Sunday, May 3, 2026

VÔ ĐỀ (PHỤNG VĨ HƯƠNG LA BẠC KỶ TRÙNG) - LÝ THƯƠNG ẨN


Vô đề
(Phụng vĩ hương la bạc kỷ trùng)

Phụng vĩ hương la bạc kỷ trùng,
Bích văn viên đính dạ thâm phùng.
Phiến tài nguyệt phách tu nan yểm,
Xa tẩu lôi thanh ngữ vị thông.
Tằng thị tịch liêu kim tẫn ám,
Đoạn vô tiêu tức thạch lựu hồng.
Ban chuy chỉ hệ thuỳ dương ngạn,
Hà xứ tây nam đãi hảo phong.


無題
(鳳尾香羅薄幾重)

鳳尾香羅薄幾重
碧文圓頂夜深縫
扇裁月魄羞難掩
車走雷聲語未通
曾是寂寥金燼暗
斷無消息石榴紅
斑騅只系垂楊岸
何處西南待好風


Vô đề (Màn hương đuôi
phượng rủ nhiều tầng)
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Rèm thêu, cánh phượng vừa buông.
Canh khuya ôm ấp, mùi hương gọi mời.
Quạt nồng, trăng nước lả lơi.
Xe rền như sấm, nói thời khó nghe.
Đèn khêu, bấc lụi vắng hoe.
Tin hồng đứt đoạn, quế hòe lạnh tanh.
Tây nam đã đón gió lành.
Ngựa Ban vẫn buộc bên thành Thùy Dương.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Thương Ẩn 李商隱 (813-858) tự Nghĩa Sơn 義山, hiệu Ngọc khê sinh 玉谿生, người Hà Nội, Hoài Châu (nay là Tầm Dương, phủ Hoài Khánh, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc), xuất thân trong một gia đình quan lại nhỏ sa sút. Thuở thiếu thời giỏi văn thơ, được giao du với các con của tể tướng Lệnh Hồ Sở 令狐楚, trong đó có Lệnh Hồ Đào 令狐綯. Bấy giờ trong triều có hai phe đối nghịch nhau, tranh quyền đoạt lợi, một phe là Ngưu Tăng Nhụ 牛僧孺, phe kia là Lý Đức Dụ 李德裕, hầu hết quan lại đều bị lôi cuốn vào cuộc tranh chấp ấy. Sở theo phe Ngưu. Năm Lý Thương Ẩn mười bảy tuổi (829), Sở tiến cử làm tuần quan mạc phủ. Năm hai mươi lăm tuổi (837), ông lại được Lệnh Hồ Đào khen ngợi, nâng đỡ nên đỗ tiến sĩ năm Khai Thành thứ 2. Năm sau ông được Vương Mậu Nguyên 王茂元, tiết độ sứ Hà Dương mến tài, dùng làm thư ký và gả con gái cho. Chẳng may, Vương thuộc phe Lý Đức Dụ khiến ông trở thành kẻ vong ân bội nghĩa, xảo quyệt vô hạnh trong mắt Lệnh Hồ Đào. Vương Mậu Nguyên chết, rồi Lý Đức Dụ thất thế, ông đến kinh sư nhưng không được làm gì cả. Sau nhờ Trịnh Á vận động, ông được làm chức quan sát phán quan. Trịnh Á bị biếm ra Lĩnh Biểu, ông cũng đi theo. Ba năm sau ông lại trở về, làm huyện tào tại Kinh Triệu. Ông nhiều lần đưa thư, dâng thơ cho Lệnh Hồ Đào để phân trần và xin tiến dẫn, nhưng vẫn bị lạnh nhạt. Tiết độ sứ Đông Thục là Liễu Trọng Hĩnh dùng ông làm tiết độ phán quan, kiểm hiệu Công bộ viên ngoại lang. Liễu bị bãi quan, ông cũng mất chức. Như thế là ông mắc kẹt giữa hai phái, chưa hề được đắc chí trên hoạn lộ, cứ bôn tẩu khắp nơi: Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Từ Châu nương nhờ hết người này đến người khác, long đong khốn khổ. Cuối cùng ông về đất Oanh Dương thuộc Trịnh Châu rồi bệnh chết năm 46 tuổi.

Nguồn: Thi Viện



VÌ SAO "NGƯỜI NGHÈO HAY KHOE, NGƯỜI GIÀU KIỆM LỜI" ?

Trong cuộc sống, mọi người có nhận ra một hiện tượng này không: Có rất nhiều người giàu thích bảo trì sự kiệm lời, không tùy tiện thể hiện sự giàu có, tài phú của bản thân, nhưng lại có rất nhiều người nghèo thích khoe khoang sự giàu có của mình. Tại sao lại xuất hiện hiện tượng như vậy?


Tự vệ bản thân

Xét từ một phương diện, có rất nhiều người thích bảo vệ danh tiếng của bản thân, không tùy tiện tiết lộ tài năng, sự giàu có một cách tùy tiện. Khiêm tốn, không tùy tiện thể hiện bản thân, đó chính là một bộ phận trong văn hóa truyền thống. Mục đích là không để cho người khác nổi tâm đố kị, không khiến cho những người xung quanh xuất hiện trạng thái “ghét người giàu”, từ đó tránh được những “tai họa ngầm” và những mâu thuẫn không đáng có, điều họ muốn chính là một cuộc sống bình an.

Một mặt khác, người giàu có thường biết cách che giấu lợi thế của bản thân mình trước đám đông, bởi vậy mới có câu nói: “Trong một đám đông, người ‘im lặng’ nhất là người lợi hại nhất”. Họ biết rằng, sau khi tùy ý tiết lộ sự giàu có của mình, điều đó có thể gây ra sự xung đột giữa người thân và bạn bè, còn có thể phá hoại mối quan hệ hòa ái giữa bản thân và mọi người, từ đó, người giàu “kín tiếng” không nhất thiết là họ khiêm tốn, mà là biểu hiện của sự bảo vệ bản thân khỏi những rắc rối.

Đương nhiên, xã hội hiện đại đã chú trọng nhiều hơn về quyền riêng tư, những người giàu có, có trình độ văn hóa cao đều không muốn tiết lộ ra bên ngoài, chỉ thích hành động lặng lẽ.


Ngược lại, người nghèo không có địa vị cao trong xã hội, trong đám đông không hề nổi bật, nên dễ bị người khác phớt lờ, lạnh nhạt, để thu hút sự chú ý và trọng dụng của người khác đối với mình, họ thường “vểnh” mặt lên, luôn cố gắng tạo ra những mánh lới để “quảng cáo” cho chính bản thân mình, bằng cách này, họ có thể thể hiện khả năng của bản thân đối với những người xung quanh, nhằm để nhận được sự ngưỡng mộ và công nhận của người khác.

Nghĩ sâu xa về nguyên do, người nghèo thường khoe khoang, kì thực chính là họ không có cái nhìn chính xác về bản thân. Bởi vì nghèo nên trong tâm họ luôn phiền muộn, bề ngoài muốn tạo ra một cảm giác sai, để khiến những người khác quan tâm, chú ý đến họ hơn, để đạt được sự an ủi trong tâm, thoát khỏi áp lực tinh thần, bởi vậy, người nghèo khoe khoang là một hành động phù phiếm, là biểu hiện của sự thiếu tự tin.

Ngược lại, những người giàu có sẽ giữ chặt của cải, luôn lo lắng về việc lộ sự giàu có mà chiêu mời tai họa, họ không tiết lộ bản thân giàu có, thậm chí còn “giả nghèo”. Bất luận là tư duy người giàu hay là tư duy người nghèo, những phương thức biểu hiện như thế này đều làm méo mó đi cách suy nghĩ chân thực của họ, các mối quan hệ xã hội thường không đủ chính thường và hài hòa. Trong cuộc sống, chúng ta cũng không nên quá khiêm tốn, kiệm lời, cũng không nên quá phóng đại bản thân, tự cao tự đại, hãy đường đường chính chính làm một con người bình thường là được rồi.


“Tính cách lọ lem”

Người nghèo khoe khoang sự giàu có thường được gọi là “nhân cách lọ lem”, trong tâm lý học, nó được gọi là định luật Murphy. Nó được đề xuất bởi Edward A. Murphy, có nghĩa là, nếu có hai hoặc nhiều cách để làm một điều gì đó, và một trong những lựa chọn đó sẽ dẫn đến thảm họa, nếu ai đó sẽ đưa ra lựa chọn này: Người đó được coi là có tính cách lọ lem.

Theo tư tưởng của định luật Murphy, “Con người càng không có cái gì thì sẽ thích khoe khoang cái đó, khi họ có những thứ mà người khác không có, ngược lại sẽ giấu rất sâu, đây chính là bản tính của con người”. Tâm lý này áp dụng cho tất cả mọi người trong cuộc sống hiện thực của chúng ta.

Một người càng thiếu gì đó, ngược lại họ sẽ càng khoe khoang cái đó. Đây đều là thể hiện của tâm lý mỏng manh, phù phiếm, khoe khoang giàu có sẽ dễ gây ra chuyện phải trái, đúng sai, từ đó gây ra những rắc rối không cần thiết. Tâm lý người nghèo khoe của cải và người giàu giấu giếm của cải là bản chất của con người, là điều không thể thay đổi được. Nhưng chúng ta có thể thông qua nhiều phương cách khác nhau để có suy nghĩ lí tính hơn.

Thứ nhất là cần phải có thái độ đúng đắn. Cái vui của người nghèo cũng là một loại trạng thái tốt, người nghèo có cái vui và hạnh phúc của người nghèo, tâm lý phù phiếm là một chủng trạng thái tâm lý không lành mạnh, cần phải từ từ khắc phục. Tâm thái “giấu giàu” cũng như vậy. Chỉ có sở hữu tâm thái tốt đẹp, thiện lương, mới có thể có một cuộc sống hạnh phúc.


Thứ hai là cần gia cường học tập. Thông qua giáo dục không ngừng “bồi dưỡng” nội tâm của bản thân mình, nâng cao trình độ văn hóa và tu dưỡng nghệ thuật, làm phong phú nội hàm của tự thân. Một người có tu dưỡng và nội tâm cao thượng sẽ không khoe khoang và “giả vờ” nghèo, họ sẽ biết cách sống thật, sống khiêm tốn. Người thực sự có trí huệ sẽ biết cahcs nâng cao năng lực và nội hàm của bản thân, cải biến diện mạo bần hèn, leo lên đỉnh cao của sự thành công.

Thứ ba là phòng ngừa chu đáo, lo trước tính sau. Định luật Murphy yêu cầu chúng ta không thể xem nhẹ những sự việc nguy hiểm với xác suất nhỏ, về góc độ tâm lý, chúng ta cũng không nên bỏ lỡ những cơ hội mà bản thân cho rằng không thể hoàn thành nổi, chỉ bằng cách tính trước mọi việc thì chúng ta mới có thể tự tin, sớm ngày đạt được thành công.

Lan Hòa biên dịch
Nguồn: Alobuowang

PHONG THỦY TỐT NHẤT ĐỜI NẰM Ở PHẦN MỘ HAY LONG MẠCH? ĐÂY MỚI LÀ CÁI GỐC


Xưa nay vẫn có rất nhiều người cảm thấy rằng phong thuỷ là một chuyện vô cùng hệ trọng, chọn được ngôi đất quý, long mạch tốt thì có thể hưởng phúc cả đời. Nhưng thực ra có một thứ còn quan trọng hơn phong thuỷ nhiều lần…

Theo nghĩa đen, “phong” là gió, “thuỷ” là nước. “Phong thuỷ” là một học thuyết có nguồn gốc từ thời cổ đại, chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước đến vận mệnh, phúc hoạ của đời người. Tuy nhiên câu chuyện dưới đây sẽ cho bạn một cái nhìn khác về phong thuỷ

Ngôi làng bát quái. Ảnh theo mafengwo.cn

Vương Dương Minh (1472 – 1529) tên thật là Vương Thủ Nhân, là một nhà chính trị, nhà triết học nổi tiếng của triều Minh. Triết học của Vương Dương Minh gọi là Dương Minh Tâm học, cho rằng Tâm là nguồn gốc của vạn sự vạn vật, chỉ có cứu trị nhân tâm mới có thể cứu vãn xã hội, mới có thể giải quyết những vấn đề hiện thực xã hội. Và “Tâm học” không phải thứ học vấn trên giấy mà là trí tuệ của thực tiễn.

Ông là mẫu người “văn võ song toàn”, một đời cống hiến biết bao công trạng cho đất nước. Vương Dương Minh, thời bình thì nghiên cứu triết học, đèn sách, dựng lập nên “Dương Minh phái” có ảnh hưởng lớn đến nhiều nước Á Đông, thời chiến thì thân hành dẫn binh dẹp loạn, dẹp thổ phỉ.

Những năm cuối đời, Dương Vương Minh có tự mình tìm được một miếng đất ở sơn trang Lan Đình Tiên Hà phía ngoài thành Thiệu Hưng (Chiết Giang) để làm nơi an táng khi trăm tuổi. Miếng đất này ban đầu có vị trí không đẹp. Trước núi có 2 con sông nhỏ giao nhau đã ăn mòn chân núi bên phải, khiến cho phần đất bên trong trở nên quá hẹp.

Nhiều thầy phong thuỷ cho rằng đó là thế đất không tốt, nhiều lần khuyên Vương Dương Minh bỏ đi. Nhưng ông không đồng ý, nhất quyết chọn đó làm nơi an nghỉ cuối cùng. Chẳng bao lâu sau, một ông lão sống trên núi nằm mơ thấy một vị thần tiên thân mặc áo bào đỏ, lưng thắt đai ngọc, đứng ở trên sông nói: “Ta muốn trả lại đường cũ cho con sông này“.

Ngày hôm sau, mưa dông nổi lên, dòng nước tràn ra khiến con sông đổi hướng về bờ phía Nam. Phần đất mà Vương Dương Minh chọn bỗng dưng rộng thêm cả trăm dặm, trở thành một mảnh đất phong thủy cực tốt với thế lưng dựa đồi núi, tầm nhìn thoáng đãng. Mọi người thảy đều kinh ngạc, khen ngợi đức lớn của Vương Dương Minh có thể cảm động thần linh, thay đổi được thế đất phong thuỷ.

Sau khi Vương Dương Minh qua đời cũng có chuyện lạ phát sinh. Trên đường bình định phản loạn trở về, ông bất ngờ qua đời ở Lâm An, Giang Tây. Người dân ven đường vây quanh linh cữu khóc lóc, đưa tiễn bậc đại nho. Đến Nam Xương, phải đi đường thuỷ về Chiết Giang, gió ngược chiều thổi suốt mấy ngày liền, thuyền không sao đi nổi.

Ảnh minh họa nơi có địa thế phong thủy đẹp. Nguồn ảnh: DKN

Người học trò tên là Triệu Uyên quỳ dập đầu trước linh cữu ông mà khấn rằng người thân và học trò ở Chiết Giang đều đang chờ đợi phu tử về. Vừa khấn xong, gió cũng đảo chiều, trở thành gió Tây, thuyền căng buồm, chỉ 6 ngày đã về đến Chiết Giang. Ai cũng cảm thán đại đức của Vương Dương Minh có thể cảm động trời đất cả lúc sống lẫn khi đã qua đời.

Phong thủy lớn nhất đời người chính là thiện tâm

Người xưa nói: “Tâm còn chưa thiện, phong thủy vô ích. Bất hiếu cha mẹ, thờ cúng vô ích“.

Câu chuyện của Vương Dương Minh cho người ta thấy rõ rằng phong thuỷ hoàn toàn phụ thuộc vào phúc đức của người ta chứ không phải ngược lại. Muốn có được phong thuỷ tốt, trước tiên phải biết tu dưỡng đạo đức. Phong thuỷ cũng giống như luật nhân quả, kẻ chuyên làm điều ác dù ở nơi có phong thuỷ tuyệt vời cũng hoá thành hiểm địa, người tốt dù phải sống ở vùng đất hung cũng lại gặp dữ hoá lành. Dưỡng phong thuỷ chi bằng dưỡng phúc đức, mải mê tìm ngôi đất quý cả đời chi bằng một đời hành thiện.

Dưỡng phong thuỷ chi bằng dưỡng phúc đức. (Ảnh: Wissen ist Macht TV)

Trong lý thuyết phong thuỷ, người ta hay nói về một trạng thái gọi là “tụ quang”, hội tụ ánh sáng. Phàm những người luôn ôm giữ lòng vị tha, luôn biết nghĩ đến người khác thay vì giành phần hơn cho mình thì mới có thể “tụ quang”. Biểu hiện trên gương mặt của “tụ quang” chính là nụ cười. Một nụ cười mãn nguyện, toả sáng có thể sưởi ấm cả một mùa đông giá lạnh. Miệng cười như hoa cũng chính là tướng mạo của người có phúc đức.

Trái lại, khi thường xuyên nghĩ điều ác, làm chuyện xấu, trong lòng chất chứa đầy tâm oán hận, đố kỵ, ích kỷ thì người ta sẽ rơi vào trạng thái “tụ âm”. Âm khí tất nhiên là không tốt, là những loại vật chất bất hảo. Khí âm sẽ khiến gương mặt xám xịt, không còn sinh khí. Những người này cả một đời chắc chắn sẽ không thể gặp may mắn.

Cái gốc làm người là Chân – Thiện – Nhẫn. Chân thành sống giữa đời bằng một trái tim đầy ắp thiện tâm và lòng kiên nhẫn cao cả, chắc chắn bạn sẽ nhận được phúc báo còn hơn cả tìm thấy đất có long mạch. Luôn chú trọng bồi dưỡng đạo đức, tu thân, tích đức, bạn sẽ có một loại phong thuỷ tốt nhất luôn mang theo bên mình vừa bảo vệ bản thân, vừa cải biến hoàn cảnh xung quanh. Đó mới thực là cái gốc của phong thuỷ đời người vậy.

An Nhiên / Nguồn: ĐKN

Saturday, May 2, 2026

KHỔNG TỬ BÁI KIẾN LÃO TỬ, TRỞ VỀ 3 NGÀY TRẦM MẶC KHÔNG THỐT NÊN LỜI

Lão Tử và Khổng Tử, hai bậc Thánh nhân nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa đã có lần tương ngộ. Và cuộc đàm đạo của các Ngài đã để lại giai thoại ngàn năm. Sau khi bái kiến Lão Tử trở về, Khổng Tử trầm mặc suốt 3 ngày không nói, cuối cùng cũng phải thốt lên…


Khổng Tử sau khi trưởng thành, thân hình cao to, có tướng mạo bất phàm, thần thái khiêm tốn và cẩn trọng. Hồi còn nhỏ mỗi khi chơi đùa, ông thích bày trí rượu gia tiên, trang trí vị trí các đồ đạc, và mô phỏng tiến hành nghi thức xã giao. Vì vậy, sau khi mẹ ông qua đời, liền có người đến để học nghi thức của ông. Khổng Tử muốn hiểu thêm về hình thức và nội hàm của nghi lễ, nên đã đến thỉnh giáo Lão Tử.

Lão Tử thọ 300 tuổi, vào thời nhà Chu, ông đảm nhiệm chức quan Thủ tàng sử, thời Ngô Vương làm trụ hạ sử. Mọi người thấy ông sống thọ như vậy, nên gọi ông là Lão Tử, nhưng trên thực tế, Lão Tử sớm đã là một người đắc Đạo. Khổng Tử rất nhiều lần thỉnh giáo Lão Tử, trong mắt Lão Tử, Khổng Tử vẫn là một đứa trẻ còn non nớt. Một lần, trước khi đến bái kiến Lão Tử, Khổng Tử phái Tử Cống đến thăm dò trước. Lão Tử thấy Tử Cống đến liền nói: “Thầy của ngươi – Khổng Tử, phải theo ta ba năm, sau đó ta mới có thể bắt đầu chỉ giáo cho thầy của ngươi những nội hàm thực chất”.

Một ngày nọ, Khổng Tử lòng ôm chí lớn đến bái kiến Lão Tử, Lão Tử liền nói: “Người giỏi làm ăn kinh doanh không dễ dàng khoe khoang tài sản, người có tài đức thường trông có vẻ “ngu ngốc, hồ đồ”, ông phải trừ bỏ tính kiêu ngạo, xem nhẹ dục vọng,… Những cái đó đối với ông, chẳng có gì tốt”.


Tuy nhiên, Lão Tử biết rằng, Khổng Tử là người mang theo sứ mệnh mà đến. Năm 35 tuổi, Khổng Tử lên đường ngu ngoạn khắp thiên hạ, Lão Tử trước khi cáo biệt Khổng Tử, nói: “Ta nghe nói, kẻ phú quý tặng người của cải, kẻ nhân nghĩa tặng người lời nói chân thành. Ta không phú cũng chẳng quý, không có của cải tặng ông, muốn tặng ông vài lời.

Thời nay, kẻ thông minh mà sâu sắc, sở dĩ hay gặp nạn, thậm chí suýt mất đi tính mệnh, là do hay chê cái sai của người; kẻ giỏi hùng biện lại thông hiểu sự việc, sở dĩ gặp họa liên miên, là do hay vạch ra cái xấu của người. Là bậc làm con, đừng cho mình là cao; là bậc bề tôi, đừng cho mình là hơn. Mong ông nhớ kỹ”.

Khổng Tử nghe xong, bái lạy nói: “Học trò nhất định ghi nhớ trong lòng!”.

Thấm thoát trải qua 30 năm, Khổng Tử đã 68 tuổi, đã hiểu và nếm trải qua những dư vị của cuộc đời, những điểm hóa thuyết Đạo của Lão Tử dành cho Khổng Tử, càng ngày càng rõ ràng hơn.

Một ngày, Khổng Tử đang đọc sách, Lão Tử bèn hỏi: “Ông đang đọc sách gì vậy?

Khổng Tử trả lời: “Là Kinh Dịch, là sách mà cách bậc Thánh nhân cổ đại thường đọc”

Lão Tử nói: “Những bậc thánh nhân có thể đọc nó, tại sao ông cũng đọc? Nội hàm chủ yếu trong cuốn sách là gì?”

Khổng Tử trả lời: “Là nhân nghĩa”.

Lão Tử hỏi Khổng Tử: “Ông đã đắc Đạo rồi chứ?”.

Khổng Tử bèn nói: “Học trò cầu Đạo đã 27 năm, vẫn chưa đắc được. Học trò nghiên cứu “Kinh thi”, “Kinh thư”, “Chu lễ”, “Chu nhạc”, “Kinh dịch” và “Kinh Xuân Thu”, thuyết giảng đạo trị quốc từ thời Tam Hoàng, hiểu rõ con đường công danh của Chu Công, Triệu Công, học trò đem dâng cho hơn 70 vị vua, nhưng không ai sử dụng. Xem ra con người khó thuyết phục quá!”.


Lão Tử nói: “Lục nghệ của ông đều là lịch sử cũ xưa của các đời vua xưa, ông thuyết giảng những cái đó có tác dụng gì? Những thứ ông đang tu luyện, đều là những tích xưa cũ. “Tích” chính là dấu tích vết giày người ta để lại, dấu chân với dấu chân, thì có gì khác nhau?”.

“Tính cách của con người không thể thay đổi, vận mệnh của con người đã được sắp đặt sẵn. Sự vận hành của thời gian không thể dừng lại, Đại Đạo của vũ trụ là tồn tại vĩnh hằng. Nếu một người có thể hiểu được Pháp lý của vũ trụ, bất kể là họ đi đâu, đều có thể tồn tại”.

Khổng Tử từ chỗ Lão Tử trở về, suốt 3 ngày im lặng không nói năng gì. Học trò Tử Cống lấy làm lạ bèn hỏi thầy làm sao. Khổng Tử lúc này mới đáp:

“Nếu ta gặp người có suy nghĩ thoáng đạt như chim bay, ta có thể dùng luận điểm chính xác sắc bén như cung tên của ta bắn hạ chế phục họ. Nếu tư tưởng của người ta vun vút không trói buộc như hươu nai chạy, ta có thể dùng chó săn đuổi theo, nhất định khiến họ bị luận điểm của ta chế phục.

Nếu tư tưởng của họ như con cá bơi trong vực sâu của lý luận, ta có thể dùng lưỡi câu để bắt lên.

Nhưng nếu tư tưởng họ như con rồng, cưỡi mây đạp gió, ngao du nơi cảnh huyền ảo thái hư (vũ trụ mênh mông huyền bí), không ảnh không hình, không nắm bắt được, thì ta chẳng có cách nào đuổi theo bắt được họ cả.


Ta đã gặp Lão Tử, thấy cảnh giới tư tưởng ông như rồng ngao du trong thái hư huyền ảo, khiến ta cứ há miệng mãi mà không nói ra lời, lưỡi thè ra cũng không thu lại được, khiến cho ta tâm thần bất định, chẳng biết ông rốt cuộc là người hay là Thần nữa. Lão Tử, thực sự là Thầy của ta!”.

Và hàng ngàn năm sau, những tư tưởng sâu xa, thâm thúy của Lão Tử cho đến ngày nay vẫn là những lời dạy vô giá đối với hậu nhân.

Lan Hòa biên dịch – Nguồn: Sound Of Hope (Văn Tư Mẫn)

ĐĂNG LÂU - ĐỔ PHỦ


Đăng lâu - Đỗ Phủ

Hoa cận cao lâu thương khách tâm,
Vạn phương đa nạn thử đăng lâm.
Cẩm giang xuân sắc lai thiên địa,
Ngọc Luỹ phù vân biến cổ câm.
Bắc cực triều đình chung bất cải,
Tây sơn khấu đạo mạc tương xâm.
Khả liên Hậu chúa hoàn từ miếu,
Nhật mộ liêu vi “Lương phủ ngâm”.


登樓 - 杜甫

花近高樓傷客心
萬方多難此登臨
錦江春色來天地
玉壘浮雲變古今
北極朝庭終不改
西山寇盜莫相侵
可憐後主還祠廟
日暮聊為梁甫吟


Lên lầu
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Lầu cao buồn cánh hoa rơi. 
Muôn phương hoạn nạn, ai chơi thành lầu. 
Cẩm Giang xuân sắc một mầu. 
Mây trôi Ngọc Lũy nay đâu mà tìm. 
Triều đình phương Bắc bặt tin. 
Tây Sơn giặc dã đã nhìn xâm lăng. 
Miếu Hậu Chủ có còn chăng. 
Chiều tà Lương phủ, đãi đằng ai ngâm ?


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Phủ 杜甫 (12/2/712 - 770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo Đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.

Nguồn: Thi Viện



TẠI SAO TỀ BẠCH THẠCH CHỈ VẼ BỨC "MÔNG BÒ" LẠI BÁN VỚI GIÁ 40 TỶ ĐỒNG? CHUYÊN GIA: BẠN PHÓNG TO MÀ XEM

Một bông hoa có thể là một thế giới, dưới ngòi bút của họa sỹ thì mọi thứ trên thế gian sẽ thể hiện ra vô cùng hấp dẫn vượt qua sự bình thường.

Nguồn ảnh: soundofhope

Ở Trung Quốc có rất nhiều họa sỹ, trong số những họa sỹ cận đại, Tề Bạch Thạch là một nhân vật tiêu biểu. Họa sĩ họ Tề là họa sĩ bậc thầy trong giới hội họa cận đại, đồng thời là người Trung Quốc đầu tiên ghi danh vào câu lạc bộ các tác giả có tranh cán mức giá 100 triệu USD ($100 Million Club).

Đại sư đã qua đời, nhưng sức sống trong nghệ thuật của ông có thể là vĩnh cửu, những bức tranh của Tề Bạch Thạch luôn là phần cuối cùng của những phiên đấu giá, giá của một bức vẽ thường là mấy chục tỷ đồng, đặc biệt là những bức vẽ nổi tiếng dù có tiền cũng rất khó có cơ hội để mua.

Những bức vẽ của Tề Bạch Thạch chủ yếu dùng để ghi lại cuộc sống, ông quan sát từng chi tiết của cuộc sống để tạo nên một bức tranh đẹp, nổi tiếng nhất là bức tranh vẽ con tôm của ông. Ông có thể vẽ ra sự sinh động và thú vị của con tôm chỉ bằng một vài nét vẽ, có thể nói rằng kỹ năng hội họa của ông đã đạt đến đỉnh cao.

Bức tranh vẽ tôm của Tề Bạch Thạch. Nguồn ảnh: soundofhope

Tề Bạch Thạch đã từng vẽ một chiếc mông của một con bò đực và bán nó với giá hơn 30 tỷ đồng Việt Nam, “Mông bò” của Tề Bạch Thạch có giá cao ngất trời, nhiều người không hiểu tại sao nó lại có sức hút đến vậy, nhưng các họa sĩ trong giới hội họa đã được trải nghiệm một loại sắc thái tình cảm rất khác biệt khi xem bức vẽ này.

Bức tranh này tên là “liễu ngưu đồ” (柳牛图), đúng như tên gọi của nó, toàn bộ “liễu ngưu đồ” chỉ có cây liễu và con bò, dễ thấy nhất là cái mông của con bò, bên cạnh là những cây liễu đang đung đưa trong gió.

Và có một chấm đen nhỏ ở phía trên bên trái mông bò, lúc đầu các họa sĩ không biết chấm đen nhỏ này tượng trưng cho điều gì, nhưng khi mông bò được phóng to ra, họ mới chợt nhận ra. Hóa ra đốm đen nhỏ này chính là sừng bên trái của con bò, nhiều chuyên gia cho rằng bức tranh này có giá hàng mấy chục tỷ chỉ tính riêng chiếc sừng này.

Tề Bạch Thạch. Nguồn ảnh: soundofhope

Thời gian trước đó, Tề Bạch Thạch đã trải qua cuộc sống nhiều gian khổ, ông sinh ra trong một gia đình rất nghèo, thân hình ông gầy gò ốm yếu, năm ông 14 tuổi, gia đình xin cho ông học nghề thợ mộc, vì học nghề mộc nên anh ấy rất thích đục những con ấn, sau này ông lại học vẽ.

Hầu hết các bức vẽ của ông chủ yếu là động vật, nhưng những nét vẽ đơn giản của ông có thể thể hiện một cách sinh động biểu cảm của động vật. Nhiều họa sĩ vẽ bò bằng cách vẽ những cậu bé đang chăn bò hoặc vẽ bò từ góc nhìn bên cạnh, nhưng bức vẽ “Ngưu liễu” của Tề Bạch Thạch có thể nói là bức vẽ đầu tiên kể từ thời cổ đại đến nay chỉ vẽ “mông bò”.

Trong toàn bộ bức “Liễu ngưu đồ”, có thể thấy dưới ánh mặt trời lặn, một con bò đang hướng đầu đi về phía trước, nó đang đi đâu vậy? Tình trạng mịt mù, không rõ, con bò quay lưng lại với mọi người, mọi người chỉ có thể nhìn thấy thân hình tròn trịa và chiếc đuôi dài buông thõng của nó chứ không thể nhìn thấy toàn bộ phần đầu của nó.

Hơn nữa “liễu” trong từ “cây liễu” có phát âm giống từ “lưu”, ngụ ý là “ở lại”, có thể thấy Tề Bạch Thạch đang rất nhớ nhà. Khi nhìn vào bức tranh này, chúng ta cũng có thể cảm nhận được khung cảnh cuộc sống yên bình của những người làm nông nghiệp, có một cảm giác thư thái, thoải mái từ trong ra ngoài.

Toàn bộ bức tranh “Liễu ngưu đồ” của Tề Bạch Thạch. Nguồn ảnh: kknews

Chủ đề “Bò” trong những bức vẽ của Tề Bạch Thạch không nhiều, nhưng chỉ cần ông vẽ thì sẽ có sự đặc sắc rất “độc đáo”.

Bức vẽ này của ông khá khác biệt so với những bức vẽ trước, con bò của ông vẽ trong trạng thái ẩn, đòi hỏi người xem phải vận dụng trí tưởng tượng để tìm ra con bò, chính góc trên bên trái là nét hoàn thiện tạo nên bức tranh sống động như thật.

Đối với một họa sỹ bậc thầy như Tề Bạch Thạch, qua những bức vẽ của ông chúng ta có thể cảm nhận được một tâm trạng đặc biệt của ông đối với thế gian, những tác phẩm của ông quả là những tác phẩm để đời của một danh họa xuất thân nơi thiên nhiên đồng nội và sử dụng tài năng của mình để ca ngợi vẻ đẹp của tự nhiên.

Đúng là cảm nhận về cái đẹp không chỉ xuất phát từ cảm nhận ở bề mặt, mà còn từ suy nghĩ, tình cảm, nhận thức của con người, những bức tranh có cả hình thức và nội hàm mới là những tác phẩm đỉnh cao thực sự.

Đăng Dũng biên dịch
Nguồn: soundofhope (Lý Tĩnh Nhu)

NÚI THIÊN SƠN: HÀNH TRÌNH KHÁM PHÁ KỲ QUAN THIÊN NHIÊN TẠI TÂN CƯƠNG

Tọa lạc giữa lòng Tân Cương rộng lớn, Núi Thiên Sơn hiện lên như một bức tranh thủy mặc khổng lồ, nơi giao thoa giữa mây trời và hạ giới. Với vẻ đẹp kỳ vĩ của những đỉnh núi tuyết vĩnh cửu và thảm thực vật đa dạng, địa danh này đã trở thành điểm đến mơ ước của hàng triệu tín đồ du lịch. Hãy cùng Kim Lien Travel bắt đầu hành trình giải mã sức hút của "dãy núi thiên đường" này ngay sau đây.

Núi Thiên Sơn hiện lên như một bức tranh thủy mặc khổng lồ

Tổng quan về dãy Núi Thiên Sơn vĩ đại

Núi Thiên Sơn, trong ngôn ngữ bản địa mang ý nghĩa là "Núi Trời", giữ vị trí là một trong những hệ thống núi đồ sộ và quan trọng bậc nhất tại khu vực Trung Á. Trải dài hơn 2.500 km băng qua địa phận nhiều quốc gia, phần lớn diện tích đẹp nhất và hùng vĩ nhất của dãy núi này nằm trọn trong khu tự trị Tân Cương, Trung Quốc.

Sự hiện diện của Núi Thiên Sơn đóng vai trò như một ranh giới tự nhiên, chia tách vùng đất Tân Cương thành hai miền Bắc - Nam với những đặc trưng khí hậu đối lập. Nếu phía Bắc mang sắc thái ôn hòa với rừng cây rậm rạp, thì phía Nam lại ẩn chứa sự khắc nghiệt của những hoang mạc khô cằn. Dãy núi này đóng vai trò như một "nhà máy nước" khổng lồ, nơi những dòng băng tan từ đỉnh cao đổ xuống, nuôi dưỡng sự sống cho các ốc đảo và thảo nguyên phía dưới, tạo nên một hệ sinh thái vô cùng phong phú.

Tuyệt tác thiên nhiên giữa mây ngàn và tuyết trắng

Vẻ đẹp của Núi Thiên Sơn là sự kết tinh kỳ diệu từ những đỉnh cao vòi vọi, rừng thông xanh ngắt và những cánh đồng hoa dại rực rỡ. Những đỉnh núi quanh năm phủ tuyết trắng xóa vươn thẳng lên bầu trời xanh thẳm, tạo nên một cảnh tượng choáng ngợp cho bất kỳ ai lần đầu chiêm bái.

Vẻ đẹp của Núi Thiên Sơn là sự kết tinh kỳ diệu

Vào những sớm bình minh, khi ánh mặt trời vừa ló rạng, những tia nắng đầu tiên chiếu rọi xuống lớp băng tuyết khiến toàn bộ Núi Thiên Sơn như được dát một lớp vàng ròng lấp lánh. Dưới chân núi, những cánh rừng nguyên sinh xanh thẫm soi bóng xuống dòng suối trong vắt, tạo nên một không gian tĩnh lặng và thanh khiết. Khí hậu tại đây luôn duy trì sự mát mẻ, mang theo hương vị nồng nàn của nhựa thông và sự tươi mới của gió ngàn, giúp du khách rũ bỏ mọi mệt mỏi của đời thường.

Tầng sâu văn hóa và những huyền thoại cổ xưa

Bên cạnh giá trị về mặt cảnh quan, Núi Thiên Sơn còn được tôn sùng như một vùng đất linh thiêng trong tâm thức văn hóa Trung Hoa. Theo dòng chảy truyền thuyết, đây chính là nơi ngự trị của Tây Vương Mẫu, vị nữ thần quyền năng giữ chìa khóa của sự bất tử. Những câu chuyện về vườn đào tiên trên đỉnh núi cao đã biến nơi này thành biểu tượng của sự thoát tục và trường tồn.

Trong dòng lịch sử hào hùng của Con đường Tơ lụa, Núi Thiên Sơn từng là cung đường hiểm trở nhưng đầy mê hoặc mà các thương đoàn cổ đại phải chinh phục. Hình ảnh những đoàn lạc đà lầm lũi đi dưới chân núi tuyết đã trở thành một phần ký ức không thể tách rời của vùng đất này. Năm 2013, UNESCO đã chính thức công nhận Núi Thiên Sơn là Di sản Thiên nhiên Thế giới, khẳng định giá trị địa chất và văn hóa vô giá mà dãy núi này đang gìn giữ cho nhân loại.

Thời điểm lý tưởng để chiêm ngưỡng Núi Thiên Sơn

Việc lựa chọn thời gian khởi hành phù hợp sẽ giúp du khách tận hưởng trọn vẹn vẻ đẹp biến ảo của Núi Thiên Sơn qua từng mùa. Khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm được xem là mùa vàng để tham quan, khi tiết trời chuyển mình từ xuân sang thu, tạo nên những khung cảnh rực rỡ sắc màu.

Vào mùa hè, nhiệt độ tại Núi Thiên Sơn vô cùng dễ chịu, là thời điểm các thảo nguyên xanh mướt và những hồ nước băng tan đạt đến độ trong trẻo nhất. Ngược lại, nếu du khách là người yêu thích vẻ đẹp tĩnh lặng của mùa đông, thời điểm từ tháng 11 đến tháng 3 sẽ biến nơi đây thành một vương quốc tuyết trắng. Đây là lúc những ngôi nhà gỗ ven rừng chìm trong màn tuyết dày, tạo nên một không gian đậm chất cổ tích phương Tây giữa lòng châu Á.

Những điểm dừng chân không thể bỏ lỡ tại Núi Thiên Sơn

Hồ Thiên Trì – Viên ngọc bích giữa lưng chừng trời

Nằm ở độ cao gần 2.000 mét so với mực nước biển, Hồ Thiên Trì chính là điểm nhấn kiêu sa nhất của Núi Thiên Sơn. Mặt hồ phẳng lặng như một chiếc gương khổng lồ, phản chiếu trọn vẹn hình ảnh các đỉnh núi tuyết bao quanh. Nước hồ có màu xanh ngọc bích đặc trưng, thay đổi sắc độ theo cường độ ánh sáng trong ngày, mang đến cảm giác huyền ảo khó tả. Du khách có thể tản bộ trên những con đường gỗ ven hồ để hít thở bầu không khí trong lành hoặc ngồi thuyền du ngoạn giữa lòng hồ để cảm nhận sự vĩ đại của thiên nhiên.

Hồ Thiên Trì chính là điểm nhấn kiêu sa nhất của Núi Thiên Sơn

Thảo nguyên xanh và đời sống du mục bản địa

Bao quanh các sườn dải của Núi Thiên Sơn là những đồng cỏ mênh mông như những thảm lụa xanh trải dài vô tận. Đây là nơi sinh sống lâu đời của người Kazakh và người Uyghur với nét văn hóa du mục đặc sắc. Hình ảnh những đàn ngựa thong dong gặm cỏ bên cạnh những túp lều yurt trắng tinh khôi tạo nên một bức tranh thanh bình đến lạ kỳ. Sự mộc mạc trong đời sống của người dân bản địa kết hợp cùng cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ tạo nên một sức hút khó cưỡng đối với những ai muốn tìm kiếm sự an yên.

Những đồng cỏ mênh mông như những thảm lụa xanh trải dài vô tận

Khu bảo tồn thiên nhiên và hệ sinh thái quý hiếm

Khu bảo tồn thiên nhiên thuộc hệ thống Núi Thiên Sơn là nơi trú ngụ của nhiều loài sinh vật quý hiếm nằm trong sách đỏ. Địa hình hiểm trở với những vách đá dựng đứng và thung lũng sâu thẳm là ngôi nhà lý tưởng của báo tuyết, gấu nâu và loài đại bàng vàng dũng mãnh. Đây còn là trung tâm nghiên cứu đa dạng sinh học quan trọng, giúp duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái núi cao đặc trưng tại khu vực Tân Cương.

Khung cảnh thiên nhiên Núi Thiên Sơn

Những hoạt động trải nghiệm đặc sắc tại Núi Thiên Sơn

Chinh phục những cung đường trekking xuyên rừng

Đối với những tín đồ đam mê vận động, Núi Thiên Sơn mang đến những tuyến đi bộ đường dài đầy thử thách nhưng cũng rất đỗi thi vị. Hành trình xuyên qua những cánh rừng linh sam cổ thụ, vượt qua những dòng suối nhỏ róc rách sẽ đưa du khách đến gần hơn với trái tim của núi rừng. Cảm giác đứng trên một mỏm đá cao, phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh dãy núi nhấp nhô giữa làn mây mờ ảo là một phần thưởng xứng đáng cho mọi nỗ lực.

Cảm giác đứng trên một mỏm đá cao, phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh

Trải nghiệm văn hóa cưỡi ngựa và ẩm thực vùng cao

Cưỡi ngựa trên những thảo nguyên rộng lớn dưới chân Núi Thiên Sơn là một hoạt động không thể bỏ qua. Du khách sẽ được hòa mình vào nhịp sống phóng khoáng của những "đứa con của gió", cảm nhận sự tự do tuyệt đối giữa không gian bao la. Sau những giờ phút khám phá, việc thưởng thức chén trà sữa mặn ấm nóng, miếng bánh mì nướng thơm lừng hay món thịt cừu nướng đặc trưng của vùng Tân Cương sẽ khiến chuyến đi trở nên trọn vẹn hơn bao giờ hết.

Hoạt động thể thao mùa đông sôi động

Khi tuyết phủ trắng xóa các sườn núi, Núi Thiên Sơn biến thành một sân chơi thể thao mùa đông đẳng cấp. Những khu resort trượt tuyết hiện đại sẵn sàng phục vụ du khách với các dịch vụ trượt ván, đi xe mô tô tuyết hay đơn giản là nặn những chú người tuyết ngộ nghĩnh. Vẻ đẹp tinh khôi của tuyết trắng hòa cùng ánh nắng vàng hanh hao của mùa đông tạo nên những khoảnh khắc check-in vô cùng ấn tượng.

Vẻ đẹp tinh khôi của tuyết trắng hòa cùng ánh nắng vàng hanh hao của mùa đông

Núi Thiên Sơn không chỉ đơn thuần là một danh thắng, mà còn là biểu tượng cho sức mạnh và vẻ đẹp vĩnh cửu của tạo hóa. Mỗi bước chân khám phá nơi đây đều mang lại những cảm xúc mới mẻ, giúp con người tìm thấy sự giao thoa hài hòa giữa tâm hồn và thế giới tự nhiên vĩ đại.

Theo: kimlientravel