Wednesday, October 29, 2025

PHÓNG TO 3 LẦN BỨC TRANH KỲ LẠ VẼ 3 ÔNG LÃO TRONG BẢO TÀNG CỐ CUNG, CHUYÊN GIA THỐT LÊN: AI XEM CŨNG PHẢI CHỘT DẠ!

Bức tranh với nội dung đơn giản nhưng ẩn chứa nhiều tầng lớp nghĩa.


Tam đà đồ

Có người cho rằng tranh cổ Trung Hoa ngoài phác họa hoa lá, chim muông, sông núi thì cũng chỉ toàn tranh thư pháp chứ không mang tính phơi bày và châm biếm như tranh phương Tây. Thế nhưng nổi tiếng trong mảng tranh châm biếm của giới hội họa Trung Quốc cổ đại có một bức tranh kỳ lạ tên là "Tam đà đồ" đã được lưu truyền hơn 400 năm.

Đây là bức tranh cổ có niên đại từ thời nhà Minh của họa sĩ Lý Sĩ Đạt. Bức tranh là một cuộn giấy dọc với chiều dài 78,5 cm và rộng 30,3 cm, hiện đang được sưu tầm và trưng bày tại Bảo tàng Cố Cung ở Bắc Kinh.

Bức tranh "Tam đà đồ". Hình ảnh: Jianshu

Tổng thể bức tranh vô cùng đơn giản miêu tả ba ông lão lưng gù, một người vừa đi vừa xách giỏ, một người khác nhìn chằm chằm người xách giỏ, người còn lại thì vừa vỗ tay vừa cười lớn, trong tranh tướng mạo của cả ba lão đều vô cùng hài hước và kỳ dị.

Tuy tác giả của bức tranh này không phải là đại danh họa hay cao thủ trong giới hội họa lúc bấy giờ nhưng từ nét vẽ đơn giản có phần kỳ quái đến ý nghĩa của bức tranh đều được các chuyên gia đánh giá rất cao.

Những đường nét thậm chí như quần áo cũng được vẽ vô cùng "mượt mà", nét vẽ và nét mực tròn trịa, mềm mại cho thấy khả năng điêu luyện của tác giả. Phía trên bức họa có đề bài thơ của Tiền Doãn Trị tạm dịch là: "Trương Đà xách giỏ đi thăm người thân, Lý Đà bắt gặp tiện hỏi duyên cớ; Triệu Đà vỗ tay ha ha cười, trên đời hóa ra không có người ngay thẳng."

Ẩn ý thâm sâu

Bức "Tam đà đồ" được vẽ dựa trên câu chuyện trào phúng giữa ba ông lão. Chính giữa bức tranh là ông lão họ Lý, khi lão Lý gặp lão Trương đang trên đường đi thăm họ hàng thì cúi người lớn tiếng chào hỏi, lão Trương nhìn nghiêng đáp lại.

Hai người đang thản nhiên chào hỏi vài câu, đột nhiên một lão Triệu từ phía sau đi ra, vỗ tay cười ha hả nói lớn: "Tưởng có mỗi mình ta lưng cong, hoá ra mọi người đều là những kẻ lưng gù​​."

Chi tiết ba ông lão trong bức tranh đơn giản. Hình ảnh: Baidu baike

Câu cuối cùng trong bài thơ thực chất là một lời châm biếm vô cùng thâm sâu. Cái lưng gù trong tranh ám chỉ "người không ngay thẳng", lươn lẹo, nghĩa là trên thế gian này vì ai cũng là người không ngay thẳng nên con người luôn có cảm giác hả hê khi mọi việc dối trá đều không phải là tội.

Thế nên, bức họa kỳ lạ đã được lưu truyền 400 năm này dường như vẫn còn nguyên giá trị trào phúng của nó cho đến ngày nay. Dù chỉ có vỏn vẹn ba ông lão được vẽ trong tranh nhưng ý nghĩa thật sự đằng sau nó lại khiến không ít người cảm thấy chột dạ và xấu hổ.

Ba ông lão lưng cong này giống như đang lật tẩy bộ mặt thật của những kẻ thế tục. Ở xã hội hiện đại cũng đầy rẫy những kẻ "không ngay thẳng", và không ít những kẻ dối trá vẫn dửng dưng với tâm lý hả hê "ai cũng thế", "cha chung không ai khóc" nên vẫn vô tư làm điều sai trái như lão Triệu Đà trong bức tranh.

Họa sĩ Lý Sĩ Đạt. Hình ảnh: Sohu

Không chỉ dừng lại ở đó, nhiều cư dân mạng còn thấy bức tranh cổ này còn vô cùng phù hợp với một tầng lớp nghĩa khác ở thời hiện đại. Đó là thực trạng "cong lưng" trước điện thoại của hầu hết mọi người đặc biệt là giới trẻ. Họ ham mê điện thoại và các công cụ công nghệ mọi lúc mọi nơi dù là ở nhà hay ở nơi công cộng.

Thế nên mới nói bức tranh "Tam đà đồ" đơn giản một cách kỳ lạ này không hề đơn giản, không phải bỗng dưng nó được trưng bày tại Bảo tàng cố cung ở Bắc Kinh. Chỉ vỏn vẹn có 3 ông lão với dung mạo kỳ quái mà cũng đủ để làm cho không ít người chột dạ xấu hổ và thậm chí phải tự nhìn nhận lại chính mình.

Diệu Thúy / Theo: Tri Thức Trẻ



CỬU NHẬT - VƯƠNG BỘT


Cửu nhật - Vương Bột

Cửu nhật trùng dương tiết,
Khai môn hữu cúc hoa.
Bất tri lai tống tửu,
Nhược cá thị Đào gia.


九日 - 王勃

九日重陽節
開門有菊花
不知來送酒
若個是陶家


Mồng Chín
(Dịch thơ: Lê Nam Thắng)

Mồng chín là tết trùng dương
Ngoài sân mở cửa thoáng hương cúc vàng
Biết ai rượu ngọt mang sang
Tặng ta giống thể như chàng Đào xưa


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Vương Bột 王勃 (649-675) tự Tử An 子安, người đất Long Môn. Sáu tuổi đã biết làm văn. Mười sáu, mười bảy tuổi nổi danh hạ bút nên vần.

Vương có thói quen, mỗi khi làm văn, mài mực sửa soạn nghiên bút rồi nằm đắp chăn ngủ. Khi tỉnh dậy, cầm ngay bút viết. Vương nổi tiếng là một thi sĩ cao danh thời Sơ Đường (618-713).

Khoảng 675-676, lúc 27-28 tuổi, Vương Bột bị đắm thuyền, chết đuối ở biển Nam Hải trên đường sang Giao Chỉ thăm cha.

Nguồn: Thi Viện


THÀNH PHỐ KỲ LẠ NHẤT THẾ GIỚI: SUỐT 600 NĂM KHÔNG HỀ MƯA, VẬY MỌI NGƯỜI ĐÃ SỐNG RA SAO?

Lượng mưa ở đây còn ít hơn rất nhiều so với sa mạc Sahara.


Bạn có tin vào một thành phố mà mưa là một khái niệm xa xỉ, một hiện tượng gần như không bao giờ xảy ra trong suốt hàng trăm năm? Nghe có vẻ phi lý, nhưng điều đó hoàn toàn là sự thật tại Lima, thủ đô của Peru.

Đây là một trong những thành phố lớn nhất Nam Mỹ với dân số khổng lồ, nhưng lại nắm giữ kỷ lục về lượng mưa thấp nhất thế giới - chỉ khoảng 10 đến 15 mm mỗi năm, thậm chí còn ít hơn một phần năm lượng mưa trung bình ở sa mạc Sahara khô cằn. Vậy, điều kỳ lạ này là gì và người dân Lima đã sống sót như thế nào trong suốt hơn 600 năm không mưa?

Bí ẩn khí hậu: Nơi "mưa" chỉ là sương mù

Khác với những gì chúng ta thường hình dung về một vùng đất không mưa, Lima không hề khô cằn mà ngược lại, luôn duy trì một bầu không khí ẩm ướtmát mẻ quanh năm. Nhiệt độ ở đây khá ôn hòa, dao động từ 16°C đến 23°C, khiến bốn mùa đều giống như mùa xuân.

Du khách đến Lima sẽ không thấy những con phố có cống thoát nước, và thậm chí nhiều ngôi nhà còn không có mái che kiên cố. Ô và áo mưa gần như là những vật dụng xa lạ, đến mức nhiều người dân địa phương còn chưa từng nhìn thấy một trận mưa thực sự trong đời.


Lý giải cho hiện tượng khí hậu độc đáo này nằm ở vị trí địa lý đặc biệt của Lima. Thành phố nằm ở sườn đông của dãy núi Andes hùng vĩ, trải dài dọc bờ biển phía Đông Thái Bình Dương. Luồng không khí ẩm từ biển thổi vào bờ gặp phải dòng hải lưu Peru (Humboldt) lạnh giá. Sự tiếp xúc giữa không khí ấm ven biển và mặt nước lạnh khiến hơi nước không thể ngưng tụ thành những đám mây vũ tích đủ lớn để gây mưa.


Thay vào đó, hơi nước chỉ tạo thành một lớp sương mù dày đặc bao phủ thành phố gần như quanh năm. Lớp sương mù này chính là thứ mang lại độ ẩm và không khí mát mẻ cho Lima. Khi sương mù đọng lại trên mặt đất và cây cối, nó tạo ra một lượng ẩm nhất định, nhưng không bao giờ là những hạt mưa rơi lách tách như chúng ta vẫn quen thuộc.

Nguồn nước và sự thích nghi của con người

Câu hỏi lớn đặt ra là, nếu không có mưa, làm sao một thành phố với hơn 8 triệu dân có thể sinh tồn và phát triển thịnh vượng? Bí quyết nằm ở nguồn nước khác. Lima không thiếu sức sống nhờ được bao quanh bởi sông Rímac và có nguồn nước ngầm dồi dào chảy từ các sông lân cận, cũng như từ băng tan trên dãy Andes.


Từ thời xưa, người dân Lima đã vận dụng trí tuệ và sự siêng năng của mình để tạo ra một hệ thống tưới tiêu độc đáo, dẫn nước từ các con sông này để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp. Nhờ vậy, cây cối, công viên và vườn tược ở Lima vẫn xanh tốt, tươi tắn một cách đáng kinh ngạc, phá vỡ mọi định luật về sự sống ở vùng đất thiếu mưa.

Sự thích nghi của người dân Lima còn thể hiện qua lối kiến trúc và sinh hoạt. Việc không cần mái che hay hệ thống thoát nước mưa giúp tiết kiệm chi phí xây dựng và mang lại một phong cách sống đặc trưng. Cuộc sống ở Lima diễn ra bình dị, không có sấm chớp, bão tố hay tuyết rơi, tạo nên một sự yên bình độc đáo mà ít nơi nào có được.


Lima không chỉ là một thủ đô sầm uất với bề dày lịch sử và văn hóa đậm nét Tây Ban Nha, mà còn là một minh chứng sống động cho khả năng thích nghi phi thường của con người trước những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nhất. Nơi đây là điểm đến hấp dẫn cho những ai muốn khám phá một "thành phố không mưa" nhưng vẫn tràn đầy sức sống và những bí ẩn thú vị.

Thanh Huyền / Theo: Thanh Niên Việt
Link tham khảo:



Tuesday, October 28, 2025

5 BIỂU HIỆN CỦA NGƯỜI BẤT TÀI, KHÔNG CÓ NĂNG LỰC


Không có mục tiêu rõ ràng

Một người không chín chắn, cũng giống như con tàu không có buồm, gió thổi đến đâu thì trôi tới đó.

Đi rồi lại dừng, dừng rồi lại đi, năm tháng trôi qua vô ích, cuối cùng vẫn chẳng thể vào bờ.

Có người từng nói: “Chí không lập, thiên hạ sẽ chẳng có chuyện nào nên.”

Bất luận là làm gì, trước tiên hãy có cho mình một mục tiêu và phương hướng rõ ràng.

Người không có mục tiêu cũng giống như lá bèo trôi nổi trên dòng nước vậy, cuộc đời chẳng khác nào “bèo dạt mây trôi”.

Vương Dương Minh, một nhà tư tưởng nổi tiếng của Trung Quốc từng nói: “Trước khi muốn làm gì, muốn có được cái gì, “lập chí” luôn là bước đầu tiên, là bước cơ sở và là bước quan trọng nhất.”

Quá để tâm lời nói của thiên hạ

Cổ nhân nói: “Như ngư ẩm thủy, lãnh noãn tự tri.”

Như cá uống nước, nóng lạnh chỉ mình nó biết.

Cuộc sống là của mình, là mình sống chứ không phải sống cho người khác xem.

Chỉ cần tâm lỗi lạc, không có gì hổ thẹn, vậy thì đừng quan tâm tới cái nhìn của người khác.

Chúng ta không cần phải giải thích bất cứ điều gì, cứ âm thầm làm tốt việc mình nên làm, người khác cũng sẽ chẳng còn có gì để mà nói bạn.

Nếu quá để tâm tới miệng lưỡi người đời, dần dần bạn sẽ đánh mất đi phương hướng.

Vương Dương Minh nói: “Không quan tâm lời thị phi, không để tâm lời đàm tiếu, không quản lời gièm pha, mặc kệ người đời.”

Người xưa cũng nói: “Ai ở sau lưng mà chưa từng nói người, ai mà chưa từng bị người khác nói sau lưng.”

Bàn tán và bị bàn tán là thường thái, nếu đã không thể tránh được, vậy thì tại sao không sống là chính mình!


Thường xuyên nóng giận

Cảm xúc không đáng sợ, đáng sợ là bạn không kiểm soát được cảm xúc của mình.

Nghiên cứu tâm lý học phát hiện: Một người khi đang ở trong trạng thái tức giận, khả năng tư duy của anh ta sẽ bằng không, cả cơ thể sẽ mất đi kiểm soát.

Lúc này, những lời nói ra, những chuyện đã làm, nhất định sẽ khiến người khác tổn thương, còn bản thân thì sẽ phải hối hận sau đó.

Muốn kiểm soát được cảm xúc, bạn phải rèn luyện được cho mình sự điềm tĩnh, không để ý tới những điều không cần thiết xung quanh.

Vương Dương Minh nói: “Những cảm xúc kiểu như phẫn nộ, con người ta làm sao mà không có? Chỉ là không nên có mà thôi. Con người lúc bình thường mà tức giận sẽ rất khó kiểm soát được lời nói và hành động, giận quá thì sẽ mất khôn.”

Có gắng thường xuyên mài dũa bản thân trong cả những việc nhỏ nhặt nhất, học cách kiểm soát cảm xúc, lâu dần, cách nhìn nhận vấn đề sẽ không còn hấp tấp, vội vã như trước nữa, đồng thời cũng sẽ phát triển được cho mình một khí chất trầm tĩnh và ôn hòa.

Cảm xúc, tuyệt đối đừng chỉ tích lũy nó lại, phải biết cách kịp thời cùng người khác chia sẻ, giải tỏa.

Nếu rơi vào trạng thái tức giận, nóng nảy, trước tiên hãy tránh đi một chút, hít thở sâu, đợi bình tĩnh lại rồi hãy làm gì thì làm.

Mơ mộng xa vời nhưng luôn dậm chân tại chỗ

Không ai ăn một miếng là đã mập lên luôn được cả.

Những người không chín chắn thường rất thích mơ mộng viển vông, tự đặt ra cho mình một mục tiêu không thiết thực, rồi chỉ biết đắm chìm trong lý tưởng mà không chịu nhìn vào thực tế.

Chuyện nhỏ nhặt còn làm không xong, còn mơ tưởng tới lý tưởng cao cả, muốn bước lên đỉnh vinh quang.

Vương Dương Minh nói, hôm nay học một chút, ngày mai lại tiếp tục học một chút, ngày qua ngày, kiên trì học không ngừng nghỉ, tri thức mới rộng mở, tri thức khi rộng, tầm nhìn ắt sẽ xa.

Cũng giống như khi tưới cây vậy, khi chúng vẫn còn là một mầm non, bạn sẽ chỉ tưới cho chúng một chút nước, nhưng dần dần khi chúng lớn hơn, bạn có thể tưới cho chúng nhiều nước hơn, lượng nước tỷ lệ thuận với độ lớn của cây.

Nếu ngay khi nó còn là một cái mầm bạn đã tưới nhiều nước như vậy, nó không những không phát triển, mà ngược lại còn bị úng mà chết.

La Mã không phải được xây chỉ trong một ngày, mọi thành tựu đều cần thời gian mở đường.

Cơm ăn từng miếng, đường bước từng bước, nghiêm túc và hết mình với mỗi một việc, có vậy mới không ngừng tiến bộ.


Dục vọng quá lớn

Trong cái xã hội vật chất lưu động như hiện nay, con người ta ngày càng theo đuổi sự hào nhoáng bên ngoài, tín dụng tinh thần bị bào mòn mỗi ngày bởi các giá trị vật chất.

Người bất tài luôn muốn dựa vào những vật chất bên ngoài để thỏa mãn sự hi vinh, thói sĩ diện của bản thân.

Họ cho rằng vật chất có càng nhiều sẽ càng hạnh phúc.

Nhưng cuộc đời không phải phép cộng, mà nó là phép trừ.

Vật chất có nhiều tới đâu, tới cuối cùng cũng không thể lấp đầy được sự trống rỗng của nội tâm bên trong.

Con người vì những vật chất bên ngoài mà không ngừng chạy theo, coi trọng được mất nơi thế gian, để rồi đánh mất đi sự bình yên, thanh tịnh bên trong tâm hồn, cuối cùng cả sTiền đủ tiêu là được, hiếu thảo với ba mẹ, đối xử tốt với bạn bè, trân trọng tự nhiên, cuộc sống như vậy thực ra không cần quá nhiều tới vật chất, và đó mới chính là hạnh phúc đích thực.

Đừng quá xem trọng được mất, thuận theo tự nhiên, giữ lấy cho mình cái khoảng bình yên bên trong tâm hồn, vậy là đủ!

Lan Hòa biên tập
Nguồn: Soha

GÓC TỐI TRONG PHIÊN TÒA CON KHỈ SCOPES (PHẦN 2)

Ảnh: Historymartinez's Blog

Các nhà khoa học 40 năm trước đã trở thành nạn nhân của một trò lừa đảo tinh vi và được chuẩn bị kỹ lưỡng nhất. Việc làm giả xương hàm dưới vô cùng khéo léo và việc thực hiện trò lừa đảo này dường như hoàn toàn vô đạo đức và không thể giải thích được, đến mức không thể tìm thấy một trường hợp nào tương đồng trong lịch sử khám phá cổ sinh học.


Đó là kết luận của cuộc điều tra về việc làm giả hóa thạch “Người-vượn Piltdown”, được công bố trên tạp chí Bảo tàng Tự nhiên Anh ở London ngày 20/11/1953 …


Hóa thạch ở Piltdown, bao gồm một phần hộp sọ, một xương hàm, và một vài chiếc răng, được báo cáo là tìm thấy năm 1912. Trong khi dân chúng nghĩ hóa thạch này là di tích của một “người Anh cổ xưa nhất” thì các nhà tiến hóa mừng rỡ đón nhận nó như một thắng lợi vĩ đại của thuyết tiến hóa, vì rốt cuộc, đã tìm thấy một mắt xích bị mất tích (missing link) trong chuỗi tiến hóa từ vượn lên người, giải quyết được “nan đề loài trung gian chuyển tiếp”, ước mơ của Darwin đã trở thành sự thật!

Quả thật hóa thạch này có những đặc điểm nửa người nửa vượn, một bằng chứng rõ rệt của một loài vượn-người hoặc người-vượn. Những ai nghi ngờ thuyết tiến hóa hãy mở mắt ra mà nhìn! Darwin quả thật là một thiên tài, dự đoán của ông chính xác như thần! Số người tin vào học thuyết Darwin vì thế mà tăng lên nhanh chóng, thậm chí thành sự đã rồi, KHÔNG THỂ SỬA CHỮA ĐƯỢC NỮA!

Nhưng vẫn có những người nghi ngờ. Những người này âm thầm làm việc, cố gắng mang lại sự thật cho thế gian. Rồi cái gì đến phải đến, what will be, will be.

Năm 1953, xương hàm dưới trong bộ hóa thạch ở Piltdown bị phát hiện là xương hàm của một loài vượn hiện đại – rất giống với orangutan – đã bị tẩm chất hóa học để trông giống như một hóa thạch đã nằm dưới lòng đất hàng trăm thế kỷ. Trong khi phần chỏm của hộp sọ vẫn được nghĩ là một hóa thạch thực sự. Tuy nhiên, niên đại của nó xem ra gần với thời điểm hiện tại của chúng ta hơn rất nhiều so với lúc đầu người ta nghĩ.

Tờ The New York Times cho biết: “Tuyên bố (của Bảo tàng Tự nhiên Anh)… đã được đưa ra sau 20 năm có những tiếng đồn và những lời phỏng đoán khó chịu giữa những nhà cổ sinh học Âu Châu về tính xác thực của các mẩu xương”. Tờ London Star chạy một hàng tít hét lớn: đây là “VỤ LỪA ĐẢO KHOA HỌC LỚN NHẤT THẾ KỶ!” (The Biggest Scientific Hoax of the Century!)[2]

Chao ôi, chuyện lớn rồi!

Hóa ra một số nhà khoa học nghiêm túc và rất đáng kính đã bị đánh lừa! hay chính họ là những kẻ lừa đảo? Nhưng dẫu thế nào thì thanh danh của họ mãi mãi bị nhơ nhuốc. Những năm tháng nghiên cứu và suy nghĩ cực nhọc đã bị phí phạm vào việc cố gắng phân tích và lắp ghép một hóa thạch giả mạo sao cho ăn khớp với hồ sơ tiến hóa của loài người. Niềm tin sắt đá vào một học thuyết “thần thánh” đã bị TRẢ GIÁ ĐẮT! Những nhà khoa học ấy là ai? Chúng ta có thể biết rõ, đó là những người có mặt trong bức tranh sau đây:


Bức tranh được vẽ năm 1915, tức 3 năm sau khám phá ở Piltdown, thể hiện một lòng tôn kính đối với các nhà khoa học, và đặc biệt, thể hiện lòng ngưỡng mộ của họa sĩ cũng như của người đời đối với học thuyết Darwin. Không rõ họa sĩ này có còn sống đến ngày vụ lừa đảo bị vạch trần hay không? Nếu ông còn sống, ông sẽ nghĩ gì về bức tranh của mình? Dẫu sao thì bức tranh của ông cũng có ý nghĩa lớn: nó đánh dấu một thời kỳ trong đó một học thuyết vô bằng chứng đã có thể làm mê hoặc người đời như mức nào. Nhưng để cảm nhận mọi khía cạnh trong vụ bê bối này, tưởng cũng nên biết diễn tiến cụ thể của vụ việc.

Vì nhân vật chính trong vụ này là Charles Dawson đã mất (vì bệnh) vào năm 1916 nên bí mật khởi đầu vụ việc vĩnh viễn nằm trong bóng tối. Nhưng theo chính Dawson cho biết, hóa thạch “người-vượn Piltdown” được phát hiện bởi một nhóm thợ đào hầm hố tại Piltdown. Những người thợ này trao những xương cốt tìm thấy cho Charles Dawson, vì ông này nói với họ rằng trong khi đào xới thấy bất cứ vật gì lạ thì giao cho ông và sẽ được trọng thưởng. Dawson là một luật sư và một nhà địa chất nghiệp dư, nhưng nổi tiếng với thú vui săn tìm cổ vật. Có trong tay những xương cốt tìm thấy ở Piltdown, Dawson lập tức nhờ các nhà khoa học nghiên cứu, gồm:
  • Arthur Woodward Smith, một nhà cổ sinh học thuộc Bảo tàng Tự nhiên Anh, chuyên gia về hóa thạch cá, từng giữ chức chủ tịch Hội Địa chất, từng là viện sĩ Viện Hàn lâm Anh (Hội Hoàng gia Anh).

  • Pierre Teilhard de Chardin, là một linh mục Công giáo thuộc Dòng Tên (Jesuit), một người say mê cổ sinh học và tin vào Thuyết tiến hóa người của Darwin.

  • Arthur Keith, một nhà giải phẫu học và nhân chủng học người Anh, người ủng hộ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc bằng khoa học, nhiệt tình tham gia nghiên cứu “hóa thạch người-vượn Piltdown” và trước khi chết (1955), đã thừa nhận hóa thạch này là đồ giả[3].
và một số nhà khoa học có tiếng tăm khác – những người rất háo hức với việc phát hiện này. Họ dễ dàng tin rằng những xương cốt này, gồm một hộp sọ dày có kích thước giống như hộp sọ của một người hiện đại và một xương hàm to giống như của vượn, là những bộ phận của cùng một cá nhân, vì các yếu tố sinh lý học của hóa thạch có vẻ phù hợp với cái mà họ đang muốn tìm kiếm: những “mắt xích bị mất tích” trong chuỗi tiến hóa.

Tờ The New York Times năm 1953 còn cho biết thêm những sự thật trớ trêu, rằng “Ngài Arthur Keith, nhà cổ sinh học nổi tiếng của Anh, đã dành hơn 5 năm trời để nhặt các mảnh xương rồi lắp ghép vào với nhau mà ông mô tả như một khám phá ‘phi thường’. Ông nói phần hộp sọ chứa bộ não ‘về phương diện nào đó còn nguyên thủy nhưng về tất cả mọi phương diện khác thì là con người rõ rệt’. Người-vượn Piltdown được đặt tên là Eoanthropus dawsonii, hoặc “người Dawn”, để vinh danh Charles Dawson, người tìm thấy nó, và các nhà cổ sinh học trên khắp thế giới đều cảm thấy vinh dự vì đã có lúc được chạm tay vào nó với sự trân trọng”.

Nhưng, tờ báo viết tiếp, “mặc dù hóa thạch này nói chung được chấp nhận như một mẫu vật được biết sớm nhất của người khôn ngoan, đối chọi với mẫu vật người-vượn tìm thấy ở Trung Quốc và Java, nhiều nhà nghiên cứu vẫn bảo lưu ý kiến của họ về xương hàm gây tranh cãi”…

Có nghĩa là mọi sự dối trá, dù tinh vi đến đâu, vẫn để lại những kẽ hở. Và nếu ngành cổ sinh học không có những tiến bộ kỹ thuật mới thì có thể sự thật về hóa thạch “người-vượn Piltdown” sẽ mãi mãi nằm trong bóng tối, và thuyết tiến hóa sẽ mãi mãi yên chí rằng nó đã có bằng chứng không thể chối cãi. Nhưng than ôi, khoa học chính là kẻ thù của thuyết tiến hóa.

Thật vậy, năm 1939, nhà cổ sinh học Kenneth Oakley tìm ra một phương pháp mới để phân tích cổ vật bằng hóa học được gọi là phương pháp thử nghiệm bằng fluorine. Xương hóa thạch thẩm thấu fluorine từ đất và nước, do đó những xương hóa thạch nằm trong cùng một khu đất và trải qua cùng một thời gian sẽ có cùng một lượng fluorine xấp xỉ như nhau.

Năm 1949, để xác nhận chắc chắn xương hàm và hộp sọ của người-vượn Piltdown là những bộ phận của cùng một cơ thể, nhà Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ở Anh đã đề nghị Oakley, một nhà khoa học không dính dáng gì với việc phát hiện di tích ở Piltdown, tiến hành xét nghiệm hóa thạch này bằng những kỹ thuật mới của ông.

Kết quả cho thấy các mảnh xương dường như có cùng chỉ số fluorine, có nghĩa là dường như thuộc cùng một cơ thể, nhưng bất ngờ, Oakley phát hiện ra rằng chúng có vẻ trẻ hơn rất nhiều so với đánh giá lúc ban đầu – có lẽ chỉ mới 50.000 năm tuổi thay vì 500.000 năm như đánh giá trước đây. Phát hiện này có ý nghĩa vô cùng quan trọng về mặt cổ sinh học liên quan tới vấn đề tiến hóa. Nó không những chỉ ra sai lầm của những nghiên cứu trước đây, mà còn đóng vai trò quyết định trong việc làm thay đổi nhận định đối với hóa thạch “người Piltdown”. Thật vậy:

Trước đây người ta đã tìm thấy những mẫu vật hóa thạch của con người hiện đại, tức là người 100%, để từ đó xác định được một cách chắc chắn rằng loài người xuất hiện từ cách đây ít nhất 50.000 năm. Có nghĩa là “người Piltdown”, nếu quả thật là một loài vượn-người hoặc người-vượn, thì nó đã chạy giật lùi lại so với mũi tên tìm kiếm của cổ sinh học (mũi tên ngược chiều với thời gian), hay nói cách khác, “người-vượn Piltdown” song song tồn tại với loài người hiện đại! Đó là chuyện quái gở, bất hợp lý. Vậy chỉ có thể kết luận rằng hóa thạch Piltdown không phải là hóa thạch của một mắt xích bị mất tích, không phải là hóa thạch của vượn-người hoặc người-vượn, mà chỉ có thể là hóa thạch của người 100% hoặc khỉ 100%. Nhưng kết luận này mâu thuẫn với những nghiên cứu sinh lý giải phẫu học đã cho thấy rõ ràng đó là hóa thạch vừa có đặc điểm người, vừa có đặc điểm vượn!Vậy đâu là sự thật? Hóa thạch “người-vượn Piltdown” bỗng trở thành một thách đố!

Năm 1953, Joseph Weiner, một giáo sư về sinh lý nhân chủng học, gặp Kenneth Oakley tại một bữa tiệc. Họ trao đổi với nhau về thách đố “người-vượn Piltdown”. Sau cuộc gặp, Weiner không thể rời bỏ những ý nghĩ nẩy sinh từ thách đố đó. Ông quyết định xem xét lại toàn bộ hồ sơ nghiên cứu của vụ này, sắp đặt các xương hóa thạch ra trước mặt rồi bắt đầu kiểm tra mỗi mẫu vật từng li từng tí một.

Xin lưu ý rằng cho đến lúc đó, “người-vượn Piltdown” vẫn là một bằng chứng không thể chối cãi của thuyết tiến hóa, tồn tại trong các sách giáo khoa và tài liệu kinh điển của sinh học tiến hóa. Đụng chạm hoặc lật đổ một thần tượng của một học thuyết đã ăn sâu vào xương tủy của mọi người không phải là chuyện dễ dàng. Vì thế Weiner phải làm việc hết sức cẩn trọng.

Nhưng rốt cuộc, nỗ lực của Weiner cũng được đền đáp. Ông ngạc nhiên nhận ra những chiếc răng hóa thạch dường như đã được trồng vào hàm một cách cẩn thận khéo léo với những chỗ bị mài mòn để làm cho chúng thành một mẫu vật thống nhất hoàn hảo. Ông gọi ngay cho Oakley và đề nghị ông này cùng xem xét kỹ lại các mẫu vật bằng kính lúp. Oakley cũng nhận thấy những chiếc răng đã được chỉnh sửa một cách cố ý bằng dao cho ăn khớp với “người-vượn Piltdown”.

Sau đó Weiner và Oakley áp dụng những phương pháp phân tích hóa học mới, bao gồm một thử nghiệm bằng một loại fluorine đã được cải tiến, hai ông nhận thấy xương hàm và răng không có cùng độ tuổi với hộp sọ và thậm chí không thể được coi là hóa thạch, mà chỉ là những mảnh xương đã cũ. Một số xương đã được tẩm mầu bằng những chất hóa học và một số khác đã được tô vẽ bằng mầu thông thường để làm cho chúng ăn khớp với nhau và lẫn với mầu đất ở nơi chúng được tìm thấy. Cuối cùng Weiner, Oakley, và nhà nhân chủng học thuộc Đại học Oxford là Wilfrid Le Gros Clark kết luận chắc chắn rằng tập hợp xương hóa thạch Piltdown là đồ giả, và thậm chí đây là một vụ lừa đảo có tính toán, chuẩn bị công phu, kỹ càng.

Ngày 20/11/1953, ba nhà khoa học đó báo cáo những phát hiện của mình trên tạp chí của Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Anh. “Họ giải thích rằng các nhà khoa học của 40 năm trước là nạn nhân của một vụ lừa đảo được chuẩn bị công phu và cẩn thận nhất từ xưa tới nay. Việc làm giả xương hàm dưới đạt trình độ khéo léo đến mức đáng kinh ngạc, và hành vi lừa đảo này dường như hoàn toàn bất lương và không thể giải thích được, và trong lịch sử khám phá cổ sinh học không có vụ nào tương tự”.


Nhưng …

Dù cho Người-vượn Piltdown đã lộ nguyên hình là lừa đảo, hậu quả xấu do nó gây ra không sao có thể có thể nói cho hết được. Có những trường hợp nó dẫn tới những sai lầm không thể sửa chữa được, và những sai lầm này có lợi cho Thuyết tiến hóa, giúp cho Thuyết tiến hóa có một bộ mặt khoa học mà lẽ ra nó không thể có.

Bằng chứng điển hình cho kết luận nói trên là việc Clarence Darrow, luật sư nổi tiếng bênh vực cho bị cáo trong “Phiên tòa Con khỉ Scopes” (Scopes Monkey Trial) ở Mỹ năm 1925, đã dùng “Người-vượn Piltdown” để chứng minh Thuyết tiến hóa là một khoa học, một khoa học có bằng chứng được toàn thế giới thừa nhận, và do đó John Scopes chẳng làm điều gì khác là truyền bá những sự thật của khoa học, và Bộ luật Butler của Tiểu bang Tennessee là vi hiến, vì nó vi phạm quyền tự do học thuật.

Lập luận của Clarence Darrow hoàn toàn đúng, nếu “Người-Piltdown” là sự thật. Nhưng than ôi, “Người-vượn Piltdown” là đồ giả! Chính Darrow cũng là nạn nhân của đồ giả đó.

Thật trớ trêu, nhờ đồ giả đó mà Thuyết tiến hóa đã chiến thắng trong vụ kiện thế kỷ này, như thực tế đã diễn ra, và như báo chí đã tường thuật. Chúng ta sẽ biết rõ điều này trong bài kỳ sau.

VIDEO: 21st November 1953: Piltdown Man exposed as a hoax, undermining studies of human evolution



Quý Khải / Theo: ĐKN
Còn tiếp: Góc tối trong Phiên tòa Con khỉ Scopes (PHẦN 3)

TRÙNG DƯƠNG - LỤC DU


Trùng dương - Lục Du

Chiếu giang đan diệp nhất lâm sương,
Chiết đắc hoàng hoa cánh đoạn trường.
Thương lược thử thì tu thống ẩm,
Tế yêu cung bạn quá Trùng dương.


重陽 - 陸遊

照江丹葉一林霜
折得黃花更斷腸
商略此時須痛飲
細腰宮畔過重陽


Tết Trùng cửu
(Dịch thơ: Lương Trọng Nhàn)

Ánh sông lá đỏ một rừng sương,
Bẻ nhánh hoa vàng thêm đoạn trường.
Tính chuyện này chi, say túy lúy!
Eo thon cung Sở tết Trùng dương.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lục Du 陸遊 (1125-1209) tự Vụ Quan 務観, hiệu Phóng Ông 放翁, người Sơn Âm, Việt Châu (nay thuộc Nhạn Môn đạo, tỉnh Sơn Tây), thời Nam Tống. Ông đã trải các chức quan Tri châu, Tri phủ, Quốc sử biên tu, và là một vị thi nhân ái quốc. Sống vào thời kỳ hai hai triều Tống - Kim đánh nhau, Lục Du trở thành một người rất trăn trở vì mất nước. Khi đó người Nữ Chân (vương triều Kim) đã đánh chiếm xuống phía nam, đất nước chia năm xẻ bảy, dân tình ly tán loạn lạc. Ông đã từng vào đất Nam Trịnh (Tứ Xuyên hiện nay) theo phong trào chống Kim, đã từng mặc giáp cưỡi ngựa vượt qua sông Vị cùng những toán kỵ mã yêu nước, ban đêm đột kích quân Kim nhiều lần. Ông có Kiếm nam từ chuyên tập lưu truyền đến nay.

Nhưng thời tuổi trẻ ông đã bị một bi kịch về chuyện hôn phối. Năm 20 tuổi ông kết hôn với người em cô cậu tên Đường Uyển 唐婉. Mẹ Lục Du không thích Đường Uyển và cũng không tán thành cuộc hôn nhân này, đã cưỡng ép chia cách họ. Mười năm sau hai người gặp lại nhau ở Thẩm Viên, Lục Du viết lên tường một bài từ rất bi phẫn là Thoa đầu phụng 釵頭鳳. Không lâu sau, Đường Uyển chết, Lục Du vẫn còn lưu luyến mãi, viết bài thơ tình nổi tiếng Thẩm viên 沈園 được truyền tụng đến nay.

Nguồn: Thi Viện

VỊ VUA XÁC LẬP NHIỀU KỶ LỤC NHẤT TRONG SỬ VIỆT

Không chỉ là vị hoàng đế gắn với mối duyên kỳ ngộ giữa vua cha Lý Thánh Tông và thân mẫu là Nguyên phi Ỷ Lan, Lý Nhân Tông được biết đến trong lịch sử như là một vị vua nắm giữ nhiều cái nhất trong số các đế vương nước Việt.


Chuyện đầu thai kỳ lạ nhất

Lý Nhân Tông tên thật là Lý Càn Đức, vua là con trưởng của Lý Thánh Tông, mẹ là Nguyên phi Ỷ Lan (Lê Thị Khiết), theo sử sách mô tả là vị vua có hình dáng, dung mạo rất khác người: “Trán cao, mắt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần võ” (Đại Việt sử ký toàn thư); “vua có xương trán nổi lên như mặt trời, ấy là dáng mặt của bậc thiên tử” (Đại Việt sử lược).

Lý Thánh Tông anh minh sáng suốt, trị nước tài ba nhưng về đường con cái, các phi tần trong hậu cung chỉ sinh con gái mà không sinh được người con trai nào cho vua. Sử chép rằng vua đã đi nhiều đình chùa để cầu khấn nhưng không hiệu nghiệm, trong một lần đi lễ, ông đã gặp một cô gái hái dâu có nhan sắc xinh đẹp, trí tuệ thông minh mới đón vào cung ban hiệu là Ỷ Lan, sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Tục truyền rằng vua đi cúng khấn cầu tự chưa thấy hiệu nghiệm mới đi khắp các chùa quán. Xe vua đi đến đâu, con trai con gái đổ xô đến xem không ngớt, duy chỉ có một người con gái hái dâu cứ đứng tựa vào bụi cỏ lan. Vua trông thấy mới đưa vào cung, được vua yêu, phong làm Ỷ Lan phu nhân”.

Ỷ Lan vào cung một thời gian nhưng vẫn chưa có mang, nên cũng thường hay đi lễ chùa cầu tự; Lý Thánh Tông còn sai các quan lại đi khắp nơi cầu trời khấn Phật ban cho vua mụn con trai, một trong số đó là Nội quan (Thái giám) Nguyễn Bông – người mà sau này đã đầu thai thác hóa thành con vua. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho hay: “Bấy giờ vua xuân thu đã nhiều, tuổi 40 mà chưa có con trai nối dõi, sai chi hội hậu nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa, đến sau Ỷ Lan phu nhân có mang, sinh Thái tử Càn Đức, tức là Lý Nhân Tông…

Tiên ông ban con. Hình minh họa. Nguồn: princest.

Được phong làm Thái tử sớm nhất

Thái tử hoặc đầy đủ hơn là Đông cung Thái tử là vị trí dành cho người nối nghiệp, người sẽ trở thành vị vua trong tương lai. Việc sắc phong lập ngôi vị Thái tử của các triều đại chủ yếu dành cho người con cả, nhưng có những trường hợp người được lựa chọn kế vị lại là con thứ của vua, anh em vua hoặc cháu vua; tuy nhiên hầu hết việc sắc lập ngôi vị Thái tử thường được cân nhắc, tính toán, lựa chọn rất kỹ càng và thậm chí còn trải qua một thời gian theo dõi, thử thách.

Đối với Lý Càn Đức (sau là Lý Nhân Tông), đây là người được phong làm thái tử sớm nhất, ông sinh giờ Hợi đêm ngày 25 tháng giêng năm Bính Ngọ (1066), vua cha Lý Thánh Tông rất đỗi vui mừng, ngay sáng hôm sau đã lập làm thái tử, đổi niên hiệu, đại xá thiên hạ. Sử chép: “Bính Ngọ, [Long Chương Thiên Tự] năm thứ 1 [1066], (Tống Trị Bình năm thứ 3). Mùa xuân, tháng giêng, ngày 25, giờ Hợi, hoàng tử Càn Đức sinh. Ngày hôm sau, lập làm hoàng thái tử, đổi niên hiệu, đại xá phong mẹ thái tử là Ỷ Lan phu nhân làm Thần phi” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Sách Đại Việt sử ký tiền biên ghi lời khen của sử thần Ngô Sĩ Liên về việc sắc lập Thái tử sớm như sau: “Thái tử là căn bản của nước, không lập sớm không được. Kinh Xuân thu chép: “Con là Đồng sinh” ý cũng bởi đó. Vua tuổi đã cao, may mà sinh hoàng tử, mừng vui bội phần, vội lập làm hoàng thái tử, đại xá thiên hạ, để yên lòng mong mỏi của muôn dân là phải lắm”.

Xây dựng trường đại học đầu tiên của Việt Nam

Năm 1076 vua Lý Nhân Tông cho xây dựng trường Quốc Tử Giám bên cạnh Văn Miếu, đây được xem là trường đại học đầu tiền của Việt Nam, rất nhiều nhân tài giúp Giang Sơn Xã Tắc giàu mạnh đều xuất thân từ ngôi trường này.

Bái đường Văn Miếu. (Ảnh từ wikipedia.org)

Ở ngôi vua lâu nhất, đặt nhiều niên hiệu nhất

Lý Nhân Tông là vị vua ở ngôi lâu nhất trong lịch sử các vương triều phong kiến Việt Nam, ông lên ngôi tháng giêng năm Nhâm Tý (1072) mới 7 tuổi, làm vua đến tháng 12 năm Đinh Mùi (1127 thì mất, ở ngôi 55 năm.

Trong thời gian trị vì của mình, Lý Nhân Tông đã đặt tổng cộng 8 niên hiệu và là vị vua đặt nhiều niên hiệu nhất. Ý nghĩa và các niên hiệu đó gồm có:
  1. Thái Ninh (1072-1076) nghĩa là thiên hạ được an ninh cực lạc.

  2. Anh Vũ Chiêu Thắng (1076-1084) nghĩa là vũ lực hùng mạnh đem lại chiến thắng rực rỡ.

  3. Quảng Hựu (1085-1092) nghĩa là sự phù hộ lan tỏa rộng khắp.

  4. Hội Phong (1092-1100) nghĩa là sự hội tụ phong phú.

  5. Long Phù (1101-1109) nghĩa là điềm rồng xuất hiện báo hiệu sự phù trợ tốt đẹp.

  6. Hội Tường Ðại Khánh (1110-1119) nghĩa là hội tụ các điều tốt lành lớn.

  7. Thiên Phù Duệ Vũ (1120-1126) nghĩa là Trời phù giúp để có võ công rực rỡ.

  8. Thiên Phù Khánh Thọ (1127) nghĩa là Trời phù hộ của vua được hưởng thọ.
Thông thường các vị vua đặt niên hiệu chỉ gồm 2 chữ, nhưng một số vua thời Lý – Trần đặt niên hiệu dài đến 4 chữ, và Lý Nhân Tông là vị vua có nhiều niên hiệu dài nhất, trong số 8 niên hiệu của ông thì có đến 5 niên hiệu gồm 4 chữ, đó là: Anh Vũ Chiêu Thắng, Long Phù Nguyên Hóa, Hội Tường Đại Khánh, Thiên Phù Duệ Vũ, Thiên Phù Khánh Thọ.

Tượng thờ Lý Nhân Tông ở đền Đô (Từ Sơn, Bắc Ninh). Tranh minh họa – Nguồn: wiki.

Cuộc ra quân Bắc phạt lớn nhất

Nước ta nằm ở phương nam, nơi đất đai màu mỡ trù phú, rừng vàng biển bạc, chim hay thú hiếm, lại có vị trí địa lý thuận lợi trên đường giao lưu từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, từ đất liền ra biển cả. Chính vì vậy đã trở thành nơi nhòm ngó, thèm thuồng của các thế lực ngoại bang đầy tham vọng hết thế kỷ này đến thế kỷ khác, trong đó có các triều đại phong kiến phương bắc. Bởi vậy “cái tiếng phong phú ấy đồn đi xa nên Trung Quốc lúc nào cũng nghĩ cách chiếm đất nước mình, đặt làm quận huyện để cai trị đã từ lâu rồi. Lúc chưa lấy được thì nghĩ cách để lấy, lúc đã lấy được rồi thì không chịu bỏ ra nữa” (Lịch triều hiến chương loại chí).

Từ thế kỷ thứ X nước ta bước vào thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài nhưng luôn bị đe dọa bởi nguy cơ xâm lược từ phương bắc, không chỉ cảnh giác đề phòng mà nhiều lần ông cha chúng ta đã chủ động ra quân Bắc phạt không phải để chiếm đất, giành dân mà để răn đe, làm nhụt tham vọng của giặc và đề cao sức mạnh của mình. Trong các trận ra quân ấy, cuộc Bắc phạt dưới thời Lý Nhân Tông là lớn nhất và nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam.

Cuối năm Ất Mão (1075) thái úy Lý Thường Kiệt thực hiện “tiên phát chế nhân” (ra tay trước để chế ngự người) chỉ huy hơn 10 vạn quân chia làm hai đường thủy bộ ào ạt tiến đánh vào Khâm Châu, Liêm Châu, Ung Châu phá hủy thành trì cùng nhiều kho tàng khí giới, lương thảo, các cơ sở quân sự của nhà Tống rồi rút về, thu được thắng lợi quan trọng về cả chính trị, quân sự. Sách Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ ca ngợi rằng: “Đường đường chính chính đem quân vào nước người, khi đánh không ai địch nổi, khi kéo quân về không ai dám đuổi theo, như trận đánh Ung, Liêm này thật là đệ nhất võ công. Từ đấy nước Tàu không dám coi thường chúng ta, đến những đồ cống, hình thức thư từ không dám hà trách, chỉ sợ lại sinh ra hiềm khích”.

Ra quân Bắc phạt. Hình minh họa – Nguồn: truyentranh.

Ngoài những cái nhất nói trên, Lý Nhân Tông còn nhiều cái nhất khác như: Là vị vua mở khoa thi sớm nhất để tuyển chọn người tài bổ làm quan lại cho bộ máy chính quyền, thay thế lệ tiến cử và sát hạch trước đó. Khoa thi đầu tiên này được tổ chức vào năm Ất Mão (1075) gọi là khoa Tam trường, lấy đỗ những người học rộng, thông hiểu kinh sử vì vậy thế khoa thi đó còn được gọi là khoa Minh kinh bác học.

Ông sinh ngày 25 tháng giêng năm Bính Ngọ (1066), mất ngày 12 tháng 12 năm Đinh Mùi (1127), thọ 61 tuổi, là một trong những vị vua có tuổi thọ cao và là vua thọ nhất trong số các vua triều Lý.

Lý Nhân Tông là vị vua sớm nhất trong lịch sử cho ban chiếu cầu lời nói thẳng, tờ chiếu này được vua công bố vào tháng 4 năm Bính Thìn (1076)…

Có thể nói trong thời gian trị vì của mình, Lý Nhân Tông đã thực hiện nhiều hoạt động tích cực, đưa Đại Việt trở lên cường thịnh, đời sống nhân dân ấm no, xã hội ổn định. Sách Đại Việt sử ký toàn thư khen ngợi Lý Nhân Tông là người “trí tuệ hiếu nhân, nước lớn thì sợ, nước nhỏ thì mến; thần giúp đỡ, người ứng theo, thông âm luật, chế khúc hát, nhân dân giàu đông, mình nên thái bình, là vua giỏi của triều Lý”.

Trong Việt giám thông khảo tổng luận cũng ca ngợi Lý Nhân Tông là người “nhân hiếu, có tiếng đức tốt, trọng kén chọn danh thần, đặt khoa thi Tiến sĩ, có quan hầu Kinh Diên, xuống chiếu mở đường nói, cầu người hiền, nghe lời can, nhẹ thuế khóa, ít lao dịch cho nên tự hưởng cõi thái bình, rất mực nên giàu thịnh, đáng gọi là bậc vua giỏi ở lúc thừa bình vậy”.

Nguồn: DanViet