Vua Nghiêu nghe đồn Hứa Do là một cao sĩ tài ba nên muốn để ông làm vua thay mình. Khi nhà vua cử người đến gặp Hứa Do thì ông trả lời là mình không muốn làm vua, sau đó ông cảm thấy những lời nói của sứ giả đã làm bẩn tai mình, bèn vội vàng chạy ra sông Dĩnh rửa tai. Giữa lúc đó, Sào Phụ bạn của Hứa Do đang đưa trâu ra sông uống nước, thấy vậy liền hỏi tai sao. Hứa Do thuật lại sự việc rồi ấm ức nói: "Những lời nói kia thật là bẩn thỉu, tôi phải rửa cho sạch tai mới được."
Sào Phụ nghe xong liền trề môi nói: "Cũng là vì anh thích khoe khoang nên mới rắc rối như vậy, thôi đừng rửa nữa kẻo làm bẩn mõm trâu nhà tôi đang uống nước." Sào Phụ nói xong liền thong thả lùa trâu ra về.
Có câu thế này, rất không dễ nghe, nhưng là thật: “Đại học không dạy cách làm người, xã hội lại không chấp nhận người chưa biết sống.”
Câu nói ngắn gọn này đã chỉ ra một nghịch lý chấn động của xã hội hiện đại: sự thiếu vắng một nền tảng đạo đức và giáo dưỡng cá nhân. trong khi xã hội lại vận hành trên những yêu cầu ngầm về nhân cách. Đây không chỉ là một lời phê phán, mà là hồi chuông cảnh tỉnh cho cả một nền văn minh đang dần xa rời bản chất từ gốc rễ nhất.
I. Bức tranh nghịch lý: Học thức không đại diện được cho nhân cách
1. Đại học: Rèn năng lực nhưng bỏ quên nhân tâm
Trải qua 12 năm phổ thông và 4 – 6 năm đại học, phần lớn học sinh được trang bị rất nhiều kiến thức chuyên ngành, kỹ năng kỹ thuật, ngôn ngữ học thuật và công cụ tư duy phân tích. Thế nhưng, những điều căn bản về làm người như:Làm sao để giữ chữ tín?
Làm sao để giao tiếp có hiệu quả, thấu hiểu, khoan dung với người khác?
Làm sao để chấp nhận thất bại, tha thứ, kiểm soát cảm xúc, cư xử tử tế…
… lại hầu như không được dạy một cách nghiêm túc và có hệ thống.
Nhiều bạn trẻ sau đại học ra trường, giỏi kỹ thuật nhưng rất yếu về lễ độ, giỏi biện luận nhưng không biết lắng nghe, giỏi phản biện nhưng thiếu lòng trắc ẩn, giỏi CV nhưng dở EQ, thì thất bại không đến từ năng lực mà từ cách họ hiện diện trong đời sống thực.
Chúng ta cần nhìn nhận một thực tế đầy đau đớn rằng: Họ có thể là những “cỗ máy tư duy” được rèn luyện tốt, nhưng là những “con người tâm hồn” chưa hề được uốn nắn.
2. Xã hội: Không khoan dung với sự vụng về nhân cách
Xã hội hiện đại, vốn mang đầy tính cạnh tranh và khắc nghiệt, lại không có sự nhẫn nại cho “người đang học làm người”. Không ai dừng lại để chỉ bạn rằng:
Giao tiếp không chỉ là nói, mà còn là tinh tế.
Làm việc không chỉ là năng suất, mà còn là đạo đức hành xử.
Thành công không chỉ đến từ kỹ năng, mà còn đến từ phẩm cách.
Người non nớt bị gạt ra bên lề bằng ánh nhìn khinh miệt, người vụng về bị cô lập, người ích kỷ bị xa lánh, và từ đó, họ bước vào vòng xoáy của sự chối bỏ – tổn thương – phòng vệ – lệch lạc.
Kết quả là một thế hệ người trẻ, đứng giữa hai cực: được kỳ vọng như người trưởng thành, nhưng chưa từng được rèn thành nhân cách.
Ảnh sưu tầm
II. Vì đâu mà ra nông nỗi này?
1. Nền giáo dục vị bằng cấp, xem nhẹ làm người
Hệ thống giáo dục đại học hiện nay đa phần chạy theo các chuẩn hóa: tín chỉ, đầu ra, điểm số, kỹ năng nghề nghiệp. Trong đó, khái niệm “làm người” bị xem là “mềm”, “phi khoa học”, “không đo lường được”.
Thầy cô thì mải mê chạy KPI, học trò thì đắm chìm trong kiến thức chuyên môn, và cả hai bên vô tình bỏ quên điều quan trọng nhất: tu dưỡng tâm hồn.
Hơn nữa, việc giáo dục đạo đức nếu có, thường chỉ dừng lại ở mức “giáo điều”, “lý thuyết”, hoặc biến thành khẩu hiệu khô cứng, không đủ sâu để cảm hóa người học.
Người ta có dạy vô vàn các khóa đào tạo về kỹ năng giao tiếp, về cách đọc vị, về sống healthy, về khả năng thuyết phục đám đông, nhưng người ta lại không thật sự sống thật với nó, người ta chỉ xem nó như một thứ công cụ. Điều đáng buồn nhất là, khi một người nếu xem đạo đức, văn hóa, chỉ là công cụ để đạt được vẻ bề ngoài, đánh bóng cá nhân, đạt được lợi ích cá nhân, đó mới thực sự là điều đáng buồn nhất.
2. Gia đình buông lỏng vai trò Đạo Dưỡng
Gia đình, vốn là nền móng ban đầu để một con người học cách sống, cũng đang lung lay khi:
Trẻ em được nuông chiều, khen ngợi quá mức, ít bị uốn nắn sai trái nhỏ.
Nhiều phụ huynh chú trọng thành tích học tập hơn là nhân cách.
Khi đạo làm người không được gieo từ nhỏ, thì tới khi lớn, chưa muộn, nhưng đã khó.
3. Xã hội thực dụng hóa nhân sinh
Chúng ta đang sống trong một xã hội mà:
Sự thành công được định nghĩa bằng tiền tài và địa vị.
Nhân cách tốt thì “đáng quý” nhưng không được coi là “thiết yếu”.
Người sống tử tế dễ bị xem là “khờ khạo”, người sống thật lại bị nói là “thiếu khôn ngoan”.
Tất cả những điều đó khiến nhiều người tin rằng làm người tử tế không cần thiết bằng việc giỏi giang và thành đạt. Và chính niềm tin sai lệch ấy đang góp phần làm bào mòn đạo đức xã hội.
III. Hệ quả: Một xã hội phát triển nhưng rạn vỡ trong im lặng
1. Suy sụp tinh thần nơi người trẻ
Khi người trẻ được đào tạo để giỏi nhưng không được chuẩn bị để đối mặt với tổn thương, mâu thuẫn, phê bình, thua cuộc, cô đơn… thì họ rất dễ suy sụp khi va chạm thực tế.
Sự trầm cảm, lo âu, bất mãn xã hội ngày càng tăng không hẳn vì họ yếu đuối, mà vì họ chưa từng được học cách đứng vững trong đời. Họ nghĩ rằng miễn là có bằng cấp, bước ra ngoài xã hội, họ sẽ được vị trí và công việc phù hợp. Nhưng đời đâu màu hồng như vậy.
Sự phấn đấu chú trọng quá mức về học thức, năng lực của bản thân, truy cầu theo đuổi lợi ích dần dần sẽ khiến cho nội tâm một người ngày càng nông cạn và vật chất hóa. Rồi họ sẽ không còn tin vào Định Mệnh, vào nhân quả, vào quy luật tự nhiên. Đó mới là gốc rễ vấn đề.
2. Đứt gãy các mối quan hệ giữa người với người
Khi nhân cách không được nuôi dưỡng, người ta dần sống ích kỷ, phản ứng cực đoan, thiếu đồng cảm. Quan hệ xã hội vì thế mà trở nên lạnh nhạt, thô ráp, thậm chí nguy hiểm:
Gia đình tan vỡ vì thiếu thấu hiểu.
Đồng nghiệp đấu đá vì lòng đố kỵ.
Người yêu xa rời vì thiếu trưởng thành cảm xúc.
3. Sự suy đồi văn hóa xã hội theo chiều sâu
Xã hội hiện đại phát triển về công nghệ, cơ sở hạ tầng, nhưng đạo đức lại xuống cấp. Người ta đầu tư cho AI, cho robot, nhưng quên đầu tư cho việc “làm người” của chính mình. Đó là một dạng tiến bộ một chiều, thiếu bền vững.
Ảnh sưu tầm
IV. Phá lỗ hổng: Làm sao để hàn gắn?
1. Giáo dục phải trở lại gốc: Dạy làm người trước khi dạy làm nghề
Học triết học, đạo đức, lịch sử nhân loại không chỉ để biết mà để sống tốt hơn.
Cần những môn học không đào tạo kỹ năng, mà rèn luyện phẩm hạnh, bản lĩnh sống, trau dồi văn hóa truyền thống chân chính.
Học vấn là gốc, nhưng nhân cách là rễ. Gốc không rễ thì cây đổ theo gió.
2. Phụ huynh: Phải trở thành “người thầy đầu tiên”
Cha mẹ nên dạy con từ điều nhỏ: biết xin lỗi, biết kiên nhẫn, biết nhường nhịn.
Phê bình đúng lúc, định hình thói quen nhân cách ngay từ tuổi thơ.
3. Người trẻ: Phải tự học, tự tỉnh
Trong xã hội này, học làm người là môn học không ai ép buộc nhưng ai không học thì sẽ đau đớn.
Tự đọc, tự trải nghiệm, tự tỉnh ngộ, tự điều chỉnh, là cách duy nhất để trưởng thành thật sự.
V. Trở về cái gốc làm người
Một tấm bằng đại học sẽ mở cho bạn cánh cửa sự nghiệp. Nhưng chỉ nhân cách mới mở cho bạn cánh cửa lòng người.
Đừng trách xã hội quá khắt khe. Vì làm người, chưa bao giờ là môn học bắt buộc, nhưng lại luôn là bài kiểm tra bắt buộc trong đời bạn.
“Người có học mà thiếu đức, chẳng khác gì con thuyền lớn không bánh lái, đi xa mà không biết về đâu.”
Vương Duy 王維 (699-759) tự là Ma Cật 摩詰, người huyện Kỳ (thuộc phủ Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây). Cha mất sớm, mẹ là một tín đồ thờ Phật suốt ba mươi năm nên Vương Duy chịu ảnh hưởng tư tưởng của đạo Phật. Ông tài hoa từ nhỏ, đàn hay, vẽ giỏi, chữ đẹp, văn chương xuất chúng. Năm 19 tuổi, Vương Duy đến Trường An, được Kỳ vương Lý Phạm mến tài, đỗ đầu kỳ thi của phủ Kinh Triệu. Năm 21 tuổi, thi đậu tiến sĩ, được bổ làm Ðại nhạc thừa rồi bị giáng làm Tham quân ở Tế Châu. Sau nhân Trương Cửu Linh làm Trung thư lệnh, ông được mời về làm Hữu thập di, Giám sát ngự sử, rồi thăng làm Lại bộ lang trung. Trong thời gian này, thanh danh của ông và em là Vương Tấn vang dậy Trường An. Sau đó đến lượt Trương Cửu Linh lại bị biếm, Vương Duy đi sứ ngoài biên ải và ở Lương Châu một thời gian.
Khi bạn nghỉ hưu ở tuổi 60, cho dù bạn đã đạt được tự do về tài chính, nhưng vẫn sẽ không tránh khỏi cảm giác thất bại nếu gặp 4 điều sau đây.
Thành công nhờ vận may, thất bại do chính mình.
Khi được hỏi: "Thành công là gì?" Hầu hết mọi người trả lời là "Tự do tài chính". Từ quan điểm này, thất bại là nghèo đói.
Tuy nhiên, có những thất bại còn lớn hơn cả chữ "nghèo".
Khi bạn nghỉ hưu ở tuổi 60, cho dù bạn đã đạt được tự do về tài chính, nhưng vẫn sẽ không tránh khỏi cảm giác thất bại nếu gặp 4 điều sau đây.
1. Sức khỏe không còn
Nếu bạn không ốm, không gầy, không kêu nghèo là khi bạn bình an.
Có sức khỏe không phải là tất cả, nhưng mất sức khỏe là mất tất cả.
Khi chúng ta còn trẻ, chúng ta nên làm việc chăm chỉ cho sự nghiệp của mình, nhưng chúng ta không nên hy sinh sức khỏe, đánh đổi cơ thể để lấy bất cứ thứ gì. Nếu không, bạn sẽ rơi vào hoàn cảnh bi thảm như câu nói sau: "Đánh đổi cuộc sống của mình để lấy tiền tài khi bạn còn trẻ, sau đó, chờ đợi bạn sẽ là quãng thời gian đánh đổi tiền tài để lấy lại mạng sống khi bạn về già".
Do đó, đối với bất kỳ ai, ở vào bất cứ hoàn cảnh nào, một cơ thể khỏe mạnh là vô giá.
Đến tuổi trung niên, người chiến thắng không phải là người nhận được nhiều tiền trợ cấp hàng tháng nhất, mà là người có thể sống thọ thêm vài năm, tận hưởng cuộc sống thoải mái hơn. Ít nhất hãy khiến bản thân nói lời tạm biệt với cuộc sống này mà không hối tiếc.
Ảnh minh họa: Internet
2. Gia đình bất hòa
Cha con trung nghĩa, anh em hòa thuận, vợ chồng hòa thuận, đó là trạng thái thịnh vượng nhất của gia đình.
Điều hạnh phúc nhất trên đời là có một gia đình hạnh phúc, mọi thành viên trong gia đình sống hòa thuận và thân thuộc với nhau.
Những người có thể điều hành một doanh nghiệp chưa chắc đã có thể điều hành một gia đình, và một sự nghiệp thành công chưa chắc sẽ dẫn đến một gia đình hòa thuận.
Đích đến cuối cùng của cuộc đời vẫn luôn là gia đình. Khi bạn có tuổi và về hưu, bắt đầu rời bỏ công việc bận rộn ngày đêm và trở về với gia đình, nếu người thân không sát cánh bên cạnh, bạn phải đi đâu để tìm kiếm chốn bình yên?
Vì vậy, khi còn trẻ, chúng ta nên nhận ra rằng điều hành gia đình quan trọng hơn điều hành doanh nghiệp, và một gia đình hòa thuận có thể khiến bạn thành công hơn cả tiền tài.
3. Con cái không tiến thủ
Người tài giúp cho quốc gia hưng thịnh, con cháu có tài thì gia đình mới ngày càng thịnh vượng. Nuôi dưỡng những đứa con tài giỏi là sự lựa chọn tốt nhất để một gia đình tiếp tục phát triển.
Ảnh minh họa: Internet
Chúng ta ai cũng mong mình có con cháu hiếu thảo, không muốn con cháu mình trở thành những kẻ vô công rỗi nghề. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải thấy rõ rằng, người con hiếu thảo, người cháu đức hạnh không phải tự nhiên mà có. Đây đều là thành quả có được từ sự giáo dục kỷ luật và hành vi được rèn giũa lâu ngày, phải không ngừng uốn nắn và tích lũy.
Thế nhưng, có bao nhiêu người ngoài kia cứ mải mê bận rộn với công việc, để rồi bỏ bê việc học hành của con cái?
Cha mẹ yêu con ắt phải suy nghĩ cho lợi ích lâu dài. Đó là rèn luyện tinh thần chịu thương chịu khó, rèn luyện phẩm chất ham học, cầu tiến, rèn luyện khả năng tự lực để con cháu có thể độc lập phát triển, nuôi dưỡng lòng tự trọng, kỷ luật tự giác và tự cải thiện trong xã hội.
Đừng để đến tuổi trung niên, khi đã không còn quá nhiều sức khỏe và thời gian để chăm lo cho con cái, chúng ta mới nhận ra: Mình hoàn toàn thất bại trong giáo dục đời sau. Đó sẽ là thất bại còn đau đớn hơn cả cái nghèo.
4. Bất hòa giữa bạn bè
Càng trưởng thành, chúng ta càng trân trọng mối quan hệ bạn bè, tri kỷ. Cuộc đời có vài người bạn tâm giao thôi cũng đủ để chúng ta tận hưởng hạnh phúc.
Nếu đến tuổi trung niên, khi bạn bắt đầu rời xa vòng danh lợi quyền lực, "bạn bè" xung quanh lại dần biến mất thì đó là lúc bạn nên suy ngẫm lại: Đâu mới thực sự là bạn bè? Tiêu chí để kết bạn thực sự là gì?
Ảnh minh họa: Internet
Lấy lợi ích để kết giao, khi hết lợi, đương nhiên sẽ rời đi. Lấy quyền thế để kết giao, khi hết quyền thế, đương nhiên người chẳng còn thiết tha. Chỉ có người lấy tình nghĩa để kết giao, tình nghĩa sẽ luôn còn mãi, cho đến khi cuộc đời chấm dứt.
Chỉ có tình bạn chân thành, vô tư với những hoài bão rõ ràng thì bạn bè mới không bao giờ mất đi. Đó chính là tình bạn mà mỗi người trong mối quan hệ đó đều tích cực trao cho nhau, thay vì lấy của nhau một cách thụ động.
Khi buông tay danh lợi ở đời, bước vào tuổi trung niên, bạn nên sàng lọc lại các mối quan hệ để xác định, ai mới thực sự là bạn. Khi đó, dù chỉ còn có một người bạn thực sự cũng chính là thành công của việc kết bạn.
Người dân gần đảo Barsa-Kelmes cho biết họ thấy những sinh vật kỳ quái sống trên đảo, chúng nhiều và kỳ lạ như các sinh vật ở không gian khác. Các nhà thám hiểm cho biết đây là căn cứ mật của người ngoài hành tinh vì có sự xuất hiện của UFO. Chính phủ cũng đã điều động xe tăng và trực thăng vào cuộc điều tra những vụ mất tích bí ẩn nhưng đều thất bại…
Ở vùng biển Aral thuộc Trung Á có hơn 1.000 hòn đảo lớn nhỏ. Nhưng không có hòn đảo nào bí ẩn và dị thường như hòn đảo Barsa-Kelmes. Cái tên Barsa-Kelmes theo tiếng Kazakh của người bản địa có nghĩa là hòn đảo “một đi không trở lại”.
Năm 1980, đảo chỉ có diện tích khoảng 133 km2.Nhưng khi biển trở nên cạn hơn thì diện tích đảo có phần tăng lên. Những cư dân đầu tiên trên đảo là người Kazakhstan. Họ mang đồ đạc, gia súc tới đảo sinh sống, nhưng nhiều năm sau đó tất cả đều chết.
Nguyên nhân của những cái chết bí ẩn này đến nay vẫn còn là một ẩn đố. Theo truyền thuyết, vào thế kỷ 13, người dân trên hòn đảo này buộc phải rời đi để tránh sự tàn sát của quân Mông Cổ. Sau một thời gian ngắn, họ quay trở lại hòn đảo, nhưng tất cả điều phải ngạc nhiên vì quang cảnh thay đổi đến lạ thường.
Cuộc sống trên đảo đã vô cùng khắc nghiệt, nơi đây chỉ có duy nhất một giếng nước ngọt. Nếu muốn có nhiều nước uống thì vào mùa đông phải làm tan băng đá rồi dự trữ cho cả năm. Do không thể thích nghi được với sự thay đổi quả lớn này nên họ quyết định chuyển đến một nơi khác sống. Từ đó hòn đảo này bị bỏ hoang.
Đảo Barsa-Kelmes: Cánh cửa dẫn đến một không gian khác?
Ở đảo Barsa-Kelmes, mây mù dày đặc thường xuyên bao phủ. Nơi đây được cho là thường xuyên xảy ra những điều quái lạ, không thể nào lý giải. Những điều kỳ lạ xuất hiện nhiều tới mức những cư dân sống gần hòn đảo đã gọi nó là “cánh cửa một chiều dẫn đến không gian khác”.
Cụ thể người dân kể: “Hòn đảo là nơi sinh sống của những sinh vật kỳ lạ, trước đây họ chưa từng thấy trước đây. Có những sinh vật tựa như chúng đến từ một hành tinh khác vậy. Họ nói rằng họ đã nhìn thấy những con chim khổng lồ bay quanh đảo, con rắn biển to lớn, con thằn lằn biết bay, quái thú cổ dài”…
Người dân cho biết hòn đảo Barsa-Kelmes: là nơi sinh sống của những sinh vật kỳ lạ, chưa từng thấy trước đây. (Ảnh minh họa qua Genk)
Hòn đảo được mệnh danh là nơi “Một đi không trở lại”
Điều kỳ lạ khác là bất kỳ ai ‘can đảm’ dám thám hiểm hòn đảo này đều có một kết cục bi đát “một đi không trở lại”. Họ biến mất một cách bí ẩn trên đảo và không ai biết điều gì đã xảy ra nữa.
Một sự kiện mất tích nổi tiếng ở hòn đảo này là vào năm 1959. Từ trước tới nay, đảo Barsa-Kelmes vẫn luôn ấm hơn các hòn đảo lân cận vào mùa Đông. Nhưng riêng năm 1959, hòn đảo lại thay đổi kỳ lạ, nó trải qua một mùa Đông lạnh giá và khắc nghiệt chưa từng có.
Khi ấy một số người sống gần hòn đảo nghĩ rằng nơi đây sẽ là chỗ lý tưởng để dự trữ và bảo quản thực phẩm. Đặt biệt là nguồn thủy sản mà họ đã đánh bắt được trước đó, để dành cho mùa xuân tới. Sau đó họ để những người đàn ông khỏe mạnh, mang thức ăn và thực phẩm cần dự trữ tới đảo. Tuy nhiên, mãi thời gian lâu vẫn không thấy họ quay về. Một cuộc tìm kiếm quy mô lớn được tổ chức nhưng không hề thấy bất kỳ dấu vết nào. Sau đó người dân báo vụ việc lên chính quyền để nhờ giúp đỡ.
Chính quyền Liên xô đã vào cuộc điều tra nhưng thất bại
Chính quyền Liên Xô khi ấy đã điều động 1 chiếc trực thăng để rà quét khu vực đảo, tìm kiếm những người mất tích. Nhưng khi máy bay tiến vào lớp sương mù thì các thiết bị trên khoang lái bị nhiễu loạn và dần hỏng từng thứ một. Sự cố bất ngờ này khiến 2 phi công buộc phải hạ cánh khẩn cấp.
Những báo cáo cuối cùng xuất hiện trong bộ đàm của họ khi đó là: “Họ nhìn thấy những vật thể bay hình elip xuất hiện mập mờ trong làn sương dày đặc. Ngay sau đó tín hiệu radio giữa căn cứ chỉ huy và trực thăng hoàn toàn im lặng“.
Sau khi chiếc trực thăng quân đội “biến mất” kỳ lạ, chính phủ lại tiếp tục điều động 1 chiếc xe tăng có gắn dây cáp dài, tiến vào khu vực hòn đảo này.
Đội do thám trên chiếc xe tăng được lệnh phải giữ liên lạc liên tục trong quá trình tiến vào lớp sương mù dày đặc. Tuy nhiên, điều kỳ dị lại tái diễn, tín hiệu radio lại im bặt sau khi xe tăng tiến vào đảo Barsa-Kelmes. Rốt cuộc những người bên ngoài cũng không biết bên trong hòn đảo này đang ẩn chứa điều gì bí ẩn.
Mãi đến khi người ta tiến hành kéo chiếc xe tăng trở lại bằng dây cáp, thì phát hiện bên trong xe hoàn toàn trống rỗng. Toàn bộ xe tăng như bị một lớp băng bao phủ. Qua khám xét, các mẫu vật nghi ngờ đều được đưa đến phòng thí nghiệm hiện đại ở Moskva tiến hành kiểm tra. Các nhà khoa học đã không thể tìm thấy bất cứ điều gì bất thường, như chất lạ, vật lạ hoặc manh mối quan trọng nào phục vụ cho cuộc điều tra.
Điều cuối cùng phi công trên trước trực thăng cứu nạn nhìn thấy là những vật thể hình elip xuất hiện mập mờ trong làn sương dày đặc (Ảnh minh họa)
Đảo Barsa-Kelmes: Căn cứ mật của người ngoài hành tinh?
Khi các nhà khoa học không thể giải thích được những hiện tượng bí ẩn và kỳ lạ của hòn đảo này, thì có nhiều người đồn đoán rằng những bí ẩn này liên quan đến UFO và căn cứ của người ngoài hành tinh.
Vadim Chernobrov – Nhà nghiên cứu UFO người Nga, sau khi tìm hiểu các tài liệu cũ liên quan đến các hiện tượng không thể giải thích tại hòn đảo Barsa-Kelmes, ông cho rằng: lớp sương mù kia chính là tấm chắn bảo vệ cho một căn cứ bí mật nào đó bên trong hòn đảo.
Theo đó, lớp sương mù dày đặc này có tác dụng vô hiệu hóa các thiết bị điện tử, nhằm chống lại sự xâm nhập không mong muốn từ bên ngoài.
Tuy nhiên, nhiều báo cáo cho biết khi tiến vào vùng sương mù này thì ngoài việc khiến tất cả các thiết bị hiện đại của con người bị vô hiệu hóa như đồng hồ đột nhiên ngừng hoạt động, kim la bàn xoay vòng vòng không thể định hướng, điều đáng sợ hơn nữa là người ta còn cảm thấy thời gian có lúc trôi rất chậm, có lúc lại trôi thật nhanh.
Cho đến nay số phận của những người bị mất tích trên hòn đảo và bí mật được che dấu trên đảo Barsa-Kelmes vẫn còn là một ẩn đố với nhân loại.
Ở nông thôn có một cách nói truyền miệng như thế này: nông dân đời đời truyền nhau về bốn thứ độc lớn, đó là: “Hành nương nương, tỏi một tép, đàn bà ngẩng đầu, đàn ông cúi đầu.” Vậy rốt cuộc những thứ này là gì?
Tỏi một tép (độc đầu tỏi)
Người già ở quê thường nói: “Người kia đúng là một ‘củ tỏi độc’ to tướng, không có việc gì thì đừng đi chọc vào!”
Loại người “tỏi một tép” này giống như hổ vậy, thích làm theo ý mình, sống đơn độc, đi một mình một lối, còn đáng sợ hơn cả sói. Vì thế, không có chuyện gì thì tuyệt đối đừng trêu chọc họ.
Thông thường, một củ tỏi có khoảng 8 tép. Thế còn “tỏi một tép” là gì? Chính là củ tỏi không phân tép, chỉ có một khối duy nhất. Như vậy chẳng phải là không có tép (không có “bạn”) sao? Tức là người độc thân, một mình một kiểu.
Người kiểu “tỏi một tép” giống hệt con hổ: hành động theo ý mình, đơn độc một mình, làm việc không màng hậu quả, rất đáng sợ. Vì vậy, không có việc gì thì tuyệt đối đừng dây vào.
Tỏi một tép. Ảnh internet.
Đàn bà ngẩng đầu
Người già cũng gọi họ là “đàn bà ngẩng cổ”. Dáng vẻ quen thuộc của họ là lúc nào cũng ngẩng cao đầu, coi trời bằng vung, tính cách cứng rắn, hiếu thắng, hay đấu đá, tranh hơn thua, chuyện gì cũng phải tranh cho ra lẽ, hoàn toàn không giữ nét dịu dàng, mềm mỏng theo quan niệm phụ đạo truyền thống.
Trong quan hệ xóm giềng, những người phụ nữ như vậy thường rất khó sống chung, cực kỳ “khó đấu”.
Không có việc gì thì đừng chọc vào đàn bà ngẩng đầu.
Đàn ông cúi đầu
Thực ra, ở nông thôn ngày xưa, người ta thường yêu cầu đàn ông khi đi đứng phải ngẩng cao đầu, ưỡn ngực, đường đường chính chính.
Còn những “người đàn ông cúi đầu” thì thường là kiểu người thâm sâu khó lường, mưu mô già dặn, âm thầm không lộ diện, chỉ biết cúi đầu làm việc. Trông thì như lo âu nặng nề, lại giống như đang tìm thứ gì rơi dưới đất, nhưng thực chất là trong đầu không ngừng tính toán chuyện người, chuyện đời.
Loại người này tâm cơ rất sâu, dụng ý khó dò, tính tình thất thường, âm hiểm, không thể kết giao; ai giao du với họ ắt sẽ chịu thiệt hại. Người nông thôn còn gọi kiểu người này là “nhìn người từ dưới hàng lông mày”.
Đàn bà ngẩng đầu. Ảnh internet.
Hành nương nương
Ở nông thôn, hành già sau khi trổ bông lấy hạt thì phần hành trắng còn lại trong đất không còn ăn được nữa, người ta cũng bỏ đi. Phần hành trắng thối rữa trong đất, nhưng rễ hành vẫn còn khả năng sinh trưởng. Qua một thời gian dài, nó lại nảy mầm lần nữa và mọc ra hành non. Vì hành này mọc chui ra từ thân hành già, nên được gọi là hành nương nương.
Nói cách khác, đây là loại hành qua đông, sau khi ra hạt lại sinh ra hành mới. Người già đều nói loại hành này có độc, không thể ăn. Có người không tin, cứ nhất quyết nếm thử, kết quả là cay đến thấu tim, cay đến mức nước mắt chảy không ngừng.
Về sau, “hành nương nương” được mở rộng nghĩa, dùng để chỉ những người ở nông thôn hay gặp, kiểu người vừa làm bạn rơi nước mắt, vừa khiến bạn đau lòng. Giao tiếp với họ chẳng khác nào mất nửa cái mạng, gặp loại người này phải tránh xa.
Vì vậy, câu nói xưa ở nông thôn: “Hành nương nương, tỏi một tép, đàn bà ngẩng đầu, đàn ông cúi đầu” thực chất là một dạng kinh nghiệm sống: hãy biết phân biệt những người không dễ trêu chọc, đừng tùy tiện gây chuyện với họ, cũng đừng làm mâu thuẫn thêm gay gắt.
Bài này tuyển từ Lâm Xuyên Vương tiên sinh Kinh công văn tập quyển 76, bản Gia tĩnh nhà Minh. Bài này còn có đề là Bắc bì hạnh hoa (北陂杏花), nhà thơ thông qua mô tả hoa hạnh, thể hiện mình trung với lý tưởng, với tinh thần thà làm ngọc nát.
水花 - 王安石
一陂春水繞花身
花影妖嬌各占春
縱被東風吹作雪
絕勝南陌碾成塵
Hoa nước
(Dịch thơ: Chi Nguyen)
Sắc xuân nước biếc, hoa ngời.
Lung linh mặt nước, hoa mời nắng xuân.
Gió xuân tuyết phủ phong trần.
Đừng như hạt cát, bụi lầm phương Nam.
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Vương An Thạch 王安石 (1021-1086) tự Giới Phủ 介甫, hiệu Bán sơn lão nhân 半山老人, người Phủ Châu, Lâm Xuyên (tỉnh Giang Tây ngày nay), là một nhà văn lớn thời Bắc Tống và cũng là nhà kinh tế, chính trị lỗi lạc trong lịch sử Trung Quốc. Ông đỗ tiến sĩ năm 1041. Năm 22 tuổi (1042), ông được bổ dụng làm trợ lý cho quan đứng đầu thủ phủ tỉnh Dương Châu. Năm 1047, ông được thăng tri huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang. Năm 1051, ông được sử đến Thương Châu làm Thông phán. Hết nhiệm kỳ này ông được điều về kinh đô. Năm 1057, ông làm tri châu Thương Châu, tỉnh Giang Tô. Năm 1058 ông lại được điều đi làm quan hình ngục Giang Đông, trông coi việc tư pháp và hành chính Giang Nam. Đến cuối năm này, sau 17 năm làm quan địa phương, ông đã viết một bài trình lên Tống Nhân Tông, nêu rõ các trì trệ hiện thời của Bắc Tống và nêu lên các biện pháp khắc phục, áp dụng tân pháp để cải cách chế độ kinh tế-xã hội, quân sự của nhà Tống nhưng thất bại do sự chống đối của các tầng lớp quan lại đương thời. Trải qua một thời gian dài hai đời vua Tống Nhân Tông và Tống Anh Tông, sau khi về chịu tang mẹ 3 năm ở quê nhà, ông ở lại đó và mở trường dạy học.