Thursday, June 4, 2026

DẶM DÀI HỦ TIẾU - KỲ 3: NGƯỜI QUẢNG THA HƯƠNG BÁN HỦ TIẾU

Âm thanh từ hai thanh tre gõ vào nhau tạo nên nhịp điệu sôi động tựa tiếng ngựa phi nước đại. Chủ xe hủ tiếu ở xa chỉ cần nghe tiếng gõ cũng biết khách gọi hủ tiếu hay mì, một tô hay mấy tô để chuẩn bị sẵn.

Anh Phạm Thành Lập từ cậu bé gõ thanh tre phụ bán hủ tiếu nay đã có xe bán riêng ở TP.HCM - Ảnh: Minh Tân

Thanh âm gọi mời

Sách Nước Nam một thuở do Nhà xuất bản Mỹ Thuật ấn hành có bài viết: "Tiếng rao ở Sài Gòn" của tác giả người Pháp E. Bergès. Bài này từng đăng trên Tuần san Indochine vào thập niên 1940.

Trong đó tác giả miêu tả người bán hủ tiếu: "Anh vừa đẩy chiếc xe hàng của mình vừa làu bàu và dừng lại để chế một tô hủ tiếu gà hoặc heo, giá, ớt. Kêu mãi cũng mệt, anh lấy đũa gõ lên một thanh tre cầm ở tay trái, bàn tay lần lượt mở ra rồi nắm lại để âm thanh bén hơn và trầm hơn: ti to, ti to, ti ti ti to... Ai lại không biết nhịp điệu và âm thanh khô khan ở tiếng rao của anh hủ tiếu hay mùi vị món ăn của anh ta?".

Sách còn in hình vẽ người đàn ông mặc áo cộc tay, quần ngắn, rướn người về phía trước đẩy xe hủ tiếu. Trang sách có hình khuôn nhạc với những nốt để tạo nên âm thanh dịch ra tiếng rao: "Hủ tiếu thịt gà, hủ tiếu thịt heo". Tiếng gõ hủ tiếu từng ngân vang ở Sài thành và các tỉnh thành phương Nam đất Việt đọng lại trong ký ức của nhiều người qua bao dâu bể thời cuộc...

Nhưng đó là câu chuyện của nửa đầu thế kỷ 20. Gần đây hơn, khoảng 30 năm trước, anh Phạm Thành Lập (47 tuổi, quê ở xã Khánh Cường, Quảng Ngãi) vào Sài Gòn gõ hủ tiếu cho vợ chồng cô ruột.

Từ chiều đến đêm khuya, Lập rảo bước trên vỉa hè, qua những con hẻm nhỏ nơi thị thành cách xa quê hương gần cả ngàn cây số. Đôi bàn tay cầm hai thanh tre gõ vào nhau thay lời mời khách ăn hủ tiếu.

Những thanh tre này được người dượng mang từ quê nhà góp thêm thanh âm cuộc sống nơi phồn hoa đô hội. Trước đó, dượng chặt cây tre già rồi phơi dưới nắng chói chang ở làng quê. Vài ngày sau, tre khô, ngả sang màu vàng nhạt với làn da bóng láng.

Ông dùng cưa và rựa cắt rồi chẻ, lấy hai thanh tre để làm bộ gõ. Thanh lớn dài cỡ gang tay, rộng chừng ba ngón; thanh nhỏ dài tầm như thế nhưng chỉ lớn bằng ngón tay cái. Khi gõ, những ngón tay nắm và thả lơi thanh lớn tạo nên âm thanh cuốn hút người nghe. Tiếng gõ khi trầm đục, lúc réo rắt ngân vang giữa phố phường.

Sau nhiều ngày miệt mài luyện tập, Lập gõ được điệu ngựa phi khiến bạn bè vô cùng thán phục. Đấy là "đỉnh cao" đối với những thiếu niên gõ hủ tiếu xa quê thuở bấy giờ. Âm thanh lốc cốc, lộc cộc mà có người nghe như tiếng "xực tắc"... tạo nên nhịp điệu dễ gây chú ý.

Anh Lập giờ đã đứng tuổi, cười kể: "Tụi tôi lội bộ gõ hủ tiếu tại một khu vực nhất định chứ không lấn sang địa bàn xe khác dễ xảy ra mâu thuẫn. Nghe khách kêu, liền bước đến gần hỏi họ ăn món gì rồi về xe nói dượng làm theo yêu cầu, sau đó lại bưng đến tận nơi cho khách. Giờ tôi mua xe hủ tiếu và đứng bán một mình, không còn gõ như trước...".

Sau 38 năm, ông Trần Văn Nhớ (52 tuổi, quê ở xã Khánh Cường, Quảng Ngãi) vẫn nhớ rõ những ngày gõ hủ tiếu thuê cho người Hoa ở Sài Gòn. Ông được chủ chỉ dẫn cách gõ hai thanh tre khá điêu luyện khiến người nghe vô cùng thích thú.

Tiếng gõ không chỉ thay lời mời mà còn báo cho chủ xe hủ tiếu biết những món thực khách yêu cầu. Thế là ông ta nấu theo tín hiệu của tiếng gõ từ hai thanh tre sẫm màu qua năm tháng.

Khi Nhớ ra đến nơi đã có sẵn tô hủ tiếu hay mì, hủ tiếu mì... nóng hổi để bưng đến cho khách đang chờ. "Gõ hủ tiếu có nhiều cách lắm chứ không đơn giản đâu chú à!

Chủ xe chỉ cần nghe tiếng gõ và nhịp điệu nhanh hay chậm là biết nấu món gì, bao nhiêu tô. Chẳng hạn như nghe rốc rộc rộc, rốc rộc rộc là một tô hủ tiếu. Khi tôi gõ rốc rốc rốc tơ rốc cộc cộc, rốc rốc rốc tơ rốc cộc cộc là hủ tiếu mì...", ông vui vẻ kể lại.

Khách ăn hủ tiếu bình dân rẻ mà ngon của anh Nguyễn Quốc Văn - Ảnh: MINH KỲ

Rẻ mà ngon

Rời quân ngũ gần 25 năm trước, anh Nguyễn Quốc Văn (47 tuổi, quê xã Khánh Cường, Quảng Ngãi) bán hủ tiếu mưu sinh đến giờ. Quán anh tại địa chỉ 168 đường Chòm Sao, phường Thuận An, TP.HCM chuyên bán hủ tiếu, mì hoành thánh, hủ tiếu bò viên, bánh canh... với giá mỗi tô 20.000 - 25.000 đồng. Ngoài ra anh có thể bán với giá cao hoặc thấp hơn theo yêu cầu của khách.

Chiều muộn, anh Văn mở nắp thùng nước lèo tỏa hương thơm lan theo gió. Để có nước lèo thơm ngon, anh dậy từ sớm cưỡi xe máy đến chợ mua xương, giò, thịt, da heo... rồi mang về nhà trọ cặm cụi nấu nướng. Bởi đây là "linh hồn" của những tô hủ tiếu nên anh chăm chút kỹ lưỡng. Anh rửa xương và giò heo rồi cho vào thùng nước nấu khá lâu.

Sau đó nêm gia vị và cho vào ít đường phèn Quảng Ngãi tạo vị ngọt thanh khi thưởng thức. Rồi anh mới rửa sạch thịt và da heo cho vào luộc trong thùng nước lèo sôi sùng sục trên bếp. Hồi lâu anh vớt xương, giò, thịt và da ra ngoài khi đã chín và ngấm đều gia vị thơm ngon.

Ngoài ra còn nhiều việc khác cũng rất tinh tế tạo thêm hương vị quyến rũ của hủ tiếu. Anh tự tay làm ớt sa tế, tỏi ngâm giấm, hành phi, tóp mỡ để giảm chi phí và đảm bảo vệ sinh. Anh lấy đầu hành (phần gốc hành lá) rửa sạch, xắt nhỏ và cho vào thịt cùng gia vị rồi bằm nhuyễn, tỏa hương thơm lừng.

"Phải rửa thực phẩm thật sạch trước khi chế biến. Nước lèo phải nêm đường phèn và gia vị đúng thời điểm...", anh cho biết bí quyết.

Khách vào quán có mái che rộng rãi, thư thái ngắm nhìn xe cộ ngược xuôi trên đường. Anh Văn nhanh tay trụng hủ tiếu cùng rau giá rồi cho ra tô khá thuần thục. Tiếp đến cho ít nước mỡ lên trên rồi dùng đũa đảo nhanh, tỏa hương thơm dịu.

Anh lại cho thịt heo xắt mỏng, giò, bò viên xắt lát hay hoành thánh... vào tô theo yêu cầu của khách. Sau đó là rau thơm xắt nhỏ, đầu hành trụng chín tái rồi múc nước lèo vào tô, rắc ít hành phi và tiêu xay nhuyễn lên trên. Hơi nóng đưa hương thơm lên mũi như gọi mời. Người ăn có thể vắt tí nước cốt chanh, thêm vài lát ớt xắt mỏng theo sở thích của mình.

Cùng các công nhân đang xì xụp ngồi ăn, tôi hít nhẹ mùi thơm khi đón tô hủ tiếu. Vắt nhẹ thêm miếng chanh, gắp vài lát ớt xắt mỏng nhúng vào nước lèo trong veo, rồi tôi chậm rãi ăn và ngắm phố phường vào đêm.

Sợi hủ tiếu dai, giá trụng giòn và da heo sần sật vô cùng thích thú. Đầu hành chín tái với hương nồng nàn cùng vị ngọt hậu lưu trong cổ họng. Thịt bám vào xương ngọt mềm. Vị ngọt từ thịt lẫn mặn mà của muối quyện với cay dịu của tiêu ùa vào miệng. Húp muỗng nước lèo đủ đầy hương vị, quá đỗi là ngon.

Quán vắng khách, anh Văn mở điện thoại khoe ảnh hai con nhỏ dễ thương đang ở cùng mẹ và ông bà nội nơi quê nhà xa ngái. Nơi ấy có nhiều người như anh đang tha hương bán hủ tiếu và tạo nên danh tiếng người Quảng bán hủ tiếu rẻ mà ngon.

Phổ Cường (giờ sáp nhập với xã Phổ Khánh thành xã Khánh Cường, Quảng Ngãi) được mệnh danh là "vùng đất tha hương". Hơn 60 năm trước, nhiều người rời làng vào Sài Gòn tránh bom đạn chiến tranh. Họ phụ bán hủ tiếu cho người Hoa rồi đóng xe bán riêng. Nghề này dần thu hút nhiều người rời quê mưu sinh.

Mười năm trước, chính quyền xã Phổ Cường điều tra lao động, việc làm, tổng hợp hơn 7.000 người làm ăn phương xa, chiếm gần 46% dân số. Trong đó phần lớn trong số họ bán hủ tiếu.

"Nhiều người bán hủ tiếu dành dụm xây nhà khang trang và cho con em ăn học. Một số người trở về mở quán bán và thành món ăn hủ tiếu quen thuộc ở quê nhà" - ông Bùi Văn Chuyên, nguyên Phó chủ tịch UBND xã Phổ Cường, cho biết.

*************

>> Kỳ tới: Hủ tiếu miền Tây ở Sài Gòn

Minh Kỳ / Theo: tuoitre

LẠ MIỆNG MÓN CHÈ CUA Ở ĐẤT MŨI

Những tìm tòi sáng tạo của đầu bếp đã giúp món cua Cà Mau nổi tiếng có thêm một cách chế biến độc đáo.


Ngoài cảnh đẹp, Cà Mau còn có đặc sản nổi tiếng là cua biển. Chương trình Thương nhớ miền Tây (VTV Cần Thơ) đã giới thiệu với khán giả một món ăn độc đáo là chè cua do đầu bếp trẻ Ái Linh (ở xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển) thực hiện.

Nguyên liệu để làm món chè cua đơn giản gồm cua biển, đậu xanh, gừng, hành lá, lá dứa, bột năng, hoa đậu biếc tạo màu, gừng.

Chè cua được lấy ý tưởng theo món chè heo quay bột lọc nổi tiếng của Huế. Thay vì phần nhân là thịt heo quay thì đầu bếp dùng thịt cua đặc sản của vùng Đất Mũi, cùng với việc nghiên cứu, tìm tòi nguyên liệu phù hợp để tạo nên món chè cua mới lạ.

Gỡ thịt cua để làm nhân của viên chè.

Cua được lựa chọn để nấu chè phải chắc thịt, gạch son để khi ăn viên chè sẽ có điểm nhấn màu cam đỏ đẹp mắt. Sau khi hấp chín, đầu bếp gỡ thịt để xào với đậu xanh làm nhân. Lớp bột bên ngoài được nhồi mịn và để bột nghỉ một lát, rồi lấy từng miếng bột nhỏ bọc nhân thịt cua vào bên trong và vo tròn thành từng viên.

Món bột phải được nhồi dẻo mịn vừa đủ để không bị nứt vỏ nhân khi luộc. Lấy một lượng bột vừa đủ tạo thành hình tròn dẹt rồi cho nhân vào vo tròn.

Bên trong nhân thịt cua đậu xanh có vị mặn, nhưng lớp bột và nước nấu chè bên ngoài lại mang vị ngọt của đường phèn. Theo đầu bếp Ái Linh, điều này giống như nguồn nước ở Cà Mau. Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi nên vùng U Minh là nước ngọt nhưng sang Đất Mũi là nước mặn.

Luộc các viên chè trong nước sôi trước khi nấu cùng nước đường.

Sau đó luộc viên chè với nước, đợi khi viên bột nổi lên thì vớt ra cho vào nước lạnh. Theo lý giải của đầu bếp, không nên luộc viên chè trong nước đường ngay vì sẽ làm chai cứng lớp bột. Một lát sau những viên chè đã luộc được thả vào nồi nước đường phèn, gừng, lá dứa và một chút muối để cân bằng vị. Đun nồi chè cho đến khi sôi thì múc ra bát để dùng.

Nấu nhân cùng với nước đường phèn, gừng, lá dứa cho đến khi sôi, nhân nổi lên trên thì tắt bếp.

Món chè cua tổng hợp nhiều yếu tố, có vị giòn dai của lớp vỏ, phần nhân có vị hoà quyện của đậu xanh, cua và hành thơm. Phần nước chè ngọt thanh của đường phèn tạo nên dư vị khó quên. Với sự biến tấu đặc biệt này, đặc sản cua Cà Mau sẽ có cơ hội vươn xa hơn khi được ứng dụng vào nhiều món ăn ngon, lạ miệng.

Kim Vy / Theo: vtv.vn



BỒ TÁT MAN KỲ 2 - ÔN ĐÌNH QUÂN


Bồ tát man kỳ 2

Thuỷ tinh liêm lý pha lê chẩm,
Noãn hương nhạ mộng uyên ương cẩm.
Giang thượng liễu như yên,
Nhạn phi tàn nguyệt thiên.
Ngẫu ty thu sắc thiển,
Nhân thắng sâm si tiễn.
Song mấn cách hương hồng,
Ngọc thoa đầu thượng phong.


菩薩蠻其二

水精簾裡頗黎枕,
暖香惹夢鴛鴦錦。
江上柳如煙,
雁飛殘月天。
藕絲秋色淺,
人勝參差剪。
雙鬢隔香紅,
玉釵頭上風。


Bồ tát mạn kỳ 2
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Chăn thủy tinh, gối pha lê. 
Uyên ương gối mộng, đê mê hương nồng. 
Tơ buông liễu rủ trên sông. 
Trăng tàn bóng nhạn tầng không bay về. 
Tơ thu nhạt sắc ủ ê. 
So le dao cắt, dễ bề đều nhau. 
Rung rinh thoa vấn trên đầu. 
Mùi hương mái tóc ngõ hầu còn đây !.


Sơ ;ược tiểu sử tác giả:

Ôn Đình Quân 溫庭筠 (812-870) vốn tên Kỳ 岐, tự Phi Khanh 飛卿, người Thái Nguyên đời Vãn Đường (nay thuộc tỉnh Sơn Tây), là cháu của tể tướng Ôn Ngạn Bác 溫彥博. Ông tinh thông âm nhạc, là một thi nhân tài tử mẫn tiệp, từ trẻ đã nổi danh thi từ nhưng thi không đỗ nên đi chu du đây đó. Từ của ông lời rất đẹp, phái Hoa gian liệt ông vào người đứng thứ nhất đời Đường. Tác phẩm của ông có Hán Nam chân cảo và Ác Lan tập, song đều tán lạc không còn.

Nguồn: Thi Viện



KHÔNG CÓ CON NỐI DÕI, NHÀ VUA VẪN CHUNG TÌNH VỚI "CÔ BÉ LỌ LEM" ĐẾN CUỐI ĐỜI

Hoàng hậu 5 lần sảy thai, thay vì lấy vợ mới để có con nối dõi, vua Bỉ Baudouin vẫn chung thủy với vợ cho đến tận khi trút hơi thở cuối cùng.

Vua Baudouin bên vợ Fabiola. Ảnh: brussels-express.eu

Baudouin (sinh năm 1930) là con trai cả của vua Bỉ Leopold III và công chúa Astrid của Thụy Điển. Năm ông 5 tuổi, mẹ đột ngột qua đời sau một tai nạn xe hơi. Khi Đức xâm chiếm Bỉ, ông cùng em trai Albert đã phải phiêu bạt nhiều năm ở nước ngoài. Năm 1951, ở tuổi 21, Baudouin đã được phong làm vua thứ 5 của Bỉ.

Đầu năm 1960, vua Baudouin có chuyến công du Tây Ban Nha, tại đây ông đã gặp cô gái 32 tuổi Fabiola de Mora y Aragon. Khi đó, Fabiola đang là y tá chăm sóc trẻ nhỏ tại một bệnh viện tại Tây Ban Nha và làm việc từ thiện tại một nhà thờ ở Madrid.

Fabiola sinh ra ở thành phố Madrid vào ngày 11/6/1928, trong gia đình quý tộc. Trước 30 tuổi, cô từng cho ra đời tuyển tập thơ và những câu chuyện cổ tích nổi tiếng ở quê nhà. Ngoài tiếng Tây Ban Nha, Fabiola còn thông thạo tiếng Pháp, Hà Lan, Anh, Đức và Italy.

Tại bữa tiệc, thay vì để ý đến công chúa cành vàng lá ngọc, vua Baudouin lập tức bị thu hút bởi Fabiola với dáng người thanh mảnh nhưng lại tràn đầy sức sống và rất thông minh.

Ngay lập tức, vua Baudouin nhờ nữ tu sĩ Veronica O’Brien tìm hiểu về thân thế cô gái này. Veronica O’Brien đã mời Fabiola đến thăm bà ở Bỉ. Chuyến đi đến Bỉ của Fabiola đã khiến cuộc đời của bà sang một trang mới khi trở thành bóng hồng trong lòng đức vua Bỉ Baudouin.

Vào ngày 15/12/1960, Baudouin và Fabiola chính thức kết hôn. Nhiều năm sau khi thành vợ chồng, vua Baudouin viết trong nhật ký: “Ơn Chúa đã mang người vợ tuyệt vời Fabiola đến cho con, nàng giống như thiên thần”.

Thời điểm đó, nhiều người Bỉ đã gọi Fabiola là “Cô bé Lọ Lem” vì cuộc đời bà giống với nhân vật trong chuyện cổ tích. Chuyện tình cảm của bà và đức vua cũng được ca tụng khắp đất nước.

Vua Baudouin năm 21 tuổi. Nguồn ảnh: vnexpress

Người dân Bỉ và thế giới luôn thấy hình ảnh tay trong tay của vua Baudouin và hoàng hậu Fabiola. Trong tất cả buổi lễ lớn, vua Baudouin đều cầm tay vợ mình một cách trân quý và âu yếm nhất. Khi tiếp các nguyên thủ quốc gia, thỉnh thoảng ông lại quay sang vợ cười, đôi mắt ánh lên sự ấm áp và dịu dàng.

Trong nhiều cuộc phỏng vấn, phóng viên các báo đài đã đặt câu hỏi: “Vua và hoàng hậu yêu nhau như thế nào?”. Những lúc như vậy, vua Baudouin đều quay sang vợ trìu mến rồi mỉm cười: “Chuyện này chắc chỉ con cái chúng tôi mới biết được”.

Thế nhưng, câu chuyện đó chưa bao giờ được tiết lộ bởi họ không có con.

Sau khi kết hôn, hoàng hậu Fabiola liên tiếp sảy thai 3 lần. Các bác sĩ kết luận nếu bà sinh con, cơ hội sống chỉ còn lại 5%. Bất chấp lời cảnh báo, Fabiola tiếp tục mang thai thêm 2 lần nữa, nhưng cứ qua được tháng thứ 3, cơ thể bà lại đào thải.

Hoàng hậu Fabiola. Ảnh: brussels-express.eu

Mỗi lần vợ sảy thai, vua Baudouin đều vô cùng đau khổ. Từ đó ông hiểu rằng để sinh được một đứa trẻ khó khăn và đáng quý như thế nào. Chính vì thế, ông đã từ chối ký vào dự luật cho phép phá thai ở Bỉ.

Sau lần sảy thai thứ 5, vua Baudouin không cho phép vợ đánh đổi cuộc sống của mình nữa. Ông nói với hoàng gia: “Các ngài cũng biết chúng tôi không có con, điều đó có nghĩa là trong trái tim chúng tôi có nhiều khoảng trống để chứa đựng tình yêu thương nhiều hơn cho người khác. Hãy để chúng tôi yêu thương tất cả mọi người và trẻ em”.

Đối với hoàng hậu, nhà vua Baudouin từng nói rằng: “Đừng quan tâm tới việc em không thể sinh con. Vợ chồng chúng mình có thể biến tình yêu nhỏ thành tình yêu lớn dành cho những trẻ em khác”. Đây chính là lý do sau này họ đã thành lập một bệnh viện cho trẻ em và một trung tâm dành cho các trẻ em mắc bệnh tâm thần.

Vua Baudouin và hoàng hậu Fabiola thường xuyên đứng ra tổ chức các hoạt động chống tệ nạn mại dâm và bảo vệ quyền lợi của phụ nữ ở các nước đang phát triển. Đi đâu họ cũng có nhau, cùng ăn, cùng đọc sách, cùng trượt tuyết…

Năm 1993, vua Baudouin đột ngột qua đời sau một cơn đau tim. Trong đám tang của chồng, thay vì mặc váy đen, hoàng hậu Fabiola đã mặc chiếc váy trắng mà lúc sinh thời vua Baudouin rất thích và nói lời từ biệt với chồng: “33 năm bên nhau giờ chúng ta tạm xa nhau nhé. Em yêu anh!”.

Sau khi chồng mất, Hoàng hậu Fabiola đã rời khỏi cung điện hoàng gia để sống tại lâu đài Stuyvenbergh. Bà hạn chế xuất hiện trước công chúng nhưng vẫn tiếp tục thực hiện những sứ mệnh dang dở của chồng với cộng đồng. Năm 2001, bà được nhận Huy chương Ceres do Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc trao tặng vì những đóng góp to lớn nhằm cải thiện đời sống của phụ nữ nông thôn ở các nước đang phát triển.

Ngày 12/5/2014, bà qua đời ở tuổi 86. Tên của bà được các thợ làm bánh Tây Ban Nha đặt cho một loại bánh mì ra đời cách đây hàng chục năm và hiện vẫn bán ở nước này.

Trước đó, vào năm 1961, nhà thám hiểm Guido Derom đã đặt tên cho một ngọn núi được phát hiện ở Nam Cực là “Núi Hoàng hậu Fabiola”.

Nguồn: ĐKN (Trần Phong)

Wednesday, June 3, 2026

DẶM DÀI HỦ TIẾU - KỲ 2: ĂN HỦ TIẾU NAY MÀ NHỚ HỦ TIẾU XƯA

Đời nghề hay rong ruổi đây đó, tôi nhiều khi đói bụng ghé đại quán xá bên đường mà gặp gì ăn nấy cho qua bữa.

Xe hủ tiếu bình dân trên hè đường Sài Gòn trước 1975 - Ảnh: Michael Burr

Nếu lang thang đất Bắc, các quán phở, bún, miến thường níu chân lữ khách. Còn miền Nam thì tôi lại hay gặp quán xá treo biển phở, cơm tấm, hủ tiếu, bánh mì.

Mà ngộ nhứt là hủ tiếu, hầu như ở đâu cũng nhiều binh thiên, từ phố về quê, từ đất liền ra đảo, bán sáng rồi bán trưa, bán chiều, bán tối, bán đêm. Và càng xuôi xuống miệt miền Tây, quán hủ tiếu hình như càng nhiều hơn.

Tô hủ tiếu chợ quê và miếng thịt gió thổi bay

Thời nay, người sành ăn vô trung tâm Sài Gòn, gọi tô hủ tiếu hơn 100.000 đồng cũng chỉ "chuyện nhỏ như con thỏ". Còn dân lao động nghèo hay kẻ rong ruổi gặp gì ăn nấy như tôi vẫn dễ dàng tìm được tô 30.000 - 40.000 đồng bên lề đường, thậm chí tô chỉ 20.000 - 25.000 cũng thơm lừng...

Bạn bè lứa trung niên của tôi bây giờ ngồi ăn tô hủ tiếu tôm mực hơn 100.000 đồng lại hay rề rà nhắc chuyện miếng ăn thiếu hụt ngày xửa ngày xưa.

Tụi tôi lớn lên thời hậu chiến, mới lẫm chẫm chưa kịp cứng cẳng cứng giò đã theo cha mẹ đi kinh tế mới miệt bưng biền phèn lợ đến con chó mực còn lòi còi chậm bự.

Ngày qua ngày, dân phố về quê chỉ quay quắt lo nghĩ miếng ăn. Người lớn thì lo chuyện ruộng đồng sao cho trừ thuế má đóng tập đoàn còn đủ gạo bén lửa nồi cơm. Sắp nhỏ như tôi nhiều đêm đi ngủ mà bụng chưa no, cứ sôi ròng rọc mà nghĩ sáng mai mình được ăn cơm nguội đến trường hay lại củ khoai lang, khoai mì hoặc nhịn đói.

Hồi đó học trò đến trường với bụng trống rỗng là bình thường. Vậy nên cứ năm ngày bảy bữa lại rộ chuyện đứa này đứa nọ xỉu dọc đường vì cái bụng đói suốt từ tối hôm qua tới trưa hôm sau.

Trên đường tôi đến trường ở vùng biên giới huyện Đức Huệ, tỉnh Long An cũ có cái chợ quê lẹp xẹp thỉnh thoảng lại thơm lừng mùi hủ tiếu. Đám nhỏ nhóc học trò vừa thèm thuồng ngó vừa... lén nuốt nước miếng, nếu không chắc chảy ra áo thiệt.

Nói thỉnh thoảng mới có mùi hủ tiếu là chính xác, vì chợ quê thời nghèo khó thì ai có tiền ăn mà bán món ngon mỗi ngày. Còn gọi quán cho oai, chứ thiệt ra chỉ là cái chòi lá che nắng mưa trên mấy cái bàn ghế tre ọp ẹp, lỏng lẻo như ông già 90.

Đến giờ tôi vẫn nhớ chủ quán Ba Bảy, một phụ nữ gốc quê Long An có cái tên thiệt ngộ, vừa lo bán hủ tiếu vừa bận trông đàn con lít nhít năm đứa mà đứa nhỏ nhứt còn bú mẹ.

Mấy ông lớn tuổi ghẹo vui: "Đẻ chi mà đẻ dữ thần thiên địa vậy bay?". "Dạ, tại vợ chồng con thức khuya canh nồi hầm nước lèo hủ tiếu, hổng biết mần gì nên xáp lại là đẻ", cô Ba Bảy hổng chịu kém miệng.

Thời này ở Sài Gòn, tôi ăn hủ tiếu thập cẩm ú hụ thịt, xương, tôm, mực, trứng cút mà cứ nhớ tô của cô Ba Bảy chỉ có nước luộc thịt hoặc lòng heo. Cô bưng lên cho khách, chỉ có chút xíu thịt và lác đác màu xanh của hành lá, mà hoàn toàn chẳng có gì thêm như bây giờ.

Tuy nhiên thuở đó dân quê nghèo được ăn tô hủ tiếu này là "ngon nhứt xứ Ba Tư" rồi. Nhiều người cả năm không dám ăn dù chỉ một lần. Tôi có bà nội bán hàng vặt ở chợ nhưng xuân thu nhị kỳ chắc cũng chỉ được ngồi quán cô Ba Bảy một, hai lần mỗi năm.

Đó cũng là lần đầu thằng nhóc tôi hiểu cái câu "đồ thái thịt mỏng như tờ giấy". Thời dân nghèo gì mà nghèo xác xơ, người ta phải thái thịt mỏng lét để giảm giá cho có khách ăn. Vậy mà nhiều người vào quán vẫn kêu tô hủ tiếu không thịt, tức chỉ có sợi hủ tiếu và nước lèo để bớt giá. Nhiều bà mẹ còn mua một tô, chia đôi hai mẹ con cùng ăn...

Nhưng tình thiệt nói nào ngay, bận đó cỡ như tôi mà được ngồi vắt vẻo trên ghế tre, ăn tô hủ tiếu không thịt của cô Ba Bảy là sang dữ thần rồi. Bạn học đi ngang chỉ tròn xoe con mắt mà nuốt nước miếng, nghĩ lại thương ơi là thương.

Tô hủ tiếu mì gà ú hụ thời nay - Ảnh: Q.V.

Món ngon phố thị

15 năm đầu đời, tôi sống vùng kinh tế mới Long An nhưng mỗi dịp hè được trở lại thành phố vì có mẹ và bà ngoại trên đây. Đó là ba tháng tôi được ăn ngon hơn một chút và tất nhiên cũng không thể nào bằng bây giờ.

Chặng đường đầu tiên tôi ngồi chuyến đò dọc để lên vàm Trà Cú rồi đón xe lam đi thêm mấy chuyến nữa mới về đến thành phố. Giờ nghĩ lại cái chợ vàm Trà Cú đó toàn nhà lá trên sình lầy xác xơ nhưng ngày đó đối với tôi đã là phố chợ lắm rồi.

Tôi ngồi đợi xe lam mà nghe tiếng hát bolero ngọt lịm từ máy cassette. Nhưng thứ làm tôi thèm thuồng nhứt chính là quán hủ tiếu bán chung với cà phê đá thơm lừng.

Những thằng nhóc như tôi cứ tròn mắt nhìn cảnh mấy ông tấp vô quán, co ngay chân lên ghế như ngồi hầm cầu cá tra mà kêu tô hủ tiếu xì xụp ăn, sau đó lại tiếp tục nhâm nhi cà phê đá, nhả khói thuốc rê quấn tay và gật gù nghe giọng Tuấn Vũ, Hương Lan, Thanh Tuyền...

Sau này lớn thêm một chút, tôi mới hiểu dân Sài Gòn và nhiều địa phương miền Nam đã có nếp quen ra quán ăn sáng, uống cà phê. Tuy nhiên sang thời mười năm hậu chiến khó khăn, cảnh ăn uống thư thả này trở nên hiếm hơn.

Mấy ông dám ghé quán như tôi kể trên thường là cựu dân nhiều đời đã có cuộc sống tạm ổn định, hoặc là chủ đò dọc, chủ xe lam, làm nhà máy chà lúa có đồng ra đồng vô.

Nhớ lại ba tháng hè ở Sài Gòn, tôi cũng được mẹ và nhà ngoại dắt đi ăn phở, ăn hủ tiếu vài lần để "bồi dưỡng thằng nhóc miệt bưng biền còm nhom như con cò ma". Tôi dần phân biệt được hương vị phở bò khác hương vị hủ tiếu thịt heo như thế nào.

Nhà tôi ở đường Hiệp Nhất (quận Tân Bình cũ), nếu ăn phở thì ghé quán Cao Vân đầu đường. Còn ăn hủ tiếu thì cứ sà xuống ghế gỗ của mẹ con cô bán vỉa hè gần đó.

Hủ tiếu ở đây có hành khô phi mỡ thơm lừng hơn hẳn của cô Ba Bảy ở quê, nước lèo cũng ngon hơn, trong hơn nhưng mấy miếng thịt ba chỉ thì vẫn thái mỏng lét để hạp túi tiền thực khách phải ngồi quán vỉa hè.

Thỉnh thoảng được "tháp tùng" đi chợ vải vóc ở Soái Kình Lâm (quận 5 cũ), tôi mới được mẹ cho ăn hủ tiếu mì xá xíu "thứ thiệt" ở đường Châu Văn Liêm, dầu vẫn là xe hủ tiếu và bàn ghế cũ mèm bày vỉa hè.

Mấy chục năm qua rồi, tôi đã được nếm không ít thức ngon vật lạ trong đời nghề rong ruổi khắp nơi nhưng tôi vẫn đọng lại ký ức khó quên với tô hủ tiếu thơm ngon của cô chú người Hoa này.

Nếu không ăn hủ tiếu mì xá xíu, mẹ con tôi có thể chọn món hủ tiếu thập cẩm và lần đầu tiên tôi được ăn tô có con tôm đo đỏ, quả trứng cút trăng trắng, miếng bao tử heo giòn sừn sựt khác hẳn chỉ có mấy miếng thịt mỏng để gió có thể thôi bay như ở quê.

Mỗi mùa hè, tôi được lên chơi trung tâm Sài Gòn một, hai lần ở thương xá Tax và bến Bạch Đằng. Có hôm đi sớm, mẹ dắt tôi vào quán hủ tiếu ở chợ Cũ, đường Tôn Thất Đạm.

Cô chủ thấy mẹ tôi mừng như chị em lâu ngày gặp nhau, hóa ra mẹ tôi đã là khách quen của quán này từ trước năm 1975. Người lớn lâu ngày trò chuyện không dứt, còn tôi thì ngồi chễm chệ gặm xí quách ngon thiệt ngon được chủ quán thương cho thêm và uống xá xị thơm nồng...
Sang nửa cuối thập niên 1980, Sài Gòn đêm đêm vọng tiếng hủ tiếu gõ nhiều hơn. Người bán chủ yếu là dân quê lên, mà nhiều nhất là bà con Quảng Ngãi.

Xe hủ tiếu đẩy thường với một người lớn và một đứa trai nhỏ phụ bán giá bình dân. Cậu nhóc cầm ống tre đi gõ lốc cốc mời khắp cùng đường lớn, hẻm nhỏ. May mắn có ai gọi, cậu trở về xe hủ tiếu để nói người lớn làm, rồi bê tô đến tận nhà khách ăn và sau đó lại bê tô về.

Đêm lạnh nhưng các cậu bé gầy gò bán hủ tiếu gõ này lúc nào cũng vã mồ hôi trên đường.
-------------------

>> Kỳ tới: Người Quảng bán hủ tiếu

Minh Kỳ / Theo: tuoitre

ANH EM KHÔNG CHUNG TIỀN BẠC, CHỊ EM ĐỪNG QUÁ THÂN: LỜI NGƯỜI XƯA KHÔNG PHẢI VÔ TÌNH, MÀ LÀ BÀI HỌC VỀ LÒNG NGƯỜI

Nghe qua có vẻ lạnh lùng, nhưng thực ra đó không phải lời khuyên vô tình, mà là bài học được đúc kết từ trải nghiệm về lòng người và cách giữ gìn tình thân lâu dài.

Ảnh minh hoạ

Nhiều người luôn tin rằng tình thân là thứ tình cảm bền chặt nhất trên đời. Đã là máu mủ ruột rà thì dù thế nào cũng không thể cắt đứt. Vì thế, không ít gia đình có thói quen để anh em chị em cùng góp vốn làm ăn, cùng gánh vác chuyện tiền bạc, chuyện nhà cửa, thậm chí can thiệp sâu vào cuộc sống của nhau, cho rằng như vậy mới là “thân”.

Nhưng thực tế lại cho thấy, rất nhiều mối quan hệ anh chị em từng gắn bó từ nhỏ, đến khi trưởng thành lại dần xa cách, thậm chí trở mặt vì tiền bạc, vì chuyện gia đình, vì những va chạm nhỏ tích tụ qua năm tháng.

Người xưa có câu: Anh em không chung tiền bạc, chị em đừng quá thân. Nghe qua có vẻ lạnh lùng, nhưng thực ra đó không phải lời khuyên vô tình, mà là bài học được đúc kết từ trải nghiệm về lòng người và cách giữ gìn tình thân lâu dài.

Tình người mỏng như giấy, thế sự đổi thay như bàn cờ. Người thân không làm tổn thương nhau, quý nhất là biết chừng mực. Có lẽ vì hiểu rõ lòng người nên người xưa mới nhắc con cháu rằng: càng thân thiết càng phải biết giữ khoảng cách vừa đủ.

Điều dễ làm rạn nứt tình anh em nhất, từ xưa đến nay, thường vẫn là tiền bạc.

Khi còn nhỏ, anh em có thể vô tư chia nhau từng món đồ chơi, từng bữa ăn. Nhưng khi trưởng thành, mỗi người đều có gia đình riêng, áp lực riêng, trách nhiệm riêng. Tình thân lúc này không còn đơn thuần như thời thơ bé, mà bắt đầu xen lẫn lợi ích, tính toán và sự so sánh.

Rất nhiều anh em ban đầu vì tin tưởng nhau nên cùng hùn vốn làm ăn, cùng đứng tên tài sản hoặc giúp nhau quản lý tiền bạc. Những ngày đầu ai cũng nghĩ đơn giản rằng người nhà thì “không cần quá rõ ràng”. Nhưng càng về sau, khi công sức bỏ ra không đều, lợi nhuận chia không cân bằng hoặc trách nhiệm không rõ ràng, những ấm ức nhỏ sẽ dần tích tụ.

Người làm nhiều cảm thấy thiệt thòi. Người nhận nhiều lại nghĩ đó là điều bình thường. Từ chỗ thương nhau, hai bên bắt đầu nghi ngờ, trách móc rồi dần xa cách.

Không phải vì anh em không đủ thân, mà bởi tiền bạc là thứ dễ thử lòng người nhất. Có những mối quan hệ ngoài xã hội còn giữ được vì có giấy tờ, nguyên tắc rõ ràng, trong khi người thân lại thường vì ngại nói thẳng mà để mọi chuyện nhập nhằng, cuối cùng mất cả tiền lẫn tình cảm.

Thế nên, giữ tài chính độc lập, phân chia rõ ràng ngay từ đầu đôi khi lại là cách tốt nhất để bảo vệ tình anh em.


Còn câu “chị em đừng quá thân” cũng thường bị hiểu sai theo hướng phải xa cách, lạnh nhạt với nhau. 

Thực ra điều người xưa muốn nhắc là: sau khi lập gia đình, chị em nên giữ ranh giới vừa phải, đừng can thiệp quá sâu vào cuộc sống riêng của nhau.

Một người phụ nữ sau khi kết hôn sẽ có gia đình riêng, mối quan hệ riêng, áp lực riêng. Nếu chị em thường xuyên qua lại quá mức, xen vào chuyện hôn nhân, chuyện con cái hay thoải mái nhận xét về chồng của nhau, rất dễ khiến mâu thuẫn phát sinh.

Ảnh minh hoạ

Có những lời góp ý xuất phát từ ý tốt nhưng lại bị xem là nhiều chuyện. Có những lần giúp đỡ ban đầu là tự nguyện, nhưng lâu dần lại thành điều “đương nhiên”. Khoảng cách quá gần đôi khi khiến những va chạm nhỏ ngày càng nhiều hơn.

Không ít chị em từng rất thân thiết nhưng sau khi lấy chồng lại dần xa nhau vì những chuyện tưởng chừng vụn vặt như cách nuôi con, chuyện tiền bạc, chuyện đối nội đối ngoại hay sự so sánh giữa các gia đình.

Người xưa hiểu rằng, tình thân muốn bền lâu thì cần có giới hạn. Gần gũi nhưng không can thiệp quá sâu. Quan tâm nhưng vẫn tôn trọng không gian riêng của nhau. Đó mới là cách giữ cho tình cảm không bị “mài mòn” theo thời gian.

Suy cho cùng, những lời dạy của người xưa chưa bao giờ nhằm khuyên con người sống ích kỷ hay vô cảm. Ngược lại, đó là sự tỉnh táo sau khi đã nhìn thấu nhiều va chạm của cuộc đời.

Anh em không chung tiền bạc là để tránh tổn thương vì lợi ích. Chị em giữ khoảng cách vừa phải là để tránh mâu thuẫn vì can thiệp quá nhiều.

Mối quan hệ tốt đẹp nhất chưa bao giờ là “không có ranh giới”, mà là thân thiết nhưng vẫn biết chừng mực. Chỉ khi hiểu điều đó, tình thân mới có thể đi cùng nhau thật lâu, thay vì vì quá gần mà dần trở nên xa lạ.

Hiếu Đan / Theo: phunumoi

DƯƠNG LIỄU CHI TỪ - BẠCH CƯ DỊ


Dương liễu chi từ

Nhất thụ xuân phong thiên vạn chi,
Nộn ư kim sắc nhuyễn ư ty.
Vĩnh Phong tây giác hoang viên lý,
Tận nhật vô nhân thuộc a thùy.


楊柳枝詞

一樹春風千萬枝
嫩於金色軟於絲
永豐西角荒園裏
盡日無人屬阿誰


Dương liễu chi từ
(Dịch thơ: Lê Nam Thắng)

Liễu dương tha thướt vạn cành
Hoa vàng, tơ óng, lá xanh buông dài
Vĩnh Phong vườn cũ hoang đài
Ngày tàn lẻ bóng chẳng ai bạn cùng


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Bạch Cư Dị 白居易 (772-846) tự Lạc Thiên 樂天, hiệu Hương Sơn cư sĩ 香山居士 và Tuý ngâm tiên sinh 醉吟先生, người Hạ Khê (nay thuộc Thiểm Tây). Ông là thi nhân tiêu biểu nhất giai đoạn cuối đời Đường, là một trong những nhà thơ hàng đầu của lịch sử thi ca Trung Quốc. Người ta chỉ xếp ông sau Lý Bạch và Đỗ Phủ.

Nguồn: Thi Viện