Sunday, October 25, 2026

MÓN XÁ BẤU CỦA TIỀU

Ở miền Nam nầy, người Việt mình ai cũng từng ít nhiều quen biết vài chú thím Tiều. Và hình ảnh người Tiều đó thế nào cũng gắn liền món xá-bấu.

Xá-bấu, thần khí Triều Châu.

Nhắc người Tiều là phải nhắc xá-bấu. Mà muốn bàn cho tới ngọn nguồn xá-bấu, không thể bỏ qua chén cháo trắng cũng như kho đồ mặn của người Tiều.

A. CHÉN CHÁO NGƯỜI TIỀU

Cháo là món ăn lỏng nấu bằng ngũ cốc như gạo, hột kê hoặc hột bắp các cái. Tùy thung thổ, tập tính, hoàn cảnh mỗi nơi mà cháo đặc lỏng khác nhau.

Tỷ như người tỉnh Sơn Đông bên Tàu luôn phải uống gì đó trước khi ăn, thậm chí chén nước nóng cũng được, kêu bằng “tráng bao tử”. Từ đó, vùng nầy có món cháo dẻo để ruột rà tập dợt trước bữa cơm.

Còn với người bịnh, chén cháo lỏng hột gà lại thích hợp hơn, vừa bồi bổ vừa dễ tiêu.

Rồi tùy khẩu vị mỗi người mà có cháo đậu, cháo thịt, cháo cá v.v…

Riêng ở Triều Châu, chén cháo trắng mỗi sáng là thứ không thể thiếu. Đây không chỉ thói quen, mà là tập quán đất Tiều.

Tiếng Tiều kêu cháo là “mí” (Mi 糜), nó khiến ghiền tới nỗi nhiều chú thím Tiều mỗi ngày phải vài cữ cháo trắng đều đều. Từ đó mà có “Chạ mí” (早糜 Cháo sáng), “dà mí” (夜糜 Cháo đêm)… Thậm chí cuối bữa tiệc thế nào cũng có chén cháo trắng kêu “Toon búi” (Đơn vĩ 單尾, ý nói món đơn giản cuối tiệc), đặng hãm bớt chất béo.

Chén cháo khều thương gãi nhớ người Tiều tới nỗi dù đụng chuyện lửa táp ngang mày cũng kệ tía, họ cứ về nhà dứt chén cháo trước đã rồi tính gì tính.


Cháo Tiều có hai loại, là cháo trắng với cháo súp.

1) Cháo súp (“Pả mí”, Bào mi 泡糜) thường nấu lỏng, bằng nước luộc hoặc với các món ăn kèm, như cháo hàu, cháo thịt bằm, cháo cá chim… Vì mùi thơm bắt mũi, nên còn kêu “Xeng mí” (Hương mi 香糜).

Cháo cá, cháo thịt thì đại khái ở đâu cũng vậy, lại tùy khẩu vị mỗi vùng mà ngon cách riêng, nên nhiều khi cháo hàu của Tiều chưa chắc sánh nỗi cháo Cồn Hến đất Huế bên mình.

2) Cháo trắng: Nấu đặc hơn, thường bằng gạo dẻo. Bắc nồi nước lên bếp, chụm lửa lớn cho nước sôi mới trút gạo vô. Chừng hột gạo nở bung thì nhắc nồi xuống. Bằng cách nầy, cháo sẽ tự chín từ từ nhờ nhiệt độ còn lại, hột cháo lắng xuống mà không dính quện nhau. Lúc nầy lớp hồ trên cùng trở nên trắng mịn, đặc sánh như kem, có thể nhẹ nhàng bóc ra khi cháo nguội. Vậy mới đúng món cháo khoái khẩu người Tiều, và vì để nguội nên còn kêu “Khẻn mí” (Khánh mi 罄糜, Khánh là nguội) (Hình 1).

Nhưng cháo trắng thì cỡ tay ngự thiện nấu cũng món lạt lẽo, làm sao ăn nổi ngày nầy qua tháng khác?

Là vì cháo đó luôn có đồ mặn đi kèm.


B. ĐỒ MẶN NGƯỜI TIỀU

Đồ mặn nầy, Tiều ngữ kêu “Chạp kem” (Tạp hàm 雜鹹).

Chữ Tạp vừa nghĩa là “trộn lộn”, vừa là “món phụ”. Như Tạp lương 雜糧 là lương thực phụ ngoài ngũ cốc (cao lương, yến mạch, rau đậu các cái…). Hàm là mặn. Vị mặn đứng đầu ngũ vị, nên trong tiếng Tiều, “Hàm” còn để chỉ các món ăn kèm với cơm.

Ngạn ngữ Triều Châu có câu “Thực phạn, thực mi trứ hàm phối” 食飯食糜著鹹配 (Ăn cơm ăn cháo phải phối với vị mặn). Lại có câu “Thực ngư, thực nhục trứ thái giáp” 食魚食肉著菜佮 (Ăn cá ăn thịt phải kèm thêm rau). Tình cờ chữ cuối hai ngạn ngữ trên ghép lại thành động từ “Phối giáp”, nghĩa là “điều hòa, phối hợp”.

Xưa nay phần lớn người Tàu vẫn theo đạo Ẩm thực, có số tín đồ bằng cả Tam giáo cộng lại. Đạo nầy lấy phép Điều hòa làm đầu, với tôn chỉ là câu trong “Quốc ngữ” của Tả Khâu Minh[1]: “Điều hòa là phép sanh thành vạn vật. Tiền nhơn nhờ khéo điều phối ngũ vị mà sướng miệng ăn người ta, giúp thân thể khỏe mạnh” (thiên Trịnh ngữ).

Đồ mặn chính là pháp bửu điều hòa khẩu vị, giúp sanh thành dưỡng dục nên người Triều Châu.

Sơn hào hải vị ngon mấy đi nữa, ăn nhiều cũng ngán; mà các món giản dị nếu khéo phối hợp, điều chế lại càng ăn càng ghiền.

Người Tiều xa nhà nhớ hơi vợ chỉ ba phần, còn lại bẩy phần tương tơ cháo trắng, chính vì kho Tạp hàm nầy.

Kêu bằng “kho” vì có cả đống đồ mặn, từ rau củ trái cây theo mùa tới tôm khô cá viên, có hơn trăm món. E là tới chủ tiệm tạp hàm cũng không biết hết thẩy có nhiêu mặt hàng. Chỉ có thể dựa trên nguyên liệu để chia làm ba loại đồ mặn là: rau củ muối dưa, tôm cá heo vịt phơi khô, và các thứ đậu được muối thành dưa.


“Nhứt uyển Triều Châu bạch chúc, hậu cung giai lệ tam thiên” 一碗潮州白粥,後宮佳麗三千 (Ăn chén cháo trắng Triều Châu, cầm bằng ba ngàn mỹ nữ theo hầu) là vậy.

Và trong ba ngàn mỹ vị đó, xá-bấu được tôn hoa khôi chủ xị.

C. XÁ BẤU

Xá-bấu tức Thái phủ 菜脯[2], củ cải mặn.

Nó chỉ là củ cải trắng phơi khô, đợi khi mềm tới thì ướp với muối và gia vị. Xong cất trong khạp để dành, càng lâu càng ngon.

Món nầy đã hàm dưỡng vitamin B lại dồi dào chất sắt. Ta nói cắn vô một miếng nó mẳn mẳn, vừa thơm vừa giòn, nhai tới đâu đã răng tới đó, có thể nói xứng danh đệ nhứt pháp bửu của Triều Châu.

Đây là chúa tể tam cung lục viện, thiên biến vạn hóa, chuyên trị hết thẩy hải vị sơn hào. Từ nấu canh gà, chiên trứng, hầm giò heo… hễ có thêm xá-bấu, nội mùi nó thôi thơm chấp hết ta bà.


Than ôi, than ôi! Xá-bấu là vai chính bài viết nầy, nhưng vừa nhắc tới đã ứa gan, tôi xuống bếp bắc nồi cháo, đặng nhờ xá-bấu mài răng đây!

_________

[1] Tả Khâu Minh: Sử gia nước Lỗ thời Xuân thu Chiến quốc, sống trước thời Khổng tử. Ông là tác giả hai bộ kỳ thư “Tả truyện” và “Quốc ngữ”.

Tả truyện giải thích bộ sử ký “Xuân thu”, được cho là tác phẩm kinh điển của Nho giáo thời Chiến quốc.

Quốc ngữ là bộ “Quốc biệt sử” (Lịch sử riêng của các nước chư hầu) đầu tiên của Trung Hoa. Bộ nầy tư tưởng tiến bộ, phản đối chuyên chế hủ bại.

[2] Hầu hết tài liệu Việt ngữ đều cho xá-bấu là Thái bào 菜泡. Nhưng Bào nếu danh từ thì là bọt nước; tính từ là bở, xốp; động từ là pha, ngâm nước. Hoàn toàn chớ liên quan gì tới món ăn.

Nên Xá-bấu phải là Thái phủ 菜脯. Phủ đây là danh từ, để chỉ các thứ thực phẩm phơi khô.

Lê Vĩnh Húy
Theo: saigonthapcam



VÌ SAO BẠN HAY BUỒN VÔ CỚ? PHẢI CHĂNG ĐÓ LÀ MÓN NỢ TÌNH CẢM?

Có bao giờ bạn bỗng dưng rơi vào trạng thái u uất, nặng nề mà không rõ nguyên nhân?


Ban ngày vẫn cười nói bình thường, nhưng đêm về căn phòng tối trong lòng lại mở ra, khiến bạn thức trắng nhìn lên trần nhà. Bạn đi du lịch, tụ tập, tìm đủ cách giải khuây nhưng nỗi buồn ấy vẫn bám theo như hình với bóng.

Nhiều người gọi đó là “buồn vô cớ”. Nhưng dưới góc nhìn nhân quả, nỗi buồn ấy hiếm khi vô cớ. Nó thường là lời nhắc nhở về những gì ta đã gieo trong quá khứ, đặc biệt là những tổn thương tình cảm ta từng vô tình hoặc cố ý gây ra cho người khác.

Câu chuyện dưới đây là minh chứng rõ ràng.

Hôm rồi, trong một khóa tu, tôi gặp một anh Phật tử vừa vượt qua được cơn trầm cảm nặng. Nhìn bề ngoài, anh khiến ai cũng bất ngờ. Ngoại hình đẹp trai, ăn nói lưu loát, xuất thân gia đình khá giả, công việc ổn định. Vậy mà anh từng phải trải qua những năm tháng tuyệt vọng, sống trong bóng tối của bệnh lý.

Anh vốn là người rất đào hoa. Vì vừa có ngoại hình, vừa có điều kiện nên rất nhiều bạn nữ yêu mến. Nhưng thay vì trân trọng, anh xem tình cảm của họ chỉ là trò vui. Anh đùa giỡn, hứa hẹn cho vui, rồi khi hết hứng thú thì dứt áo ra đi, mặc kệ phía sau là những giọt nước mắt và trái tim tan vỡ. Với anh lúc ấy, đó chỉ là cuộc chơi, chẳng có gì nghiêm trọng.

Cho đến một ngày, tâm trạng anh đột ngột rơi vào trạng thái u uất kéo dài. Cảm giác ấy giống như có một căn phòng tối trong lòng. Ban ngày cánh cửa đóng lại, anh vẫn có thể giả vờ bình thường. Nhưng đêm xuống, cánh cửa ấy mở toang, nỗi nặng nề ập đến khiến nhiều đêm anh thức trắng.

Anh thử đủ cách, từ nghe theo bạn bè rủ đi du lịch, tụ tập ăn nhậu, vui chơi… nhưng nỗi buồn vẫn dai dẳng, lúc thì đứng sau lưng, lúc lại hiện ra trước mặt, không cách nào dứt ra được.

Khoảnh khắc bừng tỉnh đến khi anh tham gia một khóa thiền. Trong lúc nghe sư thầy giảng, một câu nói đâm thẳng vào tâm trí anh: “Người nào làm người khác đau khổ vì tình cảm thì người đó phải trả giá bằng chính sự bất an của mình.”

Câu nói ấy khiến anh trằn trọc cả đêm không ngủ được. Anh nhớ lại từng gương mặt những cô gái từng đi qua đời mình. Những lời bông đùa cợt nhả, những lời hứa cho vui, và những giọt nước mắt mà trước đây anh cho là không quan trọng. Bỗng nhiên anh nghẹn lại, rồi bật khóc. Anh khóc vì lần đầu nhận ra sự đào hoa của mình đã gây ra biết bao đau khổ, và chính nỗi đau ấy đang trở lại tìm anh dưới hình thức sự bất an, tuyệt vọng kéo dài.

Từ đó anh hiểu: Nỗi buồn không bao giờ tự nhiên xuất hiện. Nó là quả của những nhân đã gieo.

Khi chúng ta khiến người khác tổn thương trong tình cảm, chúng ta đang tạo ra một món nợ không thể trả bằng tiền. Món nợ ấy sẽ trở lại dưới dạng sự bất an, trầm cảm, hoặc những khoảng tối trong tâm hồn mà không cách nào giải khuây được.


Câu chuyện này không chỉ là lời cảnh tỉnh cho những ai từng xem tình cảm như trò chơi. Nó còn nhắc nhở tất cả chúng ta rằng mọi hành động đều có giá. Đặc biệt trong chuyện tình cảm, là nơi trái tim con người mong manh nhất, nơi những tổn thương chúng ta gây ra sẽ không biến mất. Chúng chỉ tạm thời ẩn đi, rồi một ngày nào đó trở lại đòi nợ bằng chính sự bình yên của chúng ta.

Nếu bạn từng vô tình hoặc cố ý làm ai đó đau khổ vì tình cảm, hãy dừng lại và nhìn nhận. Sự hối hận chân thành, cùng với việc thay đổi cách đối xử từ hôm nay, chính là cách bắt đầu trả món nợ ấy. Đừng đợi đến khi căn phòng tối trong lòng mở ra giữa đêm khuya, lúc đó sự tỉnh thức sẽ đến muộn và đắt giá hơn rất nhiều.

Nỗi buồn vô cớ thường chẳng vô cớ. Nó là lời nhắc từ nhân quả, để chúng ta nhớ rằng: Muốn tâm mình bình an, trước hết hãy đừng gieo đau khổ cho người khác.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

THƯỚC KIỀU TIÊN (THẤT TỊCH) - TẦN QUÁN


Thước kiều tiên - Thất tịch

Tiêm vân lộng xảo,
Phi tinh truyền hận,
Ngân Hán điều điều ám độ.
Kim phong ngọc lộ nhất tương phùng,
Tiện thắng khước nhân gian vô số.

Nhu tình tự thuỷ,
Giai kỳ như mộng,
Nhẫn cố Thước kiều quy lộ!
Lưỡng tình nhược thị cửu trường thì,
Hựu khởi tại triêu triêu mộ mộ?


鵲橋仙-七夕

纖雲弄巧,
飛星傳恨,
銀漢迢迢暗度。
今風玉露一相逢,
便勝卻人間無數。

柔情似水,
佳期如夢,
忍顧鵲橋歸路!
兩情若是久長時,
又豈在朝朝暮暮?


Thước kiều tiên - Thất tịch
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Cầu Ô Thước.
Mây lành dải khắp nhân gian.
Chòm sao Bắc Đẩu, xoay ngang lưng trời.
Ngân Hà một dải chơi vơi.
Ngưu Lang, Chức Nữ, tìm nơi tương phùng.
Nhân gian chẳng lỡ lạnh lùng.
Tình như nước chảy, mộng cùng thế nhân.
Bắc cầu Ô Thước xoay vần.
Tình xưa nghĩa cũ, muôn phần dài lâu.
Chiều chiều, sớm sớm nay đâu.?
Tình dài như mộng, khắc câu đợi chờ !!!.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Tần Quán 秦觀 (1049-1100) tự Thiếu Du 少遊, Thái Hư 太虛, hiệu Hoài hải cư sĩ 淮海居士, người Cao Bưu (nay thuộc tỉnh Giang Tô). Ông từng là học trò và kết hôn với em gái của Tô Thức. Tô Thức từng khen Thiếu Du có tài Khuất Nguyên, Tống Ngọc. Ông từng làm quan tới chức Quốc sử biên tu, sau bị cách chức. Từ của ông phong cách uyển chuyển, trước tác của ông có tập Hoài hải từ.

Nguồn: Thi Viện



VỤ ÁN RÚNG ĐỘNG LÀNG THỜI TRANG - "ÔNG TRÙM" GUCCI BỊ VỢ THUÊ NGƯỜI ÁM SÁT - KỲ 1

Maurizio Gucci đã bị bắn chết bởi 4 phát súng theo lệnh của người vợ cũ Patrizia Reggiani ngay trên bậc thềm văn phòng của ông ở Milan. Bi kịch nhà Gucci được tái hiện trong bộ phim "House of Gucci" được công chiếu ngày 24/11 tại Mỹ.

Maurizio Gucci và vợ Patrizia Reggiani. Ảnh: Twitter

CUỘC ĐIỆN THOẠI 'PHÁ ÁN'

Cuộc điện thoại làm thay đổi mọi thứ đã reng lên vào tối muộn ngày 8/1/1997. Người gọi ẩn danh yêu cầu được nói chuyện với Filippo Ninni, cảnh sát trưởng vùng Lombardia của Italy, và yêu cầu một cuộc gặp. Người gọi không muốn nói quá nhiều qua điện thoại: “Tôi chỉ nói một cái tên: Gucci.”

Ninni khi đó là một trong những thám tử chính đang điều tra một bí ẩn chưa được giải đáp của nước Ý: vụ ám sát Maurizio Gucci, người thừa kế và từng là người đứng đầu hãng thời trang danh tiếng, mang tên dòng họ của ông.

Hai năm trước đó, vào sáng ngày 27/3/1995, Maurizio bị một sát thủ lạ mặt bắn chết khi đang bước vào tòa văn phòng nơi ông làm việc ở số 20 phố Palestro của Milan - cách quận thời trang của thành phố chỉ một đoạn ngắn. Những hướng điều tra khác nhau đã được tổ chức: Liệu Maurizio có bị lôi kéo vào các giao dịch mờ ám? Có phải đã có một rạn nứt trong gia đình, nổi tiếng với những mối thù nội bộ? Nhưng các nhà điều tra không đi đến manh mối nào cả.

Khi gặp thám tử Ninni, người cung cấp thông tin tự giới thiệu và giải thích rằng anh ta đang ở một khách sạn ở Milan, nơi anh ta đã nghe người khuân vác đêm khoe khoang về việc đã thuê được sát thủ giết hại Maurizio Gucci. Tiết lộ này dẫn các nhà chức trách đi vào một con đường quanh co, cuối cùng dẫn đến sáng tỏ một âm mưu ám sát, mà chủ mưu chính là vợ cũ của Maurizio Gucci.

Là người thừa kế của đế chế thời trang Italy, Maurizio Gucci đã có tất cả. Ông lớn lên trong sự xa hoa, được phụ trách thương hiệu thời trang nổi tiếng bậc nhất thế giới và kết hôn với một nhân vật đình đám trong làng mốt và giải trí. Nhưng người thừa kế đầy tham vọng cuối cùng không chỉ mất toàn bộ quyền kiểm soát Gucci, mà còn bị sát hại trong một bi kịch gây rúng động làng thời trang thế giới.

Thi thể Maurizio Gucci được khiêng bằng cáng tại hiện trường vụ ám sát năm 1995. Ảnh: Getty Images

Maurizio Gucci sinh ngày 26/9/1948 tại Florence, Italy, nơi ông nội Guccio Guccio của ông sáng lập thương thiệu thiết kế lừng danh vào năm 1921. Khi được người chú Aldo tiếp quản thời hậu Thế chiến thứ hai, thời trang Gucci đã được các ngôi sao Hollywood và John F. Kennedy ưa thích. Với sự trợ lực của Reggiani, Maurizio Gucci đã chiến đấu để giành quyền làm chủ tịch công ty, để rồi cuối cùng bị sát hại vào ngày 27/3/1995.

“Đó là một buổi sáng mùa xuân đẹp đẽ, rất yên tĩnh”, ông Giuseppe Onorato, người gác cửa tại văn phòng riêng của Maurizio Gucci tại số 20 phố Palestro kể lại.

“Ông Gucci đến, mang theo vài quyển tạp chí và chào mọi người. Sau đó, tôi nhìn thấy một bàn tay. Đó là một bàn tay sạch, đẹp, đang chĩa súng”.

Maurizio Gucci bị bắn bốn phát vào lúc 8h30 sáng và chết trên bậc thềm tòa nhà văn phòng của chính mình. Khi đó ông 46 tuổi.

Bi kịch gia đình Gucci đã được tái hiện trong bộ phim điện ảnh "House of Gucci" vừa khởi chiếu tại Mỹ ngày 24/11/2021. Xem trailer phim:

Gặp gỡ nữ hoàng tiệc tùng

Năm 1971, Maurizio Gucci gặp gỡ Patrizia Reggiani trong một bữa tiệc ở Milan. Cô nàng vốn là con gái của một người kinh doanh xe tải với một nữ hầu bàn. Họ rất giàu có nhưng không phải tầng lớp quý tộc. Reggiani lớn lên trong sự chiều chuộng của bố và dần dần bước chân vào giới thượng lưu.

Là một nhân vật quan trọng trong vòng quay tiệc tùng ở châu Âu vào cuối những năm 1960, đầu 1970, Reggiani đã sớm tự kiếm được nguồn tiền cho bản thân. Ngay từ lần đầu tiên, Maurizio Gucci đã bị thu hút về cô nàng.

“Cô gái xinh đẹp mặc đồ đỏ trông giống Elizabeth Taylor kia là ai vậy”, Gucci hỏi một người bạn.

Maurizio Gucci vào năm 1981. Ảnh: Getty Images

Bất chấp những lời cảnh báo của cha mình, chàng công tử nhà Gucci quá say mê Reggiani. Ông Rodolfo Gucci thậm chí cầu xin con trai cẩn thận trước những những động cơ thầm kín của cô nàng, nói rằng ông biết cô ta là người thô tục, đầy tham vọng, “một người muốn đi lên chẳng có gì ngoài tiền”.

- “Bố, con không thể rời cô ấy. Con yêu cô ấy”, Maurizio Gucci hét lên.

Năm 1972, quý tử nhà Gucci kết hôn với Reggiani ở tuổi 24. Họ trải qua những tháng ngày xa hoa không kể xiết, với một du thuyền 70 mét, một căn penhouse ở Manhattan, trang trại ở Connecticut, một dinh thự ở Acapulco và một ngôi nhà nghỉ trượt tuyết ở vùng St. Moritz.

Có Reggiani như một “trùm cố vấn”, Maurizio Gucci ngày càng đủ tự tin để đứng lên thể hiện quyền lực với cha mình. Nhưng khi ông Rodolfo qua đời năm 1983 và để lại cho con trai 50% cổ phần của Gucci, Maurizio không còn nghe theo Reggiani nữa. Ông bắt đầu âm mưu một cuộc chiếm đoạt hoàn toàn, dẫn đến xung đột gia đình, ly hôn và cuối cùng là án mạng.

Nhà nghỉ trượt tuyết ở St Moritz của Maurizio Gucci. Ảnh: Getty Images

“Maurizio đã phát điên lên. Cho đến khi đó, tôi vẫn là cố vấn chính về tất cả các vấn đề của Gucci. Nhưng anh ấy muốn trở thành người giỏi nhất, và không còn nghe tôi nữa”, Reggiani sau này cho biết.

Hôn nhân rạn nứt

Maurizio đã nắm được cổ phần kiểm soát với đế chế Gucci, nhưng ông còn muốn mua nốt cả cổ phần của người chú Aldo, và đã khởi động một nỗ lực pháp lý để làm điều đó. Người chú tức giận, phản đối bằng một vụ kiện cáo buộc Maurizio giả mạo chữ ký cha mình, ông Rodolfo, để tránh phải trả thuế thừa kế. Maurizio ban đầu bị kết tội, nhưng sau đó được tuyên trắng án.

Cuộc hôn nhân với Reggiani càng thêm rạn nứt khi Maurizio Gucci quay lại với tình cũ Paola Franchi. Franchi vốn là một “ngọn lửa” cũ trong vòng xoáy tiệc tùng thời trẻ của Maurizio, nhưng cô không tham gia vào những quyết định kinh doanh của ông như Reggiani. Năm 1985, Maurizio rời bỏ hẳn người vợ của mình, bước vào một hành trình mà ông không bao giờ có cơ hội trở về.

Maurizio Gucci bắt đầu chung sống với người tình Franchi. Ông thậm chí còn can thiệp để công ty tài chính - ngân hàng Investcorp có trụ sở ở Bahrain mua toàn bộ cổ phần Gucci mà những người họ hàng của ông sở hữu với giá 135 triệu USD vào tháng 6/1988. Một năm sau đó, Maurizio trở thành chủ tịch của Gucci.

Điều không may là dưới sự lãnh đạo của ông, hoạt động tài chính của công ty thời trang xa xỉ này lại sa sút và chìm trong giới hạn đỏ từ năm 1991-1993.

Roberto Gucci, Georgio Gucci và Maurizio Gucci (từ trái sang) dự một lễ khai trương cửa hàng Gucci ở Paris vào 22/9/1983. Ảnh: Getty Images

Năm 1993, Maurizio bán cổ phần còn lại của mình với giá 120 triệu USD cho Investcorp và mất hoàn toàn quyền thừa kế đế chế thời trang gia đình.

Vụ ly hôn của Maurizio với Reggiani được hoàn tất một năm sau. Được nhận khoản tiền cấp dưỡng mỗi năm 1 triệu USD, nhưng Reggiani vẫn tuyệt vọng tức giận vì bị thay thế bởi một phụ nữ còn già hơn mình.

“Tôi tức giận với Maurizio về rất nhiều điều vào thời điểm đó. Nhưng trên hết là chuyện này. Để mất công ty gia đình, đó là sự ngu xuẩn, đó là thất bại. Trong tôi tràn ngập cơn thịnh nộ, nhưng tôi chẳng thể làm gì được”, Reggiani nói. Trong đầu cô khi đó đã nung nấu một kế hoạch trừng phạt người chồng cũ.

Xem: Kỳ 2 "CÁI CHẾT BÊN THỀM"

Thu Hằng (A.I, Forbes)

CON SỐ 13 CÓ NHIỀU ĐIỀU BÍ ẨN GÌ LIÊN QUAN ĐẾN VUA BẢO ĐẠI?

Không chỉ là vị vua thứ 13 của triều Nguyễn, vua Bảo Đại còn gắn với con số 13 qua nhiều dấu mốc trong cuộc đời. Những sự trùng hợp này khiến cuộc đời vị vua cuối cùng của Việt Nam càng trở nên đặc biệt.

Cuộc đời vua Bảo Đại gắn liền với con số 13.

Con số 13 có nhiều điều bí ẩn gì liên quan đến vua Bảo Đại?

Cuộc đời của Bảo Đại - vị vua cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam luôn là chủ đề thu hút sự tò mò của nhiều thế hệ. Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, tức vua Bảo Đại, chào đời vào ngày 22/10/1913 (tức 23/9 năm Quý Sửu) tại kinh thành Huế. Ông là con trai của vua Khải Định và bà Hoàng Thị Cúc - người sau này được sắc phong là Thái hậu Từ Cung.

Ngày 8/1/1926, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy được triều đình tôn lên ngôi, lấy niên hiệu Bảo Đại. Ông trở thành vị vua thứ 13, đồng thời là vị vua cuối cùng của triều Nguyễn.

Tháng 8/1945, vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị. Sự kiện ông rời khỏi ngai vàng cũng là sự kết thúc của chế độ quân chủ tại Việt Nam.

Bên cạnh vai trò lịch sử, cuộc đời Bảo Đại còn được nhắc đến bởi lối sống phương Tây, những thú vui xa hoa và chuyện tình cảm với nhiều người phụ nữ. Đặc biệt, nhiều dấu mốc trong cuộc đời ông được cho là có sự trùng hợp với con số 13.

1. Sinh vào năm 1913

Sự liên hệ đầu tiên nằm ngay trong năm sinh của vua Bảo Đại. Ông chào đời ngày 22/10/1913, năm Quý Sửu, tại Huế.

Từ nhỏ, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đã được lựa chọn làm người kế vị vua Khải Định. Ngày 28/4/1922, khi chưa tròn 9 tuổi, ông được xác lập làm Đông cung Hoàng Thái tử.

Vua Bảo Đại mặc lễ phục trong dịp tấn phong Đông cung Hoàng Thái tử.

Sau khi được lập làm Đông cung Hoàng Thái tử, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy được đưa sang Pháp học tập dưới sự chăm sóc của vợ chồng cựu Khâm sứ Trung Kỳ Jean François Eugène Charles. Ông lần lượt theo học tại Lycée Condorcet và sau này là Trường Khoa học Chính trị Paris (Sciences Po). Quãng thời gian gần 10 năm học tập tại Pháp đã góp phần hình thành phong cách sống và tư duy mang đậm ảnh hưởng phương Tây của vị vua cuối cùng triều Nguyễn.

2. Lên ngôi khi được tính là 13 tuổi

Ngày 6/11/1925, vua Khải Định qua đời. Hoàng thái tử Vĩnh Thụy từ Pháp trở về nước chịu tang và chuẩn bị kế vị.

Ngày 8/1/1926, triều đình tổ chức lễ tôn Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy lên ngôi, lấy niên hiệu Bảo Đại. Tính theo tuổi dương lịch, khi đó ông mới hơn 12 tuổi. Tuy nhiên, theo cách tính tuổi truyền thống của người Việt, ông được xem là 13 tuổi.

Hoàng tử Vĩnh Thụy, tới Pháp năm 1922

Sau lễ đăng quang, Bảo Đại không lập tức trực tiếp điều hành triều chính. Chỉ khoảng 2 tháng sau, ông trở lại Pháp tiếp tục việc học, đến năm 1932 mới về nước, bắt đầu trị vì.

Vua Bảo Đại ngồi trên ngai vàng trong Điện Thái Hòa.

3. Vị vua thứ 13 của triều Nguyễn

Bảo Đại là vị vua thứ 13 của triều Nguyễn, vương triều được thành lập khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802.

Các vị vua của triều Nguyễn lần lượt gồm Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại.


Với lễ đăng quang vào đầu năm 1926, Bảo Đại vừa trở thành vị vua thứ 13, vừa là người cuối cùng ngồi trên ngai vàng của triều Nguyễn.

4. Có 13 năm trực tiếp chấp chính

Nếu tính từ khi lên ngôi vào năm 1926 đến lúc thoái vị năm 1945, Bảo Đại giữ ngôi vua trong khoảng 19 năm. Tuy nhiên, trong giai đoạn từ năm 1926 đến năm 1932, ông chủ yếu học tập tại Pháp. Việc triều chính trong nước do Hội đồng Phụ chính điều hành dưới sự chi phối của chính quyền bảo hộ Pháp.

Đến tháng 9/1932, Bảo Đại mới trở về Huế và chính thức nắm quyền điều hành triều đình. Từ thời điểm đó đến khi thoái vị vào tháng 8/1945 là gần 13 năm.


Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, chiều 30/8/1945, lễ thoái vị của vua Bảo Đại được tổ chức tại Ngọ Môn (Huế). Sau khi đọc Chiếu thoái vị, ông trao ấn vàng "Hoàng đế chi bảo" cùng thanh kiếm vàng nạm ngọc của hoàng triều cho Chính phủ Cách mạng lâm thời dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chấm dứt chế độ quân chủ kéo dài hàng thế kỷ.

Câu nói thường được nhắc lại gắn với thời khắc này là: "Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước nô lệ".

5. Có 13 người con được ghi nhận

Năm 1934, vua Bảo Đại kết hôn với bà Nguyễn Hữu Thị Lan. Ngay sau lễ cưới, bà được tấn phong làm Nam Phương Hoàng hậu. Vua Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu có 5 người con gồm Hoàng thái tử Bảo Long, Công chúa Phương Mai, Công chúa Phương Liên, Công chúa Phương Dung và Hoàng tử Bảo Thăng.

Vua Bảo Đại có 13 người con được ghi nhận, trong đó 5 người con với Hoàng hậu Nam Phương.

Dù cuộc hôn nhân với Nam Phương Hoàng hậu được tổ chức long trọng, Bảo Đại sau đó vẫn có quan hệ với nhiều người phụ nữ. Những cái tên thường được nhắc đến gồm bà Bùi Mộng Điệp, bà Lê Thị Phi Ánh, Lý Lệ Hà và một số phụ nữ mang quốc tịch nước ngoài.

Theo các tài liệu ghi lại thì vua Bảo Đại có tổng cộng 13 người con, gồm cả con với Nam Phương Hoàng hậu và những người con ngoài hôn nhân.

6. Giai thoại được hạ huyệt vào lúc 13 giờ

Những năm cuối đời, cựu hoàng Bảo Đại sống tại Pháp. Ông qua đời ngày 31/7/1997 tại Bệnh viện Quân y Val-de-Grâce ở Paris, hưởng thọ 83 tuổi.

Tang lễ được tổ chức vào ngày 6/8/1997. Sau nghi thức tại nhà thờ Saint-Pierre-de-Chaillot, linh cữu của ông được đưa đến an táng tại nghĩa trang Passy, thuộc quận 16 của Paris.

Mộ của cựu hoàng Bảo Đại tại nghĩa trang Passy trên đồi Trocadéro, thành phố Paris.

Một số bài viết kể rằng vào thời điểm chuẩn bị hạ huyệt, trời Paris bất ngờ đổ mưa khiến nước tràn vào phần mộ. Sau khi mọi người xử lý xong, đồng hồ vừa chỉ 13 giờ và linh cữu được hạ xuống vào thời điểm đó.

T. Trà / Theo: Thời Trang Vàng



Saturday, October 24, 2026

GIA TỘC TÔN TRUNG SƠN: TRĂM NĂM BỂ DÂU - KỲ CUỐI: SỐ PHẬN LONG ĐONG CỦA CÁC HẬU DUỆ HỌ TÔN

Tôn Trung Sơn suốt đời bôn ba lận đận, hậu duệ của ông cũng phiêu bạt khắp nơi trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cho dù họ ở nào trên Trái Đất, họ đều có khả năng kế thừa huyết mạch và tinh thần tổ tiên của gia tộc họ Tôn, làm người lương thiện thật thà, cần cù chịu khó trong công việc, tạo ra những kỳ tích trong cuộc sống mang nhiều sắc thái khác nhau.

Ba anh em Tôn Uyển, Tôn Khoa và Tôn Diễm.

Sau khi Tôn Trung Sơn qua đời, người con trai của ông là Tôn Khoa không còn được Quốc Dân Đảng trọng dụng. Tôn Khoa có ý muốn tới Mỹ, song đương cục Đài Loan đã lấy nhiều lý do không cấp hộ chiếu cho Tôn Khoa, vì thế Tôn Khoa không còn cách nào khác phải ở lại Hương Cảng. Phải đến mùa thu năm 1950, Tôn Khoa mới được phép đưa phu nhân Trần Thục Anh qua Ấn Độ, Hy Lạp và tới Pháp định cư. Cuộc sống phiêu bạt của gia đình Tôn Khoa kéo dài suốt tới năm 1965 cho tới khi trở về Đài Loan (Trung Quốc).

Hai người con của Tôn Khoa là Tôn Trị Bình và Tôn Trị Cường đều được sinh ra ở Mỹ khi Tôn Khoa lưu học tại Đại học Chicago. Cũng giống như người cha của mình, hai anh em đã được tiếp thu và hun đúc bằng nền văn hóa Đông Tây, học thức đều rất rộng. Tôn Trị Bình và Tôn Trị Cường cũng có thời gian theo học tại trường bồi dưỡng hải ngoại ở Bắc Kinh, là nơi lựa chọn con của những người làm cách mạng cho bồi dưỡng học tập tại trường sau đó cho đi học ở nước ngoài.

Lúc mới nhập trường, anh em Tôn Trị Bình và Tôn Trị Cường không hiểu tiếng phổ thông, vì thế gặp rất nhiều khó khăn trong học tập. Tuy nhiên, nhờ thông minh và cần cù, hai anh em đã nhanh chóng khắc phục được trở ngại về ngôn ngữ và thích ứng với môi trường học tập. Trước kháng chiến, Tôn Trị Bình học tập tại Đại học St. John Thượng Hải, trong khi đó Tôn Trị Cường học tại Đại học Kim Lăng, Nam Kinh. Sau đó, hai anh em cùng tới Mỹ du học và đều đạt được bằng thạc sĩ kinh tế chính trị học, Đại học Chicago, Mỹ. Sau khi Quốc Dân Đảng chạy khỏi Đại lục tới Đài Loan, hai anh em Tôn Trị Bình và Tôn Trị Cường đã định cư tại Mỹ.

Tôn Khoa và Tôn Trung Sơn năm 1910.

Đến cuối đời, hai anh em Tôn Trị Bình và Tôn Trị Cường ở vào hoàn cảnh rất khó khăn, đi đâu cũng bị giới báo chí đeo bám. Đến cuối những năm 1990, một bài báo đăng trên tờ "Tự Lập buổi tối" đã tiết lộ tin tức liên quan đến Tôn Trị Cường. Tôn Trị Cường "vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn đã viết thư xin Lý Đăng Huy thay đổi sự đãi ngộ". Báo "Tân Hoa Ma Cao" của Ma Cao (Trung Quốc) đưa tin, Tôn Trị Bình nhận thấy tiền đồ chính trị không có hy vọng đã chuyển sang công việc kinh doanh và đã sở hữu nhiều cổ phiếu có giá trị lớn, cuộc sống tương đối sung túc. Năm 1980, Tôn Trị Bình đã chuyển về định cư tại Hương Cảng.

Con cái của Tôn Trị Bình và Tôn Trị Cường đều định cư tại hải ngoại. Cuối cùng gia tộc họ Tôn chỉ có một mình Tôn Trị Cường sống tại Đài Loan (Trung Quốc). Do hoàn cảnh kinh tế vô cùng khó khăn, để tiện cho việc chữa trị bệnh tật, Tôn Trị Cường đã từng có một thời gian dài thuê nhà ở gần Bệnh viện đa khoa Vinh Dân, Đài Bắc.

Trong suốt cuộc đời, Tôn Trị Cường đã hai lần trở về Đại lục vào các năm 1992 và 1993. Tôn Trị Cường không những trở về quê hương thôn Thúy Hanh để thăm viếng nơi ở cũ của ông nội, mà còn đi du lịch Bắc Kinh, Thượng Hải, Vũ Hán và Quảng Châu... Mùa hè năm 2001, lúc đó sức khỏe đã yếu nhiều, nhưng Tôn Trị Cường vẫn đi Mỹ tham gia buổi lễ tốt nghiệp cử nhân của con trai Tôn Quốc Thăng. Tuy nhiên, điều không mong đợi đã xảy ra, vào ngày 4/7/2001 Tôn Trị Cường lâm bệnh và đột ngột qua đời, thọ 86 tuổi.

Tôn Khoa và vợ thời trẻ.

Hậu duệ của Tôn Trung Sơn ngoài chi của con trai Tôn Khoa, còn có chi của con gái Tôn Uyển. Năm 1914, tại Mỹ, Tôn Uyển đã kết hôn với Vương Bác Thu, một nhân sĩ của Đồng minh Hội, và sinh được một con gái là Vương Nhương Huệ và một con trai là Vương Hoằng Chi. Sau này Tôn Uyển chia tay với Vương Bác Thu. Năm 1921, tại Ma Cao, Tôn Uyển lại kết hôn với Đới Ân Trại người Quảng Đông, và sinh được một con gái tên Đới Thành Công, và một con trai tên Đới Vĩnh Phong.

Do thương cảm với sự bất hạnh trong hôn nhân của con gái, Tôn Trung Sơn rất yêu thương những đứa cháu ngoại của mình. Tên Thành Công và Vĩnh Phong đều do Tôn Trung Sơn đặt cho. "Thành Công" có ý nghĩa là sự thành công của cuộc cách mạng do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, đồng thời cũng có nghĩa là hy vọng cháu ngoại của mình có thể mưu thành sự nghiệp. Vĩnh Phong là để tưởng nhớ đến Vu Vĩnh Phong đã chỉ huy tàu thuyền chống lại đội quân phản loạn khi Tôn Trung Sơn gặp nạn tại Quảng Châu.

Gia tộc họ Tôn đã trải qua lịch sử trăm năm đầy bể dâu, đến nay vẫn duy trì và phát triển mạnh mẽ. Mặc dù vẫn còn một số người gặp nhiều sóng gió trong cuộc sống, thế nhưng có một điều bất biến là họ luôn kính trọng và hoài niệm về Tôn Trung Sơn, và vô cùng trân trọng tình cảm máu thịt này. Đồng thời, dường như mỗi người trong gia tộc họ Tôn đều không khoa trương trước ánh hào quang của tổ tiên, và luôn ghi nhớ tâm niệm một điều: “Làm một người dân bình thường, giản đơn và bình dị”.

Ngọc Thúy (Tổng hợp)
Theo: baotintuc

GIANG THÔN THU VỌNG - BÙI TÔNG HOAN


Giang thôn thu vọng

Phi y độc tự lập giang thiên,
Thu sắc thuỳ tương đáo nhãn biên.
Lữ nhạn hàng hàng qua biệt phố,
Khách phàm điểm điểm lạc tình thiên.
Khê đầu Phật tự y hồng diệp,
Trúc ngoại nhân gia cách đạm yên.
Nhật mộ thuỳ tri ngưng trữ xứ,
Lục vân ám dã khán phong niên.


江村秋望

披衣獨自立江阡
秋色誰將到眼邊
旅雁行行過別浦
客帆點點落晴天
溪頭佛寺依紅葉
竹外人家隔淡煙
日暮誰知凝佇處
綠雲暗野看豐年


Mùa thu ở xóm chài ngóng ra xa
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Phất phơ một bóng ven sông.
Thu vàng một dải, mắt trông mịt mờ.
Bến bờ cánh nhạn bơ vơ.
Cánh buồm giăng mắc, hững hờ trời xanh.
Mái chùa ngói đỏ vây quanh.
Dặng tre khóm trúc an lành khói quê.
Cuối chiều ngắm cảnh mải mê.
Lúa vàng mây biếc tràn trề yên vui !


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bùi Tông Hoan 裴宗驩 (có sách chép là Bùi Tông Quán 裴宗瓘) hiệu Thuỷ Hiên, chưa rõ năm sinh năm mất, quê quán và hành trạng như thế nào. Chỉ biết ông làm quan dưới thời Trần Anh Tông (1293-1314). Thơ ông tuy còn lại rất ít nhưng cũng cho thấy một cái nhìn khoẻ khoắn và tích cực của một người biết gắn bó với sự nghiệp của thời đại mình.

Nguồn: Thi Viện