Tuesday, November 3, 2026

ẨM TRUNG BÁT TIÊN CA - ĐỖ PHỦ


Ẩm trung bát tiên ca

Tri Chương kỵ mã tự thừa thuyền,
Nhãn hoa lạc tỉnh thuỷ để miên.
Nhữ Dương tam đấu thuỷ triều thiên.
Đạo phùng khúc xa khẩu lưu diên.
Hận bất di phong hướng Tửu Tuyền.
Tả tướng nhật hứng phí vạn tiền,
Ẩm như trường kình hấp bách xuyên.
Hàm bôi lạc thánh xưng tị hiền.
Tông Chi tiêu sái mỹ thiếu niên,
Cử trường bạch nhãn vọng thanh thiên,
Hiệu như ngọc thụ lâm phong tiền.
Tô Tấn trường trai tú Phật tiền,
Tuý trung vãng vãng ái đào thiền.
Lý Bạch nhất đấu thi bách thiên,
Trường An thị thượng tửu gia miên.
Thiên tử hô lai bất thướng thuyền.
Tự xưng thần thị tửu trung tiên.
Trương Húc tam bôi thảo thánh truyền,
Thoát mạo lộ đỉnh vương công tiền.
Huy hào lạc chỉ như vân yên.
Tiêu Toại ngũ đẩu phương trác nhiên,
Cao đàm hùng biện kinh tứ diên.

(Năm 744)
Tại Trường An, Lý Bạch kết bạn với Hạ Tri Chương, Thôi Tông Chi, Vương Tiến, Tô Tấn, Trương Húc, Tiêu Toại, Lý Thích Chi, gọi là Tửu trung bát tiên (tám vị tiên trong rượu).


飲中八仙歌

知章騎馬似乘船,
眼花落井水底眠。
汝陽三斗始朝天,
道逢麹車口流涎。
恨不移封向酒泉,
左相日興費萬錢。
飲如長鯨吸百川,
銜杯樂聖稱避賢。
宗之瀟灑美少年,
舉觴白眼望青天。
皎如玉樹臨風前,
蘇晉長齋繡佛前。
醉中往往愛逃禪,
李白一斗詩百篇。
長安市上酒家眠,
天子呼來不上船。
自稱臣是酒中仙,
張旭三杯草聖傳。
脫帽露頂王公前,
揮毫落紙如雲煙。
焦遂五斗方卓然,
高談雄辨驚四筵。


Bài ca tám vị tiên trong uống rượu
(Dịch thơ: Anh Nguyên)

Tri Chương đi ngựa như thuyền,
Giếng khô, say rớt ngồi yên ngủ khì.
Nhữ chầu, ba đấu mới đi,
Giữa đường gặp rượu, dãi thì chẩy ra,
Tửu Tuyền, hận chẳng bổ qua.
Hứng lên, tả tướng chi ra vạn tiền,
Như kình, sông nước uống liền,
Nâng ly vui thánh, ai hiền lánh xa.
Tông Chi tuổi trẻ, tài hoa,
Chén nâng, mắt hướng trời xa mỗi ngày,
Đẹp như cây ngọc gió lay.
Ông Tô thờ Phật ăn chay tháng ngày,
Trốn thiền khi đã uống say.
Lý ngồi, một đấu, làm ngay trăm bài,
Trường An, quán rượu ngủ dài,
Thuyền, vua cho gọi, nằm hoài không lên,
Tự xưng làng rượu, là tiên.
Ông Trương ba chén, chữ, truyền thánh nhân,
Trước vương, bỏ mũ chẳng cần,
Bút vung trên giấy, mây vần, khói bay.
Tiêu, năm đấu, nói thật hay,
Cao siêu đàm đạo, mê say mọi người...


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Đỗ Phủ 杜甫 (12/2/712 - 770) tự Tử Mỹ 子美, hiệu Thảo Đường 草堂, Thiếu Lăng dã lão 少陵野老, người đời sau gọi là Đỗ Thiếu Lăng, Đỗ Lăng tẩu, Đỗ công bộ hay còn gọi là Lão Đỗ để phân biệt với Tiểu Đỗ là Đỗ Mục. Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình quan lại lâu đời ở huyện Củng, nay thuộc tỉnh Hà Nam. Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, một nhà thơ nổi tiếng thời Sơ Đường. Cha là Đỗ Nhàn, có làm quan.

Nguồn: Thi Viện