Thursday, April 3, 2025

BỐC TOÁN TỬ - LÝ CHI NGHI


Bốc toán tử - Lý Chi Nghi

Ngã trú Trường Giang đầu,
Quân trú Trường Giang vĩ.
Nhật nhật tư quân bất kiến quân,
Cộng ẩm Trường Giang thuỷ.

Thử thuỷ kỷ thời hưu?
Thử hận hà thời dĩ?
Chỉ nguyện quân tâm tự ngã tâm,
Định bất phụ tương tư ý.


卜算子 - 李之儀

我住長江頭
君住長江尾
日日思君不見君
共飲長江水

此水幾時休
此恨何時已
只願君心似我心
定不負相思意


Bốc Toán Tử
(Dịch thơ: Hồng T. Trân)

Thiếp đứng ở đầu sông
Chàng đứng ở cuối sông
Cùng uống chung một dòng
Chờ chàng đã hoài công

Nước khi nào ngừng chảy
Hận này đến bao nguôi
Nguyện lòng chàng như thiếp
Trọn đời không phai phôi


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Chi Nghi 李之儀 (1038-1117) tên chữ là Đoan Thúc 端叔, tự Hiệu Cô Khê cư sĩ 號姑溪居士, người Vô Lệ 無棣 ở Thương Châu 滄州 (nay thuộc tỉnh Sơn Đông 山東, Trung Quốc). Ông đỗ tiến sĩ năm thứ 3 đời Tống Thần Tông 宋神宗. Ông có tập Cô Khê từ 姑溪詞.

Nguồn: Thi Viện



CÁCH SỐNG TRÍ TUỆ NHẤT: LÀM MỘT NGƯỜI BÌNH THƯỜNG NHƯNG KHÔNG HỀ TẦM THƯỜNG!

Giá trị của một người không nằm ở số tiền họ kiếm được, cũng không phải công danh sự nghiệp hay biệt thự xe hơi,… mà nằm chính ở cách họ đã sống như thế nào. Dù vậy nếu như có thể lan tỏa hương thơm cho người khác và đồng thời làm đẹp chính mình, thì đó chính là một cuộc đời không bình thường.


Tục ngữ nói rất hay: “Anh đào ngon nhưng cây khó trồng, không bỏ công sức không đơm hoa”. Bỏ ra bao nhiêu giọt mồ hôi, thì nhận lại được bấy nhiêu kết quả. Không chịu cầu tiến, không chịu làm gì, cuộc sống chưa chắc đã vui vẻ thoải mái. Sống bận rộn tầm thường qua ngày, hãy cẩn thận đến thời khắc cuối cùng bạn lại bị chính cuộc sống đánh lừa.

Làm một người bình thường, nhưng không tầm thường

Trong Truyền Tập Lục, Vương Dương Minh nói: “Sở dĩ thánh nhân được gọi là bậc thánh, cái chính nằm ở chỗ có chuyên tâm hay không, chứ không phải là thành tựu lớn hay nhỏ. Nếu như có thể bỏ được cái tâm so sánh với người khác, mỗi người đều dùng hết khả năng của mình, chỉ cố gắng vào trong công việc của mình, thì mọi người đều có thể thỏa mãn, ai nấy đều có thể thành công, không có ai là không viên mãn cả.

Nếu như mù quáng theo đuổi những thứ xa vời, không nhận biết rõ thực lực của bản thân, khăng khăng muốn tìm hiểu những thứ bản thân không thể nào học được, muốn nắm bắt những thứ bản thân không thể làm được, thì làm sao thực hiện được?”.

Cuộc sống chính là như vậy, không phải người nào cũng có thể trở thành nhân vật có tầm ảnh hưởng, cuộc đời của đa số người đều là cuộc đời bình thường. Vốn dĩ là một hạt giống chỉ mọc ra được lá xanh, nhưng lại cứ bắt nó phải mọc ra lá đỏ, vậy chẳng phải là trái với quy luật tự nhiên hay sao? Thiết thực làm một cái lá xanh, sống cuộc đời bình thường mà tự tại, không phải rất tốt sao?

Có thể giữ được tâm mình trong cõi hồng trần, sống tốt mỗi một ngày bình thường, đó mới thực sự là “không bình thường”.

Đời người có hạnh phúc hay không, đều là do thái độ sống của chúng ta quyết định. Đừng sống tạm bợ, dùng thái độ nhập thế để làm việc, dùng thái độ xuất thế để làm người.

Hãy nhớ: Bạn vốn bình thường, nhưng không tầm thường!


Hãy trở thành một người có trái tim ‘tỏa sáng’

Đời người có 10 phần thì có đến 8,9 phần không như ý. Trong cuộc sống, chúng ta không thể tránh khỏi những lúc phong ba bão táp, không cuộc đời nào là thuận buồm xuôi gió. Cuộc sống của chúng ta có hạnh phúc hay không, chủ yếu dựa vào thái độ sống của chúng ta có lạc quan khi đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống hay không.

Vương Dương Minh đã trải qua rất nhiều thăng trầm trong cuộc đời, bị triều đình giáng chức, bị bỏ ngục, bị dèm pha đố kỵ, bị vu oan mưu phản,… có thể nói là chịu biết bao nhiêu bất công, khổ nạn trong cuộc đời.

Nhưng trong suốt cuộc đời của Vương Dương Minh, ông vẫn luôn giữ một thái độ lạc quan, bất luận là ở trong nghịch cảnh như thế nào, ông vẫn luôn thản nhiên đối mặt, không một chút oán hận.

Người dân ở Lũng Tràng vốn dĩ coi ông như thù địch, nhưng ông vẫn không mảy may để tâm và tức giận, hơn nữa ông còn dạy người dân ở đây đọc sách. Lâu dần, những người ở đây đều tiếp nhận Vương Dương Minh, hơn nữa còn trở thành những học sinh trung thành nhất của ông.

Trong hoàn cảnh gian khổ, ông vẫn nỗ lực học tập, hoàn thiện lý luận của bản thân mình.Năm Trịnh Đức thứ mười bốn, Vương Dương Minh bị các quần thần ghen ghét. Họ tìm đủ mọi cách để mắng nhiếc, gây rắc rối cho ông, nhưng Vương Dương Minh vẫn bình tâm bất động.

Người có nội tâm trong sáng, ấm áp thường có tấm lòng bao dung to lớn. Họ biết cách kiềm chế cảm xúc của bản thân. Lùi một bức không phải là vô dụng, mà là cởi mở, lạc quan sau khi đối mặt với một sự việc nào đó. Tha thứ cho người khác, kì thực cũng là bao dung cho chính mình.

Vương Dương Minh không coi trọng danh lợi, ông thường nói: Con người vì để sinh tồn, khó tránh khỏi việc truy cầu một số điều, những thứ khiến chúng ta cảm thấy an toàn: Ví như tiền tài, danh lợi và địa vị,…


Tuy nhiên, việc truy cầu những thứ bên ngoài cần được thực hiện dưới sự chỉ dẫn của ‘lương tri’, nếu bạn đánh mất bản tính và sự lương thiện của chính mình, điều đó không khác gì việc bản thân tự đào hố cho chính mình, từ đó dễ gây ra những rắc rối nghiêm trọng.

Người có ánh sáng trong tâm dễ có thể dung hợp vạn vật, trong lòng không hỗn loạn, không vấn tơ vương tình cảm, có thể sống một cuộc đời an nhiên.

Nguyện mong có trái tim của bạn luôn có nắng. Trên chặng đường đời vừa có nắng ấm, vừa có ánh sáng chiếu rọi.

Lan Hòa biên tập
Theo: vandieuhay

Wednesday, April 2, 2025

NỮ HỌA SĨ KỂ QUÁ TRÌNH VẼ BỨC TRANH BỊ ÔNG TRUMP CHÊ XẤU

Họa sĩ Boardman cho biết đã giữ thái độ trung lập khi vẽ chân dung ông Trump, chọn thể hiện biểu cảm trung tính, nhưng bị Tổng thống chê xấu.

Bức chân dung ông Trump tại tòa nhà nghị viện bang Colorado. Ảnh: AP

Tổng thống Mỹ Donald Trump gần đây chê bức tranh chân dung ông treo ở tòa nghị viện bang Colorado "rất xấu" và yêu cầu chính quyền bang này gỡ nó xuống.

Ông nói thêm nữ họa sĩ Sarah Boardman, người vẽ bức chân dung, từng vẽ cựu tổng thống Barack Obama rất đẹp, nhưng lại vẽ ông "tệ nhất". "Tranh của tôi treo cùng các tổng thống khác bị cố tình làm méo mó chưa từng thấy. Có vẻ càng có tuổi bà Boardman càng mai một tài năng", ông Trump nói.


Bức tranh chân dung ông Trump được treo ở tòa nghị viện bang Colorado từ năm 2019, trong nhiệm kỳ đầu của ông. Kevin Grantham, nghị sĩ Cộng hòa bang Colorado, đã mở chiến dịch gây quỹ trực tuyến 10.000 USD để ông Trump cũng có chân dung được treo tại tòa nhà nghị viện bang như những tổng thống khác. Grantham sau đó đặt hàng họa sĩ gốc Anh Boardman vẽ bức tranh này.

Bà Boardman, ngoài 70 tuổi, chưa bình luận về lời chê bai của ông Trump. Nhưng bà từng có cuộc chia sẻ về giai đoạn thực hiện tác phẩm với tờ Colorado Times Recorder, khẳng định không để cảm xúc cá nhân ảnh hưởng đến quá trình vẽ bức tranh.

"Hoàn toàn không. Khi tôi vẽ chân dung, tôi muốn làm toát lên đặc điểm và thần thái của người được vẽ. Tôi để mọi cảm xúc cá nhân bên ngoài phòng vẽ", bà nói.

Bà Boardman vẽ tranh chân dung ông Trump dưới ánh sáng tự nhiên từ hướng bắc, ổn định và dịu mát, ít thay đổi bóng đổ và sắc độ trong suốt cả ngày. "Ánh sáng từ hướng bắc không biến đổi như ánh nắng, nên tôi kiểm soát không gian vẽ tốt hơn nhiều, cũng không phải liên tục điều chỉnh màu theo ánh sáng", bà giải thích.

Bức chân dung ông Trump tại tòa nhà nghị viện bang Colorado. Ảnh: AP

Trước khi tranh ông Trump được đặt vẽ, bức tường cùng ô tại tòa nghị viện bang Colorado đã được treo chân dung ba cựu tổng thống là Bill Clinton, George W. Bush và Barack Obama, trong đó tranh ông Clinton ở góc trên bên trái có hình lá cờ rực rỡ ở nền.

Để cân bằng lại, bà Boardman đã chọn màu cà vạt đỏ trơn cho ông Trump, vốn được ông đeo trong nhiều năm, cũng là màu tượng trưng cho đảng Cộng hòa và được xem là màu quyền lực.

"Bằng cách vẽ cà vạt đỏ cho ông Trump, tổng thể 4 bức tranh trở nên hài hòa, cân bằng hơn về mặt thị giác", bà nói.

Nữ họa sĩ không cho rằng vẽ ông Trump khó hay dễ hơn so với vẽ ông Obama. "Tôi thích vẽ chân dung. Mỗi bức đều có những thách thức, điểm nhấn khác nhau. Tôi tiếp cận từng bức như một dự án riêng lẻ và thường tránh so sánh trong quá trình thực hiện".

Bà Boardman từng làm việc trong ngành hàng không và kinh doanh trước khi chuyển hướng sang nghệ thuật. Bà học tại Trường Nghệ thuật Wiesbaden Herzfeld ở Đức vào năm 1986, chuyên sâu vào kỹ thuật hội họa cổ điển.

Bức tường treo chân dung các ông Bill Clinton, George W. Bush, Barack Obama, Donald Trump và Joe Biden tại tòa nghị viện bang Colorado. Ảnh: AP

Khi hoàn thành chân dung ông Obama, bà Boardman cho biết nhiều người đã phản đối, bày tỏ nỗi tức giận khi bức tranh được treo ở tòa nghị viện Colorado.

Bà gọi đây là "bản chất con người", bởi bất cứ tổng thống Mỹ nào cũng sẽ có người ủng hộ lẫn phản đối. Bà khẳng định bản thân giữ thái độ trung lập và không cảm thấy bị xúc phạm trước nỗi tức giận đó. Bà lập luận sự phẫn nộ đó hướng đến chủ thể trong tranh, chứ không phải bản thân tác phẩm nghệ thuật.

"Tôi tin ai cũng có quyền có ý kiến riêng, phản đối là một phần trong đó. Trở thành tổng thống là điều kiện để được treo tranh tại căn phòng đó. Tôi tôn trọng điều này. Mục đích thực sự của các bức tranh là để đại diện cho lịch sử, không phải lập trường của những người trong tranh", nữ họa sĩ nói.

Bà Boardman cho biết phản hồi có tính ủng hộ nhất mà bà nhận được về bức chân dung ông Trump là các nhận xét về nét trung tính trong biểu cảm trên gương mặt Tổng thống Mỹ, cũng như về cách bà lựa màu cà vạt.

Nghị viện Colorado chọn bà Boardman để vẽ chân dung ông Trump sau khi bà gửi hai bản phác thảo ông và 4 bức ảnh thể hiện các biểu cảm khác nhau của tổng thống.

Họa sĩ Sarah Boardman. Ảnh: Sarahboardman.com

Trong bài dự thi gửi cuộc tuyển chọn họa sĩ của bang Colorado, bà mô tả biểu cảm trên gương mặt Tổng thống Mỹ là "nghiêm nghị, ôn hòa, trầm tư".

Nhưng Tổng thống Trump hôm 23/3 đăng bài cho rằng bức tranh ở tòa nhà nghị viện bang Colorado đã bị "cố tình làm méo mó" và ông thà không có bức chân dung nào được treo ở đây còn hơn "bức tranh xấu" như vậy.

Sau phản hồi của ông Trump, nghị viện Colorado hôm 24/3 cho biết bức chân dung sẽ bị gỡ khỏi tòa nhà và được cất vào nơi an toàn cho đến khi "có thông báo tiếp theo". Paul Lundeen, thành viên đảng Cộng hòa và là lãnh đạo phe thiểu số tại Thượng viện bang, cho biết sẽ thay thế bằng bức tranh "mô tả dáng vẻ hiện tại" của Tổng thống.

Đức Trung (Theo Hill, Colorado Times Recorder, AFP)
Link tham khảo:




NHỮNG SAI LẦM TAI HẠI TRONG LỊCH SỬ NHÂN LOẠI

Lịch sử đầy rẫy những hiểu lầm, diễn giải không đúng hoặc sai sót. Một số trường hợp đã chứng minh rằng ngay cả những sai lầm nhỏ cũng có thể gây ra hậu quả lớn, dẫn tới sự sụp đổ của các đế chế, gây ra chiến tranh và làm thay đổi tiến trình lịch sử theo những cách không ngờ.


Hiểu nhầm dẫn đến vụ ném bom nguyên tử vào Hiroshima và Nagasaki

Năm 1945, khi Thế chiến II kết thúc, quân Đồng minh muốn Nhật Bản đầu hàng vô điều kiện. Nhưng một cuộc họp báo đã dẫn đến một trong những khoảnh khắc kinh hoàng nhất trong lịch sử. Tại cuộc họp báo này, Thủ tướng Nhật Bản Suzuki Kantarō đã trả lời các yêu cầu của Đồng minh về Tuyên bố Potsdam bằng cách sử dụng từ "mokusatsu". Từ này có thể có nhiều cách dịch sang tiếng Anh, chẳng hạn như “cần thời gian để xem xét kỹ lưỡng”, hay “lặng lẽ coi khinh, phớt lờ". Ông Suzuki Kantarō cũng nhấn mạnh rằng Nhật Bản sẽ không từ bỏ cuộc chiến.

Cảnh Hirosima hoang tàn sau vụ ném bom. Ảnh: unwritten-record.

Thật không may, tuyên bố của ông Suzuki Katarō đã bị hiểu sai hoàn toàn. Đại diện của các nước Đồng minh đã hiểu lời nói ông theo nghĩa “khinh thường phớt lờ” và thông điệp này đã được truyền tải cho Tổng thống Harry S. Truman. Mỹ phản ứng bằng quyết định ném bom nguyên tử vào hai thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật Bản.

Một số người cho rằng, nếu phát ngôn của ông Suzuki Kantarō được dịch cẩn trọng hơn thì điều này có thể không dẫn tới thảm kịch trên.

Mất chìa khóa gây ra thảm họa tàu Titanic?

Có rất nhiều giả thuyết về thảm họa đắm tàu Titanic. Một trong số các giả thuyết này liên quan đến một số ít những người đã sống sót sau thảm họa, trong đó có thủy thủ người Anh Fred Fleet.

Một vài cặp ống dòm có thể đã cứu con tàu Titanic khỏi thảm họa.

Fred Fleet là một trong những thủy thủ chịu trách nhiệm tìm kiếm các tảng băng trôi. Tuy nhiên, ông không thể sử dụng ống nhòm ở thời điểm đó vì chúng bị khóa và ông cũng không có chìa khóa. Trong phiên điều trần về vụ đắm tàu, Fleet cho biết nếu có thể sử dụng ống nhòm, ông đã lường trước được thảm họa sắp xảy ra và tìm cách ngăn chặn.

Ít ai biết được rằng, trước khi con tàu nhổ neo, công ty chủ quản tàu Titanic đã đột ngột đưa ra quyết định bổ nhiệm ông Charles Lightoller thay thế sĩ quan thứ hai của con tàu là David Blair. Nhưng ông David Blair đã quên bàn giao chìa khóa cho Charles Lightoller khi con tàu bắt đầu di chuyển. Khi vụ tai nạn xảy ra, chiếc chìa khóa vẫn nằm trong túi áo của David Blair.

Lái xe rẽ nhầm khiến Thái tử Franz Ferdinand bị ám sát

Vụ ám sát Thái tử Franz Ferdinand của đế quốc hùng mạnh Áo-Hung được coi là vụ ám sát tồi tệ nhất trong lịch sử, bởi đây là nguyên nhân trực tiếp làm bùng nổ Thế chiến I.

Vợ chồng Thái tử F. Ferdinand rời ga xe lửa Sarajevo bước lên cỗ xe "định mệnh". Ảnh: History

Ngày 28/6/1914, Thái tử Franz Ferdinand đã thoát khỏi một vụ đánh bom nhằm vào xe của ông khi đến thăm Sarajevo. Âm mưu ám sát này thất bại do một quả bom do kẻ ám sát ném vào xe chở Franz Ferdinand đã không hoạt động. Một lúc sau nó mới phát nổ và thổi bung một cỗ xe ở phía sau xe ông. Kẻ ném quả bom này vào xe của Franz Ferdinand không biết rằng nó có chế độ hẹn giờ trong 10 giây, vì thế đã để trượt mục tiêu.

Để cứu ông Ferdinand khỏi các cuộc tấn công tiếp theo, người lái xe buộc phải thay đổi tuyến đường. Nhưng tài xế lại là người Séc và không hiểu hướng đi. Cuối cùng, họ đã rẽ nhầm đường. Khi tài xế dừng xe, chiếc xe đỗ ngay cạnh sát thủ khiến đối phương có cơ hội ra tay. Thái tử Franz Ferdinand và vợ ông đã bị sát hại. Điều này gây ra một chuỗi các sự kiện dẫn đến Thế chiến thứ nhất.

Constantinople thất thủ vì quên khóa cổng thành

Sự sụp đổ của thành phố Constantinople năm 1453 gây ra tác động lớn đến thế giới phương Tây. Trên thực tế nó đã chấm dứt thời kỳ Trung cổ, đánh dấu sự thống trị của Đế chế Ottoman và dẫn đến thời kỳ Phục hưng.

Constantinople thất thủ vì quên khóa cổng thành

Đế quốc Byzantine, còn gọi là Đế quốc Đông La Mã đã trở nên khá nhỏ bé vào những năm 1450. Về cơ bản, lãnh thổ của họ chỉ bao gồm một vài hòn đảo và thủ đô Constantinople. Thành phố đã bị Đế chế Ottoman bao vây vào năm 1453, kéo dài trong 53 ngày. Mặc dù quân Ottoman có lợi thế về quân số và hỏa lực nhưng họ khó có khả năng chiếm được Constantinople do bị các bức tường thành cao và dày cản trở. Tuy vậy, Constantinople đã bị thất thủ nhanh chóng do một sai lầm ngớ ngẩn: ai đó đã quên khóa cổng nhỏ ở phía sau, được gọi là cổng Kerkoporta. Điều này tạo điều kiện cho quân Ottoman kéo vào thành phố và kéo cờ của họ trên các bức tường thành, khiến những người bảo vệ hoảng loạn.

Andrew Jackson ghét tiền giấy, nhưng gương mặt của ông lại được in trên tờ USD

Bất kỳ ai từng sử dụng tờ tiền của Mỹ sẽ nhận ra gương mặt của Andrew Jackson – tổng thống thứ 7 của nước Mỹ, được in trên tất cả các tờ 20 USD hiện đại. Việc trở thành gương mặt đại diện trên tiền tệ của quốc gia được cho là vinh dự lớn nhất đối với một chính trị gia. Nhưng ông Jackson có lẽ không thích điều này.

Ảnh: National Geographic

Trong lịch sử Mỹ, một trong những vấn đề lớn nhất liên quan đến việc tái đắc cử của ông Jackson năm 1832 là Chiến tranh Ngân hàng. Thành tựu lớn nhất của ông Andrew Jackson, theo chính lời ông, là "tiêu diệt ngân hàng", không gia hạn hiến chương hoạt động cho Ngân hàng thứ Hai của Mỹ (Second Bank of the United States) vào năm 1833. Đây chính là ngân hàng nhà nước, tiền thân của Cục Dự trữ liên bang.

Ngân hàng này được thành lập để điều chỉnh tín dụng công do ngân hàng tư nhân tạo ra và duy trì một loại tiền tệ quốc gia ổn định. Nhưng ông Jackson không đồng ý với ngân hàng liên bang về nguyên tắc, đồng thời cho rằng nó chỉ có lợi cho người giàu. Và điều ông ghét nhất là ý tưởng của ngân hàng này phát hành tiền giấy thay vì phát hành đồng tiền được làm từ những kim loại có giá trị như vàng hoặc bạc. Ông Jackson đã thua cuộc chiến chống lại tiền giấy thế nhưng hình ảnh của ông lại được in trên tờ tiền này.

Hồng Anh / Theo: vov

ĐỀ KÍNH ÁI TỰ LÂU - ĐỖ MỤC


Đề Kính Ái tự lâu

Mộ cảnh thiên sơn tuyết,
Xuân hàn bách xích lâu.
Độc đăng hoàn độc há,
Thuỳ hội ngã du du?

Chùa Kính Ái nay ở phường Hoài Nhân, thành phố Lạc Dương, tỉnh Hà Nam. Bài này viết trong khoảng thời gian tác giả làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương, lúc đó còn gọi là Đông Đô.


題敬愛寺樓

暮景千山雪
春寒百尺樓
獨登還獨下
誰會我悠悠


Đề ở lầu chùa Kính Ái
(Dịch thơ: Nguyễn Minh)

Cảnh chiều hôm ngàn non phủ tuyết
Lầu lạnh căm trăm thước chơi vơi
Một mình lên xuống lẻ loi
Có ai hiểu được lòng tôi lo buồn


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng. Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng tong, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thư ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn).

Nguồn: Thi Viện



NHÀ VĂN BÌNH NGUYÊN LỘC VÀ CÂU CHUYỆN ĐÒ DỌC: "CÓ MỘT GIA ĐÌNH TRUNG LƯU TRÍ THỨC..."

Không rõ là có một sự liên quan nào đó, mà có khá nhiều văn sĩ – thi sĩ miền Nam xưa bị dính dáng đến căn bệnh về thần kinh, hoặc ít nhất là thần kinh từng không ổn định, như là Bùi Giáng, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Phạm Công Thiện, Nguiễn Ngu Í… và Bình Nguyên Lộc.


Điểm chung của những người được xem là “kỳ nhân” của văn chương này, đó là họ đều sống một cuộc đời khác thường và có bút lực hơn người.

Một điều thú vị, nhà văn Bình Nguyên Lộc có người con trưởng là Tô Dương Hiệp, từng là giám đốc Dưỡng Trí Viện Biên Hòa, nơi Bùi Giáng và Nguiễn Ngu Í từng vào điều trị, và bản thân Bình Nguyên Lộc cũng mắc bệnh thần từ năm 30 tuổi. Tuy nhiên ông cứ đinh ninh bản thân ông không thể mắc bệnh tâm thần, chỉ có vợ, con, cháu và bạn bè ông mới có thể mắc bệnh này mà thôi.

Nhà văn Bình Nguyên Lộc sinh trưởng ở làng Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa (nay là thị xã Tân Uyên ở Bình Dương), xuất thân trong gia đình trung lưu đã mười đời sống ở Tân Uyên.

Nhắc đến “gia đình trung lưu”, có lẽ sẽ có nhiều người liên tưởng ngay đến một ca khúc nhạc vàng nổi tiếng của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng lấy nội dung từ tiểu thuyết Bình Nguyên Lộc, đó là Đò Dọc.

Cái tựa đề Đò Dọc mang 2 ý nghĩa. Thứ nhất, đó là hình ảnh của 4 cô gái nhân vật chính – con của ông giáo Nam Thành trong tiểu thuyết, khi về lại miệt vườn, họ không thể hòa nhập được với cuộc sống thôn quê, chiều chiều bắc ghế ra trước sân ngồi nhìn những chuyến xe xuôi ngược trên quốc lộ, tưởng như những chuyến đò dọc không biết bao giờ mới dừng lại. Thứ hai, đó là cuộc sống rày đây mai đó của họ trong thời loạn lạc, ban đầu là từ Bạc Liêu, rồi lên Sài Gòn, cuối cùng về Thủ Đức, không khác nào những chuyến đò dọc của đời người, lênh đênh và vô định, chưa biết nơi nào là bến bờ.


Câu chuyện tiểu thuyết Đò Dọc nói về gia đình ông bà Nam Thành, có 4 cô con gái tên là Hương, Hồng, Hoa, Quá. Ông vốn là ông giáo ở Bạc Liêu, vì loạn lạc nên di tản lên Sài Gòn sinh sống. Tại đây ông không còn làm nghề giáo được nữa mà trở thành chủ hiệu buôn, khách đa phần là dân Tây. Năm 1954, Pháp rút về nước, hiệu buôn ế ẩm, bất đắc dĩ ông quyết định rời bỏ Sài Gòn để lui về Thủ Đức thuộc Bình Dương, lúc đó vẫn còn rất quê mùa.

Câu chuyện trong bài hát của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng cũng bắt đầu ở giai đoạn này:

Có một gia đình trung lưu trí thức
Từ giã ngói vôi về với ruộng đồng
Xa lánh guốc giày, làm quen đỉa vắt
Tập sống khiêm nhường gạo ruộng nước sông.

Lánh về nơi này, qua cơn khốn đốn
Thì mấy đứa con lại khó chọn chồng
Trai tráng quê mùa, làm sao mà biểu xứng
Còn bến đâu mà hẹn đục với trong.

Hò lơ, hò lờ!
Đò dọc lặng trôi
Trôi trên con sông đời
Đưa người lìa xa, xa bến thương
mang theo bao vấn vương

Đời vỗ mạn thuyền nên sóng xô
tan cuộc bình yên.


Việc từ giã “ngói vôi” để về với ruộng đồng là một quyết định rất khó khăn, nhưng gia đình trung lưu trí thức kia không còn lựa chọn nào khác để qua được cơn khốn đốn. Ông Nam Thành mua đất cất nhà, lập trang trại đặt tên là Thái Huyên Trang.

Khi đó, bốn cô tiểu thơ tuổi đời từ 22 đến 28 đều chưa chồng, mà thời xưa ở tuổi đó là đã quá lứa lỡ thì. Chốn miệt vườn hẻo lánh này có lối sống và tư tưởng quá khác biệt, 4 cô con gái khó hòa nhập được. Hơn nữa trai tráng trong làng quê mùa không tương đồng về tính cách, làm sao để chọn chồng.


Có một anh chàng sinh viên sáng láng
Chiều lỡ chiếc xe liệt máy dọc đường
Xin tá túc nhờ một đêm đợi sáng
Từ đó 3 nàng tình một vấn vương.

Vốn thuộc gia đình tu nhơn tích đức
Dầu giấy rách beng phải giữ lấy lề
Tình dẫu cô nào tình mơ chẳng xứng
Thôi nếu không đào thì mận cũng duyên.

Hò lơ, hò lờ!
Đò dọc đò ngang
Trôi trên con sông tình
Sông tình ngược xuôi quen nhấp nhô
Theo con sóng yêu

Đò cắm bờ này thương bến kia
Thấy đời quạnh hiu.


Rồi một đêm nọ thì may mắn cũng mỉm người với 4 cô tiểu thư ở Thái Huyên Trang. Có một anh chàng sinh viên sáng láng tên là Long, vì xe bị liệt máy giữa đường không thể đi tiếp nên đã vào Thái Huyên Trang xin tá túc qua đêm đợi sáng.

Như là một sự tất yếu, Long và ba cô em gái đã cùng “trôi trên con sông tình” với đầy đủ những cung bậc cảm xúc: hy vọng, thất vọng, giận hờn, ghen tuông, bởi vì “3 nàng tình 1”, và “Tình dẫu cô nào, tình mơ chẳng xứng”.


Nhưng rồi cuối cùng thì “Thôi nếu không đào, thì mận cũng duyên”, nhờ Long làm cầu nối, 3 cô em gái đã được “ai về bến nấy”, Hồng kết duyên với Long, Hoa thì với Đăng, Quá với Côn, riêng “cô Hai” tên là Hương thì quyết định ở giá cho tròn chữ hiếu với cha mẹ đã dần già yếu:

Mỗi ngày mỗi già song thân cũng yếu
Mà mấy đứa em thì đã lấy chồng
Mai mốt gia đình càng thêm quạnh vắng
Trên dưới trong ngoài, đầu hạ cuối xuân.

Nghĩ vậy nên lòng cô Hai bối rối
Rồi nữa lấy ai lo lắng việc nhà
Cô hứa thôi thời mình nên ở giá
Trung hiếu cho tròn tình mẹ nghĩa cha.

Hò lơ, hò lờ!
Đời là dòng sông
Ta trôi như con đò

Chống chèo dọc ngang nương kiếp trôi
Qua bao khúc nhôi
Đò dẫu nặng nề trôi mấy trôi cũng về một nơi.

Bài hát này được nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng sáng tác năm 1987, được ca sĩ Hương Lan hát lần đầu trong băng Dạ Lan 42.

Sau đó, bài hát được nhiều người biết đến nhất qua phần song ca của 2 chị em Thanh Tuyền – Sơn Tuyền trên Asia năm 2003:

Click để nghe Thanh Tuyền – Sơn Tuyền song ca

nhacxua.vn biên soạn



Tuesday, April 1, 2025

CAO TĂNG CHỈ LÊN TRỜI, SAU ĐÓ CHỈ CHAI NƯỚC DƯỚI ĐẤT, NHÀ THƠ THẤY VẬY LIỀN VIẾT LÊN CÂU ĐỐI NỔI TIẾNG

Trong dải ngân hà chói lọi của thơ ca, thơ triết học được coi là ngôi sao sáng nhất vẫn luôn tỏa sáng. Khác với các thể loại thơ khác, thơ triết học thường ẩn chứa những triết lý nhân sinh sâu sắc và sự cảm nhận về thế giới nhân sinh quan, khi đọc thơ triết học không chỉ mang lại những trải nghiệm cảm xúc đẹp mà còn học được triết lý sống tích cực và thú vị.

Thi sĩ luôn chọn cuộc sống ẩn dật để tìm đến cảnh giới của bậc Thánh nhân - Ảnh: Pinterest

Những bài thơ triết học thường liên quan đến những tăng nhân đã tham thiền và giác ngộ, ví dụ như Lý Thương Ẩn sau khi tìm hiểu về cuộc sống của các tăng nhân, ông đã viết một câu nổi tiếng: “thế giới vi trần lý, ngô ninh ái dữ tăng“. Ngụ ý rằng trong thế gian bụi trần này, ta hà cớ gì phải bận tâm đến yêu và hận.

Con người khi sống trên đời luôn chìm đắm trong biển sâu của yêu và hận, danh và lợi. Nhưng dưới góc nhìn của tạo hóa, vạn vật trên đời đều là cát bụi, con người cũng chỉ là cát bụi thôi, vậy thì sao phải rối ren trong cảm giác yêu và ghét, sao phải hận và thù?

Mặc dù giới văn nhân thời xưa đã tích cực giao lưu, học hỏi nhau, nhưng trong lòng họ lại ấp ủ một lý tưởng sống ẩn dật. Cuộc sống ẩn dật trên núi và thiền định của các nhà sư lại phù hợp với lý tưởng sống của giới văn sĩ. Cho nên trong lịch sử xưa nay giới văn nhân luôn thích đàm đạo với các tăng nhân.

Lý Thương Ẩn không phải là người duy nhất nhận ra triết lý nhân sinh của cuộc sống thông qua các cuộc đàm đạo. Lý Cao một nhà thơ ở thời trung Đường, cũng đã viết bài thơ “tặng Dược Sơn cao tăng Duy Nghiễm”, sau này cũng rất được các thế hệ ca tụng:

贈藥山高僧惟儼

煉得身形似鶴形
千株松下兩函經
我來問道無餘說
雲在青天水在瓶


Dược Sơn nằm ở Hồ Nam, ngọn núi này rất linh thiêng, thiền sư Duy Nhiễm đã tu hành ở đây hơn 40 năm, biệt hiệu là Dược Sơn, ông là một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử của phái thiền tông, đệ tử của ông là Lương Giới Thiền Sư, người đã khai sáng Tào Động Tông một trong phái Thiền Tông Ngũ Diệp.

Lý Cao là môn nhân của Hàn Dũ và cũng là cháu rể của Hàn Dũ, khi làm quan ở Lang Châu, Hồ Nam, nghe danh thiền sư Duy Nghiễm đã lâu, rất muốn mời thiền sư Duy Nghiễm xuống núi để đàm đạo, nhưng thiền sư đều phớt lờ từ chối. Vì vậy Lý Cao chiếu cố đích thân leo lên núi Dược Sơn để yết kiến.

Thật không dễ mà leo lên được trên núi, thiền sư Duy Nghiễm đang ngồi dưới gốc cây tùng đọc kinh thư, như có vẻ không nhìn thấy Lý Cao, Lý Cao dù sao thì cũng là quan huyện, cũng phải giữ cho mình chút thể diện, nên ông phàn nàn rằng: “Nghe danh không bằng gặp mặt, bình thường ta nghe người khác nói thiền sư là người đạo đức cao thượng, không ngờ rằng, gặp rồi mới thấy chỉ như vậy thôi”.

Nghe xong, Thiền sư Duy Nghiễm đáp: “Tại sao quý vị coi trọng đôi tai và coi thường đôi mắt của mình?”. Tai và mắt có nên được đối xử giống nhau không? Ngay khi Lý Cao nghe được điều này, cảm thấy những lời thiền sư nói quả thực rất chân thực.

Tuy nhiên, vị thiền sư lại không nói gì, ông chỉ lên những đám mây trắng lơ lửng trên bầu trời, rồi chỉ vào một cái chai đựng đầy nước trên mặt đất, Lý Cao không hiểu ý của thiền sư muốn nói gì, thiền sư lại nói: “Vân tại thanh thiên thủy tại bình”.

Thiền định là phương pháp tu luyện, đạt đến cảnh giới giác ngộ – Ảnh: Internet

Sau khi nghe đến đây, Lý Cao chợt ngộ ra, trong phòng tối như có ánh sáng đột nhiên chiếu vào, những suy nghĩ ban đầu bị phong bế ngay lập tức được khai mở, vì vậy ông đã viết bài thơ: “Tặng Dược Sơn cao tăng Duy Nghiễm“.

“Thân hình như chim hạc“. Câu đầu miêu tả tướng mạo của vị thiền sư lỗi lạc Duy Nghiêm. Hình ảnh như vậy gợi cho nhà thơ liên tưởng đến một con vật, đó là con hạc, nhà thơ dùng con hạc để miêu tả chính hình ảnh thiền sư, không chỉ làm nổi bật vẻ gầy gò của thiền sư mà còn phản ánh phong thái bất hủ của ông.

“Dưới tùng ngàn gốc, hai hòm kinh”, cuộc sốn đời thường của thiền sư là gì? nhà thơ đã chọn hai điển tích là “dưới ngàn thông” và “hai hòm kinh”. Hàng ngàn cây tùng phản ánh sự tĩnh lặng của môi trường sống của thiền sư.

Cây tùng còn tượng trưng cho bản lĩnh vững chắc và thanh cao của thiền sư. Cuộc sống thường ngày của thiền sư là đọc kinh và thực hành thiền định, không cần đồ đạc sang trọng, trang trí lộng lẫy, chỉ dùng hai hộp đựng kinh sách làm bạn đồng hành.

“Đáp lời hỏi Đạo, không thừa chữ: “Mây tại trời xanh, nước ở bình“.

Hai câu cuối mô tả kinh nghiệm vấn Đạo của nhà thơ và đáp Đạo của thiền sư. Tuy bài thơ đã kết thúc, nhưng quan niệm nghệ thuật cũng như tiếng chuông chùa âm vang ngân nga, âm hưởng của Thiền vẫn văng vẳng bên tai.

“Mây tại trời xanh, nước ở bình“, là câu thơ sáng nhất của bài, khiến người đời sau ca tụng, vậy câu này có ý nghĩa gì, thiền sư muốn diễn đạt điều gì?.

Mây trên trời và nước trong bình là những thứ tồn tại trong tự nhiên, mây bay trên trời là lẽ tự nhiên, nước trong bình cũng là lẽ tự nhiên. Đạo vốn dĩ là tự nhiên, muốn hiểu về Đạo thì hãy trải nghiệm và cảm nhận nó ngay trong cuộc sống bình thường.

Vạn vật đều phải thuận theo tự nhiên, con người cũng không ngoại lệ. Vị thiền sư nói như vậy là vì Lý Cao trước đây đã nói “Nghe danh không bằng gặp mặt”, để bày tỏ nỗi bực tức của ông khi thấy Duy Nghiêm tỏ ra coi thường mình. Trên thực tế, dù là mây trên trời hay nước trong bình, mọi thứ trên đời đều bình đẳng như nhau.

Bản chất của con người giống như nước, tình cảm giống như cát, cát sẽ làm vẩn đục nước, và tình cảm sẽ làm cho con người mất đi bản chất của mình.
Giống như Vương Duy, ông đã viết bài “Thú vui chỉ có một mình mình hay”. Bài thơ khắc họa hình ảnh một lão nhân tu luyện nơi núi sâu rừng già. Một ngày trên núi Nam, lão nhân lội ngược dòng suối tìm đến nơi đầu nguồn, men theo dòng chảy cho đến khi không còn thấy gì nữa. Lão nhân ngồi xuống, nhàn nhã ngắm trời đất, thấy trên đỉnh núi từng áng mây tuôn ra như suối chảy.

Thì ra nước dưới đất chỉ là nước, nhưng khi lên trời sẽ biến thành mây, mây lại rơi xuống trở thành mưa, mưa biến suối khô thành dòng nước, nước ấy lại lên trời thành áng mây bay… Cuộc đời là một vòng tuần hoàn, đông đi xuân đến, khổ qua rồi sẽ là niềm vui phấp phới. Đời người vốn dĩ là vậy, hà tất phải tuyệt vọng làm chi?

Nguyệt Hòa biên tập
Theo: Sohu