Sunday, October 29, 2023

MYANMAR: HẬN THÙ VÀ TỘI ÁC - KỲ 1: CHE GIẤU

Đối mặt với cáo buộc phạm tội ác chiến tranh, quân đội và chính phủ Myanmar phủ nhận tất cả.

Một người Rohingya bế trên tay đứa con trai đã qua đời. Giống như những người Roghinya khác, anh đưa con chạy trốn khỏi Myanmar để sang Bangladesh lánh nạn. Ảnh chụp tháng 10/2017. Nguồn: Indranil Mukherjee/ AFP/ Getty Images.

Trong nhiều năm, quân đội Myanmar đã bị cáo buộc thực hiện các hành vi giết hại, hãm hiếp, tra tấn, cướp bóc, cùng các tội ác có tính chất diệt chủng nhắm vào những sắc dân thiểu số, đặc biệt là người Rohingya.

Đáp lại vô số các cáo buộc, chính phủ Myanmar, quân đội nước này, và cả nhà lãnh đạo Aung San Suu Kyi, người từng được quốc tế vinh danh vì các hoạt động đấu tranh nhân quyền, đều một mực phủ nhận và đổ hết tội lỗi lên các lực lượng nổi dậy.

Qua loạt bài hai kỳ này, Luật Khoa mời bạn đọc cùng tìm hiểu về bức tranh đầy máu, nước mắt, chất chứa hận thù và đến bây giờ vẫn chưa có lối ra của Myanmar.

Kỳ một sẽ là câu chuyện về những tội ác bị che giấu.


***
Tội ác không bị trừng trị

Shamila (không phải tên thật) siết chặt tay cô con gái sáu tuổi đến mức bàn tay bé nhỏ trở nên trắng bệch. Cô vừa khóc vừa kể lại việc binh lính Myanmar bất ngờ xông vào nhà của mình, cưỡng hiếp tập thể cô trước mặt các con. “Cả ba tên lính đã hãm hiếp tôi. Khi chúng rời đi, tôi đã chạy khỏi nhà cùng với hai đứa con của mình, theo đám đông đang tứ tán bỏ chạy để giữ mạng.”

Chồng của Shamila đã ra ngoài khi vụ tấn công xảy ra. Cô không gặp lại chồng kể từ đó. Shamila không biết ba đứa con khác của mình đang ở đâu. Chúng đang chơi bên ngoài khi lính Myanmar ập đến. Bọn trẻ đã mất tích vào thời điểm đám lính rời đi.

Một người phụ nữ Rohingya ở lều tị nạn Leda, Bangladesh đang kể lại cách những người lính Myanmar xông vào nhà và hãm hiếp cô. “Một kẻ lột đồ của tôi, kẻ còn lại cưỡng hiếp tôi”. Ảnh: AFP TV.

Shamila đang sống tại một trại tị nạn của người Rohingya ở Bangladesh. Câu chuyện của cô được đăng trên Dhaka Tribune, một tờ nhật báo bằng tiếng Anh có trụ sở tại thủ đô Dhaka của Bangladesh.

Chuyện xảy ra vào tháng 8/2017, khi Lực lượng Vũ trang Myanmar (quân đội chính quy của Myanmar, tên chính thức là Tatmadaw) mở một cuộc tấn công đẫm máu vào cộng đồng người Rohingya ở bang Rakhine. Hơn 700.000 người Rohingya đã phải mạo hiểm bỏ trốn sang nước láng giềng Bangladesh.

Cuộc tấn công, theo báo cáo của Zeid Ra’ad Al Hussein, Giám đốc Cao ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền, là “một ví dụ kinh điển về nạn thanh trừng sắc tộc” (a textbook example of ethnic cleansing).

Trong những năm gần đây, các cáo buộc rằng quân đội Myanmar thực hiện các hành vi đốt phá, hãm hiếp, giết và tấn công nhắm vào cộng đồng người Rakhine, Mro, Daignet, Chin và đặc biệt là Rohingya (được Liên Hợp Quốc mô tả là một trong những dân tộc thiểu số bị ngược đãi nhất trên thế giới) không còn là chuyện mới mẻ.

Vào tháng 09/2017, ông Zeid Ra’ad Al Hussein tố cáo chính phủ Myanmar và quân đội đã tiến hành các cuộc tấn công nhắm vào người Rohingya ở Myanmar, khiến hơn 300.000 người chạy sang Bangladesh trong những tuần trước đó.

Ông kêu gọi chính phủ Myanmar “chấm dứt hoạt động quân sự tàn ác hiện thời của họ, với trách nhiệm giải trình về tất cả các vi phạm đã xảy ra, đồng thời đảo ngược lịch sử phân biệt đối xử nghiêm trọng và phổ biến đối với người Rohingya”.

Chính phủ Myanmar nên “ngừng ngay việc cáo buộc người Rohingya đang tự đốt nhà và tự cướp phá ngôi làng của họ”, vị quan chức Liên Hợp Quốc này lên tiếng.

Trong một báo cáo đưa ra vào tháng 4/2020 tại Geneva, Yanghee Lee, báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc, cáo buộc “chiến thuật của Tatmadaw trong nhiều thập niên qua cố ý khiến dân thường phải chịu đựng nỗi đau ở mức cao nhất” và “gây ra đau khổ tột cùng” cho các dân tộc thiểu số của nước này.

“Trong khi thế giới đang phải hứng chịu đại dịch COVID-19, quân đội Myanmar vẫn tiếp tục gia tăng các cuộc tấn công ở bang Rakhine và nhắm vào dân thường,” Lee cho biết.

Những người Rohingya cố gắng chạy thoát, tìm đường sang lánh nạn tại Bangladesh, sau các chiến dịch tấn công của quân đội Myanmar. Ảnh: UNHCR/ Roger Arnold.

Cô cáo buộc quân đội Myanmar “vi phạm một cách có hệ thống các nguyên tắc cơ bản nhất của luật nhân đạo quốc tế và nhân quyền”, đồng thời cảnh báo hành vi của họ đối với dân thường “có thể dẫn đến tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người”.

Ngoài ra, cuối tháng 12/2020, một bản báo cáo chi tiết dài 161 trang của tổ chức Justice For Myanmar (Công lý cho Myanmar) được công bố. Điều tra của tổ chức nhân quyền này cáo buộc các cá nhân và tổ chức trong quân đội Myanmar tham nhũng và phạm tội ác chiến tranh nhắm vào các cộng đồng người thiểu số ở nước này.

Bản báo cáo chỉ đích danh những doanh nghiệp quốc tế lớn trực tiếp hay gián tiếp hỗ trợ cho việc thực hiện tội ác của quân đội Myanmar. Đáng chú ý là Viettel (một tập đoàn viễn thông quốc doanh do Quân đội Nhân dân Việt Nam trực tiếp quản lý và điều hành) cũng nằm trong danh sách này.

Bằng chứng, tố cáo và phủ nhận

Vào tháng 9/2020, hai binh sĩ Tatmadaw bị đưa đến The Hague, nơi Tòa án Hình sự Quốc tế (International Criminal Court – ICC) mở vụ án điều tra việc liệu các thủ lĩnh Tatmadaw có phạm tội ác quy mô lớn chống lại người Rohingya hay không. Trước đó, hai quân nhân này đã bị nhóm phiến quân Arakan bắt giữ và hỏi cung. Các đoạn video thẩm vấn được tổ chức phi chính phủ Fortify Rights công bố, sau khi họ phân tích và xác nhận độ tin cậy của các bằng chứng này.

Trong đoạn video, binh nhì Myo Win Tun thừa nhận làm theo lệnh từ cấp trên, “bắn hết tất cả những gì anh nhìn thấy và tất cả những gì anh nghe thấy”. Binh sĩ này xác nhận đã tham gia vào vụ thảm sát 30 người Hồi giáo Rohingya và chôn họ trong một hố chôn tập thể gần một tháp xà lim và một căn cứ quân sự.

Người còn lại, binh nhì Zaw Naing Tun, thì cho biết anh ta và các đồng đội trong một tiểu đoàn khác đã làm theo một chỉ thị gần như giống hệt: “Hãy giết tất cả những gì anh nhìn thấy, bất kể trẻ em hay người lớn”. “Chúng tôi đã xóa sổ khoảng 20 ngôi làng”, Zaw Naing Tun nói và cho biết thêm rằng anh ta cũng đã ném các xác chết vào một hố chôn tập thể.

“Chỉ huy trưởng thứ hai của MOC-15, Đại tá Than Htike, đã lệnh cho chúng tôi ‘giết tất cả kalar và chủng tộc của họ sẽ bị hủy diệt’. Những người đàn ông Hồi giáo bị bắn vào trán và bị ném xuống mồ”, theo lời khai của binh nhì Myo Win Tun. “Kalar” là một từ ngữ xúc phạm được sử dụng ở Myanmar để chỉ người Rohingya.

Bên cạnh đó, hai cựu quân nhân còn thừa nhận mình đã hiếp dâm phụ nữ, trẻ em gái và phá hủy các làng mạc của họ.

Matthew Smith, giám đốc điều hành của tổ chức bảo vệ nhân quyền Fortify Rights, nhận xét: “Những lời thú nhận này chứng minh những gì chúng ta đã biết từ lâu, rằng quân đội Myanmar là một lực lượng quân sự quốc gia hoạt động hiệu quả với cơ cấu chỉ huy cụ thể và tập trung. Người chỉ huy kiểm soát, chỉ đạo và ra lệnh cho cấp dưới của họ thực hiện mọi hành động. Trong trường hợp này, các chỉ huy đã ra lệnh cho quân lính thực hiện các hành vi diệt chủng và tiêu diệt người Rohingya, và đó chính xác là những gì họ đã làm.”

Các ngôi nhà tại Maungdaw, bang Rakhine của Myanmar, bị đốt cháy. Quân đội Myanmar cho rằng “100% các vụ đốt phá này là do quân phiến loạn thực hiện”. Ngôi nhà trong ảnh bị đốt khi ngôi làng đã bị bỏ hoang. Ảnh chụp màn hình phóng sự trên BBC có tên “Who is burning down Rohingya villages?” (Ai đang đốt phá các ngôi làng của người Rohingya?).

Có rất nhiều lời tố cáo tương tự về các tội ác của quân đội Myanmar, được Fortify Rights ghi nhận qua lời của các nạn nhân.

Như trường hợp của cô Rahana, 30 tuổi, người cùng với hai đứa con đã trốn khỏi nhà ở Kyet Yoe Pyin, còn được gọi là Kiari Farang, ngôi làng mà binh nhì Zaw Naing Tun xác nhận đã từng “đi càn”. Cô trốn đi vào ngày 26/8, đến Bangladesh vào ngày 30/8/2017.

Rahana kể lại: “Quân đội đến làng, họ chặt đầu, chém và phanh thây người sống. Chồng và cha tôi đã bị giết…Tiếng súng nổ ầm ầm. Chúng tôi thấy quân đội bắn vào làng, và chúng tôi nhìn thấy các xác người chết. Có phụ nữ, đàn ông, trẻ em. Khi chúng tôi trốn đi, chúng tôi thấy một số mảnh thi thể, bị chặt thành nhiều mảnh, và chúng tôi thấy một số xác chết nằm la liệt, nằm rải rác ở nhiều nơi khác nhau. Nó ở trên cánh đồng. Có khoảng 20 xác chết nằm rải khắp nơi.”

Một lời kể khác từ người phụ nữ Rohingya 35 tuổi ở làng Kyet Yoe Pyin, nói về cách các binh sĩ quân đội Myanmar thiêu sống đứa con gái hai tuổi của mình: “Chúng tôi đang đứng gần đó, nhưng chúng tôi không được phép lấy [đứa bé] ra khỏi đám cháy. Chúng tôi la hét, hy vọng quân đội sẽ không làm hại người khác. Chúng tôi có thể cứu [con gái lớn của tôi] nhưng không cứu được [đứa nhỏ].”

Từ năm 2016, Myanmar bị quốc tế lên án vì các hoạt động quân sự thù địch và diệt chủng nhắm vào các cộng đồng người thiểu số. Công dân thuộc mọi sắc tộc sống trong các khu vực xung đột hiện đang là mục tiêu của quân đội Myanmar.

Quân đội nước này không chỉ giết và gây thương tích cho hàng loạt dân thường, bao gồm cả trẻ em, trong các cuộc không kích và pháo binh gần đây. Họ còn ngăn chặn một số người bị thương tiếp cận dịch vụ chăm sóc y tế khẩn cấp.

Điển hình là trường hợp một thiếu niên chết tại một trạm kiểm soát quân sự ở Rakhine, sau khi các binh sĩ Tatmadaw buộc chiếc xe đưa cậu đến bệnh viện phải dừng tại đó chờ.

Quân đội cũng đã thủ tiêu, bắt giữ, tra tấn hoặc giết hàng chục người đàn ông, với cáo buộc rằng họ có liên hệ với nhóm phiến quân Arakan. Một ngôi làng có tới 700 ngôi nhà đã bị phá hủy hoặc thiêu rụi. Toàn bộ người trong làng đã phải di tản.

Nhà lãnh đạo Myanmar Aung San Suu Kyi phát biểu tại tại Tòa án Công lý Quốc tế vào tháng 12/2019, bác bỏ các cáo buộc nhắm vào quân đội nước này. Ảnh: Peter Dejong/ Associated Press.

Trước vô số các cáo buộc về tội diệt chủng, tội ác chiến tranh và tội ác chống nhân loại, chính phủ Myanmar phủ nhận bằng chứng về “ý định diệt chủng” trong các hành vi của quân đội.

Quân đội Myanmar thì khẳng định chỉ đang chiến đấu với các tay súng Rohingya và phủ nhận nhắm vào dân thường.

Nhà lãnh đạo đất nước Aung San Suu Kyi, người được trao tặng giải Nobel Hòa bình vào năm 1991 và từng được xem là biểu tượng của nhân quyền, cũng nhiều lần bác bỏ cáo buộc diệt chủng.

Trước Tòa án Công lý Quốc tế, bà đổ lỗi cho các lực lượng nổi dậy, gọi các cáo buộc là “bức tranh thực tế không đầy đủ và gây hiểu lầm về tình hình” (incomplete and misleading factual picture of the situation).

Lee Nguyen / Theo: luatkhoa
Link tham khảo:



3 ĐIỀU KHIẾN ĐỜI NGƯỜI HỐI HẬN: KẾT HÔN QUÁ SỚM, ĐỌC SÁCH QUÁ ÍT, CHẤP NHẬN THẤT BẠI QUÁ NHANH

Người kết hôn quá sớm thường là người tuổi trẻ nông cạn, không biết bản thân thực sự muốn gì, ngày qua ngày buồn nhiều hơn vui. Người đọc sách quá ít thì khó có cơ hội mở mang trí tuệ, hoặc thăng tiến, mỗi ngày thường bận rộn với những chuyện mệt mỏi. Người chấp nhận thất bại quá nhanh không thể hiểu rằng, thất bại lớn hay nhỏ, ít hay nhiều, nếu bạn không ngã lòng chùn bước, thì tất sẽ có ngày đến thành công.

Cách duy nhất để trở thành một người leo núi giỏi là phải leo núi. Để giỏi giải quyết vấn đề, bạn phải nỗ lực giải quyết chúng. Bạn thấy đấy, thành công không phải là không bao giờ gục ngã, mà là luôn đứng dậy sau mỗi vấp ngã! (Ảnh: Shutterstock)

Kết hôn quá sớm

Có cô gái trẻ vừa ra trường, người nhà đã vội vàng giới thiệu cho một đối tượng xem mắt. Cô hoàn toàn thụ động, không phản đối mà cũng chẳng có ý kiến gì. Để rồi một cô sinh viên mới ra trường chưa đến nửa năm đã vội vã bước chân vào cuộc sống hôn nhân.

Sau khi kết hôn, cô mới biết công ty của gia đình chồng đang gặp khó khăn. Chồng cô thì đã thất nghiệp và ở nhà mấy tháng. Bản thân cô khi đó cũng đang mang thai nên không thể đi làm.

Cả hai vợ chồng đều không kiếm ra tiền nên phải xin nhà chồng. Mỗi lúc như vậy, mẹ chồng thường nói những lời rất khó nghe. Cô cứ chịu đựng những ngày tháng ấy cho đến khi sinh đứa bé ra.

Trên đây chỉ là một mẩu chuyện nhỏ về việc “kết hôn quá sớm”.

Khi tuổi đời còn quá trẻ, chúng ta chưa có được những suy nghĩ chín chắn về tình yêu, hôn nhân và cuộc sống. Thiếu đi sự từng trải, chúng ta thường khó mà chống đỡ được với sóng gió cuộc đời.

Khi còn chưa có bất cứ khoản tích lũy nào, chúng ta đã phải gánh vác mọi chi tiêu của một gia đình nhỏ. Tiền sinh hoạt, tiền lễ tết đến tiền sắm sửa đồ đạc, tất cả đều chỉ trông chờ vào những đồng lương ít ỏi mỗi tháng. Nếu nuôi thêm con nhỏ thì chúng ta sẽ phải tiêu tốn nhiều tiền hơn nữa.

Nếu gia đình của bạn không có chỗ dựa vững chắc thì đừng vội kết hôn quá sớm. (Ảnh: Pixabay)

Nếu gia đình của bạn không có chỗ dựa vững chắc thì đừng vội kết hôn quá sớm. Trước khi kết hôn, bạn hãy học cách làm cho cuộc sống của bản thân thêm phong phú. Hãy bước ra ngoài để ngắm nhìn thế giới rộng lớn ngoài kia. Học cách tự chịu trách nhiệm với chính mình và với cả con cái chúng ta sau này.

Đọc sách quá ít

Câu chuyện về một người phụ nữ tên Fayza đã nhận được nhiều sự quan tâm khi được chia sẻ trên diễn đàn TED. Năm 8 tuổi, Fayza bị cha mẹ ép phải bỏ học để kết hôn với một người đàn ông địa phương. Năm 14 tuổi, cô bất đắc dĩ trở thành vợ của một người đàn ông 60 tuổi. Khi chưa tròn 18 tuổi, Fayza đã trở thành mẹ của ba đứa con nhỏ.

Tấn bi kịch của cuộc đời và sự vô vọng đã khiến Fayza nhận ra giáo dục chính là con đường duy nhất để thay đổi số phận. Ban ngày chăm con làm việc, tối đến, cô lại cặm cụi ngồi đọc sách học bài. Cuối cùng, sau bao nỗ lực cố gắng, Fayza cũng đã thi đỗ đại học và từng bước thoát khỏi cuộc đời u ám tăm tối trước kia.
Đọc sách là cách dễ thực hiện nhất để nâng cấp cuộc đời. Có một câu nói rằng: "Ý nghĩ muốn đọc sách của hôm nay biết đâu lại chính là lời kêu cứu của tương lai đang gửi đến bạn".
Nhân lúc còn trẻ, mỗi người nên đọc nhiều sách hơn và hãy chọn đọc những quyển sách có ích cho mình.

Đối với một người bình thường không tiền cũng không quan hệ, đọc sách chính là cách duy nhất cho ta bản lĩnh để tu thân lập nghiệp. Nếu bạn chịu đọc thêm nhiều sách khi còn trẻ, sau này bạn sẽ bớt đi một lần phải cầu cạnh đến sự giúp đỡ của người khác.

"Ý nghĩ muốn đọc sách của hôm nay biết đâu lại chính là lời kêu cứu của tương lai đang gửi đến bạn".

Cha mẹ người Do Thái xức dầu thơm vào từng trang sách để khuyến khích con trẻ yêu và đam mê việc đọc. Họ tin rằng: “Chúng ta sẽ trở thành gì, phụ thuộc vào điều chúng ta đọc, sau khi tất cả các thầy cô giáo đã xong việc với chúng ta. Trường học vĩ đại nhất chính là sách vở”.

Chấp nhận thất bại quá nhanh

Ở đời, có nhiều người biết vì sao mình khổ nhưng lại chẳng thể nào đổi thay cuộc sống của mình. Ngoại trừ sự phụ thuộc về mặt kinh tế, họ còn bị mắc bệnh ỷ lại. Họ dường như không thể độc lập chống chọi với những thách thức của cuộc sống.

Chúng ta đều đã biết câu tục ngữ: “Thất bại là mẹ thành công”. Không phải ngẫu nhiên mà con người đặt “thất bại” và “mẹ” trong thế so sánh. Khi nói đến mẹ là chúng ta nhớ đến sự dạy bảo chí tình, chí nghĩa, sự tỉ mỉ trong từng việc dù là nhỏ nhất. Người mẹ nào cũng mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho con, hy vọng sự thành công và hạnh phúc sẽ đến với con.

So sánh thất bại với người mẹ, bởi vì thất bại “đối xử” với ta cũng như thế. Thất bại giúp ta nhìn ra sai sót, nhìn ra điểm hạn chế của mình để bổ sung, hoàn thiện. Thất bại lớn hay nhỏ, ít hay nhiều, nếu bạn không ngã lòng chùn bước thì tất sẽ bước đến thành công.

Có người hỏi rằng tôi năm nay đã 30 tuổi rồi, liệu còn có thể đi học tiếp không? Tôi đã có mấy đứa con rồi, liệu còn có thể đi học tiếp không? Đáp án đương nhiên là có thể.

Chỉ cần bạn chấp nhận thay đổi thì sẽ không có lúc nào là muộn màng. Điều quan trọng nhất chính là bạn phải bắt tay vào hành động.

Ông vua phát minh (Edison). (Pixabay)

Thomas Alva Edison là một ví dụ điển hình khác về việc học hỏi từ thất bại. Edison bắt đầu nghiên cứu về bóng đèn điện từ năm 1878. Sau hàng ngàn cuộc thử nghiệm, nghiên cứu thất bại, ông đã thành công và chiếc bóng đèn điện đầu tiên của nhân loại đã ra đời.

“Tôi không thất bại. Tôi chỉ tìm ra 10.000 cách nhưng chưa thành công” - là cách mà ông nói về hàng ngàn thử nghiệm thất bại của mình, để tìm ra đúng vật liệu làm sợi dây tóc trong bóng đèn.

Như lời phát biểu của Tổng thống Trump: “Không bao giờ có điều gì đáng làm mà lại đến một cách dễ dàng cả. Bạn chiến đấu càng ngay chính, bạn sẽ càng phải đối mặt với nhiều trở ngại”, thất bại thực sự là thầy của bạn, một người thầy tận tụy luôn mong đợi những điều tốt đẹp nhất đến với bạn.

Tâm An / Theo: NTDVN

CHUYỆN NGƯỜI MẤT ÁO NƯỚC TỐNG

Chuyện người mất áo nước Tống: ‘Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê’


Lợi ích vật chất luôn là thứ khiến người thường tổn hao tâm trí, tranh tranh đoạt đoạt. Có kẻ vì lợi mà làm không biết bao chuyện xấu, trái luân thường, nghịch đạo lý.

Câu chuyện nhỏ dưới đây cho ta thấy rõ vì lợi mà con người ta trở nên tha hóa ra sao.


Chuyện kể rằng, vào thời Xuân Thu (722 – 481), ở nước Tống có người đánh mất một cái áo thâm. Anh ta hớt hải ra đường tìm. Thấy một người đàn bà mặc áo thâm, anh ta tiến tới, bèn níu lại đòi rằng: “Tôi vừa mất một cái áo thâm. Chị phải đền trả tôi cái này!”. Rồi cứ thế, anh ta giữ chặt cái áo không chịu buông tay.

Người đàn bà nọ cự lại: “Ông mất cái áo nào, tôi biết đấy là đâu. Đây là áo của tôi, chính tay tôi may ra”.

Nhưng anh kia vẫn khăng khăng: “Chị cứ phải đền trả áo cho tôi. Cái áo thâm tôi mất rất dày, cái áo thâm chị mặc thì mỏng. Lấy áo thâm mỏng của chị đền cái áo thâm dày cho tôi, còn phải nói lôi thôi gì nữa!”.

Lời bình:


Khi mối lợi bị đụng chạm, tổn hại, nhiều người thường có phản ứng như kẻ mất áo trong truyện trên. Mất áo chạy ra đường tìm phỏng có thấy? Thấy lợi ích bị tổn hao, lại chỉ chăm chăm tìm xem kẻ nào đã hại mình mà không tự hướng nội, xem thử mình đã làm gì sai để phải chịu nghịch cảnh. Chẳng phải là quá ấu trĩ sao?

Kẻ mất áo trong truyện cứ u u mê mê mãi không tỉnh. Mất áo của đàn ông mà lại đi đòi áo của đàn bà. Mất áo dày lại bắt đền áo mỏng. Đó chẳng phải là chuyện phi lý, nực cười sao? Không phải hắn không nhận ra mình vô lý nhưng cái lợi kia đã che mờ cả mắt rồi. Thấy người khác có áo thâm, trong khi mình vừa mất, đương nhiên hắn liền khởi ngay tâm tham lam, muốn chiếm đoạt.

Trong đầu hắn chỉ mong sao cho mau mau tìm lại được áo mà bất kể thủ đoạn, sẵn sàng cướp giữa ban ngày từ tay một người phụ nữ chân yếu tay mềm. Cái lợi vật chất đã tha hóa con người cùng cực, khiến họ không còn biết phải trái là gì, đạo lý ra sao. Vì cái lợi rất nhỏ (một cái áo thâm), họ sẵn sàng đánh đổi cả đạo đức, danh dự để mang tiếng là phường cướp giật. Đáng thương thay, đáng thương thay!

Hữu Bằng (sưu tầm & bình giải)

MARCO POLO: MỘT HUYỀN THOẠI THÁM HIỂM BỊ LÃNG QUÊN

Marco Polo là một trong những nhà thám hiểm vĩ đại nhất trong lịch sử của nhân loại, tuy nhiên tới thời điểm hiện tại, dường như chẳng còn được mấy người nhớ đến cái tên này.

Marco Polo.

Marco Polo sinh ngày 15 tháng 9 năm 1254 tại Cộng hòa Venice. Ông là một thương gia buôn bán, nhưng lịch sử nhắc chúng ta nhớ đến tên của ông không phải vì hoạt động kinh tế, mà là những lời kể của ông về chuyến đi đến phương Đông vào nửa sau của thế kỷ 13. Marco chỉ mới 17 tuổi khi bước vào cuộc hành trình sẽ đánh dấu cuộc đời ông và cả thế giới. Trong lời kể của mình, ông đề cập đến năm 1271 là ngày khởi hành trên chuyến hành trình dài đến Trung Quốc. Ông lên đường với cha và chú của mình. Dữ liệu về gia đình Marco Polo rất hạn chế chỉ bao gồm Niccolo và Maffio Polo, cha và chú của Marco.

Trong hành trình của mình, họ băng qua cao nguyên Anatolia và Armenia, sau đó là Kurdistan, đi xuống thung lũng sông Tigris, theo dòng chảy, qua Mosul và Baghdad, đến Basra. Từ đó, ba người Venice hướng đến Tabriz, băng qua Iran để đến Hormuz, trong Vịnh Ba Tư.

Dự định ban đầu là đi qua biển, nhưng sau đó họ đã từ bỏ ý định này và ba người đã quay trở lại phía bắc rồi di chuyển, dọc theo bờ biển phía nam của dãy núi Hindukush, họ đến chân núi Pamirs, từ nơi họ đi xuống ốc đảo Kashgar, sau đó đi qua sa mạc Takla-Makan về phía nam và đến tây bắc Tây Tạng. Từ đây, trong thung lũng sông Sulehe, họ đến cảng Ganzu.

Sau một năm dài gián đoạn vì một vài sự cố bất ngờ trên hành trình, cả ba đi qua vùng đất của Tangiers (dân tộc Tây Tạng ở phía đông bắc cao nguyên) và vào Kai-Ping Fu, nơi ở mùa hè của Khubilai - Hốt Tất Liệt (1214–1294), nơi họ gặp được cháu trai của Thành Cát Tư Hãn và là người sáng lập ra nhà Nguyên (1280–1368). Dinh thự này nằm ở phía bắc Hanbalâk.

Marco Polo là một thương gia và nhà thám hiểm gốc Venezia. Trong số các nhà thám hiểm, ông, cùng cha và chú là một trong những người Vhâu Âu đầu tiên đến Trung Quốc bằng Con đường tơ lụa cũng như đến thăm vị khả hãn Mông Cổ Hốt Tất Liệt. Những cuộc du hành của ông đã được ghi lại trong cuốn Il Milione.

Ở đó, họ nhanh chóng nhận được sự tin tưởng của người cai trị Mông Cổ - Hốt Tất Liệt, người mà họ phục vụ từ năm 1275 đến năm 1290, với vai trò như một quân sư, sau đó là đại sứ của triều đại Nguyên Mông. Vào khoảng thời gian sau đó Marco Polo cùng cha và chú trở về Venice bằng đường biển, theo con đường biển vòng qua Nam Á, dừng lại ở đảo Sumatra, sau đó là các đảo Nicobar và Andaman, Ceylon, và các bờ biển phía nam của Iran, cho đến khi họ đến được Hormuz.

Cho đến ngày nay, người ta vẫn chưa biết rõ nguyên nhân dẫn đến việc ông bị bắt giam. Có một số giả thuyết cho rằng việc ông tham gia trận hải chiến vào ngày 7 tháng 9 năm 1298, khi gần bờ biển Dalmatian, hạm đội của người Genova đã đè bẹp quân Venice, bắt giữ nhiều tù binh và ông là một trong số đó. Tuy nhiên, trong cuốn sách Polo - cuốn sách mà ông viết trong tù với sự giúp đỡ của người bạn tù, Rustichello ở Pisa - chúng ta thấy rằng tác phẩm được hoàn thành vào năm 1298. Trong bối cảnh này, thật khó tin đó là bản thảo những câu chuyện du hành của ông - bản thảo được gọi là Il milione, được hoàn thành trong vòng chưa đầy ba tháng, trong không gian của một phòng giam, không có tài liệu hoặc ghi chú khác.

Cuốn sách về những chuyến du hành của Marco Polo.

Do đó, giả thuyết thứ hai cho rằng Marco đã đến nhà tù Genova ngay sau khi trở về từ chuyến đi của mình, vào năm 1296 hoặc 1297, mà không biết lý do. Điều chắc chắn là Marco Polo đã kể lại những câu chuyện của mình trong chuyến đi Châu Á với người bạn cùng phòng, Rustichello ở Pisa.

Bản thảo gốc của Il milione được viết bằng tiếng Pháp cổ và được lưu giữ tại Thư viện Quốc gia ở Paris, chỉ được xuất bản vào năm 1824. Được biết đến với một số tựa đề: “Sự đa dạng của thế giới”, “Cuốn sách của những điều kỳ diệu”. hoặc "Million". Tác phẩm của Marco Polo là một trong những tác phẩm du ký vĩ đại nhất thời Trung cổ và là tác phẩm đầu tiên tiết lộ cho Tây Âu về thế giới bao la và huyền ảo của Châu Á. Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời của ông, cũng như trong những thế kỷ tiếp theo, các biến thể khác của bản thảo này đã xuất hiện, hầu hết bằng tiếng Ý.

Rustichello da Pisa, là một nhà văn lãng mạn người Ý nổi tiếng với việc đồng viết tự truyện của Marco Polo.

Hiện tại, khoảng 80 bản thảo như vậy (biến thể) của tác phẩm được biết đến, nhiều bản có những chi tiết khác nhau. Phải nói rằng tài liệu gốc chứa một loạt các câu chuyện, truyền thuyết và giai thoại, chắc chắn không chỉ thuộc về Marco Polo, mà còn của Rustichello ở Pisa, mặc dù ông đã không đi đến Trung Quốc, nhưng lại biết tất cả thông tin mà Marco kể lại.

Marco Polo ra tù năm 1299 và sống đến năm 1324 thì qua đời ở tuổi 70. Khi được trả tự do, ông phát hiện ra rằng những câu chuyện du hành của mình, được gọi là Il milione, đang được lan truyền nhanh chóng. Ngay cả cho đến ngày nay, cuốn sách vẫn được coi là một trong những cuốn sách bán chạy nhất ở nhiều quốc gia.

Tham khảo: Historyofyesterday; Esploaioni Geografiche; Earthlymission; OggiScienza

Đức Khương / Theo Trí Thức Trẻ

Ở ĐỜI ĐÔI KHI QUÊN MỌI THỨ CŨNG KHÔNG PHẢI LÀ CHUYỆN HAY

Tuy rằng đau khổ nhưng có những chuyện người ta thực chẳng nỡ quên đi trong đời, vẫn là muốn khắc cốt ghi tâm mãi mãi…


Vẫn là chuyện về tiểu hòa thượng Nhất Thiền đáng yêu của chúng ta. Một hôm, khi sư phụ đang đi dạo trong vườn đào sau chùa, cậu hớt hải chạy đến, vẻ mặt đầy lo lắng: “Sư phụ, sư phụ! Ở đâu có bán canh Mạnh Bà ạ!”.

Sư phụ đang đọc sách, ngoái đầu nhìn lại, mỉm cười: “Tiểu tử ngốc, sao con lại đi tìm thứ đó?”.

Nhất Thiền cúi đầu thở dài: “Ài! Vương công tử lại thất tình rồi, cứ ở đó ôm gốc cây mà khóc. Công tử còn nói với con chỉ có uống nước vong tình canh Mạnh Bà mới dễ chịu một chút”.

Sư phụ nói: “Tiểu tử ngốc! Đâu phải cậu ta thực sự muốn uống canh. Chỉ là cậu ta muốn quên đi vài thứ mà thôi”.

Nhất Thiền ngạc nhiên: “Quên đi vài thứ là sao? Thế sau khi quên đi người ta có cảm thấy dễ chịu hơn không?”.

Sư phụ băn khoăn: “À, à cũng không nhất định. Càng cố quên đi đau khổ thì người ta cũng sẽ lại quên đi luôn cả hạnh phúc. Thế nhân luôn cho rằng cảm giác thật ngọt, thật đắng vẫn tốt hơn là không đắng mà cũng chẳng ngọt. Có thể có một vài chuyện khắc cốt ghi tâm thì nhân sinh mới có thể đáng nhớ hơn, rực rỡ hơn một chút!”.

Nhất Thiền cúi đầu đăm chiêu, trong lòng suy nghĩ mông lung lắm.


Sư phụ kéo tay Nhất Thiền lại nói: “Lại đây, không suy nghĩ linh tinh nữa. Giờ hãy theo ta đi khuyên bảo công tử đó nào!”.

Nhất Thiền gật gật đầu, trong lòng vẫn còn đầy hồ nghi: “Nếu đúng là có canh Mạnh Bà, người có uống không sư phụ?”.

Sư phụ: “Không uống!”.

Nhất Thiền lại hỏi: “Canh Mạnh Bà ngọt hay mặn ạ?”.

Sư phụ: “Cay đấy!”.

Nhất Thiền vẫn chưa buông tha: “Thế nếu người uống thì sẽ muốn quên những việc gì ạ?”.

Sư phụ cười lớn: “Ta muốn quên nhất là việc đã từng nuôi một tiểu hòa thượng lắm điều như con đấy!”.

***

Lãng quên đôi khi là điều đáng sợ nhất của một sinh mệnh. Kí ức dù vụn vặt, ngày hôm qua dù tuyệt vọng bao nhiêu nhưng hôm nay nhìn lại thì tất cả đã hóa thành bọt nước. Bọt nước ấy lại chiếu sáng lung linh dưới ánh mặt trời. Lãng quên đi tất cả chẳng phải là một chuyện đáng buồn lắm sao?


Cố quên đi một người cũng không phải điều hay. Mỗi người đến trong đời đều là hữu ý, mỗi cuộc gặp gỡ đều là duyên. Duyên đến duyên đi nào phải mình quyết định? Mây của trời thì cứ để gió cuốn đi. Cuốn đi rồi thì quên hay nhớ cũng chẳng để làm gì.

Không kể bạn đã gặp phải ai, đã trải qua những chuyện gì, chuyện đáng phải biết thì sẽ biết, người đáng nên gặp thì cũng đã gặp rồi. Mọi chuyện đều chẳng phải ngẫu nhiên. Người ấy, chuyện ấy sẽ cho bạn một cảm nhận, một dấu ấn đôi khi là một vết thương, một bài học.

Trên đời vốn không có chuyện bất bình, mà chỉ có cái tâm bất bình. Không trách móc, oán hận, hãy thản nhiên với hết thảy và xem mọi chuyện như khói mây. Rồi bạn sẽ nhận ra, đời người rốt cuộc rồi cũng như một cơn gió thoảng, khởi lên rồi tan biến, đến rồi đi, từ cát bụi sinh ra rồi lại hoà mình vào cát bụi.

An Nhiên / Theo: ĐKN

Saturday, October 28, 2023

6 MÓN ĂN ĐỘC ĐÁO CHỈ CÓ THỂ THƯỞNG THỨC KHI DU LỊCH MÔNG CỔ

Nằm trên thảo nguyên bao la với một lối sống du mục độc đáo, ẩm thực của Mông Cổ cũng mang trong mình những nét rất riêng với không chỉ nguyên liệu mà cả cách chế biến khác lạ. Hãy cùng Yeudulich.com bắt đầu chuyến hành trình khám phá 6 món ăn độc lạ không thể bỏ qua ở đất nước Mông Cổ kỳ thú nhé!


1. Du lịch Mông Cổ nhớ thưởng thức món Buuz

Là một loại bánh bao hấp nhân thịt, Buuz chính là một món ăn đặc trưng đại diện cho nền văn hóa ẩm thực truyền thống của Mông Cổ và Cộng hòa Burytian. Món ăn bình dân này được đông đảo người dân Mông Cổ ưa thích, đặc biệt trong lễ mừng năm mới Tsagaan Sar cổ truyền. Đây cũng là một trong những món được cho là dễ ăn nhất đối với những du khách mới lần đầu khám phá nền ẩm thực của các nước vùng cao nguyên.

Buuz có hình dạng và cách làm giống với bánh bao Trung Quốc. Thực tế, ngay bản thân từ “Buuz” trong tiếng Mông Cổ cũng được bắt nguồn từ “baozi”, có nghĩa là bánh bao trong tiếng Hán. Bánh bao Buuz thường được làm từ thịt cừu hoặc thịt bò, nêm nếm với hành hoặc tỏi và muối. Ở một số nơi, nhân của Buuz còn có thêm mầm hạt thì là và các loại gia vị khác, khoai tây nghiền, bắp cải hoặc cơm.

Bánh bao Buzz. Ảnh: Zaya Ariuna

Sau khi ngấm gia vị, nhân bánh sẽ được chia thành nhiều phần nhỏ và được gói trong những lớp bột mỏng và xoắn miệng lại thành hình tròn ở chóp. Người ta thường làm món bánh Buuz với số lượng rất lớn và vào mùa đông, họ sẽ để những miếng bánh này ra ngoài trời tuyết giá rét để đông cứng và trữ lại ăn dần.

Khi ăn, người ta sẽ hấp các miếng bánh Buuz này lên cho đến khi lớp bột áo bên ngoài chín thơm lừng và chuyển sang một màu trắng trong hấp dẫn. Người Mông Cổ không dùng đũa mà họ sẽ trực tiếp bốc từng miếng bánh Buuz nhỏ bằng tay để ăn. Khi nhấc bánh ra khỏi đĩa, phần đế bánh sẽ hơi trũng xuống thành một cái túi chứa đầy nước súp thịt thơm ngon bên trong, nhìn khá giống món Tiểu Long Bao. Buuz thường được ăn kèm với salad, bánh mỳ chiên và trà suutei tsai của Mông Cổ hoặc rượu vodka. Nếu có cơ hội du lịch Mông Cổ, du khách chắc chắn phải nếm thử món bánh thơm ngon này.

2. Guriltai Shul

Nằm trên cao nguyên với khí hậu khắc nghiệt với nền nhiệt ban đêm lạnh giá, các món ăn của người Mông Cổ thường được chế biến để đảm bảo cung cấp được năng lượng và nhiệt lượng giúp cơ thể có thể hoạt động được khỏe mạnh bình thường. Một trong những món ăn có thể làm “ấm lòng” du khách giữa những đêm dài lạnh giá trên thảo nguyên như vậy chính là Guriltai Shul, món súp bình dân của người Mông Cổ.

Một bát Guriltai Shul thường được làm từ nước hầm thịt và các loại rau củ quả, chủ yếu là từ thịt cừu. Thịt sẽ được thái nhỏ và xào cùng với hành tây và cà rốt cho thơm, nêm nếm gia vị bằng hạt tiêu và muối sau đó thêm nước và hầm nhỏ lửa trong 5-10 phút. Trước khi phục vụ, người ta sẽ rắc trên Guriltai Shul một lớp Tasalsan Guril giòn rụm vàng ươm đầy hấp dẫn. Tasalsan Guril là một loại mỳ thái sợi bình thường được chiên giòn lên.

Mỳ Guriltai Shul. Ảnh: Mongoliacuisine

Khi màn đêm buông xuống và nhiệt độ giảm dần, ắt hẳn việc được cùng nhau ngồi quây quần bên bếp lửa trong những căn lều Yurt/Ger truyền thống với một bát Guriltai Shul ấm nóng trên tay sẽ giúp quý khách xua bớt đi bao giá lạnh. Không những thế Guriltai Shul còn là một món ăn sẽ sạc đầy năng lượng sau một ngày dài với hành trình khám phá đầy thú vị tại Mông Cổ của bạn đó nha.

3. Boortsog

Nếu bạn yêu thích món donut, hay các loại màn thầu chiên hoặc bánh quẩy thì chắc chắn bạn cũng sẽ khó lòng mà cưỡng lại được sự hấp dẫn của Boortsog, món bánh chiên cực ngon của người Mông Cổ.

Được làm từ bột mỳ, men, sữa, trứng, bơ thực vật, muối, đường và các chất béo khác và nặn thành hình chữ nhật rồi đem chiên giòn. Món Boortsog từ lâu đã là một món ăn vặt thu hút biết bao thế hệ lớn nhỏ của không những người Mông Cổ mà còn của những người dân từ các quốc gia thuộc khu vực Trung Á, Idel-Ural và Trung Đông.

Bánh Boortsog. Ảnh: Eatwellco

Boorstog thường được ăn kèm với đường, bơ hoặc mật ong. Người Mông Cổ và người Thổ Nhĩ Kỳ thi thoảng cũng coi Boortsog như một loại bánh nhúng để ăn kèm với trà. Tùy theo công thức làm bánh và tỷ lệ giữa các loại nguyên liệu mà bánh Boortsog thành phẩm có thể mềm dẻo, hơi ngọt hoặc thậm chí là giòn tan.

Như đã nói ở trên, không chỉ người Mông Cổ đâu mà nhiều quốc gia khác cũng vô cùng yêu thích món bánh này. Ở Ufa, Nga vào năm 2014, các đầu bếp đã làm ra một chiếc bánh Boortsog lớn nhất thế giới nặng 179kg từ 1006 quả trứng, 25kg đường, 70kg bột mỳ và 50kg mật ong Bashkir. Một kỷ lục nữa về bánh Boortsog cũng được lập ra vào năm 2014 tại Almaty khi người ta đã chế biến ra 856kg bánh trong cùng một ngày và tại cùng một địa điểm. Số lượng bánh khổng lồ này là thành quả sau một cuộc thi làm bánh thú vị để ăn mừng Ngày của Mẹ với hai đội tham gia thi đấu là đội mẹ chồng và đội con dâu.

4. Tsuivan

Tsuivan hay Zuivan là một loại mỳ sợi làm tay của người Mông Cổ. Có nhiều tài liệu cho rằng món mỳ này bắt nguồn từ mỳ Chao Bing của Trung Quốc. Nhưng với khí hậu khác biệt và cách canh tác khác nhau, nhưng nguyên liệu làm nên mỳ Tsuivan của Mông Cổ cũng tạo nên một hương vị khác biệt hoàn toàn so với mỳ Chao Bing.

Mỳ Tsuivan. Ảnh: Hungry Forever

Bột mỳ được làm từ lúa mạch, nước và muối. Cánh tay rắn chắc đầy sức mạnh của những người đầu bếp nơi thảo nguyên cao sẽ nhào bột cho đến khi thật dẻo và mềm. Sau đó họ sẽ phủ một lớp dầu mỏng lên bề mặt bột trước khi cán mỏng ra và xắt thành từng sợi mì đều đặn.

Tsuivan sau đó sẽ được nấu cùng với bắp cải trắng, khoai tây, cà rốt và tất nhiên - thịt cừu, một trong năm loại thịt quan trọng nhất với người Mông. Tuy chỉ có những nguyên liệu như thế, nhưng mỳ Tsuivan lại có khá nhiều cách chế biến đa dạng. Người ta có thể xào mỳ với các loại thịt và rau củ nói trên, hoặc nấu thành mỳ nước. Tsuivan cũng có thể được đêm chiên phồng và sau đó được xào chung với các loại nguyên liệu khác.

5. Boodog

Gọi là Boodog nhưng món ăn này chẳng có chút gì liên quan tới thịt chó đâu nhé vì Boodog là một từ tiếng Mông Cổ cơ mà. Món ăn này chính là đặc sản của người Mông trong những tháng mùa đông khắc nghiệt vì hàm lượng mỡ và đạm mà nó cung cấp cho người ăn có thể giúp họ có đủ năng lượng chống chọi với thời tiết khắc nghiệt.

Boodog là một món ăn đặc biệt, gần như có một không hai nhờ vào cách chế biến của nó. Dê hoặc cừu sẽ được rút xương trong khi vẫn bảo tồn gần như nguyên vẹn lớp da và nội tạng. Trong những tháng mùa đông khắc nghiệt thiếu thốn lương thực, Boodog thậm chí còn được chế biến từ cả marmot, một loài động vật gặm nhấm sống trên thảo nguyên. Sau đó, đầu bếp sẽ lột da và làm sạch phần thịt của những con vật này cùng một số nội tạng như gan và cật. Một điều đặc biệt là toàn bộ phần thịt hay nội tạng sau khi làm sạch sẽ đều giữ được hình dáng ban đầu, không bị cắt nhỏ ra hay dập nát.

Một bàn tiệc Boodog. Ảnh: Juulchin

Tiếp đó, người đầu bếp sẽ hơ nóng muối, hành và những viên đá có hình tròn nhẵn trong một tiếng đồng hồ cho thật nóng rồi mới nhồi tất cả vào khoang bụng của con vật. Lớp da sau khi được làm sạch sẽ được nhồi thêm muối, ớt bột, tiêu, hành củ, khoai tây, toàn bộ phần thịt và gan, cật vào rồi khâu kín. Lúc này, những viên đá và muối nóng đang từ từ làm chín thịt từ bên trong. Người đầu bếp cũng sẽ nổi lửa để hơ cháy lớp lông bên ngoài của con vật, giúp món ăn chín đều từ trong ra ngoài.

Mặc dù cách chế biến khá mất công và có phần độc dị, Boodog lại là món ăn đã gắn liền với cuộc sống du canh du cư của người Mông Cổ suốt hàng thế kỷ qua từ thời Thành Cát Tư Hãn. Với lối sống nay đây mai đó, người dân du mục xưa không thể nào mang theo cả một căn bếp đầy đủ tiện nghi theo họ trong suốt cả một hành trình dài. Những dụng cụ nấu ăn cơ bản như nồi xoong cũng thường rất khan hiếm. Vì vậy việc biến lớp da của con vật thành nồi nấu thức ăn chính là một trong những cách tiện lợi giúp người Mông Cổ sinh tồn ngoài thiên nhiên hoang dã.

Việc thưởng thức món Boodog này là cả một sự thử thách lòng gan dạ của bất kỳ vị du khách nào tới du lịch Mông Cổ. Nhưng dù sao, đây cũng là một niềm tự hào không thể chối bỏ của người dân Mông Cổ từ xưa. Boodog chính là minh chứng cho sự sinh tồn kiên cường của biết bao thế hệ người Mông Cổ trên thảo nguyên.

6. Airag, Byaslag, Suutei Tsai

Sữa động vật lại là một trong những đặc sản khác của người Mông Cổ, tuy nhiên các loại sữa này không giống với sữa bò mà chúng ta vẫn thường thấy trong siêu thị đâu Các loại sữa động vật phổ biến ở Mông Cổ là sữa ngựa, sữa dê hoặc sữa bò Yak (bò Tây Tạng).

Từ những loại sữa này, người Mông Cổ đã nghĩ ra muôn vàn cách sử dụng chúng, từ làm thành bơ, váng sữa, pho mai cho đến chế biến thành những món ăn độc đáo như Airag, Byaslag và Suutei Tsai.

Airag là món sữa ngựa được lên men thành một loại rượu sữa, giống như rượu Kumis của người Thổ Nhĩ Kỳ. Tại Mông Cổ, mùa thu hoạch sữa ngựa diễn ra từ giữa tháng 6 đến đầu tháng 10. Sau khi thu hoạch, sữa thô sẽ được lên men trong nhiều ngày trong khi được đảo đều trong các lò xoay (giống như cách người ta làm bơ từ sữa bò). Lactose trong sữa ngựa lúc này sẽ chuyển hóa thành acid lactic, ethanol và carbon dioxide và biến sữa ngựa thành một thứ đồ uống an toàn cho cả những người không tiêu hóa được lactose trong các loại sữa thông thường.

Trà Suutei Tsai, một trong những thứ đồ uống hấp dẫn từ sữa không thể bỏ qua khi du lịch Mông Cổ. Ảnh: Unsplash

Byaslag là một loại phô mai mềm, vị thanh được chế biến từ sữa bò Yak. Người ta dùng men Kefir để giúp tách sữa và tạo thành các tảng phomai non vón cục. Sau khi lớp vón này được tách ra khỏi sữa, chúng sẽ được nén chặt trong một lớp vải để tách nước. Thành phẩm cuối cùng là một tảng phomai mềm, gọi là phomai tươi, có thể được cắt ra ăn ngay như một loại đồ ăn vặt. Tảng phomai mềm này cũng có thể được phơi cho thật khô trong không khí để kết tủa và tạo thành các loại phomai cứng, sau đó sẽ được ăn chung khi uống trà hoặc dùng trong các món súp.

Cuối cùng trong danh sách những món ăn độc đáo làm từ sữa tại Mông Cổ chính là Suutei Tsai. Một món trà sữa mà người Mông Cổ có lẽ tự hào không kém gì người Đài Loan tự hào về trà sữa trân châu của mình. Sữa từ các loại gia súc như bò Yak, ngựa hay dê sẽ được đun nóng, nêm một chút muối và cuối cùng là hòa với nước trà. Món Suutei Tsai này là thứ đồ uống mở đầu cho mọi câu chuyện khi người Mông Cổ có khách đến thăm nhà. Hơn cả một thứ đồ uống phổ thông, Suutei Tsai còn là minh chứng cho lòng mến khách mộc mạc của những con người chân chất nơi thảo nguyên. Ngồi trong Ger và nhâm nhi một cốc Suutei nóng hổi thơm ngậy chăc chắn sẽ là một trải nghiệm có một không hai trong chuyến du lịch Mông Cổ của du khách.

Nếu có cơ hội đi du lịch Mông Cổ thì bạn đừng ngại ngần mà hãy mạnh dạn nếm thử những món ăn độc đáo này.

Theo: yeudulich

Click để xem cách biến chế món Boodog.


GAREI - BỨC TRANH MA

Từ thời xa xưa, tại ngôi đền Kanju-ji ở Kyoto có cất giữ một bức tranh vẽ người phụ nữ đang ôm đứa con của mình. Đó chỉ đơn giản là bức tranh mẹ ôm con nhưng từ khi samurai Honamiden đem nó đến dinh thự của mình để trưng bày từ những câu chuyện kỳ bí đáng sợ đã xảy ra khiến bức họa này đồn thổi là bị m.a á.m. Samurai Honamiden đã ấn tượng với bức tranh cũ kỹ này và sai thuộc hạ đến đền Kanju-ji mượn tranh về để ngắm nhìn cho thỏa lòng.


Các vị sư trong đền đã đưa tranh cho Honamiden mà không đòi hỏi bất cứ điều gì. Thế rồi vào đêm đầu tiên bức tranh được đặt tại dinh thự của Honamiden thì nhiều người đã nhìn thấy một bóng dáng của một người phụ nữ lạ tay ôm đứa con nhỏ đi lang thang trong khuôn viên. Cứ thế mỗi đêm đám người hầu lại kể cho nhau nghe câu chuyện bắt gặp người phụ nữ bí ẩn bồng con, mọi người bỗng cảm thấy sợ hãi và bàn tán xôn xao về việc này. Có một người hầu kể rằng anh ta đã mạo hiểm đi theo người phụ nữ ấy và kinh sợ khi thấy cô ta đột nhiên biến mất khi đứng trước bức tranh cổ của đền Kanju-ji.

Chuyện này đã truyền đến Honamiden và sau khi nghe rõ sự việc thì ông đã nhanh chóng trả lại bức tranh cho đền Kanju-ji mà không hông đề cập gì đến người phụ nữ bí ẩn hay sự việc quái lạ diễn ra trong dinh thự của ông. Sau đó, người phụ nữ bí ẩn bồng con đó lại bắt đầu xuất hiện xung quanh ngôi đền Kanju-ji. Nghi ngờ bức tranh là nguồn gốc của hiện tượng kỳ quái này nên có một người đã đặt một mảnh giấy lên đầu người phụ nữ trong bức tranh để kiểm chứng.

Và tối đó nhiều người đã nhìn thấy người phụ nữ ấy xuất hiện với một mảnh giấy dính trên đầu khiến ai cũng khiếp sợ. Các sư thầy ở đền Kanju-ji đã mời các họa sĩ đến để điều tra, tìm hiểu về nguồn gốc của bức tranh. Một số họa sĩ cho rằng đó là tranh của Tosa Mitsuoki (1617 - 1691). Thời điểm đó Tosa Mitsuoki đã mất lâu rồi nên không thể biết rõ về câu chuyện cũng như người phụ nữ trong bức tranh là ai. Mọi người đều nhất trí cho rằng đây là một bức tranh quý, có giá trị nghệ thuật cao nhưng không được cất giữ cẩn thận, bị hư hỏng và trở nên cũ kỹ nên đền Kanju-ji đã tìm người về phục dựng bức tranh cổ.

Tsukumogami

Cũng kể từ đó, người phụ nữ bí ẩn kia không còn thấy xuất hiện trong đêm đen tĩnh lặng nữa. Câu chuyện này được cho là được viết vào khoảng những năm 1820, nằm trong Fujiwara Ietaka’s Ochiguri Monogatari (Tales of Fallen Chestnuts) và được đặt với tựa đề Garei, kể về bức tranh ma đền Kanju-ji. Câu chuyện Garei được cho là một truyền thuyết dân gian xây dựng dựa trên về một tín ngưỡng của người Nhật xưa, đó là Tsukumogami. Người Nhật cho rằng, những đồ vật tồn tại trên dương gian được 100 năm thì chúng sẽ trở nên có linh hồn.

Quan niệm dân gian này được cho là bắt nguồn từ một quyển truyện cổ tích thời Muromachi (1336 – 1573) có tên là Tsukumogami Enmaki. Theo truyền thuyết thì Tsukumogami thường vô hại nhưng chúng sẽ trở nên giận dữ và trả thù những người đã vứt bỏ hoặc đối xử không tốt với chúng. Vì vậy mà ở đền thờ Thần đạo tại Nhật Bản có tổ chức các nghi lễ an ủi những đồ vật đã dùng lâu năm mà bị hỏng không còn sử dụng được nữa trước khi vứt bỏ chúng.

Nghi lễ Otakiage

Thường sẽ là các nghi lễ hỏa táng gọi là Otakiage, vào thời Edo người dân đem bỏ đồ cũ không còn dùng đến tại đền thờ để thực hiện nghi lễ này. Hiện nay một số phong tục tương tự như lễ hỏa táng Otakiage vẫn được duy trì tại một số địa phương trên nước Nhật, như lễ tưởng niệm kim chỉ Hari-Kuyo hay lễ tưởng niệm búp bê Ningyo-Kuyo. Garei là câu chuyện truyền tải đạo lý rằng con người phải biết tôn trọng, gìn giữ tác phẩm nghệ thuật nếu không nó sẽ hóa thành m.a q.u.ỷ ám ảnh bạn suốt cuộc đời.

Nguồn: hyakumonogatari
Link tham khảo: