Wednesday, February 4, 2026

THƯ VIỆN NẰM GIỮA RỪNG CÂY Ở ĐÀI LOAN

Nằm dưới tán cây xanh mướt, Thư viện huyện Bình Đông (Đài Loan, Trung Quốc) phá vỡ khái niệm về không gian đọc truyền thống, để tâm trí mọi người lạc trôi giữa miền tưởng tượng.

Những hàng cây long não dọc theo lối vào Thư viện huyện Bình Đông.

Kiến trúc sư người Mỹ Louis Isadore Kahn - một trong những kiến trúc sư có tầm ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20 - từng nói: "Một cuốn sách quý giá biết bao khi xét đến sự cống hiến, xét đến người có đặc quyền được cống hiến. Thư viện sẽ cho bạn biết về sự cống hiến đó".

Các thư viện mà Kahn thiết kế vào những năm 1970 đã trở thành những kiệt tác trong thế hệ của ông. Nhưng khi thời thế thay đổi, trong khi chức năng chính của thư viện vẫn là nơi cung cấp và lưu giữ tài liệu đọc, thì "bản chất của không gian công cộng" đã có sự thay đổi đáng kể. Một thư viện hiện đại nằm giữa rừng cây ở huyện Bình Đông (Đài Loan, Trung Quốc) là ví dụ tiêu biểu phản ánh xu hướng này.


Thư viện giữa rừng cây

Tòa nhà chính của Thư viện huyện Bình Đông, mở cửa trở lại vào năm 2021, có bức tường kính nhìn ra bầu trời và rừng cây long não xanh mướt. Đó là lý do thư viện có biệt danh là "forest library".

Trên thực tế, thư viện này là một tòa nhà đã hơn 30 năm tuổi và trước đây là Trung tâm văn hóa huyện Bình Đông - một trong những tòa nhà văn hóa lớn của Đài Loan. Do thiếu không gian cần thiết và cơ sở vật chất xuống cấp theo thời gian, công trình này đã được cải tạo vào năm 2018.

Kiến ​​trúc sư Chang Ma Lone của Mayu Architects - đơn vị được giao nhiệm vụ thực hiện dự án - đã đề xuất cải tạo và mở rộng tòa nhà hiện có, thay vì xây dựng một thư viện hoàn toàn mới. Điều này vừa giúp giảm chi phí, đồng thời bảo tồn được bản sắc, ý nghĩa lịch sử của công trình ban đầu và mở rộng di sản văn hóa của nó.

Thư viện huyện Bình Đông với biệt danh "forest library".

Bằng cách bảo tồn và trẻ hóa cấu trúc cũ, dự án đã tránh tạo ra lượng lớn chất thải khi phá bỏ tòa nhà, và do đó tuân thủ khái niệm về tính bền vững. Nó cũng phù hợp với các tiêu chí được sử dụng để lựa chọn người chiến thắng Giải thưởng Kiến trúc Pritzker trong những năm qua: Không ưu tiên các thiết kế mang tính đột phá, bắt mắt, mà tập trung vào tác động của các tòa nhà đối với biến đổi khí hậu, thay đổi môi trường và nhu cầu của con người.

Thư viện huyện Bình Đông thể hiện lý tưởng của kiến ​​trúc bền vững, tạo nên mối quan hệ thân thiện giữa tòa nhà ban đầu và môi trường xung quanh. Tại Giải thưởng Architizer A+ năm 2022, tòa nhà đã được công nhận ở hai hạng mục: Giải thưởng Lựa chọn phổ biến trong hạng mục Tái sử dụng thích ứng và Giải thưởng Đặc biệt trong hạng mục Thư viện. Các giải thưởng đã thu hút sự chú ý toàn cầu đến thư viện nằm giữa rừng cây này.

Để tâm trí được lang thang

Khi bắt tay vào dự án, nhóm kiến trúc sư tại Mayu Architects đã tự hỏi: "Chức năng của thư viện trong kỷ nguyên số của thế kỷ 21 là gì?". Kiến trúc sư Chen Yu-lin, thành viên của nhóm thiết kế dự án, cho biết: "Kết luận của chúng tôi là ngày nay không chỉ sách phải cạnh tranh với phương tiện truyền thông kỹ thuật số, mà thư viện hiện đại còn phải cạnh tranh với các cơ sở văn hóa khác như bảo tàng và phòng trưng bày nghệ thuật".

Làm thế nào để thư viện có thể nổi bật trong môi trường cạnh tranh này? Nhóm Mayu đã áp dụng khái niệm "cải tiến giao diện người dùng" - giống như việc cập nhật hệ điều hành của máy tính - để đáp ứng nhu cầu hiện đại.

Sảnh mới mở rộng ra từ cấu trúc cũ là "giao diện người dùng" mới mà Chen nói đến. Không gian mới có một quán cà phê và đôi khi được dọn dẹp để tổ chức triển lãm hoặc workshop, thu hút những người không thường xuyên vào thư viện.

Trước đây, mọi người phải đi bộ một quãng đường dài để vào tòa nhà, nhưng giờ đây chỉ cần đi bộ một đoạn ngắn dọc theo lối đi rợp bóng cây xanh, tạo cảm giác chào đón và thân thiện. "Bản chất của thư viện là một không gian công cộng bắt nguồn từ cảm giác chào đón này", Chen nhấn mạnh.

Bản chất của trung tâm văn hóa trước đây là cung cấp không gian công cộng nơi mọi người có thể chia sẻ một hoạt động duy nhất cùng nhau, chẳng hạn như nghe hòa nhạc. "Nhưng đối với tôi, bản chất của không gian công cộng ngày nay là để mọi người ở trong một không gian nhưng mỗi người có thể làm một việc khác nhau", Chen nói.

Màu sắc chính được sử dụng trong Thư viện huyện Bình Đông là màu đen, trắng và gỗ nâu.

Ví dụ, tầng ba từng có các bộ sưu tập truyện tranh và tài liệu đa phương tiện hấp dẫn giới trẻ và một tầng lửng thông gió. Nhóm thiết kế đã dỡ bỏ các giá sách, đập bỏ tầng lửng và biến không gian thành cầu thang màu trắng hai tầng và khu vực hoạt động dẫn lên tầng bốn. Ngày nay, giới trẻ thường ngồi ngược trên cầu thang, sử dụng các bậc thềm làm bàn để viết và thảo luận về bài tập về nhà. Cầu thang cũng có thể dùng làm chỗ ngồi cho các hoạt động như chiếu phim hoặc bài giảng.

Thư viện được thiết kế giống như một mạng lưới đường phố nơi mọi người có thể đi lang thang xung quanh, và Chen nói sẽ "rất thú vị nếu bị lạc một chút". Nhưng nếu bị lạc, chỉ cần đi bộ và bạn sẽ biết ngay mình đang ở đâu. Đây là một trong những mục tiêu của thiết kế tòa nhà công cộng.

Màu sắc chính được sử dụng trong sảnh của Thư viện huyện Bình Đông là màu đen và gỗ nâu. Các cột trụ và tường không theo một mô hình thẳng, mà có các đường tam giác song song được tạo thành bởi giao điểm của những cột trụ hình chữ V với trần nhà. Mọi nơi đều có các yếu tố hình tam giác, từ cửa sổ, gác lửng và đèn treo. Ý tưởng này được mượn từ đồ trang trí trên những ngôi nhà đá phiến đen tuyền của người dân bản địa Paiwan và được chuyển đổi thành một mô hình hiện đại.

Trong khi các thư viện thường muốn mang lại sự tập trung tối đa cho người đọc, nhóm của Chen lại có cách tiếp cạnh trái ngược là "tạo ra sự phân tâm".

Chen nói rằng nếu cần sự tập trung, mọi người chỉ cần đến một "trung tâm học tập" (một nơi cho thuê không gian yên tĩnh để học tập theo giờ). "Chúng tôi đã suy nghĩ kỹ về điều này và quyết định rằng nơi tốt nhất để đọc tiểu thuyết là nơi mà tâm trí bạn có thể lang thang. Ở đây, bạn có thể uống một tách cà phê, tưởng tượng ra các cảnh trong sách, đắm chìm trong suy nghĩ và ngắm nhìn cây xanh bên ngoài".

Lê Vy / Theo: znews
Link tham khảo:



XUÂN DẠ HỈ VŨ - ĐỖ PHỦ


Xuân dạ hỉ vũ

Hảo vũ tri thì tiết,
Đương xuân nãi phát sinh.
Tuỳ phong tiềm nhập dạ,
Nhuận vật tế vô thanh.
Dã kính vân câu hắc,
Giang thuyền hoả độc minh.
Hiểu khan hồng thấp xứ,
Hoa trọng Cẩm Quan thành.


春夜喜雨 - 杜甫

好雨知時節
當春乃發生
隨風潛入夜
潤物細無聲
野徑雲俱黑
江船火獨明
曉看紅濕處
花重錦官城


Đêm xuân mừng mưa
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Mát lành trời đổ cơn mưa. 
Ai hay trời đất cũng vừa vào xuân. 
Tưới mát muôn vật thấm nhuần. 
Năm canh gió cuốn, bần thần vì ai. 
Đường quê mây phủ bài hoài. 
Bên sông, một ngọn đèn chài lẻ loi. 
Hồng hồng, thắm thằm bên ngòi. 
Cẩm Quan hoa cũng mặn mòi sắc hương.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Phủ 杜甫 (12/2/712 - 770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo Đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.

Nguồn: Thi Viện



ĐỐI ĐẦU ẤN ĐỘ-PAKISTAN: CUỘC CHIẾN 17 NGÀY CHẤN ĐỘNG NAM Á

Năm 1965, Pakistan được cho là có động thái châm ngòi cho nổi dậy ở vùng Kashmir chống lại Ấn Độ, nhưng bước ngoặt bất ngờ đã xảy ra. Thay vì một cuộc nổi dậy, Nam Á khi đó chứng kiến một trong những cuộc chiến bùng nổ nhanh nhất lịch sử khu vực, nơi những cỗ xe tăng hiện đại do Mỹ sản xuất không thể vượt qua... một cánh đồng mía.

Xe tăng Pakistan không thể di chuyển do nước ngập ở cánh đồng mía năm 1965. Ảnh: Bharat Colorized

Màn thử lửa đầu tiên

Theo trang Britannica, mầm mống chiến tranh Ấn Độ - Pakistan năm 1965 bắt nguồn từ vết nứt chưa lành sau phân chia năm 1947. Kashmir – vùng đất tranh chấp lâu đời với đa số dân theo Hồi giáo – vẫn là điểm nóng thường trực dọc “Đường Kiểm soát” (LOC). Cả Ấn Độ và Pakistan đều mong muốn khẳng định chủ quyền tại đây, bất chấp những nỗ lực trung gian hoà giải quốc tế.

Sau cuộc chiến với Trung Quốc năm 1962, Ấn Độ bước vào giai đoạn tái cơ cấu quân đội và khắc phục khủng hoảng lương thực. Thủ tướng Ấn Độ Lal Bahadur Shastri cảnh báo: “Nếu tình trạng người Pakistan thâm nhập biên giới tiếp diễn, chúng ta sẽ phải mang chiến tranh sang bên kia biên giới”.

Ở phía bên kia, Tổng thống Ayub Khan của Pakistan tự tin với nguồn viện trợ vũ khí từ Mỹ và cho rằng Ấn Độ chưa thể phục hồi sau cuộc chiến với Trung Quốc. Thời điểm đó, Mỹ viện trợ quân sự vì xem Pakistan là đối tác chiến lược để đối phó Liên Xô ở phía nam.

Từ tháng 4 đến tháng 6/1965, Pakistan mở Chiến dịch Desert Hawk (tạm dịch: Diều hâu sa mạc) nhằm thăm dò phản ứng của Ấn Độ tại vùng đầm lầy mặn Rann of Kutch, bang Gujarat, Ấn Độ.

Quân Pakistan gồm sư đoàn bộ binh và trung đoàn xe tăng Patton (Mỹ sản xuất), chiếm giữ các cứ điểm ven biên giới. Phía Ấn Độ điều thêm lực lượng tăng viện, bắn pháo và triển khai bộ binh giao tranh trực tiếp để giữ vị trí.

Dù chỉ là xung đột cục bộ, việc đụng độ kéo dài 2 tháng đã củng cố niềm tin của giới chỉ huy Pakistan vào sức mạnh của vũ khí Mỹ và rằng Ấn Độ còn yếu. Từ đó, họ tính toán cho những bước leo thang tiếp theo.

"Quả bom hẹn giờ" thất bại

Binh sĩ Pakistan năm 1965. Ảnh: Mydust

Chưa đầy 2 tháng sau, Pakistan triển khai Chiến dịch Gibraltar vào tháng 8/1965.

Theo Sputnik News, đêm 5/8, khoảng 7.000 - 30.000 quân Pakistan mặc thường phục vượt đường kiểm soát LOC vào khu vực do Ấn Độ kiểm soát ở bang Jammu và Kashmir, với mục đích kích động nổi dậy.

Tuy nhiên, kế hoạch của Pakistan nhanh chóng phá sản khi người dân địa phương nhanh chóng báo cho quân đội Ấn Độ, khiến nhiều toán xâm nhập bị hạ hoặc bị bắt giữ.

Thủ tướng Ấn Độ Shastri lập tức ra lệnh phản công, không chỉ đẩy lùi các nhóm xâm nhập mà còn chiếm giữ đèo Haji Pir – tuyến đường chiến lược nối vùng Poonch với thị trấn Uri (ở Jammu và Kashmir), rút ngắn hành trình xuống thủ phủ Srinagar của bang Jammu & Kashmir hơn 200 km.

Loạt trận đánh tiêu biểu

Theo trang Britannica, tại bang Punjab, Ấn Độ, ngày 6/9/1965, quân đội Ấn Độ mở chiến dịch vượt biên giới tấn công ngoại ô thành phố Lahore và thành phố Sialkot (đều của Pakistan).

Trong đợt phản công của Pakistan 2 ngày sau đó, một sư đoàn thiết giáp (khoảng 220 xe tăng Patton) đã đột kích thị trấn Khem Karan, Ấn Độ, sẵn sàng nghiền nát mọi thứ cản đường.

Theo trang Defence Update, lực lượng tấn công của Pakistan áp đảo hoàn toàn tuyến phòng thủ của Ấn Độ cả về quân số lẫn xe tăng. Trung tướng Harbaksh Singh, chỉ huy lực lượng phòng thủ Ấn Độ, đứng trước hai lựa chọn: Rút lui hoặc giữ vững trận địa. Ông Singh đã chọn phương án thứ 2 – tái bố trí lực lượng theo hình chữ U bao quanh làng Asal Uttar, thuộc thị trấn Khem Karan, nhằm đánh vào xe tăng đối phương từ 3 hướng cùng lúc.

Lợi dụng bóng tối, binh sĩ Ấn Độ cho ngập nước các cánh đồng mía, dụ xe tăng của quân Pakistan tiến vào. Tưởng rằng quân Ấn đã rút lui, xe tăng Pakistan bị dẫn dụ tiến sâu vào khu vực mai phục hình chữ U. Những cánh đồng mía ngập nước khiến các xe tăng Patton bọc thép hạng nặng của Pakistan bị sa lầy và mắc kẹt trong lớp bùn nhão. Toàn bộ lực lượng thiết giáp của Pakistan – 220 xe tăng – bị tê liệt tại chỗ.

Ngay lúc đó, binh sĩ và xe tăng của quân đội Ấn Độ đồng loạt mở đợt phản công dữ dội. Những ruộng mía cao giúp lực lượng Ấn Độ ẩn nấp trong đội hình chữ U mà vẫn tiếp cận rất gần với xe tăng Pakistan. Theo trang Defence Update, trong số 220 xe tăng Patton của Pakistan, có 170 chiếc bị phá hủy hoặc bị bỏ lại. Một số tư liệu cho rằng số xe tăng Pakistan thiệt hại là 97 chiếc. Quân Ấn Độ chỉ bị hư hại 32 xe tăng.

Cảnh tượng xác xe tăng nằm la liệt đến mức thị trấn này được đặt biệt danh là “Patton Nagar” (tạm dịch: Mồ chôn xe tăng Patton).

Xe tăng Patton của Pakistan bị Ấn Độ thu giữ sau trận Asal Uttar năm 1965. Ảnh: Alchetron

Tiếp đó, ở trận Phillora, trung đoàn cơ giới số 43 phối hợp với trung đoàn thiết giáp Poona Horse của Ấn Độ – sử dụng xe tăng Centurion – tiêu diệt thêm khoảng 60 xe tăng Patton, trong khi chỉ mất 18 xe tăng Sherman và xe tăng Centurion.

Theo trang Chegg India, đỉnh điểm trong cuộc chiến Ấn Độ - Pakistan 1965 là trận Chawinda vào ngày 17/9 – cuộc đụng độ xe tăng lớn nhất kể từ Thế chiến II, với sự tham gia của hơn 500 xe tăng.

Trung đoàn thiết giáp Poona Horse (Ấn Độ), dưới quyền chỉ huy của trung tá Ardeshir Burzorji Tarapore, đã sử dụng đội hình thiết giáp cơ động và hỏa lực vượt trội để phá hủy khoảng 60 xe tăng Pakistan. Ấn Độ tuyên bố mất khoảng 29 xe tăng.

Theo một số nhà phân tích, trận Chawinda tuy có quy mô xe tăng rất lớn, nhưng không diễn ra theo kiểu đối đầu trực diện toàn diện giữa hàng trăm xe tăng cùng lúc. Địa hình, chiến thuật phòng ngự, cách điều động lực lượng theo từng đợt, và khái niệm “thiệt hại” trong chiến tranh hiện đại đã khiến tổng số xe tăng bị phá hủy không lớn như con số tham chiến.

Bên cạnh các trận bộ binh và thiết giáp, Không quân Ấn Độ và Pakistan liên tục chạm trán trên bầu trời, trong khi Hải quân Pakistan thực hiện vụ bắn phá radar Dwarka (bang Gujarat, Ấn Độ) nhằm gây rối thông tin liên lạc.

Ai thực sự thắng?

Thủ tướng Ấn Độ Lal Bahadur Shastri (bên phải) gặp Tổng thống Pakistan Muhammad Ayub Khan trước khi hai bên ký Tuyên bố Tashkent, sau cuộc chiến Ấn Độ - Pakistan năm 1965. Ảnh: Times of India

Cuộc chiến Ấn Độ - Pakistan 1965 chính thức kết thúc sau khi Liên Hợp Quốc ra nghị quyết kêu gọi ngừng bắn vào ngày 22/9/1965, trong bối cảnh cả hai bên đều đối mặt với nguy cơ sa lầy.

Dù có nhiều lợi thế trên thực địa, Ấn Độ buộc phải cân nhắc thiệt hại kinh tế, sức ép quốc tế và nguy cơ chiến tranh kéo dài, đặc biệt là khi Liên Xô – đối tác ngoại giao quan trọng – đứng ra làm trung gian hòa giải.

Tháng 1/1966, Thủ tướng Ấn Độ Lal Bahadur Shastri và Tổng thống Pakistan Ayub Khan ký Tuyên bố Tashkent tại Uzbekistan, với Liên Xô làm trung gian. Hai nước cam kết rút quân về vị trí lãnh thổ có từ trước ngày 5/8/1965.

Tuy nhiên, vùng Kashmir – nguyên nhân chính của cuộc chiến – lại không được đề cập trong văn bản, khiến căng thẳng âm ỉ tiếp tục kéo dài.

Dữ liệu từ trang Chegg India cho thấy Ấn Độ kiểm soát 1.840 km² lãnh thổ đối phương khi ngừng bắn, so với 540 km² của Pakistan. Tuy nhiên, The Tribune nhận định: "Cả hai đều tuyên bố thắng lợi, nhưng sự thật là Kashmir vẫn nguyên vẹn". Thương vong phía Ấn khoảng 3.000 lính, Pakistan mất 3.800 lính.

Trang Chegg India cũng nhận định, tình báo quân sự của cả hai bên đều thất bại nghiêm trọng. Tình báo quân đội Ấn Độ đã không đưa ra bất kỳ cảnh báo nào về cuộc tấn công từ Pakistan, trong khi tình báo Pakistan lại không hiểu đúng tâm lý người dân Kashmir – những người đã báo tin cho quân đội Ấn Độ, làm phá sản chiến dịch Gibraltar của Pakistan.

----------------------

Trong chưa đầy 2 tuần, một cuộc chiến khốc liệt đã xảy ra giữa Ấn Độ và Pakistan, định hình lại bản đồ chính trị Nam Á khi khai sinh ra một quốc gia mới. Cuộc chiến đó khốc liệt ra sao?

Nguyễn Thái - (t/h)
Theo: Người đưa tin

Còn tiếp: Chiến tranh khốc liệt giữa Ấn Độ và Pakistan: Ra đời một quốc gia mới


BÍ ẨN HƠN 150 NĂM CỦA SINGAPOUR - THỊ TRẤN MA NƯỚC MỸ

Từng là một thị trấn phồn vinh bên bờ sông Kalamazoo, Singapore ở bang Michigan đã biến mất khỏi bản đồ nước Mỹ hơn 150 năm trước, bị chôn vùi dưới những cồn cát không để lại dấu tích. Đằng sau sự biến mất kỳ lạ ấy là câu chuyện lịch sử đầy tham vọng, thảm họa thiên nhiên và cái giá khốc liệt của con người khi thách thức tự nhiên.

Xưởng cưa và kho gỗ ở Singapore, tại cửa sông Kalamazoo, khoảng năm 1869. Nguồn ảnh: Kho lưu trữ Trung tâm Lịch sử Saugatuck-Douglas

Bí ẩn hơn 150 năm của Singapore - Thị trấn ma nước Mỹ

Singapore không chỉ là tên của đất nước nhỏ bé ở Đông Nam Á, mà còn là tên của thị trấn ma nổi tiếng ở Mỹ. Singapore từng là một thị trấn rất phồn vinh ở bang Michigan nhưng đã bị chôn vùi dưới những cồn cát… và không để lại dấu vết gì.

Vào những năm 1800, trị trấn Singapore là trung tâm sản xuất gỗ và đóng tàu khá lớn bên bờ sông Kalamazoo, thuộc bang Michigan. Người dân và công nhân xưởng cưa khai thác gỗ từ cây thông trắng ở phía tây bang Michigan, sau đó vận chuyển đến Chicago và Milwaukee.

Những người đầu tiên xây dựng Singapore nuôi mộng lớn cho thị trấn của mình. Họ tham vọng đưa Singapore trở thành khu đô thị sầm uất, phồn thịnh và hiện đại nhất tại bang Michigan.

Ban đầu việc sản xuất và buôn bán gỗ mang lại nguồn lợi lớn. Từ nguồn thu này, họ đầu tư vào những lĩnh vực khác. Thời kỳ đỉnh cao, thị trấn có hai khách sạn, ba nhà máy, các cửa hàng tiện lợi cũng như trường học đầu tiên ở bang Michigan.

Bức ảnh này cho thấy những cồn cát đang từ từ bao quanh một tòa nhà ở Singapore vào cuối những năm 1800. Nguồn ảnh: Kho lưu trữ Trung tâm Lịch sử Saugatuck-Douglas

Tuy nhiên, thiên nhiên không chiều lòng người. Khai thác gỗ quá mức đã dẫn đến các thảm họa thiên nhiên. Năm 1842, một trận bão tuyết nghiêm trọng kéo dài 40 ngày đã tàn phá gần như toàn bộ thị trấn. Nhờ vào lượng thực phẩm tích trữ, người dân nơi đây sống sót sau thảm họa kinh hoàng.

Thế nhưng, mọi chuyện chưa dừng lại ở đó. Năm 1871, một thảm họa khác ập đến. Hàng loạt đám cháy liên tục bùng phát trong khu vực khiến hoạt động buôn bán gỗ lụi tàn, nhiều ngôi nhà bị phá hủy. Thảm họa này khiến cho người dân mất việc làm. Mất đi nguồn thu nhập, khiến họ phải bỏ xứ và thị trấn gần như bị bỏ hoang.

Bên bờ sông Kalamazoo, chỉ còn những cồn cát và cỏ dại.

Các thảm họa thiên nhiên không tự nhiên mà có. Nó là hậu quả của tham vọng làm giàu không có điểm dừng. Điều này đã khiến thị trấn Singapore bị bào mòn bởi bão cát và rồi bị chôn vùi mãi mãi dưới những cồn cát hoang vu.

Ngày này, người ta vẫn đang tìm kiếm những gì còn xót lại của thị trấn Singapore. Tuy nhiên, những thứ bên dưới cồn cát vẫn là một bí ẩn. Trong những năm qua, tùy thuộc vào mực nước tại hồ, một số bến tàu và nền móng công trình cũ đã lộ ra.

Ngoại trừ một tấm biển nhỏ bị che khuất bởi cỏ dại, ghi “Singapore nằm ở đây”, không có dấu hiệu nào cho thấy khu vực này từng là một thị trấn với ngành buôn bán gỗ lừng danh.

Michelle Church, một nghiên cứu sinh tại đại học bang Michigan, người đang viết luận án về Singapore, cho biết: “Việc khai thác gỗ quá mức và nạn phá rừng đã tàn phá hệ thực vật nơi đây. Nó khiến cho quá trình sa mạc hóa diễn ra nhanh hơn, bào mòn và chôn lấp thị trấn”.

Không còn một dấu vết nào của thị trấn Singapore sầm uất của thế kỷ XIX.

Nhiều khách du lịch đã đến khám phá thị trấn ma nổi tiếng này. Nhưng, những gì họ nhận được chỉ là sự mơ hồ, bí ẩn, “thực sự không thể tin được có một thị trấn bị chôn vùi dưới cồn cát này".

Theo: nguoiduatin
Link tham khảo:




Tuesday, February 3, 2026

TIỂU LONG NỮ CÓ THỰC SỰ SỞ HỮU VÕ CÔNG NGANG HÀNG VỚI THIÊN HẠ NGŨ TUYỆT?

Thực sự trong truyện Kim Dung, Thiên Hạ Ngũ Tuyệt còn thua cả một nữ nhân "chân yếu tay mềm" như Tiểu Long Nữ?


Tiểu Long Nữ có thực sự sở hữu võ công ngang hàng với Thiên Hạ Ngũ Tuyệt?

Thế hệ trước và sau, dù thời thế thay đổi nhưng cái nhìn, sự trân trọng đối với các tác phẩm Kim Dung cùng trái tim thành kính vẫn luôn chung một nhịp đập. Suốt chiều dài lịch sử, đã có hàng trăm tác phẩm điện ảnh kiếm hiệp chuyển thể từ các sáng tác của Kim Dung và sớm trở thành huyền thoại, trở thành bức tường thành vững chắc không thể sụp đổ, là đề tài bay bổng cho biết bao ý tứ thơ ca, phân tích mãi cũng chưa bao giờ thấy hết cái thâm sâu.

Ví dụ như chỉ một nhân vật Tiểu Long Nữ mà biết bao áng văn thơ cũng chưa khi nào nói hết. Từ dung mạo, cốt cách, tình yêu với Dương Quá, mối quan hệ với Lý Mạc Sầu, cách nàng đối nhân xử thế hay như thứ chúng ta xét đến ngày hôm nay - võ công của nàng nằm ở đâu trên bản đồ võ lâm cũng đều là những chủ đề chưa bao giờ hết hấp dẫn.


Không phải là nữ nhân có sức mạnh thực chiến mạnh nhất trong truyện Kim Dung nhưng xét cho cùng, Tiểu Long Nữ chưa bao giờ trượt khỏi TOP những người đẹp có ngộ tính võ học cao nhất. Nàng vốn là truyền nhân của phái Cổ Mộ, nổi tiếng với dung mạo xinh đẹp thoát tục, trái tim ngây thơ trong sáng và đương nhiên là khả năng võ công không thuộc dạng vừa. Một trong số những trận đánh đáng được đưa ra phân tích ở đây, chính là khi nàng thi triển Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm Pháp để đánh bại Kim Luân Pháp Vương tại Trùng Dương Cung.

Trong khi người đời vẫn đang tranh cãi Kim Luân Pháp Vương và Thiên Hạ Ngũ Tuyệt ai hơn ai thì Tiểu Long Nữ đã đả bại Đệ nhất quốc sư Mông Cổ một cách tâm phục khẩu phục

Trước tiên, Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm Pháp nên được gọi là trận pháp thì hơn, bởi lẽ bình thường cần phải có 2 người mới có thể thi triển. Khi tổ sư Lâm Triều Anh sáng tạo ra Ngọc Nữ Tâm Kinh đã tưởng tượng ra 1 người sử dụng Toàn Chân Kiếm Pháp, 1 người dùng Ngọc Nữ Kiếm Pháp phối hợp với nhau tạo thành bộ Song Kiếm Hợp Bích dành cho đôi tình lữ.

Tuy nhiên sau khi gặp Chu Bá Thông, Tiểu Long Nữ đã được ông ta dạy cho Song Thủ Hỗ Bác, nguyên lý là tâm thức có thể chia làm hai, độc lập, dùng vào hai việc khác nhau. Thành ra chẳng cần tới Dương Quá, Tiểu Long Nữ vẫn có thể tự mình sử dụng Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm.

Tiểu Long Nữ có thể tự mình sử dụng song kiếm, thi triển cả Toàn Chân Kiếm Pháp mà không cần Dương Quá

Kim Dung mô tả về trận "solo" này rằng, Kim Luân Pháp Vương thuở xưa bị bại dưới Song Kiếm Hợp Bích của cặp đôi Cô Cô - Dương Quá thành ra bị "át vía", thủ nhiều công ít, thi thoảng mới đánh được 1 chiêu. Đến năm sáu mươi chiêu, lão chỉ thủ không công, rốt cục bị thương mấy chỗ.


Tiểu Long Nữ càng đánh càng hay, còn Kim Luân Pháp Vương càng đánh càng tệ. Trước màn biểu diễn của nàng, các cao thủ võ lâm khác đều gật gù tán thưởng: "Kiếm pháp của cô ta so với Tuyệt Tình Cốc hình như nhanh hơn 1 chút"; "một mình cô ta dùng song kiếm, đột nhiên xuất thần nhập hóa"; "có cơ hội ta cũng phải lĩnh giáo vậy". Thậm chí ngay từ những đường kiếm đầu tiên, Tiểu Long Nữ đã có thể đâm kiếm liên tục vào ngực của Kim Luân Pháp Vương.


Chính trưởng giáo Toàn Chân cũng phải thốt ra thành lời: "Không ngờ là trên đời lại có kiếm pháp xuất thần nhập hóa như vậy. Chết rồi, thì ra là võ công của phái Cổ Mộ, kỳ diệu khó đoán, muốn thắng được cô ta đúng là cả đời khó mong". Quả thực, Tiểu Long Nữ chỉ cần xoáy kiếm vài vòng là đã đả thương hàng loạt đệ tử Toàn Chân, nếu không phải nhờ bộ ba Ni Ma Tinh - Doãn Khắc Tây - Tiêu Tương Tử xông ra kịp thời, hậu quả khó có thể nói trước.

Việc Kim Luân Pháp Vương thất bại dưới tay của Tiểu Long Nữ, phải chăng là do nàng quá mạnh?

Thất bại của Kim Luân Pháp Vương, đương nhiên là do kiếm pháp của Tiểu Long Nữ ảo diệu, tuy nhiên một phần lớn cũng là do bản thân gã mà ra. Chính Kim Dung cũng đã từng nói, thứ nhất Kim Luân Pháp Vương bị át vía, thứ 2 là do dùng sai phương pháp. Nếu Kim Luân Pháp Vương dùng lực uy mãnh đấu với nàng thì nàng ắt không địch nổi, song lão lại bỏ cái sở trường của mình để đi đua tranh sự nhanh nhẹn với nàng, thành thử bất lợi vô cùng.


Tiểu Long Nữ đã đả bại cao thủ đệ nhất Mông Cổ - điều mà đối với Quách Tĩnh hay Ngũ Tuyệt cũng còn "hên xui". Có vài ý kiến cho rằng thực lực của nàng đã xứng đáng lọt vào "ngôi đền của những huyền thoại". Liệu điều đó có đúng? Nếu một ngày nàng có dịp đối đầu với những cao thủ tuyệt đỉnh nhất thiên hạ, liệu có thể chiếm thế thượng phong?


Quả thực điều này là rất khó. Tuy Tiểu Long Nữ sở hữu Ngọc Nữ Tố Tâm Kiếm vô cùng bá đạo nhưng nội công của nàng khá thấp, thậm chí còn kém cả bọn Ni Ma Tinh - Doãn Khắc Tây - Tiêu Tương Tử, kình lực kiếm chiêu chưa chế ngự được binh khí của bọn chúng. Dẫu biết võ học phải Cổ Mộ không chú trọng nội lực mà đề cao nhanh nhẹn, song Quách Tĩnh hay Ngũ Tuyệt - có ai là không nhanh nhẹn, chẳng những thế tu vi công lực xưa nay hiếm, từng chiêu tiềm ẩn bao nhiêu biến hóa. Chẳng ai có thể tưởng tượng ra được cảnh Tiểu Long Nữ dùng Song Kiếm để đỡ Kháng Long Hữu Hối của Quách Tĩnh hay Hồng Thất Công cả.

Nắng / Theo: Tổ Quốc

BIỆT TÌNH - QUAN HÁN KHANH


Biệt tình

Biệt ly dị,
Tương kiến nan,
Hà xứ toả điêu an ?
Xuân tương khứ,
Nhân vị hoàn.
Giá kỳ gian,
Ương cập sát sầu mi lệ nhãn.


別情 - 關漢卿

別離易,
相見難,
何處鎖雕鞍?
春將去,
人未還。
這其間,
殃及殺愁眉淚眼。


Biệt Tình
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Biệt tình tao đoạn chốn đây.
Hẹn ngày gặp lại, bấy chầy khó sao.
Hỏi thăm người cũ chốn nào ?.
Mùa xuân trôi mất, gửi vào hư không.
Hẹn lần hẹn nữa còn trông.
Sầu hoen mắt lệ, cất công người chờ.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Quan Hán Khanh 關漢卿 (1240?-1310?) (sống vào khoảng từ thời Kim Mạt đến khoảng niên hiệu Đại Đức đời Nguyên Thành Tông), hiệu Tỵ Trai Tẩu 巳齋叟. Ông cùng Mã Trí Viễn 馬致遠, Bạch Phác 白樸, Trịnh Quang Tổ 祖合稱 được gọi là Nguyên khúc tứ đại gia. Trong có tác phẩm Đậu nga oan nổi tiếng. Tản khúc của ông hiện còn lưu khoảng hơn 50 bài. Quan Hán Khanh có ảnh hường rất lớn đối với sự phát triển của tạp kịch đời Nguyên.

Nguồn: Thi Viện

THAM QUAN CUNG ĐIỆN DOGE VENICE PHONG CÁCH GOTHIC NHÌN RA KÊNH ĐÀO VENICE

Cung điện Doge Venice là cung điện Gothic tráng lệ từng là nơi ở của Doge of Venice và hiện là bảo tàng tự hào về lịch sử phong phú, kiến ​​trúc trang trí công phu và nghệ thuật đầy cảm hứng của thành phố Venice, nước Ý


Palazzo Ducale, một cung điện sang trọng theo phong cách gothic nhìn ra Quảng trường Saint Mark, từng là trụ sở chính quyền của thành phố (và là nhà của Doge) từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 18. Nó đã được xây dựng lại và mở rộng qua nhiều năm, vì vậy nó thực sự là một tập hợp của nhiều tòa nhà và phong cách, gần như tất cả đều cao cấp và quyến rũ. Du khách có thể vào thăm nhiều phòng khiêu vũ khác nhau, các căn hộ cũ của Doge, sân trong rộng lớn và các nhà tù cũ. Nó hoạt động như một bảo tàng, vì vậy cần phải có vé.

Là một trong những điểm thu hút hàng đầu ở Venice. Ảnh: @cntraveler

Cung điện Doge, trụ sở quyền lực lịch sử của Cộng hòa Venice trong hơn 700 năm, là điểm dừng chân trong hành trình của hầu hết du khách ở Venice. Một mặt tiền của cung điện nhìn ra Quảng trường St. Mark's Square (Quảng trường San Marco) và một mặt khác là kênh đào Grand, khiến nó trở thành một trong những di tích có vị trí uy nghi nhất ở Châu Âu. Mặt tiền thứ ba nhìn ra con kênh Rio del Palazzo hẹp, trong khi mặt sau của tòa nhà tiếp giáp với khu phức hợp Basilica di San Marco.

Thật đáng để chiêm ngưỡng kiến ​​trúc ấn tượng và nội thất xa hoa của cung điện Doge Venice. Ảnh: @hoteldonapalace

Hiện là một trong những điểm thu hút hàng đầu ở Venice, cung điện Doge Venice, còn được gọi là Palazzo Ducale, có lịch sử lâu đời và đầy màu sắc, gắn bó chặt chẽ với sự trỗi dậy của Venice và sự thống trị của nó trên các vùng đất rộng lớn ở miền nam và miền trung châu Âu qua nhiều thế kỷ.

Lịch sử của cung điện Doge

Cung điện Doge là nơi ở của Doge (người cai trị được bầu hoặc bổ nhiệm của Venice) và cũng là nơi đặt các cơ quan chính trị của nhà nước, bao gồm Đại hội đồng (Maggior Consiglio) và Hội đồng Mười. Tòa nhà hiện tại có niên đại từ những năm 1300, mặc dù vai trò của Doge có thể bắt nguồn từ thế kỷ thứ 8, khi Venice là một phần của Đế quốc Byzantine. Đến thời Trung Cổ (1000-1300), Cộng hòa Venice cai trị phía đông Địa Trung Hải, bao gồm toàn bộ Bờ biển Adriatic mà ngày nay là Croatia và Bosnia.

Cung điện Doge nằm trên Quảng trường St. Mark. Ảnh: @my.droning

Vào những năm 1400-1500, nó thống trị các vùng biển xung quanh khu vực ngày nay là Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời kiểm soát Síp, Crete và toàn bộ quần đảo Hy Lạp. Trên bán đảo Ý, các thành phố Vincenza, Treviso, Padua, Verona, Brescia và Bergamo đều do Venice nắm giữ.

Một nước Cộng hòa hùng mạnh như thế này xứng đáng có được một chính phủ nguy nga. Khi các phiên bản trước của Palazzo Ducale, hay cung điện Doge Venice, được đặt tại các địa điểm khác ở Venice và sau đó bị thiêu rụi, một địa điểm mới đã được chọn vào những năm 1100. Mặc dù tòa nhà ban đầu này hầu như không còn lại gì, nhưng tòa nhà thế kỷ 14 tạo thành nền móng của cung điện ngày nay đã mọc lên ở vị trí của nó. Việc xây dựng phần dễ nhận biết nhất của cung điện, mặt tiền phía nam theo phong cách Gothic hướng ra mặt nước, được bắt đầu vào năm 1340 để làm phòng họp cho Đại hội đồng, cơ quan quản lý gần 500 thành viên, đóng vai trò là một tập hợp các cơ quan quản lý.

Bạn có thể đến cung điện Doge bằng cách đi bộ hoặc đi thuyền. Ảnh: @ansharphoto

Cung điện mọc lên liền kề với Vương cung thánh đường San Marco sẽ trở thành một trong những khu phức hợp dân cư và thành phố xa hoa nhất ở châu Âu. Ngoài căn hộ riêng của Doge, cung điện còn có tòa án luật, văn phòng hành chính, sân trong, cầu thang lớn và phòng khiêu vũ cũng như các nhà tù ở tầng trệt. Một cánh mới đối diện với Piazzetta San Marco được khởi công vào những năm 1420. Thiết kế của nó bắt chước thiết kế của cánh quay mặt ra kênh - một tầng trệt có hình vòng cung, trên cùng là tầng một với ban công hình vòm trang trí. Cánh này bao quanh một sân trong, nơi mà ngày ấy và bây giờ là tâm điểm của cung điện.

Cung điện Doge Venice nằm bên cạnh nhà thờ Thánh Mark . Ảnh: @visitveneziaofficial

Một trận hỏa hoạn năm 1483 đã gây thiệt hại nặng nề cho cung điện và dẫn đến một kế hoạch mở rộng và tái thiết đầy tham vọng. Những trận hỏa hoạn tiếp theo vào năm 1574 và 1577 đã phá hủy phần lớn cung điện cũng như các tác phẩm nghệ thuật và đồ đạc vô giá bên trong. Một cuộc cải tạo nhanh chóng diễn ra sau đó và khôi phục cung điện theo phong cách Gothic về tình trạng trước khi bị cháy, phần lớn là những gì chúng ta thấy ngày nay. Các kiến ​​trúc sư vĩ đại của Venice, như Filippo Calendario và Antonio Rizzo, cũng như các bậc thầy về hội họa Venice, như Tintoretto, Titian và Veronese, đã góp phần vào thiết kế nội thất phức tạp.

Khung cảnh từ cung điện Doge nhìn ra kênh đào. Ảnh: @venitiansoul

Bước sang thế kỷ 17 và khoảng thời gian hoàn thành cung điện, vận mệnh của Venice bắt đầu sa sút. Một cuộc xung đột kéo dài với Giáo hoàng ở Rome, một cuộc chiến kéo dài với Đế chế Ottoman và việc mất một số vùng lãnh thổ quan trọng đã khiến nền Cộng hòa suy yếu. Vào cuối những năm 1700, Venice không còn là một đế chế đi biển nữa, mặc dù nó đã kiểm soát toàn bộ thung lũng Po của bán đảo Ý. Năm 1796, Napoléon Bonaparte kiểm soát thành phố và vào năm 1797, Ludovico Manin, Tổng trấn cuối cùng của Venice thoái vị – Cộng hòa Venice 700 năm tuổi không còn tồn tại.

Sân trong ở cung điện Doge Venice. Ảnh: @simonetta9744

Năm 1866, Venice trở thành một phần của Vương quốc Ý thống nhất và cung điện Doge Venice trở thành tài sản của nhà nước Ý mới thành lập. Một cuộc cải tạo vào cuối thế kỷ 19 đã khôi phục lại cung điện đã xuống cấp nghiêm trọng và vào năm 1923, nó mở cửa như một bảo tàng.

Tham quan cung điện Doge Venice

Là một trong những điểm tham quan hàng đầu ở Venice, cung điện Doge mở cửa cho các chuyến tham quan hàng ngày trong năm. Chuyến tham quan cơ bản là tự mình tham quan một số phòng quan trọng nhất trong cung điện nhưng không bao gồm một số khu vực chính. Để xem các nhà tù cũ và mới, bao gồm phòng giam của Casanova, cầu Than Thở và một số phòng được bảo tồn tinh xảo khác, bạn cần đặt chuyến tham quan Hành trình Bí mật Cung điện Doge. Các chuyến tham quan bằng tiếng Anh đã bán hết vé trước vài ngày, vì vậy hãy nhớ đặt sớm.

Lối vào cung điện Doge trên Piazzetta San Marco. Ảnh: @o_thessalonikios

Thời gian tốt nhất để ghé thăm cung điện Doge là vào mùa cao điểm giữa tháng 4 và tháng 5 hoặc tháng 9 và tháng 10. Thời tiết dễ chịu, lượng khách ít hơn và giá cả cũng thấp hơn so với mùa cao điểm. 5-6 giờ ánh sáng ban ngày cho phép bạn chiêm ngưỡng những kiến ​​​​trúc tuyệt đẹp ở thời kỳ sơ khai.

Mùa hè là mùa cao điểm cho các chuyến du lịch! Tuy nhiên, hãy lên kế hoạch trước và nhận vé miễn xếp hàng hoặc các chuyến tham quan có hướng dẫn để tránh xa đám đông lớn. Nếu bạn chỉ là một người thích sự tĩnh lặng, bình yên trong nghệ thuật và lịch sử hơi quá thì nên đến vào sáng sớm hoặc tối muộn. Ngoài ra, hãy lên kế hoạch vào các ngày trong tuần nếu có thể.

Lối vào cung điện Doge trên Piazzetta San Marco mở ra Quảng trường Thánh Mark. Lối vào nằm ở phía đối diện của cung điện đối diện với đầm phá và được đánh dấu bằng một mái cổng lớn có mái vòm.

Cổng Porta del Frumento. Ảnh: @Guidedtoursinvenice

Lối vào chính của cung điện Doge Venice, được gọi một cách trìu mến là Porta del Frumento hoặc Porta della Carta, là một cổng vòm kiểu Gothic khổng lồ trang trí phía đông của cung điện đối diện với Quảng trường Thánh Mark. Lối vào được trang trí tinh tế với các tác phẩm điêu khắc và phù điêu có độ chi tiết cao. Được coi là một trong những ví dụ điển hình nhất về kiến ​​trúc Gothic của Venice, cổng từ thế kỷ 15 có các hình chạm khắc trang trí công phu.

Hội trường lớn Sala del Maggior Consiglio. Ảnh: @angelartlife

Đặc điểm đáng chú ý nhất của nó là tác phẩm điêu khắc Doge Francesco Foscari quỳ trước con sư tử Saint Mark. Tác phẩm điêu khắc này thực chất là bản sao từ thế kỷ 19 của tác phẩm gốc, đã bị phá hủy vào năm 1797 khi Venice bị quân đội của Napoléon xâm chiếm. Tác phẩm điêu khắc được cho là biểu tượng cho thấy ngay cả vị thống đốc hùng mạnh cũng phải cúi đầu trước quyền lực của nhà nước.

Ảnh: @ecammarota

Hội trường lớn (Sala del Maggior Consiglio) là một hội trường thậm chí còn lớn hơn với những bức tranh tuyệt đẹp trên tất cả các bức tường và trần nhà. Đại Hội đồng, cơ quan chính trị quan trọng nhất ở Cộng hòa Venice, đã tổ chức các cuộc họp tại đây. Căn phòng này rất lớn và có chiều dài 53 mét và chiều rộng 25 mét. Đây là một trong những hội trường lớn nhất ở châu Âu và có thể chứa tới 2000 người. Nó được xây dựng và trang trí rõ ràng để thể hiện quyền lực, sự giàu có và để gây ấn tượng với bất kỳ ai ghé thăm nơi đây.

Sala del Maggior Consiglio có nhiều hình chạm khắc phức tạp. Ảnh: @visitveneziaofficial

Một trong những cây cầu nổi tiếng nhất thế giới, cầu Than Thở ( Ponte dei Sospiri ) được thiết kế bởi Antonio Contino. Nó được xây dựng vào năm 1600 nhằm kết nối các phòng thẩm vấn và tòa án của cung điện Doge Venice với các nhà tù mới ở bên kia kênh. Đây là con đường mà các tù nhân bị kết án sẽ đi đến phòng giam của họ sau khi tuyên án. Cầu Than Thở được đặt tên vào khoảng thế kỷ 18. Nó đề cập đến những tiếng thở dài của những tù nhân nhìn thoáng qua thế giới bên ngoài qua những khe hở nhỏ xíu của cây cầu kín này trên đường đến phòng giam. Nội thất của cây cầu kín được chia thành hai hành lang riêng biệt. Bằng cách đó, tù nhân đi về một hướng sẽ không gặp bất kỳ ai đến từ phía bên kia. Khi bạn đến thăm Cung điện Doges, bạn sẽ đi bộ qua cây cầu hai lần mà không hề nhận ra rằng còn có một mặt khác của nó.

Thăm cung điện là cơ hội duy nhất để đi bộ trên Cầu Than Thở nổi tiếng. Ảnh: @ELLE

FDL (tổng hợp) / Theo: luhanhvietnam