Wednesday, February 11, 2026

"BỐN THỨ ĐỘC Ở NÔNG THÔN: HÀNH NƯƠNG NƯƠNG, TỎI MỘT TÉP..." NGHĨA LÀ GÌ? XEM XONG GIẬT MÌNH

Ở nông thôn có một cách nói truyền miệng như thế này: nông dân đời đời truyền nhau về bốn thứ độc lớn, đó là: “Hành nương nương, tỏi một tép, đàn bà ngẩng đầu, đàn ông cúi đầu.” Vậy rốt cuộc những thứ này là gì?


Tỏi một tép (độc đầu tỏi)

Người già ở quê thường nói: “Người kia đúng là một ‘củ tỏi độc’ to tướng, không có việc gì thì đừng đi chọc vào!”

Loại người “tỏi một tép” này giống như hổ vậy, thích làm theo ý mình, sống đơn độc, đi một mình một lối, còn đáng sợ hơn cả sói. Vì thế, không có chuyện gì thì tuyệt đối đừng trêu chọc họ.

Thông thường, một củ tỏi có khoảng 8 tép. Thế còn “tỏi một tép” là gì? Chính là củ tỏi không phân tép, chỉ có một khối duy nhất. Như vậy chẳng phải là không có tép (không có “bạn”) sao? Tức là người độc thân, một mình một kiểu.

Người kiểu “tỏi một tép” giống hệt con hổ: hành động theo ý mình, đơn độc một mình, làm việc không màng hậu quả, rất đáng sợ. Vì vậy, không có việc gì thì tuyệt đối đừng dây vào.

Tỏi một tép. Ảnh internet.

Đàn bà ngẩng đầu

Người già cũng gọi họ là “đàn bà ngẩng cổ”. Dáng vẻ quen thuộc của họ là lúc nào cũng ngẩng cao đầu, coi trời bằng vung, tính cách cứng rắn, hiếu thắng, hay đấu đá, tranh hơn thua, chuyện gì cũng phải tranh cho ra lẽ, hoàn toàn không giữ nét dịu dàng, mềm mỏng theo quan niệm phụ đạo truyền thống.

Trong quan hệ xóm giềng, những người phụ nữ như vậy thường rất khó sống chung, cực kỳ “khó đấu”.

Không có việc gì thì đừng chọc vào đàn bà ngẩng đầu.

Đàn ông cúi đầu

Thực ra, ở nông thôn ngày xưa, người ta thường yêu cầu đàn ông khi đi đứng phải ngẩng cao đầu, ưỡn ngực, đường đường chính chính.

Còn những “người đàn ông cúi đầu” thì thường là kiểu người thâm sâu khó lường, mưu mô già dặn, âm thầm không lộ diện, chỉ biết cúi đầu làm việc. Trông thì như lo âu nặng nề, lại giống như đang tìm thứ gì rơi dưới đất, nhưng thực chất là trong đầu không ngừng tính toán chuyện người, chuyện đời.

Loại người này tâm cơ rất sâu, dụng ý khó dò, tính tình thất thường, âm hiểm, không thể kết giao; ai giao du với họ ắt sẽ chịu thiệt hại. Người nông thôn còn gọi kiểu người này là “nhìn người từ dưới hàng lông mày”.

Đàn bà ngẩng đầu. Ảnh internet.

Hành nương nương

Ở nông thôn, hành già sau khi trổ bông lấy hạt thì phần hành trắng còn lại trong đất không còn ăn được nữa, người ta cũng bỏ đi. Phần hành trắng thối rữa trong đất, nhưng rễ hành vẫn còn khả năng sinh trưởng. Qua một thời gian dài, nó lại nảy mầm lần nữa và mọc ra hành non. Vì hành này mọc chui ra từ thân hành già, nên được gọi là hành nương nương.

Nói cách khác, đây là loại hành qua đông, sau khi ra hạt lại sinh ra hành mới. Người già đều nói loại hành này có độc, không thể ăn. Có người không tin, cứ nhất quyết nếm thử, kết quả là cay đến thấu tim, cay đến mức nước mắt chảy không ngừng.

Về sau, “hành nương nương” được mở rộng nghĩa, dùng để chỉ những người ở nông thôn hay gặp, kiểu người vừa làm bạn rơi nước mắt, vừa khiến bạn đau lòng. Giao tiếp với họ chẳng khác nào mất nửa cái mạng, gặp loại người này phải tránh xa.

Vì vậy, câu nói xưa ở nông thôn: “Hành nương nương, tỏi một tép, đàn bà ngẩng đầu, đàn ông cúi đầu” thực chất là một dạng kinh nghiệm sống: hãy biết phân biệt những người không dễ trêu chọc, đừng tùy tiện gây chuyện với họ, cũng đừng làm mâu thuẫn thêm gay gắt.

Khai Tâm biên dịch
Theo: vandieuhay

THỦY HOA - VƯƠNG AN THẠCH


Thủy hoa

Nhất pha xuân thủy nhiễu hoa thân,
Hoa ảnh yêu kiều các chiếm xuân.
Túng bị đông phong xuy tác tuyết,
Tuyệt thăng nam mạch niễn thành trần.

Bài này tuyển từ Lâm Xuyên Vương tiên sinh Kinh công văn tập quyển 76, bản Gia tĩnh nhà Minh. Bài này còn có đề là Bắc bì hạnh hoa (北陂杏花), nhà thơ thông qua mô tả hoa hạnh, thể hiện mình trung với lý tưởng, với tinh thần thà làm ngọc nát.


水花 - 王安石

一陂春水繞花身
花影妖嬌各占春
縱被東風吹作雪
絕勝南陌碾成塵


Hoa nước
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Sắc xuân nước biếc, hoa ngời.
Lung linh mặt nước, hoa mời nắng xuân.
Gió xuân tuyết phủ phong trần.
Đừng như hạt cát, bụi lầm phương Nam.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương An Thạch 王安石 (1021-1086) tự Giới Phủ 介甫, hiệu Bán sơn lão nhân 半山老人, người Phủ Châu, Lâm Xuyên (tỉnh Giang Tây ngày nay), là một nhà văn lớn thời Bắc Tống và cũng là nhà kinh tế, chính trị lỗi lạc trong lịch sử Trung Quốc. Ông đỗ tiến sĩ năm 1041. Năm 22 tuổi (1042), ông được bổ dụng làm trợ lý cho quan đứng đầu thủ phủ tỉnh Dương Châu. Năm 1047, ông được thăng tri huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang. Năm 1051, ông được sử đến Thương Châu làm Thông phán. Hết nhiệm kỳ này ông được điều về kinh đô. Năm 1057, ông làm tri châu Thương Châu, tỉnh Giang Tô. Năm 1058 ông lại được điều đi làm quan hình ngục Giang Đông, trông coi việc tư pháp và hành chính Giang Nam. Đến cuối năm này, sau 17 năm làm quan địa phương, ông đã viết một bài trình lên Tống Nhân Tông, nêu rõ các trì trệ hiện thời của Bắc Tống và nêu lên các biện pháp khắc phục, áp dụng tân pháp để cải cách chế độ kinh tế-xã hội, quân sự của nhà Tống nhưng thất bại do sự chống đối của các tầng lớp quan lại đương thời. Trải qua một thời gian dài hai đời vua Tống Nhân Tông và Tống Anh Tông, sau khi về chịu tang mẹ 3 năm ở quê nhà, ông ở lại đó và mở trường dạy học.

Nguồn: Thi Viện



ĐẾ CHẾ SỞ HỮU VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC BẬC NHẤT THẾ GIỚI VÀ KẾT CỤC TRỞ THANH "NGƯỜI BỆNH"

Khác với Tây Ban Nha từng vơ vét kho báu vàng bạc khổng lồ hay Trung Hoa thời nhà Minh có nền sản xuất hàng đầu thế giới, đế chế Ottoman vào thời kỳ đỉnh cao kiểm soát tất cả các cửa ngõ giao thương quan trọng trên bộ của thế giới, nhưng cuối cùng tụt hậu trước sự trỗi dậy của châu Âu.

Ottoman ở thời điểm cực thịnh từng là đế chế hùng mạnh nhất ở châu Âu.

Kiểm soát các cửa ngõ giao thương hàng đầu thế giới

Trước năm 1453, thành Constantinople là viên ngọc cuối cùng của đế chế Byzantine – đế chế kế thừa ánh hào quang La Mã và những di sản rực rỡ của phương Đông. Thành phố được mệnh danh là “New Rome”, án ngữ vị trí chiến lược bậc nhất ở eo biển Bosphorus, nơi giao hòa giữa châu Âu và châu Á, kiểm soát mọi tuyến đường hàng hải đi qua biển Đen và Địa Trung Hải.

Vào thế kỷ XV, đế chế Byzantine đã suy yếu đến mức chỉ còn giữ được Constantinople như một pháo đài cô độc. Cửa ngõ huyết mạch kết nối lục địa Á – Âu khi đó sắp đổi chủ.

Trong nhiều thế kỷ, đây là điểm hội tụ của Con đường Tơ lụa – mạng lưới thương mại trải dài từ Trung Hoa, Ấn Độ, Ba Tư, mang theo tơ lụa, gốm sứ, trà, gia vị, cùng những phát minh như giấy, thuốc súng, la bàn. “Có những thứ khiến người ta kinh ngạc đến mức không thể diễn tả được bằng lời”, một sử gia Byzantine từng thốt lên khi nói về sự giàu có và đa dạng của Constantinople.

Từng đoàn lạc đà từ Trung Á, ghé Samarkand (Uzbekistan ngày nay), Baghdad (Iraq ngày nay) rồi men theo Tiểu Á, cuối cùng dừng chân trước những bức tường thành đồ sộ của Constantinople. Tại đây, hàng hóa được thu thuế, định giá và phân phối tới các trung tâm thương mại lớn của Địa Trung Hải như Venice hay Genoa và các nước khác ở châu Âu. Nguồn thuế này từng là huyết mạch nuôi sống đế chế Byzantine, nhưng cũng là lý do khiến các thương nhân châu Âu không ngừng phàn nàn về chi phí quá cao và sự phụ thuộc vào con đường lục địa.

Ngày 29/5/1453, thành Constantinople sụp đổ khi Sultan (hoàng đế) Mehmed II của Ottoman tung đòn công phá cuối cùng. Sau chiến thắng, ông đổi tên thành phố này thành Istanbul (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ), biến nơi đây thành thủ đô mới của đế chế Hồi giáo. Mehmed II lập tức khôi phục và củng cố hạ tầng chiến lược để bảo vệ Bosphorus, xây dựng lại thành lũy và hệ thống thương cảng. Ottoman tiếp quản hệ thống thu thuế của Byzantine nhưng cải tổ rõ rệt: thương nhân Hồi giáo chịu mức thuế 2-4%, còn thương nhân ngoại quốc phải trả hơn 5%.

Với quyền kiểm soát Bosphorus và toàn bộ cửa ngõ thương mại Á – Âu, đế chế Ottoman trở thành “người gác cổng” của Con đường Tơ lụa.

Khép vòng vây thương mại châu Âu

Ottoman vừa kiểm soát của ngõ Á-Âu, vừa nắm con đường tiến vào châu Phi.

Dù không có bằng chứng cho thấy đế chế Ottoman “chặn đường”, ngăn không cho lụa hay gia vị được chuyển tới châu Âu, nhưng chi phí vận chuyển tăng vọt do nhiều tầng trung gian và thuế quan là lý do cơ bản khiến châu Âu cảm thấy bế tắc.

Chưa dừng lại ở đó, năm 1517, sau khi chinh phục Ai Cập và vùng Hejaz (nay thuộc Ả Rập Saudi), đế chế Ottoman giành quyền kiểm soát các cảng chiến lược trải dài từ Biển Đỏ, Đông Địa Trung Hải đến lối vào vịnh Ba Tư. Điều này cho phép họ nắm trọn tuyến giao thương nối châu Phi, Trung Đông và châu Á.

Các loại gia vị quý hiếm như hồ tiêu, quế, nhục đậu khấu từ Ấn Độ và Đông Nam Á, trước khi đến châu Âu, đều phải đi qua các thương cảng của Ottoman. Mọi tàu thuyền ra vào đều chịu thuế, tạo nguồn lợi khổng lồ cho đế chế. Nhà sử học Thổ Nhĩ Kỳ Halil İnalcık từng viết trong công trình nghiên cứu kinh điển mang tên “Đế chế Ottoman – Thời kỳ Hoàng kim" vào năm 1973: “Ảnh hưởng của đế chế Ottoman giai đoạn này nằm ở khả năng khép vòng vây thương mại quanh châu Âu, cả trên bộ lẫn trên biển.

Với việc cùng lúc kiểm soát Con đường Tơ lụa trên bộ và tuyến hàng hải qua Trung Đông, Ottoman gần như bóp nghẹt lối tiếp cận trực tiếp của châu Âu với nguồn hàng phương Đông.

Chính áp lực này đã trở thành một trong những nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy các quốc gia hàng hải phương Tây. Đế quốc Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha thúc đẩy đóng thuyền ra khơi, tìm đường vòng qua châu Phi hoặc vượt Đại Tây Dương, mở màn cho Kỷ nguyên Khám phá.

Một nhà nghiên cứu từng nói: “Một trong những lý do chính khiến các nhà thám hiểm từ Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha ra khơi... là vì hoạt động buôn bán gia vị đã bị người Ottoman cắt đứt khỏi Tây Âu sau khi họ chiếm Constantinople vào năm 1453”.

Cạnh tranh trên biển nhưng thất bại

Trận Lepanto là trận hải chiến đánh dấu sự thất bại trên biển của đế chế Ottoman trước liên quân châu Âu.

Đế chế Ottoman không chỉ dừng lại ở việc kiểm soát lục địa. Nhận thấy châu Âu đẩy mạnh ra khơi, họ cũng áp dụng cách tương tự.

Sau khi chinh phục Ai Cập và vùng ven biển ở Trung Đông, đế chế Ottoman bắt đầu mở rộng ảnh hưởng tới Ấn Độ Dương với mạng lưới hải quân tại Suez và Basra. Ottoman chiếm Aden (nay thuộc Yemen) vào năm 1548. Nơi này trở thành căn cứ để Ottoman đối đầu sự bành trướng của đế quốc Bồ Đào Nha trên biển.

Sau đó, chiến dịch lớn nhất của Ottoman diễn ra vào năm 1538, khi một đội hạm do tướng Hadim Suleiman Pasha dẫn đầu, xuất phát từ Jeddah tới Diu (Ấn Độ) nhằm xóa bỏ ảnh hưởng của quân Bồ Đào Nha nhưng thất bại.

Dưới triều đại Sultan Suleiman Đại Đế, Ottoman đã thiết lập tuyến đường ngoại giao và thương mại với Vương quốc Hồi giáo Aceh Darussalam ở đảo Sumatra (Indonesia). Năm 1565–1569, một đoàn hải quân 22 tàu của Ottoman cập cảng Aceh, vươn ảnh hưởng của đế chế đến Đông Nam Á.

Tuy nhiên, những bước tiến ấy không đủ để Ottoman thiết lập một "đế chế hàng hải" như Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha. Thực tế là Ottoman không sở hữu hệ thống cảng biển mở, thiếu nguyên liệu đóng tàu ở Biển Đỏ, và liên tiếp gặp nạn nổi loạn nội địa ở Aden (nay thuộc Yemen), khiến việc duy trì ảnh hưởng ra xa bờ trở nên khó khăn.

Trận Lepanto (năm 1571) xảy ra ở biển Ionia, gần Địa Trung Hải, là đòn giáng mạnh vào uy lực hải quân Ottoman khi thất bại trước liên quân châu Âu gồm đế quốc Tây Ban Nha, Cộng hòa Venezia và các quốc gia khác nay nằm trong lãnh thổ Italia, thế lực của Giáo hoàng ở miền trung Italia (Giáo hoàng khi đó cai trị lãnh thổ riêng, lấy Rome làm trung tâm) và đế quốc Bồ Đào Nha.

Dù Ottoman nhanh chóng tái thiết hạm đội, tổn thất về thủy thủ, sĩ quan và tinh thần chiến đấu là không thể phục hồi trong một sớm một chiều.

Về sau, do tụt hậu công nghệ đóng tàu, Ottoman dần không theo kịp các kĩ thuật hàng hải vượt trội của Anh, Hà Lan hay Pháp. Sự tụt hậu này khiến Ottoman chỉ duy trì ảnh hưởng ở ven bờ, phụ thuộc hoàn toàn vào giao thương trên đất liền để thu lời.

Trở thành “người bệnh của châu Âu”

Bước sang thế kỷ 17, thương mại toàn cầu đã dịch chuyển khỏi Địa Trung Hải và những tuyến đường bộ nối phương Tây với phương Đông. Nạn cướp biển hoành hành khắp Địa Trung Hải, làm tổn hại các nền kinh tế phụ thuộc vào giao thương qua vùng biển này. Phần lớn dòng chảy thương mại quốc tế nay đã bỏ qua Trung Đông và các tuyến quá cảnh qua lãnh thổ Ottoman. Gia vị từ châu Á được chở thẳng bằng đường biển tới châu Âu, khiến Ottoman mất hẳn phần lợi nhuận khổng lồ từng hưởng trước đây nhờ đánh thuế trung chuyển.

Con đường tơ lựa nổi tiếng một thời từng phải đi qua lãnh thổ do Ottoman kiểm soát (nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ).

Theo Fsmitha, vấn đề giải thích cho sự tụt hậu của Ottoman là hệ thống pháp luật cùng học giả tôn giáo chịu trách nhiệm bảo toàn trật tự hơn là sáng tạo kinh tế. Đế chế lấy giáo lý Hồi giáo sharia hà khắc làm trung tâm khiến cho các thay đổi thương mại khó có thể được tiến hành một cách nhanh chóng và thống nhất.

Điều này dẫn đến việc tầng lớp trung lưu thương nhân ở Ottoman không được khuyến khích phát triển như ở châu Âu; thậm chí đôi khi bị xem là mối đe doạ đối với lợi ích của triều đình. Trong khi đó, các thế lực châu Âu như Anh, Hà Lan và Bồ Đào Nha đang hình thành lớp trung lưu giàu có, có vốn, tổ chức dưới dạng công ty thương mại, sẵn sàng vay vốn, bảo hiểm hải hành, và huy động nguồn lực khổng lồ cho các cuộc viễn dương.

Sự kết hợp giữa tụt hậu công nghệ và yếu tố Hồi giáo bảo thủ, kìm hãm sự đổi mới khiến Ottoman đánh mất lợi thế “người kiểm soát con đường”.

Từ giai đoạn bắt đầu tụt hậu (khoảng cuối thế kỷ 17) cho đến khi sụp đổ hoàn toàn năm 1908, đế chế Ottoman trải qua hơn hai thế kỷ rơi vào trạng thái mà nhiều sử gia gọi là “người bệnh của châu Âu”.

Sau khi mất lợi thế thương mại đường bộ và hàng hải, nguồn thuế từ giao thương quốc tế giảm mạnh. Ottoman ngày càng phụ thuộc vào thuế nông nghiệp, vốn dễ bị ảnh hưởng bởi mất mùa và quản lý yếu kém. Công nghiệp hiện đại phát triển chậm, khiến hàng hóa châu Âu tràn vào, cạnh tranh trực tiếp và bóp nghẹt thủ công nghiệp địa phương.

Từ giữa thế kỷ XVIII, quân đội Ottoman không kịp thích ứng với chiến thuật và công nghệ châu Âu. Các thất bại lớn trước Nga (loạt chiến tranh Nga – Ottoman), Áo và sau này là Anh, Pháp đã khiến lãnh thổ bị thu hẹp dần.

Để duy trì bộ máy nhà nước và quân đội, triều đình Ottoman vay vốn lớn từ các ngân hàng châu Âu. Sau khi mất khả năng trả nợ, năm 1881, Cơ quan Quản lý Nợ công Ottoman (Ottoman Public Debt Administration) do phương Tây kiểm soát được lập ra, nắm trực tiếp nguồn thu từ nhiều tỉnh, biến đế chế gần như thành con nợ phụ thuộc.

Trong suốt thế kỷ 19, làn sóng dân tộc chủ nghĩa lan khắp vùng Balkan, Ả Rập và Armenia. Các tỉnh lần lượt ly khai hoặc rơi vào tay các cường quốc. Chính quyền trung ương phải đối phó với liên tiếp các cuộc khởi nghĩa và sức ép ngoại giao.

Các nỗ lực cải cách như Tanzimat (1839–1876) nhằm hiện đại hóa luật pháp, quân đội và hành chính chỉ đem lại kết quả hạn chế vì bị phe bảo thủ và sự thiếu quyết tâm chính trị cản trở. Năm 1876, hiến pháp đầu tiên ra đời nhưng nhanh chóng bị đình chỉ.

Cách mạng Thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ (Young Turk Revolution) xảy ra vào năm 1903 buộc Sultan Abdul Hamid II khôi phục hiến pháp và Quốc hội. Dù không phải là “sụp đổ” hoàn toàn về mặt lãnh thổ, đây được xem là dấu chấm hết cho chế độ quân chủ tuyệt đối Ottoman, mở ra giai đoạn chuyển biến nhanh chóng dẫn đến sự tan rã sau Thế chiến I.

Đăng Nguyễn - Tổng hợp
Theo: Người đưa tin
Link tham khảo:



Tuesday, February 10, 2026

DU KHÁCH CHUYỂN HƯỚNG DU LỊCH ĐÊM TẠI TRUNG QUỐC DO ẢNH HƯỞNG CỦA NẮNG NÓNG

Người dân Trung Quốc đang chuyển hướng sang du lịch đêm để tránh cái nóng gay gắt. Xu hướng này không chỉ mang lại trải nghiệm dễ chịu hơn cho du khách mà còn tạo ra "cú hích" kinh tế đáng kể, với chi tiêu du lịch đêm đạt hàng trăm tỷ USD.


Trong bối cảnh mùa hè oi bức đang bao trùm nhiều khu vực, người dân Trung Quốc đang tìm đến một xu hướng mới mẻ và đầy sức sống: du lịch đêm. Thay vì đổ xô đến các điểm tham quan dưới ánh nắng gay gắt, hàng triệu người đang lựa chọn khám phá các thành phố, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh sau khi hoàng hôn buông xuống.

Sự dịch chuyển ngoạn mục này không chỉ mang lại trải nghiệm dễ chịu hơn cho du khách mà còn đang tạo ra một động lực mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy đáng kể tăng trưởng kinh tế và làm phong phú thêm đời sống văn hóa xã hội.

Khi nắng nóng cực đoan bao trùm nhiều tỉnh thành, người dân Trung Quốc đổ xô đi tham quan sau hoàng hôn để tránh oi bức

Nắng nóng gay gắt thường là rào cản lớn cho hoạt động du lịch truyền thống vào ban ngày. Mới đây, 28 khu vực tại các tỉnh Hà Nam và Sơn Đông đã phát cảnh báo đỏ, mức nghiêm trọng nhất, do nắng nóng cực đoan. Nhiệt độ tại nhiều nơi ở Thanh Đảo chạm ngưỡng 40,5 độ C, chỉ thấp hơn 0,5 độ C so với mức kỷ lục tại đây từ năm 1961, theo Thanh Đảo Nhật Báo. Đợt nắng nóng kéo dài này cũng gây áp lực lớn lên lưới điện quốc gia khi nhu cầu sử dụng điều hòa tăng vọt, với lượng điện tiêu thụ toàn quốc đạt mức kỷ lục 1,47 tỷ kilowatt vào ngày 25/7, theo CCTV.

Tuy nhiên, thay vì từ bỏ niềm đam mê khám phá, người dân Trung Quốc đã nhanh chóng thích nghi và sáng tạo ra một hình thức du lịch mới. Tại Công viên rừng quốc gia núi Thiên Môn ở Trương Gia Giới (tỉnh Hồ Nam), một trong những điểm đến nổi tiếng, lối đi 999 bậc thang dẫn lên hang Thiên Môn được chiếu sáng rực rỡ, biến toàn bộ ngọn núi trở nên lung linh huyền ảo trong ánh đèn, tạo nên một cảnh tượng ngoạn mục về đêm. Du khách Mauricio Olvera từ Mexico chia sẻ với Tân Hoa Xã: "Tôi đến đây vào buổi chiều để tránh nắng, không ngờ cảnh đêm lại tuyệt vời đến vậy."

Du lịch đêm bùng nổ, góp phần thúc đẩy kinh tế tăng trưởng

Bà Ding Yunjuan, nhân viên công viên, cho biết phần lớn du khách đến tham quan vào chiều muộn, nhiều người nán lại tận 21h rồi mới xuống núi dưới ánh trăng. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng này, "công viên tổ chức các chương trình trình diễn ánh sáng buổi tối để làm nổi bật vẻ đẹp cảnh quan," bà Ding cho biết. Kể từ đầu kỳ nghỉ hè, công viên đã đón hơn 20.000 lượt khách mỗi ngày, trong đó các tour đêm đang trở thành điểm nhấn thu hút đặc biệt.

Sự bùng nổ của du lịch đêm đang tạo ra một "cú hích" đáng kể cho nền kinh tế Trung Quốc. Ngay từ tháng 1, Quốc vụ viện nước này đã ban hành văn bản kêu gọi mở rộng hoạt động văn hóa và du lịch ban đêm, cho thấy tầm nhìn chiến lược của chính phủ. Theo Bộ Thương mại Trung Quốc, 60% chi tiêu tiêu dùng diễn ra vào buổi tối, trong khi mức chi trung bình cho du lịch đêm cao gấp hơn 3 lần so với ban ngày. Cuối năm 2024, Viện Hàn lâm Du lịch Trung Quốc ước tính tổng chi tiêu cho du lịch đêm trong nước đạt khoảng 1.910 tỷ nhân dân tệ (tương đương 267 tỷ USD), khẳng định tiềm năng kinh tế khổng lồ của xu hướng này.

Xu hướng này biến các thành phố và điểm tham quan trở nên sôi động sau hoàng hôn

Tại những "lò lửa" của Trung Quốc như tỉnh Hồ Nam, chợ đêm, trình diễn ánh sáng và các buổi biểu diễn nghệ thuật đã biến các thành phố thành điểm đến sôi động mùa hè. Điển hình, tại một công viên chủ đề tái hiện văn hóa triều Đường, gần tàn tích lò sứ Đồng Quan hơn 1.200 năm tuổi, các hoạt động như pháo hoa, ẩm thực đường phố và nhạc sống thu hút đông đảo du khách sau khi trời tối. Công viên này mở cửa đến nửa đêm, cho phép du khách thưởng thức tôm hùm cay, tham gia các cuộc thi uống bia và tìm hiểu di sản văn hóa phi vật thể độc đáo. Ông Zhang Ning, Phó tổng giám đốc công viên, cho biết lượng khách ban đêm đã tăng gần 20% từ đầu tháng 7, một con số ấn tượng.

Các địa điểm như Thiên Môn Sơn hay các công viên văn hóa đều được đầu tư chiếu sáng và tổ chức sự kiện đêm, khẳng định du lịch đêm là động lực tăng trưởng mới, giúp Trung Quốc thích nghi và phát triển trong điều kiện khí hậu thay đổi

Du lịch đêm không chỉ là một giải pháp tình thế để "né" nắng nóng mà đã trở thành một xu hướng bền vững, phản ánh sự năng động và khả năng thích nghi của ngành du lịch Trung Quốc. Sự phát triển này hứa hẹn sẽ tiếp tục là một động lực quan trọng, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai.

Khánh Linh / Theo: travellive+



TUỔI TRUNG NIÊN, SAI LẦM LỚN NHẤT LÀ LÊN MẠNG THAN NGHÈO

Than vãn chỉ gieo rắc năng lượng tiêu cực, làm bạn mất đi sự tin tưởng và tôn trọng ở tuổi trung niên – giai đoạn quan trọng nhất đời người.


“Ngoài 40 rồi mà chẳng có gì trong tay”, “Cả đời chỉ thấy nghèo đi chứ không khá lên được”, hay “Đời bất công, càng cố gắng càng bế tắc”...

Lướt MXH, không khó để gặp những status nặng trĩu tâm sự như trên. Những dòng chia sẻ ấy có thể nhận được vài chục, thậm chí vài trăm lượt “thương thương”, nhưng sau đó thì sao? Cuộc sống của chủ nhân những dòng chữ đó vẫn không thay đổi, thậm chí còn thêm áp lực.

Bởi vì, thực chất, chả có gì hay khi trung niên còn lên mạng than nghèo. Không phải vì nghèo là xấu, mà vì mạng xã hội chưa bao giờ là nơi an toàn để trút hết tâm sự. Ở đó, người ta hiếm khi thật lòng cảm thông; ngược lại, thường chỉ có những ánh mắt đánh giá, những lời dèm pha hoặc sự tò mò vô bổ.

Than nghèo trên mạng không giúp giải quyết vấn đề, mà chỉ khiến bạn bị gắn thêm một “nhãn dán” không mấy tích cực.

Vì sao bước vào tuổi trung niên, càng ít "than" càng tốt? Và nhất là, than NGHÈO?

Nhiều người quên mất rằng mọi thứ mình đăng tải đều trở thành một phần trong hình ảnh công khai. Khi bạn liên tục than thở, người khác không còn nhớ đến con người thật của bạn, mà chỉ nghĩ ngay đến một hình mẫu tiêu cực: một người trung niên u ám, bất mãn, hay than thở trên mạng... Người thân có thể cảm thông, nhưng người ngoài thường chỉ nhìn để so sánh và phán xét.

Bạn bè có thể bấm “like”, nhưng sau đó họ sẽ dần xa lánh vì không muốn tiếp nhận thêm năng lượng tiêu cực. Thậm chí đồng nghiệp, đối tác hay cấp trên, nếu vô tình nhìn thấy, sẽ hình thành cái nhìn thiếu thiện cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của bạn.

Ngoài 40, cái người ta cần nhất không phải là vài trăm lượt bày tỏ cảm xúc trên newsfeed, mà chính là một đời sống cân bằng.

Tuổi trẻ có thể sôi nổi, có thể va vấp, có thể sống theo cảm xúc. Nhưng trung niên là giai đoạn mà sự cân bằng trở thành giá trị quý nhất. Đó là cân bằng giữa công việc và gia đình, giữa mưu sinh và tận hưởng, giữa kỳ vọng và thực tế.

Một người trung niên biết giữ sự cân bằng thường tỏa ra năng lượng an yên, khiến con cái tôn trọng, bạn bè quý mến và đồng nghiệp tin tưởng. Ngược lại, một người thường xuyên than nghèo, than khổ chỉ cho thấy họ chưa thực sự trưởng thành. Và sự thật phũ phàng là chẳng ai muốn gắn bó lâu dài với một người luôn mang theo năng lượng tiêu cực.


Không phải là giả dối mà là chọn 1 phong cách sống

Trong một xã hội nhiều biến động, không ít người trung niên rơi vào cảnh khó khăn vì mất việc, thất nghiệp hoặc kinh doanh thất bại. Điều đó có thể hiểu được.

Nhưng mất giá trị trong mắt người khác không phải vì nghèo, mà vì cách phơi bày cái nghèo ấy quá dễ dãi. Khi viết một dòng trạng thái than thở, liệu có ai đến tận nhà giúp đỡ? Gần như là không. Nhưng sẽ có những lời bàn tán lặng lẽ phía sau, kiểu như: “Ngoài 40 rồi mà vẫn kêu ca, thật chẳng ra sao"...

Trung niên càng nên tránh sự phán xét của đám đông, vì lúc này bạn không còn nhiều thời gian để thử sai như tuổi 20.

Mỗi bước đi, mỗi quyết định đều gắn liền với trách nhiệm gia đình và con cái. Một sơ suất nhỏ trong hình ảnh cá nhân cũng có thể khiến cơ hội nghề nghiệp trôi qua, khiến con cái mặc cảm và gia đình thêm áp lực. Những lời đánh giá trên mạng thường bắt đầu từ những điều tưởng như vô hại: một dòng trạng thái than thở, một câu chia sẻ mệt mỏi, một tấm ảnh kèm lời bi quan.

Tất cả đều có thể trở thành “mồi lửa” cho những cuộc bàn tán. Và khi đám đông đã bắt đầu phán xét, người khổ sở nhất chính là bạn.Một người trung niên khôn ngoan sẽ biết rằng thay vì tìm kiếm sự đồng cảm trên mạng, hãy tìm sự bình an trong chính mình.

Trước hết, hãy giữ khoảng riêng tư. Không ai bắt bạn phải công khai mọi điều, và mạng xã hội cũng không bắt buộc phải là nơi để giải toả. Nếu cần chia sẻ, hãy chọn vài người bạn thân hoặc tham gia các câu lạc bộ. Kế đến, hãy đặt giới hạn sử dụng mạng xã hội. Đời sống thật luôn có giá trị hơn đời sống ảo.

Việc nuôi dưỡng một thú vui cá nhân như đọc sách, làm vườn, học nhạc cụ hay nấu ăn sẽ giúp tâm trí nhẹ nhàng và cảm thấy mình giàu có theo một cách khác. Một bí quyết nhỏ nhưng hữu ích là thực hành biết ơn.

Thời gian dành cho những người thật sự quan trọng sẽ có giá trị hơn nhiều.

Người ta không kỳ vọng một người trung niên phải giàu có vượt bậc, nhưng chắc chắn mong thấy ở họ sự điềm tĩnh, trưởng thành và tự tin. Một hình ảnh đẹp ở tuổi này không nằm ở số dư tài khoản, mà ở cách họ giữ cho đời sống mình không ồn ào, không bị chi phối bởi sự đánh giá của người khác, luôn cân bằng và có phẩm giá.

Theo: ĐSPL

HOÀN CẢNH SÁNG TÁC CA KHÚC "BẾN XUÂN" - BỨC TRANH TUYỆT MỸ CỦA NHẠC SĨ VĂN CAO

Nhạc sĩ Văn Cao đã soạn ca khúc Bến Xuân từ 80 năm trước, khi ông thầm thương trộm nhớ nhưng không dám ngỏ lời với một nàng thiếu nữ xinh đẹp. Văn Cao từng tâm sự: “Ngày xưa tôi có thầm yêu một người con gái mà không dám nói ra. Nhưng người ấy hiểu lòng tôi và đến với tôi. Vì thế nên mới có câu hát “Em đến tôi một lần” và có bài hát này”.


Người con gái ấy chính là nữ ca sĩ Hoàng Oanh, hoa khôi đất cảng Hải Phòng những năm đầu thập niên 1940. Trái ngược với hoàn cảnh nghèo khó, lay lắt của gia đình Văn Cao, cô tiểu thư Hoàng Oanh sinh ra một trong gia đình quyền quý, giàu có; vừa xinh đẹp lại vừa có giọng hát ngọt ngào khiến bao chàng trai si mê, đeo đuổi. Trong những người theo đuổi, si mê Hoàng Oanh thời điểm bấy giờ có cả hai người bạn âm nhạc thân thiết của Văn Cao khi đó là nhạc sĩ Hoàng Quý và ca sĩ Kim Tiêu. Vốn tính cách nhút nhát, lại bị kẹt trong thế là cố vấn tình yêu cho hai người bạn thân, vốn đã nhiều lần nhờ Văn Cao làm thơ để tặng cho Hoàng Oanh, chàng nhạc sĩ Văn Cao dù cũng đã trúng phải tình yêu sét đánh với người đẹp ngay từ lần đầu gặp gỡ đầu tiên, vẫn chưa một lần dám hé lộ lòng mình. Tuy nhiên, là một người yêu âm nhạc, Hoàng Oanh từ chỗ yêu thích, say sưa với các sáng tác của chàng nhạc sĩ trẻ đã dần trở nên cảm mến và dành cho Văn Cao một tình cảm đặc biệt.

Một lần nọ, người bạn của Văn Cao ngỏ ý tính chuyện lâu dài với Hoàng Oanh. Vốn sẵn có tình cảm với Văn Cao, lại biết Văn Cao cũng thầm để ý mình nhưng nhút nhát không dám tỏ ý, Hoàng Oanh trốn gia đình, một mình tìm đến nhà Văn Cao để xác nhận tình cảm của chàng nhạc sĩ.

Ảnh minh họa

Khi Hoàng Oanh tìm đến nhà, Văn Cao đang mặc quần đùi áo cụt ngồi múc nước. Vừa thấy bóng dáng người đẹp, chàng nhạc sĩ đã vô cùng lúng túng, cuống quít chạy vào nhà thay đồ dài tử tế rồi mới dám ra tiếp chuyện. Vào thời đó, chuyện một nàng thiếu nữ dám đường đột tìm đến nhà một người con trai là một chuyện khá “tày đình”. Cuộc gặp gỡ diễn ra trong không khí ngượng ngùng, bẽn lẽn, cô gái xấu hổ không dám đề cập gì, chỉ trông chờ chàng nhạc sĩ ngỏ ý nhưng chàng nhạc sĩ cũng chỉ dám đáp lại bằng vẻ thẹn thùng, rụt rè vốn có. Con trai trưởng nhạc sĩ Văn Cao sau này tiết lộ: “Bên cạnh sự nhút nhát. Lúc đó gia đình ông bà nội đang nghèo, bố tôi lại chưa có điều kiện kinh tế để lấy vợ, lại là đến với con gái một nhà giàu có nên có thể ông sợ”.

Chắc hẳn khi đó, việc cô gái tìm đến nhà đã là một cú sốc quá lớn với chàng nhạc sĩ. Một chuyện mà dù có mơ tưởng bao nhiêu lần chắc chàng cũng chẳng dám nghĩ đến sẽ thành sự thật. Dù mối tình ấy đã chẳng thể đi đến đâu nhưng lần đến thăm duy nhất ấy của người đẹp đã để lại trong lòng chàng nhạc sĩ những cảm xúc lâng lâng, ngây ngất, khó quên. Những cảm xúc tơ vương đẹp đẽ ấy ùa vào âm nhạc, tạo nên những giai điệu tình tự, nhẹ nhàng, lãng mạn, mỹ miều bậc nhất trong âm nhạc Việt – ca khúc Bến Xuân:

Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước
Em đến tôi một lần
Bao lũ chim rừng hợp đàn trên khắp bến xuân
Từng đôi rung cánh trắng ríu rít ca u ú ù u ú
Cành đào hoen nắng chan hoà!

Chim ca thương nhớ,
Chim ngân xa u ú ù u ú
Hồn mùa ngây ngất trầm vương,

Dìu nhau theo dốc mới nơi ven đồi
Còn thấy chim ghen lời âu yếm
Tới đây chân bước cùng ngập ngừng


Nhạc sĩ Văn Cao từng kể, vào những năm 1940, gia đình ông còn rất nghèo, sống trong một căn nhà xiêu vẹo tại một xóm lao động nghèo bên bờ sông Cấm ở Hải Phòng. Vậy đó mà, chỉ “em đến tôi một lần” nhạc sĩ đã mơ màng như thể lạc vào cõi tiên. Cũng vẫn cảnh sắc đó, ngôi nhà thân thuộc đó của nhạc sĩ nhưng được phủ lên một thứ sắc màu huyền hoặc, mơ hồ, lóng lánh, thơ mộng.

Những bước chân yêu kiều của nàng thiếu nữ tựa như bước chân của nàng xuân, đi đến đâu là không gian bừng sáng đến đó, lung linh rạng rỡ với chim ca ríu rít hợp đàn, ánh nắng chan hoà, muôn hoa khoe sắc thắm,… Giữa cảnh sắc mùa xuân thắm thiết, chan hoà ấy, chàng nhạc sĩ ngây ngất trong hương thơm “trầm vương” của nàng chúa xuân, ngỡ mình được sánh bước cùng nàng như đôi giai nhân – tài tử, cùng “dìu nhau theo dốc mới nơi ven đồi”, cùng mỉm cười nhìn lũ “chim ghen lời âu yếm”, cùng ngập ngừng, thẹn thùng khi tình xuân chớm nở.


Trong bức tranh xuân tình tuyệt đẹp đó, chàng len lén nhìn nàng thật kỹ:

Mắt em như dáng thuyền soi nước
Tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân


Câu hát “mắt em như dáng thuyền soi nước” là một sự so sánh thật tinh tế, khéo léo của nhạc sĩ Văn Cao. Đó hẳn là một đôi mắt đen láy, với bờ mi tuyệt đẹp cong như dáng thuyền và lóng lánh như sóng nước khiến chàng nhạc sĩ si mê. Hình ảnh nàng thiếu nữ với “tà áo em rung theo gió nhẹ thẹn thùng ngoài bến xuân” như là một bức tranh mùa xuân tuyệt mỹ. Và cái sự “rung” của tà áo em ấy phải chăng cũng chính là trái tim của đôi người đang rung lên những xúc cảm tình yêu thẹn thùng, non tơ vừa chớm nở trên “bến xuân” tình thơ mộng.

Đoạn điệp khúc là những lời ca dìu dặt, dịu dàng mà da diết, nao nao buồn vắng:

Sương mênh mông che lấp kín non xanh
Ôi cánh buồm nâu còn trên lớp sóng xuân
Ai tha hương nghe ríu rít oanh ca
Cánh nhạn vào mây thiết tha lưu luyến tình vừa qua


Trong câu hát “Ai tha hương nghe ríu rít oanh ca”, nhạc sĩ dường như đã có chút ẩn ý bởi “oanh ca” ở đây chắc hẳn là ám chỉ người đẹp Hoàng Oanh và tiếng hát của cô. Tiếng hát đã khiến chàng nhạc sĩ si mê.

Bức tranh chia ly được khắc hoạ rõ nét bằng những nét vẽ tài hoa, buồn mà đẹp. Trong bức tranh đó, hiện lên bóng dáng một chàng trai đang đứng trên bến sông, dõi mắt nhìn về phía xa xăm, nơi có bóng dáng nàng thiếu nữ đang dần xa khuất, mờ mịt trong làn sương mênh mông, xa xôi dần theo từng lớp sóng. Chàng đứng đó nhìn mãi nhìn mãi như khắc ghi khoảnh khắc đó, bóng hình đó vào sâu trong tim chàng cho đến khi chỉ còn thấy thấp thoáng “cánh buồn nâu” đưa nàng đi. Và từ đó, trên những cung đường “tha hương”, chàng vẫn mang theo bên mình bóng dáng của nàng, tiếng hát “ríu rít oanh ca” của nàng. Nàng đến với chàng tựa như “cánh nhạn vào mây” cao xa vời vợi, ẩn mật, thoáng đến rồi đi, không ngày tái ngộ nhưng vẫn “thiết tha lưu luyến” hoài mãi.

Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác
Em vắng tôi một chiều
Bến nước tiêu điều còn hằn in nét đáng yêu
Từng đôi chim trong nắng khẽ ru u ú ù u ú
Lệ mùa rơi lá chan hoà!

Chim reo thương nhớ,
Chim ngân xa u ú ù u ú
Hồn mùa ngây ngất về đâu


Bến Xuân có lẽ là bức tranh mùa xuân đẹp nhất, “tiên cảnh” nhất, dịu dàng, lãng mạn nhất trong âm nhạc Việt, dù là trong cảnh sắc reo vui, tươi thắm khi nàng xuân tới hay trong cảnh sắc tiêu điều, sầu muộn, nhớ thương thì vẫn đẹp, vẫn cuốn hút một cách lạ lùng.

Người đã đi xa, chàng nhạc sĩ vẫn đứng đó, đã bớt mơ màng, nhưng vẫn không thể tin những điều vừa xảy ra là sự thực, vẫn ngơ ngác như vừa trải qua một giấc mơ: “Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác”. Nhưng “bến nước tiêu điều còn hằn in nét đáng yêu”, là dấu vết của nàng vẫn còn thoảng hoặc quanh chàng. Và chàng bàng hoàng nhận ra, nàng đã đến và đã đi xa thật rồi. Căn nhà, bến nước, cây lá, đàn chim đều ngẩn ngơ, thương nhớ, nhỏ lệ sầu buồn bởi biết rằng nàng sẽ chẳng bao giờ trở lại.

Người đi theo mưa gió xa muôn trùng
Lần bước phiêu du về bến cũ
Tới đây mây núi đồi chập chùng
Liễu dương tơ tóc vàng trong nắng
Gột áo phong sương du khách còn ngại ngùng nhìn bến xuân


Chỉ có chàng, dù đi xa muôn trùng, dù bao phen mưa vùi gió dập, dù áo phong sương lấm lem thì trong những bước chân phiêu du của người lữ khách vẫn sẽ lại tìm “về bến cũ”, vẫn mong cầu được gặp lại người xưa trong nỗi “ngại ngùng” của thứ tình yêu ban sơ ngọt lịm chưa bao giờ phai dấu.

Nhạc sĩ Văn Cao sau này từng thổ lộ: “Tôi là một cái người luôn luôn thất bại về tình yêu, cái thất bại này là bởi vì tôi là người không giỏi về cách tôi giao lưu với những người đàn bà, mà lại đối với những người đẹp tôi lại càng bối rối, tôi không bao giờ nói được với người ta, thì tôi bèn nói trong thơ thôi”. Nhưng có một điều mà nhạc sĩ Văn Cao có lẽ đã không nghĩ tới. Bởi nếu chỉ giỏi tán tỉnh, giỏi yêu thì thế giới này đã có muôn vạn đàn ông giỏi rồi, nhưng nói được điều đó trong thơ, trong nhạc đẹp tuyệt mỹ được như Văn Cao để rồi chiếm trọn bao trái tim phụ nữ suốt 80 năm qua thì có lẽ duy nhất chỉ có Văn Cao mới làm được.


Mối duyên tình giữa Văn Cao và Hoàng Oanh dù chẳng thể đi đến đâu, dù chưa từng ngỏ lời ngỏ ý vẫn luôn là một giai thoại đẹp, lấp lánh, trinh nguyên trong lòng người hâm mộ qua nhạc phẩm Bến xuân, một nhạc phẩm bất hủ của tân nhạc Việt.

Nhạc phẩm Bến xuân từ khi ra đời được rất nhiều giọng ca nổi tiếng chọn lựa thể hiện, nổi bật nhất phải kể đến tiếng hát của nữ ca sĩ Thái Thanh, Khánh Ly, Hà Thanh,…

Niệm Quân
Nguồn: nhacxua.vn (11/01/2021)



HIẾU CÓ 3 TẦNG THỨ: THÂN HIẾU, TÂM HIẾU VÀ CHÍ HIẾU. BẠN Ở TẦNG THỨ NÀO?

Tỷ phú là Bill Gates, một trong những người giàu nhất thế giới đã từng nói: “Việc không thể chờ đợi nhất chính là thực hiện đạo hiếu”. Trong dân gian cũng lan truyền câu nói rằng: “Việc khiến người ta hối tiếc nhất là: con muốn hiếu mà cha mẹ không còn”.


Thời cổ đại mọi người coi chữ Hiếu vô cùng quan trọng, thường nói: “Trăm cái thiện thì Hiếu đứng trước tiên, vạn điều ác thì dâm đứng đầu” (nguyên văn: Bách thiện hiếu vi tiên, vạn ác dâm vi thủ). Mọi người cũng thường nói: “Hiếu kính người già thì Trời giáng phúc” (nguyên văn: Hiếu kính lão nhân thiên giáng phúc).

Đoạn đầu tiên trong Đệ tử quy – sách dạy luân lý đạo đức cho trẻ em xưa, đã viết như sau:

Phép người con, Thánh nhân dạy.
Hiếu đễ trước, rồi cẩn tín.
Yêu rộng khắp, gần người nhân.
Có dư sức, thì học văn.

Nguyên văn:

Đệ tử quy, Thánh nhân huấn.
Thủ hiếu đễ, thứ cẩn tín.
Phiếm ái chúng, nhi thân nhân.
Hữu dư lực, tắc học văn

Tỷ phú là Bill Gates, một trong những người giàu nhất thế giới đã từng nói: “Việc không thể chờ đợi nhất chính là thực hiện đạo hiếu”.

Trong dân gian cũng lan truyền câu nói rằng: “Việc khiến người ta hối tiếc nhất là: con muốn hiếu mà cha mẹ không còn”.

Thời xưa chữ Hiếu chủ yếu là nói con cái hiếu kính với cha mẹ, con dâu hiếu kính với cha mẹ chồng. Hiện nay thời đại đã thay đổi rồi, có rất nhiều gia đình chỉ có một con trai hoặc một con gái, hoặc 2 con gái, 3 con gái…, thế nên con rể hiếu kính với cha mẹ vợ cũng vô cùng quan trọng. Đặt mình vào vị trí cha mẹ mà suy nghĩ cho cha mẹ, thì dù là vợ chồng trẻ, vợ chồng trung niên hay vợ chồng già, thì hiếu kính với tứ thân phụ mẫu cũng đều quan trọng như nhau.

Hiếu tức là cảm ân, báo ân, báo đáp ân tình cha mẹ mang thai 10 tháng, báo đáp ân tình cha mẹ dưỡng dục mười mấy, thậm chí hai mươi mấy năm. Đồng thời hiếu là trách nhiệm, là nghĩa vụ. Hiếu là đạo lý bất biến của Trời Đất.


Có người nói chữ Hiếu có 3 tầng thứ, thứ nhất là thân hiếu, thứ 2 là tâm hiếu và thứ 3 là chí hiếu:

Thân hiếu là cung phụng nuôi dưỡng cha mẹ không còn khả năng lao động, khiến cha mẹ được ăn no, mặc ấm, có bệnh thì đưa cha mẹ đi khám chữa bệnh, khiến cha mẹ không phải lo về cái ăn cái mặc, vui hưởng tuổi già.

Tâm hiếu chính là trong tâm luôn nghĩ đến cha mẹ, lời nói phải để cha mẹ thuận tai, làm việc phải để cha mẹ thuận mắt, hết thảy đều khiến cha mẹ vừa lòng.

Chí hiếu chính là làm người con có chí hướng lớn lao, khiến cha mẹ tự hào vì con.

Hiếu thân là cơ bản nhất, mỗi người đều nên phải làm được, đều có thể làm được. Có thức ăn cho con cái được thì cũng có thức ăn cho cha mẹ được. Có quần áo cho mình mặc thì cũng nên có quần áo cho cha mẹ.

Hiếu tâm thì phải gắng sức nỗ lực mới làm được, mấu chốt là xem cái tâm của con cái. Ví dụ, cha mẹ không muốn nhìn thấy con cái đem tiền đi chơi bài bạc thì con cái không đi. Cha mẹ không muốn nhìn thấy con cái uống rượu đi xe, say rượu lái xe thì con cái không được làm như vậy. Cha mẹ không muốn trông thấy con cái sinh chuyện thị phi thì con cái phải an phận giữ mình. Có câu nói thế này: “Tấm lòng của các bậc cha mẹ trong thiên hạ thật đáng thương”. Cha mẹ muốn thấy con cái khiêm tốn, cẩn thận, cần kiệm chăm lo việc nhà, hiếu học vươn lên. Con cái làm theo nguyện vọng của cha mẹ thì kết quả nhất định sẽ tốt.

Chí hiếu thì không phải mỗi người ai cũng có thể làm được, vì nó cần các loại nhân tố tác thành. Ví dụ bản thân cần phải có mục tiêu chính xác truy cầu, phải có chí, có đức và có phúc phận, còn phải có thể khắc chế bản thân, không được muốn làm cái gì liền làm cái ấy, mà phải biết nên làm cái gì thì mới làm cái ấy, ở mọi lúc mọi nơi, đều lấy tiêu chuẩn của bậc chính nhân quân tử mà yêu cầu bản thân. Tham lam, lười biếng, khôn ranh khẳng định là không thể thành tài được.


Chúng ta nên ghi nhớ rằng, trên đầu ba thước có Thần linh, mắt Thần như điện, người đang làm Trời đang nhìn. Mình làm gì, bất kể là việc tốt hay việc xấu, thậm chí mỗi từng suy nghĩ, mỗi ý niệm của mình thì ông Trời cũng đều ghi chép lại đầy đủ, không mảy may sai lệch. Hy vọng mỗi người chúng ta đều có thể bước đi tốt trên con đường đời của mình, đều có được tương lai tươi đẹp.

Đương nhiên con người không phải Thánh hiền, vậy nên cũng có lúc sai lầm và mắc lỗi. “Lãng tử hồi đầu kim bất hoán”, đứa con tội lỗi lang bạt biết hối lỗi quay đầu trở về thì rất đáng quý, ngàn vàng cũng không thể đánh đổi được. Biết sai mà có thể sửa thì không cái thiện nào lớn hơn.

Theo: Chánh Kiến
Kiến Thiện biên dịch