Saturday, August 1, 2026

YÊN TĨNH - GIÁNG VÂN


Yên tĩnh - Giáng Vân

Mặt trời trưa đã quá đỉnh đầu
Vách đá chắn ngang điều muốn nói
Em ru gì cho đá núi
Đá núi trụi trần vết tạc của thời gian

Em ru gì cho dòng sông
Dòng sông chẳng khi nào ngừng lặng
Sóng cuộn lên nỗi khát khao vô bờ
Sóng rất biết nơi mình đi và đến

Em ru gì cho anh
Mặt trời linh thiêng mặt trời giông tố
Đã mệt mỏi rồi đã bao nỗi âu lo
Trên gương mặt anh hằn lên nỗi khổ
Khiến câu hát cất lên bỗng tắt nửa chừng

Em yêu anh như yêu cuộc đời cực nhọc
Có tuổi thơ em buồn bã dịu dàng
Sáng lung linh vầng ánh sáng thiên thần
Niềm hạnh phúc muôn đời có thật

Xin đừng trách em nhiều
Cũng xin đừng day dứt
Cây lá có rơi nhiều xin đừng hỏi mùa thu
Lặng nghe anh
Yên tĩnh - lời ru

Giáng Vân

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc thành bài hát Đâu phải bởi mùa thu.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Giáng Vân tên thật là Nguyễn Thị Giáng Vân sinh năm 1959 tại Nghệ An, quê tại Hà Nội, là con gái của nhà thơ, nhà văn Nguyễn Trọng Oánh. Chị tốt nghiệp Khoa Văn tại Đại học Tổng hợp. Công việc chính của chị là nhà báo, gắn bó với các tờ báo Phụ nữ thủ đô, Đời sống gia đình. Ngoài ra, chị làm thơ, vẽ tranh, chị có một phòng tranh trên đường Trần Phú, Hà Nội.

Nguồn: Thi Viện



TRÍ TUỆ LÃO TỬ: 4 ĐẠO LÝ ĐƠN GIẢN PHÂN BIỆT NGƯỜI BÌNH THƯỜNG VÀ "CAO NHÂN"

Trí tuệ của Lão Tử đã được truyền lại qua hàng ngàn năm. Hạnh tâm trong triết học của ông là ‘Đạo’. Ông tin rằng “Đạo” là nguồn gốc của vạn vật trong vũ trụ và là thể hiện của quy luật tự nhiên.

4 đạo lý đơn giản phân biệt người bình thường và ‘cao nhân’ (nguồn: dkn)

Lão Tử cũng nhấn mạnh rằng “Đạo pháp tự nhiên” và chủ trương thuận theo tự nhiên, dùng nước làm ẩn dụ cho Đạo, đồng thời tin rằng vạn vật hình thành đều nhờ vào “Đạo”. Không chỉ vậy, trí tuệ của Lão Tử cũng có những tác dụng gợi ý quan trọng trong đối nhân xử thế.
 
Đạo làm người: Người bình thường nghĩ “phức tạp”, bậc cao nhân nghĩ “đơn giản”

Chương thứ 12 trong ‘Đạo Đức Kinh’ viết: “Ngũ sắc lệnh nhân mục manh; ngũ âm lệnh nhân nhĩ lung, ngũ vị lệnh nhân khẩu sảng; trì sính điền liệp, lệnh nhân tâm phát cuồng; nan đắc chi hóa, lệnh nhân hành phương”.

Ý tứ là, nhiều màu sắc quá sẽ khiến mắt người hoa, nhiều thanh âm quá khiến người nghe không phân biệt được, nhiều vị quá khiến miệng lưỡi tê liệt, rong ruổi đi săn khiến lòng người phát cuồng, bảo vật quý hiếm khiến người ta không từ thủ đoạn để có được. Cho nên, thánh nhân chỉ chọn lấy những thứ cần thiết để sinh tồn mà thôi.

Những lời này chỉ muốn nhắn nhủ con người không nên ham mê hưởng thụ vật chất và sự kích thích các giác quan, mà hãy giữ được nội tâm bình thản và cuộc sống giản dị.

Khi nhìn nhận sâu hơn thì, người đơn giản sẽ ít phải nghĩ ngợi, đối đãi với việc và người cũng chuyên tâm hơn, sẽ không làm cong làm loạn.

Người đơn giản không quan tâm đến đánh giá của người khác mà chỉ làm theo những gì trái tim mách bảo.

Suy nghĩ càng nhiều, tính toán càng nhiều sẽ khiến cho cuộc sống của chính mình càng mệt mỏi hơn. Sống trong xã hội hiện đại ngày càng phức tạp, học được sống đơn giản mới thật sự là cảnh giới cao.

Người đơn giản biết cách kiểm soát sự phức tạp bằng sự đơn giản và duy trì nội tâm yên bình trong một thế giới phức tạp. Hãy là người đơn giản nhất, ăn những món giản dị nhất và thực hành cách sống đơn giản mỗi ngày.

Sống tốt đẹp một cách chân thực chính là biết sống đơn giản bình dị. Ý nghĩa căn bản của cuộc sống thể hiện chính tại lúc uống rượu ngâm thơ ở nơi thôn dã. Điều trọng yếu trong trí tuệ cuộc sống chính là giữ được tâm thuần chân thuần thiện lúc ban đầu.
 
Cách sống trên đời: Người bình thường tỏ ra “mạnh mẽ”, bậc cao nhân thể hiện ra “hiền hòa”

Lão Tử nói: “Thượng thiện nhược thủy”.

Người hiền hòa giống như nước, tuy rằng mềm mại nhưng lại có năng lực bao dung vạn vật.

‘Đạo Đức Kinh’ có viết: “Phu duy bất tranh, cố vô vưu”, người hiền hòa tựa như nước, bề ngoài mềm mại nhưng lại ẩn chứa sức mạnh vô biên.

Để làm được người hiền hòa, khi nói hay làm việc, bạn đều nên chừa ra một lối thoát cho người khác. Trong làm người làm việc đều không để tâm tới những điều vụn vặt, như thế mới để lại ấn tượng tốt trong mắt mọi người. Khi mọi người có ấn tượng tốt rồi thì mới có người tốt tìm đến, nhân duyên mới tốt đẹp, con đường cũng sẽ rộng mở hơn.

Người xưa có câu: “Thương đả xuất đầu điểu”, ý tứ là thương sắc nhọn đánh con chim đầu đàn, vì quá sắc bén mà dễ nhận về tai họa.

“Trì nhi doanh chi, bất như kỳ dĩ; sủy nhi duệ chi, bất khả trường bảo”. Thế mạnh của người tài năng quá nổi bật, trong lời nói và việc làm thường thường không chú ý sẽ rất dễ làm thương tổn người khác, mà kiểu tổn thương này cũng là một cách gây thù chuốc oán.

Dương Tu chỉ vì một câu nói quá sắc bén của mình mà bị giết. Việc kiềm chế được lời nói và hành động sẽ khiến người đó trở nên điềm tĩnh và rộng lượng.

Hãy là người hiền hòa, quản thật tốt cái miệng của mình, giữ một thái độ khiêm tốn cùng với tấm lòng bao dung.

Tất nhiên, hiền hòa không phải là một sự thỏa hiệp vô nguyên tắc.

Lão Tử giảng: “Vạn vật dung nạp âm, bao dung dương, giúp cho vận khí hài hòa”. Còn nói “Vô vi nhi vô bất vi” (không làm cũng chính là đang làm rồi). Tức là thuận theo quy luật tự nhiên, không bắt buộc, không chấp nhất, tuân thủ nguyên tắc đúng sai rõ ràng, không trở thành cỏ đầu tường, sớm ba chiều bốn. 

Trí tuệ của Lão Tử đã được truyền lại qua hàng ngàn năm.

Phương pháp dưỡng sinh: Người bình thường chọn “kiêng kỵ”, bậc cao nhân chọn “tự nhiên”

Tư Mã Thiên nói về Lão Tử: “Ước chừng Lão Tử có hơn 160 tuổi hoặc hơn 200 tuổi, dựa vào tu đạo mà dưỡng thọ mệnh”.

Là sử gia của hoàng tộc nhà Chu, Lão Tử hiểu rõ đạo dưỡng sinh, cũng đặc biệt có được trí tuệ chăm sóc sức khỏe.

Ngày nay, mọi người ngày càng “có ý thức” hơn trong việc dưỡng sinh cũng như chăm sóc sức khỏe thế nào cho tốt. Thế nhưng họ lại bắt đầu ăn kiêng, không ăn lòng đỏ trứng, không ăn nội tạng động vật, mỗi khi ăn vào đều nơm nớp lo sợ, như đi trên lớp băng mỏng, vô cùng lúng túng, khiến người nhìn thấy cũng bật cười.

Đạo Đức Kinh giảng: “Trí hư cực, thủ tĩnh đốc, vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan phục. Phu vật vân vân, các quy kỳ căn. Quy căn viết tĩnh, tĩnh viết phục mệnh”. Tạm dịch: Hư không cùng cực, hết sức yên tĩnh. Vạn vật đua sống, ta nhân đó xem chúng trở về (nguồn). Vạn vật trùng trùng đều trở về cội. Trở về cội rễ là tĩnh; tĩnh là phục mệnh; phục mệnh tức là trường cửu.

Trong thế giới quan của Lão Tử, mấu chốt của dinh dưỡng là nuôi dưỡng tinh thần.

Giữ được nội tâm thản đãng bình hòa mới là cách dưỡng sinh trọng yếu nhất.

Người hiện đại vì dưỡng sinh mà gạch ra rất nhiều đầu dòng ghi lại điều cấm kỵ, như vậy thì tâm thái của bản thân đã thua ngay từ lúc bắt đầu rồi.

Lão Tử nói: “Người thuận theo đất, đất thuận theo trời, trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên”.

Liệu pháp dưỡng sinh thật sự chính là con người chỉ cần thuận theo thiên đạo tự nhiên, không bị trạng thái tâm lý bó buộc, không cần cố gắng uống thuốc bồi bổ hay luyện tập. Hãy làm những việc bản thân thấy cần làm, chớ lo lắng sợ hãi.

Dưỡng sinh thích hợp, thuận theo tự nhiên mới là cách chăm sóc sức khỏe tốt nhất.
 
Thuật hoạch định: Người bình thường muốn “đạt được”, bậc cao nhân muốn “xả bỏ”

Nếu bạn muốn làm được những điều vĩ đại, bạn phải có khả năng tập hợp mọi người.

Nếu bạn có thể tập hợp mọi người, bạn phải có khả năng quản lý họ.

Một nhà lãnh đạo giỏi, một doanh nhân giỏi và thậm chí là một bậc cha mẹ giỏi cũng phải biết đạo của quản lý.

Thế nào mới là quản lý tốt?

Lão Tử nói: “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật”.

“Đạo” của vạn vật bắt nguồn từ hợp chất giản đơn biến thành hợp chất phức tạp, từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp.

Kiểu “sinh ra vạn vật” này là một loại bản tính, sinh trưởng và phát triển một cách tự nhiên cũng là bản tính của vạn vật.

Dù là quản lý quốc gia, quản lý gia đình hay giáo dục trẻ em, bản chất phát triển này đều cần được giải phóng.

Vì vậy, trong quản lý hay điều hành đất nước, doanh nghiệp, nếu để bản tính này được giải phóng thì đó sẽ là thành công lớn nhất. Việc giáo dục trẻ em cũng vậy.

Các nhà giáo dục phương Tây nói: Giáo dục là sự phát triển. Một nền giáo dục tốt không thể thắt chặt một cách mù quáng mà phải được thả lỏng một cách hợp lý, xả bỏ những cưỡng ép thái quá.

Hãy để đứa trẻ tìm ra lĩnh vực phù hợp cho riêng chúng. Đừng đặt ra quá nhiều hạn chế cho sự phát triển và để trẻ tự do phát triển theo bản chất của mình. Đây mới là một nền giáo dục tốt.

An Nhiên / Theo: ĐKN

KHÔNG LO PHẢI CHỊU THIỆT THÒI, HỌC NGAY 3 CHIÊU NÀY

Đối với việc quan sát biểu cảm và lời nói khi giao tiếp, có rất nhiều người đều không hiểu phương pháp và kỹ thuật trong đó, dẫn tới việc luôn khiến bản thân mất mặt mũi. Hôm nay, tôi sẽ chia sẻ với các bạn một vài kỹ thuật quan sát lời nói và biểu cảm, để các bạn không còn phải chịu thiệt thòi từ chính sự chất phác của mình nữa


Biết rằng chất phác là một đức tính tốt, chúng ta chẳng cần bỏ nó đi, nhưng bảo tồn cái đẹp đồng nghĩa với việc đừng để nó bị thương tổn bởi tác nhân bên ngoài. Do đó, bạn có thể chất phác, nhưng đừng để sự chất phác của mình bị lợi dụng hay thao túng, thậm chí là bị ngoại cảnh làm cho biến chất.

Bây giờ chúng ta sẽ cùng điểm qua các phương pháp và kỹ thuật nhìn quan sát biểu cảm và lời nói nhé. Xem xem liệu nó có phù hợp để cho bạn ứng dụng hay không!

1. Im lặng, lấy bất biến ứng vạn biến mới chính là cao thủ

Nếu bạn cảm thấy bản thân có phần hơi trì trệ, não bộ phản ứng không linh hoạt thì hãy giữ nguyên bản sắc cá nhân của mình và học cách lấy im lặng để ứng phó, cái này gọi là “binh đến tướng ngăn, nước đến đất đỡ”. Có thể bạn sẽ cảm thấy phương pháp này quá cũ rồi, nhưng vì nó cũ và được nhiều người sử dụng cho nên nó mới là phương pháp hữu dụng và thực dụng nhất. Phương pháp này phù hợp với những người thực sự không muốn thay đổi bản thân và chọn sẽ giữ lại bản chất chất phác của mình trong suốt cuộc đời của họ, dù người khác làm tổn hại đến lợi ích của họ, họ cũng sẽ không lấy oán báo oán, người khác toan tính trăm mưu ngàn kế, họ chỉ cần dùng 1 chiêu cũ kỹ như thế này để đối phó. Nhưng ông bà ta cũng thường nói “người ngốc có cái phúc của kẻ ngốc”, dù sao thì chỉ cần chúng ta sống không thẹn với trời đất, lương tâm là được, người khác họ tốt hay xấu, hãy để cho luật nhân quả lo liệu.


2. Ra tay trước lấy thế chủ động, khiến cho đối phương cam tâm tình nguyện phục bạn

Đây gọi là đến trước làm chủ, đến sau thì làm khách. Thực tế, việc tiếp xúc qua lại giữa người và người với nhau đều cần một quá trình. Khi vừa mới bắt đầu mối quan hệ, cách duy nhất để bản thân không bị rơi vào thế bị động là khi nói hãy chỉ nói về những thứ mà mình có và mình biết, khi bàn công việc hãy chỉ bàn về những thứ mà mình đang hoặc có khả năng làm được, chứ đừng quá “chém gió”, khoe khoang. Chúng ta hãy thể hiện sự chân thành của mình ra để cho người khác cảm thấy rằng bạn đang rất thành tâm thành ý muốn kết bạn, chứ không phải là hời hợt xã giao qua đường. Bằng cách này, nó sẽ tạo cho người khác một áp lực vô hình ở trong lòng, nếu bạn có thể tự bồi dưỡng cho bản thân thói quen này, thì bạn chắc chắn sẽ có thể nhanh chóng học được cách nhìn thấu phản ứng của người khác, từ đó hiểu rõ tính cách và nhân phẩm của họ.


3. Phản ứng song song, dựa theo hành động của đối phương mà nghĩ ra cách ứng đối hợp lý

Có nghĩa là, chúng ta nên giữ bình tĩnh, làm chủ phản ứng của mình, tùy vào từng hành động của đối phương mà thay đổi, biến hóa linh hoạt nhưng không gấp rút. Lúc mới bắt đầu, bạn có thể yên lặng, nhưng khi đến khúc cuối nhất định phải bày tỏ thái độ và quan điểm của bản thân, đừng mãi thụ động lắng nghe rồi gật gù một cách qua loa, vì nếu như vậy, người khác sẽ bắt được cái tâm lý của bạn, lấy nó làm điểm yếu để đàn áp và thao túng bạn qua lời nói. Phương pháp này mới chính là ý nghĩa thực thụ của kỹ năng quan sát ngôn từ và biểu cảm. Cho nên, khi bạn học được phương pháp này rồi, bạn sẽ có thể nắm rõ tấm bản đồ nhân tâm của người khác, từ đó sẽ không còn phải chịu thiệt thòi hay bị đàn áp trong giao tiếp của các mối quan hệ nữa.

Suy cho cùng, trong các mối quan hệ giữa người và người, nếu họ đã không thật lòng đối đãi thì chúng ta cũng không cần cố giữ hay làm hài lòng bất kỳ ai. Điều quan trọng nhất vẫn là hãy cứ làm chính mình, đừng buộc bản thân phải thay đổi vì bất kỳ ngoại tố nào nếu bạn không muốn. Vì Trái Đất rộng lớn như vậy, chắc chắn sẽ có người hiểu và trân trọng sự chất phác của bạn.

Trần Anh–Theo: Doanh nghiệp và Tiếp thị

Friday, July 31, 2026

CÂU HỎI TRANH CÃI MUÔN ĐỜI CỦA NGƯỜI MÊ VÕ HIỆP: KIM DUNG VÀ CỔ LONG, AI HƠN AI?

Bất kỳ ai từng lạc bước vào thế giới giang hồ của tiểu thuyết võ hiệp đều đối diện với câu hỏi: Kim Dung hay Cổ Long, người nào tạo ra những dấu ấn sâu sắc hơn?


Kim Dung và Cổ Long, ai hơn ai?

Kim Dung và Cổ long, ai hơn ai? Câu hỏi không hẳn để phân cao thấp, mà là cách người đọc tự xác định căn tính thẩm mỹ, lựa chọn thế giới giang hồ mà mình thuộc về. Thực tế, cả hai đều là những cột trụ đã định hình hai hướng đi rất khác biệt trong dòng chảy văn học võ hiệp đương đại.

Việc so sánh họ, xét cho cùng, cũng giống như đứng giữa hai đỉnh núi và cố gắng quyết định xem ngọn nào cao hơn khi mỗi đỉnh lại mở ra một chân trời khác biệt.

Kim Dung: Người xây đại lộ chính đạo của võ hiệp

Tên thật là Tra Lương Dung, Kim Dung không chỉ là một nhà văn, ông còn là một học giả uyên bác, một biên tập viên sắc sảo, và một nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn trong đời sống văn hóa Hồng Kông thế kỷ 20. Từ năm 1955 đến 1972, ông viết 15 bộ tiểu thuyết võ hiệp, không nhiều về số lượng, nhưng gần như tác phẩm nào cũng trở thành kinh điển.


Anh hùng xạ điêu khắc họa một Quách Tĩnh thật thà, chậm chạp, nhưng kiên định và nghĩa khí, một biểu tượng hoàn hảo cho mẫu người quân tử truyền thống. Ỷ thiên đồ long ký đưa người đọc vào một mê cung chính tà khó phân, nơi Trương Vô Kỵ không chỉ là người luyện được Cửu dương thần công, mà còn là nhân vật đại diện cho sự lưỡng lự giữa đạo nghĩa và tình cảm cá nhân.

Tiếu ngạo giang hồ lại cho thấy một thế giới đầy phản trắc, nơi Lệnh Hồ Xung phiêu bạt như một kẻ bị ruồng bỏ giữa giang hồ, mang theo tư tưởng tự do và phản kháng, vượt khỏi ràng buộc của quyền lực và giáo điều.


Kim Dung không đơn thuần kể chuyện võ hiệp. Ông tạo dựng nên một thế giới có cấu trúc chặt chẽ, từ hệ thống môn phái như Võ Đang, Thiếu Lâm, Cái Bang, Nga Mi, đến các bí kíp võ công lừng danh như Cửu âm chân kinh, Độc cô cửu kiếm, Bắc minh thần công.

Ông kết nối các câu chuyện trong một dòng thời gian xuyên suốt, đặt nhân vật trong những hoàn cảnh gắn liền với các sự kiện lịch sử như cuộc kháng Kim, kháng Mông, sự sụp đổ của triều Tống hay cuộc tranh chấp giữa Minh giáo và triều đình nhà Nguyên.


Về mặt thành tựu, Kim Dung là nhà văn võ hiệp duy nhất được giới học thuật chính thức công nhận như một nhà văn lớn. Năm 2000, Đại học Cambridge mời ông làm tiến sĩ danh dự ngành văn học. Nhiều trường đại học tại Trung Quốc và nước ngoài có hẳn các chương trình nghiên cứu về tác phẩm của ông.

Cổ Long: Kẻ du hành trong bóng tối của giang hồ

Cổ Long, tên thật là Hùng Diệu Hoa, xuất hiện sau Kim Dung nhưng sớm khẳng định một lối đi riêng biệt. Nếu Kim Dung là người xây dựng một thế giới võ hiệp có trật tự, thì Cổ Long lại là người bóc tách các lớp mặt nạ trong giang hồ ấy, đưa người đọc vào thế giới của những cá nhân đơn độc, suy tư và đầy mâu thuẫn.


Trong Đa tình kiếm khách, vô tình kiếm, Lý Tầm Hoan là một hình mẫu điển hình của thế giới Cổ Long: một cao thủ phi đao chính xác tuyệt đối, đa tình, cô độc, thấu hiểu nhân sinh đến nỗi chỉ biết chọn cách sống xa lánh nó.

Trong Sở Lưu Hương, vị đạo tặc phong lưu chưa từng giết ai nhưng lại sống trong thế giới đầy sát khí, nơi kẻ mạnh không phải người có võ công cao nhất mà là kẻ có tâm cơ sâu nhất. Còn Lục Tiểu Phụng, với bộ râu kỳ quái và thói quen nhậu nhẹt, lại là kẻ thông minh nhất giang hồ, dùng đầu óc để phá án, để giải mã giang hồ như một ván cờ đầy lừa lọc.


Cổ Long không miêu tả võ công theo cách chi tiết như Kim Dung. Ông dùng ẩn dụ, nhịp văn ngắn gọn, đôi khi chỉ một câu cũng đủ giết chết một nhân vật. Cách ông viết thường giống một vở kịch hiện đại hơn là tiểu thuyết truyền thống. Độc giả của ông thường là những người thích suy nghĩ, thích chiêm nghiệm và bị hút vào cái đẹp lạnh lùng của cô đơn.

Dù ra đi sớm ở tuổi 48, Cổ Long để lại hơn 70 tác phẩm, trong đó nhiều tác phẩm được dựng thành phim, truyền hình, truyện tranh và game. Sự ảnh hưởng của ông sâu đậm đến mức nhiều nhà văn sau này như Ôn Thụy An, Hoàng Dị đều thừa nhận chịu ảnh hưởng từ văn phong và tinh thần của Cổ Long.


Hai đỉnh núi không cần phải đối đầu

Kim Dung là người thầy, dạy người ta sống ngay thẳng, trượng nghĩa, lấy đại nghĩa làm đầu. Cổ Long là kẻ lang bạt, dạy người ta đối diện với bản ngã, với nỗi buồn, với những gì không thể gọi tên trong thế giới nội tâm. Nếu nhân vật của Kim Dung sống để cứu người, thì nhân vật của Cổ Long sống để hiểu chính mình. Nếu Kim Dung đặt võ hiệp trong khung cảnh rộng lớn của lịch sử và đạo lý, thì Cổ Long để võ hiệp trôi nổi giữa dòng đời hiện sinh, ngắn ngủi và mơ hồ.

Không có ai hơn ai. Chỉ có người tìm thấy mình trong Quách Tĩnh, và người khác lại thấy bóng mình trong Lý Tầm Hoan.


Võ hiệp là vùng đất đủ rộng cho những cá tính riêng biệt

Sự tồn tại song song của Kim Dung và Cổ Long không phải để cạnh tranh mà để bổ sung cho nhau. Họ cho thấy rằng võ hiệp không chỉ là kiếm và máu, mà là một cách nhìn cuộc đời. Một người nhìn qua lăng kính của đạo nghĩa, trật tự. Người kia nhìn qua lăng kính của cô độc, hoài nghi. Mỗi cách nhìn đều mở ra một lối đi, một chân dung khác của anh hùng.

Cho nên thay vì hỏi Kim Dung hay Cổ Long ai hơn, hãy hỏi: Hôm nay tâm hồn bạn cần điều gì? Nếu cần một bài học sống, đọc Kim Dung. Nếu cần một khoảng lặng để đối thoại với bản thân, hãy tìm đến Cổ Long.

Bởi võ hiệp không chỉ là một thể loại văn học. Đó là một chốn để quay về, khi cuộc sống ngoài kia quá ồn ào.

Hạnh Phúc / Theo: Theo Thanh Niên Việt

TƯƠNG TƯ - NGUYÊN SA


Tương tư
thơ Nguyên Sa

Tôi đã gặp em từ bao giờ
Kể từ nguyệt bạch xuống đêm khuya
Kể từ gió thổi trong vừng tóc
Hay lúc thu về cánh nhạn kia?

Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?

Có phải mùa xuân sắp sửa về
Hay là gió lạnh lúc đêm khuya
Hay là em chọn sai màu áo
Để nắng thu vàng giữa lối đi?

Có phải rằng tôi chưa được quen
Làm sao buổi sáng đợi chờ em
Hay từng hơi thở là âm nhạc
Đàn xuống cung trầm, mắt nhớ thương

Buổi tối tôi ngồi nghe sao khuya
Đi về bằng những ngón chân thưa
Và nghe em ghé vào giấc mộng
Vành nón nghiêng buồn trong gió đưa

Tôi không biết rằng lạ hay quen
Chỉ biết em mang theo nghê thường
Cho nên cặp mắt mờ hư ảo
Cả bốn chân trời chỉ có em

NGUYÊN SA

Bài thơ này được nhạc sĩ Đinh Sinh Long phổ nhạc thành bài hát cùng tên.


Sơ Lược tiểu sử tác giả:

Nguyên Sa (1/3/1932 - 18/4/1998) tên thật là Trần Bích Lan, còn có bút danh Hư Trúc. Ông là một nhà thơ lãng mạn Việt Nam nổi tiếng từ thập niên 1950, với những tác phẩm nổi danh như Áo lụa Hà Đông, Paris có gì lạ không em, Tuổi mười ba, Tháng sáu trời mưa, v.v...

Tổ tiên Nguyên Sa gốc ở Thuận Hoá (Huế), ông cố ông là Thượng thư Trần Trạm, giữ chức Hiệp tá Đại học sĩ trong triều đình thời Tự Đức, đến đời ông nội mới ra Hà Nội. Sau khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, gia đình ông tản cư đi Hà Đông. Tại đây, ông bị Việt Minh bắt giam khi mới 15 tuổi. Hồi cư về Hà Nội, gia đình cho ông qua Pháp du học vào năm 1949. Năm 1953, ông đậu tú tài ở Pháp, lên Paris ghi danh học triết tại Đại học Sorbonne. Nhiều bài thơ nổi tiếng của ông được sáng tác trong thời gian này. Năm 1955, ông lập gia đình với bà Trịnh Thuý Nga ở Paris. Đầu năm 1956, hai ông bà về nước. Năm 1975, ông di tản đi Pháp. Ba năm sau, ông và gia đình qua Hoa Kỳ và ở California từ đó cho tới ngày qua đời.

Nguồn: Thi Viện



THẾ NHÂN NHIỀU GIAN TRÁ, LÀM SAO ĐỂ KHÔNG CÓ KẺ THÙ?

Lời ăn tiếng nói là vấn đề sống còn của mỗi cá nhân, kẻ bại người thành cũng là nhờ vào đó. Đôi khi chỉ vì vụng về giao tiếp, hiểu lầm lẫn nhau mà gây nên những bi kịch không đáng có...

Học được cách bình tĩnh chính là học được cách khống chế tâm thái của mình. (Ảnh: Pixabay)

Cổ ngữ có câu: 'Vàng thì thử lửa thử than; chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời'... nhân sinh như mộng, nhưng đời người lại là chuỗi dài những thử thách gian truân. Trong dòng chảy cuồn cuộn của thế nhân ấy, giao tiếp là nhu cầu tất yếu của mỗi con người...

Có câu chuyện kể rằng, một hôm giữa sư tử và hổ phát sinh mâu thuẫn, cả hai cùng quyết chiến với nhau. Sau một hồi giao tranh quyết liệt, hai con cùng bị trọng thương. Trong lúc thoi thóp sư tử mới nói với hổ rằng: “Giá mà anh không cướp mất địa bàn của tôi thì hai chúng ta đâu phải xảy ra cơ sự như thế này”. Hổ nghe xong tỏ ý kinh ngạc nói: “Tôi trước nay chưa hề có ý định muốn tranh đoạt địa phận của anh. Tôi cứ nghĩ anh muốn cướp lấy địa bàn của tôi nên mới hành động”.

Tôi cứ nghĩ anh muốn cướp lấy địa bàn của tôi nên mới hành động. (Ảnh: Pixabay)

Vậy mới thấy, làm người đối nhân xử thế thì việc thấu hiểu lẫn nhau quan trọng nhường nào. Làm cách nào để có thể thấu hiểu nhau nhất có thể? Khi nóng giận thì phải làm sao để hạ bớt cơn oán giận xuống? Có lẽ chỉ có hoà hoãn mới là cách tốt nhất.

Khi bản thân nóng giận, chúng ta không làm chủ được chính mình thì sự việc bị biến tướng là điều không thể tránh khỏi. Dẫu hai người có tình cảm tốt đến đâu nhưng không có sự giao tiếp đúng mực thì đôi lúc nói nhiều chỉ trở nên vô nghĩa. Miệng thì nói là liễu giải lẫn nhau nhưng tính khí thì ngược lại, ai cũng muốn mình đúng, ai cũng muốn mình hơn, vậy đây là nói chuyện hay là cãi nhau?

Khi hai người giao tiếp với nhau thì 70% là tình cảm, 30% mới là nội dung. Người khác nhau có cách nghĩ khác nhau, ở cùng nhau có chỗ hiểu lầm, đó là điều khó tránh. Vậy nên khi sự việc có chỗ sai lệch thì cần nói rõ, có như vậy mới tránh khỏi cảnh cùng thuyền mà khác hướng.

Tai khác nhau thì cách nghe cũng khác nhau. Làm người khi gặp việc khó khăn, xung đột thì không nên tức giận, có tranh chấp cũng đừng nên manh động. Có những lúc trong giao tiếp nghe nhiều tốt hơn là nói nhiều. Con người ta mất 3 năm để học nói nhưng mất cả đời để học im lặng cũng là lý do đó. Bậc cao nhân trước khi tức giận thì thường hỏi chính mình:

– Việc này có đáng để tức giận không?

– Tức giận và không tức giận thì kết quả sẽ khác nhau như thế nào?

– Tức giận rồi vấn đề giải quyết có tốt hơn không?

Sau khi tìm được cho mình đáp án rồi mới có thái độ phản hồi, vạn sự trên đời này có sinh ắt có diệt, có sự việc phát sinh thì sẽ có cách giải quyết.

Vạn sự trên đời này có sinh ắt có diệt, có sự việc phát sinh thì sẽ có cách giải quyết. (Ảnh: FB Hoạ sỹ Bùi Hải)

Ngoài đó ra thì, thái độ hoà ái chính là tiền đề để thấu hiểu và liễu giải lẫn nhau. Một khi chưa thể có được tâm bình, khí hòa thì không nên nói chuyện với người khác. Thái độ không chân thành, lời nói ra cũng chẳng thể có thành ý, chỉ khiến cho người khác vốn đã không vừa ý lại càng thêm bất bình. Trên đời này có biết bao nhiêu người chỉ vì ứng xử không tốt mà tình cảm mỗi ngày mỗi xa. Hậu quả, khi một người không hiểu được giá trị của việc giao tiếp đó chính là chia cắt.

Khống chế được thái độ bản thân, ấy chính là người làm chủ; bị thái độ khống chế, ấy lại là người bị dắt mũi. Học được cách bình tĩnh chính là học được cách khống chế tâm thái của mình, tâm thái bản thân được khống chế vậy thì còn gì có thể cản trở bạn thành công?

Hãy nhớ, người chịu được tính khí của bạn chính là người yêu bạn. Người trị được tính khí của bạn lại cũng chính là người yêu bạn. Vậy nên đừng để những người yêu thương mình bị tổn thương.

Minh Vũ / Theo: ntdtv

TRƯƠNG HỌC LƯƠNG QUA ĐỜI, TỐNG MỸ LINH Ở TUỔI 104 GỬI TỚI 4 CHỮ GÌ KHIẾN AI XEM CŨNG XÚC ĐỘNG?

Tháng 10/2001, khi Trương Học Lương qua đời, Tống Mỹ Linh không thể đến dự tang lễ vì sức khỏe quá yếu. Bà chỉ gửi một vòng hoa. Điều đặc biệt là người ký tên không phải "Tống Mỹ Linh", mà là "Tưởng Tống Mỹ Linh".


Trương Học Lương qua đời, Tống Mỹ Linh ở tuổi 104 gửi tới 4 chữ gì khiến ai xem cũng xúc động?

Ngày 14/10/2001, tại Honolulu (Hawaii, Mỹ), Trương Học Lương – vị "Thiếu soái" lừng danh của Trung Quốc – trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 101. Khép lại cuộc đời hơn một thế kỷ, ông cũng kết thúc một chương lịch sử đầy bi kịch, gắn liền với biến cố Tây An và hơn nửa đời người sống trong cảnh bị giam lỏng.

Khi tin ông qua đời được truyền đến New York, có một cụ bà đã ngoài 104 tuổi lặng người. Tuổi cao, sức yếu khiến bà không thể đến tiễn biệt người bạn cũ lần cuối. Thay vào đó, bà nhờ người mang đến một vòng hoa.

Điều khiến tất cả những người có mặt xúc động không phải là vòng hoa ấy, mà là dòng chữ ký trên đó.

Không có điếu văn dài dòng, cũng chẳng có những lời ca ngợi hoa mỹ. Chỉ vỏn vẹn bốn chữ: "Tưởng Tống Mỹ Linh".

Bốn chữ ngắn ngủi ấy khiến không ít người rơi nước mắt, bởi ai cũng hiểu rằng, phía sau đó là một mối giao tình kéo dài hơn bảy thập kỷ, là câu chuyện về sự bảo vệ, lòng biết ơn và những bí mật chưa bao giờ được nói hết giữa Tống Mỹ Linh và Trương Học Lương.

Để hiểu vì sao chỉ bốn chữ ấy lại có sức nặng đến vậy, phải quay ngược thời gian về năm 1925.

Khi ấy, Trương Học Lương còn là vị thiếu soái trẻ tuổi của Đông Bắc quân. Trong một lần đưa quân đến Thượng Hải, ông quen biết Tống Mỹ Linh tại một buổi giao lưu của giới thượng lưu.

Vợ chồng Tưởng Giới Thạch - Tống Mỹ Linh.

Hai người nhanh chóng tìm được tiếng nói chung. Sau đó, họ thường xuyên gặp gỡ trong các buổi dạ tiệc, những sự kiện xã hội và nhiều cuộc trao đổi riêng.

Lúc đó, Trương Học Lương đã có vợ là Vu Phượng Chí, một tiểu thư danh giá xuất thân trong gia đình quyền quý. Vì vậy, giữa ông và Tống Mỹ Linh gần như không tồn tại mối quan hệ tình cảm theo nghĩa nam nữ.

Điều gắn kết họ là sự đồng điệu về tư tưởng.

Tống Mỹ Linh khâm phục sự thẳng thắn, trọng nghĩa khí của Trương Học Lương, trong khi vị Thiếu soái lại đánh giá rất cao tầm nhìn, sự quyết đoán và trí tuệ của người phụ nữ sau này trở thành Đệ nhất phu nhân Trung Hoa Dân quốc.

Không ai ngờ rằng, chính tình bạn ấy sau này lại trở thành chiếc phao cứu mạng của Trương Học Lương.

Ngày 12/12/1936, lịch sử Trung Quốc bước sang một khúc quanh quan trọng khi xảy ra Sự biến Tây An.

Trương Học Lương cùng Dương Hổ Thành bất ngờ bắt giữ Tưởng Giới Thạch, buộc ông phải chấm dứt nội chiến với Đảng Cộng sản và tập trung chống lại quân Nhật đang xâm lược.

Từ góc nhìn của nhiều nhà sử học, đây là hành động đặt lợi ích dân tộc lên trên mâu thuẫn chính trị.

Nhưng đối với Tưởng Giới Thạch, việc bị chính cấp dưới dùng vũ lực ép ký thỏa thuận là nỗi nhục không dễ gì xóa bỏ.

Sau khi sự biến được giải quyết bằng con đường hòa bình, Trương Học Lương chủ động hộ tống Tưởng Giới Thạch trở về Nam Kinh. Ông tin rằng việc tự nguyện nhận trách nhiệm sẽ giúp mọi chuyện khép lại.

Thế nhưng, ngay khi máy bay hạ cánh, Trương Học Lương lập tức bị bắt giữ.

Đó cũng là ngày ông đánh mất tự do trong suốt 54 năm tiếp theo.

Số phận của người đồng hành với ông còn bi thảm hơn.

Dương Hổ Thành bị chuyển từ nơi giam giữ này sang nơi khác suốt nhiều năm. Đến ngày 6/9/1949, ngay trước thời điểm Trùng Khánh được giải phóng, ông cùng nhiều thành viên trong gia đình bị đặc vụ Quốc dân đảng bí mật sát hại.

Cùng tham gia phát động Sự biến Tây An, nhưng một người chết cùng cả gia đình, còn một người sống đến tuổi 101.

Điều gì tạo nên sự khác biệt ấy?

Theo nhiều giai thoại được lưu truyền, câu trả lời nằm ở Tống Mỹ Linh.

Sau khi trở về Nam Kinh, Tưởng Giới Thạch từng nhiều lần bày tỏ ý định xử tử Trương Học Lương để răn đe những người khác.

Trương Học Lương.

Tòa án quân sự tuyên án ông 10 năm tù, nhưng trong nội bộ, vẫn xuất hiện những ý kiến muốn loại bỏ hoàn toàn vị Thiếu soái.

Khi nghe được thông tin này, Tống Mỹ Linh được cho là đã lập tức đứng ra can thiệp.

Nhiều tư liệu và lời kể về sau cho rằng bà không chỉ khuyên nhủ, mà còn tranh cãi gay gắt với chồng. Có nguồn còn ghi lại rằng bà từng đưa ra lời cảnh báo vô cùng cứng rắn, đại ý rằng nếu Trương Học Lương bị hãm hại, bà sẽ công khai những bí mật mà Tưởng Giới Thạch không muốn ai biết.

Dù tính xác thực của chi tiết này vẫn còn gây tranh luận trong giới nghiên cứu, nhưng điều mà nhiều người thừa nhận là Tống Mỹ Linh đã nhiều lần đứng ra xin giảm nhẹ hình phạt cho Trương Học Lương.

Bà thuyết phục, phản đối, thậm chí dùng chính ảnh hưởng của mình để khiến Tưởng Giới Thạch thay đổi quyết định.

Cuối cùng, Trương Học Lương không bị xử tử.

Nhưng ông cũng không bao giờ được trả tự do.

Từ năm 1936 đến năm 1990, suốt 54 năm, cuộc sống của Trương Học Lương chỉ gói gọn trong những khu biệt thự được canh gác nghiêm ngặt.

Ông lần lượt bị đưa đến nhiều nơi khác nhau, từ Trung Quốc đại lục sang Đài Loan, từ Tân Trúc đến Đài Bắc. Dù điều kiện sinh hoạt không quá khắc nghiệt, ông vẫn không được quyền đi lại hay quyết định số phận của mình.

Đó là cuộc sống của một người còn sống nhưng không có tự do.

Chính Trương Học Lương cũng hiểu rất rõ ai là người đã giúp mình giữ được mạng sống.

Trong một cuộc phỏng vấn lúc cuối đời, ông từng nói:

"Chỉ cần phu nhân của Tưởng tiên sinh còn sống một ngày, tôi cũng sẽ còn sống một ngày”.

Một câu nói ngắn gọn nhưng chứa đựng biết bao cảm xúc.

Ông hiểu rằng, người giữ mình ở lại với thế gian không phải là lòng khoan dung của Tưởng Giới Thạch, mà là sự che chở bền bỉ của Tống Mỹ Linh.

Đến năm 1990, sau hơn nửa thế kỷ, Trương Học Lương cuối cùng cũng được khôi phục quyền tự do.

Khi ấy ông đã 90 tuổi.

Tống Mỹ Linh cũng đã bước sang tuổi 93.

Dù đều ở bên kia sườn dốc cuộc đời, tình bạn của họ vẫn chưa bao giờ chấm dứt.

Trương Học Lương chuyển đến định cư tại Hawaii, còn Tống Mỹ Linh sống những năm cuối đời ở New York.

Khoảng cách hàng nghìn cây số không làm mất đi sự gắn bó giữa hai người. Họ vẫn thỉnh thoảng gọi điện hỏi thăm nhau, gửi lời chúc vào các dịp lễ tết và luôn dành cho đối phương sự trân trọng đặc biệt.

Vợ chồng Trương Học Lương khi về già.

Tháng 10/2001, khi Trương Học Lương qua đời, Tống Mỹ Linh không thể đến dự tang lễ vì sức khỏe quá yếu.

Bà chỉ gửi một vòng hoa.

Điều đặc biệt là người ký tên không phải "Tống Mỹ Linh", mà là "Tưởng Tống Mỹ Linh".

Cách ký này mang nhiều tầng ý nghĩa.

Một mặt, bà xuất hiện với tư cách thành viên của gia đình họ Tưởng.

Mặt khác, đối với những người hiểu rõ câu chuyện kéo dài hàng chục năm giữa bà và Trương Học Lương, bốn chữ ấy còn là lời tiễn biệt cuối cùng dành cho người bạn đã đồng hành với mình qua gần trọn thế kỷ đầy biến động.

Ngày 24/10/2003, Tống Mỹ Linh qua đời tại New York, hưởng thọ 106 tuổi.

Bà sống lâu hơn Trương Học Lương đúng hai năm.

Nhìn lại chặng đường từ lần gặp đầu tiên ở Thượng Hải năm 1925 đến vòng hoa lặng lẽ năm 2001, mối giao tình giữa họ đã kéo dài suốt 76 năm.

Lịch sử luôn ghi nhớ Sự biến Tây An như một bước ngoặt quan trọng của Trung Quốc hiện đại. Nhưng phía sau những quyết định chính trị ấy còn là những số phận đầy bi kịch.

Dương Hổ Thành mất mạng cùng gia đình.

Trương Học Lương mất hơn nửa thế kỷ tự do.

Một người không thể sống tiếp, một người sống rất lâu nhưng trong cảnh bị giam cầm.

Đối với nhiều người, sự khác biệt ấy không chỉ đến từ quyết định của Tưởng Giới Thạch, mà còn gắn liền với sự can thiệp bền bỉ của Tống Mỹ Linh. Dù một số chi tiết trong câu chuyện vẫn mang màu sắc giai thoại và chưa được các tài liệu lịch sử xác nhận tuyệt đối, hình ảnh bà nhiều lần đứng ra bảo vệ Trương Học Lương đã trở thành phần không thể tách rời trong những câu chuyện xoay quanh biến cố Tây An.

Có lẽ vì vậy mà đến tận cuối đời, Trương Học Lương vẫn luôn nhắc đến "Tưởng phu nhân" với sự biết ơn đặc biệt.

Còn vòng hoa chỉ mang bốn chữ "Tưởng Tống Mỹ Linh" cũng trở thành dấu chấm lặng lẽ nhưng đầy ám ảnh cho một mối giao tình hiếm có giữa những nhân vật từng đứng giữa cơn bão của lịch sử.

Minh Tuấn / Theo: Dân Việt