Saturday, May 29, 2021

ĂN THỊT CHÚ...35

Sách Lĩnh Nam bản thảo của Hải Thượng Lãn Ông ghi nhận: “Dương nhục tục gọi là thịt dê. Nóng nhiều, ngọt đắng, ích tâm tỳ. Bổ hư lao lạnh, trừ kinh giản, phong, đầu choáng, lưng đau, dương suy (liệt dương)”.


Thịt dê thường được người dân miền sông nước Tây Nam bộ chế biến thành các món: tái dê, lẩu dê, dê hầm, dê nướng… cùng nhiều cách nấu nướng khác với thịt con vật được đưa vào ca dao: 

Thế gian ba sự không chừa:
Rượu nồng, dê béo, gái vừa đương tơ.

Dê xào lăn

Để chuẩn bị món dê xào lăn, lấy trái khóm đã gọt sạch bằm nhuyễn, vắt lấy nước cốt; củ hành lớn lột vỏ, cắt múi cau; sả rửa sạch, bằm nhỏ phần gốc, phần thân đập dập rồi cắt khúc; gừng cạo bỏ vỏ, rửa sạch, băm nhỏ; tỏi lột vỏ, bằm nhỏ. Thêm ít tía tô, rửa sạch xắt nhỏ.

Dê xào lăn

Thịt dê còn dính da, lọc bỏ xương, xắt thành những miếng mỏng, bóp cùng hỗn hợp muối, gừng, rượu rồi chần qua nước đun sôi có pha chút giấm.

Vớt thịt dê ra, rửa sạch lại, để cho ráo nước rồi ướp với nước cốt khóm, bột cà ri, bột ngọt và một nửa phần tỏi, gừng, sả đã chuẩn bị. Bắc chảo nóng cho dầu ăn vào, phần gừng, tỏi, sả còn lại phi cho thơm rồi cho thịt dê vào xào.

Trước khi bắc chảo xuống, cho hành củ vào xào cùng thịt dê cho chín tới. Nhắc chảo xuống, nêm lá tía tô đảo đều là xong. Thịt dê múc ra đĩa, rắc thêm đậu phộng rang đâm nhỏ, ăn nóng với ít muối tiêu chanh để chấm.

Cà ri dê

Chuẩn bị hành, tỏi, gừng giống như cách làm dê xào lăn, nhưng không dùng nước cốt khóm mà thay bằng khoai tây hoặc khoai lang xắt miếng nhỏ.

Thịt dê lọc bỏ xương, xắt miếng vuông, cũng khử mùi với nước đun pha chút giấm, xong rửa thịt lại, để ráo, ướp với nửa lượng hành, gừng, tỏi, chút bột ngọt, tiêu cùng bột cà ri cho thấm. Bắc chảo dầu chiên sơ khoai rồi vớt ra.

Cà ri dê

Cũng phi hành, gừng, tỏi, sả cho thơm rồi trút thịt dê đã ướp vào xào săn lại. Kế tiếp đổ ít nước dừa vào hầm cho đến khi thịt chín mềm thì cho khoai (có thể thêm ít sữa hộp vào).

Tiếp tục hầm cho đến khi khoai chín mới cho nước cốt dừa pha bột cà ri vào nồi. Chờ nước sôi lại, nêm nếm cho vừa ăn. Cà ri dê ăn với bánh mì hay cơm đều rất ngon.

Lẩu dê

Dùng gừng đâm nhuyễn trộn vào rượu trắng ướp thịt dê tươi để khử mùi hôi. Khoai môn xắt thành những miếng hình vuông.

Nấm rơm làm sạch để ráo, tàu hũ ky xắt miếng vuông, ngó sen gọt vỏ xắt miếng xéo, cải xanh rửa sạch để ráo. Xắt thịt dê đã để ráo, ướp lại với tỏi, hành, muối, đường, bột ngọt, ớt… bằm nhuyễn cho thật thấm.

Lẩu dê

Bắc xoong lên bếp cho ít dầu ăn, phi hành tỏi rồi xào thịt dê cho săn lại, sau đó hầm thịt với nước dừa xiêm, khi nước sôi vớt bọt thật sạch.

Khoai môn, ngó sen cho vào hầm cùng với thịt, khi thịt mềm thì múc ra lẩu đặt lên bếp, vì món lẩu phải luôn để sôi. Khi ăn, cho vào lẩu nấm rơm, tàu hũ non, tàu hũ chiên vàng, mì sợi, nhúng thêm rau sống…

Nước chấm lẩu dê là chao tán nhuyễn thêm chút nước dừa tươi, nước cốt chanh, đậu phộng rang đâm nhuyễn, ớt…

Cháo dê

Thịt dê làm sạch, để ráo, xắt mỏng, ướp muối, tiêu, chút nước mắm ngon, hành, gừng cho thấm. Phi hành trong chảo dầu cho thơm rồi xào thịt dê chín tới, đổ thịt vào nồi cháo trắng đã chín nhừ, nấu thêm một lúc để vị ngọt của thịt tiết ra cháo, thêm một ít gừng cắt chỉ, nêm nếm gia vị vừa ăn. Múc cháo ra tô, rắc thêm hành, rau thơm, ăn nóng mới ngon.

Dê tái chanh

Thịt dê lọc hết xương, khử mùi, ướp với đường, muối, bột ngọt… rồi cho vào nồi hấp với lớp cọng sả dưới đáy nồi hấp.

Dê tái chanh

Thịt dê hấp xong để nguội, thái mỏng, ướp với riềng, sả, đậu phộng rang rồi trộn đều với nước cốt chanh, lá chanh thái chỉ, gừng và ớt tươi thái nhỏ, mè rang đâm dập để có món dê tái chanh.

Ăn kèm với dê tái chanh có chuối xanh xắt lát, khế chua, khóm, tía tô, rau thơm, chấm nước tương có thêm ít gừng xắt chỉ. Thịt dê tái còn được gói lá sung để có thêm vị bùi, vị chát.

Dê nhúng cơm mẻ

Thịt dê cũng vẫn làm sạch, khử mùi rồi thái lát mỏng. Bắc nồi nước lên bếp, khi nước sôi cho cơm mẻ vào khuấy đều rồi vớt bỏ xác, thêm củ hành, cà chua, khóm, sả đã bằm nhuyễn, nêm gia vị cho vừa ăn.

Dê nhúng cơm mẻ

Khi ăn cho thịt dê vào nhúng tái, vớt ra đĩa, ăn tới đâu nhúng tới đó. Món dê nhúng mẻ thường được ăn kèm với dĩa bắp chuối xắt nhuyễn hoặc chuối ghém.

Nước chấm thịt dê thường là cơm mẻ pha thêm ít đường, muối, ớt… hoặc chấm nước mắm y kèm mấy trái ớt hiểm. Thịt dê nhúng cơm mẻ cuốn bánh tráng với bún, khế xanh, chuối chát, khóm chín, dưa leo, rau sống…

Dê nướng chao

Thịt dê làm sạch khử mùi, để ráo rồi xắt miếng vừa ăn rồi ướp với cái chao và nước chao hòa chung, thêm chút đường, bột ngọt. Bếp than rực hồng, sắp thịt lên vỉ nướng, trở đều cho đến khi thịt vàng ươm.

Dê nướng chao

Dê nướng chao ăn kèm với chuối chát, khế chua, tía tô, húng cây…, hoặc cuốn thịt nướng với bánh tráng. Cũng có khi người ta nướng kèm cà tím, đậu bắp hay để nguyên củ tỏi để ăn với thịt. Nước chấm cũng là nước chao thêm ít cái tán nhuyễn, pha đường, ớt…

Một dị bản độc đáo của món ăn này là vú dê nướng chao. Bộ phận của loài dê cái có vị béo ngậy, tạo cho món ăn thêm đậm đà, đặc trưng khó quên.

Ngọc dương tiềm thuốc bắc

Ngọc dương là bộ phận “chiến đấu” của dê đực, để nguyên bộ rửa sạch, khử mùi với gừng, rượu trắng, tương tự như cách làm với thịt dê.

Rửa sạch lần nữa, để ráo rồi cho vào nồi nấu chung với các vị thuốc bắc: nhân sâm, kỷ tử, hoài sơn, đại táo, nhục quế, long nhãn…

Đổ nước dừa xiêm ngập xâm xấp vào nồi, nấu sôi, sau đó hạ lửa đến khi ngọc dương chín mềm rồi nêm gia vị vừa ăn. Khi ăn, phải ăn nguyên bộ và húp hết nước.

Ngọc dương tiềm thuốc bắc

Vì ngọc dương quý, hiếm nên phải thay bằng chân dê. Chân dê cạo sạch, đem trụng nước sôi rồi chặt miếng vừa ăn.

Nước hầm xương nấu sôi rồi thả chân dê vào hầm cho mềm, sau đó cho các vị thuốc bắc vào hầm lửa nhỏ, đến khi nước sắc lại áng chừng vài chén là được. Chân dê tiềm ăn với bún và cải xanh, chấm chao.

Nếu ngọc dương hầm thuốc bắc được dân gian tin rằng có tác dụng tráng dương bổ thận các đấng mày râu thì món chân dê hầm thuốc bắc rất tốt cho phụ nữ sau khi sinh nở.

Minh Khuyên / Theo: Doanhnhan+

Friday, May 28, 2021

ĐỜI NGƯỜI KHI NHẮM MẮT XUÔI TAY ĐỂ LẠI CHÍNH LÀ 5 ĐIỀU HỐI TIẾC NHẤT NÀY

Đời người ta chính là lúc trẻ chẳng biết buồn, về già mới thấy đường đi khó. Tuổi thanh xuân mải mê trong vòng xoáy danh lợi, lúc xế chiều chợt thấy hối hận vì đã bỏ rơi quá nhiều điều.


Khi đối diện với lằn ranh sinh tử rất nhiều người đều có chung những niềm hối tiếc giống nhau, bất kể họ từng làm nghề gì, địa vị xã hội ra sao. Chính là: “Con chim sắp chết tiếng kêu bi thương, con người sắp chết thì lời nói thật”.

Dưới đây là 5 điều hối hận lớn nhất, hầu như ai cũng phải một lần thốt lên trong đời:

1. “Ước gì tôi đủ can đảm sống một cuộc đời đúng nghĩa cho bản thân mình”

Đây là một trong những điều hối tiếc lớn nhất, phổ biến nhất. Rất nhiều người đến tận khi sắp lâm chung trên giường bệnh mới thấy hóa ra cả cuộc đời mình là “sống hộ” người khác, là sống thừa. Đó không phải cuộc đời của chính họ, đó là cuộc đời mà mọi người mong muốn ở họ.


Không thể tự chủ cuộc đời của chính mình, họ đã đánh mất đi quá nhiều ước mơ, khát vọng, quên đi những điều giản dị mà hạnh phúc, chân thành và ấm áp. Họ mãi chỉ chạy theo làm hài lòng người khác, sống một đời “ốc mượn hồn”. Vậy chẳng phải đau đớn lắm sao, bi thương lắm sao?

2. “Ước gì tôi đừng quá ham công tiếc việc”

Tuổi tráng niên, người ta chính là chí khí sung mãn, nhiệt huyết tràn trề, tâm tính khoáng đạt, luôn muốn phấn đấu, nỗ lực một phen. Nhưng nhiều người quá mải mê công danh, sự nghiệp, rơi vào vòng danh lợi thị phi mà quên mất những hạnh phúc giản dị bên mình. Họ không thể quan tâm, giáo dưỡng con cái trưởng thành, không còn thời gian chăm sóc người thân, cha mẹ, thậm chí không thể tự cho mình một phút nghỉ ngơi.


Chỉ cần có thể dứt ra khỏi công việc một giờ, chắc chắn cuộc sống của bạn sẽ phong phú và tươi đẹp hơn rất nhiều. Bạn sẽ cảm nhận được nhành hoa trước ban công nhà đang bừng nở dưới ánh bình minh, nhắm khẽ mắt để thấy gió lùa trong tóc, hít hà mùi đất ẩm sau cơn mưa rào mùa hạ. Bạn thấy đấy, cuộc đời sẽ đẹp biết bao nhiêu!

3. “Ước gì tôi đủ can đảm để bày tỏ cảm xúc của mình”

Kìm nén cảm xúc, không để lộ cho người khác biết tâm sự của mình đôi khi không phải điều tốt. Nhiều người thường khép kín mình, ít giao tiếp, chia sẻ, bày tỏ cảm xúc để sống “yên ổn” với người khác. Nhưng cảm xúc kìm nén lâu ngày dễ trở thành thứ tình cảm tiêu cực, bi ai. Không nói ra lời thì trong lòng phẫn uất, có lời không nói được thì tâm trạng bất an, cơ thể suy nhược.


Những người này chính là yêu ghét, giận hờn cũng cố nén vào tâm, không dám thể hiện ra ngoài. Bề ngoài nhìn họ nhu mì, lành tính nhưng kỳ thực trong tâm như có bão nổi, sóng cồn. Họ sống nhạt nhòa. Đó không phải cái ung dung, khoan dung của bậc quân tử mà là sự tự ti, yếu hèn của kẻ tiểu nhân.

4. “Giá như tôi vẫn giữ liên lạc với bạn bè”

Người ta thường không nhận ra giá trị thực sự của những người bạn cũ cho đến thời điểm vài tuần lễ trước khi qua đời. Nhưng khi ấy người nam kẻ bắc, biết đâu mà tìm? Bạn cũ cũng lần lượt rời đi, già yếu mỏi mòn qua năm tháng, hỏi còn mấy ai là tri kỷ tương phùng? Nhiều người vì quá lo vun vén cho cuộc đời riêng của mình mà để tuột mất những tình bạn vàng.


Trước khi lìa đời, không bạn đưa tiễn, cảm giác thật thống khổ làm sao. Vậy nên nếu có bạn bè hãy biết trân quý, gặp gỡ nhau dù chỉ là vài tháng một lần, kể cho nhau nghe nỗi lo toan cuộc đời, uống một tách trà thơm và mơ màng trở lại thời thơ trẻ.

5. “Giá như tôi để bản thân mình sống vui vẻ hơn”

Nhiều người vẫn mãi không nhận ra rằng, hạnh phúc chính là một sự lựa chọn. Richard Strauss, nhà soạn nhạc sáng tác bản giao hưởng “Tod und Verklärung” (Cái chết và sự thay hình đổi dạng), trước lúc qua đời nói với người con dâu tên là Alice của mình rằng: “Điều này thật buồn cười, Alice à! Cái chết giống hệt như những gì mà cha đã sáng tác trong Tod und Verklärung”.

Trang Tử (khoảng thế kỷ 4 TCN) là một triết gia có địa vị rất lớn trong lịch sử tư tưởng Á Đông. Ông và Lão Tử chính là những người khai sáng Đạo gia, một phương pháp tu luyện có ảnh hưởng hàng nghìn năm sau. Trong “Liệt Ngự Khấu” có kể lại rằng, lúc Trang Tử hấp hối, các môn sinh bàn với nhau sẽ hậu táng cho ông.


Ông nghe được bảo: “Đừng. Ta đã có trời đất làm quan quách, mặt trời mặt trăng làm ngọc bích, tinh tú làm ngọc châu, vạn vật sẽ đưa ma ta, như vậy đồ táng ta chẳng đủ rồi sao? Còn phải thêm gì nữa?”.

Môn sinh đáp: “Chúng con sợ quạ và diều hâu sẽ rỉa xác thầy”.

Trang Tử lại bảo: “Trên mặt đất thì bị quạ và diều hâu rỉa, ở dưới đất thì bị kiến và sâu đục. Tại sao các con lại thiên vị, cướp của các loài ở trên mà đem cho các loài ở dưới?”.


Trước cái chết, vì sao hai người họ, Richard Strauss và Trang Tử lại có thể dí dỏm đến vậy được chứ? Đến khi lâm chung, họ vẫn vui vẻ, thoải mái mà đón nhận cái chết như một điều tất yếu, chính là không oán, không hận, không tiếc rẻ.

Khi chết muốn thanh thản thì lúc sống phải vui vẻ, hòa ái. Nhiều người đến lúc nhắm mắt xuôi tay rồi mới nhận ra mình đã quá khắt khe với bản thân, không thể sống trọn một ngày vui vẻ nào, luôn luôn lo lắng, giành giật, đấu tranh, mải miết công danh, cuối cùng thành hư ảo cả.

Văn Nhược / Theo: ĐKN

NỖI OAN CỦA DOÃN CHÍ BÌNH

Doãn Chí Bình theo sự thật lịch sử hoàn toàn khác với những gì được viết trong tiểu thuyết.

Tiểu thuyết và đời thực khác nhau như trời vực: Nỗi oan của Doãn Chí Bình


Người ta thường biết đến Doãn Chí Bình thông qua tiểu thuyết của Kim Dung, nhưng kỳ thực, theo sự thật lịch sử thì ông là ai, có giống với những gì được Kim Dung mô tả trong tiểu thuyết hay không?

Phiên bản mới nhất “Thần điêu hiệp lữ” gần đây nhất do Trân Nghiên Hy đảm nhận vai Tiểu Long Nữ đã dấy lên làn sóng tranh luận mạnh mẽ, Doãn Chí Bình cũng đã trở thành nhân vật được quan tâm khá nhiều. Rất nhiều người biết đến Doãn Chí Bình, đều là thông qua “Thần điêu hiệp lữ” của Kim Dung và những bộ phim được dàn dựng sửa đổi sau này.

Người đã lấy đi cái "ngàn vàng" của Tiểu Long Nữ

Doãn Chí Bình trong tiểu thuyết, võ công tầm thường, nhân phẩm không ngay chính, còn làm nhục Tiểu Long Nữ, đã để lại ấn tượng cực kỳ xấu xa trong mắt người đọc lẫn người xem phim. Do đó, điều này đã gặp phải những phản đối gay gắt của một số người trong Đạo giáo.

Sau này Kim Dung đã chính thức lên tiếng xin lỗi, nói: “Tôi biết, Doãn Chí Bình là một vị Đạo nhân đức cao vọng trọng trong Đạo giáo, tôi cũng đã cải chính lại trong bộ tiểu thuyết mới nhất rồi, chỉ là cùng họ cùng tên nhưng không còn là Thanh Hòa Chân nhân nữa”.

Doãn Chí Bình theo sự thật lịch sử hoàn toàn khác với những gì được viết trong tiểu thuyết, những trải nghiệm trong đời của ông cũng rất thú vị.

Doãn Chí Bình sinh ra trong một gia đình quan lại có tiếng, trời sinh đã thông minh dị thường, đọc sách chỉ cần lướt qua là nhớ ngay. Năm 14 tuổi, ông gặp được đệ tử của Vương Trùng Dương là Mã Ngọc, bèn hạ quyết tâm tu hành. Bởi gia đình phản đối, thế là ông bỏ trốn khỏi nhà, xuất gia làm Đạo sĩ.

Người tu Đạo vốn đã coi danh lợi tình như gió thoảng mây bay nên mới có được uy vũ vô song, liệu có thể vì sắc tình mà động tâm. (Ảnh từ Internet)

Mấy năm sau, cha của ông tìm được ông, kiên quyết bắt ông hoàn tục, rồi nhốt ông trong phòng. Chẳng được bao lâu, Doãn Chí Bình lại trốn ra ngoài, kết quả lại bị bắt về. Cứ như vậy hết lần này đến lần khác, cha ông cũng không còn cách nào, đành phải đồng ý để ông xuất gia làm Đạo sĩ.

Doãn Chí Bình thật sự không biết vung đao múa kiếm, ông vân du bốn biển, cũng là truyền giáo giúp người, chưa từng tham dự võ lâm phân tranh, càng không động tâm trước phụ nữ. Hơn nữa, Vương Trùng Dương, người sáng lập Toàn Chân giáo, trong lúc sáng lập đã quy định: phàm là người tu Đạo cần phải buông bỏ tiền tài tửu sắc, ôm giữ từ bi, không lo nghĩ nhiều. Khi Doãn Chí Bình tiếp quản chức chưởng môn, càng tiến thêm một bước, quy định đồ đệ Đạo giáo cần phải giảm ăn, giảm ngủ tối đa, buông bỏ sắc dục. Ông nói: “Cái hại trong tu hành, ăn, ngủ, sắc khá là nghiêm trọng, ăn nhiều thì ngủ nhiều, ngủ nhiều sẽ sinh dục niệm”.


Doãn Chí Bình đã để lại rất nhiều thi từ khuyến thiện tu hành, soạn thành ba quyển “Bảo Quang tập”. Đoàn Chí Kiên, đệ tử của ông lại biên tập thành bốn quyển “Thanh Hòa Chân Nhân bắc du ngữ lục”, đều là ngôn luận giảng đạo của Doãn Chí Bình với các đệ tử. Trong đó, khuyến khích chúng đệ tử khiêm cung kính nhường, khổ ta lợi người, tích đức hành thiện, xa rời cái ác.

Năm 1238, Doãn Chí Bình chủ động nhường ngôi cho Lý Chí Thường, sau khi thoái vị, ông cư ngụ trên núi Ngũ Hoa, năm 1251 đi về cõi tiên, hưởng thọ 83 tuổi.

Theo: Tinhhoa

THẨM VIÊN (沈園)


Thẩm viên (I) kỳ 1 - Lục Du

Thành thượng tà dương hoạ giốc ai,
Thẩm viên phi phục cựu trì đài.
Thương Tâm kiều hạ xuân ba lục,
Tằng thị kinh hồng chiếu ảnh lai.


沈園(I)其一 (陸遊)

城上斜陽畫角哀,
沈園非復舊池臺.
傷心橋下春波綠,
曾是驚鴻照影來.


Dịch nghĩa

Ánh nắng chiếu xiên trên thành, tiếng tù và buồn bã,
Ao đài trong vườn Thẩm không còn được như xưa.
Dưới cầu Thương Tâm là những đợt sóng nước xanh,
Đã từng soi bóng chim hồng khi bay qua.

Hai bài thơ này tác giả thương nhớ Ðường Uyển, người vợ cũ đã bị ép phải ly hôn và đã tái giá với người khác. Một hôm ông gặp lại nàng ở vườn Thẩm, hai người nhìn nhau đau khổ, nàng trở về nghĩ ngợi sinh ốm rồi chết. Năm ông 75 tuổi nhớ chuyện cũ, bèn làm hai bài thơ này.


Vườn Thẩm (Dịch thơ: Khương Hữu Dụng)

Bóng xế thành hôm ốc gợi sầu
Thẩm viên đâu nữa dấu đài ao!
Dưới cầu sóng biếc trông đau ruột
Đây bóng hồng soi thoảng lúc nào?


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lục Du 陸遊 (1125-1209) tự Vụ Quan 務観, hiệu Phóng Ông 放翁, người Sơn Âm, Việt Châu (nay thuộc Nhạn Môn đạo, tỉnh Sơn Tây), thời Nam Tống ông đã làm quan Tri châu, Tri phủ, còn làm quan Quốc sử biên tu, ông là một vị thi nhân ái quốc. Sống vào thời kỳ hai hai triều Tống Kim đánh nhau, Lục Du trở thành một người rất trăn trở vì mất nước. Khi đó người Nữ Chân (vương triều Kim) đã đánh chiếm xuống phía nam, đất nước chia năm xẻ bảy, dân tình ly tán loạn lạc. Ông đã từng vào đất Nam Trịnh (Tứ Xuyên hiện nay) theo phong trào chống Kim, đã từng mặc giáp cưỡi ngựa vượt qua sông Vị cùng những toán kỵ mã yêu nước, ban đêm đột kích quân Kim nhiều lần. Ông có Kiếm nam từ chuyên tập lưu truyền đến nay.

Nhưng thời tuổi trẻ ông đã bị một bi kịch về chuyện hôn phối. Năm 20 tuổi ông kết hôn với người em cô cậu tên Đường Uyển 唐婉. Mẹ Lục Du không thích Đường Uyển và cũng không tán thành cuộc hôn nhân này, đã cưỡng ép chia cách họ. Mười năm sau hai người gặp lại nhau ở Thẩm Viên, Lục Du viết lên tường một bài từ rất bi phẫn là Thoa đầu phụng 釵頭鳳. Không lâu sau, Đường Uyển chết, Lục Du vẫn còn lưu luyến mãi, viết bài thơ tình nổi tiếng Thẩm viên 沈園 được truyền tụng đến nay.

Nguồn: Thi Viện

NHỮNG "BÀI THƠ ĐẬU HŨ" Ở TOKYO

Xe đi qua hàng ngàn cửa hàng thời trang, nhà hàng, quán xá… sáng trưng ánh điện của khu Ginza sầm uất – một trong những khu mua sắm sang trọng bậc nhất thế giới – rồi dừng lại trước một phố nhỏ cũng rực rỡ đèn màu nhưng yên tĩnh hơn nhiều. Nhà hàng nằm trên tầng 11 của một cao ốc trên con phố nhỏ ấy.

Ume no hana – entrance

Ume no hana

Chúng tôi đi qua một phòng chờ xinh xắn với tiểu cảnh, giả sơn kiểu vườn Nhật trước khi vào thang máy để lên phòng ăn, một căn phòng vừa vặn cho nhóm khách Việt khoảng mười người. Căn phòng bày bộ bàn ghế gỗ giản dị, trần và tường đều bằng vật liệu nhẹ, đem đến cảm giác thư thái, yên bình cho thực khách trước khi dùng bữa với một thực đơn thật độc đáo nhưng giản dị mà tinh tế như phong cách sống của người Nhật.


Các nhà hàng, quán ăn Nhật có ở hầu hết các đô thị lớn hay các trung tâm du lịch ở Việt Nam với thực đơn khá đa đạng, nhưng món ăn ở nhà hàng này thì chỉ có ở nước Nhật và một vài thành phố tại Mỹ có đông kiều dân Nhật sinh sống. Nó thuộc về một chuỗi nhà hàng kiểu Nhật truyền thống được gọi là ume no hana chuyên phục vụ các bữa ăn với nguyên liệu tươi ngon, không dùng bất kỳ chất phụ gia nào có tác dụng đánh lừa vị giác và các món ăn được trình bày hết sức thẩm mỹ. Tuy nhiên sự khác biệt căn bản nhất giữa ume no hana với các nhà hàng khác ở chỗ: tất cả các món ăn tại đây đều làm bằng đậu hũ hoặc là sản phẩm có nguồn gốc từ đậu nành như sữa đậu nành, phù trúc (tàu hũ ki theo cách gọi của người Hoa), mì căn, chao…


Một thực đơn đủ món (set menu) ở ume no hana thường có khoảng 8-10 món, mỗi món là một kiểu chế biến vừa ngon và lạ miệng, lại được dọn ra với chén đĩa hình dáng thật đẹp, càng tôn vinh thứ thực phẩm vốn trông đã… ngon mắt.

Dù đậu hũ hay các sản phẩm từ đậu nành là nguyên liệu chính của các món ăn ở ume no hana nhưng chúng chẳng phải là đồ chay: tùy theo mùa mà thịt hoặc hải sản các loại được đưa vào các món ăn khác nhau, hoặc chỉ được dùng để nấu nước lèo ngon ngọt.

Những bài thơ ẩm thực

Các món ăn chế biến từ đậu hũ hay sữa đậu nành, tàu hũ ki… chẳng xa lạ gì với người Việt, thậm chí bữa ăn hằng ngày của nhiều gia đình thường có đậu hũ tươi, đậu hũ nấu canh, đậu hũ chiên hay xốt cà… nhưng các món ăn ở Nhà hàng ume no hana này đã cho chúng tôi những cảm nhận ẩm thực mới lạ, chưa từng gặp trong đời. Làm thế nào để có thể lôi cuốn thực khách suốt bữa ăn với chỉ một thứ nguyên liệu độc tôn là tàu hũ – đó mới là một nghệ thuật, một công phu… thượng thừa! Ai trong nhóm thực khách người Việt hôm ấy cũng xuýt xoa tán thưởng khi nếm các món ăn mà trước đó đã tròn mắt ngắm vẻ đẹp của chúng. Không ngoa khi so sánh những món ăn này như những bài haiku trong ẩm thực Nhật.


Đây là món chawanmushi – trứng sữa: một khối đậu hũ non mềm và trắng, có lẫn vài hạt đậu nành bên trong, phía trên là chiếc lòng đỏ trứng gà như được nạm vào khối sữa đông ấy. Miếng ăn thơm tho, thanh sạch như tan ra trong khẩu cái. Thật tuyệt vời! Được dọn ra cùng lúc với khối trứng sữa ấy là món salad đậu hũ với những “thớ” phù trúc dai dai ngập trong nước xốt ngọt dịu và rau cải xanh luộc chín.

Kế đến là món yudofu được dọn trong tô lớn màu nâu đất thô mộc: cũng vẫn là đậu hũ được nấu với nước lèo có vị hải sản, thêm lát gừng tươi hình hoa và vài nhánh đậu cô-ve xanh non trang trí, lại có một chút hạt mè đen rắc vào thơm thơm. Món ăn được mọi người nhanh chóng “thanh toán” sạch cả nước lẫn cái!


Chỉ chờ có vậy, hai cô tiếp viên trong trang phục yukata truyền thống đã nhanh nhẹn dọn tiếp món yuba age – đậu hũ chiên giòn và namafu dengaku – cũng là đậu hũ chiên nhưng được “áo” một lớp bột mì với hai màu xanh và vàng. Món đậu hũ chiên giòn này ăn nóng với nước tương và một lát chanh mà dụng cụ để vắt lát chanh cũng thật đặc biệt. Được dọn ra sau đó là món yuba gratan – đậu hũ nấu với vụn bánh mì và phó mát béo ngậy, có lẽ lạ miệng nhất trong thực đơn hôm ấy. Món ăn này là một sự phối ngẫu hoàn thiện giữa hương vị ẩm thực Nhật và cách chế biến món ăn Pháp sáng tạo và quyến rũ nhưng khiến mọi người cảm thấy đã khá no sau khi vét sạch chén!

Nhưng chưa hết, chúng tôi còn được thưởng thức món sushi nhưng thay vì cơm và hải sản được cuốn trong rong biển thì ở đây là thứ để cuốn là tàu hũ ki. Và cuối cùng không thể thiếu chén xúp chawan-mushi được nấu bằng sữa đậu nành với trứng, tôm, nấm rơm và hạt bạch quả thật ngọt ngào. Ngọt ngào hơn nữa là món tráng miệng: kem làm từ sữa đậu nành, kết thúc một bữa ăn hảo hạng mà giá (cho mỗi người) theo chúng tôi biết là khá cao – khoảng vài ngàn yen. Dù giá một bữa ăn ở ume no hana không rẻ chút nào nhưng muốn thưởng thức bữa ăn thuần đậu hũ này người ta phải đặt trước nhiều ngày để giữ chỗ. Những người bản xứ sành ăn và du khách am hiểu ẩm thực Nhật thường tìm đến các ume no hana có trên khắp lãnh thổ nước Nhật để thưởng thức những món ngon được chế biến công phu bằng thứ thực phẩm đầy dinh dưỡng, hợp với xu thế ẩm thực lành mạnh đương đại: giàu protein lại chống cholesterol.


Trước lúc rời nước Nhật, chị Yukari và các bạn Nhật ở JTB (Cục Du lịch Nhật Bản) có hỏi về ấn tượng đậm nét mà ẩm thực Nhật để lại nơi chúng tôi sau chuyến đi, nhiều người không ngần ngại đáp ngay: “Tofu restaurant!” (Nhà hàng đậu hũ!). Vâng, đó là một ấn tượng thật đẹp trong rất nhiều điều sẽ được lưu giữ lâu dài trong ký ức chúng tôi…

Tác giả Donald Richie trong tác phẩm Thưởng thức món ăn Nhật (A taste of Japan) xuất bản năm 1993, cho rằng: đậu hũ được đưa từ Trung Quốc sang Nhật Bản vào thế kỷ thứ X; và theo các tư liệu cổ còn lưu giữ được thì từ thế kỷ XII đậu hũ đã là một yếu tố không thể thiếu trong ẩm thực Nhật. Năm 1782, một cuốn sách dạy nấu ăn được xuất bản tại Osaka có tên 100 công thức hiếm hoi nấu món đậu hũ đã trở thành sách bán chạy nhất thời đó, và một năm sau tiếp tục có cuốn Thêm 100 công thức hiếm hoi nấu món đậu hũ. Nếu như đậu hũ là nguyên liệu phụ hay chỉ giúp làm nổi bật nguyên liệu chính của một món ăn tại Trung Quốc thì ở Nhật, theo Donald Richie, đậu hũ được coi là một nguyên liệu chính rất mực thanh tao và từ đó dẫn tới có đến 200 công thức dạy nấu ăn với đậu hũ!

Bích Thủy
Link tham khảo:


Thursday, May 27, 2021

BÍ MẬT CHƯA BIẾT VỀ NGƯỜI PHỤ NỮ ĐẦU TIÊN ĐƯỢC IN TRÊN TỜ 20 USD

Việc Harriet Tubman sẽ thay thế Andrew Jackson trên tờ tiền 20 USD là một sự kiện rất quan trọng vì nhiều lý do.

Chân dung Harriet Tubman

Chủ nô Jackson đã bị đẩy về mặt sau của tờ tiền bởi một cựu nô lệ; Tubman, người đã mang đến tự do cho hơn 300 nô lệ trên tuyến đường sắt ngầm, sẽ thay thế cho một vị tổng thống khiến 16.000 người Cherokee (và hàng ngàn người khác thuộc những bộ lạc bản địa khác) phải rời bỏ quê hương của họ trên Con đường nước mắt (Trail of Tears).

Nhưng kể cả Tubman không thay thế cho Jackson đi chăng nữa, thì tờ 20 USD cũng vẫn là tờ tiền phù hợp nhất để vinh danh bà, vì số tiền 20 USD đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của bà trong 2 tình huống khác nhau.

Thứ nhất, 20 USD là số tiền bà nhận được theo chế độ trợ cấp hàng tháng sau Nội chiến Mỹ, mà trong đó bà đã trợ giúp cho phe Liên bang miền Bắc với vai trò trinh sát và gián điệp.

Số tiền này vẫn ít hơn khoản tiền 25 USD một tháng được chi trả cho những binh sỹ, song đây là kết quả của một cuộc chiến pháp lý lâu dài để được nhận trợ cấp của bà.

Phil Edwards của Vox đã viết về điều này vào năm ngoái, khi chiến dịch truyền thông xã hội nhằm đưa hình ảnh Tubman hoặc một phụ nữ khác lên tờ tiền 20 USD đang ở giai đoạn cao trào.

Nhưng ngay từ trước đó, theo như Yoni Appelbaum của tờ Atlantic đã chỉ ra trên Twitter, số tiền 20 USD đã đóng một vai trò lớn trong nỗ lực của Tubman nhằm giải thoát chính cha mình khỏi ách nô lệ.

Mẫu mặt trước tờ tiền 20 USD có chân dung bà Harriet Tubman

Theo MSN.com, trong cuốn tiểu sử đầu tiên của Tubman, cuốn sách 'Scenes in the Life of Harriet Tubman' (tạm dịch: Những câu chuyện nhỏ về cuộc đời của Harriet Tubman) xuất bản năm 1869, tác giả Sarah Hopkins Bradford đã kể câu chuyện về nỗ lực của Tubman trong việc giải thoát cha mẹ mình, như một ví dụ về việc bà Tubman hiếm khi yêu cầu bất kỳ điều gì từ người khác như thế nào.

"Dù suy nghĩ rất khiêm tốn về bản thân," Bradford viết, "song bà lại đủ táo bạo trước những mong muốn của sắc tộc mình" - và không sợ làm mất mặt những người có quyền lực, nếu cần thiết.

"Tôi sẽ không đi nếu chưa lấy được 20 USD của tôi."

Trong câu chuyện này, Bradford viết, Tubman tin rằng bà đã được Chúa "chỉ lối" tới xin kinh phí để giải cứu cha mẹ khỏi "một quý ông ở New York," người được Appelbaum xác định là Oliver Johnson, một thành viên nổi bật của phong trào bãi nô.

Khi rời khỏi nhà của một người bạn để tới đó, bà đã nói, "Tôi sẽ tới văn phòng của ông, và tôi sẽ không rời khỏi đó, tôi sẽ không ăn không uống cho tới khi tôi được nhận đủ tiền để giúp cha."

Bà đã tới văn phòng của quý ông này.

"Bà muốn gì, Harriet?" là lời chào đầu tiên bà nhận được.

"Tôi muốn một chút tiền, thưa ông."

"Vậy ư? Bà muốn bao nhiêu?"

"Tôi muốn có 20 USD, thưa ông"

"20 USD? Ai bảo bà tới đây lấy 20 USD?"

"Chúa nói với tôi, thưa ông."

"Vậy tôi nghĩ lần này Chúa nhầm rồi."

"Tôi nghĩ ông ấy không nhầm đâu, thưa ông. Dù gì đi nữa tôi vẫn sẽ ngồi đây cho tới khi tôi nhận được tiền."

Vậy là bà đã ngồi xuống và ngủ. Bà vẫn ngồi đó suốt buổi sáng và buổi chiều, ngủ rồi lại thức, đôi khi thấy văn phòng đầy người, đôi khi lại chẳng có ai ngoài bà.

Trong thời gian đó đã có nhiều người tị nạn đi qua New York, và những người vào văn phòng cho rằng bà là một trong số họ, đang cảm thấy mệt mỏi và muốn nghỉ ngơi. Đôi khi bà được đánh thức dậy, "Nào, bà Harriet, bà nên đi thôi. Ở đây không có tiền cho bà đâu." "Không, thưa ngài. "Tôi sẽ không đi nếu chưa lấy được 20 USD của tôi."

Cuối cùng, Tubman cũng có được 20 USD - nhưng thậm chí còn nhiều hơn thế. Bradford viết rằng cuối cùng, sau khi ngủ dậy trong văn phòng, bà Tubman đã tìm thấy 60 USD trong túi mình. Nhưng số tiền này không phải từ Johnson; mà là do những người "tị nạn" từng là nô lệ đi qua văn phòng quyên góp cho bà. Họ đã thu được một số tiền lớn để giúp bà Tubman giải phóng cho một người nữa khỏi kiếp nô lệ.

Tubman đã dùng số tiền này để cứu cha mình - người đang bị xét xử vì tội giúp đỡ nô lệ trốn thoát - và đưa ông tới tận Canada, nơi ông không thể bị bắt một lần nữa vào cảnh nô lệ.

Phải thừa nhận rằng, giờ đây đồng 20 USD không thể làm được nhiều điều như thời của bà Tubman nữa. Nhưng khi gương mặt của bà được in lên tờ tiền 20 USD mới, bà sẽ là một phần của mọi giao dịch với số tiền mà ngay cả một thành viên cốt cán của phong trào giải phóng nô lệ cũng không muốn cho bà để bà giải phóng cho cha mình. Và đối với những người biết tới câu chuyện này, đó còn là một lời nhắc nhở về giá trị của đồng 20 USD đối với những người khốn khó hơn mình.

(Sưu tầm trên mạng)
Link tham khảo;
https://www.nbcnews.com/know-your-value/feature/we-need-reflect-our-society-whole-harriet-tubman-finally-headed-ncna1256536

https://www.bbc.com/news/world-us-canada-55808324

https://www.insider.com/harriet-tubman-20-bill-update-redesign-timeline-2030-2021-4

https://en.wikipedia.org/wiki/United_States_twenty-dollar_bill



TOP 5 KHU PHỐ TÀU NỔI DANH KHẮP THẾ GIỚI

Văn hóa Trung Hoa cho tới nay đã lan rộng đến cả phương Tây xa xôi. Và các khu phố Tàu luôn là điểm dừng chân không thể bỏ qua trong mỗi chuyến du lịch.

KHU PHỐ TÀU BANGKOK, THÁI LAN


Phố người Hoa tại Bangkok được mệnh danh là một trong những con phố sầm uất, nhộn nhịp bậc nhất châu Á. Đến đây vào buổi sáng, bạn sẽ cảm nhận được không gian cổ đậm chất Trung Hoa với ngôi đền nhỏ nơi góc đường, ngôi chùa Wat Traimit với tượng Phật vàng lớn nhất thế giới hay từng ngóc ngách với quán ăn ven đường bình dị. Khi phố xá bắt đầu lên đèn cũng là lúc khu phố Tàu tại thủ đô Bangkok nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Dọc con đường chính Yaorawat lúc này bừng sáng với đủ nhà hàng, quán xá thơm lừng khiến du khách chẳng thể cưỡng lại được.

PHỐ NGƯỜI HOA TẠI MANILA, PHILIPINES

Nguồn ảnh: @kabute_photography

Khu phố người Hoa tại Manila còn được biết đến với tên gọi Binondo là phố Tàu lâu đời bậc nhất thế giới xây dựng vào năm 1954. Cũng giống như nhiều khu phố Tàu khác, Binondo gây ấn tượng bởi khung cảnh đông vui nhưng có chút bừa bộn. Những quán xá luôn đông đúc người ra vào, bộ bàn ghế bày ra cả ngoài đường rồi cả món ăn ngon được chế biến trước mắt du khách. Hơn thế nữa, Binondo còn là điểm dừng chân lý tưởng của tín đồ Phật giáo khi nơi đây có rất nhiều ngôi chùa cổ kính, thiêng liêng.

KHU PHỐ TÀU TẠI SAN FRANCISCO, MỸ


Nằm giữa thành phố San Francisco hiện đại, khu phố Tàu của nước Mỹ vừa đậm nét truyền thống nhưng cũng phảng phất sự hiện đại của phương Tây. Nơi đây như một Trung Hoa thu nhỏ khi nhà hàng nằm san sát nhau, cửa hàng sầm uất, tiệm giặt ủi hay cả văn phòng luật sư… Điểm nhấn đặc biệt của phố người Hoa tại San Francisco phải kể đến đại lộ Grant rộng lớn để du khách thập phương từ khắp nơi ghé tới. Từng nét kiến trúc Trung Hoa hiển hiện giữa nước Mỹ chắc chắn sẽ đưa bạn tới những trải nghiệm du lịch tuyệt vời.

CHINATOWN GIỮA VANCOUVER, CANADA


Thị trấn người Hoa tại Vancouver không mang vẻ nhộn nhạo như nhiều con phố Tàu khác mà ngược lại rất sạch sẽ và văn minh. Cánh cổng lớn đặc trưng của văn hóa Trung Quốc mở ra một thế giới đậm nét châu Á cùng sắc đỏ rực may mắn. Tiến dần vào phía trong, du khách sẽ đi qua từng con phố mang tên địa danh Trung Hoa, rồi tới Sat Yat Sen nơi có biểu tượng 12 con giáp hay thỏa thích mua sắm tại China Town Plaza. Và nếu đã thấm mệt vì dạo chơi, bạn đừng quên thưởng thức những món ngon đặc trưng tại đây nhé.

PHỐ NGƯỜI HOA Ở SYDNEY, ÚC

Ngườn ảnh: Internet

Cũng giống như nhiều quốc gia trên thế giới, nước Úc cũng tồn tại một con phố người Hoa tại thành phố Sydney. Chinatown tại Sydney có diện tích nhỏ nằm lọt giữa những tòa nhà chọc trời. Dẫu vậy, phố người Hoa tại thành phố cảng vẫn quyến rũ du khách bởi nét kiến trúc cổ kính, những món ăn đậm vị Á Đông khó tìm rồi cả nếp sống đặc trưng của người Hoa. Tất cả lý do đó sẽ khiến bất cứ ai khi đặt chân tới nước Úc cũng phải dừng lại để cảm nhận bầu không khí vừa quen lại vừa lạ giữa lòng nước Úc.

Wanderlust Tips | Cinet