Tuesday, January 20, 2026

SA HOÀNG BIẾN NGA THÀNH CƯỜNG QUỐC, DẪN QUÂN ĐÁNH 2 ĐẾ QUỐC HÙNG MẠNH

Đương đầu với 2 đế chế mạnh bậc nhất thế giới và nếm nhiều thất bại, hoàng đế đầu tiên của Nga thể hiện tinh thần không bỏ cuộc và quyết thực hiện đến cùng ước mơ đưa Nga vươn ra biển lớn.

Peter Đại đế - Sa hoàng vĩ đại của Nga (tranh: Amazon)

Năm 1682, Sa hoàng Peter lên ngôi trong bối cảnh Nga rơi vào khủng hoảng và bị 2 đế chế hùng mạnh thời bấy giờ ở châu Âu là Thụy Điển và Ottoman (phần lớn diện tích ở Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) uy hiếp.

Một trong những lý do khiến Nga dần suy yếu là sự lũng loạn của giới quý tộc. Vào thế kỷ 17, quý tộc Nga nắm hầu hết vị trí quan trọng trong chính quyền và quân đội. Họ có đặc quyền ngay từ lúc mới ra đời khi chỉ con cái của các gia đình quý tộc mới có quyền thừa kế tước vị do ông cha để lại, bất chấp việc nhiều người trong số này không có tài cán gì, theo Russia Beyond.

Peter Đại đế rất coi thường những kẻ nhờ thế lực gia đình mới được làm quan. Ông quyết tâm chấm dứt tình trạng này bằng các biện pháp cứng rắn. Năm 1698, Peter ra lệnh xử tử nhiều cựu tướng lĩnh và quý tộc âm mưu lật đổ ông.

Sa hoàng Peter huấn luyện quân đội (tranh: Thecollector)

Năm 1701, Sa hoàng Nga ra lệnh chỉ những quý tộc có khả năng phục vụ nhà nước mới được quyền sở hữu nhiều đất đai và nông nô. Ông buộc các quý tộc Nga phải đăng ký phục vụ trong quân đội hoặc các cơ quan dân sự, không cho phép họ nhàn rỗi. Peter cũng phong danh hiệu nam tước hoặc bá tước cho những người lập công với đất nước mà không quan tâm đến xuất thân của họ.

Để phát triển kinh tế Nga, Peter ra sức cải cách văn hóa và mở mang dân trí người dân theo hướng Âu hóa. Ông ra lệnh cho người dân trong nước mặc Âu phục như các nước ở Tây Âu và Anh. Sa hoàng Nga cũng cho phép hàng nghìn người ngoại quốc vào Nga để lao động và dạy học. Các nhà máy, xưởng đóng tàu, doanh nghiệp, nông trường ở Nga mọc lên như nấm sau những quyết sách sáng suốt của Sa hoàng Peter.

Theo Thecollector, trước khi Sa hoàng Peter lên ngôi, một số nước mạnh ở châu Âu như Anh, Pháp đã tiến hành cải cách và thu được kết quả tốt. Công cuộc cải cách ở Nga diễn ra khá muộn, nhưng là kịp thời để giúp nước này vực dậy vị thế cường quốc.

Kiểm soát Biển Baltic là khao khát của nhiều Sa hoàng Nga (tranh: Brewminate)

Trong khi tích lũy nguồn lực trong nước, Sa hoàng Peter cũng bắt tay vào hiện thực hóa ước mơ của mình – đưa lãnh thổ Nga vươn ra Biển Đen và Biển Baltic. Đây là tham vọng mà các đời Sa hoàng tiền nhiệm của Nga chưa ai thực hiện được, dù tốn nhiều xương máu.

Thời điểm Peter lên ngôi, Nga chỉ có cảng Arkhangelsk ở Biển Trắng (thuộc Bắc Băng Dương, tây bắc Nga) là cảng thương mại lớn duy nhất. Tuy nhiên, cảng này chỉ có thể hoạt động vào 6 tháng mùa hè bởi nước biển sẽ đóng băng vào 6 tháng mùa đông. Để phát triển kinh tế Nga, việc tìm đường thông ra Biển Baltic và Biển Đen có ý nghĩa sống còn.

Mục tiêu đầu tiên của Sa hoàng Peter là kiểm soát bằng được pháo đài Azov (án ngữ Biển Azov thông ra Biển Đen). Vào thế kỷ 17, biển Azov nằm trong tầm kiểm soát của Hãn quốc Krym (phần lớn diện tích thuộc bán đảo Crimea ngày nay) dưới sự bảo hộ của đế quốc Ottoman.

Theo Brewminate, tháng 1/1695, Sa hoàng Peter dẫn 13 vạn quân tấn công pháo đài Azov. Để đối phó với Nga, Hãn quốc Krym cho dựng nhiều đồn lũy xung quanh pháo đài Azov và xin Ottoman gửi quân tiếp viện. Quân đội Nga nhanh chóng thất bại khi chỉ có thể tấn công pháo đài Azov bằng đường bộ mà không có hải quân.

Sa hoàng Peter rất chú trọng xây dựng hải quân (tranh: History UK)

Sa hoàng Peter của Nga không phải người dễ bỏ cuộc. Hiểu được nguyên nhân thất bại, ông ra sức xây dựng lực lượng hải quân riêng của Nga. Từ tháng 9/1695, các xưởng đóng tàu liên tục mọc lên ở Nga với hàng chục nghìn công nhân. Đích thân Peter tới các công xưởng cầm búa và làm việc với người dân. Đến giữa năm 1696, Nga đã có khoảng 300 tàu chiến và hơn 1.300 tàu chở quân, tàu vận tải.

Tháng 5/1696, Nga tấn công pháo đài Azov lần 2. Với sức mạnh từ lực lượng áp đảo, đặc biệt là sự xuất hiện bất ngờ của hải quân, Nga nhanh chóng giành thắng lợi. Chiến thắng trước Hãn quốc Krym không chỉ giúp Nga vươn ra biển Azov mà còn “phục thù” trận thua năm 1571, khi quân Krym đột kích và đốt cháy thủ đô Moscow.

Sau khi kiểm soát pháo đài Azov, Nga phải vất vả phòng thủ vị trí này trước sự tấn công của quân Hãn quốc Krym và đế quốc Ottoman. Nga tạm thời chưa thể buôn bán qua Biển Azov.

Năm 1697, Sa hoàng Peter cải trang thành một người lính cấp thấp để gia nhập vào đoàn đại sứ Nga tới các nước Tây Âu. Đoàn ngoại giao có nhiệm vụ thiết lập một liên minh chống Ottoman và mua sắm vũ khí cho hải quân Nga, theo Russia Beyond.

Mục đích thành lập lực lượng đồng minh chống Ottoman không thành. Hầu hết các nước Tây Âu thời bấy giờ như Pháp, Áo, Anh đều đánh giá thấp sức mạnh của Nga và không bị cuốn vào cuộc chiến với cường quốc như Ottoman. Tuy nhiên, Sa hoàng Peter đã học hỏi được nhiều điều mới lạ sau chuyến đi Tây Âu, đặc biệt là nghề đóng tàu và cách tổ chức lực lượng hải quân của Anh, Hà Lan. Ông đem tất cả những gì học được dạy cho công nhân Nga và mời các chuyên gia nước ngoài tới Nga làm việc.

Sa hoàng Peter xây dựng thành phố cảng Saint Peterburg (tranh: Russia Beyond)

Khi tới Manchester (Anh), Sa hoàng Peter tỏ ra thích thú với một thành phố mang đậm phong cách Tây Âu. Ông quyết tâm xây dựng cho Nga một thành phố lớn như vậy, theo Topwar.

Peter không chỉ học hỏi người châu Âu, ông còn muốn đối đầu với đế chế mạnh nhất châu Âu thời bấy giờ – Thụy Điển – để hoàn thành mục tiêu đưa Nga vươn ra Biển Baltic.

Theo ThoughtCo, vào thế kỷ 17, Thụy Điển là cường quốc thống trị vùng Biển Baltic với lực lượng hải quân mạnh nhất châu Âu. Trong những cuộc chiến liên tiếp từ năm 1618 – 1648, Thụy Điển giành chiến thắng và chiếm nhiều vùng đất của Đức, Phần Lan và Nga. Việc mở rộng lãnh thổ của Thụy Điển khiến Nga, Đan Mạch và Ba Lan bất mãn.

Năm 1661, Nga bại trận trước Thụy Điển và phải nhượng lại các vùng đất Karelia, Ingria, hồ Ladoga và các pháo đài Noteborg, Narva và Riga (phía đông bắc Nga). Sa hoàng Peter quyết tâm lấy lại những vùng này. Để chuẩn bị chiến tranh, ông ký hiệp ước liên minh với Ba Lan và Đan Mạch vào năm 1696. Nhằm ổn định tình hình phía nam, ông ký hòa ước với Ottoman.

Sai lầm của liên minh Nga, Đan Mạch và Ba Lan là không tấn công Thụy Điển cùng lúc.

Charles XII – đối thủ lớn nhất của Sa hoàng Peter (ảnh: Topwar)

Tháng 2/1700, quân Đan Mạch tấn công vùng Livonia của Thụy Điển, đại chiến Bắc Âu bùng nổ. Tháng 4/1700, vua Charles XII của Thụy Điển dẫn hạm đội gồm 38 chiến hạm, 14.000 quân phối hợp cùng 25 chiến hạm Anh, Hà Lan tấn công thẳng vào Đan Mạch, không cần ứng cứu các khu vực đang bị quân Đan Mạch bao vây, theo Thecollector.

Bị giáng đòn bất ngờ, vua Frederik IV của Đan Mạch (khi đó đang dẫn quân tấn công lãnh thổ Thụy Điển) phải về nước và ký thỏa thuận đầu hàng.

Tháng 8/1700, Nga ký xong hòa ước với Ottoman và tuyên chiến với Thụy Điển. Lịch sử gọi đây là cuộc đối đầu giữa 2 vị vua trẻ Peter (khi đó 28 tuổi) và Charles XII (khi đó 18 tuổi).

Tháng 9/1700, Nga điều khoảng 4 vạn quân tấn công Narva (nay là thành phố thuộc Estonia). Charles XII điều tới 1 vạn quân giải vây.

Ngày 20/10/1700, quân Thụy Điển kéo tới Narva giữa lúc trời đổ bão tuyết lớn. Một số tướng lĩnh khuyên Charles XII chờ bão tan mới tấn công nhưng ông không đồng ý vì nhận thấy gió đang thổi ngược về phía quân Nga. Lợi dụng bão tuyết, quân Thụy Điển bí mật áp sát và tấn công bất ngờ khiến quân Nga không kịp trở tay. Hàng chục nghìn lính Nga thương vong và bị bắt trong trận này. Quân Thụy Điển thắng lớn và Charles XII bắt đầu coi thường nước Nga, theo History UK.

Trận đại chiến ở Poltava (tranh: Thoughtco)

Thất bại tai hại ở Narva khiến Sa hoàng Peter nhận ra sai lầm và nỗ lực cải cách toàn diện quân đội Nga. Trong khi đó, Charles XII dẫn quân tấn công Ba Lan. Đến năm 1704, Charles XII mới thành công ép Ba Lan đầu hàng.

Lợi dụng quân Thụy Điển bận rộn ở Ba Lan, Sa hoàng Peter ra lệnh tuyển binh trên toàn quốc. Ông nhanh chóng có thêm hàng chục vạn quân. Để giải quyết vấn đề thiếu pháo, Peter cho kê khai số chuông trong các nhà thờ toàn quốc và sử dụng một phần chúng để đúc đại bác. Nga cũng tăng cường thu mua súng từ nước ngoài về trang bị cho quân đội. Sa hoàng Nga lúc này dồn toàn bộ chú ý vào việc chuẩn bị chiến tranh và huấn luyện hải quân.

Theo Thecollector, đầu năm 1702, quân Nga chiếm được pháo đài Noteborg ở cửa sông Neva (nay là thành phố Shlisselburg của Nga). Với chiến thắng này, tinh thần quân đội Nga được vực dậy. Tháng 7 cùng năm, khoảng 50.000 quân Thụy Điển bị đánh bại ở Livonia vùng đất giáp biển Baltic thuộc Latvia và Estonia ngày nay) và Nga kiểm soát vùng này.

Trong khi đó, Charles XII vẫn mải mê chinh phạt Ba Lan với niềm tin rằng khi ông trở về Thụy Điển, quân Nga sẽ nhanh chóng bị đánh bại.

Năm 1703, Sa hoàng Peter ra lệnh tấn công quân Thụy Điển ở Grodno (thành phố thuộc Belarus ngày nay) và thắng lớn. Để củng cố thắng lợi, ông cho xây dựng thành phố Saint Peterburg ở vùng cửa sông Neva (con sông lớn chảy ra Biển Baltic). Năm 1704, Nga kiểm soát Narva, xây dựng đồn lũy che chắn cho Saint Peterburg.

Khi Saint Peterburg dần thành hình, Sa hoàng Peter biết “cơn sóng dữ” Charles XII sắp ập đến.

Nga trở thành đế chế vĩ đại dưới thời Peter đại đế (ảnh: Russia Beyond)

Để bảo vệ “ước mơ” Saint Peterburg, Peter nỗ lực giảng hòa với Thụy Điển nhưng Charles XII bác bỏ. Tháng 8/1707, Charles XII tấn công lãnh thổ Nga với khoảng 40.000 quân. Thay vì giành lại đất đai ở Saint Peterburg, Charles XII muốn tấn công thẳng vào Moscow. Đây cũng là sai lầm chiến lược của ông, theo Russia Beyond.

Để bảo vệ Moscow, Sa hoàng Peter ra lệnh thực hiện chiến thuật “tiêu thổ” ở các hướng Thụy Điển có thể tiến quân. Mọi căn nhà, lương thực đều bị đốt sạch. Nga cũng huy động khoảng 60.000 quân thiết lập thế trận vòng cung đón đánh Thụy Điển.

Do hầu hết lãnh thổ là đồng bằng, nên Nga không thể chặn quân Thụy Điển ở những vị trí hiểm yếu. Bù lại, lực lượng mất đi của Nga nhanh chóng được thay thế.

Đến mùa xuân năm 1709, lực lượng của Charles XII dần tiêu hao và chỉ còn khoảng 25.000 quân. Charles XII cho quân vây hãm pháo đài Poltava (thị trấn cách thủ đô Kiev của Ukraine khoảng 300km về phía đông nam) để làm nơi đồn trú và chờ quân tiếp viện từ Ba Lan. Để giải vây Poltava, Sa hoàng Peter dẫn khoảng 40.000 quân hành quân thần tốc.

Tháng 6/1709, Charles XII trúng đạn và bị thương nặng ở chân trái, tinh thần quân Thụy Điển sa sút nghiêm trọng. Cũng trong thời gian này, vua Thụy Điển nhận thông tin viện binh từ Ba Lan sẽ không đến, trong khi Ottoman không cho phép Hãn quốc Krym hợp tác với Thụy Điển, theo Battlefield Anomalies.

Trước nhiều bất lợi, Charles XII và phó tướng là Thống chế Rehnskiold vẫn nuôi hy vọng đánh bại quân Nga. Ngày 28/6, Charles XII phát lệnh tấn công để giành lợi thế bất ngờ. Lực lượng Thụy Điển nhanh chóng bị Nga áp đảo bằng số lượng và pháo binh.

Trong trận giáp lá cà cuối cùng, hơn 5.000 quân Thụy Điển phải đương đầu với khoảng 24.000 quân Nga cùng 70 khẩu đại bác.

Cho đến khi tẩu thoát tới được Ottoman, số quân đi theo Charles XII chỉ còn vỏn vẹn hơn 600 người. Sau chiến thắng Poltava, quân Nga thỏa mái tung hoành ở những vùng đất phía bắc để củng cố các vị trí phòng thủ cho Saint Peterburg.

Theo Thecollector, năm 1718, Charles XII tử trận khi đang tấn công Na Uy, Thụy Điển chính thức đánh mất vị thế của một cường quốc. Năm 1721, Thụy Điển ký hòa ước cắt cho Nga các vùng đất có ví trí chiến lược bao gồm Livonia, Ingria, Karelia và Estonia.

Sau khi mơ ước tiến ra Biển Baltic thành hiện thực, Peter tuyên bố trở thành hoàng đế của đế quốc Nga. Đế chế do ông sáng lập (tính cả những vùng đất ngày nay không còn thuộc Nga) có diện tích lớn thứ 3 trong lịch sử thế giới (sau Anh và Mông Cổ).

Vương Nam – tổng hợp
Theo: nguoiduatin

KHÁM PHÁ BÍ ẨN: MA GÀ, LINH THỂ ÁM ẢNH NHỮNG CÔ GÁI TRẺ ĐẸP Ở VÙNG CAO VIỆT NAM

Hãy tưởng tượng bạn đang lạc bước giữa những cánh rừng mù sương của miền núi phía Bắc hoặc Tây Nguyên xa xôi. Tiếng gió vi vu qua tán lá, xen lẫn tiếng gà gáy văng vẳng lúc nửa khuya; không phải tiếng gà thật, mà là lời thì thầm của một linh hồn lang thang.


Đó chính là “ma gà”, một truyền thuyết dân gian rùng rợn, không chỉ là nỗi ám ảnh về trộm cắp hay điên loạn, mà còn là lời nguyền dành riêng cho những cô gái trẻ đẹp.

Liệu đây chỉ là mê tín dị đoan, hay ẩn chứa một lớp bí mật sâu xa về tâm linh và bản năng con người?
 
Từ con gà thân thuộc đến linh thể sống

Chúng ta thường nghĩ đến gà như một loài vật gần gũi, mang lại thức ăn và sự sống cho đồng bào vùng cao.

Nhưng ở các bản làng của người Tày, Nùng, hay thậm chí Tây Nguyên, gà có thể biến thành thứ gì đó kinh hoàng hơn nhiều: “ma gà”, hay còn gọi là ma chài, ma ngũ hải; một loại bùa ngải sống, chỉ dành cho những ai có “duyên âm”.

Hãy hình dung cảnh này: Trong một ngôi nhà sàn cũ kỹ, gần bàn thờ tổ tiên, luôn lẩn khuất một chiếc chum sành nhỏ, bịt kín nắp bằng lá cây hoặc vải thô. Không phải để đựng gạo hay nước, mà là “nhà” của ma gà.


Linh thể này không có hình dạng cụ thể: không lông, không cánh, chỉ là một bóng dáng vô hình, nuôi bằng máu tươi của gà sống.

Mỗi tháng, chủ nhà phải thực hiện nghi thức cúng: nhỏ máu gà vào chum, thì thầm lời khấn để “nuôi dưỡng” nó. Tại sao? Vì ma gà được dùng để trông nhà, giữ của; bất kỳ kẻ trộm nào lẻn vào cũng sẽ bị nó “theo đuổi”, ăn sạch ruột gan hoặc khiến họ hóa điên, lang thang như bóng ma.

Nhưng bí mật lớn hơn nằm ở sự ràng buộc: Một khi nuôi ma gà, bạn không thể dừng lại. Nếu quên cúng, nó sẽ nổi giận và nhập vào người nhà, khiến họ đòi máu, đòi ăn; nếu bạn vẫn quên không cúng, nó sẽ dùng mạng người để thay thế.

Sau khi gia chủ nuôi nó chết đi, con cháu phải nối nghiệp, truyền lời nguyền qua bao thế hệ. Những ngôi nhà có ma gà thường sạch sẽ lạ thường: không mạng nhện, không bụi bặm, như thể linh thể đang “dọn dẹp” để đổi lấy sự trung thành.

Ngoài ra, con cháu họ cũng trở nên xinh đẹp bất thường. Đẹp đến ma mị, đặc biệt dưới ánh trăng rằm, da dẻ sáng bóng, nhưng chẳng ai dám cưới, vì cưới là rước luôn con ma về nhà.

Tôi từng lang thang qua những bản làng ở Lạng Sơn, lắng nghe người dân thì thầm: “Nhà có ma gà, đừng khen vật nuôi của nhà khác. Khen ‘trâu đẹp’ hay ‘gà béo’, hôm sau nó chết queo.”

Ma gà ghen tị, đòi độc quyền, nó chỉ muốn gia chủ nhìn mỗi nó, thờ mỗi nó. Đó cũng là một lời nhắc nhở rằng, sức mạnh của nó không chỉ từ máu me, mà từ nỗi sợ hãi và sự cô lập mà nó tạo ra.

Lời nguyền truyền kiếp

Để hiểu ma gà, chúng ta phải bước vào những câu chuyện dân gian, những mảnh ghép sống động, được kể bên bếp lửa đêm khuya.

Đầu tiên, câu chuyện về cô dâu hiếu kỳ: Một thiếu nữ trẻ được gả vào nhà chồng mà không hay biết về chiếc chum bí mật. Sáng sớm, cô quét dọn và mở nắp, bên trong là giòi bọ nhung nhúc, cuồn cuộn như địa ngục. Hoảng loạn, cô đổ nước sôi vào. Lũ giòi quằn quại chết và ngay lập tức, cả nhà chồng cô gục ngã theo, không vết thương, không bệnh tật, chỉ là cái chết đột ngột. Từ đó, chum ấy trở thành vật cấm kỵ, và lời đồn lan ra: Ma gà không tha thứ cho sự xâm phạm.

Rồi có bà lão bảy mươi, lưng còng chân run, nhưng khi bị nhập, bà chạy vun vút như gió, nhảy qua hàng rào cao hai mét nhẹ tênh. Hay người phụ nữ khác, miệng nhai than hồng, trèo lên nóc nhà với tay co quắp như chân gà, mắt trợn trừng, giọng nói lạ lùng không ai hiểu. Những hiện tượng này không chỉ là điên loạn, chúng là dấu hiệu của sự “hòa quyện” giữa người và ma, nơi linh thể mượn thân xác để trút giận.


Và làm thế nào để giải thoát? Người xưa bảo: Khi chủ nhân chết, phải chôn sấp mặt, mang theo bát nhang thờ ma gà xuống mồ. Nhưng bao đời nay, ít ai dám làm. Họ sợ hãi hoặc quên lãng khiến ma gà vẫn lang thang, ẩn náu trong rừng sâu.

Đêm xuống, tiếng gà gáy giữa khuya làm bạn khó mà phân biệt thật giả.

Tại sao ma gà “chọn” những cô gái trẻ đẹp?

Bây giờ, chúng ta đi sâu hơn vào nỗi ám ảnh cốt lõi: Ma gà không nhập bừa, nó đặc biệt “thích” những cô gái trẻ đẹp.

Tại sao? Theo truyền thuyết, ma gà vốn là linh hồn của một thiếu nữ xinh đẹp chết oan uổng. Khát khao níu giữ tuổi xuân và sắc đẹp đã mất, nó lang thang tìm “vỏ bọc” mới: chiếm lấy linh hồn những cô gái khác, sống lại qua hình hài họ. Đó không phải ám ảnh tình dục, mà là nỗi thèm khát sự sống, một bi kịch của những linh hồn bị kẹt giữa hai thế giới.

Như trường hợp Nông Hinh ở Lạng Sơn: Cô gái đẹp nhất bản, độ xuân thì rực rỡ. Một đêm, cô bắt đầu nói mê sảng, mắt lạc thần, hai bên nách trồi lên những cục thịt lạ lùng. Gia đình mời thầy mo, tiếng chiêng trống vang vọng ba ngày đêm giữa rừng sâu, khói nhang nghi ngút. Nhưng đến ngày thứ ba, Hinh trút hơi thở cuối cùng. Đêm ấy, gió thổi ngược chiều, tiếng gà gáy nửa khuya rợn người như lời từ biệt của ma gà.


Cô gái Ea Tam, Đắk Lắk: Năm mười sáu tuổi, đôi mắt cô sáng mê hoặc, nhưng phảng phất ma mị khiến ai nhìn cũng gai người. Thầy cúng xác nhận: Ma gà nhập. Nghi lễ trục tà kéo dài suốt đêm, ánh đuốc bập bùng trên gương mặt run rẩy. May mắn là cô thoát nạn, nhưng từ đó, không bao giờ thấy cô soi gương ban đêm nữa.

Chị Phương, nữ cán bộ miền xuôi: Hiền lành, mặt trái xoan như hoa rừng. Trong chuyến công tác, chị khen con chó con nhà dân: “Quý tướng lắm, sau lớn giữ nhà giỏi.” Nửa tháng sau, chó chết đột ngột. Chị Phương thì ho khan, mắt thâm quầng, đêm đêm lảm nhảm như nói chuyện với bóng tối. Dân bản thì thầm: “Ma gà đã chọn cô rồi…”

Liệu một lời khen vô tư có phải “lời mời” cho linh thể ghen tị hay không?

Những câu chuyện này không chỉ rùng rợn, chúng khiến ta đặt câu hỏi: Phải chăng ma gà là biểu tượng cho nỗi sợ mất mát sắc đẹp, tuổi trẻ ở những vùng đất khắc nghiệt? Hay chỉ là cách giải thích cho những căn bệnh lạ, tâm lý bất ổn mà y học cổ chưa lý giải?

Mê tín hay sự thật tâm linh?

Sau hành trình này, chúng ta trở về với câu hỏi lớn: Ma gà có thật? Khoa học hiện đại coi đây là mê tín, thiếu cơ sở như những hiện tượng có thể giải thích bằng bệnh lý thần kinh hoặc ngộ độc. Nhưng với người vùng cao, vạn vật hữu linh: Mọi thứ đều có nhận thức, từ cây cỏ đến linh hồn thấp kém. Con người, với ý thức yếu đuối và lòng tham, tự “mời gọi” chúng qua bùa ngải.

Thực ra, ma gà không nguy hiểm tự thân, nguy hiểm là ở con người: truy cầu bất chính, thờ cúng tầng thấp. Giữ tâm ngay chính, không hại người, và dù ma gà hay bất kỳ linh thể nào cũng không nên chạm tới. Như lời người xưa: “Ma hay Phật, quỷ hay thần chỉ khác một niệm.”

Ảnh minh họa.

Bạn nghĩ sao? Ma gà có phải lời cảnh tỉnh về sự cân bằng giữa vật chất và tâm linh? Hay chỉ là câu chuyện dân gian để ru êm nỗi sợ hãi? Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn và nếu dám, lần sau lên vùng cao, lắng nghe tiếng gà gáy nửa khuya… biết đâu, bạn sẽ khám phá thêm một bí mật mới.

Tú Uyên biên tập
Theo: vandieuhay

CỔ THỤ - TỪ NGƯNG


Cổ thụ - Từ Ngưng

Cổ thụ y tà lâm cổ đạo,
Chi bất sinh hoa phúc sinh thảo.
Hành nhân bất kiến thụ thiếu thời,
Thụ kiến hành nhân kỷ phiên lão.


古樹 - 徐凝

古樹欹斜臨古道
枝不生花腹生草
行人不見樹少時
樹見行人幾番老


Cây cổ thụ
(Dịch thơ: Đất Văn Lang)

Cổ thụ nghiêng tàn trên lối cũ,
Thân dầy cỏ dại, chẳng đơm hoa.
Người qua chẳng thấy hồi cây nhỏ,
Cây thấy người qua mỗi độ già.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Từ Ngưng 徐凝, thi nhân Mục Châu (nay thuộc Kiến Đức, Chiết Giang) đời Đường, không rõ năm sinh và mất, ước sống khoảng năm Nguyên Hoà (806-820) đời vua Hiến Tông. Ông từng có giao thiệp với Hàn Dũ, Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn. Toàn Đường thi còn chép thơ ông một quyển.

Nguồn: Thi Viện



"QUA SÔNG HÃY NHỚ BỎ BÈ": LỜI PHẬT DẠY GIÚP CON NGƯỜI CẢNH TỈNH

Lời Phật dạy, “qua sông thì phải bỏ bè”. Tất cả của cải vật chất chỉ là vật ngoài thân, còn tri thức cũng chỉ là phương tiện. Chúng có thể hữu dụng với ta trong một khoảng thời gian nhất định, nhưng tất cả đều không phải là thứ người ta có thể chiếm giữ cả đời.


Vào một buổi sáng mùa thu, Đức Phật dẫn các đệ tử của minh ra ngoài thành Xá Vệ. Khi tới bên bờ sông, nước sông cuồn cuộn chảy không ngừng… Ngài quay lại hỏi các đệ tử của mình rằng: “Các con bảo bây giờ làm thế nào để qua được sông?”.

Khi ấy các đệ tử đầu ngơ ngác nhìn nhau mà nói: “Bạch sư tôn, có lẽ ta phải tìm một thuyền phu ạ!”. Đức Phật mỉm cười nói: “Vậy nếu chẳng có thuyền phu thì làm cách nào?”. Tất cả đệ tử đều im lặng nhìn nhau và chẳng biết nói gì. Lúc này Đức Phật tiến đến gần bờ sông và nói: “Nếu không có thuyền phu thì phải tự kết bè mà qua thôi”.

Sau đó Ngài gọi các đệ tử lại và bắt đầu thuyết giảng về chiếc bè này. Các đệ tử ngồi xuống quanh Đức Phật, chăm chú nghe.

Nguồn: hpfamily

Chuyện kể rằng: Có một người đàn ông muốn sang sông, ông nhìn quanh nhưng chẳng thấy thuyền, cũng không có cầu. Mặt sông rộng lớn, nước chảy xiết nên không thể bơi qua. Ông bèn đi dọc bờ sông nhặt củi khô để đan bè. Đan xong, ông đẩy bè xuống nước, dùng tay chân làm mái chèo mà vượt sông.

Sang đến bờ bên kia, ông nghĩ thầm: “Mình đã mất công đan được chiếc bè tốt, nó đã giúp mình qua sông về nhà, thoát khỏi cảnh màn trời chiếu đất. Vậy thì mình sẽ giữ nó lại, cứ mang theo bên người ắt lại có lúc dùng đến”. Nghĩ vậy, ông cắp chiếc bè vào nách rồi bước đi. Đường về nhà đồi núi cheo leo, lại phải mang chiếc bè trên vai, ông cứ đi được một đoạn lại phải ngồi nghỉ một đoạn. Trời dần tối, ông gắng sức trèo qua quả đồi cuối cùng. Sau đó ông kiệt sức, đổ vật người xuống ngay trước cửa nhà.

Kể xong, Đức Phật ôn tồn giảng giải: “Này các vị, chiếc bè chỉ có ích khi ở dưới nước, đã sang được sông thì nó trở thành gánh nặng. Người đàn ông nọ không ngộ ra được điểm này nên cứ hoài mệt mỏi gánh trên mình chiếc bè vốn đã vô dụng”.

Một tu sĩ trẻ cung kính cất lời: “Thưa Thầy, đáng lẽ ông ấy nên đặt chiếc bè ở bờ sông, nó sẽ giúp ích cho người khác!”.

Người khác nói: “Ở dưới sông thì chiếc bè chở ông ấy. Còn trên cạn, ông ấy lại phải chở chiếc bè”.

Đức Phật mỉm cười: “Đúng vậy! Chẳng phải trong các vị vẫn có người giữ lại bên mình những thứ vô dụng đó sao? Qua sông rồi thì hãy bỏ bè, càng xả nhiều thì càng nhẹ, càng dễ thăng hoa!”.

Nguồn: hpfamily

Lời nói của Đức Phật khiến chư vị tỳ kheo bừng tỉnh, họ hiểu ra những tri thức hay phương pháp tu hành cũng chỉ là phương tiện để giúp ta được thanh tịnh, đừng cố chấp vào nó mà hãy biết buông bỏ đúng lúc để đạt được sự giải thoát hoàn toàn. Có như vậy mới không phải mang theo gánh nặng cả đời, được hưởng một cuộc sống ung dung, tự tại và hạnh phúc.

Ngoài ra, câu chuyện trên còn giúp chúng ta rút ra bài học là đừng quá chấp trước vào những việc hữu vi. Tu luyện là từ bỏ tâm người thường, từng bước từng bước thăng hoa lên đến cảnh giời của người giác ngộ. Có như vậy chúng ta mới không dính bám vào những chuyện hữu vi, những điều tự mình hiểu biết mà lại coi chúng như chân lý được. Đó mới là con đường tu hành chân chính.

Biết buông bỏ và cho đi thì không phải mang theo gánh nặng, được ung dung, tự tại, được hạnh phúc thực sự của một kiếp người!

Hoa Nguyễn / Theo: songdep

Monday, January 19, 2026

GIA ĐÌNH VỚI NHÀ BẾP HOANG VẮNG, KHÔNG THỂ NUÔI DẠY NHỮNG ĐỨA TRẺ HẠNH PHÚC

Tình yêu thương mà trẻ em có thể cảm nhận được thường sâu sắc nhất trong những việc tầm thường hàng ngày như mặc quần áo và ăn uống. Trẻ em cần cảm thấy sự chăm sóc của người mẹ.


Bởi trong mắt trẻ thơ, hương vị của mẹ không chỉ là những cung bậc thăng trầm của đầu lưỡi, mà còn có nghĩa là mẹ rất yêu con, và luôn ở bên.

Được sinh ra trong một gia đình có gian bếp náo nhiệt có lẽ là điều may mắn đầu tiên

Bởi hạnh phúc được cảm nhận sớm nhất và trực tiếp nhất trong cuộc đời chính là hương thơm và vị ngọt giữa môi và răng.

Khi tôi còn học tiểu học, tôi đã rất ghen tị với người bạn cùng phòng, Dương Đình Đình, vì cô ấy luôn mang theo những tờ tiền hàng trăm nhân dân tệ trong túi. Vì vậy, Dương Đình Đình luôn có thể làm bất cứ điều gì cô ấy muốn như mua đồ ăn nhẹ và có thể ăn bao nhiêu tùy thích.

Còn tôi chỉ có thể ngoan ngoãn về nhà và ăn những bữa ăn nhẹ do mẹ nấu. Mẹ tôi nấu ăn không được ngon, các món khác nhau, hương vị cũng trung bình, nấu đi nấu lại cũng chỉ là mấy món ở nhà.

Vào một ngày, tôi đưa Dương Đình Đình về nhà chơi, đến giờ ăn tối, bố mẹ tôi mời cô ấy ở lại nhà tôi ăn tối. Hôm đó, mẹ tôi làm gà xé phay, ớt xanh thái lát, rau xào chay và canh cà chua trứng. Vẻ mặt của Dương Đình Đình, có chút rụt rè, trong mắt cô ấy đồng thời lóe lên sự mong đợi và mất mát.

Ăn xong hai bát cơm và một bát canh, cô nói lời cảm ơn mẹ tôi và nói nhỏ: “Đã lâu rồi con không được ăn cơm mẹ nấu”.

Sau đó tôi mới biết rằng cha của Dương Đình Đình là một tài xế xe tải quanh năm bận rộn trên đường cao tốc. Còn mẹ cô thì nghiện bàn mạt chược, thường ném cho cô một ít tiền để cô có thể tự mình giải quyết cơm nước và quần áo.

Dương Đình Đình đã tới ăn hầu hết các nhà hàng trong thị trấn, và đôi khi ngồi một mình bên bàn ăn, đợi mì gói từ từ sôi.

Trong căn nhà trống trải ấy, chỉ có tiếng người qua TV vọng lại. Căn bếp vắng tanh, thớt và chảo phủ đầy bụi.

Một ngôi nhà phải có hơi lửa và mùi khói dầu thì mới được coi là tổ ấm

Ý nghĩa của một ngôi nhà đối với một đứa trẻ là điều hiển nhiên.

Dương Đình Đình, sau khi trưởng thành, có một cái bụng xấu và một tính khí tồi tệ. Cô ấy và chồng cãi nhau không ngừng, và mối quan hệ của cô với cha mẹ xấu đi, như thể cô ấy đang sống trong cảnh túng quẫn và cô không muốn có con.

Khi chúng tôi trò chuyện, cô ấy luôn nói: “Tôi không thể làm mẹ, tôi không thể học và tôi không muốn học”. Thỉnh thoảng, khi nhắc lại những ký ức tuổi thơ, cô ấy vẫn canh cánh trong lòng với một bữa cơm.

Thứ mà Dương Đình Đình thiếu, bề ngoài là mong muốn thức ăn đến từ cha mẹ cô, nhưng thực chất đó là gia đình, tình yêu thương và sự quan tâm của gia đình.


Tình yêu là một chu kỳ bảo toàn năng lượng. Những người đã được yêu có nhiều khả năng học cách yêu hơn

Bạn thân nhất của tôi Tiểu Nhã vốn là một người phụ nữ vô tư. Gần đây, Tiểu Nhã đã mua nồi hầm, máy xay sinh tố và bộ đồ ăn hoạt hình, sẵn sàng nấu nướng và rửa tay để nấu súp.

Hỏi ra mới biết đã đến lúc con trai chị nên ăn bổ sung. Vì vậy, người mẹ mới bắt đầu nghiên cứu công thức và thử gần mười lần cho một bát khoai tây nghiền, với mong muốn cô có thể ngay lập tức trở thành một siêu đầu bếp.

“Chỉ có điều ở nhà tự làm đồ mới yên tâm cho cậu bé ăn”. Đồ ăn đựng trên đĩa phim hoạt hình tinh xảo, dễ thương luôn hấp dẫn cậu bé vừa ăn vừa nở nụ cười ngọt ngào.

Tiểu Nhã cho biết, đó là một trong những khoảnh khắc hạnh phúc nhất của tôi, và tôi chợt hiểu câu nói rơi nước mắt của nhân vật tên Mai trong phim “McDull”: “Tôi chạy khắp nơi mỗi ngày, từ sáng đến tối. Khi về đến nhà, tôi thấy vui và hạnh phúc nhất. Chỉ cần có thể nấu một bữa ăn ngon, nhìn cách ăn của con, đây là niềm hạnh phúc đơn giản và cơ bản nhất mà người mẹ có thể dành cho con của mình”.

Nấu ăn cho con cái là bản năng của người mẹ và là một trong những cách duy trì cơ bản nhất của mối quan hệ cha mẹ – con cái.

Những bữa ăn tưởng chừng bình thường ấy lại cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cơ thể và tình yêu thương, năng lượng cho sự phát triển của trí óc. Trong âm thanh sôi động của món rán và hầm, có một đứa trẻ yên tâm và hạnh phúc.

Đối với trẻ em, chuông, trống không phải là thứ đắt tiền, và những món ngon của núi rừng cũng không phải là hiếm. Họ vẫn chưa biết cách đánh giá giá trị của thế giới, và tiêu chuẩn đo lường chỉ phụ thuộc vào kinh nghiệm cảm tính và nhận thức nội tâm.

Bạn biết đấy, đầu lưỡi kết nối trái tim. Hạnh phúc trong mắt trẻ thơ đơn giản lắm, bữa cháo và bữa cơm cũng đủ chất.

Cha mẹ người bình thường không hiểu được triết lý sâu xa và chân lý này, và tình cha con cảm động trong sách đều được cất giấu cẩn thận trong cơm ăn áo mặc.

Tất cả các bậc cha mẹ trên thế giới này đều không muốn gói ghém hạnh phúc và giao nó cho con cái. Nhưng sứ mệnh cơ bản của cha mẹ không phải là mang lại hạnh phúc liên tục cho con cái của họ, mà là dạy chúng tạo ra và nhận thức hạnh phúc.

Nhưng từ “hạnh phúc” quá trừu tượng và cần một số hành động cụ thể để biến nó thành hiện thực. Và một trong những cách đơn giản và hiệu quả nhất là nấu một bữa ăn cho trẻ.

Khó trách khi Hoàng Lỗi nói rằng: Món quà tuyệt vời nhất mà người cha, người mẹ dành cho con cái là một bữa ăn gia đình tại nhà.

Có một cuộc khảo sát về những người mà bạn muốn ăn cùng

Câu trả lời của bọn trẻ giống nhau: Cha, mẹ, và gia đình.

Hóa ra trong mắt con cái, cha mẹ là sự hiện hữu trên hết. Thì ra trong mắt trẻ thơ, tình yêu thương là được ăn tối cùng gia đình mình.

Ăn gì không quan trọng, quan trọng là ăn cùng nhau. Bởi vì quá trình này chứa đựng đầy đủ cảm giác an toàn, thân thuộc và hạnh phúc. Khi hình dung về niềm hạnh phúc của gia đình mình, lúc nào cũng thấy một gian bếp bốc khói nghi ngút, những chiếc thớt băm nhỏ chua chua, ngọt ngọt và nồi canh sôi sùng sục là niềm vui của gia đình.

Âm thanh từ TV, và có lẽ là cảnh mặt trời lặn bên ngoài cửa sổ, đang chiếu vào từ xa qua cửa sổ màn hình.

Người vợ nhẹ nhàng hét lên: “Đã đến giờ ăn tối – người chồng đang bận dọn bát đĩa, và những đứa trẻ đang làm bài tập chạy đến, tiện tay cầm một miếng thịt và đưa lên miệng, điều này đã thu hút sự tức giận của người mẹ: Con mèo tham lam, đi rửa tay của con đi!


Một căn phòng đầy ắp tiếng cười và hương thơm lan tỏa khắp nơi

Trong thực tế, phòng bếp còn là phong vũ biểu của chỉ số hạnh phúc gia đình. Cha mẹ có thể nghiêm túc sắm sửa nấu nướng một bàn ăn ngon thì cũng phải đong đầy tình yêu thương của gia đình. Dù bận rộn đến đâu, tất cả đều biết cách ra khỏi công việc, nấu một bàn ăn ngon cho gia đình, trò chuyện và cười nói vui vẻ bên nhau.

Cha mẹ như vậy, quan hệ vợ chồng sẽ không quá tệ, cha mẹ con cái cũng không tệ lắm. Họ có khả năng, ý thức, sáng kiến ​​xây dựng cho con em mình một gia đình chất lượng cao, lành mạnh.

Hạnh phúc và tương lai của một đứa trẻ phụ thuộc rất nhiều vào nguồn gốc gia đình. Và một gia đình có hạnh phúc hay không, bạn có thể biết bằng cách nhìn vào gian bếp.

Kỳ Mai biên dịch
Lý Văn Hàm/Đường Khiết – soundofhope

BA LOẠI TIỀN NÀY, TIÊU CÀNG NHIỀU, KIẾM ĐƯỢC CÀNG NHIỀU!

Đời người có 3 loại tiền, bạn tiêu càng nhiều, thì kiếm về sẽ càng được nhiều, hơn nữa là nhất định phải tiêu, không thể để dành. Hãy cùng điểm qua ba loại tiền này nhé:


Loại tiền đầu tiên: Đầu tư vào chính mình và phát triển bản thân

Tiền học tập phải được chi tiêu! Đầu tư tiền vào đầu não của chính bạn, là cách an toàn nhất để quản lý tài chính, đi đâu cũng sẽ không đói. Có lẽ nhiều người sẽ phản đối: “Ngay cả ba bữa ăn cũng không đủ, nợ nần chồng chất, thì lấy đâu ra tiền để học tập? Hơn nữa học tập cũng chưa chắc đã thấy ngay được hiệu quả!”. Những người như vậy sẽ không bao giờ đầu tư tiền cho việc nâng cao trình độ của bản thân.

Trên thực tế, nếu bạn nghèo thực sự, thì bộ não của bạn chính là vốn liếng lớn nhất để bạn lội ngược dòng, và bạn càng nên đầu tư thật tốt ở chỗ này mới đúng, bởi vì nếu bạn sở hữu bộ não nghèo nàn thì cuộc sống của bạn sẽ nghèo khó.

Như vậy, chúng ta thấy rằng nhiều người xung quanh chúng ta đã phải chịu đựng cả cuộc đời của họ chỉ vì tiền bạc, luôn luôn bù đắp cho lỗ đen tiền bạc, thực sự là bởi vì họ đã không nhìn thấy sự thật. Nếu chỉ lo nhìn trước mắt, mà không dừng lại một chút nhìn về phía sau, cả đời chỉ sợ rất khó có cơ hội trở mình.

Khó khăn trong cuộc sống là bình thường. Chỉ có thông qua tự mò mẫm và tự học, chúng ta mới có thể đột phá và nhảy vọt. Người thông minh biết cách mượn kinh nghiệm của người khác làm gương, tránh lặp lại sai lầm tương tự mà đi theo con đường oan uổng.

Vì vậy, tiền cho việc học nhất định phải tiêu, dù là tạm thời thông qua vay tiền để đầu tư chính mình cũng là đáng giá, bởi vì chắc chắn sẽ có cơ hội cho phép bạn kiếm tiền trở lại.

Cho nên, nếu bạn cũng phải đối mặt với những vấn đề khó khăn của cuộc sống, hãy nhớ rằng, trau dồi tốt bản thân không bao giờ là quá muộn, bất cứ lúc nào cũng có thể bắt đầu.

Có lẽ nhiều người sẽ nói rằng họ không có tiền, trên thực tế những người nói như vậy chắc hẳn đã tiêu rất nhiều tiền uổng phí.

Nếu có một trái tim muốn thay đổi, nhưng lại không có động lực để đầu tư một chút học phí, những người như vậy liệu có đủ khả năng để vượt qua những khó khăn thực sự trong cuộc sống thực?

Phải biết rằng, cửa ải khó khăn chân chính so với cái này lớn hơn trăm ngàn lần, chuyện nhỏ nhặt cũng không thể vượt qua thì làm sao có thể lật ngược cuộc đời và thành công được đây!

Chi phí đi học, nâng cao bản thân có thể nhìn thấy, cũng có hạn, nhưng nếu chi tiêu cho học phí ở “trường đại học xã hội” nó có thể vượt xa con số này. Bạn phải biết rằng trong xã hội, bạn có thể bị lừa dối, bạn có thể đi nhiều đường vòng hơn là đạt được.

Vì vậy, đối với việc học cũng vậy, tốt hơn là nên phó thác học phí cho những người thông thái hướng dẫn mình và hoàn thiện bản thân, thay vì đổ tiền vào “trường đại học xã hội” với học phí cao. Bạn là ngươi thông minh, nhất định phải lĩnh ngộ đạo lý này.


Loại tiền thứ hai: Tiền hiếu thuận nhất định phải tiêu

Cũng chính là tiền hiếu thuận với ba mẹ nhất định phải cho. Có lẽ một số người sẽ nghĩ rằng khi họ thậm chí không đủ ăn mặc, cũng nợ nần, căn bản không có cách nào để thường xuyên cho cha mẹ tiền tiêu vặt. Cũng có người sẽ nói rằng gia đình không thiếu tiền, cha mẹ nói rằng họ đủ, không cần phải lấy tiền về nhà!

Bất kể tình hình kinh tế của cha mẹ bạn như thế nào, tiền hiếu thảo với cha mẹ nhất định phải được đưa ra định lượng theo thời gian.

Ngẫm lại xem, cha mẹ bạn có thể hay không bởi vì mắc nợ, thiếu tiền mà không nuôi dưỡng chu cấp cho bạn? Dù nghèo đến đâu, họ vẫn nuôi bạn phải không?. Vì vậy, khi chúng ta lớn lên nên đền đáp cho cha mẹ cũng là điều nên làm. Tại sao có thể có tiền mới phụng dưỡng cha mẹ đây.

Dù bạn đang ở giai đoạn nào của cuộc đời hay đang gặp phải trở ngại gì? Xin hãy luôn nhớ rằng, tiền hiếu thảo cha mẹ không thể tiết kiệm.

Họ có thể cắn răng chịu đựng nuôi lớn chúng ta, vì họ gánh vác thêm chút tiền này cũng là chuyện nên làm. Trong trường hợp bạn không có khả năng kiếm tiền hoặc không có thu nhập, không có cách nào để sử dụng tiền để hiếu kính cha mẹ của bạn, cũng nên nhớ rõ, ít nhất là phải “thuận”.

Nói cách khác, khi bạn bất đồng quan điểm với cha mẹ, thì hãy cố gắng giao tiếp với cha mẹ của bạn một cách nhẹ nhàng và hòa bình.

Tất cả các bậc cha mẹ đều hy vọng con cái của họ trở thành một con rồng và phượng hoàng, rất ít cha mẹ nào lại không kỳ vọng, mặc dù đôi khi cách giao tiếp làm cho chúng ta khó chấp nhận, nhưng cũng cố gắng thông cảm cho nền tảng phát triển của cha mẹ, bởi vì họ không biết làm thế nào để thể hiện trái tim của họ một cách khách quan hơn, đây là bối cảnh thời gian khác nhau, để thay đổi suy nghĩ của người già là rất khó khăn, tốt hơn là điều chỉnh bản thân để phù hợp với họ.

Vì vậy, nếu không có cách nào để báo “hiếu”, thì ít nhất cũng phải “thuận”.


Loại tiền thứ ba: Tiền báo đáp nhất định phải tiêu

Bao gồm đóng góp cho xã hội và trả lại cho những người xung quanh chúng ta.

Robert Lighting, tác giả của cuốn sách bán chạy nhất “cha giàu cha nghèo” cho biết, ông tin rằng tiền phải trả trước mới có hồi báo, vì vậy khi còn trẻ, ông đã hình thành thói quen, dù có khó khăn đến đâu cũng phải thường xuyên quyên góp một ít tiền để trả lại cho xã hội, vì vậy ông ngày càng giàu có.

Mà người cha nghèo luôn nói, chỉ cần có tiền dư thừa nhất định sẽ đi quyên góp, nhưng cả đời, ông thủy chung cũng không có tiền dư thừa tiền.

Dù nghèo khó đến đâu, trên đời vẫn có những người bất hạnh hơn mình, chúng ta hãy luôn có tấm lòng cho đi.

Lần sau khi nhìn thấy những người làm việc chăm chỉ như vậy cho cuộc sống, nhất định phải có một trái tim kinh nể và yêu thương, và hãy thử tưởng tượng rằng chúng ta có thể cho đi một chút nhỏ, có thể mang lại cơm ăn, áo mặc, sự ấm no và hạnh phúc của gia đình họ.

Nếu bạn là một ông chủ, đừng quên rằng thành công ngày hôm nay là kết quả của sự chung sức phấn đấu làm việc của nhân viên, đền đáp lại cho họ cũng rất thích hợp.

Ví dụ, một số công ty niêm yết thường đưa ra một tỷ lệ lợi nhuận nhất định và trả lại cho nhân viên dưới dạng phúc lợi, điều này rất đáng khen ngợi. Tiền thực sự là một vòng tuần hoàn, và cuối cùng nó chắc chắn sẽ quay trở lại nguồn gốc của nó.

Dù nghèo đến đâu, trên đời vẫn có những người bất hạnh hơn bạn.

Nếu bạn thực sự rất nghèo, và thực sự không có cách nào để cho đi, thì hãy báo đáp cho công ty của bạn. Với một tấm lòng biết ơn, với trái tim để làm tốt mọi công việc. Đây cũng là một kiểu báo đáp!

Kỳ Mai biên dịch
Vương Hòa – aboluowang

TA NGHĨ MÌNH ĐÃ QUÊN, KỲ THỰC TA CHƯA TỪNG CHÚ Ý ĐỂ NHỚ

Có một giai đoạn, mỗi ngày tôi đều đọc cùng một cuốn sách, bởi tôi tin rằng những điều hay, nếu đọc đủ nhiều ắt sẽ thấm vào người. Ngày qua ngày, những dòng chữ quen đến mức tôi có thể lật đến bất cứ đoạn nào mà không cần đánh dấu. Tôi nghĩ mình đã nhớ rất rõ, rất nhiều. Tôi tin rằng cuốn sách ấy đã ở trong tôi.


Thế nhưng có một lần, một người hỏi tôi một câu rất đơn giản: điều căn bản nhất của cuốn sách ấy là gì? Tôi thật sự đã phải suy nghĩ. Trong khoảnh khắc ấy, đầu óc tôi trống rỗng lạ thường. Tôi cố gắng lục lọi trí nhớ, cố ghép những mảnh chữ nhưng không thể. Tôi đã đọc, đã đọc rất nhiều, vậy mà không trả lời được điều cốt lõi nhất.

Khi ấy, tôi mới nhận ra: có thể tôi không hề quên. Kỳ thực, tôi chưa từng nhớ. Tôi chỉ quen mắt với con chữ, quen tay lật trang, quen với cảm giác “mình đang đọc”, chứ chưa từng thật sự chú tâm để hiểu. Thời gian vẫn trôi qua, trang sách vẫn lật, nhưng tâm trí tôi có lẽ đã ở đâu đó rất xa. Không phải tôi lãng phí thời gian, mà là tôi đã sống trong một thói quen vô thức, nơi sự lặp lại tạo ra ảo giác của hiểu biết.

Nghĩ đến đó, tôi bỗng thấy gia đình cũng giống như thế.

Mỗi ngày, chúng ta đều ở bên gia đình. Ta nhìn thấy họ, ăn cơm cùng họ, ngồi chung một phòng, cùng xem ti vi, cùng im lặng. Ta nghĩ rằng chỉ cần có mặt là đủ, chỉ cần “ở đó” thì đã là quan tâm. Nhưng thực ra, có khi ta ở rất gần về không gian, mà lại rất xa về tâm hồn.

Xa vì ta không hỏi hôm nay họ có gì vui. Xa vì không có một câu chào buổi sáng đúng nghĩa, không có một ánh nhìn đủ lâu để nhận ra trong mắt họ có điều gì khác hôm qua. Xa vì ngày nào cũng như ngày nào, nên ta mặc định rằng mọi thứ vẫn ổn. Ta thấy họ, nhưng chưa chắc đã nhìn họ. Ta nghe họ nói, nhưng chưa chắc đã thật sự lắng nghe.

Giữa chúng ta và người thân, có một “cửa sổ” vô hình. Nó không phải là cánh cửa khóa chặt bằng then sắt, mà là cánh cửa khép hờ bởi sự quen thuộc. Ta cứ nghĩ nó luôn mở, nên chẳng bao giờ thử đẩy ra thêm. Ta quen với việc để nó đóng, quen đến mức quên mất ánh nắng từng chiếu qua đó.


Rồi một ngày, rất bất chợt, một buổi sáng se lạnh khi gió lùa qua khe cửa ấy, ta mới giật mình nhận ra: hóa ra cửa sổ đã đóng kín từ lâu, đến mức chính ta cũng không nhớ nó khép lại từ khi nào. Có thể là từ lúc ta quá bận, từ lúc ta mãi lo cho tương lai, hay từ khi ta tin rằng “còn nhiều thời gian”.

Buổi sáng ấy mang theo sự thức tỉnh. Không ồn ào, không kịch tính, chỉ là một cảm giác nuối tiếc rất khẽ nhưng đủ sâu để khiến ta không thể làm ngơ. Ta nhận ra mình cần phải thay đổi, không phải thay đổi cả thế giới, mà thay đổi cách ta hiện diện trong từng khoảnh khắc nhỏ.

Ta bắt đầu chào buổi sáng. Ta hỏi han, dù chỉ là vài câu vụn vặt. Ta lắng nghe, dù câu chuyện có vẻ chẳng đi đến đâu. Ta mở cửa sổ, để ánh nắng bình minh tràn vào, không chỉ cho căn phòng mà cho chính lòng mình.

Buổi sáng ấy đã rót vào ta một nguồn năng lượng kỳ lạ. Ta thấy mình vui vẻ hơn, nhẹ nhõm hơn, yêu đời hơn. Ta chào hỏi những người ta gặp trên đường, ta thật sự thấy họ giống như người thân, những con người đang cùng đi qua một ngày sống mong manh và quý giá.

Cuối cùng, tôi hiểu rằng: điều quan trọng không phải là ta đã đọc bao nhiêu lần, đã ở bên nhau bao lâu, mà là ta có thật sự ở bên trong không gian đó hay không. Bởi nếu tâm không ở đó, thì dù thời gian có trôi qua bao nhiêu, ta vẫn chỉ đứng trước một cuốn sách chưa từng mở, một gia đình chưa từng thật sự chạm vào nhau.

Mỹ Mỹ biên tập
Theo: vandieuhay

HUYỀN ĐÔ QUÁN ĐÀO HOA - LƯU VŨ TÍCH


Huyền Đô quán đào hoa

Tử mạch hồng trần phất diện lai,
Vô nhân bất đạo khán hoa hồi.
Huyền Đô quán lý đào thiên thụ,
Tận thị Lưu lang khứ hậu tài.


玄都觀桃花

紫陌紅塵拂面來
無人不道看花迴
玄都觀裡桃千樹
盡是劉郎去後栽


Huyền Đô quán đào hoa
(dịch thơ: Trần Trọng Kim)

Bụi hồng trước mặt bay qua,
Ai ai cũng nói xem hoa trở về.
Huyền Đô bao gốc đào kia,
Đều sau lúc gã Lưu đi mới giồng.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lưu Vũ Tích 劉禹錫 (772-842) tự Mộng Đắc 夢得, người Bành Thành (nay là huyện Đông Sơn, tỉnh Giang Tô) đỗ tiến sĩ năm Trinh Nguyên thứ 9 (793), làm giám sát ngự sử đời Đức Tông. Thời Thuận Tông cùng tham dự vào những chủ trương chính trị tiến bộ cùng Vương Thúc Vân, Liễu Tông Nguyên, sau Vương Thúc Văn bị bọn cường quyền gièm pha, ông cũng bị đổi thành Lãng Châu thứ sử. Ông làm từ hay dùng tục ngữ địa phương, Bạch Cư Dị từng gọi ông là thi hào. Tác phẩm có Lưu Vũ Tích tập.

Nguồn: Thi Viện

VỊ SA HOÀNG "NÓNG TÍNH" ĐƯA NGA THÀNH NƯỚC RỘNG NHẤT THẾ GIỚI

Nếm trải tuổi thơ tủi nhục vì mất quyền lực, Sa hoàng đầu tiên của Nga quyết tâm trừng trị những kẻ bất tuân và đưa Nga trở thành đế chế mạnh nhất châu Âu.

Chân dung Sa hoàng Ivan IV của Nga (tranh : Rbth)

Năm 1530, Ivan Vasilyevich (Ivan IV hay Ivan Bạo chúa) ra đời. Ông là con trai của thân vương Đại công quốc Moscow Vasily III và được thừa kế tước hiệu khi chỉ mới 3 tuổi (do Vasily III mất sớm). Khi Ivan 8 tuổi, mẹ ông qua đời. Ngôi vị thân vương của Ivan bị lung lay dữ dội do các nhóm quý tộc muốn lật đổ ông. Là một người thông minh, Ivan biết cách nhẫn nhịn để chờ thời cơ, theo Warfare History.

Năm 1547, nhận được sự ủng hộ của các tướng lĩnh trung thành, Ivan (16 tuổi) tuyên bố trở thành Sa hoàng. Tên gọi nước Nga Sa quốc cũng được cho là xuất hiện vào khoảng thời gian này.

Sau khi lên ngôi, Sa hoàng Ivan bắt đầu thực hiện cải cách và hiện đại hóa đất nước. Ông thành lập quân đội thường trực của Nga và đội cận vệ Oprichniki. Oprichniki hoạt động như lực lượng cảnh sát, có nhiệm vụ điều tra và trừng phạt những kẻ chống đối nhà vua, chủ yếu là giới quý tộc.

Ivan đã bắt giam và hành quyết nhiều quý tộc nhũng nhiễu, tịch thu tài sản của họ để phát triển kinh tế vùng nông thôn. Chính sách của Sa hoàng Ivan được nhiều nông dân ủng hộ, nhưng cũng có người chỉ trích ông là kẻ tàn bạo.

Sa hoàng Ivan trừng phạt những kẻ chống đối (tranh : Rbth)

Mặc dù tự xưng là Sa hoàng (tước vị ngang hàng với hoàng đế của các đế chế lớn ở châu Âu), nhưng khi mới lên ngôi, Ivan chỉ quản lý 2 vùng là Moscow và Novgorod. Ông quyết tâm mở rộng đất đai nước Nga bằng cách chinh phục các công quốc xung quanh. Ivan thậm chỉ còn muốn mở rộng lãnh thổ Nga xuống tới vùng biển phía tây nam, phía nam châu Âu.

Theo Russia Beyond, trước khi Ivan IV lên ngôi, Hãn quốc Kim Trướng, kẻ thù lớn nhất của Nga ở châu Âu đã xảy ra nội chiến và tan rã thành nhiều Hãn quốc nhỏ hơn như Qasim, Kazan, Astrakhan, Uzbek, Krym… Sa hoàng Ivan muốn đánh bại các Hãn quốc đối thủ này và sáp nhập họ vào Nga. Mục tiêu đầu tiên Ivan nhắm đến là Hãn quốc Kazan (nằm ở phía nam Moscow ngày nay).

Tháng 6/1552, Ivan dẫn lực lực hùng hậu với khoảng 150.000 người tiến vào Kazan. Đến tháng 8, quân Nga đã bao vây kinh đô Kazan của Hãn quốc Kazan và tấn công dữ dội bằng đại bác. Quân đội Nga có lợi thế hoàn toàn trong cuộc chiến này. Họ phá hủy tường thành sau khi bao vây và chặn nguồn nước từ những con sông chảy vào thành phố.

Đến tháng 10/1552, quân Nga đã chiếm được Kazan. Biên niên sử Kazan ghi chép rằng hàng chục nghìn người đã bị sát hại khi Sa hoàng Ivan dẫn quân vào thành phố. Nhiều tù nhân và nô lệ Nga được trả tự do. Ivan kỷ niệm chiến thắng của ông bằng cách xây dựng nhiều nhà thờ Chính thống giáo ở Kazan (đa số người Kazan bấy giờ theo đạo Hồi). Tuy nhiên, Ivan được cho là không bức ép người Kazan nào phải cải đạo. Ông chấp nhận tự do tôn giáo để mở rộng đế chế của mình.

Sa hoàng Ivan chinh phục Hãn quốc Kazan (tranh: Thecollector)

Ngày nay, Kazan là thủ phủ của Cộng hòa Tatarstan (thuộc Nga).

Sau khi chiếm được Kazan, Sa hoàng Ivan bắt đầu để mắt tới Hãn quốc Astrakhan – vùng đất rộng lớn ở khu vực cửa sông Volga ngày nay. Nổi giận trước liên minh quân sự giữa Astrakhan và Hãn quốc Krym, từ năm 1554 – 1556, Ivan ra lệnh cho quân đội liên tục tấn công Astrakhan. Astrakhan nhanh chóng bị khuất phục. Năm 1558, Ivan cho xây dựng pháo đài Astrakhan để kỷ niệm chiến thắng trước Hãn quốc này. Ngày nay, Astrakhan cũng là một thành phố lớn của Nga.

Theo History UK, sau khi liên tiếp chinh phục 2 Hãn quốc lớn, Ivan đã đưa Nga (một nước thành lập khá muộn) trở thành đế chế lớn mạnh ở châu Âu. Danh tiếng cũng như lời đồn thổi về sự tàn bạo của Sa hoàng Ivan cũng vang xa. Biệt hiệu Ivan Bạo chúa hay Ivan Nóng nảy được cho là ra đời vào khoảng thời gian này.

Là một phần của đồng bằng châu Âu rộng lớn, nước Nga dưới thời Sa hoàng Ivan có địa hình khá bằng phẳng. Xung quanh Moscow không có những con sông lớn hay những dãy núi hiểm trở. Đây được cho là điểm yếu khiến Nga dễ bị tấn công từ nhiều hướng cùng lúc.

Quân đội Nga tiến tới Siberia (tranh: Historytoday)

Vào thế kỷ 13, kỵ binh Mông Cổ đã thoải mái tung hoành trên vùng đồng bằng châu Âu và đánh bại Đại công quốc Kievan Rus (tiền thân của nước Nga). Nhằm khắc phục điểm yếu về lãnh thổ bằng phẳng, Sa hoàng Ivan muốn chinh phục những vùng đất hiểm yếu và mở rộng diện tích đế chế của mình. Mục tiêu ông hướng tới là vùng Siberia (phía đông Moscow), sau khi nghe về những tài nguyên phong phú ở đây, đặc biệt là da thú.

Dưới thời Sa hoàng Ivan, quân đội Nga đã từng bước lấn sâu vào Siberia – vùng đất rộng hơn 13 triệu km vuông và chiếm 77% diện tích Nga ngày nay. Theo nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, chính việc chinh phục Siberia đã biến Nga trở thành quốc gia lớn nhất thế giới về mặt địa lý.

Điều thú vị là lực lượng Nga không gặp trở ngại lớn nào trong việc chinh phục Siberia, theo Russia Beyond.

Vladimir Kolosov, chủ tịch Liên minh Địa lý Quốc tế, cho rằng, có 2 lý do chính khiến Nga dễ dàng mở rộng lãnh thổ ở vùng Viễn Đông.

Bản đồ vùng đất chiến lược Livonia mà Sa hoàng Ivan muốn kiểm soát (tranh: History UK)

“Thứ nhất, khu vực rộng lớn và lạnh giá này có mật độ dân cư thưa thớt. Ngày nay, mật độ dân cư ở Siberia chỉ vào khoảng 2 người/km vuông. Vào thế kỷ thứ 17, mật độ dân cư còn thấp hơn. Thứ 2, các bộ tộc ở Siberia không phản đối việc sáp nhập vào Nga”, Russia Beyond dẫn lời ông Kolosov.

“Quân đội của Sa hoàng Ivan không tìm cách đàn áp các bộ tộc địa phương. Họ chỉ quan tâm đến lông thú, mặt hàng có giá trị trong thương mại châu Âu lúc bấy giờ. Các bộ tộc được tự do tiếp tục lối sống của họ, trong khi quân đội Nga bảo đảm an ninh để đổi lấy khoản cống nạp hàng năm bằng da thú. Thỏa thuận này có lợi cho cả 2 bên. Đó là lý do vì sao Nga hầu như không gặp kháng cự khi kiểm soát Siberia”, ông Kolosov nói thêm.

Việc kiểm soát Siberia là một trong những sự kiện đáng chú ý nhất trong lịch sử Nga. Tới năm 1645, Nga đã hoàn thành việc chinh phục các vùng đất ở Viễn Đông và vươn lãnh thổ tới Thái Bình Dương.

Trong khi dễ dàng tiến về phía đông, Nga lại gặp khó khăn khi muốn mở rộng lãnh thổ về phía tây và phía nam. Sa hoàng Ivan khao khát giao thương với các nước châu Âu qua các cảng lớn ở vùng biển Baltic, và để làm điều này, Nga phải cạnh tranh với những nước lớn thời bấy giờ như Ba Lan, Thụy Điển, Công quốc Litva.

Bức tranh miêu tả Sa hoàng Ivan sát hại con trai (tranh: Rbth)

Năm 1558, Sa hoàng Ivan phát động chiến tranh nhằm xâm chiếm Livonia (vùng đất giáp biển Baltic thuộc Latvia và Estonia ngày nay). Đối đầu với quân đội Nga là liên quân bao gồm Thụy Điển, Công quốc Litva, Ba Lan và các hiệp sĩ vùng Livonia. Cuộc chiến kéo dài 24 năm đã khiến Nga kiệt quệ về kinh tế và dần suy yếu. Năm 1583, Ivan ra lệnh rút quân mà không thu được lợi ích nào ở Livonia. Một năm sau, Sa hoàng Ivan qua đời, theo Top War.

Trong những năm cuối đời, Sa hoàng Ivan phải hứng chịu một thất bại lớn nữa khi Hãn quốc Krym đem quân tấn công thành phố Moscow. Năm 1571, Krym liên kết với Thổ Nhĩ Kỳ đem 40.000 quân đột kích vào Moscow. Lúc này, quân chủ lực Nga đang bận rộn ở chiến trường Livonia và không rút về kịp.

Khoảng 6.000 quân trấn thủ Moscow nhanh chóng bị đánh bại và liên quân Krym – Thổ Nhĩ Kỳ kéo vào tàn phá Moscow. Trận đại hỏa hoạn năm 1571 ở Moscow ước tính đã cướp đi sinh mạng của khoảng 10.000 người và khiến Nga thiệt hại nặng về kinh tế. Quân Krym sau đó bị đẩy lui.

Tức giận trước thất bại ở Moscow, Sa hoàng Ivan đã ra lệnh xây dựng một phòng tuyến kiên cố bên bờ sông Oka. Ông dự đoán quân Krym sẽ tiếp tục tấn công Moscow. Năm 1572, quân Krym – Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục tấn công Moscow nhưng bị đánh bại. Chiến thắng này giúp Sa hoàng Ivan lấy lại danh tiếng.

Một chi tiết thường được dân gian đồn thổi để miêu ta sự tàn bạo của Sa hoàng Ivan là ông đã sát hại người con trai thứ 2 – Ivan Ivanovich (cũng là người con được cho là tài giỏi nhất của Ivan).

Chuyện kể rằng vào năm 1581, trong một cuộc tranh cãi với Ivanovich, Sa hoàng Ivan đã nổi giận và dùng một cây trượng (có tài liệu nói là cây giáo) phóng chết con trai. Vụ việc được cho là ngộ sát và Ivan vô cùng ân hận về hành động của mình. Câu chuyện nổi tiếng trên được danh họa Nga Ilya Repin vẽ lại vào thế kỷ 19, theo Russia Beyond.

Tuy nhiên, khi khai quật lăng mộ của Ivan, người ta phát hiện ông dường như mắc bệnh bại liệt vào những năm cuối đời và việc sát hại con trai có lẽ là điều bất khả thi.

Sa hoàng Ivan được đánh giá là nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn đối với lịch sử Nga và châu Âu. Ông là người có công mở rộng lãnh thổ Nga và cai trị một trong những đế chế rộng lớn nhất châu Âu vào thế kỷ 16. Sa hoàng Ivan cũng là người đặt nền móng cho Nga từng bước kiểm soát vùng đất rộng lớn Siberia và trở thành quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới như ngày nay.

__________________

Từ một nước Nga bị suy yếu vì sự lũng đoạn của giới quý tộc và bị hai đế quốc lớn trong khu vực chèn ép, một vị sa hoàng đã quyết tâm cải cách, mở mang dân trí theo hướng Âu hóa, đưa đất nước trở nên hùng mạnh. Ông đem quân đánh ngược lại hai đế quốc kia, đưa lãnh thổ Nga vươn dài tới Biển Đen và Biển Baltic.

Xem tiếp kỳ cuối: Sa hoàng biến Nga thành cường quốc, dẫn quân đánh 2 đế quốc hùng mạnh

Vương Nam – tổng hợp
Theo: nguoiduatin

Sunday, January 18, 2026

THƯỜNG NÓI 5 CÂU NÀY KHI ĐẾN NHÀ NGƯỜI KHÁC LÀ DẤU HIỆU CỦA EQ THẤP

EQ không nằm ở sự hoạt ngôn, mà ở khả năng nhận biết đâu là điều nên nói và đâu là điều nên giữ lại để thể hiện sự tôn trọng.


Khi đến thăm nhà người khác, lời nói không chỉ phản ánh phép lịch sự mà còn thể hiện mức độ trí tuệ cảm xúc (EQ) của mỗi người.

Người có EQ cao thường tinh tế, biết quan sát bối cảnh và lựa chọn ngôn từ phù hợp để tạo cảm giác thoải mái cho chủ nhà. Ngược lại, có những câu nói tưởng như vô hại nhưng lại dễ khiến không khí trở nên gượng gạo, thậm chí làm tổn thương người đối diện.

Dưới đây là 5 câu nói phổ biến mà người EQ thấp thường nói khi đến nhà người khác chơi:

1. “Nhà này mua bao nhiêu tiền thế?”

Tiền bạc và tài sản là chủ đề không phải lúc nào cũng dễ chia sẻ. Việc hỏi trực tiếp giá nhà dễ khiến chủ nhà rơi vào thế khó: trả lời thì ngại khoe khoang, không trả lời lại sợ bị đánh giá là né tránh.

Người có EQ cao thường hiểu rằng sự tò mò cá nhân không nên đặt lên trên cảm giác thoải mái của người khác, nhất là khi mối quan hệ chưa đủ thân thiết.

2. “Sao chưa lập gia đình/ chưa sinh con?”

Đây là câu hỏi quen thuộc nhưng cũng thuộc nhóm dễ gây tổn thương nhất. Hôn nhân và con cái là lựa chọn cá nhân, đồng thời có thể liên quan đến những câu chuyện riêng tư, áp lực xã hội hoặc trải nghiệm không vui mà người ngoài không thể nhìn thấy.

Việc hỏi thẳng cho thấy người hỏi chưa đủ tinh tế để nhận ra giới hạn cảm xúc của đối phương, dù hoàn toàn không có ý xấu.


3. “Nhà bạn nhỏ/quá chật nhỉ?”

So sánh không gian sống của người khác, dù vô tình hay cố ý, đều dễ chạm vào sự tự trọng của chủ nhà. Với nhiều người, ngôi nhà không chỉ là nơi ở mà còn gắn liền với nỗ lực cá nhân, điều kiện kinh tế và câu chuyện riêng của họ.

Người có EQ cao sẽ tránh đưa ra nhận xét mang tính đánh giá, đặc biệt là những so sánh có thể khiến đối phương cảm thấy bị xem thường.

4. “Sao bạn không mua đồ xịn hơn?”

Câu nói này thường xuất phát từ thói quen áp đặt tiêu chuẩn cá nhân lên người khác. Trong tâm lý học, đây được xem là biểu hiện của việc thiếu khả năng đặt mình vào hoàn cảnh của đối phương.

Mỗi người có ưu tiên tài chính, gu thẩm mỹ và hoàn cảnh khác nhau. Nhận xét kiểu này không mang tính đóng góp, mà dễ khiến chủ nhà cảm thấy bị phán xét.

5. Nhà có mỗi thế này thôi à?”

Câu hỏi này tuy ngắn nhưng mang hàm ý đánh giá rất rõ. Nó dễ khiến chủ nhà cảm thấy bị xem nhẹ hoặc bị so sánh với một “chuẩn mực” nào đó không được nói ra.

Trong giao tiếp xã hội, tôn trọng không chỉ nằm ở lời khen, mà còn ở việc tránh khiến người khác cảm thấy mình bị đánh giá thấp.


EQ có thể rèn luyện

EQ là kỹ năng có thể học và rèn luyện, không phải phẩm chất cố định. Nhiều người đặt những câu hỏi trên đơn giản vì thói quen, môi trường sống hoặc chưa từng được hướng dẫn về ranh giới cảm xúc trong giao tiếp.

Việc nhận diện những câu hỏi dễ gây khó chịu không nhằm phán xét cá nhân, mà giúp mỗi người tinh tế hơn khi bước vào không gian riêng của người khác.

Chỉ cần thay đổi cách quan sát và lựa chọn lời nói, chẳng hạn như chuyển từ nhận xét sang khen ngợi, từ so sánh sang thấu hiểu, mỗi người đều có thể cải thiện kỹ năng giao tiếp và xây dựng mối quan hệ tích cực hơn.

Trong nhiều trường hợp, EQ cao không nằm ở việc nói điều gì hay ho, mà ở việc biết không nên nói gì để người khác cảm thấy được tôn trọng và thoải mái.

Người EQ cao thường làm gì khi đến nhà người khác?

Người có EQ cao hiểu rằng, khi bước vào nhà người khác, sự tinh tế quan trọng không kém sự thân thiện. Trước khi đặt câu hỏi, họ thường quan sát phản ứng và cảm xúc của chủ nhà để điều chỉnh cách trò chuyện, tránh những chủ đề có thể khiến đối phương khó xử hoặc không sẵn sàng chia sẻ.

Thay vì tò mò đời tư, người EQ cao ưu tiên những câu hỏi tích cực, trung tính và tập trung vào sự kết nối. Mục tiêu của cuộc trò chuyện không phải là thu thập thông tin cá nhân, mà là tạo cảm giác thoải mái, tôn trọng và dễ chịu cho tất cả mọi người.

Mini
Theo: Đời sống và Pháp luật

THỎA ƯỚC "THẾ KỶ" MỸ TỪNG KÝ VỚI ĐAN MẠCH VỀ QUYỀN KIỂM SOÁT GREENLAND

Tuyên bố Lansing, phụ lục trong thỏa ước mua bán lãnh thổ năm 1916, ràng buộc Mỹ tôn trọng quyền kiểm soát của Đan Mạch đối với đảo Greenland.


Tuyên bố Lansing, được đặt tên theo cựu ngoại trưởng Mỹ Robert Lansing, được ký cách đây hơn một thế kỷ, đang thu hút nhiều sự quan tâm trở lại vì Tổng thống Donald Trump liên tục khẳng định Mỹ "cần Greenland", bất chấp phản đối gay gắt từ Đan Mạch và các đồng minh châu Âu.

Văn kiện ngoại giao này là một phần trong thỏa ước "thế kỷ" của Washington nhằm củng cố vị thế cường quốc hai đại dương vào đầu thế kỷ 20, sau khi Mỹ hoàn thành công trình kênh đào Panama năm 1914 và ngăn chặn hệ lụy lan tỏa từ Thế chiến I tại châu Âu.

Tổng thống Mỹ Woodrow Wilson chấp thuận chi ngân sách 25 triệu USD, thanh toán bằng vàng, để mua lại ba hòn đảo trên vùng biển Caribe là Saint Thomas, Saint John và Saint Croix từ Đan Mạch. Copenhagen khi đó gọi khu vực này là "Quần đảo Tây Ấn", nay đã được đổi tên thành Quần đảo Virgin thuộc Mỹ (USVI) và là một trong hai lãnh thổ hải ngoại của Mỹ trên vùng biển Caribe, bên cạnh Puerto Rico.

Bản gốc Tuyên bố Lansing, thuộc bộ văn kiện năm 1916, trong Văn khố Quốc gia Đan Mạch vào tháng 3/2025. Ảnh: Jyllands-Posten

Giao kèo mua Quần đảo Tây Ấn được ký ngày 4/8/1916 tại New York bởi ngoại trưởng đương nhiệm khi đó là Robert Lansing, kèm phụ lục với Tuyên bố như sau:

"Trong khi tiến hành ký kết Công ước về chuyển nhượng các đảo Tây Ấn thuộc Đan Mạch cho Mỹ trong ngày hôm nay, Ngoại trưởng Mỹ, người ký tên dưới đây và được chính phủ mình ủy quyền đầy đủ, trân trọng tuyên bố rằng chính phủ Mỹ sẽ không phản đối việc chính phủ Đan Mạch mở rộng các lợi ích chính trị và kinh tế của mình ra toàn bộ lãnh thổ Greenland".

Bản gốc của giao kèo này lẫn tuyên bố về Greenland đang được lưu trữ tại Văn khố Quốc gia Đan Mạch và trong hệ thống tư liệu lịch sử của Bộ Ngoại giao Mỹ. Đan Mạch hoàn tất chuyển giao quần đảo ở Caribe cho Mỹ khoảng 8 tháng sau đó, vào ngày 31/3/1917. Đến năm 1921, Đan Mạch chính thức tuyên bố toàn bộ đảo Greenland thuộc quyền cai trị của mình.

Tuyên bố Lansing về Greenland thời điểm đó cũng đặc biệt gây chú ý, một phần vì nó đi ngược lại tinh thần của Học thuyết Monroe, được cựu tổng thống James Monroe đưa ra vào năm 1823 về ngăn chặn sự mở rộng và can thiệp của các cường quốc châu Âu tại Tây Bán cầu, khu vực bao gồm cả Greenland.

Đan Mạch đã hiện diện tại Greenland từ năm 1721, chủ yếu ở bờ tây. Từ cuối thế kỷ 19, Copenhagen đẩy mạnh các cuộc thám hiểm về phía bắc và đông hòn đảo, những khu vực trước đó gần như không thể tiếp cận vì đường đi quá khắc nghiệt. Năm 1894, Ammassalik, nay là thị trấn Tasiilaq, trở thành điểm giao thương ở bờ đông Greenland. Đến năm 1909, một trạm buôn tư nhân được lập tại Thule, nay là thị trấn Qaanaaq, ở cực bắc hòn đảo.

Đan Mạch suốt những thập kỷ đó theo đuổi mục tiêu khẳng định chủ quyền trên toàn hòn đảo, song luôn vấp phải rào cản từ các quan điểm chiến lược của Mỹ. Ở chiều ngược lại, các quần đảo tại Caribe từ lâu không còn giá trị chiến lược với Đan Mạch, khi ngành mía đường tại đây đã lao dốc từ lúc chế độ nô lệ được bãi bỏ vào năm 1848, biến vùng lãnh thổ hải ngoại trở thành gánh nặng hành chính lẫn tài chính.

Cựu ngoại trưởng Mỹ Robert Lansing trong phòng làm việc năm 1917. Ảnh: Thư viện Quốc hội Mỹ

Việc Washington ký Tuyên bố Lansing được xem là bước ngoặt với mục tiêu này của Copenhagen. "Chỉ với một chữ ký, Mỹ đã hợp pháp hóa việc công nhận chủ quyền của Đan Mạch đối với toàn bộ Greenland", chuyên trang Nordic Info thuộc Đại học Aarhus của Đan Mạch bình luận.

Sau tuyên bố của Mỹ, phần lớn cộng đồng quốc tế dần chấp nhận lập trường của Đan Mạch tại Greenland. Quốc gia duy nhất công khai phản đối thỏa ước vào thời điểm đó là Na Uy, vốn cũng có tham vọng mở rộng hoạt động tại Bắc Cực để phục vụ ngành đánh bắt cá. Nỗ lực phản đối này cuối cùng không đủ để đảo ngược xu thế công nhận chủ quyền Đan Mạch tại hòn đảo rộng 2,16 triệu km2.

Washington nhiều lần cân nhắc mua lại Greenland trong các giai đoạn sau này, đặc biệt trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi giá trị chiến lược của hòn đảo thay đổi.

Theo những hồ sơ được chính phủ Mỹ giải mật vào năm 1991, chính quyền của tổng thống Harry Truman từng bí mật đề nghị mua Greenland với giá 100 triệu USD, cũng trả bằng vàng, đồng thời cấp quyền cho Đan Mạch khai thác một mỏ dầu tại Alaska. Ngoại trưởng James Byrnes đã trình bày đề nghị này với ngoại trưởng Đan Mạch Gustav Rasmussen vào ngày 14/12/1946. Ông Rasmussen đã sửng sốt trước đề xuất này và không chấp thuận.

Vị trí Mỹ, Greenland và Đan Mạch. Đồ họa: CNN

Đội cố vấn của ông Truman coi Greenland là vị trí phòng thủ chiến lược then chốt để đối phó với nguy cơ oanh tạc cơ Liên Xô bay qua Vòng Bắc Cực tiến vào Bắc Mỹ. Cuối cùng, Washington vẫn tiếp cận được Greenland thông qua việc Đan Mạch gia nhập NATO năm 1949 và một thỏa thuận quốc phòng song phương với điều khoản "tôn trọng đầy đủ chủ quyền của mỗi bên".

Năm 1955, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ tiếp tục đề xuất với tổng thống Dwight Eisenhower rằng nước này nên một lần nữa tìm cách mua Greenland, nhưng Bộ Ngoại giao Mỹ khi đó tư vấn rằng đã quá muộn cho mọi nỗ lực hỏi mua lãnh thổ.

Hơn một thế kỷ sau Tuyên bố Lansing, thỏa ước đó đã được các chính trị gia Đan Mạch nhắc lại để đáp trả loạt tuyên bố "Mỹ cần Greenland" từ Tổng thống Trump.

Nghị sĩ Anders Vistisen, thành viên Nghị viện châu Âu, nói với CNN rằng Greenland là lãnh thổ của một quốc gia đồng minh NATO thân cận với Mỹ suốt hơn 70 năm và Washington từng ký hiệp ước thừa nhận quyền kiểm soát đầy đủ của Đan Mạch đối với hòn đảo.

"Nếu chính quyền Mỹ còn nghi ngờ, họ chỉ cần lục lại hồ sơ trong kho lưu trữ để thấy tuyên bố năm 1916 xác nhận Greenland thuộc về Vương quốc Đan Mạch", Vistisen nói.

Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen cũng nhiều lần khẳng định Greenland "không phải để bán", đồng thời cảnh báo Washington không nên đặt câu hỏi về toàn vẹn lãnh thổ của một đồng minh NATO và cần chấm dứt những phát ngôn mang tính đe dọa.

Bối cảnh hiện nay đã thay đổi hoàn toàn so với năm 1916-1917. Đan Mạch không còn là quốc gia dễ bị tổn thương, còn Greenland có quyền tự trị sâu rộng và bản sắc chính trị ngày càng rõ nét. Các cuộc thăm dò dư luận gần đây cho thấy đa số người Greenland không ủng hộ việc trở thành một phần của Mỹ.

Thanh Danh (Theo Nordic Info, CNN, AEI)
Link tham khảo: