Tuesday, June 28, 2022

BÁNH MEN LÀM DẬY MEN KÝ ỨC

Ngày xưa, thời ngẩn ngẩn ngơ ngơ vì cổ tích, vì cà rem và bánh men, bánh men vẫn là thứ thích trội nhất. (Ngữ Yên)


Nói về nỗi thèm một cái bánh bỏ vào miệng ngậm ép bằng vòm họng, bánh có tiếng kêu tan vỡ và sau đó thứ bột bánh ấy tan ngay trong miệng, nhiều người biểu rằng đúng là bọn con nít hảo ngọt.

Biết suy nghĩ một chút, mới cho là con nít hảo ngọt vì nó cần năng lượng. Nhưng đến khi phản tỉnh, mới thấy rằng người lớn hảo ngọt còn nhiều hơn con nít.

Những nhà dinh dưỡng học lại phát biểu: “Nhơn chi sơ tính hảo ngọt.” Cho nên, một số bà mẹ vô tình dùng cam thảo để sơ miệng cho em bé mới sinh. Chất ngọt trong cam thảo gây nguy cơ là bé bỏ sữa mẹ vì sữa mẹ không ngọt.

Cái hảo ngọt này theo ta suốt đời. Bằng chứng là người lớn luôn thích được khen hơn là chê. Được khen tâm lý hưng phấn thấy rõ. Bị chê có khi ba ngày chưa nuốt trôi ‘cục’ tức giận.


Trở lại với chiếc bánh men thuở nhỏ. Ngoài cái nó tan nhanh trong miệng, chiếc bánh ấy còn được gia hương bằng bột vani, thứ hương gây nghiện kể từ ngày biết được nó. Bột vani được sử dụng nhiều trong thực phẩm. Nó trở thành một thứ hương bám dính lấy khẩu vị ta. Món gì có vani cũng đều hấp dẫn.

Bánh men tuy có chữ men trong bánh, nhưng lại không sử dụng men và tận dụng tính lên men khi ủ lâu giờ của bột gạo. Nhiều người cho rằng bánh men là do Tây truyền sang. Nhưng nguyên liệu của bánh hoàn toàn không Tây chút nào: bột gạo và bột năng. Bột năng chiếm 85% trong bột nhồi bánh men.

Dầu vậy, bánh cũng khá giống loại bánh macaron nổi tiếng của Pháp. Nhưng macaron cầu kỳ hơn nhiều. Thứ ‘bánh men’ Tây biến hóa qua nhiều thời kỳ, cho tới nay nó là dạng bánh gồm hai miếng được phết một lớp kem bơ ở giữa. Hương vị bánh macaron phong phú hơn bánh men xa lắc. Hương truyền thống như mâm xôi (raspberry), sô cô la; thậm chí còn có hương pâté gan ngỗng, hương trà matcha.


Một nguồn tin cho rằng macaron du nhập vào Pháp từ Ý bởi đầu bếp của hoàng hậu Catherine de Medici thời Phục hưng sau khi kết hôn với vua Henry II của Pháp năm 1533. Vụ này có vẻ làm chạm tự ái dân tộc. Phải chăng vì vậy mà cuốn bách khoa ẩm thực Larousse Gastronomique (bản 1988) phăng dấu vết nguồn gốc của macaron và phát hiện nó ra đời từ một nhà dòng Pháp ở Cormery vào thế kỷ thứ 18 (1791). Vào năm 1792, macaron bắt đầu nổi tiếng khi hai dì phước dòng Carmel trong khi chạy giặc giữa thời tao loạn do Cách mạng Pháp gây ra, đã đến tỵ nạn tại Nancy. Hai dì đã nướng và bán bánh macaron để trả tiền trọ. Từ đó hai dì nổi tiếng với cái tên “Các xơ macaron” (Macaron Sisters). Vào giai đoạn này macaron chưa có hương vị gì đặc biệt.

Phải đến những năm 1930, macaron mới gồm hai mảnh kẹp mứt, rượu và gia vị và định danh là macaron Paris. Nhiều cuốn sách dạy nấu ăn của Ý vào thế kỷ 16 đã kể ra các lại bánh làm bằng bột hạnh đào (almond) giống y macaron, mặc dầu có tên khác. Công thức sớm nhất được biết đến là vào đầu thế kỷ 17 và dường như copy/paste từ một phiên bản của Pháp.


Nhiều thành phố của Pháp cũng đưa ra lịch sử lâu đời và các biến thể của macaron, như Lorraine, xứ Basque, Saint-Émilion, Amiens, Montmorillon, Le Dorat, Sault, Chartres, Cormery, Joyeuse và Sainte-Croix ở Burgundy.

Phiên bản macaron thành Amiens hình tròn, nhỏ làm bằng bột nhào hạnh đào, trái cây và mật ong được ghi nhận đầu tiên vào năm 1855. Macaron thành Amiens khá giống bánh men thuở ban đầu của Việt Nam, nhưng lớn hơn. Bánh men xứ ta bây giờ thu nhỏ như hòn bi.

Còn thành phố Nancy vùng Lorraine có cả một câu chuyện lịch sử về macaron. Lịch sử ấy kể rằng bà Mẹ bề trên ở thị trấn Remiremont sáng lập dòng nữ tu lấy tên là Dòng Thánh Tâm với nội quy nghiêm cấm ăn thịt. Hai xơ Marguerite và Marie-Elisabeth là những tác giả sáng chế ra bánh macaron Nancy đáp ứng quy chế ăn uống của nhà dòng. Năm 1952, thành phố Nancy tôn vinh hai xơ khi dùng tên họ đặt cho con đường La Hache, nơi bánh macaron ra đời.

Đâu chỉ bánh men bị nghi là do Pháp truyền sang. Nhật cũng có macaron nổi tiếng, được làm bằng bột đậu phộng thay vì bột hạnh đào hương vị trà xanh wagashi. Hàn Quốc có phiên bản macaron khác thường gọi là ttungcarons – caron béo.


Cách đây nhiều năm, nhà làm bánh Hoàng Vũ Huy, học nghề bên Thụy Sĩ, giới thiệu bánh macaron ở Sài Gòn với nhiều màu sắc trông ngon lành. Một dòng bánh cao cấp. Sau nhiều lần linh đinh, tiệm bánh La Dorée của Huy đã cắm neo tại số 28 Cao Thắng, Quận 3. Thụy Sĩ nơi Huy học nghề có dòng bánh men tên là Luxemburgerli gồm hai miếng bánh bằng bột hạnh đào với lớp bơ kem kẹp ở giữa. Được pha chế nhiều hương vị khác nhau.

Nhìn chung, chiếc bánh men Việt Nam chơn chất, cắm sâu vào ký ức của nhiều người, định hình hương vị vani và mùi lá dứa dịu dàng cho khẩu vị ẩm thực. Chính những chiếc bánh men nuôi lớn khẩu vị ấy. Bánh men không có hương vani sẽ không phải là… bánh men.

Ngữ Yên
Theo: Sài Gòn Thập Cẩm

HỒ "BẤT THƯỜNG" NHẤT THẾ GIỚI: KHÔNG CÓ NHIỀU NƯỚC NHƯNG NHIỀU QUỐC GIA MUỐN TÌM TỚI

Mặc dù không có nước nhưng hồ này lại chứa một loại hợp chất không tưởng mà bất cứ quốc gia nào cũng mong muốn.


Ở làng La Brea phía tây nam đảo Trinidad thuộc Cộng hòa Trinidad và Tobago, Châu Mỹ có một cái hồ được đặt tên là hồ Pitch. Hồ Pitch không có nhiều nước nhưng lại thu hút rất nhiều khách du lịch. Thậm chí, nhiều quốc gia trên thế giới còn thể hiện mong muốn sử dụng hồ này. Hồ Pitch có chứa gì mà ai ai cũng thèm khát như vậy?

Hồ Pitch dù không có nhiều nước nhưng bất cứ quốc gia nào cũng muốn sở hữu (Ảnh: Baidu)
Hồ không chứa nước

Nguyên nhân là bởi hồ Pitch thực chất là một hồ nhựa đường tự nhiên lớn nhất thế giới. Hồ Pitch chứa đến 10 triệu tấn nhựa đường. Có thể nói, hồ nhựa đường Pitch là mỏ nhựa đường tự nhiên lớn nhất thế giới. Hồ nhựa đường Pitch có diện tích lên tới 40 hecta và sâu 75m.

Hồ Pitch được tìm thấy vào năm 1595 và được đưa vào khai thác kể từ năm 1867. Đó là vào cuối thế kỷ 16, ngài Walter Raleigh đã đến đất nước này và trong quá trình khám phá khu vực này, ông đã bị choáng ngợp bởi mùi nhựa đường trong không khí. Những người dân bản địa đã dẫn ông ta đến nơi mà họ cho rằng đó là địa ngục. Khi tới nơi ông đã thấy một cái hồ có chứa đầy một chất màu đen và Walter Raleigh là người khám phá ra hồ Pitch.

Hồ Pitch là hồ nhựa đường tự nhiên lớn nhất thế giới (Ảnh: Baidu)
Các nhà khoa học sau khi phân tích các chất có trong hồ Pitch đã kết luận rằng nó có tuổi đời lên tới hàng nghìn năm.

Hồ Pitch hình thành từ sau khi mảng lục địa Caribe dịch chuyển và bị khối lục địa khác đè lên. Sự dịch chuyển này đã tạo ra các đường nứt gãy và làm cho dầu thô dưới lòng đất bị phun trào lên bề mặt. Một thời gian sau, khi những nguyên tố nhẹ trong dầu thô bị bốc hơi hết, những gì còn lại chỉ có nhựa đường.

Theo truyền thuyết cổ của người dân nơi đây, hồ Pitch trước đây đã từng "nuốt chửng" một bộ lạc do họ đã ăn những con chim ruồi, loài chim được cho là linh hồn tổ tiên của họ. Do đó các vị thần đã tạo ra hồ Pitch để trừng phạt loài người.

Hồ Pitch chứa đến 10 triệu tấn nhựa đường (Ảnh: Baidu)
Một truyền thuyết địa phương khác lại cho rằng hồ Pitch có liên quan tới câu chuyện của nàng Callifaria, con gái của một tù trưởng bộ lạc địa phương. Nàng đã chạy trốn theo người yêu của mình là Kasaka, một hoàng tử của bộ tộc đối thủ. Cha của nàng đã đuổi theo và bắt được con gái của mình. Sau đó ông đã buộc nàng vào 1 con ngựa để nó kéo nàng trở về nhà. Vị thần Arawak khi biết chuyện này đã rất tức giận, ngài đã nhấn chìm cả ngôi làng của nàng xuống đất và dùng nhựa đường "che" nó đi.

Bảo tàng lịch sử thiên nhiên

Theo Amusing Planet, trong quá trình nghiên cứu tại hồ Pitch, các nhà khoa học đã tìm thấy vô số dấu vết của những con vật từ thời tiền sử. Trong lòng hồ, các nhà cổ sinh vật học đã vớt xương của các loài chó sói, rùa, ma mút, hổ răng kiếm, bò rừng bizon và cả những động vật không xương sống khác. Họ cho rằng, những loài động vật này vô tình rơi xuống và bị mắc kẹt trong nhựa đường. Chính lớp nhựa đường đã giúp cho bộ xương của chúng được bảo quản 1 cách hoàn hảo như vậy.

Trong lòng hồ, các nhà sinh vật học đã vớt xương của các loài động vật tiền sử (Ảnh: Baidu)
Theo thống kê của các nhà khoa học, 90% các hóa thạch trong hồ Pitch là của các loài thú săn mồi. Trong đó, có tới 4.000 hóa thạch của sói tuyết, 2.000 hóa thạch của hổ răng kiếm, còn lại là của sói Bắc Mỹ. Ngoài ra họ cũng tìm được cả hóa thạch của các loài chim ăn thịt.

Vào năm 1928, một cây cổ thụ khổng lồ 4.000 năm tuổi đã bất ngờ trồi lên lòng hồ Pitch rồi sau đó lại từ từ chìm dần xuống dưới. Từ sự việc này, các nhà khoa học đã đặt ra giả thuyết rằng, hồ Pitch là một môi trường tương tự như hồ hydrocacbon trên Titan, mặt trăng của sao Thổ. Nếu họ có thể phân tích được toàn bộ các chất có trong hồ Pitch, họ sẽ tìm ra câu trả lời về việc có hay không sự sống trong hồ hydrocacbon của Titan.

Nguồn nhựa đường dồi dào

Nhựa đường của hồ Pitch vô cùng đặc nên bạn có thể dễ dàng đi lại trên mặt hồ. Thế nhưng, nếu bạn dừng lại thì sẽ bị chìm dần. Bởi nhìn từ bề mặt thì hồ Pitch có vẻ hoàn toàn yên tĩnh, nhưng trong lòng hồ, các dòng nhựa đường thực chất vẫn luôn di chuyển không ngừng.

Nhựa đường của hồ Pitch vô cùng đặc nên bạn có thể dễ dàng đi lại trên mặt hồ (Ảnh: Baidu)
Nguồn nhựa đường của hồ Pitch tính tới thời điểm này đã được khai thác trong hơn 100 năm và vẫn chưa có dấu hiệu cạn. Chính vì thế, dù Cộng hòa Trinidad và Tobago với dân số chưa đến 1,2 triệu người nhưng nhờ có tài nguyên nhựa đường và dầu khí nên quốc gia này là một địa điểm đầu tư tuyệt vời cho giới doanh nhân quốc tế.

Hiện nay, hồ Pitch đang cung cấp 108.000 tấn bitum (dùng làm nhựa rải đường) và phần lớn được xuất khẩu. Các vỉa dầu phần lớn ở miền Nam Trinidad cung cấp hơn 7 triệu tấn/năm (1994). Khai thác khí đốt cũng trên đà gia tăng. Dầu mỏ được xuất khẩu sang Hoa Kỳ và Vương quốc Anh. Phần lớn giếng dầu và các nhà máy lọc dầu đều nằm trong tay các công ty của Hoa Kỳ. Sản lượng hyđrocacbon chiếm 80% tổng giá trị các loại sản phẩm xuất khẩu. Tính đến năm 2016, GDP của Trinidad và Tobago đạt 22.809 USD, đứng thứ 106 thế giới và đứng số 1 khu vực Caribe.

Con đường ở phía trước của cung điện Buckingham nước Anh hay sân bay La Guardia, đường hầm Lincoln của Mỹ đều là những công trình kiến trúc nổi tiếng từng sử dụng nhựa đường từ hồ Pitch để xây dựng.

Các nhà khoa học tính toán rằng lượng nhựa đường dưới hồ Pitch có thể khai thác trong mấy trăm năm nữa (Ảnh: Baidu)
Tính tới nay, các công ty khai khoáng đã thu được 10 triệu tấn nhựa đường nhưng hồ Pitch vẫn còn rất nhiều. Các nhà khoa học phỏng đoán rằng, còn rất nhiều nguồn dầu mỏ bên dưới lòng đất và có lẽ nguồn nhựa đường sẽ chưa thể cạn kiệt. Lượng nhựa đường dưới hồ Pitch có thể khai thác trong mấy trăm năm nữa.

Sau khi mưa, nhiều hồ nước nhỏ được hình thành, khách du lịch sẽ kéo đến đây để ngâm mình trong nước (Ảnh: Baidu)
Ngoài ra, hồ Pitch còn là một điểm du lịch nổi tiếng. Mỗi năm lượng khách du lịch kéo đến đây lên tới 20.000 người. Thời điểm du khách kéo tới nhiều nhất là sau mùa mưa. Sau những cơn mưa, nhiều hồ nước nhỏ được hình thành trên mặt hồ Pitch và chúng có chứa hàm lượng lưu huỳnh rất lớn. Nước hồ như vậy có thể chữa được các bệnh về xương khớp và da. Vì thế, du khách thường tới đây để ngâm mình trong các hồ nước nhỏ này.

*Bài viết tổng hợp nguồn từ Sohu, Worldking, Explorersweb…
Theo: Trí Thức Trẻ
Link tham khảo:




Monday, June 27, 2022

LOÀI BỒ CÂU QUÝ HIẾM CÓ VẺ NGOÀI GIỐNG NHƯ NGƯỜI NGOÀI HÀNH TINH

Bồ câu mắt bọ Budapest là một giống chim bồ câu quý hiếm, nổi tiếng với vẻ ngoài kỳ dị, gần giống như người ngoài hành tinh, với đôi mắt lồi, chiếc mỏ nhỏ và đầu hình tam giác.

Bồ câu mắt bọ Budapest.

Anh em nhà Poltl, một gia đình đam mê đua chim bồ câu từ Budapest đã bắt đầu tạo ra một giống chim bồ câu mới vào đầu những năm 1900 khi sử dụng phương pháp lai tạo chọn lọc để có được giống chim bay cao với sức bền vô song.

Họ đã cố gắng đạt được mục tiêu của mình, vì bồ câu mắt bọ Budapest có thể bay tới 5 giờ không nghỉ và bay được quãng đường khoảng 800 km.


Tuy nhiên, những người lần đầu tiên nhìn thấy nó ít quan tâm đến khả năng bay mà quan tâm nhiều hơn tới vẻ ngoài độc đáo của giống bồ câu này.

Khuôn mặt và chiếc mỏ nhỏ nhắn, trái ngược với đôi mắt lồi như ếch, khiến người ta tò mò hoặc kinh hãi, nhưng nó cũng khiến họ phải chú ý.

Không rõ tại sao anh em nhà Poltl lại sử dụng những đặc điểm vật lý gần giống như tranh biếm họa này khi tạo ra giống bồ câu quý hiếm này.


Một số suy đoán rằng chiếc mỏ cực ngắn và khuôn mặt nhỏ đã khiến chúng nhẹ hơn, trong khi đôi mắt to giúp chúng bay cao hơn, nhưng không ai thực sự biết chắc chắn lý do chính xác là gì.

Những gì chúng ta biết là vẻ ngoài khác thường này đã khiến chúng trở nên đặc biệt so với rất nhiều loài chim bồ câu khác.

Bởi nhiều người cho rằng, bồ câu mắt bọ Budapest nhìn không thực sự "dễ thương". Tuy nhiên, thực tế những đặc điểm cơ thể bất thường này lại là điểm nổi bật không thể phủ nhận của nó.


Trên thực tế, các đặc điểm này là một phần lý do tại sao giống bồ câu này rất hiếm, ngay cả đối với những người nuôi chim bồ câu chuyên dụng.

Nói một cách đơn giản, những chú bồ câu mắt bọ Budapest con thường rất khó nở ra khỏi trứng vì có chiếc mỏ nhỏ và đôi mắt to hoạt động như một tấm đệm bất cứ khi nào chúng cố gắng mổ vào vỏ trứng.

Vì tỷ lệ tử vong của giống chim này rất cao, nên những người chăn nuôi chim bồ câu thường sẽ lấy trứng và cố gắng mổ lấy con con trước khi nó chết vì kiệt sức bên trong trứng.


Như bạn có thể tưởng tượng, việc biết chính xác thời gian trứng của loài bồ câu quý hiếm này nở đòi hỏi phải ghi chép tỉ mỉ trong quá trình ấp.

Chưa kể là ngay cả khi trứng của loài bồ câu này nở, do mỏ nhỏ của cả bố và mẹ, nên việc bón thức ăn cũng rất khó khăn và đôi khi cần phải có sự can thiệp của con người.

Ngày nay, bồ câu mắt bọ Budapest nổi tiếng là vật nuôi có vẻ ngoài độc đáo hơn là chim bồ câu đua.

Theo: GDTĐ
Link tham khảo:



TIẾC NUỐI CÂY NHÃN ĐƯỜNG PHÈN Ở HƯNG YÊN

Nhiều năm trở lại đây, không ít người Hưng Yên cảm thấy tiếc nuối khi "bói" mãi không ra một cây nhãn đường phèn, loại nhãn ngon nhất từng mang danh "tiến vua" chính hiệu của vùng đất Phố Hiến xưa. Loại nhãn này giờ đã vắng bóng, thay vào đó là hàng vạn cây nhãn giống mới.

Hưng Yên là vùng đất nổi tiếng là đất trồng nhãn ngon trên khắp cả nước. Rất nhiều các loại như nhãn lồng Hưng Yên, nhãn đường phèn, nhãn tiến vua, nhãn tám lá thì đều được trồng tại vùng đất này. (Ảnh: VNN)

Sản vật quý

Đất Hưng Yên có nhiều giống nhãn truyền thống khác nhau. Dựa vào màu sắc, hương vị của quả nhãn mà người dân đặt tên các loại như: nhãn thóc, nhãn cùi, nhãn nước, nhãn đường phèn… Trong số đó chỉ có nhãn đường phèn là ngon nhất. Loại quả này "kiêu hãnh" xếp ngôi đầu bảng về chất lượng bởi cùi giòn, vị ngọt sắc, hương thơm khó quên. Hạt nhãn nhỏ và dóc, sắc đen ánh nâu đỏ. Nâng chùm nhãn đường phèn quả nhỏ nhắn mà bóc vỏ, lộ lớp cùi dày ráo nước nổi ánh vàng, vân múi căng mọng lồng vào nhau ở đáy quả, đưa lên miệng thấy mềm mà giòn, ngọt mà thanh, thơm đậm đà, chỉ muốn giữ nguyên ở lưỡi! Đúng như cái tên, nhãn có vị ngọt và mùi thơm đặc biệt, khó quên.

Vì thế, nhãn đường phèn là sản vật được chọn bởi những người kén ăn, những người đã từng được thưởng thức mà vương vấn mãi hương vị thơm ngon ấy, mỗi năm đến mùa lại nhớ để tìm. Người Phố Hiến gọi đây là "chúa" của nhãn Hưng Yên, ăn một lần sẽ nhớ mãi và trở thành "Quả ngon nhớ lâu" đối với ai đã từng về đất nhãn mùa quả chín.

Trong một lần hội thảo về bảo tồn giống nhãn lồng đặc sản tại thành phố Hưng Yên, ông Caclo - một chuyên gia người Italy đã phân tích: Giống bản địa như nhãn lồng Hưng Yên là vô cùng quý giá, cần được lưu giữ và coi là vấn đề quan trọng vì nó không chỉ mang tính địa phương truyền thống, thể hiện bản sắc dân tộc mà còn mang tính toàn cầu. Hơn nữa, những giống cây này còn có thế mạnh là khả năng thích ứng với ngoại cảnh, thổ nhưỡng, không nhiễm sâu bệnh nên là loại thực phẩm sạch trong khi các giống mới thường phải dùng thuốc hóa học để phòng trừ sâu bệnh mới có khả năng cho năng suất, chất lượng cao. Đây là loại cây quý có giá trị đến muôn đời sau cần được bảo tồn.

Hiện tại, nhãn đường phèn đang được rao bán với mức giá từ 130.000-150.000 đồng/kg cho loại đặc biệt; 100.000 đồng/kg cho dòng đường phèn bình dân. Thậm chí, một số nhà dân bán tới 200.000 đồng/kg nhãn đường phèn nhưng không phải ai cũng mua được. (Ảnh: VNN)

Tuy nhiên, loại quả dù ngon và quý này lại nhỏ, mẫu mã không đẹp, năng suất không cao. Với vóc hình trời sinh "khiêm tốn" như vậy, so với các loại nhãn khác đang được trồng phổ biến ở Hưng Yên, nhãn đường phèn không có lợi thế mẫu mã, nhìn đi nhìn lại chẳng hề bắt mắt cả về dáng chùm lẫn sắc quả. Bà Đoàn Thị Chải, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khẳng định: Nếu đem ra chợ bán, so với các giống nhãn hiện nay thì nhãn đường phèn lép vế hoàn hoàn vì mẫu mã ấy!

Mất dần chỗ đứng

Cũng chính vì "lép vế" về mẫu mã nên nhãn đường phèn đang dần biến mất. Về Hưng Yên mùa nhãn, muốn tìm nhãn đường phèn không dễ. Nhiều người sành nhãn lồng Hưng Yên vì yêu quý giống nhãn đường phèn, mỗi mùa nhãn về phải mất công tìm kiếm, dù giá mua lúc nào cũng đắt hơn nhãn thông thường 3 - 4 lần. Loại nhãn "tiến vua” trứ danh này của Phố Hiến xưa đã quý nay lại càng hiếm… Chị Mai, một người dân thành phố Hưng Yên tiếc nuối: Năm ngoái mất công tìm mãi mới được cây nhãn đường phèn hái được 50 kg quả, năm nay đến thăm lại, chủ vườn cho biết đã đào gốc chặt bỏ vì cây vừa cao, lại ít quả nên đã thay cây mới.

Nhãn đường phèn có cùi giòn, vị ngọt sắc, hương thơm khó quên. Hạt nhãn nhỏ và dóc, sắc đen ánh nâu đỏ. (Ảnh cắt clip)

Ông Nguyễn Văn Lâm và nhiều bà con trồng nhãn ở xã Hồng Nam (thành phố Hưng Yên) cho hay: Những năm qua, do xu hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhiều vườn đã chặt phá hết những cây nhãn cũ, tuy chất lượng thơm ngon hàng đầu nhưng vì năng suất thấp. Vậy nên nhãn đường phèn ngày càng hiếm. Tại các vườn nhãn ở xã Hồng Nam, Phương Chiểu, Quảng Châu (thành phố Hưng Yên), Thiện Phiến, Thủ Sỹ (Tiên Lữ), chỉ còn lác đác vài hộ vì tâm huyết, luyến tiếc cây giống cha ông để lại mà không chặt bỏ, để lại một vài cây để "chào hàng" cho giới sành nhãn thưởng thức. Còn giá bán mỗi ki lô gam nhãn đường phèn luôn cao gấp hơn 3 lần.

Đúng như cái tên, nhãn có vị ngọt và mùi thơm đặc biệt, khó quên.(Ảnh cắt clip)

Hiện nay, Hưng Yên có khoảng hơn 3.000 ha nhãn đang cho thu hoạch, nhưng tại các vùng trọng điểm như thành phố Hưng Yên và các huyện Khoái Châu, Tiên Lữ giờ chủ yếu là trồng giống nhãn chiết Hương Chi, nhãn ghép, nhãn muộn Miền Thiết... Đây là những giống nhãn cho quả to tròn, vỏ dày, cùi dày, mềm xốp, ướt nước, cho năng suất cao, mỗi héc ta cho thu khoảng hơn 300 triệu đồng/năm. Những giống nhãn này những năm gần đây đã hấp dẫn người làm vườn vì đem lại giá trị kinh tế cao, nhưng chất lượng vẫn không thể sánh với hương vị thơm ngon đặc trưng của giống nhãn đường phèn.

Do có vị thơm ngọt quyến rũ, chỉ cần bóc vỏ nhãn đường phèn ngay lập tức đã thu hút loài ong. (Ảnh cắt clip)

Theo điều tra, khảo sát của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hưng Yên, diện tích trồng các giống nhãn quý, trong đó gồm nhãn đường phèn chỉ chiếm chưa đến 1% diện tích nhãn của tỉnh. Lý giải điều này, bà Đoàn Thị Chải cho biết: Cây nhãn đường phèn khó trồng, khó chăm sóc, năng suất thấp, quả nhỏ, cho giá trị hàng hóa ở hiện tại không cao nên không được người dân quan tâm phát triển.

Hiện một số nhà vườn thấy nhu cầu khách tìm mua nhãn đường phèn cũng đã bắt đầu quan tâm tìm cách nhân giống, nhưng ngay cả những thợ vườn giàu kinh nghiệm vẫn “bó tay” khi can thiệp cho nhãn đường phèn đậu quả, bởi nó rất khó tính, thường cho quả thất thường “năm ăn quả, năm trả cành”. Việc ứng dụng các kỹ thuật tiến bộ nhằm tăng khả năng phân hóa mầm hoa, kích thích đậu quả được ứng dụng thành công trên nhiều giống nhãn phổ biến hiện nay, lại không mấy hiệu quả đối với cây nhãn đường phèn. Cũng ở trên đất nhãn, không phải nơi nào cũng có thể trồng được cây nhãn đường phèn cho quả ngon.

Cũng chính vì "lép vế" về mẫu mã nên nhãn đường phèn đang dần biến mất. Về Hưng Yên mùa nhãn, muốn tìm nhãn đường phèn không dễ. (Ảnh cắt clip)

Để lưu giữ nguồn giống nhãn lồng đặc sản, hơn 10 năm trở lại đây tỉnh Hưng Yên đã coi trọng việc bình tuyển cây nhãn đầu dòng. Sở Khoa học và Công nghệ Hưng Yên đã xây dựng được vườn ươm, chọn lọc được gần 400 cây nhãn giống đã qua bình tuyển, với các tiêu chuẩn: độ đường từ 19 - 23%, cùi dày và giòn, trọng lượng đạt từ 50 - 80 quả/kg, năng suất cao ổn định, tạo tiền đề để nhân rộng giống nhãn chất lượng cao, nhằm phát huy vốn quí của địa phương.

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hưng Yên cũng đã triển khai dự án "Bảo tồn giống nhãn đặc sản và nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm vùng chuyên canh nhãn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2012 - 2015". Đến nay, đã có hơn 20 cây nhãn đầu dòng ở 3 trà qua cuộc bình tuyển nhãn năm 2013 được bảo tồn. Nhưng đáng tiếc, trong vườn ươm của Sở Khoa học và Công nghệ cũng như trong số nhãn bình tuyển của ngành nông nghiệp, không có cây nào thuộc giống nhãn đường phèn.

Cây nhãn tổ.

Ngay giữa Phố Hiến cổ kính, cây nhãn tổ hơn 300 năm tọa lạc ở chùa Hiến là giống đường phèn chính hiệu. Nhìn cây lơ thơ vài chùm quả nhỏ, nhiều bà con Phố Hiến nuối tiếc "bao giờ cho đến ngày xưa".

Sự vắng bóng của cây nhãn đường phèn khiến người Hưng Yên nhớ tới giống gà Đông Tảo, gắn với câu ca ''Nhãn lồng bổ ngập dao phay, gà to Đông Tảo ba ngày một cân!''. Cùng hai sản vật "tiến vua" nức tiếng của đất Hưng Yên, trong khi gà Đông Tảo sau thời gian dài tưởng như đã mất giống nay đang hồi sinh mạnh mẽ, còn số phận cây nhãn đường phèn thì vẫn ẩn dật, lẩn khuất và mòn mỏi chờ đợi những nhà vườn đang mày mò, xoay xở để "trả lại chỗ cho em", âu cũng là để hoài niệm về quá khứ, để gìn giữ lấy sản vật quý, mang đậm bản sắc quê hương truyền lại cho mai sau.

Mai Ngoan / Theo: Báo tin tức



BẮP - HƯƠNG VỊ MIỀN NAM - LÀM SAO QUÊN ĐƯỢC?

Cục kẹo, khύc mίa, trái ổi, cὐ khoai, trái bắp… thuở nhὀ được bà, được mẹ cho, nay nhắc lại sao ai trong chύng ta cῦng thấy bồi hồi, và chạnh lὸng nhớ thưσng, luyến tiếc một thời đã qua và đã mất!

Nên nόi miếng ăn, miếng uống cὐa tuổi thơ cὐa mỗi chύng ta ngày xưa không sao quên cho được!


Như trái bắp, hồi nhὀ ai cῦng ưa cῦng thίch ăn và hồi đό bắp làm bất cứ mόn gὶ ăn cῦng ngon cả. Trái bắp bà con ngoài Trung, ngoài Bắc coi như lưσng thực dὺng để nấu chung với gᾳo gọi là “ᾰn độn” mà người miền Nam đᾶ nếm mὺi sau nᾰm 1975.

Trái bắp lớn cỡ bắp tay, mọc ở nάch thân cây bắp, cό nhiều hột kết quanh cái lōi gọi là cὺi bắp. Trái bắp được bao bọc bởi nhiều lớp vὀ bẹ màu xanh, đầu trái bắp cό chùm sợi tua nho nhὀ giống như râu gọi là râu bắp mà trẻ nhὀ ở quê hay lấy quấn giấy nhựt trὶnh chơi trὸ hύt thuốc hoặc dὺng làm râu giἀ chσi trὸ hάt bội.

Nhớ lᾳi, ở quê lύc trời vừa bắt đầu mưa vài đάm đầu mὺa, độ Tháng Ba, bà tôi biểu người nhà dọn đất cho bà “bὀ hột bắp”. Cây bắp rất mau lớn, lụi hụi mới thấy đό đᾶ thấy bắp bắt đầu trổ cờ coi rất ngộ:

Bắp non xao xác trổ cờ,
Người thưσng đứng đό gi lσ không chào.

Ngό lên đám bắp trổ cờ,
Ðám dưa trổ nụ, đám cà trổ bông. 
(Ca dao)

Bắp nướng hồi nhὀ trẻ con mê lắm. Kể từ khi bắp trổ cờ và cό trάi, chị em tôi siêng nᾰng thᾰm nom mỗi ngày. Bấm thử trάi bắp từ khi hột bắp cὸn sữa, tới khi thấy vừa mới hσi cưng cứng hột, lе́n bẻ mấy trάi đem đi nướng. Nόi nướng chớ thật ra là đốt. Ðể trάi bắp nguyên vὀ, bὀ vào bếp chất rσm đốt lửa chάy cό ngọn cao gần bằng đầu!

Lửa chάy rσm, chάy tới vὀ bắp, nάm đen trάi bắp, nghe mὺi thσm thσm, khen khе́t mà sao hấp dẫn lᾳ kỳ. Khều trάi bắp ra khὀi đống tro, dὺng rσm quе́t cho sᾳch tro, sᾳch khе́t, vừa cᾳp vừa thổi cho khὀi phὀng miệng! Cό trάi phἀi nướng đi nướng lᾳi mấy lần mới chịu chίn, vὶ sợ ᾰn đau bụng.


Bắp cὐa bà tôi nướng cῦng lửa rσm nhưng vàng rực mà không khе́t. Bà cẩn thận lấy chiếc đῦa tre lụi vào cὺi bắp làm cάn cho chị em tôi ᾰn không bị nόng. Bắp nướng trе́t chύt mỡ hành, lύc cὸn nόng, cᾳp từng hột, nhai từ từ, cάi ngọt cὐa bắp nếp đầu mὺa hὸa với cάi bе́o cὐa mỡ hành…

Và ăn như vậy mới đύng là ăn bắp nướng.

Ở chợ quê hồi xưa không thấy ai bán bắp nướng vὶ nhà ai cῦng cό, sau này lên Sài Gὸn vào trong khu bὶnh dân, xόm lao động chỗ nào cῦng thấy bày bάn bắp nướng. Không phἀi chỉ cό trẻ con mà mấy bà mấy cô cῦng ưa, trưa hay ra ngồi rồi quây quần bên bếp lửa vừa chờ trάi bắp cὐa mὶnh vừa nόi chuyện cười rôm rἀ.

Cὸn bắp rang thὶ cάch rang, cάch ᾰn để lᾳi nhiều ấn tượng. Bắp hột phσi khô đem đi rang cho ta mόn bắp rang. Bắc cάi nồi đất lên bếp (thường là nồi nứt, bể không xài được) cho vào độ hai vὺa cάt ghe bầu, loᾳi cάt hột to dὺng xây nhà chớ không phἀi loᾳi cάt biển, giữ lửa hồi lâu cho cάt thiệt nόng. Cho vào vài vὺa bắp, dὺng đῦa bếp đἀo đều hột bắp, giữ lửa tiếp tục. Nghe bắp bắt đầu nổ phἀi giἀm lửa và tiếp tục đἀo cho bắp không khе́t. Tiếng nổ thưa dần, trύt nồi bắp ra nia, dὺng sàng thưa sàng lấy cάt ra. Thế là cό mẻ bắp rang nόng hổi thσm nực, ai cῦng muốn ᾰn. Trẻ con mỗi đứa lᾶnh một vὺa bắp rang vừa đi vừa ᾰn, mặt mày đứa nào trông cῦng rᾳng rỡ, reo vui giὸn như tiếng bắp nổ.


Bắp rang ᾰn nόng và ᾰn nguội đều ngon. Bὀ tύi άo ᾰn từ từ vừa ᾰn vừa để dành, ᾰn từng hột cho lâu hết, tới chiều ᾰn vẫn ngon lành. Ðứa nào xin ᾰn chỉ cho vài hột mà thôi.

Cάi ngon cὐa bắp rang là tự tay rang lấy, và được ngồi bên bếp lửa nghe tiếng bắp nổ. Bắp rang loᾳi “popcorn” ở Huê Kỳ, ᾰn trong rᾳp xi-nê, hay ngồi coi truyền hὶnh, làm sao bằng bắp rang với cάt ghe bầu ngày xưa cho được.

Bắp nấu hay cὸn gọi là bắp gόi đến với tôi như định mᾳng!

Nhớ lᾳi hồi đό lύc vừa lên 8 tuổi, sau khi cha tôi mất, cἀ gia đὶnh phἀi bὀ nhà bồng bế đi tἀn cư, mẹ tôi phἀi tὶm cάch kiếm tiền nuôi bốn chị em tôi.

Tôi không cὸn nhớ lύc đό ai bày cho bà cάi nghề nấu bắp đem ra chợ bάn và từ đό làm cho bắp nấu bắp gόi đến với tôi như định mᾳng là vậy!!!

Bắp hột mua ở cάc vựa ngoài chợ đem về phἀi ngâm với nước vôi ᾰn trầu, cό lẽ để dễ trόc vὀ và cho bắp được dẻo. Ngâm độ nửa ngày, vớt bắp ra để rάo nước mới đem đi giᾶ cho trόc hết vὀ. Nhà không cό đàn ông, nên mẹ tôi mướn người làm chày đᾳp để mấy chị em tôi cὺng nhau đᾳp mỗi ngày. Ngày nào cῦng cό mấy thằng bᾳn lối xόm đến đᾳp phụ và được tôi “trἀ công” cho ᾰn mọng dừa khô và uống nước dừa khô. Nghῖ cῦng fair, cῦng công bằng!


Bắp giᾶ xong, sἀy bὀ hết vὀ, sàng lấy cάm bắp (mầm bắp) đem rang cho chίn, giᾶ nhuyễn, trộn muối, đường làm muối mѐ bάn với bắp gόi. Bắp gόi hồi đό được gόi bằng lά chuối tưσi, lấy lά dứa gai làm muỗng, ai mua mới gόi chớ không làm sẵn như kiểu bắp gόi Bolsa. Bắp gόi ᾰn với dừa xάc, muối mѐ, mỗi gόi hὶnh như 5 cắc (50 cent). Ӑn lόt dᾳ buổi sάng một gόi là vừa đὐ bổ dưỡng lᾳi no dai nhờ cό dừa xάc.

Bắp được nấu bằng lὸ trấu, dὺng nồi đất loᾳi lớn nhứt, mỗi nồi độ gόc tư giᾳ bắp.

Từ đầu hôm nấu tới đi ngὐ mới chίn. Hôm nào gặp bắp nếp không nở nhiều, phἀi chắt bớt nước để khὀi bị nhᾶo, và tôi lᾳi cό được tô nước chάo bắp. Nồi bắp sau khi canh vừa nước vừa lửa, để hầm trên bếp suốt đêm đến sάng cho bắp mềm, nở đều và dẻo.

Tôi chắc nhiều người chưa biết và chưa cό dịp thưởng thức mόn nước chάo bắp. Chάo bắp cὸn nόng, để một chập, thấy đόng trên mặt lớp vάng chάo, vừa thổi vừa hύp thật tuyệt diệu, bе́o mà ngọt không cần đường. Hύp xong tô chάo, liếm môi liếm mе́p cὸn thấy bе́o thấy ngọt…

Sάng nào mẹ tôi cῦng thức dậy sớm, giở bắp ra cάi ἀng da lu, chuẩn bị giόng gάnh xong mới đάnh thức chị em tôi.

Phần dưới đάy nồi bắp ngày nào cῦng cό giề cσm chάy. Cσm chάy bắp được xе́ ra từng mἀnh, xếp trὸn trên miếng lά chuối đᾶ được cắt trὸn cỡ cάi chе́n, là mόn cσm chάy bắp rất được khάch hàng cὐa mẹ tôi ưa chuộng, muốn ᾰn phἀi dặn trước.


Ðôi giόng gάnh đi liền với nghiệp buôn bάn cὐa mẹ tôi tới khi chύng tôi trưởng thành. Nό vừa là phưσng tiện sanh sống vừa là kỷ niệm cὐa cha tôi để lᾳi.

Ðὸn gάnh cό mấu,
Con sấu cό tai,
Con nai cό gᾳc… 
(Vѐ, đồng dao)

Ðὸn gάnh làm bằng tre, lựa tre già, hσi cong, lấy phần gốc, chẻ đôi, trau chuốt cho lάng, không quά dày, quά mὀng, phἀi mềm mᾳi, sao cho nhύn nhύn khi gάnh để không bị tức, không thấy nặng. Hai đầu đὸn gάnh cό gắn hai cάi mấu để giữ đôi giόng không tuột, không rớt, nên nόi đὸn gάnh cό mấu là vậy.

Xài đὸn gάnh nhưng ίt người để у́. Bᾳn biết không, đὸn gάnh cό chiều dài bằng sἀi tay người để cho đôi giόng không bết đất mà cῦng không chᾳm chân người sử dụng. Ðoᾳn tre phἀi lẻ đốt, ba hoặc nᾰm đốt để cho mắt tre không nằm chίnh giữa đὸn gάnh, không làm đau vai và để trάnh cάi cἀnh bị “gᾶy gάnh giữa đường”.

Tôi rành rẽ giόng gάnh bởi thuở nhὀ la cà bên cha, coi ông đẽo đὸn gάnh, thắt giόng cho bà chị chσi “tập gάnh gάnh” và cho mẹ tôi dὺng. Giόng, đὸn gάnh, thύng nia… ở nhà đều do chίnh tay người tự làm, vừa đẹp, bền mà khὀi tốn tiền.

Ðôi giόng ở ngoài Bắc gọi là đôi quang, nên mới nόi là quang gάnh.

Không may quang đứt lọ rσi,
Bὸ ra lổm ngổm, chίn nσi chίn chồng. 
(Ca dao)

Giόng thắt bằng dây mây, chẻ mὀng, vuốt lάng. Thắt giόng phἀi lựa mây già, mây phἀi hσ lửa, nhύng nước, phἀi cό mў thuật coi mới đẹp. Con gάi chưa chồng thuở xưa kе́n chọn giόng gάnh như chọn nόn chọn khᾰn vậy. Sau này đi học, sάng nào cῦng phụ gάnh bắp, bάnh, xôi bằng đôi giόng cὐa người lớn, cột hai đầu mới không đụng đất!

Bắp nấu với giόng gάnh đến với tôi tὶnh cờ như số mᾳng, và tôi lớn dần bên gάnh bắp, gάnh xôi cho tới khi ra tỉnh học mới thôi.


Gần đây, cό mấy lần về thᾰm lᾳi Sài Gὸn, tὶnh cờ thấy bάn bắp nướng trong hẻm gần nhà, dừng chân đôi phύt nhὶn lᾳi trάi bắp đang bốc khόi trên bếp lửa, nghe mὺi thσm quen thuộc, chᾳnh lὸng nhớ chuyện ngày xưa.

Không biết giờ đây cὸn cό ai bάn bắp gόi như mẹ tôi ngày xưa hay không?

Bởi lâu lắm rồi, tôi không cὸn thấy gάnh bắp nấu…

Nam Sơn Trần Văn Chi
Theo: tongphuochiep

KIÊNG "RA NGÕ GẶP GÁI" - TRÁNH "TAI" HAY MỜI "HỌA"?

“Ra ngõ gặp gái” từ lâu đã là quan niệm kiêng kị phổ biến như một thứ ‘luật’ bất thành văn nhưng có sức ám thị ghê gớm với nhiều người. Đó cũng là câu than phiền cửa miệng khi ai đó gặp chuyện không may. Sự thật về tập tục kiêng kỵ này như thế nào, có đúng là trăm sự không may khi bước ra khỏi nhà bởi ‘vía đàn bà’ mà nên?


Mọi thất bại đều tại đàn bà?

Có người nếu ra đường gặp phụ nữ họ sẽ quay lại nhà và đốt vía để tránh bị ám vận. Có trường hợp, người ta còn nhờ một người đàn ông quen biết đón sẵn ở cửa để chắc chắn không gặp phải phụ nữ khi ra đường nhất là vào những hôm có việc quan trọng.

Trên các diễn đàn thì chủ đề “ra ngõ gặp gái”, được thảo luận khá nhiều. Người thì vốn không tin nhưng ngẫu nhiên có lần gặp xui vì chạm ngõ gặp đàn bà thế là cứ lấn cấn nửa tin nửa không. Người tin thì cũng không giải thích được vì sao chỉ biết rằng “các cụ” đã quan niệm thế nên niềm tin được lưu truyền, mặc dù không một căn cứ khoa học hay nghiên cứu nào và cũng chưa một ai chứng minh “các cụ” nói thế là đúng.

Lý giải về quan niệm này, theo nhiều người thì chuyện kiêng vía phụ nữ xuất phát từ quan điểm “trọng nam khinh nữ” của Nho giáo thời phong kiến. Đàn ông ba hồn, bảy vía, đàn bà ba hồn chín vía. Vía đàn bà nặng hơn. Phụ nữ đại diện cho tính âm, những điều may mắn, hạnh phúc lại đại diện cho tính dương. Vậy nên, người ta quy chụp rằng nếu gặp người nam thì hôm đấy mọi điều suôn sẻ may mắn, nếu gặp người nữ thì xui xẻo, mọi việc bất thành.

Thực sự chuyện ba hồn bảy vía, ba hồn chín vía là như thế nào?

Quan niệm “3 hồn 7 vía” có nguồn gốc từ Đạo giáo, cho rằng con người sống được là nhờ “tam hồn thất phách” này điều chỉnh mọi hoạt động và tư duy. Tìm trong sách vở kinh điển, hoàn toàn không có quan niệm đàn bà ba hồn chín vía. Theo các kinh sách tôn giáo, dù nam hay nữ thì chỉ có ba hồn bảy vía mà thôi.

Theo các kinh sách tôn giáo, dù nam hay nữ thì chỉ có ba hồn bảy vía mà thôi. (Tranh minh họa: Tài sản công)

Ba hồn gồm: Thai quang: đặc trưng cho Sinh mệnh; Sảng linh: đăc trưng cho Trí lực; U tinh: đặc trưng cho tính cách.

Bảy vía gồm: Thi cẩu; Phục thỉ; Tước âm; Thôn tặc; Phi độc; Trừ uế, Xú phế.

Bảy vía đảm nhiệm việc điều tiết cơ thể con người và có các vai trò khác nhau như: Hô hấp, Tuần hoàn, Vận động, Tiêu hóa, Chống-Tiêu độc, Sinh sản, Bài tiết…

Người xưa quan niệm, con người gồm có phần thể xác và linh hồn. Người ta sở dĩ nói năng, đi lại, sinh hoạt được là nhờ linh hồn trú ngụ ở thể xác (nếu không thể xác đó có thể chỉ là một tảng thịt không hồn phách). Khi chết đi, linh hồn rời bỏ thân xác thịt. Thể xác nát vữa, còn linh hồn thì bất tử. Nguyễn Du trong Truyện Kiều viết:

“Kiều rằng: Những đấng tài hoa
Thác là thể phách, còn là tinh anh”

Thể phách chính là thân xác thịt, tinh anh chính là linh hồn.

Vụ Thành Tử trong “Thái Vi Linh Thư” viết : “Người ta có ba hồn lần lượt là Sảng Linh, Thai Quang, và U Tinh“. Ba hồn này chính là 3 bộ phận tổ hợp thành thần khí của con người. Người ta mất đi một hồn hoặc hai hồn thì vẫn còn có thể sống sót. Nhưng nếu đã mất đi ba hồn thì sẽ trở thành một cái xác không hồn, sống đời thực vật.

Trong quan niệm của nhà Phật, vong hồn người chết phải qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày rồi mới được siêu thoát.

Không thể tìm thấy khái niệm “Ba hồn chín vía” trong kinh điển cổ xưa nào. Có lẽ đó chỉ là quan niệm mới được sáng tác ra sau này. Rồi người ta lấy đó làm cơn cớ để chê trách đàn bà “nặng vía”.

“Ra ngõ gặp gái” xuất phát từ tư tưởng “Trọng nam khinh nữ”?

Nói rằng quan niệm “ra ngõ gặp gái” xuất phát từ tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của Nho giáo phong kiến cũng là một nhận định hoàn toàn sai lầm.

“Trọng nam khinh nữ” là tư tưởng được diễn dịch từ “Nam tôn nữ ti” có nguồn gốc từ Kinh Dịch. Trong Hệ từ của Kinh Dịch có viết: “Trời cao đất thấp, càn khôn định như thế. Cao thấp bày ra, là vị trí cao và thấp vậy. Đạo càn thành nam, đạo khôn thành nữ” (nguyên văn: “Thiên tôn địa ti, càn khôn định hĩ. Ti cao dĩ trần, quý tiện vị hĩ. Càn đạo thành nam, khôn đạo thành nữ”).

Trong đó Tôn nghĩa là cao, Ti nghĩa là thấp, là hai từ vị trí. “Thiên tôn địa ti” biểu thị ý nghĩa “Trời ở trên, đất ở dưới, trời cao đất thấp”, là miêu tả về trạng thái tự nhiên. Trời đất, âm dương, nam nữ đều là một phương pháp ‘phân loại’ của người xưa. Người thuận theo đất, đất thuận theo trời. “Nam tôn nữ ti” chính là từ ‘thiên tôn địa ti’ sinh ra. Nghĩa gốc của nó là nói ‘nam nữ là khác nhau’, đây chính là trạng thái tự nhiên, là sự khác biệt của thiên nhiên.

“Nam tôn nữ ti” là đề xướng hài hòa tự nhiên, âm dương cái nào ở vị trí cái đó. Do đó “nam tôn nữ ti” là nói về đạo lý người nam và người nữ trong quan hệ hôn nhân nên sống hài hòa theo đạo Trời. Một người đàn ông có phẩm cách cao thượng thì người phụ nữ sẽ tự nhiên tôn trọng, thuận theo. Người đàn ông chính trực cao thượng, người phụ nữ khiêm hòa khoan dung, gia đình như thế này mới là thuận theo Thiên đạo.

Nam tôn nữ ti” là đề xướng hài hòa tự nhiên, âm dương cái nào ở vị trí cái đó. Do đó “nam tôn nữ ti” là nói về đạo lý người nam và người nữ trong quan hệ hôn nhân nên sống hài hòa theo đạo Trời. (Tranh minh họa: Tài sản công)

Người phụ nữa thời xưa cũng không chỉ giới hạn là người tiếp quản gia đình, mà cũng trợ giúp chồng lo việc bên ngoài. Nhà thơ Mai Nghiêu Thần nổi tiếng thời Tống là người vợ Tạ thị. Khi Mai Nghiêu Thần tiếp đãi các sĩ phu xử lý công sự, thì vợ là Tạ thị thường đứng sau bình phong lắng nghe, sau đó cùng với Mai Nghiêu Thần bàn bạc xem sĩ phu có phải là người hiền hay không, việc đó được mất thế nào, phân tích rất cụ thể và rõ ràng. Mai Nghiêu Thần cũng tán thưởng vợ với người ngoài. Điều này nói rõ rằng thời đó kẻ sĩ đại phu tán thành phụ nữ tham dự vào việc công, không có ai cho rằng đó là “phụ nữ tiếm quyền”.

Người phụ nữ trong văn hóa truyền thống thời xưa luôn giữ địa vị “nội tướng” của gia đình, đàn bà “chủ nội”, đàn ông “chủ ngoại”. Người phụ nữ được ví như nước, mang đức lớn, nâng đỡ vạn vật. Thật ra địa vị của phụ nữ thời xưa không hề thấp kém như người thời nay quan niệm.

Trên thực tế, có nhiều phụ nữ tham gia vào việc trị quốc, buông rèm nghe chính sự. Trong đó phải kể đến: Chân Tông Lưu Hậu, thông tường sách sử cổ kim, am hiểu chính sự, giúp đỡ được vua Chân Tông. Khi Chân Tông mất, bà trở thành Hoàng thái hậu nhiếp chính đầu tiên của thời Tống. Hay như Nhân Tông Tào Hậu, tinh thông kim cổ, là người hiền đức. Bà trở thành Hoàng thái hậu nhiếp chính dưới thời Tống Anh Tông Triệu Thự. Hoặc như Anh Tông Cao Hậu. Bà được đánh giá có tài chấp chính, làm đất nước phồn vinh, ngoài ra cũng nổi tiếng bởi sự hiền minh lễ độ. Lại thêm Thần Tông Hướng Hậu giữ ngôi chính cung trong vòng 18 năm, được đánh giá là hiền huệ, ôn hòa lễ độ, quán chủ hậu cung một cách anh minh, sáng suốt.

Tống Thần Tông Hậu tọa tượng trục. (Tranh minh họa: Tài sản công)

Quả thật là những quan niệm sai luôn bắt đầu từ những kiến thức sai. Người ta dùng cái sai này để chứng minh cho cái sai khác. Có câu: Lời nói dối lặp đi lặp lại ngàn lần thì trở thành lời nói thật, vì ai cũng tin nó. Nói: kiến thức sai lầm lặp đi lặp lại vạn lần thì thành quan niệm ‘đúng’, thật chính là nhãn quan của xã hội ngày nay vậy.

Quan niệm ra đường gặp phụ nữ là xui xẻo thực chất là một thứ quan niệm biến dị thể hiện tâm thái khinh rẻ, coi thường phụ nữ. Khi nói ra câu “ra ngõ gặp đàn bà”, liệu họ có nghĩ đến những người đàn bà đã sinh ra mình hay không, hay cả những người thân yêu là nữ trong gia đình? Nói nghiêm trọng một chút, câu cửa miệng tưởng vô thưởng vô phạt nhưng rõ ràng là thái độ bất kính, bất hiếu bởi ai mà chẳng được sinh ra từ một người phụ nữ?
 
Tâm lý may rủi

Quan niệm “Ra ngõ gặp gái” xuất phát từ tâm lý tin vào may rủi, dưới một vỏ bọc kiêng kị vì “các cụ bảo thế”. Thực ra về chuyện may rủi, cổ nhân đều giảng rằng: “người làm điều thiện ông Trời để dành phúc cho”. Những chuyện may mắn trong đời là có thực, nhưng không phải ngẫu nhiên, mà đều do tích đức, tạo phúc từ đời này đời khác, gieo thiện lành gặp thiện duyên. Gieo nhân gặt quả, ấy là cốt lõi của “may mắn” trong hết thảy các kinh sách tôn giáo, cũng như lời dạy của Thánh hiền.

Chẳng lẽ một người toàn làm điều xấu, ác, rồi chỉ cần tránh “ra ngõ gặp gái” vậy là suốt đời gặp may hay sao. Nếu như thế thì con người còn có năng lực hơn cả thần thánh, có thể tránh họa hoạn chỉ thông qua sự sắp đặt của con người thôi sao. Lẽ nào có chuyện ấy, vậy mà người ta lại dễ dàng tin rằng “gặp đàn bà” là nguyên nhân cho trăm sự xui xẻo của họ?

Văn hóa đổ lỗi

Quan niệm ra ngõ gặp gái, gặp bà bầu còn chứng tỏ tâm lý đổ lỗi cho đối tượng khác ngoài bản thân mình. Khi nhận kết quả tốt xấu của một sự việc, thay vì hướng nội tìm xem nguyên nhân tại vì sao, do mình chuẩn bị chưa tốt, nỗ lực chưa đủ, hành xử chưa đúng, học hỏi chưa đến nơi đến chốn, thì người ta lại hướng ngoại để đổ lỗi cho một người không hề liên quan đến mình.

Người giữ quan niệm đó, thì cái hại đầu tiên là càng ngày càng không thể tiến bộ, bởi không muốn thừa nhận những khiếm khuyết của bản thân thì càng không cách nào thay đổi, đề cao được. Một việc tốt hay xấu đều có nguyên nhân do mình, có thể là do mình làm không tốt, cũng có thể là duyên nghiệp của bản thân mình tạo thành bởi những việc không như ý, theo Phật gia giảng là nghiệp nợ của mình mà thôi. Vậy thì đem cái nghiệp do “nhân quả của mình đổ tội cho người khác gây nên, lại càng chồng chất thêm nghiệp.

Một việc tốt hay xấu theo Phật gia giảng là nghiệp nợ của mình mà thôi. (Tranh minh họa: KayEss/CC BY-SA 3.0)

Như thế rõ ràng là, chưa biết ra ngõ gặp đàn bà có thật là gây xui xẻo cho họ hay không, nhưng chắc chắn nguyền rủa người khác khi họ không liên quan đến mình là một việc vô cùng tạo nghiệp, điều này trong kinh sách nhà Phật đều giảng hết sức minh bạch. Theo Pháp lý, một khi tạo nghiệp rủa xả người khác, thì phải lấy đức để bù đắp cho người ta, rốt cuộc, nghiệp chồng thêm mà đức thì mất đi. Quả là trong vô minh mà tự hại chính mình.

Tự kỷ ám thị

Bất kỳ sự việc nào cũng có xác suất của nó. Niềm tin vào quan niệm “ra ngõ gặp gái được nhân lên khi họ ngẫu nhiên thấy câu nói đó đúng. Nhưng lại nói, cổ nhân có câu: “bảy phần tinh thần ba phần bệnh”, để nhắc nhở con người rằng, chính tinh thần, suy nghĩ tốt xấu là nguyên nhân dẫn đến bệnh tật hay những chuyên không hay. Cho nên thực chất, chính vì tin và cái quan niệm đó, nên khi “gặp gái” hay bà bầu thì họ đã tự làm ức chế tinh thần, tự gây sự bất an cho mình. Xuất ra niệm xấu ở trong đầu thì lập tức trường năng lượng của họ thu hút những thứ tiêu cực, chiêu mời can nhiễu ngoại lai tìm đến.

Luật Hấp dẫn là một trong những quy luật phổ quát và mạnh mẽ nhất của vũ trụ. Cũng giống như lực hút của Trái Đất, chúng ta như thỏi nam châm hút về phía mình những gì phát ra trong tâm trí. Vì vậy nếu thường xuyên suy nghĩ tiêu cực, chúng ta sẽ hút về phía mình những trải nghiệm tiêu cực. Paulo Coelho để lại một câu nói kinh điển trong cuốn sách có ảnh hưởng hàng đầu với độc giả mọi thời đại – Nhà Giả Kim: “Khi bạn quyết chí muốn điều gì thì toàn vũ trụ sẽ chung sức để giúp bạn đạt được điều đó” chính là có ý nói như thế.

Phật gia giảng, tốt xấu xuất tự một niệm của người ta. Ví như khi gặp cậu bé trai ngoài ngõ thì tự ta đã cho là điềm lành mà vui vẻ, phấn chấn, tự tin nên công việc trôi chảy. Thật ra đó không phải là do họ gặp trai hay gái, mà chính là niệm trong đầu họ đã xuất ra điều gì thì hấp dẫn điều đó vậy.
 
Tin hay mê

Nhiều người không tin lắm nhưng vì quan niệm “có kiêng có lành” nên cứ nương theo. Nhưng đức tin và mê tin là hai chuyện khác nhau. Nhưng người thời nay bởi không đọc kinh sách, không tìm hiểu cho tường tận, nên không sao phân biệt được thế nào là chính đạo, thế nào là mù quáng mê tín dị đoan. Thật ra, họ “mê” nhiều hơn “tín”.

Nếu có chính tín – niềm tin vào pháp lý chân chính, ắt họ hiểu về luật nhân quả, duyên nghiệp cũng như mọi sự trong đời đều không ngẫu nhiên. Nguồn gốc của mọi phúc và họa trong đời đều từ chính bản thân ta từng làm. Cổ nhân có câu: “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo”. Người có đức tin hiểu rằng, nếu muốn vận may luôn mỉm cười với mình, chỉ có thể hành thiện tích đức.

Người có đức tin hiểu rằng, nếu muốn vận may luôn mỉm cười với mình, chỉ có thể hành thiện tích đức. (Tranh minh họa: Tài sản công)

Kẻ mê tín thì tin vào những quan niệm kỳ dị, hoàn toàn không dùng lý trí để suy xét theo chân lý, lẽ phải, theo thiên Đạo. Cái gọi là có kiêng có lành đó, không phải là vì họ có đức tin và thế giới tâm linh, mà chính là vì tư tưởng vô thần sinh ra mê tín. Cho nên người ta sinh ra lắm thứ kiêng cữ nào là, ngày rằm mùng một, kiêng không được cắt tóc sợ mất lộc, kiêng xuất tiền bạc vào đầu tháng, kiêng ăn món nọ món kia, kiêng đi thăm phụ nữ sinh con, kiêng đánh vỡ bát đĩa, ấm chén…

Danh sách những điều kiêng kỵ thường được các ông thầy số, thầy cúng, bói toán liệt kê không thiếu thứ gì làm cho người ta lúc nào cũng sống trong sợ hãi bất an vì tâm lý kiêng kị đủ thứ. Ấy thế nhưng không thấy người ta kiêng làm điều bất thiện, kiêng nói lời dối trá, kiêng làm việc gian tà, kiêng xúc xiểm người khác, kiêng luồn cúi, nịnh bợ (bản chất cũng là một sự dối trá), kiêng nói, nghĩ, làm điều xằng bậy… Lạ thay, đấy lại chính là điều Thần Phật, Thánh nhân răn dạy thế nhân, để tạo phúc, tích đức cho mình.

Ra ngõ gặp phụ nữ vẫn đậu Trạng nguyên, trở thành sứ thần lỗi lạc

Trên thực tế quan niệm quan niệm rằng ra ngõ gặp phụ nữ là xui không được ghi trong kinh sách Phật hay Đạo nào cả. Trong sử Việt có một vị tú tài khi đi thi, ra đầu ngõ gặp phụ nữ, nhưng vẫn đậu Trạng nguyên. Không chỉ thế, người này còn hoàn thành trọng trách đi sứ với Giang Sơn Xã Tắc trước khi bị vua Minh giết đi để trừ hậu họa.

Đào Sư Tích sinh năm 1348 dưới thời nhà Trần, con trai của tiến sĩ Đào Toàn Bân. Ngay từ nhỏ Đào Sư Tích đã có sức học vượt đồng môn, lại có tài ứng đáp và thơ phú. Năm lên 7 tuổi cậu bé Đào Sư Tích đã nổi tiếng thần đồng, xa gần đều biết tiếng.

Khoa thi năm 1374 thời vua Trần Duệ Tông, Đào Sư Tích thi Hương, thi Hội và thi Đình đều đỗ đầu. Vì thế mà ông con có danh hiệu là Tam Nguyên.

Dân gian lưu truyền câu chuyện Đào Sư Tích khi dự kỳ thi cuối cùng như sau:

Buổi sáng hôm đó, ông chuẩn bị sẵn cơm nắm, quyển lai kinh, rồi vác lều chõng lên đường. Nhưng vừa ra đầu ngõ thì “trời ơi đất hỡi”, ông gặp ngay một cô gái đi ngang qua. Nhớ câu “ra ngõ gặp gái là xui” ông liền buột miệng:

– Ta đi thi mà lại gặp gái thế này!

Cô gái liền đáp rằng:

– Gặp tôi có can gì đến việc đi thi của ông? Gặp con gái là tốt vì chữ “nữ” (女) ghép với chử “tử” (子) là chữ “hảo” (好), ông đi chuyến này ắt đỗ Tiến sĩ.
(*) Tử mang nghĩa là nam tức người con trai, cũng là chữ “tử” trong sĩ tử.

Đào Sư Tích đáp rằng:

– Tiến sĩ đâu vừa ý ta.

Cô gái lại nói:

– Thế thì ắt đỗ Trạng nguyên.

Ông vừa lòng, trả lời:

– Chính hợp ý ta.

Khoa thi ấy Đào Sư Tích làm bài xuất sắc đỗ cao nhất, trở thành Trạng nguyên. Khoa thi năm ấy học trò của ông Đào Toàn Bân (túc cha của Đào Sư Tích) có 3 người đỗ rất cao. Đỗ cao nhất là Trạng nguyên Đào Sư Tích, đỗ cao thứ hai tức Bảng nhẫn là Lê Hiến Phủ, người còn lại là Lê Hiến Tứ đỗ Tiến sĩ.

Từ trường hợp này của Đào Sư Tích thì có lẽ phải đổi lại là: “Ra ngõ gặp phụ nữ, mã đáo thành công” thì mới đúng.

Đào Sư Tích trên đường đi thi, có gặp một cô gái, sau đó đỗ trạng nguyên. Có câu “Ra ngõ gặp phụ nữ, mã đáo thành công”, quả là đúng. (Tranh minh họa: Tài sản công)

Cáo quan về quê, nhưng khi Giang Sơn nguy biến lại sẵn lòng gánh vác

Sau khi đỗ Trạng nguyên, Đào Sư Tích được bổ nhiệm làm Lễ bộ Thượng thư; sau được thăng làm Nhập nội hành khiển kiêm Hữu ty lang trung, tức chỉ đứng sau Tể tướng. Thế nhưng hiểu được bụng dạ không ngay thẳng của Hồ Quý Ly, ông cáo quan về quê bốc thuốc dạy học.

Bấy giờ về mặt đối ngoại nhà Trần cũng gặp khó khăn cấp bách. Nhà Minh bên Trung Quốc yêu cầu nhà Trần phải cung cấp nhiều lương thực, nhân tài, sản vật quý hiếm, nhằm khiến nhà Trần không đáp ứng được để có cớ đem quân tiến đánh.

Lúc này rất cần một nhân tài đi sứ để hòa hoãn với nhà Minh, tuy nhiên không một ai có thể gánh nổi trọng trách này ngoài Đào Sư Tích. Dù đã cáo quan, nhưng vì vận mệnh Giang Sơn Xã Tắc, Đào Sư Tích đã lĩnh ấn đi sứ.

Chuyến đi sứ này Đào Sư Tích đã thuyết phục nhà Minh bỏ và giảm nhẹ nhiều lệ cống nạp hàng năm, trong đó bỏ hẳn được việc cống nạp tăng nhân, góp phần quan trọng kéo dài thời gian hòa hoãn cho Đại Việt.

Tuy nhiên trong lần đi sứ này, ông đã thể hiện là người tài năng hiếm có, đến nỗi vua Minh phải cho giết ông để trừ hậu họa.

Dù chuyện ra ngõ gặp gái là thế, nhưng một điều không thể phủ nhận là để có được danh hiệu đứng đầu bậc Tam khôi, Đào Sư Tích là người học rất giỏi mới có được kết quả tốt như vậy.

Kết luận

Ra ngõ gặp gái, quan niệm kiêng kị tưởng như bình thường đến mức phổ biến thành câu than phiền cửa miệng, đã thể hiện sự thiếu hiểu biết nghiêm trọng về văn hóa truyền thống cũng như đức tin chân chính được lưu truyền trong các kinh sách tôn giáo. Nó cũng góp phần lan tỏa thứ văn hóa đổ lỗi khiến người ta càng thêm thụt lùi về đạo đức, phẩm cách. Một người luôn đổ lỗi cho hoàn cảnh, thậm chí cho một người không quen biết, thì căn bản là không thể thăng tiến về tư tưởng, nói chi đến chuyện thành công.

Nó cũng thể hiện một thứ văn hóa thiếu sự trân trọng, bao dung dành cho nhau, bởi trong một xã hội mà mọi lời bình phẩm về người khác dù đầy ác ý lại được xem là bình thường, được lưu truyền, cũng không bị nhận những sự phản đối thì căn bản là một xã hội thiếu sự văn minh tối thiểu để có thể phát triển.

Thử nhìn sang phương Tây, vì sao câu cửa miệng trong văn hóa của họ là “Lady first”. Phụ nữ trước tiên!

Đan Thư / Theo: etviet

Sunday, June 26, 2022

LOÀI TRE CAO BẰNG 10 TẦNG LẦU, PHẢI CHĂNG CÂY TRE THÁNH GIÓNG TRONG TRUYỀN THUYẾT?

Cây tre khổng lồ của Thánh Gióng hay tre trăm đốt sẽ không còn chỉ có trong truyền thuyết nữa, bởi vì người ta đã phát hiện ra một loại tre vô cùng to lớn…

Loài tre này có tên là Dendrocalamus giganteus hay còn được gọi là tre rồng. (Ảnh tổng hợp)

Loài tre này có tên là Dendrocalamus giganteus hay còn được gọi là tre rồng, tre khổng lồ. Người ta phát hiện nó ở Thái Lan, Butan, Đài Loan, Trung Quốc. Tre rồng được mệnh danh là loài tre lớn nhất thế giới.

Các đốt tre có chiều dài từ 35-45cm. (Ảnh: Kỷ Lục)

Tre rồng có chiều cao từ 25-40m, đường kính từ 15-45cm, là loại cao to nhất trong tất cả các loài tre. Các đốt tre có chiều dài từ 35-45cm, như thế so với chiều cao của loài tre này thì việc xuất hiện cây tre trăm đốt như truyền thuyết, hay tre Thánh Gióng là điều rất khả thi. Loài tre này có màu xanh nhạt đến xanh lục đậm, khi còn nhỏ bên ngoài có phủ một lớp vỏ sáp trắng.

Lá tre rồng (Ảnh: Kỷ Lục)

Lá tre rồng có kích thước khác nhau, có chiều rộng từ 3-10cm và dài từ 15-50cm. Loài tre này thường xuất hiện trong tự nhiên ở vùng núi cao, sườn đồi có chiều cao lên đến 1.200m. Nhưng nó cũng có thể được trồng thành công ở vùng đất thấp, nơi có độ ẩm cao.

Tre rồng ở Thái Lan. (Ảnh: Kênh 14)

Anh Naga Sen ở Thái Lan là một trong những người đã trồng thành công loại tre khổng lồ ở trại trại của mình. Anh cho biết, trồng loại tre này không khó, chỉ cần cung cấp đủ nước, cây sẽ phát triển ngày một lớn. Khu vực nơi anh sống đã có rất nhiều người trồng loại tre này, mang đến thu nhập cao cho người dân địa phương.

Tử Vi (t/h) / Theo: Tinh Hoa
Link tham khảo: