Saturday, May 2, 2026

KHỔNG TỬ BÁI KIẾN LÃO TỬ, TRỞ VỀ 3 NGÀY TRẦM MẶC KHÔNG THỐT NÊN LỜI

Lão Tử và Khổng Tử, hai bậc Thánh nhân nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa đã có lần tương ngộ. Và cuộc đàm đạo của các Ngài đã để lại giai thoại ngàn năm. Sau khi bái kiến Lão Tử trở về, Khổng Tử trầm mặc suốt 3 ngày không nói, cuối cùng cũng phải thốt lên…


Khổng Tử sau khi trưởng thành, thân hình cao to, có tướng mạo bất phàm, thần thái khiêm tốn và cẩn trọng. Hồi còn nhỏ mỗi khi chơi đùa, ông thích bày trí rượu gia tiên, trang trí vị trí các đồ đạc, và mô phỏng tiến hành nghi thức xã giao. Vì vậy, sau khi mẹ ông qua đời, liền có người đến để học nghi thức của ông. Khổng Tử muốn hiểu thêm về hình thức và nội hàm của nghi lễ, nên đã đến thỉnh giáo Lão Tử.

Lão Tử thọ 300 tuổi, vào thời nhà Chu, ông đảm nhiệm chức quan Thủ tàng sử, thời Ngô Vương làm trụ hạ sử. Mọi người thấy ông sống thọ như vậy, nên gọi ông là Lão Tử, nhưng trên thực tế, Lão Tử sớm đã là một người đắc Đạo. Khổng Tử rất nhiều lần thỉnh giáo Lão Tử, trong mắt Lão Tử, Khổng Tử vẫn là một đứa trẻ còn non nớt. Một lần, trước khi đến bái kiến Lão Tử, Khổng Tử phái Tử Cống đến thăm dò trước. Lão Tử thấy Tử Cống đến liền nói: “Thầy của ngươi – Khổng Tử, phải theo ta ba năm, sau đó ta mới có thể bắt đầu chỉ giáo cho thầy của ngươi những nội hàm thực chất”.

Một ngày nọ, Khổng Tử lòng ôm chí lớn đến bái kiến Lão Tử, Lão Tử liền nói: “Người giỏi làm ăn kinh doanh không dễ dàng khoe khoang tài sản, người có tài đức thường trông có vẻ “ngu ngốc, hồ đồ”, ông phải trừ bỏ tính kiêu ngạo, xem nhẹ dục vọng,… Những cái đó đối với ông, chẳng có gì tốt”.


Tuy nhiên, Lão Tử biết rằng, Khổng Tử là người mang theo sứ mệnh mà đến. Năm 35 tuổi, Khổng Tử lên đường ngu ngoạn khắp thiên hạ, Lão Tử trước khi cáo biệt Khổng Tử, nói: “Ta nghe nói, kẻ phú quý tặng người của cải, kẻ nhân nghĩa tặng người lời nói chân thành. Ta không phú cũng chẳng quý, không có của cải tặng ông, muốn tặng ông vài lời.

Thời nay, kẻ thông minh mà sâu sắc, sở dĩ hay gặp nạn, thậm chí suýt mất đi tính mệnh, là do hay chê cái sai của người; kẻ giỏi hùng biện lại thông hiểu sự việc, sở dĩ gặp họa liên miên, là do hay vạch ra cái xấu của người. Là bậc làm con, đừng cho mình là cao; là bậc bề tôi, đừng cho mình là hơn. Mong ông nhớ kỹ”.

Khổng Tử nghe xong, bái lạy nói: “Học trò nhất định ghi nhớ trong lòng!”.

Thấm thoát trải qua 30 năm, Khổng Tử đã 68 tuổi, đã hiểu và nếm trải qua những dư vị của cuộc đời, những điểm hóa thuyết Đạo của Lão Tử dành cho Khổng Tử, càng ngày càng rõ ràng hơn.

Một ngày, Khổng Tử đang đọc sách, Lão Tử bèn hỏi: “Ông đang đọc sách gì vậy?

Khổng Tử trả lời: “Là Kinh Dịch, là sách mà cách bậc Thánh nhân cổ đại thường đọc”

Lão Tử nói: “Những bậc thánh nhân có thể đọc nó, tại sao ông cũng đọc? Nội hàm chủ yếu trong cuốn sách là gì?”

Khổng Tử trả lời: “Là nhân nghĩa”.

Lão Tử hỏi Khổng Tử: “Ông đã đắc Đạo rồi chứ?”.

Khổng Tử bèn nói: “Học trò cầu Đạo đã 27 năm, vẫn chưa đắc được. Học trò nghiên cứu “Kinh thi”, “Kinh thư”, “Chu lễ”, “Chu nhạc”, “Kinh dịch” và “Kinh Xuân Thu”, thuyết giảng đạo trị quốc từ thời Tam Hoàng, hiểu rõ con đường công danh của Chu Công, Triệu Công, học trò đem dâng cho hơn 70 vị vua, nhưng không ai sử dụng. Xem ra con người khó thuyết phục quá!”.


Lão Tử nói: “Lục nghệ của ông đều là lịch sử cũ xưa của các đời vua xưa, ông thuyết giảng những cái đó có tác dụng gì? Những thứ ông đang tu luyện, đều là những tích xưa cũ. “Tích” chính là dấu tích vết giày người ta để lại, dấu chân với dấu chân, thì có gì khác nhau?”.

“Tính cách của con người không thể thay đổi, vận mệnh của con người đã được sắp đặt sẵn. Sự vận hành của thời gian không thể dừng lại, Đại Đạo của vũ trụ là tồn tại vĩnh hằng. Nếu một người có thể hiểu được Pháp lý của vũ trụ, bất kể là họ đi đâu, đều có thể tồn tại”.

Khổng Tử từ chỗ Lão Tử trở về, suốt 3 ngày im lặng không nói năng gì. Học trò Tử Cống lấy làm lạ bèn hỏi thầy làm sao. Khổng Tử lúc này mới đáp:

“Nếu ta gặp người có suy nghĩ thoáng đạt như chim bay, ta có thể dùng luận điểm chính xác sắc bén như cung tên của ta bắn hạ chế phục họ. Nếu tư tưởng của người ta vun vút không trói buộc như hươu nai chạy, ta có thể dùng chó săn đuổi theo, nhất định khiến họ bị luận điểm của ta chế phục.

Nếu tư tưởng của họ như con cá bơi trong vực sâu của lý luận, ta có thể dùng lưỡi câu để bắt lên.

Nhưng nếu tư tưởng họ như con rồng, cưỡi mây đạp gió, ngao du nơi cảnh huyền ảo thái hư (vũ trụ mênh mông huyền bí), không ảnh không hình, không nắm bắt được, thì ta chẳng có cách nào đuổi theo bắt được họ cả.


Ta đã gặp Lão Tử, thấy cảnh giới tư tưởng ông như rồng ngao du trong thái hư huyền ảo, khiến ta cứ há miệng mãi mà không nói ra lời, lưỡi thè ra cũng không thu lại được, khiến cho ta tâm thần bất định, chẳng biết ông rốt cuộc là người hay là Thần nữa. Lão Tử, thực sự là Thầy của ta!”.

Và hàng ngàn năm sau, những tư tưởng sâu xa, thâm thúy của Lão Tử cho đến ngày nay vẫn là những lời dạy vô giá đối với hậu nhân.

Lan Hòa biên dịch – Nguồn: Sound Of Hope (Văn Tư Mẫn)

ĐĂNG LÂU - ĐỔ PHỦ


Đăng lâu - Đỗ Phủ

Hoa cận cao lâu thương khách tâm,
Vạn phương đa nạn thử đăng lâm.
Cẩm giang xuân sắc lai thiên địa,
Ngọc Luỹ phù vân biến cổ câm.
Bắc cực triều đình chung bất cải,
Tây sơn khấu đạo mạc tương xâm.
Khả liên Hậu chúa hoàn từ miếu,
Nhật mộ liêu vi “Lương phủ ngâm”.


登樓 - 杜甫

花近高樓傷客心
萬方多難此登臨
錦江春色來天地
玉壘浮雲變古今
北極朝庭終不改
西山寇盜莫相侵
可憐後主還祠廟
日暮聊為梁甫吟


Lên lầu
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Lầu cao buồn cánh hoa rơi. 
Muôn phương hoạn nạn, ai chơi thành lầu. 
Cẩm Giang xuân sắc một mầu. 
Mây trôi Ngọc Lũy nay đâu mà tìm. 
Triều đình phương Bắc bặt tin. 
Tây Sơn giặc dã đã nhìn xâm lăng. 
Miếu Hậu Chủ có còn chăng. 
Chiều tà Lương phủ, đãi đằng ai ngâm ?


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Phủ 杜甫 (12/2/712 - 770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo Đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.

Nguồn: Thi Viện



TẠI SAO TỀ BẠCH THẠCH CHỈ VẼ BỨC "MÔNG BÒ" LẠI BÁN VỚI GIÁ 40 TỶ ĐỒNG? CHUYÊN GIA: BẠN PHÓNG TO MÀ XEM

Một bông hoa có thể là một thế giới, dưới ngòi bút của họa sỹ thì mọi thứ trên thế gian sẽ thể hiện ra vô cùng hấp dẫn vượt qua sự bình thường.

Nguồn ảnh: soundofhope

Ở Trung Quốc có rất nhiều họa sỹ, trong số những họa sỹ cận đại, Tề Bạch Thạch là một nhân vật tiêu biểu. Họa sĩ họ Tề là họa sĩ bậc thầy trong giới hội họa cận đại, đồng thời là người Trung Quốc đầu tiên ghi danh vào câu lạc bộ các tác giả có tranh cán mức giá 100 triệu USD ($100 Million Club).

Đại sư đã qua đời, nhưng sức sống trong nghệ thuật của ông có thể là vĩnh cửu, những bức tranh của Tề Bạch Thạch luôn là phần cuối cùng của những phiên đấu giá, giá của một bức vẽ thường là mấy chục tỷ đồng, đặc biệt là những bức vẽ nổi tiếng dù có tiền cũng rất khó có cơ hội để mua.

Những bức vẽ của Tề Bạch Thạch chủ yếu dùng để ghi lại cuộc sống, ông quan sát từng chi tiết của cuộc sống để tạo nên một bức tranh đẹp, nổi tiếng nhất là bức tranh vẽ con tôm của ông. Ông có thể vẽ ra sự sinh động và thú vị của con tôm chỉ bằng một vài nét vẽ, có thể nói rằng kỹ năng hội họa của ông đã đạt đến đỉnh cao.

Bức tranh vẽ tôm của Tề Bạch Thạch. Nguồn ảnh: soundofhope

Tề Bạch Thạch đã từng vẽ một chiếc mông của một con bò đực và bán nó với giá hơn 30 tỷ đồng Việt Nam, “Mông bò” của Tề Bạch Thạch có giá cao ngất trời, nhiều người không hiểu tại sao nó lại có sức hút đến vậy, nhưng các họa sĩ trong giới hội họa đã được trải nghiệm một loại sắc thái tình cảm rất khác biệt khi xem bức vẽ này.

Bức tranh này tên là “liễu ngưu đồ” (柳牛图), đúng như tên gọi của nó, toàn bộ “liễu ngưu đồ” chỉ có cây liễu và con bò, dễ thấy nhất là cái mông của con bò, bên cạnh là những cây liễu đang đung đưa trong gió.

Và có một chấm đen nhỏ ở phía trên bên trái mông bò, lúc đầu các họa sĩ không biết chấm đen nhỏ này tượng trưng cho điều gì, nhưng khi mông bò được phóng to ra, họ mới chợt nhận ra. Hóa ra đốm đen nhỏ này chính là sừng bên trái của con bò, nhiều chuyên gia cho rằng bức tranh này có giá hàng mấy chục tỷ chỉ tính riêng chiếc sừng này.

Tề Bạch Thạch. Nguồn ảnh: soundofhope

Thời gian trước đó, Tề Bạch Thạch đã trải qua cuộc sống nhiều gian khổ, ông sinh ra trong một gia đình rất nghèo, thân hình ông gầy gò ốm yếu, năm ông 14 tuổi, gia đình xin cho ông học nghề thợ mộc, vì học nghề mộc nên anh ấy rất thích đục những con ấn, sau này ông lại học vẽ.

Hầu hết các bức vẽ của ông chủ yếu là động vật, nhưng những nét vẽ đơn giản của ông có thể thể hiện một cách sinh động biểu cảm của động vật. Nhiều họa sĩ vẽ bò bằng cách vẽ những cậu bé đang chăn bò hoặc vẽ bò từ góc nhìn bên cạnh, nhưng bức vẽ “Ngưu liễu” của Tề Bạch Thạch có thể nói là bức vẽ đầu tiên kể từ thời cổ đại đến nay chỉ vẽ “mông bò”.

Trong toàn bộ bức “Liễu ngưu đồ”, có thể thấy dưới ánh mặt trời lặn, một con bò đang hướng đầu đi về phía trước, nó đang đi đâu vậy? Tình trạng mịt mù, không rõ, con bò quay lưng lại với mọi người, mọi người chỉ có thể nhìn thấy thân hình tròn trịa và chiếc đuôi dài buông thõng của nó chứ không thể nhìn thấy toàn bộ phần đầu của nó.

Hơn nữa “liễu” trong từ “cây liễu” có phát âm giống từ “lưu”, ngụ ý là “ở lại”, có thể thấy Tề Bạch Thạch đang rất nhớ nhà. Khi nhìn vào bức tranh này, chúng ta cũng có thể cảm nhận được khung cảnh cuộc sống yên bình của những người làm nông nghiệp, có một cảm giác thư thái, thoải mái từ trong ra ngoài.

Toàn bộ bức tranh “Liễu ngưu đồ” của Tề Bạch Thạch. Nguồn ảnh: kknews

Chủ đề “Bò” trong những bức vẽ của Tề Bạch Thạch không nhiều, nhưng chỉ cần ông vẽ thì sẽ có sự đặc sắc rất “độc đáo”.

Bức vẽ này của ông khá khác biệt so với những bức vẽ trước, con bò của ông vẽ trong trạng thái ẩn, đòi hỏi người xem phải vận dụng trí tưởng tượng để tìm ra con bò, chính góc trên bên trái là nét hoàn thiện tạo nên bức tranh sống động như thật.

Đối với một họa sỹ bậc thầy như Tề Bạch Thạch, qua những bức vẽ của ông chúng ta có thể cảm nhận được một tâm trạng đặc biệt của ông đối với thế gian, những tác phẩm của ông quả là những tác phẩm để đời của một danh họa xuất thân nơi thiên nhiên đồng nội và sử dụng tài năng của mình để ca ngợi vẻ đẹp của tự nhiên.

Đúng là cảm nhận về cái đẹp không chỉ xuất phát từ cảm nhận ở bề mặt, mà còn từ suy nghĩ, tình cảm, nhận thức của con người, những bức tranh có cả hình thức và nội hàm mới là những tác phẩm đỉnh cao thực sự.

Đăng Dũng biên dịch
Nguồn: soundofhope (Lý Tĩnh Nhu)

NÚI THIÊN SƠN: HÀNH TRÌNH KHÁM PHÁ KỲ QUAN THIÊN NHIÊN TẠI TÂN CƯƠNG

Tọa lạc giữa lòng Tân Cương rộng lớn, Núi Thiên Sơn hiện lên như một bức tranh thủy mặc khổng lồ, nơi giao thoa giữa mây trời và hạ giới. Với vẻ đẹp kỳ vĩ của những đỉnh núi tuyết vĩnh cửu và thảm thực vật đa dạng, địa danh này đã trở thành điểm đến mơ ước của hàng triệu tín đồ du lịch. Hãy cùng Kim Lien Travel bắt đầu hành trình giải mã sức hút của "dãy núi thiên đường" này ngay sau đây.

Núi Thiên Sơn hiện lên như một bức tranh thủy mặc khổng lồ

Tổng quan về dãy Núi Thiên Sơn vĩ đại

Núi Thiên Sơn, trong ngôn ngữ bản địa mang ý nghĩa là "Núi Trời", giữ vị trí là một trong những hệ thống núi đồ sộ và quan trọng bậc nhất tại khu vực Trung Á. Trải dài hơn 2.500 km băng qua địa phận nhiều quốc gia, phần lớn diện tích đẹp nhất và hùng vĩ nhất của dãy núi này nằm trọn trong khu tự trị Tân Cương, Trung Quốc.

Sự hiện diện của Núi Thiên Sơn đóng vai trò như một ranh giới tự nhiên, chia tách vùng đất Tân Cương thành hai miền Bắc - Nam với những đặc trưng khí hậu đối lập. Nếu phía Bắc mang sắc thái ôn hòa với rừng cây rậm rạp, thì phía Nam lại ẩn chứa sự khắc nghiệt của những hoang mạc khô cằn. Dãy núi này đóng vai trò như một "nhà máy nước" khổng lồ, nơi những dòng băng tan từ đỉnh cao đổ xuống, nuôi dưỡng sự sống cho các ốc đảo và thảo nguyên phía dưới, tạo nên một hệ sinh thái vô cùng phong phú.

Tuyệt tác thiên nhiên giữa mây ngàn và tuyết trắng

Vẻ đẹp của Núi Thiên Sơn là sự kết tinh kỳ diệu từ những đỉnh cao vòi vọi, rừng thông xanh ngắt và những cánh đồng hoa dại rực rỡ. Những đỉnh núi quanh năm phủ tuyết trắng xóa vươn thẳng lên bầu trời xanh thẳm, tạo nên một cảnh tượng choáng ngợp cho bất kỳ ai lần đầu chiêm bái.

Vẻ đẹp của Núi Thiên Sơn là sự kết tinh kỳ diệu

Vào những sớm bình minh, khi ánh mặt trời vừa ló rạng, những tia nắng đầu tiên chiếu rọi xuống lớp băng tuyết khiến toàn bộ Núi Thiên Sơn như được dát một lớp vàng ròng lấp lánh. Dưới chân núi, những cánh rừng nguyên sinh xanh thẫm soi bóng xuống dòng suối trong vắt, tạo nên một không gian tĩnh lặng và thanh khiết. Khí hậu tại đây luôn duy trì sự mát mẻ, mang theo hương vị nồng nàn của nhựa thông và sự tươi mới của gió ngàn, giúp du khách rũ bỏ mọi mệt mỏi của đời thường.

Tầng sâu văn hóa và những huyền thoại cổ xưa

Bên cạnh giá trị về mặt cảnh quan, Núi Thiên Sơn còn được tôn sùng như một vùng đất linh thiêng trong tâm thức văn hóa Trung Hoa. Theo dòng chảy truyền thuyết, đây chính là nơi ngự trị của Tây Vương Mẫu, vị nữ thần quyền năng giữ chìa khóa của sự bất tử. Những câu chuyện về vườn đào tiên trên đỉnh núi cao đã biến nơi này thành biểu tượng của sự thoát tục và trường tồn.

Trong dòng lịch sử hào hùng của Con đường Tơ lụa, Núi Thiên Sơn từng là cung đường hiểm trở nhưng đầy mê hoặc mà các thương đoàn cổ đại phải chinh phục. Hình ảnh những đoàn lạc đà lầm lũi đi dưới chân núi tuyết đã trở thành một phần ký ức không thể tách rời của vùng đất này. Năm 2013, UNESCO đã chính thức công nhận Núi Thiên Sơn là Di sản Thiên nhiên Thế giới, khẳng định giá trị địa chất và văn hóa vô giá mà dãy núi này đang gìn giữ cho nhân loại.

Thời điểm lý tưởng để chiêm ngưỡng Núi Thiên Sơn

Việc lựa chọn thời gian khởi hành phù hợp sẽ giúp du khách tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp biến ảo của Núi Thiên Sơn qua từng mùa. Khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm được xem là mùa vàng để tham quan, khi tiết trời chuyển mình từ xuân sang thu, tạo nên những khung cảnh rực rỡ sắc màu.

Vào mùa hè, nhiệt độ tại Núi Thiên Sơn vô cùng dễ chịu, là thời điểm các thảo nguyên xanh mướt và những hồ nước băng tan đạt đến độ trong trẻo nhất. Ngược lại, nếu du khách là người yêu thích vẻ đẹp tĩnh lặng của mùa đông, thời điểm từ tháng 11 đến tháng 3 sẽ biến nơi đây thành một vương quốc tuyết trắng. Đây là lúc những ngôi nhà gỗ ven rừng chìm trong màn tuyết dày, tạo nên một không gian đậm chất cổ tích phương Tây giữa lòng châu Á.

Những điểm dừng chân không thể bỏ lỡ tại Núi Thiên Sơn

Hồ Thiên Trì – Viên ngọc bích giữa lưng chừng trời

Nằm ở độ cao gần 2.000 mét so với mực nước biển, Hồ Thiên Trì chính là điểm nhấn kiêu sa nhất của Núi Thiên Sơn. Mặt hồ phẳng lặng như một chiếc gương khổng lồ, phản chiếu trọn vẹn hình ảnh các đỉnh núi tuyết bao quanh. Nước hồ có màu xanh ngọc bích đặc trưng, thay đổi sắc độ theo cường độ ánh sáng trong ngày, mang đến cảm giác huyền ảo khó tả. Du khách có thể tản bộ trên những con đường gỗ ven hồ để hít thở bầu không khí trong lành hoặc ngồi thuyền du ngoạn giữa lòng hồ để cảm nhận sự vĩ đại của thiên nhiên.

Hồ Thiên Trì chính là điểm nhấn kiêu sa nhất của Núi Thiên Sơn

Thảo nguyên xanh và đời sống du mục bản địa

Bao quanh các sườn dải của Núi Thiên Sơn là những đồng cỏ mênh mông như những thảm lụa xanh trải dài vô tận. Đây là nơi sinh sống lâu đời của người Kazakh và người Uyghur với nét văn hóa du mục đặc sắc. Hình ảnh những đàn ngựa thong dong gặm cỏ bên cạnh những túp lều yurt trắng tinh khôi tạo nên một bức tranh thanh bình đến lạ kỳ. Sự mộc mạc trong đời sống của người dân bản địa kết hợp cùng cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ tạo nên một sức hút khó cưỡng đối với những ai muốn tìm kiếm sự an yên.

Những đồng cỏ mênh mông như những thảm lụa xanh trải dài vô tận

Khu bảo tồn thiên nhiên và hệ sinh thái quý hiếm

Khu bảo tồn thiên nhiên thuộc hệ thống Núi Thiên Sơn là nơi trú ngụ của nhiều loài sinh vật quý hiếm nằm trong sách đỏ. Địa hình hiểm trở với những vách đá dựng đứng và thung lũng sâu thẳm là ngôi nhà lý tưởng của báo tuyết, gấu nâu và loài đại bàng vàng dũng mãnh. Đây còn là trung tâm nghiên cứu đa dạng sinh học quan trọng, giúp duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái núi cao đặc trưng tại khu vực Tân Cương.

Khung cảnh thiên nhiên Núi Thiên Sơn

Những hoạt động trải nghiệm đặc sắc tại Núi Thiên Sơn

Chinh phục những cung đường trekking xuyên rừng

Đối với những tín đồ đam mê vận động, Núi Thiên Sơn mang đến những tuyến đi bộ đường dài đầy thử thách nhưng cũng rất đỗi thi vị. Hành trình xuyên qua những cánh rừng linh sam cổ thụ, vượt qua những dòng suối nhỏ róc rách sẽ đưa du khách đến gần hơn với trái tim của núi rừng. Cảm giác đứng trên một mỏm đá cao, phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh dãy núi nhấp nhô giữa làn mây mờ ảo là một phần thưởng xứng đáng cho mọi nỗ lực.

Cảm giác đứng trên một mỏm đá cao, phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh

Trải nghiệm văn hóa cưỡi ngựa và ẩm thực vùng cao

Cưỡi ngựa trên những thảo nguyên rộng lớn dưới chân Núi Thiên Sơn là một hoạt động không thể bỏ qua. Du khách sẽ được hòa mình vào nhịp sống phóng khoáng của những "đứa con của gió", cảm nhận sự tự do tuyệt đối giữa không gian bao la. Sau những giờ phút khám phá, việc thưởng thức chén trà sữa mặn ấm nóng, miếng bánh mì nướng thơm lừng hay món thịt cừu nướng đặc trưng của vùng Tân Cương sẽ khiến chuyến đi trở nên trọn vẹn hơn bao giờ hết.

Hoạt động thể thao mùa đông sôi động

Khi tuyết phủ trắng xóa các sườn núi, Núi Thiên Sơn biến thành một sân chơi thể thao mùa đông đẳng cấp. Những khu resort trượt tuyết hiện đại sẵn sàng phục vụ du khách với các dịch vụ trượt ván, đi xe mô tô tuyết hay đơn giản là nặn những chú người tuyết ngộ nghĩnh. Vẻ đẹp tinh khôi của tuyết trắng hòa cùng ánh nắng vàng hanh hao của mùa đông tạo nên những khoảnh khắc check-in vô cùng ấn tượng.

Vẻ đẹp tinh khôi của tuyết trắng hòa cùng ánh nắng vàng hanh hao của mùa đông

Núi Thiên Sơn không chỉ đơn thuần là một danh thắng, mà còn là biểu tượng cho sức mạnh và vẻ đẹp vĩnh cửu của tạo hóa. Mỗi bước chân khám phá nơi đây đều mang lại những cảm xúc mới mẻ, giúp con người tìm thấy sự giao thoa hài hòa giữa tâm hồn và thế giới tự nhiên vĩ đại.

Theo: kimlientravel



Friday, May 1, 2026

ĐÁM CƯỚI XA HOA CỦA CON TRAI TỶ PHÚ BẠCH THÁI BƯỞI: RƯỚC DÂU BẰNG MÁY BAY, NGƯỜI DÂN ĐẾN ĂN CỖ MIỄN PHÍ

Đám cưới này dùng máy bay đón dâu về đến Hải Phòng, xe ô tô diễu quanh phố phường, trống rong cờ mở rất hoành tráng. Được biết, doanh nhân Bạch Thái Bưởi là người đầu tiên có xe hơi ở miền Bắc.

Doanh nhân Bạch Thái Bưởi

Đám cưới xa hoa của con trai tỷ phú Bạch Thái Bưởi: Rước dâu bằng máy bay, người dân đến ăn cỗ miễn phí

Trong lịch sử giới doanh nhân Việt Nam đầu thế kỷ XX, Bạch Thái Bưởi được xem là một trong những biểu tượng giàu có và có tầm ảnh hưởng lớn. Từ xuất thân nghèo khó, ông vươn lên xây dựng đế chế vận tải thủy hùng mạnh, sở hữu hàng chục con tàu cùng mạng lưới kinh doanh trải rộng khắp khu vực. Nền tảng tài chính vững mạnh này cũng là cơ sở để ông tổ chức một đám cưới quy mô lớn cho con trai vào năm 1922, gây chú ý rộng rãi trong xã hội đương thời.

“Nhất Sĩ, Nhì Phương, Tam Xương, Tứ Bưởi” là câu nói truyền miệng để chỉ 4 người giàu có bậc nhất đất Việt đầu thế kỷ XX. Trong đó, Bạch Thái Bưởi là trường hợp đặc biệt khi xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo tại làng An Phúc (Thanh Trì, Hà Đông cũ, nay thuộc Hà Nội).

Đại gia Việt duy nhất được mệnh danh là "vua tàu thủy miền Bắc" - Doanh nhân Bạch Thái Bưởi.

Ông sớm trải qua biến cố gia đình khi cha mất sớm, mẹ mưu sinh bằng nghề bán hàng rong. Việc học dang dở, ông phải lao động từ nhỏ để phụ giúp gia đình. Bước ngoặt đến khi ông được nhận vào làm việc trong môi trường kinh doanh của người Pháp tại phố Tràng Tiền, từ đó tích lũy kinh nghiệm về thương mại, tổ chức sản xuất và quản lý.

Từ năm 1894, khi làm việc tại một xưởng thuộc hãng thầu công chính, ông có cơ hội tiếp cận máy móc và phương thức tổ chức sản xuất. Năm 1895, ông được lựa chọn tham gia giới thiệu sản phẩm Việt Nam tại Hội chợ Bordeaux (Pháp). Trở về nước, cơ hội lớn đầu tiên đến khi chính quyền thuộc địa xây dựng tuyến đường sắt xuyên Đông Dương và cầu Doumer bắc qua sông Hồng (nay là cầu Long Biên). Nhận thấy nhu cầu lớn về vật liệu gỗ cho đường sắt, Bạch Thái Bưởi liên doanh với một người Pháp để cung cấp tà vẹt gỗ cho Sở Hỏa xa Đông Dương.

Trong suốt 3 năm, ông lặn lội khắp các vùng rừng núi để tìm nguồn gỗ đạt tiêu chuẩn. Khi cầu Doumer hoàn thành năm 1902, hợp đồng này đã giúp ông tích lũy được nguồn vốn lớn. Sau đó, ông tiếp tục mở rộng hoạt động sang nhiều lĩnh vực như mở hiệu cầm đồ ở Nam Định, thầu thuế chợ tại Nam Định, Thanh Hóa và Vinh. Tuy nhiên việc kinh doanh này gặp thua lỗ. Không dừng lại, ông sử dụng số vốn còn lại để đấu thầu một hiệu cầm đồ của người Hoa tại Nam Định và giành được quyền kinh doanh.

Tại Cửa Cấm (Hải Phòng), công ty của Bạch Thái Bưởi hạ thủy tàu Bình Chuẩn - con tàu được thiết kế và thi công hoàn toàn bởi người Việt. Ảnh: Internet

Bước ngoặt lớn diễn ra từ năm 1909 khi ông chuyển sang lĩnh vực vận tải đường sông. Khởi đầu bằng việc thuê lại 3 chiếc tàu của hãng Pháp, ông từng bước mở rộng, mua lại tàu của các doanh nghiệp phá sản và xây dựng đội tàu riêng. Đến năm 1916, ông thành lập công ty hàng hải. Cuối thập niên 1920, doanh nghiệp này đã sở hữu hơn 40 tàu và sà lan, với khoảng 2.500 lao động, hoạt động trên nhiều tuyến trong nước và quốc tế, vươn tới Hong Kong, Trung Quốc, Nhật Bản, Singapore và Philippines. Song song với vận tải, ông đầu tư vào khai thác than và bất động sản tại Đồ Sơn (Hải Phòng). Chính vì vậy, ông được mệnh danh là “Vua tàu thủy miền Bắc”.

Trong số nhiều người con của Bạch Thái Bưởi, 2 cái tên được ông dành sự quan tâm lớn là Bạch Thái Toàn và Bạch Thái Tòng. Khi Bạch Thái Toàn sang Pháp học tập, kết hôn với người phương Tây và định cư ở nước ngoài, vai trò kề cận trong gia đình và công việc dần tập trung vào Bạch Thái Tòng. Người con trai này được giao tham gia điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh và trở thành người kế thừa khối tài sản của gia đình.

Bạch Thái Tòng.

Việc chuẩn bị hôn sự cho Bạch Thái Tòng vì thế được tổ chức với mức độ đầu tư lớn. Đám cưới không chỉ thu hút sự chú ý của báo chí Đông Dương mà còn được các hãng thông tấn Pháp nhắc tới như một sự kiện tiêu biểu trong giới thượng lưu bản xứ thời bấy giờ. Chính Bạch Thái Bưởi là người trực tiếp lựa chọn con dâu.

Cô dâu là Nguyễn Thị Tám - con gái quan huyện Nghi (cụ Cửu Nghi) tại phủ Thường Tín, Hà Đông cũ, nay thuộc khu vực Thanh Trì, Hà Nội. Gia đình bà Tám có vị thế xã hội và nền tảng kinh tế vững chắc, với hoạt động buôn bán vải vóc quy mô lớn từ Bắc vào Nam.

Ông Bạch Thái Tòng và bà Nguyễn Thị Tám. Ảnh: Internet

Bà Nguyễn Thị Tám là người con gái có vẻ đẹp đài các, được ví là "chim sa cá lặn" với làn da trắng sứ, dáng người mảnh dẻ, cao sang, mái tóc suôn mềm đen nhánh. Tính tình lại vô cùng đoan trang, hiền thục. Bà giỏi thêu thùa, đan lát và nấu ăn. Ở bà hội tụ đầy đủ các yếu tố "công, dung, ngôn, hạnh" của người phụ nữ đương thời. Từ nhỏ bà Tám được quan huyện Nghi rất yêu chiều, mời cả thầy đồ về dạy chữ quốc ngữ và tiếng Pháp. Bà Tám vốn nổi tiếng là thông minh, nên học hành rất giỏi giang. Nhiều gia đình giàu có từng tìm cách kết thông gia nhưng đều không đạt được thỏa thuận. Chỉ đến khi phía gia đình họ Bạch chủ động dạm hỏi, quan huyện Nghi mới đồng ý. Cuộc hôn nhân giữa hai gia đình được nhìn nhận là sự tương xứng về địa vị và tiềm lực.

Hôn lễ của Bạch Thái Tòng và Nguyễn Thị Tám chính thức diễn ra ngày 11 tháng Giêng năm 1922, kéo dài trong 3 ngày với lượng khách tham dự đông đảo. Khi ấy, Bạch Thái Bưởi đã có một quyết định táo bạo, dùng máy bay riêng rước dâu từ Hà Nội về Hải Phòng. Trên đường đi, máy bay bay chậm và rải các tấm thiệp mời, người dân ai bắt được tấm thiệp này thì được đến dự đám cưới và ăn cỗ miễn phí, thậm chí còn được Bạch Thái Bưởi cho tiền mang về.

Máy bay đón dâu về đến Hải Phòng, xe ô tô diễu quanh phố phường, trống rong cờ mở rất hoành tráng. Được biết, Bạch Thái Bưởi là người đầu tiên có xe hơi ở miền Bắc. Trong ngày cưới, cô dâu mặc áo dài bằng gấm đỏ, đầu đội mấn, chân mang hài. Cả bộ trang phục được dùng sợi chỉ bằng vàng thêu hình rồng phượng rất tinh xảo.

Đám cưới ông Bạch Thái Tòng và bà Nguyễn Thị Tám con doanh nhân Bạch Thái Bưởi. Bà Tám ngồi thứ 2 từ phải sang. Ảnh: Internet

Sính lễ trong đám cưới của ông Tòng bà Tám nhiều vô kể. Lễ ăn hỏi có hơn 20 tráp, chưa kể lễ “đen” (tiền mặt đưa cho nhà gái) và vàng bạc, phải huy động nhiều người bê thành hàng dài.

Một số người cao tuổi ở Hải Phòng vẫn thường đùa rằng, có lẽ xuất phát từ giai thoại này mà hiện nay một lễ ăn hỏi của người Hải Phòng thường rất lớn. Trung bình từ 9 tráp cho đến 21 tráp tùy theo mức độ kinh tế của mỗi gia đình.

T. San / Theo: Theo: Thời Trang Vàng

ĐIỆP LUYẾN HOA - ÁN THÙ


Điệp luyến hoa - Án Thù

Hạm cúc sầu yên lan khấp lộ,
La mạc khinh hàn,
Yến tử song phi khứ.
Minh nguyệt bất am ly hận khổ,
Tà quang đáo hiểu xuyên chu hộ.

Tạc dạ tây phong điêu bích thụ,
Độc thướng cao lâu,
Vọng tận thiên nhai lộ.
Dục ký thái tiên kiêm xích tố,
Sơn trường thuỷ khoát tri hà xứ?


蝶戀花 - 晏殊

檻菊愁煙蘭泣露,
羅幕輕寒,
燕子雙飛去。
明月不諳離恨苦,
斜光到曉穿朱戶。

昨夜西風雕碧樹,
獨上高樓,
望盡天涯路。
欲寄彩箋兼尺素,
山長水闊知何處。


Điệp luyến hoa
(Dịch thơ: Nguyễn Xuân Tảo)

Lan khóc sương, cúc buồn khói đọng,
Lạnh thấm màn là,
Cặp én bay đi thẳng.
Dì nguyệt hiểu gì người chiếc bóng,
Thâu canh ánh sáng xiên song trống.

Đêm qua gió tây, cây biếc rụng,
Lần bước lên lầu,
Nẻo chân trờ xa ngóng.
Tấc lụa, tờ hoa mong đến chóng,
Nào biết nơi đâu, núi sông rộng.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Án Thù 晏殊 (991-1055) tự Đồng Thúc, người huyện Lâm Xuyên (nay thuộc tỉnh Giang Tây), 7 tuổi đã làm văn, về sau làm quan tới Tể tướng. Từ của ông có phong vị xảo diệu, nùng diễm mà đối thê lương uyển chuyển, phong cách rất cao. Ông có vặp tập 240 quyển, song ông nổi tiếng trên văn học sử lại là tập Chân ngọc từ.

Nguồn: Thi Viện



SỰ THẬT THÚ VỊ VỀ HOÀNG ĐẾ CÀN LONG

Trải qua hai triều đại dốc sức vì nước, Hoàng đế Khang Hy và Ung Chính, nhà Thanh đến thời đại Càn Long đại diện cho đỉnh cao về kinh tế chính trị.

Nguồn ảnh: aboluowang

Cuộc sống của Càn Long có rất nhiều giai thoại thú vị được lưu truyền trong dân gian.

Càn Long thích ăn vịt

Các Hoàng đế nhà Thanh rất thích ăn thịt vịt, thịt vịt luôn có trong mỗi bữa ăn của hoàng gia. Vào năm Càn Long thứ 53 (1788), vào ngày mồng 7 tháng 7 là “Tiết Thất Sảo”, bữa sáng của Càn Long bao gồm vịt hầm rượu, vịt hầm canh và vịt hấp. Càn Long thích ăn nhất là món “Vịt rau khô”. Theo lời kể của người phụ trách một quán ăn lớn, khi Càn Long đi đến nam sông Dương Tử, nghe nói vịt ở thủy trấn rất ngon nên muốn thử món mới. Thời gian bữa trưa đã cận kề, phải vội vàng đi nấu cơm, đầu bếp còn nhổ lông vịt chưa sạch, lo lắng Càn Long sẽ trách tội, làm sao bây giờ?

Người đầu bếp cũng giở trò, ông rắc rau đen khô vào chảo cùng với con vịt để che bớt lông vịt. Ai ngờ Càn Long vốn đã quen với hương vị trong cung, đổi khẩu vị lại cảm thấy lạ miệng, nên cứ khen ngon. Bởi vì Hoàng đế khen ngon và ông vô cùng thích nó, vậy là một món ăn nổi tiếng đã ra đời. Truyền thuyết này có thể không đáng tin lắm, có lẽ là do quán ăn nghĩ ra, nhưng việc Càn Long thích ăn thịt vịt là có thật.

Càn Long thích thưởng trà

Càn Long đi về phía nam sông Dương Tử, ngang qua núi Thạch Phong ở Long Tỉnh, Hàng Châu, ung dung học hái lá trà, khi nhận được tin báo khẩn cấp rằng Thái hậu bị ốm, liền lập tức mang theo lá chè rồi đi về, thái hậu bị đau bụng, nhưng sau khi uống trà Long Tỉnh thì thân thể trở nên khỏe mạnh, sau đó mười tám cây trà ở Long Tỉnh được phong là trà cung đình, trà ở đây được hái hàng năm để dâng lên Hoàng thái hậu. Cho đến nay, vẫn còn 18 cây trà Hoàng gia được bảo tồn tại Long Tỉnh. Trà Long Tỉnh bắt đầu nổi tiếng từ đó và cho đến hiện nay.

Nguồn ảnh: aboluowang

Càn Long đi đến phía nam sông Dương Tử, thưởng thức một loại trà bên cạnh Thái Hồ, không chỉ có mùi thơm dễ chịu của trà mà hương trà còn kèm theo hương thơm trái cây, từ đó danh tiếng trà “Bích loa xuân” (碧螺春) đã vang danh khắp thiên hạ.

Khi đến huyện Sùng An, tỉnh Phúc Kiến, sau khi nếm thử trà ô long “Đại hồng bào“ (大红袍), Hoàng đế Càn Long ban đầu cho rằng tên gọi của nó không đứng đắn, sau khi biết nguồn gốc của nó, ông đã vui vẻ ghi một tấm biển cho nó. Sau khi nếm thử trà ô long ở An Khê, Phúc Kiến, nó đã được đặt tên theo tước vị Hoàng gia. Kể từ đó, trà An Khê trở nên nổi tiếng. Những loại trà mà Càn Long xưa kia thích uống nay vẫn vang danh khắp nơi.

Nguồn ảnh: aboluowang

Câu đối của Càn Long

Hoàng đế Càn Long, Kỷ Hiểu Lam và Hòa Thân đi tham quan trong khu vườn hoàng gia. Gió thổi đến, hoa lá đung đưa, Càn Long tâm tình tốt nên muốn thử thách Kỷ Hiểu Lam và Hòa Thân.

“Hai vị ái khanh, trẫm ra một vế trên, các ngươi đối một vế dưới, có được hay không?”

“Câu đối đầu tiên của ta là – ‘Bạch xà quá giang, đỉnh đầu một vòng mặt trời đỏ’ 
(白蛇过江, 头顶一轮红日).

Hòa thân vừa nghe, cảm thấy rất đau đầu, bởi vì ông căn bản không biết rõ vế trên rốt cuộc là có ý gì, không thể làm gì khác hơn là ngơ ngác đứng đó, trán của ông mồ hôi chảy xuống không ngừng. Kỷ Hiểu Lam lúc bắt đầu cũng hơi hoảng sợ, chính xác thì câu đối này nói về cái gì? Nhưng sau khi suy nghĩ một lúc, ông đã hiểu ý của Càn Long.

Kỷ Hiểu Lam quay mặt nhìn Hòa Thân lúc này mặt còn đỏ bừng bừng, nhìn cảnh này thiếu chút nữa ông bật cười thành tiếng: “Bệ hạ, thần nghĩ ra câu đối thứ hai— “Thanh long treo bích, người khoác vạn điểm ngân tinh” (青龙挂壁, 身披万点银星).

“Tốt, tốt, tốt! Tuyệt vời, tuyệt vời, tuyệt vời!” Càn Long không thể không vỗ tay sau khi nghe câu đối thứ hai của Kỷ Hiểu Lam. Nhưng Hòa Thân lại hoàn toàn mê muội, không biết mọi người đang nói cái gì. Hòa Thân suy nghĩ hồi lâu vẫn không nghĩ ra, một lúc sau mồ hôi đầm đìa. Nhìn thấy sự Hòa Thân, Càn Long cảm thấy rất buồn cười nên hỏi ông: “Hòa Thân, câu đối này ám chỉ điều gì?”

Nguồn ảnh: aboluowang

Hòa Thân nói: “Nô tài thật ngu ngốc, ta thật đoán không ra”.

“Ha ha ha. Không sao, ta nói cho ngươi biết – câu đối phía trên của ta viết ‘bấc đèn dầu’, Kỷ Hiểu Lam câu thứ hai viết về “cái cân’.”

Hoàng đế Càn Long một lần ăn mặc như thường dân đến phía nam sông Dương Tử vi hành. Khi đi ngang qua một ngôi làng, Hoàng đế Càn Long thấy một gia đình nông dân đang tổ chức đám cưới nên nảy ra ý tưởng, viết một câu đối và đưa cho người hầu cận ba đồng tiền, yêu cầu ông gửi tiền và câu đối để làm quà mừng. Chủ nhà xem đôi câu đối, câu đối viết: “Ba đồng tiền làm quà cưới, nhỏ quá thì không nhận, nhận thì yêu tiền” (三个铜钱贺礼, 嫌少勿收, 收则爱财).

Nguồn ảnh: aboluowang

Nay chủ nhà rất khó nghĩ, nhận cũng không được, mà không nhận cũng không được. Đang lúc lo lắng thì cậu con trai mười tuổi của chủ nhà đến tìm cha. Sau khi xem câu đối, người con út thưa với cha: “Việc này dễ thôi, để con viết câu đối trả lời”. Không ngờ, chỉ trong nháy mắt, người con út đã viết ngay câu đối thứ hai – “Hai túp lều tranh tiếp khách, sợ nghèo thì không đến, ai đến thì ăn ngon” (两间茅屋待客, 怕穷莫来, 来者好吃).

Theo cách này, Hoàng đế Càn Long cảm thấy khó xử, ở lại cũng không được, đi cũng không được.

Đăng Dũng biên dịch
Nguồn: aboluowang (Lý Quảng Tùng)