Sunday, May 10, 2026

"PHÚC TỪ TÂM MÀ ĐẾN, HỌA TỪ MIỆNG MÀ RA", PHONG THỦY TỐT HAY XẤU CŨNG TỪ MIỆNG MÀ THÀNH

Cổ nhân có câu: “Kẻ làm biếng gây chuyện thị phi, kẻ tiểu nhân thì hay đồn thổi”. May mắn từ miệng mà ra, xui xẻo từ miệng mà ra, đôi khi cái miệng của chúng ta nhanh nhạy nhưng lại làm mất lòng nhiều người.


Làm người, lòng nhân ái chân chính không chỉ là tấm lòng nhân hậu, mà còn là biết giữ im lặng. Biết rằng im lặng đúng lúc là một loại trí tuệ và cũng là một loại phong thái. Từ miệng có thể nói ra lời nói ngọt ngào hay cay đắng. Những người thực sự tu dưỡng đạo đức tốt, họ có lòng yêu thương, nhân hậu, biết dùng lời nói ấm áp để thuyết phục mọi người, nhưng họ không dùng lời nói để làm tổn thương người khác.

Miệng của một người không chỉ dùng để ăn uống. Ai đó đã từng nói: “Nói là danh thiếp thứ hai của con người.” Cuộc sống là sự sinh tồn của con người có thể lời “nói” không quan trọng hơn việc “làm”, nhưng “nói” có thể giúp ích, hay gây hạy cũng là một vấn đề cần tu dưỡng của mỗi người. Đôi khi, vai trò của người “làm” quả thật không kém, nhưng có lúc chúng ta cũng cần người khác hỗ trợ mình thì bản thân phải nói sao để người khác thấy vừa lòng mà giúp đỡ. Có câu nói rằng “mồm miệng đỡ chân tay”.

Khi nào thì cần nói

Khi bạn muốn nói, điều bạn nói phải có giá trị hơn sự im lặng của bạn. Là một người chúng ta đều biết rằng im lặng quan trọng hơn nhiều so với lời nói. Biết giữ im lặng đúng lúc, nói đúng lúc, không thể ăn nói tùy tiện, như vậy sẽ thành thiếu sự tôn trọng với người khác và bản thân lại trở thành người không có tu dưỡng.

Một người đã nói rằng: “Chúng tôi mất hai năm để học nói, nhưng mất sáu mươi năm để học cách im lặng.”


Không nói chuyện phiếm

Biết rằng im lặng là một khóa học bắt buộc trong cuộc sống, nó có thể phản ánh sự tu dưỡng bản thân, trí tuệ và khả năng đối nhân xử thế của một người. Trên thực tế, dù ở nơi làm việc hay trong cuộc sống của bạn, nói chuyện phiếm là một điều cấm kỵ lớn. Có thể bạn chỉ nghĩ rằng việc nói chuyện phiếm của người khác là thú vị, nhưng bạn có thể nghe thấy điều này một ngày nào đó từ những người khác đưa bạn ra làm chủ đề chính của câu chuyện. Cuộc sống này ai trong chúng ta cũng có thể phạm phải khuyết điểm hoặc gặp phải những rắc rối, hay chuyện cá nhân gia đình. Nhưng nếu biết giữ im lặng với chuyện của người khác cũng là sự tu dưỡng lời nói của bản thân.

Người xưa có câu dạy rằng: “Người có lỗi chớ vạch trần, việc riêng người chớ nói truyền.” Nếu giữ những thói quen xấu ngồi đâu cũng nói chuyện phiếm, không chỉ lưu truyền những điều không tốt với người khác về một ai đó, không chỉ nói những điều bất hảo về người khác, bạn ảnh hưởng đến họ, và còn đang tự gây họa cho cuộc đời của mình. Và một ngày nào đó bạn sẽ “rước họa vào thân” và phải trả giá cho những lời đàm tiếu về việc nói sau lưng.

Nói ít tranh cãi đỡ lãng phí sức lực của bạn

Trong cuộc sống, con người ai cũng có cá tính và ý tưởng riêng, khi không hòa hợp sẽ luôn có những xích mích khi giao tiếp xã hội. Người thông minh họ không bao giờ lãng phí sức lực để tranh cãi với người khác, ai cũng biết mình đúng hay sai.

Lincoln từng nói: “Một người đạt được một sự kiện lớn không nên dành nhiều thời gian để tranh cãi với người khác. Việc tranh cãi không cần thiết không chỉ làm hỏng đi sự đạo đức và học vấn của bạn mà còn khiến bạn mất tự chủ bản thân, hao tổn sức lực. Hãy khiêm tốn với người khác càng nhiều càng tốt.”

Người thông minh, không nói chuyện tranh luận, giữ một phần tu dưỡng bản thân, giữ một điểm trong sạch tâm hồn và dưới ánh nhìn của người khác.


Nói ít không khoe khoang, hãy để cho mình một bước đường lui trong cuộc sống

Trong cuộc sống của chúng ta có những người rất giỏi có nhiều năng lực, nhưng thường những người làm nên bản sự to lớn và thành công trong nhiều lĩnh vực họ lại có đức tính tu dưỡng tốt thường khiêm tốn không khoe khoang, nói ít, không thể hiện bản thân với người khác. Không nên nói nhiều để khoe khoang. Sự tự tin của một người rất cần nhưng sự tin và khoe khoang là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Khoe khoang không đúng chỉ tự gây hại cho bản thân, mình không làm được mà đề cao bản thân chỉ khiến người khác khinh thường bạn.

Tránh xa sự nóng vội và bình tĩnh như núi, chỉ như vậy bạn mới có thêm năng lượng để điều chỉnh hướng đi của mình. Người thông minh học cách trở thành một người điềm tĩnh và chín chắn.

Trên thực tế, chúng ta không cần phải ép mình phải trở nên thông minh và giỏi giang. Thực tế, biết “điều gì nên nói và điều gì không nên nói” đã là kỹ năng giao tiếp tuyệt vời nhất trong cuộc sống và tu dưỡng bản thân mình là sự lựa chọn của trí tuệ.

Tâm An / Theo: vandieuhay

TỀ BẠCH THẠCH VẼ TÔM LÀ ĐẸP NHẤT, NHƯNG TRANH VẼ CHIM LẠI ĐẮT NHẤT, HAI CON HẠC GIÁ HƠN 2000 TỶ ĐỒNG


Trong những năm gần đây, nếu ai sở hữu một bức tranh của Tề Bạch Thạch tương đương với một “người phát tài”. Giá tranh của họa sỹ Tề Bạch Thạch cao khó tin nhưng cũng là điều tất nhiên vì xét cho cùng, danh tiếng của Tề Bạch Thạch đã vững vàng chiếm giữ vị trí số một trong làng hội họa hiện đại nhờ những bức tranh vẽ tôm rất nổi tiếng và chân thực của ông.

Tuy nhiên, trong các bức tranh của Tề Bạch Thạch, tác phẩm đắt giá nhất của ông không phải là tranh vẽ về tôm. Cho đến nay, có hàng chục triệu con tôm được các họa sỹ vẽ trên thế giới, nhưng con tôm của Tề Bạch Thạch là tuyệt đối độc nhất vô nhị trong thế giới hội họa, những con tôm hoạt bát sống động như thật, thần thái đủ đầy, với những nét bút mực nhạt vẽ thành thân thể tươi tắn, càng thể hiện cảm giác long lanh xuyên thấu, tưởng rằng nó có thể nhảy ra khỏi trang giấy, giờ đây nó đã trở thành biểu tượng tiêu biểu cho văn hóa của Tề Bạch Thạch.

Họa sỹ Tề Bạch Thạch. Nguồn ảnh: ntdvn

Tề Bạch Thạch vẽ tôm đã đạt đến cảnh giới xuất thần, trong nét bút đơn giản đã thể hiện ra đàn tôm đang vui chơi trong nước. Bức tranh “Tôm hứng thú” (hà thú) dưới đây là ví dụ tiêu biểu.

Nguồn ảnh: ntdvn

Tranh vẽ tôm của Tề Bạch Thạch thì ai cũng biết đến, nhưng tranh đắt nhất của ông chính là tranh vẽ chim, nhưng trên thực tế thì hầu hết mọi người đều không biết tác phẩm vẽ chim của Tề Bạch Thạch. Trong số các tác phẩm vẽ chim Tề Bạch Thạch, đặc biệt là chim đại bàng và hạc là nổi tiếng nhất trong giới hội họa hiện đại.

Tác phẩm “Hồng hạc” được sáng tạo năm 1933, đã được bán với giá cao ngất trời 36,8 triệu USD sau nhiều vòng đấu giá trong cuộc đấu giá mùa xuân năm 2014 của China Guardian. Nhìn vào những dòng chữ dày đặc trong bức tranh, chúng ta có thể thấy rằng ý nghĩa của bức tranh này không hề đơn giản.

Dựa theo tính cách của Tề Bạch Thạch, ông ấy sẽ không vô cớ tạo ra những tác phẩm mà không có lý do, Tề Bạch Thạch tạo ra bức tranh này là để người khác biết về tiểu sử của ông. Tất nhiên, ông không chỉ thuật lại cuộc đời mình bằng một bài diễn văn dài, mà ông còn vẽ bức tranh để tăng thêm phần thú vị cho cuộc sống.

Nguồn ảnh: Sohu

Ngoài tác phẩm “Hồng hạc”, Tề Bạch Thạch còn có một tác phẩm nổi tiếng về “Bạch hạc”, từ cái tên cũng có thể thấy được nguồn gốc của tác phẩm này, đó là một bức tranh ca ngợi quê hương, tất cả đều là hiện thân một hình ảnh của sự sung túc và thịnh vượng. Bức tranh này đã được bán với giá cao ngất trời 82,8 triệu USD trong “Cuộc đấu giá mùa thu năm 2012”, và nó cũng đã trở thành một trong những tác phẩm tiêu biểu của Tề Bạch Thạch.

Bức tranh “Bạch hạc” của Tề Bạch Thạch. Nguồn ảnh: Sohu

Giá trị cộng lại của hai tác phẩm “Hồng hạc” và “Bạch hạc” là hơn 100 triệu USD, những bức tranh vẽ về chim của Tề Bạch Thạch còn đắt giá hơn những bức tranh về tôm của ông ấy.

Trên thực tế, tranh vẽ chim của Tề Bạch Thạch đắt không phải vô cớ, điểm đầu tiên là tranh vẽ chim của ông hầu hết đều là tác phẩm hiếm thấy, tranh như vậy còn lại trên thế giới rất ít. Điểm thứ hai là hầu hết các bức tranh vẽ về chim của ông đều còn tồn tại, tất cả đều được sáng tác vào những năm cuối đời của ông, khi ông đã đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật và phong cách hội họa.

Đăng Dũng biên dịch
Nguồn: Sohu

NGẪU THÀNH - CHU HY


Ngẫu thành - Chu Hy

Thiếu niên dị lão học nan thành,
Nhất thốn quang âm bất khả khinh.
Vị giác trì đường xuân thảo mộng,
Giai tiền ngô diệp dĩ thu thanh.


偶成 - 朱熹

少年易老學難成
一寸光陰不可輕
未覺池塘春草夢
階前梧葉已秋聲


Ngẫu thành
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Tuổi trẻ có học mới thành. 
Một tấc lên tận trời xanh mấy người. 
Ao xuân cỏ mộng xanh ngời. 
Thoảng nghe chiếc lá thu rơi ngoài thềm.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Chu Hy 朱熹 (1130 - 23/4/1200) là nhà tư tưởng đời Tống, tự Nguyên Hối 元晦, hiệu Hối Am 晦庵, người Vụ Nguyên, Huy Châu (nay thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Quốc), đỗ tiến sĩ năm Thiệu Hưng thứ 18 (1148).

Nguồn: Thi Viện



THỜI TRẺ CHU NGUYÊN CHƯƠNG VIẾT MỘT CHỮ NHẤT, THẦY TOÁN MỆNH BẢO ÔNG TRỐN ĐI

Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương từ ăn xin đến làm hoàng đế, nên bản thân ông đã có rất nhiều truyền kỳ, những câu chuyện về ông nhiều không đếm xuể. Câu chuyện ông xem toán mệnh trước trận chiến đánh bại cường địch Trần Hữu Lượng chính là một trong số đó.


Trước trận quyết chiến với Trần Hữu Lượng, Chu Nguyên Chương dẫn đại quân từ Hòa Châu vượt sông hành quân theo đường Thái Bình, sau đó tạm thời đóng quân. Chu Nguyên Chương là người không chịu nổi nhàn rỗi, do thân thế khổ cực bi thương, nên ông luôn thích đi khắp nơi xem xét tình hình cuộc sống của người dân. Hôm đó, Chu Nguyên Chương mặc bộ y phục vải thô rách rưới, cũng không đem theo thị vệ, một mình đi ra ngoài.

Do chiến tranh loạn lạc liên miên, đại đa số người dân đều ăn chưa đủ no, nên trên phố rất đìu hiu. Chu Nguyên Chương vừa đi vừa than thở. Lúc này đột nhiên bên tai ông vọng đến tiếng gọi: “Vị đại huynh này tướng mạo phi phàm, nhìn là biết người đại phú đại quý. Này… đừng đi nhé, tôi vốn là thầy toán mệnh, không đúng không lấy tiền”.

Chu Nguyên Chương là người không chịu nổi nhàn rỗi, do thân thế khổ cực bi thương, nên ông luôn thích đi khắp nơi xem xét tình hình cuộc sống của người dân. (Ảnh: epochtime)

Chu Nguyên Chương thuận thế bước đến, buộc miệng hỏi: “Tiên sinh đoán tiền đồ cho tôi nhé”.

Thầy toán mệnh quan sát Chu Nguyên Chương một lát, sau đó bảo ông hãy viết một chữ. Thế là Chu Nguyên Chương viết lên mặt đất chữ Nhất (一) rồi nói: “Là chữ Nhất này, mời tiên sinh đoán đi”.

Thầy toán mệnh kinh nhạc nhìn một lát rồi ngẩng đầu nhìn Chu Nguyên Chương, rồi đột nhiên cuống quýt xóa chữ đi, sau đó kéo Chu Nguyên Chương lại và ghé tai nói nhỏ: “Anh mau trốn đi, không được nói bất cứ điều gì. Chạy thoát mạng là quan trọng nhất”.

Chu Nguyên Chương lắc đầu, cứ nhất quyết hỏi cho rõ ràng. Thầy toán mệnh nói khẽ: “Chữ Nhất (一) này, viết ở trên mặt đất, tức Thổ (土) thì chính là chữ Vương (王). Sau này anh nhất định sẽ làm hoàng thượng. Hiện nay Chu Trọng Bát (tên gốc của Chu Nguyên Chương) đã đem quân đến rồi, sẽ quyết chiến với Trần Hữu Lượng. Nếu việc này mà để Chu Trọng Bát biết được thì cái mạng của anh khó mà giữ được. Nghe nói ông ấy rất tin vào những việc như toán mệnh, đoán chữ như thế này. Anh còn nói nhiều lời gì nữa, mau trốn đi”.

Chu Nguyên Chương vừa kinh ngạc vừa vui mừng, thầm nghĩ: “Theo như những lời này của thầy toán mệnh, vậy trận quyết chiến với kẻ địch mạnh Trần Hữu Lượng lần này, mình sẽ khắc chế được và chiến thắng chăng?”.

Thế là Chu Nguyên Chương lại hỏi: “Vậy ngài xem, Chu Trọng Bát và Trần Hữu Lượng, ai sẽ chiến thắng?”

Thầy toán mệnh vừa đẩy Chu Nguyên Chương đi vừa nói: “Phùng hung chi xứ bất thị hung, chỉ nhân Trọng Bát hựu phùng xuân (Gặp nơi hung hiểm lại không hung hiểm, Trọng Bát lại gặp mùa xuân). Trọng Bát ắt sẽ thắng. Chớ nói nhiều nữa, mau chạy đi”.

Chu Nguyên Chương vốn muốn đưa tiền cho thầy toán mệnh, nhưng lại phát hiện ra không mang theo một xu nào, thế là Chu Nguyên Chương ôm quyền nói: “Xin thụ giáo, sau này nếu phát đạt, tại hạ nhất định sẽ đến cảm tạ”.


Nhiều ngày sau, trong trận chiến hồ Bà Dương, Chu Nguyên Chương quả nhiên nhất cử tiêu diệt Trần Hữu Lượng. Thế là Chu Nguyên Chương đích thân đến tìm thầy toán mệnh này, nhưng tìm khắp mà không thấy.

Câu chuyện truyền kỳ này cũng được ghi chép trong sử sách “Minh triều tiểu sử” rằng: “Thái tổ từ Hòa Châu vượt sông đi đường Thái Bình, gặp một thuật sĩ, hỏi rằng: Thiên hạ loạn lạc, sẽ thuộc về ai? Thuật sĩ trả lời rằng: Xin viết một chữ để xem bói. Thái tổ lập tức rút dao vẽ một chữ Nhất trên mặt đất. Thuật sĩ cúi xuống xe rồi bái lễ nói rằng: Một chữ Nhất trên mặt đất tức trên chữ Thổ, thần biết ngài là Vương”.

Tường Hòa
Theo Apollo

Saturday, May 9, 2026

VÌ SAO NGƯỜI QUÂN TỬ COI CÁI CHẾT NHẸ TỰA LÔNG HỒNG?

Đời người như mộng, sinh lão bệnh tử cũng là lẽ thường. Nhưng khi đứng trước lằn ranh sinh tử, có mấy ai coi chuyện sống chết tựa như lông hồng?


Trang Tử coi cái chết như một trò đùa

Men theo dòng sông lịch sử cuồn cuộn của văn minh phương Đông, ta hãy trở ngược về thời Tiên Tần, nơi ta sẽ bắt gặp một trong những triết gia cá tính nhất của Trung Hoa cổ đại: Trang Tử.

Trang Tử sống đời ẩn dật, sử sách ghi chép về ông rất kiệm lời. Một trong những bộ sách cổ xưa nhất chép về ông là “Sử Ký” (Tư Mã Thiên) cũng chỉ dành khoảng vài trăm chữ nói rất sơ lược trong “Truyện Trang Tử”. Ở đó dù không biết Trang Tử sinh mất năm nào, quê quán ở đâu, nhưng đại để ta có thể vẽ lại một chút tính cách con người ông thế này: Học rộng, hiểu nhiều, viết một bộ sách 10 vạn chữ (Nam Hoa Kinh), gần với đạo Lão Tử mà chê đạo Khổng, cá tính mạnh, ghét cường quyền, thích tiêu diêu tự tại. Trang Tử là một trượng phu đầy hào khí, tính tình phóng khoáng, phiêu dật, có phần cao ngạo. Quan niệm về sự sống – cái chết của ông rất khoáng đạt, nói cách khác ông không coi cái chết ra gì.

Chuyện kể rằng, vợ Trang Tử chết, có người bạn là Huệ Tử đến viếng. Vừa vào nhà, Huệ Tử đã giật nẩy người khi thấy Trang Tử xoạc chân ngồi gõ ình ình vào một cái vò mà hát nghêu ngao. Huệ Tử kinh hãi nói:

– Ăn ở với người ta, người ta nuôi con cho, nay người ta chết, chẳng khóc là bậy rồi, lại còn hát gõ nhịp vào cái vò, chẳng là quá tệ ư?

Trang Tử nghe bạn nói vậy, cứ vừa cười vừa gõ vò mà rằng:

– Không phải! Khi nhà tôi mới mất, làm sao tôi không thương xót? Nhưng rồi nghĩ lại thấy lúc đầu nhà tôi vốn không có sinh mệnh; chẳng những không có sinh mệnh mà còn không có cả hình thể nữa, chẳng những không có hình thể mà đến cái khí cũng không có nữa. Hỗn tạp ở trong cái khoảng thấp thoáng, mập mờ mà biến ra thành khí, khí biến ra thành hình, hình biến ra thành sinh mệnh, bây giờ sinh lại biến ra thành tử, có khác gì bốn mùa tuần hoàn đâu. Nay nhà tôi nghỉ yên trong cái Nhà Lớn (tức trời đất) mà tôi còn ồn ào khóc lóc ở bên cạnh thì tôi không hiểu lẽ sống chết rồi. Vì vậy mà tôi không khóc.

Tình thân quyến thật nặng, ấy vậy mà Trang Tử chỉ coi như cơn gió thoảng qua. Vợ chết rồi vẫn ung dung ngồi nói được những lời kia. Thật là một tư tưởng kỳ lạ! Bạn đừng quên Trang Tử sống ở thời Chiến Quốc, cách đây ít nhất cũng phải 2300 năm…

Trang Tử thật cổ quái, vợ chết còn hát nghêu ngao, cho đến khi chính mình đang lâm cơn hấp hối vẫn giữ một thái độ thản nhiên! Chuyện kể rằng, lúc Trang Tử sắp lâm chung, các đệ tử vây quanh ông khóc lóc. Có người nói rằng phải làm tang cho thầy thật hậu để tỏ rõ uy đức của Trang Tử. Ông nghe được, bèn gạt đi, nói:

– Chớ làm vậy! Ta chết đi đã có trời đất làm quan quách, mặt trời mặt trăng làm ngọc bích, các tinh tú làm ngọc châu, vạn vật sẽ đưa ma ta, như vậy đồ táng ta chẳng đủ rồi sao? Còn phải thêm gì nữa?

Các học trò lại thưa:

Chúng con sợ diều quạ sẽ rỉa xác thầy.

Trang Tử thản nhiên đáp:

Ta trên mặt đất thì bị quạ và diều hâu rỉa, ở dưới đất thì bị kiến và sâu đục, đằng nào cũng vậy. Tại sao các con lại thiên vị, cướp của các loài trên mà cho các loài dưới?

Hàng nghìn năm qua, câu chuyện này đã trở thành đề tài bàn luận của biết bao nhiêu nhân sĩ. Có người chê Trang Tử bỡn cợt, trào phúng quá. Có người nói Trang Tử có lẽ không muốn học trò tốn công tốn của hậu táng mình mà nói thế. Lại có người cho đây chỉ là câu chuyện đời sau thêu dệt… Ta chưa có bằng cứ nào nói rằng ai đúng ai sai. Nhưng với tính cách phiêu dật của mình, Trang Tử có thể làm ra những điều đó lắm chứ! Trang Tử cả đời theo đuổi triết thuyết vô vi, thuận theo tự nhiên của mình, hẳn có lẽ cũng thấu hiểu được sự vô thường của nhân sinh.

Người ta chết rồi chính là trở về với tự nhiên. Nào công hầu, nào danh tướng, nào mỹ nhân, nào già nào trẻ, nào ngu nào hiền, chết đi rồi cũng chỉ vỏn vẹn một nấm mồ xanh mà thôi. Có gì là quan trọng đây?

Socrates lấy cái chết ra để bảo vệ chân lý

Gần như cùng thời với Trang Tử, ở phương Tây cũng có một người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, ấy là Socrates. Là một triết gia nhưng Socrates mạnh mẽ chẳng kém gì những dũng tướng đương thời. Bởi những nỗ lực truyền bá tri thức của mình, ông bị toà án Athens kết án vì một lý do rất quen thuộc mà giới cầm quyền thường đưa ra: “Gieo rắc nghi ngờ các thần linh mà chính thể Athens thời đó tôn thờ, kêu gọi nhân dân tôn thờ các thần linh ngoại lai và làm hư hỏng thanh thiếu niên”. “Tội” của Socrates quá lớn. Chính thể Athens không thể để con người “nguy hiểm” và “nổi loạn” ấy ở lại được nữa. Họ ép ông phải tự tử bằng một chén thuốc độc.

Nhưng Socrates đã không hề run sợ. Trong bức tranh nổi tiếng “Cái chết của Socrates” của danh hoạ người Pháp thuộc trường phái Tân Cổ điển Jacques-Louis David vẽ năm 1787, Socrates hiện lên như một vị Thần, xung quanh là những môn đệ đau đớn, gục ngã khi phải chứng kiến bi kịch của thầy. Trong bức tranh, Socrates vừa nói vừa giơ tay trái lên trời, phong thái hùng hồn, tự tin. Tay phải ông dửng dưng với lấy chén thuốc độc không hề run sợ. Trước cái chết, Socrates vẫn điềm tĩnh lạ thường! Bức tranh của David đâu chỉ là một tác phẩm hội hoạ kiệt xuất, ấy là sự ca tụng dành cho những người kiên trì chân lý, thậm chí có thể lấy cái chết ra để bảo vệ đức tin của mình.


Cái chết không đáng sợ như người ta nghĩ. Điều đáng sợ lớn nhất lại chính là người ta luôn… sợ chết! Hiểu được nhân sinh là ngắn ngủi, trần gian là cõi tạm không phải là cái khí khái liều mình không sợ chết đến mức sẵn sàng phung phí sinh mệnh của mình. Đó là cái hiểu của bậc trí giả, của người có hàm dưỡng. Có một điều cần phải nói là người xưa… ít sợ chết hơn người thời nay, dù y tế và các phương pháp kéo dài tuổi thọ ngày càng trở nên tinh vi hơn.

Người xưa không sợ cái chết bởi họ tin rằng cái chết không phải là kết thúc cuối cùng. Nó giống như mở ra một cánh cửa khác, bước vào một không gian khác vậy thôi. Lòng thành kính vô hạn với Thần Phật cho phép họ có được đức tin ấy. Với họ, điều đáng sợ nhất lại chính là sự sống sau cái chết vậy, là sự trừng phạt dưới âm gian, là cái giá phải trả ở “Ngày phán xét” cuối cùng!

Cái chết, quả thực, không doạ được người quân tử.

Tiểu Lý / Theo: ĐKN

BẢO VẬT TRẤN SƠN CỦA NGŨ ĐÀI SƠN: CHẠM VÀO LẠNH BUỐT DƯỚI NẮNG GẮT

Phía sau chánh điện của ngôi chùa trên núi có một tảng đá khổng lồ tự nhiên mang tên "Thanh Lương thạch", xứng đáng là bảo vật trấn sơn của Ngũ Đài Sơn. (Nguồn ảnh: hecke71/stock.adobe.com)

Bảo vật trấn sơn của Ngũ Đài Sơn

Từ chân núi Nam Đài đi về hướng Tây Bắc khoảng 20 km, có một thung lũng tên là Thanh Lương Cốc, tận cùng thung lũng tọa lạc một ngôi cổ tự ngàn năm đẹp như tranh vẽ tên là chùa Thanh Lương. Phía sau chánh điện của ngôi chùa có một tảng đá khổng lồ tự nhiên mang tên “Thanh Lương thạch”, xứng đáng là bảo vật trấn sơn của Ngũ Đài Sơn. Mặt trên của đá bằng phẳng, mặt dưới lõm vào, dài khoảng 5m, rộng 2,5m, cao 2m, hình dáng tổng thể tựa như một cây linh chi khổng lồ.

Khí hậu ở Ngũ Đài Sơn vốn rất khắc nghiệt, mùa hè nóng bức, mùa đông lạnh giá, quanh năm cát vàng cuồn cuộn, chim muông thú rừng đều không thể sinh tồn ở đây, bá tánh xung quanh lại càng phải chịu nhiều khổ cực. Bồ tát Văn Thù với tấm lòng từ bi đã phát nguyện cứu độ sinh linh, bèn đi đến Long cung ở Đông Hải, muốn mượn một viên bảo thạch để mang lại sức sống cho Ngũ Đài Sơn.

Thế là, Bồ tát Văn Thù hóa phép thành một lão hòa thượng đi khất thực đến Long cung, ngỏ ý mượn Long Vương một tảng đá trước cổng cung điện để cải thiện khí hậu Ngũ Đài Sơn, tạo phúc cho nhân gian. Long Vương lộ vẻ khó xử, hóa ra tảng đá đó tên là “Yết Long thạch” (Đá rồng nghỉ). Mỗi khi năm người con trai của Long Vương (Ngũ long tử) đi làm mưa làm gió trở về, mồ hôi đầm đìa, nóng bức khó chịu, chỉ cần nằm lên tảng đá đó là có thể nhanh chóng phục hồi tinh thần, nên đây là bảo vật mà Long Vương và các long tử trân quý nhất. Long Vương không tiện từ chối thẳng, nhưng nghĩ rằng tảng đá nặng hơn vạn cân, lão hòa thượng chưa chắc đã mang nổi, bèn nói: “Tảng đá ngoan cố này cũng chẳng phải bảo vật gì, nhưng lại rất nặng, nếu ngài có bản lĩnh thì cứ mang nó đi.”

Thanh Lương Tự

Nào ngờ, Bồ tát Văn Thù thần thông quảng đại, miệng nhẩm thần chú, biến tảng đá khổng lồ trở nên nhỏ nhắn như viên đạn súng cao su, từ từ bay vào trong tay áo của Bồ tát. Bồ tát bay đi nhẹ nhàng, chỉ còn lại Long Vương sững sờ, trong lòng kêu khổ không ngớt. Ngũ long tử về cung, biết tin Yết Long thạch bị Bồ tát Văn Thù mang đi thì tức giận lôi đình, hầm hầm bay tới Ngũ Đài Sơn chuẩn bị cướp lại bảo thạch. Ngũ long tử tuổi trẻ bồng bột, gặp Bồ tát thì kiêu ngạo vô lễ. Bồ tát bèn thi triển chút phép thuật, gộp hai ngọn núi Trung Đài và Bắc Đài lại, kẹp chúng ở giữa. Các long tử không thể nhúc nhích, chỉ có thể giãy giụa vung vẩy đuôi rồng.

Chỉ thấy đuôi rồng quét qua sườn núi, những tảng đá lớn lăn lông lốc xuống, trở thành “Long Phiên thạch” (Đá rồng lật) mà người đời nay vẫn truyền tụng; quét qua đỉnh núi, lập tức san phẳng thành một bình đài bằng phẳng. Cuối cùng, Ngũ long tử bị Bồ tát Văn Thù thu phục. Tảng “Yết Long thạch” đó thì được đặt vĩnh viễn trên Ngũ Đài Sơn, linh khí tràn ngập khắp núi đồi. Từ đó Ngũ Đài Sơn trở nên mát mẻ, mưa thuận gió hòa; đỉnh núi cỏ xanh tươi tốt, trở thành đồng cỏ tự nhiên; trong núi cây cối rậm rạp, kỳ hoa dị thảo muôn màu muôn vẻ, khắp nơi tràn đầy sức sống. Ngũ Đài Sơn cũng chính thức có tên là “Thanh Lương Sơn”, và Yết Long thạch cũng được đổi tên thành “Thanh Lương thạch”.

Thành phần chính của Thanh Lương thạch là đá thạch anh và đá phiến ma, dù phơi mình dưới cái nắng chói chang thì khi chạm vào vẫn có cảm giác lạnh buốt, dường như mang một thuộc tính mát mẻ nhất định. Tuy nhiên ngoài điều đó ra, Thanh Lương thạch không có điểm gì đặc biệt khác. Lẽ nào nó thực sự có thể quyết định khí hậu của cả một vùng núi sao?

Thanh Lương Thạch

Trong vùng núi, hoặc nằm rải rác ở những thung lũng hẻo lánh, hoặc khảm vào những vách đá dựng đứng, để lộ ra nhiều tảng đá có hoa văn kỳ dị. Những đường vân đó trông như những lớp trang sách, lại giống như những gợn sóng nước, nhô lên như phù điêu, loáng thoáng hé lộ thông điệp từ thời viễn cổ. Theo khảo sát của các học giả, đây là một loại hóa thạch sinh học có tên là stromatolite, hoa văn của nó chính là dấu vết sự sống của những sinh vật tảo cổ xưa nhất, nguyên thủy nhất thời tiền sử. Những sinh vật nhỏ bé này sinh sống trong đại dương cách đây khoảng 3 tỷ năm.

Còn tuổi thọ của khối đá Ngũ Đài Sơn lên tới khoảng 2,5 tỷ năm. Trải qua những tác động địa chất mạnh mẽ và phức tạp, Ngũ Đài Sơn đã nhô lên từ đáy biển, là một trong những vùng đất lộ diện trên mặt nước sớm nhất trên Trái đất, đồng thời cũng là một trong những dãy núi cao nhất được cấu tạo bởi các tầng địa chất cổ đại được biết đến trên thế giới.

Địa mạo cận băng

Ngũ Đài Sơn có nhiều nơi thể hiện rõ nét địa mạo cận băng điển hình. Ghi chép sớm nhất về hiện tượng địa mạo cận băng cổ đại xuất phát từ quyển du ký của Từ Hà Khách: “Ta đi trước đến phía nam đài, trèo lên Long Phiên thạch, nơi đó có hàng vạn tảng đá nằm ngổn ngang, nhô lên đỉnh núi.” Các nhà địa chất học cho rằng, Long Phiên thạch chính là “biển đá” (felsenmeer), thường phát triển trên các bề mặt san phẳng ở đỉnh núi hoặc những nơi có địa hình thoải. Còn trên những vách đá cuồn cuộn sóng xanh của Ngũ Đài Sơn lại phủ đầy những tảng đá vỡ xếp dọc, tuôn rơi như một thác nước, đây là một hiện tượng “sông đá” khác, thường phát triển ở các vùng đất trũng hoặc thung lũng trong vùng đất đóng băng, có trạng thái nhúc nhích chậm chạp.

Thanh Lương Thạch

Ngoài cảnh quan đá vỡ ngoạn mục, tại sườn dốc của các ngọn núi cao chót vót lại càng xuất hiện nhiều khối phình to nhô lên một cách đột ngột, giống như một chiếc mặt trống lồi. Chúng chính là “gò băng trương nở” (pingo), còn gọi là đồi băng, thuộc loại địa mạo đất đóng băng. Còn trên các đồng cỏ trên đỉnh núi, đâu đâu cũng có thể thấy những hố trũng được bao quanh bởi đá vỡ, đây cũng là một trong những hiện tượng của địa mạo cận băng – “hồ nhiệt dung” (thermokarst).

Những hiện tượng trên phần lớn được hình thành do sự tác động chung của nhiều yếu tố như sự trương nở do đóng băng, sự tan chảy vì nhiệt, trọng lực, sức gió…, đa số xuất hiện ở các khu vực có vĩ độ cao, độ cao trên 4.000 đến 5.000 mét so với mực nước biển. Tuy nhiên, Ngũ Đài Sơn lại nằm gần vĩ độ 38° Bắc, độ cao cao nhất trên đỉnh núi cũng chỉ hơn 3.000 mét, vậy mà lại xuất hiện những đặc điểm địa chất đặc trưng của vùng núi cao lạnh giá.

Đồng thời, Ngũ Đài Sơn nằm ở vùng khối núi đứt gãy, bên trong lòng núi chi chít những khe nứt, nước mưa và nước ngầm lưu trữ, phân bổ trong đó, hình thành nên các dòng suối tuôn trào, cuối cùng tạo thành một mạng lưới thủy văn dày đặc trong vùng núi. Những dòng suối ngọt ngào trong vắt lặng lẽ chảy, đi đến đâu cũng mang lại cảm giác mát mẻ lạnh giá cho con người. Cộng thêm luồng không khí ấm áp, ẩm ướt từ đại dương kết hợp với hơi nước của núi rừng tạo thành lượng mưa dồi dào, cùng với các cảnh quan thiên nhiên mang biểu tượng cát tường như mây khói bao phủ, hào quang rực rỡ sắc màu.

Lê Huyền / Theo: Vision Times
Link tham khảo:



NGU MỸ NHÂN - ÁN KỶ ĐẠO


Ngu mỹ nhân

Phi hoa tự hữu khiên tình xứ,
Bất hướng chi biên truỵ.
Tuỳ phong phiêu đãng dĩ kham sầu,
Cánh bạn đông lưu lưu thuỷ, quá Tần lâu.

Lâu trung thuý đại hàm xuân oán
Nhàn ỷ lan can kiến
Viễn đàn song lệ tích hương hồng.
Ám hận ngọc nhan quang cảnh, dữ hoa đồng.


虞美人 - 晏幾道

飛花自有牽情處,
不向枝邊墜。
隨風飄蕩已堪愁,
更伴東流流水、過秦樓。

樓中翠黛含春怨,
閑倚闌杆見。
遠彈雙淚惜香紅,
暗恨玉顏光景、與花同。


Ngu mỹ nhân
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Hoa rơi chẳng phải vô tình. 
Cành cây nghiêng ngả, cho mình ngả nghiêng. 
Gió sầu, phiêu lãng niềm riêng. 
Xuôi dòng nước chảy, chốn thiêng Tần Đài. 
Lầu xuân vương vấn nét ngài. 
Lan can tựa cửa, ngóng hoài xa xăm. 
Đôi dòng lệ ướt thấm khăn. 
Dung nhan tươi thắm, băn khoăn hoa ngời !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Án Kỷ Đạo 晏幾道 (1050-1119) tự Thúc Nguyên 叔原, hiệu Tiểu Sơn 小山, từ nhân đời Bắc Tống, người Lâm Xuyên, Phủ Châu (nay thuộc Giang Tây). Ông là con thứ 7 của Án Thù 晏殊. Văn tứ của ông rất mới, tác phẩm của ông có tập Tiểu Sơn từ.

Nguồn: Thi Viện