Monday, May 29, 2023

ĐẶC SẢN "XE TĂNG LỘI NƯỚC" XẤU LẠ, ĐẮT HƠN TÔM HÙM, NHÀ GIÀU CŨNG KHÓ MUA

Dù có vẻ ngoài xấu xí, kỳ dị nhưng bọ biển lại là đặc sản "hiếm có khó tìm" mà giới nhà giàu sẵn sàng chi tiền triệu để mua. Ở Việt Nam, bọ biển tập trung nhiều tại các vùng biển Khánh Hòa, Phú Yên.

Đặc sản "xe tăng lội nước" xấu lạ, đắt hơn tôm hùm, nhà giàu cũng khó mua.

Ở Việt Nam, bọ biển mặc dù còn lạ lẫm với nhiều người nhưng lại là đặc sản đắt đỏ và quý giá, xuất hiện nhiều tại vùng biển thuộc khu vực các tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên, Quảng Ngãi…

Tuy nhiên, do số lượng bọ biển không nhiều và việc đánh bắt cũng khó khăn nên không phải du khách nào khi đến đây du lịch cũng có cơ hội được thưởng thức loạt món ăn nức tiếng từ sinh vật này.


Bọ biển sống dưới đáy biển sâu hàng trăm sải tay nên chỉ những ngư dân có kinh nghiệm, dùng đôi giã cào lớn, rê quét dọc ngang trên khắp các ngư trường xa tít mù khơi mới bắt được chúng.

Không giống các loại hải sản khác, bọ biển khiến nhiều thực khách rùng mình, dè chừng không dám thưởng thức vì có vẻ ngoài kỳ dị, xấu xí. Sinh vật này có lớp vỏ cứng với nhiều chân nhỏ mọc khắp thân, móng vuốt sắc nhọn. Bởi vậy, chúng được ví như "xe tăng lội nước".

Thịt bọ biển được đánh giá là có hương vị thơm ngon, bổ dưỡng.

Bọ biển được đánh bắt phổ biến nhất là vào tháng 3 - 5 dương lịch hàng năm. Vào những thời điểm còn lại, việc khai thác loài hải sản này trở nên khó khăn hơn do số lượng không nhiều.

Mỗi con bọ biển nặng trung bình khoảng 1kg, con to nặng tầm 1,5 - 1,7kg, thậm chí có con nặng tới trên 2kg. Tuy có hình dáng xấu lạ, kém hấp dẫn nhưng bọ biển vẫn được nhiều thực khách tìm mua.

Bọ biển được chế biến thành nhiều món, trong đó đơn giản nhất là nướng trên than hồng. Để làm chín phần thịt bên trong, cần nấu chúng với lửa lớn trong thời gian dài do bọ biển có lớp vỏ dày và cứng. Khi thịt có mùi thơm, đầu bếp sẽ dùng dao rạch bụng chúng ra và bày lên đĩa phục vụ khách thưởng thức.

Bọ biển được chế biến thành nhiều món ăn ngon "hút" khách.

Khi ăn, thực khách chấm thịt bọ biển với nước sốt, nước mắm hoặc muối tiêu xanh, ăn kèm với các loại rau sống. Thịt của chúng có màu trắng đục, vị béo nhưng không ngậy, thơm ngọt tự nhiên.

Một số thực khách từng có cơ hội thưởng thức còn nhận xét rằng, thịt bọ biển ngon và đậm đà hơn cả tôm hùm - vốn được ví là "vua hải sản".

Ngoài món nướng, thực khách có thể thưởng thức bọ biển rang muối ớt, bọ biển hấp,... Dù chế biến theo cách nào thì không thể phủ nhận hương vị thơm ngon của món đặc sản nức tiếng này.

Vì "hiếm có khó tìm", lại thơm ngon bổ dưỡng nên bọ biển có giá thành khá cao, khoảng 2,5 - 2,8 triệu đồng/kg. Thậm chí có thời điểm giới nhà giàu sẵn sàng chi tới 4 triệu đồng để săn lùng sinh vật xấu xí này.

Thảo Trinh / Theo: Dân Trí



HIỂU LÁ CỜ VÀ NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI

Nhiều bạn trẻ ngày nay không biết đến lá cờ vàng ba sọc đỏ thời VNCH, cũng như họ không biết gì về một chánh thể đã tồn tại 21 năm ở miền Nam, không biết gì về người Việt vượt biển tị nạn.


Một số khác có lẽ chịu sự chi phối của tuyên truyền nên họ căm thù một cách vô điều kiện lá cờ mà họ hay nói xách mé là ‘ba que’. Cần nói thêm rằng lá cờ đó có ý nghĩa sâu sắc: màu vàng là tượng trưng cho đất nước, là màu truyền thống của các vương triều, còn 3 sọc đỏ là tượng trưng cho ba miền đất nước. Có hơn 40 triệu người Việt lớn lên dưới lá cờ da vàng máu đỏ đó, và đó là một kỉ niệm khó phai nhoà.

Sau 1975, có hàng triệu người Việt vượt biển đến các nước lân cận xin tị nạn. Đối với những người này thì lá cờ VNCH có một ý nghĩa quan trọng. Khi ra biển và để làm tín hiệu cho các tàu khác cứu vớt, các tàu vượt biển của người Việt thường giương lá cờ đó để nói rằng họ đến từ miền Nam Việt Nam. Nhờ lá cờ đó mà hàng vạn người được cứu vớt và đi định cư ở nước ngoài. Lá cờ do đó là một hoài niệm, thậm chí một ‘ân nhân’.

Khi lên bờ và may mắn sống sót thì người tị nạn không còn gì cả. Lúc đó, họ là những người vô quốc tịch. Họ chỉ có lá cờ vàng như là cái căn cước tính của cộng đồng. Do đó, lá cờ đó là biểu tượng của cộng đồng người Việt tị nạn ở đây. Và, biểu tượng đó được các chánh phủ địa phương công nhận. Có thể xem những tượng đài ở Úc, Mĩ thì thấy biểu tượng này rất rõ.

Tôi nghĩ điều này cũng giống như lá cờ của người thổ dân Úc vậy, nó không đại diện cho quốc gia nào cả, nhưng nó đại diện cho cộng đồng người thổ dân.

Trước 1975, Úc là đồng minh của VNCH, và trong cuộc chiến 1962-1972 đã có 500 binh sĩ Úc hi sinh. Năm 1973 sau Hiệp định đình chiến Paris, Úc ngưng tham chiến ở Việt Nam vào năm 1973. Và, nhân dịp lễ ANZAC 2023, ngày lễ tưởng niệm những binh sĩ Úc và Tân Tây Lan đã hi sinh trong các cuộc chiến, Royal Australia Mint và Bưu chính Úc phát hành đồng xu (hình) có hình lá cờ VNCH là để kỉ niệm 50 năm ngày Úc ngưng tham chiến ở Việt Nam.

Cái vòng nhiều màu trên mặt đồng tiền thể hiện các màu sắc của ribbon tặng cho những người từng phục vụ cho chiến dịch quân sự của cuộc chiến Việt Nam trước đây (có thể họ đã chọn pattern trong đó có dạng màu cờ VNCH vì có liên quan – bình luận của anh Song Phan).

Việc phát hành đồng xu với cờ của VNCH gây ra một phản ứng ngoại giao khá gay gắt từ phía Việt Nam [1]. Nhưng tôi nghĩ phản ứng đó là thái quá. Có thể ngay cả cô phát ngôn viên cũng chưa am hiểu lịch sử của lá cờ đó.

Xin nhắc lại rằng Úc là đồng minh của VNCH. Úc rất trung thành với đồng minh, nên các cựu binh sĩ VNCH ở Úc được hưởng an sinh xã hội y như cựu chiến binh Úc vậy. Đó chính là lí do tại sao trong ngày lễ ANZAC có sự tham gia của các cựu chiến binh VNCH từ cả 40 năm qua. Trong các câu lạc bộ cựu chiến binh Úc, rất dễ hiểu tại sao người ta đều treo cờ VNCH.

Dĩ nhiên, lá cờ vàng đó không còn đại diện cho quốc gia nào cả. Ai cũng biết thực tế này. Cũng như lá cờ của người thổ dân không đại diện cho nước nào cả nhưng là biểu tượng của họ, lá cờ vàng chỉ là biểu tượng của cộng đồng người Việt ở đây.

Riêng với các ‘thuyền nhân’ lá cờ đó không chỉ là một kỉ niệm, mà còn là hoài niệm và tưởng niệm. Hoà giải dân tộc có lẽ nên bắt đầu bằng sự ghi nhận sự hiện hữu của lá cờ đó.

_____

[1] Tôi hơi ngạc nhiên về phản ứng của Bộ Ngoại giao Việt Nam có cái ‘hint’ đe doạ mối quan hệ ngoại giao giữa 2 nước. Trong mối quan hệ ngoại giao đó, Úc giúp rất nhiều cho Việt Nam cả 50 năm nay (và ngay cả trong thời Mĩ cấm vận Việt Nam), chứ Việt Nam có giúp gì cho Úc đâu. Đe doạ Úc thì hơi quá đáng.

Link: https://www.bbc.com/vietnamese/articles/c4np804v5glo

Tuan V. Nguyen AM
Nguồn: nguyenvantuan.info

MÙ TẠT - LOẠI GIA VỊ NHƯ MỘT BẢN TÌNH CA "ĐẪM LỆ" ĐẦY HƯƠNG SẮC

Mù tạt không chỉ cay, mà còn ngọt nữa. Nếu ai vẫn còn hiểu lầm mù tạt chỉ có màu xanh để ăn cùng sashimi thì đừng nên bỏ qua bài viết này!

Mù tạt, hay mù tạc là một loại gia vị cổ xưa được làm từ hạt của cây mù tạt.

Mù tạt là một trong những loại gia vị cổ xưa xuất hiện sớm nhất trên Trái Đất.

Trong tiếng Anh, mù tạt là mustard, tiếng Pháp là moutarde, tiếng Ý là mostarda. Nhiều tài liệu cho rằng, từ mù tạt được viết tắt từ mustum ardens trong tiếng La tinh, nghĩa là “phải cháy". Đây có lẽ là từ khóa đắt giá chỉ vị cay nóng của hạt mù tạt và tập quán xưa khi người dân trộn hạt mù tạt với các nguyên liệu khác.

Có thể nói rằng, mù tạt là một trong những loại gia vị xuất hiện sớm nhất.

Theo TheSpruceEats, chúng đã có mặt trong các bản viết tay bằng tiếng Phạn vào khoảng 3000 năm TCN. Mù tạt là một trong những loại cây trồng được thuần hoá và sớm được sử dụng khắp Ai Cập cổ đại, Ấn Độ và Trung Quốc.

Theo lịch sử ghi lại, mù tạt đóng vai trò là gia vị đã có từ hàng nghìn năm trước cùng với những người La Mã đầu tiên. Họ đã nghiền hạt mù tạt rồi trộn cùng rượu để tạo ra loại bột nhão. Không khó để tưởng tượng, vì chúng khá giống với mù tạt chế biến sẵn của thời hiện tại. Người Sumer trộn hạt mù tạt với nước ép nho chưa chín và dùng làm gia vị.

Cây mù tạt thì đa dạng, vì chúng có đến khoảng 40 loài nhưng chỉ có 3 loài trong đó được dùng làm mù tạt mà thôi. Đó là mù tạt đen (Brassica nigra), mù tạt nâu (B.juncea) và mù tạt trắng hoặc vàng (Sinapis alba).

Tùy thuộc vào cách nghiền hạt và nguyên liệu chất lỏng được kết hợp như giấm, rượu, nước trái cây hoặc nước cùng một số hương liệu khác được thêm vào, sẽ cho ra các loại mù tạt khác nhau.

Mù tạt trắng đến từ Địa Trung Hải, là khởi nguồn của mù tạt vàng tươi mà phần lớn chúng ta đều biết đến. Mù tạt nâu đi từ dãy Himalaya, là tiền thân cho hầu hết các loại mù tạt ở châu Mỹ và châu Âu. Còn mù tạt đen có nguồn gốc từ Trung Đông và vùng Tiểu Á - nơi đây nổi tiếng với các loại gia vị ở dạng hạt và bột.

Làm thế nào để phân biệt được các loại mù tạt?

Như đã nói, các loại mù tạt khác nhau thường được pha trộn để tạo ra một loại mù tạt lai. Phổ biến nhất trên thị trường hiện nay, bạn có thể tìm thấy mù tạt Pommery (thô), mù tạt Dijon (chứa rượu hoặc nước ép nho), mù tạt Anh (vị nóng rõ rệt), mù tạt Trung Quốc (vị cay rõ rệt), mù tạt Đức (thô và hơi ngọt) và mù tạt Mỹ (vàng tươi và hơi ngọt).

Đúng là có sự khác biệt lớn về hương vị của các loại mù tạt khác nhau nhưng chúng có đặc điểm chung là đều cay. Từ rất nhẹ đến nóng rát. Và đừng quên là chúng luôn phảng phất vị ngọt thơm của cây cỏ, chẳng hạn như hoa cải vàng.

Mù tạt Dijon có màu vàng nhạt và sánh đặc như kem, được ra mắt vào năm 1856.

Chẳng hạn như mù tạt Dijon, có nguồn gốc từ thành phố Dijon - thủ phủ vùng Burgundy của Pháp. Vùng Burgundy này có lịch sử ẩm thực nổi tiếng với rượu vang. Mù tạt Dijon có màu vàng nhạt, sáng điển hình, được sử dụng trong dầu dấm, nước sốt cũng như “tra” thêm để hoàn thiện món bánh mì sandwich. Khác với mù tạt Dijon là màu vàng sậm hơn của mù tạt kiểu Mỹ.

Mù tạt Dijon có màu vàng nhạt và sánh đặc như kem, được ra mắt vào năm 1856.

Nhân tiện, nói đến sự cay nóng, phải chăng nhiều người trong chúng ta nghĩ đồ ăn Trung Quốc thường cay nóng là do dùng ớt? Thực sự là nhầm rồi. Mù tạt đã được trồng hàng ngàn năm làm nên thương hiệu mù tạt cay ở Trung Quốc. Mù tạt ở đây đơn giản là hạt mù tạt nâu xay thô mà không cần bổ sung gia vị khác. Chúng mạnh hơn mù tạt đen và trắng được sử dụng trong loại mù tạt khác.

Mù tạt cay Trung Quốc rất nổi tiếng trên thị trường bởi sự cay xộc "đẫm nước mắt".

Nói không xa, nếu mù tạt Dijon làm bằng hạt mù tạt đen hoặc nâu đậm, rượu hoặc nước nho chưa chín/rượu vang trắng/giấm rượu vang, đinh hương, quế,... thì mù tạt cay kiểu Trung dùng hạt cải sấy khô rồi nghiền thành bột.

Sử dụng mù tạt như thế nào?

Chúng ta có thể thấy, mù tạt ở bốn dạng cơ bản là hạt, bột, dầu và mù tạt lai (mù tạt đã chế biến). Mỗi một loại sẽ có cách sử dụng riêng để phát huy được vai trò lẫn hương vị của chúng.

Mù tạt dạng hạt có thể dùng làm gia vị hoặc nấu ăn trong nhiều món ăn Trung Đông. Bạn có thấy ngạc nhiên không, hạt mù tạt thường được dùng làm gia vị ngâm món chua đấy.

Mù tạt dạng bột, đã được xay nhuyễn được sử dụng như bột khô hoặc rắc lên thực phẩm trước khi áp chảo, nướng hoặc quay. Loại mù tạt này cũng được dùng để pha chế các công thức riêng.

Xúc xích hoặc giăm bông kẹp bánh mì, thêm mù tạt vàng quả là một ý tưởng thú vị.

Mù tạt dạng dầu, thực ra nghe có vẻ mới mẻ, nhưng chúng không xa lạ gì cả. Chúng được chiết xuất để nấu ăn như dầu ăn thông thường. Loại dầu mù tạt chất lượng cao rưới lên salad như dầu ô liu mà bạn vẫn ăn hàng ngày, quá quen đúng không nào?

Mù tạt đã chế biến thì được sử dụng phổ biến như một loại gia vị và được dùng trong các công thức nấu ăn hàng ngày.

Xúc xích hoặc giăm bông kẹp bánh mì, thêm mù tạt vàng quả là một ý tưởng thú vị.

Bạn hoàn toàn có thể dùng mù tạt để pha chế các công thức nước sốt - khi bạn mong muốn chúng có hương vị cay và sánh đặc mà không cần đến bột năng hoặc bột ngô.

Nếu không thể tìm được loại mù tạt ưng ý, bạn hoàn toàn có thể thay thế bằng cải ngựa hoặc wasabi Nhật Bản. Tùy vào ý định của bạn với món ăn, bạn có thể dùng ớt để tìm thấy vị cay, nhưng rõ ràng, cay kiểu mù tạt sẽ rất khác đấy.

Mù tạt không chỉ có màu xanh từ cải ngựa hay wasabi của Nhật Bản, chúng còn có màu vàng kem thơm ngon, được ứng dụng vào nhiều món ngon khác nhau.

Mù tạt được đóng gói trong những lọ thủy tinh, lọ nhựa thật đẹp và có thể để được trong nhiều năm. Nhưng đã mở lọ rồi, bạn nên đặt chúng trong tủ lạnh và để tối đa đến một năm.

Nhưng bạn thân mến, giống như các loại thực phẩm khác, hãy sử dụng chúng càng sớm càng tốt để hương vị và mùi thơm còn nguyên vẹn. Theo thời gian, khi đóng và mở thường xuyên, lọ mù tạt của bạn sẽ chẳng còn ngon nữa.

Kỳ Vân Dương / Theo: Trí Thức Trẻ



CA KHÚC "HÈ VỀ" CỦA NHẠC SĨ HÙNG LÂN - KHÚC NHẠC MÙA HÈ TƯƠI VUI YÊU ĐỜI CỦA HƠN 70 NĂM TRƯỚC


Tân nhạc Việt Nam có nhiều ca khúc viết về Mùa Hè, đặc biệt là từ thập niên 1960, khi mà hoa phượng, mùa hè và chia tay tuổi học trò là chủ đề rất quen thuộc của các nhạc sĩ nhạc vàng như Thanh Sơn, Song Ngọc, Duy Khánh,… với nhiều ca khúc đã trở thành bất tử.

Tuy nhiên trước đó khoảng hơn 10 năm, có 2 ca khúc in đậm nét trong lòng nhiều thế hệ học trò thập niên 1950 là Mùa Thi của nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng và Hè Về của nhạc sĩ Hùng Lân.

Trong một bài viết, cố ca sĩ Quỳnh Giao nhận xét rằng nhạc sĩ Hùng Lân có biệt tài viết lời ca nhanh và liền lạc như một chuỗi hạt trai, có thể thấy được rõ nét nhất điều đó qua Hè Về.

Click để nghe tài tử Ngọc Bảo hát Hè Về thập niên 1950

Bài hát Hè Về, khác với cái tựa đề khá đơn giản, bên cạnh tiết tấu bài hát khá phức tạp thì lời bài hát cũng rất dài, chủ yếu là để tả cảnh sắc mùa hè đầy màu sắc và rộn ràng thanh âm.

Bài hát mang lại cho người nghe cảm giác bồng bềnh, mênh mông, rào rạt của sóng lúa vàng, của áng mây hồng buổi sớm mai, của mầu xanh ngọc bích nơi cành lá, của màu phượng đỏ rung rinh ngoài nắng.

Bài hát có những hình ảnh thật tinh tế: Đám mây trắng đùa với nắng, đàn chim én tung cánh đo trời, dưới thì đồng lúa vàng nhịp nhàng cao thấp trên sườn đồi. Hương sen thanh nồng lan theo gió mát.

Cảnh thì đẹp, mà nhạc thì cũng lôi cuốn, dìu dặt và trong sáng. Chỉ trong một đoạn mà người thưởng thức nghe được tiếng ve, tiếng trúc, ngắm được mây trắng, lá ngọc, chim én, lúa vàng, mà còn ngửi được hương thơm của sen nồng.


Lời ca của Hè Về xứng đáng được dùng cho học sinh học cách hành văn vừa trong sáng vừa đầy hình ảnh và màu sắc.

Trời hồng hồng, sáng trong trong
Ngàn phượng rung nắng ngoài song
Cành mềm mềm gió ru êm
Lọc màu mây bích ngọc qua màu duyên

Đàn nhịp nhàng hát vang vang
Nhạc hòa thơ đón hè sang…

Bâng khuâng nghe nắng đùa mây trắng
Đàn chim cánh đo trời
Phân vân đôi mắt chèo lữ thứ
Thuyền ai biếng trôi

Xa xa lớp lúa dồn cao sóng vàng leo dốc trên đồi
Thanh thanh hương sen nồng
Ướp gió mát khi chiều rơi…


Ở đoạn điệp khúc, nhạc sĩ Hùng Lân tài tình sử dụng lối hát đuổi nên càng làm câu nhạc quấn quýt liền lạc như tâm tư tác giả trào dâng với cảm xúc chứa chan trước cảnh hữu tình. Đoạn này được hát đuổi hay nhất với giọng nữ câu cao, và giọng nam câu trầm:

Hè về hè về
Nắng tung nguồn sống khắp nơi
Hè về hè về
Tiếng ca nhịp phách lên khơi

Đầu ghềnh suối mát reo vui dào dạt
Ngập trời gió mát ven mây phiêu bạt
Hồn say ý chơi vơi, ngày xanh thắm nét cười, lòng tha thiết yêu đời

Click để nghe bản thu âm của Minh Trang – Trần Văn Trạch thập niên 1950


Bài hát cho đến nay vẫn được nhiều ca sĩ trình diễn lại sau 70 năm, và là một trong những bài hợp ca hay nhất tân nhạc Việt Nam. Đã có rất nhiều thế hệ ca sĩ huyền thoại hát ca khúc này, nhưng bản thu thanh xưa nhất còn lưu lại có lẽ là bản của tài từ Ngọc Bảo và bản song ca của danh ca Minh Trang và quái kiệt Trần Văn Trạch.

Tổng hợp theo bài viết của Quỳnh Giao
Nguồn: Nhạc Xưa

Click đề nghe lời kể của con gái nhạc sĩ Hùng Lân và Hoàng Yến Chibi hát.


Sunday, May 28, 2023

ĐẶC SẢN ĐÀI LOAN: SỰ KẾT HỢP GIỮA TRUYỀN THỐNG VÀ TINH HOA ẨM THỰC DU NHẬP

Ẩm thực ở Đài Loan là sự kết hợp hoàn hảo giữa truyền thống bản địa và tinh hoa ẩm thực du nhập từ Nhật Bản và Trung Quốc đại lục, chắc chắn có thể làm hài lòng mọi du khách đặt chân đến đây.

1. Mochi (Bánh gạo)

Mochi (Bánh gạo).

Mochi, hay còn có tên gọi khác là doushu, là bánh gạo nếp đặc sản nổi tiếng ở Đài Loan. Món ăn này bắt nguồn từ món tráng miệng của Nhật Bản, gọi là wagashi, từ thời Đài Loan là thuộc địa Nhật Bản. Mochi trở nên nổi tiếng trong nhiều năm trở lại đây nhờ một cửa hàng bán mochi Hakka (Khách Gia) ở Hualien (Hoa Liên), kiểu mochi truyền thống, của ông chủ Tseng.

2. Mì gạo

Mì gạo.

Mì gạo đã được du nhập từ tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc vào đảo Đài Loan từ hơn một trăm năm nay ở làng Fengkeng, huyện Trường Hoa, sau đó lan sang cả thị trấn Puli (Phố Lý). Cùng với mì gạo Fengkeng, mì gạo Hsinchu (Tân Trúc) là một trong hai loại mì gạo nổi tiếng nhất ở Đài Loan.

Thành phố Hsinchu có khí hậu rất lý tưởng với nhiều gió và ánh mặt trời để làm khô và chế biến mì gạo. Du khách có thể mua mì gạo đặc sản Đài Loan làm quà biếu tặng hoặc chế biến món ăn theo ý muốn.

3. Chè trà (Lei-cha)

Chè trà (Lei-cha).

Lei-cha là loại nước giải khát truyền thống Hakka và đặc biệt hữu hiệu với những người ăn kiêng tại Đài Loan. Chè là hỗn hợp các nguyên liệu bao gồm trà, đậu và hoa quả được nghiền nát, phơi khô để loại bỏ dầu, khi ăn sẽ dùng nước nóng để trộn các nguyên liệu.

Đây là một món ăn đặc sản ẩm thực Đài Loan rất lành mạnh và tiện lợi mà bạn có thể thưởng thức tại quận Meinong (Mỹ Nùng), thành phố Kaohsiung (Cao Hùng), hay thị trấn Nanzhuang (Nam Trang), quận Miaoli (Miêu Lật), hoặc xã Beipu (Bắc Phố), huyện Hsinchu.

4. Trứng tráng hàu

Trứng tráng hàu.

Đây là món ăn thể hiện sự kết hợp giữa hai hương vị từ đại dương và đất liền, mang tính biểu tượng của đảo Đài Loan. Thành phần của món ăn này ngoài trứng và hàu còn có tinh bột khoai lang, khi ăn sẽ kèm với loại nước sốt riêng có vị chua ngọt và ngon miệng có thể hài lòng bất kỳ ai.

Du khách có thể thưởng thức món ăn này ở hầu hết các khu chợ, nổi tiếng nhất là chợ Yongle, thành phố Tainan và chợ đêm Shilin (Sỹ Lâm), thành phố Taipei (Đài Bắc).

5. Mì bò

Mì bò.

Đặc sản của ẩm thực thành phố Đài Bắc chính là món mì bò trứ danh. Nghe tên gọi của món ăn này ai cũng đều tưởng chừng như cách chế biến rất đơn giản, chỉ với mì sợi và thịt bò, nhưng thực chất, món ăn này được những vị đầu bếp tài ba chế biến cực kỳ khéo léo công phu.

Sợi mì phải được làm từ gạo, thân sợi to, có màu vàng nhạt, thịt bò phải được lấy ở phần bắp, thịt mềm, gân và xương bò được ninh nhừ thành nước dùng. Mì bò rất đậm đà và thơm ngon, khi ăn có thể kèm với đậu phụ và rau cải xanh cho thanh mát hơn.

6. Kẹo đậu phộng Kinmen

Kẹo đậu phộng Kinmen.

Kẹo đậu phộng nổi tiếng nhất ở Đài Loan được sản xuất tại đảo Kinmen (Kim Môn), nơi có bầu không khí vô cùng trong lành. Đậu phộng sau khi được nghiền và nấu chín với đường mạch nha sẽ được để nguội cho đến khi rắn lại.

Sau đó, người ta cắt thành những thanh nhỏ, rồi đóng gói vào túi hoặc hộp rất vuông vắn để khách du lịch mua về có thể tiện lợi biến thành một món quà biếu lịch sự mà ý nghĩa.

Nhật Minh / Theo: Thời Đại

THƯƠNG NHỚ "ẦU Ơ..."

“Ầu ơ…, ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi.
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con đi trường học, mẹ đi trường đời”.



Nghe câu “ầu ơ ví dầu” vọng ra từ căn nhà nhỏ ở vùng ven thành phố mà lòng nó da diết nhớ nhung ngày còn bé được bà, được mẹ ru ngủ.

Ngày trước, các bà, các mẹ, các chị thường ru cháu, ru con, ru em bằng những câu hát ru được truyền miệng với giai điệu ngọt ngào, da diết. Những câu hát ru tuy ngắn ngủi nhưng đều mang ý nghĩa hết sức nhân văn, giàu tình cảm. Hình ảnh, nhân vật trong từng câu hát được mượn để miêu tả, ví von thường rất đỗi quen thuộc với cuộc sống thường ngày nên dễ nhớ, dễ hát. Đây cũng là lý do để giải thích vì sao hát ru lại dễ truyền miệng từ bà sang mẹ, từ mẹ sang con, từ chị sang em…, hình thành nên nét văn hóa độc đáo của người Việt như vậy.

Trẻ em sinh ra được nằm trên nôi, trên võng hay được ẵm bồng trên tay… đều thích được nghe các bà, các mẹ, các chị hát ru. Với riêng nó, không thể nào quên được hình dáng mẹ đêm đêm dưới ánh đèn dầu, vừa may áo, vừa hát ru cho chị em nó ngủ (đứa nhỏ nằm trong nôi, đứa lớn thì nằm bên cạnh mẹ) với rất nhiều câu hát “ầu ơi”: “Chiều chiều chim vịt kêu chiều/ Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau…”; “Ví dầu cầu ván đóng đinh/ Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi/ Khó đi mẹ dắt con đi/ Con đi trường học, mẹ đi trường đời”, “Má ơi đừng đánh con đau/ Để con bắt ốc hái rau má nhờ”; “Rủ nhau đi bắt chuồn chuồn/ Khi vui nó đậu khi buồn nó bay”; “Tôm càng lột vỏ bỏ đuôi/ Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già”; “Cây xanh thì lá cũng xanh/ Cha mẹ hiền lành, để đức cho con”; “Trồng cây mong ước cây xanh, cha mẹ sinh thành mong ước con khôn”; “Gió đưa cây cải về trời/Rau răm ở lại chịu lời đắng cay”…

Ngày nhỏ, dù chẳng hiểu được hết ý nghĩa của những câu hát này nhưng lạ là nó vẫn rất thích nghe. Nó thường đòi mẹ ru bằng câu: “Ví dầu cầu ván đóng đinh/ Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi/ Khó đi mẹ dắt con đi/ Con đi trường học, mẹ đi trường đời” hay như “Má ơi đừng đánh con đau/ Để con bắt ốc hái rau má nhờ”. Mẹ kể, không có hát ru là chị em nó không ngủ được. Đến khi mẹ sinh em rồi mà tối nào chị em nó cũng chờ để được hát ru vỗ về giấc ngủ. Nhớ nhất là những tối ngày hè, trời oi bức, chị em nó cứ thao thức, trở mình, đến khi mẹ cất lên lời ru thì chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay biết.


Cũng từ đấy mà chị em nó thuộc nằm lòng những câu hát ru của mẹ. Những khi mẹ vắng nhà, chị em nó cũng biết thay mẹ dỗ dành em ngủ bằng những lời ru mà bà và mẹ thường hay hát.

Lớn hơn chút nữa, tối đến, hai chị em nó vẫn thích nằm im trên chiếc chõng tre để lắng nghe mẹ hát ru em. Trong cái khoảng không gian ấy, từng lời ru càng thấm đẫm tâm hồn trẻ thơ của chị em nó. Nó dần cảm nhận được ý nghĩa sâu sắc trong từng lời ru. Có lần nghe mẹ hát câu “Ầu ơ, má ơi đừng gả con xa/ Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu”, chị nó thủ thỉ bên tai: “Lớn lên, chị sẽ không đi lấy chồng xa đâu, vì nếu lấy chồng xa chị sẽ nhớ mẹ lắm”. Nó cũng thủ thỉ với chị: “Em cũng vậy”… Rồi hai chị em chìm vào giấc ngủ từ lúc nào không biết.

Vậy mà duyên số, lớn lên, chị nó lại đi lấy chồng xa. Ngày sinh đứa con thứ hai, nghe tin mẹ đau bệnh, chị buồn lắm nên hát ru con bằng câu hát: “Ầu ơ…, chiều chiều chim vịt kêu chiều/ Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau…”. Thằng cu anh hồi đó 6 tuổi ngồi nghe mẹ hát ru lại thắc mắc: “Chín chiều ruột đau” là gì hả mẹ? Chị ứa nước mắt nhưng vẫn cố gắng giải thích cho con: “Đó là nỗi nhớ bà ngoại thật nhiều của mẹ đó con à”.

Ngày mẹ lên thăm chị, mẹ ru cháu cũng bằng những câu hát ru ngày xưa mẹ đã hát cho chị em nó nghe. Cả thằng cu anh và cu em đều mê tít tiếng ru ngọt ngào của ngoại nên càng bám bà.

Nó thừa nhận rằng, theo năm tháng, hát ru nuôi dưỡng trong tâm hồn trẻ thơ của nó những tình cảm thật đẹp đẽ, đó là tình yêu thương ông bà, cha mẹ; thấu hiểu hơn nỗi lòng, mong ước của ông bà, cha mẹ đối với con, cháu; giúp nó hiểu hơn quy luật của cuộc sống, của tự nhiên; sống hiếu đạo, nghĩa tình hơn với ông bà, cha mẹ và mọi người.


Và ngày nay, khoa học cũng đã chứng minh, hát ru có công dụng rất tốt, giúp nuôi dưỡng nhân cách cho trẻ.

Tiếc thay, không hiểu vì lý do gì, bây giờ rất hiếm khi nghe được lời ru con từ các bà mẹ trẻ, nếu có, thì cũng là những bài hát ru được tải trên mạng xuống rồi phát qua điện thoại cho con mình nghe. Và cũng đã từ rất lâu rồi, nó mới được nghe lại câu hát ru “Ầu ơ…, ví dầu cầu ván đóng đinh/ Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi/ Khó đi mẹ dắt con đi/ Con đi trường học, mẹ đi trường đời” do một người mẹ trẻ ru con vọng ra từ căn nhà nhỏ ở vùng ven thành phố nơi nó đang sống.

Bỗng dưng cồn lên trong nó cả một miền thương nhớ!

Tú Quyên / Theo: dangnho



ĐỘC LẠ LOẠI QUẢ GIỐNG DƯA HẤU TÍ HON, VỊ LẠI CHUA NHƯ CHANH

Loại quả này nhìn thoáng qua giống quả dưa hấu tí hon, nhưng lại là một loại dưa chuột có nguồn gốc từ Mexico, ăn có vị chua như chanh.

Loại quả này nhìn thoáng qua giống quả dưa hấu tí hon.

Dưa chuột chua Mexico hay còn được bằng nhiều tên gọi khác nhau như: dưa hấu tí hon, dưa hấu chuột, dưa chuột chua Mexico, cucamelon, Pepquino. Tên khoa học gọi là Molothria scabra, là một loài cây leo ăn trái. Trái dưa chuột Mexico có kích thước nhỏ, ăn có vị dưa chuột nhưng chua hơn.

Dưa chuột chua này có nguồn gốc ở Mexico và Trung Mỹ, nơi nó được gọi là sandita. Trước đây dưa chuột chua Mexico là loại cây dại ở Nam Mỹ. Sau đó được những người nông dân ở Hà Lan đem về trồng trong nhà kính. Từ đó dưa chuột chua Mexico được bán khắp mọi nơi và trở thành đặc sản của châu Âu.

Khi bổ đôi dưa chuột Mexico ra có nhiều hạt nhỏ bên trong quả (Ảnh: organicburst).

Hiện nay loại dưa chuột này ưa chuộng nhất ở hầu hết các nhà hàng tại thủ đô London, Anh. Còn ở Việt Nam thì loại quả này vẫn còn khan khiếm, chưa được ưa chuộng nhiều vì giá cả cao.

Dưa chuột chua Mexico lớn khá chậm, khoảng 60-85 ngày mới ra quả, có khả năng chịu hạn tốt và ít sâu bệnh. Một cây có thể cho 60-100 quả. Khi lớn có thể rửa sạch và ăn trực tiếp, ngâm chua hoặc cắt nhỏ cho vào món salad. Cả vỏ và hạt của quả đều ăn được. Chúng thường được dùng như đồ khai vị, làm salad, món xào, cocktail... ở các nhà hàng.

Quả có thể rửa sạch và ăn trực tiếp, ngâm chua hoặc cắt nhỏ cho vào món salad (Ảnh: 9a_bythebay).

Dưa chuột chua Mexico dễ trồng và dễ chăm sóc tương tự các giống dưa chuột khác, có khả năng kháng sâu bệnh, chịu hạn và chịu lạnh tốt . Tuy nhiên, chúng sẽ phát triển tốt nhất ở nơi có nhiều nắng và nóng.

Khôi Vũ / Theo: Dân Trí