Saturday, July 30, 2016

THẮNG CẢNH MỘT THỜI: VƯỜN THẦY CẦU


Đối với người Cần Thơ hoặc người miệt lục tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long tuổi trên dưới năm mươi có lẽ biết và nghe nói đến tên Vườn Thầy Cầu tại cần Thơ, vì đây là một thắng cảnh đặc biệt nằm ngay trong lòng thành phố Cần Thơ từ những năm 1930, mà khách vãng lai thường đến xem và dạo chơi thật lý thú.

Còn nhớ những năm mới vào trường Phan Thanh Giản Cần Thơ lớp Ðệ Thất, thứ bảy, chủ nhật chúng tôi thường rủ nhau vào Vườn Thầy Cầu dạo chơi, bởi nơi đây phong cảnh xinh tươi, thoáng mát. Những năm đó, cách đây trên bốn mươi năm, khu Vườn Thầy Cầu xem như ngoại ô Cần Thơ, bởi đường Trần Hưng Ðạo, Tự Ðức chưa mở. Ðường Phan Thanh Giản còn mang tên Lộ Mới chạy từ đường Hoà Bình xuống tới mé rạch Cái Khế. Con lộ cặp rạch Cái Khế đi vào Rạch Ngỗng cũng là con đường đá lởm chởm, vào khỏi Ðàn Tiên đến khúc quanh là có lối đi vào Vườn Thầy Cầu.


Ðây là khu vườn của ông Ðoàn Hữu Cầu, làm luật sư Toà án Cần Thơ. Vào khoảng năm 1930-1931, ông đã sửa sang trồng trọt cây kiểng đẹp như một công viên. Rải rác trong vườn có nhiều tàng cây che bóng mát, bên dưới có băng đá, băng cây cho người ngồi nghỉ chân, ngắm cảnh. Bên phải lối đi có ao trồng sen, thả cá, nước trong leo lẻo, chúng tôi tha hồ ngồi nhìn đủ loại cá lội dưới ao. Dưới ao sen không nhiều, nhưng có đủ dáng cỡ: những chiếc lá to tròn vươn cao khỏi mặt nước, lung linh soi bóng dưới đáy ao; những chiếc lá non nhô lên mặt nước như đầu cán viết bên cạnh các chiếc lá đang xoè ra trên mặt nước nhấp nhô. Mấy bông sen màu hồng đỏ, búp nở đều trông đẹp mắt. Các gương sen để lộ những chấm đầu hột li ti. Mặt nước cứ gợn sóng lăn tăn bởi bầy cá lòng tong lúc nào cũng nhô mõm trên mặt nước tìm mồi, hay mấy chú cá rô, cá lóc, cá mè lặn sâu bên dưới thỉnh thoảng trồi lên đớp mồi và hít thở không khí. Một chiếc cầu nhỏ bắc ngang ao, hai bên cầu có lan can bằng cây để khi đứng trên cầu không bị té xuống nước. Một gian nhà mát có thả dây leo quanh năm nở hoa rực rỡ càng tăng thêm cảnh đẹp, hữu tình.


Sâu phía trong là tư thất của Thầy cầu. Ðây là ngôi nhà xây trên nền đúc cao, cất theo kiểu nhà sàn, có nhiều bậc thềm dẫn lối lên trên ngôi nhà tròn để nghỉ chân rồi mới vào bên trong. Thuở đó chúng tôi còn quá trẻ nên không có dịp vào được bên trong ngôi nhà, do vậy không hiểu được lối bày biện, trang trí bên trong ngôi nhà như thế nào.


Rẽ trái lối đi, có một vuông đất dành để xây ngôi chùa mang tên GIÁC LINH TỰ. Ngôi chùa núp dưới bóng cây đa cành lá sum sê. Chúng tôi cũng thường tụ dưới gốc cây đa nầy những giờ trưa nắng sau khi đùa giỡn quanh vườn thoả thích. Cảnh đẹp của Vườn Thầy Cầu đã nổi tiếng, lời đồn lan xa, khách nhàn du thường vào dạo chơi, ngắm cảnh thật đông vui. Thuở chúng tôi hay lui tới vườn nầy, Thầy Cầu hãy còn sống. Chúng tôi thường xuyên gặp được ông lúc tưng tiu chăm sóc cây kiểng hay ném cám, quăng mồi cho cá ăn. Bởi còn quá trẻ nên chúng tôi rất sợ tới gần ông, chỉ đứng xa nhìn dáng ông làm việc có tính nhàn hạ, chăm chỉ và thoải mái thì thích thú và thèm thuồng ước ao sau nầy có được cảnh sống về chiều như ông. Mãi đến năm 1960, ngày 27 tháng 2 âm lịch, Thầy Ðoàn Hữu Cầu qua đời, thọ 73 tuổi... thì sau đó khu vườn kém mỹ quan do thiếu bàn tay chăm sóc của ông. Dù vậy, khách ở xa nghe đồn và thích cảnh thanh lịch cũng thường lui tới vãn cảnh đã được Thầy Cầu gầy dựng từ trước.


Do tình hình phát triển, thành phố Cần Thơ ngày càng nới rộng diện tích, lối vào Vườn Thầy Cầu được đoàn Cán bộ Xây Dựng Nông Thôn Ph.D. 24 (xin lỗi, tôi chỉ nhớ danh hiệu mang máng, vì có bạn tôi, anh Ngô Minh Lạc làm cán bộ trong đoàn nầy) tráng xi măng sạch sẽ, cũng là lúc nhà cửa chen chúc nhau mọc lên như nấm, chẳng những dọc hai bên bờ rạch Cái Khế mà cả dọc theo đường xi măng dẫn vào Vườn Thầy Cầu nữa. Ðó là những năm cao điểm của chiến tranh, dân thôn quê từ bỏ ruộng đồng tản cư ra thành phố sinh sống và tránh đạn bom ngày đêm đe doạ mạng sống. Khi đó thì cảnh trí Vườn Thầy Cầu bắt đầu đổi khác cho đến ngày nay. Trải qua năm tháng vô tình bởi cuộc sống đã lôi cuốn trong dòng đời nghiệt ngã, tên tuổi Vườn Thầy Cầu chỉ còn được nhắc nhau như nói đến một địa danh quen thuộc, như cầu Tham Tướng, ngã ba Cầu Xéo mà người dân Cần Thơ chưa hề thấy được cây cầu nào đã bắc ngang chỗ ngã ba nầy từ khi có sự xuất hiện của Cần Thơ đến nay! Cảnh trí xinh đẹp của một nơi ngắm cảnh nghỉ mát trong lòng thành phố không còn nữa. Bây giờ Vườn Thầy Cầu thuộc đường Huỳnh Thúc Kháng, phường An Nghiệp (cuối chợ Mít Nài).


Lối đi tráng xi măng xinh đẹp ngày trước đã có nhiều chỗ bị sụp lở. Nhà cửa san sát, có nhà xây gạch khang trang... Khó thể hình dung được, chính trên những nền nhà nầy, trước đây có cây kiểng xinh tươi, những băng ghế đá, băng ghế cây, những tàn cây cao che bóng mát còn in dấu chúng tôi quẩn quanh vui chơi những ngày nghỉ học. Khó thể hình dung được, chính trên khoảng diện tích đất đai nầy đã từng đổ biết bao công sức và mồ hôi của một người luật sư già tên tuổi một thời, để gầy dựng nên thắng cảnh cho người đời tới lui thưởng ngoạn, giải trí cho thư giãn tinh thần mà không thu khoản lệ phí nào.

Còn nhớ, có một buổi trưa chủ nhật vắng vẻ, chúng tôi dòm trước ngó sau không thấy ai, đã lén quăng sợi dây câu định câu cá dưới ao, dây câu có lưỡi móc mồi sẵn nhưng không có cần bằng trúc... thì bóng Thầy Cầu từ trong tư thất bước ra. Dáng ông bệ vệ như một quan toà, chưa kịp la rầy thì chúng tôi hoảng hồn ùa nhau bỏ chạy. Ông đưa tay ngoắc chúng tôi lại gần, buộc lòng chúng tôi phải riu ríu nghe theo. Ông bảo chúng tôi ngồi xuống ngay chỗ lúc nãy, ông bước lại gần cầm sợi dây câu kéo lên. Mặt chúng tôi đứa nào đứa nấy xanh như tàu lá chuối, còn ông thì chậm rãi ôn tồn - một giọng nói đã gây cho tôi một ấn tượng hết sức đẹp mà mãi đến bây giờ tôi vẫn không quên:

Các cháu đừng câu cá. Ðể nó lội mà ngắm cho vui. Các cháu có thể bắt cào cào, châu chấu ném xuống cho nó ăn thì hay hơn. Ðừng dại dột như vậy nữa, ông giận à nghe! Ông thương các cháu lắm. Ngày nghỉ học không có việc gì phụ giúp gia đình, cứ vào đây vui chơi nhưng đừng phá hư cây kiểng của ông trồng...


Câu nói đó đã hơn bốn mươi năm qua rồi tôi vẫn còn nhớ, cũng như hình ảnh Thầy Cầu mặc bộ bà ba trắng, đầu đội bê rê, ngồi bờ ao lúc chiều mát, ném mồi xuống ao rồi nhìn đàn cá tranh ăn, tung tăng chao lượn dưới làn nước trong... vẫn chưa xoá mờ trong tiềm thức tôi. Nhất là hình ảnh trông oai vệ, nghiêm khắc nhưng hết sức hoà nhã, thương yêu của lần căn dặn chúng tôi đừng nên câu cá dưới ao, làm sao trong đời tôi có thể quên được?

Bây giờ Vườn Thầy Cầu không còn như xưa. Ngồi nhắc lại đôi nét để chúng ta có thể hình dung được, đã một thời trong lòng thành phố Cần Thơ chúng ta có một khu vườn trở thành thắng cảnh thu hút đông đảo người đến tham quan, ngắm cảnh, bởi vì danh tiếng đồn vang khắp miền lục tỉnh một thời, và ngay trong dân gian ngẫu nhiên đã tạo nên một địa danh không thể xoá mờ, dù hiện tại đã không còn nữa.


Danh lam thắng cảnh bất cứ nơi nào, ở đâu cũng thu hút khách vãng lai bởi nó lạ lẫm, bởi nó gây sự hấp dẫn đến tính tò mò của con người. Ðiều đó chứng tỏ dân tộc Việt Nam rất yêu chuộng nét đẹp ngàn đời của quê hương, mến yêu đất nước. Từng tấc đất ngọn rau, từng vườn cây ao cá... nếu biết trân trọng chăm sóc, sửa sang cũng có thể trở nên một thắng cảnh cho người thưởng ngoạn sau những giờ làm việc mệt nhọc để tạo ra chén cơm manh áo trong cuộc sống vốn dĩ chạy đua theo thời gian.

Thành phố Cần Thơ trong hướng phát triển, nếu có nhiều công trình xây dựng mới như công viên Hoà Bình, hoặc phục chế, chỉnh trang lại một số di tích văn hoá như mộ cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, mộ cụ Cử nhân Phan Văn Trị, Xóm Bà Ðồ, chùa Nam Nhã, đình thần Bình Thủy, đình thần Tân An, công viên Ninh Kiều, Nhị Kiều... tạo nên cảnh trí xinh đẹp sẽ thu hút rất nhiều khách tham quan.


Vườn Thầy Cầu với địa thế như ngày nay khó mà phục chế lại. Dù sao, nơi đây cũng có một thời trở nên thắng cảnh mà ngày nay có nhiều người vẫn còn nhớ - nhất là những người xa quê hương như chúng ta. Bất cứ đường nét nào của quê hương đã ghi vào tâm trí chúng ta thì một giây phút nào đó nghĩ và nhớ lại, có lẽ nó như một đoạn băng ghi hình, tuần tự hiện lên trước mắt chúng ta. Nói đúng hơn, đó chính là quê hương trong trí nhớ của mỗi chúng ta.


Theo: Lê Cần Thơ ( Quê hương xa mãi ngút ngàn)



Friday, July 29, 2016

CHIÊM NGƯỠNG LOÀI HOA "NỮ HOÀNG ĐỘC DƯỢC" CỦA VIỆT NAM

Nữ hoàng độc dược hay bả sói là những biệt danh dùng để chỉ loài hoa Ô đầu chứa chất kịch độc làm liệt cơ xương, loạn nhịp tim, gây tử vong cho người.


Trước khi đọc tiếp, chúng ta xem Wipedia giải thích:

Củ Ấu tàu, ấu tẩu, hay còn gọi là củ ấu tàu, là rễ củ của cây Ô đầu, tên khoa học là Aconitum fortunei, thuộc họ mao lương Ranunculaceae được xếp vào danh sách thuốc độc bảng A, nhưng cũng là một vị thuốc quý đứng thứ 4 trong "tứ đại danh dược" (sâm, nhung, quế, phụ) sau khi được bào chế cẩn thận.



Cây thường mọc hoang ở các vùng núi cao biên giới phía Bắc Việt Nam bao gồm các tỉnh Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Nghĩa Lộ, Cao Bằng, Bắc Kạn

Ô đầu là cây thuốc có độc, tất cả các phần của cây đều chứa chất gây độc, nhiều nhất là ở củ. Củ ấu tàu rất độc, lượng độc của củ ấu tẩu có thể làm cho người tê cứng chân tay, tắc nghẽn mạch máu, đông máu và chết.



Ấu tàu mọc trên cạn và chỉ có ở vùng núi cao. Lá tựa như lá ngải cứu, chia thành ba thuỳ, có răng cưa ở nửa trên. Rễ củ hình nón, mọc thành chuỗi, có củ cái, củ con. Dưới thân cây, rễ cái phình thành củ giống như củ đậu, gọi là củ mẹ. Cạnh cổ rễ cái, mọc ra những củ con. Trên đầu củ con có một búp mang lá ngầm. Sau khi cây nở hoa, củ mẹ sẽ héo và tiêu dần. Củ mẹ thường nhẹ, rỗng, ở giữa màu xám; củ con thì nặng, chắc hơn và lõi màu vàng.

Trong dược thư Việt Nam, củ nhỏ được gọi là phụ tử, còn củ lớn được gọi là ô đầu. Phụ tử có độc tính kém hơn ô đầu. (Trích đoạn Wikipedia)



Cây hoa Ô đầu có nhiều loại, phổ biến như Aconitum napellus, Aconitum fortunei. Trong đó, Aconitum napellus thường mọc ở vùng sườn núi châu Âu, còn Aconitum fortunei được tìm thấy ở vùng núi Hà Giang, Lào Cai (Sa Pa) của Việt Nam và nhiều nơi khác.



Cây trưởng thành cao khoảng 1 mét, lá cây có đường kính 5-10 cm xẻ thành 5-7 phần, hoa có màu tím đậm hoặc hơi xanh, mũ hoa hẹp dài hình cái mũ. Vì có hình hài hoa như vậy nên Ô đầu còn được gọi là "khăn đội đầu của thầy tu".



Cây hoa Ô đầu chứa một loạt hóa chất có độc tố cao như aconitine, mesaconitine, hypaconitine và jesaconitine. Nếu hái lá cây mà không dùng găng tay, chất aconitine có thể xâm nhập vào cơ thể người một cách dễ dàng qua da.



Chất độc trên cây Ô đầu tập trung đậm đặc nhất ở phần quả của cây, ngay cả cánh và mật hoa cũng chứa chất độc. Khi trúng độc tố của cây Ô đầu có thể làm tứ chi bị tê bì, buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy, loạn nhịp tim, nếu đủ liều có thể gây tử vong.



Tương truyền thời kỳ Hy Lạp cổ đại, những người chăn cừu đã biết lấy chất độc từ cây Ô đầu để tẩm vào mũi tên bắn chết chó sói. Cho nên cây hoa này còn được biết đến với cái tên là cây bả sói.



Thời kỳ đế quốc Roma cổ đại, người ta còn dùng chất độc của cây Ô đầu để chống lại tội phạm và kẻ địch. Ở châu Âu, đây có lẽ là một trong những loài hoa đẹp nhưng độc nhất nên còn được tôn phong là "nữ hoàng độc dược".



Với một lượng 20 – 40 ml chất độc từ cây Ô đầu có thể gây ngộ độc dẫn đến tử vong trong vòng 2 – 6 tiếng trúng độc. Còn nếu liều lượng lớn hơn thì có thể gây tử vong ngay. Chất độc của Ô đầu cũng từng được người Eskimos sử dụng để săn cá voi. Thậm chí phát xít Đức từng dùng chất độc của cây Ô đầu để làm đạn độc.



Tuy chứa chất kịch độc nhưng cây Ô đầu lại được sử dụng làm dược liệu trong việc bào chế thuốc trong chữa tim, chống viêm, xoa bóp khi nhức mỏi chân tay, khớp. 

Theo Khám phá

GIAI THOẠI LY KỲ VỀ CHIẾC BÁNH SỪNG BÒ PHÁP


Nhắc đến bánh croissant, còn gọi là bánh sừng bò, vô thức người ta nghĩ ngay đến Pháp và cho rằng đây là nơi “chôn rau cắt rốn” của nó. Song khi truy nguyên nguồn gốc, người ta mới ngạc nhiên khi biết bánh sừng bò lại xuất xứ từ nước Áo.

“Giai thoại” ly kỳ về chiếc bánh sừng bò Pháp có thể khiến bạn bất ngờ

Kipfel nguyên thủy có hình dạng rất đơn giản 

Bánh sừng bò rất nổi tiếng ở Pháp, nhưng thực chất nó không do người Pháp tạo ra mà nó được hình thành ở Áo. Hình dạng của nó giống hình trăng lưỡi liềm song đây chính là quốc hiệu của Thổ Nhĩ Kỳ. Chúng là loại bánh ngọt thông dụng đầu tiên vào năm 1683 với tên bánh thuở ban đầu là Kipfel (trăng lưỡi liềm). Giai thoại ra đời của chiếc bánh này được kể lại rằng:

Vào năm 1683, cuộc chiến tranh Áo - Thổ Nhĩ Kỳ đang diễn ra ác liệt, đạo quân 100.000 quân của Thổ phá được phòng tuyến của Áo để bao vây kinh đô Vienna. Trong một đêm khuya, có thợ làm bánh người Áo ở thủ đô Vienna bỗng nghe thấy tiếng khoan đục kỳ lạ dưới mặt đất, anh rất cảnh giác và báo ngay lại cho quân đội nước Áo lúc bấy giờ. Nhờ mật báo này mà quân đội Áo đã ngăn chặn và chiến thắng được quân Thổ Nhĩ Kỳ đào hầm tiến vào thủ đô Vienna.

Công nương nước Áo là Marie Antoinette có công lớn đưa nước Pháp tiếp cận được chiếc bánh ngon và hấp dẫn này

Sau đó, người thợ làm bánh được ban thưởng trọng hậu, nhưng anh đều từ chối tất cả và anh chỉ mong mỏi duy nhất một điều là được nướng một mẻ bánh thật ngon để ăn mừng chiến thắng của nước nhà. Chính từ đó, bánh nướng kipfel đã ra đời - món bánh truyền thống có hình lưỡi liềm rất được yêu thích ở Áo vì chúng vừa nhắc nhớ người dân Áo về kẻ thù dân tộc một thời, vừa tri ân người thợ lò bánh đã cứu lấy thành phố Vienna. Bánh lưỡi liềm từ đó đã trở thành món truyền thống của người dân Áo.

Với sự tinh tế trong ẩm thực Pháp, chiếc bánh đơn giản ngày nào trở nên cầu kỳ hơn

Thậm chí, người Pháp còn thêm nhân mặn và ngọt để có thể chinh phục mọi thực khách

Tuy nhiên, năm 1770, công nương nước Áo là Marie Antoinette (15 tuổi) được gả cho vị thái tử Pháp, tức vua Louis XVI sau này. Sau một thời gian ở Pháp, Marie Antoinette vì quá nhớ món bánh kipfel của quê hương nên đã yêu cầu đầu bếp người Pháp làm món quốc bánh này. Để tỏ lòng tôn kính công chúa, thợ làm bánh người Pháp đã chế biến với hình dáng cầu kỳ hơn để phù hợp với bàn ăn hoàng gia và đặt tên là croissant.

Và chính từ đó, chiếc bánh kipfel khi ra khỏi biên giới nước Áo không ngờ đã thông dụng khắp nước Pháp và châu Âu từ ngày ấy cho đến tận hôm nay với tên gọi bánh croissant (bánh sừng bò) - do hình dạng của nó giống như cặp sừng bò.

Bánh sừng bò là chiếc bánh người Pháp thường ăn sáng không quên kèm theo cốc cà phê

Sừng bò được làm từ nguyên liệu đơn giản như bột mì, men, bơ, sữa và muối; đúng kiểu phải thật xốp, giòn, ruột bánh rỗng và thoáng, khi ăn có thể xé ra thành từng lớp mỏng nhỏ. Khi trở thành bánh sừng bò, nó ít nhiều bị ảnh hưởng bởi tính cầu kỳ, tinh tế của ẩm thực Pháp nên một số vùng ở Pháp, bánh sừng bò có thêm nhân chocolate, mứt, nho khô, kem bơ mềm như bánh su kem hoặc nhân mặn. Đến nay, dường như đã trở thành biểu tượng của nước Pháp. Trong khi, người Áo vẫn cố gắng gìn giữ món bánh truyền thống này theo đúng hương vị cổ xưa.

UYÊN VỸ (Tin8, Ảnh: Internet)

HOA BẤT TỬ - TÌNH YÊU KHÔNG BAO GIỜ CHẾT


Hoa bất tử, hay còn gọi là cúc bất tuyệt, là một loài thực vật thuộc họ Cúc (Asteraceae). Hoa có nguồn gốc ở Úc, được gây trồng rộng rãi ở các tỉnh miền Bắc và vùng núi cao miền Nam. Cây Bất tử còn có tên như Bất tuyệt hay Cúc bất tử; Immortelle, Strawflower, Paper daisy, Everlasting.

Sự tích Hoa Bất Tử

Chuyện kể rằng có một đôi trai gái yêu nhau thắm thiết. Một ngày nọ, người con gái ước ao có được chùm hoa quí ở trên một đỉnh núi cao nhiều người biết đến nhưng không sao hái được, vì hoa đó ở đỉnh núi rất cao, chỉ nở vào mùa đông tuyết phủ dày đặc.


Không quản gian khổ nhọc nhằn, chàng trai đã từ biệt cô gái vào một ngày đầu xuân băng giá đang tan, để lặn lội đến nơi có chùm hoa quí tặng người yêu. Chàng quyết tâm chinh phục đỉnh núi cao, leo từ mỏm đá sắc nhọn này đến mỏm đá sắc nhọn khác, mặc cho mưa rơi, mặc cho tuyết phủ...


Cho đến một ngày, đói và khát khiến chàng trai kiệt sức. Chàng quay xuống vào đúng cái ngày tròn một năm xa cách người yêu trong tư thế quỳ rạp xuống, nhưng gương mặt vẫn hướng về phía đỉnh núi.


Chàng tắt thở vì kiệt sức và kỳ lạ, nơi chàng trai ngã xuống đã mọc lên một chùm hoa đỏ thắm như máu, thân mềm yếu nằm rạp xuống đất. Vì cành hoa mềm rũ, yếu ớt, mgười dân ở vùng núi cao chỉ ngắt lấy bông hoa đem về phơi khô làm thuốc uống và quà tặng. Khi phơi những đóa hoa ấy dưới nắng mặt trời thì bông hoa se lại và cánh thêm tươi thắm sắc màu. Người dân lấy những cành cây vót nhọn đầu và cắm hoa bất từ khô lên đó, làm những chiếc lá giả quanh cành cây tạo nên những cành hoa thật đẹp, và họ đem tặng nhau vào những dịp lễ hội.


Người đời đã đặt tên cho loài hoa ấy là hoa bất tử. Ngày nay, những cặp trai gái lấy hoa bất tử tặng nhau với ý nghĩa cao đẹp, tình yêu là bất tử, không bao giờ “chết” trong gian khổ khó khăn.

(Sưu tầm trên mạng)

Video clip: Hoa Bất Tử


“TỰ ĐỘ & THA ĐỘ” TRONG THIỀN PHẬT GIÁO


Đọc tựa bài, các bạn có thể cho đây là một bài viết của một Phật tử nhưng thưa không. Đây là bài viết của một người theo Kitô giáo đăng trong mạng "Dòng Tên Việt Nam". Bài viết phân tích nhiều về "tự tánh", "tâm hướng" và "vô niệm",...của Phật giáo. Ở đây không có vấn đề đúng hay sai, chỉ có vấn đề học hỏi cách nhìn và suy nghĩ của một tôn giáo khác về "Phật đạo".

Bài viết là một kinh nghiệm sâu sắc trong việc nghiên cứu đạo pháp, chúng ta cần đọc để biết chứ không phải để bàn luận.


“TỰ ĐỘ & THA ĐỘ” TRONG THIỀN PHẬT GIÁO


Người ta cho rằng Phật Giáo là một Tôn giáo Tự độ. Điều đó đúng! Dầu vậy, sau khi tìm hiểu về đạo Thiền là cốt tủy của Phật Giáo chúng ta cần có những nhận định đúng hơn về đường hướng Tự độ này.

1. Nội Tâm: trung tâm kết nối thực tại tâm linh



Trước hết, Phật giáo luôn tin vào thực tại Tự Tánh là đầy đủ vốn thanh tịnh bên trong mình, không ỷ lại hay nương nhờ quá vào tha lực bên ngoài. “Tự Tánh là gì ?”, “có phải là một Đấng hay không ?” điều đó người ta không chú ý đến lắm, chỉ ý thức đó là một thực tại Siêu Việt, là Phật Tánh. Ai cũng có Phật tánh hay Tự Tánh nên ai cũng là Phật từ muôn đời rồi, vấn đề là “phản bổn hoàn nguyên” trở về với “khuôn mặt ngàn đời” đó của mình thì mọi sự sẽ ổn thỏa.

Hơn nữa, Phật Giáo nhấn mạnh là Tự Độ cũng có cái lý trong đó, vì thực tế đối với con người, mọi kết nối với tâm linh Siêu Việt đều phải bắt đầu từ nơi thâm tâm của mình trước. Nếu không từ thâm tâm mình trước mọi hành vi cử chỉ bên ngoài chỉ là hình thức, chỉ là vẻ bề ngoài, là tìm cái vọng tưởng!


2. “Ngón tay chỉ mặt trăng”



Kế đến, khi nói đến “Phật” người ta thường nghĩ ngay đến Phật Thích Ca. Điều đó chẳng phải là sai nhưng chưa đủ. “Phật” (Budha) theo ngữ nghĩa là chỉ về một người đã được “Giác ngộ Tự Tánh” (Budhi). Ở đây cần hiểu rằng, Tự Tánh hay Phật Tánh là một thực tại Siêu Việt có trước các Phật từ muôn đời. Vì thế, trước Phật Thích Ca thì đã có vô số Phật rồi và sau Ngài cũng có nhiều Phật khác nữa.

Hơn nữa, ở đây chúng ta cũng không giới hạn việc Giác Ngộ chỉ có nơi Phật Giáo hay nơi các Thiền Sư. Cũng với trạng thái Giác Ngộ, không phân biệt anh là ai, ở đâu, làm gì, là kẻ ngu hay người trí, là tại thế hay xuất gia, thuộc dân tộc nào, tôn giáo nào miễn là anh trải qua một cuộc “Hoán cải nội tâm tận căn” và nhận được “Ánh Sáng chiếu rọi từ bên trong nội tâm mình” là anh đã là Phật, là Thánh trở lại.


Về phương diện lịch sử, Phật Thích Ca được nhiều người biết đến vì Phật Pháp của ngài sau khi được chứng ngộ đã được Ngài truyền giảng trong suốt 49 năm và sau đó những lời Ngài thuyết pháp lại được chép thành Kinh và được các môn đệ truyền lại giáo pháp cho các thế hệ sau. Hơn nữa, Phật Thích Ca cũng không tự cho mình là Đấng Cứu Độ. Ngài ví Ngài chỉ là “ngón tay chỉ mặt trăng” thôi chứ không phải mặt trăng, “thấy trăng rồi phải quên ngón tay”[1]. Sau khi giảng Kinh xong ngài cũng nói rằng Ngài đã không nói một lời nào. Ý nói rằng Phật hay bất cứ Thiền sư nào cũng chỉ là người dẫn đường chỉ lối thôi, việc Giác Ngộ được Tự Tánh hay không là việc của mỗi người tự chứng tự ngộ lấy. Huệ năng nói: “Khi mê thầy độ, ngộ rồi tự độ”[2] là có ý như vậy.


Do vậy, có lẽ Phật Thích Ca hay bất kỳ thực tại Siêu hình nào bên ngoài chẳng phải là cùng đích cuối cùng. Nói như vậy không phải là để phủ nhận vai trò của các Đấng, Bậc Thánh hiền nhưng điều cần nhấn mạnh là phải tin vào Tự Tánh trướcthì sau đó mới thấy được Phật bên ngoài và đó mới là Phật Giáo đích thực. Huệ Năng hay gọi việc cầu Phật bên ngoài là “phỉ báng Phật”, vì nếu đã tự ngộ được Phật Tánh hay Tự Tánh thì“chúng sinh là Phật” còn nếu chưa có được điều đó thì “Phật là chúng sinh” là vậy.


Cũng cần phải đính chính rằng: sau thời Phật Thích Ca, vì Phật pháp hay giáo lý của ngài không phải ai cũng có thể hiểu được cái thâm diệu bên trong và đạt được giác ngộ ngay theo cách của Phật nên đã phân chia thành nhiều tông phái khác nhau để phù hợp với căn cơ của từng người. Phật pháp hay Giáo lý Phật là từ Phật Tánh mà ra và chỉ có một tinh thần nhưng do nhiều người, nhiều tông phái hiểu theo những hướng khác nhau nên không thể tránh khỏi những hiểu lầm và sai lạc (thường gọi là “mạt pháp”). May ra, chỉ có những người được trực tiếp truyền thừa tâm ấn từ Phật Thích Ca hay các tổ sau đó mới là chính tông. Nói là vậy, nhưng theo nguyên lý của Tự Tánh thì chúng ta không thể giới hạn công việc của Tự tánh vào một giới hạn tông phái hay tôn giáo nào cả.

Nhìn chung, Phật giáo có vẻ lấy “chính mình làm trung tâm” trong ý nghĩa Tự độ, cũng như có vẻ lấy Phật Thích Ca hay Phật nào khác là Đấng Cứu Độ, đó chắc hẳn chỉ là cách nói, cách hiểu theo lối bình dân mà chúng ta vẫn phải tôn trọng.

Để có sự giác ngộ Siêu Việt thì không phải ai cũng có thể dễ dàng tiếp nhận được ngay vì sức người bình thường không thể chịu nỗi những nghịch lý của thực tại tâm linh. Vì thế, có thể qua một “Trung Gian” người ta sẽ nhận ra tiếng nói của Siêu Việt dễ hơn, với những giáo lý phù hợp hơn. Cũng như “không thể cho người yếu ăn thức ăn cứng ngay được”. Tùy căn cơ mỗi người mà cách tiếp cận với Siêu Việt có thể theo những cách thức và thời gian khác nhau, chúng ta không thể suy lường hết được.


3. Tâm hướng thượng và Ý chí vượt thắng



Trong ý nghĩa tự độ, để đạt được việc tự chứng tự ngộ, bản thân người muốn giác ngộ trước hết là phải có tâm cầu đạo, thêm vào đó là dùng hết nghị lực của Ý chí để vượt thắng Vô minh nơi những đam mê của chính mình như trên đã nói. Đó là khâu “chuẩn bị đất” rất cần thiết. Tuy vậy đó vẫn chưa gọi là Giác ngộ. Dùng sức của mình là một phần, phần còn lại là chính ánh sáng của Tự Tánh chiếu rọi từ bên trong mới gọi là Giác ngộ đúng nghĩa.

Nói như trên, nhiều người cảm thấy sợ hãi và chùn bước vì bước Thiền quá khó và phải trả giá quá đắt vì phải “từ bỏ” quá nhiều và phải “một mình đơn độc lội ngược dòng” trước những giá trị mà cả nhân loại vẫn hằng tìm kiếm. Điều đó là sự thật, nhưng thực tế cho thấy rằng dù muốn dù không thì chắc hẳn ai trong cuộc đời trước sau đều phải được thanh luyện qua những thất vọng và đau khổ mà những “cái bóng của ảo vọng” có thể mang lại.


Dù ai đó không muốn bước vào thì cuộc đời vẫn dùng mọi cách “để làm cho đau” khi họ đối diện với “giới hạn tận cùng” của mình. Nhờ vậy họ sẽ có cơ hội được “tỉnh giấc” khỏi cơn ngủ mê triền miên qua nhiều năm tháng. Đó chính là công việc của “Tự Tánh” và đó là một “mầu nhiệm và ơn huệ” lớn lao trong đời mà ta không thể hiểu hết được! Dầu vậy thật đáng tiếc là ít người nhận ra điều đó, vì phần lớn khi gặp “đau khổ, cùng đường” đa số đều trở nên thất vọng và oán trách thân phận và cuộc đời!



4. Con người hướng đến Siêu Việt để được giải thoát


Người ta nói rằng, đem Kitô Giáo và Phật Giáo lại với nhau thì cũng giống như đem “nước” lại gần”lửa” trong ý nghĩa “Tự độ- Tha độ”, chẳng bao giờ có sự dung thông với nhau hoàn toàn. Mặc dầu vậy, sau khi tìm hiểu cốt tủy Phật Giáo theo Thiền Tông tôi lại thấy có một sự dung hợp lạ lùng giữa hai tôn giáo.

Nhìn chung các Tôn Giáo lớn xét trên bình diện “thực tại tâm linh nơi mỗi cá nhân” dù có khác nhau đôi chút về cách thức và phương tiện, nhưng nói cho cùng đều nhắm cùng một đích là đạt đến đời sống tâm linh hạnh phúc trong Siêu Việt (dù Siêu Việt được gọi với nhiều tên gọi hay ý niệm khác nhau). Do vậy, ta có thể ví rằng: qua “Cái Ấm đun” của Thực tại Tâm linh Siêu Việt nơi nội tâm, “Lửa” có thể đun sôi “Nước”, để rồi “Nước nóng” là kết quả của “Lửa” trong “Nước” và “Nước” trong “Lửa”!


Thật ra, ý niệm phân ra nhiều Tôn Giáo cũng là cho con người mà thôi. Tôn Giáo có thể là dưới hình thức khác nhau về văn hóa và cách thức phụng tự, cũng như cách diễn đạt giáo lý và niềm tin nhưng tự bên trong đều đi chung một “Đường Đạo”. Tôn giáo thì có nhiều nhưng chỉ có một Đường Đạo là đường Chân lý mà thôi. Có người sẽ chế diễu ở cái nhìn “vơ đũa cả nắm” như thế. Do vậy, cũng thật đáng để suy nghĩ lại đối với những “Tôn giáo không hướng đến Tuyệt Đối”, mà chỉ hướng đến việc thờ những “thần không là Tuyệt Đối” và mê tín dị đoan để cầu lợi cá nhân…!

Thực tế mà nói, trên bình diện cá nhân chúng ta không thể đoán xét ai đang thờ thần nào, là tuyệt đối hay không tuyệt đối khi nhìn vào bàn thờ hay nhà thờ của họ nhưng điều quan trọng là đời sống mỗi người đang đặt “Ai?, Gì? lên trên hết” trong “Đền Thờ Nội Tâm” mình! Có lẽ, câu nói “Đạo tại Tâm”là có ý như thế…


Quả vậy, đời sống tâm linh đích thực phải là quy hướng về Tuyệt đối và đi trên đường Đạo hay đường Chân lý của Tuyệt Đối. Đường Chân lý nếu có là hai thì đường đó không còn là Chân lý nữa. Những nhà tư tưởng lớn phần lớn khi xét đến cùng đều gặp nhau ở một điểm là Siêu Việt; “Ý tưởng lớn gặp nhau” là vậy.


Làm sao ta biết đường nào là Đạo thật và đâu là Chân lý thật để theo là một vấn nạn không dễ phân minh. Tuy vậy, xét theo bề dày lịch sử và bản chất của Chân lý, qua kinh nghiệm của nhiều bậc Thánh hiền cho thấy rằng: điều gì tồn tại mãi vượt không gian thời gian thì mới là Chân lý thật sự. Không thể nắm bắt một phần của cuộc đời đầy biến chuyển lại cho đó là Chân lý.

Ở đây, chúng ta không bàn đến những quan niệm ai đúng ai sai, nhưng chúng ta chỉ cần “mở mắt” ra, kiên nhẫn trong dòng biến dịch và nhìn vào thực tại trong cái toàn vẹn để “xem quả ắt sẽ biết cây”[3]. Chân lý vốn chẳng cần con người biện bác thì mới cho là đúng, Chân lý là Chân lý. Đường Chân lý vẫn có đó đúng hay sai thế nào thì hãy để Chân lý tự tỏ lộ trong lòng mỗi người không sớm thì muộn!


Khi nói đến Siêu Việt, người ta còn thường phân biệt “ở trong?” hay “ở ngoài?”, dầu vậy đã gọi là Siêu Việt thì không còn bị giới hạn không gian thời gian như ta thường nghĩ. Siêu Việt có ở đâu thì đó là việc của Siêu Việt. Cũng vậy, Siêu Việt có là một Đấng hay không thì Siêu Việt vẫn là Siêu Việt. Vấn đề là chính ta có hướng đến Siêu Việt và sống trên đường Đạo của Siêu Việt hay không mới là quan trọng…


5. Cân bằng tâm thức ở cái nhìn “Vô niệm”

Tại sao cần có cái nhìn cân bằng ở Vô Niệm? Như đã nói, điểm nhắm cuối cùng của đời người là Siêu Việt, nên mọi sự vật hay biến cố vui buồn có thể xảy ra đều là những phương tiện hay cơ hội giúp con người trở về với “Cùng đích cuối cùng” của mình. Tuy vậy, vấn nạn đầy khốn quẩn của con người luôn là ở sự lầm tưởng “lấy phương tiện làm cùng đích”. Vì có sự lệch lạc ở con mắt thành kiến nên những điều thật lại cho là giả, những điều giả lại cho là thật nên đời sống rối bời chẳng biết đi về đâu nữa.


Hơn thế nữa, bức tường cuối cùng khó khăn nhất phải vượt qua không phải là cái gì bên ngoài nhưng lại chính là “cái tôi vĩ đại” của chính mình, bởi vì mọi “chấp dính bụi trần” đều được “gắn tên” trên cái tôi vị kỷ này. Lột bỏ được “cái tôi ra không” ở “Vô niệm” thì cảnh vật bên ngoài chẳng có nơi đâu để bám dính nữa. Và khi ấy tâm ta sẽ an, mà tâm an thì cảnh mới an.


Ở cái nhìn “Vô niệm” giúp ta không bị bấn loạn hay quá bám dính vào những hứng khởi khi các biến cố vui buồn xảy ra. Khi ấy ta sẽ có cái nhìn cân bằng hơn khi nhận ra đằng sau những thành công, vinh quang tột bật có thể là “họa”; và đằng sau những đau thương mất mác, thất vọng ê chề có thể lại là những cái “phúc” không ngờ để giúp ta có cơ hội được lột bỏ những bám dính cố hữu của mình.

Thật ra, “họa” hay “phúc” thì ta không thể phân biệt được rạch ròi, nên tốt nhất là ta đừng vội phán quyết gì cả. Ta chỉ nhìn mọi sự đều có ý nghĩa của nó mà ta chưa thấu hết được, nên cứ thanh thản mà sống thôi! Tự bản chất sự vật không tốt mà cũng chẳng xấu. Vì con người thường có cái nhìn thiên lệch, coi trọng cái này hơn cái kia nên phần lớn giáo lý các tôn giáo luôn có “cái nhìn ngược lại” để tránh tạo nên những “tham-sân-si” là nguồn gốc của mọi bất an và tội lỗi thường diễn ra trong tâm thức con người.


Nhìn lại, cuộc đời quả là một “trường thao luyện không ngừng nghỉ”, nên không phải chỉ những bậc tu hành mới cần “tu” (theo nghĩa rộng) nhưng thật sự là ai cũng cần phải “tu tâm dưỡng tính” cả. Mãi tìm sự an nhàn nơi một lối sống hưởng thụ vật chất và thú vui dễ dãi bên ngoài có lẽ chỉ có thể là chồng chất thêm mây mù ảo vọng tăm tối. Vì từ trong sâu thẳm, tự bản chất con người đã có “nguồn gốc là vô hạn” nên chẳng có gì hữu hạn mà có thể lấp đầy hay làm cho thỏa mãn cái vô hạn đó. Tự trong thâm tâm mỗi người luôn vang lên “lời réo gọi không ngơi : Thức tỉnh đi – Hãy trở về!”.


Kết luận
Nói cho cùng, “Tự độ” trong Phật giáo tuy là diễn đạt bằng “một từ” nhưng cũng cần hai giai đoạn của cùng một tiến trình giải thoát. “Tự độ” theo nghĩa “sám hối trở về” của sức mạnh Ý chí cá nhân là “điều kiện cần” và “Tự độ” theo nghĩa “soi sáng của Tự Tánh” bên trong là “điều kiện đủ”. Có lẽ, ý nghĩa của câu nói: “Tự giúp – Trời giúp” là có ý như vậy. Để được tự do giải thoát, ta không thể ỷ lại hay phó mặc hoàn toàn cho Siêu Việt rồi muốn sống sao thì sống. Ta cũng không thể quá ỷ vào sức mình để rồi tự mãn nơi ý chí cá nhân để đạt được tất cả vì bản chất con người cũng có phần yếu đuối và đầy giới hạn.


Dầu vậy, “biết mình yếu đuối, giới hạn” “nhận ra mình là tội nhân đang lầm đường lạc lối” thì thật là quan trọng để có can đảm “buông ra tất cả”, để dẫn đến “khao khát trở về”, biết mình phải hướng về đâu và phải làm gì! Chúng ta không lạ gì khi Giáo lý trước hết của phần lớn các tôn giáo đều hướng đến việc giúp lay tỉnh tâm hồn con người để họ được “sám hối”, từ bỏ tội lỗi đam mê của mình để được giải thoát khỏi đau khổ, được tự do và hạnh phúc thật nơi cứu cánh cuối cùng là Siêu Việt.


Hành trình trở về với Siêu Việt là “hành trình trở về lại căn nhà xưa” sau bao năm lưu lạc đất khách quê người. Cũng là cái nhìn quay ngược trở lại, sống cuộc sống ở trần gian này chẳng phải là “đường đi ra” nhưng thật sự là “Đường về”. Đường đi thì xa tắp mù khơi nhưng “Đường về” thì chỉ “trong một khoảnh khắc”. Phần lớn những ai trở về cũng đều ngạc nhiên vì “kho tàng” thật sự lại được chôn dấu trong nhà mình, trong lòng mình[4].


Chúng ta không lạ gì khi Trịnh Công Sơn cũng đã từng làm vang lên trong đời câu hát về “…một kiếp rong chơi” của “cát bụi phận người” rằng: “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt. Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt, rọi xuống trăm năm một cõi đi về…” Quan niệm về một đường đạo Tự độ “Quay đầu là bờ” là với ý nghĩa như thế!

Lửa Mới (dongten.net)

CHÚ THÍCH

[1] Kinh Lăng Nghiêm. x. Daisetz Teitaro Suzuki, sđd, tr.17.
[2] Lục Tổ Huệ Năng, sđd, Phẩm Tựa thứ nhất, tr.11.
[3] Mt 7,15-20
[4] Mt 13,44-46