Monday, October 2, 2017

SOVEREIGN HILL - BALLARAT


Nói đến những mỏ vàng ở tiểu bang Victoria thì người ta nghĩ ngay đến Bendigo và Ballarat, hai nơi này tôi đã đi đến rất nhiều lần nhưng mười mấy năm nay đã không còn quay trở lại. Thời đó chúng tôi hay tự lái xe đi Bendigo, sáng đi chiều về nếu đi luôn xuống Echuca thì nghỉ lại một đêm, hôm sau mới về. Còn đi Ballarat thì tùy hứng, có khi ở lại qua đêm hay về thì đến nhà đã rất khuya. Vậy chớ tôi chưa từng đi đến 2 nơi này bằng xe lửa.

Lúc xem bộ phim "Ký Ức Hỏa Xa" mấy năm trước, có nghe một câu nói rằng đi du lịch bằng xe lửa thời gian có thể dài hơn nhưng mình có thể ngắm được nhiều phong cảnh đẹp hơn. Hôm nay đọc được một bài ký sự của một người Việt sang Úc du lịch ghi lại về mỏ vàng cũ Sovereign Hill nhưng chưa đầy đủ về Ballarat bởi vì tệ lắm trước khi vào thị trấn Ballarat dọc đường cũng phải ghé vào thăm Kryal Castle trước. Tuy vậy cũng tạm cho các bạn nào chưa biết về Ballarat đọc chơi. (LKH)



Đi "đào vàng" ở Ballarat


Trong ánh nắng chói chang sớm mai, chiếc tàu từ ga Southern Cross trung tâm thành phố Melbourne lướt về vùng phía tây tiểu bang Victoria nước Úc. Chúng tôi nằm trong số những hành khách sẽ đỗ lại ga Ballarat để bắt đầu cuộc hành trình "đào vàng"...

Chỉ mất 75 phút, chuyến tàu đã vượt 110km để dừng lại ở nhà ga Ballarat - một di sản kiến trúc được xây dựng từ năm 1862. Ballarat là một đô thị cổ kính với chỉ hơn 80.000 dân hiện ra trầm mặc và yên tĩnh như mặt hồ thu. Khi đến địa danh Sovereign Hill (Đồi Mỏ Vàng) trong thành phố, cứ tưởng như mình vừa đi trên chuyến tàu ngược thời gian trở về quá khứ hơn 150 năm trước.



Nơi thời gian dừng lại

Ở thị trấn Sovereign Hill hôm nay, mọi thứ vẫn nguyên vẹn hệt như chiếc kim đồng hồ đã ngừng lại ở đây từ những năm 1850. Những dãy phố nhà gỗ với kiến trúc của thế kỷ 19 hiện ra trước mắt khiến ta có cảm giác mình như lạc vào thế giới cao bồi miền Viễn Tây của Hollywood. Trên lối đi lên đồi cao, một người đàn ông đội mũ cao bồi thong dong trên lưng ngựa.



Thật thú vị khi thỉnh thoảng lại thấy bên cạnh mình xuất hiện những hình ảnh đặc biệt: những phụ nữ diện váy rộng thùng thình với khăn choàng đầu quí phái, hay cánh đàn ông cưỡi ngựa khoác áo ghilê trông phong độ và mạnh mẽ. Thật ra đây là nhân viên và những tình nguyện viên xuất hiện hằng ngày ở Sovereign Hill với lối ăn mặc trang phục đúng hệt như... thế kỷ 19 để góp phần làm sống động thêm khung cảnh quá khứ ở đây.



Một cỗ xe tứ mã gõ vó chậm rãi dọc theo con đường trung tâm xẻ đôi thị trấn. Hai bên đường san sát những cửa hiệu buôn bán, ngân hàng, bưu điện, khách sạn, nhà thờ, lò bánh mì, quán xá... và cả xưởng in báo chí, yết thị, apphich quảng cáo với công nghệ máy in dập khuôn kẽm thuở thô sơ của ngành in ấn. Nơi đây vẫn còn giữ mẫu in của tờ Thời Báo Ballarat phát hành năm 1854.



Chúng tôi lần theo những thanh âm từ tiếng đàn vĩ cầm và lạc bước vào một quán bar có cô phục vụ mặc tạp dề xinh đẹp đứng sau quầy gỗ mộc mạc rót bia phục vụ tửu khách. Những nghệ sĩ già say sưa chơi đàn nơi cuối quầy. Lại có tiếng nhạc văng vẳng từ rạp hát Victoria cách đó không xa mời mọc...



Nhưng thi vị nhất có lẽ là khu dòng suối đãi vàng nằm ở một lõm dốc. Ở đây có đầy đủ dụng cụ thô sơ như cuốc, xẻng, thau chậu, thùng gỗ... để sẵn dành cho mọi người nhập cuộc mưu cầu thần may mắn sẽ chiếu cố đến mình. Các cô cậu thanh niên, những gia đình có bố mẹ và các trẻ nhỏ đều quên cả nắng nóng ban trưa, hồ hởi lao vào xúc đất sỏi từ hai bên dòng suối đục, hùng hục... đãi vàng làm sôi động một góc đồi. Liệu có vàng ở đây không nhỉ? Xin thưa, làm sao mà có! Đơn giản những người "đãi vàng thời hiện đại" hôm nay chỉ muốn một dịp thật sự hòa mình vào không gian đào vàng nơi đây mà thôi!



Làm du lịch với quá khứ

Với dấu ấn lịch sử văn hóa của mình, Sovereign Hill được xem là một bảo tàng ngoài trời hay "bảo tàng sống" độc nhất vô nhị của nước Úc. Nhà máy xử lý lọc vàng, hệ thống thủy cục đãi vàng và tháp cao đổ đất đá moi lên từ mỏ vàng... tất cả đều được gìn giữ lộ thiên ở thị trấn Sovereign Hill.



Chúng tôi được hướng dẫn viên dẫn một tour đi xem tận mắt mỏ vàng nằm sâu trong lòng đất. Không những trông thấy tận mắt các xe xúc đất chạy trên những thanh ray ngoằn ngoèo trong địa đạo, hệ thống thang máy thô sơ đưa thợ đào vàng lên xuống... du khách thậm chí còn chứng kiến chiếc máy khoan thô sơ khởi động lại rền vang gây bụi mù mịt trong hầm mỏ và cả vàng thô lấp lánh đang bám chặt vào đất đá xù xì.



Dẫu sao thì cuộc đào vàng năm xưa đã khép lại từ năm 1918. Thế nhưng người dân Ballarat quả rất khéo thừa hưởng di sản từ quá khứ để làm du lịch và tiếp tục khai thác một "mỏ vàng" khác: hầu bao của du khách thập phương! Du khách ngày nay muốn đi "đào vàng" tại Sovereign Hill phải trả phí vào cửa không rẻ (35 đôla Úc/vé - thật ra cũng đáng đồng tiền bát gạo cho một cuộc hành trình về quá khứ vốn chỉ còn trong phim mà thôi).



Khi tham quan thị trấn, có rất nhiều thứ để bạn ngắm nhìn và... rờ ví tiền. Tại xưởng in giấy, bạn có thể yêu cầu in cả tên riêng của bạn vào một mẫu poster đường phố ngày xưa nào đó với giá 6 đôla. Bước vào lò nến, lò đúc đồng thiếc xem tận mắt hệ thống máy móc công xưởng nấu nhựa sáp, chế biến khuôn đúc đồng thau ngày xưa ra sao, bạn không khỏi cảm giác thôi thúc muốn sở hữu một vật dụng nho nhỏ từ chính nơi khai sinh ra chúng với giá cả phải chăng.



Ví dụ các thỏi nến ngũ sắc có giá chỉ 50 xu hay chiếc đĩa đồng bóng loáng có khắc hình chú chuột túi biểu tượng nước Úc với giá chỉ 4 đôla... Và nơi thị trấn còn có cả một studio chụp hình đầy không khí hoài niệm với những bức ảnh thời xưa ố vàng, cái chuông đồng trên bàn tiếp tân để khách rung lên gọi chủ tiệm ra tiếp, đặc biệt là chiếc máy ảnh cơ "cổ lỗ sĩ” (khi chụp phải trùm khăn đen kín mít), song vẫn làm dịch vụ chụp ảnh cưới ngon lành cho các đôi uyên ương đến đây hôm nay!



Những ai có thời gian dư dả hơn một ngày còn có thể đặt chỗ (với giá gấp đôi vé vào cửa) nghỉ qua đêm tại khu du lịch này để xem được show diễn hiệu ứng ánh sáng và khói lửa tái hiện cuộc chiến dữ dội trên cánh đồng vàng Ballarat năm 1854. Nếu không, một ngày "đào vàng" sẽ khép lại bằng việc đến thăm Gold Museum sát bên cạnh thị trấn Sovereign Hill.

"Quí như vàng" ở đây là bộ sưu tập kỳ công những đồng tiền vàng từ nhiều quốc gia trên thế giới, phản ánh đa dạng những góc nhìn lịch sử của mỗi quốc gia đó. "Quí như vàng" ở đây còn có thể là bàn tay tài hoa và sức sáng tạo kỳ vĩ của con người khi gọt giũa những thỏi vàng thô tạp nham xấu xí từ lòng đất trở thành biết bao kiểu dáng đồ trang sức tinh xảo phục vụ nhu cầu thiện mỹ của con người.



Chiều muộn, những tưởng chúng tôi phải cuốc bộ trở lại nhà ga Ballarat cách vài cây số. Thật may, một chiếc xe buýt tuyến khác trờ tới, bác tài tốt bụng đã nhiệt tình cho cả nhóm lên xe quá giang một đoạn. Sự nhiệt tình của người Ballarat đã tạo nên ấn tượng đẹp trong lòng khách phương xa. Mới hay trong cuộc sống này, vàng tuy quí thật đấy, song tấm lòng vàng đắt giá hơn.


TRUNG NGHĨA

VÉN MÀN BÍ ẨN QUYỀN PHÁP TRỨ DANH "BÁT QUÁI CHƯỞNG"

Ai mê phim võ thuật không thể không biết đến cái tên Lý Tiểu Long, dù đã mất đi mấy chục năm rồi nhưng tên tuổi vẫn còn được nhắc nhở. Nói đến Lý Tiểu Long thì người ta phải nhớ ngay đến người sư phu Diệp Vấn, người thầy dạy võ nghệ mà ai cũng tôn là "Nhất đại tôn sư"


Trong mấy năm gần đây, câu chuyện đời của ông Diệp Vấn được dựng thành rất nhiều phim, mấy bộ phim truyền hình của HK, TQ, mấy bộ phim điện ảnh nhưng gần đây nhất và hay nhất được đưa tham dự Oscar cho phim nước ngoài là phim "Nhất Đại Tôn Sư" (The Grandmaster 2013). Cuốn phim dựng lên với những màn biễu diễn võ thuật tuyện vời lồng vào đó một chuyện tình thật đẹp lãng mạn giữa Diệp Vấn và Cung Nhị (không biết có thật trong đời Diệp Vấn hay không?).
Vai diễn Cung Nhị do Chương Tử Di đóng, đẹp lạnh lùng võ nghệ cao cường và có cảm tình với Diệp Vấn. Cung Nhị là truyền nhân của Bát Quái Chưởng. Trong võ thuật TQ người ta biết nhiều nghe nói nhiều về Thiếu Lâm, Võ Đang, Nga Mi nhưng chắc ít nghe tới Bát Quái Chưởng. Hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu về môn phái này để biết không nhiều thì ít về chưởng pháp này.(LKH)

VÉN MÀN BÍ ẨN QUYỀN PHÁP TRỨ DANH "BÁT QUÁI CHƯỞNG"
Bát quái chưởng (八卦掌) là một trong 7 quyền pháp vang danh ngàn đời trong giới võ thuật Trung Quốc, được sử sách nhắc đến với sự tôn trọng bậc nhất.
Bát quái chưởng cùng với Tượng hình quyền, Nam quyền, Trường quyền, Thiếu Lâm quyền, Võ Đang quyền, Nga Mi quyền là 7 quyền pháp vang danh trong giới võ lâm Trung Hoa từ cổ chí kim. 7 quyền pháp trứ danh này được sử sách, văn học cũng như điện ảnh Hoa ngữ nhắc đến nhiều với sự tôn trọng bậc nhất. Đã có nhiều tác phẩm văn học cũng như điện ảnh võ thuật đề cập đến Bát quái chưởng.


Về nguồn gốc Bát quái chưởng, do lịch sử lâu đời của nền võ học Trung Hoa nên truyền thuyết cũng khác nhau mà không được ghi chép trên bất cứ một văn tự nào. Có thuyết cho là do đạo nhân Bích Vân, Thanh Vân ở dải núi Nga Mi tại Tứ Xuyên truyền lại. Lại có thuyết cho là tiền thân của Bát quái chưởng là “Âm dương Bát quái chưởng” từng lưu truyền một dải Giang Nam. Có nhà nghiên cứu lại suy đoán từ “Lam Di ngoại sử - Tĩnh Biên ký”, có ghi: “Gia Khánh Đinh Tỵ (năm 1797 đời vua Thanh Nhân Tôn tức Ái Tân Giác La, làm vua từ 1796-1821) có người tên Vương Tường Giáo ở huyện Tế Ninh, tỉnh Sơn Đông miền Hoa Bắc dạy quyền pháp mà quyền đó là tiền thân của Bát quái chưởng”.
Theo khảo chứng là vào nửa cuối đời Thanh, danh quyền Đổng Hải Xuyên - một hoạn quan thời vua Gia Khánh ở thành Văn An, tỉnh Hà Bắc là người sáng tác ra Bát quái chưởng. Đời Thanh Hàm Phong (tức Thanh Thế Tôn 1851-1862) với máu giang hồ nghĩa hiệp, ông hành tẩu phương Nam, lê gót suốt một dải Giang Tô, An Huy, Tứ Xuyên… Có thời điểm tránh loạn lạc, ông ẩn vào núi, gặp đạo sĩ truyền dạy thuật khải thị (luyện về tầm hiểu biết siêu nhiên, nhìn trước được sự vật và dùng ngôn từ, động tác hàm súc để báo trước cho mọi người biết). Từ những thuật cao siêu của Đạo giáo đã lĩnh hội, khi xuống núi ông kết hợp với quyền thuật đã được tập luyện dần sáng tác ra Bát quái chưởng.
Năm Đồng Trị thứ 4 (đời Thanh Mục Tôn Tải Thuần, làm vua từ 1862-1875) Đổng Hải Xuyên đến kinh sư, ban đầu sung vào làm hoạn quan trong cung nhà Thanh, khi làm việc thường lộ bản chất nghĩa khí, anh hùng mã thượng, không nhận hối lộ nên những người cùng làm hay gièm pha, ông xin đổi sang phủ Thân vương Lục Túc (phủ Túc Vương) nhận chức thủ lĩnh vệ quân trông coi phủ, quan hàm Thất phẩm. Sau một năm, ông thu nhận học trò dạy võ Bát quái chưởng.


Hệ thống quyền này cực giống thuật đạo dẫn chạy quanh vòng tròn “chuyển Thiên tôn” của Đạo giáo của quyền thuật Võ Đang với phương pháp công, phòng trong võ thuật dung hợp thành hình thức vận động cơ bản, chọn dùng “Dịch lý” để luận thuật về quy luật vận động của quyền thuật, hình thành nên lý luận cơ bản của Bát quái chưởng là: “Lấy động làm gốc, lấy biến làm phép (đánh)”. Khoảng năm 1866, Đổng Hải Xuyên lúc đó là môn khách phủ Túc Vương ở Bắc Kinh truyền dạy Bát quái chưởng thì môn này nhanh chóng phát triển khắp Bắc Kinh, Thiên Tân, Hà Bắc rồi dần truyền bá đi khắp nơi.
Bát quái chưởng là quyền thuật lấy các chiêu thuật công, phòng và phương pháp dẫn đạo dung hợp với cách bước chuyển theo đường tròn. Những người tập chủ yếu lấy bước vòng tròn xoay chưởng giống đường nối liền tám phương vị trong bát quái.
Bát quái chưởng còn gọi là Bát quái chuyển chưởng, Du thân Bát quái chưởng, Âm dương Bát quái chưởng hay Bát quái liên hoàn chưởng… Bát quái chưởng chú trọng ngang dọc cắt nhau, tuỳ bước, tuỳ biến. Lối đánh dựa trên sự gặp thời cơ thì ứng biến, lấy biến ứng với biến, hợp với “Cứng mềm mài nhau, bát quái vẫy động” trong Chu Dịch, tức là luôn vận động không ngơi, biến hoá không ngừng.
Bát quái chưởng có đơn luyện, đối luyện và tán đả lôi đài (giao đấu). Căn cứ trên quyền phổ thì hệ quyền của Bát quái chưởng thường có 18 đường La Hán thủ, 72 ám cước (đòn đá ngầm), 72 tiệt thoái (chặt chân). Hệ khí giới của Bát quái chưởng có Tý Ngọ uyên ương việt (Búa uyên ương Tý Ngọ), Kê trảo âm dương nhuệ (Vuốt chân gà âm dương), Phong hoả luân (Bánh xe gió lửa), Phán quan bút… là các loại binh khí đôi dạng ngắn, nhỏ. Ngoài ra còn có gậy Thất tinh trong có đổ thuỷ ngân (để cho nặng và biến hoá linh hoạt) và các khí giới lớn, nặng như Bát quái đao, Bát quái thương và Bát quái kiếm.
Đặc điểm vận động của Bát quái chưởng là thân nhanh, bước linh, tuỳ bước tuỳ biến, khi giao đấu với đối thủ thì thân hình nhô, hụp, vặn, xoay mau lẹ, đa biến. Quyền phổ ghi: “ Hình như rồng lượn, hình như vượn giữ, ngồi như hổ ngồi, liệng như ưng liệng”. Đường di chuyển của dấu chân bước xoay chia ra chạy theo hình cá âm dương, chạy theo hình vẽ Bát quái (có 2 kiểu hình vẽ Bát quái là Tiên thiên Bát quái của Phục Hy và Hậu thiên Bát quái của Chu Văn Vương).


Thân hình yêu cầu thẳng cổ, đứng hông hạ mông, lỏng vai xuôi khuỷu, giữ nguyên bụng, thoải mái ngực, co háng, nâng bụng dưới. Yêu cầu bộ pháp lên xuống vững vàng, khép mở rõ ràng, thực hư rành rọt. Khi bước tròn, chân trong tiến thẳng, chân ngoài khép vào trong, hai đầu gối ôm nhau không được mở hạ bộ. Thân pháp coi trọng vặn, xoay, chuyển, lật tròn vòng không ngắc ngứ, di chuyển và triển khai quyền pháp phải như nước chảy, mây trôi.
Về hình tay thì có long trảo chưởng (chưởng móng rồng), ngưu thiệt chưởng (chưởng lưỡi trâu)… Thủ pháp chủ yếu bao gồm: Đẩy, nâng, kéo, dẫn, dời, ngăn, cắt, khép, bắt, tóm, móc, đánh, gói, đóng, né… tổng cộng mười sáu phép. Mỗi chưởng phát ra phải lấy hông làm trục xoay, toàn thân là một thể, nội ngoại hợp nhau. Ngoài chú trọng: Tay, mắt, chân, bộ pháp, trong tu dưỡng: Tâm, thần, ý, khí, lực.
Luyện tập Bát quái chưởng chia ra 3 bước công phu: Định giá tử (giàn giá của quyền chưởng), Hoạt giá tử (sử dụng linh hoạt giàn giá) và Biến (hoá) giá tử.
Định giá tử là công phu cơ bản, yêu cầu một chiêu, một thức phải đều đặn, quy củ, cốt sao tư thế chính xác, bước đi vững vàng, chậm rãi, làm cho được “9 yêu cầu nhập môn”, bao gồm:
1. Tạ (xệ, hông).
2. Khấu (khép; hóp ngực lại).
3. Đế (nâng lên; nâng huyệt Vĩ lư, nâng trong Cốc đạo: Vĩ lư là huyệt nằm dưới thắt lưng, trên xương cùng, nơi tập trung nội lực; Cốc đạo là đường tiêu hoá kể từ hậu môn trở lên).
4. Đỉnh (đẩy lên; đẩy đầu lên chỏm, đẩy lưỡi lên vòm họng, đẩy tay ra trước).
5. Khoả (quấn tròn; quấn tay).
6. Tùng (thả lỏng; lỏng vai, trầm khí xuống).
7. Thuỳ (xuôi; xuôi khuỷu tay).
8. Xúc (co; co cơ khớp háng, co trong bả vai).
9. Khởi toản lạc phan (lên dùi xuống lật); nghiêm cấm ưỡn ngực phưỡn bụng, nổi giận, thô lỗ vụng về.


Còn lại, Hoạt giá tử chủ yếu luyện tập động tác phối hợp hợp điệu khiến các yếu lĩnh cơ bản trong khi chuyển chạy biến hoá phải vận dụng thành thạo. Biến giá tử yêu cầu nội ngoại phải thống nhất, ý dẫn thân theo, biến đổi tự nhiên, làm sao để nhẹ như lông ngỗng, biến như điện chớp, vững như bàn thạch.
Nội dung cơ bản của Bát quái chưởng là Bát mẫu chưởng (Tám chưởng mẹ) hay còn gọi là Lão bát chưởng (Tám chưởng già) nhưng các nơi lưu truyền không giống nhau. Cụ thể là lấy tám hình làm đại biểu là sư (sư tử), lộc (hươu), xà (rắn), dao (diều hâu), long (rồng), phượng, hầu (khỉ), hùng (gấu), ngoài ra cũng dùng Song chàng chưởng (Chưởng đâm cả hai tay), Du long chưởng (Chưởng lắc thân), Xuyên chưởng (Chưởng xuyên), Khiêu chưởng (Chưởng khều)… là nội dung cơ bản của tám chưởng. Tuy vậy mỗi chưởng pháp trên lại diễn hoá ra rất nhiều chưởng pháp, theo kiểu một chưởng lại sinh ra tám chưởng, thành tám lần tám sáu mươi tư chưởng.
Minh Ngọc (tổng hợp)

HAI ANH EM: TÔ ĐÔNG PHA VÀ TÔ TIỂU MUỘI - ĐOÀN VIẾT LUÂN VÀ ĐOÀN THỊ ĐIỂM

Văn học sử Trung Quốc có hai anh em là Tô Đông Pha và Tô Tiểu Muội.
Văn học sử Việt Nam cũng có hai anh em Đoàn Viết Luân (*) và Đoàn Thị Điểm.


Xin kính nời Quý Vị nghe hai câu chuyện thú vị của Hai Anh Em như sau:
Văn học sử Trung Quốc có Đường Tống Bát Đại Gia,( tức là 8 người giỏi văn nhất đời Đường và Tống ), thì cha con nhà họ TÔ đã chiếm hết 3 ghế rồi, đó là : Tô Lão Tuyền,(cha), Tô Triệt (em), và Tô Thức (anh), tự là Đông Pha, nên người ta thường gọi là Tô Đông Pha. Tô Đông Pha còn một người em gái nữa tên là Tô Tiểu Muội. Tương truyền Tô Tiểu Muội trán vồ, mặt dài, xấu gái lắm. Nhưng văn tài lại rất giỏi, vì thế anh em thường xướng họa nhau. Tô Đông Pha làm thơ diễu em gái như sau :
Vị xuất đình trung tam ngũ bộ, 未 出 亭 中 三 五 步
Ngạch đầu tiên đáo họa đường tiền. 额 头 先 到 画 堂 前
Có nghĩa :Chưa ra khỏi phòng năm ba bước, thì cái trán vồ đã nhô đến phòng khách rồi. và để diễu ông anh mặt dài, Tiểu Muội lại làm 2 câu như sau :
Khứ niên nhất trích tương tư lệ, 去 年 一 滴 相 思 泪
Chí kim lưu bất đáo tai biên. 至 今 流 不 到 腮 边
Có nghĩa : Một giọt nước mắt khóc tương tư hồi năm ngoái, đến nay còn chưa chảy tới dưới càm.
Ông anh cũng đâu có chịu thua, Tiểu Muội hai hố mắt hơi sâu, nên Tô Đông Pha lại diễu em gái bằng hai câu sau :
Kỷ hồi thức lệ thâm nan đáo 幾 回 拭 泪 深 难 到
Lưu đắc uông uông lưỡng đạo tuyền 留 得 汪 汪 两 道 泉
Có nghĩa :
Mấy lần lau nước mắt mà sâu quá lau không tới, để còn xót lại hai đường nước đầm đìa như hai dòng suối. Ông anh nầy quả độc thiệt. Nhưng, Tô Tiểu Muội cũng đâu có vừa .
Vì Tô Đông Pha râu rậm bó hàm, nên Tô Tiểu Muội nhạo lạirằng :
Khẩu giốc kỷ hồi vô mịch xứ, 口 角 几 回 无 觅 处
Hốt văn mao lý hữu thanh truyền 忽 闻 毛 里 有 声 传
Có nghĩa : Tìm mãi mà vẫn chẳng thấy miệng mồm ở đâu cả, bỗng dưng nghe trong đám lông có tiếng nói vọng ra. Anh em giởn chơi với nhau như thế đấy !


Còn Văn học sử Việt Nam thì....
Bà Đoàn Thị Điểm diễn nôm tập thơ Chinh Phụ Ngâm Khúc, hay như thế nào, ai cũng biết cả rồi. Bà có một ông anh tên là Đoàn Viết Luân cũng rất giỏi thơ văn. Khi lên 6 tuổi, một hôm, bà Đoàn Thị Điểm đang học Sử Ký Trung Hoa, thì ông anh đến lấy một câu trong Sử Ký ra câu đối như thế nầy :
Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhi trảm chi.
白 蛇 当 道, 贵 拔 剑 而 斩 之
Bà Điểm liền lấy một câu cũng trong Sử Ký đối lạirằng :
Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng Thiên nhi thán viết.
黄 龍 負 舟,禹 仰 天 而 叹 曰
Có nghĩa là:
• Rắn trắng giữa đường, Ông Quý (Lưu Bang Hán Cao Tổ) tuốt gươm mà chém Đó .
• Rồng vàng đội thuyền, Ông Vũ (Hạ Vũ Vua Nhà HẠ) ngửa mặt lên Trời mà than Rằng
Cái hay của đôi câu đối nầy là đều lấy trong Sử Ký và đều kết thúc bằng một Hư Tự : Chữ CHI ở đây là Phiếm chỉ Đại từ , còn chữ VIẾT là một Trợ Từ.
Có lần, ông Đoàn Viết Luân từ ngoài đi vào nhà, thấy em gái đang ngồi bên rổ kim chỉ, liền đọc:
Huynh lai đường thượng tầm song nguyệt. 兄来堂上尋双月
Có nghĩa là :
Anh lên nhà trên tìm 2 mặt trăng .
Song nguyệt là 2 mặt trăng, mà theo chữ Hán, 2 chữ Nguyệt 月ghép lại là chữ Bằng 朋 là Bè bạn, bằng hữu, nên câu trên còn có nghĩa là: Anh lên nhà trên tìm BẠN, chứ không phải 2 mặt trăng.
Bà Điểm liền đối lại rằng :
Muội đáo song tiền tróc bán phong. 妹到窗前捉半風
Có nghĩa là :
Em đến trước cửa sổ bắt nửa làn gió .
Bán phong là nửa làn gió, mà cũng có nghĩa là phân nửa ở bên phải của chữ Phong 風 tức là chữ Sắt 虱 nghĩa là con rận. Nên câu đối trên có nghĩa là : Em đến trước cửa sổ để bắt rận.
Khi hay tin chị dâu sanh được con gái đầu lòng trong đêm rộn rịp vui mừng, Bà Điểm đã đùa với anh rằng:
Bán dạ sinh hài, Hợi Tý nhị thời vị định.
半 夜 生 孩,亥 子 二 時 未 定 .
Có nghĩa là :
Nửa đêm sanh con, Hợi Tý 2 giờ chưa định, ý muốn nói không biết là giờ Tý hay giờ Hợi.
Đoàn Viết Luân liền đối lại:
Lưỡng tình tương phối, Kỷ Dậu song hợp nãi thành.
两 情 相 配,己 酉 双 合 乃 成 .
Có nghĩa là :
Hai tình phối hợp nhau, Kỷ Dậu 2 bên hợp lại mà thành .
Với lối chơi chữ, 2 chữ Hợi và Tý ghép lại thành chữ Hài; chữ Kỷ và chữ Dậu ghép lại thành chữ Phối. Ta còn gọi đây là lối đối chiết tự.
Một hôm, cơm chiều và tắm rửa xong xuôi, bà đang xăm xoi trước gương thì ông anh đến, thấy cô em gái ngồi trước gương, ông anh bèn tức cảnh buộc miệng đọc ra 1 vế đối như sau :
Đối kính họa mi, nhất điểm khuyên thành lưỡng điểm
對 镜 画 眉,一 点 圈 成 两 点 。
Có nghĩa : Ngồi trước gương mà kẽ chơn mày, thì chấm 1 chấm sẽ thành 2 chấm.


Xin nói thêm về câu đối nầy, có người viết chữ KHUYÊN thành chữ PHIÊN 翻 là Lật, lật( thuyền ), lật( trang nầy qua trang khác ). Phiên dịch : là chuyển từ ngôn ngữ nầy qua ngôn ngữ khác.... Ý nghĩa không được chính xác bằng từ KHUYÊN 圈 là Vẽ vòng. Thành ngữ về trang điểm của các bà các cô có câu :
KHUYÊN KHUYÊN ĐIỂM ĐIỂM 圈圈點點. Nghĩa đen là : khoanh khoanh chấm chấm, nghĩa bóng là động tác chấm phá trên khuôn mặt khi trang điểm. Nên thiết nghĩ :Chữ KHUYÊN đúng hơn chữ PHIÊN là vậy !
Vì bà tên là Điểm( chấm ), nên cũng có nghĩa là ngồi trước gương thì 1 cô Điểm thành ra 2 cô Điểm.
Câu đối khá hóc búa, nên bà không đối được ngay lúc đó, buồn lòng bà thả bộ ra bờ ao sen, thì thấy ông anh cũng đang đứng đó ngắm trăng. Xúc cảnh sinh tình, bà ứng khẩu đối ngay câu đối của ông anh như sau :
Lâm trì ngoạn nguyệt, độc luân chuyển tác song luân.
臨 池 玩 月,独 轮 转 作 双 轮 。
Có nghĩa : Đứng bên bờ ao ngắm trăng, thì 1 vầng trăng đơn độc sẽ thành ra 2 vầng trăng.
Chữ LUÂN là Mạo từ( Article ), nhất luân 一 轮, là một vầng, Độc luân : là một vầng trăng đơn độc. mà cũng là tên của ông anh quý hóa của bà. Đứng ở bờ ao ngắm trăng thì một anh Luân sẽ thành 2 anh Luân, một anh trên bờ, 1 anh là cái bóng dưới ao. Thật xuất sắc !
Về vế đối nầy, cũng có bản ghi là :
Lâm trì ngoạn nguyệt, CHÍCH luân chuyển tác song luân.
Nhưng xét chữ CHÍCH 隻 : nghĩa là Chiếc : Nhất chích thuyền一隻船 : là Một Chiếc thuyền. CHÍCH nghĩa là CON , vd : Nhất chích điểu 一隻鳥 : là Một Con chim, Nên CHÍCH cũng là Mạo từ ( Article ). Nếu là Hình Dung Từ thì CHÍCH có nghĩa là đơn lẻ, nhưng lại thường được dùng trong câu hơn là dùng để bổ nghĩa cho một từ đơn lẻ. Vd :Cô thân CHÍCH ảnh 孤身隻影 : là Cô thân CHIẾC bóng.


Lại xét chữ LUÂN 輪 cũng mang hai Từ loại khác nhau : Danh từ, Luân có nghĩa là cái Bánh xe. Nếu là Mạo từ thì Nhất Luân Nguyệt là Một Vầng Trăng. Vì vậy, mà lấy chữ CHÍCH để bổ nghĩa cho chữ LUÂN , cùng là Mạo từ với nhau cả, nên xét thấy không được ổn, vì LUÂN ở đây là Mạo từ chớ không phải là Danh Từ ( Bánh xe ). Danh từ ở trong câu đối nầy là NGUYỆT ( Mặt trăng ). Hơn nữa ĐỘC mà chuyển thành SONG nghe vẫn xuôi tai hơn là CHÍCH với SONG. Đây chỉ là ý kiến cá nhân của tôi, tôi chọn bản nào thấy hợp lý thì theo mà thôi!.
Hai anh em Tô Đông Pha thì người anh giỏi và nổi tiếng hơn người em gái.
Hai anh em bà Đoàn Thị Điểm thì bà là người có thành tích văn học và nổi tiếng hơn ông anh.
* Có bản ghi là Đoàn Doãn Luân, có thể do tự dạng của 2 chữ DOÃN 尹 và VIẾT 曰 hơi giống nhau, nếu là chữ viết tay, các nét của chữ DOÃN ngắn lạisẽ thành chữ VIẾT, và ngược lại , các nét của chữ VIẾT viết đôi ra sẽ dễ đọc nhằm thành chữ DOÃN. Nên có bản chỉ để tên ông là ĐOÀN LUÂN, chớ không có VIẾT,DOÃN gì cả !
Đỗ Chiêu Đức
(Sưu tầm trên mạng)

Ý NGHĨA TẾT TRUNG THU

Tết Trung Thu (Trung thu tiết): theo Âm lịch là ngày Rằm tháng 8 hằng năm. Tại Việt Nam, đây đã trở thành ngày tết của trẻ em, còn được gọi là Tết trông Trăng hay Tết Thiếu nhi, Tết Nhi đồng.


Sách xưa chép rằng, nhân một đêm rằm tháng tám, khi cùng các quan ngắm trăng, vua Đường ao-ước được lên thăm cung trăng một lần cho biết. Pháp-sư Diệu Pháp Thiên tâu xin làm phép đưa vua lên cung trăng. Lên tới cung trăng, Minh Hoàng được chúa tiên tiếp rước, bày tiệc đãi đằng và cho hàng trăm tiên nữ xinh tươi mặc áo lụa mỏng nhiều màu sắc rực rỡ, tay cầm tấm lụa trắng tung múa trên sân, vừa múa vừa hát, gọi là khúc Nghê-Thường vũ y.

Vua Đường thích quá; nhờ có khiếu thẩm âm nên vừa trầm trồ khen ngợi vừa lẩm nhẩm học thuộc lòng bài hát và điệu múa mong đem về hoàng cung bày cho các cung nữ trình diễn. Cuối năm đó, quan Tiết Độ Sứ cai trị xứ Tây Lương mang về triều tiến dâng một đoàn vũ nữ với điệu múa Bà-la-môn. Vua thấy điệu múa có nhiều chỗ giống Nghê-Thường vũ y, liền chỉnh đốn hai bài hát và hai điệu làm thành Nghê-Thường vũ y khúc. Về sau các quan cũng bắt chước vua mang điệu múa hát về các phiên trấn xa xôi nơi họ cai trị rồi dần dần phổ biến khắp dân gian. Tục ngắm trăng, xem ca múa sau biến thành thú vui chơi đêm rằm Trung Thu .




Về sau tết Trung Thu lan rộng sang các nước láng giềng và thuộc địa của Trung Hoa. Sách sử Việt không nói rõ dân ta bắt đầu chơi Tết Trung Thu từ bao giờ, chỉ biết hàng mấy trăm năm trước, tổ tiên ta đã theo tục này. Ngay từ đầu tháng tám âm lịch, chợ búa bắt đầu có màu sắc Trung Thu. Lồng đèn, bánh nướng, bánh dẻo đã được bày bán la liệt trong các cửa hiệu rực rỡ ánh đèn. Người mua lẫn người đi xem đông chen như hội.

Ngoài các loại đèn giấy, bánh kẹo còn có các con giống đầu lân, mặt ông địa bày bán đầy các chợ. Những nhà giàu còn bày cỗ Trung Thu để khoe tài nấu nướng của các cô con gái tới tuổi lấy chồng. Ở Việt Nam, ngày tết Trung Thu được ông Phan Kế Bính diễn tả trong “VN Phong tục”: “ban ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng Nguyệt. Ðầu cỗ là bánh mặt trăng, và dùng nhiều thứ bánh trái hoa quả, nhuộm các màu các sắc, sặc sỡ xanh, đỏ, trắng, vàng. Con gái hàng phố thi nhau tài khéo, gọt đu đủ thành các thứ hoa nọ hoa kia, nặn bột làm con tôm con cá coi cũng đẹp”.



Trẻ em Việt Nam rất mong đợi được đón tết này vì thường được người lớn tặng đồ chơi, thường là đèn ông sao, mặt nạ, đèn kéo quân, súng phun nước… rồi bánh nướng, bánh dẻo. Vào ngày tết này, người ta tổ chức bày cỗ, trông trăng. Thời điểm trăng lên cao, trẻ em sẽ vừa múa hát vừa ngắm trăng phá cỗ. Ở một số nơi người ta còn tổ chức múa lân, múa sư tử, múa rồng để các em vui chơi thoả thích.

Nguồn gốc


Tết Trung Thu có nguồn gốc văn minh lúa nước có khởi nguồn từ đồng bằng sông Hồng. Thời điểm này khí trời mát mẻ, mùa màng đang chờ thu hoạch. Nông dân nghỉ ngơi và vui chơi sau một vụ mùa. Sau này người Hoa tiếp nhận từ văn hóa Việt và tiếp đó phổ biến thành ngày lễ truyền thống của dân tộc Đông Á như Hàn Quốc, Nhật Bản.



Sau này khi chiếm Trung Nguyên và Nam Dương Tử nhà Hán cũng du nhập luôn những nét văn minh gốc nông nghiệp của người Việt bởi vốn dĩ văn minh Hán là văn minh du mục và trồng khô. Theo phong tục người Việt, vào dịp Tết Trung Thu, cha mẹ bày cỗ cho các con để mừng trung thu, mua và làm đủ thứ lồng đèn thắp bằng nến để treo trong nhà và để các con rước đèn. Cỗ mừng trung thu gồm bánh Trung Thu, kẹo, mía, bưởi và các thứ hoa quả khác nữa. Đây là dịp để cha mẹ tùy theo khả năng kinh tế gia đình thể hiện tình thương yêu con cái một cách cụ thể. Vì thế, tình yêu gia đình lại càng khắng khít thêm.


Hoạt động chính


Cũng trong dịp này người ta mua bánh trung thu, trà, rượu để cúng tổ tiên vào buổi tối khi Trăng Rằm vừa mới lên cao. Đồng thời trong ngày này, mọi người thường biếu cho ông bà, cha mẹ, thầy cô, bạn bè, họ hàng và các ân nhân khác Bánh Trung Thu, hoa quả, trà và rượu. Người Trung Hoa thường tổ chức múa rồng vào dịp Trung Thu, còn người Việt múa sư tử hay múa lân. Con Lân tượng trưng cho sự may mắn, thịnh vượng và là điềm lành cho mọi nhà… Thời xưa, người Việt còn tổ chức hát Trống Quân trong dịp Tết Trung Thu. Điệu hát trống quân theo nhịp ba “thình, thùng, thình”.



Ngắm trăng

Ngoài ý nghĩa vui chơi cho trẻ em và người lớn, Tết Trung Thu còn là dịp để người ta ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị.

Muốn ăn lúa tháng Năm, trông trăng rằm tháng Tám.
Tỏ trăng Mười Bốn được tằm, đục trăng hôm Rằm thì được lúa chiêm.



Làm đồ chơi Trung Thu

Mặt nạ và đèn ông sao là hai loại đồ chơi phổ biến nhất trong dịp lễ tết Trung thu. Trước đây ở miền Bắc, khi còn trong thời kỳ bao cấp (1976 – 1986), các đồ chơi cho trẻ em vào dịp tết Trung thu rất hiếm, phần lớn các gia đình thường tự làm lấy đồ chơi như trống bỏi, đèn ông sư, đèn ông sao, đèn kéo quân, mặt nạ, tò he, chong chóng… cho trẻ em trong gia đình. Các loại mặt nạ thường được làm bằng bìa hoặc bằng giấy bồi, với các hình phổ biến về các nhân vật trẻ em yêu thích bấy giờ như : đầu sư tử, ông Địa, Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới, Bạch Cốt Tinh… Ngày nay, phần lớn đồ chơi ở Việt Nam có xuất xứ từ Trung Quốc, các loại mặt nạ được làm bằng nhựa mỏng, không đẹp bằng mặt nạ thời trước.



Rước đèn

Tại một số vùng nông thôn, những nơi mà quan hệ hàng xóm láng giềng vẫn còn được bảo tồn và trân trọng, người ta thường tổ chức cho trẻ em cùng nhau rước đèn đi khắp thôn, xóm, khu phố trong đêm trung thu. Lễ hội rước đèn có thể được phát động bởi chính quyền địa phương hoặc những nhóm thanh niên trong làng xóm. Họ phân công nhau làm những lồng đèn ông sao thật lớn hoặc những lồng đèn thật đẹp để thi thố với nhau trong lễ rước đèn. Tại Phan Thiết (Bình Thuận), người ta tổ chức rước đèn quy mô lớn với hàng ngàn học sinh tiểu học và trung học cơ sở đi khắp các đường phố. Đây là lễ hội rước đèn trung thu được xác lập kỷ lục lớn nhất Việt Nam.



Múa lân

Múa lân (ở miền Bắc thường gọi là múa sư tử mặc dù sư tử thì không có sừng) thường được tổ chức vào trước tết Trung Thu nhưng nhộn nhịp nhất là hai đêm 14 và 15.



Bày cỗ


Mâm cỗ Trung Thu thông thường có trọng tâm là con chó được làm bằng tép bưởi, được gắn 2 hạt đậu đen làm mắt. Xung quanh có bày thêm hoa quả và những loại bánh nướng, bánh dẻo thập cẩm hoặc là loại bánh chay có hình lợn mẹ với đàn lợn con béo múp míp, hoặc hình cá chép là những hình phổ biến. Hạt bưởi thường được bóc vỏ và được xiên vào những dây thép, phơi khô từ 2-3 tuần trước khi đến hôm rằm, và đến đêm Trung Thu, những sợi dây bằng hạt bưởi được đem ra đốt sáng.

Những loại quả, thức ăn đặc trưng của dịp này là chuối và cốm, quả thị, hồng đỏ và hồng ngâm màu xanh, vài quả na dai…và bưởi là thứ quả không thể thiếu được. Đến khi trăng lên tới đỉnh đầu chính là giây phút phá cỗ, mọi người sẽ cùng thưởng thức hương vị của Tết Trung Thu. Phong tục trông trăng cũng liên quan đến sự tích Chú Cuội trên cung trăng, do một hôm Cuội đi vắng, cây đa quý bị bật gốc bay lên trời, chú Cuội bèn bám vào rễ cây níu kéo lại nhưng không được và đã bị bay lên cung trăng với cả cây của mình. Nhìn lên mặt trăng, có thể thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc, và trẻ em tin rằng, đó là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa.



Các loại bánh

Từ truyền thống đến hiện đại, bánh trung thu ngày càng đa dạng khi các nhà sản xuất sáng tạo trong sử dụng các nguyên liệu và thực phẩm khác nhau đưa vào nhân bánh; dập khuôn kiểu dáng bánh thành nhiều hình thù sinh động; đóng gói với bao bì mẫu mã đẹp mắt. Tuy nhiên, dựa theo công thức làm vỏ bánh thì chỉ có hai loại bánh trung thu là bánh nướng và bánh dẻo.

Bánh nướng

Bánh nướng được làm với lớp vỏ bánh là bột mì và có chút dầu ăn. Đường để trộn vào vỏ bánh thường được nấu với mạch nha để chuyển thành màu hổ phách và để càng lâu càng tốt (thường các nhà làm bánh sau tết trung thu nấu nước đường, cất kỹ để tới tận mùa sau mới dùng). Trước kia tại Việt Nam nhân bánh nướng thường là nhân thập cẩm, có chút lá chanh thái chỉ, thịt mỡ, mứt, hạt dưa, lạp xường.



Sau khi nặn bánh, ép khuôn. Bánh được cho vào lò nướng. Quy trình nướng chia làm hai giai đoạn trong đó khoảng 2/3 thời gian nướng là giai đoạn đầu tiên. Sau đó bánh được dỡ ra, làm nguội, phết lòng đỏ trứng gà lên rồi cho vào nướng tiếp 1/3 thời gian còn lại.

Bánh dẻo

Theo truyền thống bánh dẻo trung thu được làm với vỏ bánh là bột gạo nếp rang xay mịn, nước đường kính trắng đun sôi để nguội (không dùng mạch nha như bánh nướng), nước hoa bưởi. Nhân bánh làm từ các thực phẩm, nguyên liệu đã chín. Bánh được nặn xong ép khuôn và có thể sử dụng ngay không cần cho vào lò nướng.



Hát trống quân

Tết ở miền Bắc còn có tục hát trống quân. Đôi bên nam nữ vừa hát đối đáp với nhau, vừa đánh nhịp vào một sợi dây gai hoặc dây thép căng trên một chiếc thùng rỗng, bật ra những tiếng “thình thùng thình” làm nhịp cho câu hát. Những câu hát vận tức là hát theo vần, theo ý hoặc hát đố có khi có sẵn, có khi lúc hát mới ứng khẩu đặt ra. Cuộc đối đáp trong những buổi hát trống quân rất vui và nhiều khi gay go vì những câu đố hiểm hóc.

Tục tặng quà

Tết Trung thu người ta thường tặng quà cho nhau. Quà thường là các hộp bánh, lồng đèn, áo quần, tiền. Các cơ quan, doanh nghiệp cũng tặng quà cho khách hàng, cán bộ công nhân viên có khi mua cả xe tải bánh trung thu. Nhiều công ty có hàng ngàn công nhân, đặt hàng ngàn hộp bánh với số tiền hoa hồng hậu hĩnh.



Tính trên tổng lượng bánh trung thu tiêu thụ năm 2006 (thống kê từ các nhà sản xuất) ước khoảng 6.500- 6.800 tấn, lấy mức giá bình quân của 1 hộp bánh loại 220 – 250gr khoảng 100.000 – 130.000đ, người tiêu dùng đã tiêu pha hết hơn 800 tỉ đồng cho khoảng 7 triệu hộp bánh. Và các hộp bánh đắt như vàng, người nghèo không sao mua nổi cứ chạy lòng vòng từ người nọ sang người kia.

Đối tượng tặng quà của người lớn thường là các bề trên như cha mẹ, cấp trên, những người cần nhờ vả, thầy cô giáo hoặc cũng có thể hàng xóm, bạn bè hoặc con cháu trong nhà. Thường đối tượng nhận quà càng quan trọng thì giá trị món quà phải càng cao. Việc tặng quà Trung thu là một thói quen phổ biến khi đời sốfng khá lên sau đổi mới, nó có thể là một hình thức tiêu cực khi giá trị món quà quá lớn.

Đối với các doanh nghiệp hoặc cá nhân việc không có quà Tết biếu có thể bị đánh giá là lơ đễnh hoặc coi thường vì vậy đây là chi phí không nhỏ khi đến dịp trung thu. Chi phí tặng quà thường được chi từ chi phí tiếp khách bằng tiền. Do mức hoa hồng hoặc chiết khấu của các hiệu bánh cao (có thể lên đến 35%) nên nhiều người thích dùng tiền cơ quan biếu xén để hưởng lợi.



Việc tặng quà trung thu đắt tiền là dịp “ơn nghĩa” của người lớn. Không ít người thường lợi dụng dịp này để biếu xen quà cáp nhằm mua quan bán chức. Những hộp bánh Trung thu đặc mà bên trong nhân bánh “là vàng”, “là đô la” đã làm mờ mắt nhiều quan tham và biếu xén trong dịp Tết Trung thu là một lệ của những thành phần này.

Sản xuất đồ chơi Trung thu
Nói đến đồ chơi tết Trung thu là phải nói đến lồng đèn, thứ không thể thiếu để các em đi rước trăng. Từ xưa đến nay, hai thành phố Hội An và Sài Gòn nổi tiếng khắp nước về thủ công nghệ làm lồng đèn trang trí và các loại đèn giấy dùng trong ngày tết Trung Thu. Theo Văn công Lý hiện sống tại Hội An, thì ông tổ ngành làm đèn lồng ở đây tên gọi là Xã Đường. Đèn Hội An độc đáo ít nơi có, đèn lồng Hội An đẹp nhờ có đủ hình thù, kiểu dáng, to nhỏ. Vải bọc đèn thay giấy là loại lụa Hà Đông nổi tiếng, làm cho ánh sáng thêm huyền ảo lung linh.



Tại Sài Gòn, từ trước năm 1975 tới bây giờ, Phú Bình thuộc quận 11 Đô Thành, cũng vẫn là một trung tâm sản xuất lồng đèn trung thu lớn nhất miền Nam Việt Nam, cung cấp cho cả vùng. Đây là một làng di cư năm 1954, nguyên gốc từ Làng Báo Đáp thuộc tỉnh Nam Định. Làng này ở Bắc Phần vốn nổi tiếng với nghề thợ nhuộm. Khi vào nam, dân chúng vẫn sống quây quần với nhau bằng nghề nhuộm, dệt vải và làm giầy dép. Phú Bình sau năm 1975 nằm trên điạ bàn của phường 19, Tân Bình và phường 5, quận 11, cách khu du lịch Đầm Sen chừng nửa cây số. Lúc đầu khi vào nam, Phú Bình chỉ chuyên sản xuất những loại đèn Trung Thu đơn giản như đèn ống sáo, con cá, ngôi sao… cố ý để cho học sinh vui chơi trong đêm lễ mà thôi.



Từ năm 1960-1975, Phú Bình mỗi năm sản xuất hơn nửa triệu đèn lồng trung thu, cung cấp khắp các tỉnh thành từ Bến Hải vào tới Cà Mau. Sau này dân chúng ở dây vẫn tiếp tục nghề cũ. Năm 1994, lồng đèn Trung quốc ồ ạt xâm nhập thị trường ViệtNam khắp nước, chèn ép đèn Phú Bình, làm cho dân chúng ở đây lâm cảnh điêu đứng đói khổ, vì hàng bị ế ẩm do lồng đèn Trung quốc đẹp, kiểu cách mới lạ, lại rất tiện lợi khi ra gió không sợ cháy vì dùng pin, giá thành lại rẻ, nên ai cũng muốn không biết.

Ở thị trường Việt Nam ngành công nghệ sản xuất đồ chơi cho trẻ em dịp trung thu giúp tạo việc làm và lợi nhuận cho rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, do nguyên liệu thông dụng và công nghệ đơn giản, vốn ít, sau một thời gian để đồ chơi của Trung quốc thống lĩnh thị trường đến năm 2006 ngành hàng sản xuất lồng đèn Việt Nam hồi phục và chiếm lĩnh lại thị trường nội địa.


(Sưu tầm trên mạng)

Sunday, October 1, 2017

NẾU CHÚNG TA BIẾT TẬP BƯỚC CHẬM LẠI MỘT CHÚT!

Vào một buổi sáng lạnh mùa đông năm 2007, tại một ga metro ở Washington DC, một thanh niên với chiếc đàn vĩ cầm, đứng chơi những bài nhạc nổi tiếng của Bach, Schubert, Massenet… trong vòng 45 phút. Trong khoảng thời gian ấy có khoảng chừng 2 ngàn người đi ngang qua, đa số đang trên đường đến sở làm của họ. Dường như không một ai có vẽ chú ý đến sự có mặt của anh.


Sau khoảng 3 phút, một người đàn ông đứng tuổi đi qua và nhận thấy có một nhạc sĩ đang đứng đó chơi vĩ cầm. Ông đi chầm chậm, dừng lại chừng vài giây, và rồi lại vội vã đi tiếp cho kịp giờ của mình.

4 phút sau: Người nhạc sĩ vĩ cầm ấy nhận được đồng đô la đầu tiên: một người đàn bà ném tiền vào thùng đàn của anh và không hề dừng lại, tiếp tục bước đi.

6 phút: Một người thanh niên trẻ đứng dựa vào tường lắng nghe anh, nhìn đồng hồ đeo tay của mình và rồi lại tiếp tục bước đi.

10 phút: Một đứa bé dừng lại nghe, nhưng mẹ của em vội vàng lôi em đi tiếp. Đứa bé tiếp tục dừng lại nhìn anh nhạc sĩ vĩ cầm, nhưng mẹ của em đẩy mạnh, và em lại phải tiếp tục bước đi, nhưng em vẫn cứ ngoái đầu quay nhìn lại. Và điều này đã cũng xảy ra với nhiều những đứa bé khác. Và cha mẹ nào cũng đều lôi kéo các em, bắt các em phải đi nhanh lên

45 phút: Người nhạc sĩ vĩ cầm ấy vẫn tiếp tục chơi nhạc không ngừng. Chỉ có 6 người dừng lại và lắng nghe trong vài ba phút rồi bỏ đi. Khoảng chừng 20 người cho anh tiền, trong khi vẫn tiếp tục bước đi bình thường, và không hề dừng lại. Chàng nhạc sĩ ấy thâu được tổng cộng là 32 đô la.



1 giờ sau: Anh ta ngừng chơi, không gian im lặng trở lại. Không ai chú ý đến anh. Không một tiếng vỗ tay, và cũng không một lời tán thưởng.

Không ai biết người ấy chính là Joshua Bell, một trong những nhạc sĩ vĩ cầm nổi danh nhất trên thế giới.

Trong hơn 45 phút qua anh đã chơi những bài phức tạp nhất trong các bài nhạc trình tấu, và cây đàn vĩ cầm mà anh chơi trị giá khoảng 3.5 triệu đô la. Hai ngày trước đó, Joshua Bell đã trình diễn tại một nhà hát ở thành phố Boston, vé bán hết không còn chỗ ngồi, giá của mỗi vé là 100 đô la. Và ban tổ chức sẵn sàng trả 1000 đô la mỗi phút cho tài năng của anh!

Đây là kết quả của một cuộc thử nghiệm do báo The Washington Post tổ chức. Trong cuộc thử nghiệm này, Joshua Bell phải ăn mặc thật bình thường, quần jean, áo thun, mũ kết, và chơi đàn trong giờ cao điểm, 7:45am. Họ chọn nơi biểu diễn là trạm ga L’Enfant Plaza, vì nơi đây những người khách metro đi ngang qua đa số là thuộc tầng lớp trung lưu, chuyên nghiệp, trí thức, phần lớn làm việc với chính phủ liên bang.


Trước khi tổ chức, các nhà thử nghiệm nghĩ rằng tại Washington DC, một trong những đô thị phát triển nhất nước Mỹ về classical music, nhạc giao hưởng, Joshua Bell có thể sẽ thu hút một số lượng lớn khán thính giả dừng lại nghe, và họ có lẽ sẽ phải nhờ cảnh sát đến để giữ trật tự. Nhưng chỉ có một người duy nhất nhận ra Joshua Bell, vì trước đó ba tuần cô ta có đi xem anh trình diễn ở Library of Congress, nên nhận ra anh ngay. Cô ta đã bỏ vào hộp đàn của Joshua Bell 20 đô la và tự giới thiệu mình khi anh ngưng chơi đàn.

Tờ Washington Post viết, mục đích của cuộc thử nghiệm này để xem rằng: chúng ta có thể nhận diện, ý thức được những gì hay và đẹp đang có mặt giữa cuộc sống bận rộn của mình, và trong những hoàn cảnh bình thường hằng ngày không?

Và nếu như trong cuộc sống chúng ta không thể dừng lại trong giây lát để lắng nghe một nhạc sĩ lừng danh nhất trên thế giới, chơi những giai điệu hay nhất từng được sáng tác, với một nhạc cụ tốt đẹp nhất, và nếu như cuộc sống quá bận rộn đến nỗi chúng ta không còn có thời gian để dừng lại, khiến ta trở nên lãng quên trước những điều hay và đẹp, thì trên con đường ta đi mình còn vô tình bỏ qua và đánh mất bao nhiêu những điều đáng quý nào khác nữa chăng? Trong thời đại ngày nay, dường như đa số chúng ta có khá đầy đủ, nhưng duy có một điều mà chắc chắn trong chúng ta ai cũng đều rất thiếu thốn là thời giờ của mình, phải thế không bạn? (Nhưng mà ai cũng có thời giờ bằng nhau là 24 tiếng đồng hồ một ngày, hơn nhau chỉ là cách sống đầy trí tuệ và tình người của bạn trong 24 giờ tinh khôi này thôi)


Trên con đường chúng ta đi, có lẽ ta cũng sẽ có dịp nghe được tiếng đàn vĩ cầm của Joshua Bell, và bao nhiêu những điều hay đẹp khác chung quanh ta, nâng cao tâm hồn mình, giữa những bận rộn và ngay trong hoàn cảnh bình thường nhất, nếu chúng ta biết tập bước chậm lại một chút…

Nguyễn Duy Nhiên



ÔNG GIÀ THỎ TRONG TẾT TRUNG THU

Trung Thu sắp đến, không biết các nước Đông Nam Á trong đó có VN và HK sẽ thấy trăng lớn đến cở nào ? Ở Úc những ngày rằm thường đôi khi trăng còn to hơn đêm Trung Thu rất nhiều.


Nói đến Trung Thu, người Hoa hay nói đến Thường Nga (Hằng Nga) & Hậu Nghệ, VN thì có tích chú cuội và cây đa, có tích về con thỏ ngọc. Đến hôm nay tôi mới biết thêm một tích khác cũng liên quan đến Trung Thu mà ít nghe ai nói đến. Mời các bạn đọc cho biết sự tích này. (LKH)

ÔNG GIÀ THỎ TRONG TẾT TRUNG THU 

Tết Trung Thu tại Bắc Kinh, Sơn Đông, dân gian có tập tục chơi với ông già thỏ. Ông già thỏ, lớn thì cao hơn 3 xích, nhỏ nhất thì cũng khoảng 3 thốn, đều có khuôn mặt bôi phấn trắng, đầu đội kim khôi, thân khoác chiến bào.
Truyền thuyết kể rằng vào thời xa xưa, trên cung trăng có một loại bánh thuốc tiên trị được bách bệnh, nhưng bà nguyệt chỉ biết lợi, đem bánh tặng cho những người người giàu có thường cúng bà, mà không ngó ngàng gì đến sự sống chết của những người nghèo khổ.
Có một anh chàng nghèo tên Nhậm Hán 任汉, mạo hiểm lên cung Quảng Hàn 广寒 lấy trộm bánh thuốc tiên. Để giúp Nhậm Hàn, thỏ ngọc đã hi sinh, lột da mình ra đưa Nhậm Hán khoác vào biến thành thỏ để thoát hiểm. Thỏ do Nhậm Hán biến thành đã lấy trộm bánh đem về nhân gian, đặt lên nguồn của 72 con suối ở Tế Nam 济南, cứu được người nghèo trong toàn thành. Để kỉ niệm thỏ ngọc và Nhậm Hán, mọi người bèn tôn làm Thố tử vương 兔子王.
Thố tử vương兔子王, Thố nhi gia 兔儿爷 đều là từ tôn xưng của dân gian đối với thỏ thần trong cung trăng. Để biểu hiện Ông già thỏ (Thố nhi gia 兔儿爷) là thỏ thần trên cung trăng, không phải thỏ phàm chốn nhân gian, nghệ nhân dân gian khi tạo hình tượng đã vận dụng các loại thủ pháp nghệ thuật nhằm thể hiện cái “thần”. Có người chú trọng biểu hiện thỏ ngọc giã thuốc, làm cho hai tay (chân trước) của Ông già thỏ hoạt động, bưng chày ngọc, dùng dây điều khiển, thỏ ngọc có thể giã thuốc lên xuống. Có người chú trọng biểu hiện thần lực của Ông già thỏ, đem Ông già thỏ biến thành vị tướng thần thân khoác chiến bào, đầu đội kim khôi, tay cầm binh khí, mắt nhìn trừng trừng, uy phong lẫm liệt. Có người vì muốn thể hiện thần uy của Ông già thỏ đã để Ông già thỏ cưỡi lên kì lân, hổ đen, điều này đối lập với hình thượng thỏ trong hiện thực cuộc sống, khi thấy hổ đã sợ đến nỗi chạy cong đuôi.


Chú của người dịch
Ông già thỏ (Thố nhi gia 兔兒爺) là đồ chơi truyền thống trong dân gian Bắc Kinh, sớm nhất bắt nguồn từ búp bê đất sét dùng để cúng trăng vào cuối thời Minh. Đến thời Thanh dần chuyển biến thành đồ chơi của trẻ con.
Mọi người cho rằng, hình tượng Ông già thỏ bắt nguồn từ thỏ ngọc trên cung trăng. Một câu chuyện truyền thuyết lưu truyền tương đối rộng rãi như sau:
Một năm nọ, trong thành Bắc Kinh đột nhiên xảy ra ôn dịch, dường như nhà nào cũng có người mắc phải, uống thuốc gì cũng không công hiệu. Thường Nga 嫦娥 trên cung trăng nhìn thấy tình cảnh dân gian thắp hương cầu khấn, trong lòng rất đau buồn, liền sai thỏ ngọc bên cạnh mình đến nhân gian trị bệnh cho bách tính. Thỏ ngọc biến thành một thiếu nữ đến thành Bắc Kinh, nàng đến từng nhà chữa bệnh cho rất nhiều người. Để cảm tạ thỏ ngọc, mọi người đều tặng cho nàng nhiều thứ. Nhưng thỏ ngọc không nhận thứ gì, chỉ mượn mọi người quần áo để mặc. Như vậy, thỏ ngọc đến một nơi nào đó liền thay trang phục, có lúc thành người bán dầu, có lúc giống thầy tướng số ….. một lúc thành đàn ông, lúc sau thành thiếu nữ. Để có thể trị bệnh cho nhiều người hơn nữa, thỏ ngọc liền cưỡi ngựa, cưỡi hươu, hoặc cưỡi cả sư tử, cọp, đi khắp trong ngoài thành Bắc Kinh. Thỏ ngọc trừ xong ôn dịch trong thành Bắc Kinh liền trở về lại cung trăng. Nhưng hình tượng xinh đẹp của nàng vĩnh viễn lưu lại trong lòng người dân Bắc Kinh. Vì thế mọi người đã dùng đất sét nặn thành hình tượng thỏ ngọc, có thỏ ngọc cưỡi hươu, có thỏ ngọc cưỡi phụng. Lại có thỏ ngọc khoác áo giáp, cũng có thỏ ngọc mặc các loại quần áo công nhân, muôn hình vạn trạng, vô cùng đáng yêu. Hàng năm cứ đến ngày rằm tháng 8 âm lịch, nhà nhà đều cúng thỏ ngọc, dâng hoa quả để cảm tạ thỏ ngọc đã mang lại cát tường và hạnh phúc cho mọi người. Mọi người còn gọi thỏ ngọc một cách thân thiết là “Thố nhi gia” 兔兒爺, “Thố nhi nãi nãi” 兔兒奶奶.
Sự ra đời của Ông già thỏ, kì thực bắt nguồn từ sự sùng bái của con người đối với mặt trăng và sự xác nhận đối với thần thoại. Truyền thuyết liên quan đến cung trăng đã sản sinh ảnh hưởng quan trọng ở đây. Truyền thuyết trên cung trăng có thỏ ngọc bắt nguồn từ thời Xuân Thu. Bức vẽ trên lụa phát hiện ở mộ số 1 đời Hán tại Mã Vương đôi 馬王堆 Trường Sa 長沙 đã phản ánh nội dung thần thoại: một vầng trăng sáng có con cóc ngậm linh chi và thỏ ngọc. Điều này nói rõ đời Hán vẫn lưu truyền thần thoại trên cung trăng có thỏ ngọc. Trên gạch cuối thời Tây Hán phát hiện tại Trịnh Châu 鄭州 Hà Nam 河南 có hình “Đông Vương Công cưỡi rồng” cũng xuất hiện hình tượng thỏ ngọc giã thuốc. Năm 1968 tại thành phố Đan Dương 丹陽 tỉnh Giang Tô 江蘇 phát hiện một lăng mộ thời Nam triều không rõ tên, trong mộ có hai viên gạch có vẽ hình, biểu hiện mặt trăng và mặt trời. Trên viên gạch mặt trăng có cây, dưới cây có một con thỏ ngọc đang giã thuốc. cối chày có đủ, vô cùng sinh động.
Trong dân gian, bách tính đều tuân thủ tục ước “nam bất tế nguyệt, nữ bất tế táo”, cho nên cúng trăng đa phần do phụ nữ đảm đương. Thường em bé luôn theo bên mẹ, chúng rất thích bắt chước hành vi của người lớn, nhân đó đã sản sinh tượng đất chuyên dành cho trẻ em cúng trăng: Thố nhi gia.
Dịch giả: Huỳnh Chương Hưng
Nguyên tác Trung văn
TRUNG THU TIẾT NGOẠN THỐ NHI GIA
中秋节玩兔儿爷
Trong quyển
TRUNG QUỐC DÂN TỤC VĂN HOÁ ĐẠI QUAN
中国民俗文化大观
(quyển trung)
Chủ biên: Dương Lợi Tuệ 杨利慧
Diên Biên nhân dân xuất bản xã, 2009

(Sưu tầm trên mạng)


兔儿爷

一般认为,兔儿爷的形象源自月中的玉兔,一个流传较广的传说故事是这样说的:有一年,北京城里忽然闹起了瘟疫,几乎家家都有病人,吃什么药也不见好。月宫中的嫦娥看到人间烧香求医的情景,心里十分难过,就派身边的玉兔到人间去为百姓们消灾治病。玉兔变成了一个少女,来到了北京城。她走了一家又一家,治好了很多病人。人们为了感谢玉兔,都要送给她东西。可玉兔什么也不要,只是向别人借衣服穿。这样,玉兔每到一处就换一身装扮,有时候打扮得像个卖油的,有时候又像个算命的……一会儿是男人装束,一会儿又是女人打扮。为了能给更多的病人治病,玉兔就骑上马、鹿,或者骑上狮子、老虎,走遍了北京城内外。玉兔消除了北京城的瘟疫,就回到月宫中去了。可是,她那美好的形象却永远留在了北京人的心中。于是,人们用泥塑造了玉兔的形象,有骑鹿的,有乘凤的,有披挂着铠甲的,也有身着各种做工人的衣服的,千姿百态,非常可爱。每到农历八月十五那一天,家家都要供奉她,给她摆上好吃的瓜果菜豆,用来酬谢她给人间带来的吉祥和幸福。人们还亲切地称她为“兔儿爷”、“兔儿奶奶”。



兔儿爷的产生,其实源于人们对月神的崇拜和对神话的确认。有关月亮的传说在此产生重要影响。月中有兔的传说始于春秋时代。长沙马王堆一号汉墓出土的帛画反映了神话的内容:一弯新月中并置着口衔灵芝的蟾蜍和奔跳的白兔。这说明汉代仍流传月中有兔子的神话。河南郑州出土的西汉晚期画像砖“东王公乘龙”也出现了玉兔捣药的形象。1968年,江苏省丹阳市发现了一座南朝佚名陵墓,墓中出土了两块画像砖,分别表现月亮和太阳,月亮砖中有一棵树,树下有一只捣药的玉兔,杵臼毕具,十分生动。
在民间,老百姓们都遵守着“男不祭月,女不祭灶”的俗约,所以,祭月多由妇女承当。通常总是跟在母亲身边的小孩子非常喜欢模仿大人的行为,因此产生了专供儿童祭月用的造像:兔儿爷。
维基百科
(網上搜查)

LÈ PHÈ NHƯ ÚC?!

Người Việt chúng ta, trước 75, chắc ít có người biết nhiều về nước Úc. Ở đâu? Bao lớn? Dân tình sống ra sao? Rồi sau khi mất nước, bà con mình ồ ạt trốn ra đi, may mắn tấp được vô Bidong, Mã Lai, Galang, Nam Dương, chờ đợi mấy phái đoàn (tùm lum nước) đến để phỏng vấn cho đi định cư ở một nước thứ ba, thì trong đầu thuyền nhân, ai cũng nghĩ trước hết là nước đồng minh đã bỏ ta đi, là Hoa Kỳ?!


Thế nên có chuyện vui là trong giờ học địa lý, Thầy hỏi: “Mặt trăng và Úc Châu; nơi nào xa hơn?” Trò lại trả lời là: “Úc Châu, vì mặt trăng mình còn thấy được đêm đêm!”

Kiến thức về địa lý được một nút (được 1 điểm vì ít nhứt mình còn biết trên quả địa cầu nầy có một nước tên là Úc Châu, một nước mà chiếm trọn một Châu trong năm Châu). Về lịch sử nước Úc, mình cũng bù trất luôn!

“Tí! Em tìm cho tôi nước Úc trên bản đồ đi” “Dạ thưa thầy! Nó đây! Quay sang Tèo, thầy hỏi: “Ai tìm ra Úc Châu? Dạ thưa thầy! Trò Tí ạ!”

Thưa quý độc giả thân mến!

Mãi vài năm sau 75, những người tình cờ tiên phuông đến Úc sống! Chu choa sao mà quá đã, lè phè hết biết… nên báo tin vui quá vui cho những người còn ở đảo biết về nước Úc… một đất nước, bia đổ tràn như suối là có thiệt trăm phần trăm chớ không cần phải đến thiên đàng mới có… thì số người Việt của mình đến Úc định cư tăng vùn vụt!



Ngày đầu tiên đặt chân tới Melbourne cách đây hai mươi năm… Từ phi trường Tullamarine, mấy đứa em chở u về nhà ở Coburg, vùng phía bắc Melbourne. Thay đồ, tắm rửa xong xuôi… là nhảy tót ngay lên bàn nhậu ăn mừng ‘tù nhân’ đã vượt ngục… chạy thoát tới trời tự do. Quá đã! ‘Welcome to Melbourne!’ Lon bia đầu tiên uống là Victoria Bitter (còn nhớ tới giờ); sao mà nó mát lạnh gì đâu… chạy khỏi cổ họng, bia xuống tới đâu là mình biết tới đó!

(Sau nầy, thì thấy cũng hơi lạ mỗi tiểu bang Úc đều uống loại bia khác nhau. Lý do là: Trước khi thành lập liên bang, Úc châu có những tiểu bang riêng lẻ thuộc địa của Anh. Với luật lệ rất khác nhau về sản xuất và tiêu thụ rượu bia.

Mãi đến cuối thập niên 1880, hệ thống hỏa xa mới được thiết lập nối liền thủ phủ các tiểu bang Úc; chớ trước đó phải chuyên chở rượu bia bằng tàu. Vận chuyển khó khăn, cước phí cao như vậy nên mấy hãng bia địa phương khó lòng bành trướng nhãn hiệu của mình đến các tiểu bang khác. Dân tiểu bang nào thì uống bia của tiểu bang đó… Riết rồi thói quen tạo thành một truyền thống… từ đời ông, tới cha, tới con, rồi tới cháu! Nhậu hết ráo! Thế nên nếu là dân NSW thì uống Tooheys, Reschs, Hahn. Dân Victoria thì Carlton Draught, Victoria Bitter, Melbourne Bitter! Uống bia loại nào cũng là một hình thức giới thiệu rất dễ thương với dân thổ địa là ‘tại hạ’ từ tiểu bang nào mà tiếu ngạo giang hồ, hạ cố tới chơi đây!)


Rồi sau đó, mười năm liền nước Úc hạn hán, những rừng bạch đàn khô nẻ, cháy rừng liên tu bất tận. Hồ chứa Thomson lớn nhứt cho thành phố Melbourne xài, mực nước tụt xuống chỉ còn 19% dung tích. Chánh phủ cấm dùng nước bừa bãi. Người Úc, vốn cực kỳ yêu nước, nghe chánh phủ bảo cái gì đúng cho đất nước là răm rắp tuân theo. ‘Để tiết kiệm nước! Chúng ta hãy uống bia! Save water! Drink beer!’

Nhưng theo dã sử, trước khi khoái uống bia, những người Úc đến từ Anh khoái uống rượu mạnh hơn! Sir John Robertson, năm lần làm Thủ hiến New South Wales, suốt 35 năm, sáng nào ông cũng ‘quất’ một pint (hơn nửa lít) rượu rum. Giống như xe cần xăng, ông có ‘rum’ mới chạy! Nhậu đã rồi còn nói “đâu phải mình tui! Không có ai đặt chân lên cái xứ nầy mà lại uống nước lã cả!”

Theo thống kê, những người từ Châu Âu đến Úc định cư, tính theo đầu người, uống nhiều, đứng nhứt nhì hơn bất cứ cộng đồng nào khác của nhân loại. So với mẫu quốc Anh, sáng xỉn chiều say; tối ôm chai mà ngủ chắc chắn là Úc ăn đứt nước mẹ quê mình; nếu có thua là thua Boris Yeltsin một Tổng thống xỉn có tiếng của nước Nga thời hậu chế độ cộng sản mà thôi! Vẻ vang dân Úc nhá!


(Ai cũng biết Yeltsin là người uống rượu nhiều. Hơn nữa, chứng nghiện rượu của ông làm vận mệnh thế giới đổi thay!? Xưa thì vận mệnh thế giới trong tay mấy đứa khùng như Hitler, Stalin, Mao… Sau thì trong tay mấy ‘ông thần ve chai’ Sao tui thương, tui tội nghiệp thế giới của mình quá bà con ơi!)

Năm 1989, Yeltsin tới Hoa Kỳ để phát biểu về đời sống xã hội và chính trị tại Liên bang Xô viết. Chuyến đi ấy được một bài báo trong tờ La Repubblica, Italia mô tả là thảm họa. Yeltsin thường xuất hiện trong tình trạng say sưa trước công chúng.

Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã biết được về chứng nghiện rượu của Yeltsin trong cuộc nói chuyện điện thoại đầu tiên của họ khi Yeltsin gọi tới chúc mừng nhân lễ nhậm chức của Clinton năm 1993, Yeltsin khi ấy đang ‘xỉn’. Ông cũng say rượu trong cuộc gặp thượng đỉnh đầu tiên với Clinton tại Vancouver. Yeltsin đã rất xỉn quắc cần câu khi ông tới sân bay vào tháng 9, 1994 tới mức ông có thể ngã khỏi máy bay. Trong đêm ấy Yeltsin loạng choạng đi quanh với độc chiếc quần lót và kêu gào đòi bánh pizza. Trong vụ ném bom Kosovo, Yeltsin, rõ ràng đang say rượu, đã đề nghị rằng ông và Clinton nên gặp nhau trên một chiếc tàu ngầm!


Người viết hoàn toàn thông cảm với ông bạn già Boris Yeltsin vì phải bị sống quá lâu trong chế độ cộng sản thì con đường tình ta đi: một là khùng; nếu không muốn khùng thì chỉ có thể uống rượu để tìm quên những nỗi đớn đau…Vì khi xỉn rồi Boris Yeltsin đã tới thế giới đại đồng, không còn áp bức bất công… He he! Vậy thì ngu sao mà không nhậu chớ?!)

Bây giờ người viết may mắn đang sống trong xã hội tư bản giẫy chết, mà mình không muốn chết, chỉ muốn vui thôi! Và cũng theo kinh nghiệm cá nhân của người viết, uống rượu mà xỉn, nó vật mình vặn vẹo, quậy quạng… lôi thôi rắc rối với vợ nhà quá… nên người viết cũng như người Úc từ từ chuyển ‘ton’ rượu đế, rượu bọt đường… ra uống bia lon! Nhứt là vào mùa hè trời oi bức, gió từ sa mạc trong đại lục thổi ra, ào ào nóng rát. Uống bia làm cho mình đã khát! Còn không khát, uống trước khi bị khát cho chắc ăn! Để phòng ngừa!

Còn về sức khỏe: “Tui không bao giờ uống nước; vì nước rất độc, chứa rất nhiều vi khuẩn… nó làm cho ống dẫn nước dù làm bằng sắt, bằng gang đi chăng nữa cũng trở nên rỉ sét!”


Thưa quý bạn đọc thân mến!

Người viết cũng xin thành thật tự thú trước bình minh rằng mình đang có vấn đề về bia rượu rồi chăng?! Bằng cớ là: Chưa hề đặt chân vô quán rượu đó… mà tại sao người em xứ Úc dễ thương hết biết, em đi áo mỏng buông hờn tủi, thường hay ló ló ra hai trái bưởi Biên Hòa không vàng khè… mà trăng trắng trong nắng chiều xứ Úc, phục vụ bia bọt lại biết tỏng tên tui?! Danh trấn giang hồ ‘Đông phương bất bại!’ Nhậu chưa ai nhậu lại hết trơn he?!

Người viết sở dĩ uống bia vì bia rẻ hơn nước vậy thôi chớ đâu có ghiền nè! Nhưng có người bạn dang dở đường tình, than thở: ‘Uống để tìm quên!” Thì nghe cũng được đi; nhưng khi dắt người viết đi nhậu để tìm quên… xin nhớ trả tiền trước nghe hông huynh!

Nhập gia tùy tục! Đến xứ Úc mình làm như Úc thôi! Bài bạc, Cá cược và Bia! Gần mực thì đen gần đèn thì sáng! Nên xin phép quý độc giả thân mến kể một câu chuyện vui như vầy:

“Ba đứa đang làm việc trên một tòa cao ốc. Macca, Chook và Simmo. Chook bị trợt chân, té chết ngắc. Khi xe cứu thương chở xác Chook đi khỏi thì Simmo nói: ‘Phải có ai đi báo tin nầy cho vợ nó chớ!’ Macca giơ tay xin đi. Hai tiếng đồng hồ sau, Macca quay trở lại vác một thùng bia VB trên vai. ‘Ê bồ! Bia ở đâu ra vậy?’ ‘À! Vợ thằng Chook cho tui đó!’ ‘Thật không thể nào tin được! Bồ tới nói cho người vợ một tin buồn chồng bà ấy té chết ngắc… vậy mà bà ấy lại cho ông một thùng bia hả?’ Macca trả lời: ‘Đúng ra là vợ nó không có cho tui. Chẳng qua là khi gõ cửa, bà ấy ra mở, tui bèn hỏi: “Bà đây có phải là Bà góa phụ của ông Chook hay không?” Vợ Chook trả lời: “Tôi đâu phải là góa phụ!” Vậy là tui nói: “Bà có dám bắt cá với tui một thùng bia không?”’


Dân dã uống bia, quan quyền dù có nhiều tiền hơn cũng uống cùng loại bia như vậy! (Còn ‘chảnh’ không chịu; đòi uống cỡ chai rượu chát 700ml Grange Hermitage hơn ba ngàn đô như Thủ hiến NSW Barry O’Farrel là về nhà đuổi gà cho vợ!) Thiệt là một nước Úc bình đẳng; đã san bằng mọi giai cấp trong việc ăn nhậu mà không cần phải ngu để đi làm cách mạng đổ máu; đấu tranh giai cấp làm chi cho chúng nó khi! Bất chiến tự nhiên thành!

Còn quan quyền và dân ngu khu đen làm ăn ra sao thì từ từ tính tới! Mà đất nước Úc nầy thực ra đâu cần mần ăn chi cho nó mệt! Mới đây Úc khám phá ra mỏ dầu trong đá ở Nam Úc, rồi ngoài khơi Tây Úc nữa… Khi nhậu hết tiền, hút dầu lên bán cho Tàu… thì Úc sẽ qua mặt nước Saudi Arabia một cái rột! Giàu tài nguyên đến nỗi chủ chợ, Thủ Tướng Singapore, đất nhỏ thó, con chó nằm còn ló đuôi, cà nanh: “Úc đâu cần làm… Hết tiền, cứ đào mỏ, hút dầu lên bán… là phẻ re như con bò kéo xe!” Hi hi!

Tranh minh họa: Bảo Huân
Do đó: dân nhậu Úc khi phải đi cày, bị bắt buộc chẳng đặng đừng; thì khóc lóc, thở than là mình bị một lời nguyền từ chính mấy con vợ của mình là: “Úc! Đàn ông không được ở không! Phải kiếm việc làm đi chớ!”

“Không! Không bao giờ! Cứ mặc kệ cho em nguyền rủa! Thiệt là lè phè như Úc!”

Đoàn Xuân Thu
Nguồn: Báo Trẻ Online