn quân và phong Tôn Trung Sơn làm lãnh tụ và làm "Hồng Tú Toàn thứ hai" trong trò chơi.

Năm 1878, khi Tôn Trung Sơn 12 tuổi, được sự ủng hộ và trợ giúp của người anh cả Tôn Mi đang làm ăn tại Honolulu (Mỹ), ông đã tới Honolulu du học trong thời gian 5 năm. Sau khi được tiếp thu nền giáo dục phương Tây, ông không chỉ có những tiến bộ trong con đường học tập mà còn được mở rộng tầm mắt ra thế giới bên ngoài.

KỲ 2: XA NHÀ LÀM CÁCH MẠNG

Ngọc Thúy (tổng hợp)
Theo: baotintuc

NGỌC ĐÀI THỂ KỲ 11 - QUYỀN ĐỨC DƯ


Ngọc đài thể kỳ 11

Tạc dạ quần đới giải,
Kim triêu hỉ tử phi.
Diên hoa bất khả khí,
Mạc thị cảo châm quy.


玉臺體其十一

昨夜裙帶解
今朝蟢子飛
鉛華不可棄
莫是稿砧歸


Thể ngọc đài kỳ 11
(Dịch thơ: Nguyễn Minh)

Đêm qua bỗng tuột lỏng đai quần
Nay sáng nhện sa xuống trước sân
Son phấn mau mau tô điểm đẹp
Chẳng là điềm báo chàng về gần?


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Quyền Đức Dư 權德輿 (759-818) tự Tải Chi 載之, người Lược Dương, Thiên Thuỷ (nay là huyện Tân An, tỉnh Cam Túc, có thuyết nói là huyện Lược Dương, tỉnh Thiểm Tây), nhà ở Đan Dương, Giản Châu (nay là huyện Đan Dương, tỉnh Giang Tô). Ông từng làm quan đến Lễ bộ thị lang đồng Bình chương sự (Tể tướng), nhưng do không hợp với Lý Lâm Phủ 李林甫 nên bị biếm làm Tiết độ sứ Sơn nam tây đạo. Ông vốn nổi tiếng là người giỏi văn chương ngay từ hồi còn trẻ, ba tuổi đã biết tứ thanh, bốn tuổi biết làm thơ. Ông quán thông kinh thuật, tư thái phong lưu, cũng tự nhiên như thơ ông. Thơ ông nay còn truyền Quyền văn công tập 5 quyển. Toàn Đường thi biên thơ ông thành 1 quyển. Thơ ông nhiều nhưng không thực đặc sắc, ngoài một số ít bài nhạc phủ.

Nguồn: Thi Viện