Sunday, April 12, 2026

CÓ BAO GIỜ CHÚNG TA QUÊN "NHÌN LẠI BẢN THÂN" ?

Có câu tục ngữ “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”; khi gặp chuyện thì trước khi đổ lỗi trách móc người khác, nên biết nhìn lại bản thân mình đầu tiên. Đây cũng là một loại trí tuệ, một sự tu dưỡng cần thiết để làm người nhân nghĩa.


Chỉ khi chúng ta có dũng khí nhìn lại bản thân, can đảm nhìn lại quá khứ thì mới có thể dễ dàng đối diện với hiện tại và đón nhận tương lai tốt đẹp. Tô Thức từng viết hai câu thơ trong bài ‘Hoán khê sa’ (Sơn hạ lan nha đoản tẩm khê) như sau:

“Thuỳ đạo nhân sinh vô tái thiểu,
Môn tiền lưu thuỷ thượng năng tê.”

Tạm dịch:

“Ai bảo đời người không trẻ lại,
Nước chảy về tây trước hiên nhà”

Mọi người thường tin rằng sống trên đời thì hãy luôn nhìn về phía trước, mọi chuyện rồi sẽ trở nên tốt đẹp. Thế nhưng “luôn nhìn về phía trước” nhiều khi không thể thay đổi những điều tội tệ ở hiện tại; mà cũng phải đối diện với hiện tại và suy ngẫm về những thiếu sót của bản thân trong quá khứ để thay đổi.

1. Nhìn lại để không quên lý do mình xuất phát

Trong Đạo Đức Kinh có nói: “Vạn vật trùng trùng đều trở về cội”.

Cho dù con người trên thế gian có sống vội vã đến đâu, chỉ khi không quên nguồn cội thì mới có thể tìm được nơi trở về.

Người sống trên đời sẽ gặp đủ loại cám dỗ, có người đi được nửa đường thì bước vào ngã rẽ, có người thậm chí còn phớt lờ mọi lời cảnh báo mà đi nhầm đường.

Trên đường đời ai cũng mong muốn thực hiện được ước mơ và hoài bão của mình nhưng không thể vì bước đi trên đường quá lâu mà quên đi tâm nguyện thuở ban đầu.

Chỉ khi biết nhìn lại bản thân mới thấy được con đường tương lai rộng mở… (Ảnh: Facebook)

Do vậy, trong cuộc sống, khi chúng ta cảm thấy hoang mang thì đừng ngại dừng chân lại một chút. Nhìn lại để nhớ “tâm nguyện xuất phát ban đầu” trước khi mình muốn làm gì đó là vì cớ gì; chỉ có cách này mới giúp bản thân không bị lạc lối, không bị cám giỗ lôi kéo mất phương hướng và lãng phí thời gian.

2. Quay đầu nhìn lại bản thân để ổn định thế giới nội tâm

Bộ phim ‘Trung Quốc y sinh’ khiến chúng ta không khỏi chú ý đến diễn viên Viên Tuyền. Phải nói rằng trong giới showbiz hiện nay, có rất ít diễn viên sẵn sàng sống hết mình cho vai diễn.

Năm 22 tuổi, Viên Tuyền đoạt giải Kim Kê Nữ, diễn viên phụ xuất sắc nhất nhờ tham gia bộ phim điện ảnh đầu tay ‘Xuân thiên đích cuồng tưởng’. Sau đó, cô tham gia các bộ phim “Tình yêu màu xanh” và “Đôi chân xinh đẹp”; cả hai đều có tiếng vang và sự nghiệp của cô ngày càng thăng tiến.

Đúng vào thời điểm vàng son của diễn viên, có nhiều cơ hội trở thành ngôi sao hạng nhất. Thật bất ngờ, khi cô chọn dừng lại và vắng bóng trên sân khấu truyền hình. Cô quay trở lại với sân khấu kịch chưa thành danh để ổn định bản thân. Nhiều người chê Viên Tuyền ngốc nghếch. Nhưng cô nói: “Tôi làm diễn viên không phải vì kiếm được bao nhiêu tiền, mà chỉ đơn giản là thích diễn xuất và cảm giác chuyên chú”.

Nữ diễn viên Viên Tuyền thời còn trẻ với đôi mắt sáng (Ảnh eva.vn)

Từ đó về sau, cô bắt đầu tham gia câu lạc bộ kịch để học kịch bản. Chính khoảng thời gian này, kỹ năng diễn xuất của cô đã có một bước tiến nhảy vọt về chất lượng. Trong kịch bản “Jane Eyre”, với sự thể hiện xuất sắc của mình, cô đã giành được “Giải thưởng Hoa Mai”, giải thưởng kịch nghệ quốc gia cao quý nhất.

Ở tuổi 30, cô đã trở thành thành viên của “Trung quốc thoại kịch bách niên danh nhân đường”. Hiện nay, Viên Tuyền đã 44 tuổi, cô vẫn không rời ước nguyện thuở ban đầu với Hí kịch.

Kazuo Inamori nói: “Chỉ khi học được ổn định bản thân, bạn mới có thể sống theo cách mình muốn”.

Trên đời này, không có việc gì có thể gặt hái thành công trong một sớm một chiều; không ai giàu có sau một đêm mà được bền vững. Việc trên đời cũng không thể làm xong trong một khắc. Khi thấy khả năng không đủ để giúp chúng ta đạt được mục tiêu; nên chọn cách để bản thân có thể giữ được sự “hòa hoãn và ổn định”; để tích lũy thêm sức mạnh. Chỉ khi tài năng tương xứng với mục tiêu; lúc đón mới có thể đạt được một cách chắc chắn, bền vững.

3. Quay đầu nhìn lại để nhận ra chính mình

Có môt MC dẫn chương trình từng nói: “Nếu để cho con chó xuất hiện trên truyền hình, nó sẽ trở thành con chó nổi tiếng. Nhưng bạn phải biết rằng, không có sân khấu truyền hình, chẳng bao lâu sau con chó sẽ trở về với cát bụi”.

Lời nói này tuy ‘thô’ nhưng không ‘tháo’.

Nếu một người không thể nhận ra đúng đắn vị trí của chính mình, mà tự đánh giá cao bản thân; thì chẳng những không đi được xa mà bay cũng không được cao.

Trên con đường đi tới thành công, chú chim ngu ngốc có thể bay trước, nhưng chú chim bất khả chiến bại sẽ biết lùi lại phía sau. Người sống trên đời, biết nhận rõ vị trí của mình, nhìn ra trạng thái của mình vẫn tốt hơn so với việc nỗ lực cố gắng một cách mù quáng. Chỉ khi hiểu rõ chính mình chúng ta mới có thể nhìn rõ hướng đi. Không theo đuổi mục tiêu xa tầm với; không coi thường bản thân, an nhiên bước đi từng bước từng bước chậm rãi nhưng chắc chắn qua mọi sóng gió cuộc đời.

Đời người giống như con đường. Có câu rằng “Trên trái đất này làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi“.

Chỉ khi hiểu rõ chính mình chúng ta mới có thể nhìn rõ hướng đi.

Mọi người không ngừng nhìn về nơi xa xôi, dốc sức mà lao tới hết núi này đến biển khác; dù biết mệt nhưng vẫn khó dừng lại. Kết quả phí công sức, thời gian, nhưng đích đến đó vẫn rất mơ hồ…

Cuộc sống không chỉ có nhìn về phía trước, mà vẫn cần có những lúc ngừng chân, quay đầu xem lại con đường đã đi qua. Vừa đi vừa kiểm tra lại nội tâm của chính mình có bị xê lệch với nguyện ước ban đầu không.

Đừng đợi cho đến khi không thể quay đầu lại, mới nhận ra rằng mình đã lãng quên nguyện ước lúc đầu. Đừng đợi đến khi ngã ngựa mới biết bản thân mình không đủ sức gượng dậy.

Cựu Thủ tướng Anh Churchill từng nói: “Bạn có thể nhìn lại quá khứ càng sâu thì sẽ có thể nhìn về phía trước càng xa”. Một người có dũng khí nhìn lại bản thân mới có thể đón nhận được tương lai tốt đẹp.

Theo: ĐKN

Saturday, April 11, 2026

BA BỨC ẢNH ĐI THẲNG VÀO LÒNG NGƯỜI, CHỈ NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH MỚI CÓ THỂ HIỂU ĐƯỢC!


Không bao giờ là quá muộn để bắt đầu cuộc sống!

Cuộc sống là một vấn đề phức tạp và khó giải quyết, nhưng rất nhiều điều nếu bạn có thể suy nghĩ rõ ràng, bạn sẽ đi bộ ít hơn và tránh được nhiều đường vòng.

Dưới đây là 4 hình ảnh đi thẳng vào lòng người, cất giấu lại khiến quãng đời còn lại của bạn trở nên thú vị hơn, ý nghĩa hơn, chúng ta hãy cùng tham khảo nhé!

1. Điều thực sự nới rộng khoảng cách là trong mỗi thói quen hàng ngày

Tôi luôn đồng ý với một câu:

“Nhìn vào những gì một người nói và làm hàng ngày, bạn có thể xác định được hướng đi trong tương lai của người này”.

Trong cùng một thời gian, có người suốt ngày trà trộn vào mạng xã hội, lướt video ngắn để theo đuổi một bộ phim truyền hình mà không mệt mỏi, có người hy sinh thời gian giải trí, đọc sách học cách nâng cao bản thân.

Một số người bị mài mòn bởi cuộc sống góc cạnh, trở nên tê liệt và máy móc. Một số người có đầu óc tỉnh táo và lên kế hoạch cho bước tiếp theo của cuộc sống họ.

Nguồn: aboluowang

Napoleon đã từng nói: “Chỉ có một khoảng cách rất nhỏ giữa con người, nhưng khoảng cách nhỏ này lại tạo ra sự khác biệt rất lớn”.

Ban đầu, tất cả mọi người đều có điểm khởi đầu tương tự. Sau đó, một thói quen, một sự lựa chọn, có thể trở thành một khoảng trống làm khoảng cách cuộc đời ngày càng rộng.

Trên con đường của cuộc sống, chúng ta cần không ngừng tiến về phía trước. Ngay từ bây giờ, hãy bình tĩnh để đọc một cuốn sách hoặc học một kỹ thuật nào đó, không còn cảm thấy quá sức, và hãy thay đổi bản thân từng ngày.

Một ngày nào đó, chúng ta sẽ leo lên những bậc thang và tiến tới một mức độ cao hơn của cuộc sống.

2. Không có chí tiến thủ người đỡ không dậy nổi

Có một quy tắc nổi tiếng về “Luật Festinger” trong tâm lý học:

“10% cuộc sống con người là do những việc ngoại lai tác động, và 90% còn lại do thái độ, phản ứng của chính con người với những việc xảy ra”.

Trên đời này, có rất nhiều người đã trải qua bi kịch.

Nguồn: aboluowang

Có người khuất phục trước những khó khăn của thực tại, tưởng tượng rằng ai đó có thể giúp mình vượt qua những khó khăn. Có người bị cuộc đời vùi dập nhưng vẫn cố gắng đứng lên, sống như một thân cây vững vàng.

Như có câu nói: Nếu con người không vượt qua chính mình, ông trời cũng khó giúp đỡ. Thay vì dựa dẫm vào người khác, tốt hơn hết là bạn nên củng cố bản thân mạnh mẽ hơn.

Trong “nửa đời trước của tôi”, có một câu thoại như sau:

“Đường phải tự mình từng bước đi, khổ phải tự mình từng ngụm ăn, rút gân lột da mới có thể thoát thai hoán cốt, trừ lần đó ra, không có đường tắt”.

Cực khổ vào đầu, mọi thứ dựa vào chính mình, mới là sức mạnh cứng rắn nhất.

3. Thùng rỗng kêu to, người thiếu hiểu biết thường thích thể hiện

Tôi đã nghe nói về một trường hợp:

Trên thế giới này, một nhóm người tin tưởng vững chắc rằng “Trái đất bằng phẳng” và đặc biệt thành lập “Hiệp hội Trái đất phẳng” cho mục đích này.

Bạn chỉ vào quả địa cầu và nói với anh ta, “Trái đất tròn”, và anh ta sẽ nói, “Đó là tất cả những gì giả mạo, nhân tạo”.

Bạn đưa cho anh ta những bức ảnh của các phi hành gia trong không gian, và anh ta sẽ tiếp tục phản bác: “Vâng, hình ảnh rõ ràng là phẳng”.

Không có vấn đề bao nhiêu bằng chứng bạn đưa ra, nó là một nghịch lý trong mắt họ.

Nguồn: aboluowang

Bởi vì người kiến thức càng nông cạn, đối với thế giới này càng ít hiểu biết, tin tưởng thứ gì đó lại càng tuyệt đối, thanh âm cực đoan lại càng vang dội, bởi vì người đó căn bản chưa từng nghe thấy quan điểm đối nghịch, và càng không có năng lực suy nghĩ.

Một người có kiến thức càng nghèo, anh ta càng có nhiều dũng khí và niềm kiêu hãnh kỳ lạ.

Bởi vì kiến thức càng nghèo, những gì bạn tin tưởng càng tuyệt đối, bạn chưa bao giờ nghe nói về quan điểm trái ngược.

Mà người chân chính có được đại trí tuệ, thì trong lòng họ có những quả đồi, thung lũng, và họ không tranh luận.

Họ hiểu rằng thay vì cố gắng giành thắng hay thua, họ nên dành thời gian để nuôi dưỡng tâm hồn của họ.

Kỳ Mai biên dịch
Triệu Lệ – aboluowang

ĐIỆP ĐỀ Ô GIANG ĐÌNH - VƯƠNG AN THẠCH


Điệp đề Ô Giang đình

Bách chiến bì lao tráng sĩ ai,
Trung Nguyên nhất bại thế nan hồi.
Giang Đông tử đệ kim tuy tại,
Khẳng vị quân vương quyển thổ lai.

Ô Giang đình: Ô Giang đình là nơi Hạng Vũ thua trận tự sát, nay thuộc trấn Ô Giang, huyện Hoà, An Huy. Theo Sử ký, Hạng Vũ bản kỷ, quân Hạng Vũ thua ở Cai Hạ, vượt vòng vây đến bến Ô Giang (bên sông Dương Tử), chỉ còn hai mươi quân kỵ đi theo. Đình trưởng Ô Giang cắm thuyền đợi, muốn chở Hạng Vũ qua sông và khuyên ông tập hợp con em Giang Đông cuốn đất lại sang. Hạng tự thấy thẹn với phụ lão Giang Đông, không qua sông, ra sức đánh rồi tự vẫn. Việc này được người sau khen, cho đây là biểu hiện khí khái của anh hùng. Nhưng theo tác giả lại khác và chỉ ra tuy Hạng thân trải trăm trận, song chỉ một trận thua ở Cai Hạ thì cục diện diệt vong đã không thể cứu vãn. Dẫu Hạng có qua Ô Giang, toan từ Giang Đông tái khởi, quyết là không thể được vì tình thế đã khác với thuở ban đầu nhất hô bá ứng để lật đổ bạo chính của nhà Tần. Tác giả rõ ràng tiến một bước sâu hơn người trước, có một nhận thức nhất định về mối quan hệ giữa thời thế với anh hùng.


疊題烏江亭

百戰疲勞壯士哀
中原一敗勢難回
江東子弟今雖在
肯為君王卷土來


Đề đình Ô Giang
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Chinh chiến trăm trận chưa thôi. 
Trung Nguyên vào thế vãn hồi chẳng xong. 
Giang Đông con cháu đang mong. 
Đất đai dành lại, được lòng quân vương.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương An Thạch 王安石 (1021-1086) tự Giới Phủ 介甫, hiệu Bán sơn lão nhân 半山老人, người Phủ Châu, Lâm Xuyên (tỉnh Giang Tây ngày nay), là một nhà văn lớn thời Bắc Tống và cũng là nhà kinh tế, chính trị lỗi lạc trong lịch sử Trung Quốc. Ông đỗ tiến sĩ năm 1041. Năm 22 tuổi (1042), ông được bổ dụng làm trợ lý cho quan đứng đầu thủ phủ tỉnh Dương Châu. Năm 1047, ông được thăng tri huyện Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang. Năm 1051, ông được sử đến Thương Châu làm Thông phán. Hết nhiệm kỳ này ông được điều về kinh đô. Năm 1057, ông làm tri châu Thương Châu, tỉnh Giang Tô. Năm 1058 ông lại được điều đi làm quan hình ngục Giang Đông, trông coi việc tư pháp và hành chính Giang Nam. Đến cuối năm này, sau 17 năm làm quan địa phương, ông đã viết một bài trình lên Tống Nhân Tông, nêu rõ các trì trệ hiện thời của Bắc Tống và nêu lên các biện pháp khắc phục, áp dụng tân pháp để cải cách chế độ kinh tế-xã hội, quân sự của nhà Tống nhưng thất bại do sự chống đối của các tầng lớp quan lại đương thời. Trải qua một thời gian dài hai đời vua Tống Nhân Tông và Tống Anh Tông, sau khi về chịu tang mẹ 3 năm ở quê nhà, ông ở lại đó và mở trường dạy học.

Nguồn: Thi Viện



NGÀY CUỐI CÙNG ĐAU ĐỚN TRONG CUỘC ĐỜI HOÀNG ĐẾ ĐƯỢC THƯƠNG XÓT NHẤT TRONG LỊCH SỬ TRUNG HOA

Trung Quốc trong lịch sử từng ghi nhận nhiều giai đoạn chuyển giao triều đại đầy bi kịch, nhưng ít có hoàng đế mất nước nào khiến người đời sau thương xót như Sùng Trinh thời nhà Minh. Những giờ phút cuối cùng của vị hoàng đế này được sử sách sau này ghi chép lại một cách chi tiết.

Sùng Trinh là hoàng đế người Hán cuối cùng cai trị Trung Hoa thống nhất. Ảnh minh họa.

Theo trang mạng Sohu, trong lịch sử Trung Hoa, hiếm có vị quân vương bại vong nào lại khiến người Trung Quốc sau này thương cảm sâu sắc như hoàng đế Sùng Trinh (tên thật: Chu Do Kiểm). Người ta kể rằng, vào đêm cuối cùng của triều Minh, ông tự mình đến điện Thái Hòa, đánh chuông triệu tập bá quan văn võ nhưng không một ai có mặt. Tất cả bỏ đi từ trước.

Ngày 19/3 năm Sùng Trinh thứ 17 (tức 25/4/1644), được sử sách mô tả như một ngày “trời long đất lở”. Từ tỉnh Thiểm Tây, Lý Tự Thành – người mà triều đình gọi là “giặc cỏ, nghịch tặc” – dẫn đại quân với nòng cốt là nông dân tràn xuống, tiến vào kinh đô Bắc Kinh. Vận mệnh của một triều đại Trung Hoa từng huy hoàng suốt gần ba thế kỷ, đến đây chấm dứt.

Đêm định mệnh trong Tử Cấm Thành

Sùng Trinh biết cơ nghiệp đã mất từ đêm hôm trước, trong Tử Cấm Thành, đèn đuốc leo lắt. Sùng Trinh khi đó 33 tuổi, gương mặt hốc hác vì những năm dài gánh vác giang sơn đã rạn nứt. Ông gọi hoàng hậu Chu thị và phi tần họ Viên đến điện Càn Thanh. Sau vài chén rượu, ông ra quyết định cuối cùng: giao Thái tử Chu Từ Lãng cùng hai vương tử là Vĩnh Vương Chu Từ Kiện và Định Vương Chu Từ Huyên cho nhà bên ngoại.

Phác họa hình ảnh đội quân nông dân của Lý Tự Thành tràn vào Tử Cấm Thành.

Chu Từ Lãng, 16 tuổi, sau này được cho là chết trong biến loạn ở Bắc Kinh. Chu Từ Kiện, 10 -11 tuổi, rời khỏi kinh thành nhưng bị giết trên đường chạy trốn cùng đoàn người. Chu Từ Huyên, 8-9 tuổi, bị lạc giữa đám đông người chạy loạn, không rõ sống chết.

Trở lại đêm hôm đó, khi mọi việc đã an bài, Sùng Trinh thở dài, nói với hoàng hậu một câu: “Đại sự thế là hết!”. Câu nói này của Sùng Trinh được chép lại trong cuốn Minh Sử do sử gia Trương Đình Ngọc chủ biên thời Thanh, được xem là bộ sử chính thức chép về nhà Minh.

Câu nói như tiếng than cuối cùng của một trong những triều đại hùng mạnh nhất lịch sử Trung Quốc. Hoàng hậu và các cung nữ quỳ xuống nức nở. Giữa tiếng khóc, Chu hoàng hậu ngẩng lên, nhìn thẳng vào chồng, nói như lời trách móc cuối cùng: “Thiếp hầu hạ bệ hạ 18 năm, nhưng chưa từng thấy người nghe lời khuyên của thiếp. Hôm nay mới biết khuyên can là vô ích”.

Nói xong, bà ôm lấy thái tử và hai hoàng tử, khóc nghẹn rồi tiễn họ đi. Đó là lần cuối cùng mẹ con còn được nhìn thấy nhau. Khi cung điện đã vắng lặng, Chu hoàng hậu trở về Khôn Ninh cung, âm thầm treo cổ tự vẫn. Sùng Trinh thấy vậy, chỉ buông tiếng than: “Tốt rồi...”.

Phi tần họ Viên – người được vua yêu quý nhất – cũng bị ép tự sát. Khi dây thừng treo cổ đứt, bà ngã xuống, chưa chết hẳn. Sùng Trinh tiến tới rút kiếm, chém ba nhát kết liễu, rồi lạnh lùng quay đi, theo Sohu.

Sùng Trinh sau đó gọi công chúa Trường Bình, khi đó 15 tuổi, đến bên. Công chúa khóc lóc van xin cha tha cho, nhưng Sùng Trinh chỉ khẽ nói: “Con sinh vào nhà ta, thật bất hạnh”. Câu nói này là phiên bản rút gọn và phổ biến hóa trong dân gian Trung Quốc, từ câu gốc trong Minh Sử: "Con thật bất hạnh khi sinh trong nhà đế vương".

Khi vua cha vung kiếm, công chúa hoảng hốt giơ tay đỡ, bị chém đứt cánh tay, nằm bất tỉnh. Em gái của công chúa cũng bị cha giết chết.

Vào thời điểm Sùng Trinh treo cổ tự tử, bên cạnh chỉ có một thái giám thân cận.

Công chúa Trường Bình là người con sống lâu nhất của Sùng Trinh. Không rõ vì lý do gì nhưng công chúa không bị cha đâm nhát kiếm kết liễu. Đến ngày hôm sau, một thái giám thấy công chúa bất tỉnh thì đưa đi chăm sóc.

Lý Tự Thành thực tế không kiểm soát Bắc Kinh được lâu. Ở vùng biên cương phía bắc, tướng nhà Minh là Ngô Tam Quế mở cửa biên giới, đón quân Thanh đánh xuống phía nam. Thủ lĩnh Hoàng Thái Cực sau khi chiếm được Bắc Kinh vào ngày 27/5/1644 thì tuyên bố thành lập triều đại mới, dần dần mở rộng sự cai trị khắp Trung Hoa.

Trong khi đó, Công chúa Trường Bình vẫn sống thêm 2 năm nữa vào thời nhà Thanh, đến năm 1646 thì qua đời khi mang thai do bệnh nặng.

Trở lại đêm ngày 24/4/1644, tiếng khóc vang vọng khắp hậu cung. Sùng Trinh trong cơn hoảng loạn, còn tự tay giết thêm vài cung nhân thân cận – như muốn chấm dứt tất cả những gì gắn với triều đại này.

Nỗ lực phản kháng bất thành

Rạng sáng ngày 25/4/1644, Sùng Trinh khoác chiến bào, xỏ nhanh ủng, tay cầm vũ khí và dẫn theo mấy chục hoạn quan mang đao rìu, cưỡi ngựa phi quanh Tử Cấm Thành. Không ai biết ông muốn làm gì: tìm đường ra khỏi kinh thành hay đánh trả quân Lý Tự Thành. Nhưng mọi lối ra đều đã bị chặn. Khi trời sáng, đoàn người thất thểu quay về cung.

Theo Sohu, những giờ phút cuối đời của Sùng Trinh được sử sách chép như sau: biết rằng mọi sự đã tận, Sùng Trinh quay sang thái giám Vương Thừa Ân, người vẫn không rời nửa bước, nói nhỏ: “Chúng ta đi thôi”.

Hai người rời cung, men theo lối sau tiến về Vạn Thọ Sơn, nay là Cảnh Sơn phía sau Tử Cấm Thành. Trên đỉnh núi có Lầu Thọ Hoàng, còn gọi là “Hồng Các” – nơi Sùng Trinh từng cho xây để huấn luyện đội quân nội vệ. Không ngờ, đó lại trở thành nơi ông chọn để kết thúc đời mình.

Trong gió lạnh mùa xuân, Sùng Trinh đứng lặng hồi lâu, rồi hỏi Vương Thừa Ân: “Trẫm đối đãi bề tôi chẳng bạc, cớ sao đến nước này, không một ai chịu chết cùng trẫm như Trình Tế thời trước?”. Trình Tế thật ra không được nhắc trong cuốn “Minh Sử” ở đoạn này, nhưng lại xuất hiện trong một số sử liệu và được người đời sau ở Trung Quốc thêm thắt vào để làm nổi bật thêm giây phút cuối cùng của Sùng Trinh.

Trình Tế là quan lại triều Minh, người chết cùng Minh Huệ Đế để tỏ lòng trung thành, khi Yên Vương Chu Đệ dấy binh tạo phản, cướp ngôi vào năm 1402.

Thừa Ân cúi đầu, không đáp. Một lúc sau, Sùng Trinh như tự biện hộ cho cả triều đình: “Chắc họ không biết, nên chưa kịp đến thôi”.

Nói dứt lời, ông bước đến gốc hải đường bên cạnh, buộc dây vào cành, siết chặt y phục rồi tự vẫn. Vương Thừa Ân quỳ xuống khóc, sau đó cũng treo cổ bên cạnh.

3 ngày sau, quân Lý Tự Thành mới phát hiện thi thể. Sùng Trinh chết trong bộ đồ rách nát, tóc xõa che mặt, chân trái không đi giày, áo dính máu, bên ngực là tờ di chiếu viết bằng máu: “Trẫm vì mất nước, không còn mặt mũi nhìn tổ tông, nên chết ở đây. Xin kẻ thù chớ hại dân, đừng giết bá quan”.

Lời cuối cùng của Sùng Trinh được các tài liệu đời sau ở Trung Quốc như “Sùng Trinh dã sử”, “Minh mạt dã thoại” hoặc “Tịch Mộ chí” phóng tác lại từ Minh Sử, làm cho mang giọng bi hùng hơn và được lan truyền rộng rãi đến ngày nay.

Người đời sau không chắc tờ di chiếu ấy có thật hay không. Nhưng hầu hết đều tin rằng, đó đúng là lời của Sùng Trinh, bởi cả đời ông luôn giữ trong lòng nỗi xót thương dân chúng, theo Sohu.

Người được hậu thế thương xót

Nơi Sùng Trinh treo cổ tự tử ở phía sau Tử Cấm Thành.

Thi hài Sùng Trinh, Chu Hoàng hậu và Điền Quý phi được Lý Tự Thành chôn tạm cùng nhau ở ngoại ô Bắc Kinh, cách khoảng 50 km, về sau gọi là Tư Lăng. Nơi an táng chỉ là một gò đất nhỏ, chôn vội trong đêm mưa bên trên dựng tạm bia gỗ ghi hai chữ “Tư Lăng”.

Năm 1659, hoàng đế Thuận Trị của triều Thanh ra lệnh tu sửa lại, chính thức phong nơi ấy là “Minh Tư Lăng”, nghĩa là lăng tưởng nhớ vua Minh.

Tư Lăng ngày nay được Trung Quốc xếp hạng di tích văn vật cấp quốc gia, nơi du khách có thể ghé thăm. Người Trung Quốc thường gọi Sùng Trinh “vị vua cô độc nhất trong lịch sử nhà Minh’ và có câu nói truyền miệng: “Mười ba vua nằm trong Thập Tam Lăng, chỉ có một người cô độc ở Tư Lăng”.

Thập Tam Lăng là quần thể an táng các vua nhà Minh, ngoại trừ Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (an táng ở Nam Kinh) và Minh Đại Tông Chu Kỳ Ngọc (bị phế, không được chôn trong Thập Tam Lăng). Thập Tam Lăng nay nằm cách Tư Lăng khoảng 8 km.

Tư lăng

Là hoàng đế người Hán cuối cùng cai trị toàn bộ Trung Quốc, Sùng Trinh vẫn được hậu thế thương cảm. Ông không sa vào tửu sắc, không phóng túng như nhiều bậc quân vương cuối triều khác. Ông cần kiệm, chăm việc triều chính, nhiều lần thân chinh dẹp loạn. Nhưng ông sinh nhầm thời. Khi ông lên ngôi, nhà Minh đã mục ruỗng: tài chính cạn kiệt, nạn đói và thiên tai khắp nơi, quan lại tham ô, quân đội tan rã.

Trong những năm trị vì, ông từng than: “Trẫm chẳng phải vua mất nước, sao lại gặp toàn chuyện của kẻ mất nước?”. Theo Sohu, câu hỏi ấy được ông mang theo xuống mồ mà chưa bao giờ có lời giải. Nhà Minh sụp đổ không chỉ vì một người, mà là kết quả của một triều đại suy tàn từ lâu.

Người dân Bắc Kinh kể rằng, sau khi Sùng Trinh chết, đêm nào cũng nghe tiếng chuông ngân vọng ra từ Tử Cấm Thành. Tiếng chuông ấy – có người nói là hồn vua chưa tan, có người nói là gió thổi vào chuông cổ. Dù thế nào, nó vẫn nhắc người đời nhớ đến bi kịch của một đế vương cố níu lấy giang sơn đã không thể cứu vãn, Sohu viết.

Đăng Nguyễn / Theo: nguoiduatin



Friday, April 10, 2026

3 THẤT BẠI ĐÁNG SỢ NHẤT SAU TUỔI 50 LÀ GÌ?

Gần đến tuổi trung niên, nhiều người thường hoang mang, lo lắng trước những thay đổi về kinh tế và cuộc sống. Tuy nhiên thất bại đáng sợ nhất sau tuổi 50 là gì? Có phải là không có tiền? hay sự nghiệp lụn bại? gia đình ly tan?


Thực sự ra tiền rất quan trọng, nhưng sau tuổi 50 thất bại đáng sợ nhất không phải là thiếu tiền, mà là 3 điều quan trọng hơn sau đây:

1. Nuôi dạy con cái không nên người là thất bại đáng sợ nhất sau tuổi 50

Thành công lớn nhất của một người trung niên chính là thành công của gia đình. Với người Á Đông thành công của một gia đình lại nằm phần lớn ở việc bồi dưỡng, giáo dục con cái. Tất nhiên thành công này không được xác định bằng việc con cái trong nhà phải được nhận vào các trường đại học danh tiếng hàng đầu, mà đó là sự khỏe mạnh về thể chất và cả tinh thần, có sự ngay thẳng và tự tin.

Đối với những người trên 50 tuổi, hầu hết con cái của họ đã bắt đầu bước vào xã hội. Quá trình tìm kiếm việc làm của các con chính là vấn đề khiến các bậc cha mẹ lo lắng. Lo cho con không có học vấn cao, không có bằng cấp từ các trường “xịn”, không có quan hệ để dựa dẫm, nhờ vả sẽ bị chèn ép hay thậm chí lo họ sẽ không chống chọi được với những cám dỗ của cuộc đời… Tất cả đều là những nỗi lo thường trực trong lòng mỗi bậc phụ huynh.

Có người lúc này mới hối hận vì trước kia chỉ mải lo công việc kiếm tiền mà bỏ bê gia đình, không dành nhiều tâm huyết cho việc nuôi dạy con cái. Bây giờ, khi các con đã khôn lớn và định hình tính cách, dù họ muốn can thiệp hay thay đổi cũng đã muộn.

Nếu bạn không dạy con mình, cuối cùng, xã hội sẽ dạy chúng theo cách nghiêm khắc hơn hơn. Chính vì lẽ đó, nuôi dạy con cái không nên người trở thành một trong những thất bại đáng sợ nhất sau tuổi 50.


2. Sự nghiệp như trống không cũng là điều đáng sợ

Tam thập nhi lập, tứ thập bất hoặc, ngũ thập tri thiên mệnh. Đời người ai không muốn công thành danh toại. Nếu có thể, ai mà không muốn làm ra thành tựu, không để lại bất cứ tiếc nuối gì trong cuộc đời ngắn ngủi mấy chục năm của mình.

Từ thời thiếu niên vô tư, chuyển sang một thanh niên đầy nhiệt huyết, rồi dần dần trở về với cuộc sống trung niên bình lặng, đó là những giai đoạn bắt buộc của cuộc sống. Ở mỗi một giai đoạn, chúng ta đều không ngừng đưa ra những sự lựa chọn.

Mỗi sự lựa chọn lại dẫn tới một kết quả hoàn toàn khác nhau. Để đến cuối cùng, có người gặt hái thành tựu để đời , có người tích góp được một phần gia sản cho con cháu về sau, nhưng cũng có không ít người trở về với hai bàn tay trắng.

Có người từng nói: “Khi còn trẻ, chúng ta luôn mơ ước được thay đổi thế giới, đến cuối cùng, chúng ta chỉ muốn thay đổi bản thân mình”. Sau tuổi 50 thất bại đáng sợ nhất là trong quá trình theo đuổi ước mơ, chúng ta đã không nắm bắt được phương hướng và mức độ đúng đắn. Cuối cùng, kết quả nhận lại chỉ như “dã tràng xe cát biển Đông”. Nỗ lực và bận rộn cả đời nhưng vẫn phải trở lại vạch xuất phát.

Không nói đến sự nghèo nàn, túng thiếu về mặt kinh tế ở tuổi già khiến người ta bi ai, mà điều khiến người ta cảm thấy đáng sợ hơn cả là cảm xúc thất vọng về bản thân mình.

Nhiệt huyết tuổi trẻ khiến bạn có thể đứng lên hết lần này tới lần khác sau vô số thất bại. Nhưng khi đã bước vào giai đoạn trung niên, không phải ai cũng có dũng khí để tiếp tục mạo hiểm.


3. Không có chỗ dựa tinh thần cũng là một thất bại lớn

Càng lớn tuổi, người ta càng cần có người tri kỷ sẵn lòng ở bên làm bạn, quan tâm và chăm sóc lẫn nhau, họ mới không cảm thấy cô đơn trong những tháng ngày sắp qua buổi xế chiều.

Một người già hạnh phúc là người có con cháu chăm lo, có người bạn đời bên cạnh và may mắn có thêm người bạn thân tri kỷ cùng đồng hành những ngày tháng tuổi già. Sở hữu được 1 điều đã không dễ, chưa kể là cả 3 điều trên. Do đó, nếu đang có được niềm hạnh phúc này, chúng ta cần phải hết sức trân trọng.

Nhưng điều tưởng chừng đơn giản này không phải ai cũng có thể làm được. Rất nhiều người từng nóng giận mất khôn hoặc bị cảm xúc nhất thời lấn át, sau đó phạm sai lầm. Những quyết định không đúng không chỉ làm tổn thương mọi người xung quanh, mà còn bao gồm chính bản thân họ. Sự cô đơn và thiếu vắng chỗ dựa cảm xúc chính là một trong những điều thất bại đáng sợ nhất khi họ bước vào tuổi trung niên .

Điều quan trọng nhất là những người đang hiện hữu xung quanh, sẵn sàng dành sự quan tâm, yêu thương và ấm áp cho mình. Ở vào giai đoạn này, chẳng còn gì phải dè chừng hay nghi ngại, chẳng còn gì phải tranh cướp hay ganh ghét, mọi thứ chỉ còn là đồng cảm và sẻ chia.

Ở tuổi này, chúng ta đã đi được nửa chặng đường đời, nên học cách sống an yên và chấp nhận. Những người không thể buông tay, những điều không thể buông bỏ khi còn trẻ thì cũng nên qua đi.


Qua tuổi 50, nghĩa là sẽ sang một giai đoạn mới trong đời người

Quá khứ người ta có thể trải qua rất nhiều thất bại, có thất bại đã vượt qua, cũng có những thất bại vẫn là nỗi ám ảnh trong tâm lý. Nhưng đã tới giai đoạn 50 này, điều gì cần buông bỏ thì hãy mạnh dạn mà làm. Cho dù cuộc sống tầm thường và tẻ nhạt thì quan trọng hơn, sự tĩnh lặng và yên bình trong nội tâm mới là điều đáng quý.

Mỗi người đều có một số phận riêng. Sau những bôn ba tranh đấu, khi đến tuổi trung niên người ta mới nhận ra điều này. Tất nhiên người không có được sự đủ đầy về vật chất lẫn tinh thần sẽ rơi vào sự buồn phiền lo lắng, nhưng người sung túc tiền tài vật chất liệu có thể không lo âu.

Tuổi tác sẽ luôn đi kèm với bệnh tật, sinh tử. Xưa nay mấy ai thoát được khỏi vòng đời tử sinh. Lo cũng vậy mà không muốn lo cũng vậy. Ai mà không phải đối diện với những ngày tháng này. Tuy nhiên hòa mình với đất trời, thấu hiểu đạo đời lại là một giải pháp hay.

Phong Trương / Theo: Trithuctre

DARUMA - LINH HỒN CỦA NIỀM TIN VÀ SỰ KIÊN TRÌ TRONG VĂN HÓA NHẬT BẢN

Khám phá bí ẩn đằng sau búp bê Daruma, biểu tượng của may mắn và sức mạnh ý chí ở Nhật Bản. Điều gì khiến nó không chỉ là một món đồ chơi mà còn là nguồn cảm hứng bất tận cho mỗi quyết tâm và hành trình đặc biệt trong cuộc sống của người Nhật từ thế kỷ 17 đến tận ngày nay?


Trong cái lạnh se se của những ngày cuối năm, trên các con phố nhỏ hẹp và yên bình ở Nhật Bản, ánh đèn le lói tỏa ra từ những cửa hàng nhỏ làm ấm lòng người qua đường. Và nếu bạn đủ tinh ý, bạn sẽ nhận ra hình dáng tròn trịa, màu sắc rực rỡ của những búp bê Daruma - người bạn đồng hành với người Nhật trong suốt năm đã qua, và cả năm sắp tới.

Hành trình của Đạt Ma - Khoảnh khắc tĩnh lặng trong thế giới hối hả

Thế kỷ 17, khi Nhật Bản còn đang ngập tràn trong nền văn hóa samurai, một biểu tượng khác cũng bắt đầu lấn át với ý nghĩa phong phú và sâu sắc - đó chính là Daruma. Hình ảnh của Bồ Đề Đạt Ma - vị thiền sư Ấn Độ nổi tiếng, được người Nhật tôn vinh qua những búp bê này. Với lông mày hình cánh hạc và râu giống hình con rùa, Daruma không chỉ đơn thuần là một búp bê, mà còn là sự thể hiện của triết lý sống - một cuộc hành trình của sự kiên nhẫn và ý chí.

Hình ảnh của Bồ Đề Đạt Ma - vị thiền sư Ấn Độ nổi tiếng, được người Nhật tôn vinh qua những búp bê này. Ảnh: Egenolfgallery

Nghệ thuật làm búp bê Daruma - Từ bàn tay nghệ nhân đến trái tim người nhận

Nakata là một trong những nghệ nhân daruma uy tín ở Takasaki. Ông đã biến nó thành lẽ sống của mình để duy trì nghề thủ công này. Tại Daimonya, xưởng của ông, Nakata tạo ra những con búp bê có kích thước phức tạp nhất, được sơn màu đỏ son, vàng và đen tuyền tuyệt đẹp, khắc trên chúng những nét thư pháp tượng trưng cho “vận may”, “sự kiên trì” hoặc một tình cảm tích cực không kém khác. Ảnh: Tokyoandaroundtokyo

Để tạo nên một búp bê Daruma, người nghệ nhân phải trải qua 18 bước thủ công không những đòi hỏi sự tỉ mỉ mà còn cả sự kiên trì không kém. Từng lớp giấy bồi được gấp, dán, và sơn màu - mỗi bước đều phải được thực hiện với sự cẩn thận đến từng chi tiết nhỏ. Đỏ là màu truyền thống, nhưng cũng như cuộc sống với nhiều lựa chọn và ước mơ, Daruma cũng vậy, nó mang trên mình nhiều màu sắc với những ý nghĩa khác nhau.

Búp bê không mắt và một thông điệp ý nghĩa

Đặc biệt nhất, có lẽ, là đôi mắt trống rỗng của Daruma. Không phải là thiếu sót, mà là một thông điệp: "Khi bạn có mục tiêu, hãy bắt đầu vẽ lên một bên mắt". Và khi bạn hoàn thành mục tiêu đó, "hãy vẽ nốt bên mắt còn lại". Đó là cách mà người Nhật "nhìn thấy" và nhắc nhở bản thân không ngừng tiến bước về phía trước.

Khi bạn có mục tiêu, hãy bắt đầu vẽ lên một bên mắt". Và khi bạn hoàn thành mục tiêu đó, "hãy vẽ nốt bên mắt còn lại"

Sự vững vàng của Daruma - Câu chuyện về sự kiên cường

Daruma có khả năng giữ thăng bằng tốt, biểu tượng của câu thành ngữ "nana korobi ya oki" (bảy lần ngã, tám lần đứng dậy) phản ánh triết lý của người Nhật. Dù cuộc sống có xô đẩy bạn ra sao, hãy luôn đứng dậy và tiếp tục đi.

Hōrin-ji là một ngôi chùa Phật giáo nhỏ của trường Rinzai Zen Myōshin-ji, nằm trong một khu phố yên tĩnh ở phía tây bắc Kyoto. Được biết đến nhiều hơn với cái tên Daruma-dera, điểm thu hút chính của ngôi chùa này là bộ sưu tập đáng kinh ngạc gồm khoảng 8.000 búp bê daruma được quyên góp. Ảnh: Discoverkyoto

Màu sắc và mong ước - Sự đa dạng của hy vọng

Mỗi màu sắc của Daruma đại diện cho một mong ước khác nhau: tím cho sức khỏe, vàng cho bình an, vàng kim cho tiền tài, trắng cho tình duyên. Như vậy, không chỉ là một lời chúc phúc, Daruma còn là người bạn đồng hành cùng những mong ước cá nhân sâu sắc nhất.


Phong tục Tết và Daruma - Một nghi lễ linh thiêng

Khi Tết đến, người Nhật lại tìm đến Daruma như một phần không thể thiếu của nghi lễ. Mua một búp bê mới, cầu nguyện cho một năm mới thành công rực rỡ, và đem những búp bê cũ đến chùa để đốt - một cách để bày tỏ lòng biết ơn và sẵn sàng cho khởi đầu mới.

Chợ Shirakawa Daruma được tổ chức hàng năm vào ngày 11 tháng 2. Vào ngày này, các con phố trải dài 1,5 km với các gian hàng bán Daruma đủ hình dạng và kích cỡ. Khu chợ sôi động, sôi động này tôn vinh văn hóa và lịch sử của Shirakawa Daruma. Ảnh: fukushima.travel

Lễ hội Daruma Kuyo - Nơi hồn của Daruma được giải thoát

Tại các ngôi chùa lớn, nghi lễ Daruma Kuyo được tổ chức, hàng nghìn búp bê Daruma cũ được đốt chung trong lửa lớn, tiễn biệt những điều ước cũ và những thất bại của năm cũ, để rồi từ tro tàn, hy vọng mới lại được nuôi dưỡng.

Hàng nghìn búp bê Daruma cũ được đốt chung trong lửa lớn, tiễn biệt những điều ước cũ và những thất bại của năm cũ.

Daruma không chỉ đơn giản là một búp bê. Nó là sự sống động của niềm tin, là ngọn lửa của quyết tâm, là đồng minh trong mỗi thử thách, và là nhân chứng cho sự kiên trì không ngừng của con người. Trong thế giới hiện đại ngày nay, Daruma vẫn không ngừng nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự bền bỉ và niềm tin vào tương lai tốt đẹp hơn.

Hãy để mỗi Daruma bạn gặp là một câu chuyện, một hành trình, một ước nguyện mà bạn dám vẽ nên - bằng ý chí, sự kiên trường và lòng tin không bao giờ tắt.

Minh Hieu / Theo: TravelSig+



ĐỀ THU GIANG ĐỘC ĐIẾU ĐỒ - VƯƠNG SĨ TRINH


Đề thu giang độc điếu đồ

Nhất thoa nhất lạp nhất biển chu,
Nhất trượng ty luân nhất thốn câu.
Nhất khúc cao ca nhất bôi tửu,
Nhất nhân độc điếu nhất giang thu.


題秋江獨釣圖

一蓑一笠一扁舟
一丈絲綸一寸鉤
一曲高歌一杯酒
一人獨釣一江秋


Đề tranh mùa thu câu cá một mình
(Dịch thơ: Nguyễn Quê)

Một tơi, một nón, một bè lau 
Một trượng dây tơ, một móc đầu 
Một khúc ca rền ly rượu một 
Một sông, một khách, một cần câu


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương Sĩ Trinh 王士禎 (1634-1711) nguyên tên Sĩ Chân 士禛, tự Tử Chân 子真, Di Thượng 貽上, hiệu Nguyễn Đình 阮亭, Ngư tiên sơn nhân 漁洋山人, sinh năm Sùng Trinh thứ 7 (1634) nhà Minh, người Tân Thành, Sơn Đông. Ông đậu tiến sĩ năm Thuận Trị thứ 12 (1655) nhà Thanh, để lại những tập thơ như Ngư Dương tập, Thục đạo tập, Nam Hải tập,...

Nguồn: Thi Viện



LƯƠNG THIỆN - ÁNH SÁNG THUẦN KHIẾT NHẤT

Có một loại ánh sáng không đến từ mặt trời, cũng chẳng tỏa ra từ đèn đuốc, mà chỉ có thể rực rỡ trong lòng người, đó là ánh sáng của lòng lương thiện. Nó không phô trương, không ồn ào, mà lặng lẽ lan tỏa, chạm đến trái tim người khác theo cách tự nhiên nhất.


Lương thiện không phải là yếu đuối, mà là dũng khí của trái tim.

Có người từng hỏi: “Giữa một thế giới phức tạp, lòng tốt có bị xem là khờ dại không?”

Nhưng lương thiện không đồng nghĩa với dễ dãi, không phải là sự nhu nhược để người khác lợi dụng. Thực ra, để giữ được sự lương thiện giữa cuộc đời đầy thử thách, cần một trái tim mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Bởi vì dễ dàng oán hận hơn là bao dung. Dễ dàng thờ ơ hơn là đưa tay giúp đỡ. Dễ dàng phán xét hơn là thấu hiểu.

Nhưng người lương thiện luôn chọn con đường khó hơn, con đường của yêu thương và nhẫn nại.

Họ không ngây thơ đến mức không biết những mưu mô, nhưng vẫn chọn tin vào phần tốt đẹp trong con người. Không phải vì họ không sợ tổn thương, mà vì họ biết: Khi lòng mình không bị vấy bẩn bởi oán giận, thì dù thế gian có đổi thay thế nào, họ vẫn giữ được sự bình yên bên trong.


Lương thiện là một sự lựa chọn, không phải là một điều kiện

Có người chỉ lương thiện khi gặp người tốt. Có người chỉ tử tế khi được đối xử tử tế. Nhưng lòng lương thiện chân chính không phải là một món quà trao đổi, mà là một giá trị tự thân.

Giống như một bông hoa nở giữa vùng đất cằn cỗi, nó không chờ đợi ai tưới tắm mà vẫn vươn lên rực rỡ. Người lương thiện không làm điều tốt để nhận lại sự biết ơn, cũng không vì mong được đối xử tốt, mà chỉ đơn giản vì đó là con người họ.

Họ vốn biết rõ, lòng tốt có thể không được đáp lại, nhưng vẫn xứng đáng được trao đi. Có thể không ai nhớ đến, nhưng bản thân họ luôn biết rằng, mình đã sống một đời trọn vẹn và đẹp đẽ.

Lương thiện chính là ánh sáng âm thầm nhưng vĩnh cửu

Thế giới này có thể không hoàn hảo, nhưng mỗi lòng tốt nhỏ bé đều góp phần làm nó tốt đẹp hơn một chút. Giống như ngọn nến lặng lẽ thắp lên trong đêm tối, chúng ta có thể không xua tan được bóng đêm, nhưng có thể giúp nhau nhìn rõ hơn con đường phía trước.

Và rồi, khi ngoảnh lại, chúng ta sẽ thấy:

Không phải tiền bạc, danh vọng hay địa vị, mà chính sự lương thiện mới là thứ giúp ta thanh thản nhất khi đặt tay lên ngực mình và hỏi: “Ta đã sống một cuộc đời đáng giá hay chưa?”

Nguyên Tác An Hậu
An Nhiên / Theo: vandieuhay

Thursday, April 9, 2026

HÀN PHI VIẾT QUYỂN "BÍ KIẾP" CAI TRỊ NƯỚC: TẦN THỦY HOÀNG THÍCH THÚ ÁP DỤNG TRIỆT ĐỂ

Quyển "sách giáo khoa" của Hàn Phi đã giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất và cai trị tốt Trung Hoa.

Dù phải chết vì một âm mưu chính trị mà không có cơ hội được bào chữa, Hàn Phi đã để lại những tác phẩm, tiêu biểu là "Hàn Phi Tử" có triết lý cai trị giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa lần đầu tiên trong lịch sử.

Hàn Phi (280 TCN - 233 TCN) là một bậc thầy về Pháp trị, là con trai của vua An nước Hàn, sống ở thời Xuân Thu Chiến Quốc, cũng là giai đoạn Tần Thuỷ Hoàng đang thống nhất Trung Hoa.

TẦN THỦY HOÀNG KHAO KHÁT GẶP HÀN PHI

Hàn Phi (280 TCN - 233 TCN) là học giả nổi tiếng Trung Quốc theo trường phái Pháp trị, tác giả sách Hàn Phi tử. Ảnh: JoongAng Ilbo

Tương truyền, có người muốn dâng sách của Hàn Phi lên cho Tần Thuỷ Hoàng. Dù cùng là học trò của Tuân Tử nhưng Lý Tư vô cùng cảnh giác với Hàn Phi, người được cho là vượt trội hơn nhiều về trí tuệ và hiểu biết.

Có lẽ vì vậy nên Lý Tư đã tìm cách ngăn cản Tần Thủy Hoàng tiếp cận được quyển sách đó. Tuy vòng vèo mãi nhưng cuối cùng sách Hàn Phi Tử cũng đến tay Tần Thủy Hoàng.

Tần Thủy Hoàng sau khi đọc xong quyển Cô phẫn và Ngũ đố (Hàn Phi Tử), nói: "Ôi! Nếu ta có thể gặp gỡ người đã viết ra tác phẩm này thì có chết cũng không còn hối hận gì." Lý Tư đáp: "Cuốn sách này là sách do Hàn Phi viết đấy ạ."

Nghe vậy, Tần Thủy Hoàng rất thán phục và luôn ước ao được gặp Hàn Phi, đến nỗi Lý Tư không còn cách nào khác ngoài dùng thủ đoạn, xui Tần Thủy Hoàng điều động quân đến bao vây nước Hàn, cho rằng nếu làm như vậy, vua Hàn buộc phải cử người thông minh nhất nước, là Hàn Phi, đi làm sứ giả. Cuối cùng, kế dụng hàng trăm ngàn quân đã thành công, Tần Thủy Hoàng đã gặp mặt được Hàn Phi.

Sau này, Tần Thủy Hoàng đã chấp nhận triết lý cai trị của Hàn Phi và thống nhất Trung Hoa. Theo tác giả Nguyễn Hiến Lê trong Sử Trung quốc, cái học của Hàn Phi vẫn được thi hành ở Tần và giúp Tần Thủy Hoàng hoàn thành được công việc thống nhất Trung Quốc, lập chế độ quân chủ chuyên chế thay chế độ phong kiến. Trong thời kỳ của Hàn Phi, các học thuyết của Khổng, mặc dù đã thất bại trong việc cứu vãn thời thế, Hàn Phi đã thành công nhờ dùng trọn các thuyết của Pháp trị, theo đó đề cao luật pháp nghiêm minh, các hình phạt hà khắc, và sử dụng gián điệp.

MƯU KẾ HÈN HẠ

Chân dung Hàn Phi (280 TCN - 233 TCN) và cuốn sách Hàn Phi tử. Ảnh: Weekly Chosun

Hàn Phi là người giỏi lý luận, tư duy có logic, văn hay chữ tốt và có khả năng dự đoán tương lai; nhưng theo "Sử ký" của Tư Mã Thiên, điểm yếu của ông là không giỏi ăn nói, mắc tật nói lắp. Đó là một bất lợi mang tính quyết định khi không thể diễn thuyết như nhiều nhà tư tưởng đương thời.

Tuy ganh ghét nhưng Lý Tư cảm thấy nhẹ nhõm khi thấy Vua Tần, sau nhiều mong chờ được gặp và trò chuyện, lại thấy thất vọng, giảm tín nhiệm đặt vào Hàn Phi. Lý do có thể là vì những điểm yếu trong việc ăn nói này.

Dù vậy, Hàn Phi đã dùng cách viết để truyền đạt những ý kiến sắc sảo ​​của mình với nhà vua. Lo sợ Vua Tần sẽ khám phá ra cái tài thật sự của Hàn Phi, sợ rằng Hàn Phi sẽ đe dọa vị trí của mình, Lý Tư và Diêu Giả đã âm mưu với Vua Tần vu cho Hàn Phi tội phản quốc.

Lý Tư đã âm mưu với Vua Tần rằng: "Không đời nào Hàn Phi không có thù oán với nhà Tần. Nếu nhà vua không có ý định sử dụng hắn, xin hãy gửi hắn về nước Hàn."

Tần Thủy Hoàng cho là phải, nói: "Nếu như gửi lại, chẳng phải giống như thả con hổ khó bắt về rừng sao? Chi bằng lấy cớ làm trái pháp luật mà giết đi."

Vua Tần giao cho quan lại trị tội Hàn Phi vì tội phản quốc. Lý Tư sai người đưa thuốc độc, khiến Hàn Phi phải tự sát.

Dù phải chết vì một âm mưu chính trị mà không có cơ hội được bào chữa, nhưng Hàn Phi đã để lại những tác phẩm có triết lý cai trị giúp Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa lần đầu tiên trong lịch sử.

"SÁCH GIÁO KHOA DẠY LÀM VUA"

Tần Thủy Hoàng được coi là vị vua đầu tiên áp dụng Học thuyết Pháp trị do Hàn Phi viết về cách để trị nước.

Hàn Phi Tử được xem là cuốn sách chứa "Học thuyết của Đế Vương", hay là "cuốn sách giáo khoa dạy làm vua" độc đáo, mang đậm dấu ấn của chế độ phong kiến Phương Đông. Qua tác phẩm, tác giả đã chính thức khai sinh học thuyết Pháp trị, đề cao pháp luật với tư cách là công cụ quan trọng, hữu hiệu nhất trong việc bình ổn xã hội.

Tư tưởng của Hàn Phi Tử khác với tư tưởng của Nho giáo (vốn cho rằng để quản lý xã hội thì dùng Nhân trị và Đức trị), đề cập rằng cách tốt nhất để quản lý xã hội là dùng pháp luật: "Pháp luật không hùa theo người sang. [...] Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh của kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót của kẻ thất phu".

Trong Hàn Phi Tử, Hàn Phi đưa ra lập luận rất chặt chẽ và sắc sảo, sử dụng rất nhiều dẫn chứng, trong đó các dẫn chứng là chuyện đương thời chứ không phải chuyện xa xôi, nên sức thuyết phục rất mạnh.

Theo cách nói ngày nay, Hàn Phi là một nhà tư tưởng có cả khuynh hướng cánh hữu và cánh tả. Hệ tư tưởng của ông hoàn toàn hướng tới việc củng cố quyền lực của quân vương. Hàn Phi đưa ra quan điểm trong "Hữu độ" về sự thăng trầm của đất nước: "Không có quốc gia nào luôn mạnh hay luôn yếu. Người dân càng tự giác tuân theo pháp luật, đất nước càng mạnh; còn ý thức tuân theo pháp luật của người dân càng kém, thì đất nước càng yếu."

Theo: Pháp Luật & Bạn Đọc

TẠI SAO RẤT NHIỀU NƠI TRÊN THẾ GIỚI ĐỀU CÓ ĐIỂM CHUNG LÀ CHÔN CẤT NGƯỜI QUÁ CỐ TRONG QUAN TÀI?

Chôn cất truyền thống với quan tài đã tồn tại hàng nghìn năm, song không phải là giải pháp hoàn hảo khi xét đến tác động môi trường và sức khỏe cộng đồng. Với những lựa chọn thay thế như hỏa táng và phân trộn đang ngày càng phổ biến, liệu chúng ta có thể từ bỏ quan tài và thay đổi cách thức chôn cất để giảm thiểu tác động tiêu cực, đồng thời vẫn giữ trọn vẹn ý nghĩa trang trọng cho người đã khuất?


Trong hàng nghìn năm, nghi lễ chôn cất đã là cách loài người đối mặt với cái chết và vĩnh biệt những người thân của mình. Tuy nhiên, chôn cất truyền thống thường đi kèm với quan tài và các phụ kiện khác lại không phải là giải pháp hoàn hảo tại nhiều nơi ở thời điểm hiện tại. Tại Mỹ, khoảng 404.685 ha đất hiện đang được dành cho nghĩa trang, trong khi sản xuất quan tài tiêu thụ khoảng 1,6 triệu ha rừng mỗi năm.

Điều gì sẽ xảy ra nếu bỏ qua việc sử dụng quan tài, và tại sao người ta lại cần quan tài để chôn cất thay vì chỉ đặt thi thể trực tiếp vào lòng đất?

Trên khắp thế giới, việc sử dụng quan tài trong các nghi lễ tang lễ là một phong tục có từ lâu đời, phản ánh niềm tin và văn hóa đặc trưng của từng cộng đồng. Quan tài không chỉ là một vật dụng để bảo quản thi hài trước khi an táng hoặc hỏa táng mà còn là biểu tượng của sự tôn kính đối với người đã khuất.

Một trong những lý do quan trọng để dùng quan tài trong chôn cất là sự tiện lợi và trang nghiêm. Quan tài không chỉ là vật chứa thi thể mà còn tạo không gian an toàn để các thành viên trong gia đình có thể tiễn biệt người đã khuất. Nếu chỉ dùng túi đựng thi thể, dù thực dụng, nhưng cảm giác trân trọng và tôn vinh sẽ bị giảm đi đáng kể.

Quan tài mang lại khả năng xử lý thi thể một cách gọn gàng, chắc chắn, giúp cho những người đưa tang không phải đối mặt với mùi phân hủy tự nhiên của cơ thể. Việc đóng kín của quan tài còn giúp giảm bớt các phản ứng không mong muốn trong quá trình di chuyển và chôn cất.

Việc sử dụng quan tài còn giúp bảo vệ môi trường xung quanh khu vực chôn cất, ngăn chặn sự phân hủy của thi thể tiếp xúc trực tiếp với đất và nước, mặc dù vẫn chưa có bằng chứng khoa học cụ thể để xác minh điều này. Phong tục chôn cất theo địa táng, hay còn gọi là thổ táng, là phương pháp phổ biến ở Việt Nam và nhiều nước phương Đông, thực hiện bằng cách đặt thi thể trong quan tài và sau đó đưa xuống huyệt mộ. Trong quá trình này, gia đình và người thân thực hiện nghi lễ và đặt vật dụng kỷ niệm vào trong quan tài, thể hiện sự gắn bó và tôn trọng đối với người đã mất.

Khi qua đời, cơ thể con người trở thành môi trường lý tưởng cho vi khuẩn phát triển, bao gồm những loại vi khuẩn mà hệ miễn dịch đã kìm hãm trước đó. Một số bệnh như lao, dịch tả và bệnh xuất huyết có thể tồn tại trong thi thể sau khi tử vong, và chúng có khả năng lây nhiễm cao đối với những ai thường xuyên tiếp xúc với người đã khuất. Do đó, trong một số trường hợp, người ta buộc phải dùng quan tài kín hoặc niêm phong đặc biệt để ngăn chặn sự lây lan của bệnh. Quan tài lót chì đã trở thành truyền thống trong hoàng gia Anh kể từ thời vua William the Conqueror, nhằm hạn chế nguy cơ nhiễm bệnh và bảo vệ thi thể.

Cũng có những quan niệm khác về việc sử dụng quan tài, như tại một số nơi, quan tài được đóng đinh để ngăn chặn hiện tượng tráo xác hoặc ma nhập.

Trong tự nhiên, quá trình phân hủy diễn ra nhanh chóng nhờ sự tham gia của hệ sinh thái với hàng loạt các loài sinh vật từ vi khuẩn đến động vật ăn xác thối. Tuy nhiên, nếu chôn cất người chết mà không sử dụng quan tài và chỉ đắp một lớp đất mỏng bên trên, cơ thể sẽ sớm bị "khai quật" do sự hoạt động của côn trùng, chim, và động vật ăn xác như cáo, chó sói, hay chim kền kền.

Sâu bọ như ruồi nhặng có thể đào xuống sâu để tiếp cận thi thể và đẻ trứng, đẩy nhanh quá trình phân hủy và làm rải rác hài cốt. Ngay cả chó nhà cũng có thể bị thu hút bởi xương người đã được chôn cất nông và gây ra những tình huống khó xử.

Trong nhiều nền văn hóa, người ta thường gửi những đồ vật quý giá cùng người đã khuất, điều này tạo cơ hội cho những kẻ trộm mộ. Các quan tài không chỉ là nơi bảo vệ thi thể mà còn là lớp rào chắn ngăn ngừa sự đột nhập của những kẻ trộm và những tay săn xác. Đặc biệt, trong thế kỷ 18 và 19, khi nhu cầu nghiên cứu khoa học tăng cao, tình trạng trộm xác diễn ra phổ biến, thúc đẩy nhiều gia đình bảo vệ ngôi mộ của người thân bằng các thiết bị an ninh như ngư lôi quan tài – thiết bị được phát minh để ngăn chặn các tay trộm táo tợn.


Ngày nay, có nhiều lựa chọn có thể thay thế được việc chôn cất truyền thống và đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường và ngăn ngừa việc sử dụng tài nguyên một cách lãng phí. Các phương pháp như hỏa táng, thủy táng và thậm chí là biến thi thể thành một dạng dưỡng chất cho đất đang dần phổ biến. Những phương pháp này không chỉ tiết kiệm tài nguyên mà còn giúp người chết trở thành một phần hữu ích của vòng đời tự nhiên. Trong tương lai, xu hướng này có thể sẽ phát triển mạnh mẽ, thay thế dần các phương thức truyền thống.

Chôn truyền thống cất không còn là lựa chọn duy nhất và đôi khi quan tài cũng có thể không cần thiết, nhưng sự thay đổi này cần cân nhắc dựa trên yếu tố văn hóa, sức khỏe và môi trường. Khi chúng ta bước vào kỷ nguyên mới, với những tiến bộ trong công nghệ và tư duy về cái chết, quan niệm về việc vĩnh biệt người thân cũng đang dần thay đổi.

Đức Khương / Theo: thanhnienviet

DẠ TÚC SƠN TỰ - LÝ BẠCH


Dạ túc sơn tự - Lý Bạch

Nguy lâu cao bách xích,
Thủ khả trích tinh thần.
Bất cảm cao thanh ngữ,
Khủng kinh thiên thượng nhân.


夜宿山寺 - 李白

危樓高百尺
手可摘星辰
不敢高聲語
恐驚天上人


Đêm trú ở chùa trên núi
(Dịch thơ: Chi Nguyen)

Lầu cao trăm trượng nơi đây.
Một tay ta với trời đầy trăng sao.
Biết rằng chốn ấy thanh cao.
Chớ làm kinh động Thiên Tào biết không ?.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lý Bạch 李白 (701-762) tự Thái Bạch 太白, hiệu Thanh Liên cư sĩ 青蓮居士, sinh ở Tứ Xuyên (làng Thanh Liên, huyện Chương Minh, nay là huyện Miện Dương). Quê ông ở Cam Túc (huyện Thiên Thuỷ - tức Lũng Tây ngày xưa). Lý Bạch xuất thân trong một gia đình thương nhân giàu có. Lúc nhỏ học đạo, múa kiếm, học ca múa, lớn lên thích giang hồ ngao du sơn thuỷ, 25 tuổi “chống kiếm viễn du”, đến núi Nga My ngắm trăng, ngâm thơ rồi xuôi Trường Giang qua hồ Động Đình, lên Sơn Tây, Sơn Đông cùng năm người bạn lên núi Thái Sơn “ẩm tửu hàm ca” (uống rượu ca hát), người đời gọi là Trúc khê lục dật. Sau đó được người bạn tiến cử với Đường Minh Hoàng, ông về kinh đô Trường An ba năm, nhưng nhà vua chỉ dùng ông như một “văn nhân ngự dụng” nên bất mãn, bỏ đi ngao du sơn thuỷ.

Nguồn: Thi Viện



RUỘNG BẬC THANG NGUYÊN DƯƠNG - DI SẢN VĂN HÓA HANI ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN

Ruộng bậc thang Nguyên Dương luôn khiến du khách choáng ngợp ngay từ khoảnh khắc đầu tiên. Trên những sườn núi uốn lượn của Vân Nam, hàng nghìn thửa ruộng xếp tầng như những dải lụa phản chiếu trời mây, biến đổi màu sắc theo từng mùa. Đây không chỉ là nơi ngắm bình minh đẹp bậc nhất Trung Quốc, mà còn là vùng đất kể câu chuyện của người Hani, những người đã gìn giữ và tạo dựng nên cảnh quan kỳ vĩ này qua hàng trăm năm. Chỉ cần đứng giữa biển ruộng, giữa sương mù và ánh sáng lấp lánh, bạn sẽ hiểu vì sao Nguyên Dương luôn nằm trong danh sách những “bức tranh thiên nhiên” phải đến ít nhất một lần.


1. Giới thiệu đôi nét về Ruộng bậc thang Nguyên Dương

Ruộng bậc thang Nguyên Dương thuộc huyện Nguyên Dương của châu Hồng Hà, Vân Nam, là phần lõi của quần thể ruộng bậc thang Hani nổi tiếng, nơi được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Cảnh quan. Trên những triền núi trải dài hàng nghìn héc-ta, ruộng được xếp tầng lớp như những đường cong mềm ôm lấy sườn đồi, tạo nên một “kỳ quan nông nghiệp” hiếm nơi nào có được. Mỗi thửa ruộng phản ánh kỹ thuật canh tác tinh tế của người Hani, những cư dân đã sống cùng đất và nước suốt nhiều thế hệ để tạo nên một hệ sinh thái bền vững.


Cảnh quan ở Nguyên Dương thay đổi theo mùa, mỗi thời điểm lại mang một vẻ đẹp rất khác. Vào mùa đổ nước khoảng tháng 11 đến tháng 3, mặt ruộng như những tấm gương lớn, phản chiếu ánh bình minh và sắc mây tạo thành khung cảnh mờ ảo đầy cuốn hút. Mùa hè mang lại sắc xanh non mềm mại khi lúa bắt đầu lên, còn mùa thu là bức tranh vàng óng khi lúa chín rộ. Chính sự biến hóa này khiến Nguyên Dương trở thành “thiên đường của nhiếp ảnh gia”, điểm đến mà ai yêu cảnh sắc tự nhiên đều muốn đến một lần.


Những điểm ngắm nổi bật như Duoyishu, Bada hay Laohuzui cũng góp phần làm nên thương hiệu cho Nguyên Dương. Duoyishu nổi tiếng với khoảnh khắc mặt trời ló rạng qua biển ruộng bạc sáng, trong khi Laohuzui có địa hình dốc và đường cong mạnh, tạo hiệu ứng hoàng hôn rực rỡ. Ẩn giữa những thửa ruộng là các bản làng Hani truyền thống, nơi du khách có thể nhìn thấy nhịp sống mộc mạc, kiến trúc nhà đất đặc trưng và những tập tục canh tác vẫn được giữ nguyên từ đời này sang đời khác. Tất cả tạo thành một bức tranh văn hóa, thiên nhiên vừa hùng vĩ, vừa gần gũi.

2. Lịch sử hình thành

Ruộng bậc thang Nguyên Dương có lịch sử hàng nghìn năm, gắn liền với quá trình cư trú và canh tác của người Hani trên vùng núi phía nam Vân Nam. Người Hani vốn sinh sống ở những dãy núi cao, nơi địa hình dốc, đất canh tác ít và nguồn nước phân tán. Để thích nghi, họ khai mở sườn núi thành từng bậc ruộng theo độ dốc tự nhiên, tạo thành hệ thống thửa ruộng nhiều tầng kéo dài từ chân núi, lưng chừng tới gần đỉnh.


Việc hình thành ruộng bậc thang không phải diễn ra trong vài thập kỷ, mà kéo dài từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các gia đình, dòng họ Hani cùng nhau mở đất, dẫn nước, bồi ruộng, san bậc… tạo nên một hệ thống canh tác liên tục mở rộng. Trải qua hàng trăm năm tích lũy, khu vực Nguyên Dương mới có được hàng chục nghìn héc-ta ruộng bậc thang đồ sộ như ngày nay.

3. Giá trị văn hoá của cộng đồng Hani

3.1 Kỹ thuật dẫn nước và hệ sinh thái bền vững

Điểm ấn tượng nhất trong văn hoá canh tác của người Hani chính là hệ thống dẫn nước tinh vi được duy trì qua hàng trăm năm. Trên những dãy núi cao, họ coi rừng đầu nguồn là “rừng thiêng”, nơi giữ lại nguồn nước sạch tự nhiên. Từ đó, nước được dẫn qua những mương tre, đá và đất uốn lượn dọc các sườn núi, chia đều về từng thửa ruộng theo nguyên tắc cộng đồng mà cả làng cùng tuân thủ.

Nhờ cách quản lý nước khéo léo này, toàn bộ vùng Nguyên Dương hình thành nên hệ sinh thái “rừng – làng – ruộng – hồ” khép kín, giúp đất luôn được nuôi dưỡng mà không làm tổn hại đến môi trường. Chính sự bền vững ấy là nền tảng để ruộng bậc thang tồn tại ổn định qua nhiều thế hệ.

3.2 Nền văn hoá nông nghiệp đặc sắc


Với người Hani, ruộng bậc thang không chỉ là nơi tạo ra lương thực, mà còn là trung tâm của đời sống tinh thần. Những nghi lễ như cầu mưa, lễ tạ ơn ruộng hay mừng lúa mới đều nhằm bày tỏ sự biết ơn với đất và nước, hai yếu tố giữ cho cuộc sống nơi đây tiếp nối không ngừng. Bản làng Hani thường được xây bám theo triền núi, nhà đất hoặc nhà trình tường mọc lên giữa mây mù và những thửa ruộng xếp lớp, tạo nên một cảnh quan vừa mộc mạc vừa trọn vẹn. Mỗi ngôi làng, mỗi cánh ruộng đều phản ánh sự hoà hợp giữa con người và thiên nhiên, một triết lý sống đã ăn sâu vào văn hoá của cộng đồng này.

3.3 Truyền thống lao động tập thể

Lao động cộng đồng là linh hồn giúp ruộng bậc thang Hani tồn tại qua bao biến đổi. Mỗi khi mở rộng một bậc ruộng mới hay sửa sang bờ mương, cả làng lại tụ họp cùng “đắp đất – dẫn nước – san mặt ruộng”, biến công việc nặng nhọc thành một hoạt động chung đầy tính gắn kết. Các luật lệ về chia nước, lịch cấy gặt hay thời điểm tu sửa đều được truyền lại từ đời này sang đời khác, như một bản “bộ luật tự nhiên” mà bất kỳ ai trong làng cũng hiểu và tôn trọng. Chính tinh thần làm việc tập thể này đã giúp hệ thống ruộng bậc thang phát triển bền vững, dù trải qua bao biến động của thời gian.

3.4 Di sản được UNESCO công nhận

Năm 2013, UNESCO đã ghi danh “Cảnh quan văn hoá ruộng bậc thang Hani ở Hồng Hà” vào danh sách Di sản Thế giới, và Nguyên Dương là khu vực trung tâm của quần thể này. Tổ chức quốc tế đánh giá cao nơi đây vì hệ thống canh tác lâu đời dựa vào tự nhiên, không phá vỡ cân bằng sinh thái; sự kết hợp hoàn hảo giữa địa hình núi dốc, nguồn nước và kỹ thuật trồng lúa truyền thống; cùng mối quan hệ cộng sinh giữa con người và cảnh quan kéo dài suốt hàng thế kỷ. Nhờ vậy, ruộng bậc thang Nguyên Dương không chỉ nổi tiếng bởi vẻ đẹp kỳ vĩ, mà còn trở thành minh chứng sống động cho một nền văn minh nông nghiệp độc đáo của Vân Nam.

4. Các điểm ngắm cảnh nổi bật ở Nguyên Dương

4.1 Duoyishu


Duoyishu là nơi du khách luôn muốn dậy thật sớm để đón khoảnh khắc mặt trời từ từ nhô lên sau dãy núi và ánh sáng dát vàng lên những thửa ruộng tầng tầng lớp lớp. Buổi sáng ở đây thường phủ lớp sương mỏng, tạo nên hiệu ứng “biển mây tràn xuống biển ruộng”, khiến cảnh quan vừa hư ảo vừa rộng mở. Khu vực này có bậc thềm quan sát được đầu tư khá tốt, góc nhìn bao quát và thuận tiện cho việc ngắm bình minh hoặc chụp ảnh phơi sáng. Duoyishu thường đông người vào mùa đẹp, nhưng chỉ cần đứng lùi sang hai bên một chút, bạn sẽ có ngay góc riêng yên tĩnh để tận hưởng trọn vẹn vẻ tinh khôi của buổi sớm.

4.2 Laohuzui

Laohuzui thu hút bởi địa hình dốc mạnh và những đường cong ruộng bậc thang uốn lượn như dòng sóng bạc đổ xuống từ miệng một con hổ khổng lồ. Đây là điểm được yêu thích nhất để ngắm hoàng hôn, khi nắng chiều quét qua triền núi và tô lên mặt ruộng những dải vàng, cam, đỏ thay đổi từng phút. Không gian ở Laohuzui rộng hơn và hoang sơ hơn so với Duoyishu, cảm giác đứng trước một công trình thiên nhiên kết hợp bàn tay con người kéo dài hàng trăm năm rất dễ gây choáng ngợp. Buổi chiều thường có gió nhẹ, rất hợp để nán lại thêm một lúc, nhìn mặt trời chìm xuống và khung cảnh chậm rãi chuyển sang sắc xanh tím dịu.

4.3 Bada


Bada nổi tiếng với dải ruộng bậc thang được xếp tầng đều đặn và kéo dài bất tận, từ thung lũng cho đến tận chân trời. Khi ánh nắng thay đổi trong ngày, bề mặt ruộng phản chiếu ánh sáng như những tấm gương nhỏ xếp tầng tầng lớp lớp, tạo hiệu ứng đặc trưng mà nhiều nhiếp ảnh gia săn đón. Buổi chiều và hoàng hôn ở Bada cực kỳ đẹp, nhưng nếu đến vào sáng sớm bạn vẫn có thể cảm nhận sự yên bình của bản làng Hani bên dưới lớp sương mờ. Đây cũng là nơi lý tưởng để hiểu rõ cách người Hani dẫn nước, chia bờ và canh tác bởi các bậc ruộng xếp đều nhìn rất rõ cấu trúc.

4.4 Các bản làng Hani


Xen giữa những thửa ruộng là các bản làng Hani cổ, nơi mà đời sống văn hoá và nông nghiệp vẫn được duy trì gần như nguyên vẹn. Nhà cửa xây bám theo triền núi, mái hình nón hoặc mái đất truyền thống tạo thành những cụm dân cư đồng nhất nhìn từ xa như những đốm nâu nhỏ ẩn mình giữa màu xanh. Đi dọc trong làng, du khách dễ bắt gặp cảnh bà con sửa bờ ruộng, dẫn nước, phơi lúa hoặc chuẩn bị cho các nghi lễ theo mùa. Không khí ở làng Hani mang nhịp sống chậm rãi, rất hợp để tản bộ, ngắm cảnh, hoặc chụp những khoảnh khắc đời thường giàu bản sắc.

5. Một vài lưu ý khi tham quan

Thời điểm đẹp: mùa nước đổ (12–3), lúa xanh (5–9), lúa chín (9–10); sáng sớm hoặc chiều muộn ánh sáng đẹp nhất.

Thời tiết và sương mù: sương mù thay đổi nhanh, nên đến sớm để không bỏ lỡ bình minh hoặc hoàng hôn.

Di chuyển giữa các điểm: đường dốc, nhiều khúc cua; nên thuê xe hoặc tài xế địa phương; tránh đi ban đêm.

Tôn trọng cộng đồng Hani: xin phép khi chụp ảnh người dân hoặc sinh hoạt; không đi vào ruộng đang canh tác.

Trang phục và vật dụng: giày thoải mái, áo khoác gió, khăn giữ ấm, áo mưa; máy ảnh/điện thoại chống ẩm.

Ruộng bậc thang Nguyên Dương không chỉ là kỳ quan thiên nhiên mà còn là nơi lưu giữ văn hóa, kỹ thuật canh tác và nhịp sống của cộng đồng Hani suốt hàng trăm năm. Từ bình minh lấp lánh trên Duoyishu, hoàng hôn rực rỡ ở Laohuzui, đến những bản làng yên bình và Bada rộng lớn, mỗi bước chân đều đưa bạn gần hơn với vẻ đẹp hòa hợp giữa con người và núi rừng. Đây thực sự là điểm đến mà bất kỳ ai yêu thiên nhiên, văn hóa và nhiếp ảnh đều không thể bỏ qua.

Theo: Du Lịch Hoàng Hà