Tuesday, August 11, 2026

NGHỀ CHƠI CHIM CU GÁY

Chơi chim cu gáy xưa nay vẫn là cái thú tao nhàn của nhiều người. Nhưng để bẫy được loài chim này, luyện nó gáy tự nhiên như chim ở ngoài thiên nhiên hoang dã là điều không dễ dàng. Người chơi cu gáy cũng phải ứng xử ra sao để trở thành người sành chơi và có văn hóa.

Ông Sâm tìm địa điểm đẹp để đặt bẫy.

70 tuổi mải mê bẫy chim cu gáy

Nhắc tới dân chơi chim cu gáy ở Hà thành không thể không nhắc tới ông Triệu Tử Sâm ở ngõ 624/12/109 Minh Khai, Hà Nội. Ở cái tuổi xưa nay hiếm vậy mà chỉ cần nghe ở đâu xuất hiện chim cu gáy là ông Sách lồng lên đường bẫy cho bằng được. Nể phục về bảng thành tích bẫy chim cu gáy của ông, dân chơi chim cu gáy Hà thành gọi ông với cái tên thân mật “Sâm sư phụ”.

Ai có dịp đi qua đầu ngõ 624/12/109 Minh Khai thì không thể không dừng lại nghe dàn đồng ca chim cu gáy của ông Sâm. Mặc dù ngôi nhà khá trật trội nhưng ông vẫn dành những khoảng không cho những chú chim cu gáy mà ông yêu thích. Trong ngôi nhà nhỏ ấy, người đàn ông có dáng vẻ cao lớn nhưng lại rất hiền lành này đang bận rộn với mấy chú chim cu gáy mà ông chăm bẵm.

Thấy có khách tới chơi nói chuyện về loài chim cu gáy, ông hồ hởi kể: “Con “8/3”- ông Sâm bẫy được tại phố 8/3” – (PV) “giọng thổ rền” chỉ là một trong hàng chục chú chim gáy mà ông bẫy được. Ông Sâm mê chim cu gáy như điếu đổ, sống quá nửa đời người thì gần như ông dành trọn để gắn bó với loài chim đồng quê này.

Nghe Cu gáy nhớ hồn quê!

Đưa bàn tay to bè, xù xì, tháo mảnh gỗ lũa buộc hờ hững cửa lồng, nhẹ nhấc ra chiếc chén rồi đổ lưng thóc trộn hạt kê, đỗ xanh, vừng, ông Sâm chia sẻ: “Tình cảm của tôi dành cho loài chim cu gáy, ngoài truyền thống của gia đình, còn bởi sắc màu nâu đất của lông chim – màu của ruộng đồng giản dị, mộc mạc”.

Chiếc bẫy đã hoàn thành.

Mê chim cu gáy như vậy nên với ông Sâm, lịch trình một ngày cho “công tác” nuôi chim của ông đã chiếm khá nhiều thời gian. Buổi sáng, buổi chiều, đi luyện chim ở một địa điểm nhất định. Buổi trưa, tranh thủ tắm cho chim. Ngoài ra là thời gian cho chúng ăn, vệ sinh chuồng… Nhìn chung, một ngày ông Sâm mất ít nhất bốn, năm tiếng đồng hồ. Đó còn chưa tính đến những chuyến đi xa nhiều ngày khỏi Hà Nội để “săn – bẫy” những chú chim hay.

Nói rồi ông Sâm kể tiếp: Quê ông ở làng Triều khúc, Hà Nội nhưng tuổi thơ của ông thì lớn lên tại phố Khâm Thiên. Ngay từ những ngày còn rất nhỏ, ông hay được bố mẹ cho về quê chơi.

Ngày ấy, quanh làng Triều Khúc còn có những cánh đồng lúa bát ngát. Vào những buổi chiều quê ấy, ông được thả hồn với hương lúa, những cơn gió mùa hè mát lộng và đặc biệt là được nghe tiếng chim cu gáy rền vang. Không biết từ bao giờ, tiếng chim cu gáy đã ăn sâu vào tiềm thức của ông. Vì quá mê tiếng chim cu gáy mà bố ông đã phải mua hẳn mấy con chim về để ru ông ngủ. Khi trưởng thành, dù ở đâu và làm gì thì tiếng chim cu gáy vẫn song hành với cuộc sống của ông…

Chu chim cu gáy mồi có giọng thổ pha.

Khi được hỏi vì sao ông chỉ mê mẩn với loài chim cu gáy mà không mê chim khác, ông Sâm bảo: “Quê tôi bây giờ nhà cao san sát, còn đâu tiếng chim cu gáy của ngày xưa. Mỗi khi nghe tiếng chim cu gáy râm ran, cảm giác sự ồn ào, náo nhiệt của thành phố hiện đại như dịu đi, nhường chỗ cho nguyên vẹn một đồng quê yên ả với sắc vàng của lúa chín, màu xanh yên ả, thanh bình của lũy tre làng. Hơn nữa, chim cu gáy nó giản dị, sống gần gũi với người nông dân Việt Nam. Thực sự phải có tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu đồng quê và dòng sông, mái nhà tranh thì mới có thể nuôi được loài chim gáy này…”.

Những tuyệt kĩ bẫy chim cu gáy

Ngoài 70 tuổi, nhưng dường như khắp các tỉnh miền Bắc đã in dấu giày của ông Sâm. Hễ nghe “đệ tử” nói ở đâu xuất hiện chim cu gáy về là ông mò tới bẫy cho bằng được. Tuy nhiên, để có thể bẫy thành công chim cu gáy thì phải đạt những tuyệt kĩ về cả chim mồi lẫn nghệ thuật bẫy chim cu gáy.

Treo lồng cu gáy trên cành cây để bẫy chim ngoài.

Theo ông Sâm: “Để có thể trở thành chim mồi mời gọi chim ngoài vào lồng thì con mồi phải có độ tuổi chừng 5 năm. Con chim mồi phải có giọng gáy pha, gáy thổ, khi gáy mời gọi chim ngoài phải êm. Phải có duyên gọi chim bồi về. Chim mồi phải là chim rừng ta đã đánh bắt được, nuôi lâu ngày thành quen, hết sợ bóng người, gáy tự nhiên như khi còn hoang dã.

Chim mồi phải gáy hay, gáy càng hay càng được đánh giá cao vì sẽ rất đắc lực lúc đem đi “đánh” chim hoang. Người ta lại còn phân biệt mồi “lỡ” và mồi “giỏi”. Mồi “lỡ” là thứ mới đem đi đánh một vài lần. Mồi “giỏi” hay còn gọi là mồi “chai” là thứ đã đi đánh nhiều lần, đã có bản lĩnh và quen “trận mạc”!

Do có hàng chục năm trời bẫy và nuôi chim cu gáy nên ông Sâm am hiểu từng chân tơ kẽ tóc của loài chim dân dã này. Ông kể: Chim cu gáy sống từng đôi, một trống một mái theo chế độ “đơn thê”, gắn bó chung thủy. Chúng đi ăn từng đàn, có lãnh thổ riêng, có một con trống có dáng hình đẹp đẽ, có tiếng gáy tuyệt vời. Có lẽ nó là con chim lãnh chúa. Khi vùng lãnh thổ riêng bị xâm phạm, tất đưa đến “đấu khẩu” rồi “ác chiến” giữa chủ nhà và kẻ xâm lăng. Người đi bẫy chim cu gáy (gọi tắt là đi đánh cu) sẽ căn cứ vào đặc tính ấy để lợi dụng, mà bẫy chim cu gáy.

Chú chim cu lãnh chúa đã bị sập bẫy.

Cũng theo ông Sâm ngoài chim mồi ra, yếu tố chọn địa điểm thích hợp rất quan trọng. Địa điểm thích hợp nhất là một góc nào đó ở các nương rẫy trồng các loại đậu, mè, hàng rào có cây cối để treo lồng mồi thượng, có bụi tương đối rậm để người đi đánh cu có thể ẩn núp kín đáo (vì chim cu hoang rất sợ bóng người) nhưng có thể quan sát chiến trường.

Người đánh cu nghi trang mồi thượng với cành lá cây, treo lồng mồi thượng trên cây trước một nhánh cây gọi là “nhánh thế”, vừa tầm với cửa lồng để cho chim hoang đến đậu có được tư thế thích hợp mà đấu gáy với chim mồi. Đậu ở nhánh thế, chim hoang có thể nhìn xuống đất và trông thấy chim mồi đất. Gài chiếc lưới đất, thả con mồi đất đã nhíp kín mắt cho đi lui đi tới để nhử. Người đi đánh cu vào chỗ ẩn núp. Chim mồi thượng sẽ cất tiếng gáy. Nếu đợi một lúc lâu chưa nghe nó gáy, người đi đánh cu huýt gió để giục nó gáy.

Con chim hoang, lãnh chúa của vùng lãnh thổ này đang nghỉ ngơi ở một nơi nào đó đột nhiên nghe tiếng gáy của chim lạ. Biết lãnh thổ riêng của mình đang bị xâm phạm, nó liền bay về, đậu ở một cây nào đó, nghểnh tai nghe ngóng. Khi biết được vị trí của kẻ xâm lăng, nó phóng đến nhánh thế. Mồi thượng trông thấy liền cất tiếng gáy thách thức, vừa gáy vừa xoay mình như con vụ. Chim hoang lãnh chúa cũng không phải tay vừa, nó xòe hai cánh ra, xù cườm, gục gặc đầu, nóng nảy, vừa chạy tới chạy lui trên nhánh thế vừa gáy liên hồi. Hai con đấu gáy sôi nổi, không con nào chịu thua con nào.

Ông đặt tên chú chim cu gáy này là con Lĩnh Nam (bẫy được nó ở Lĩnh Nam).

Con chim hoang tức tối nhảy vào lồng để ác chiến với kẻ thù. Vừa nhảy vào, bẫy liền sập và người đánh cu nhào ra để bắt. Đó là trường hợp dễ. Nhưng thường thường, người đi đánh cu gặp trường hợp khó hơn nhiều vì con chim lãnh chúa đã mấy lần dợm nhảy nhưng rồi lại thôi. Nó là con chim khôn, nó bay đi. Chim mồi thượng im tiếng.

Có trường hợp con chim khôn ấy không bay đi mà lao xuống đất, nhìn chim mồi đất rồi đi vòng quanh ở ngoài triêng lưới đất. Nó khôn lắm, rất cảnh giác với những gì lạ quanh mình. Có trường hợp con chim lãnh chúa bay đi vì cảnh giác, nhưng khi nghe chim mồi lại cất tiếng gáy, vì tức tối nó lại bay về, hai con lại đấu gáy rồi chim hoang có lẽ tức tối quá, trong phút chốc mất hết cảnh giác, nó lao vào cửa lồng, chiếc bẫy sập và nó vùng vẫy cũng không thoát ra được.

“Muốn bắt được con chim hay, người đi đánh cu phải chịu khó, kiên nhẫn, có khi phải mất cả ngày mới có kết quả. Còn gặp những con chim tầm thường, không có gì đặc biệt thì với một lưới đất, một ngày có thể bắt được năm bảy con là chuyện dễ dàng…” – Ông Sâm hồ hởi cho biết thêm.

“Chim mãi gáy dồn. Chim cứ gáy
Chim nói điều chi với lửa đây
Mùa màng trắng đất còn chi nữa.
Tay nắm vào tay… chim có hay?”

Gần như trọn đời đi bẫy chim cu gáy nhưng ông không bao giờ bắt chim non và làm thịt nó. Khi bẫy được con mới, ông sẽ gây thành chim mồi và sẽ lại phóng sinh nó. Ông quan niệm của trời sẽ lại thả về cho nơi nó sinh ra như một quy luật của tự nhiên.

Minh Hiếu / Theo: vanhienplus

Monday, August 10, 2026

BIẾT RÕ KHÔNG HỎI LÀ TU DƯỠNG, NHÌN THẤU KHÔNG NÓI LÀ TRÍ TUỆ

Biết rõ không hỏi là tu dưỡng, nhìn thấu không nói là trí tuệ (ảnh: Pinterest)

Biết rõ cũng không cần phải hỏi, tránh để người khác rơi vào tình huống khó xử; việc dù nhìn thấu cũng không cần phải nói ra, im lặng để tránh tai họa.
 
Biết rõ không hỏi là tu dưỡng

Bạn không cần cái gì cũng phải nói ra để liễu giải người khác, hãy để lại cho họ một chút tôn nghiêm. Bạn có bao giờ như thế này chưa: Khi bạn biết ai đó sắp ly hôn, bạn phải hỏi cho rõ ràng, xem ai là người có lỗi trước? Khi thấy người khác mặc đồ hiệu, bạn cố ý hỏi cho bằng được xem người đó mua ở đâu, bao nhiêu tiền? Biết người khác đang rơi vào tình huống khó xử, nhưng bạn vẫn cứ thảo luận về họ trước mặt mọi người… Bạn có thể cho rằng mình như thế là thông minh, nhưng nó chỉ thể hiện là bạn thiếu tu dưỡng.

Trong cuộc sống, ai cũng có lúc gặp khó khăn, nếu bạn phải tìm ra sự thật của mọi thứ, bạn đang làm cho người khác trở nên tồi tệ hơn. Mỗi người đều có những vết thương của mình, tại sao cứ phải vội vã khám phá những vết sẹo của người khác? Để lại cho người khác một chút không gian, cũng là lưu lại cho họ một chút tôn trọng.

Có một nhà văn đã chia sẻ một câu chuyện như sau: Ở một trường trung học nọ, cha của một bạn nữ làm bảo vệ cho một ngân hàng. Do sự nhạy cảm và tự ti của tuổi mới lớn, bạn nữ sinh luôn nói dối khi được hỏi về nghề nghiệp của cha: “Cha mình là nhân viên giao dịch của ngân hàng”. Kỳ thực thì việc này ai cũng biết, nhưng trước giờ chưa từng tiết lộ ra.

Nữ sinh luôn nói dối về nghề nghiệp của cha mình (ảnh minh họa Pinterest)

Một lần nọ, mấy học sinh rủ nhau cùng đi ăn hàng. Cha của bạn nữ kia mặc đồ bảo vệ đi tới, bạn nữ lập tức xấu hổ, lúng túng không biết làm sao. Lúc này, có một bạn nữ khác đột nhiên nói: “Mình muốn đi siêu thị, chúng ta cùng đi nha?” Không chờ mọi người đồng ý, cô liền kéo mọi người đi hướng khác.

Bằng cách này, mọi người đã ngầm bảo vệ lòng tự tôn mong manh của cô bé trong 3 năm. Nhiều năm sau gặp lại, cô gái đã bước qua mặc cảm tuổi mới lớn, cô công khai đàm luận về nghề nghiệp của cha mình, đồng thời cảm tạ mọi người đã không tiết lộ chuyện của cô.

Có câu nói rằng: “Nói được là có năng lực, không nói là trí tuệ, nhưng trầm mặc đúng lúc lại khiến cho người khác cảm thấy dễ chịu hơn”. Khi người khác rơi vào tình huống khó xử, giữ im lặng chính là lòng tốt lớn nhất mà một người có thể làm.

Một nụ cười hiểu ý còn tốt hơn nhiều lần một câu hỏi không phù hợp. Có thể cẩn thận quan sát những khó khăn của người khác và âm thầm giúp đỡ, đó mới là một người thiện lương.

Nhìn thấu không nói là trí tuệ

Vào thời Tam Quốc, Dương Tu là một mưu sĩ của Tào Ngụy, phục vụ dưới trướng của Tào Tháo. Ông được đánh giá là người có tài, xuất thân danh giá, học rộng biết nhiều. Tuy nhiên ông lại là người không biết giữ mồm giữ miệng, thường xuyên tỏ ra thông minh, như “đi guốc trong bụng” Tào Tháo, cuối cùng là tự chuốc họa vào thân.

Trong “Tam quốc diễn nghĩa” của La Quán Trung có viết về những chuyện Dương Tu làm Tào Tháo bực mình. Ví như một lần nọ, Tào Tháo sai người xây dựng một vườn hoa. Khi công việc xong, Tào Tháo đến xem, không nhận xét gì, chỉ lấy bút viết lên cửa vườn một chữ Hoạt – 活.

Dương Tu trông thấy bèn nói thợ phá cái cửa đi và làm lại nhỏ hơn. Có người hỏi thì Dương Tu nói đó chính là ý của Tào Tháo, rồi chỉ ra rằng, chữ Hoạt – 活 mà Tào Tháo lại viết ở ngay cửa vườn (Môn – 門 – nghĩa là cửa) thì thành ra chữ Khoát – 闊; mà chữ Khoát nghĩa là rộng, vậy ở đây có thể hiểu là cửa rộng quá, nên cho phá đi làm lại. Tào Tháo biết được việc này thì ngoài mặt tỏ ra hài lòng, nhưng lại có phần không vui, vì bị Dương Tu đọc được suy nghĩ của mình.

Lại một lần khác, có người ở Tái Bắc biếu một hộp sữa, Tào Tháo viết 3 chữ “Nhất hợp tô” – 一合酥 (một hộp sữa) ở trên mặt hộp rồi bỏ ở trên bàn. Dương Tu trông thấy thế, liền lấy ngay thìa chia với mấy người cùng ăn. Tào Tháo hỏi sao lại dám ăn thì Dương Tu thưa rằng:

– Trên hộp rõ ràng đề rằng “Nhất nhân nhất khẩu tô” – 一人一口酥 (chữ Hợp – 合 chiết tự ra thành 人一口), nghĩa là mỗi người một thìa sữa, chúng tôi đâu dám trái lệnh thừa tướng!

Tào Tháo ngoài miệng thì cười nhưng trong bụng thì ghét lắm.

Dương Tu luôn đoán trúng được suy nghĩ của Tào Tháo (ảnh minh họa Danviet)

Nhìn thấu cũng không nhất định phải nói ra, đặc biệt là những người ở địa vị của Tào Tháo, rất muốn biết rõ thuộc hạ, nhưng lại không muốn thuộc hạ biết rõ mình. Dương Tu cứ thoải mái nói ra mà không suy xét, đúng là tự đào hố chôn mình.

Một lần đi đánh trận, quân Tào Tháo bị kẹt tại Tà Cốc, tiến thoái lưỡng nan, dùng dằng không quyết được. Đang ngồi buồn bực thì nhà bếp mang lên bát canh gà, Tào Tháo nhìn trong bát có miếng gân gà, nghĩ đến tình cảnh của mình mà thở dài.

Vừa hay lúc đó Hạ Hầu đôn bước vào xin khẩu lệnh ban đêm, Tào Tháo buột miệng nói: “Gân gà! Gân gà!”. Hạ Hầu Đôn thấy khẩu lệnh này lạ lùng quá bèn thắc mắc đem hỏi Dương Tu. Dương Tu cười lớn rồi bảo Hạ Hầu Đôn chuẩn bị gói ghém đồ đạc, kẻo nội trong 3 ngày nữa Tào Tháo sẽ hạ lệnh rút quân. Dương Tu giải thích rằng khẩu lệnh “gân gà” nói lên tâm trạng của Tào Tháo, vừa muốn rút quân, vừa không muốn bỏ, giống như gân gà, ăn thì không có thịt, bỏ đi thì thấy tiếc.

Quả nhiên sau đó Tào Tháo ra lệnh hồi kinh. Việc Dương Tu đoán được ý của chủ nhân cuối cùng cũng đến tai Tào Tháo, khiến Tào Tháo tức giận và muốn tìm cơ hội giết Dương Tu.

Năm Kiến An thứ 24 (năm 219), Dương Tu cùng Tào Thực say rượu đi qua Tư Mã môn, do quá say nên đã hạ nhục bộ hạ của Tào Chương. Việc này được trình lên, Tào Tháo mượn cớ Dương Tu tự cao tự đại, để lộ quân cơ mà ra lệnh xử tử Dương Tu.

Thế nên, có những điều dù biết rõ cũng không cần phải nói ra, để tránh bị ganh ghét đố kỵ. Có những việc nhìn thông suốt cũng không cần phải thể hiện, chừa cơ hội cho người khác. Nhân sinh phức tạp, lòng người khó đoán, chỉ có khiêm tốn mới tránh được tai họa.

Người trí tuệ biết điều gì nên nói điều gì không, giữ tâm thiện lương, luôn đứng ở vị trí của đối phương mà suy xét, như vậy mới không làm người khác bị tổn thương. “Họa từ miệng mà ra”, cần phải chú ý tu khẩu để giữ gìn phúc đức cho bản thân.

Chân Chân / Theo: nguyenuoc

"THA THỨ CHO NGƯỜI ĐƯỢC GÌ THÌ NÊN THA" CÂU TIẾP THEO LÀ GÌ?

“Tha thứ cho người được gì thì nên tha” là câu tục ngữ quen thuộc, còn có một vế sau ít người biết tưởng chừng đơn giản nhưng lại chất chứa đầy trí huệ đời người.

“Tha thứ cho người được gì thì nên tha" là một tấm lòng bao dung độ lượng; thì “Có thể buông tay hãy buông tay” là một loại dũng khí (ảnh: songdep.com).

Tục ngữ là sự đúc kết kinh nghiệm qua thời gian về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội của các bậc tiền nhân. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là “trí khôn dân gian”. Trí khôn đó rất phong phú, đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và có vần điệu. Những câu nói này giúp thế hệ sau ít phạm sai lầm trong cuộc sống và giúp mọi người sống vui vẻ có ích hơn.

“Tha thứ cho người được gì thì nên tha” là câu tục ngữ vô cùng quen thuộc trong văn hóa truyền thống của người Trung Hoa. Tục ngữ của người Việt cũng có những câu tương tự như: “Chín bỏ làm mười”; “Một điều nhịn, chín điều lành”… Chúng ta hãy cùng tìm hiểu về nguồn gốc và ý nghĩa của câu nói này và cùng tìm hiểu vế sau của nó.

Tha thứ cho người được gì thì nên tha

Tha thứ cho người được gì thì nên tha

“Tây Khê tùng ngữ” của văn nhân Diêu Khoan thời Tống – Trung Quốc có ghi chép: Xưa kia từng có một đạo sĩ có thể chơi cờ, bất kể chơi cờ với ai, ông luôn “”Nhiêu nhân nhất tiên” nghĩa là “Tha cho người khác trước”, cũng có nghĩa để họ đi trước một bước và chiếm lợi thế đầu tiên trên bàn cờ. Chữ “饶” Nhiêu ngoài có nghĩa là tha thứ, tha lỗi, trong giới cờ vây thời cổ đại còn có nghĩa nhường cho đi trước, nhượng bộ. Vị đạo sĩ này từng làm một bài thơ:

“Lạn kha chân quyết diệu thông thần
Nhất cục tằng kinh kỉ độ xuân.
Tự xuất động lai vô địch thủ
Đắc nhiêu nhân xử thả nhiêu nhân”

Tạm dịch:

“Cờ vây chiến thuật diệu thông thần
Một ván đã qua mấy độ xuân.
Tự xuất động lai vô địch thủ
Chỗ bỏ qua được thì cho qua”.

Nhiêu nhân xử thả nhiêu nhân

“Lạn kha” là tên gọi khác của cờ vây. Vị đạo sĩ này sau đó đã qua đời tại huyện Bao Tín, thuộc tỉnh Hà Nam Trung Quốc ngày nay. Trước khi mất, ông ủy thác việc lo hậu sự cho một ông lão trong làng. Vài năm sau, ông lão tuân theo di chúc thực hiện cải táng mộ vị đạo sĩ. Lúc mở quan tài ra, ông phát hiện thấy điều kỳ diệu, quan tài trống rỗng và chỉ có quần áo bên trong.

Hóa ra đạo sĩ là một người tu luyện đắc đạo, ông đã dùng thuật “thi giải” để rời đi. Thuật “thi giải” chính là, người tu luyện thành công trong Đạo gia thường sẽ dùng quần áo, gậy tre hoặc thanh gươm biến thành xác chết nằm trong quan tài; còn người thật đã trở thành Thần Tiên và rời đi.

Từ đó về sau, câu chuyện về vị đạo sĩ và bài thơ của ông được lưu truyền. Dần dần câu thơ “nhiêu nhân xử thả nhiêu nhân” được tách ra và trở thành câu tục ngữ mang hàm ý khuyên nhủ con người ta nên bao dung, độ lượng, cảm thông và tha thứ cho những sai lầm của người khác.

Có thể buông tay hãy buông tay, học cách tha thứ

Có thể buông tay hãy buông tay (ảnh: facebook.com).

Câu tục ngữ “Tha thứ cho người được gì thì nên tha” còn một vế sau ít người biết đến; nhưng có thể khiến chúng ta suy ngẫm sâu xa, đó là “Có thể buông tay hãy buông tay”.

“Xả bỏ, xả đắc” – có thể xả bỏ thì mới có thể đắc được. Những thứ được càng nhiều thì những điều mất đi cũng càng nhiều. Khi chúng ta hết lòng dành toàn thời gian cho công việc, sẽ mất đi thời gian nghỉ ngơi; khi kiếm được đủ tiền bạc, cũng có thể mất đi những tháng năm hạnh phúc bên gia đình.

Đến lúc phải buông tay thì không nên luyến tiếc, cũng chưa chắc sẽ mất đi mãi mãi. Học cách mỉm cười trước nỗi đau; chào đón một tương lai tốt đẹp hơn chính là tinh túy của câu nói “Có thể buông tay được hãy buông tay”.

Khi chúng ta phải đối mặt với những vướng mắc về tình cảm; kết quả của sự cố chấp chỉ dẫn tới sự tổn thương cho một bên. Khi chúng ta đối mặt với công việc đang làm; nếu chúng ta không hài lòng hoặc không hạnh phúc, chúng ta cũng có thể thay đổi công việc hoặc nghỉ ngơi, học tập và làm lại.

Nếu “Tha thứ cho người được gì thì nên tha” là một tấm lòng bao dung độ lượng; thì “Có thể buông tay hãy buông tay” là một loại dũng khí, và là một loại “lùi một bước tiến ba bước” khi đối diện với nghịch cảnh hoặc những điều không như ý trên bước đường nhân sinh. Đây là một thái độ thay đổi tầm nhìn; thay đổi suy nghĩ mà mỗi người nên học cách noi theo.

Lời chia sẻ

Hai câu tục ngữ có nhiều hàm ý: Nên kết thiện duyên; cầm lên được thì cũng buông xuống được. Dùng tâm thái này để đối nhân xử thế thì mới có thể sống thoải mái hạnh phúc tại thế gian. Làm người hãy học cách luôn lưu lại cho mình một con đường lui; để sau nay gặp nhau không cảm thấy hối tiếc. Trên thế gian này, không có sự yêu và hận vô cớ; đều là từ nhân quả thiện ác do tự chúng ta gieo nên. Dùng thiện đối đãi với mọi người; đừng nên quá tính toán tới những lỗi lầm đã qua của người khác; học cách tha thứ cho bản thân và cho mọi người thì những gì nhận được sẽ là phúc lành.

Để đạt được cảnh giới này, cần có một thời gian tích lũy lâu dài. Khi gặp bất cứ sự việc gì; hãy học cách cân nhắc suy nghĩ một cách thấu đáo, nghĩ cho người khác và đặt mình ở vị trí người khác. Như vậy mới có thể giữ tâm thái bình thản; mới có thể nhanh chóng nhìn thấy được bản chất của sự việc là gì.

Những lời tâm huyết xuất phát từ đáy lòng của các bậc tiền nhân để lại cho thế hệ mai sau không chỉ là quy luật của cuộc sống; mà còn là cách đối nhân xử thế, mang lại lợi ích cho chúng ta đến ngày nay.

“Tha thứ cho người được nên tha; Có thể buông tay hãy buông tay”; câu nói tưởng chừng như đơn giản nhưng lại thực sự chất chứa đầy trí huệ đời người.

Thanh Mai / Theo: nguyenuoc

ĐỪNG BAO GIỜ NGHĨ RẰNG MÌNH THÔNG MINH HƠN NGƯỜI KHÁC

Một anh tài xế xe tải làm công việc thường ngày giao hàng cho một bệnh viện tâm thần, đang đậu xe bên cạnh một ống cống nước. Lúc chuẩn bị rời bệnh viện, anh nhận thấy có một bánh xe bị xì hơi. Anh kích chiếc xe tải lên và tháo bánh xe xì hơi để thay vào đó một bánh xe dự phòng.


Lúc sắp sửa gắn bánh xe mới vào, đột nhiên anh làm rơi cả bốn chiếc bù lon xuống ống cống nước. Anh không thể nào vớt những chiếc bù lon ra khỏi ống cống được, và bắt đầu hoảng lên vì không biết phải làm gì.

Ngay lúc đó, một bệnh nhân đi ngang qua và hỏi anh tài xế tại sao trông anh có vẻ hốt hoảng như vậy. Người tài xế tự nghĩ, “mình mà còn không làm được huống gì cái gã điên này, nên để gã ta đi cho khuất mắt”. Người tài xế xe tải nói sơ qua tình hình và đưa một cái nhìn thất vọng.

Người bệnh nhân cười anh tài xế và nói:

“Chỉ mỗi cái việc đơn giản như vậy mà anh còn không cách nào làm được. Không lạ gì anh sinh ra chỉ làm cái nghề tài xế xe tải để sống”.

Người tài xế lấy làm ngạc nhiên khi nghe lời nhận xét như vậy từ một gã tâm thần.
“Đây là cái anh có thể làm”, gã tâm thần nói.

“Tháo một cái bù lon từ mỗi trong ba bánh xe kia và gắn vô cái bánh xe này. Rồi lái xe xuống cửa tiệm gần nhất và thay những cái bù lon còn thiếu vô. Đơn giản quá phải không anh bạn?”


Người tài xế quá cảm kích với lối giải quyết nhanh chóng này liền hỏi người bệnh:
“Anh quá giỏi và thông minh như vậy sao lại có mặt ở cái bệnh viện tâm thần này nhỉ?”.

Người bệnh trả lời:

“Anh bạn ạ! Tôi ở đây bởi vì tôi khùng chứ không phải tôi ngu”.

Chẳng có gì ngạc nhiên, nhiều người ngày nay giữ quan niệm giống người tài xế, nghĩ rằng người khác toàn là kẻ ngu hơn mình một cái đầu.

Bởi vậy, các bạn ạ, mặc dầu chúng ta được học hành tử tế và thông minh, nhưng cứ nhìn xem, có thể nhiều gã quanh nhà và công sở có đầu óc có vẻ hơi “tưng tửng” một chút, vậy mà lại có thể chỉ cho chúng ta cách giải quyết vấn đề nhanh chóng. Bởi sự khôn ngoan đã bị cái tôi quá lớn của chúng ta đè bẹp dí.

Bruce Phan, theo TMG Corp

Sunday, August 9, 2026

BÀI CHÒI: NGHỆ THUẬT HỒN NHIÊN

Nghệ thuật dân gian nào mà chả hồn nhiên, vì nó đều được thể hiện và đồng sáng tạo bởi những nghệ nhân dân gian, những người nông dân hồn nhiên từ bản chất, ngày xưa chỉ quen ở bên trong lũy tre làng. Nhưng có lẽ trong nhiều loại hình nghệ thuật dân gian, thì bài chòi và hô bài chòi là nghệ thuật hồn nhiên bậc nhất. Vì sao như vậy ?

Khung cảnh một Hội đánh bài chòi.

Bài chòi và hô bài chòi là một trò chơi, một trò chơi văn nghệ nhằm giúp gây hưng phấn, vui thú, giải tỏa cho cả người trực tiếp chơi lẫn người xem. Một trò chơi, thì trước hết nó phải mang những đặc tính của trò chơi, nghĩa là phải thật sự hồn nhiên, hài hước và vô vị lợi. Trò chơi bài chòi được tổ chức vào những ngày đầu Xuân nên lại càng phơi phới những tươi vui. Đó là trò chơi có thưởng, có dùng những quân bài, nhưng không phải là trò đánh bạc. Không có chuyện sát phạt, ăn thua nhau về tiền hay vật dụng thưởng qui ra tiền, mà ở đây, chơi là chính, vui là chính, thưởng thức nghệ thuật là chính, thông qua những điệu hô chòi trầm bổng, nhịp nhàng, du dương mà người lĩnh xướng có tên là anh hiệu thể hiện. Anh hiệu-nghệ sĩ ẩn danh-chính là nhân vật trung tâm của bài chòi. Đó là một nghệ sĩ dân gian diễn xướng những bài bản có sẵn lẫn những sáng tạo tức thời mang tính ngẫu hứng,những bài thơ ứng tác đậm dấu ấn cá nhân. Có thể nói, anh hiệu chính là một nhà thơ dân gian, một người ngày xưa ít nhiều có học trong làng, dù dở dang. Và nhất là có năng khiếu đặt vè, hát thơ, sáng tác và nhất là ứng tác rất linh hoạt những bài vè hay thơ lục bát, lục bát biến thể một cách trực tiếp, hài hước, tươi vui, nhuần nhị. Có thể ngày xưa mỗi tổng hay mỗi làng đều có những anh hiệu như thế, họ vừa là nghệ sĩ bình dân vừa là tinh hoa văn nghệ của làng. Tôi nghĩ, có thể họ cũng được miễn những công việc tạp dịch trong làng, nhất là những khi làng có việc. Vì việc lớn nhất của họ mỗi độ Xuân về là làm anh hiệu, là hô bài chòi, phục vụ dân làng và bá tánh. Thế cũng là đủ. Sự hồn nhiên của nghệ thuật bài chòi bắt đầu từ anh hiệu, còn sự hồn nhiên dí dỏm thông minh của anh hiệu lại bắt đầu từ nhân dân. Thế còn nghệ thuật bài chòi ở miền Trung Việt Nam, nó khởi lên từ hồi nào?

Nhà âm nhạc học người Pháp tên là G.L.Bouvier đã đến Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX để nghiên cứu về các thể loại âm nhạc ở nước ta, ông Bouvier cho rằng: “Bài Chòi được hình thành và phát triển sau những năm 1470 Nam tiến, người Việt ra sức khẩn hoang từ vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định cho tới Bình Thuận, đặc biệt đã thành công trong việc xây dựng kinh tế, văn hóa và đời sống vùng châu thổ ở Bình Định và Phú Yên rất phì nhiêu. Trong số đó, có nhiều người từ nhiều địa phương có truyền thống văn hóa lâu đời, phong phú và đa dạng, có điều kiện kết hợp nhanh chóng với nền văn hóa dân gian của địa phương, một số làn điệu dân ca, Hò, Lý, Hò chèo thuyền, Hò giã gạo, Hò đi cấy… còn giữ được bản sắc ban đầu, đồng thời phát triển, sáng tạo ra các làn điệu mới.” (Theo lời dẫn của nhạc sĩ La Nhiên trong “Quê hương điệu hát Bài Chòi, Sài Gòn” 1974. Dẫn lại theo nhà nghiên cứu Trần Hồng).

Đông đảo người dân và du khách thưởng thức nghệ thuật trình diễn Bài chòi.

Như thế, nghệ thuật bài chòi có lẽ thịnh nhất ngay từ thời Trấn quốc công Bùi Tá Hán (nửa đầu thế kỷ 16) lãnh đạo người Việt cùng người bản địa khai phá và canh tân miền Trung. Nó có thể theo chân những binh lính và lưu dân người Việt vào lập nghiệp ở miền này, nhưng đối tượng phục vụ của nó gồm cả người dân Việt và người dân Chàm. Đây có thể coi là một hình thức nghệ thuật diễn xướng đậm chất Việt, nhưng được thử thách và tồn tại ở ngay mảnh đất mà ban đầu, nghệ thuật của người Chàm giữ vị trí quan trọng. Lý do để nghệ thuật bài chòi có được chỗ đứng vững vàng trong sinh hoạt cộng đồng Việt-Chàm nằm ở ngay tính hồn nhiên và dân chủ của nó. Sức lan tỏa và thuyết phục của nó ở chỗ nó không phân biệt, nó bình đẳng với mọi người chơi và mọi người nghe. Tuồng hát bội ban đầu chỉ biểu diễn ở cung đình hay ở các nhà quan lớn, dành cho những đối tượng người xem chọn lọc. Về sau mới hướng về phục vụ cả dân chúng. Còn bài chòi, ngay từ đầu đối tượng phục vụ của nó đã là lính, là dân, là bất cứ ai ham thích trò chơi này, không phân biệt. Với cư dân nông nghiệp Việt Nam, mùa xuân là mùa lễ hội, mùa của sự thăng hoa và tinh thần dân chủ. Đó cũng là mùa của bài chòi. Ta thử nghe một đoạn bài chòi xem nhé:

“ Chỗ này là chỗ vui chơi
Có trống nẫu nhịp, có cây kèn nẫu thổi ò í e…
Có rượu rồi lại có chè
Cô cứ gác chân tréo ngoảy ngồi nghe hô bài(…)
Tôi bưng khay rượu nạm vàng
Chúc mừng năm mới an khang xóm làng…”

Cô gái “gác chân tréo ngoảy”, cái động tác ấy mới hồn nhiên và dân chủ làm sao! Và cũng dễ thương biết chừng nào! Ngay tên những con bài cũng đã nói lên tính bình dân và dân chủ rất rõ. Như câu hô thai (hô đố) Nhứt Nọc này:

“Tay cầm sào chống lái
Mắt liếc bãi lều tranh
Ở đây đưa rước bộ hành
Thuyền nan một chiếc tử sanh trọn bề
Trải qua bãi bạc gành nghê
Tứ mùa chèo chống đôi bề sóng xao
Thú vui ngang dọc một sào
Ngồi trong tịnh viện kẻ gào người kêu
Tiếng ai văng vẳng kêu đò

Mau mau nhổ nọc chèo qua rước người.”

Người nghe tinh ý biết ngay câu thai (đố) ấy ứng với con bài Nhứt Nọc. Đúng là đố vui có thưởng! Nhưng trên đường giải đố, người nghe đã được hưởng trọn vẹn một đoạn hô chòi rất hay, nó là tâm sự của một anh chèo đò, mà cũng là những câu thơ sinh động vẽ nên cảnh sông nước ngày xưa.

Nghệ thuật bài chòi trên đường hoàn thiện mình đã thu hút vào nó những làn điệu dân ca, những điệu lý có nguồn gốc từ âm nhạc Chàm. Nhưng tiêu chí để thu hút của nó vẫn là sự hồn nhiên. Trong bài chòi, cho đến nay còn giữ một số làn điệu dân ca có bản sắc ban đầu, như các điệu lý, điệu hò: lý con sáo, lý ngựa ô, lý quét nhà… hò chèo thuyền, hò cấy lúa, hò giã gạo…Toàn là những điệu lý điệu hò mộc mạc đúng như tên gọi của chúng.

Cùng với sự hồn nhiên, điểm thu hút đặc biệt của bài chòi là tính hài hước. Cái này là “độc quyền” của các anh hiệu. Những anh hiệu nào càng có những câu hô thai hài hước, thậm chí có những câu thơ ứng tác chọc cười có duyên nhất là những anh hiệu “ăn khách” nhất, được bà con hưởng ứng nhiều nhất, ủng hộ nhiều nhất. Và những câu hô thai ấy, dù không được ghi ra giấy, vẫn lưu lại lâu bền trong trí nhớ của những người dân chơi hay nghe bài chòi. Ở đây có thể coi bài chòi là một dòng văn học dân gian truyền miệng, một kiểu “trình diễn thơ” độc đáo mà bây giờ khó có nhà thơ “mô-đéc” nào theo kịp trong khả năng thu hút công chúng.

Hồn nhiên và hài hước, đó không chỉ là bí quyết trường thọ của bài chòi, mà còn là bí quyết trường thọ của văn học, của thơ ca. Sự tương tác với công chúng ở bài chòi đã đạt tới đỉnh cao, và nó tạo ra một từ trường đồng sáng tạo mà văn học nghệ thuật hiện đại luôn ao ước.

Mãi mãi, bài chòi thuộc về nhân dân.

Thanh Thảo / Theo: vanhienplus

ĐỪNG GHEN TỊ VỚI CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI KHÁC

(ảnh minh họa Pinterest)

Bạn ghen tị và ngưỡng mộ cuộc sống của người khác, nhưng có người lại đang hâm mộ cuộc sống của bạn, đừng tìm hạnh phúc ở đâu xa, nó đang ở ngay bên cạnh bạn.

Dường như những kỳ vọng tốt đẹp trong quá khứ đã bị thực tế làm phai mờ, chỉ để lại trong lòng đầy nỗi phiền lo. Kỳ thực, đời người mười việc thì tám, chín việc không như ý, khó ai có thể sống cả đời suôn sẻ; những rắc rối của chúng ta thường đến từ việc không ngừng so sánh và không biết đủ.

Nhìn vào hào quang của người khác, chúng ta luôn thấy bản thân mình thật ảm đạm, tăm tối; chúng ta ngưỡng mộ cuộc sống của người khác thuận buồm xuôi gió, còn bản thân mình thì vô vàn khó khăn. Chúng ta tán thưởng người ngoài, xoi mói chính mình, và luôn khiến cho bản thân không được hạnh phúc.

Cũng như nhà văn Fyodor Dostoyevsky nói: “Con người sở dĩ bất hạnh là vì anh ta không biết rằng mình hạnh phúc, thế thôi!” Vì vậy, hãy nghĩ thoáng một chút, phiền não sẽ ít đi; trong tâm biết đủ, hạnh phúc tự nhiên sẽ nhiều hơn.

Bạn ngưỡng mộ cuộc sống của người khác, nhưng có người lại đang ngưỡng mộ cuộc sống của bạn (ảnh minh họa Pinterest)

Bộ phim ngắn đoạt giải Oscar “The Neighbor’s Window” (tạm dịch: Khung cửa sổ nhà hàng xóm) kể về một câu chuyện như sau: Một cặp vợ chồng trung niên đã kết hôn được nhiều năm, họ từ sớm đã mất đi những cảm xúc dạt dào thuở ban đầu bởi vì những thứ vụn vặt của đời thường. Họ đã nhìn qua nhà hàng xóm từ ô cửa sổ nhà mình, cặp vợ chồng trẻ bên đó lúc nào cũng ân ái, ngọt ngào.

Nhìn sự hạnh phúc của hàng xóm, nghĩ lại cuộc sống với đủ thứ lo toan vụn vặt của mình, người vợ càng thêm tủi hờn.

Cho đến một ngày nọ, người vợ gặp được cô gái bên nhà hàng xóm, thì mới biết được chồng của cô mắc bệnh nan y, cho nên họ mới bỏ qua tất cả mọi thứ, hết mực yêu thương nhau trong những ngày ngắn ngủi còn lại.

Cô gái nghẹn ngào nói: “Chồng em bị bệnh nặng, em thường nhìn thấy anh chị và 3 đứa con vui vẻ hòa thuận, cùng nhau ăn cơm, cùng nhau vui đùa…”

Người vợ nghe xong vô cùng kinh ngạc, hóa ra những rắc rối mà cô vướng vào bấy lâu nay lại là niềm hạnh phúc mà người khác không thể có được.

(ảnh: IMDB)

Người vợ trở về nhà, nhìn thấy 3 đứa con khả ái và người chồng đang bận rộn với việc trong nhà, cuộc sống tuy bình thường nhưng hạnh phúc mỹ mãn, thật đúng là “ở trong hạnh phúc mà không biết đó là hạnh phúc”.

Cuộc sống là vậy, chúng ta thường đánh giá thấp ý nghĩa của sự bình thường, trong tâm cứ hướng về thứ gì đó ở nơi xa xăm, để rồi tự tìm phiền não cho mình. Chúng ta cứ mãi nhìn lên và ngưỡng mộ hạnh phúc của người khác, nhưng khi quay đầu lại thì chợt nhận ra, chúng ta lại đang được người khác ngưỡng mộ.

Cuộc đời ai cũng có buồn vui lẫn lộn, không có ai cả đời đều là hạnh phúc mà không có chút phiền não nào. Mỗi người đều ở một vị trí khác nhau, mưu cầu hạnh phúc cũng khác nhau, mỗi người đều có những lo lắng và buồn phiền riêng, và mỗi người đều có niềm vui và niềm hạnh phúc riêng.

Nhà văn Mạc Ngôn từng nói:

“Con người khi đến với thế giới này, sẽ luôn có rất nhiều điều không như ý, cũng sẽ có rất nhiều điều không công bằng; sẽ có rất nhiều mất mát, cũng sẽ có rất nhiều ước ao.

Bạn hâm mộ tự do của tôi, tôi hâm mộ sự ràng buộc của bạn; bạn ước ao xe của tôi, tôi thèm muốn căn nhà của bạn; bạn ngưỡng mộ công việc của tôi, tôi ghen tị vì bạn luôn có thời gian để nghỉ ngơi.”

Hãy trân trọng những thứ bản thân mình đang có (ảnh minh họa Pinterest)

Chúng ta hay nói tùy duyên, vậy tùy duyên là trạng thái như thế nào? Ít ra chúng ta cũng nên bằng lòng với những gì chúng ta đang có ở hiện tại, tin rằng đó là những thứ phù hợp nhất với chúng ta.

Con người trải qua nhiều chuyện, cuối cùng sẽ học được cách chấp nhận bản thân, học được cách mỉm cười để đối diện với cuộc sống, giữ nhịp điệu cho riêng mình, không cần phải hòa vào đám đông, đó mới là một cuộc đời đáng sống.

Thế gian vốn vô sự, là do con người tự tìm phiền não. Vậy nên, đã đi qua những năm tháng tươi xanh, phải hiểu được rằng ‘biết đủ thường vui’; đã gặp qua bao người với muôn hình muôn vẻ, phải học được cách trân trọng bản thân; sau khi ngắm cảnh phồn hoa, phải biết quý trọng những thứ mà mình đang có.

Hạnh phúc không cần điều kiện gì cả, lúc nào nó cũng có đầy đủ ở trong bạn, chỉ là bạn có muốn chấp nhận nó hay không.

Chân Chân / Theo: Zhihu

CÔ HÁI MƠ - NGUYỄN BÍNH


Cô hái mơ
thơ Nguyễn Bính

Thơ thẩn đường chiều một khách thơ,
Say nhìn xa rặng núi xanh lơ,
Khí trời lặng lẽ và trong trẻo,
Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ.

Hỡi cô con gái hái mơ già!
Cô chửa về ư? Đường thì xa,
Mà ánh trời hôm dần một tắt,
Hay cô ở lại về cùng ta?

Nhà ta ở dưới gốc cây dương,
Cách động Hương Sơn nửa dặm đường,
Có suối nước trong tuôn róc rách,
Có hoa bên suối ngát đưa hương.

Cô hái mơ ơi!
Chả giả lời nhau lấy một lời,
Cứ lặng rồi đi, rồi khuất bóng,
Rừng mơ hiu hắt lá mơ rơi.

NGUYỄN BÍNH - 1937

Đây là bài thơ đầu tiên của Nguyễn Bính gửi đăng báo, trên Tiểu thuyết thứ năm. Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát cùng tên (năm 1942). Nhạc sĩ Hoàng Thanh Tâm cũng đã phổ nhạc bài thơ này.

"Cô hái mơ" - Nhac: Phạm Duy - Ca sĩ: Duy Quang

Sơ lược tiểu sử tác giả:

Nguyễn Bính (13/2/1918 - 20/1/1966) tên thật là Nguyễn Trọng Bính, sinh tại làng Thiện Vinh, huyện Vụ Bảng, tỉnh Nam Định. Ông mồ côi mẹ từ nhỏ, tự học ở nhà, bắt đầu làm thơ từ năm 13 tuổi, được giải khuyến khích thơ của nhóm Tự lực văn đoàn năm 1937 với tập thơ Tâm hồn tôi.

Ông tham gia kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, tập kết ra Bắc năm 1954, làm việc tại Hội văn nghệ Việt Nam, Ty văn hoá thông tin Nam Hà. Năm 1958, Nguyễn Bính làm chủ bút báo Trăm hoa. Nhiều tài liệu ghi ông mất ngày 20-1-1966 (tức ngày 29 Tết - không có ngày 30) tại Hà Nội. Tuy nhiên nhà văn Vũ Bão cho biết ông qua đời tại nhà riêng của một người bạn tên là Đỗ Văn Hứa, hiệu Tân Thanh, tại thôn Mạc Hạ, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.

Nguồn: Thi Viện

"Cô hái mơ" - Nhạc: Hoàng Thanh Tâm - Ca sĩ: Vũ Khanh