Wednesday, April 29, 2026

NGHÈO KHÓ THÌ TU THÂN, GIÀU CÓ THÌ GIÚP ĐỜI

Câu nói “Cùng tắc độc thiện kỳ thân, đạt tắc kiêm tế thiên hạ” (窮則獨善其身, 達則兼濟天下) xuất phát từ thiên Tận Tâm Thượng trong sách Mạnh Tử. Trải qua hàng nghìn năm, nó vẫn được xem là một chuẩn mực xử thế của người trí thức, đồng thời là điểm tựa tinh thần của biết bao bậc chí sĩ.

Nghèo khó thì tu thân, giàu có thì giúp đời

Chỉ vỏn vẹn mười chữ, nhưng đã hàm chứa toàn bộ trí huệ về sự tiến thoái trong đời người. Nó không chỉ chỉ ra ranh giới giữa cái “tôi” và thế giới, mà còn dạy ta trong từng hoàn cảnh khác nhau nên an định tâm mình ra sao, đối đãi với bản thân và với người khác như thế nào.

Một, “Cùng”: Không chỉ là nghèo, mà là lúc đời rơi vào nghịch cảnh

Chữ “cùng” ở đây không đơn thuần là thiếu thốn vật chất, mà chủ yếu chỉ trạng thái khốn đốn, không được toại chí – khi lý tưởng chưa thành, khi cuộc đời rơi vào điểm thấp nhất.

Khi cánh cửa cơ hội khép lại, khi năng lực chưa đủ nâng đỡ khát vọng, khi hoàn cảnh trở nên khắc nghiệt đến mức bất lực, Mạnh Tử không khuyên oán trách hay buông xuôi. Ông chỉ ra một lựa chọn đầy phẩm giá: độc thiện kỳ thân – tự tu dưỡng chính mình.

Giữ vững nguyên tắc, là cách chống lại sự phi lý

Ở trong nghịch cảnh, con người rất dễ nảy sinh oán hận, thậm chí vì thoát khốn mà đánh mất nguyên tắc. Nhưng chính lúc không ai nhìn thấy, lại càng cần giữ gìn đạo đức. Như hoa sen mọc giữa bùn, không thể đổi môi trường thì ít nhất cũng phải giữ mình không bị vấy bẩn.

Hướng nội tu dưỡng, là sự tích lũy cho tương lai

“Độc thiện kỳ thân” không phải là trốn tránh cuộc đời, mà là một dạng “lui để tiến”.

Khuất Nguyên trong cảnh lưu đày đã viết nên Ly Tao; Tư Mã Thiên sau biến cố vẫn hoàn thành Sử Ký.

Hình ảnh minh hoạ: Một, “Cùng”: Không chỉ là nghèo, mà là lúc đời rơi vào nghịch cảnh

Trong thời khắc khó khăn nhất, họ không sa ngã mà quay vào bên trong, mài giũa tâm trí và tài năng. Chính sự tu dưỡng âm thầm ấy giúp họ đủ sức nắm lấy cơ hội khi thời vận đổi thay.

Hai, “Đạt”: Không chỉ là giàu sang, mà là khi đã được toại chí

“Đạt” là khi con người ở vào giai đoạn thuận lợi có địa vị, có ảnh hưởng, có tiếng nói.

Không ít người khi còn khó khăn thì khiêm nhường, nhưng khi thành công lại dễ trở nên kiêu ngạo, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân. Mạnh Tử nhắc nhở: đạt tắc kiêm tế thiên hạ khi thành đạt, phải biết giúp đời.

Năng lực càng lớn, trách nhiệm càng lớn

Khi đã đứng ở vị trí cao, có trong tay tài nguyên và ảnh hưởng, tầm nhìn không nên chỉ bó hẹp trong lợi ích cá nhân. Tư tưởng Nho gia đề cao “nhân giả ái nhân” lòng nhân phải được thể hiện bằng hành động cụ thể, đặc biệt là khi ta có điều kiện giúp người khác.

Tầm vóc quyết định độ dài của con đường

Phạm Trọng Yêm từng nói: “Lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ”; Lâm Tắc Từ lại khẳng định: “Nếu lợi cho quốc gia, dù chết cũng cam lòng”.

Họ là những hình mẫu của tinh thần “kiêm tế thiên hạ”. Một đời người nếu chỉ dừng lại ở vinh hoa cá nhân thì vẫn còn hạn hẹp. Chỉ khi gắn vận mệnh của mình với lợi ích chung, cuộc đời mới thực sự rộng lớn.

Ba, Trí huệ dành cho người hiện đại: biết tiến và biết lui

Trong một thời đại nhiều áp lực và bất an, lời dạy của Mạnh Tử càng trở nên giá trị như một phương thuốc tinh thần. Nó chữa lành cảm giác bất lực.

Khi đối diện bất công hay áp lực mà chưa thể thay đổi, ta không cần ép mình phải “cứu đời” ngay lập tức. Hãy bắt đầu từ việc tu thân: đọc một cuốn sách, rèn luyện sức khỏe, chăm sóc người thân. Giữ được trật tự nội tâm giữa hỗn loạn bên ngoài, đó đã là một thắng lợi.

Hình ảnh minh hoạ: Ba, Trí huệ dành cho người hiện đại: biết tiến và biết lui

Nó cũng hóa giải nỗi lo khi thành công. Khi mọi thứ thuận lợi, lời dạy ấy giúp ta giữ tỉnh táo: đừng trở thành người chỉ biết hưởng thụ. Biết cho đi, biết hồi đáp xã hội đó không chỉ là đạo đức, mà còn là cách để phúc khí bền lâu.

Cuộc đời vốn là một đường cong lên xuống. Khi ở đáy vực, hãy rèn cho mình một nội tâm vững vàng, không xu nịnh, không thỏa hiệp đó là khí cốt của “cùng tắc độc thiện kỳ thân”.

Khi đứng trên đỉnh cao, hãy dang tay giúp đỡ và nâng đỡ người khác đó là tấm lòng của “đạt tắc kiêm tế thiên hạ”.

Mong rằng mỗi chúng ta đều có thể giữ được sự ung dung ấy: Gặp nghịch cảnh không hèn mọn cũng không oán trách, Gặp thuận cảnh không kiêu ngạo cũng không cuồng vọng.

Dù là “cùng” hay “đạt”, vẫn sống trọn vẹn với khí độ của chính mình.

Tiểu Hoa biên dịch
Theo: aboluowang

LỚP TANG THƯƠNG - J. LEIBA


LỚP TANG THƯƠNG
thơ: J. Leiba

Ngày ấy cùng say trong quán rượu
Sầu tư đã cạn rượu hồ vơi,
Hai chàng trai trẻ ca rồi hát,
Bắt chước người xưa đề vách chơi:

"Nhớ Hạnh Hoa thôn quán rượu này.
Nhớ ngày nhớ tháng hẹn rồi đây,
Mười năm sau sẽ cùng chung lại
Xem cuộc đời qua mấy đổi thay."

"Ngày ấy hẳn đầu chưa điểm bạc
Biết bao dòng nước chảy qua cầu!
Lối xưa tửu quán còn không nhỉ?
Bể rộng mong đừng hoá ruộng dâu!"

Chưa tới mười năm quán Hạnh Hoa,
Xuyên ngang tửu quán ánh dương tà,
Một người xuống ngựa mười năm trước
Một chén men tràn suối lệ sa.

J. LEIBA


Sơ lược tiểu sừ tác giả:

J. Leiba (1912-1941) tên tuy có vẻ Tây nhưng do hai chữ Lê Bái nói lái. Ông tên thật là Lê Văn Bái, khởi đầu ký bút hiệu Thanh Tùng Tử, sau mới đổi J. Leiba, sinh tại Yên Bái, nhưng chính quán là làng Nam Trực, phủ Nam Trực, tỉnh Nam Định. Thuở nhỏ ông theo học Trường Bưởi (tức trường Trung học Bảo hộ), đến năm thứ ba, ông bỏ dở việc học đi theo một nhóm giang hồ ngót một năm. Sau đó, ông trở về quê học chữ Hán, rồi lại lên Hà Nội viết báo và làm thơ.
 
Bước chân vào làng thơ từ khoảng năm 1929-1930, ban đầu với bút danh Thanh Tùng Tử, viết cho tờ Hà Thành Ngọ báo. Năm 1934, báo Tiểu thuyết thứ Bảy ra đời, ông cộng tác với Vũ Đình Long (chủ báo), rồi được cử giữ chức chủ bút tờ Ích hữu. Ngoài ra, ông còn viết các tờ: Tân báo, Tin văn, Việt báo, Nam Cường, L'Annam nouveau... Nhưng ông thật sự được người đọc chú ý nhiều, chính là nhờ những bài thơ đăng trên tuần báo Loa.
 
Năm 1935, ông thi đỗ bằng thành chung, được bổ vào ngạch thư ký toà sứ Bắc Kỳ, nhận việc ở toà sứ tỉnh Sơn Tây. Trong thời kỳ làm công chức ở đây, ông đã sống khá trác táng. Đến khi đổi lên toà sứ Hà Giang thì J.Leiba đã mắc hai chứng bệnh: lao phổi và đau tim. Ông xin nghỉ về Hà Nội chữa trị, nhưng đến tháng 7 năm 1940, tự biết mình không thể khỏi bệnh nên xin về nghỉ ở quê nhà. Tại đây, thỉnh thoảng ông mới gửi một vài bài thơ cho báo Tiểu thuyết thứ bảy và Tri tân.
 
Ngày 18 tháng 12 năm 1941, J. Leiba từ trần giữa tuổi 29 (1941).
 
J. Leiba có viết một số truyện ngắn, nhưng không thành công bằng thơ. Thơ ông, tuy chỉ có hơn chục bài đăng báo, chưa in thành tập, nhưng đã được giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân, và trong bộ sách Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan.

Nguồn: Thi Viện

NGỰ TIÊN ĐÔ (御仙都) - DẠ TIỆC CUNG ĐÌNH XA HOA GIỮA LÒNG BẮC KINH

Ngự Tiên Đô (御仙都 Yuxiandu) tại Bắc Kinh tái hiện yến tiệc hoàng gia Trung Hoa với ẩm thực cung đình, cổ phục và nghệ thuật truyền thống, mang đến trải nghiệm văn hóa độc bản.


Bắc Kinh, thủ đô ngàn năm văn hiến của Trung Quốc, vốn nổi tiếng với những di sản cung đình lộng lẫy. Giữa nhịp sống hiện đại, vẫn có một nơi đưa du khách trở về quá khứ vàng son của triều đại Minh – Thanh: nhà hàng Ngự Tiên Đô. Không đơn thuần là một điểm đến ẩm thực, nơi đây là “cánh cổng” mở ra thế giới cung đình cổ xưa, nơi ẩm thực, nghệ thuật và văn hóa giao hòa để tạo nên trải nghiệm duy nhất vô nhị.

Ngự Tiên Đô được thiết kế như một cung điện thu nhỏ, từ kiến trúc, nội thất cho đến phong cách phục vụ. Mỗi bước chân trên nền gạch bóng loáng, mỗi ánh sáng đèn lồng rực rỡ đều gợi nhớ về bầu không khí huy hoàng chốn hoàng cung. Đó không chỉ là sự tái hiện, mà còn là cách Bắc Kinh gìn giữ và làm sống dậy những giá trị truyền thống, mang đến cho thế giới một cái nhìn đầy cảm xúc về nền văn hóa Trung Hoa.

Không gian cung đình lộng lẫy


Ngay khi bước qua cổng chính, du khách sẽ lập tức bị cuốn hút bởi khung cảnh như thể bước vào một cung điện thực thụ. Đèn lồng đỏ treo cao lung linh ánh sáng, hồ sen lấp lánh gợn sóng, bàn ghế sơn son thếp vàng phản chiếu ánh đèn tạo nên không gian xa hoa, sang trọng.

Điểm đặc biệt là đội ngũ nhân viên phục vụ mặc cổ phục triều Minh – Thanh, cúi chào theo nghi thức cung đình, đưa thực khách ngược dòng thời gian trở về triều đại xưa. Từng chi tiết nhỏ – từ hoa văn trên tường, bức bình phong chạm trổ rồng phượng, đến bát đĩa sứ hoa lam tinh xảo – đều tái hiện tinh thần hoàng cung.

Ngự Tiên Đô không chỉ là một nhà hàng, mà còn là một “bảo tàng sống”, nơi mỗi góc nhỏ đều mang dấu ấn lịch sử, khiến du khách có cảm giác mình thực sự đang tham dự một buổi yến tiệc của bậc đế vương.

Nghi lễ nhập tiệc – sống lại vai trò vương tôn


Trải nghiệm tại Ngự Tiên Đô không bắt đầu bằng việc gọi món, mà bằng nghi lễ nhập tiệc. Du khách được mời khoác lên mình cổ phục hoàng gia – những bộ trang phục vốn chỉ dành cho tầng lớp quý tộc xưa. Khi bước vào sảnh tiệc, mỗi vị khách được chào đón như một thân vương hay công nương.

Âm nhạc cung đình trỗi lên, tiếng trống, tiếng sáo hòa quyện trong không gian, mang lại cảm giác thiêng liêng và trang trọng. Nghi lễ này không chỉ giúp du khách nhập vai mà còn mở ra một hành trình thưởng thức ẩm thực gắn liền với văn hóa, để mỗi món ăn trở thành một phần của câu chuyện lịch sử.

Thực đơn cung đình – tinh hoa ẩm thực đế vương


Điểm nhấn của Ngự Tiên Đô chính là thực đơn được phục dựng từ kho tàng ẩm thực hoàng thất Trung Hoa. Mỗi món ăn là sự kết hợp giữa nguyên liệu quý hiếm, kỹ thuật chế biến tinh vi và nghệ thuật trình bày cầu kỳ.

Một số món tiêu biểu:
  • Phật nhảy tường: món ăn thượng hạng với hơn 30 loại nguyên liệu quý, được hầm nhiều giờ liền, mang hương vị sâu lắng, từng được coi là “báu vật” trên bàn tiệc hoàng cung.

  • Vịt quay cung đình: biến thể tinh xảo của vịt quay Bắc Kinh, da giòn, thịt mềm, được phục vụ theo nghi thức truyền thống.

  • Nấm Matsutake: loại nấm hiếm, được ví như “kim cương ẩm thực”, chỉ xuất hiện trong những bữa tiệc xa hoa.

  • Cá viên hoa cúc: món ăn không chỉ ngon miệng mà còn có hình thức đẹp mắt, tượng trưng cho sự thanh tao và trường thọ.


Mỗi món đều gắn liền với một câu chuyện lịch sử, tái hiện lại phong cách ăn uống của các bậc đế vương. Không chỉ là hương vị, mà còn là hành trình khám phá văn hóa qua từng đĩa thức ăn.

Nghệ thuật cung đình – khúc nhạc vàng son


Bữa tiệc tại Ngự Tiên Đô không thể thiếu phần biểu diễn nghệ thuật cung đình. Xen lẫn giữa các món ăn là những tiết mục múa cổ trang, nhạc cụ dân tộc như đàn tỳ bà, sáo trúc, trống chiến.

Đặc biệt, có những màn tái hiện nghi lễ cung đình: dâng trà, múa cung nữ, hay các điệu múa rồng phượng – tất cả mang lại cho du khách trải nghiệm thị giác và thính giác sống động. Nhờ đó, bữa tiệc không chỉ thỏa mãn vị giác mà còn chạm đến trái tim, giúp thực khách thực sự đắm mình trong bầu không khí xa hoa của triều đại xưa.

Sự giao thoa giữa quá khứ và hiện tại


Ngự Tiên Đô là minh chứng cho sự sáng tạo trong việc kết hợp truyền thống và hiện đại. Nhà hàng không chỉ dừng lại ở việc tái hiện không gian cung đình, mà còn ứng dụng công nghệ ánh sáng, âm thanh để tạo hiệu ứng chân thực và sống động.


Điều này giúp du khách, đặc biệt là thế hệ trẻ, có thể tiếp cận văn hóa cổ truyền một cách gần gũi và hấp dẫn hơn. Bằng cách biến di sản văn hóa thành trải nghiệm sống, Ngự Tiên Đô đã thành công trong việc bảo tồn và lan tỏa giá trị tinh hoa ẩm thực – nghệ thuật Trung Hoa.

Trải nghiệm dành cho du khách quốc tế


Không chỉ thu hút người dân địa phương, Ngự Tiên Đô còn là điểm đến hấp dẫn của du khách quốc tế. Với vị trí thuận lợi tại Bắc Kinh – nơi tập trung nhiều di sản nổi tiếng như Tử Cấm Thành, Thiên An Môn – Ngự Tiên Đô trở thành điểm dừng chân hoàn hảo để du khách trải nghiệm một Trung Hoa cổ kính ngay trong nhịp sống hiện đại.

Nhiều du khách phương Tây bày tỏ sự ấn tượng mạnh mẽ trước sự cầu kỳ trong từng chi tiết, từ trang phục đến món ăn. Với họ, đây không chỉ là một bữa tối, mà là một “vở kịch sống” đưa họ đến với quá khứ huy hoàng của một nền văn minh vĩ đại.

Ý nghĩa văn hóa – ẩm thực


Sự ra đời của Ngự Tiên Đô không chỉ mang tính thương mại mà còn có giá trị văn hóa sâu sắc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc tái hiện lại một dạ tiệc cung đình cho thấy nỗ lực bảo tồn và quảng bá văn hóa truyền thống.

Thông qua ẩm thực, nghệ thuật và kiến trúc, du khách được kết nối với lịch sử, hiểu hơn về tinh thần hoàng gia, đồng thời trân trọng những giá trị mà người xưa đã để lại. Đây cũng là cách Trung Quốc khẳng định sức mạnh mềm của mình trên trường quốc tế: dùng văn hóa để tạo ấn tượng và sức hút.

Tuyết Lan / Theo: TravelSig+
Link tham khảo:
https://www.getyourguide.com/beijing-l186/cuisine-experience-yu-xiandu-royal-gastronomy-museum-t1189552/



1954-1975: QUỐC TẾ ĐÃ CÔNG NHẬN HAI NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO

Một trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất giữa những người Việt Nam khi nói đến cuộc chiến Việt Nam trong giai đoạn từ 1954 đến 1975 là về tính chính danh của hai nhà nước ở hai miền Nam – Bắc.


Hai điều khó có thể phủ nhận là: cả hai miền đều có sự ủng hộ riêng từ cộng đồng quốc tế; và kể từ 30/4/1975, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam rồi tiếp đến là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thừa kế hàng loạt quyền và nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam Cộng hòa.

Hiệp định Geneva 1954 nhấn mạnh rằng việc tạm thời chia đôi nước Việt Nam tại vĩ tuyến 17 không đồng nghĩa với việc thiết lập ranh giới lãnh thổ và chính trị giữa hai miền Nam – Bắc. Chính phủ ở cả hai miền đều thể hiện rất rõ ràng điều này tại các bản hiến pháp của họ trong giai đoạn 1954 – 1975.

Từ thời điểm bắt đầu đàm phán Hiệp định Geneva 1954 cho đến khi chiến tranh kết thúc, cả hai chính thể được thành lập trước đó tại mỗi miền đều cho rằng chỉ duy nhất một mình họ là đủ tính chính danh để quản lý cả đất nước, cũng như chỉ có họ là được quốc tế công nhận.

Thế nhưng định nghĩa “quốc tế” của mỗi miền lại không giống nhau. Khi ấy, chính cộng đồng quốc tế cũng chia rẽ thành hai khối, chứ không riêng gì đất nước Việt Nam.

Tháng 1/1950, cùng với Trung Quốc và Liên Xô, các quốc gia cộng sản Đông Âu đều công nhận tính chính danh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) đối với lãnh thổ Việt Nam.

Cũng vào đầu năm 1950, Liên hiệp Pháp công nhận quyền tự trị và nền độc lập của Quốc gia Việt Nam (QGVN), tiền thân của Việt Nam Cộng hòa (VNCH), dựa trên một số hiệp ước được ký kết trước đó giữa hai nước vào năm 1949.

Đến tháng 2/1950, Anh, Hoa Kỳ và một số nước phương Tây đều công nhận QGVN là thể chế lãnh đạo của nước Việt Nam.

Sau khi VNCH được thành lập vào năm 1955 và thay thế quyền lãnh đạo miền Nam của QGVN, Hoa Kỳ và các đồng minh phương Tây tiếp tục công nhận tính chính danh của VNCH. Đến năm 1966, theo thống kê của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đã có 60 quốc gia trên thế giới công nhận chính thể VNCH của Nam Việt Nam.

Một số nước như Ấn Độ, Thụy Điển thì lại theo quy tắc không công nhận cả hai. Tuy nhiên, đến năm 1969, Thụy Điển trở thành nước phương Tây đầu tiên công nhận nhà nước VNDCCH của Bắc Việt Nam.

Việc công nhận thể chế nào tại Việt Nam mới thật sự đại diện cho cả đất nước vốn không hề ngã ngũ vào thời điểm Hiệp định Geneva 1954 được ký kết.

Ngược lại, cuộc giằng co này kéo dài đến hơn 20 năm sau.

Trong giai đoạn 1954 – 1975, ngoài sự công nhận của các nước trên thế giới chia theo hai cực cộng sản và tư bản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, hai nhà nước Việt Nam còn được công nhận theo một số cách khác.

Cờ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Việt Nam Cộng hoà tại vĩ tuyến 17 trong thời kỳ chiến tranh. Ảnh: Life.

Gia nhập Liên Hiệp Quốc

Trước hết, VNCH đã từng xin tham gia vào Liên Hiệp Quốc (LHQ) vào đầu thập niên 1950. Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, VNDCCH cũng nộp đơn làm thành viên. Tuy nhiên, cả hai đều gặp phải sự phản đối từ thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an.

Chúng ta có lẽ không khó hiểu khi biết rằng Liên Xô đã từng phản đối VNCH tham gia vào LHQ, và ngược lại, Hoa Kỳ phản đối VNDCCH.

Vì những sự phản đối này mà hai chính phủ Bắc – Nam Việt Nam đã khá lận đận với việc đăng ký làm thành viên LHQ trong suốt 20 năm.

Ngày 30/4/1975, chế độ VNCH bị chính quyền của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (CHMN) thay thế, nhưng vẫn giữ vị thế một nhà nước độc lập đối với VNDCCH tại miền Bắc. Điều này được thể hiện rõ qua hai lá đơn xin tham gia LHQ riêng biệt của VNDCCH – Bắc Việt và CHMN – Nam Việt vào năm 1975.

Đến ngày 8/8/1975, Hội đồng Bảo an đã đồng thuận chấp nhận và đề cử với Đại Hội đồng LHQ cho cả hai quốc gia VNDCCH – Bắc Việt lẫn CHMN – Nam Việt được tham gia vào LHQ.

Việc Hội đồng Bảo an đưa ra đề cử với cả hai đơn xin tham gia LHQ của hai nhà nước Việt Nam vào tháng 8/1975 càng làm rõ vấn đề là cả hai chính thể đều được đối xử như nhau và đều được LHQ công nhận.

Sau khi hai nhà nước VNDCCH và CHMN thống nhất và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam ra đời vào ngày 2/7/1976, Việt Nam mới trở thành một quốc gia với một chính phủ duy nhất. Sau đó, CHXHCN Việt Nam đã chính thức gia nhập LHQ vào tháng 9/1977.

Trên danh nghĩa, kể từ ngày 30/4/1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam tiếp quản toàn bộ lãnh thổ do Việt Nam Cộng hoà quản lý trước đó. Ảnh: Uỷ ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định tổ chức họp báo quốc tế ngày 8/5/1975. Nguồn: Herve GLOAGUEN/Gamma-Rapho via Getty Images.

Tham gia với tư cách thành viên của các tổ chức quốc tế

Việc VNCH và VNDCCH đều tham gia làm thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) càng giúp chúng ta kết luận Việt Nam đã từng có hai chính phủ và được đối đãi như hai quốc gia riêng biệt.

Trước hết, đây là các tổ chức quốc tế mà thành viên tham gia hầu hết phải là các quốc gia có chủ quyền (sovereign states). Chúng ta có thể dùng Đài Loan làm ví dụ để so sánh vì Đài Loan chưa bao giờ là thành viên của WHO.

Trong khi đó, từ 17/5/1950, VNCH đã là thành viên của WHO, và trở thành thành viên của WMO từ 1/4/1955.

Sau khi VNCH sụp đổ vào ngày 30/4/1975, VNDCCH mới xin gia nhập hai tổ chức này. VNDCCH được kết nạp làm thành viên của WMO vào ngày 7/8/1975, và là thành viên của WHO vào ngày 22/10/1975. Điều này có nghĩa là tư cách thành viên của VNCH tại WHO và WMO lúc đó không bị xóa bỏ cho dù chính thể VNCH không còn tồn tại nữa.

Sau khi hai miền Nam Bắc thống nhất và trở thành CHXHCN Việt Nam vào tháng 7/1976, chính phủ mới đã gửi thông báo đến hai tổ chức này trong năm 1977 để yêu cầu cho phép CHXHCN Việt Nam tiếp nhận tư cách thành viên của cả hai chính phủ Nam – Bắc Việt Nam trước đó.

Điều này đồng nghĩa rằng trong thời gian trước năm 1977, đã có hai quốc gia Việt Nam là thành viên của WHO và WMO, và đều được hai tổ chức quốc tế này công nhận.

Đến thời điểm hiện tại, ngày tham gia vào WHO của Việt Nam được ghi nhận là ngày 17/5/1950 – là ngày mà VNCH tham gia vào WHO như đã nói ở trên. Điều này có nghĩa là tư cách tham gia WHO với danh nghĩa một quốc gia của VNCH không hề bị ảnh hưởng từ việc thống nhất đất nước vào năm 1976.

Ngoài ra, CHXHCN Việt Nam còn tiếp tục thay thế tư cách thành viên của VNCH ở các tổ chức khác như Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), và Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA). Đây là những tổ chức quốc tế mà trước năm 1975 chỉ có VNCH tham gia làm thành viên.

Kể từ năm 1977, Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là chính thể duy nhất quản lý toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Ảnh: mard.gov.vn.

CHXHCN Việt Nam tiếp tục tư cách thành viên của VNCH đối với các định chế tài chính quốc tế

Trước tháng 4/1975, chỉ có VNCH là thành viên của các định chế tài chính quốc tế. Đó là Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB).

Sau khi được thành lập vào tháng 7/1976, CHXHCN Việt Nam đã trình thư xin thay thế (substitution) tư cách thành viên của VNCH tại các định chế tài chính nói trên, chứ không phải là đơn xin gia nhập làm thành viên mới.

Cụ thể là khi thay thế tư cách thành viên của VNCH với ADB, CHXHCN Việt Nam đã tiếp quản 3.000 cổ phần của chính phủ VNCH tại ngân hàng này.

Đồng thời, CHXHCN Việt Nam cũng tiếp tục được nhận tất cả các khoản vay mà VNCH đã được ADB chấp thuận cho vay trong những năm trước đó. CHXHCN Việt Nam cũng bảo đảm sẽ chịu trách nhiệm chi trả cho những khoản vay này.

Vì vậy, ngày gia nhập ADB của Việt Nam hiện nay là ngày 22/9/1966, là ngày mà Quốc hội của chính phủ VNCH tại miền Nam đã phê chuẩn việc tham gia ADB.

CHXHCN Việt Nam tiếp tục công nhận một số hiệp ước mà VNCH đã ký kết

Tương tự việc tiếp tục tư cách thành viên của VNCH tại một số tổ chức và định chế tài chính quốc tế như đã nêu, CHXHCN Việt Nam còn tiếp tục công nhận ít nhất hai hiệp ước quốc tế mà VNCH đã ký kết trước ngày 30/4/1975.

Ngày 16/12/1976, nhà nước CHXHCN Việt Nam đã đệ trình đơn phê chuẩn Công ước Viễn thông Quốc tế 1973 (1973 International Telecommunication Convention) mà chính phủ VNCH đã ký kết vào ngày 25/10/1974 tại Hội nghị Málaga-Torremolinos nhưng chưa kịp phê chuẩn. Đơn đệ trình của CHXHCN Việt Nam nêu rõ là việc phê chuẩn được dựa trên những ký kết mà VNCH đã thực hiện trước đó.

Tương tự, VNCH được công nhận tư cách thành viên của Liên minh Bưu chính Quốc tế (UPU) từ năm 1951. Vào tháng 7/1974, chính phủ VNCH đã ký kết các văn bản liên quan đến các Quy chế Chung (General Regulations) và Công ước Liên minh Bưu chính Lausanne (Universal Postal Convention) của UPU nhưng chưa kịp phê chuẩn. Ngày 27/10/1976, Quốc hội của CHXHCN Việt Nam đã phê chuẩn các văn bản này và đệ trình lên tổ chức UPU với yêu cầu được thừa kế (succession) tư cách của VNCH.

Ngoài ra, vào ngày 4/7/1976, chỉ hai ngày sau khi được thành lập, Bộ Ngoại giao của nhà nước CHXHCN Việt Nam đã gửi công hàm đến chính phủ Thụy Sỹ và tuyên bố khẳng định tiếp tục tham gia vào các hiệp ước của Công ước Geneva 1949 (Geneva Conventions of 1949) mà hai chính phủ VNDCCH và VNCH đã ký kết trước đó về các vấn đề bảo vệ nạn nhân chiến tranh.

***

Qua những ví dụ kể trên, chúng ta nhận thấy rằng bằng nhiều hành động khác nhau, cả hai chính phủ VNCH và VNDCCH đã khẳng định tư cách quốc gia của mình trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975.

Nhà nước Việt Nam hiện nay chưa bao giờ chính thức công nhận chính thể VNCH. Tuy nhiên, CHXHCN Việt Nam lại liên tục công nhận tư cách quốc gia của VNCH một cách gián tiếp, qua việc thừa kế hoặc tiếp nhận tư cách thành viên của VNCH tại các tổ chức và định chế tài chính quốc tế.

Ngày nay, có lẽ đối với nhiều người Việt Nam, đặc biệt là những thế hệ sinh ra và lớn lên sau năm 1975, tư cách quốc gia của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại miền Bắc Việt Nam là việc không còn phải tranh cãi.

Còn về chính thể Quốc gia Việt Nam – Việt Nam Cộng hòa tại miền Nam, chúng ta có thể đọc lại những gì mà Đại Hội đồng LHQ đã phát biểu khi đề cử QGVN tham gia LHQ trong phiên họp năm 1952. Từ đó, chúng ta có thể phần nào hiểu thêm được một quan điểm khác về sự tồn tại và tính chính danh của chính thể QGVN – VNCH:

“Quan điểm của Đại Hội đồng cho rằng (Quốc gia) Việt Nam là một nhà nước yêu chuộng hòa bình đúng như định nghĩa của Điều 4 Hiến chương, đã thể hiện nguyện ý cũng như có khả năng thực hiện các nghĩa vụ của Hiến chương, và do đó nên được chấp thuận tham gia làm thành viên của Liên Hiệp Quốc.”

Tài liệu tham khảo:
Quỳnh Vi / Theo: luatkhoa.com



Tuesday, April 28, 2026

ĐỆ NHẤT MỸ NHÂN NÀO TRONG KIẾM HIỆP KIM DUNG LÀM XOAY CHUYỂN LỊCH SỬ TRUNG QUỐC?

Không chỉ có nhan sắc làm mê hoặc lòng người, mỹ nhân này còn có tài cầm, kỳ, thi, họa khiến võ tướng nhà Minh hết mực sủng ái.


Trong thế giới kiếm hiệp Kim Dung, không chỉ xuất hiện hình ảnh của vô số anh hùng, hảo hán kiệt xuất mà có rất nhiều mỹ nữ tuyệt sắc giai nhân gây ấn tượng trong lòng khán giả. Trong số đó, không thể không kể đến Trần Viên Viên - một đại mỹ nhân có thật trong lịch sử Trung Hoa.

Hình tượng đệ nhất mỹ nhân trong kiếm hiệp Kim Dung trên màn ảnh

Nhà văn Kim Dung đã xây dựng hình ảnh của Trần Viên Viên trong bộ tiểu thuyết cuối đời "Lộc đỉnh ký". Theo đó, nhan sắc xinh đẹp của Trần Viên Viên khiến cho Tổng binh Ngô Tam Quế chấp nhận mang tiếng xấu đến ngàn năm. Kẻ tài tuấn như Bách thắng đao vương Hồ Dật Chi chỉ một lần nhìn thấy Viên Viên đã cam nhận từ bỏ mộng vùng vẫy giang hồ mà làm thân phận kẻ quét vườn để chỉ được ngày ngày ngắm nhìn dung nhan của mỹ nhân tuyệt tục.

Tạo hình Trần Viên Viên trong phim.

Trong tác phẩm "Lộc Đỉnh ký", Kim Dung đã mô tả đoạn nhân vật chính Vi Tiểu Bảo gặp Trần Viên Viên tại một ngôi chùa nhỏ ở ngoại ô thành Côn Minh. Dù quen biết với không ít những người đẹp, trong đó có cả A Kha, con gái của Trần Viên Viên nhưng Vi Tiểu Bảo vẫn xiêu lòng trước vẻ tài sắc của người phụ nữ lớn tuổi gấp đôi mình.

Cuộc đời mỹ nhân này gắn liền với nhiều biến động trong lịch sử Trung Quốc. Nhiều nhà sử học cho rằng, chính cô là nguyên nhân khiến Ngô Tam Quế phản bội Lý Tự Thành, làm cả vạn người chết oan trong trận chiến tại Nhất Phiến Thạch.

Lương Tiểu Băng vào vai Trần Viên Viên trong phiên bản "Lộc đỉnh ký" năm 1997.

Trên phim ảnh, vai diễn Trần Viên Viên đã được khắc họa rõ nét qua sự thể hiện của nhiều mỹ nhân nổi tiếng. Trong phiên bản "Lộc đỉnh ký" 1998, nhân vật đệ nhất mỹ nữ Tô Châu được giao cho nữ diễn viên Lương Tiểu Băng. Vốn là Á hậu 2 trong cuộc thi Hoa hậu Hồng Kông 1990, với diễn xuất tinh tế và nhan sắc xinh đẹp không góc chết, vừa đoan trang, dịu dàng lại chẳng kém phần yêu kiều, vai diễn của Lương Tiểu Băng được đánh giá là kinh điển nhất trên màn ảnh Hoa ngữ.

Năm 2000, Chu Ân hóa thân thành nàng Trần Viên Viên trong bộ phim "Tiểu Bảo Và Khang Hy" do Trương Vệ Kiện diễn chính. Mặc dù, khi đó đã 30 tuổi nhưng nữ diễn viên vẫn gây ấn tượng mạnh với khán giả nhờ gương mặt xinh đẹp không tì vết, thần thái hơn người.

Kỹ nữ khiến hai hoàng đế mất cả giang sơn

Trần Viên Viên sinh ra ở một gia đình lao động nghèo tại Giang Tô, Trung Quốc vào thời mạt Minh - Thanh sơ. Mẹ nàng sớm qua đời vì bệnh, cha vì nghèo nên bỏ đi biệt xứ. Viên Viên được người dì ruột nhận về nuôi dưỡng. Nhờ nhan sắc tuyệt trần, tư chất thông minh nên từ nhỏ, nàng đã được dì ruột mời thầy về dạy ca vũ, đánh đàn. Thế nhưng, khi Viên Viên khôn lớn, người dì đã nhẫn tâm bán nàng vào kỹ viện.

Trần Viên Viên sở hữu nhan sắc tuyệt thế và tài năng cầm kì thi hoạ xuất chúng.

Tuy phận kỹ nữ nhưng Viên Viên chỉ bán nghệ, không bán thân. Tiếng tăm của nàng đã nhanh chóng lan ra khắp thiên hạ. Khi nhắc đến Viên Viên, người đời mô tả lại rằng: Từ quan lại cho đến những công tử giàu có đều mê mẩn nàng. Thế nhưng, nhan sắc và tài năng của mỹ nhân họ Trần lại là nguyên nhân dẫn đến bi kịch của cuộc đời nàng.

Đương thời, vua Sùng Trinh chỉ đam mê tửu sắc, ngày đêm hoan lạc với Điền Quý phi, bỏ bê triều chính. Chu Hoàng hậu và phụ thân bèn mua lại Viên Viên đưa vào cung nhằm khiến Điền Quý phi thất sủng. Tuy nhiên, hoàng đế lại mê mẩn Viên Viên quá mức khiến Chu hoàng hậu phải đưa nàng lánh tạm ở nhà quốc trượng Chu Khuê.

Nhan sắc và tài năng của đệ nhất mỹ nhân là nguyên nhân dẫn đến bi kịch của cuộc đời nàng.

Trong một bữa tiệc tại phủ, ông cho Viên Viên ra múa hát. Khi đó, nhan sắc cùng tài năng của nàng đã lọt vào "mắt xanh" của Ngô Tam Quế. Khi viên võ quan này được cử ra trấn thủ Sơn Hải quan để ngăn chặn quân Mãn Châu, Sùng Trinh đã ban Viên Viên cho ông. Thế nhưng, Viên Viên chưa được thỏa tình gần gũi người anh hùng thì Ngô Tam Quế được lệnh cấp tốc phải về quan ải, chỉnh đốn quân binh sửa soạn chống đỡ với giặc ngoại xâm. Võ quan họ Ngô đành dứt áo ra đi, để lại người vợ trẻ mới cưới cho phụ thân chăm sóc.

Tưởng rằng, cuộc đời của đệ nhất mỹ nữ Tô Châu đã tìm được bến đỗ bình yên. Thế nhưng, đến năm 1644, quân đội của Lý Tự Thành đánh chiếm kinh thành, Ngô Tam Quế ở xa không thể ứng cứu kịp thời, nhà Minh chính thức sụp đổ.

Đệ nhất mỹ nữ Tô Châu trở thành vị đạo cô, sống ẩn dật đến cuối đời.

Lý Tự Thành khi bắt gặp nhan sắc của Viên Viên cũng "mê như điếu đổ", liền thu nạp nàng vào hậu cung. Ngô Tam Quế hay tin phu nhân bị chiếm đoạt nên đã liên quân với Đa Nhĩ Cổn đánh chiếm kinh thành. Trước binh lực hùng mạnh của tướng quân họ Ngô, Lý Tự Thành vô cùng hoảng sợ. Hắn cho bắt tất cả gia quyến của Ngô Tam Quế, thậm chí còn tàn sát dã man. Cuộc nội chiến kéo dài nhiều ngày, binh lính và thường dân thương vong vô số. Kể từ đó, Trần Viên Viên bị người đời chì chiết là "mầm họa quốc gia".

Theo một số tài liệu, sau khi quân Mãn Thanh dẹp được Lý Tự Thành, mở ra một trang mới cho lịch sử Trung Quốc. Nhờ vậy, Ngô Tam Quế cũng trở thành một vị đại tướng của nhà Thanh. Thế nhưng, do lo ngại bị điều tiếng lấy phải kỹ nữ, Ngô Tam Quế liền đưa Trần Viên Viên lên sống cô đơn trên một ngôi chùa vắng ở Côn Sơn - Vân Nam. Cuối đời, nàng kỹ nữ nổi tiếng nhất đời Minh Thanh trở thành một vị đạo cô, sống ẩn dật và mất một cách âm thầm trong cô quạnh.

Nguyệt Lương / Theo: Theo Arttimes

BỒ TÁT MAN KỲ 3 - VI TRANG


Bồ tát man kỳ 3

Nhân nhân tận thuyết Giang Nam hảo,
Du nhân chỉ hợp Giang Nam lão,
Xuân thuỷ bích ư thiên,
Hoạ thuyền thính vũ miên.
Lư biên nhân tự nguyệt,
Hạo oản ngưng sương tuyết.
Vị lão mạc hoàn hương,
Hoàn hương tu đoạn trường.


菩薩蠻其三

人人盡說江南好,
遊人只合江南老,
春水碧於天,
畫船聽雨眠。
壚邊人似月,
皓腕凝霜雪。
未老莫還鄉,
還鄉須斷腸。


Bồ tát man kỳ 3
(Dịch thơ: Đoan Trang)

Người người đều nói Giang Nam đẹp
Du khách chỉ mong ở đến già
Nước xuân xanh biếc thiên hà
Ở trong thuyền vẽ ngủ mà nghe mưa
Bên lò người tựa trăng xưa
Cổ tay tròn trắng cũng vừa tuyết sương
Chưa già đừng vội hồi hương
Hồi hương mới biết trăm đường xót xa!


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vi Trang 韋莊 (khoảng 860-910) tự Đoan Kỷ 端已, nguyên đậu tiến sĩ đời Đường, đi sứ sang Thục rồi lưu lại Thục không về. Ông sinh hoạt rất giản dị khâm hoài khoát đạt. Tác phẩm của ông có Hoán hoa tập, Hoán hoa từ. Trong tập Luận từ tạp trước, Chu Tế có nói: “Từ của Đoan Kỷ thanh diễm tuyệt vời”.

Nguồn: Thi Viện



CÓ LÀM CÓ CHỊU


Tối nay, không đúng. Phải nói là khuya thật khuya vì bây giờ đã gần 3:00 sáng ở Úc. Hôm nay ở nhà không đi làm, coi video về Phật giáo hơi nhiều nên còn vương vương vấn vấn dù không có ăn chay. Hai ngày nay không ăn cơm mà chỉ ăn bún măng vịt, steak bò và pizza Ý.

Tôi tin Phật và học Phật nhưng chưa ăn chay được, chưa thường xuyên đến chùa và chưa đọc kinh. Tôi tin vào sự tu luyện của bản thân, tức là tự sửa đỗi, hoàn thiện, không nổi nóng, không đam mê, không tham lam vì lợi ích bản thân. Hy vọng cái gì của mình thì nó sẽ đến. Tôi chưa từng ganh ghét với người giàu và không bao giờ khi dễ những người nghèo. Có cái tôi khinh thường và không dung tha là bọn "ngụy quân tử".

Tôi giận ai, vài tiếng sau hay nhiều lắm 1 ngày là hết. Ai làm cho đến tôi phải thù oán thì không bao giờ hết, nó đã là cái nghiệp. Kiếp này không trả được thì kiếp sau cũng phải đòi. Người TQ thường nói "Quân tử báo thù, thập niên vị vãn" (君子报仇,十年未晚). Nhà Phật cũng phải chấp nhận cho nên người nuôi chí báo thù không có gì là xấu hay tội ác. Còn lấy đức báo oán, oán ấy tiêu tan. Vậy lấy gì báo đức? Đây không phải là oán mà là thù, thù thì phải trả.

Mời quí vị đọc bài này. (LKH)


CÓ LÀM CÓ CHỊU

Lúc Đức Thích Ca Mâu Ni trụ tại thành Vương Xá, một hôm có một người lái buôn tên gọi là Phất Ca Sa muốn đi mua hàng hóa, nên sáng sớm đi đến thành La Việt, nhưng vừa tới cổng thành thì đã bị một con trâu húc chết.

Chủ con trâu thấy thế, sợ nếu giữ con trâu hung ác này lại thì về sau thế nào cũng sẽ xẩy ra chuyện không lành, nên bèn đem con trâu đi bán với một giá rẻ mạt.

Người chủ mới mua trâu xong bèn dắt trâu về nhà. Đi được nửa đường gặp một con sông, ông muốn cho trâu uống nước. Không ngờ không những trâu không uống nước, mà bản tính hung bạo dữ dằn của nó thình lình nổi dậy, nó dùng sừng húc người này chết tươi.

Người nhà của nạn nhân thấy thế mới nổi giận đem con trâu ra giết, rồi đem thịt ra chợ bán. Có một người nông phu tham giá rẻ, mua đầu trâu về, lấy dây cột sừng trâu lại rồi xách về nhà.

Ấn Độ là một nước nhiệt đới, vô cùng nóng bức. Người nông phu đi được một đoạn đường thì vừa nóng vừa khát, bèn treo đầu con trâu lên một cành cây rồi ngồi dưới gốc cây này nghỉ ngơi.

Quái lạ thay, sợi dây cột đầu con trâu mắc lên cành cây bỗng dưng vô cớ đứt đoạn, khiến đầu con trâu rơi xuống, trúng ngay đầu người nông phu khiến ông này bị trọng thương mà chết ngay tại chỗ.

Chỉ trong vòng một ngày mà con trâu này đã giết chết hết ba người.

Vua Tần Bà Sa La nghe tin này rất lấy làm lạ, biết rằng bên trong phải có nguyên do gì đây. Ông bèn dẫn một số đại thần, đem hoa quả hương đèn tới núi Linh Thứu lễ Phật rồi thỉnh Ngài thuyết giải cho nghe.

Đức Phật kể cho vua Tần Bà Sa La nghe rằng:

- Hồi xưa có ba người lái buôn đi qua nước láng giềng làm ăn mua bán. Họ muốn để dành tiền nên chiều hôm ấy, thay vì đi tìm khách sạn, thì lại ghé đến nhà một bà lão xin mướn một căn phòng. Hai bên thỏa thuận giá cả xong, họ Ở lại nhà bà lão ngủ qua đêm ấy. Sáng hôm sau, bà lão có việc phải đi ra ngoài, ba người thừa cơ hội bà vắng mặt lẻn trốn đi mất.

Về tới nhà thấy thế, bà lão tức giận vô cùng, đuổi theo họ đòi tiền. Ba người phải gánh vác hành lý nặng nề nên đi chưa được xa đã bị bà lão bắt kịp. Họ thấy bà lão già cả, dễ ức hiếp, nên nặng lời nhục mạ chưởi mắng bà. Bà lão không làm gì được họ, phẫn uất mà nói:

- Mấy người chỉ là một phường vô lại, thấy tôi già cả nên mới ức hiếp nhục mạ tôi. Nhưng hành động này của mấy người thế nào cũng có ngày trả báo. Kiếp này tôi không làm gì mấy người được, nhưng kiếp sau, dầu tôi có sinh ra làm người hay dầu có mất thân người đi nữa, tôi cũng quyết sẽ báo thù. Tôi sẽ giết hết cả ba người, có thế mới hả được niềm căm hận này.


Đức Phật thuyết câu chuyện nhân duyên ấy quả báo xong, Ngài nói tiếp:

- Con trâu hung ác chỉ nội trong một ngày mà giết hại hết ba mạng người chính là bà lão tái sinh. Ba người lái buôn đã khinh miệt bà lão trong kiếp xưa, kiếp này đã lần lượt bị trâu húc chết trong vòng một ngày.

Tội phúc như chiếc bóng đi theo mỗi người, nếu mình khinh miệt người khác mà làm việc trái với lương tâm, thì cũng chỉ có mình tự chịu lấy quả báo đau khổ về sau mà thôi!

Phật Giáo Cố Sự Đại Toàn
Dịch giả: Diệu Hạnh & Giao Trinh