Sunday, November 1, 2026

TRÙNG DƯƠNG TRONG THƠ ĐƯỜNG VÀ TỪ TỐNG: LÊN CAO, NGẮM CÚC, NHỚ NGƯỜI THÂN

Ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, hai con số chín gặp nhau tạo thành tên gọi Trùng Dương. Trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, ngày này gắn với việc lên cao, ngắm cúc, dùng bánh và nhớ đến người thân. Qua thơ Đường, từ Tống, cùng một dịp lễ còn mở ra nhiều tâm trạng: nỗi nhớ nhà, tình bạn, sự cô quạnh và suy ngẫm về tuổi già. DKN từng giới thiệu các phong tục và ý nghĩa chung của Tết Trùng Dương ; bài này tập trung vào cách các thi nhân diễn tả chúng.

Ảnh minh hoạ phong cảnh mùa thu; không phải địa điểm hay nhân vật lịch sử cụ thể.

Ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch, hai con số chín gặp nhau tạo thành tên gọi Trùng Dương. Trong văn hóa truyền thống Trung Hoa, ngày này gắn với việc lên cao, ngắm cúc, dùng bánh và nhớ đến người thân. Qua thơ Đường, từ Tống, cùng một dịp lễ còn mở ra nhiều tâm trạng: nỗi nhớ nhà, tình bạn, sự cô quạnh và suy ngẫm về tuổi già. DKN từng giới thiệu các phong tục và ý nghĩa chung của Tết Trùng Dương; bài này tập trung vào cách các thi nhân diễn tả chúng.

Lên cao để nhìn xa và nhớ người ở xa

Một tích truyện về tục đăng cao xuất hiện trong Tục Tề hài ký của Ngô Quân thời Nam triều. Theo truyền thuyết, Phí Trường Phòng báo trước cho Hoàn Cảnh rằng gia đình sẽ gặp tai họa vào ngày 9/9, dặn mọi người mang thù du, lên núi và uống rượu hoa cúc. Khi trở về, họ thấy gia súc trong nhà đã chết. Đây là câu chuyện dân gian giải thích phong tục, không phải một biến cố có thể xác nhận như sử liệu.

Đến thơ Đường, lên cao không chỉ mang ý cầu tránh điều dữ. Lư Chiếu Lân, trong bài Ngày 9 tháng 9 ngắm núi Huyền Vũ, nhìn núi sông mà thấy nỗi nhớ quê chồng chất. Người xa xứ cùng uống chén rượu cúc, nhìn cánh nhạn giữa trời thu và nghĩ đến quãng đường xa nhà.

Vương Duy cũng viết Ngày 9 tháng 9 nhớ anh em ở Sơn Đông khi còn trẻ. Ông không miêu tả một cuộc đoàn tụ có mình trong đó; thay vào đó, ông hình dung anh em ở quê cùng lên cao, cài thù du, rồi nhận ra vắng một người. Cách đổi góc nhìn ấy khiến nỗi nhớ thân nhân hiện lên qua một chỗ trống giữa cuộc vui.

Bài Đăng cao của Đỗ Phủ không nhắc tên lễ Trùng Dương, nhưng cảnh gió mạnh, trời cao, lá rụng và dòng Trường Giang chảy mãi khiến tác phẩm thường được đọc cùng mạch thơ thu, đăng cao. Trước không gian rộng lớn ấy là một con người phiêu bạt, bệnh tật và già đi giữa thời loạn. Cảnh vật và thân phận soi vào nhau, tạo nên giọng thơ trầm buồn đặc biệt.


Hoa cúc, chén rượu và cuộc gặp gỡ

Cúc nở giữa mùa thu nên trở thành hình ảnh quen thuộc của ngày Trùng Dương. Tây Kinh tạp ký chép tục hái cúc, phối với gạo nếp để ủ rượu, đợi tới Trùng Dương năm sau mới uống. Cũng theo sách này, người trong cung Hán từng cài thù du, ăn bánh và uống rượu cúc với ước nguyện trường thọ. Đó là ghi chép về tín niệm, tập tục cổ; không thể xem lời cầu trường thọ là chứng cứ về tác dụng chữa bệnh của rượu hay hoa cúc.

Đào Uyên Minh nhắc tới vườn cúc đầy hoa trong lời tựa Cửu nhật nhàn cư; hình ảnh hái cúc dưới giậu đông ở thơ ông về sau càng gắn với một lối sống thanh đạm, tự tại. Với Mạnh Hạo Nhiên, hoa cúc lại là lời hẹn giản dị. Cuối bài Qua nhà bạn cũ, sau bữa cơm nhà giữa làng quê, nhà thơ mong đến Trùng Dương sẽ trở lại cùng bạn ngắm cúc.

Sang thời Tống, Lý Thanh Chiếu đưa ngày lễ vào một không gian khác trong từ Túy hoa âm. Sương mỏng, mây dày, hơi lạnh lúc nửa đêm và hương cúc sau chén rượu khiến nỗi nhớ người thương hiện rõ. Nếu thơ Mạnh Hạo Nhiên giữ niềm vui chờ gặp lại, bài từ này đặt người đọc trước sự vắng mặt ngay giữa ngày hội.

Thù du và bánh: những vật nhỏ mang lời chúc

Cành thù du, theo các văn bản về lễ Trùng Dương, có thể được cài trên tóc, mang bên người hoặc gửi cho người thân. Trong thơ Vương Duy, nó gắn với cuộc sum họp thiếu một người; ở thơ Lý Bạch, nó gợi mái tóc bạc sớm. Một nhành cây nhỏ nhờ thế trở thành dấu hiệu của tình thân và ý thức về thời gian.

Bên cạnh việc lên núi, người xưa còn làm bánh Trùng Dương. Đông Kinh mộng hoa lục ghi cảnh người ở Biện Kinh thời Tống hấp bánh, trang trí bằng hạt quả và gửi tặng nhau trước ngày lễ. Âm “cao” của bánh gần âm “cao” trong lên cao, vì vậy món ăn cũng gửi gắm mong ước mọi việc tiến lên, thuận lợi. Tập tục ăn bánh làm cho lời chúc có thể đến với cả những người không đi đăng cao.


Tôn kính người già

Bài viết của tác giả Viễn Sơn trên Khán Trung Quốc còn nối ý cầu thọ của ngày lễ với truyền thống kính lão. Lễ ký, phần Nguyệt lệnh, có lời về việc chăm sóc người già khi sang thu, cấp chỗ tựa, gậy và cháo. Những ghi chép này cho thấy sự kính trọng tuổi tác từng được diễn đạt thành hành động cụ thể, bên cạnh lời chúc trong gia đình.

Từ ngọn núi trong truyền thuyết, bầu trời thu trong thơ đến mâm bánh và chén rượu của cuộc gặp bạn, Trùng Dương có nhiều lớp ý nghĩa. Điểm gặp nhau là ước mong người thân bình an, được nhớ đến và được chăm sóc khi tuổi tác đi qua. Đọc lại những câu thơ, người hôm nay có thể thấy một ngày lễ cũ vẫn chứa những tình cảm rất gần gũi.

Nguồn: Viễn Sơn, Khán Trung Quốc, “Tuế thời nghênh giai tiết, thi tửu thoại Trùng Dương” (18/10/2026). DKN biên dịch, biên tập và phân biệt truyền thuyết, tập tục với dữ kiện lịch sử.

Saturday, October 31, 2026

SỰ THẬT TRỚ TRÊU VỀ NHỮNG CON HÀU "THẦN DƯỢC PHÒNG THE"

Kết quả nghiên cứu của khoa học hiện đại có thể khiến niềm tin "ăn gì bổ nấy" sụp đổ. Chẳng hạn, những con hàu béo múp míp trên bàn nhậu ngày nay phần lớn đều "bất lực", không có khả năng sinh sản.


Khát vọng "tráng dương" và sự sinh tồn của loài hàu 

Niềm tin vào công dụng “tráng dương” của hàu vẫn tồn tại trong đời sống ẩm thực (Ảnh: Zhihu).

Trong văn hóa dân gian nhiều nước châu Á, tồn tại quan niệm “thực bổ”, tức sử dụng thực phẩm với niềm tin có thể bồi bổ cơ thể hoặc tăng cường sinh lực. Trong đó, “tráng dương” là khái niệm phổ biến, gắn với việc tìm kiếm những nguyên liệu được cho là hỗ trợ sinh lý nam giới.

Lịch sử cho thấy, không ít loài động vật từng bị khai thác quá mức vì gắn với những công dụng mang tính biểu tượng này. Tê tê, tê giác hay một số loài chim hoang dã đã trở thành đối tượng săn bắt và buôn bán trái phép trong nhiều giai đoạn, gây áp lực nghiêm trọng lên quần thể tự nhiên.

Tuy nhiên, hàu biển là một trường hợp khác biệt. Dù nhu cầu tiêu thụ lớn và gắn với nhiều quan niệm về tăng cường sinh lực, hàu không suy giảm đến mức tuyệt chủng mà ngược lại, trở thành một trong những loài nhuyễn thể được nuôi trồng phổ biến nhất thế giới.

Ảnh hưởng của hàu không chỉ nằm ở sản lượng. Tại châu Âu, hàu từng là thực phẩm phổ biến của tầng lớp lao động trước khi các vấn đề ô nhiễm nguồn nước và khủng hoảng vệ sinh khiến nguồn cung suy giảm, đẩy giá thành tăng cao và dần trở thành món ăn cao cấp trong nhà hàng.

Từ phương Đông đến phương Tây, hàu thường được gắn với hình ảnh “thực phẩm tình yêu”. Một giai thoại thường được nhắc đến là câu chuyện về Casanova, nhân vật nổi tiếng trong văn học và hồi ký thế kỷ 18. Ông từng viết rằng mình ăn hàu thường xuyên và cho rằng đó là một phần trong chế độ giúp duy trì năng lượng và sức hấp dẫn cá nhân.

Những câu chuyện như vậy, cùng với quan niệm “dĩ hình bổ hình” (ăn gì bổ nấy) trong y học dân gian phương Đông, đã góp phần hình thành biểu tượng hàu như một loại thực phẩm liên quan đến sinh lực nam giới.

Nghịch lý mùa hè: Khi "thần dược" cũng kiệt sức

Cả phương Đông và phương Tây đều tin vào khả năng tăng cường sinh lực của hàu. (Ảnh: Zhihu).

Nếu dựa trên quan niệm dân gian “ăn gì bổ nấy”, nhiều người cho rằng ăn hàu có thể giúp tăng cường sinh lực. Tuy nhiên, khi xét dưới góc độ sinh học, chất lượng và giá trị dinh dưỡng của hàu phụ thuộc nhiều vào chu kỳ sinh sản tự nhiên của loài này.

Trong ẩm thực truyền thống phương Tây, từng tồn tại nguyên tắc chỉ nên ăn hàu vào các tháng có chữ “R” trong tiếng Anh, tức từ tháng 9 đến tháng 4. Ở Bắc bán cầu, hàu tự nhiên thường đạt chất lượng thịt tốt nhất vào mùa thu và mùa đông, khi tuyến sinh dục chưa phát triển mạnh và hàm lượng dinh dưỡng trong phần thịt cao hơn.

Ngược lại, vào mùa xuân - hè, khi nhiệt độ nước biển tăng, hàu bước vào giai đoạn sinh sản. Năng lượng được chuyển sang phát triển và giải phóng tế bào sinh dục, khiến khối lượng thịt giảm, cấu trúc mềm hơn và tỷ lệ nước trong cơ thể tăng. Một số nghiên cứu ghi nhận khối lượng phần thịt có thể giảm đáng kể trong giai đoạn này, làm chất lượng cảm quan suy giảm so với mùa nghịch.

Vì vậy, nếu tiêu thụ hàu tự nhiên đúng vào thời điểm chúng đang trong chu kỳ sinh sản, giá trị dinh dưỡng và độ béo ngọt có thể không đạt mức tối ưu.

Điều này tạo ra một nghịch lý trong tiêu dùng hiện đại. Mùa hè là thời điểm nhu cầu hải sản tăng cao, đặc biệt trong các bữa tiệc ngoài trời, du lịch biển và nhà hàng hải sản. Tuy nhiên, trớ trêu đây cũng là giai đoạn chất lượng hàu tự nhiên thường giảm sút do ảnh hưởng của chu kỳ sinh sản.

Công nghệ "triệt sản" - Bí mật ẩn trong những con hàu béo múp míp

Làm thế nào để giải quyết mâu thuẫn giữa cái miệng sành ăn của thực khách và quy luật sinh học của tự nhiên?

Câu trả lời nằm ở khoa học hiện đại: Muốn hàu béo tốt quanh năm, cách duy nhất là làm cho chúng... vô sinh.

Các nhà khoa học đã áp dụng nguyên lý di truyền học tương tự như cách tạo ra dưa hấu không hạt để tạo ra một giống hàu mới: Hàu tam bội thể (Triploid oysters).

Về mặt lý thuyết, tế bào sinh vật bình thường là nhị bội thể (2n - hai bộ nhiễm sắc thể). Để tạo ra dưa hấu không hạt, người ta dùng chất colchicine xử lý cây con để tạo ra thể tứ bội (4n), sau đó lai với cây nhị bội (2n) để tạo ra thế hệ con là tam bội (3n). Những cá thể 3n này bị rối loạn trong quá trình phân chia tế bào sinh dục, dẫn đến việc không thể tạo hạt (vô sinh).

Áp dụng lên động vật phức tạp hơn nhiều. Năm 1993, một bước đột phá lớn đã diễn ra tại Đại học Rutgers (Mỹ), với sự đóng góp to lớn của nhà khoa học gốc Hoa - Guo Ximing. Ông và các cộng sự đã tìm ra cách lai tạo ổn định giữa hàu tứ bội thể và nhị bội thể để sản sinh ra 100% hàu tam bội thể.

Những con hàu tam bội thể này mang trong mình 3 bộ nhiễm sắc thể và đặc điểm quan trọng nhất của chúng là: Tuyến sinh dục không phát triển hoặc phát triển rất kém. Chúng gần như vô sinh hoàn toàn.

Hàu lưỡng bội thể (trái) và hàu tam bội thể (phải) (Ảnh: Zhihu).

Lợi ích của những con hàu "vô sinh"

Việc triệt sản hàu mang lại những lợi ích kinh tế khổng lồ mà hàu tự nhiên không thể sánh kịp:

Thứ nhất, vì không phải tốn năng lượng cho việc sinh sản (không phải tạo trứng hay tinh trùng), toàn bộ dinh dưỡng hàu nạp vào đều được chuyển hóa thành cơ bắp và kích thước. Kết quả là hàu tam bội thể có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn 50 - 100% so với hàu thường. Chúng lớn nhanh như thổi, rút ngắn thời gian nuôi trồng đáng kể.

Thứ hai, chúng duy trì được chất lượng thịt quanh năm. Ngay cả giữa mùa hè oi bức, khi hàu tự nhiên đang gầy "tong teo" vì sinh sản, thì hàu tam bội thể vẫn béo múp míp, đầy đặn và ngọt thịt.

Đây chính là nguồn cung chủ lực cho các nhà hàng, quán nướng vào mùa cao điểm du lịch. Các loại hàu nổi tiếng hiện nay, ví dụ như hàu Nhũ Sơn trứ danh của Trung Quốc hay các loại hàu nhập khẩu cao cấp, phần lớn đều là hàu tam bội thể.

Thứ ba, chúng khỏe mạnh hơn và có tỷ lệ sống cao hơn. Việc không bị kiệt sức sau sinh sản giúp chúng chống chọi tốt hơn với bệnh tật và biến đổi môi trường. Ngoài ra, vì không sinh sản, chúng không gây ô nhiễm nguồn gen của các loài hàu hoang dã tại vùng biển nuôi thả.

Hàu tự nhiên thường gầy và kém chất lượng vào mùa hè do tiêu hao năng lượng cho việc sinh sản, đi ngược lại nhu cầu tiêu thụ cao điểm (Ảnh: Zhihu).

Hàu có thực sự tốt cho sức khỏe sinh lý?

Hàu là thực phẩm giàu dinh dưỡng, đặc biệt chứa nhiều kẽm - vi chất đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất hormone sinh dục nam.

Một số nghiên cứu cho thấy việc bổ sung kẽm đầy đủ có thể hỗ trợ duy trì nồng độ testosterone ở mức bình thường, từ đó góp phần cải thiện chức năng sinh lý.

Ngoài ra, hàu còn cung cấp protein, axit béo omega-3, vitamin B12 và các khoáng chất cần thiết cho sức khỏe tổng thể.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chưa có bằng chứng khoa học đủ mạnh để khẳng định hàu là “thần dược” cải thiện sinh lý. Tác dụng, nếu có, chủ yếu đến từ việc bổ sung dinh dưỡng chứ không mang tính đặc hiệu.
Lưu ý khi ăn hàu
Nên ăn hàu có nguồn gốc rõ ràng, được bảo quản đúng cách để tránh nguy cơ nhiễm khuẩn, hạn chế ăn sống hoặc tái, đặc biệt với người có hệ miễn dịch yếu, phụ nữ mang thai hoặc người mắc bệnh gan. Không nên ăn quá nhiều trong thời gian ngắn để tránh dư thừa kẽm và các vi chất khác.

Theo4sonline.org
Đức Khương / Dân Trí

HOÁN KHÊ SA (LÂU THƯỢNG TÌNH THIÊN BÍCH TỨ THÙY) - CHU BANG NGẠN


Hoán khê sa
(Lâu thượng tình thiên bích tứ thuỳ)

Lâu thượng tình thiên bích tứ thuỳ,
Lâu tiền phương thảo tiếp thiên nhai.
Khuyến quân mạc thướng tối cao thê.

Tân duẩn dĩ thành đường hạ trúc,
Lạc hoa đô thượng yến sào nê.
Nhẫn thính lâm biểu đỗ quyên đề.


浣溪沙
(樓上晴天碧四垂)

樓上晴天碧四垂
樓前芳草接天涯
勸君莫上最高梯

新筍已成堂下竹
落花都上燕巢泥
忍聽林表杜鵑啼


Hoán khê sa
(Quanh lầu trong vắt áng mây thanh)
(Dịch thơ: Nguyễn Đương Tịnh)

Quanh lầu trong vắt áng mây thanh
Một vùng hoa cỏ giãi mông mênh
Khuyên anh chớ bước lên lầu nữa

Măng đã hoá tre mọc dưới đình
Hoa rụng yến tha bùn đắp tổ
Hãy nghe quyên gọi nẻo rừng xanh


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Chu Bang Ngạn 周邦彥 (1057-1121) tự Mỹ Thành 美成, hiệu Thanh Chân cư sĩ 清真居士, người Tiền Đường (nay thuộc Hàng huyện, Triết Giang). Ông từng làm quan tri huyện tri phủ, song con đường hoạn nạn, thăng trầm bất định. Ông rành âm nhạc, có thể tự làm nhạc phú, từ vận của ông thanh thoát, tác phẩm có tập Thanh Chân từ, tức Phiến Ngọc thù.

Nguồn: Thi Viện


NHỮNG MÓN ĂN TRUYỀN THỐNG DỊP HALOWEEN

Không chỉ là đêm hội hóa trang rực rỡ sắc màu, Halloween còn là một bữa tiệc thị giác và vị giác khó quên với những món ăn độc đáo. Từ lâu, trong ngày lễ Halloween, người phương Tây thường làm một số món ăn đặc trưng, mang ý nghĩa đặc biệt. Mỗi món ăn, như chiếc bánh linh hồn hay bát súp bí đỏ, đều mang trong mình những câu chuyện về tổ tiên, về mùa màng và sự giao hòa giữa thế giới sống và thế giới tâm linh.


Halloween không chỉ là dịp hóa trang thành những nhân vật huyền bí mà còn là cơ hội để mọi người quây quần bên nhau thưởng thức những món ăn truyền thống đặc trưng của dịp này. Ở các nước phương Tây, vào dịp này, các gia đình và nhóm bạn bè thường tụ họp để cùng nhau chế biến, thưởng thức những món ăn đặc biệt mang đậm không khí lễ hội.

Bánh bí ngô (Pumpkin Pie)

Bánh bí ngô không chỉ là một món ăn ngon miệng mà còn mang trong mình những ý nghĩa sâu sắc về văn hóa và lịch sử. Hình ảnh quả bí ngô tròn trịa, màu cam rực rỡ từ lâu đã gắn liền với mùa thu và lễ hội Halloween. Khi thưởng thức, bạn sẽ cảm nhận được vị ngọt ngào, béo ngậy của bí ngô hòa quyện cùng lớp vỏ bánh giòn tan, thơm lừng mùi quế và các loại gia vị mùa thu. Cắn một miếng bánh, bạn như đang lạc vào một khu vườn cổ tích với những quả bí ngô chín mọng, tỏa hương thơm ngát.

Bánh bí ngô là một loại bánh tráng miệng có nhân kem trứng làm từ bí ngô tẩm gia vị

Quả bí ngô Halloween là một trong những biểu tượng đặc trưng nhất của lễ hội, mang trong mình nhiều ý nghĩa sâu sắc. Xuất phát từ truyền thuyết Celtic, người xưa tin rằng bí ngô được sử dụng để xua đuổi tà ma và linh hồn xấu. Họ khắc những khuôn mặt đáng sợ lên bí ngô, tạo ra ánh sáng từ bên trong để bảo vệ bản thân khỏi những thế lực tiêu cực vào đêm Halloween.

Phải đến đầu thế kỷ XIX, công thức nấu ăn mới xuất hiện trong sách dạy nấu ăn của Canada hoặc bánh bí ngô mới trở thành món ăn bổ sung phổ biến

Bí ngô còn tượng trưng cho sự chuyển giao mùa, đánh dấu sự kết thúc của mùa hè và sự đến của mùa đông. Hình ảnh bí ngô rực rỡ sắc màu cũng thể hiện sự phong phú và ấm áp của mùa thu, tạo cảm giác thân thuộc và gần gũi.

Bánh linh hồn (Soul cake)

Bánh linh hồn là món ăn truyền thống trong ngày Halloween ở nhiều nước, có nguồn gốc từ nước Anh. Bánh linh hồn không chỉ đơn thuần là một món ăn truyền thống mà còn là một tác phẩm nghệ thuật ẩm thực đầy sáng tạo. Có từ lâu đời, loại bánh này được làm để tưởng nhớ và cầu nguyện cho những linh hồn đã khuất. Hình ảnh những chiếc bánh nhỏ bé, giản dị với những hạt nho khô xếp thành hình chữ thập tượng trưng cho sự kết nối giữa thế giới sống và thế giới bên kia, mang đến cảm giác ấm áp và yên bình trong đêm lễ hội huyền bí.

Sự đơn giản của chiếc bánh tượng trưng cho những linh hồn, mong đợi một lời cầu nguyện cho những người thân đã mất từ người nhận bánh

Có rất nhiều truyền thuyết về nguồn gốc của món bánh truyền thống trong lễ hội Halloween. Một số người kể lại rằng những chiếc bánh linh hồn được nướng trong đêm lửa trại của lễ Samhain. Kẻ xấu số chọn phải chiếc bánh cháy sẽ trở thành vật hiến tế của dân làng để đảm bảo cho mùa màng bội thu vào năm tới. Truyền thuyết này có phần kinh dị và tàn nhẫn, nên chúng ta có một phiên bản khác nhẹ nhàng hơn.

Bánh linh hồn có vị như những chiếc bánh quy quế thông thường, thường được thêm nho khô, xếp thành hình chữ thập

Những chiếc bánh linh hồn sẽ được ném xung quanh một khu vực được chỉ định nhằm xoa dịu những linh hồn vất vưởng đang lang thang trong hình hài động vật. Chiếc bánh sẽ là món quà quý giá cho những con ma đói khát, vì thế chúng sẽ ngưng làm phiền người dân và mùa màng của họ.

Vào thế kỷ thứ 8, món bánh truyền thống trong lễ hội Halloween - bánh linh hồn đã được thần thánh hóa và văn minh hóa. Bánh được dùng để cho những người ăn xin đến vào Đêm của Lễ hội ma quỷ. Người ăn xin sẽ nhận bánh và cầu nguyện cho những người đã khuất trong gia đình đó. Khi một chiếc bánh Halloween được cho đi cũng có nghĩa là có một linh hồn đã được cứu rỗi.

Bánh câm (Dumb cake)

Dumb cake" - cái tên nghe có vẻ kỳ lạ và hài hước, nhưng lại ẩn chứa một ý nghĩa sâu sắc về văn hóa và truyền thống. Trái ngược với cái tên, chiếc bánh này không hề "ngu ngốc" mà là một phần quan trọng trong một nghi lễ cổ xưa, được thực hiện bởi những cô gái trẻ chưa chồng trên khắp Vương quốc Anh và Bắc Mỹ từ thế kỷ 18.


Nó đại diện cho một nghi lễ nướng bánh được thực hiện bởi những phụ nữ trẻ, chưa lập gia đình trên khắp Vương quốc Anh và Bắc Mỹ từ những năm 1700 đến giữa những năm 1900. Hai, ba cô gái tụ tập trong bếp vào đêm khuya. Họ phải nướng một chiếc bánh đơn giản bao gồm bột mì, nước và muối trong sự im lặng tuyệt đối. Mỗi cô gái sẽ đánh dấu chiếc bánh bằng tên viết tắt của mình, sau đó cho vào lò nướng mà không nói một lời. Sau khi lấy bánh ra khỏi lò, các cô gái bẻ bánh ra, thỉnh thoảng mỗi người cắn một miếng rồi bắt đầu bước lùi về phía giường của mình. Truyền thuyết kể lại rằng, sau khi đặt món bánh truyền thống trong lễ hội Halloween dưới gối thì họ có thể nằm mơ thấy chồng tương lai của mình.


Khi xưa, chiếc bánh này cũng giống như các tập tục như triệu hồi hình ảnh của người thương trong gương, ném vỏ táo qua vai để vỏ táo tạo thành chữ cái đầu tiên của tên chồng sắp cưới… tất cả đều nhằm mục đích khám phá danh tính của người bạn đời tương lai.

Soup bí ngô (Pumpkin Soup)

Ngoài bánh bí ngô thì súp bí ngô cũng là món ăn truyền thống thể bỏ qua trong dịp Halloween. Món súp bí đỏ không chỉ ấm áp, bổ dưỡng mà còn dễ dàng làm hài lòng cả những thực khách khó tính nhất. Hương vị tinh tế từ bí ngô kết hợp cùng các loại gia vị tạo nên một món ăn hấp dẫn không thể cưỡng lại.

Món súp này rất ngon khi ăn ngay, hoặc ăn kèm với các loại topping đơn giản

Halloween không chỉ là dịp để hòa mình vào không khí ma mị mà còn là thời điểm để mọi người sáng tạo và tận hưởng những món ăn đặc sắc. Dù là bữa tiệc linh đình hay đơn giản là buổi tối ấm cúng bên gia đình, những món ăn truyền thống Halloween chắc chắn sẽ mang đến sự hài lòng và niềm vui cho mọi người tham gia.

Khánh Linh / Theo: travellive



LỰU, HỒNG VÀ QUẾ HOA: BA LOÀI CÂY GỬI GẮM ƯỚC VỌNG TRONG VĂN HÓA TRUNG HOA

Lựu, hồng và quế hoa được nhắc tới trong một câu nói dân gian Trung Hoa như những loài cây gắn với ước vọng gia đình đông vui, mọi việc thuận lợi và con cháu thành đạt.


Trong thẩm mỹ cư trú truyền thống Trung Hoa, ngôi nhà không chỉ che mưa nắng bằng bê tông, gạch đất hay ngói. Nó còn chứa đựng quan niệm của một gia đình về cuộc sống và những kỳ vọng giản dị, tha thiết cho tương lai. Câu nói “Trước cửa có ba cây, gia đình hưng thịnh ba đời” nói tới những loài cây nào, và vì sao chúng được xem là biểu tượng cát tường của gia đình?

Cây thứ nhất: Lựu

Lựu là loài cây đứng đầu trong câu nói này và được nhiều người yêu thích. Từ mùa xuân đâm cành, ra lá, đến mùa hè nở hoa và mùa thu trĩu quả, cây đều có vẻ đẹp riêng. Khi hoa lựu nở, cả cây rực đỏ như ngọn lửa, đem tới sức sống cho khoảng sân trước nhà.

Người xưa dùng hình ảnh nhiều ngăn hạt chung một lớp màng, nhiều hạt như một, để miêu tả quả lựu. Bóc vỏ ra, những hạt trong trẻo nằm sát nhau như một đàn trẻ quây quần. Bởi thế, trong tập tục dân gian, lựu mang ước nguyện đông con nhiều phúc, gia đình đông đúc và tiếp nối qua các thế hệ.


Cây thứ hai: Hồng

Ở nông thôn, cây hồng thường hiện diện quanh nhà. Giữa rất nhiều cây ăn quả, vì sao người xưa chú ý đến hồng thay vì đào, biểu tượng trường thọ, hay quýt, biểu tượng may mắn?

Một lý do nằm ở cách dùng âm đồng âm trong văn hóa cổ. Khi chọn cây quanh nhà, người ta thường kiêng những âm gợi ý không lành. Chẳng hạn, quả lê ngọt nhiều nước, nhưng chữ “lê” đồng âm với chữ “ly”, khiến người xưa liên tưởng đến chia cách. Bài nguồn nêu rằng vì mong gia đình đoàn tụ, người ta ít trồng lê ngay trước cửa sân.

Ngược lại, chữ “hồng” trong tiếng Trung là “thị”, đồng âm với “sự”, nên cây hồng trở thành biểu tượng cho mong ước mọi việc thuận lòng, như ý. Khi thu đến, lá dần rụng mà trên cành vẫn treo những quả đỏ, vàng như những chiếc đèn lồng nhỏ.


Cây thứ ba: Quế hoa

Loài cây cuối cùng được người xưa coi trọng là quế hoa, vừa thanh nhã vừa gắn với nhiều ý nghĩa văn hóa. Trong những làng quê cổ hay phố phường hiện đại, cây có thể được trồng bên đường, trong sân nhà, trường học và cơ quan.

Sức hấp dẫn lâu bền ấy liên quan tới ý nghĩa của tên cây và đặc tính riêng. Quế hoa tượng trưng cho phú quý, cát tường và thành công trong thi cử. Chữ “quế” đồng âm với “quý”, nên việc trồng trong sân nhà gửi gắm mong ước tài lộc và phúc lành. Trồng gần trường học, thư phòng lại thể hiện kỳ vọng học trò “bẻ quế cung trăng”, đỗ đạt và ghi tên bảng vàng. Trồng hai bên đường biểu thị lời chúc thịnh vượng cho xóm làng, phố phường. Một liên tưởng ngôn từ nhỏ đã làm phong phú giá trị văn hóa của cây.


Ngoài ý nghĩa cát tường, quế hoa còn được yêu thích nhờ hương thơm đặc trưng. Câu nói “Tháng tám hương quế” gợi lúc hoa lặng lẽ nở vào mùa thu. Hương thanh nhã, đậm mà không ngấy theo gió lan đi, thấm vào không gian xung quanh.

Tuệ Minh / Theo: ĐKN

Friday, October 30, 2026

NỬA ĐỜI SAU BÌNH AN MỚI LÀ NGƯỜI THẮNG CUỘC

Đời người không đo bằng số lần vấp ngã, mà bằng cách ta đứng dậy ở chặng cuối. Thắng được trận sau chót, mọi thua thiệt trước đó đều có nghĩa.


Có người phát tài sớm rồi lụi tàn trong tiếc nuối, có người chật vật gần hết đời để rồi an yên viên mãn lúc về già. Người xưa gọi đó là "đại khí vãn thành", những điều lớn lao thường đến muộn. Bởi vậy, điều đáng sợ nhất trong một kiếp người không phải là thua, mà là gục ngã đúng vào trận cuối cùng, khi lẽ ra ta đã có thể ung dung về đích. Hiểu được điều này, ta sẽ thôi sốt ruột với hơn thua trước mắt mà học cách sống cho một đoạn đường dài.

Người ta thường nhìn một đời người qua khúc giữa rực rỡ nhất của nó. Lúc thành đạt, lúc danh tiếng lên cao, lúc tiền bạc dư dả, lúc tên tuổi được nhắc đến trong những bữa tiệc đông người. Chúng ta quen mặc định rằng ai từng đứng trên đỉnh thì cả đời sẽ an nhàn, ai từng được ngưỡng mộ thì về sau cũng sung sướng. Nhưng nếu lặng lẽ quan sát những bậc cao niên quanh mình, ta sẽ nhận ra một sự thật khác hẳn.

Có những người từng giàu có một thời, từng là tâm điểm của bao ánh nhìn, vậy mà tuổi già lại sống trong cô quạnh, con cái xa cách, sức khỏe hao mòn, lòng đầy tiếc nuối về những điều đã đánh mất. Ngược lại, có những người cả đời chẳng mấy khi nổi bật, đi qua không biết bao nhiêu chật vật, nhưng đến cuối đời lại được vây quanh bởi sự yêu thương, sống thanh thản trong một mái nhà ấm áp. Điều này cho thấy đoạn cuối của một đời người mới là phần đáng để nhìn vào nhất. Người được kính trọng và sống an yên lúc về già không hẳn là người từng huy hoàng nhất, mà là người biết giữ mình cho đến phút sau chót. Hậu vận, vì thế, mới là thước đo thật của một kiếp người.

Hậu vận không phải số trời an bài, mà là quả ngọt của những gì ta gieo hôm nay

Nhiều người tin rằng hậu vận là chuyện trời định, sướng khổ về già đã được sắp đặt sẵn từ lúc sinh ra. Nhưng nhìn cho kỹ, hậu vận thật ra là tổng hòa của vô số lựa chọn nhỏ mà ta đưa ra mỗi ngày, lặng lẽ và đều đặn, qua hàng chục năm trời. Cách ta đối đãi với cha mẹ khi họ còn ở bên, cách ta giữ chữ tín trong từng lời hứa, cách ta tiêu tiền và dưỡng thân, cách ta gìn giữ những mối quan hệ tử tế thay vì đốt cháy chúng vì một phút nóng giận. Tất cả những điều tưởng như vụn vặt ấy âm thầm tích lại, để rồi nhiều năm sau trả về cho ta một tuổi già bình an hoặc một tuổi già chật vật.


Quy luật gieo gặt vốn không thiên vị ai. Người gieo sự nóng nảy rồi sẽ gặt cô đơn, vì những người thân yêu cứ lần lượt rời xa. Người gieo tham lam rồi sẽ gặt bất an, vì có bao nhiêu cũng thấy chưa đủ. Người gieo lừa dối rồi sẽ gặt ngờ vực, vì đến lúc cần thì chẳng ai còn tin. Ngược lại, người sống điềm đạm, biết đủ và biết buông, biết cho đi mà không tính toán thiệt hơn, thường có một đoạn cuối nhẹ nhõm đến lạ. Không phải vì họ may mắn hơn người, mà vì họ đã âm thầm vun đắp phúc phần suốt cả một đời.

Hiểu được điều này, ta sẽ bớt đi rất nhiều nỗi sốt ruột với những thắng thua trước mắt. Một lần bị đồng nghiệp giành mất cơ hội, một giai đoạn làm ăn sa sút, một mối quan hệ tan vỡ giữa đường, tất cả đều chỉ là những lát cắt nhỏ trong bức tranh lớn. Điều quyết định không nằm ở chỗ ta hơn ai trong một thời điểm, mà ở chỗ ta đã sống tử tế và bền bỉ đến đâu trên cả chặng đường dài. Người trồng cây ăn quả không nóng lòng vì cây chưa ra trái sau một mùa. Họ hiểu rằng có những thứ cần đủ thời gian mới chín, và phúc phần của một đời người cũng vậy.

Thua trăm trận để trưởng thành, thắng trận cuối để an yên

Không ai đi hết một đời mà chưa từng vấp ngã. Có người thất bại trong sự nghiệp đến mức trắng tay, có người tan vỡ trong tình cảm đến mức không còn tin vào ai, có người chịu mất mát lớn đến mức tưởng chừng cả thế giới sụp đổ. Những trận thua ấy đau đớn và thật, không ai có thể nói nhẹ tênh rằng chúng chẳng đáng gì. Nhưng nếu nhìn bằng một con mắt khác, chính những lần ngã đau nhất lại là thứ rèn nên bản lĩnh của ta. Mỗi lần thất bại là một lần ta hiểu thêm về giới hạn của bản thân, về lòng người nông sâu, về điều gì thật sự đáng để giữ lại và điều gì nên buông bỏ.

Người chưa từng thua thường mong manh hơn ta tưởng, bởi họ chưa có cơ hội học cách đứng dậy. Còn người đã đi qua nhiều giông bão lại có một sự vững vàng mà thuận lợi không bao giờ ban tặng được. Họ biết rằng sau cơn mưa trời sẽ sáng, biết rằng cảm giác đau đớn nào rồi cũng nguôi ngoai, biết rằng mình từng vượt qua những điều tồi tệ hơn thế. Chính vốn liếng ấy khiến họ điềm tĩnh hơn khi đối diện với khó khăn mới. Vậy nên thua không đáng sợ, miễn là sau mỗi lần thua, ta học được một điều gì đó và không đánh mất chính mình.


Điều cốt yếu là đừng để một trận thua kéo ta gục hẳn. "Trận cuối cùng" ở đây không phải khoảnh khắc ta rời khỏi thế gian, mà là thái độ ta chọn cho phần đời còn lại sau mỗi cú vấp. Thắng trận cuối nghĩa là dù đã mất mát bao nhiêu, ta vẫn đứng dậy được, vẫn giữ được sự lương thiện trong lòng, vẫn không vì cay đắng mà trở nên độc ác, không vì túng quẫn mà đánh đổi nhân cách để lấy chút lợi nhất thời. Có những người sau một biến cố lớn thì buông xuôi tất cả, để sự oán hận và bất mãn nuốt chửng những năm tháng còn lại. Nhưng cũng có những người, sau cùng một biến cố, lại lặng lẽ gom góp những gì còn sót để làm lại từ đầu, và chính từ đống tro tàn ấy mà họ dựng nên một đoạn đời đẹp đẽ hơn trước.

Bởi vậy, khi cuộc sống giáng cho bạn một trận thua, hãy xem đó là lời nhắc rằng hành trình vẫn chưa kết thúc, chứ không phải dấu chấm hết. Quan trọng không phải bạn đang ở đâu trên đường đua vào lúc này, mà là bạn còn đủ bình tĩnh và niềm tin để đi tiếp hay không. Người biết dưỡng sức cho chặng cuối, biết giữ lửa trong những ngày tăm tối nhất, sớm muộn cũng sẽ chạm tới ngày an yên mà họ xứng đáng được hưởng.

Đời người suy cho cùng là một ván cờ dài. Thắng vài nước đi đầu không nói lên điều gì chắc chắn, mà thua vài nước ở giữa cũng chưa hề định đoạt kết cục. Có những ván cờ tưởng đã thua đến nơi vẫn lật ngược thế trận vào phút chót, chỉ cần người chơi không bỏ cuộc giữa chừng. Chỉ cần bạn còn ngồi lại bên bàn cờ, còn giữ được sự tỉnh táo, sự kiên nhẫn và một tấm lòng lương thiện, thì trận cuối cùng vẫn luôn rộng cửa cho bạn. Và một khi thắng được nó, mọi gian nan trước đó đều không còn là vết thương nữa, mà hóa thành nền móng cho một cái kết trọn vẹn.

Cho nên, đừng quá vui khi thắng sớm, cũng đừng quá buồn khi thua giữa đường. Hãy sống sao cho đến cuối con đường, khi nhìn lại tất cả, bạn vẫn có thể mỉm cười mà nói rằng mình đã đi một hành trình tử tế. Đó mới là chiến thắng thật sự, chiến thắng mà không một thất bại nào trước đó có thể lấy đi được.

Lâm Hạ / Theo: Soha

NHẠN MÔN THÁI THÚ HÀNH - LÝ HẠ


Nhạn Môn thái thú hành

Hắc vân áp thành thành dục tồi,
Giáp quang hướng nhật kim lân khai.
Giốc thanh mãn thiên thu sắc lý,
Tái thượng yên chi ngưng dạ tử.
Bán quyển hồng kỳ lâm Dịch thuỷ,
Sương trọng cổ hàn thanh bất khởi.
Báo quân Hoàng Kim đài thượng ý,
Đề huề Ngọc Long vi quân tử.


雁門太守行

黑雲壓城城欲摧
甲光向日金鱗開
角聲滿天秋色裡
塞上燕脂凝夜紫
半捲紅旗臨易水
霜重鼓寒聲不起
報君黃金臺上意
提攜玉龍為君死


Nhạn Môn thái thú hành
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Mây đen về cuốn ngang thành.
Lớp mây vẩy cá, long lanh nắng chiều.
Tiếng thu se sắt cô liêu.
Đêm nơi biên ải nhạn liều cánh bay.
Cờ hồng Dịch Thủy lắt lay.
Sương giăng trống dục, chẳng tày tiến quân.
Hoàng Kim đài, nặng nghĩa ân.
Tay cầm kiếm báu xả thân đáp đền.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Thi quỷ Lý Hạ 李賀 (790-816) thuộc dòng dõi tôn thất nhà Đường, cực kỳ thông minh đĩnh ngộ, khi mới lên bảy đã biết làm thơ. Danh sĩ đương thời là Hàn Dũ nghe tiếng Hạ bèn cùng Hoàng Phủ Thực đến nhà. Hai người muốn thử tài nên bắt Hạ làm thơ. Hạ thản nhiên cầm bút viết ngay bài Cao hiên quá trình lên, hai ông xem xong đều kinh hoảng. Bài thơ Cao hiên quá có những câu vô cùng kỳ dị, nếu đúng là do một cậu bé làm ra như giai thoại được kể trong Thái bình ngự lãm thì hai nhà thơ đương thời có kinh tâm động phách cũng là điều dễ hiểu: “Điện tiền tác phú thanh ma không, Bút bổ tạo hoá thiên vô công” (Trước nhà, làm thơ trình, thanh âm của bài thơ chạm vào bầu trời, Ngọn bút bổ sung những chỗ khiếm khuyết bất toàn của tạo hoá một cách dễ dàng, không tốn chút công sức).

Theo tiểu truyện về Lý Hạ do Lý Thương Ẩn - một nhà thơ lớn thời Vãn Đường - viết, thì khi Lý hạ bệnh nặng, bỗng có một vị tiên mặc áo lụa đào, cưỡi con cù long màu đỏ, bay đến bên cửa, cầm một cuốn sách, chữ giống như chữ triện thời thái cổ, trao cho Lý Hạ và nói: “Thượng đế đã cho xây xong lầu Bạch Ngọc, xin mời ông lên gấp để viết cho bài ký” (Đế thành Bạch Ngọc lâu, lập quân chiêu vi ký). Lát sau Lý Hạ mất. Người nhà thấy hơi và khói thấp thoáng qua cửa sổ, và nghe tiếng xe đi trong tiếng sáo réo rắt. Trong lịch sử Đường thi, có lẽ chỉ có Thi Tiên Lý Bạch và Thi Quỷ Lý Hạ mới có huyền thoại chung quanh cái chết mà thôi. Một người nhảy xuống sông ôm trăng rồi cưỡi con kình ngư lên cõi thiên khung (tương truyền khi Lý Bạch nhảy xuống sông ôm trăng thì có con kình ngư tới đón và chở lên trời), một người được Thượng đế cho tiên nhân đem xe nhạc đến mời lên viết bài ký cho lầu Bạch Ngọc chốn thiên đình. Ai dám khẳng định điều đó là hoang đường không thực, khi mà cõi đời tự bản chất đã là sắc sắc không không?

Nguồn: Thi Viện