Monday, May 4, 2026

CAO TỐC G315 - HÀNH TRÌNH XUYÊN TÂY BẮC TRUNG QUỐC QUA SA MẠC, HỒ MUỐI VÀ CAO NGUYÊN

Dài hơn 3.000 km, G315 đưa bạn băng qua Taklamakan, hồ muối trắng và cao nguyên Thanh Tạng, khám phá vẻ đẹp hùng vĩ của Tây Bắc Trung Quốc.


Quốc lộ 315, hay còn gọi là Cao tốc Thanh Hải – Tân Cương (G315), là một trong những cung đường nổi tiếng và đặc sắc nhất của Trung Quốc. Trải dài hơn 3.000 km, tuyến đường nối liền tỉnh Thanh Hải và khu tự trị Tân Cương, xuyên qua những vùng đất hoang sơ, khắc nghiệt nhưng tràn đầy sức hút: sa mạc mênh mông, hồ muối lấp lánh, dãy núi tuyết trắng và cao nguyên hùng vĩ.

Không chỉ là trục giao thông quan trọng, G315 còn được mệnh danh là “con đường của những giấc mơ” đối với các tín đồ ưa dịch chuyển, bởi nó đưa người lữ hành đi qua những cảnh quan vừa dữ dội vừa thơ mộng, gợi mở những câu chuyện về thiên nhiên và con người vùng viễn tây Trung Hoa.


Vẻ đẹp đối lập – Khi khắc nghiệt và thơ mộng cùng hiện diện

Điều khiến G315 trở thành huyền thoại chính là sự kết hợp hiếm có giữa vẻ đẹp khắc nghiệt và chất thơ của thiên nhiên.

Sa mạc Taklamakan – “biển cát chết” lớn thứ hai thế giới, nơi gió và nắng hun đúc những đụn cát khổng lồ đổi màu theo từng giờ trong ngày.


Hồ muối trắng – trải rộng như tấm gương khổng lồ, mặt hồ phản chiếu trời xanh, mây trắng, và khi mùa đông đến, chúng biến thành những “cánh đồng tuyết” lung linh.


Cao nguyên Thanh Tạng – mái nhà thế giới với những dãy núi trùng điệp, thảo nguyên bạt ngàn, đàn gia súc thong dong giữa khung cảnh bao la.


Mùa hè, hành trình càng trở nên đa sắc với sắc xanh tươi của hồ nước xen giữa vùng đất khô cằn, đối lập mạnh mẽ nhưng đầy cuốn hút.

Thách thức thiên nhiên – Bí quyết giữ đường thông suốt

Xây dựng và duy trì G315 không hề dễ dàng. Phần lớn tuyến đường chạy qua khu vực chịu gió cát mạnh, đặc biệt là quanh Taklamakan, nơi bão cát có thể vùi lấp mặt đường chỉ trong vài giờ.

Để bảo vệ tuyến đường, Trung Quốc đã triển khai:
  • Hệ thống hàng rào chắn cát dọc hai bên, giúp chặn và giảm tốc độ gió.

  • Vành đai cây xanh chống sa mạc hóa, trồng những loài cây chịu hạn như saxaul và tamarisk, vừa cố định đất cát vừa tạo màu xanh hiếm hoi giữa hoang mạc.

  • Bảo trì thường xuyên với các đội công nhân làm việc liên tục để dọn cát, sửa mặt đường, đảm bảo giao thông thông suốt quanh năm.

Nhờ đó, G315 không chỉ là con đường giao thông, mà còn là minh chứng cho sự kiên trì và sáng tạo của con người trong chinh phục thiên nhiên.

Vì sao cát không bám trên mặt đường và ảnh hưởng giao thông?

Các tuyến quốc lộ xuyên qua sa mạc, như G315, thường đối mặt với hiện tượng “cát lấn” – khi gió mạnh cuốn cát phủ kín mặt đường, gây trơn trượt, giảm tầm nhìn và nguy cơ mất lái. Tuy nhiên, trên nhiều đoạn đường ở Trung Quốc, lớp cát hiếm khi phủ dày hoặc bám chặt lâu dài. Nguyên nhân là sự kết hợp giữa kết cấu mặt đường đặc biệt và các biện pháp kiểm soát cát. Mặt đường được trải lớp asphalt mịn, ít khe hở, hạn chế khả năng cát kẹt lại. Cùng với đó là hệ thống rào chắn gió và cát, bẫy cát sinh thái (trồng cỏ, cây bụi chịu hạn), và các dải lưới cố định cát hai bên đường, giúp giảm lượng cát bay trực tiếp lên bề mặt.


Ứng dụng công nghệ và kinh nghiệm chống cát lấn đường ở Trung Quốc

Trung Quốc đã áp dụng nhiều công nghệ tiên tiến để bảo vệ các tuyến đường huyết mạch qua sa mạc. Hệ thống cảm biến thời tiết và camera AI giám sát mật độ cát, cho phép điều động xe quét, xe phun nước cố định cát khi cần thiết. Một số khu vực thử nghiệm phủ lớp màng polymer sinh học lên bề mặt đất cát gần đường, giúp cố định hạt cát nhưng vẫn thấm nước. Ngoài ra, kinh nghiệm từ hàng chục năm xây dựng ở hành lang sa mạc Taklamakan – nơi có “con đường trên biển cát” dài hơn 500 km – đã giúp Trung Quốc tối ưu thiết kế rào chắn, bố trí tuyến đường theo hướng gió chủ đạo, giảm thiểu tối đa nguy cơ cát tràn.

Trải nghiệm lái xe - Chuyến phiêu lưu của đời người

Lái xe trên G315 là một trải nghiệm đủ thử thách và đủ thưởng thức cho những ai yêu khám phá:
  • Cung đường dài và hẻo lánh: Nhiều đoạn gần như tách biệt khỏi nhịp sống hiện đại, đưa bạn vào thế giới của sự tĩnh lặng và hoang sơ.

  • Cảnh sắc thay đổi liên tục: Chỉ trong vài giờ lái, bạn có thể đi từ biển cát vàng đến hồ nước xanh, rồi sang cao nguyên lạnh giá.

  • Cảm giác tự do tuyệt đối: Trời rộng, đất dài, không gian mở bất tận khiến bạn như hòa làm một với thiên nhiên.


G315 và sức hút với du lịch khám phá

Những năm gần đây, G315 không chỉ thu hút phượt thủ Trung Quốc mà còn hấp dẫn khách quốc tế mê du lịch mạo hiểm. Nhiều tour tự lái hoặc caravan xuyên G315 đã ra đời, kết hợp tham quan các điểm nổi tiếng như:

  • Sa mạc Taklamakan


  • Hồ muối Chaka


  • Hồ Qinghai


  • Các thị trấn cổ trên Con đường Tơ lụa

Không chỉ là hành trình ngắm cảnh, đây còn là cơ hội để tìm hiểu đời sống, văn hóa các dân tộc thiểu số như Duy Ngô Nhĩ, Hán, Hồi… sống rải rác dọc tuyến đường.

Cao tốc Thanh Hải – Tân Cương (G315) không chỉ nối liền hai vùng đất, mà còn kết nối những mảnh ghép địa lý, văn hóa và lịch sử của Trung Quốc. Mỗi km đường là một bức tranh sống động, mỗi khúc cua là một câu chuyện mới.

Đối với người lữ hành, G315 là biểu tượng của khát vọng khám phá – nơi mà thiên nhiên vừa thử thách vừa ban tặng những khoảnh khắc kỳ diệu. Một lần băng qua G315, bạn sẽ hiểu vì sao những ai từng đi qua đều muốn quay lại, để một lần nữa chạm vào vẻ đẹp nguyên sơ của Tây Bắc Trung Quốc.

Minh Hung / Theo: TravelSig+



Sunday, May 3, 2026

NGUỒN GỐC ĐẠO CAO ĐÀI GIỮA ĐẤT NAM KỲ

Đạo Cao Đài là một tôn giáo mới phát triển gần 100 năm nay. Tôn giáo này bắt nguồn từ một hoạt động đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn là cầu cơ và chấp bút.

Chỉ trong một thời gian ngắn, đạo Cao Đài đã thu hút hàng triệu dân miền Nam trở thành tín đồ. Trong ảnh này, tín đồ đạo Cao Đài làm lễ tang cho một trong những vị sáng lập cuối cùng của đạo Cao Đài là ông Cao Hoài Sang vào ngày 30/4/1971. Ảnh: Bettmann/CORBIS.

Đạo Cao Đài ra đời vào những năm 1920 từ các buổi cầu cơ của một số công chức người Việt ở Sài Gòn. Từ những đàn cơ này đã hình một tôn giáo mới với triết lý độc đáo.

Đạo Cao Đài không có một giáo chủ bằng xương thịt như nhiều tôn giáo khác.

Theo lịch sử của tôn giáo này, đạo Cao Đài lúc khai sinh có 13 tín đồ nhận thông điệp của một đấng tối cao là “Cao Đài Tiên ông Đại bồ tát Ma ha tát”. Theo đó, đấng tối cao này sẽ thông qua cơ bút [cầu cơ và chấp bút] để hướng dẫn tín đồ phát triển đạo Cao Đài trong những ngày đầu thành lập.

Cụm danh xưng “Cao Đài Tiên ông Đại bồ tát Ma ha tát” thể hiện sứ mệnh của đạo Cao Đài là dung hợp Tam Giáo (trở về nguồn gốc chỉ có một tôn giáo): Cao Đài là đại diện cho Nho giáo, Tiên ông là đại diện cho Lão giáo, Đại bồ tát Ma ha tát là đại diện cho Phật giáo. Đấng tối cao này của đạo Cao Đài còn được gọi là “Ngọc Hoàng Thượng Đế” hay “Đức Chí Tôn”.

Tín đồ của đạo Cao Đài tin rằng “Ngọc Hoàng Thượng Đế” là người tạo ra vũ trụ, loài người và các tôn giáo. Vì vậy, sứ mệnh của Cao Đài ngoài đưa ba tôn giáo trở về một gốc thì còn có hiệp nhất năm đạo lớn thành một: Phật Đạo (đại diện là Phật Thích Ca), Tiên đạo (đại diện là Lý Bạch), Thánh đạo (đại diện là Jesus Christ), Thần đạo (đại diện là Khương Tử Nha) và Nhơn đạo (bao gồm bảy cái ngai sơn son thếp vàng đặt trong nơi cử hành nghi lễ ở Tòa Thánh Tây Ninh – còn gọi là Cửu Trùng Đài – dành cho bảy chức sắc cao cấp của đài này).

Những nhân vật được đạo Cao Đài thờ phượng và 7 cái ngai ở Cửu Trùng Đài trong tranh thờ của đạo này thể hiện tính mở, hòa hợp nhiều tôn giáo với sứ mệnh “Đại đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Ảnh: Caodai.net.

Chính vì hai sứ mệnh trên mà đạo Cao Đài nhận mình là đạo cứu rỗi loài người lần thứ ba. Bạn dễ thấy dòng chữ “Đại đạo Tam Kỳ Phổ Độ” được đặt trang trọng trước cửa chính vào Tòa Thánh Tây Ninh, hay ở bất kỳ tòa thánh nào của đạo này.

Kỳ phổ độ thứ ba này xuất phát từ niềm tin “Ngọc Hoàng Thượng Đế” đã tạo ra ba kỳ cứu rỗi loài người. Hai kỳ trước “Đức Chí Tôn” đã cho sự xuất hiện của những nhân vật đại diện cho Nhơn Đạo là Văn Tuyên Đế Quân rồi đến Khổng Tử; Tiên Đạo là Hồng Quân Lão Tổ rồi đến Lão Tử; và Phật Đạo là Nhiên Đăng Cổ Phật rồi đến Thích Ca.

Nhưng đến thời kỳ thứ ba thì ba tôn giáo này sẽ trở lại nguồn gốc của nó là một đạo duy nhất là đạo Cao Đài.

Đạo Cao Đài là một tôn giáo có hệ thống giáo lý bài bản, quy định chặt chẽ, tổ chức phức tạp, bao gồm những nghi lễ cầu kỳ, thần bí, nhuốm màu Đạo giáo.

Gốc rễ sự ra đời của Cao Đài Giáo đã bắt nguồn phần lớn từ những biến cố của miền đất phóng khoán vừa được khẩn hoang Nam Kỳ Lục Tỉnh.

Nam Kỳ – miền đất đa tín ngưỡng

Đất Nam Bộ ngày nay, ngày xưa gọi là Nam Kỳ, được tạo dựng nhờ những người khẩn hoang từ thế kỷ XVII. Từ đó đến đầu thế kỷ XX, Nam Kỳ đã dung nạp những người khẩn hoang can đảm đến từ nhiều địa phương, mang theo văn hóa, tín ngưỡng khác nhau đã tạo nên một vùng đất cởi mở, dễ chấp nhận sự khác biệt.

Khi người Pháp chiếm Nam Kỳ vào cuối thế kỷ XIX. Lúc đó, Nam Kỳ đã là một vùng đất đa tín ngưỡng, người Khmer theo Phật giáo tiểu thừa; người Chàm theo ảnh hưởng của Ấn giáo, Hồi giáo, Phật giáo; tín đồ Thiên Chúa giáo lánh nạn diệt đạo của triều đình; những người Hoa phản Thanh phục Minh đến chung sống với người Việt đã chịu ảnh hưởng của Tam giáo (Phật giáo, Khổng giáo và Nho giáo), trọng tình nghĩa huynh đệ, trung can nghĩa khí.[1]

Không chỉ duy trì sự hòa đồng về tôn giáo, người dân còn chấp nhận, khám phá những tín ngưỡng mới nhằm chung sống với cảnh loạn ly khi người Pháp cai trị đất Nam Kỳ: Thế Chiến thứ Nhất bùng nổ ở châu Âu, sự cai trị hà khắc của người Pháp, phong trào chống Pháp quyết liệt ở miền Nam, phong trào Duy Tân truyền cảm hứng cải cách xã hội, v.v.

Với tương lai bất ổn như vậy, dân chúng dễ tin vào những thế lực siêu nhiên để an toàn giữa cuộc ly loạn. Hồ Lê đã mô tả niềm tin những người dân Nam Kỳ tin vào thế lực siêu nhiên như sau: “Trong bối cảnh [chiến tranh, nghèo đói, áp bức] như vậy, người dân Nam Bộ [Nam Kỳ] tự nhiên phải tin tưởng nhiều vào sự hên, xui, may, rủi. Và để khỏi bị xui, bị rủi thì họ phải khấn vái, cầu xin sự phò hộ độ trì của Trời phật, thần linh, tổ tiên ông bà và cả những người ‘khuất mặt’”.[2]

Trong sự xáo trộn đó, phong trào Thông linh học hay “cầu cơ” bắt đầu được phổ biến ở Nam Kỳ nhằm liên lạc với các linh hồn. Việc tiếp xúc với các linh hồn cũng là một phần trong thực hành Đạo giáo. Những đàn cơ được lập dựa trên hướng dẫn trong các cuốn sách Thông linh học của Tây Phương đang thịnh hành lúc bấy giờ. Người Pháp cấm những hoạt động này nhưng dân chúng vẫn âm thầm đến các đàn cơ.[3]

Người cầu cơ thường có ba nhóm chính. Một nhóm hỏi về chuyện thời sự để biết tương lai của đất nước. Nhóm khác thì mượn đàn cơ để mua vui, nhận các bài thi phú. Nhóm còn lại đông đảo hơn cả là tầng lớp bình dân, họ cầu cơ để xin thuốc chữa bệnh, cầu thọ,… Cầu cơ có nhiều thuật khác nhau nhưng phổ biến là xây bàn và dùng ngọc cơ.[4]

Nhà nghiên cứu Lê Anh Dũng sưu tầm được những tài liệu ghi rằng từ năm 1913, trong vài đàn cơ ở một số tỉnh Nam Kỳ đã xuất hiện danh xưng Cao Đài nhưng không được chú ý. Mãi đến những năm 1920 thì đạo Cao Đài mới có được những môn đồ đầu tiên.

Hai tín đồ Cao Đài đang nâng một đại ngọc cơ dùng trong các đàn cơ của đạo Cao Đài vào tháng 7/1948. Ảnh: Tạp chí LIFE.

Những môn đồ đầu tiên – họ là ai?

Khi phong trào Thông linh học phổ biến ở miền Nam, năm 1925, Sài Gòn có một nhóm công chức người Tây Ninh bị hấp dẫn bởi thuật xây bàn để nói chuyện với các linh hồn ở phố Hàng Dừa (nay đường Cống Quỳnh, phường Nguyễn Cư Trinh, quận 1). Nhóm này được gọi là nhóm Cao-Phạm, gồm các ông Cao Quỳnh Cư, 37 tuổi; Cao Hoài Sang, 24 tuổi; Phạm Công Tắc, 35 tuổi, đều là viên chức của chính quyền thuộc địa.[5]

Sau giờ làm, họ rủ nhau thực hành thông linh học để trò chuyện với những vong hồn, chủ yếu là để giải trí và xin thơ văn. Qua các lần cầu cơ, nhóm này trở nên hứng thú và tin tưởng vào các đàn cơ.[6]

Nhóm Cao-Phạm cầu cơ được một thời gian thì đàn cơ ngày 15/12/1925 xuất hiện một đấng ẩn danh xưng là AĂÂ, sau đó nói danh là Cao Đài và chỉ định ba người này trở thành môn đệ của đạo Cao Đài. Sau đó, qua một đàn cơ khác thì đấng này nhận thêm ông Lê Văn Trung – một quan chức cấp cao từng làm nghị viên trong Hội Đồng Thượng Nghị Viện Đông Dương – làm tín đồ. Tuy nhiên, trước khi bốn người này được đấng tối cao nhận làm tín đồ thì đã có một quan chức người Việt sống trầm lặng được chỉ định trở thành môn đồ đầu tiên của đạo Cao Đài.

Ông Lê Văn Trung (trái) và Phạm Công Tắc (phải) trong lễ phục của đạo Cao Đài và ảnh mặc thường phục. Ảnh của Phạm Công Tắc mặc lễ phục do Tạp chí LIFE chụp năm 1948. Những ảnh còn lại do Walter Bosshard chụp năm 1930.

Vị môn đồ đầu tiên đó chính là ông Ngô Văn Chiêu, sau này là “anh cả” của tất cả tín đồ Cao Đài. Ông Chiêu là người thực hành triết lý Phật giáo Thiền tông của Minh Sư Đạo đã truyền vào Việt Nam từ cuối thế kỷ 19, thu hút nhiều tín đồ người Hoa. Đây là phái thờ Phật, tu Tiên, sinh hoạt theo tư tưởng Nho giáo.

Năm 1921, Ngô Văn Chiêu ra Phú Quốc làm chủ quận, ở độ tuổi 43 tuổi. Tại đây, trong một lần cầu cơ, ông đã được đấng tối cao là Cao Đài nhận làm môn đồ đầu tiên. Ông Chiêu tiếp tục tu tập trong ba năm ở Phú Quốc rồi trở về Sài Gòn năm 1924. Trong thời gian ở Phú Quốc, ông Chiêu đã bước đầu xây dựng được cách tu tập, thờ cúng, giáo lý của đạo Cao Đài.

Tranh vẽ ông Ngô Minh Chiêu sinh năm 1878, mất năm 1932. Ông là người “anh cả” của tất cả tín đồ đạo Cao Đài.

Về Sài Gòn, ông Chiêu tiếp tục tục tập theo phương pháp nội giáo tâm truyền (esotericism) đến năm 1926 thì liên kết với Nhóm Cao-Phạm bắt đầu thu nhận tín đồ. Về sau, Ngô Minh Chiêu không cùng nhóm Cao-Phạm hoạt động phổ độ nữa mà tách ra để ẩn tu.

Ngày 7/10/1926, những tín đồ đầu tiên của đạo Cao Đài thông báo thành lập đạo với chính quyền Pháp. Trong bản thông báo bằng tiếng Pháp có 28 chức sắc cao cấp ký tên, đính kèm với danh sách 245 tín đồ. Ông Lê Văn Trung đã mang bản thông báo đến Phủ Thống đốc Nam Kỳ (nay là Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh, trên đường Lý Tự Trọng), gửi cho Quyền thống đốc Nam Kỳ Le Fol.[7]

“Thông qua người đồng tử phò loan, Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ truyền cho những người ký tên dưới đây các thánh giáo nhằm mục đích kết tinh và giảng dạy các giáo huấn tốt đẹp của Tam giáo ngày xưa.

Nền giáo lý mới sẽ dạy cho dân chúng các điều sau đây:

1. Luân lý cao siêu của Đức Khổng Tử.

2. Những đức tính được dạy trong Phật và Lão giáo. Những đức tính này gồm có làm lành lánh dữ, yêu thương nhân loại, sống hòa hiệp, tránh hoàn toàn sự chia rẽ và chiến tranh”, trích bản thông báo gửi với chính quyền thuộc địa Nam Kỳ về thành lập đạo Cao Đài.”

Vì sao đạo Cao Đài phát triển ở Nam Kỳ?

Là một tôn giáo mới thành lập nhưng đạo Cao Đài đã nhanh chóng thu hút được một số lượng lớn tín đồ đến từ khắp các tỉnh Nam Kỳ.

Nhà nghiên cứu Lê Anh Dũng trích tài liệu do Jayne Susan Werner tham khảo từ một báo cáo gửi cho Toàn quyền Đông Dương ngày 14/12/1934 cho thấy đạo Cao Đài đã có từ năm trăm ngàn tới một triệu tín đồ vào năm 1930, lúc đó tổng dân số Nam Kỳ khoảng bốn đến bốn triệu rưỡi người.

Ngoài sự cởi mở, chấp nhận sự đa dạng tín ngưỡng của vùng đất mới khẩn hoang Nam Kỳ thì sự tham gia của các công chức trong đạo Cao Đài đã ít hưởng ít nhiều đến sự hưởng ứng của quần chúng.

Nhà nghiên cứu Sơn Nam cho rằng người Nam Bộ tính hay nhút nhát nên những việc vận động quần chúng lớn lao phải có sự tham gia của công chức vì người dân “tin rằng công chức luôn luôn đàng hoàng, không làm quốc sự [làm chính trị]”[8].

Sâu xa hơn, nhà nghiên cứu Jayne S. Werner cho rằng “Đạo Phật và Khổng đã suy thoái [khi Pháp chiếm Nam Kỳ], để lại một khoảng trống văn hóa thuận lợi cho việc sáng lập các giáo thuyết mới nhắm vào mục đích khôi phục nền văn hóa Việt Nam”.[9]

Werner ghi chép rằng sự ra đời của đạo Cao Đài đã trả lại sinh lực cho đạo Phật, Lão và các chi Minh [Minh Sư, Minh Đường…], quy tụ được một số người tu hành của những tôn giáo này cải đạo sang Cao Đài. Ông cũng ghi nhận trước khi các tòa thánh của Cao Đài được xây thì tín đồ đã làm lễ ở các chùa Phật khắp Nam Kỳ.[10]

Một buổi lễ của đạo Cao Đài vào tháng 7/1948 tại Tòa Thánh Tây Ninh. Ảnh: Tạp chí LIFE.

Về mặt luật pháp, theo nhà nghiên cứu Lê Anh Dũng, đạo Cao Đài thuận lợi phát triển trong những ngày đầu cũng một phần do một số luật của nước Pháp được áp dụng ở Nam Kỳ. Là một thuộc địa của Pháp, “Nam Kỳ đã chịu sự chi phối của luật pháp nước Pháp”. Năm 1883, Pháp đã cho áp dụng bộ Hình luật và một số điều khoản của bộ Dân luật trên đất Nam Kỳ.

Sinh hoạt tôn giáo luôn đòi hỏi sự tụ tập của nhiều người có khi lên đến hàng vạn người, dẫn đến quyền tự do hiệp hội là một phần không thể thiếu trong các lễ nghi sinh hoạt của các tôn giáo. Trong khi đó, luật của nước Pháp áp dụng ở Nam Kỳ có nhiều thuận lợi về tự do hiệp hội.

Theo Luật Hiệp hội 1/7/1901, “các hiệp hội có thể tự do thành lập không cần cho phép hay khai báo trước”, nhưng chỉ có năng lực pháp lý sau khi thông báo với chính quyền chi tiết về hiệp hội và cập nhật sự thay đổi của hiệp hội (nếu có) trong mỗi ba tháng.

Thật vậy, bản thông báo thành lập đạo Cao Đài mà ông Lê Văn Trung gửi cho Quyền thống đốc Nam Kỳ đã phản ánh điều này. Văn phong trong bản thông báo không có hề có cảm giác xin cho mà giọng văn hết sức kiên quyết:

“Nhân danh đông đảo những người Việt Nam đã hoàn toàn tán thành những điều nghiên cứu này [nguyên nhân thành lập và sứ mệnh của đạo Cao Đài] và có danh sách kèm theo, những người ký tên dưới đây hân hạnh tuyên bố cho ông biết là chúng tôi sẽ truyền bá cho toàn thể nhân loại giáo lý thiêng liêng này.”

Tin tưởng rằng nền tôn giáo mới này sẽ mang đến cho tất cả chúng ta hòa bình và hòa hiệp, những người ký tên dưới đây yêu cầu ông hãy chính thức tiếp nhận tuyên ngôn của chúng tôi”, trích thông báo gửi chính quyền thuộc địa Nam Kỳ về việc thành lập đạo Cao Đài.

Sau thông báo đó, đạo Cao Đài tổ chức một buổi lễ kéo dài suốt ba tháng để giới thiệu các chức sắc đầu tiên của Hội thánh Cao Đài và thu nhận tín đồ từ khắp nơi.[11]

Tài liệu đã trích dẫn:

[1] Đất Nam Kỳ, Tiền đề văn hoá mở đạo Cao Đài, Lê Anh Dũng (Huệ Khải).
[2] Văn hoá Dân gian người Việt ở Nam Bộ, Nxb Khoa học Xã hội, trang 29.
[3] Đất Nam Kỳ, Tiền đề pháp lý mở đạo Cao Đài, Lê Anh Dũng (Huệ Khải).
[4] Tài liệu đã dẫn, Tiền đề pháp lý mở đạo Cao Dài.
[5] Ngô Văn Chiêu người môn đệ Cao Đài đầu tiên, Lê Anh Dũng, NXB Tam Giáo Đồng Nguyên, trang 27.
[6] Theo Khảo luận xây bàn & cơ bút trong đạo Cao Đài của Nguyễn Văn Hồng công bố qua Tòa Thánh Tây Ninh, ba ông Cư, Sang, Tắc đều đã kiểm chứng một số thông tin qua các lần mà các vong hồn nhập vào đàn cơ thì thấy đúng. Một lần được tả quân Lê Văn Duyệt nhập vào cơ cho các bài thơ về thời sự.
[7] Tài liệu đã dẫn, Đất Nam Kỳ, Tiền đề pháp lý mở đạo Cao Đài, Lê Anh Dũng, trang 32.
[8] Miền Nam đầu thế kỷ XX: Thiên địa hội và cuộc Minh tân, Sơn Nam, trang 135.
[9] Lê Anh Dũng trích dẫn phân tích của Jayne S. Werner trong tài liệu đã dẫn, Đất Nam Kỳ – Tiền đề văn hoá mở đạo Cao Đài.
[10] Lê Anh Dũng trích ý kiến của Jayne Susan Werner trong Đất Nam Kỳ – Tiền đề văn hóa mở đạo Cao Đài.
[11] Tài liệu đã dẫn, Đất Nam Kỳ – Tiền đề pháp lý mở đạo Cao Đài.

Trần Phương
Theo: luatkhoa.com

VÔ ĐỀ (PHỤNG VĨ HƯƠNG LA BẠC KỶ TRÙNG) - LÝ THƯƠNG ẨN


Vô đề
(Phụng vĩ hương la bạc kỷ trùng)

Phụng vĩ hương la bạc kỷ trùng,
Bích văn viên đính dạ thâm phùng.
Phiến tài nguyệt phách tu nan yểm,
Xa tẩu lôi thanh ngữ vị thông.
Tằng thị tịch liêu kim tẫn ám,
Đoạn vô tiêu tức thạch lựu hồng.
Ban chuy chỉ hệ thuỳ dương ngạn,
Hà xứ tây nam đãi hảo phong.


無題
(鳳尾香羅薄幾重)

鳳尾香羅薄幾重
碧文圓頂夜深縫
扇裁月魄羞難掩
車走雷聲語未通
曾是寂寥金燼暗
斷無消息石榴紅
斑騅只系垂楊岸
何處西南待好風


Vô đề (Màn hương đuôi
phượng rủ nhiều tầng)
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Rèm thêu, cánh phượng vừa buông.
Canh khuya ôm ấp, mùi hương gọi mời.
Quạt nồng, trăng nước lả lơi.
Xe rền như sấm, nói thời khó nghe.
Đèn khêu, bấc lụi vắng hoe.
Tin hồng đứt đoạn, quế hòe lạnh tanh.
Tây nam đã đón gió lành.
Ngựa Ban vẫn buộc bên thành Thùy Dương.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Thương Ẩn 李商隱 (813-858) tự Nghĩa Sơn 義山, hiệu Ngọc khê sinh 玉谿生, người Hà Nội, Hoài Châu (nay là Tầm Dương, phủ Hoài Khánh, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ sa sút. Thuở thiếu thời giỏi văn thơ, được giao du với các con của tể tướng Lệnh Hồ Sở 令狐楚, trong đó có Lệnh Hồ Đào 令狐綯. Bấy giờ trong triều có hai phe đối nghịch nhau, tranh quyền đoạt lợi, một phe là Ngưu Tăng Nhụ 牛僧孺, phe kia là Lý Đức Dụ 李德裕, hầu hết quan lại đều bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp ấy. Sở theo phe Ngưu. Năm Lý Thương Ẩn mười bảy tuổi (829), Sở tiến cử làm tuần quan mạc phủ. Năm hai mươi lăm tuổi (837), ông lại được Lệnh Hồ Đào khen ngợi, nâng đỡ nên đỗ tiến sĩ năm Khai Thành thứ 2. Năm sau ông được Vương Mậu Nguyên 王茂元, tiết độ sứ Hà Dương mến tài, dùng làm thư ký và gả con gái cho. Chẳng may, Vương thuộc phe Lý Đức Dụ khiến ông trở thành kẻ vong ân bội nghĩa, xảo quyệt vô hạnh trong mắt Lệnh Hồ Đào. Vương Mậu Nguyên chết, rồi Lý Đức Dụ thất thế, ông đến kinh sư nhưng không được làm gì cả. Sau nhờ Trịnh Á vận động, ông được làm chức quan sát phán quan. Trịnh Á bị biếm ra Lĩnh Biểu, ông cũng đi theo. Ba năm sau ông lại trở về, làm huyện tào tại Kinh Triệu. Ông nhiều lần đưa thư, dâng thơ cho Lệnh Hồ Đào để phân trần và xin tiến dẫn, nhưng vẫn bị lạnh nhạt. Tiết độ sứ Đông Thục là Liễu Trọng Hĩnh dùng ông làm tiết độ phán quan, kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Liễu bị bãi quan, ông cũng mất chức. Như thế là ông mắc kẹt giữa hai phái, chưa hề được đắc chí trên hoạn lộ, cứ bôn tẩu khắp nơi: Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Từ Châu nương nhờ hết người này đến người khác, long đong khốn khổ. Cuối cùng ông về đất Oanh Dương thuộc Trịnh Châu rồi bệnh chết năm 46 tuổi.

Nguồn: Thi Viện



VÌ SAO "NGƯỜI NGHÈO HAY KHOE, NGƯỜI GIÀU KIỆM LỜI" ?

Trong cuộc sống, mọi người có nhận ra một hiện tượng này không: Có rất nhiều người giàu thích bảo trì sự kiệm lời, không tùy tiện thể hiện sự giàu có, tài phú của bản thân, nhưng lại có rất nhiều người nghèo thích khoe khoang sự giàu có của mình. Tại sao lại xuất hiện hiện tượng như vậy?


Tự vệ bản thân

Xét từ một phương diện, có rất nhiều người thích bảo vệ danh tiếng của bản thân, không tùy tiện tiết lộ tài năng, sự giàu có một cách tùy tiện. Khiêm tốn, không tùy tiện thể hiện bản thân, đó chính là một bộ phận trong văn hóa truyền thống. Mục đích là không để cho người khác nổi tâm đố kị, không khiến cho những người xung quanh xuất hiện trạng thái “ghét người giàu”, từ đó tránh được những “tai họa ngầm” và những mâu thuẫn không đáng có, điều họ muốn chính là một cuộc sống bình an.

Một mặt khác, người giàu có thường biết cách che giấu lợi thế của bản thân mình trước đám đông, bởi vậy mới có câu nói: “Trong một đám đông, người ‘im lặng’ nhất là người lợi hại nhất”. Họ biết rằng, sau khi tùy ý tiết lộ sự giàu có của mình, điều đó có thể gây ra sự xung đột giữa người thân và bạn bè, còn có thể phá hoại mối quan hệ hòa ái giữa bản thân và mọi người, từ đó, người giàu “kín tiếng” không nhất thiết là họ khiêm tốn, mà là biểu hiện của sự bảo vệ bản thân khỏi những rắc rối.

Đương nhiên, xã hội hiện đại đã chú trọng nhiều hơn về quyền riêng tư, những người giàu có, có trình độ văn hóa cao đều không muốn tiết lộ ra bên ngoài, chỉ thích hành động lặng lẽ.


Ngược lại, người nghèo không có địa vị cao trong xã hội, trong đám đông không hề nổi bật, nên dễ bị người khác phớt lờ, lạnh nhạt, để thu hút sự chú ý và trọng dụng của người khác đối với mình, họ thường “vểnh” mặt lên, luôn cố gắng tạo ra những mánh lới để “quảng cáo” cho chính bản thân mình, bằng cách này, họ có thể thể hiện khả năng của bản thân đối với những người xung quanh, nhằm để nhận được sự ngưỡng mộ và công nhận của người khác.

Nghĩ sâu xa về nguyên do, người nghèo thường khoe khoang, kì thực chính là họ không có cái nhìn chính xác về bản thân. Bởi vì nghèo nên trong tâm họ luôn phiền muộn, bề ngoài muốn tạo ra một cảm giác sai, để khiến những người khác quan tâm, chú ý đến họ hơn, để đạt được sự an ủi trong tâm, thoát khỏi áp lực tinh thần, bởi vậy, người nghèo khoe khoang là một hành động phù phiếm, là biểu hiện của sự thiếu tự tin.

Ngược lại, những người giàu có sẽ giữ chặt của cải, luôn lo lắng về việc lộ sự giàu có mà chiêu mời tai họa, họ không tiết lộ bản thân giàu có, thậm chí còn “giả nghèo”. Bất luận là tư duy người giàu hay là tư duy người nghèo, những phương thức biểu hiện như thế này đều làm méo mó đi cách suy nghĩ chân thực của họ, các mối quan hệ xã hội thường không đủ chính thường và hài hòa. Trong cuộc sống, chúng ta cũng không nên quá khiêm tốn, kiệm lời, cũng không nên quá phóng đại bản thân, tự cao tự đại, hãy đường đường chính chính làm một con người bình thường là được rồi.


“Tính cách lọ lem”

Người nghèo khoe khoang sự giàu có thường được gọi là “nhân cách lọ lem”, trong tâm lý học, nó được gọi là định luật Murphy. Nó được đề xuất bởi Edward A. Murphy, có nghĩa là, nếu có hai hoặc nhiều cách để làm một điều gì đó, và một trong những lựa chọn đó sẽ dẫn đến thảm họa, nếu ai đó sẽ đưa ra lựa chọn này: Người đó được coi là có tính cách lọ lem.

Theo tư tưởng của định luật Murphy, “Con người càng không có cái gì thì sẽ thích khoe khoang cái đó, khi họ có những thứ mà người khác không có, ngược lại sẽ giấu rất sâu, đây chính là bản tính của con người”. Tâm lý này áp dụng cho tất cả mọi người trong cuộc sống hiện thực của chúng ta.

Một người càng thiếu gì đó, ngược lại họ sẽ càng khoe khoang cái đó. Đây đều là thể hiện của tâm lý mỏng manh, phù phiếm, khoe khoang giàu có sẽ dễ gây ra chuyện phải trái, đúng sai, từ đó gây ra những rắc rối không cần thiết. Tâm lý người nghèo khoe của cải và người giàu giấu giếm của cải là bản chất của con người, là điều không thể thay đổi được. Nhưng chúng ta có thể thông qua nhiều phương cách khác nhau để có suy nghĩ lí tính hơn.

Thứ nhất là cần phải có thái độ đúng đắn. Cái vui của người nghèo cũng là một loại trạng thái tốt, người nghèo có cái vui và hạnh phúc của người nghèo, tâm lý phù phiếm là một chủng trạng thái tâm lý không lành mạnh, cần phải từ từ khắc phục. Tâm thái “giấu giàu” cũng như vậy. Chỉ có sở hữu tâm thái tốt đẹp, thiện lương, mới có thể có một cuộc sống hạnh phúc.


Thứ hai là cần gia cường học tập. Thông qua giáo dục không ngừng “bồi dưỡng” nội tâm của bản thân mình, nâng cao trình độ văn hóa và tu dưỡng nghệ thuật, làm phong phú nội hàm của tự thân. Một người có tu dưỡng và nội tâm cao thượng sẽ không khoe khoang và “giả vờ” nghèo, họ sẽ biết cách sống thật, sống khiêm tốn. Người thực sự có trí huệ sẽ biết cahcs nâng cao năng lực và nội hàm của bản thân, cải biến diện mạo bần hèn, leo lên đỉnh cao của sự thành công.

Thứ ba là phòng ngừa chu đáo, lo trước tính sau. Định luật Murphy yêu cầu chúng ta không thể xem nhẹ những sự việc nguy hiểm với xác suất nhỏ, về góc độ tâm lý, chúng ta cũng không nên bỏ lỡ những cơ hội mà bản thân cho rằng không thể hoàn thành nổi, chỉ bằng cách tính trước mọi việc thì chúng ta mới có thể tự tin, sớm ngày đạt được thành công.

Lan Hòa biên dịch
Nguồn: Alobuowang

PHONG THỦY TỐT NHẤT ĐỜI NẰM Ở PHẦN MỘ HAY LONG MẠCH? ĐÂY MỚI LÀ CÁI GỐC


Xưa nay vẫn có rất nhiều người cảm thấy rằng phong thuỷ là một chuyện vô cùng hệ trọng, chọn được ngôi đất quý, long mạch tốt thì có thể hưởng phúc cả đời. Nhưng thực ra có một thứ còn quan trọng hơn phong thuỷ nhiều lần…

Theo nghĩa đen, “phong” là gió, “thuỷ” là nước. “Phong thuỷ” là một học thuyết có nguồn gốc từ thời cổ đại, chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước đến vận mệnh, phúc hoạ của đời người. Tuy nhiên câu chuyện dưới đây sẽ cho bạn một cái nhìn khác về phong thuỷ

Ngôi làng bát quái. Ảnh theo mafengwo.cn

Vương Dương Minh (1472 – 1529) tên thật là Vương Thủ Nhân, là một nhà chính trị, nhà triết học nổi tiếng của triều Minh. Triết học của Vương Dương Minh gọi là Dương Minh Tâm học, cho rằng Tâm là nguồn gốc của vạn sự vạn vật, chỉ có cứu trị nhân tâm mới có thể cứu vãn xã hội, mới có thể giải quyết những vấn đề hiện thực xã hội. Và “Tâm học” không phải thứ học vấn trên giấy mà là trí tuệ của thực tiễn.

Ông là mẫu người “văn võ song toàn”, một đời cống hiến biết bao công trạng cho đất nước. Vương Dương Minh, thời bình thì nghiên cứu triết học, đèn sách, dựng lập nên “Dương Minh phái” có ảnh hưởng lớn đến nhiều nước Á Đông, thời chiến thì thân hành dẫn binh dẹp loạn, dẹp thổ phỉ.

Những năm cuối đời, Dương Vương Minh có tự mình tìm được một miếng đất ở sơn trang Lan Đình Tiên Hà phía ngoài thành Thiệu Hưng (Chiết Giang) để làm nơi an táng khi trăm tuổi. Miếng đất này ban đầu có vị trí không đẹp. Trước núi có 2 con sông nhỏ giao nhau đã ăn mòn chân núi bên phải, khiến cho phần đất bên trong trở nên quá hẹp.

Nhiều thầy phong thuỷ cho rằng đó là thế đất không tốt, nhiều lần khuyên Vương Dương Minh bỏ đi. Nhưng ông không đồng ý, nhất quyết chọn đó làm nơi an nghỉ cuối cùng. Chẳng bao lâu sau, một ông lão sống trên núi nằm mơ thấy một vị thần tiên thân mặc áo bào đỏ, lưng thắt đai ngọc, đứng ở trên sông nói: “Ta muốn trả lại đường cũ cho con sông này“.

Ngày hôm sau, mưa dông nổi lên, dòng nước tràn ra khiến con sông đổi hướng về bờ phía Nam. Phần đất mà Vương Dương Minh chọn bỗng dưng rộng thêm cả trăm dặm, trở thành một mảnh đất phong thủy cực tốt với thế lưng dựa đồi núi, tầm nhìn thoáng đãng. Mọi người thảy đều kinh ngạc, khen ngợi đức lớn của Vương Dương Minh có thể cảm động thần linh, thay đổi được thế đất phong thuỷ.

Sau khi Vương Dương Minh qua đời cũng có chuyện lạ phát sinh. Trên đường bình định phản loạn trở về, ông bất ngờ qua đời ở Lâm An, Giang Tây. Người dân ven đường vây quanh linh cữu khóc lóc, đưa tiễn bậc đại nho. Đến Nam Xương, phải đi đường thuỷ về Chiết Giang, gió ngược chiều thổi suốt mấy ngày liền, thuyền không sao đi nổi.

Ảnh minh họa nơi có địa thế phong thủy đẹp. Nguồn ảnh: DKN

Người học trò tên là Triệu Uyên quỳ dập đầu trước linh cữu ông mà khấn rằng người thân và học trò ở Chiết Giang đều đang chờ đợi phu tử về. Vừa khấn xong, gió cũng đảo chiều, trở thành gió Tây, thuyền căng buồm, chỉ 6 ngày đã về đến Chiết Giang. Ai cũng cảm thán đại đức của Vương Dương Minh có thể cảm động trời đất cả lúc sống lẫn khi đã qua đời.

Phong thủy lớn nhất đời người chính là thiện tâm

Người xưa nói: “Tâm còn chưa thiện, phong thủy vô ích. Bất hiếu cha mẹ, thờ cúng vô ích“.

Câu chuyện của Vương Dương Minh cho người ta thấy rõ rằng phong thuỷ hoàn toàn phụ thuộc vào phúc đức của người ta chứ không phải ngược lại. Muốn có được phong thuỷ tốt, trước tiên phải biết tu dưỡng đạo đức. Phong thuỷ cũng giống như luật nhân quả, kẻ chuyên làm điều ác dù ở nơi có phong thuỷ tuyệt vời cũng hoá thành hiểm địa, người tốt dù phải sống ở vùng đất hung cũng lại gặp dữ hoá lành. Dưỡng phong thuỷ chi bằng dưỡng phúc đức, mải mê tìm ngôi đất quý cả đời chi bằng một đời hành thiện.

Dưỡng phong thuỷ chi bằng dưỡng phúc đức. (Ảnh: Wissen ist Macht TV)

Trong lý thuyết phong thuỷ, người ta hay nói về một trạng thái gọi là “tụ quang”, hội tụ ánh sáng. Phàm những người luôn ôm giữ lòng vị tha, luôn biết nghĩ đến người khác thay vì giành phần hơn cho mình thì mới có thể “tụ quang”. Biểu hiện trên gương mặt của “tụ quang” chính là nụ cười. Một nụ cười mãn nguyện, toả sáng có thể sưởi ấm cả một mùa đông giá lạnh. Miệng cười như hoa cũng chính là tướng mạo của người có phúc đức.

Trái lại, khi thường xuyên nghĩ điều ác, làm chuyện xấu, trong lòng chất chứa đầy tâm oán hận, đố kỵ, ích kỷ thì người ta sẽ rơi vào trạng thái “tụ âm”. Âm khí tất nhiên là không tốt, là những loại vật chất bất hảo. Khí âm sẽ khiến gương mặt xám xịt, không còn sinh khí. Những người này cả một đời chắc chắn sẽ không thể gặp may mắn.

Cái gốc làm người là Chân – Thiện – Nhẫn. Chân thành sống giữa đời bằng một trái tim đầy ắp thiện tâm và lòng kiên nhẫn cao cả, chắc chắn bạn sẽ nhận được phúc báo còn hơn cả tìm thấy đất có long mạch. Luôn chú trọng bồi dưỡng đạo đức, tu thân, tích đức, bạn sẽ có một loại phong thuỷ tốt nhất luôn mang theo bên mình vừa bảo vệ bản thân, vừa cải biến hoàn cảnh xung quanh. Đó mới thực là cái gốc của phong thuỷ đời người vậy.

An Nhiên / Nguồn: ĐKN

Saturday, May 2, 2026

KHỔNG TỬ BÁI KIẾN LÃO TỬ, TRỞ VỀ 3 NGÀY TRẦM MẶC KHÔNG THỐT NÊN LỜI

Lão Tử và Khổng Tử, hai bậc Thánh nhân nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa đã có lần tương ngộ. Và cuộc đàm đạo của các Ngài đã để lại giai thoại ngàn năm. Sau khi bái kiến Lão Tử trở về, Khổng Tử trầm mặc suốt 3 ngày không nói, cuối cùng cũng phải thốt lên…


Khổng Tử sau khi trưởng thành, thân hình cao to, có tướng mạo bất phàm, thần thái khiêm tốn và cẩn trọng. Hồi còn nhỏ mỗi khi chơi đùa, ông thích bày trí rượu gia tiên, trang trí vị trí các đồ đạc, và mô phỏng tiến hành nghi thức xã giao. Vì vậy, sau khi mẹ ông qua đời, liền có người đến để học nghi thức của ông. Khổng Tử muốn hiểu thêm về hình thức và nội hàm của nghi lễ, nên đã đến thỉnh giáo Lão Tử.

Lão Tử thọ 300 tuổi, vào thời nhà Chu, ông đảm nhiệm chức quan Thủ tàng sử, thời Ngô Vương làm trụ hạ sử. Mọi người thấy ông sống thọ như vậy, nên gọi ông là Lão Tử, nhưng trên thực tế, Lão Tử sớm đã là một người đắc Đạo. Khổng Tử rất nhiều lần thỉnh giáo Lão Tử, trong mắt Lão Tử, Khổng Tử vẫn là một đứa trẻ còn non nớt. Một lần, trước khi đến bái kiến Lão Tử, Khổng Tử phái Tử Cống đến thăm dò trước. Lão Tử thấy Tử Cống đến liền nói: “Thầy của ngươi – Khổng Tử, phải theo ta ba năm, sau đó ta mới có thể bắt đầu chỉ giáo cho thầy của ngươi những nội hàm thực chất”.

Một ngày nọ, Khổng Tử lòng ôm chí lớn đến bái kiến Lão Tử, Lão Tử liền nói: “Người giỏi làm ăn kinh doanh không dễ dàng khoe khoang tài sản, người có tài đức thường trông có vẻ “ngu ngốc, hồ đồ”, ông phải trừ bỏ tính kiêu ngạo, xem nhẹ dục vọng,… Những cái đó đối với ông, chẳng có gì tốt”.


Tuy nhiên, Lão Tử biết rằng, Khổng Tử là người mang theo sứ mệnh mà đến. Năm 35 tuổi, Khổng Tử lên đường ngu ngoạn khắp thiên hạ, Lão Tử trước khi cáo biệt Khổng Tử, nói: “Ta nghe nói, kẻ phú quý tặng người của cải, kẻ nhân nghĩa tặng người lời nói chân thành. Ta không phú cũng chẳng quý, không có của cải tặng ông, muốn tặng ông vài lời.

Thời nay, kẻ thông minh mà sâu sắc, sở dĩ hay gặp nạn, thậm chí suýt mất đi tính mệnh, là do hay chê cái sai của người; kẻ giỏi hùng biện lại thông hiểu sự việc, sở dĩ gặp họa liên miên, là do hay vạch ra cái xấu của người. Là bậc làm con, đừng cho mình là cao; là bậc bề tôi, đừng cho mình là hơn. Mong ông nhớ kỹ”.

Khổng Tử nghe xong, bái lạy nói: “Học trò nhất định ghi nhớ trong lòng!”.

Thấm thoát trải qua 30 năm, Khổng Tử đã 68 tuổi, đã hiểu và nếm trải qua những dư vị của cuộc đời, những điểm hóa thuyết Đạo của Lão Tử dành cho Khổng Tử, càng ngày càng rõ ràng hơn.

Một ngày, Khổng Tử đang đọc sách, Lão Tử bèn hỏi: “Ông đang đọc sách gì vậy?

Khổng Tử trả lời: “Là Kinh Dịch, là sách mà cách bậc Thánh nhân cổ đại thường đọc”

Lão Tử nói: “Những bậc thánh nhân có thể đọc nó, tại sao ông cũng đọc? Nội hàm chủ yếu trong cuốn sách là gì?”

Khổng Tử trả lời: “Là nhân nghĩa”.

Lão Tử hỏi Khổng Tử: “Ông đã đắc Đạo rồi chứ?”.

Khổng Tử bèn nói: “Học trò cầu Đạo đã 27 năm, vẫn chưa đắc được. Học trò nghiên cứu “Kinh thi”, “Kinh thư”, “Chu lễ”, “Chu nhạc”, “Kinh dịch” và “Kinh Xuân Thu”, thuyết giảng đạo trị quốc từ thời Tam Hoàng, hiểu rõ con đường công danh của Chu Công, Triệu Công, học trò đem dâng cho hơn 70 vị vua, nhưng không ai sử dụng. Xem ra con người khó thuyết phục quá!”.


Lão Tử nói: “Lục nghệ của ông đều là lịch sử cũ xưa của các đời vua xưa, ông thuyết giảng những cái đó có tác dụng gì? Những thứ ông đang tu luyện, đều là những tích xưa cũ. “Tích” chính là dấu tích vết giày người ta để lại, dấu chân với dấu chân, thì có gì khác nhau?”.

“Tính cách của con người không thể thay đổi, vận mệnh của con người đã được sắp đặt sẵn. Sự vận hành của thời gian không thể dừng lại, Đại Đạo của vũ trụ là tồn tại vĩnh hằng. Nếu một người có thể hiểu được Pháp lý của vũ trụ, bất kể là họ đi đâu, đều có thể tồn tại”.

Khổng Tử từ chỗ Lão Tử trở về, suốt 3 ngày im lặng không nói năng gì. Học trò Tử Cống lấy làm lạ bèn hỏi thầy làm sao. Khổng Tử lúc này mới đáp:

“Nếu ta gặp người có suy nghĩ thoáng đạt như chim bay, ta có thể dùng luận điểm chính xác sắc bén như cung tên của ta bắn hạ chế phục họ. Nếu tư tưởng của người ta vun vút không trói buộc như hươu nai chạy, ta có thể dùng chó săn đuổi theo, nhất định khiến họ bị luận điểm của ta chế phục.

Nếu tư tưởng của họ như con cá bơi trong vực sâu của lý luận, ta có thể dùng lưỡi câu để bắt lên.

Nhưng nếu tư tưởng họ như con rồng, cưỡi mây đạp gió, ngao du nơi cảnh huyền ảo thái hư (vũ trụ mênh mông huyền bí), không ảnh không hình, không nắm bắt được, thì ta chẳng có cách nào đuổi theo bắt được họ cả.


Ta đã gặp Lão Tử, thấy cảnh giới tư tưởng ông như rồng ngao du trong thái hư huyền ảo, khiến ta cứ há miệng mãi mà không nói ra lời, lưỡi thè ra cũng không thu lại được, khiến cho ta tâm thần bất định, chẳng biết ông rốt cuộc là người hay là Thần nữa. Lão Tử, thực sự là Thầy của ta!”.

Và hàng ngàn năm sau, những tư tưởng sâu xa, thâm thúy của Lão Tử cho đến ngày nay vẫn là những lời dạy vô giá đối với hậu nhân.

Lan Hòa biên dịch – Nguồn: Sound Of Hope (Văn Tư Mẫn)

ĐĂNG LÂU - ĐỔ PHỦ


Đăng lâu - Đỗ Phủ

Hoa cận cao lâu thương khách tâm,
Vạn phương đa nạn thử đăng lâm.
Cẩm giang xuân sắc lai thiên địa,
Ngọc Luỹ phù vân biến cổ câm.
Bắc cực triều đình chung bất cải,
Tây sơn khấu đạo mạc tương xâm.
Khả liên Hậu chúa hoàn từ miếu,
Nhật mộ liêu vi “Lương phủ ngâm”.


登樓 - 杜甫

花近高樓傷客心
萬方多難此登臨
錦江春色來天地
玉壘浮雲變古今
北極朝庭終不改
西山寇盜莫相侵
可憐後主還祠廟
日暮聊為梁甫吟


Lên lầu
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Lầu cao buồn cánh hoa rơi. 
Muôn phương hoạn nạn, ai chơi thành lầu. 
Cẩm Giang xuân sắc một mầu. 
Mây trôi Ngọc Lũy nay đâu mà tìm. 
Triều đình phương Bắc bặt tin. 
Tây Sơn giặc dã đã nhìn xâm lăng. 
Miếu Hậu Chủ có còn chăng. 
Chiều tà Lương phủ, đãi đằng ai ngâm ?


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Phủ 杜甫 (12/2/712 - 770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo Đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.

Nguồn: Thi Viện