Monday, April 6, 2026

72 KỲ LẦU, TUYỆT TÁC ÁNH SÁNG GIỮA ĐÊM TRUNG HOA CỔ KÍNH

Tọa lạc giữa lòng thị trấn cổ, 72 Kỳ Lầu rực rỡ khi đêm về, như một bản hòa tấu ánh sáng lộng lẫy giữa nền kiến trúc cổ kính Trung Hoa.


Trung Hoa là vùng đất của những huyền thoại bất tận. Trên bản đồ du lịch đầy ắp các kỳ quan lịch sử và cảnh sắc nên thơ, 72 Kỳ Lầu nổi bật lên như một dấu son của văn hóa, nghệ thuật và kỹ thuật kiến trúc cổ truyền. Tọa lạc giữa một thị trấn cổ rêu phong – nơi thời gian như ngưng đọng – 72 Kỳ Lầu không chỉ là một điểm đến thu hút du khách nhờ vẻ ngoài tráng lệ, mà còn là một biểu tượng gắn kết giữa dĩ vãng và hiện tại, giữa ký ức lịch sử và nhịp sống đương đại.

Cái tên “72 Kỳ Lầu” không chỉ đơn thuần là một con số. Theo truyền thuyết dân gian Trung Hoa, con số 72 tượng trưng cho 72 phép thần thông của Tôn Ngộ Không, hay 72 đạo lý nhân sinh trong tư tưởng Nho giáo. Mỗi “kỳ lầu” trong quần thể này là một công trình riêng biệt, mang một chủ đề văn hóa, triết lý hoặc câu chuyện cổ tích, được xây dựng theo lối kiến trúc cổ truyền Trung Hoa với mái ngói cong vút, hệ lan can gỗ chạm trổ hoa văn tinh xảo và các hành lang nối liền nhau như mê cung.


Kết cấu 72 Kỳ Lầu thể hiện sự hòa hợp hoàn mỹ giữa thiên nhiên và nhân tạo. Được bố trí quanh một hồ nước nhân tạo rộng lớn, các tòa lầu phản chiếu xuống mặt nước tạo thành hình ảnh đối xứng hoàn mỹ. Vật liệu xây dựng chủ yếu là gỗ, đá xanh và ngói lưu ly – những chất liệu truyền thống không chỉ đảm bảo độ bền mà còn mang giá trị thẩm mỹ cao.

Nếu ban ngày, 72 Kỳ Lầu mang dáng dấp cổ kính, trầm mặc thì khi đêm xuống, nơi đây lại biến thành một thế giới hoàn toàn khác – lung linh, sống động và tràn đầy sức sống.

Hệ thống chiếu sáng được thiết kế công phu, với những luồng ánh sáng vàng ấm len lỏi qua từng mái ngói, từng ô cửa, từng khung lan can gỗ. Ánh sáng không chiếu thẳng mà được bố trí gián tiếp, nhằm nhấn mạnh đường nét kiến trúc và làm nổi bật độ sâu không gian.


Nổi bật nhất là hàng trăm chiếc đèn lồng đỏ treo cao dọc các hành lang, lối đi. Mỗi chiếc đèn lồng đều được làm thủ công, thêu những họa tiết truyền thống như phúc – lộc – thọ, hình rồng – phượng, hoa mai – hoa sen… Ánh sáng từ đèn lồng phản chiếu xuống mặt nước khiến khung cảnh trở nên huyền hoặc, như thể một giấc mộng cổ xưa đang sống lại giữa thế kỷ 21.

Đi bộ trong 72 Kỳ Lầu về đêm là một hành trình cảm xúc. Tiếng gió nhẹ lùa qua mái ngói, tiếng nước róc rách quanh hồ, ánh sáng đèn lồng chập chờn trong gió – tất cả tạo nên một bản giao hưởng thị giác và thính giác, đưa người lữ khách bước vào một không gian nửa thực, nửa mộng.


Không ít du khách đã ví nơi đây như một phiên bản đời thực của phim hoạt hình “Spirited Away” – nơi hiện thực và siêu thực đan xen. Mỗi góc nhỏ của 72 Kỳ Lầu đều có thể trở thành phông nền hoàn hảo cho những bức ảnh nghệ thuật, từ cầu gỗ bắc ngang hồ, hành lang treo đèn đến ban công lầu cao nhìn ra toàn cảnh thị trấn cổ.

Ngoài giá trị du lịch, 72 Kỳ Lầu còn là nơi lưu giữ văn hóa truyền thống. Mỗi tuần, nơi đây tổ chức các hoạt động tái hiện lễ hội cổ, trình diễn thư pháp, múa lân, múa rối nước và biểu diễn nhạc cụ dân tộc. Các quầy hàng thủ công truyền thống như làm giấy dó, vẽ tranh lụa, nặn gốm cũng thu hút du khách trong và ngoài nước.

Đặc biệt, vào các dịp lễ lớn như Tết Trung thu, Tết Nguyên tiêu hay Tết Nguyên đán, không gian 72 Kỳ Lầu được trang hoàng lộng lẫy với hàng nghìn đèn lồng đủ màu sắc, kèm theo đó là các buổi múa lửa, múa lân sư rồng và phát lộc đầu năm theo truyền thống.


72 Kỳ Lầu nằm cách trung tâm thành phố khoảng 40 km, thuận tiện di chuyển bằng xe buýt du lịch, taxi hoặc các tour ghép ngày. Gần đó là khu vực thị trấn cổ – nơi có nhiều nhà khách, homestay và khách sạn mang phong cách cổ điển phục vụ du khách muốn lưu trú qua đêm để trải nghiệm trọn vẹn vẻ đẹp nơi này.

Khách du lịch được khuyến khích đến vào buổi chiều để ngắm hoàng hôn phản chiếu xuống mặt hồ, sau đó ở lại để thưởng thức màn đêm huyền diệu rực rỡ ánh sáng.

Hana Truong / Theo: travelsig.vn



Sunday, April 5, 2026

4 LOẠI TINH THẦN NGHÈO KHÓ DỄ LÂY NHIỄM, NẾU BÊN CẠNH CÓ NHỮNG NGƯỜI NHƯ VẬY HÃY TRÁNH XA CÀNG SỚM CÀNG TỐT

Tinh thần nghèo khó thực sự giống như một loại bệnh, nếu không chữa trị và thay đổi, họ sẽ mãi nghèo đi. Điều đáng sợ hơn là tinh thần nghèo khó có thể lây nhiễm, vì vậy hãy cẩn thận với những người mang tinh thần nghèo khó, đặc biệt là những người mang 4 loại tinh thần nghèo khó sau đây, càng sớm tránh xa càng tốt.

4 loại tinh thần nghèo khó dễ lây nhiễm, nếu bạn có những người mang tinh thần như vậy bên cạnh hãy tránh xa càng sớm càng tốt (ảnh: Secretchina)

Đầu tiên là thị lực

Những người có tinh thần nghèo khó, cái nhìn của họ sẽ rất thiển cận, họ chỉ nhìn vào những lợi ích nhỏ mọn trước mắt mà nhắm mắt làm ngơ trước những lợi ích lâu dài. Tầm nhìn của họ về mọi việc bị giới hạn ở sự hiểu biết hạn hẹp và hời hợt, họ không thể đưa ra những đánh giá chính xác ngay cả khi gặp được những cơ hội tốt.

Nếu bạn thường xuyên kết thân với những người nghèo về thị lực, họ sẽ làm tầm nhìn của bạn bị hạ thấp bằng sự hẹp hòi và hời hợt của họ. Ví dụ, nếu bạn có một cơ hội tốt, nhưng rất có thể tính bảo thủ và thận trọng của họ sẽ vô hình trung ảnh hưởng đến khả năng phán đoán của bạn. Nếu tiếp tục như vậy trong thời gian dài, bạn cũng có thể trở nên tầm thường như những người nghèo về thị lực.

Những người nghèo về thị lực, tầm nhìn của họ về mọi việc bị giới hạn ở sự hiểu biết hạn hẹp và hời hợt (ảnh: Pinterest)

Thứ hai là miệng

Người ta thường nói: “Cẩu khẩu lý thổ bất xuất tượng nha”, nghĩa là, miệng của con chó thì không thể mọc được ngà voi, ý chỉ kẻ xấu thì không nói ra được lời tử tế. Ở đời có rất nhiều người như vậy, lúc nào cũng đầy bụng oán trách, lúc nào cũng than phiền. Thậm chí cả những điều đáng mừng, nhưng khi được nói ra từ miệng của họ, cũng mang lại cảm giác tiêu cực cho người nghe.

Trong quá trình vật lộn với cuộc sống, nếu xung quanh bạn có những người truyền đạt cảm xúc tiêu cực như vậy, thì tương lai tươi sáng và đầy hứa hẹn ban đầu của bạn sớm hay muộn sẽ bị hủy hoại từng chút một.

Thứ ba là tay

Những người có tinh thần nghèo khó ở tay có hai đặc điểm. Một là lười biếng; hai là luôn muốn lợi dụng người khác. Một người nếu lười biếng, chỉ nghĩ đến việc không làm mà có, thì người đó sẽ không bao giờ có thể tiến lên được.

Tâm lớn bao nhiêu, thế giới rộng bấy nhiêu (ảnh: Pinterest)

Tục ngữ có nói : “Ngật đắc khổ trung khổ, phương vi nhân thượng nhân”, nghĩa là, chịu được cái khổ nhất trong cái khổ thì mới có thể làm bậc Thượng Nhân được. Trong cuộc sống, có ba loại khổ, một là khổ về cơ thể, cần phải vận động cả cơ bắp và xương cốt; hai là khổ về trí lực, cần phải học hỏi và suy nghĩ; ba là khổ về kiên nhẫn, cần phải tự kiểm soát chặt chẽ. Nhưng người nghèo tay lại không chịu nổi một chút khổ cực nào, họ chỉ muốn thu hoạch mà không muốn bỏ ra công sức. Trên thế gian này, làm sao có được chuyện tốt đẹp như vậy chứ?

Thứ tư là tấm lòng

Chúng ta thường nói: “Tâm lớn bao nhiêu, thế giới rộng bấy nhiêu”. Những người có tấm lòng hẹp hòi không thể chứa đựng được sự bất công và cũng không thể chứa đựng được những điều tốt đẹp. Họ thích so sánh và trả ơn bằng hận thù, và càng không thể chấp nhận người xung quanh tốt hơn bản thân mình. Họ thà không hạnh phúc chứ không chịu cho ai hạnh phúc. Vì vậy, nếu bạn có những người như vậy xung quanh, bạn nên tránh xa họ càng sớm càng tốt.

Bảo Châu biên dịch
An Nhiên / Theo: vandieuhay

THANH MINH (清明) - ĐỖ MỤC (杜牧)


Thanh minh - Đỗ Mục

Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn.
Tá vấn tửu gia hà xứ hữu?
Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.


清明 - 杜牧

清明時節雨紛紛
路上行人欲斷魂
借問酒家何處有
牧童遙指杏花村


Tiết Thanh Minh
(Dịch thơ: Nam Trân)

Thanh minh lất phất mưa phùn
Khách đi đường thấm nỗi buồn xót xa
Hỏi thăm quán rượu đâu à?
Mục đồng chỉ lối Hạnh Hoa thôn ngoài.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Mục 杜牧 (803-853) tự Mục Chi 牧之, hiệu Phàn Xuyên 樊川, người Vạn Niên, quận Kinh Triệu (nay là Trường An, tỉnh Thiểm Tây). Ông nội Đỗ Hựu vừa là một tể tướng giỏi về lý tài, vừa là một sử gia biên soạn sách Thông điển. Anh là Đỗ Sùng, phò mã, làm đến tiết độ sứ, rồi tể tướng. Đỗ Mục có dáng dấp thanh tú, tính thích ca nhạc, ưa phóng tong, còn nhỏ đã nổi tiếng văn tài. Khi mới lên kinh sư, được Thái học bác sĩ Ngô Vũ Lăng đưa thư văn đến cho quan chủ khảo là thị lang Thôi Uyển xem. Thôi rất kinh ngạc về bài A Phòng cung phú. Năm 828, hai mươi sáu tuổi, ông đỗ tiến sĩ, lại đỗ luôn khoa chế sách Hiền lương phương chính, được bổ chức hiệu thư lang ở Sùng văn quán, rồi ra làm đoàn luyện tuần phủ tại Giang Tây, sau đó đến Hoài Nam làm thư ký cho tiết độ sứ Ngưu Tăng Nhụ, lại đổi về làm giám sát ngự sử tại Lạc Dương. Năm 835, ông đi chơi Hồ Châu, rồi cứ bị đổi làm thứ sử hết nơi này đến nơi khác (Hoàng Châu, Từ Châu, Mục Châu). Năm 849, ông nhờ một người bạn làm tướng quốc xin cho về thái thú Hồ Châu, sau đổi khảo công lang trung tri chế cáo, và cuối cùng làm trung thư xá nhân. Tác phẩm có Phàn Xuyên thi tập (20 quyển), chú giải Tôn Vũ binh pháp (13 thiên, do Tào Tháo soạn).

Nguồn: Thi Viện



SỰ "DƯ THỪA" CỦA NGUYÊN LIỆU XA XỈ TRÊN BÀN TIỆC ĐƯƠNG ĐẠI

Bàn tiệc đương đại từ trung tới cao cấp đều ghi nhận dấu ấn của nhiều nguyên liệu xa xỉ như nấm truffle, trứng cá tầm, nghệ tây saffron, thịt bò wagyu A5, cá ngừ vây xanh bluefin...


Có một thời, xa xỉ trong ẩm thực được đo bằng sự tinh túy của nguyên liệu. Nguyên liệu càng đắt đỏ, quý hiếm, tốn công sức tìm kiếm, nguyên liệu ấy càng có giá trị và thể hiện được đẳng cấp cao của nhà hàng. Tuy nhiên, theo thời gian, sự cao cấp của một nhà hàng đang dần được định nghĩa lại theo nhiều yếu tố hơn. Và việc xuất hiện quá nhiều nguyên liệu xa xỉ trên bàn ăn cũng khiến thực khách "nhăn nhó" và cảm thấy "bội thực". Từ những nguyên liệu được săn đón, chúng dần xuất hiện nhiều và trở nên dư thừa.

Khi xa xỉ không còn là điểm nhấn

Hãy thử bước vào một nhà hàng fine dining bất kỳ ở những đô thị lớn từ Paris, New York, Tokyo cho đến Dubai hay Singapore. Dù mỗi nơi mang một bản sắc riêng, thực đơn của họ vẫn thường chia sẻ một bộ “từ vựng xa xỉ” quen thuộc: truffle, caviar, wagyu, foie gras, đôi khi được phủ thêm một lớp vàng lá như một dấu hiệu nhận diện. Và thực đơn đồ uống luôn giới thiệu những chai vang đắt đỏ nhất lên đầu trang.

Có một thời, xa xỉ trong ẩm thực được đo bằng sự tinh túy của nguyên liệu. Nguyên liệu càng đắt đỏ, quý hiếm, tốn công sức tìm kiếm, nguyên liệu ấy càng có giá trị và thể hiện được đẳng cấp cao của nhà hàng

Có thể ở một góc nhìn nào đó, đây là kết quả tất yếu của một nền ẩm thực đã toàn cầu hóa nơi những nguyên liệu từng gắn với địa lý cụ thể nay trở nên phổ biến trên phạm vi quốc tế. Nhưng cũng chính vì thế, sự bất ngờ, yếu tố cốt lõi của trải nghiệm fine dining bắt đầu bị bào mòn. Một đĩa pasta với truffle, nếu xuất hiện lần đầu, có thể mang lại cảm giác thăng hoa. Nhưng khi nó trở thành một công thức lặp lại, trải nghiệm ấy không còn là khám phá, mà chỉ là sự lặp lại vô hồn, một sự gán ghép vô nghĩa khi cố gắng kết hợp sợi mì pasta với những nguyên liệu đắt giá nhất vì lo ngại rằng sợi mì phổ biến ấy không đủ xa xỉ. Xa xỉ trong trường hợp này, không còn là điểm nhấn. Nó trở thành nền tảng bắt buộc. Và khi cái nền móng ấy trở nên quá dày, toàn bộ cấu trúc của món ăn bắt đầu mất đi sự cân bằng vốn có.

Bàn tiệc đương đại, trong dòng chảy của toàn cầu hóa và kỷ nguyên thị giác, đang chứng kiến một sự đảo chiều thú vị và cũng đầy mâu thuẫn. Khi những nguyên liệu xa xỉ không còn là ngoại lệ mà trở thành “mặc định”, chúng bắt đầu đánh mất chính giá trị biểu tượng từng làm nên sự quyến rũ của mình. Xa xỉ, khi bị lặp lại quá nhiều, dần trở thành dư thừa.

Thị giác lên ngôi và sự “Instagram hóa” của bàn tiệc

Nếu ẩm thực cổ điển đặt trọng tâm vào vị giác và khứu giác, thì ẩm thực đương đại, ít nhất trong một bộ phận không nhỏ lại đang chuyển dịch sang thị giác. Món ăn không chỉ được tạo ra để thưởng thức, mà còn để được nhìn thấy, được chụp lại và được chia sẻ. Trong bối cảnh đó, những nguyên liệu xa xỉ trở thành công cụ thị giác lý tưởng vì chúng dễ nhận diện, dễ gây ấn tượng và dễ gợi liên tưởng đến giá trị.


Vàng lá là ví dụ điển hình. Nó không mang lại hương vị, không đóng góp vào cấu trúc món ăn, nhưng lại tạo ra hiệu ứng thị giác tức thì. Một miếng steak phủ vàng, một chiếc bánh tráng miệng lấp lánh... tất cả đều được thiết kế để trở thành “khoảnh khắc Instagram” hơn là một trải nghiệm ẩm thực thuần túy. Tương tự, việc bào truffle quá đà hay múc từng thìa caviar một cách hào phóng đôi khi không còn phục vụ hương vị, mà phục vụ cảm giác “đáng tiền”.

Ẩm thực, trong khoảnh khắc này, không còn là một hành trình khám phá, mà trở thành một dạng trình diễn nơi giá trị được đo bằng mức độ gây ấn tượng, thay vì chiều sâu trải nghiệm.

Từ hiếm hoi đến phổ biến: nghịch lý của sự tiếp cận

Một trong những nguyên nhân sâu xa của sự dư thừa nằm ở chính sự “dân chủ hóa” của nguyên liệu xa xỉ. Ngày nay, truffle không còn bị giới hạn trong các nhà hàng Michelin. Nó xuất hiện trong các sản phẩm đại trà như dầu truffle, snack, thậm chí là mì ăn liền cao cấp. Caviar có nhiều phân khúc giá khác nhau, đủ để xuất hiện trong những buổi tiệc tại gia. Wagyu, từng là biểu tượng của Nhật Bản, giờ đây được nuôi và phân phối ở nhiều quốc gia.

Sự mở rộng này, về bản chất, là một tiến bộ, nó cho phép nhiều người tiếp cận hơn với những trải nghiệm từng bị giới hạn. Nhưng đồng thời, nó cũng làm mờ đi ranh giới giữa “xa xỉ” và “phổ thông”. Khi bất kỳ ai cũng có thể nếm thử truffle hay caviar, giá trị của chúng không còn nằm ở sự hiếm hoi. Và khi sự hiếm hoi biến mất, xa xỉ buộc phải tìm một định nghĩa mới.

Ngày nay, truffle không còn bị giới hạn trong các nhà hàng Michelin

Lạm dụng và sự mất cân bằng tinh tế

Trong triết lý ẩm thực cổ điển, nguyên liệu cao cấp chưa bao giờ là trung tâm tuyệt đối. Chúng tồn tại như những điểm nhấn được sử dụng vừa đủ để nâng đỡ hương vị món ăn. Nhưng khi bị lạm dụng, chính những nguyên liệu này lại trở thành yếu tố phá vỡ cấu trúc tổng thể của món ăn. Truffle, với hương thơm mạnh mẽ, có thể dễ dàng lấn át mọi tầng vị khác nếu sử dụng quá tay. Caviar, với độ mặn và umami cao, có thể khiến món ăn trở nên nặng nề nếu không được cân bằng. Wagyu, với lượng mỡ dày, có thể làm mất đi sự thanh thoát nếu không được xử lý khéo léo.

Một món ăn phủ đầy nguyên liệu đắt tiền không nhất thiết là một món ăn ngon. Trong nhiều trường hợp, nó chỉ là một sự tích lũy nơi giá trị được cộng dồn bằng chi phí, thay vì được sáng tạo bằng kỹ thuật và tư duy.

Một món ăn phủ đầy nguyên liệu đắt tiền không nhất thiết là một món ăn ngon

Sự mệt mỏi của người thưởng thức

Ẩm thực luôn là một ngôn ngữ xã hội. Một bữa ăn không chỉ là việc nạp năng lượng, mà còn là cách con người thể hiện bản thân, địa vị và gu thẩm mỹ. Trong bối cảnh đó, những nguyên liệu xa xỉ trở thành biểu tượng, một cách để nói rằng “tôi có thể chi trả cho điều này”. Nhưng khi sự phô trương trở nên quá rõ ràng, nó cũng kéo theo một hệ quả ấy là sự mệt mỏi.

Người thưởng thức ngày nay, đặc biệt là thế hệ trẻ không còn dễ dàng bị thuyết phục bởi những biểu tượng bề mặt. Họ bắt đầu đặt câu hỏi rằng:

- Món ăn này có gì ngoài giá trị của nguyên liệu?

- Câu chuyện của nó là gì?

- Và quan trọng hơn, nó khiến tôi cảm thấy gì?


Trong nhiều trường hợp, câu trả lời không đủ thuyết phục. Và chính lúc đó, sự dư thừa trở thành một khoảng trống và phần trải nghiệm hương vị thực sự của món ăn bị thay thế bởi hình thức, bởi trình diễn và bởi vô số những áp đặt lên bàn tiệc đương đại.

“Quiet luxury” - khi sự tinh tế quay trở lại

Trước sự bão hòa của xa xỉ phô trương, một xu hướng mới đang dần hình thành trong ẩm thực cao cấp. Ấy chính là sự "xa xỉ thầm lặng". Đây không phải là sự từ chối những nguyên liệu đắt tiền, mà là một cách tiếp cận khác. Xu hướng này đặt trọng tâm vào giá trị nội tại thay vì biểu tượng bên ngoài, tập trung khai thác hương vị của nguyên liệu xung quanh cùng sự nâng cấp của kỹ thuật nấu nướng.

Các đầu bếp bắt đầu quay trở lại với những nguyên liệu tưởng chừng giản dị từ rau củ theo mùa, ngũ cốc bản địa, cá đánh bắt bền vững. Nhưng điều làm nên sự “xa xỉ” ở đây không nằm ở giá tiền, mà ở độ tươi và tính mùa vụ; kỹ thuật chế biến; sự hiểu biết về nguyên liệu và câu chuyện văn hóa đi kèm. Một củ cà rốt được trồng trong điều kiện lý tưởng, thu hoạch đúng thời điểm và chế biến với sự tinh tế có thể mang lại trải nghiệm sâu sắc hơn nhiều so với một món ăn phủ đầy vàng lá. Xa xỉ, trong định nghĩa mới này, không còn là thứ bạn nhìn thấy ngay lập tức. Nó là thứ bạn cảm nhận dần dần qua từng lớp hương vị, từng chi tiết nhỏ. Và trên thế giới, những nhà hàng đạt sao Michelin ấn tượng nhất cũng không hề rời xa phong cách này. Đầu bếp lúc này, như một người kể chuyện, không phải người trình diễn món ăn. Từ René Redzepi của Noma cho tới Anne - Sophie Pic của Maison Pic hay Martin Berasategui của Lasarte Oria đều vô cùng tôn trọng và đề cao sự tươi mới, hấp dẫn của thực phẩm bản địa.


Sự chuyển dịch này cũng kéo theo một thay đổi quan trọng trong vai trò của đầu bếp. Nếu trước đây, họ là những “nghệ sĩ trình diễn” sử dụng nguyên liệu xa xỉ như những đạo cụ để gây ấn tượng thì ngày nay, họ dần trở thành những người kể chuyện, người diễn đạt văn hóa cho vùng đất họ sống. Mỗi món ăn không chỉ là một tổ hợp hương vị, mà là một câu chuyện về vùng đất, về hồi ức, về con người. Trong bối cảnh đó, một nguyên liệu dù đắt hay rẻ chỉ thực sự có giá trị khi nó phục vụ câu chuyện ấy. Và đôi khi, chính sự giản dị lại là cách kể chuyện mạnh mẽ nhất.

Sự “dư thừa” của nguyên liệu xa xỉ trên bàn tiệc đương đại không phải là một vấn đề đơn lẻ. Nó là biểu hiện của một giai đoạn chuyển mình nơi ẩm thực đang tìm kiếm lại chính bản sắc của mình trong một thế giới quá dư thừa thông tin và hình ảnh. Khi mọi thứ đều có thể trở nên xa xỉ, thì xa xỉ không còn nằm ở bản thân nguyên liệu. Nó nằm ở cách con người sử dụng, cảm nhận và kể câu chuyện về chúng.

Có lẽ, trong tương lai gần, những lát truffle sẽ lại được bào mỏng hơn. Caviar sẽ được đặt ít hơn. Và vàng lá nếu còn xuất hiện sẽ không còn là trung tâm của sự chú ý. Thay vào đó, sự xa xỉ sẽ trở lại với hình hài nguyên bản của nó, chính là cảm giác tinh tế, lặng lẽ, nhưng đủ sâu để ở lại lâu hơn cả một bữa ăn.

Hà Chu / Theo: Travellive+

LÝ TỰ THÀNH: ĐẨY TRUNG QUỐC VÀO 300 NĂM ĐEN TỐI, NHƯNG LẠI TRỞ THÀNH... ANH HÙNG DÂN TỘC?

Lý Tự Thành - Một kẻ bị coi là tội nhân dân tộc khiến Trung Quốc rơi vào gần 300 năm đen tối, vì sao lại có thể “lật ngược tình thế” trở thành anh hùng của quốc gia này?

Sấm vương Lý Tự Thành

Lý Tự Thành: Đẩy Trung Quốc vào 300 năm đen tối, nhưng lại trở thành... anh hùng dân tộc?

Lịch sử giống như một tấm gương, có thể soi rõ đúng sai, nhưng cũng rất dễ bị con người cố ý lau mờ, bóp méo.

Có một nhân vật lịch sử như vậy: lẽ ra phải bị đóng đinh trên cột sỉ nhục với tư cách tội nhân lịch sử, bị xem là người khiến người Hán chìm trong gần ba thế kỷ đen tối. Thế nhưng theo thời gian, dưới sự “đẩy sóng” của một số người, ông ta lại được tô vẽ thành hình tượng anh hùng chống áp bức, cứu dân của quốc gia này.

Người đó chính là Lý Tự Thành

Ngày nay, trong không ít bài viết, Lý Tự Thành được mô tả là thủ lĩnh khởi nghĩa nông dân dũng mãnh và thông minh bậc nhất vào cuối thời Minh – đầu thời Thanh. Người ta nói ông không chịu nổi sự mục nát, đen tối của triều Minh nên đứng lên dẫn dắt dân chúng phản kháng, là một chiến binh dám thách thức trật tự cũ, dám chống lại số phận.

Nhưng sự thật lịch sử có thực sự như vậy không? Nếu gạt bỏ những hào quang do hậu thế gán ghép, Lý Tự Thành rốt cuộc là anh hùng hay tội nhân? Hôm nay, hãy bỏ qua lớp “bộ lọc mỹ hóa”, cùng nhìn lại con người thật của Lý Tự Thành – xem ông đã từ một kẻ lưu dân trong loạn thế, từng bước phạm sai lầm lớn ra sao, và vì sao lại được “tẩy trắng” thành anh hùng.

Lý Tự Thành. Ảnh: Sohu.

1. Xuất thân nghèo khó, nhưng ẩn chứa bản tính bạo liệt

Lý Tự Thành sinh năm 1606 tại huyện Mễ Chi, tỉnh Thiểm Tây, trong một gia đình nghèo khổ.

Lúc ấy, nhà Minh đã mục nát, thuế má nặng nề, dân chúng lầm than. Từ nhỏ, ông sống trong cảnh đói khát, phải đi chăn cừu thuê cho địa chủ, từng làm hòa thượng, cuộc đời trôi dạt bấp bênh.

Năm 21 tuổi, ông mới có được một công việc tương đối ổn định khi vào làm ở trạm dịch Ngân Xuyên, trở thành một nhân viên cấp thấp. Dù chỉ là việc vặt, lương bổng ít ỏi, nhưng với ông lúc đó đã là một cơ hội hiếm hoi.

Tuy nhiên, cuộc sống vẫn vô cùng khó khăn. Gia đình quá nghèo, ông thường xuyên phải vay nợ, trong khi tiền lương lại bị cấp trên cắt xén, không đủ trả nợ. Chủ nợ ngày ngày đến đòi, mắng chửi, khiến ông sống trong áp lực nặng nề.

Sự dồn nén lâu dài khiến trong lòng ông nảy sinh sự bạo liệt. Cuối cùng, khi chủ nợ kiện lên nha môn, ông bị đánh đập, chịu đủ nhục nhã. Sau khi trốn thoát, thay vì nhẫn nhịn, ông nảy sinh ý định cực đoan: giết chủ nợ để giải thoát.

Mang theo nỗi phẫn uất, ông gia nhập quân đội ở Cam Châu, làm một chức nhỏ. Nhưng thời kỳ Sùng Trinh, tài chính triều đình cạn kiệt, binh lính không được trả lương. Sự bất mãn dâng cao, ông kích động binh lính nổi loạn, giết quan địa phương và phát động khởi nghĩa.

Thoạt nhìn, đây là cuộc nổi dậy chống áp bức, nhưng thực chất chỉ là sự bùng phát của cơn giận cá nhân. Từ đây, bản chất bạo lực, liều lĩnh của Lý Tự Thành dần bộc lộ.


2. Tiến sát Bắc Kinh, bộc lộ tầm nhìn hạn hẹp

Sau khi khởi nghĩa, nhờ sự suy yếu của nhà Minh, lực lượng của Lý Tự Thành nhanh chóng lớn mạnh. Đến năm 1644, ông nắm bắt cơ hội khi triều đình đang dồn lực đối phó phương Bắc, dẫn quân tiến thẳng về Bắc Kinh.

Chiến thắng tưởng như đã nằm trong tay, nhưng ông lại không lập tức tấn công. Thay vào đó, ông đưa ra hai điều kiện với vua Sùng Trinh: phong ông làm Tây Bắc vương và ban thưởng cho quân lính, nếu đáp ứng sẽ rút quân.

Yêu cầu này cho thấy tầm nhìn hạn hẹp: mục tiêu của Lý Tự Thành không phải là cải cách hay cứu dân, mà là quyền lực và lợi ích cá nhân.

Vua Sùng Trinh kiên quyết từ chối và cuối cùng tự sát tại Môi Sơn, kết thúc triều Minh. Đây lẽ ra là cơ hội vàng để Lý Tự Thành ổn định cục diện, nhưng sự thiếu quyết đoán đã khiến ông bỏ lỡ thời cơ quan trọng.

3. Chiếm Bắc Kinh, bản chất “giặc cỏ” lộ rõ

Sau khi chiếm được Bắc Kinh, thay vì lập lại trật tự, quân của Lý Tự Thành lại cướp bóc, giết chóc, khiến kinh thành trở thành địa ngục.

Người dân từng hy vọng vào một triều đại mới tốt đẹp hơn, nhưng thực tế lại nhận về sự tàn bạo. Bản thân Lý Tự Thành cũng bị cuốn vào vòng xoáy quyền lực và của cải, không còn quan tâm đến việc trị quốc an dân.

Điều này trái ngược hoàn toàn với cách làm của Lưu Bang khi xưa. Sau khi vào Quan Trung, Lưu Bang lập tức “ước pháp tam chương”, nghiêm cấm binh lính xâm hại dân chúng, nhờ đó giành được lòng dân và đặt nền móng cho nhà Hán.

Ngược lại, Lý Tự Thành đánh mất lòng dân. Sai lầm nghiêm trọng nhất của ông là việc đối xử với Ngô Tam Quế: cướp ái thiếp Trần Viên Viên và giam giữ cha ông ta. Điều này khiến Ngô Tam Quế phẫn nộ, quay sang liên minh với quân Thanh, mở cửa Sơn Hải Quan, dẫn đến bước ngoặt lịch sử.

Quân Thanh tràn vào Trung Nguyên, dần thống nhất đất nước và lập nên triều Thanh, mở ra một thời kỳ thống trị kéo dài gần 300 năm.


4. Kết cục bi thảm và sự “tẩy trắng” trong lịch sử

Sau khi quân Thanh tiến vào, lực lượng của Lý Tự Thành nhanh chóng tan rã. Ông ta phải bỏ chạy và cuối cùng bị một nông dân giết chết, kết thúc cuộc đời đầy tranh cãi.

Nhìn lại, cuộc đời ông ta đầy bạo lực, ích kỷ và thiếu tầm nhìn. Khởi nghĩa không xuất phát từ lý tưởng cao đẹp, mà từ oán hận cá nhân; khi có quyền lực, Lý Tự Thành không lo cho dân mà chỉ lo hưởng thụ và cướp bóc.

Vậy tại sao một người như vậy lại được xem là anh hùng?

Nguyên nhân chủ yếu là do một số cách nhìn thiên lệch: người ta chỉ thấy sự mục nát của nhà Minh mà bỏ qua sự tàn bạo của Lý Tự Thành; hoặc cố tình tô vẽ ông ta như biểu tượng phản kháng.

Nhưng lịch sử không thể bị che giấu mãi. Dù từng chịu áp bức, Lý Tự Thành vẫn đi sai con đường, gây ra hậu quả nghiêm trọng.

Lịch sử cần được nhìn nhận khách quan. Một anh hùng thực sự phải là người vì dân, vì nước, mang lại ổn định và hy vọng – chứ không phải là người vì tham vọng cá nhân mà đẩy đất nước vào tai họa.

Bảo Minh / Theo: Dân Việt

Saturday, April 4, 2026

SAU LỚP PHẤN TRẮNG LÀ NHỮNG HÀO QUANG VÀ BÍ ẨN CỦA NÀNG GEISHA NHẬT BẢN

Ẩn sau lớp phấn trắng, mái tóc cầu kỳ, geisha không phải là những “bóng hồng bí ẩn” như nhiều người lầm tưởng, mà là những nghệ sĩ đích thực của văn hóa Nhật Bản. Từ thời Edo đến hôm nay, họ đã bước qua định kiến, luật lệ khắt khe và cả những hiểu lầm kéo dài hàng thế kỷ để trở thành biểu tượng tinh tế của xứ Phù Tang.


Geisha – “Con người của nghệ thuật” chứ không phải điều người ta nghĩ

Geisha từ lâu đã trở thành một trong những biểu tượng đặc sắc nhất của Nhật Bản. Hình ảnh khuôn mặt trắng mịn, môi đỏ, kimono lộng lẫy và dáng đi khoan thai trong những con phố cổ Kyoto luôn khiến du khách mê hoặc. Thế nhưng, đằng sau vẻ ngoài đầy tính biểu tượng ấy là một thế giới khắt khe, kỷ luật và đầy tính nghệ thuật – điều mà không phải ai cũng hiểu đúng.

Từ “geisha” (芸者) ghép từ “gei” – nghệ thuật và “sha” – người, nghĩa là “con người của nghệ thuật”. Họ là những nghệ sĩ biểu diễn chuyên nghiệp, được thuê để tiếp đãi khách tại quán trà, nhà hàng truyền thống hay các sự kiện xã hội cao cấp. Trong những buổi tiệc ấy, geisha hát, múa, chơi nhạc cụ cổ truyền như shamisen, thực hiện trà đạo và trò chuyện duyên dáng với khách.


Nói cách khác, họ là những người gìn giữ tinh hoa văn hóa truyền thống Nhật Bản bằng chính tài năng và sự khổ luyện của mình.

Geisha không chỉ có một tên gọi

Điều thú vị là “geisha” không phải tên gọi duy nhất. Ở Kyoto – cái nôi của văn hóa geisha – họ được gọi là “geiko”. Tại Niigata hay Kanazawa, tên gọi phổ biến là “geigi”. Dù cách gọi khác nhau, bản chất nghề nghiệp vẫn là những nữ nghệ sĩ truyền thống.

Ngày nay, ước tính chỉ còn khoảng 600 geisha hoạt động trên toàn Nhật Bản – con số rất nhỏ so với thời kỳ hoàng kim cuối thời Edo (1603–1867). Một nửa trong số đó làm việc tại Kyoto, đặc biệt ở những khu phố geisha nổi tiếng gọi là “hanamachi” – nghĩa là “thị trấn hoa”.


Những “thị trấn hoa” còn lại của Nhật Bản

Tại Kyoto, Gion là hanamachi nổi tiếng nhất. Con hẻm Pontocho lung linh ánh đèn lồng hay khu Kamishichiken cổ kính vẫn còn những okiya – nhà trọ của geisha. Ở Kanazawa có Higashi Chaya, còn Tokyo duy trì các khu như Asakusa hay Kagurazaka.

Chính trong những “thị trấn hoa” ấy, nhịp sống geisha vẫn lặng lẽ tiếp diễn giữa thời hiện đại.


Hành trình khắc nghiệt từ Maiko đến Geisha

Không ai trở thành geisha chỉ sau một đêm. Một cô gái muốn bước vào nghề phải trải qua khoảng 5 năm học việc với danh xưng “maiko” – nghĩa là “cô gái của những vũ điệu”.

Từ khoảng 15 tuổi, sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, maiko bắt đầu sống tại okiya – nhà trọ do “okaasan” (người mẹ quản lý) điều hành. Tại đây, họ được đào tạo toàn diện: ca hát, múa, đàn shamisen, trà đạo, thư pháp, cắm hoa, thơ ca và đặc biệt là nghệ thuật trò chuyện.

Mọi chi phí ăn ở, kimono, đào tạo đều do okiya chi trả. Đổi lại, thu nhập của maiko trong thời gian học việc thuộc về okiya. Chỉ khi hoàn thành nghi lễ “erikae” – quay cổ áo – khoảng 20 tuổi, họ mới chính thức trở thành geisha và bắt đầu kiếm tiền cho riêng mình.

Lớp phấn trắng và nghi thức làm đẹp cầu kỳ

Trang điểm là một phần không thể thiếu trong diện mạo geisha. Lớp nền trắng gọi là “oshiroi” được phủ kín mặt và cổ, ngoại trừ phần gáy để lộ đường viền gọi là “eri-ashi” – biểu tượng của vẻ quyến rũ kín đáo.

Trước khi bôi phấn, họ thoa lớp sáp “bintsuke abura” để làm mịn da. Môi và mắt được tô bằng sắc đỏ “beni”, lông mày vẽ tinh tế. Mỗi ngày, quá trình này mất từ 30 phút đến một giờ.


Maiko thường trang điểm đậm hơn geisha. Maiko mới chỉ tô môi dưới, còn geisha tô đầy đủ hai môi. Kiểu tóc cũng khác biệt: maiko dùng tóc thật tạo kiểu “momoware”, trong khi geisha đội tóc giả “katsura” kiểu shimada.

Kimono cũng là dấu hiệu nhận biết. Maiko mặc furisode tay dài rực rỡ, obi lớn, đi guốc gỗ cao “okobo”. Geisha mặc kimono trang nhã hơn, tay áo ngắn, phụ kiện tinh tế.

Sự thật: Geisha không phải gái mại dâm

Một trong những hiểu lầm lớn nhất là geisha hành nghề mại dâm. Thực tế, họ là nghệ sĩ biểu diễn. Việc này từng bị nhầm lẫn vì lịch sử “yukaku” – khu đèn đỏ thời Edo – nơi tồn tại tầng lớp kỹ nữ cao cấp gọi là “oiran”.

Ngoài ra, tục “mizuage” – bán trinh tiết maiko – từng tồn tại nhưng bị bãi bỏ khi Nhật Bản thông qua luật chống mại dâm năm 1956.

Sau Thế chiến II, nhiều gái mại dâm tự xưng “geisha girl” với binh lính nước ngoài, khiến thế giới hiểu sai về nghề. Tuy nhiên, trong truyền thống chính thống, geisha không bán thân mà bán nghệ thuật.


Cuộc sống trong Okiya: Kỷ luật như một gia tộc

Geisha và maiko sống trong okiya do okaasan điều hành. Okaasan thường là geisha đã nghỉ hưu, quản lý đào tạo, trang phục và sắp xếp buổi biểu diễn.

Khi còn nợ chi phí đào tạo, geisha không được giữ toàn bộ thu nhập. Chỉ khi trả hết nợ, họ mới hoàn toàn độc lập.

Okiya không chỉ là nơi ở, mà là gia đình thứ hai – nơi truyền nghề và giữ gìn truyền thống.

Muốn gặp geisha không hề dễ

Một buổi tiệc có geisha không dành cho khách vãng lai. Thông thường cần người giới thiệu từ khách quen của okiya. Chi phí có thể lên tới vài trăm USD cho vài giờ.

Tuy nhiên, du khách có thể xem biểu diễn tại các lễ hội odori ở Kyoto, nổi tiếng nhất là Miyako Odori tổ chức từ năm 1873 mỗi tháng 4. Vé từ 3.000–5.000 yên.


Lương tính theo “nén hương”

Thời Edo, thù lao geisha tính bằng thời gian một nén hương cháy – gọi là “senkodai”. Ngày nay, họ tính theo giờ.

Thu nhập phụ thuộc vào danh tiếng. Nghề này không ổn định, không lương cố định. Maiko không có lương, chỉ nhận trợ cấp.

Trong quá khứ, một số geisha có “danna” – người bảo trợ tài chính giàu có, chi trả kimono, trang sức và chi phí sinh hoạt. Đổi lại, geisha chỉ phục vụ riêng danna.

Ngày nay, hình thức này gần như biến mất vì chi phí cao và geisha hiện đại muốn tự do nghề nghiệp.

Geisha đầu tiên là… đàn ông

Ít ai biết, geisha đầu tiên là nam giới – gọi là “taikomochi” hay “hokan”, chuyên kể chuyện và mua vui cho lãnh chúa phong kiến. Đến thế kỷ 18, geisha nữ xuất hiện và nhanh chóng vượt qua nam giới về độ nổi tiếng.

Hiện nay, taikomochi gần như không còn.

Dù là biểu tượng Nhật Bản, đã có geisha người Trung Quốc, Romania, Ukraine, Peru… Nhà nhân học người Mỹ Liza Dalby từng học nghề tại Kyoto và lấy nghệ danh Ichigiku. Bà sau này trở thành chuyên gia hàng đầu về geisha và cố vấn cho “Hồi ức của một Geisha”.


Từ cuối thời Edo đến nay, số lượng geisha giảm mạnh. Nhưng vẫn có những cô gái trẻ bị cuốn hút bởi văn hóa truyền thống và muốn gìn giữ di sản này.

Geisha không chỉ là biểu tượng sắc đẹp. Họ là hiện thân của kỷ luật, nghệ thuật và sự thanh tao. Giữa nhịp sống hiện đại của Nhật Bản, bóng dáng geisha trên những con phố cổ vẫn như một nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại – lặng lẽ nhưng đầy kiêu hãnh.

Phạm Tuấn / theo: Dân Việt
Link tham khảo:




THANH BÌNH NHẠC - LÝ DỤC


Thanh bình nhạc - Lý Dục

Biệt lai xuân bán,
Xúc mục sầu trường đoạn.
Xế hạ lạc hoa như tuyết loạn,
Phất liễu nhất thân hoàn mãn.

Nhạn lai âm tín vô bằng,
Lộ dao quy mộng nan thành.
Ly hận cáp như xuân thảo,
Cánh hành cánh viễn hoàn sinh.


清平樂 - 李煜

別來春半,
觸目愁腸斷。
砌下落花如雪亂,
拂了一身還滿。

雁來音信無憑,
路遙歸夢難成。
離恨恰如春草,
更行更遠還生。


Thanh Bình Nhạc
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Xa nhau đã nửa xuân rồi.
Sầu trong ánh mắt chia phôi được nào.
Hoa rơi, tuyết rụng lao xao.
Quét qua quét lại mà sao vẫn đầy.
Tin nhạn chẳng tới nơi đây.
Đường xa mòn mỏi, mộng xây chưa thành.
Cỏ xuân ly hận cũng đành.
Càng đi càng thấy cỏ xanh dấu giầy.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Dục 李煜 (937-978) tự Trùng Quang 重光, tự hiệu là Chung sơn ẩn sĩ 鍾山隱士, Chung phong ẩn sĩ 鍾峰隠者, Bạch liên cư sĩ 白蓮居士, Liên phong cư sĩ 蓮峰居士, người đời quen gọi là Nam Đường Hậu Chủ 南唐後主 hay Lý Hậu Chủ 李後主. Ông là người nhân huệ minh mẫn, văn hay hoạ khéo, biết âm luật. Phủ khố Giang Nam có thu tàng tác phẩm thư hoạ của ông rất nhiều.

Nam Đường bị nhà Tống diệt, phong ông làm An Mệnh hầu, sau lại bị Tống Thái Tổ cho uống thuốc độc chết. Miền Giang Nam được tin Hậu Chủ chết, các phụ lão đều thương khóc.

Hậu Chủ lúc chưa mất nước sinh hoạt rất hào hoa nên từ cũng rất uỷ mị hoan lạc. Sau khi mất nước, bị đưa về nhà Tống, ngày ngày rửa mặt bằng nước mắt. Từ của ông lúc đó cũng rất thê thảm bi ai, đúng là vong quốc chi âm.

Nguồn: Thi Viện