Sunday, March 22, 2026

NGƯỜI CÓ PHÚC KHÍ THƯỜNG SỞ HỮU 4 ĐẶC ĐIỂM NÀY

Người có phúc khí thường sở hữu 4 đặc điểm này, chỉ cần 1 điều thôi cũng đủ để bạn sống một đời an yên, bình lặng.

Nguồn: Internet

Phúc khí của con người có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Tất cả phụ thuộc vào cách bạn chọn lựa. Hôm qua, bạn có thể là người phúc khí dồi dào, nhưng hôm nay lại vô phúc đến khó tin. May mắn thì nhiều, nhưng người có phúc thì chẳng mấy ai.

Không có việc phúc khí tồn tại mãi trên đời. Chỉ có tâm thái và quan niệm luôn thay đổi mà bạn không hề nhận ra mà thôi. Phúc khí của một người có thể thay đổi theo sự biến động của tâm tính. Đến độ tuổi chững chạc, người sở hữu 4 đặc điểm dưới đây chắc chắn là người có phúc khí, có thể sống hạnh phúc dung dị và bình yên đến già.

1. Người có phúc khí là người sở hữu nụ cười và tấm lòng rộng mở

Một chữ “cười” có thể vẽ nên cả tấm lòng và thế giới tâm hồn của một người. Khi gặp vấn đề mà chỉ biết mặt mày nhăn nhó, than trời trách đất, vậy thì chẳng bao giờ có được hạnh phúc. Người biết dùng nụ cười để đối mặt với tất cả, lòng tự nhiên cũng thư thái và nhẹ nhàng hơn rất nhiều.


Người bình thường có một đặc điểm thế này: nghĩ không thông, khó nuốt trôi cơn giận từ đó đánh mất cách nở nụ cười, lúc nào cũng gặp cản trở, cuối cùng phải sống trong cảnh bào mòn cảm xúc của mình.

Con người sống trên đời, có thể đau khổ nhưng không được quá lâu. Có thể buồn bã nhưng không thể không nở nụ cười trên môi. Chỉ có nở nụ cười, bạn mới vui vẻ mà bước tiếp. Bởi nụ cười có thể hóa giải mọi vấn đề, khiến khúc mắt nhỏ đi, thậm chí là biến mất. Người biết nở nụ cười tươi tắn trên môi, không so đo tính toán, không cố cấp, không cực đoan mới thực sự là người có phúc khí.

2. Người có phúc khí là người có thể buông bỏ và nghĩ thoáng

Có một chàng trai, sau khi gặp quá nhiều trắc trở, liền tìm đến người anh thân thiết để tâm sự. Chàng trai nói: “Em làm việc cũng nhiều năm rồi, cố gắng như vậy nhưng không được sếp công nhận. Em không cam tâm”. Người anh nghe xong cười lớn và nói: “Nếu mọi chuyện đều diễn ra theo ý muốn thì có lẽ cậu không than vãn đâu nhỉ? Cuộc sống luôn không đủ đầy như thế, nên chúng ta mới phải phấn đấu không ngừng để che lấp lỗ hổng đó đấy!”.


Đi rồi mới biết đường bị tắc, vậy thì phải đứng tại chỗ luôn sao? Đường nhiên là không rồi! Ai cũng sẽ phải tìm cách để bước qua, một là phá đường, hai là tìm đường mới. Cách này không phù hợp, thì mình lại thử cách khác. Muốn tìm thấy con đường mới thì đầu tiên phải biết buông bỏ đường cũ, nghĩ thoáng và thông, không loay hoay chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt. Đây mới là con đường đúng đắn nhất mà chúng ta nên đi!

3. Người có phúc khí là người biết cách thỏa mãn và hiểu được khả năng của bản thân

Đến một độ tuổi nào đó, bạn sẽ nhận ra, tình yêu thật sự rất quan trọng. Nhưng so với nó, kiếm tiền còn quan trọng hơn. Đương nhiên, chúng ta phải biết rõ năng lực của bản thân, tiền càng nhiều thì nguy cơ cũng càng nhiều.


Nhiều người chỉ có năng lực kiếm được 10 triệu, nhưng lại ép buộc bản thân phải kiếm được 100 triệu. Vậy thì đây có được xem là người không biết lượng sức mình hay không? Năng lực bao nhiêu thì làm bất nhiêu. Trong đầu trí tuệ bao nhiêu thì thế giới trước mắt cũng mở ra bấy nhiêu. Đừng bao giờ vượt quá giới hạn, cũng đừng làm những chuyện vượt quá khả năng của bản thân. Bởi, một khi thực lực không bằng với dã tâm, chúng ta thường dễ nảy sinh khúc mắt trong lòng.

Thế nhưng, ở đời có mấy ai thật sự thấu hiểu điều này. Có không ít người không thể nhìn thấu bản thân, cảm thấy mình có thể đại phú đại quý, có tiền có quyền, cả ngày chìm trong ảo mộng. Vậy những người này có phúc khí hay không? Câu trả lời chắc bạn cũng đã rõ ràng!

4. Người có phúc khí là người vững vàng mạnh mẽ, sống thiết thực

Quân tử là người có bản lĩnh vững vàng và sống phải có tâm có đức. Bạn có bao nhiêu bản lĩnh sẽ quyết định phúc khí của bạn có đầy đủ hay không. Nên nhớ rằng, ở đời người không có bản lĩnh, lại không có đức thì phúc khí cũng mỏng manh đến tội nghiệp.


Người chỉ biết khôn vặt để trục lợi thì hậu quả nhận lại được hoặc là trắng tay, hoặc là mệt mỏi cả đời. Con người có quyền lựa chọn bản thân trở thành người như thế nào. Nhiều người cho rằng, sống quá thật thà sẽ không thể giàu có, bị cuộc đời hà hiếp. Nhưng bạn phải hiểu rằng, thành tâm làm người, hành sự thật thà, như thế mới có phúc báo đời đời. Đồng thời, người sống như vậy cũng sẽ thỏa với lương tâm của mình, lúc nào cũng thấy an yên, nhẹ nhàng.

Người trong lòng có “quỷ” thì giàu sang đến mấy cũng chẳng có phúc. Người đầy đủ thiện lương, cho dù lạc lối đến mấy cũng có thể tìm được đường ra.

Diệu Nguyễn / Theo: Sống Đẹp

VẸM XANH

Vẹm ( Mussel ) là một dạng động vật hai mảnh vỏ sống ở các hồ nước ngọt, suối, nhánh sông, những vùng nước mặn thủy triều lên xuống bên bờ biển. Giống như những động vật có vỏ khác, vẹm được nuôi và đánh bắt từ thiên nhiên để dùng làm thức ăn, và chúng cũng có nhiều sinh vật săn đuổi từ môi trường tự nhiên. Vẹm thông dụng hơn ở Âu Châu và một phần Á Châu so với Bắc Mỹ, nơi chỉ có một phần nhỏ được dùng làm thực phẩm.


Vẹm có nhiều đặc tính tương tự như nghêu, loài được dùng rộng rãi để làm thực phẩm. Tuy nhiên, vẹm có vỏ thon dài hơn hình oval, với vùng ngực của nó nằm về phía đáy vỏ, chứ không ở giữa như thông thường ở loài nghêu. Vẹm thường có vỏ màu tối, như xanh dương, xanh lá cây, hay nâu; và có nhiều kích cỡ khác nhau. Ở vùng nước ngọt, vẹm thường nằm ở đáy nước, những người khai thác thường dễ dàng bắt chúng lên. Những loài sống ở vùng thủy triều thường gắn chặt vào đá với chùm sợi dày rất khó gỡ ra.Vẹm sinh sản hữu tính, con nhỏ được nở trong nước. Ấu trùng trôi nổi đến khi chúng gặp được vùng nước thích hợp. Điều này cho phép chúng phân bố rộng rãi hơn và có cơ hội sống sót nhiều hơn. Thức ăn chính của vẹm là sinh vật phù du, những sinh vật một tế bào rất nhỏ trôi nổi trong nước mặn hoặc nước ngọt. Cũng như các loài động vật có vỏ khác, vẹm ăn bằng cách lọc nước, hút nước và chất dinh dưỡng vào.


Vì vẹm là loài ăn lọc, nó có thể tích tụ chất độc, ví dụ như những chất độc có trong thủy triều đỏ. Vì lý do này, thu hoạch vẹm ở một vài khoảng thời gian trong năm là rất nguy hiểm, và những người đánh bắt vẹm phải kiểm tra điều kiện đại dương trước khi bắt và ăn thịt vẹm. Giả sử vẹm an toàn để ăn, vẹm mềm hơn và nhiều mùi vị hơn khi chúng nhỏ, và nên được nấu nướng khi vẫn còn sống. Vẹm sống thường kẹp chặt vỏ của chúng khép lại. Nếu vẹm mở vỏ, hãy gõ nhẹ xem chúng có đóng vỏ không, chứng tỏ chúng còn sống và ăn được.

Thịt vẹm có vị ngọt nhẹ, và có thể rất mềm nếu nấu đúng cách. Các món thường nấu là hấp, xông khói, trong các món súp hoặc nước xốt. Kỹ thuật nấu ăn của nhiều nước bờ biển Âu Châu có thịt vẹm và chúng cũng được làm đông lạnh để xuất khẩu.

Vẹm xanh Á Châu: Asian green mussel, Philippine green mussel, Perna viridis


Loài vẹm vùng Ấn độ- Tây Thái bình dương này chưa được phổ biến ở Mỹ, nhưng hiện nay được nuôi ở Florida, Nam Mỹ và Ca ri bê. Chúng là loài lớn nhanh và có thể dài hơn 10 cm. Trong tự nhiên, chúng có thể tích tụ một số chất độc và kim loại nặng trong nước ô nhiễm.

Ở Việt nam, vẹm xanh sống chủ yếu ở vùng hạ triều đến độ sâu trên dưới 10 m nước, độ mặn thích hợp từ 20 đến 30‰, đáy cứng, đá, sỏi, gỗ,…Vẹm có sức sinh sản cao. Mùa vụ sinh sản chính là xuân hè và thu đông.

Đặc điểm hình thái : Vỏ dạng hình quả muỗm (xoài), đỉnh ở đầu tận cùng vỏ. Vỏ cá thể trưởng thành dài 150mm, cao 65mm, rộng 40mm. Đường sinh trưởng mịn, sắp xếp khít nhau; ở cá thể non, da vỏ màu xanh, cá thể trưởng thành da vỏ màu nâu đen. Mặt trong vỏ màu trắng óng ánh.


Vùng phân bố : Vẹm xanh phân bố rộng ở các vùng biển Bắc, Trung và Nam bộ, tập trung ở một số tỉnh : Hải Phòng, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Khánh Hòa, Bình Thuận, Kiên Giang (Hà Tiên, Phú Quốc)

Mùa vụ :Tháng 4 – 5 và tháng 9 -11

Hình thức khai thác : lưới cào, xúc tay

Tình hình nuôi : Vẹm vỏ xanh là đối tượng nuôi quan trọng ở Việt Nam. Khu vực nuôi tập trung ở đầm Lăng Cô (Thừa Thiên Huế) và đầm Nha Phu (Khánh Hoà).

Giá trị kinh tế : Vẹm xanh là đặc sản biển được ưa chuộng trong nội địa và xuất khẩu. Thịt thơm ngon và có giá trị bổ dưỡng cao. Vỏ vẹm xanh có tằng ngọc dày, có thể chế biến thành nhiều mặt hàng mỹ nghệ.

Dạng sản phẩm : ăn tươi, hấp, nướng và làm khô


Vẹm môi xanh Green Lip Mussel (New Zealand Green Mussel), Perna canaliculus chỉ sống ở vùng xung quanh New Zealand, nơi nuôi chúng trở thành một ngành công nghiệp. Đây là loài vẹm xanh thông thường nhất ở các siêu thị thủy sản và nhà hàng ở Mỹ. Không giống loài vẹm xanh Á châu, loài này không thích hợp với khí hậu nhiệt đới và có thể phân biệt chúng bằng các làn sọc màu đỏ hoặc nâu có thể nhìn thấy được ở môi.


Vẹm xanh California California Mussel Mytilus californianus sống ở vùng bờ biển Thái bình dương từ quần đảo Aleutian tới bắc Mexico, đã được những người thổ dân Churmash đánh bắt từ 15.000 năm nay. Chúng có thịt màu cam và có thể dài tới 20 cm, nhưng bình thường nhỏ hơn. Loài này có thể tích tụ nhiều chất độc trong giai đoạn thủy triều đỏ.


Một số loài vẹm xanh khác

Blue Mussel, Mytilus edulis Đại tây dương
Black Mussel, Mytilus galloprovincalis Địa trung hải
Pacific Blue Mussel, Mytilus trossulus Thái bình dương

Các loài này không thể phân biệt, sống ở các vùng nước lạnh và ôn hòa ở Nam bán cầu. Chúng được tiêu thụ rộng rãi ở nơi chúng sống.

Theo: Biển và Người

QUÁ HƯƠNG TÍCH TỰ - VƯƠNG DUY


Quá Hương Tích tự

Bất tri Hương Tích tự,
Sổ lý nhập vân phong.
Cổ mộc vô nhân kính,
Thâm sơn hà xứ chung.
Tuyền thanh yết nguy thạch,
Nhật sắc lãnh thanh tùng.
Bạc mộ không đàm khúc,
An thiền chế độc long.

Chùa Hương Tích ở trong hang Tý Ngọ, núi Nam Sơn, thuộc Trường An, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc.


過香積寺

不知香積寺
數里入雲峰
古木無人徑
深山何處鐘
泉聲咽危石
日色冷青松
薄暮空潭曲
安禪制毒龍


Qua chùa Hương Tích
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Hỏi chùa Hương Tích chốn nào ?
Quanh năm mây phủ, núi cao trập trùng.
Chuông chùa khẽ vọng không trung.
Rừng sâu khuất lối, bóng tùng ai qua ?
Vẳng nghe tiếng suối ngân nga.
Cuối ngày nắng lạnh, thông già vi vu.
Đầm không nắng quái mịt mù.
Độc Long chế ngự, thiên thu cửa thiền.!


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương Duy 王維 (699-759) tự là Ma Cật 摩詰, người huyện Kỳ (thuộc phủ Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây). Cha mất sớm, mẹ là một tín đồ thờ Phật suốt ba mươi năm nên Vương Duy chịu ảnh hưởng tư tưởng của đạo Phật. Ông tài hoa từ nhỏ, đàn hay, vẽ giỏi, chữ đẹp, văn chương xuất chúng. Năm 19 tuổi, Vương Duy đến Trường An, được Kỳ vương Lý Phạm mến tài, đỗ đầu kỳ thi của phủ Kinh Triệu. Năm 21 tuổi, thi đậu tiến sĩ, được bổ làm Ðại nhạc thừa rồi bị giáng làm Tham quân ở Tế Châu. Sau nhân Trương Cửu Linh làm Trung thư lệnh, ông được mời về làm Hữu thập di, Giám sát ngự sử, rồi thăng làm Lại bộ lang trung. Trong thời gian này, thanh danh của ông và em là Vương Tấn vang dậy Trường An. Sau đó đến lượt Trương Cửu Linh lại bị biếm, Vương Duy đi sứ ngoài biên ải và ở Lương Châu một thời gian.

Nguồn: Thi Viện



Ở ĐÔNG NAM Á CÓ MỘT EO BIỂN QUAN TRỌNG NGANG HORMUZ: MỖI NĂM HƠN 60,000 TÀU ĐI QUA, CHIẾM 30% THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI

Eo biển Malacca là một trong những tuyến đường thủy quan trọng, nhộn nhịp nhất thế giới tại Đông Nam Á, kết nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương.

Eo biển Malacca giữ vai trò đặc biệt quan trọng ở mạng lưới hàng hải thế giới. Ảnh minh hoạ AI

Tuyến hàng hải huyết mạch của thương mại thế giới

Biển Đông và khu vực Đông Nam Á nằm trên tuyến đường vận tải biển quan trọng nối liền châu Á với châu Âu, Trung Đông và châu Phi. Hơn 90% thương mại quốc tế được vận chuyển bằng đường biển, và một phần lớn trong số đó đi qua các tuyến hàng hải tại khu vực này. Trong mạng lưới giao thương ấy, Eo biển Malacca giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Eo biển này nằm giữa đảo Sumatra của Indonesia và bán đảo Malaysia, đồng thời tiếp giáp với Singapore ở phía nam. Với chiều dài khoảng 805 km, Malacca nối liền Biển Andaman với Biển Đông, qua đó tạo thành con đường ngắn nhất để tàu thuyền di chuyển giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

Theo nhiều thống kê quốc tế, mỗi năm có hơn 60.000 lượt tàu thương mại đi qua eo biển này, chiếm khoảng 1/4 lưu lượng vận tải biển toàn cầu. Đặc biệt, gần 30% tổng giá trị thương mại hàng hải thế giới phải đi qua Malacca. Với quy mô và tầm ảnh hưởng đó, tuyến đường này thường được so sánh về mức độ quan trọng với hai tuyến vận tải chiến lược khác của thế giới là Kênh đào Suez và Kênh đào Panama.

Bên cạnh đó, Malacca còn được xem là eo biển nhộn nhịp thứ hai thế giới, chỉ đứng sau Eo biển Hormuz – tuyến đường vận chuyển dầu mỏ quan trọng bậc nhất toàn cầu.
Nút thắt chiến lược của chuỗi cung ứng năng lượng châu Á

Tầm quan trọng của Malacca không chỉ nằm ở khối lượng hàng hóa khổng lồ mà còn ở vai trò trung tâm trong chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu. Phần lớn dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng từ Trung Đông được vận chuyển qua eo biển này để đến các nền kinh tế công nghiệp lớn ở Đông Á.

Các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc phụ thuộc rất lớn vào tuyến hàng hải qua Malacca để nhập khẩu năng lượng. Nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 70–80% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc và gần như toàn bộ lượng dầu nhập khẩu của Nhật Bản phải đi qua tuyến đường này.

Chính vì vậy, Malacca được coi là “điểm nghẽn chiến lược” của hệ thống năng lượng châu Á. Chỉ cần tuyến hàng hải này bị gián đoạn trong thời gian ngắn cũng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế của nhiều quốc gia.

Trong bối cảnh đó, một số nước đã tìm cách xây dựng các tuyến vận tải thay thế để giảm sự phụ thuộc vào Malacca. Chẳng hạn, Trung Quốc thúc đẩy các dự án hạ tầng như Hành lang Kinh tế Trung Quốc – Pakistan nhằm tạo tuyến vận chuyển hàng hóa và năng lượng từ Trung Đông vào lục địa Á – Âu mà không phải đi qua eo biển này.

Eo biển Malacca có đặc điểm rất hẹp và nông

“Nút thắt cổ chai” của giao thương toàn cầu

Mặc dù có vai trò quan trọng bậc nhất, nhưng Malacca lại có đặc điểm địa lý khá hạn chế. Ở nhiều đoạn, eo biển rất hẹp và nông, khiến việc lưu thông tàu thuyền gặp không ít khó khăn.

Phần hẹp nhất của tuyến đường nằm tại kênh Phillips gần Singaporec, nơi chiều rộng chỉ khoảng 1,2 km. Đây là lý do Malacca thường được gọi là “nút thắt cổ chai” của giao thương quốc tế. Trong trường hợp xảy ra tai nạn hàng hải hoặc xung đột địa chính trị, tuyến đường này có thể bị tắc nghẽn, kéo theo những tác động lớn đối với thương mại toàn cầu.

Ngoài ra, đáy biển tại nhiều khu vực của eo biển tương đối nông, đặc biệt ở phía nam. Độ sâu trung bình chỉ khoảng 25–30 m, trong khi một số đoạn sâu hơn có thể đạt tới 200 m ở phía tây bắc khi nối với lưu vực Andaman.

Chính điều kiện địa lý đặc biệt này khiến Malacca trở thành khu vực đòi hỏi công tác quản lý hàng hải chặt chẽ. Các quốc gia ven eo biển như Indonesia, Malaysia và Singapore thường xuyên phối hợp tuần tra và bảo đảm an toàn hàng hải cho tuyến đường này.

Vai trò lịch sử của Malacca trong thương mại quốc tế

Không chỉ giữ vị trí chiến lược trong thời hiện đại, Malacca còn là trung tâm giao thương quan trọng từ nhiều thế kỷ trước. Từ thế kỷ XIV, khu vực này đã phát triển mạnh mẽ dưới sự kiểm soát của Vương quốc Malacca – một vương quốc Hồi giáo từng thống trị tuyến thương mại giữa Ấn Độ và Trung Quốc.

Thời kỳ đó, cảng Malacca trở thành điểm dừng chân của các thương nhân đến từ khắp nơi trên thế giới, bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Trung Đông và châu Âu. Nhờ vị trí nằm giữa hai đại dương lớn, khu vực này nhanh chóng phát triển thành một trong những trung tâm thương mại nhộn nhịp nhất châu Á thời trung cổ.

Tên gọi của eo biển ngày nay cũng được cho là bắt nguồn từ chính thành phố cảng Malacca (Melaka) – nơi từng là trung tâm thương mại thịnh vượng trong nhiều thế kỷ.

Đặc điểm tự nhiên và môi trường biển ở Malacca

Bên cạnh vai trò kinh tế, Malacca cũng là một khu vực biển có nhiều đặc điểm tự nhiên đáng chú ý. Eo biển này có nhiều đảo nhỏ, cồn cát và rạn san hô, đặc biệt tập trung ở khu vực phía nam gần Sumatra.

Các cồn cát tại đây được hình thành do quá trình bồi đắp trầm tích từ những con sông lớn đổ ra biển từ đảo Sumatra. Tuy nhiên, do lượng phù sa và trầm tích cao nên các rạn san hô ở Malacca không phát triển mạnh như ở Biển Đông.

Có nhiều đảo nhỏ, cồn cát và rạn san hô ở khu vực eo biển Malacca

Khí hậu tại khu vực này mang đặc trưng nhiệt đới nóng ẩm, chịu ảnh hưởng của hai hệ thống gió mùa chính. Mùa đông thường chịu tác động của gió mùa đông bắc, trong khi mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa tây nam. Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ khoảng 1.900 mm đến hơn 2.500 mm.

Nhiệt độ nước biển quanh năm khá cao, thường dao động khoảng 30–31°C ở phía đông. Do gần đất liền và có nhiều sông đổ vào nên độ mặn của nước biển trong eo Malacca thấp hơn so với nhiều vùng biển khác trong khu vực.

Ý nghĩa chiến lược trong bối cảnh địa chính trị hiện nay

Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị ngày càng gia tăng tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, eo biển Malacca tiếp tục giữ vai trò then chốt đối với an ninh kinh tế và năng lượng toàn cầu.

Đối với các nền kinh tế Đông Á, tuyến đường Malacca – Biển Đông được xem là “mạch máu” của hoạt động thương mại quốc tế. Hàng hóa từ châu Âu, Trung Đông và châu Phi muốn đến Đông Á hầu hết đều phải đi qua tuyến đường này.

Không chỉ vậy, Malacca còn có ý nghĩa quan trọng đối với nhiều khu vực khác như Australia, Nam Á và Trung Đông. Với mật độ giao thương dày đặc và vị trí chiến lược đặc biệt, eo biển này được coi là một trong những điểm trọng yếu nhất của hệ thống hàng hải toàn cầu.

Trong suốt nhiều thế kỷ, Eo biển Malacca luôn giữ vai trò trung tâm trong mạng lưới thương mại quốc tế. Dù thế giới đã phát triển nhiều tuyến vận tải mới, nhưng đến nay Malacca vẫn là con đường ngắn nhất, thuận tiện nhất và hiệu quả nhất để kết nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương.

Với khối lượng hàng hóa khổng lồ đi qua mỗi năm, vai trò chiến lược đối với chuỗi cung ứng năng lượng và tầm ảnh hưởng sâu rộng đến kinh tế toàn cầu, Malacca không chỉ là eo biển quan trọng nhất Đông Nam Á mà còn là một trong những tuyến hàng hải có ý nghĩa sống còn đối với thương mại thế giới.

Gia Huy / Theo: Dân Việt



ẨM THỰC KAVKAZ - KHÔNG GIỐNG TRUNG ĐÔNG, CŨNG KHÔNG PHẢI CHÂU ÂU

Ẩm thực Kavkaz mang bản sắc riêng biệt, nằm giữa Trung Đông và châu Âu, phản ánh lịch sử, khí hậu và con người vùng đất Kavkaz trong các hành trình tour Tây Á.

Tại Kavkaz, các món ăn có mùi gia vị quen mà lạ, cách nấu tưởng gần gũi nhưng hương vị lại hoàn toàn khác. (Ảnh: Internet)

Ẩm thực Kavkaz – một bản sắc đứng giữa các thế giới

Nói đến Ẩm thực Kavkaz, rất nhiều người thường lầm tưởng đây chỉ là biến thể của ẩm thực Trung Đông, hoặc là “phiên bản Á – Âu” của châu Âu lục địa. Nhưng khi bước vào bữa ăn đầu tiên tại vùng đất này, cảm giác ấy nhanh chóng tan biến. Mùi gia vị quen mà lạ, cách nấu tưởng gần gũi nhưng hương vị lại hoàn toàn khác.

Ẩm thực nơi đây giống như chính vùng đất Kavkaz: nằm giữa các nền văn minh, chịu ảnh hưởng từ nhiều phía nhưng không hòa tan vào bất kỳ hệ ẩm thực nào.

Khí hậu và địa hình quyết định bữa ăn

Dãy núi Kavkaz, cao nguyên, thung lũng và biển Caspi tạo nên những tiểu vùng khí hậu khác nhau. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến cách ăn uống. Người sống ở vùng núi cao chuộng thịt, sữa, bơ và các món nướng giàu năng lượng. Vùng thấp và ven biển lại có rau củ, thảo mộc, ngũ cốc và cá.

Chính sự phân mảnh địa lý này khiến Ẩm thực Kavkaz không đồng nhất, mà thay đổi theo từng thung lũng, từng cộng đồng, từng nếp sống.

Gia vị – không cay gắt, không quá nồng

Nếu Trung Đông nổi bật với gia vị đậm và châu Âu thiên về sự tối giản, thì ẩm thực Kavkaz chọn con đường trung dung. Gia vị được dùng để làm nền, không lấn át nguyên liệu chính. Rau thơm, hạt khô, thảo mộc bản địa xuất hiện nhiều, nhưng hiếm khi tạo cảm giác gắt.

Ẩm thực Kavkaz. (Ảnh: Internet)

Cách nêm nếm này phản ánh tư duy ẩm thực lâu đời: tôn trọng hương vị tự nhiên, để thịt ra thịt, rau ra rau, bánh ra bánh.

Bữa ăn như một nghi thức xã hội

Ở Kavkaz, ăn không chỉ để no. Bữa ăn là nơi gắn kết cộng đồng, nơi gia đình và bạn bè ngồi lại, trò chuyện, uống rượu vang, kể chuyện quá khứ. Bàn ăn thường kéo dài, món ăn lên chậm, không vội vã.

Trong những bữa tiệc truyền thống, vai trò của người dẫn dắt bữa ăn rất quan trọng. Lời chúc, câu chuyện và thứ tự nâng ly mang ý nghĩa không kém gì món ăn trên bàn.

Các món ăn tại Kavkaz vô cùng bắt mắt (Ảnh: Internet)

Những khác biệt tinh tế giữa các vùng

Trong cùng một không gian Kavkaz, mỗi quốc gia lại có cách diễn giải ẩm thực riêng.

Tại Armenia, bữa ăn mang nét mộc mạc, thiên về thịt nướng, bánh mì và các món giữ nguyên hương vị gốc.

Azerbaijan, dấu ấn của gạo, thảo mộc và cách nấu cầu kỳ hơn phản ánh sự giao thoa với thế giới Hồi giáo và ảnh hưởng Ba Tư.

Còn Georgia, với rượu vang lâu đời và các món bánh đặc trưng, lại cho thấy một Kavkaz phóng khoáng, giàu tính lễ hội.

Dù khác nhau, tất cả đều chia sẻ tinh thần chung: ăn chậm, ăn cùng nhau và ăn như một phần của văn hóa sống.

Trong cùng một không gian Kavkaz, mỗi quốc gia lại có cách diễn giải ẩm thực riêng. (Ảnh: Internet)

Ẩm thực Kavkaz không chạy theo thị hiếu toàn cầu

Điều thú vị là Ẩm thực Kavkaz hiếm khi “quốc tế hóa” theo cách dễ tiếp cận. Món ăn không được điều chỉnh để chiều lòng khẩu vị phổ thông, mà giữ nguyên cá tính. Người đến Kavkaz vì thế không chỉ thưởng thức, mà còn học cách làm quen, lắng nghe và thích nghi.

Chính sự “không thỏa hiệp” này khiến ẩm thực Kavkaz trở nên đáng nhớ, nhất là với những ai đã quen với các nền ẩm thực được toàn cầu hóa mạnh mẽ.

Gia vị được dùng để làm nền, không lấn át nguyên liệu chính. Rau thơm, hạt khô, thảo mộc bản địa xuất hiện nhiều, nhưng hiếm khi tạo cảm giác gắt. (Ảnh: Internet)

Ẩm thực như một phần của hành trình khám phá Kavkaz

Trong các chuyến Tour Tây Á đi qua vùng Kavkaz, ẩm thực thường không được quảng bá rầm rộ, nhưng lại là yếu tố đọng lại lâu nhất. Một bữa tối bên sườn núi, một bàn ăn gia đình địa phương, hay một quán nhỏ trong phố cổ… tất cả đều góp phần giúp người đi hiểu sâu hơn về con người nơi đây.

Ẩm thực không đứng riêng lẻ, mà gắn chặt với lịch sử, tín ngưỡng và lối sống của vùng đất này.

Ẩm thực Kavkaz là minh chứng rõ ràng rằng có những nền ẩm thực không thể xếp gọn vào bất kỳ hệ quy chiếu quen thuộc nào. Không hẳn Trung Đông, cũng chẳng hoàn toàn châu Âu, ẩm thực nơi đây tồn tại như chính Kavkaz: giao thoa nhưng độc lập, đa dạng nhưng có lõi chung. Với những ai lựa chọn khám phá vùng đất Kavkaz trong các hành trình Tour Tây Á, việc bước vào bàn ăn địa phương cũng chính là một cách bước sâu hơn vào tâm hồn của vùng đất này.

Theo: Migola Travel

Saturday, March 21, 2026

CÔNG TY TƯ NHÂN MỸ NÀO LẬT ĐỔ CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI, LÀM THAY ĐỔI CẢ MỘT QUỐC GIA?

Vào thế kỷ 20, có một công ty của Mỹ vươn tầm ảnh hưởng rộng khắp Mỹ Latin, đặc biệt là Trung Mỹ. Công ty nắm quyền lực ngang quốc gia trong lòng quốc gia, từng lôi kéo Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) tham gia lật đổ chính phủ Guatemala.


United Fruit Company (UFC) hay còn gọi là công ty trái cây Mỹ, là một tập đoàn quyền lực chuyên kinh doanh trái cây nhiệt đới (chủ yếu là chuối) được trồng trên các đồn điền ở Mỹ Latin và bán tại Mỹ và Châu Âu.

Công ty phát triển mạnh vào đầu và giữa thế kỷ 20, kiểm soát các vùng lãnh thổ rộng lớn và mạng lưới giao thông ở Trung Mỹ, bờ biển Caribe của Colombia và Tây Ấn Độ. Ở thời kỳ đỉnh cao, công ty nắm quyền lực tương đương quốc gia trong lòng các quốc gia vùng Trung Mỹ, kiểm soát những vùng đất rộng lớn, thống trị sản xuất chuối và có ảnh hưởng đáng kể đến chính trị địa phương. Các quốc gia chịu sự chi phối của UFC còn được gọi là “cộng hòa chuối”, gồm Costa Rica, Honduras và Guatemala.

Sự hình thành công ty trái cây quyền lực của Mỹ

UFC ra đời năm 1899 sau khi hai công ty trái cây lớn của Mỹ là Tropical Trading and Transport Company và Boston Fruit Company hợp nhất. Người sáng lập Tropical Trading and Transport Company, Minor C. Keith, một doanh nhân Mỹ, khởi nghiệp bằng việc xây dựng tuyến đường sắt tại Costa Rica vào những năm 1870.

Công ty trái cây (UFC) từng vươn tầm ảnh tưởng sâu rộng ở nhiều quốc gia vùng Trung Mỹ.

Khi chính phủ Costa Rica không thể thanh toán chi phí, Keith được trao quyền kiểm soát 3.200km2 đất miễn thuế cùng hợp đồng vận hành đường sắt trong 99 năm. Nhận thấy chuối là mặt hàng tiềm năng, ông bắt đầu trồng loại cây này ven đường ray để cung cấp thực phẩm cho công nhân, và nhanh chóng phát triển thành một ngành kinh doanh sinh lợi.

Sau khi hợp nhất với Boston Fruit Company, ông Minor C. Keith trở thành Phó Chủ tịch UFC. Công ty mở rộng mạnh mẽ, sở hữu đồn điền rộng lớn tại Trung Mỹ và vùng Caribe. Năm 1904, Keith ký hợp đồng với chính phủ Guatemala, mở dầu cho ảnh hưởng sâu rộng của công ty ở quốc gia.

Đến năm 1930, công ty đã thâu tóm hơn 20 đối thủ cạnh tranh, sở hữu 14.000km2 đất tại khu vực này và trở thành thế lực tư nhân lớn nhất ở vùng Trung Mỹ. Trong giai đoạn này, UFC nắm quyền lực tương đương quốc gia trong lòng các quốc gia vùng Trung Mỹ. Nhờ kiểm soát cả hệ thống vận chuyển, cảng biển và viễn thông, UFC có thể điều hành các nền kinh tế địa phương như một chính phủ thực sự.

Tuy nhiên, sức ảnh hưởng quá lớn khiến UFC vấp phải sự phản đối từ chính quyền và người dân tại các nước bị chi phối. Một trong những cuộc đối đầu căng thẳng nhất giữa UFC và chính phủ quốc gia xảy ra vào đầu thập niên 1950 tại Guatemala.

Tài liệu nội bộ hé lộ vai trò của CIA trong cuộc lật đổ chính phủ Guatemala năm 1954.

Đề nghị sốc với chính phủ Guatemala

Năm 1952, UFC đưa ra đề nghị gây sốc với chính quyền dân cử của Guatemala. Đó là nếu muốn có một chính quyền tự chủ thì phải trả cho công ty khoản tiền 19,355 triệu USD vào thời điểm đó. Đề nghị của UFC được xem là chưa từng có khi chính phủ nước sở tại lại phải xem xét đề nghị của một công ty tư nhân nước ngoài.

Trước đó một năm, Guatemala bầu ra tổng thống Jacobo Arbenz Guzman với đường lối cải cách mạnh mẽ. Một trong những chính sách trọng tâm của ông là cải cách ruộng đất nhằm tái phân phối đất canh tác cho nông dân nghèo. Đạo luật cải cách được ban hành đã quy định trưng thu khoảng 1,5 triệu mẫu đất chưa khai thác, bao gồm cả phần lớn diện tích đất do UFC sở hữu, để phân phát cho hơn 100.000 hộ gia đình nghèo khó.

Theo chính sách này, chính phủ Guatemala đề nghị bồi thường 1,185 triệu USD cho phần đất trưng thu của UFC, đúng theo giá trị mà chính công ty này kê khai khi đóng thuế. UFC từ lâu đã âm thầm kê khai giá đất ở mức thấp để giảm số tiền thuế phải đóng.

Dĩ nhiên, UFC không chấp nhận “khoản tiền nhỏ” trên, tuyên bố giá trị thực của diện tích đất này là 19,355 triệu USD – cao gấp 16 lần so với con số ban đầu. Yêu sách này là một động thái nhằm gây sức ép lên chính quyền mới ở Guatemala.

UFC không đơn độc trong cuộc chiến này. Nhờ chiến lược “tích hợp theo chiều dọc”, công ty không chỉ sở hữu các đồn điền mà còn kiểm soát các lĩnh vực quan trọng như đường sắt, cảng biển, bệnh viện và hệ thống viễn thông. Điều này giúp UFC duy trì ảnh hưởng lớn đối với nền kinh tế và chính trị địa phương.

Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles (trái) có những tác động để Tổng thốngDwight D. Eisenhower phê duyệt chiến dịch lật đổ chính phủ Guatemala.

Chính sách cải cách ruộng đất của Tổng thống Arbenz đe dọa trực tiếp đến quyền lực của UFC tại Guatemala. Nhận thấy không thể đạt được thỏa thuận với chính quyền Guatemala, UFC quyết định vận động sự can thiệp của chính phủ Mỹ, biến cuộc xung đột kinh tế này thành một vấn đề chính trị và an ninh quốc gia.

Phối hợp với CIA lật đổ chính phủ nước ngoài

UFC đã sử dụng một chiến dịch tuyên truyền quy mô lớn nhằm tạo ra ấn tượng rằng chính quyền mới của Guatemala có tư tưởng thân Liên Xô (khi đó đang trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh với Mỹ). Công ty thuê Edward Bernays, cha đẻ của ngành quan hệ công chúng, để định hướng dư luận tại Mỹ. Bernays tổ chức các chiến dịch truyền thông, vận động báo chí đưa tin rằng Guatemala ngả về phía Liên Xô, dù trên thực tế không có bằng chứng nào cho thấy mối liên hệ giữa ông Arbenz và Điện Kremlin.

Nhờ mối quan hệ chặt chẽ với nhiều quan chức cấp cao trong chính phủ Mỹ, UFC đã thành công trong việc kêu gọi Washington hành động. Ngoại trưởng Mỹ John Foster Dulles từng là luật sư đại diện cho UFC, trong khi em trai ông, Allen Dulles, là Giám đốc CIA và có cổ phần trong công ty. Dưới sức ép của UFC và bối cảnh Chiến tranh Lạnh leo thang, Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower đã phê duyệt chiến dịch đảo chính mang tên “PBSUCCESS” nhằm lật đổ chính phủ Guatemala, ủy quyền cho CIA thực hiện.

CIA tuyển mộ Castillo Armas, một nhân vật địa phương chống đối ông Arbenz để tổ chức đảo chính vào tháng 6/1954. Mặc dù lực lượng đảo chính có quân số ít ỏi, họ được hỗ trợ bởi chiến dịch tuyên truyền quy mô lớn do CIA điều phối. Các đài phát thanh do CIA kiểm soát phát sóng tin tức giả, tuyên bố rằng Guatemala đang đối mặt với một cuộc nội chiến khốc liệt, khiến tinh thần quân đội chính phủ suy sụp.

CIA phao tin đội quân của Armas được vũ trang hạng nặng, có quy mô lên tới 5.000 người. Ở trên bầu trời, các máy bay Mỹ tham chiến một cách không chính thức, dội bom nhằm vào các cứ điểm của quân chính phủ Guatemala, yểm trợ lực lượng đảo chính. Các gián điệp CIA trong quân đội và chính phủ Guatemala cũng tích cực hoạt động.

Castillo Armas cùng các thành viên đảo chính lái xe tiến vào thủ đô Guatemala trong cuộc đảo chinh do CIA và UFC hậu thuẫn.

Sau vài ngày, chiến thuật chiến tranh tâm lý của CIA đã thành công. Hoảng loạn bao trùm thủ đô và những người ủng hộ ông Arbenz bắt đầu mất niềm tin. Khi ông cố gắng tập hợp một lực lượng dân quân, chỉ có vài trăm dân thường xuất hiện.

Vào ngày 27/6/1954, chỉ 9 ngày sau khi cuộc đảo chính nổ ra, ông Arbenz từ chức, lên án sự can thiệp của UFC và CIA. Ông xin tị nạn tại Đại sứ quán Mexico và sau đó rời khỏi đất nước.

Chính quyền mới do Castillo Armas lãnh đạo nhanh chóng đảo ngược các chính sách cải cách ruộng đất, trả lại đất đai cho UFC và thiết lập mối quan hệ thân Mỹ kéo dài hàng thập kỷ.

Sự thống trị của UFC không kéo dài lâu. Sau biến cố ở Guatemala, công ty đối mặt với phản ứng dữ dội của dư luận trong nước. Những cáo buộc về hoạt động độc quyền, thao túng chính trị đã dẫn đến các cuộc điều tra sâu rộng.

CIA ban đầu tham gia lật đổ chính phủ Guatemala để bảo vệ lợi ích của UFC, nhưng sau đó coi công ty là một trở ngại tiềm tàng đối với những nỗ lực nhằm chống lại ảnh hưởng của Liên Xô ở Trung và Nam Mỹ.

Nhiều năm về sau, thế độc quyền trong kinh doanh chuối của UFC bị phá bỏ khiến công ty có giai đoạn rơi vào khủng hoảng. Sau khi đổi tên thành Chiquita Brands International vào năm 1985, công ty vẫn tiếp tục kinh doanh chuối và hoa quả ở Mỹ nhưng không còn nắm quyền chi phối chính trị như trước.

Đăng Nguyễn / Theo: nguoiduatin
Link tham khảo:





THẠCH HÔI NGÂM - VU KHIÊM


Thạch hôi ngâm

Thiên chuỳ vạn kích xuất thâm san,
Liệt hoả phần thiêu nhược đẳng nhàn.
Phấn thân toái cốt toàn bất cố,
Yếu lưu thanh bạch tại nhân gian.


石灰吟 - 于謙

千錘萬擊出深山
烈火焚燒若等閒
粉身碎骨全不顧
要留清白在人間


Vịnh đá vôi
(Dịch thơ: Nguyễn Thị Bích Hải)

Đục tận non xanh lấy đá về
Lửa hồng thiêu đốt có hề chi
Nát thịt xương tan nào có sợ
Chỉ mong thanh bạch tiếng còn ghi.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vu Khiêm 于謙 (1398-1457) tự Đình Ích 廷益, hiệu Tiết Am 節庵, người Tiền Đường, Hàng Châu (nay là Hàng Châu, Chiết Giang), là anh hùng dân tộc của Trung Quốc. Vu Khiêm từng giữ chức tuần phủ ở các địa hạt Hà Nam, Sơn Tây, Giang Tây và rất được lòng dân. Năm 1449 đời Minh Anh Tông, quân của bộ tộc Ngoã Thích Mông Cổ tại Thổ Mộc Bảo (nay là huyện Hoài Lai, Hà Bắc) đã tiêu diệt 50 vạn quân chủ lực nhà Minh, bắt sống Minh Anh Tông Chu Kỳ Trấn, áp sát Bắc Kinh. Trong lúc nguy một mất một còn đó, Vu Khiêm đã lãnh đạo nhân dân kinh thành đánh lui quân của Ngoã Thích, giúp hàng ngàn vạn người dân tránh được cảnh tang thương. Nhưng khi Minh Anh Tông được phục quyền, ông lại bị sát hại do tội “đại nghịch, đón rước ngoại xâm”. Tác phẩm có Vu Túc Mẫn công tập.

Nguồn: Thi Viện



CẢNH ĐỨC TRẤN, THỦ PHỦ GỐM SỨ NGHÌN NĂM, BIỂU TƯỢNG VĂN HÓA TRUNG QUỐC

Cảnh Đức Trấn (景德鎮), nằm ở tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, nổi tiếng với lịch sử hơn 2.000 năm làm gốm sứ. Được mệnh danh là "kinh đô gốm sứ nghìn năm", nơi đây sản xuất những sản phẩm gốm sứ tinh xảo nhất, từng là quà tặng của hoàng gia và là vật phẩm sưu tầm trên toàn thế giới.


Cảnh Đức Trấn, thị trấn xinh đẹp như tranh vẽ thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Quốc, nổi tiếng không chỉ bởi vẻ đẹp tự nhiên mà còn bởi lịch sử lâu đời trong ngành sản xuất gốm sứ. Được ngự phong tên gọi Cảnh Đức Trấn vào năm 1004, thành phố này đã có hơn 2.000 năm phát triển nghề gốm sứ, trong đó có hơn 1.000 năm làm gốm sứ tiến vua, trở thành biểu tượng của ngành gốm sứ Trung Quốc.


Nghệ thuật và kỹ thuật gốm sứ Cảnh Đức Trấn

Gốm sứ Cảnh Đức Trấn nổi tiếng khắp thế giới với những đặc điểm độc đáo: chất sứ “trắng như ngọc, sáng như gương, mỏng như giấy, âm thanh trong trẻo”. Các sản phẩm gốm sứ từ Cảnh Đức Trấn không chỉ phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã mà còn hài hòa về màu sắc, tạo nên vẻ đẹp hoàn hảo, tinh tế.


Những sản phẩm gốm sứ từ đây đã trở thành quà tặng cấp quốc gia, được sử dụng làm vật phẩm sưu tầm của hoàng gia các nước châu Âu và bán ra các thị trường lớn như châu Á, châu Âu, và châu Phi. Điều này không chỉ khẳng định vị thế của Cảnh Đức Trấn trong ngành gốm sứ mà còn cho thấy sự tôn trọng và đánh giá cao của quốc tế đối với nghệ thuật gốm sứ nơi đây.

Đào tạo và phát triển nghề gốm sứ tại Cảnh Đức Trấn

Để duy trì và phát triển nghề gốm sứ, Cảnh Đức Trấn đã đầu tư mạnh mẽ vào giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. Thành phố có bốn trường đại học và học viện chuyên ngành gốm sứ, bao gồm Đại học gốm sứ Cảnh Đức Trấn, Đại học nghề nghệ thuật Cảnh Đức Trấn, Học viện nghề mỹ thuật gốm sứ Giang Tây, và Học viện nghề gốm sứ Cảnh Đức Trấn. Các cơ sở đào tạo này không chỉ giảng dạy kỹ thuật làm gốm mà còn chú trọng đến việc nghiên cứu và bảo tồn các phương pháp truyền thống, đồng thời phát triển những kỹ thuật mới để đáp ứng nhu cầu thị trường.

Các sự kiện và triển lãm gốm sứ

Hằng năm, Cảnh Đức Trấn tổ chức nhiều sự kiện và triển lãm gốm sứ nhằm quảng bá và giới thiệu sản phẩm gốm sứ đến với công chúng trong và ngoài nước. Những sự kiện này không chỉ là cơ hội để các nghệ nhân trình diễn tài năng mà còn là dịp để các nhà sưu tầm, thương nhân và du khách hiểu thêm về lịch sử và nghệ thuật gốm sứ Cảnh Đức Trấn.


Các triển lãm như "Triển lãm gốm sứ quốc tế Cảnh Đức Trấn" hay "Hội chợ gốm sứ nghệ thuật Cảnh Đức Trấn" đã thu hút hàng nghìn lượt khách tham quan, tạo điều kiện cho sự giao lưu văn hóa và thương mại giữa các nước. Đây cũng là dịp để Cảnh Đức Trấn khẳng định vị thế của mình trên bản đồ gốm sứ thế giới, đồng thời giới thiệu những sản phẩm mới nhất, độc đáo nhất đến với công chúng.

Tương lai của Cảnh Đức Trấn trong ngành gốm sứ

Với bề dày lịch sử và kỹ thuật tinh xảo, Cảnh Đức Trấn không chỉ là một trung tâm sản xuất gốm sứ nổi tiếng mà còn là một biểu tượng văn hóa của Trung Quốc. Thành phố này đang tiếp tục nỗ lực để bảo tồn và phát huy những giá trị truyền thống, đồng thời kết hợp với những yếu tố hiện đại để tạo ra những sản phẩm gốm sứ chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường toàn cầu.


Các chính sách hỗ trợ từ chính phủ, sự đầu tư vào giáo dục và đào tạo, cùng với sự đam mê và sáng tạo của các nghệ nhân, đã và đang giúp Cảnh Đức Trấn giữ vững và phát triển vị thế của mình trong ngành gốm sứ. Với sự nỗ lực không ngừng, Cảnh Đức Trấn chắc chắn sẽ tiếp tục là một biểu tượng văn hóa và nghệ thuật không chỉ của Trung Quốc mà còn của thế giới.

Du lịch và trải nghiệm văn hóa tại Cảnh Đức Trấn

Ngoài vai trò là trung tâm sản xuất gốm sứ, Cảnh Đức Trấn còn là một điểm đến du lịch hấp dẫn với nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử. Du khách đến đây không chỉ được chiêm ngưỡng những sản phẩm gốm sứ tinh xảo mà còn có cơ hội tham gia vào các hoạt động trải nghiệm, như tham quan các làng nghề, tham gia các lớp học làm gốm và khám phá văn hóa truyền thống.

Các tour du lịch gốm sứ tại Cảnh Đức Trấn thường bao gồm việc tham quan các xưởng sản xuất, nơi du khách có thể tận mắt chứng kiến quy trình sản xuất gốm sứ từ khâu chọn nguyên liệu, tạo hình, đến nung và trang trí sản phẩm. Đây là cơ hội tuyệt vời để du khách hiểu thêm về nghệ thuật gốm sứ và cảm nhận được tâm huyết, tài năng của các nghệ nhân nơi đây.


Cảnh Đức Trấn, với vẻ đẹp tự nhiên và bề dày lịch sử, đã và đang thu hút hàng triệu du khách mỗi năm. Sự phát triển của ngành du lịch không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, giúp Cảnh Đức Trấn tiếp tục tỏa sáng như một viên ngọc quý trong ngành gốm sứ thế giới.

Cảnh Đức Trấn không chỉ là một thủ phủ gốm sứ nghìn năm mà còn là biểu tượng văn hóa, nghệ thuật độc đáo của Trung Quốc. Với sự nỗ lực bảo tồn và phát triển, thành phố này chắc chắn sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn cho du khách và là niềm tự hào của ngành gốm sứ trên toàn thế giới.

Hai Nam / Theo: TravelSig+



RÙNG MÌNH VỚI NHỮNG LOÀI "THỦY QUÁI" ĂN THỊT NGƯỜI

Jeremy Wade, người dẫn chương trình "Quái vật vùng sông nước" từng chinh phục và sở hữu bộ sưu tập những sinh vật được mệnh danh "quái vật" dưới nước.


Jeremy Wade sinh năm 1956 là nhà nghiên cứu sinh vật, người dẫn chương trình truyền hình của Anh, nổi tiếng với series truyền hình "Rivers Monsters" (tạm dịch: Quái vật vùng sông nước). Trước đó, ông có những chuyến phiêu lưu mạo hiểm khi tham dự các chương trình truyền hình thực tế của National Geographic.

Tóm gọn cá đuối khổng lồ

Wade đi khắp thế giới, săn tìm những con cá nước ngọt khổng lồ được coi là "quái thú". Thậm chí để tìm được tung tích những loài cá ăn thịt người, Wade không quản ngại lấy mình làm mồi nhử. Một trong những lần đó khiến ông bị thương khá nặng. Nhưng cũng nhờ đó, bộ sưu tập "quái vật dưới nước" của Wade ngày một ấn tượng, gồm cả loài cá da trơn ăn thịt người, cá hổ nước, cá piranha khổng lồ, cá đuối 127 kg…

Một con cá hổ với hàm răng lởm chởm như cá mập trắng ở sông Congo

Niềm đam mê với những "quái vật" khổng lồ liên tục thôi thúc ông lên đường. Wade có mặt ở Ấn Độ, nơi dòng sông Kali chảy qua. Người dân địa phương cho hay, họ biết sinh vật khổng lồ sống dưới nước, từng ăn thịt người trong suốt nhiều thập kỷ qua.

Trong chuyến thám hiểm lần thứ 3 tới khu vực này, Wade cuối cùng đã tìm ra thủ phạm. Đó là con cá trê khổng lồ dài tới hơn 1,8m. Nó sống nhờ thi thể của những người bị đưa xuống sông trong một phần nghi thức tang lễ Hindu. Thực đơn của con cá trê khổng lồ này chính là những người sống gần sông Kali. Thậm chí chúng có thể nuốt trọn vẹn một người trưởng thành.


Trước đó, chương trình "Quái vật vùng sông nước" được quay tại 40 địa điểm khác nhau trên thế giới, trình chiếu trên 100 quốc gia. Ở tuổi 61, đến nay Wade vẫn cần mẫn với công việc kiếm tìm thủy quái trên sông. "Tôi không ngờ việc chứng kiến con cá trê khổng lồ lại khiến mọi người sốc đến thế. Đây là một trong những khoảnh khắc ấn tượng nhất trong chương trình của tôi", ông nói.

Được biết, những sinh vật Wade bắt được không phải là loài cá nhiều người thường nhìn thấy trên các cuốn tạp chí. Ông sẽ chọn những sinh vật đặc biệt nhất, kỳ dị nhất mà chưa ai từng chứng kiến trước đó. "Thậm chí có cả những con cá được đề cập trong các cuốn sách lịch sử nhưng tôi không dám chắc sự tồn tại của chúng", ông khẳng định.

Cách đây không lâu, Wade bắt được con cá mang biệt danh "Quỷ đỏ tại bờ biển Cortez của Mexico hay con cá nhồng ăn thịt người tại bờ biển Florida Keys. Tại Australia, ông tóm gọn một con sứa hộp với những xúc tu siêu độc có thể giết chết người đàn ông trưởng thành với tốc độ khủng khiếp.

"Khi đó tôi rất lo lắng. Loài sứa này là một trong những sinh vật độc nhất thế giới. Cơ thể chúng như một quả bóng với các xúc tu, có thể giết bạn trong vài phút", ông kể lại.


Chương trình truyền hình đặc biệt còn đưa Wade tới các cuộc phiêu lưu ở vùng biển Caribbean, Peru hay Thái Lan. Không phải tất cả những vùng đất này đều ôn hòa dễ chịu. Trong suốt 3 thập niên gắn bó với những chuyến đi, Wade từng bị hạ gục khi mắc sốt rét tại Congo. Lần săn tìm "thủy quái" trên sông Mekong ở Thái Lan, ông cũng từng bị bắt vì những nghi ngờ liên quan tới vấn đề chính trị.

Mặc dù vậy, những khó khăn không đánh quật được Wade khi ông vẫn tiếp tục những chuyến rong ruổi kiếm tìm thêm nhiều loài thủy quái trên khắp trái đất. "Những sinh vật hiếm này chỉ có thể tìm thấy ở nơi đầy thử thách", ông khẳng định.

Một số hình ảnh trong bộ sưu tập "thủy quái sông nước" của Wade:


Hoàng Hà
Theo DM, HP



CHINH PHỤC 99 KHÚC CUA NGUY HIỂM CỦA THIÊN MÔN SƠN

1. Vị trí của 99 khúc cua nguy hiểm?


99 Khúc cua Thiên Môn Sơn hay Đại lộ Thông Thiên là con đường đèo nổi tiếng có vị trí nằm ở vườn quốc gia Thiên Môn – Trương Gia Giới thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, Thiên Môn Sơn được xây dựng năm 1998 nhưng mãi đến năm 2006 mới hoàn thành. Với chiều dài 11km cùng 99 khúc cua hiểm trở, Thiên Môn Sơn được mệnh danh là một trong những cung đường nguy hiểm và khó chinh phục nhất.


Phải công nhận một điều rằng nếu đã đi du lịch Trung Quốc mà không hành hương đến ít nhất một ngọn núi thì xem như phí cả hành trình. Kể sơ sơ thì ở đây có trên dưới 5 ngọn núi nổi tiếng bậc nhất thế giới. Một trong những đỉnh núi nổi tiếng nhất xứ Trung, phải nói đến Thiên Môn Sơn – nơi mà những ai ưa mạo hiểm sẽ "phát cuồng" bởi cung đường dẫn tới điểm đích được gọi là "cổng trời".

2. Quá trình xây dựng 99 Khúc Cua

99 Khúc cua có tổng chiều dài chỉ khoảng 11km nhưng điểm đầu và cuối của con đường này lại chênh lệch độ cao nhau đến 1.100m (dốc gần như thẳng đứng, đó là lý do vì sao phải đi nhiều khúc cua như vậy để đến được điểm cuối). Thời gian để hoàn thành con đường này là 8 năm (từ năm 1998 đến năm 2006 thì hoàn thành).


Chính sự nguy hiểm của con đường này mà chính phủ Trung Quốc ra lệnh, chỉ ô tô mới được phép lưu thông trên con đường này (theo mình thấy khi đi thực tế thì chỉ có xe ô tô của trung tâm du lịch này lưu hành, xe tư nhân không được lưu thông trên đường này).

3. Ý nghĩa con số 9 với người Trung Hoa

Bạn có biết vì sao người Trung Hoa lại hay chọn con số 9 để dùng trong cuộc sống, xây dựng, chọn ngày… 99 Khúc Cua hay 999 Bậc Thang trên Cổng Trời Thiên Môn Sơn, được ví là con đường lên tới Thiên Đàng. Số 9 với người Trung Hoa rất ý nghĩa, nó là con số hoàn hảo nhất tự cổ chí kim (từ xưa đến nay). Trong Hán tự (chữ Hán), Cửu (viết là: 九) nghĩa là số 9 (cũng có nghĩa là vĩnh cửu, trường cửu), tượng trưng cho đỉnh cao toàn diện (trên mọi phương diện). Ngoài ra theo quan niệm xa xưa thì số lẻ thuộc Dương, số chẵn thuộc Âm, số 9 là số lớn nhất của nhánh Dương (Cực Dương) chứa đựng hàm ý tốt lành.


Trong Tịnh Độ Tông của Phật giáo đại thừa, pháp môn cầu nguyện vãn sanh về miền cực lạc của đức phật A Di Đà cũng được chia thành 9 cấp tu học (Cửu Phẩm Liên Hoa). Người dân cũng hay nhắc đến: “con lại 9 phương trời, 10 phương phật” (không phải 4 phương, 8 hướng như phong thủy nhé các bạn) khi cầu nguyện. Mặc khác con số 9 còn tượng trưng cho 9 tầng mây trên thiên đường, cũng từng có giai thoại cho rằng có 1 con đường mòn dẫn lối trong mây mù theo 99 khúc cua này để lên trời. Với con số 9 đặc biệt này mình sẽ có một bài viết riêng, các bạn có thể đọc qua nhé !

4. Di chuyển đến 99 Khúc Cua bằng cách nào?


Có 2 phương án để đến với cổng trời Thiên Môn Sơn :


- Lên bằng cáp treo dài nhất thế giới (có 98 cabin và dài 7455m), sau đó đi theo đường Sky Walk (Sạn Đạo Kính) cặp sát vách núi dựng đứng sau đó theo thang máy ẩn bên trong lòng núi xuống 999 Bậc Thang rồi từ đây đi xuống 99 Khúc Cua bằng xe Bus.


- Ngược lại: các bạn có thể lên bằng xe bus qua 99 Khúc Cua trước rồi xuống bằng Cáp Treo.

Những du khách đi bằng cáp treo sẽ được trải nghiệm hệ thống cáp treo lên núi dài nhất thế giới với 98 cabin và chiều dài tới 7.455m, lên độ cao hơn 1.500m. Ngồi trên đó, phóng tầm mắt có thể thấy rừng cây um tùm, trời xanh vời vợi và vực sâu thăm thẳm. Thiên Môn Sơn được tạo hóa ưu ái ban tặng cảnh sắc đẹp tựa chốn bồng lai, nơi đây còn được biết đến là cổng trời, nơi giao thoa giữa trời và đất.


Được biết, "cổng trời" được hình thành sau khi một trận đại hồng thủy làm sụp đổ đá vôi trên núi tạo thành hình mái vòm. Cũng từ đó, nơi này được gọi là Thiên Môn. Kết thúc hành trình du lịch Trương Gia Giới tới Thiên Môn Sơn này, chắc hẳn bạn sẽ cảm thấy chưa bao giờ mình dốc nhiều sức lực đến thế. Cảm giác đói lả, mệt mỏi dâng lên là điều thường thấy với nhiều người, cũng là lúc bạn nạp năng lượng với những món ăn dù thế nào cũng thấy ngon miệng. Song điều quan trọng là ai cũng thấy “đã” vì hành trình choáng ngợp những thú vị vừa qua.

Theo: Du Lịch Hoàng Hà