Câu tục ngữ: “Bão noãn tư dâm dục” nghĩa là, khi no ấm thì nghĩ đến chuyện dâm dục. Câu nói này giống với câu tục ngữ: “No cơm ấm cật, dậm dật khắp nơi” của Việt Nam. Thực ra câu tiếp theo mới là bản chất nhưng ít người biết.
Nửa sau của câu tục ngữ “Bão noãn tư dâm dục” mới là đáng báo động nhưng ít người biết (ảnh: Pinterest)
Câu tục ngữ: “Bão noãn tư dâm dục” xuất phát từ “Thiên Kim Ký – Đệ Nhị Tam Xuất” của Thẩm Thái, một nhà văn kinh kịch thời nhà Minh. Nó có nghĩa là khi con người có đủ cơm ăn, đủ áo mặc dễ có nhiều ham muốn và nhu cầu hơn. “Dục” ở đây thường ám chỉ những ham muốn xấu xa, không tốt khiến con người chìm đắm trong buông thả và không thể tự giải thoát được. Kết quả là họ làm những việc đáng xấu hổ, thậm chí trở nên nghiện nó, khiến họ khó thoát ra và dần sa ngã.
Nửa câu sau của “Bão noãn tư dâm dục” đó là: “Cơ hàn khởi đạo tâm”, nghĩa là, khi con người đói rét, rất dễ có ý tưởng xấu xa về trộm cắp. Người xưa từng nói: “Lạnh thì không chọn quần áo, nghèo không chọn vợ, hoảng loạn không chọn đường, đói không chọn đồ ăn”, hơn thế nữa, người ta thậm chí còn làm những việc xấu như trộm cắp để thỏa mãn nhu cầu của bản thân.
Có một câu chuyện thú vị về câu tục ngữ này như sau. Xưa kia, có một gia đình giàu có họ Trần, sinh được một cô con gái. Họ rất vui mừng và yêu thương cô con gái của mình một cách vô điều kiện. Họ mời thầy giáo dạy học riêng cho cô, giúp cô học chữ và đọc sách. Cô gái cũng rất thông minh và cố gắng, cô trở thành một nhân tài lớn ở địa phương.
“Bão noãn tư dâm dục. Cơ hàn khởi đạo tâm”, câu tục ngữ không chỉ nói về vấn đề ăn uống, mà còn là lời nhắc nhở cho chúng ta (ảnh: Pinterest)
Cô gái lớn lên từng ngày, đến tuổi lấy chồng nhưng vẫn chưa tìm được người phù hợp. Cuối cùng, cô nghĩ ra một cách, đó là viết câu đối để tìm hôn phu. Nếu ai đưa ra câu đối phù hợp với câu đối của cô, thì cô sẽ kết hôn với người đó. Câu đối mà cô đưa ra là: “Bão noãn tư dâm dục”, sau khi tin tức lan truyền, có rất nhiều người đến tham gia kén rể, mong làm được câu đối và cưới được một cô dâu vừa xinh đẹp, vừa tài giỏi, lại giàu có.
Câu đối tuy chỉ có năm chữ ngắn gọn nhưng rất khó để ra được vế đối thứ hai. Cuối cùng, đã có một trang nam tử tài hoa đã đối lại rằng: “Cơ hàn khởi đạo tâm”. Chàng trai tài hoa và cô gái xinh đẹp cuối cùng cũng có được mối quan hệ tốt đẹp.
Tuy câu nói “Bão noãn tư dâm dục. Cơ hàn khởi đạo tâm” rất đơn giản, nhưng nó tóm tắt một số ý nghĩ xấu sẽ nảy sinh lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn trong cuộc sống, và cũng là lời cảnh báo cho thế hệ tương lai.
Dù chúng ta đang ở trong hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn, cũng phải giữ vững lương tâm của mình, không được đánh mất đi những nguyên tắc cơ bản nhất trong cuộc sống (ảnh: Pinterest)
Câu tục ngữ này không chỉ nói về vấn đề ăn uống mà còn nhắc nhở chúng ta: khi thịnh vượng, chúng ta không nên bị cuộc sống thoải mái trước mặt đánh lừa mà đánh mất những ước mơ, đánh mất những theo đuổi ban đầu và làm một số điều không đúng đắn.
Khi gặp nghịch cảnh, chúng ta không thể bị khuất phục bởi những khó khăn trước mắt. Chúng ta nên sử dụng trí tuệ và đôi bàn tay của mình để vượt qua khó khăn, chứ không được bán rẻ lương tâm của mình chỉ để đạt được những điều mà chúng ta mong muốn.
Dù chúng ta đang ở trong hoàn cảnh thuận lợi hay khó khăn, chúng ta đều phải giữ vững lương tâm của mình, tuân thủ nguyên tắc sống của bản thân, không được mất đi những nguyên tắc cơ bản nhất trong cuộc sống của mình với tư cách là một con người.
Nguồn gốc của câu nói "nước mắt cá sấu" có từ thế kỷ 14 trong thời Trung cổ ở phương Tây.
Ảnh minh họa. Ảnh Internet.
Khi ai đó giả vờ buồn bã hoặc tỏ ra hối hận một cách không trung thực, họ được cho là đang rơi “nước mắt cá sấu”.
Cá sấu vốn được biết là loài bò sát chuyên ăn thịt. Khi ăn thịt con mồi mà nó bắt được, cấu lại khóc. Câu thành ngữ "nước mắt cá sấu" được hiểu là những kẻ đạo đức giả tạo, giả vờ rơi những giọt nước mắt dối trá để làm bộ. Chính vì thế, khi nói ai đó rơi nước mắt cá sấu, có nghĩa là họ đang ám chỉ người đó đang thể hiện nỗi buồn giả tạo, không thành thật.
Tuy nhiên, nguồn gốc của câu nói này ra sao lại ít ai biết tới. Nhiều người đều hiểu lầm câu nói này xuất phát từ việc cá sấu ăn thịt con mồi và khóc. Nhưng sự thật lại không đơn giản như vậy.
Theo ancient-origins, cụm tù "nước mắt cá sấu" bắt nguồn từ câu chuyện thần thoại kỳ lạ thời Trung cổ và đã được đăng tải trên một tạp chí du lịch. Câu chuyện này sau đó còn gắn liền với lịch sử văn học thông qua các tác phẩm của William Shakespeare.
Giải thích theo khía cạnh sinh học, cụm từ này nên hiểu theo nghĩa đen. Khi cá sấu ở trên bờ trong một thời gian dài, cơ chế sinh học của chúng sẽ tự kích hoạt ống dẫn nước mắt để tạo ra nước mắt. Điều này được thực hiện để tránh mắt chúng bị khô, đặc biệt là khi ở trên cạn. Chất bôi trơn này giúp chúng chớp mắt và nhìn thấy khi không ở trong nước hay bùn lầy.
Ngoài ra, một nghiên cứu quan trọng cho thấy ống dẫn nước mắt của cá sấu thường được kích hoạt khi chúng đang thưởng thức con mồi. Dĩ nhiên là việc cá sấu khóc khi đang ăn không liên quan gì tới cảm xúc của chúng. Điều đó cũng tương tự như cách con người có thể chảy nước mắt khi ngáp dài. Việc cá sấu khóc khi đang ăn khiến nhiều người chứng kiến hiểu lầm cho rằng chúng có cảm xúc. Tuy nhiên, sự thật thì đây chỉ là phản ứng sinh học mà thôi.
Ảnh minh họa. Ảnh Internet.
Nguồn gốc của cụm từ "nước mắt cá sấu" có từ thế kỷ 14 trong thời Trung cổ. Người dân thời đó tin rằng những con cá sấu giết và ăn thịt con mồi sẽ thực sự khóc thương nạn nhân của chúng trong khi vẫn đang tiếp tục bữa ăn của mình. Lần đầu tiên cụm từ "To shed crocodile tears" (Nước mắt cá sấu) được sử dụng rộng rãi trong tiếng Anh là vào khoảng thế kỷ 14 khi John Mandeville sử dụng nó trong cuốn truyện "Những chuyến du hành của Ngài John Mandeville".
"Những chuyến du hành của Ngài John Mandeville" kể về những cuộc phiêu lưu của hiệp sĩ dũng cảm ở châu Á, được coi là một kho tàng những khám phá đáng kinh ngạc. Tuy nhiên, những câu chuyện trong cuốn sách của John Mandeville cũng có không ít điều bịa đặt. Trong đó, có lời kể chi tiết về cá sấu, được mô tả trong truyện là những "con rắn" biết rơi nước mắt khi giết và ăn thịt con mồi. Mandeville đã ghi lại bằng trí tưởng tượng sống động: “Những con rắn này đánh lừa đàn ông và ăn thịt họ, chúng cũng không có lưỡi”.
Mô tả này mặc dù hấp dẫn, nhưng lại không chính xác về mặt khoa học bởi cá sấu có lưỡi và chúng rơi nước mắt khi ăn thịt con mồi nhưng việc đó không hề liên quan đến cảm xúc.
Một số báo cáo cho biết Plutarch, nhà triết học và nhà văn cổ đại từ thế kỷ thứ nhất sau Công Nguyên, đã sử dụng cụm từ này trong các tác phẩm của mình. Tuy nhiên, Plutarch sử dụng cụm tù "nước mắt cá sấu" bằng tiếng Latinh và mãi sau này cụm từ này mới được dịch sang tiếng Anh. Sau khi cụm từ này được dịch và sử dụng bằng văn bản tiếng Anh, nó lại được nhà thần học Photios sử dụng để nói về sự ăn năn thực sự.
Ảnh minh họa. Ảnh Internet.
Tuy nhiên, việc đề cập đến nước mắt cá sấu ban đầu được cho là của Edmund Grindal (Tổng giám mục York và Canterbury). Năm 1563, ông viết: “Tôi bắt đầu lo sợ, kẻo sự khiêm nhường của ông ấy… là sự khiêm tốn giả tạo, và nước mắt của ông ấy là nước mắt cá sấu”. Điều tương tự đã được tái bản vào năm 1711 trong Life of Grindal của Strype .
Từ nguồn gốc tiếng Latin đến bản dịch tiếng Anh, nước mắt cá sấu đã được Shakespeare phổ biến rộng rãi hơn. Nhờ những kịch bản xuất sắc của ông vào thế kỷ 16 mà “nước mắt cá sấu” đã phát triển từ một câu chuyện ngụ ngôn thời Trung cổ thành một thành ngữ miêu tả nỗi buồn giả tạo được sử dụng rộng rãi tới ngày nay.
Qua nhiều thế kỷ, thuật ngữ này đã trở thành một phần quen thuộc của ngôn ngữ tiếng Anh, được nhiều nước khác dịch và sử dụng để mô tả những biểu hiện cảm xúc không chân thành, giả dối.
Lý Thanh Chiếu 李清照 (1084-1155) hiệu Dị An cư sĩ 易安居士, người Tế Nam, Sơn Đông. Bà chẳng những là một tác gia vĩ đại trong nữ thi nhân, mà còn là một tác gia vĩ đại trong Tống từ. Bà là con gái của học giả trứ danh Lý Cách Phi. Năm 18 tuổi, bà kết hôn với con trai Tể tướng Triệu Đĩnh Chi, tức Hồ Châu thái thú Triệu Minh Thành, có thể nói là một mối nhân duyên tốt đẹp nhất thời Bắc Tống. Đôi tài tử cùng nhau xướng hoạ thơ từ, chỉnh lý văn chương, sống một đời thanh tao u nhã. Năm Tĩnh Khang 1126, quân Kim đánh Tống, bà theo chồng chạy xuống phương nam, không lâu sau trượng phu qua đời, thân gái dặm trường thực khiến người ta thương xót. Một mình phiêu bạc, vãn cảnh rất thê lương, đấy đã gây thành bối cảnh ảm đạm trong toàn bộ Sấu ngọc từ 漱玉詞 của bà.
Mọi người đều muốn đầu tư, tiết kiệm tiền và trở nên giàu có, nhưng có khá nhiều người ở tuổi 30 mà không có tiền tiết kiệm và nợ nần! Dù ai cũng biết thói quen tiêu dùng không tốt của mình nhưng thực sự rất khó để thay đổi “6 thói quen tiêu dùng xấu này”.
Những năm gần đây, thuật ngữ “nghèo khó tinh tế” được dùng để mô tả “thu nhập thấp, ham muốn vật chất cao, tiền kiếm được” có thể không theo kịp sức tiêu thụ", bạn có phải cũng là một trong những người "nghèo tinh tế" không? Hãy nhanh chóng thay đổi tâm lý tiêu dùng sai lầm này nhé!
1. Thói quen chi tiêu tiền dẫn đến nghèo: Nghĩ rằng tiết kiệm tiền là khổ mình
Bởi vì nhiều người ghen tị với cuộc sống hào nhoáng của người khác, họ cảm thấy họ làm việc chăm chỉ chỉ để tiêu tiền để hưởng thụ, nên số tiền họ làm việc chăm chỉ hàng tháng được dùng để mua mỹ phẩm, quần áo, đồ ăn nhẹ, đồ uống và đi nhiều nơi, vào một nhà hàng đẹp cho bữa tối... Cho đến một ngày bạn sẽ phát hiện ra rằng: quần áo không mặc, đồ ăn vặt không tốt cho cơ thể... Tưởng chừng như bạn đang sống một cuộc sống tốt đẹp, nhưng cuối cùng túi của bạn trống rỗng.
Thói quen tiêu dùng rò rỉ tiền là phổ biến ở tất cả người nghèo
2. Thói quen chi tiêu tiền dẫn đến nghèo: Cảm thấy tiết kiệm một khoản tiền nhỏ là vô ích
Đây hẳn là tâm lý của tất cả những người Liping bây giờ, nếu trước đây không mua được nhà, bây giờ không mua được nhà, sau này cũng không mua được nhà, bạn có thể làm gì nếu bạn tiết kiệm được số tiền ít ỏi. Nhưng tất cả số tiền lớn đều phải bắt đầu từ số tiền nhỏ. Chỉ bằng cách tiết kiệm số tiền nhỏ, bạn mới có nhiều lựa chọn hơn. Khi bạn tích lũy tiền gửi và tìm được phương thức đầu tư phù hợp, bạn sẽ bắt đầu thấy rằng số tiền của mình tăng nhanh hơn.
Thói quen chi tiêu phổ biến của người nghèo và người sành sỏi: họ cho rằng tiết kiệm một khoản tiền nhỏ là vô ích
3. Thói quen chi tiêu tiền dẫn đến nghèo: Khi thu nhập của bạn tăng lên, chất lượng cuộc sống của bạn cũng sẽ được cải thiện
Khi kiếm được 40.000, tôi có thể tiêu 35.000, khi kiếm được 60.000, tôi sẽ tiêu 55.000, thu nhập hàng tháng của tôi là 20.000, nhưng tiền tiết kiệm của tôi vẫn không tăng. Vấn đề là lương của tôi đã tăng lên, điều này ảnh hưởng đến chất lượng của tôi. Tôi phải theo kịp nên chi phí bữa ăn tăng từ 200 lên 400 mỗi bữa, việc đi lại thay đổi từ trong nước sang nước ngoài, các sản phẩm trang điểm và chăm sóc da chuyển từ kệ mở sang quầy... Cuối cùng, số tiền tiết kiệm được không hề tăng lên chút nào và cảm thấy gánh nặng cuộc sống của mình lại càng lớn hơn.
Thói quen tiêu dùng rò rỉ tiền là phổ biến ở tất cả người nghèo: khi thu nhập của họ tăng lên thì chất lượng cuộc sống của họ cũng phải được cải thiện
4. Thói quen chi tiêu tiền dẫn đến nghèo: Quá lười lập ngân sách và tiêu tiền tùy theo tâm trạng
Người nghèo tinh tế cảm thấy dù sao thì họ cũng phải mua những gì họ nên mua, và ngân sách cũng vô dụng, tốt hơn hết là bạn nên chi bao nhiêu tùy thích và tiết kiệm bao nhiêu tùy thích vào cuối tháng. Đặc điểm của sự nghèo khó tột cùng là hãy tiết kiệm số tiền bạn còn lại. Cách tiết kiệm tiền đúng đắn là khấu trừ số tiền bạn muốn tiết kiệm trước, sau đó mới tiêu phần còn lại. Đặt mục tiêu và tự động khấu trừ tiền có thể cải thiện cảm giác rò rỉ tiền và giảm mức tiêu dùng không kiểm soát.
Thói quen chi tiêu phổ biến của người nghèo và người sành điệu: lười lập ngân sách và tiêu tiền theo tâm trạng
5. Thói quen chi tiêu tiền dẫn đến nghèo: luôn tìm cớ để tiêu tiền
Để mua một thứ gì đó, bạn sẽ tìm ra nhiều lý do khác nhau, ví dụ như nếu bạn chia một món đồ đắt tiền thành 365 ngày, nghĩ xem giá của nó trong một ngày là bao nhiêu thì rất rẻ, nhưng bạn sẽ không sử dụng món đồ đó hàng ngày. Nhiều người sẽ nói rằng chỉ có tiêu dùng mới có động lực kiếm tiền, điều này dành cho những người biết kiềm chế và biết lập kế hoạch, nói chung những người trăng hoa dễ bị rò rỉ tiền có sóng não quá yếu, họ muốn mua mọi sản phẩm tốt không đắt tiền và cuối cùng lại mua rất nhiều thứ tương tự.
Thói quen chi tiêu của người nghèo và người sành điệu: họ luôn tìm đủ mọi lý do để tiêu tiền
6. Thói quen chi tiêu tiền dẫn đến nghèo: Tin rằng tiêu tiền có thể thay đổi chính mình
Đây là cách tiền dần dần biến mất, một số người muốn uống nhiều nước hơn để tốt cho sức khỏe nên lần đầu tiên họ lên mạng và mua một chiếc cốc bán chạy. Nếu bạn muốn tập yoga để có thân hình như một nữ ngôi sao, trước tiên sẽ mua một tấm thảm tập yoga và quần áo tập yoga cao cấp trước khi bắt đầu tập luyện. Thấy bạn bè, đồng nghiệp và những người nổi tiếng trên Internet mang theo một chiếc túi xách cổ điển hoặc một chiếc túi xách phổ biến nào đó và nghĩ đến việc mình cũng mua một chiếc. Họ cảm thấy rằng nếu mang một chiếc túi xách tay, tầm nhìn của bản thân sẽ khác và tốc độ kiếm tiền sẽ thay đổi.
Thói quen chi tiêu của người nghèo và người sành điệu: họ tin rằng việc tiêu tiền có thể thay đổi bản thân họ
Điều đó không có nghĩa là bạn không thể tiêu tiền, cũng không có nghĩa là bạn phải sống trong cảnh nghèo đói cùng cực, bạn nên thực hiện những thói quen xấu “loại bỏ lãng phí” và “chi tiêu quá mức” trong cuộc sống hàng ngày. Những sản phẩm tương tự thực sự có thể làm tổn hại đến ví tiền của bạn.
Có bao giờ bạn cảm thấy như thể bạn bè hay đồng nghiệp không ủng hộ và cản trở bạn cải thiện bản thân không? Chẳng hạn như bạn đạt được thành tích cao trong công việc và rất hài lòng vì những nỗ lực của bản thân nhưng trong mắt đồng nghiệp kết quả này chỉ là ăn may. Hay khi bạn dự tính học thêm về tài chính để phụ giúp quản lý cửa hàng của người yêu, người khác lại dè bỉu rằng “chuột sa hũ gạo”. Nếu như vậy, rất có thể bạn là một con cua bị kẹt trong một cái xô, mỗi khi bạn cố gắng thoát ra sẽ có rất nhiều con cua khác kéo bạn xuống. Trong tâm lý học, hành vi này được gọi là “crab mentality”. Vậy crab mentality là gì, làm thế nào để bạn bứt phá khỏi vòng vây kìm hãm? Hãy cùng Nghề Nghiệp Việc Làm 24h khám phá ở bài viết dưới đây.
Thuật ngữ này nghe có vẻ khá xa lạ, tuy nhiên hẳn bạn đã gặp sự việc này ở thời điểm nào đó.
Crab mentality là gì?
Crab mentality có nghĩa là tâm lý “cua trong xô” hay gọi tắt là “tâm lý con cua” và bắt nguồn từ một hiện tượng tự nhiên của loài cua. Nếu bạn đặt một con cua vào một cái xô, nó sẽ dễ dàng leo lên và bò ra ngoài. Nhưng mọi chuyện sẽ diễn biến khác khi bạn cho một đàn cua vào cái xô. Lúc đó, bất kỳ con cua nào cố thoát ra ngoài sẽ bị những con khác kéo trở lại. Nếu tiếp tục nỗ lực trèo lần thứ 2, con cua có thể trở thành mục tiêu của cuộc tấn công. Điều này có nghĩa là không có con cua thoát ra ngoài được vì chúng đang chống lại nhau.
Thuật ngữ này nghe có vẻ khá xa lạ, tuy nhiên hẳn bạn đã gặp sự việc này ở thời điểm nào đó.
Hãy áp dụng hiện tượng này vào tâm lý và cách tương tác của con người. Crab mentality là phép ẩn dụ về cách con người phản ứng khi nhìn thấy những người xung quanh có những thay đổi tích cực mà chính họ không thể đạt được. Câu “ăn không được thì đạp đổ” mô tả chính xác nhất tâm lý con cua này. Mặc dù con người không cố gắng hạ gục nhau về thể chất như loài cua nhưng sẽ làm suy sụp tinh thần của người khác.
Tại sao con người lại có tâm lý con cua?
Crab mentality khá độc hại, vì với tâm lý này không ai có thể trở thành phiên bản tốt hơn của chính mình. Nhưng tại sao crab mentality lại tồn tại, nguyên nhân gốc rễ của tâm lý cua là gì? Một số lý do giải thích về crab mentality như:
– Môi trường có tính cạnh tranh cao nhưng tài nguyên hạn chế: khi tài nguyên (như công việc, cơ hội, danh tiếng) có giới hạn và cạnh tranh trở nên khốc liệt, con người sẽ cảm thấy lo lắng về việc mất đi các tài nguyên này. Khi đó họ có khuynh hướng ghen tị với thành công của người khác vì cho rằng tài nguyên đang bị mất đi. Do đó, họ cần phải bảo vệ tài nguyên của mình bằng cách cản trở người khác.
– Tự ti về bản thân: khi một người cảm thấy không tự tin về bản thân, họ dễ dàng cảm thấy bị đe dọa bởi sự thay đổi tích cực của người khác. Vì vậy thể hiện hành vi crab mentality để tránh cảm giác này.
Tâm lý cua trong xô có thể xuất phát từ sự tự ti của bản thân.
– Áp lực, định kiến xã hội: xã hội và môi trường góp phần định hình tư duy, hành vi của con người. Nếu môi trường coi trọng tính cạnh tranh, đề cao cá nhân hơn là hợp tác thì việc thực hiện hành vi crab mentality được xem là cách để thích nghi với môi trường xung quanh.
– Khả năng chịu đựng cảm xúc tiêu cực: đố kỵ hay khó chịu là những cảm xúc tự nhiên mà bất kỳ ai cũng có thể trải qua. Khi không được nhận thức đúng và xử lý tốt, những cảm xúc này có thể dẫn đến hành vi crab mentality nhằm phân tán, chia sẻ cảm xúc tiêu cực này với người khác.
Làm thế nào để nhận biết ai đó có tâm lý cua trong xô?
Dấu hiệu chính của tâm lý con cua là thường ngăn cản hoặc phá hoại người khác. Ngoài ra, các dấu hiệu khác để nhận biết ai đó có crab mentality hay không, bao gồm cả bạn như:
– Có xu hướng nói xấu, chê bai, hạ thấp người khác.
– Phản ứng tiêu cực một cách tự động với thành tích của người khác.
– Hay so sánh bản thân với người khác.
Phán xét bản thân tiêu cực khi nhìn thấy thành công của người khác là biểu hiện của tâm lý con cua.
– Xem những người khác như đối thủ, đang cạnh tranh trực tiếp với chính mình, ngay cả khi không phải như vậy.
– Thể hiện sự thỏa mãn trước những điều bất như ý của người khác.
– Không có khả năng cộng tác với mọi người.
– Cảm thấy không an toàn khi ai đó vượt trội hơn và có tư duy “người ta không thể giỏi hơn, thành công hơn mình”.
– Không nỗ lực trong công việc hay giải quyết vấn đề, thay vào đó là liên tục chỉ trích, phàn nàn.
– Bất an và xem thường khả năng, thành tích hay địa vị của bản thân. Tuy nhiên một số người sẽ thể hiện ngược lại, đó là thổi phồng chính mình nhằm hạ thấp người khác.
Tự cho mình là nhất, xem thường người khác để tạo ra cảm giác an toàn giả tạo vì rất sợ mất đi điều gì đó.
Làm thế nào để hạn chế crab mentality của bản thân?
Bước đầu tiên nhưng rất quan trọng đó là trung thực với bản thân và nhận thức được rằng bạn đang hoặc sắp thể hiện tâm lý con cua. Để nhận ra điều này, cần xem xét lại liệu suy nghĩ, lời nói và hành động của bạn có mang tính ngăn cản, phá hoại ai đó mà không có lý do chính đáng hay không.
Khi nhận ra mình có tâm lý cua, bạn nên cố gắng giải quyết các vấn đề tiềm ẩn đang thúc đẩy bạn phải thể hiện ra ngoài. Ví dụ vấn đề là bạn có xu hướng cho rằng thành tích của người khác chắc chắn sẽ tác động tiêu cực đến lợi ích của bạn thì hãy thử chậm lại, suy nghĩ kỹ càng xem điều đó có phải là sự thật hay không.
Dành thời gian suy ngẫm về những gì bạn cho là đang đe dọa đến mình.
Ngoài ra, bạn nên chuyển hướng tập trung vào những điều tích cực của bản thân để tránh tâm lý này. Chẳng hạn như thay vì bị ám ảnh bởi những gì người khác đang làm và đạt được, bạn nên tập trung vào mục tiêu cũng như sự tiến bộ của bản thân. Tương tự, hãy tìm những điểm tốt trong hành trình của người khác để học hỏi và cố gắng hơn thay vì đố kỵ, hạ bệ họ.
Trong trường hợp bạn chưa thể thay đổi được suy nghĩ của mình thì có thể bắt đầu từ hành động. Ví dụ, một người bạn thân đã thi đậu tiếng Nhật bằng N2 – điều mà bạn cũng hướng đến. Có thể bạn không thực sự vui mừng cho họ, nhưng bạn có thể kiểm soát hành động của mình như gửi lời chúc mừng hoặc ít nhất là không hạ thấp họ.
Hãy nghĩ về cách bạn muốn người khác đối xử với mình và sau đó hành động tương ứng với họ.
Lưu ý quan trọng cần nhớ:
Nhìn chung để tránh tâm lý con cua bạn cần nhận ra đây là vấn đề của chính bạn và tập trung giải quyết những cảm xúc tiêu cực này. Tuy nhiên, đây là một quá trình cần thời gian, thậm chí là khá lâu. Đồng thời bạn không nên phán xét bản thân là xấu xa khi phát hiện mình có tâm lý con cua. Hãy nhớ 2 từ khóa quan trọng là chấp nhận và thời gian.
Làm thế nào để đối phó với crab mentality ở người khác?
Tương tự như khi đối phó với tâm lý con cua trong chính mình, bước đầu tiên cũng là nhận ra tâm lý con cua ở người khác. Khi làm điều này, bạn nên cố gắng hiểu được sự ảnh hưởng của tâm lý này đến họ như thế nào thông qua lời nói, hành động. Bắt đầu từ việc hiểu bản chất, thay vì có những hành động đáp trả trực tiếp, bạn sẽ dễ dàng chấp nhận và đối phó bằng cách:
– Bỏ qua hành vi của họ.
– Nhận ra tâm lý con cua chủ yếu là do các vấn đề của chính họ hơn là những gì bạn đã làm, ngay cả khi hành vi nhắm vào bạn.
– Tha thứ cho họ, đây là điều tốt nhất bạn có thể làm cho chính mình, vì lo lắng, tức giận là lãng phí năng lượng.
– Tập trung vào hành trình của chính mình hơn là sự tiêu cực của người khác.
– Từ chối tham gia vào các hành vi crab mentality cùng với người khác để “trả thù” lại những người đã hạ bệ bạn trước đây.
– Trong một số trường hợp, giải pháp tối ưu đơn giản là tránh xa những người có tâm lý con cua và thiết lập mối quan hệ lành mạnh với những người khác.
Bạn có thể chọn thoát ra khỏi mối quan hệ tiêu cực và tìm kiếm những điều tốt đẹp hơn.
Nhìn chung, crab mentality là hành vi mang tính thù địch với những người mà chúng ta đánh giá là tốt hơn. Trong khi đó, nếu xoay chuyển cục diện, biến sự thay đổi tích cực của người khác thành động lực để cố gắng sẽ mang đến kết quả tốt hơn. Hành động thù địch chỉ càng gây ra bất lợi và cản trở con đường hoàn thiện bản thân. Qua bài viết này, hy vọng bạn đọc đã hiểu hơn về crab mentality cũng như nhìn nhận lại bản thân hay những hành vi ác ý từ người khác để có cách giải quyết phù hợp. Đừng quên theo dõi blog của Việc Làm 24h để đón đọc nhiều thông tin thú vị hơn nhé!
Sau khi thời Xuân Thu đã đi qua được 2500 năm, ngoại trừ Phật gia không có học phái nào có thể ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa Trung Hoa bằng Nho gia và Đạo gia. Bởi vậy, ông tổ của 3 gia phái này là Phật Thích Ca Mâu Ni, Khổng Tử và Lão Tử được người đời sau ngưỡng mộ và sùng bái.
Thật trùng hợp ở chỗ, ngày tháng 3 vị ấy ra đời chênh nhau không quá 20 năm. Theo góc nhìn lịch sử, thì 3 vị ấy là người của cùng một thời đại. Năm 571 Trước công nguyên, ngày 15 tháng 2 Lão Tử giáng sinh tại nước Sở, huyện Khổ (nay là huyện Lộc Ấp, Hà Nam). 5 năm sau, ngày 8 tháng 4 năm 566 Trước công nguyên Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sinh ở Kim Ni Bạc Nhĩ. 15 năm sau, vào ngày 27 tháng 8 năm 551 Trước công nguyên, Khổng Tử ra đời tại Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông.
3 vị Thánh giả giáng sinh vào cùng một thời đại, ấy là sự trùng hợp của lịch sử hay là Ý Trời đã an bài như vậy?
Lão Tử
“Lão Tử” tên thật là Lý Nhĩ, tên tự là Bá Dương. “Lão” là ý gọi người tuổi cao Đức lớn. “Tử” là cách gọi bày tỏ lòng tôn kính đối với người khác. Tương truyền Lão Tử bẩm sinh có khí chất phi phàm, am hiểu chuyện xưa, giỏi việc lễ chế, từng đảm nhiệm chức quan “Thủ tàng thất sử” (tương đương với giám đốc thư viện quốc gia hoặc là giám đốc viện bảo tàng quốc gia) và chức Trụ hạ sử (tương đương với chức quan Ngự sử thời Tần, Hán). Lão Tử ở lại Lạc Dương nước Chu thật lâu, thấy rõ sự suy sụp của nhà Chu. Năm 500 trước công nguyên, trong hoàng tộc nhà Chu phát sinh cuộc nội chiến tranh giành ngôi vị, Lão Tử bị liên lụy và bị bãi quan. Lão Tử cảm thấy nhân thế hiểm ác, bèn rời đi. Ông lưu lạc khắp 4 phương trời nhưng không để ai biết danh tính của mình.
Ngày 1 tháng 9 năm 478 trước công nguyên, Lão Tử 93 tuổi đi về nước Tần. Lúc đi qua cửa Hàm Cốc, quan Lệnh tên là Doãn Hỷ ở đó xem bói đã biết trước là sẽ có một Thần nhân đi qua đây, bèn sai người quét dọn sạch sẽ 40 dặm đường để nghênh đón. Quả nhiên Lão Tử tới. Doãn Hỷ nói: “Tiên sinh Ngài muốn ẩn cư, sau này không còn được nghe Ngài dạy bảo nữa, kính xin tiên sinh viết sách để truyền lại cho hậu thế!”. Lão Tử tại Trung Nguyên chưa từng truyền thụ lại điều gì. Ông biết Doãn Hỷ trong mệnh đã định là sẽ đắc Đạo, bèn tạm dừng lại nơi này một thời gian ngắn, viết lại cuốn sách nổi tiếng ngàn đời: “Đạo Đức kinh”. Sau đó, Lão Tử ra khỏi cửa Hàm Cốc đi về phía Tây, vượt qua vùng Lưu Sa… Lưu Sa là chỉ vùng sa mạc lớn ở Tân Cương. Không ai biết cuối cùng ông đã đi về nơi đâu.
Khổng Tử từng đến kinh đô nước Chu, thỉnh giáo Lão Tử về Lễ chế. Một ngày, Khổng Tử cưỡi một chiếc xe cũ do trâu kéo, lắc la lắc lư tiến vào thành Lạc Dương – kinh đô của nước Chu. Ông đi lần này mục đích là để tham quan “Các nguyên tắc trị nước mà các vị Tiên vương đã dùng”, khảo sát “Nguồn gốc của Lễ Nhạc”, học tập “Các quy phạm đạo đức”, bởi vậy việc ông tới viếng thăm Lão Tử, vị quan tinh thông chế độ Lễ nghi và quản lý thư viện hoàng gia, ấy là an bài tối quan trọng [của Thiên thượng]. Khổng Tử sau khi hoàn thành việc khảo sát lần đó, đã nói một câu lưu truyền đời sau rằng: “Trong số rất nhiều học thuyết trên đời, ta chọn theo [học thuyết của] nhà Chu”. Chế độ Lễ nghi thời đại nhà Chu là phỏng theo Lễ chế thời đại nhà Hạ và nhà Thương làm cơ sở mà đặt định ra, và Khổng Tử chủ trương sử dụng Lễ chế của thời đại nhà Chu. Có thể thấy chuyến đi lần ấy của ông thu được ích lợi không hề nhỏ.
Khổng Tử bái kiến Lão Tử. Lão Tử hỏi Khổng Tử đọc sách gì, ông trả lời là đọc “Chu Dịch”, và Thánh nhân đều đọc sách này. Lão tử nói: “Thánh nhân đọc sách này thì được, còn ông vì sao cần phải đọc nó? Tinh hoa của quyển sách này là gì?”.
Khổng Tử trả lời: “Tinh hoa của nó là tuyên dương Nhân Nghĩa“.
Lão Tử nói: “Cái gọi là nhân nghĩa, đó là một thứ mê hoặc lòng người, giống như như muỗi rận ban đêm cắn người, chỉ có thể làm người ta thêm hỗn loạn và phiền não mà thôi. Ông xem, con chim Thiên nga kia không cần tắm rửa mà lông vũ tự nhiên vẫn trắng như tuyết, Quạ đen hàng ngày không nhuộm lông mà tự nhiên vẫn đen. Trời vốn là cao, đất vốn là dày, mặt trời mặt trăng từ trước tới nay đã phát ra ánh sáng rực rỡ, tinh thần từ trước tới nay chính là đã được an bài có trật tự, cây cỏ từ lúc sinh ra thì đã khác nhau. Nếu như ông tu Đạo, vậy cũng thuận theo quy luật tồn tại của tự nhiên, tự nhiên là có thể đắc Đạo. Tuyên dương những thứ nhân nghĩa để làm gì đây? Chẳng phải điều đó cũng đáng tức cười như việc vừa đánh trống vừa đi tìm một con dê thất lạc hay sao?”
Lão Tử lại hỏi Khổng Tử: “Ông cho rằng tự mình đắc Đạo rồi chưa?”.
Khổng Tử nói: “Tôi đã tìm cầu 27 năm rồi, vẫn chưa đắc được”.
Lão Tử nói: “Nếu như Đạo là một thứ hữu hình có thể tìm kiếm và dâng hiến cho con người, thì người ta sẽ tranh giành nó đem dâng tặng cho quân vương. Nếu như Đạo có thể đem tặng cho người khác, thì người ta sẽ đem tặng nó cho người thân. Nếu như Đạo có thể giảng rõ ra được, người ta sẽ đem nó giảng giải cho anh em của mình. Nếu như Đạo có thể truyền thụ cho người khác, thì người ta đều sẽ tranh nhau truyền nó cho con cái mình. Song những chuyện như thế là không thể được. Nguyên nhất rất đơn giản, Đạo ấy chính là thứ mà một người bình thường không thể nhận thức một cách chính xác được, Đạo tuyệt đối sẽ không thể nhập vào tâm của người thường được”.
Khổng Tử nói: “Tôi nghiên cứu ‘Thi Kinh’, ‘Thượng Thư’, ‘Lễ’, ‘Nhạc’, ‘Dịch’, ‘Xuân Thu’, giảng nói đạo lý trị quốc của các vị tiên vương, hiểu rõ con đường thành công của Chu Công, Triệu Công. Tôi đã lấy đó để bái kiến 70 quân vương, nhưng họ đều không chọn dùng chủ trương của tôi. Xem ra người ta thật là khó thuyết phục được!”.
Lão Tử nói: “Ông nói ‘Lục Nghệ’ ấy tất cả đều là những thứ xưa cũ của thời đại các tiên vương, ông nói những thứ đó để làm gì đây? Thành tựu tu học mà ông đạt được hôm nay cũng đều là những thứ xưa cũ rồi”.
Khổng Tử thỉnh giáo xong Lễ chế nhà Chu, liền quyết tâm trở về nước Lỗ khôi phục lại nguyên xi Lễ nghi của nhà Chu. Lão Tử đối với việc này vẫn bảo lưu ý kiến. Bởi vì Lễ tuy là cần phải có, nhưng muốn khôi phục toàn diện Lễ nghi nhà Chu, e rằng không thể làm được. Thời thế thay đổi, chút Lễ nghi nhà Chu ấy cũng không thích hợp với tình huống đương thời nữa. Vì vậy Lão Tử nói với Khổng Tử: “Ông theo lời những người đó, xương cốt của họ đều đã mục nát cả rồi, chỉ là những lời bàn luận của họ là còn tồn tại mà thôi. Hơn nữa quân tử gặp được thời cơ chính trị 1 thì liền theo chính, thời cơ không thích hợp thì cũng như cây cỏ bồng kia gặp sao yên vậy. Tôi nghe nói: Người giỏi kinh doanh đem cất giấu của cải hàng hóa, không cho người thác trông thấy, mặc dù giàu có nhưng dường như cái gì cũng không có. Người quân tử Đức cao thường bề ngoài cũng giống như người ngu độn, không để lộ chân tướng ra ngoài. Ông cần phải vứt bỏ tâm kiêu ngạo và dục vọng, vứt bỏ tâm thái và thần sắc mà ông đang có kia đi, vứt bỏ chí hướng quá truy cầu kia đi, bởi vì những thứ này đối với ông chẳng có chỗ nào tốt cả. Đó chính là những gì mà tôi muốn cho ông biết”.
Khổng Tử không biết nên trả lời ra sao, nhưng vẫn không buông bỏ chí hướng của mình: Đại trượng phu “biết rõ những việc không thể làm mà vẫn làm”. Tham quan xong các địa phương khác, Khổng Tử cáo từ Lão Tử, mang theo trong lòng những nỗi niềm phấn khởi xen lẫn với thất vọng mà rời kinh đô Lạc Dương của nhà Chu. Phấn khởi là vì học hỏi lễ giáo đã thành công, thất vọng là vì những lời khuyến cáo của Lão Tử. Phía sau lưng ông, một bia đá được dựng lên ghi lại mấy chữ: “Khổng Tử đến đất Chu học hỏi lễ nghi”.
Khổng Tử trở về, 3 ngày không nói chuyện. Tử Cống thấy kỳ lạ, bèn hỏi thầy chuyện là thế nào. Khổng Tử nói: “Chim, ta biết nó có thể bay; cá, ta biết nó có thể bơi; thú, ta biết nó có thể chạy. Có thể chạy thì ta có thể dùng lưới giăng bắt nó, có thể bơi thì ta có thể dùng dây tơ mà câu, có thể bay thì ta có thể dùng cung tên bắn được nó. Còn như con rồng, ta không biết nó làm sao có thể lợi dụng sức gió mà bay tới tận trời cao. Ta hôm nay gặp mặt Lão Tử, ông ấy cũng như con rồng kia thâm sâu không thể đo lường nổi!”.
Đó chính là sự khác nhau cơ bản giữa một Giác Giả độ nhân và một nhà tư tưởng của nhân gian. Cái gọi là “Đạo bất đồng bất tương vi mưu” (Tạm dịch: không cùng một trình độ tu Đạo thì tâm cảnh cũng khác nhau xa), chính là tình huống như thế này. Đạo lý của Lão Tử vi diệu khó có thể hiểu nổi, bởi vì ấy là lời giáo huấn của Thần. Lời của Khổng Tử chẳng qua chỉ là học vấn của con người, là quy phạm đạo đức và hành vi của loài người mà thôi.
Khổng Tử
Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tên tự là Trọng Ni, sinh vào nước Lỗ năm 551 trước công nguyên.
Khi lớn lên, Khổng Tử từng làm một chức quan nhỏ chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương công bằng chuẩn xác. Ông cũng từng đảm nhiệm chức quan nhỏ chuyên quản lý nông trường chăn nuôi, súc vật sinh trưởng rất tốt. Nhờ vậy ông được thăng chức lên làm quan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình. Khổng Tử thân cao 9 xích 6 tấc (xích là đơn vị đo lường cổ Trung Hoa = 1/3 mét), mọi người đều gọi ông là “Người cao lớn”, cho rằng ông là người phi thường.
Sau khi Khổng Tử tới đất Chu học hỏi Lễ nghi trở về lại nước Lỗ, các học trò theo ông học tập dần dần đông lên. Có thể nói Khổng Tử là người thầy tư nhân chuyên thu nhận học trò đầu tiên trong lịch sử giáo dục Trung Quốc. Trước thời ông, trường học hoàn toàn là của nhà nước. Khổng Tử sáng lập ra trường học tư, thu nhận nhiều đồ đệ, đưa giáo dục mở rộng cho bình dân, đem tri thức văn hóa truyền bá cho dân gian, có cống hiến thật to lớn đối với giáo dục thời cổ đại.
Lúc Khổng Tử 35 tuổi tới nước Tề. Tề Cảnh Công thỉnh giáo Khổng Tử về đạo trị nước. Khổng Tử nói: “Quân vương cần phải có phong thái của quân vương, bề tôi cần phải có phong thái của bề tôi, cha cần có phong thái của người cha, con cần có phong thái của con”. Cảnh Công nghe xong nói: “Cực kỳ đúng! Nếu quân vương không ra quân vương, bề tôi không ra bề tôi, cha không ra cha, con không ra con, thì cho dù có rất nhiều lương thực, ta làm sao có thể ăn được đây!”. Ngày khác Cảnh Công lại thỉnh giáo Khổng Tử về Đạo lý trị quốc, Khổng Tử nói: “Quản lý quốc gia cần nhất là tiết kiệm chi tiêu, ngăn chặn lãng phí từ gốc rễ”. Cảnh Công nghe xong rất phấn khởi, định đem đất Ni Khê phong thưởng cho Khổng Tử.
Yến Anh khuyên can nói: “Loại nhà Nho này, có thể nói đạo lý, không thể dùng pháp luật mà ràng buộc được họ. Họ cao ngạo tùy hứng, tự cho mình là đúng. Họ coi trọng tang lễ, dốc hết tình cảm bi thương, an táng trọng thể mà không ngại bị khuynh gia bại sản. Họ đi khắp nơi du thuyết, cầu xin quan lộc. Bởi vậy không thể dùng họ để quản lý quốc gia được. Hiện nay Khổng Tử nói về dung mạo phục sức, đặt định lễ tiết thượng triều hạ triều rườm rà, chính là mấy đời người cũng học tập không xong được, cả đời cũng làm không được thông. Nếu Ngài muốn đem bộ những thứ này để thay đổi phong tục của nước Tề, e rằng không phải là biện pháp tốt để dẫn dắt trăm họ”.
Yến Anh khuyên can có hiệu quả. Sau đó Tề Cảnh Công tiếp đãi Khổng Tử rất có lễ độ, nhưng không còn hỏi về những vấn đề có liên quan đến Lễ nữa. Trong số các quan đại phu nước Tề có người muốn mưu hại Khổng Tử. Cảnh Công nói với Khổng Tử: “Ta đã già rồi, không thể bổ nhiệm quan tước cho ông được nữa”. Thế là Khổng Tử rời Tề trở về Lỗ.
Tại nước Lỗ, Khổng Tử tuy về mặt chính trị có rất nhiều thành tích, cũng từng làm một vài chuyện lớn, nhưng con đường làm quan không hề trôi chảy. Có lần nhà Vua chủ trì một đại lễ tế Trời, quan đại phu Tam Hoàn cố tình không chia cho ông một khối thịt tế nào. Đó là loại hình phạt nghiêm khắc nhất trong Chế độ Lễ nghi của nhà Chu. Khổng Tử biết con đường làm quan của mình không có hy vọng gì, bèn rời quê nhà đi dạy học bốn phương trời, tuyên truyền những chủ trương chính trị của mình.
Lúc đó Khổng Tử khoảng chừng 50 tuổi. Ông không nề hà khổ nhọc, dùng 13 năm để dẫn dắt học trò chu du các nước, đi du thuyết khắp nơi. Nhưng các nước đều không chấp thuận chủ trương của ông. Năm 63 tuổi, Khổng Tử trở lại nước Lỗ. Cuối cùng nước Lỗ cũng không trọng dụng Khổng Tử, mà Khổng Tử cũng không muốn ra làm quan nữa.
Tuy là một người tuổi đã gần đất xa trời, nhưng ngọn lửa tư tưởng trong 9 năm cuối đời đã phát huy được thành tựu rực rỡ. Khổng Tử dốc lòng thu nhận học trò, biên soạn điển tịch, tạo thành một hệ thống tư tưởng Nho học trong 9 năm cuối đời mình.
Thời đại Khổng Tử, nhà Chu đã suy, Lễ nhạc đã phôi pha, ‘Thi’, ‘Thư’ cũng không còn toàn vẹn nữa. Khổng Tử tìm tòi nghiên cứu chế độ lễ nghi của 3 thời đại Hạ, Thương, Tây Chu, biên định “Thượng thư”, “Lễ ký”. Khổng Tử sau khi từ nước Vệ trở về nước Lỗ, thì bắt đầu đính chính lại Thi Nhạc, khiến cho “Nhã”, “Tụng” đều khôi phục lại được nhạc điệu ban đầu. “Kinh Thi” vốn có 3000 bài được truyền lại từ thời cổ đại. Đến thời Khổng Tử, ông cắt bỏ những chỗ trùng lặp, lựa chọn trong đó những bài phù hợp cho việc dạy bảo Lễ Nghĩa.
Lúc về già Khổng Tử thích nghiên cứu “Chu Dịch”. Ông giải thích về “Thoán từ”, “Hào từ”, “Quái”, “Văn ngôn”. Khổng Tử đọc Chu Dịch rất siêng năng, đến nỗi sợi dây da trâu buộc sách đã nhiều lần bị mòn đứt. Ông nói: “Để ta sống lâu thêm vài năm nữa, ta có thể nắm vững và giải thích rõ ràng nội dung và đạo lý trong từng câu văn của “Chu Dịch””.
Khổng Tử nói: “Quân tử lo lắng nhất chính là sau khi chết không lưu lại được tiếng thơm. Chủ trương của ta không thể thực thi, ta lấy gì để cống hiến cho xã hội và lưu danh hậu thế đây?”. Bèn căn cứ vào các sách lịch sử của nước Lỗ biên soạn ra bộ “Xuân Thu”, trên từ năm Lỗ Ân Công đầu tiên (722 TCN) xuống tới năm Lỗ Ai Công thứ 14 (481 TCN), tổng cộng 12 đời vua nước Lỗ. Lấy nước Lỗ làm trung tâm để biên soạn, tôn thờ Hoàng tộc nhà Chu làm chính thống, lấy sự tích Ân Thương làm tham khảo, mở rộng và phát triển truyền thống các thời đại từ đời Hạ, Thương, Chu, lời văn súc tích uyên thâm.
Cuối cùng Khổng Tử biên soạn xong “Lục Nghệ” là Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân thu. Khổng Tử dùng Thi, Thư, Lễ, Nhạc làm tài liệu giảng dạy học trò, đến học có ước chừng tới 3000 đệ tử, trong đó hiền nhân quân tử có 72 người. Chưa kể nhiều học trò chưa chính thức nhập tịch ở khắp nơi nữa.
Lúc Khổng Tử lâm bệnh, Tử Cống đến thăm viếng thầy. Khổng Tử thở dài, nói ngay: “Thái Sơn sắp đổ rồi, rường cột sắp gãy rồi, người trí tuệ sắp chết rồi!”. Nước mắt chảy dài, nói với Tử Cống: “Thiên hạ từ lâu đã mất đi đạo lý thông thường, không có ai tiếp nhận chủ trương của ta cả …”. 7 ngày sau Khổng Tử qua đời, hưởng thọ 73 tuổi, nhằm vào ngày Kỷ Sửu, tháng 4 năm 479 trước công nguyên.
Sách “Luận Ngữ” chính là do đệ tử của Khổng Tử căn cứ theo lời nói và việc làm của ông mà biên soạn thành. Đó là tư liệu trực tiếp nhất để cho chúng ta hôm nay hiểu biết về Khổng Tử. Khổng Tử cho người ta biết thế nào là “Trung dung”, vì đời sau mà đặt định ra quy phạm làm người theo “Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín”. Ảnh hưởng của ông đối với văn hóa Trung Quốc và cả vùng Đông Nam Á là rất to lớn.
Tư Mã Thiên nói: “Trong kinh “Thi” có câu nói như thế này: “Cái giống như núi cao khiến người ta chiêm ngưỡng, cái giống như đại Đạo khiến người ta tuân theo”. Từ xưa tới nay trong thiên hạ, Quân Vương và người tài đức thì có cũng nhiều. Họ khi đang còn sống đều vinh hoa quý hiển, nhưng chết đi rồi thì chẳng còn lại chút gì. Khổng Tử là một người bình dân, nhưng những người đọc sách đều tôn ông làm thầy. Từ Thiên tử, Vương Hầu đến nhân dân cả nước, những ai nói về “Lục Nghệ” thì đều xem học thuyết ấy của Khổng Tử là chuẩn tắc cao nhất. Có thể nói Khổng Tử là một Thánh nhân chí cao vô thượng”.
Tư Mã Thiên đã đánh giá rất đúng.
Phật Thích Ca Mâu Ni
Trong lúc Đại Đạo Trung Quốc đang được lưu truyền tại mảnh đất Thần Châu, thì đồng thời tại Ấn Độ – cũng là quốc gia có nền văn minh lâu đời tại phương Đông – Phật Pháp mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã được truyền rộng.
Thích Ca Mâu Ni giáng sinh tại Kapilavastu (Ca tỳ La vệ), một đất nước tại vùng đất Ấn Độ xưa kia. Mẹ của ông là Hoàng hậu Mayadevi (hoàng hậu Ma Da) sinh hạ ông tại Lumbini (nằm ở Nam Nepal ngày nay) trên đường trở về nhà mẹ đẻ của bà. Người ta đồn rằng khi Thích Ca Mâu Ni giáng sinh, liền bước đi 7 bước, mỗi bước đi sinh ra một đóa hoa sen. Một tay chỉ lên trời, một tay trỏ xuống đất ông nói “Phía dưới Thiên Đàng và bên trên mặt đất, chỉ có ta là nhất”. Đây thực ra là chuyện đơm đặt của hậu thế. Trong vũ trụ này, có vô số Thần Phật của vô số Thiên Đàng, có ai dám kiêu căng khoác lác như thế không? Thích Ca Mâu Ni không bao giờ làm như vậy. Câu chuyện này thực sự chỉ là kết quả của những tình cảm tôn giáo cuồng tín của người đời sau mà thôi. Một vị Phật chỉ muốn người đời tu luyện theo lời dạy bảo của họ, chứ không muốn người ta dựng chuyện lên để mà tâng bốc.
Thích Ca Mâu Ni từ thuở nhỏ đã có tấm lòng từ bi thương xót chúng sinh và luôn đi tìm ý nghĩa chân chính của đời người. Năm ông 19 tuổi, Thích Ca Mâu Ni rời bỏ ngai vàng, rời khỏi hoàng cung đi tu luyện. Ấn Độ thời bấy giờ có đủ loại tông phái và đường lối tu luyện khác nhau. Đầu tiên Thích Ca Mâu Ni tu theo pháp “vô tưởng định” (Samadi) 3 năm và cuối cùng đã đạt tới cảnh giới này. Nhưng ông cho rằng đó không phải là Đạo, không phải là chân lý tột cùng, cho nên ông từ bỏ nó. Sau đó ông lại tu theo “Phi tưởng – phi phi tưởng định” 3 năm, thành công rồi nhưng ông thấy rằng đó cũng không phải là Đạo, nên cũng từ bỏ. 2 lần, Thích Ca Mâu Ni từ bỏ những điều mà ông biết chắc ấy không phải là Đạo. Ông không thể tìm thấy một vị chân sư nào cả, cho nên ông tự mình tới một ngọn núi băng giá phủ đầy tuyết trắng để tu hành khổ hạnh. Mỗi ngày ông chỉ ăn một ít hoa quả khô và chịu đói đến mức toàn thân khô héo. Ông khổ tu như vậy để tìm chân lý. Nhưng 6 năm trôi qua, ông nhận ra rằng khổ hạnh cũng không phải là Đạo, bèn xuống núi.
Thích Ca Mâu Ni đi tới bờ sông Hằng. Vì quá gầy yếu xanh xao, ông ngã xuống hôn mê bất tỉnh. Một người phụ nữ làm nghề chăn dê tình cờ đi qua, và cho ông một ít váng sữa. Thích Ca Mâu Ni ăn và phục hồi sức lực. Nhưng ông không có cách nào tìm thấy một vị chân sư có thể hướng dẫn cho mình, nên ông vượt qua sông Hằng, tới dưới một tán cây Bồ Đề, ngồi xuống và thiền định. Ông thề rằng nếu không trở thành một bậc “Vô thượng chính đẳng chính giác” thì ông thà chết tại nơi này.
Thích Ca Mâu Ni thiền định dưới tán cây Bồ Đề ấy trong 49 ngày. Buổi sáng ngày thứ 49, ông ngẩng đầu lên nhìn trời, và nhìn thấy được những ngôi sao sáng trên bầu trời. Cũng trong một cái nhìn ấy, thần thông và các quyền năng siêu phàm của ông lập tức nổ tung, và tư tưởng của ông khai mở. Ông lập tức nhớ lại mọi điều mà ông đã từng tu luyện trước kia, hiểu được kiếp sống hiện tại và nhiều kiếp trước của mình, và tất cả những điều khác nữa mà ông cần phải biết sau khi khai ngộ. Bởi vì năng lượng phóng ra trong quá trình khai công khai ngộ, một chấn động lớn xuất hiện trong phạm vi địa lý rộng lớn xung quanh ông. Người ta cho rằng ấy là một trận động đất nhẹ, núi đổ hay sóng thần, nhưng thực ra đó là do sự khai ngộ của Thích Ca Mâu Ni. Đương nhiên năng lượng của Phật là từ bi và không làm hại ai cả. Sau 12 năm tu luyện vô cùng gian khổ, Thích Ca Mâu Ni rốt cuộc đã ngộ Đạo. Sau đó, Phật Thích Ca Mâu Ni liền bắt đầu cuộc đời truyền Pháp 49 năm của mình.
Đặc điểm của pháp môn tu luyện mà Thích Ca Mâu Ni truyền dạy là Giới, Định, Huệ. Giới chính là cấm tất cả dục vọng và tâm cố chấp, định là nói về người nhập định tu hành, huệ là nói về người khai ngộ khai huệ. Đại tạng kinh có mấy vạn quyển, đều không lìa xa 3 chữ này. Đương nhiên, hình thức biểu hiện của nó rất phong phú phức tạp, nhưng thực chất chính là 3 chữ này.
“Mọi người đều biết rằng Bà La Môn giáo là Thích Ca Mâu Ni phản đối nhiều nhất. Ông cho rằng [nó] là một tà giáo, nó cùng với Phật Giáo của Thích Ca Mâu Ni là đối lập [với nhau] nhất. Kỳ thực tôi cho chư vị biết rằng: Thích Ca Mâu Ni chống đối Bà La Môn giáo chứ không phải chống đối Thần của Bà La Môn giáo. Thần mà Bà La Môn giáo tin theo vào thời kỳ nguyên thủy nhất đều là Phật, [họ] tin theo chính là các vị Phật trước thời Thích Ca Mâu Ni. Nhưng qua thời gian quá lâu dài, con người không còn tin Phật nữa, khiến cho tôn giáo này trở thành tà giáo, thậm chí [họ] sát sinh để tế lễ Phật. Cuối cùng, Thần mà họ tin tưởng và tôn thờ kia cũng không còn là hình tượng Phật nữa, [họ] bắt đầu tin theo và thờ phụng yêu ma quỷ quái có hình tượng quái vật. Con người đã làm cho tôn giáo trở thành tà”. (Giảng Pháp tại Pháp hội Houston).
Lời nói và việc làm của mọi người đều trái với những điều mà các vị Phật thời tiền sử dạy bảo. Như vậy, Bà La Môn giáo tiến vào thời Mạt pháp. Trong thời gian ấy, Phật Pháp của Thích Ca Mâu Ni bắt đầu truyền rộng ra tại Ấn Độ. Bởi Pháp mà Thích Ca Mâu Ni truyền chính là chính Pháp, trong quá trình truyền Pháp, Thích Ca Mâu Ni không ngừng bác bỏ các giáo lý của các tôn giáo khác, cho nên không ngừng có những người rời bỏ ngoại đạo đến quy y Phật giáo. Như một trong những đồ đệ của ông, người mà sau này trở thành Xá Lợi Phất ban đầu là người của Bà La Môn giáo. Ông cùng Thích Ca Mâu Ni tranh luận, biết Phật Thích Ca Mâu Ni đang truyền chính pháp, bèn rời bỏ Bà La Môn giáo và trở thành người đệ tử có trí tuệ cao nhất của Phật Thích Ca Mâu Ni. Như vậy, Phật Pháp mà Thích Ca Mâu Ni truyền càng lúc càng cường thịnh, còn các tôn giáo kia càng lúc càng suy tàn. Phật Pháp dần dần bị các tôn giáo kia kỳ thị và phản đối. Trong thời gian mâu thuẫn tôn giáo lên đến đỉnh điểm, xuất hiện sự kiện các đệ tử Phật giáo bị sát hại một cách công khai. Người đệ tử có Thần thông nhất là Mục Kiền Liên bị những kẻ ngoại đạo lăn đá từ trên núi xuống đè chết, trở thành đệ tử đầu tiên của Phật Thích Ca Mâu Ni chết vì lý tưởng của Phật giáo. Ngoại đạo còn bắt bớ đệ tử của Phật Thích Ca, ném họ vào hầm lửa, hoặc trói vào cột rồi dùng cung tên bắn chết. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni không còn tại thế, 500 đệ tử của Phật từng bị người ta chém đầu. Sự kiện bức hại ấy khiến người ta vô cùng đau xót!
Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni không còn trên thế gian, các tôn giáo khác bắt đầu hưng thịnh trở lại. Phật giáo ở Ấn Độ trải qua nhiều lần cải tổ, cuối cùng đã kết hợp với những thứ của Bà La Môn giáo, biến thành một loại tôn giáo mới là Ấn Độ giáo. Ấn Độ giáo không còn tin Thích Ca Mâu Ni, cũng không thờ phụng một vị Phật nào cả. Do vậy, Phật giáo sinh ra tại Ấn Độ, cuối cùng lại dần dần bị tiêu biến ở Ấn Độ. Song tại Đông Nam Á, tại Trung Quốc, Phật Pháp đã truyền rộng khắp nơi, ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa của những quốc gia này.
Bài này tuyển từ Sơn Cốc tập quyển 9, bản Tứ khổ toàn thư. Bấy giờ tác giả làm giám Đức Châu (nay thuộc Sơn Đông), nhớ đến bạn ở nơi xa nghìn dặm, cảm khái muôn phần, nên gửi thư tỏ bày nỗi nhớ. Tác giả thích dùng điển cố, bài thơ này có thể nói là “không một chữ nào không có gốc gác” song không cứng nhắc, có chỗ vì dùng điển cố linh hoạt khiến nội hàm câu thơ phong phú, lấy cũ làm mới, vận dụng việc xưa vào luật, nên bài này biểu hiện đầy đủ đặc sắc thơ của nhà thơ họ Hoàng. Hoàng Cơ Phục tên là Giới, người Nam Xương (nay thuộc Giang Tây), chơi với tác giả từ hồi niên thiếu, lúc này đang làm tri huyện Tứ Hội (nay thuộc Quảng Đông).
寄黃幾復
我居北海君南海
寄雁傳書謝不能
桃李春風一杯酒
江湖夜雨十年燈
持家但有四立壁
治病不蘄三折肱
想得讀書頭已白
隔溪猿哭瘴溪藤
Gửi Hoàng Cơ Phục
(Dịch thơ: Lê Xuân Khải)
Biển bắc, biển nam cách chúng ta
Thư đem gửi nhạn chẳng sao qua
Gió xuân một chén niềm vui đậm
Đèn tối mười năm nỗi nhớ xa
Nhà liệu vách còn nguyên cả bốn
Bệnh lành tay lọ gẫy lần ba
Bạc đầu đọc sách đôi phen nghĩ
Cách suối vượn kêu khí núi nhòa
Sơ lược tiểu sử tác giả:
Hoàng Đình Kiên 黃廷堅 (1045-1105), tự Lỗ Trực 魯直, biệt hiệu Sơn Cốc đạo nhân 山谷道人, Phù ông 涪翁, người Phân Ninh, Hồng Châu (thuộc Giang Tây ngày nay). Ông là thư hoạ gia và thi gia trứ danh đời Bắc Tống, tề danh cùng thầy ông là Tô Thức, người đời thường gọi Tô-Hoàng. Ông đỗ tiến sĩ, có làm một số chức quan. Ông là người cầm đầu thi phái Giang Tây, một trường phái quá chú trọng đến kỹ xảo làm thơ mà không quan tâm đúng mức đến nội dung tư tưởng của tác phẩm. Hoàng Đình Kiên còn là một người rất am hiểu về hội họa và là một trong những người viết chữ đẹp nhất thời Bắc Tống.