Thursday, August 6, 2026

THỜI VUA MINH MẠNG, LÃNH THỔ VIỆT NAM RỘNG GẤP 1,7 LẦN HIỆN NAY

Thời nhà Nguyễn vào thế kỷ 19, lãnh thổ Việt Nam hết sức rộng lớn. Đỉnh điểm vào thời vua Minh Mạng, lãnh thổ Việt Nam rộng 575.000 km2, gấp 1,7 lần so với diện tích ngày nay. Vậy lãnh thổ Việt Nam thời nhà Nguyễn gồm những vùng đất nào mà có thể rộng lớn đến vậy?

Đại bác “Thần uy tướng quân” được đúc vào năm 1817 thời Gia Long. (Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên, Wikipedia, CC BY 3.0).

Sau khi vua Gia Long lên ngôi, nhà Nguyễn được xây dựng rất mạnh mẽ, khiến các nước lân bang ở phía tây là Ai Lao và Campuchia đều phải thần phục, mong nhận được sự bảo hộ từ Việt Nam.

Ai Lao thần phục

Thời kỳ này Việt Nam và Xiêm La (tức Thái Lan ngày nay) đều đặt ảnh hưởng lên Ai Lao, khiến quốc vương Ai Lao phải xin thần phục cả hai nước. Nhiều xứ ở Ai Lao xin được đặt dưới quyền bảo hộ của Việt Nam, các vùng ngày nay gọi là Sầm Nứa, Trấn Ninh, Cam Môn và Savannakhet giáp với Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị đều xin trở thành nội thuộc. Nhà Nguyễn cho sáp nhập các vùng này vào lãnh thổ, phân thành các châu, phủ thuộc Việt Nam.

Bản đồ Việt Nam thời nhà Nguyễn sau khi sáp nhập vùng đất từ Lào. (Ảnh: Luanpt.arc@gmail.com).

Campuchia mong được bảo hộ

Thế kỷ 15 đến thế kỷ 19 được xem là thời kỳ tăm tối của đất nước Campuchia khi mà sức mạnh của đế quốc Khmer không còn. Vào thế kỷ 15 Xiêm La chiếm được kinh thành Angkor, cuối thế kỷ 16 thì chiếm được kinh thành mới ở Lovek. Đến thế kỷ 17, các đời chúa Nguyễn ở phương Nam trợ giúp người Khmer nổi dậy chống lại sự chiếm đóng của Xiêm La, nhờ đó người Khmer liên tục giành được chiến thắng. Cuối thế kỷ 17 nhà Nguyễn lập ra phủ Gia Định kiểm soát cả vùng Đông Nam Bộ.

Năm 1771, Xiêm La cho quân tiến đánh Campuchia, đường thủy tiến đánh Hà Tiên. Chúa Nguyễn phải cho quân sang cứu Campuchia và đánh quân Xiêm La ở Hà Tiên. Cuộc chiến kết thúc bằng việc Xiêm La và Việt Nam cùng rút khỏi Campuchia. Xiêm La giữ quyền chi phối Campuchia, còn Việt Nam giữ được vùng Hà Tiên.

Năm 1833 diễn ra cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi ở thành Gia Định, vua Minh Mạng cử Trương Minh Giảng đến dẹp loạn, Lê Văn Khôi thua chạy đến cầu xin Xiêm La trợ giúp. Quân Xiêm La nhân cơ hội này tiến đánh Việt Nam, thế nhưng bị quân của nhà Nguyễn đánh bại.

Không chỉ thế, nhà Nguyễn còn cho quân sáng đánh Xiêm La ở Campuchia, chiếm giữ và bảo hộ hầu hết đất nước này, loại bỏ ảnh hưởng của Xiêm La, chỉ còn vùng đất nhỏ là Nam Bàn là thuộc về người Khmer. Nhà Nguyễn sáp nhập các vùng đất Campuchia vào lãnh thổ, đặt tên là Trấn Tây Thành, chia ra thành nhiều phủ, huyện, sắp đặt các quan lại người Việt đến cai trị.

Bản đồ Việt Nam năm 1835 sau khi sáp nhập các vùng đất của Lào và Campuchia. (Ảnh: Luanpt.arc@gmail.com)

Năm 1835, diện tích Việt Nam vô cùng rộng lớn, bao gồm vùng đất Ai Lao (tức Lào ngày nay), hầu hết phần đất của Campuchia, diện tích rộng 575.000 km2, gấp 1,7 lần so với Việt Nam bây giờ (diện tích Việt Nam hiện là 331.698 km2, theo cổng thông tin điện tử chính phủ năm 2009).

Bản đồ Việt Nam 1954 và sau năm 75. (Ảnh: Luanpt.arc@gmail.com).

Trước sự lớn mạnh của mình, năm 1839 vua Minh Mạng cho đổi tên nước từ Việt Nam thành Đại Nam, tức quốc gia rộng lớn hùng mạnh phương Nam. Đây chính là nguyên nhân và ý nghĩa của quốc hiệu này.

Theo: VisionTimes



NẾU ANH CÒN TRẺ - HOÀNG CẦM


Nếu anh còn trẻ
thơ Hoàng Cầm

Nếu anh còn trẻ như năm ấy
Quyết đón em về sống với anh
Những khoảng chiều buồn phơ phất lại
Anh đàn em hát níu xuân xanh

Nhưng thuyền em buộc sai duyên phận
Anh luỵ đời quên bến khói sương
Năm tháng...
năm cung
mờ cách biệt
Bao giờ em hết nợ Tầm Dương?

Nếu có ngày mai anh trở gót
Quay về lãng đãng bến sông xa
Thì em còn đấy
hay đâu mất?
Cuối xóm buồn teo một tiếng gà...

HOÀNG CẦM - 1941

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát Tình Cầm.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Hoàng Cầm (22/2/1922 - 6/5/2010) tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, quê gốc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học đều ở Bắc Giang và Bắc Ninh, đến năm 1938 thì ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh là tên một vị thuốc đắng trong thuốc bắc: Hoàng Cầm.

Nguồn: Thi Viện



ĐỜI NGƯỜI TỪ XƯA ĐẾN NAY CŨNG CHỈ CÓ "3 VIỆC", 1 VIỆC LÀ "ĐỪNG QUẢN CHUYỆN CỦA NGƯỜI KHÁC"

Đời người vạn vạn sự nhưng rốt cuộc cũng chỉ có 3 việc: Việc của bạn, việc của người khác và việc của ông trời (ảnh chụp màn hình Adobe Stock)

Nhân gian đa sự khiến con người dường như bị nhấn chìm trong đó; nhưng kỳ thực, đời người quanh đi quẩn lại cũng chỉ có 3 việc: Việc của bạn, việc của người khác và việc của ông trời.

Hãy thử nghĩ một chút, những việc lớn như chiến tranh thế giới, du lịch vũ trụ, nổ hạt nhân; những việc nhỏ như con kiến di cư, tất bị lủng, bữa trưa ăn gì… từ lớn như thiên thể trong vũ trụ đến nhỏ như hạt bụi bên đường, từ xã hội đến cá thể, tất cả chuyện lớn nhỏ, có việc gì là nằm ngoài 3 việc ở trên?

Phiền não của con người thường là do quên đi việc của bản thân, thích quản việc của người khác và lo lắng về những việc của ông Trời.

1. Quản lý cho tốt việc của bản thân

Việc của bản thân chẳng hạn là: Dậy lúc mấy giờ, ăn gì, có vui không, có giúp được gì cho người khác không… phàm những thứ bạn có thể an bài thì đều là như vậy.

Vạn vật đều có sinh mệnh, có linh tính. Sinh tử luân hồi, đều trong đạo pháp, tự có thiên mệnh.

Cây cối chịu nắng chịu mưa, hấp thụ dinh dưỡng, chỉ cần âm thầm phát triển; khi bén rễ sâu, cành lá sum suê thì tự nhiên khỏe mạnh.

Con người sống ở trên đời, hít thở cùng vạn vật, đạo lý sinh mệnh cũng giống như vậy. An phận với vị trí của mình, vững vàng cắm rễ sâu, làm tốt những việc nên làm là tốt rồi.

Một số người luôn hâm mộ những ông chủ lớn, những quan chức cấp cao, những người giàu có; nhưng hãy cẩn thận suy ngẫm một chút, những trách nhiệm và áp lực mà họ phải đối mặt thường là gấp mấy lần những người bình thường khác. Giống như trong phim “Người nhện” có một câu thoại: “Năng lực càng lớn, trách nhiệm càng nhiều”.

Kẻ dại cầu cạnh người khác, kẻ trí dựa vào chính mình. Nếu lựa chọn dựa vào chính mình thì vận mệnh của bạn mới có thể nắm chắc. Thay vì cả ngày hâm mộ vinh quang của người khác, chi bằng hãy dồn hết tâm lực vào lĩnh vực mà bạn có thể kiểm soát.

Làm người vô sự, hạnh phúc tự tìm đến nơi (ảnh chụp màn hình Adobe Stock)

2. Đừng quản việc của người khác, đời người tự an vui

Việc của người khác chẳng hạn như là Tiểu Trương hết ăn lại nằm, Tiểu Tam hôn nhân không hạnh phúc, ông Trần đối với mình không tốt, mình giúp người khác mà sao không được cảm ơn… Phàm là việc của người khác thì đều giống như vậy.

Đối với việc của người khác thì thái độ tốt nhất đó là: “Không liên quan gì đến tôi”.

Có một câu chuyện như sau: Có một cặp vợ chồng rất yêu thương nhau và dựng một quầy bán hàng ven đường. Đến giờ ăn trưa thì người chồng mang đồ ăn đến cho vợ. Trong lúc hai vợ chồng ngồi trên bậc thang vừa ăn vừa nói chuyện. Một bà thím đi qua đường lườm họ và nói với người vợ rằng:

“Con gái à, con thật là đáng thương! Vất vả kiếm tiền, vậy mà người chồng lại để cho con ăn uống kham khổ như vậy”.

Nghe những lời này, người vợ bưng cơm trên tay mà nước mắt giàn giụa; người chồng ngồi bên cạnh mắt cũng đỏ hoe, không còn tâm trạng ăn uống gì nữa…

Trong mắt bạn là thạch tín, nhưng trong mắt người khác có thể là mật đường. Nhưng luôn có những người quen đánh giá cuộc sống của người khác bằng suy nghĩ của chính mình; và nhìn thế giới bằng tầm nhìn hạn hẹp của bản thân.

Cuộc sống giống như một vở kịch, mỗi người đều là nhân vật chính trong vở kịch của chính mình và là vai phụ trong vở kịch của người khác.

Nhân sinh trên đời, hãy gửi đi ánh sáng của chính mình và đừng thổi tắt ngọn đèn của người khác.

3. Đừng lo lắng về việc của ông Trời

Tâm an thì vạn sự an (ảnh chụp màn hình Adobe Stock)

Những việc của ông trời chẳng hạn như là gió bão, động đất, chiến tranh, khai ngộ, thành đạo… Bất cứ việc gì ngoài khả năng của con người thì đều thuộc về việc của ông Trời.

Vì vậy, thay vì cả ngày cứ lo trời sập, đất lở, ăn không ngon ngủ không yên thì cứ bình tĩnh quan sát; để mọi thứ diễn ra theo tự nhiên.

Có một bác sĩ nổi tiếng với y thuật cao siêu, rất nhiều người đã tìm đến ông để chữa bệnh. Nhưng điều không may là khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp thì ông lại bị ung thư vòm họng. Giống như những người bình thường khác, ông cũng trải qua cảm giác sợ hãi và không cam lòng; thậm chí là tức giận.

Dựa trên kinh nghiệm dày dặn của mình, ông biết được bản thân chỉ sống được 6 tháng đến 1 năm nữa là cùng. Sau nhiều đêm suy nghĩ, ông quyết định chấp nhận sự thật tàn khốc này.

Tuy nhiên, ông chấp nhận sự thực này nhưng không có nghĩa là cam chịu số phận. Ông quyết định nhân lúc còn sống phải thể nghiệm cho hết sinh mệnh; dùng nhãn quang hoàn toàn mới mà nhìn ngắm thế giới; dùng tấm lòng thương mến mà đối đãi với mọi người xung quanh; khiến sinh mệnh ngày càng có ý nghĩa hơn.

Kể từ đó, tâm thái của ông đã hoàn toàn chuyển biến; ông trở nên khiêm tốn, bao dung và biết cảm thông với người khác. Ông luôn tươi cười với bạn bè, người thân, và thậm chí là cả những người xa lạ.

Tâm an vạn sự an, đời người cứ buông rồi sẽ nhàn

Nửa năm trôi qua, rồi một năm trôi qua, nháy mắt mà đã 6 năm, ông vẫn bình an vô sự. Ông không biết mình có thể sống được bao lâu, nhưng ông không quan tâm đến nó nữa.

Có câu “Đời người vốn vô sự, là con người tự ưu sầu”; Trời đất chuyển dời xuân hạ thu đông, vốn là những việc con người không thể kiểm soát; nhưng chúng ta có thể cảm thụ nó, an nhiên nhìn hoa nở hoa tàn, không cầu ở người, không oán không hận; chỉ cần như vậy thì hạnh phúc cũng tự tìm đến như gió xuân nhẹ thổi bên thềm.

Chân Chân / Theo: nguyenuoc

Wednesday, August 5, 2026

Ý NGHĨA CÂU "CƯỜI KẺ NGHÈO KHÓ CHỨ KHÔNG CƯỜI PHƯỜNG KỸ NỮ"

Nhiều người đã nghe đến câu “Cười kẻ nghèo khó chứ không cười phường kỹ nữ”, nhưng có thể chưa hiểu đúng nghĩa của câu này; hơn nữa đằng sau câu này vẫn còn một vế nữa.

Nhiều người hiểu chưa đúng nghĩa câu "cười kẻ nghèo khó chứ không cười phường kỹ nữ" (ảnh minh họa Pinterest)

Cười kẻ nghèo khó chứ không cười phường kỹ nữ

“Tiếu bần bất tiếu xướng” – Cười kẻ nghèo khó chứ không cười phường kỹ nữ. Ở bề mặt câu chữ thì có thể hiểu là người ta coi thường người nghèo còn hơn cả kỹ nữ. Nhưng trên thực tế, từ “kỹ nữ” trong câu cổ ngữ này cũng không phải là nói về mỗi gái lầu xanh, mà còn là để chỉ những người thông qua thủ đoạn bất chính mà lấy được tiền tài.

Ý tứ của câu này là người ta sẵn sàng mỉa mai, cười nhạo những người nghèo khó nhưng sống chân chính, lương thiện; mà lại không chê cười những người giàu có nhưng kiếm tiền không chừa thủ đoạn nào, thậm chí người ta còn ngưỡng mộ những người giàu có này. Câu này nhằm chế nhạo những người đặt tiền bạc lên hàng đầu, làm giàu bất nhân.

Ngày nay nhiều người coi trọng vật chất mà xem nhẹ đạo đức, họ ngưỡng mộ những người giàu có mà không cần biết những người này kiếm tiền bằng cách nào, chỉ khi những cự phú này sa vòng lao lý thì người ta mới bàng hoàng nhận ra; rồi nhiều cô gái xinh đẹp sẵn sàng cặp bồ với người đáng tuổi bố mình để được chu cấp tiền bạc mà không chút xấu hổ, đã thế lại còn được nhiều người ủng hộ, coi là bình thường. 

Người thiện lương mà nghèo khó thì lại bị người khác coi thường (ảnh minh họa Twitter)

Trong khi người thật thà, thiện lương mà nghèo khó thì lại bị người khác khinh thường, coi không bằng kỹ nữ. Những giá trị đạo đức truyền thống đều đã bị đảo lộn hết cả. Câu nói “Cười kẻ nghèo khó chứ không cười phường kỹ nữ” quả thực cũng đã ứng vào thời đại ngày nay.
 
“Cứu lúc khẩn cấp nhưng không cứu người nghèo”

Nửa sau của câu “Tiếu bần bất tiếu xướng” là “Cứu cấp bất cứu cùng” – cứu lúc khẩn cấp nhưng không cứu người nghèo; câu này thì có thể nhiều người chưa từng nghe đến. Câu này cũng gần tương tự với câu “Bang cùng bất bang lại” – Giúp người nghèo khó chứ không giúp kẻ lười biếng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự nghèo khó của một người, và có thể chia thành 2 loại: Nghèo vật chất và nghèo tinh thần.

Nghèo vật chất thì cố gắng rồi từ từ cũng sẽ khá lên, còn nghèo tinh thần thì khó mà có cải biến được. Ví như có người rõ ràng là có khả năng làm việc nhưng không chịu đi làm; hoặc đi làm thì lại lười biếng, không chịu nổi một chút khó khăn ở nơi công tác, hở ra là nghỉ làm, họ chỉ muốn dựa vào người khác, hoàn toàn không có chí hướng vươn lên.

Người nghèo tinh thần thì chỉ muốn dựa dẫm vào người khác (ảnh minh họa Pinterest)

Với những người như vậy, bạn không thể cho họ mượn tiền; bởi vì họ sẽ rất cảm kích lúc được bạn cho vay tiền, nhưng sau đó thì sẽ quên ngay, không hề nghĩ đến việc trả lại. Hơn nữa còn dùng tiền đó rất phung phí, đến khi xài hết thì lại mượn thêm, thậm chí mượn chỗ này đắp chỗ kia.

Gặp khi khẩn cấp thì đương nhiên bạn nên giúp đỡ người khác, hoặc người nghèo vật chất thì bạn cũng có thể giúp đỡ đôi chút, cho họ cái cần câu cơm; còn đối với người nghèo tinh thần thì bạn nên cân nhắc cho kỹ, không phải là bạn không từ bi, mà là càng giúp những người này thì họ lại càng tệ hơn. “Người nghèo” ở trong câu “Cứu lúc khẩn cấp nhưng không cứu người nghèo” là ý chỉ những người nghèo về tinh thần.

Chân Chân / Theo: Vision Times

ĐẠI TỔNG THỐNG TRUNG HOA DÂN QUỐC PHÙNG QUỐC CHƯƠNG: SỞ HỮU KHỐI TÀI SẢN KHỔNG LỒ, VÌ SAO ĐẾN ĐỜI CHÁU NỘI LẠI RÁCH NÁT?

Phùng Quốc Chương để lại cho con cháu cả một kho vàng, nhưng rồi tất cả đều mất. Phùng Củng gần như chỉ thừa hưởng một cái họ. Cuối cùng, chính bằng tài năng, sự kiên trì và một câu nói quen thuộc trên sân khấu, ông đã gây dựng lại danh tiếng cho cả gia tộc.

Phùng Quốc Chương từng đảm nhận các cương vị như Đại Tổng thống và Phó Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc.

Năm 1919, khi Phùng Quốc Chương (Feng Guozhang) trút hơi thở cuối cùng tại Bắc Kinh, gia nhân kiểm kê di sản mà ông để lại đã phải kinh ngạc. Hàng chục triệu đồng đại dương, hàng vạn mẫu ruộng ở Hà Bắc, vô số bất động sản tại Bắc Kinh, Nam Kinh... Khối tài sản ấy lớn đến mức người đời sau vẫn truyền tai nhau rằng ngay cả đàn cá trong Trung Nam Hải, ông cũng từng cho đánh bắt sạch để bán lấy tiền.

Thế nhưng chưa đầy một thế kỷ sau, chắt nội của ông là nghệ sĩ hài nổi tiếng Phùng Củng lại từng lớn lên trong cảnh 12 người chen chúc trong một căn nhà nhỏ ở Thiên Tân. Cùng mang họ Phùng, nhưng chỉ sau ba đời, gia tộc từng giàu nhất nhì Trung Quốc gần như trắng tay.

Điều gì đã xảy ra?

Từ cậu học trò nghèo trở thành nguyên thủ quốc gia

Phùng Quốc Chương sinh năm 1859 tại huyện Hà Gian, tỉnh Hà Bắc, trong một gia đình nhà nho bình thường.

Năm 25 tuổi, ông nhập ngũ và gặp được người làm thay đổi cả cuộc đời mình: Viên Thế Khải.

Khi Viên Thế Khải xây dựng Tân quân Bắc Dương tại Tiểu Trạm (Thiên Tân), Phùng Quốc Chương là một trong những sĩ quan nòng cốt. Sau này, đội quân Bắc Dương trở thành lực lượng quân sự mạnh nhất Trung Quốc đầu thời Dân quốc, còn ba vị tướng xuất sắc nhất được người đời gọi là "Bắc Dương Tam Kiệt”:

- Vương Sĩ Trân là "Rồng”.

- Đoàn Kỳ Thụy là "Hổ”.

- Phùng Quốc Chương là "Chó”.

Chữ "Chó" khi ấy hoàn toàn không mang ý xúc phạm mà dùng để chỉ người trung thành, gan lì, chịu được gian khổ và luôn theo chủ đến cùng.


Con đường quan lộ của Phùng Quốc Chương vô cùng thuận lợi. Ông lần lượt giữ các chức vụ Đô đốc Giang Tô, Quyền Thủ tướng, Phó Tổng thống và đến năm 1917 trở thành Quyền Đại Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc sau khi Lê Nguyên Hồng từ chức.

Nhưng điều khiến ông nổi bật không chỉ là tài cầm quân.

Năm 1915, khi Viên Thế Khải chuẩn bị xưng đế, ông bí mật dò hỏi thái độ của Phùng Quốc Chương. Ban đầu, Phùng tỏ ra nước đôi, không bày tỏ lập trường. Nhưng khi Thái Ngạc phát động khởi nghĩa ở Vân Nam, ông lập tức gửi điện tín về Bắc Kinh khuyên Viên Thế Khải từ bỏ đế chế.

Sự nhạy bén về chính trị ấy giúp ông nhanh chóng trở thành người thừa hưởng gần như toàn bộ thế lực của phe quân phiệt Trực hệ sau khi Viên Thế Khải qua đời.

Từ một chàng trai xuất thân nghèo khó ở Hà Bắc, sau hơn ba mươi năm lăn lộn, Phùng Quốc Chương đã đứng trên đỉnh cao quyền lực của Trung Hoa Dân Quốc.
Phùng Quốc Chương - Vị tổng thống nổi tiếng vì... quá giỏi kiếm tiền

Có được quyền lực, Phùng Quốc Chương cũng bắt đầu tích lũy của cải bằng đủ mọi cách.

Nguồn thu lớn đầu tiên đến từ quân đội. Dưới quyền ông có hàng trăm nghìn binh sĩ, chỉ cần khấu trừ mỗi người vài đồng quân lương mỗi tháng cũng tạo thành khoản tiền khổng lồ.

Tiếp theo là mua quan bán chức. Muốn làm tri huyện hay sư trưởng đều phải bỏ ra số tiền rất lớn.

Ông còn nắm nhiều cổ phần tại các ngân hàng lớn nhất Trung Quốc lúc bấy giờ, mỗi năm chỉ riêng tiền cổ tức đã là con số khiến nhiều người mơ ước.

Song song với đó, Phùng Quốc Chương không ngừng thu mua đất đai ở Hà Bắc, Bắc Kinh và Nam Kinh. Người ta kể rằng ruộng đất của gia tộc họ Phùng tại quê nhà rộng đến mức đi cả ngày vẫn chưa hết.

Nhưng câu chuyện khiến hậu thế sửng sốt nhất lại xảy ra vào năm 1918.

Khi sống trong Trung Nam Hải với cương vị Quyền Đại Tổng thống, nhìn thấy hàng nghìn con cá được nuôi nhiều năm trong hồ, ông nảy ra ý định bán chúng để lấy tiền.

Một mẻ lưới được thả xuống.

Toàn bộ cá trong hồ bị bắt sạch, đưa ra chợ bán và thu về hàng chục vạn đồng đại dương.

Tin tức lan khắp Bắc Kinh, báo chí khi ấy thi nhau châm biếm rằng vị Đại Tổng thống đã biến Trung Nam Hải thành... ao cá của riêng mình.

Cuối năm 1919, Phùng Quốc Chương qua đời khi mới 60 tuổi.

Khối tài sản ông để lại được ước tính lên tới hàng chục triệu đồng đại dương – sức mua tương đương hàng chục tỷ nhân dân tệ ngày nay.

Không ai ngờ rằng chỉ vài chục năm sau, tất cả sẽ tan thành mây khói.

Khi ở đỉnh cao quyền lực, Phùng Quốc Chương đã tích luỹ được một khối tài sản khổng lồ.

Bảy cơn sóng dữ cuốn sạch gia sản họ Phùng

Sau khi Phùng Quốc Chương mất, tài sản được chia cho các con trai. Ai nấy đều trở thành những phú hộ giàu có.

Nếu ở trong một thời đại bình yên, số của cải ấy đủ để con cháu nhiều đời sống sung túc.

Nhưng lịch sử Trung Quốc thế kỷ XX lại là cỗ máy xóa sạch của cải khắc nghiệt nhất.

Biến cố đầu tiên là những cuộc hỗn chiến giữa các phe quân phiệt trong thập niên 1920. Sau khi Phùng Quốc Chương qua đời, phe Trực hệ suy yếu, nhiều tài sản của gia tộc bị đồng minh cũ chiếm đoạt hoặc bán rẻ.

Năm 1937, chiến tranh Trung – Nhật bùng nổ. Quân Nhật chiếm Hoa Bắc, phần lớn đất đai và nhà cửa của họ Phùng tại Hà Bắc và Bắc Kinh bị trưng thu.

Sau khi kháng chiến kết thúc, siêu lạm phát lại khiến toàn bộ tiền mặt tích trữ gần như biến thành giấy lộn.

Đến cuộc cải cách ruộng đất đầu thập niên 1950, hàng vạn mẫu ruộng của gia tộc bị tịch thu.

Tiếp đó là phong trào công tư hợp doanh năm 1956, toàn bộ cổ phần và cơ sở kinh doanh còn sót lại cũng được sáp nhập vào doanh nghiệp nhà nước.

Năm 1957, con trai Phùng Quốc Chương là Phùng Hải Cương – một giáo viên ở Thiên Tân – bị quy kết là phần tử cánh hữu vì xuất thân từ gia đình quân phiệt Bắc Dương.

Bi kịch lên đến đỉnh điểm trong Cách mạng Văn hóa năm 1966.

Những bức ảnh cũ, sách quý, đồ gia bảo, ngôi nhà tổ... đều bị phá hủy hoặc tịch thu.

Theo nhiều lời kể, ngay cả phần mộ của Phùng Quốc Chương tại quê nhà cũng bị Hồng vệ binh đào phá. Quan tài bị đập nát, hài cốt bị vứt ra ngoài nghĩa trang, còn khu nhà tổ rộng lớn của họ Phùng thì bị tháo dỡ hoàn toàn, gạch ngói đem đi làm đường.

Sau bảy biến cố lớn liên tiếp, gia tộc từng giàu có bậc nhất gần như không còn lại bất cứ thứ gì.

Tuổi thơ cơ cực của Phùng Củng

Phùng Củng sinh năm 1957, đúng năm cha ông bị quy là phần tử cánh hữu.

Ông lớn lên trong thân phận thuộc diện "hắc ngũ loại". Gia đình có tới 12 người chen chúc trong một căn nhà nhỏ ở Thiên Tân.

Mùa đông lạnh buốt như hầm băng.

Để có tiền nuôi các con, mẹ ông từng phải lén đi bán máu. Quần áo, giày dép đều là đồ cũ của anh chị để lại.

Khi đi học, giáo viên còn dặn ông tuyệt đối không được ghi trong lý lịch rằng mình là hậu duệ của một quân phiệt Bắc Dương.

Muốn nhập ngũ không được.

Muốn vào trường đại học trọng điểm cũng bị lý lịch gia đình cản trở.

Có lẽ khi ấy, cậu bé Phùng Củng không thể tưởng tượng được rằng tên tuổi của ông nội mình vẫn được in trang trọng trong các cuốn sách lịch sử, trong khi bản thân lại chỉ mong có một đôi giày không thủng đế.

Phùng Củng - Cháu nội của Phùng Quốc Chương.

Thứ duy nhất còn sót lại

Năm 1973, cuộc đời Phùng Củng rẽ sang hướng khác khi ông được tuyển vào tổ tấu hài của Nhà Văn hóa quận Hòa Bình, Thiên Tân.

Ngay cả cơ hội ấy cũng suýt bị hủy bỏ vì lý lịch gia đình. Hồ sơ của ông từng bị gạt sang một bên sau khi cán bộ tuyển chọn nhìn thấy dòng chữ "cháu nội quân phiệt Bắc Dương".

May mắn thay, một người thầy đã đứng ra bảo lãnh, khẳng định cậu thanh niên này có năng khiếu đặc biệt về ngôn ngữ.

Sau đó, Phùng Củng bái danh hài Mã Quý làm sư phụ, đổi tên từ Phùng Minh Quang thành Phùng Củng, với mong muốn cuộc đời sẽ vững vàng hơn sau những năm tháng phiêu bạt.

Năm 1986, ông lần đầu bước lên sân khấu Gala Xuân của Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc. Hai năm sau, cặp bài trùng Phùng Củng – Ngưu Quần nổi tiếng khắp cả nước.

Suốt hơn ba thập kỷ liên tiếp, ông trở thành gương mặt quen thuộc mỗi đêm giao thừa với câu nói bất hủ: "Tôi nhớ mọi người muốn chết!"

Đó cũng là lúc người ta nhận ra, tài sản quý giá nhất mà gia tộc họ Phùng truyền lại chưa bao giờ là hàng chục triệu đồng đại dương, hàng vạn mẫu ruộng hay những đàn cá trong Trung Nam Hải.

Điều còn tồn tại qua chiến tranh, lạm phát, cải cách ruộng đất, các phong trào chính trị và mọi biến động của thế kỷ XX chính là nghị lực.

Tiền bạc có thể bị cuốn trôi bởi thời cuộc. Gia sản có thể mất sạch chỉ sau vài thập kỷ. Nhưng năng lực và ý chí vươn lên mới là thứ có thể truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Phùng Quốc Chương để lại cho con cháu cả một kho vàng, nhưng rồi tất cả đều mất.

Phùng Củng gần như chỉ thừa hưởng một cái họ.

Cuối cùng, chính bằng tài năng, sự kiên trì và một câu nói quen thuộc trên sân khấu, ông đã gây dựng lại danh tiếng cho cả gia tộc.

Đó có lẽ là bài học khắc nghiệt nhưng cũng công bằng nhất về sự hưng suy của các dòng họ trong lịch sử Trung Quốc.

Bảo Minh / Theo: Dân Việt

NĂN NỈ - LỆ LAN


Năn nỉ
thơ Lệ Lan

Tôi đang mơ giấc mộng dài
Đừng lay tôi nhé cuộc đời chung quanh
Tôi đang nhìn thấy màu xanh
Ở trên cây cỏ rất lành rất thơm
Tôi đang nhìn thấy màu hồn
Của tôi thay đổi luôn luôn theo trời
Hoàng hôn màu đỏ mây tươi
Bình minh nắng trắng ấm trôi vào lòng
Những vì sao tím rất trong
Mảnh trăng vàng rỡ chờ mong tôi nhìn
Tôi đang nhìn thấy trong tim
Tình yêu bay những con chim tuyệt vời

Đừng lay tôi nhé cuộc đời
Tôi còn trẻ quá cho tôi mơ màng.

LỆ LAN

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc thành bài hát Tôi đang mơ giấc mộng dài.


Sơ lược tiểu sử tác giả:

Lệ Lan là một nữ tác giả hiện chưa có nhiều thông tin. Chỉ biết nàng sống tại Sài Gòn, là một người tình của nhạc sĩ Phạm Duy trong khoảng cuối thập niên 1950.

Nguồn: Thi Viện



MỆT MỎI KHÔNG PHẢI DO THIẾU DINH DƯỠNG MÀ VÌ "THIẾU NĂNG LƯỢNG"

Khi bị mệt mỏi và kiệt sức, nhiều người thường nghĩ đến việc bổ sung các chất dinh dưỡng để phục hồi thể lực. Tuy nhiên theo Đông y, nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là do bị thiếu năng lượng.


Trung y tin rằng lý do con người có thể di chuyển, suy nghĩ, phát triển và duy trì sự sống không chỉ phụ thuộc vào vật chất hữu hình mà còn phụ thuộc vào một nguồn sinh lực vô hình và quan trọng là “khí”.

“Hoàng Đế nội kinh” nói mạng sống của con người là sự tích tụ khí, khi nó tụ lại thì dẫn đến sự sống, và khi nó phân tán thì dẫn đến cái chết. Khí được coi là một lực quan trọng thúc đẩy hoạt động sống và là nền tảng của sức khỏe con người.

“Khí” là gì?

Theo Trung y, “khí” không phải là không khí, cũng không phải là một chất nào đó theo định nghĩa khoa học hiện đại. Nó được phản ánh trong quá trình trao đổi chất của cơ thể, tuần hoàn máu, chức năng của các cơ quan và trạng thái tinh thần của con người.

Người xưa tin rằng trời đất tràn đầy sức sống và năng lượng, vạn vật đều lớn lên nhờ nhận được “khí” của trời đất.

“Tố Vấn“ chép rằng “Khí là nền tảng của con người.”

Trung y cho rằng khi cơ thể con người có đủ “khí” thì sẽ tràn đầy năng lượng, suy nghĩ minh mẫn, giấc ngủ ổn định và cảm giác thèm ăn bình thường. Nhưng khi khí không đủ sẽ dễ bị mệt mỏi, lười biếng, khó thở và thiếu năng lượng.

Vì vậy, cơ thể con người có khỏe mạnh hay không thì không chỉ phụ thuộc vào lượng thức ăn được ăn vào, mà còn phụ thuộc vào việc thức ăn có thể chuyển hóa thành năng lượng sống hay không. “Khí” này thực chất đề cập đến năng lượng.


Tại sao có người ăn nhiều mà vẫn cảm thấy mệt mỏi?

Trung y cho rằng sức sống của thực vật cũng là biểu hiện của “năng lượng”. Thực vật phát triển trong môi trường tự nhiên, hấp thụ ánh sáng mặt trời, mưa, sương và chất dinh dưỡng của đất, trải qua những thay đổi theo mùa và tích lũy dần năng lượng của trời và đất. Vì vậy, những nguyên liệu có chu kỳ sinh trưởng dài hơn và trưởng thành tự nhiên thường được coi là chứa đủ sức sống.

Ví dụ, nhân sâm hoang dã đã phát triển trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ, hấp thụ năng lượng tự nhiên của môi trường núi rừng trong một thời gian dài. Vì vậy, nó được coi là một loại thuốc bổ khí tốt trong Trung y.

Khái niệm này không chỉ tập trung vào thành phần hóa học của nó mà còn tập trung vào sức sống được tích lũy bằng cách hấp thụ năng lượng của vũ trụ và trái đất trong quá trình phát triển lâu dài của nó.

Khí đủ thì không nghĩ đến đồ ăn

Trong nhân gian có một câu nói phổ biến là: “Khí đủ thì không nghĩ đến đồ ăn. Khí thiếu thì thường nghĩ đến đồ ăn”.

Theo quan điểm của Trung y, khi cơ thể con người chứa đầy khí huyết và các chức năng của các cơ quan nội tạng được phối hợp thì cơ thể có thể sử dụng tinh hoa của thực phẩm một cách hiệu quả nên sẽ không có nhu cầu ăn uống quá mức. Mặt khác, khi “khí” bị thiếu, cơ thể có thể liên tục tìm kiếm các chất bổ sung với hy vọng nhận được nhiều sự hỗ trợ hơn thông qua thực phẩm.

Vì vậy, một số người dù đã ăn nhiều vẫn cảm thấy mệt mỏi; họ vẫn không thể vực dậy tinh thần ngay cả khi đã uống nhiều loại nước tăng lực. Trung y tin rằng vấn đề có thể không nằm ở việc ăn vào không đủ, mà nằm ở khả năng vận chuyển thức ăn của cơ thể giảm và không có khả năng chuyển hóa thức ăn thành khí và máu một cách hiệu quả.

Điểm mấu chốt là nếu tinh thần thiếu thốn thì cơ thể cần ăn nhiều; nhưng ăn nhiều hơn chỉ có thể duy trì tình trạng hiện tại của bạn chứ không thể làm cho tình trạng của bạn tốt hơn.


Chăm sóc sức khỏe thực sự không chỉ là bổ sung dinh dưỡng

Xã hội hiện đại giàu có về vật chất và con người dễ dàng có được nhiều dinh dưỡng hơn. Tuy nhiên, mệt mỏi, lo lắng, mất ngủ và các vấn đề sức khỏe vẫn rất phổ biến.

Trung y tin rằng sức khỏe của con người đến từ khí huyết đầy đủ, cân bằng âm dương và sự hài hòa của các cơ quan nội tạng, thay vì chỉ đơn giản là tăng cường bổ sung chất dinh dưỡng. Thức khuya trong thời gian dài, căng thẳng tinh thần quá mức, thiếu tập thể dục, lối sống ít vận động và các lối sống khác có thể làm cạn kiệt “khí” của cơ thể.

Vì vậy, dưỡng khí không chỉ là ăn uống mà còn bao gồm việc duy trì lịch sinh hoạt đều đặn và theo nhịp sinh học; vận động vừa phải để thúc đẩy khí huyết lưu thông; duy trì một tâm tình bình hòa và tránh tiêu hao cảm xúc quá mức; ăn uống điều độ và không ăn quá nhiều; gần gũi với thiên nhiên và cảm nhận sự thay đổi của bốn mùa.

Những thói quen sinh hoạt tưởng chừng đơn giản này chính là cách “bồi bổ nguyên khí” được các danh y thời xưa nhấn mạnh.

Chân Chân / Theo: Vision Times